Bèo giạt   

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Bài 10

Hai lần chết

Giới thiệu:
Trước khi viết về việc “Thanh Lọc Người Tỵ Nạn”, tôi xin giới thiệu độc giả truyện ngắn sau đây, là một sự kiện có thật, về một thanh niên tự tử ở đảo Pulau Bidong, sau khi bị từ chối quyền tỵ nạn chính trị, nôm na là “hỏng thanh lọc”.

Bài viết theo thể tự truyện.

1)- Nếu nói theo nghĩa đích thực của hai tiếng bạn bè thì tôi và Hoàng là bạn. Có thể là bạn theo nhiều ý nghĩa nữa: Bạn thời thơ ấu, bạn học ngay từ hồi ấy, bạn cùng phường, cùng xóm, đồng hương… Và bạn “truyền thống gia đình”, có nghĩa là ba Hoàng và ba tôi, hai người là bạn của nhau. Hai gia đình là bạn, hai ông là bạn học, bạn đồng ngũ và cuối cùng là bạn “tù cải tạo” … Tôi và Hoàng không có tình yêu, chúng tôi yêu nhau theo tình bạn, hoàn toàn không phải tình yêu trai gái như mọi người.

Vượt biên, nhất là sau khi đến đảo, chúng tôi đang hướng tới tương lai: Định cư, tiếp tục học hành, có công ăn việc làm và giúp đỡ gia đình, bà con… Bao nhiêu gánh nặng đang chờ trước mặt, và sẽ nghiêng vai gánh lấy vì tình yêu thương và trách nhiệm. Làm sao tôi có thể nghĩ khác đi được, làm sao có thể yêu nhau được, cưới hỏi, lo riêng cho đời mình, trong khi bao nhiêu gánh nặng đang chờ!

Ngày “giải phóng”, nói cho trung thực là ngày 30 tháng Tư, ngày Cộng Sản ngoài Bắc vào chiếm miền Nam, tôi và Hoàng mới 7 tuổi. Tôi và Hoàng cùng tuổi.

Tôi và Hoàng đang cùng học lớp ba trường của phường.

Ba tôi và ba Hoàng đều là sĩ quan chế độ cũ nên cả hai ổng kéo nhau đi ở tù. Tới đó, cuộc đời tôi và Hoàng bước qua một khúc ngoặt, nghĩa là từ đó, tôi và Hoàng đã cùng trường, cùng lớp thì nay cùng cảnh ngộ, cùng là nạn nhân của chế độ nên tôi và Hoàng gần gũi nhau hơn.

Ở Việt Nam, không phải lên tới đại học, học sinh mới bị kỳ thị, xét lý lịch, thành phần giai cấp. Ngay ở bậc tiểu học, tôi và Hoàng là “một cặp nạn nhân kỳ thị của chế độ” rồi. Cô giáo vẫn là cô giáo cũ, được lưu dung. (1) Lúc ấy cô chưa vượt biên. Tuy nhiên, hiệu trưởng là người mới, ở trong rừng mới ra. Ông ta là đảng viên. Ông hiệu trưởng cũ được lệnh đi “học tập 7 ngày”. Thế rồi ông đi luôn, không trở lại, không trở về trường cũ. Tuy nhiên, một năm sau, một ông đảng viên ngoài Bắc vào “chi viện” thay thế cho ông người Nam ở trong rừng ra.

Thay hiệu trưởng có nghĩa là thì vòng xiết vào cổ thành phần giai cấp chặt hơn, “triệt để” hơn. Nói rõ ra thì tiêu chuẩn lao động phải cao hơn những học sinh khác, những học sinh mà cha mẹ chúng không quan hệ gì tới chế độ cũ cả. Lao động nhiều hơn thì dĩ nhiên bị phê bình nhiều hơn, tự phê, tự kiểm điểm nhiều hơn, chẳng qua vì là trẻ con, sức yếu như tôi với Hoàng làm sao có thể hoàn tất chỉ tiêu lao động ngày càng cao lên.

Tôi và Hoàng còn bé quá, thường rất vô ý, thiếu cẩn thận, nên dễ phạm khuyết điểm. Ví dụ như quét lớp, các bạn khác quét dơ một chút cũng không sao, nhưng tôi với Hoàng, dù vô tình còn sót lại một cọng rác, cũng bị phê bình nặng nề. Rất nhiều khi tôi và Hoàng bị phạt, tái phạm ra đứng cột cờ. Cách trừng phạt thường mang tính sĩ nhục, làm đau đớn tâm hồn trẻ thơ.

Nhà trường cố ý như thế đối với thành phần con em chế độ cũ. Làm nấm rơm chẳng hạn, chỉ tiêu cao hơn. Cuốc đất trồng rau, thành phần nầy cuốc một diện tích lớn hơn. Con cái nhà bóc lột, khinh lao động thì nay phải lao động cho biết giá trị lao động.

Đối với việc kỳ thị, phân biệt đối xử như thế, không bao giờ Hoàng có ý kiến. Hoàng hiền lắm. Tôi thì tức, nói với mẹ, lại càng tức hơn. Mẹ bảo: “Lao động càng nhiều càng tốt, có chết chóc gì đâu mà lo. Làm việc không chết ai!” Đại khái mẹ bảo thế nhưng tôi biết mẹ tôi không vui. Chẳng qua mẹ nói như thế là vì sợ tôi chán học, bỏ học.

Đáng buồn hơn nữa là những đứa bạn học cũ. Ngày trước chúng nó cũng dễ thương. Nhưng vì cha mẹ không liên quan gì tới chế độ cũ nên chúng được “cách mạng ưu tiên”, giao cho nhiệm vụ nầy nhiệm vụ khác, chỉ huy các bạn. Có đứa lên mặt, ta đây và tỏ vẻ “khinh khi con nhà phi lao động”, nhất là những khi tôi và Hoàng bị “treo khăn”, nghĩa là không cho quàng khăn đỏ một hay hai tuần. Đó cũng là một hình thức trừng phạt, sĩ nhục. Đã bị “treo khăn”, khó đạt tới danh hiệu “Cháu ngoan bác Hồ.”

Những người cùng chung hoàn cảnh thường đến với nhau để tìm sự an ủi. Hoàng và tôi trở thành một “cặp nạn nhân”, nên gần gũi nhau hơn. Đi học, chúng tôi đi với nhau. Hoàng tới nhà gọi tôi hay tôi tới nhà Hoàng, để thấy mình bớt cô đơn, lạc lõng giữa một ngôi trường chúng tôi đã theo học từ khi còn thơ ấu, đã mấy năm nay rồi. Có chỗ dựa nhau như thế, tôi và Hoàng mới đủ can đảm đến lớp, đủ can đảm di thẳng vào chỗ ngồi trong lớp.

Tính tình Hoàng hiền. Cũng từ đó, Hoàng “bi quan” về cuộc đời, về việc học, về tương lai, về gia đình. Tôi cũng vậy thôi, mặc dù hai đứa chúng tôi chưa đứa nào quá mười tuổi.

Có một lần Hoàng bị té, trặc tay, đau lắm, ôm không đủ tiêu chuẩn rơm để làm nấm, bị phê bình. Khi bị gọi tên, Hoàng đứng lên. Từ chỗ đứng, Hoàng ngó về hướng tôi. Mắt Hoàng buồn và đau khổ không thể tưởng tượng được. Tôi nhớ hoài cái nhìn đó, cũng khó mà quên cặp mắt đó, của một đứa bé chưa tới mười tuổi, đau khổ đến như vậy. Cặp mắt biểu lộ sự đau khổ vì thân phận, vì “tội tổ tông” – tội cha ông theo “ngụy” – không phải tội của nó. Nó như cặp mắt của một con nai con bị thương, một vết thương đau đớn lắm, một vết đâm, một vết dao trí mạng. Cặp mắt biểu lộ một sự tuyệt vọng vô bờ bến, như muốn kêu cứu mà không kêu được. Cái nhìn hôm ấy làm tôi nhớ một đời.

Về hoàn cảnh gia đình, Hoàng có những cái đáng thương hơn tôi. Tôi gần út, có nhiều anh, nhiều chị, cũng có em để chơi với em. Mẹ tôi có cửa tiệm buôn bán từ trước, nên bây giờ cũng đỡ vất vả. Hoàng chỉ có hai chị em. Người chị lớn hơn Hoàng hai tuổi. Ba Hoàng đi tù cải tạo chưa bao lâu thì gia đình Hoàng sa sút thấy rõ. Đến chơi, tôi thấy một số đồ đạc trong nhà vắng dần đi. Còn bé, tôi không biết, bèn hỏi. Mẹ Hoàng dấu, dấu cái nghèo. Mẹ Hoàng bán dần đồ đạc để có tiền đi thăm nuôi chồng. Mẹ tôi biết tôi tò mò, rầy tôi một trận dữ. Tò mò chuyện nhà người khác là thiếu giáo dục. Nó hoàn toàn đối nghịch với điều cách mạng giáo dục là “đấu tranh”. Tò mò để biết, để đấu tranh với những biểu hiện xấu của hàng xóm. Tò mò đến cái nghèo của người khác, mẹ bảo là bất nhân, bất nhẫn. “Đèn nhà ai, nhà nấy rạng”. Có biết cũng chỉ để trong lòng.”

Đầu năm 1976, sau khi ba Hoàng đi ở tù được nửa năm, để nuôi con, mẹ Hoàng phải đi buôn, gọi là buôn chuyến. Mẹ Hoàng mua hàng từ miền Tây lên bán Saigon, mỗi thứ một ít để tránh con mắt bọn kiểm soát kinh tế. Gạo, đậu, tôm khô, cá khô, đậu đem lên Saigon. Vải, xà bông, thuốc lá từ Saigon về miền Tây. Cứ mỗi chuyến đi, mẹ Hoàng thường ngủ đêm ở Saigon. Do công việc, buôn bán, mẹ Hoàng thường vắng nhà. Ở nhà chỉ còn hai chị em với nhau, lo chẻ củi, lặt rau, quét nhà và nấu cơm. Tối lại, vắng mẹ, hai chị em học bài xong thì ôm nhau nằm ngủ. Hoàng không có nội, không có ngoại, là con trai độc nhứt, vai em, muốn ngủ thì lăn ra ngủ, chị Hoàng phải treo mùng, đắp mền cho em, rầy em như mẹ rầy con tuy lớn hơn em có hai tuổi.

Nhà thật vắng, nhiều lần tôi đến nhà gọi Hoàng đi học, trong nhà không nghe một tiếng động, im vắng đến độ tôi nghe được cả tiếng con mọt đục trên sà nhà. Nói với Hoàng chuyện đó, Hoàng có những ý nghĩ rất tức cười. Hoàng nói đêm nghe tiếng mọt đục mái nhà rõ lắm. Hoàng sợ sập nhà, đè chết người. Lỡ Hoàng chết, ba Hoàng về, chắc ba buồn lắm.

Cuộc sống đó kéo dài được ba năm, đến khi ba tôi được tha về. Ba Hoàng thì không bao giờ về nữa cả. Ba Hoàng chết trong trại cải tạo vì cuốc nhằm mìn. Mìn nổ, ông chết ngay tại bãi lao động. Mấy năm mẹ Hoàng buôn bán thất bại, nhà nghèo lắm. Mẹ Hoàng không đi thăm chồng được. Mãi đến khi ba tôi về, kể chuyện, gia đình Hoàng mới biết ba Hoàng qua đời rồi. Mẹ Hoàng dẫn con trai lên thăm chồng, chỉ còn là nấm đất, mộ hoang, không ai chăm sóc, cỏ sậy um tùm.

Mẹ Hoàng xin bốc mộ về, ban chỉ huy trại không cho, sợ gây “dư luận xấu” ở địa phương. Năm sau, mẹ Hoàng lên thăm, Hoàng cũng được theo mẹ. Đơn vị quân đội quản lý trại giam đã rút đi, ra biên giới. Khu mộ ba Hoàng bị cày mất, không còn dấu tích gỉ nữa cả. Vốn đa cảm, hay buồn, Hoàng lại càng buồn hơn vì sự việc mất mồ của cha. Đó là những biến cố lớn, rất lớn đối với Hoàng. Còn tiếp tục đi học được phải là một sự cố gắng rất lớn của Hoàng.

Năm hết lớp chín, lên cấp ba, Hoàng dự tính bỏ học. Cha chết rồi, sức khỏe của mẹ cũng xuống lắm. Hoàng sợ mẹ khổ, kiếm việc làm để mẹ bớt khổ. Thế rồi bao nhiêu người xúm lại khuyên: Mẹ Hoàng, chị Hoàng, cả tôi nữa. Tôi cũng khuyên Hoàng đi học. Mẹ Hoàng khóc vì con bỏ học. Chính giọt nước mắt của người mẹ đã làm cho con suy nghĩ lại, lại cố gắng. Hoàng tiếp tục, học cấp ba. Không những tiếp tục học, Hoàng lại học giỏi nữa. Cái đáng thương của Hoàng là ở chỗ ấy. Khi biết mình học sẽ làm nhiều người vui nên Hoàng cố gắng học. Có lần Hoàng nói với tôi: “Học cho giỏi. Còn không học được nữa là ở chế độ, không phải do mình.”

Tôi và Hoàng học chung với nhau thêm ba năm nữa, tốt nghiệp trung học, cùng thi vào đại học nông nghiệp và cùng hỏng.

Hỏng là vì “thi lý lịch”. Cách mạng là vậy thôi! Thi hỏng nhưng tôi có điều an ủi. Học giỏi như Hoàng, làm bài giỏi như Hoàng, còn hỏng, huống gì tôi.

Thi hỏng rồi, cả hai đành bỏ học. Mỗi người kiếm một việc kiếm sống.

Dòng sông chung một nguồn, từ trên núi tuôn về, qua bao nhiêu ghềnh thác. Nay dòng sông chia hai, mỗi người một phương. Cuộc kiếm ăn tất bật, từng ngày, từng bữa, cũng không còn thì giờ để nhớ, để nghĩ đến nhau nữa!

Điều bất hạnh, cái buồn bao giờ cũng dai dẵng, lịu bịu. Tôi đi xin việc làm, chẳng nơi nào nhận. Những đứa bạn lý lịch tốt còn đầy ra đấy, chưa tìm ra việc, huống gì những đứa như tôi, như Hoàng. Chúng tôi chỉ có một nơi để tới mà không cần khai lý lịch: Chợ Trời! Chợ trời là nơi tập họp những ai thuộc chế độ cũ, thuộc “giai cấp bóc lột”, “phi lao động”.

Thật ra, Chợ trời là đầu não của sự phát triển thương nghiệp của miền Nam Việt Nam sau 1975. Chợ Trời là nơi có đủ mặt hàng, từ hàng quí như vàng, bạc, hột xoàn, cho tới những mặt hàng nặng và có “tính chiến lược”như sắt thép, ximăng và cả tới mì lát, bột khoai, rau cỏ cho thực phẩm gia súc. Mặt hàng được giới thiệu ở đó, giá cả, trao tiền ở đó, và nhận hàng giao hàng ở một nơi khác, không ít khi là từ kho của nhà nưóc, công ty, xí nghiệp, v.v…

Tôi hụp lặn trong cái chợ Trời đó, bị nó hớp hồn, làm cho quay tít, và gặp Hoàng một lần chót: Hôm đám cưới chị Hoàng.

Chị Hoàng đi lấy chồng. Tôi biết Hoàng thêm cô đơn, thêm buồn. Nhưng trong sự quay cuồng, đầu tắt mặt tối của một cuộc sống giành giật và hết sức tất bật, tôi lo thân tôi còn chưa xong. Tôi không lo gì cho Hoàng được, dù một lời an ủi như khi còn đi học.

Nhà Hoàng chỉ có hai chị em. Chị em hơn nhau hai tuổi, dễ gần gủi và tâm sự, có khi được vài câu nói đùa. Chị lấy chồng rồi, em lại lui cui một mình.

Hoàng lại rất đa cảm và ủy mị nên thưòng tìm một chỗ dựa tinh thần. Ở trường, chỗ dựa tinh thần của Hoàng là tôi. Cặp mắt buồn và cầu cứu là một hình ảnh ám ảnh tôi chẳng bao giờ nguôi. Ở nhà, Hoàng có mẹ, có chị.

Chị Hoàng nổi tiếng đẹp ở xứ tôi. Chị kén không lấy chồng xa, lấy chồng gần để được gần mẹ, gần em. Chị biết mình lấy chồng, em mình buồn nhiều hơn.

Chị Hoàng sắp đặt cho Hoàng và chị ấy cùng chồng vượt biên. Tránh khỏi chế độ là trốn dược một nỗi buồn triền miên. Được đi học, thấy tương lai, mẹ và chị hy vọng Hoàng sẽ vui tươi hơn trong cuộc sống tự do.

May mắn, tôi đến Bidong nửa tháng trước cái ngày oan nghiệt ấy, ngày 14 tháng 3, ngày đóng cửa đảo. Hoàng lại đến sau ngày ấy. Thật tội nghiệp cho Hoàng. Tôi và Hoàng gặp nhau ở đảo là hoàn toàn tình cờ. Chuẩn bị, rồi ra đi, không ai hẹn với ai cả.

Gặp lại Hoàng trên đảo, tôi rất vui, rất mừng, coi như trời sắp đặt cuộc hội ngộ bất ngờ nơi xứ người, trên một hòn đảo xa xôi, giữa đại dương. Đường đi thì gần tới. Đường về thì mịt mù, xa cách.

Hoàng thì ngược lại. Trong khi tôi mừng đến phát khóc thì Hoàng vẫn trầm ngâm. Lại hai con mắt buồn như thuở nào. Tôi không tìm thấy trong mắt Hoàng một chút hy vọng gì ở tương lai, một nỗi vui mừng nào. Một tai nạn lớn đã xảy đến cho Hoàng. Chị của Hoàng bị nạn trên đường vượt biển.

&

2)- Chị tôi lấy chồng, nhà chỉ còn mẹ và tôi. Tôi muốn mãi mãi sống bên mẹ. Khi nào mẹ qua đời rồi, việc gì tới sẽ hay. Tôi không muốn vượt biên một mình, không có mẹ đi theo. Để mẹ lại cho ai? Tôi là nguồn vui, an ủi của mẹ, là nơi mẹ nương tựa. Vậy mà rồi tôi đi, để mẹ lại. Bây giờ mẹ một thân một mình ở quê nhà.

Tôi lớn lên trong một xã hội đầy những kỳ thị bất công mà tôi gánh chịu từ khi còn ấu thơ. Tôi đã trải qua những năm tháng dài dằng dặc với những nỗi nhục nhằn hằn trên vai, trên tâm hồn tôi. Nói như người ta hay nói, tôi lớn lên trong xã hội nầy với những vết hằn ăn sâu vào tâm hồn tôi bằng cuộc đời đầy sĩ nhục, đau đớn vì mẹ tôi gian nan vất vã, đầy uất hận vì cha tôi đã chết trong tù.

Tôi cố quên đi những thù hận. Người dân quê tôi không quen thù hận, chỉ biết tu hiền. Tôi cố bắt chước ông bà cha mẹ bà con xóm làng, quên đi thù hận để lớn lên và kiếm tìm một cuộc đời tươi sáng hơn.

Thế nhưng anh chị của tôi lại khác. Sau khi cưới, cuộc sống anh chị ấy càng ngày càng khó khăn. Dĩ nhiên, khó khăn là do động cơ chính trị. Tôi biết anh chị tôi yêu nhau lắm. Nếu một trong hai người mất đi, người còn lại khó sống nỗi. Thế rồi anh chị ấy quyết định trốn đi.

Chị tôi về nhà bảo tôi cùng vượt biên với anh chị ấy. Dĩ nhiên, tôi trả lời rằng tôi không đi. Mẹ đó, còn mẹ đó, không thể nào tôi đi được.

Biết tôi vì mẹ nên không muốn đi, chị tôi nói chuyện ra đi với mẹ. Mẹ tôi đồng ý cho tôi đi nhưng tôi vẫn không chịu đi. Nghĩ đến chuyện đi, nhiều đêm, thương mẹ, tôi không ngủ được. Có những đêm, khuya lắm, tôi vẫn nằm co bên mẹ, như những năm ba tôi ở trong trại tù cải tạo.

Một hôm, mẹ tôi lục những thư và hình cũ của ba má. Hình ba tôi khi còn nhỏ, hình khi học năm đầu ở đại học Saigon, hình sinh viên sĩ quan ở quân trường. Tôi để ý hình nầy nhiều nhứt, với cái huy hiệu gắn trên mũ có mấy chữ “Cư An Tư Nguy”. Hỏi, mẹ giải thích. Đó là châm ngôn của trường: Khi sống trong an lành, phải đề phòng những gì nguy hiểm sẽ xảy đến. Mẹ nói khéo: “Như bây giờ mình nên nghĩ tới những nguy khốn ngày mai.”

-“Nguy khốn gì, mẹ” Tôi hỏi. Mẹ nói: “Mình thuộc chế dộ cũ, sống bình yên trong chế độ nầy làm sao được!”

Ít hôm sau, mẹ tôi lại bảo: “Ba có một ước vọng, nhưng vì chiến tranh, ba không thực hiện được.”

Tôi lại hỏi mẹ: “Ước vọng gì vậy mẹ?”

– “Học! học cho thành tài. Ba đang đi học thì bị gọi động viên. Ba đi lính, không than oán, không hứng thú, nhưng đất nước như thế thì ba không đi không được. Khi con sinh ra, ba bảo ba hy vọng con sau nầy sẽ thực hiện được ước vọng của ba. Ngày con không vào được đại học, Mẹ cũng buồn. Nhưng mẹ hiểu cả.”

Tôi hỏi:

– “Nếu con vượt biên, con tiếp tục học thêm nữa được không?”

– “Cơ hội tốt đó con. Thời ba, muốn du học đâu phải dễ. Qua bển, nhiều người đi học lại, thành công. Sao con không đi, học cho xong. Ba vui lòng lắm.” Mẹ nói.

Tôi nói:

– “Bỏ mẹ lại một mình không được đâu!”

– “Có gì không được. Có con đây mẹ mới lo. Con đi rồi, mẹ một mình, buôn bán qua loa, sống được chán!”

Một tuần sau, cô tôi về ở chung với mẹ. Bà cô nầy là chị ba tôi, góa chồng khi còn trẻ, không có con cái gì, mấy chục năm nay bà vào chùa tu. Sau mấy vụ phản kháng ở chùa của các tu sĩ, chùa bị niêm phong. Bà cô tôi về ở tạm chùa tỉnh. Để gián tiếp khuyến khích tôi vượt biên, chị tôi mời bà cô về ở chung với mẹ. Hai bà già góa chồng ở chung với nhau, làm cho tôi yên lòng.

Định mệnh! Tôi nghĩ như là một định mệnh.

Mọi việc đâu cứ tuần tự đi tới, từ những ước nguyện vô hình của ba tôi khi ông còn trẻ, cho tới những sự kiện liên tiếp xảy do mẹ tôi sắp đặt, đẩy tôi vào cái thế không đi không được. Thế là tôi vượt biên.

Ra khỏi hải phận Việt Nam, ai cũng mừng! Rời xa quê hương, bỏ quê hương mà đi, lại mừng? Kỳ không? Nhưng sự thật là vậy, ai đau lòng mặc ai! Ghe tôi gần ba chục người kể cả anh chị tôi và tôi.

Bốn bề là biển mênh mông. Sóng nhẹ! Tài công cứ hướng mặt trời mọc là hướng đông thì nhắm hướng nam mà chạy. Chiếc ghe nhỏ, máy nhỏ, tiếng máy xình xịch mệt nhọc, đưa chiếc ghe vượt biên cũ kỹ đi về hướng nam.

Đến chiều, mặt trời sắp lặn xuống chân trời. Màu biển đậm dần, chân trời màu tím dâng cao lên. Tôi không còn tâm trí nào để thưởng thức cái đẹp lạ lùng của biển vào lúc chiều hôm.

Xa xa, cuối chân trời, có mấy đốm đèn. Người ta chỉ chỏ, biểu tài công chạy về hướng ấy. Người ta đoán chừng đó là giàn khoan dầu. Tới được giàn khoan, người vượt biên hy vọng sẽ được giúp đỡ.

Bỗng có hai chấm đen hiện ra, càng lúc càng to dần. Đó là hai chiếc ghe đang hướng về ghe của tôi. Tới gần thì rõ là ghe Thái Lan. Trên cabin tầu viết những chữ Thái, thứ chữ, có lần, khi còn đi học, tôi đã nghe bạn bè nói đùa: “Chữ như con rắn nằm vắt hàng rào.” Ở mũi ghe, tấm nylon che mất số tàu. Bọn hải tặc Thái Lan sợ người ta thấy số tàu của chúng.

Ghe hải tặc Thái Lan. Bây giờ thì rõ là ghe hải tặc Thái Lan, không còn nghi ngờ gỉ nữa. Bọn chúng biết ghe vượt biên hay tìm tới các giàn khoan để xin giúp đỡ, nên chúng cũng lẩn quất quanh đó để tìm ghe vượt biên.

Hai chiếc ghe Thái Lan cặp hai bên ghe vượt biên. Ba tên hải tặc cầm dao sắc nhảy qua. Cả mấy chục người vượt biên ngồi im, cúi đầu, chịu trận. Không ai có một tấc sắt, một cái gậy để phản ứng. Một tên hải tặc nhảy lên cabin. Tài công chấp tay lạy, bị chém một dao ngang lưng, té sấp xuống sàn, máu tuôn lai láng. Chúng làm thế để tàu không còn ai điều khiển. Xong cả ba tên đi lùng sục tìm con gái. Một cô bị nắm đầu tóc, lôi ra. Cô ta la khóc, lạy lục. Bên ghe Thái Lan, một tên quăng qua một sợi giây. Tên hải tăc chụp sợi giây ấy, cột quanh lưng cô gái, xong đạp cho cô ta rớt xuống biển. Chưa kịp la thì cô rơi ùm xuống nước. Tên ở bên kia nắm giây kéo lên. Người cô gái oằn lại gần như xếp đôi ở lưng, chỗ cột giây. Cô ta ướt sũng, hình như cô ấy cũng đã bất tỉnh.

Chúng lùng sục tiếp, lại lôi ra một cô gái khác. Cô nầy trì xuống, không chịu đi. Khi tên hải tặc khác đến phụ, nắm tay cô tay. Cô ta vung tay lên. Thấy thế, tên nầy bèn đâm cô ta một dao vào bụng. Vừa lúc hai tên hải tặc buông cô ta ra thì cô gục xuống sàn.

Chúng lại lùng sục tiếp. Chị tôi ngồi sau lưng anh rể tôi, lấy cái nón lá che đầu. Tên hải tặc nghi, dừng lại trước anh rể tôi, rồi chụp cái nón lá quăng đi. Y chụp ngay tóc chị tôi, kéo lên, chị tôi trì xuống, khóc to. Nghe tiếng khóc, anh rể tôi đứng lên, Tôi ngồi bên cạnh anh rể tôi, cũng đứng lên. Thấy cả hai người đứng lên một lượt, tên hải tặc sợ, đâm một lát dao vào ngực chị tôi rồi bỏ chạy ra phía đằng mũi ghe.

Anh rể tôi ngồi xuống, ôm lấy vợ. Rồi anh ngồi bệt xuống sàn, duỗi hai chân, đặt đầu vợ lên hai chân. Máu từ ngực tuôn ra từng luồn, theo nhịp tim. Tôi cởi áo, đưa cho anh tôi rịt vết thương của chị. Máu đẫm cả áo, vẫn cứ tiếp tục tràn ra. Tôi thấy thất vọng. Cả ghe không ai là y tá, bác sĩ, không có phương tiện cứu thương gì cả.

Một chốc, chị tôi mở mắt, đờ đẫn, rồi từ từ nhắm mắt lại. Tôi biết thế là hết, và ngồi xuống bên cạnh. Anh rể tôi đã vuốt cho mắt chị khép lại.

Trời đã tối. Và tôi cũng thấy hình như tất cả mọi thứ đều tối sầm lại, xóa đen hết những hy vọng tôi mang theo khi rời nhà ra đi.

3)- Hôm ấy tôi ngồi với Hoàng mấy tiếng đồng hồ ở bãi biển khu C.

Kể xong câu chuyện người chị bị giết một lúc thật lâu rồi mà Hoàng vẫn ngồi im. Hoàng không nói một lời, cũng không thở dài. Nỗi đau của Hoàng xa mẹ, mất chị mênh mông quá, bao la quá, cao quá, làm cho tôi thấy ngại, không nói một lời an ủi. Tôi kính trọng nỗi đau của Hoàng. Nói ra một lời nào là xúc phạm nỗi đau đớn ấy, dù là một lời an ủi chăng nữa!

An ủi?

Bằng gì? Bằng lời nói?

Tiếng nói của con người thật là kỳ diệu, nhưng trong trường hợp nầy, nó trở nên vô nghĩa, không có ý nghĩa gì hết, không an ủi được gì hết.

Người ta thường nói cái nầy vĩ đại, người kia vĩ đại nhưng trước nỗi đau khổ của Hoàng, những cái vĩ đại ấy trở thành nhỏ bé, vô nghĩa, khôi hài. Cái người ta gọi là vĩ đại, rất nhiều khi mang tính tuyên truyền. Nỗi đau của Hoàng là sự thật. Dĩ nhiên, cái tuyên truyền trở thành vô nghĩa, lố bịch trước sự thật.

Tôi là bạn của Hoàng từ thời thơ ấu, tôi biết Hoàng là người như thế nào. Tình thương gia đình, thương cha mẹ, thương chị của Hoàng lớn lắm. Ba Hoàng lại mất xác trong tù nên nỗi đau của Hoàng lớn lắm.

Ngồi trên tảng đá, bên bờ biển, hằng giờ Hoàng nhìn ra biển xa, qua khỏi đảo cá Mập ở ngoài kia, xa hơn nữa, chỗ trời và nước gặp nhau, chỗ thăm thẳm của không gian mà Hoàng không nói một lời.

Tôi có cảm tưởng như Hoàng nhìn ra chỗ cuối chân mây mà hình như Hoàng không thấy gì cả, không nhìn gì cả. Hình như ở chỗ chân trời góc biển, Hoàng chỉ thấy có hình ảnh cha mẹ chị của Hoàng. Hoàng thấy bằng cái trí tưởng của Hoàng. Có phải Hoàng nghĩ tới ngôi nhà Hoàng ở từ khi còn thơ ấu, tới chỗ đất bằng phẳng không biết nơi nào là mộ cha, và khuôn ngực đầy máu của chị Hoàng.

Biển vẫn động. Buổi chiều, gió lộng nên sóng dữ. Những ngọn sóng bạc đầu đang xô đẩy nhau ngoài xa. Những ngọn sóng xua đuổi nhau, vượt qua những mõm đá đen trông xa tưởng như những cái đầu người nhấp nhô trên sóng, hay biết đâu dấy, Hoàng tưởng như là xác của chị Hoàng trôi theo những ngọn sóng ấy.

Sóng xô đẩy nhau chạy vào bờ, bò lên bờ cát rồi kéo lui. Khi ngọn sóng vào bờ thì xô đẩy, chồm lên, hung dữ, nhưng khi sóng kéo lui thì rất nhẹ nhàng, không gây một tiếng động. Chúng để lại trên bờ cát những rác rưởi, vỏ dừa, những chiếc lá khô.

Thủy triều càng lúc càng xuống, ngấn sóng đổ trên bờ cát lùi dần, và ngoài xa, những mõm đá đen càng lúc càng nhô cao hơn.

Hoàng nói thầm: “Kiên nhẫn, kiên nhẫn…. không có gì hết.”

Tôi đoán Hoàng đang nói đến những ngọn sóng. Nhưng tôi lại nghĩ tới một ý khác, một điều, từ khi đến đây, tôi từng chú ý, từng tìm, nhưng không thấy: Biển ở đây không có dã tràng. Buột miệng tôi nói với Hoàng, nhưng tôi cứ tưởng như không nói với anh ta. Tôi nói một cách vu vơ: “Ở đây không có dã tràng.”

Nghe tôi nói, một lúc lâu, Hoàng mới trả lời tôi: Ờ! Không có dã tràng.” Rồi Hoàng hỏi tôi: “Nguyệt có nhớ câu nói về dã tràng.”

Tôi biết câu đó, nhưng tôi không muốn nói ra câu đó lúc nầy. Một lúc lâu, Hoàng lại hỏi: “Nguyệt có nhớ không?”

“Nhớ chứ”. Tôi nói, và tôi đọc, chỉ cho tôi và Hoàng vừa đủ nghe, lớn hơn tiếng sóng biển đang dạt dào:

“Dã tràng xe cát biển Đông

Nhọc mình mà chẳng nên công cán gì!”

Mặt trời đã lặn sau dãy núi xương sống của bán đảo Mã Lai. Biển càng lúc càng đậm màu, rồi đen thẩm lại. Ngoài kia, hình dáng đảo cá mập mờ dần trong bóng đêm, không còn thấy các mõm đá đen trồi lên trên mặt nước nữa. Bóng đêm xóa hòa tất cả. Tôi biết thế là hết. Bất chợt, tôi thấy đau đớn. Hoàng đã chết một nửa đời người!

4)- Từ chỗ Hoàng và Nguyệt ngồi bên nhau chiều hôm ấy, đi dọc theo bờ biển khu C, thêm khoảng một trăm thước nữa thì bờ biển dốc đứng, cao hơn hai chục mét. Trên là bờ cỏ, dưới là đá mọc lỡm chỡm.

Hoàng đứng từ trên bờ biển cao, đâm đầu xuống bờ đá, tự tử sau khi nhận giấy từ chối tỵ nạn chính trị.

Mấy thanh niên đánh cá phát hiện xác Hoàng nằm ở đó. Đầu bị vỡ vì va phải đá. Có lẽ Hoàng chết liền. Mấy thanh niên báo cho khối An Ninh biết. Nhân viên an ninh cùng nhân viên bệnh viện SickBay ra ngay chỗ Hoàng tự tử, đem xác anh ấy về. Khối xây dựng được lệnh đóng một cái hòm bằng ván ép, liệm rồi chôn trên đồi khu C, càng sớm càng tốt. Cao ủy Tỵ nạn lo ngại sợ có biến động xảy ra.

Tin Hoàng tự tử làm chấn động 14 ngàn người tỵ nạn trên đảo. Ai ai cũng thương cảm, than vãn, tội nghiệp cho Hoàng. “Sao đến nỗi như vậy. Còn nước còn tát, tranh đấu thật dữ vô, Cao ủy sẽ nhượng bộ.” Người ta còn tin như vậy.

Nghe tin dữ đó, tôi qua bệnh viện gặp Bác sĩ Hồng Khắc Xuân Vinh và Bác sĩ Vũ Ngọc Khuê. Biết nhau từ trước, khi thấy tôi, bác sĩ Khuê lắc đầu, thở dài.

Buổi chiều, khi đem quan tài an táng trên nghĩa địa, tôi lên trễ. Thầy Thích Nguyên Đạt đang đọc kinh trước khi hạ huyệt. Linh mục Queentin, người Úc, đứng vòng ngoài những người đang vây quanh huyệt mộ. Tôi đến đứng bên cạnh ông. Ông đang lầm thầm cầu kinh, một mình.

(Còn tiếp – Phong trào Tranh đấu Chống Thanh lọc)

hoànglonghải

(1) dung tha (Cộng Sản tha tội) và dùng trở lại.

Dân Petrus Ký!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Ðầu đường Ðại lộ Cộng Hòa có cái bùng binh nơi đường Phạm Viết Chánh, Hồng Thập Tự, Lý Thái Tổ, Hùng Vương, Nguyễn Hoàng và Ðại lộ Cộng Hòa gặp nhau. Ra khỏi bùng binh, chạy trên Ðại lộ Cộng Hòa, hướng về phía chợ Nancy, thì trường Trung học Trương Vĩnh Ký, bà con Sài Gòn thường hay gọi là (trường Petrus Ký)  nằm ở đầu đường phía bên tay phải.  Ðối diện bên kia cổng trường Petrus Ký là thành Ô-ma (Camp des Mares), là Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia Việt Nam.  (Xin phụ đề thêm chút chút là Petrus, tiếng Latin nên không có dấu sắc)

Vì địa thế đặc biệt như vậy nên các biến cố chánh trị lớn, nhỏ thời đó trường Petrus Ký dù muốn dù không cũng bị liên can. Mà người thọ nạn tới 2 lần lại chính là nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký.

Ngày mùng 6, tháng Chạp, năm 1937, kỷ niệm ngày sinh lần thứ 100, tượng bán thân bằng đồng của nhà bác học Pétrus Trương Vĩnh Ký do nhà điêu khắc Sylve Raffegeard (Pháp) thực hiện mà tên tác giả vẫn còn ghi rõ ở vai trái, được dựng lên trong sân trường.

Cuối tháng Tư, năm 1955, trường Petrus Ký trở thành bãi chiến trường giữa lính Dù của Quân đội Quốc gia Việt Nam và Công an Xung phong của tướng Bảy Viễn.

Tạp chí Thế giới Tự do của Phòng Thông tin Hoa Kỳ, in trên giấy tốt, nên bọn học sinh chúng tôi thời đó hay dùng để bao vở, có chụp hình một người lính phe Bình Xuyên nằm chết gần phòng thí nghiệm của trường. Tượng ông Petrus Ký thì cũng bị trúng đạn bên má trái, gần hàm dưới có một vết tròn hơi lõm vào.

Tàn trận đánh, Công an Xung phong Bình Xuyên rút chạy về Tổng hành dinh, bên kia cầu Chữ Y. Quân Dù xông vào trường lục soát và tưởng nhầm ông Hiệu trưởng Phạm Văn Còn, đang mặc một bộ ‘complet tussor’ màu hột gà, mang kính trắng gọng vàng rất ‘oai phong’ là…  tướng Bảy Viễn, thủ lãnh của Bình Xuyên!

Rồi đến năm 1963, mùng Một, tháng Mười Một, quân đội đảo chánh Tổng thống Ngô Ðình Diệm! Lính Dù đóng đầy trong dãy nhà chứa xe đạp của học trò, ngang hông trường. Bọn học trò tụi tui đành phải nghỉ học để chờ trời yên bể lặng.

Cuối cùng năm 1975, tượng ông Petrus Ký bị mang đi! Hổng biết ổng có bị đem đi nấu đồng chảy ra để bán ve chai không nữa? Chết đã lâu mà cũng không được yên, còn bị đuổi nhà?!

o O o

Nhiều sử gia miền Bắc coi bộ không khoái gì về ông Petrus Ký. Mấy thằng chả phán rằng: “Về mặt văn hóa, Petrus Ký có công; về mặt chính trị ông có tội (?!)’’

Tội đã đào tạo ra đám thông ngôn bản xứ phục vụ cho chính sách xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp. Cứ nhìn hàng huân chương ông đeo trên ngực được chính phủ thực dân ban tặng thì đủ biết cái tội “làm tay sai cho giặc” lớn ngần nào (?!).”

Nhưng bà con đất Sài Thành cự lại là: Petrus Ký là một danh nhân văn hóa: “Ngát tỏa trời Tây danh thông thái. Thơm hồn Nước Việt rạng non sông”

Các cố đạo người Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha và Pháp đã phiên âm tiếng Việt  bằng cách dùng mẫu tự tiếng  La Tinh để dễ giảng đạo. Từ đấy, Việt ngữ, dễ học hơn nhiều so với chữ Hán hoặc chữ Nôm…Rồi Petrus Trương Vĩnh Ký và Paulus Huỳnh Tịnh Của có công rất lớn trong việc phát triển và truyền bá chữ quốc ngữ để tiếng Việt mình mới có được ngày hôm nay.

Còn những cái huân chương? Không hẳn là phải giúp Pháp đô hộ thì mới có huân chương. Mà viết sách, nghiên cứu khoa học vẫn được chính quyền đô hộ bấy giờ tặng huân chương!

Dân Sài Gòn và cả nước, ai ai cũng kính trọng nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký. Mỗi người yêu nước đều có quyền đóng góp cho đất nước một cách khác nhau chớ!

Ôi trường ta tang thương! Theo vận nước nhiễu nhương! Học trò năm cũ giờ đâu cả? Ðã dạt về đâu mấy nẻo đường! Tui nhớ trường Petrus Ký không những lớn mà còn bề thế! Cổng trường bằng gạch rất đồ sộ, cao độ 4 mét. Trên có ghi hai câu đối của Giáo sư dạy Hán văn Ưng Thiều: ‘Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt. Tây Âu khoa học yếu minh tâm!” Trên đầu hai cột có tấm biển tên được đắp nổi: ‘Trường Trung Học Petrus Ký’. (Chắc quý Thầy sợ đề Petrus Trương Vĩnh Ký dài quá, chữ nhỏ rí hay chăng? Nhưng hiệu đoàn may dính vào túi áo thì đề P. Trương Vĩnh Ký (le lói nhe); mãi tới năm tui học đệ ngũ mới thay bằng miến mica nền xanh chữ trắng). Qua khỏi cổng là một sân có trải đá xanh cán nhỏ, có hai cây điệp rất lớn, vào mùDan Petrus Ky 01a Hè (cũng là mùa thi) trổ bông vàng rực rỡ.

Ngay chính giữa là Hành lang Danh dự, dài và rộng, lót gạch bông. Qua hành lang này, xuống tam cấp, là sân trường hình vuông vức. Chính giữa sân là tượng Petrus Trương Vĩnh Ký, mặc quốc phục, áo dài khăn đóng, trên ngực trái có đeo một dãy huân chương.

Hai dãy nhà lầu hai tầng hai bên làm lớp học. Cuối dãy bên tay phải, qua một hành lang nhỏ mới vào được lớp, lớp Ðệ thất 5, niên khóa 1963, của tui đó. Ðối xứng dãy bên kia có một cái phòng y hệt vậy là phòng Giám thị, nơi mà các Thầy đứng đó nhìn lũ học trò từ nhà chứa xe đạp qua hàng sao đi vào.

Kỷ luật của trường Petrus Ký phải nói là nghiêm khắc không thua gì trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt! Học trò Petrus Ký phải mặc đồng phục: quần dài màu xanh dương đậm, áo sơ mi trắng tay ngắn! Áo phải bỏ vào trong quần. Ðứa nào tóc dài, mang dép Nhựt, không đeo hiệu đoàn trên túi áo sẽ bị bắt lại để Thầy Giám thị cho cái cấm túc (consigne).

Trước khi vào lớp, học sinh phải xếp hàng đôi ngay trước lớp. Khi giáo sư đến  cho phép thì học sinh mới được vào. Ði ngang thầy cô đứng là phải cúi đầu chào. Vô lớp xong, vẫn đứng nghiêm, chờ thầy hay cô cho phép rồi mới được ngồi xuống!

Mỗi khi không thuộc bài, trò được quý thầy cô cho hai cái trứng vịt, hai con số không và đóng khung lại (zéros encadrés) thì đương nhiên đó là cấm túc. Bị cấm túc cũng không ngán bằng đưa cái giấy báo cho Tía mình. Ðọc được bảo đảm mình sẽ biết điểm sôi nó nóng như thế nào. Nên mấy thằng bạn quậy của tui đâu dám đưa cho Tía nó vì sợ ăn roi mây! Ðành muối mặt nhờ Bà Tư hàng xóm ký thay vậy.

Suốt cả đời đi học chưa được lên bảng danh dự lần nào mà cũng chưa hề bị cấm túc hoặc phải ra Hội đồng Kỷ luật của nhà trường vì đánh bạn học u đầu chẳng hạn; vì tui là một thằng chết nhát!

Cái lạ là: Ra đời, những thằng bạn góc cạnh, chọc trời khuấy nước, bán trời không mời thiên lôi thuở còn đi học, coi chuyện bị cấm túc là chuyện thường ngày ở huyện thì lại thành công (?); thành đại gia ‘chơi’ với người mẫu không hè?! Ðứa học giỏi thì làm bác sĩ, kỹ sư! Nhưng so với bọn bạn học chọc trời khuấy nước thì lại chẳng nhằm nhò gì.

Còn tui thuộc cái đám đông thầm lặng, giỏi không ra giỏi, dở không ra dở. Trong lớp 55 đứa lúc nào cũng hạng trung bình từ 30 đổ xuống thì ra đời cũng ‘èng èng’ như thời đi học vậy thôi! Hu hu!

Tuy nhiên nhờ kỷ luật nghiêm khắc và chặt chẽ này cộng với thầy cô trường Petrus Ký rất uyên thâm lại tận tâm nên học trò đi thi cái gì cũng ăn trùm thiên hạ. Trường cử 5, 6 con gà chọi đi thi ‘Ðố vui Ðể học’ trên đài truyền hình số 9 do thầy Cao Thanh Tùng phụ trách, lần nào cũng chiến thắng vẻ vang, sát nút, trước trường Chu Văn An. Dù học trò trường ‘Chết Vì Ăn’ cũng không hề kém cạnh!

Còn đi thi Tú tài Một, Tú tài Hai là đậu gần hết lớp! Ưu, Bình là chuyện bình thường. Xoàng xoàng là Bình Thứ hay Thứ thì im thin thít hổng dám khoe vì sợ bị quê.

Muốn vào học Petrus Ký phải qua kỳ thi tuyển rất gay go. Cả 4,5 ngàn sĩ tử, đậu chưa tới 500, một chọi mười, chen vào 8 lớp đệ thất! Danh sách đậu được đăng trên trang nhứt của nhựt báo Thần Chung, là một vinh dự lớn lao biết sao mà kể.

Sau nầy xa quê, lâu lâu có những bực thức giả là Giáo sư Tiến sĩ gì gì đó vốn là đồng môn trước cả chục, hai chục năm đi du thuyết, là tui mon men tới: “Tui cũng là dân Petrus Ký nè anh!” Ðể thấy sang bắt quàng trường cũ! Thiệt là tệ hơn vợ thằng Đậu. He he!

đoàn xuân thu.

melbourne

Dân Petrus Ký

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Ðầu Ðại lộ Cộng Hòa là cái bùng binh; nơi đường Phạm Viết Chánh, Hồng Thập Tự, Lý Thái Tổ, Hùng Vương, Nguyễn Hoàng ‘bông rua’ (Bonjour).

Ông Paulus (Phao-lô) ‘Huình Tịnh Của’ (1830–1908), trong Ðại Nam quấc âm tự vị, (1895) cắt nghĩa bùng binh, khúc sông rộng lớn mà tròn”. CSBV vào, gọi là vòng xoay. Chạy vô trong đó rồi xoay vòng vòng hổng biết đường ra. Nó giống như CS chống tham nhũng vậy. Cứ xoay vòng vòng; nhốt đồng chí nầy rồi xoay vòng qua nhốt đồng chí kia.

Ngoài Hà Nội, nó bắt đồng chí Nguyễn Ðức Chung (Con), thiếu tướng Công An CS rồi xoay vòng bắt tới đồng chí Chu Ngọc Anh). Trong Sài Gòn thì bắt đồng chí Tất Thanh Cang. (Cang cạp đất mà ăn cũng bị bắt nữa hè?)

Nên giờ ra sân tập thể dục, cứ nghe lao xao tiếng hỏi nhau: Ðồng chí vô lâu chưa?

(Nó khai trừ đảng rồi mới được nhốt mà mở miệng ra cứ đồng chí hoài hè? Ðồng chí gì mà giành ăn, nỡ chơi nhau cạn tàu ráo máng! Chơi đau đến nỗi Chung (con) phải ‘ói’ ra hai mươi lăm tỉ, hơn cả triệu đô Mỹ và nói xưa bị khùng; cho nó lấy tiền xong, có cớ để giảm cho Chung (con) 3 cuốn lịch).

Ra khỏi bùng binh, trên Ðại lộ Cộng Hòa chạy về phía đường Trần Hưng Ðạo, chợ Nancy, trường Trung học Petrus Ký nằm ở đầu đường phía bên tay phải.

(Xin phụ đề thêm chút chút là Petrus, tiếng Latin nên không có dấu sắc.)

Ðối diện bên kia cổng trường Petrus Ký là thành Ô-ma (Camp des Mares), là Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia Việt Nam hồi xưa.

Vì địa thế đặc biệt như vậy nên các biến cố chánh trị lớn, nhỏ thời đó trường Petrus Ký dù muốn dù không cũng bị “lan can”. Mà người thọ nạn tới 2 lần lại chính là nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký.

Cuối tháng Tư, năm 1955, Lính Dù của Quân đội Quốc gia Việt Nam và Công an Xung phong của tướng Bảy Viễn bắn nhau loạn xạ tại sân trường Petrus Ký.

Tạp chí Thế giới Tự do của Phòng Thông tin Hoa Kỳ, in trên giấy tốt, nên bọn học trò chúng tôi thời đó hay dùng để bao tập, có chụp hình một người lính phe Bình Xuyên nằm chết gần phòng thí nghiệm của trường.

Tượng đồng ông Petrus Ký có một vết tròn hơi lõm vào vì bị trúng đạn bên má trái, gần hàm dưới. Sau năm 1975, tượng ông Petrus Ký bị mang đi! Hổng biết ổng có bị đem đi nấu đồng chảy ra để bán ve chai không nữa? Chết đã lâu mà cũng không được yên, còn bị đuổi nhà?!

o O o

Sử gia miền Bắc coi bộ không khoái ông Petrus Ký. Mấy thằng chả phán rằng: “Về mặt văn hóa, Petrus Ký có công. Về mặt chính trị, ông có tội theo Tây, tội làm tay sai cho giặc  (?!)’’

Nhưng bà con đất Sài Thành cự lại, nói: “Petrus Trương Vĩnh Ký có công rất lớn trong việc phát triển và truyền bá chữ quốc ngữ thuở phôi thai để tiếng Việt mới có được ngày hôm nay. Petrus Ký, một danh nhân văn hóa, “Ngát tỏa trời Tây danh thông thái. Thơm hồn Nước Việt rạng non sông”

o O o

Muốn vào học Petrus Ký phải qua kỳ thi tuyển rất gay go. Cả 7, 8 ngàn sĩ tử, đậu chưa tới 500, một chọi mười mấy để chen vào 8 lớp đệ thất! Danh sách đậu, như bảng vàng, được đăng trên trang nhứt nhựt báo Thần Chung của ông Nam Ðình. Một vinh dự lớn lao biết bao nhiêu mà kể.

Cổng trường Trung Học Petrus Ký bề thế, cao khoảng 4 mét, có khắc ‘Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt. Tây Âu khoa học yếu minh tâm!”, hai câu đối của Giáo sư Hán văn Ưng Thiều.

Qua khỏi cổng là một sân có trải đá xanh cán nhỏ, có hai cây điệp tây rất lớn. Vào mùa thi, điệp trổ bông vàng rực rỡ.

Ngay chính giữa là Hành lang Danh dự, lót gạch bông, không đứa nào dám héo lánh lên chạy chơi. Bước xuống tam cấp, là sân trường hình vuông vức có tượng Petrus Trương Vĩnh Ký, mặc áo dài, đội khăn đóng, ngực trái đeo một dãy huân chương.

Cuối lầu trệt bên tay phải, qua một hành lang nhỏ là lớp Ðệ thất 5, niên khóa 1963, của tui đó. Ðối xứng phía bên kia là phòng Giám thị, nơi thầy đứng đó nhìn lũ học trò từ nhà chứa xe đạp qua hàng sao đi vào.

Kỷ luật của trường Petrus Ký nghiêm khắc suốt 7 năm còn hơn trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt chỉ 4 năm! Học trò Petrus Ký phải mặc áo sơ mi trắng tay ngắn bỏ trong quần dài màu xanh dương đậm. Trước khi vào lớp, học sinh phải xếp hàng đôi ngay trước lớp. Ði ngang thầy cô đứng là phải cúi đầu chào. Vô lớp vẫn đứng nghiêm, chờ thầy hay cô cho phép rồi mới được ngồi xuống!

Ðứa nào tóc dài, mang dép Nhựt, không đeo hiệu đoàn bằng ‘mica’ có ghi tên ghim trên túi áo hoặc trả bài không thuộc sẽ được ăn hai cái trứng vịt đóng khung lại (zéros encadrés) bị cấm túc.

Ngán nhứt là đưa cái giấy báo cho Tía mình. Bảo đảm mình sẽ biết điểm sôi nó nóng đến thế nào?

o O o

Ðám học trò Petrus Ký cũng như Miền Nam thời chiến chia hai. Có đứa theo quốc gia; có thằng theo Việt Cộng. Theo quốc gia thì nhiều. Theo Việt Cộng chỉ lèo tèo vài ba đứa, nên tụi nó êm ru, im re. Vì sợ gáy té te ‘chống Mỹ cứu nước’ gì gì đó sẽ bị lính bắt là bà nội cũng đội chuối khô.

Sau 75 ‘cướp’ được chánh quyền (như chúng tự nhận), chúng bắt đầu ba đía. Mà lớn họng, xạo ke nhứt là: Lê Văn Nghĩa (1953-2021) tức Hai Cù Nèo. Phe ta thì lẳng lặng làm thơ gợi nhớ thời đi lính, thuở tù đày, rồi trồi ra biển vượt biên.

Năm ngoái có một vị Giáo sư Tiến sĩ học trước tui cả chục năm, qua Úc du thuyết, tui mon men tới: “Dân Petrus Ký nè anh!”

Sau vài ly rượu đỏ, ảnh hỏi tui có đọc thơ Petrus Tô Thuỳ Yên (1938-2019) không? Dạ có! Thơ tù, ổng viết tại Trại biệt giam 3C Tôn Ðức Thắng, năm 1991.

“Phòng biệt giam tối mốc thấp hẹp/Ta ở đây. Hơn bảy tháng rồi/Cánh cửa sắt nặng nề sừng sững/Sáu diện tích xi măng khuôn ép hãm đè…

Căn phòng này hồi trước nhốt Việt cộng. Bây giờ nhốt phản động…Lịch sử đổi phiên người gác ngục. Lúc giày đinh, lúc dép râu.”

Huynh trưởng hỏi tui có đọc “Mùa hè Petrus” của Lê Văn Nghĩa, (học sau tui 2 năm), không?” “Tui nói không! Nó viết gì thì kệ nó chớ”.

Cột thu lôi

Đoàn Xuân Thu
Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Bà con mình chắc ai cũng biết Giải quần vợt Úc mở rộng, cái Grand Slam đầu tiên của năm 2022, sẽ bắt đầu vào ngày 17, tháng Giêng.

Giải Grand Slam mở rộng chơi trên mặt sân cứng ở Melbourne rất được Djokovic ưa thích. Djokovic đã chiếm chức vô địch tới 9 lần và trong 4 năm liên tiếp gần đây trên mặt sân này.

Djokovic đã 20 lần vô địch. Nếu được cho phép thi đấu và bảo vệ thành công chức vô địch lần này, Novak Djokovic sẽ vượt qua hai đấu thủ lừng danh khác, cùng đoạt được 20 Grand Slams là Roger Federer và Rafael Nadal. Lúc đó, Djokovic sẽ trở thành tay vợt đơn nam vĩ đại nhứt trong lịch sử môn quần vợt đơn nam.

Novak Djokovic, bay suốt đêm hơn 15 ngàn cây số để đến thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, Australia. Nhưng khi đáp xuống phi trường Tullamarine, vì chưa chích ngừa, Novak Djokovic bị hủy thị thực nhập cảnh. Novak Djokovic bị tạm giữ chờ trục xuất trên chuyến bay kế tiếp để rời khỏi nước Úc.

Thủ tướng Úc Scott Morrison đã chém gió: “Rules are rules” (Luật là luật). Nhưng Novak Djokovic không đồng ý: “Rules gì mà kỳ như vậy? Cấp visa, thị thực nhập cảnh cho tui vô rồi lại nhốt tui?”. Djokovic kiện chánh phủ Úc ra Toà. Và Thẩm phán Liên bang xử cho Novak Djokovic thắng kiện.

Dân Úc gốc Serbia đổ ra đường phố nhảy múa ăn mừng rồi đụng độ với cảnh sát. Bên thủ đô Belgrade của Serbia, cha, mẹ, em trai của Djokovic họp báo đánh trống thổi kèn inh ỏi, nổ như pháo Mùng Một Tết ta.

Nhưng 83% trong 60 ngàn dân Úc qua một cuộc khảo sát ý dân của NewsCorp muốn Novak Djokovic “go home”, về nhà chơi đi!

Thủ phủ Melbourne năm rồi bị nhốt trong nhà cả 112 ngày đêm ròng rã. Theo chánh phủ, đó là cái giá đáng phải trả để giữ cho nhiễm Covid ở mức thấp (?!). Hàng chục nghìn người dân Úc ở hải ngoại đã không được trở về nhà, dẫu là để được gặp người thân đang hấp hối. Ðó là một ký ức đầy đau đớn.

Ai cũng biết thuốc chích ngừa là cách duy nhứt để ngăn chặn đại dịch gây ra thảm họa nầy. Hơn 20 triệu người, 90 % dân Úc đã ngoan ngoãn tuân theo lời kêu gọi của chánh phủ để chích ngừa. Giờ thì chánh phủ lại mời một tay vợt chống chích ngừa có hạng vô chơi giải Úc mở rộng thì đâu có được. Vua Tây Ban Nha hay Nữ hoàng Anh đến đây cũng phải chích ngừa rồi mới được vô, huống gì một tay chơi quần vợt?

o O o

Báo chí phương Tây chơi chữ “Novak” đồng âm với “No Vaxx”; nghĩa là không chịu chích ngừa. Trong 100 cây vợt nam hàng đầu thế giới trong bảng xếp hạng của ATP (Association of Tennis Professionals), chỉ có hai người không chịu chích ngừa. Novak Djokovic là một trong hai người đó. Những tay vợt khác cảm thấy không thoải mái vì Novak Djokovic tự làm luật cho riêng mình.

Trong thời buổi nhiễu nhương, biến thể Omicron tràn lan trong bầu không khí chúng ta đang thở rất là đáng sợ. Nên thiên hạ sợ Novak Djokovic không chích ngừa luôn!

Hậu quả nhãn tiền, thấy liền trước mắt: Novak Djokovic trở thành cái cột thu lôi, hút sấm sét từ người dân Úc. Chánh phủ của “mông xừ” Scott Morrison lâm vào cái thế khó: “Ðói lòng ăn trái khổ qua; Nuốt vô thì đắng, nhả ra bạn cười”. Phải chi ngay từ đầu cứ thẳng mực tàu: Chưa chích ngừa là không được vào nước Úc thì đâu có chuyện lùm sùm, bể bạc tòe loe đến như vầy.

Novak Djokovic trở thành “cái gân gà”. Ăn thì không có thịt, chánh phủ Liên đảng bỏ đi thì không biết phải làm cách nào? Vì chỉ còn 5 tháng nữa là tới ngày bầu cử Liên bang Úc. Làm lạng quạng là dân Úc nó quạu, nó cho nguyên nội các về chăn vịt hết ráo thì báo.

Vậy là Bộ trưởng Di Trú Alex Hawke sai đệ tử vạch lá tìm sâu để tìm cách trục xuất Novak Djokovic về lại thủ đô Belgrade của Serbia chơi đi. Ðệ tử tìm được một con sâu róm to tổ nái, hình thù xấu xí; bèn bắt đưa lên cho ông Bộ trưởng coi. Con sâu đó là: Trong tờ đơn xin nhập cảnh có câu hỏi: “Trong 14 ngày trước khi đặt chân vào Úc có đi du lịch ở đâu không?”. Djokovic đã đánh dấu “Không”. Sự thực là bị nhiễm COVID-19 vào ngày 16 tháng 12, Djokovic không cô lập theo quy định của chánh phủ Serbia mà còn bay đi Tây Ban Nha tham gia các sự kiện một ngày sau đó. Có hình ảnh ghi lại sờ sờ trên YouTube nên Djokovic hết đường chối tội man khai với chánh phủ Úc.

Nghe đàn em báo cáo, Thủ tướng Scott Morrison xách bàn toán ra khỏ để tính lợi hại. Tiếp tục chuyện bé xé ra to hay cho nó chìm xuồng tại bến? Cuối cùng ngài Thủ tướng núp sau lưng ngài Bộ trưởng khều nhỏ: “Chơi nó đi!”. Ðược sếp bật đèn xanh, ngài Bộ trưởng Di trú lần thứ hai hủy thị thực nhập cảnh của Novak Djokovic; với lý do là để bảo vệ lợi ích của người dân Úc.

Luật sư của Novak Djokovic lại đưa chánh phủ Úc ra Tòa Liên bang.

Ba ông Tòa Liên bang phải bỏ cả ngày Chủ Nhựt nhịn uống bia, ăn thịt nướng, phải ra pháp đình mà ngồi xử kiện vì mai, thứ Hai, giải quần vợt Úc mở rộng sẽ bắt đầu.

Nếu thua kiện, Novak Djokovic sẽ bị trục xuất. Không được vác cái bản mặt mo léo hánh tới thăm mấy con “Kangaroo cái” suốt ba năm trời dài đăng đẳng thì buồn lắm đó nhe!

o O o

Theo lời ba hoa chích choè của cha con nhà Djokovic thì Novak khoái tự do. Tự do kiểu thân thể của tao, tao muốn làm gì thì làm.  Không muốn chích ngừa là không chích. Không ai được quyền ép dầu, ép mỡ gì ráo nghe không!

Nhưng các nước Pháp, Anh và Mỹ tổ chức các Grand Slam đều yêu cầu các tay vợt phải chích ngừa mới cho tham dự giải. Vậy là Novak Djokovic tìm cách luồn lách luật. Nên có người nghĩ, ngoài cái tài đánh quần vợt ra, Novak Djokovic còn có tài hô phong hoán vũ: “Này âm binh âm tướng ơi!” để điều khiển con virus nữa. Lúc nào cần, là Djokovic kêu con virus lại cho mình nhiễm để được miễn trừ y tế, được nhập cảnh vào xứ người, cầm vợt đánh trái banh nỉ qua một cái lưới căng ở giữa sân để kiếm hàng triệu đô tiền thưởng.

Thế là chỉ trong vòng có 6 tháng mà Novak Djokovic nhiễm virus tới 2 lần. Nhiễm liên tu bất tận! Làm như con “Coronavirus” rất tha thiết yêu, không muốn rời xa Djokovic quá lâu.

Bà con nghi Novak nói dóc nên đề nghị đè chú ra lấy máu tìm kháng thể để biết lần thứ hai Novak có bị nhiễm virus thiệt hay không? Nhưng dễ gì Djokovic chịu.

o O o

Có người nói mọi chuyện rắc rối nầy đều do Novak Djokovic mà ra cả. Anh ta chống lại khoa học, chống lại những người coi việc chích ngừa là cách duy nhất để thoát khỏi trận đại dịch đáng nguyền rủa này.

Là một tay vợt số một thế giới ắt có rất nhiều người hâm mộ, nhưng đặt cái tôi trên hết, Novak Djokovic không quan tâm đến khán giả là người đã bỏ tiền ra để xem mình thi đấu.

Những bài học của lịch sử gần đây cho thấy rằng những người giàu có và quyền lực ngày càng có khuynh hướng bẻ cong thực tế theo ý muốn của họ.

Tất nhiên, Djokovic đã trở thành cột thu lôi cho sấm sét của người dân Australia đã bị cô lập vì đại dịch lâu nhất trên thế giới. Nếu muốn tiếp tục chơi quần vợt, Djokovic cần phải chích ngừa. Cần quyết định xem mình sẽ trở thành vận động viên quần vợt đơn nam số 1 thế giới hay tay vợt chống vaccine số 1? Không thể là được cả hai cùng một lúc.

o O o

Trong trận chiến về thị thực nhập cảnh với chánh phủ Úc, Novak Djokovic là người bị thiệt hại nặng nề nhứt. Novak Djokovic bị mang tiếng là một nhà vô địch thế giới về quần vợt lại là một con người dóc láo, không trung thực.

“Ðất nước của họ, luật lệ của họ!” Novak! Chích rồi chơi. Không chích không chơi. Không chích đòi chơi là không chịu chơi.

ĐXT

Gió mùa Thu em ru anh ngủ

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Khi xưa năm canh em đều ngủ ngon vì ru có chút xíu con thơ đã mê man thiêm thiếp giấc điệp, thôi quấy rầy. Ai nỡ đếm thời gian, thoáng chốc cái cò cái vạc đã đủ lông đủ cánh bay xa, chả thèm giẫm lúa nhà mình nữa. Gia cư buồn lặng, thoắt cái tuổi già đến bên thềm khiến nhà thêm mênh mông. Tuy chẳng con đàn cháu đống nhưng một gái một trai chúng nó cũng biết đẻ đái, mỗi năm ở chốn xa lộn về mái nhà xưa, đèo bồng thêm mấy “cục cưng” cho tía má hưởng ké niềm vui đoàn tụ dăm ba ngày, ông bà đau lưng trông cháu nội cháu ngoại làm giặc phá phách xáo trộn đủ điều trong cái ấp hẹp té. Khóc, cười cứ thế mà dài hơn năm canh. Con nít mà ba, phải năng động thế mới chóng lớn. Đứa con nói. Mẹ nó làm đồng minh hỗ trợ, ai như ba mày cứ y như con cù lần thích ngồi yên một chỗ, hèn gì giờ này như cây sậy hở tí là cảm mạo nhức đầu bắt tao nấu cháo với cạo gió liên hồi kỳ trận.

Con dâu xà tới táy máy gỡ đi cục gạch: Mẹ nói sao a chớ. Được như bố là xịn quá chời, một cây sậy biết suy tư. Kỹ sư tâm hồn chứ không đùa đâu, hở bố? Ông Trần không nhìn cái vóc vạc đẫy đà sỗ sữa vừa tới đứng kề bên ông. Về thăm bố chồng mà sao mầy ăn vận mát mẻ quá, thông thoáng quá, bức xúc quá, chả nể nang vị tình gì cả. Cái màn hình lap top còn sáng đèn kia kìa, báo Thanh Niên loan tin một cụ ông 70 tuổi vừa ra toà chịu án mười năm vì hiếp hai cô con dâu và quấy rối tình dục bốn cô cháu gái trong suốt tháng mới bị đổ bể. Lại có một cụ ông khác chẳng biết làm gì mà cực đoan viết đơn xin được đi tù vì quá nhục nhã. Chuyện bên mình giờ nầy quá lạ, một cha nội tay cầm tờ giấy xuất viện do bác sĩ chứng thực bệnh nhân này không bị ung thư tử cung. Có nghĩa là sao? Anh ấy vẫn còn khả năng đẻ đái được đấy nhỉ? Anh liệu sức cho con bú nổi không? Rồi “ru em ngủ” cho thét cho muồi để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu…

Nhà ông Trần bây giờ như một nước Việt Nam thu nhỏ, trước chỉ là rẻo đất miền Trung, sau nhờ gái lấy chồng Nam trai tha về cô người Bắc thành ra ba miền tự nhiên mà sum họp, đề huề hay không thì chưa có điều kiện kiểm chứng. Nhưng nhỡ chúng có chửi bới nhau thì cũng chớ lấy đó làm điều vì ông bà mình từng dạy: Thương nhau lắm, cắn nhau đau. Hoặc: Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi. Thằng rể đi đâu cũng tha theo xâu bia: Dô cái này đi tía. Mày thương tao kiểu hơi bị lạ, sao cứ liên hồi kỳ trận ép uống men đắng nồng cay? Đứa con dâu coi bộ thương ông nhất nhà, nó vô tư cho roi cho vọt: Con đọc thấy một đôi chuyện bố viết chưa đạt vì thiếu thực tế, cách thức đi vào động tìm đĩ cho tới cách bọn chúng ăn nói. Phải đéo mẹ mầy chứ ai lại viết là tôi có gì không tốt mà anh chê bai? Ấy chết, thế thì từ nay bố thôi viết chuyện đi chơi đĩ nữa nhá. Đúng đấy, thiếu cơ sở! Chí ít bố phải từng qua trải nghiệm, như này: “Chưa đi chưa biết Đồ Sơn, đi rồi mới thấy không hơn đồ nhà”. Ừ, bố xin nhận tội, cả đời chỉ biết cơm nhà quà vợ thì chả nên cơm cháo gì cả, nhỉ? Í, nói nhỏ thôi bố, mẹ mà nghe được thì lại mắng con rằng nó vẽ đường cho hươu chạy!

Thằng con rể thật thà, xuề xoà, tâm lành, ít nói. Ngay cả khi “rượu vào” cũng hổng thấy “lời ra” luận bàn thế sự cho tía nó học hỏi. Riêng cô con dâu thì khôn ngoan đáo để, ưa để tâm phê bình, góp ý, kiểm thảo. Thích tùng tam tụ tứ để phô trương kiến thức, ưa làm tài khôn và hầu như chuyện gì “con nhỏ” cũng am tường cả. Thảo nào thằng con ruột ông Trần trước đây tốt tướng, ai cũng bảo vợ chồng ông khéo nuôi mà từ khi lấy vợ thì đâm ra xuống sắc vỏ vàng. Nó đích thực là vàng hàng nhái, rất mực sợ lửa. Mang họ Trần mà tuồng như nó chẳng biết lịch sử nước nhà từng đề cao tướng Trần Bình Trọng thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc. Nó an tâm đi dưới tấm bảng chỉ đường có ghi chú nhất vợ nhì trời. Nó chăm con giỏi, khéo gia công vào việc củi lửa cũng do công lớn mà vợ giáo huấn uốn nắn chuyên cần học tập cải tạo. Nếu còn ở bển, hổng chừng ông Trần đã đăng báo từ con khi nghe nó ăn nói bổ bã: Nồi da xáo thịt mà làm gì, thua thôi ba ạ. Cả miền Nam cũng bị người phương Bắc giải phóng đó thôi! Không đéo mẹ, chẳng đù má, ông Trần ngó thằng con cù lơ xít xụi ngậm đắng nuốt cay. Làm trai mà chẳng nên trai một ly ông cụ. Sinh ra ngươi là thằng hèn này đây, mà hiểu ngươi duy chỉ mình vợ ngươi thôi vậy!

Nghỉ hè, chúng nó ới nhau từ thành phố khác về chốn này thăm ba mạ. Mạ có vui mà ba thì không. Ông Trần thích vắng lặng, ông Trần chẳng ưa bị xáo trộn, hoán đổi không khí. Ông Trần quan niệm hạnh phúc hoặc nỗi khổ đau của từng đơn vị gia cư thì chớ nên can dự tới, vì mình làm sao đủ sức để hiểu thấu, để san sẻ, để chia sớt? Kể cả việc mà người ta gọi là trả hiếu. Ờ, quan hoài ngó ngàng tới tuổi già của ba thì ô kê, mà con cái lơ là khi bận lu bu bên vợ chồng chúng nó thì cũng ô kê nốt. Thương thì nhờ, ghét thì chịu, tuyệt đối ông Trần chưa từng ngửa mặt lên trời cười lên ba tiếng, gầm đầu xuống đất đánh rơi ba giọt lệ. Ông bà nội chúng bây từng nói, bàn tay có ngón ngắn ngón dài, biết làm sao hơn. Mang bàn tay trời sinh ấy vào thẩm mỹ viện chỉnh sửa thì coi sao đặng! Đàn bà họ độn ngực độn mông sửa mũi cắt mắt thì cũng là hàng giả đó thôi, ích gì mà vui thú?

Thằng con rể thích ăn hủ tiếu, ông Trần thèm món bún bò nhưng cậu con trai một mực đòi xắn tay trổ tài ninh hầm phở. Ủa, nó có giấy xuất trại hồi nào vậy cà? Thì cứ thử xem quá trình nó học tập sáng mắt sáng lòng tới ngang đâu. Vợ chồng nó giao con thơ cho bà nội trông sau khi hỏi đường đi nước bước ra khu chợ người Việt xa xứ phô trương thương hiệu to đùng đi kèm chữ Tàu hoành tráng. Con thơ thôi ngậm vú mẹ, mẹ vừa vô tư buông áo xuống che đậy một đặc khu trù phú nõn nường, trông lên: Bố biết chỗ nào có bán thịt cầy không ạ? Đã bộn tháng ngày chẳng có điều kiện để xơi lại món đặc sản ấy. Thôi, cho bố xin. Đời người vốn nặng nghiệp chướng, ác đức bất nhân cũng chỉ chừng mực nào đấy thôi. Có nghĩa là sao? Bố chừa ăn thịt? Phỏng chừng chốc nữa chỉ thích ăn phở không người lái?

Như mọi khi, ông Trần miệng ngậm hột thị, chẳng biết trái bồ hòn nó đắng tới cỡ nào. Cô con dâu này gốc ở Hải Dương, địa linh mà năm nọ từng nổi cộm một sự kiện làm Tây ba lô ưa lạc chân đến tham quan đòi làm nạn nhân, nơi sinh ra một quý bà rất thích gọi taxi để di chuyển, để mỗi bận lên xe là hiếp dâm anh tài xế không khoan nhượng, bất kể già trẻ nhớn bé. Hiếp đáp tơi bời hoa lá, có ông không kham nổi, mau nóng chóng nguội tuột xích giữa đàng nên vụ việc lùm xùm nọ mới lộ hàng yêu nữ. Rõ là “người đâu gặp gỡ làm chi, tài sản không đoạt thực thi truỵ đồi”. Đã bảo mà không nghe, xứ mình nhiều chuyện lạ lắm cơ! Thế mới bày ra thi phú “Đất nước mình ngộ lắm phải không anh?”. Anh hổng biết đâu, em đừng hỏi nữa. Buồn miệng xúi anh thực thà khai báo thì em có bới xách vào trại tù thăm anh hôn? Thơ với thẩn! Chính chị mí lị chính em.

Không phải gia đình trị, cũng chẳng phải bố làm quan mà con cũng làm quan thì dân tộc được hạnh phúc, cũng không nốt việc cha chí thú mãi ca ngợi nói tốt đề cao con… nhưng khách quan để nói là thằng con ông Trần đẻ ra, quý tử nấu phở rất đẳng cấp, ngon chi ngon lạ. Gốc Huế mà ninh phở thơm ngát, ngọt lừ, thanh tao, sự cố ấy đúng là cổ lai hy! Đang ngồi thiền toạ ở chùa Thiên Mụ mà hương ngào ngạt từ chùa Một cột rậm rật xô về buộc phải tỉnh thức, lơ là gạt bỏ bao công án. Xơi bát nhỏ xong lại đòi ăn thêm bát khác. Đứa con dâu nói, sao ngay từ đầu bố không gọi bát xe lửa nhỉ, khổ thế! Mẹ chúng can thiệp, ăn in ít a, tui đồ chừng thức này chứa lắm mỡ màng rồi thì ông sẽ chóng gặp người đẹp cholesterol. Vợ thằng cu háy, nguýt: Giời, mẹ lại lo bò trắng răng! Chúng con ăn tuần ba lần mà có chết thằng Tây nào đâu. Đứa con rể cười hề hề, mình ăn mà bắt thằng Tây phải chết thì rõ là món phở này e nên mang thương hiệu Điện Biên Phủ độc cô cầu bại. Hắn lại rót bia bắt tía đưa cay, hắn làm như bia thương chứ hổng có ai thương đâu ba à. Mày cưa vậy là đã nhiêu chai? Lái xe nổi không mậy? Hắn vuốt râu: Vợ con lèo lái mà ba, nàng lập ngôn tui đâu dại giao mạng cho anh, hổng an toàn xa lộ chút nào ráo trọi. Nói xong hắn lại cười, nửa xác tín nửa thẹn thùng, nửa mặt tái nửa đỏ mặt. Thằng thật dại ngỗ, không biết nịnh vợ một mảy may! Con gái rượu ông Trần phải lòng thằng này e chỉ vì hắn có nụ cười rất đỗi thơ ngây. Đứa mang tà tâm nụ cười ắt phải khác, bọn trong nước gọi là cười đểu. Và có một thứ đáng tuyên dương, là hắn giỏi việc rửa chén bát, vừa sạch vừa nhanh hết sẩy. Về chơi một hai hôm, chỉ riêng mình hắn nai lưng ra kỳ cọ, úp vào rá có thứ lớp, đâu ra đó. Thật là con ai mà khéo nuôi! Hắn cũng biết phương thức dạy dỗ con: Vòng tay chào tạm biệt ôn đi, nói tiếng Việt hẳn hoi nghe con, có rứa ôn mới thương. Mày mà cà chớn thì lần sau về ôn khôn cho vô nhà mô, chỉ việc dậm cẳng ngoài cửa mà khóc hu hu. Ông Trần dòm mặt mụ vợ: Bà đã nghe hắn giả giọng người mềnh chưa? Ông mắng yêu (không phải mắng đểu): Mụ cô mi, nghe mà đứt ruột!

Thôi, tụi con dông nghe ba. Thế nào dịp sau có cái long week-end cũng thu xếp về thăm ba má, dù cà chớn tới mức nào ông bà ngoại cũng mở cửa cho vô, hén? Vợ ông Trần đòi hôn đứa cháu một miếng: Nói chí phải, không mấy khi nhà được chộn rộn. Lần tới thì mạ đổ bánh bèo làm bánh bột lọc cho mà ăn. Mạ thích chộn rộn lắm. Dạ, nhưng mà rửa mấy cái khuôn bánh với xửng hấp có dễ không mạ? Ôi, khỏi lo, dễ như ăn ớt rứa mà. Chèn đét ơi, có phải là má nói dậy mà hổng phải dậy đâu nhen?

Lần này thì không nghe cô con dâu nói năng chi, hình như chốn đông người nên đương sự không tiện thổ lộ nỗi lòng. Thị chỉ kề tai nhỏ to với mạ chồng. Vợ ông Trương cứ thay đổi sắc diện theo kung-fu truyền âm nhập mật của Hải Dương cô nương. Nghe thằng chồng hối thúc mới thôi bu như sam. Tụi con đi nghe ba mạ, nồi phở con nấu theo công thức dùng cho cả một trung đội ăn, thành thử ba mạ cứ rứa mà ăn lai rai cho qua ngày đoạn tháng. Trước khi hâm nóng thì chịu khó vớt bớt màn mỡ đi, là ổn, là húp, là nhức nách.

Rồi xe trước xe sau chậm rãi rời khỏi khoảng sân vàng úa màu cỏ, xa dần ngôi nhà có cha già mạ yếu mãi quen hàn huyên cùng niềm cô quạnh. Ông Trần có cách giải quyết, cứ loay hoay tìm niềm vui qua chữ viết, việc động não tự sướng riêng tư nọ khiến bà vợ đành hanh, nhạt mồm đọc ca dao: “Anh buồn còn chỗ thở than, em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya”. Vô nhà, đóng cửa cài then xong, ông Trần liền hỏi: Hồi nãy, mạ con bây tâm sự nhỏ to chuyện chi mà coi bộ căng thẳng ra mặt? Ui, chuyện đàn bà với nhau thôi mà, chẳng qua là hắn đang mang thai, hắn nói bữa mô bụng to con sẽ lôi mạ xuống ở với con cho lần vượt cạn dễ xuôi chèo mát mái. Thì bà trả lời làm răng? Thì ô kê thôi chớ biết nói chi khác. Đã làm mạ thì ai cũng rứa cả, phương chi tự bữa đầu thằng cu chồng hắn đã dúi vào tay tui cái phong bì bôi trơn. Ông Trần thắc mắc, tui không tiện săm soi hình tướng, vậy chơ đứa con dâu bà bụng đã lớn chưa? Thì bởi rứa, có dòm chăng là dòm vòng một chớ ai đâu thiết ngắm vòng số hai. Hắn có mang đã ba tháng rồi. Vậy thì tới mấy tháng thì bà bỏ tui lại mình ên? Ủa, ông mô có ưa chộn rộn, ở một mình đơn côi là hợp ý chàng rồi, đòi chi hơn?

Cẩn tắc vô ưu, chuyện ấy hầu như ai cũng tường, nên dâu bụng mang dạ chửa mới có bảy tháng đã nhõng nhẻo gọi điện hối thúc mạ ơi mạ hỡi chừ mạ nên ở sát bên con, bố thằng cu cày bừa tắt quạt giao nhà trống cho con thấy cô đơn lạ, ăn cái giống gì, chắc không do phở, mà đứa bé trong bụng cứ năng nổ chòi đạp đột xuất chẳng kể ngày đêm, giờ đây con di chuyển chậm lụt cứ phải giữ ý giữ tứ… Kể lể miên man khiến vợ ông Trần sinh đêm dài lắm mộng, chịu đời không thấu như kiểu bị ngồi trên lò lửa bèn thu vén đồ đoàn đợi khuya khoắt thứ bảy thằng cu chạy u về rước đi đóng tròn vai “mẹ Lê Lai liều mình cứu con dâu”.

Như rứa là ông chịu khó côi cút một mình, chừng hai ba tháng, kham nổi không? Như kiểu hồi xưa ông đi hành quân rồi lại cắm trại trăm phần trăm chẳng tìm ra hai mươi bốn giờ phép. Vợ ông Trần nói trước khi diễn cảnh bịn rịn dùng dằng rời xa. Chừ còn sớm, đợi chờ thêm sốt ruột, chi bằng mình vô phòng leo lên giường nằm tỉ tê đôi câu. Bác sĩ cho thuốc giúp khỏi khô, cho kem thoa để đôi phần được êm ái, vấn đề còn lại xem thử súng ống ông có trở ngại việc tác xạ không? Đánh đấm có ra trò không? Tuy lâu hung rồi mới sinh chuyện xáp lá cà nhưng tui tin ông vẫn chưa đến nỗi tắt lửa lòng mô hí? Tui từng đọc lén chuyện ông viết tả cảnh mần ăn với con đầm nào đó, chi ly cảnh cởi áo cởi quần rồi cắc cớ bày ra khúc dạo đầu. Chừ thì tui muốn ông tái diễn cảnh nọ cho tui được mở rộng tầm mắt. Con đầm rên kiểu chi thì tui rên kiểu đó, quyết không phụ công sức ông bỏ ra.

Chẳng có thằng con rể để nghe nó giục “dô cái này đi tía” nhưng bổn phận ông Trần phút giây này là vô một cốc nước lạnh tống cho trôi viên thuốc màu xanh dẫu Hoa Đà tái thế cũng chào thua. Ông nghe theo lời chỉ dẫn nên truyền đạt ba phần hoả hầu: Em thoát y ra đi, cứ nằm dang tay dạng chân chờ chút xíu cho anh sôi máu, chừng nửa giờ đừng nghĩ cảnh con dâu đẻ đái mà nên nghĩ tới hồi mình hăm he đòi đẻ ra thằng cu. Phần anh thì cố nuốt nghẹn câu “thời oanh liệt nay còn đâu”. Này, không phải nói tầm bậy chớ bụ vợ thằng cu coi bộ to hơn bụ em hồi nớ, anh nhớ thằng cu khi nhỏ mô có được ngậm vú mạ vì hắn mút quá chừng quá đỗi mà chỉ lai rai ứa ra có vài hột sữa.

Thiệt là nói tầm bậy tầm bạ cứ ưa trông gà hoá cuốc, chẳng sợ mất lòng người từng đầu ôm tay ấp. Hắn bú tới no cành hông mới thôi chướng chứ không thì đã ré khóc tới náo động thiên cung. Hình như chuyện mặn nồng vợ chồng thường không mấy lâu, chừng hai chục niên là bạc tình chê bai chê cơm thèm phở. Hết ai không so đo ông lại mang cái đẫy đà của con vợ thằng cu ra đành hanh. Không thấy thằng cu ngày mỗi ốm o gầy mòn hay răng? E hắn đang sợ phở thèm cơm. Ông Trần thật thà: Bà nói kiểu trật đường rầy, hắn ốm là vì lao động hịch đụi ngoài trường đời chứ nào phải gầy nhom vì siêng phục vụ bà xã. Có vợ thơm thịt bắt mắt, đời sống tình dục mà đều đặn chuyên cần thì hắn sẽ chóng đỏ da thắm thịt. Vợ ông Trần trăn trở vặn vẹo trên giường: Ông cũng đỏ da thắm thịt rứa, làm lia làm lịa kẻo hắn về tới gõ cửa thì xôi hỏng bỏng không. Cần tui giúp một tay không? Cần tui hò ru em không? “Kiểu ni trọn nghĩa vợ chồng, thoa dầu đấm bóp tồng ngồng thấy thương”.

Nói ông Trần chí thú ra sức việc “trả bài” là oan bởi vì ông sẽ khát nước một thời gian dài khi cái giếng của ông sẽ tạm di dời về địa bàn khác. Hôm nay không lo nối sợi dây dài vào cái gàu ẩm lạnh để múc nước mà giải hạn thì mai kia mốt nọ sẽ hối hận, sẽ chịu khóc ngoài biên ải thôi. Ông Trần phải vin vô việc lao động trí óc một phần, ông nghĩ tới con mụ tóc vàng láng giềng y phục luôn hớ hênh khi ra nằm phơi nắng, và bầu ngực đầy của đứa con dâu, khi cháu ông thôi ngậm, ở đầu vú vẫn còn rịn ướt một giọt sữa trắng hiện hình coi bộ ngọt thơm. Nó phê bình ông không biết viết văn đi sát với thực tế, rằng đi chơi đĩ muốn xứng đồng tiền bát gạo phải khác cơ và chả hiểu do đâu khi về thăm bố chồng, quà của nó là nguyên một hộp Viagra đầy kè. Nó bảo: Hạng tuổi bố thích hợp hơn, chớ chồng con lạm dụng e không tốt, có ngày mà đứng tim.

Ông Trần thở, hì hà hì hục, hết xí quách thì lăn chiên đổ đèn qua một bên. Ông bải hoải đợi chờ lời phê bình kiểm thảo của vợ thì thời may có tiếng chuông cửa réo lên. Ông nói: Tướng giỏi khi đi hành quân là biết nắm lấy thời cơ, tới ngang đâu thì tạm hoãn binh ngơi nghỉ. Chớ ham lấn sâu mà ăn phải đạn pháo kích. Bà kíp ra mở cửa cho nó vào, hành trang cụ bị đã đủ đầy chưa?

Thằng cu con ông bước vào: Vạn bất đắc dĩ, ba chịu khó sống cô đơn một thời gian. Nếu đổi ý thì con thồ ba đi một thể cho đủ bộ sậu uyên ương. Cái này là con nói lén, không cho mạ nghe: Con ưa được như ba mà chưa tìm ra diệu kế. Ở gần con vợ như nó dễ tiêu đời trai quá! Mạ đi mô rồi ba? Ờ, mạ mi vô phòng tắm dội qua miếng nước hoặc lo đi đái một trộ bị sợ thúc thủ khi dong duỗi đường dài. Thằng cu moi trong bao ny-lông ra một đống dvd sang lại: Con vợ con kỉnh ba, nó sợ ba buồn khi thiếu mặt mạ. Ông Trần nhìn xem tựa đề bộ phim: “Chuyện Tình Không Đoạn Kết” của Hàn quốc sản xuất. Nó nói là thưa với bố phim nầy cực hay, lâm li bi đát, diễn nhiều cảnh nóng tới bến và cấm trẻ em dưới 20 tuổi xem.

Phim ảnh giờ nầy ngộ lắm phải không con? Ác ôn thật, 13 hoặc 16, cao tay là 18, chứ làm gì mà nó quảng cáo phải trên 20? Thằng cu “khuyến mãi tiếp thị”: Tài tử trong bộ phim nầy có con nhỏ giống y chang như con vợ con, thế mới chết một cửa tử. Vợ ông Trần tay xách cái bao rõ to bước tới: Cha con bây nhỏ to chuyện chi đó? Bà moi bọc áo khoác: Tui cho ông hai trăm đô, liệu mà ăn dè ăn xẻn kẻo thiếu trước hụt sau. Trước khi đi ngủ thì nhớ cửa đóng then cài, kiểm tra điện nước an toàn. Già rồi chứ xa ông, không ai coi ngó thực bụng tui cũng bất an. Tới nơi tui sẽ biểu sấp nhỏ gọi điện cho ông biết đi đường bình an.

Ông Trần đứng ngó hai mạ con leo vào xe. Xe nổ máy, đèn sáng nuốt dần khúc đường tối, chỉ còn lờ mờ đốm đỏ sau đuôi ông Trần mới thôi việc tiễn đưa. Chi thì chi, việc trước tiên là vào tắm một phát tẩy trần, trôi đi thứ dầu mỡ của một cuộc tình sẽ tiếp diễn cuộc trừng phạt, pha một cốc trà xanh rồi thả hồn vào thước phim xem đứa giống con dâu ông nó làm ăn dữ dằn tới cỡ nào mà phải cấm trẻ em. Già như ông, liệu nó có đủ sức ru ông vào giấc ngủ nhiều mộng mị? Gió mùa thu đi ngu ngơ ngoài cửa, vi vu.

Hồ Đình Nghiêm

Giấc ngủ

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Nguyễn Vọng thức giấc lúc sáu giờ. Sáng nào cũng vậy, đông hay hè, mưa ướt hay nắng khô, ánh sáng hay bóng tối; Vọng mở mắt và kim ngắn đồng hồ luôn đứng thẳng thớm dí đầu vào con số 6. Đôi lúc sớm hơn, có khi muộn trễ, nhưng sự sai biệt thường không quá mười phút.

 Vọng không giải thích được, như sách vở chẳng hề nói rõ tại sao loài gà trống thường cất tiếng gáy ở mỗi đầu ngày. Sự điều độ làm Vọng bực mình, dẫu biết rằng nó mang lại lợi ích đối với một vài kẻ khác. Vọng thử nằm nán, ôm chiếc gối vào lòng, siết chặt đôi chân. Trăn trở. Vọng thử làm một con toán, nghĩ tới tuổi tác, trẻ và già. Mệt mỏi…

 Sáu giờ sáng, có khi Vọng mở mắt, mắt ráo khô không ghèn và Vọng như thoáng trông bóng người con gái vừa lướt nhẹ, nhòe một đường sáng ngoài cái mùng nhà binh luôn lưu giữ bóng tối. Tấm vải mỏng còn rung động và Vọng luyến tiếc cho giấc mơ sớm bỏ đi nửa chừng. Giấc mộng thường hỗn độn, chồng lấp, đè phủ lên nhau. Khuôn mặt người con gái chẳng rõ nét. Mái tóc đen mềm, dài, rối rắm. Cô ngồi mặc lại áo quần, tấm lưng trắng toát như chiếc gối căng phồng dựng đứng. Cô gái nói: “Thôi, em đi”. Vọng đưa tay lên muốn kéo ôm nhưng trong vòng tay là hư không. Và Vọng choàng tỉnh. Miệng khô khát, một cánh tay tê dại, một cái đầu rỗng không.

 Chui ra khỏi mùng, Vọng xỏ chân vào đôi dép nhựa rồi ngồi bần thần nơi giường gỗ giây lâu. Chim sẻ kêu nhau ngoài sân ríu rít từng hồi, sau đó là sự tịch lặng len lỏi đi vào tai Vọng. Nặng nề, ngưng đọng. Chính nó làm cho tiếng chim trở nên đáng yêu và làm cho tiếng xe gắn máy chạy ở đâu xa gửi về thứ tiếng động buồn bã. Vọng thay áo quần, lột tờ lịch đóng cứng nơi vách. Một ngày khởi sự mở ra bằng tiếng chim và nó sẽ được đóng lại bằng tiếng chó tru đêm đầu ngõ. Yêu hay ghét là quyền của mỗi người, cuộc đời này vẫn luôn hiện hữu với sự góp mặt của chó và chim. Không thay đổi, chẳng làm khác đi được. “Thôi, em đi”. Người con gái luôn nói câu đó. “Ừ, thì em đi. Nhưng em đi đâu giờ này?”. Vọng không thể hỏi được. Mộng mị chẳng phải là đời thường mà người ta có quyền tra vấn lẫn nhau. Sự u mê ở trong đó dễ thương hơn là cái sáng suốt tột bực mà người ta luôn động não để đối phó lẫn nhau ở bên ngoài cảnh giới ấy.

 Gói trà đã hết. Vọng lắc nhiều bận cái hộp thiếc rỗng như muốn nghe một lời xác tín. Vọng súc miệng bằng ca nước lạnh và nhổ nó xuống chậu cây quỳnh đặt nơi bệ cửa sổ. Căn phòng nhỏ, giam cứng thứ không gian ít dưỡng khí. Một vài kẻ đã bước chân vào chỗ Vọng ở và những kẻ đó đều đưa ra thứ nhận xét na ná nhau. Lời bình phẩm thì đúng hơn: “Hôi quá, ngạt thở quá! Làm sao ông ăn ngủ với nó được?”. Vọng không trả lời. Sự giải thích chẳng phải là thứ tùy tiện chia đều cho mọi người. Mùi sơn, mùi dầu cá, mùi xăng, mùi keo… Những thứ mùi đó góp phần làm nên chất xúc tác khiến Vọng mê mẩn con đường tạo hình. Đã khá lâu, đổi thay qua hai ba triều đại, Vọng chưa từng một lần có ý định rời bỏ hội họa, dẫu đôi khi lòng Vọng chùng xuống, trắng mốc như một khung bố bị lãng quên. Ai cũng vậy cả, người ta đều phải trải qua một giai đoạn tuyệt vọng vô bờ. Vọng tuyệt vọng, giống như người quá giang, bước chân lên đò mà sông nước kia mịt mùng trào dâng chẳng thấy bến bờ. Hãy ngủ một giấc, hãy đánh thức tôi dậy hồi nào trông ra đất liền. Vọng ngủ, và Vọng bắt gặp những giấc mơ chòng chành xô đuổi tới. Người con gái có thân hình đẹp, cô ngồi xuống giữa luồng sáng, đầu vú hồng, vạt lông đen và Vọng nhìn rõ sự bất lực của mình trên bức tranh chẳng bao giờ hoàn chỉnh. Người con gái mặc lại áo quần, những đường cong bị phủ lấp, che đậy. “Cho em nhìn qua một lát có được không?”. Vọng thối thác: “Anh chưa hoàn tất, hồi nào vẽ xong chính em là người trông nó đầu tiên”. Người con gái nhìn ra cửa sổ, nơi bình minh vừa nhú lên từng vệt màu bẩn, mắt mơ màng. Cả khuôn mặt, chỉ có đôi mắt cô là quyến rũ nhất. Sự quyến rũ lạ thường, nhìn vào để thấy trong ấy chứa đựng một niềm u uất nào đó. Bí mật, và nó đánh động lòng ta ít nhiều nghi vấn. “Thôi, em đi”. Cô gái bước nhẹ hẫng trong khi nói, giọng xa vắng. Gió lùa vào cửa sổ lạnh buốt, những tờ lịch cuốn cong lên và căn phòng trở lại sự tịch lặng muôn thuở. Vọng với tay cố níu lấy tà áo trắng, những ngón co quắp, những ngón tay vấy sơn lem nhem, đỏ bầm như bị rỉ máu. Vọng gào lên rồi Vọng thức giấc. Cây kim giây chậm rãi chuyển dịch trên mặt đồng hồ. Sáu giờ mười phút.

 Vọng mở cửa, buổi sáng trời đục màu sương. Cây trứng cá trước mặt nhà vẫn chôn chân ở vị trí cũ từ khi Vọng tới thuê. Nó vẫn thế, không cao hơn và dường như loại cây ấy thì luôn gầy ốm lá thưa? Góc sân có chôn cột gỗ dựng một cái trang thờ mà thoạt trông, nó tựa như thứ vọng lầu dùng cho loài bồ câu trú ngụ. Chim chóc không ghé vào bởi cái trang ấy sơn màu đỏ, có vẻ đe dọa. Thỉnh thoảng bà chủ ghé lấy tiền thuê nhà mỗi đầu tháng có vào mượn Vọng chiếc ghế để đứng lên bày biện chút hương hoa, cúi đầu mà khấn vái. Vọng nhìn ra, phát hiện sự thành khẩn của người đang mặc niệm kia và Vọng hiểu chim chóc dường như cũng biết đâu là chốn linh thiêng, là nơi không thể tụ bầy mà quấy rối. Ngày tháng, nắng mưa làm cho cái trang thờ kia biến dạng đi. Tấm lòng bà chủ nhà cũng nhạt phai dần cho ai đó khuất mặt. “Vậy đó, thời buổi bây giờ khó nói lắm”. Bà hít hà kể lể trong khi đếm tiền. “Người ta cày xới giải tỏa mộ phần, người ta ăn nhậu thịt cóc nhái rắn trăn chuột chó. Người ta đi chơi bời gặp phải con gái mình trong ổ điếm… Ôi dào! Ông họa sĩ cứ vẽ thần linh cho nhiều vào thì có lúc cũng đổi được thời vận đời mình… Tờ này rách nát quá, có tờ bạc nào lành lặn thì cho đổi giùm…”

 Ngày tháng đi rất nhanh nếu người ta phải chồng tiền thuê nhà mỗi đầu tháng. Và đồng thời nó bước thật chậm chạp nếu người ta thức giấc mỗi sáng để dọn lòng đón đợi một tin vui. Vọng chờ trông một lá thư ở ngoại quốc gửi về và sự đánh cuộc tự mình bày trò luôn đẩy Vọng lùi sâu vào nỗi buồn câm nín. “Vì tôi đợi nên người chẳng tới”. Câu thơ của ai đó mãi hoài là một lời trách nhẹ dội vào tâm tưởng Vọng. Đã lâu, cái địa chỉ này tuồng như đã bị xóa bôi trong trí nhớ người phát thư. Hoặc giả chiếc xe đạp của ông ta không tài nào vượt lên được con dốc. “Một địa chỉ heo hút”. Thùy Mị nhận xét. “Và em yêu vẻ tịch lặng này, như có sự cam chịu nào lẩn khuất”. Hôm ấy, Thùy Mị đứng dưới cây trứng cá, cô dong tay cố hái những trái đỏ chín. Những đốm nắng đục thủng người cô ấy, như một bẹ lá lớn bị sâu gặm lỗ chỗ. Một người đàn ông chuyên xây đắp lăng mộ trên núi đạp xe ngang xin ca nước lạnh, khuôn mặt đỏ ké và tiếng khà phát ra sau khi đã giải khát làm Vọng tưởng như ông vừa tợp xong cả lít rượu đế. “Cám ơn cậu”. Ông nhìn quanh, ngó tới Thùy Mị trong khi cởi nón phe phẩy quạt vào cái lồng ngực trơ xương. “Cây trứng cá… Bậy thật, lý ra nó không nên hiện diện ở đó”. Vọng ném trả cái ca vào trong lu nước. “Muốn hanh thông mọi chuyện, cậu phải tìm cách bứng nó đi”. Ông đặt bàn chân vấy bùn lên bàn đạp và run rẫy điều khiển chiếc xe chạy ngoằng nghèo xuống dốc. “Cậu tin tôi đi. Cậu cũng nên tin vào những chuyện nhảm nhí. Nếu không tin, thì xem như tôi chưa hề mắc nợ cậu ca nước lạnh, tôi đã trả, cả vốn lẫn lời…”. Mây xám trôi dạt ngang che mất mặt trời. Gió đùn bụi ở mỗi chặng đường người đàn ông đạp xe qua…

 Cây trứng cá vẫn chôn chân ở đó. Nó là cái gì mà khiến vận người không thể hanh thông? Những giấc mơ của Vọng tuyệt nhiên chẳng hề có mặt cây trứng cá đứng chen chân, và vì vậy Vọng chưa đủ sự rối trí để tin vào những chuyện nhảm nhí. Sáng nay, Vọng ngồi ở bực thềm và may thay, trong gió hiu hắt, Vọng còn ngửi ra chút hương mát ngọt từ cành lá nó xua nhẹ tới, mơn trớn trên da thịt như lời cám ơn thầm lặng. Có tiếng động cơ hục hặc vang động ở đâu đó, có thể nó đang tìm tới Vọng với sự rã rời của cổ máy già nua.  “May cho em chưa. Anh đã thức và anh chưa đi khỏi”.

 Chiếc xe gắn máy hộc tốc thở khói thắng đứng sát thềm. Thùy Mị trả tiền xe ôm trong khi Vọng đón lấy cái túi vải thật nặng nề của cô. Vọng ngửi ra một mùi lạ. Có thể từ người Thùy Mị. Có thể từ cổ máy bỏng khét. Chiếc xe mang tiếng động vui tai trở ngược về lộ trình cũ. Nó đã chém xuống buổi sáng tĩnh lặng rách một đường khe và giờ này vết thương đã khép miệng lại.

 “Xuống tới ga, không hiểu sao người em nghĩ trước tiên là anh”.

 “Cô đi đâu bấy lâu nay?”

 “Em đi công chuyện. Một tuần, có lâu không anh?”

 Vọng nhìn mái tóc rối của Thùy Mị. Nhìn chiếc áo cụt nhăn nhàu, và sau cùng đặt để đôi mắt vào hạt nút trên không cài. Da thịt rám nắng lộ ra phía sau. Mùi lạ mà Vọng ngửi có thể là mùi sóng gió dằn xóc, đường xa bụi bặm mà cô ấy phải hứng lấy khi băng qua.

 “Em không có quà cho anh, nhưng em mang về một tin vui”.

 Thùy Mị xô cửa bước vào nhà.

 “Một tuần, đủ gây cho anh nỗi nhớ không?

 Vọng nhìn Thùy Mị từ đằng sau. Tại sao cô ấy không thể là vợ mình? Đến một lúc nào đó, người ta cần phải có cho riêng mình một người đàn bà. Những kẻ tu hành, họ coi đàn bà là cái giống gì? Và như vậy suốt đời họ chẳng bắt giữ được sự hanh thông?

 “Nhớ”. Vọng nói khẽ.

 Thùy Mị nhìn vào mặt Vọng như thể tìm kiếm thêm điều gì đó sau chữ nhớ. Mặt cô thoáng bối rối, lãng tránh ánh mắt Vọng bằng cách cúi đầu mở rộng miệng cái túi xách.

 “Cho em tắm táp giũ sạch bụi đường trước rồi hẳn nói”.

 “Phải, chuyện gì cũng còn có đó. Vấn đề là cô có còn bày ra một cuộc đi xa nữa không?”

 Quần lót, nịt vú, áo thun, xà-phòng, khăn tắm. Thùy Mị liền tay lục soạn và sau cùng Vọng trông thấy những hạt cát vàng nằm lắng đọng dưới đáy túi xách.

 “Cô đi Nha-trang à? Sao lại bảo đã quên lãng cuộc tình ấy rồi?”

 “Không. Em đi Vũng-tàu… Em nói có tin vui là vì ở đó em tình cờ gặp lại người bạn cũ…”

 Thùy Mị moi ở trong lưng quần ra một phong bì.

 “Hai trăm đô. Người ta hứa sẽ mua tranh anh và họ ứng trước cho anh một nửa”.

 Vọng nhìn cái phong bì có in hình chiếc máy bay và chữ Par Avion màu xanh bên dưới. Lá thư Vọng đợi chờ bấy lâu, của đứa em từ ngoại quốc gửi về cũng y hệt thế, có thể thua kém hơn về nội dung mà nó chứa đựng. Tiền. Hai triệu đồng. Bàn tay Thùy Mị có hơi run khi đưa ra. Vọng cầm lấy bao thư mỏng, cảm nhận cái chất giấy mềm oặt muốn rũ liệt bởi thấm đẫm mồ hôi của Thùy Mị. Tiền bạc không mang lại hạnh phúc là một câu nói thiếu hẳn sự xác quyết và muôn đời nó khó thuyết phục người nghe. Vọng ngó màu da bụng của Thùy Mị trong khi chiếc áo xộc xệch chưa kịp buông xuống. Tới lúc nào đó, bụng người đàn bà sẽ lớn bộn ra, nó chứa ở trong đó biết bao điều huyền nhiệm và thằng đàn ông khi ấy sẽ quay quắt, sẽ lăn xăn trong cái hành động thừa thải mà sách vở gọi là con gà mắc đẻ. “Xin em hãy sanh cho anh một đứa con”. Câu nói ấy người ta sẽ nói ra trong một hoàn cảnh khác với cái hoàn cảnh mà Vọng đang có. Thùy Mị vẫn thỉnh thoảng tìm ra được người chịu mua tranh Vọng và điều đó chẳng có nghĩa xúi dục Vọng đẩy rộng thêm niềm tham, sân, si. Vọng thụ động, ngay cả chuyện bán tranh. Giá cả, Vọng không biết hô lên một con số. Và luôn ngạc nhiên bởi kiến thức về “kinh tế thị trường” của Thùy Mị. Xen lẫn trong niềm hối tiếc khi mất đi một tác phẩm, bao giờ Vọng cũng đón nhận sau đó một sự tự mãn đến ở nán vào người Vọng dài lâu. Không có Thùy Mị, có thể những giác quan của Vọng sẽ lần hồi bị xơ cứng đi.

 “Anh đã ăn uống gì chưa? Đợi em tắm xong tụi mình đi một vòng xuống phố”.

 Vọng không nói. Thùy Mị hiểu, điều đó cũng có nghĩa là sự tán thành. Cô đi vào phòng tắm, thoát y trước tấm poster chân dung tự họa của Van Gogh. Khuôn mặt Vọng đôi khi cũng ẩn hiện nét gân guốc tựa thế. Kham khổ đến trân tráo, dữ dằn đến man dại. Có điều đằng sau cái vỏ bọc sần sùi đó, Thùy Mị thường bắt gặp sự dịu dàng luôn có ở người Vọng. Dịu dàng đến ủy mị.  Cái khóa nước mở cót két đến vòng cuối nhưng vòi sen trên đầu chỉ ứa ra một hai giọt tượng trưng. Hôm nay thứ Ba, phải vậy không? Là ngày mà khu vực này bị cúp nước…

 “Tôi bê cái xô nước từ nhà bếp vào cho cô rửa tạm nhé?”. Vọng xuất hiện với những bước chân êm thắm. Lý ra anh ấy phải gõ cửa. Lý ra anh ta phải giả bộ ho hen và kéo lê đôi dép trong lúc bước vào. “Tôi khuấy quên… Phải đợi tới sáu giờ chiều mới có nước lại”.

 Chưa bao giờ Vọng trông rõ thân thể một người đàn bà như bây giờ. Vọng chỉ nhìn thấy trong mộng mị, trong một cảnh sắc mờ ảo đến giả tạo và trí tưởng tượng dù phong phú tới đâu cũng vấp phải nhiều sai lạc. Thùy Mị hoảng hốt cùng cực, tay cô vung phát những cử chỉ loạn rối tựa một người sắp bị chết đuối dưới sông. Và sau cùng dùng nó để che đậy hờ hững ở những chỗ mà Thùy Mị không muốn Vọng ngó ra. Cô ta đẹp lạ lùng, trong cái thế đứng ngượng. Một nét đẹp không hề có trong trí tưởng của Vọng. Thời gian chết điếng vào giây phút đó, sững sờ. Mọi thứ đều ngưng đọng, kể cả trái tim Vọng. Nó chỉ đập lại, đập hối hả sau khi Thùy Mị xé được tấm poster và đắp cái khuôn mặt nhăn nhúm của nhà danh họa kia lên da thịt mình.

 “Có một điều thành thật tôi muốn nói cho Thùy Mị nghe… Hồi nãy Mị hỏi tôi có nhớ không? Chữ nhớ không nói hết những gì tôi ấp ủ. Một tuần, tôi đã ăn nằm với những giấc mơ. Tôi ngóng trông Mị về, tôi muốn ôm ghì Mị trong tay thay vì ôm lấy một điều huyễn hoặc chẳng tượng hình… Tôi sẽ mang nước vào và dội xuống từng gáo cho Thùy Mị rửa…”

 “Có lẽ là tôi không cần tắm rửa nữa. Tôi không cần gì hết. Anh hãy ra ngoài đi”.

 “Có nhiều người rất vụng về khi tỏ tình, và Thùy Mị hiểu cho, tôi cũng thuộc hạng người đó. Tôi linh cảm mình sẽ mất mác một cái gì thật hệ trọng trong suốt một tuần Mị vắng bóng. Và Mị trở về, người rám màu nắng biển, những hạt cát nằm đọng trong túi hành lý… Hãy nói cho tôi nghe sự thật đi, về những ngày Mị đùa giỡn với sóng biển”.

 “Tôi sẽ không nói gì cả chừng nào tôi còn đứng ở cái vị trí kỳ cục này”.

 “Người ta không thể trần truồng khi tắm biển. Ừ, đã đành. Nhưng vào buổi tối, trong một cái khách sạn êm ả nào đó, người ta sẽ làm những gì với nhau?”

 “Anh xem tôi là hạng người gì để có quyền tra khảo những lời như vậy?”

 “Tôi xem Mị là người thân duy nhất mà tôi đang có. Là y phục, là thủ túc, là những thứ không thể đoạn lìa. Tấm poster kia tôi rất thích, của đứa em gái ở ngoại quốc gửi về, nhưng Thùy Mị có quyền xé bỏ nó mà không gây cho tôi niềm hối tiếc nào cả”.

 “Khi anh muốn gặt hái cảm tình của kẻ khác, anh không thể trấn lột áp đảo người ta vào thế khó xử. Anh đi ra đi”.

 “Đã lâu tôi chưa hề đi biển. Tôi muốn hít lấy hương muối mặn nồng của nó trên người Mị”.

 Vọng tiến gần tới chỗ đứng của Thùy Mị. Cô nhìn rõ đốm lửa trong đôi mắt ấy càng lúc càng gần. Nóng ran.

 “Anh đừng làm ẩu. Anh ra sân mà bứng cây trứng cá đi. Âm khí nó ám vào anh rồi…”

 Người Vọng cứng như một cái xác ướp, ngây dại.  “Không. Tôi luôn tỉnh táo. Nếu không yêu thương, Mị có thể trao cho tôi một kỷ vật, một kỷ niệm rồi hẳn bỏ đi. Hai trăm đô. Mị cầm lấy đi”.

 “Buồn cười! Tiền tôi mang về cho anh, bây giờ anh lại dùng nó để mua bán lấy tôi. Tôi nói thật cho anh nghe, tiền đó có là do bởi tôi ngủ với một thằng Việt kiều chứ ma nào mà chịu ứng trước chuyện mua tranh. Nó đã biết mặt ngang mặt dọc gì về tấm tranh anh vẽ mà chịu mua… Tôi ngủ với nó và tôi bị lây bệnh, anh tin không? Đó là lý do tôi không muốn gần anh. Tôi là người có lương tâm, anh thấy vậy không? Vì tôi luôn quý trọng anh”.

 Vọng khựng người, tay buông thõng, đầu cúi gầm nhìn xuống những viên gạch hoa lót nền xoay mòng. Cái xác ướp thoát khỏi, để lại con người Vọng sự rã rượi đến rủ liệt. Tấm hình màu Van Gogh vày vò rơi nhẹ xuống, Thùy Mị ôm đống áo quần bước đi. Tịch lặng. Chẳng có thứ tiếng động nào dấy lên. Một buổi sáng dị thường, hoang vu tựa bãi tha ma. Có lẽ được thế mà lại hơn. Một lời nói cất lên giờ này sẽ lộ đầy sự trơ trẽn của nó. Chẳng có thứ ngôn ngữ nào thuận nhĩ cả. Vọng đứng với tất cả nỗi muộn phiền bủa vây. Một hai giọt nước ứa ra từ vòi sen, sáng ngời khi rơi xuống. Như giọt nước mắt chảy muộn cho niềm ăn năn tràn bờ.

Thùy Mị đã rời khỏi nhà. Cô chẳng để quên một vật gì và tấm chân dung Thùy Mị mà Vọng vẽ tặng cô trong sự say sưa xuất thần vẫn còn treo trên vách. Nắng chiếu qua song cửa, dội lên mặt Mị cái rạng ngời của một thần thái sung mãn đến thỏa thuê. Như người đàn bà nằm ngửa hồi ức về phút ái ân đã qua đi, qua đi trong giây phút mà niềm hoan lạc đã lên tới cực điểm.

 Vọng khóa cửa, quay lưng bước ra con dốc dẫn xuống phố phường. Hai trăm đô-la trong túi quần, Vọng có quyền làm những thứ mà ngày thường Vọng cho là xa xỉ. Vọng điểm tâm tô hủ tiếu, uống chai bia ngoại và hút thuốc ba con năm. Những thứ ấy đi qua khẩu vị Vọng và ngạc nhiên thay, nó dở dang, nó đắng chát, nó tanh tưởi đến lợm giọng. Vọng rời quán ăn, đi loanh quanh một hồi mà không nghĩ ra được một địa chỉ để dừng chân. Vọng ghé vào công viên, tìm chiếc ghế đá trống nằm ngó lên những cụm lá rối che khuất màu trời. Lá vẫn xanh và màu trời vẫn thế. Mây vẫn bay và gió vẫn thổi. Vạn vật tuồng như muôn đời vẫn cũ kỹ. Chỉ có em là đổi thay, chỉ có tôi là người trở chứng. Chúng ta luôn muốn tìm ra cái mới lạ, và đớn đau biết dường nào, giờ này chúng ta đã lạc mất nhau.

 Vọng trở về nhà lúc hai giờ trưa với cái túi xách lỉnh kỉnh đồ vật trên tay. Vọng cởi trần, cầm lon sơn đỏ đội nắng ra sơn phết lại cái trang thờ bạc màu gió mưa. Tô đi quét lại hai ba lớp dày cho tới hồi lon sơn cạn kiệt. Vọng lùi lại như thể đang ngắm nhìn một tác phẩm. Cái trang thờ bỗng dưng uy nghi đường bệ hẳn ra. Dưới nắng, màu đỏ tươi sáng lòa dội xuống khoảng sân hẹp thứ hừng hực của sắc lửa. Một tác phẩm thì bao giờ cũng phải có sức sống. Vọng xoa tay mãn nguyện, bước vào ngạch cửa còn ngoái đầu trông lui. Tẳn mẳn và chu đáo hơn cả bà chủ nhà, Vọng bày trái cây ra dĩa, rót nước lạnh vào ly, hương đèn vàng bạc các thứ đều không sót, Vọng lần lượt mang ra đặt trong cái TV rỗng ruột dị kỳ. “Thông cảm cho tôi người ngợm chẳng được sạch sẽ. Sáu giờ người ta mới cho xài nước. Thùy Mị bỏ đi cũng vì chuyện nước nôi. Tôi không biết cái trang này lập ra để thờ phượng ai, nhưng tôi mong người đó là Em, người mà mỗi đêm tôi nhìn thấy trong giấc ngủ. Họ bảo hãy nhổ cây trứng cá kia thì tôi mới được yên thân, nhưng thưa Em, có người lại nói “trồng cây mười năm…” thì tôi không thể một sớm một chiều mà hủy hoại nó được. Chút hương hoa lòng thành này dâng lên, xin Em có linh thiêng hãy chứng giám giùm. Tôi đợi Em đêm nay, dĩ nhiên là lúc ấy đã tắm táp sạch sẽ. Mình nằm chuyện trò cho ra lẽ. Em đi. Nhưng mà em đi đâu? “.

 “Nguyễn Vọng. Ai là Nguyễn Vọng?”

 Tiếng người đưa thư thảng thốt réo gọi.

 “Tôi… Tôi… Phải thư gửi về từ Canada không?”

 Vọng chùi bàn tay ướt đẫm mồ hôi vào quần, tiện thể lấy ít tiền dúi vào túi áo người phát thư.

 “Bác cầm tạm mà uống chút nước giải khát”.

 Phong thư mỏng lét, khuôn khổ màu sắc y hệt phong bì đựng tiền mà Thùy Mị đã trao.

 “Anh Nguyễn Vọng. Tôi là người bạn của Nguyễn thị Tưởng, thành thật báo tin buồn cho anh là em gái anh đã lâm bạo bệnh và vừa qua đời cách đây ba hôm…”

Vọng đổ người xuống bậc thềm. Thị giác như tấm màn nhung của rạp hát từ tốn kéo đóng lại, trước khi rơi vào thế giới tăm tối, võng mô của Vọng bắt giữ hình ảnh cái trang thờ đỏ chói nghiêng ngã rớt xuống, không gây tiếng động, chỉ khuấy bụi mù sân. Người phát thư đã đạp xe xuống khỏi con dốc, ông ta xòe ở giữa năm ngón tay những tờ giấy bạc khá lớn và ông không hề trông thấy cây thịt của kẻ hào hao vừa bị đốn ngã sau lưng. Buổi trưa thứ Ba vắng lặng như mọi buổi trưa khác. Cây trứng cá vẫn chôn chân ở vị trí cũ, lá của nó vẫn xao động reo vui trong gió như thường hằng.  

Hồ Đình Nghiêm

Đừng bỏ hút thuốc

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 2022

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Tôi có một khẩu súng. Hắn nói khi tôi đang lau nước mắt. Yên lặng. Tôi chờ hắn nói tiếp. Hắn bận đưa ngón tay vào miệng cắn lấy mấy móng. Tay hắn run, tay của một kẻ đang chứa nhiều âm mưu nhiều toan tính? Giấy thấm trong tay tôi đen thui, mỹ phẩm revlon dùng bôi cho đôi mắt thêm huyền ảo đã ra màu lấm lem. Bộ mặt tôi chắc giống như con mèo ngao. Thây kệ, với hắn tôi chẳng cần khoe trương vẻ chỉnh chu hoàn thiện trên dung mạo. Hắn không đẹp trai, chính hắn từng thú nhận. Có phải vì điều đó làm My chẳng thích tôi? Tôi luôn làm thinh trước mỗi cật vấn đầy nghi ngại của hắn. Chưa từng làm hắn mất lòng, ngần ấy không đủ sao? Ghét bỏ thì đã chẳng hơi sức đâu ngồi thù tiếp. Dẫu sao tôi thích hắn ở một điểm, hắn luôn kề bên tôi mỗi bận tôi gặp chuyện chẳng lành.

Tôi có một khẩu súng. My có nhận diện được thằng khốn ấy không? Tôi lấy chiếc lược ra túi xách, dùng iPhone thế tấm gương để chải tóc. Tóc thằng đó dài, hơi thở nồng mùi bia rượu. Hắn không say chút nào cả, nồng độ cồn chỉ là chất xúc tác gây cho hắn thêm sức mạnh, tôi đồ vậy. Goắc cần câu thì phải nhũn như con chi chi. Đạp một phát là té lăn quay. Ngoài vũ lực đáng gờm hắn còn nắm ở tay một con dao, có thể đồ xịn cỡ như Swiss army. Hắn thì thào bên tai: Nếu không muốn mặt hoa phải chịu thương tích thì nằm yên, kháng cự có thể dẫn đến chết người. Tôi thấy lạnh, bao nhiêu hạt nút đã bỏ đi hoang, áo trong áo ngoài đã thôi cài kín và hình như hắn đang liếm quanh ngực tôi. Tôi nhắm mắt.

Chải tóc xong, tôi xem lại tấm ảnh tôi lén chụp hắn. Tiếc thật, màn hình ở điện thọai thông minh chỉ lưu giữ phía sau lưng của kẻ chính danh thủ phạm. Một cái lưng thì nhằm nhò gì. Áo sơ-mi ca-rô của hắn cũng chả có gì đặc biệt. Và tối trời. Không một ai lai vãng gần đồi cỏ. Và hắn đã giữ lời, lưỡi dao chưa liếm máu. Kéo quần lên rồi biến xéo.

Không nhớ à? Tôi trả lời, hoảng loạn quá làm quên mất tiêu, nhoè nhoẹt, nhập nhằng. Để tôi chở My ra lại chỗ đó, xem có thu nhặt được gì, có hồi ức không. Lúc ấy khoảng mấy giờ? Tầm mười rưỡi hoặc mười một gì đó. Hắn ngó đồng hồ trong khi tôi nghĩ ngày mai mình có nên đi bệnh viện để xét nghiệm. Lạ một điều, rõ là thằng khốn ấy đã hiếp tôi nhưng sao tôi chẳng nghe đau rát ở cửa mình. Khi bạn bị hiếp dâm, nếu không đau đớn thì bạn có nghe ra chút thống khoái?

Chúng tôi đang ngồi trong xe. Hắn vừa chở tôi lên ngọn núi để ngắm thành phố sáng đèn bên dưới. Hắn cho hay vừa được lên lương, rất uy tín, và sẽ giúp tôi có một công việc trong cái hãng xưởng mà hắn lao động đã trên mười năm. Chủ tớ ở đó vẫn luôn thắc mắc, cớ sao từ đầu chí cuối mày vẫn độc thân tại chỗ? Mày có dóp thơm nè, mày có xe xịn nè và tướng tá mày thì cũng đâu đến nỗi. Hắn kể, hắn tâm sự, và tôi lại làm thinh. Chuyện “đi đêm có ngày gặp ma” của tôi không làm hắn sợ sao? Đại loại như em bị người ta xâm hại mà anh vẫn một dạ yêu em sao, hỡi chàng ngốc bé nhỏ!

Hắn chở tôi đi lòng vòng như cách thức những kẻ vô công rỗi nghề muốn giết thời gian. Hắn dừng xe trước một quán bán cà phê bánh ngọt, không hỏi tôi một tiếng, tự ý mở cửa đi mua hai cốc cà phê giấy.

Tôi không nhớ được do đâu mà hắn biết tôi thích uống loại nào để mua đúng y bon thứ ấy, chưa kể bao nhiêu đường sữa, uống rất vừa miệng. Hai đứa ngồi trên ghế lộ thiên, bắt chân chữ ngũ để phì phà thuốc lá. Trước, hắn hút hiệu khác, có lẽ do tôi, giờ này hắn chơi nhãn Camel. Dẫu là thứ gì thì bao bì đều in hàng chữ cảnh báo tựa nhau: Coi chừng, thuốc lá là con đường ngắn để tìm tới cái chết. Hắn nói, hắn có xem một tấm ảnh trong loạt album chụp về đề tài chiến tranh ở Việt Nam và đó là tấm ảnh trên cả tuyệt vời. Tôi cà khịa, biết rồi, hình chụp chiếc xe tăng ủi sập cổng dinh Độc Lập chứ gì! Tầm bậy nà, ảnh đen trắng, ghi hình tấm lưng người lính Mỹ mặc áo giáp bụi bặm mà đương sự viết lên đó hàng chữ “Caution: Being A Marine In Khe Sanh May Be Hzardous To Your Health”. Hắn hỏi tôi, biết Khe Sanh là gì không? Là nơi có 3 lữ đoàn Nhảy Dù, 1 Liên đoàn Biệt Động Quân và Trung Đoàn 3 thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh của Việt Nam Cộng Hoà hợp sức cùng Tiểu Đoàn 1 Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ chống trả với hơn 3 sư đoàn thuộc quân Cộng sản Bắc Việt. Sao rành sáu câu thế? Tại ông già tôi hy sinh ở đó, vào tháng 2 năm 1971. Tôi còn giữ phù hiệu Biệt Động Quân của ổng.

Tôi hỏi, tên Quân ông đang mang có liên hệ gì với binh chủng đó không? Tôi kể ra thì đã rõ, nếu ba tôi mà Thuỷ quân lục chiến thì chắc tôi đã mang tên Chiến. Tôi ngó hắn qua màn khói thuốc. Quân hay Chiến thì vẫn có một khẩu súng? Ừ, bắt buộc. Tôi chưa bắn ai, viên đạn đầu tiên sẽ ghim vào người thằng chó đẻ ấy. Tức quá mà… Chuyện gì? Ai nằm trên người mình thì mình phải nhớ mặt đứa ấy chớ.

Câu hắn vừa nói đã chấm dứt buổi uống cà phê. Hắn mang nỗi tức tối ấy vào trong xe và biểu tôi chỉ đường tới cái công viên thưa vắng đó. Hôm ấy, nếu tôi đi vòng vo ngoài lộ để về nhà thì đã chẳng sinh chuyện, tôi băng qua đồi cỏ kiểu đường chim bay cho gần thì có con ác điểu đã vỗ cánh xuống để bức hại tôi. Mẹ nó chứ, tôi giận run mà chẳng gào lên được một tiếng trời sầu đất thảm.

Xe đậu ở chỗ thuận tiện, hắn đã bỏ công nhìn ngó những tấm bảng cắm bên triền cỏ rằng đậu đó thì bị vi phạm điều lệ nào không. Bị phạt tiền, bị trừ điểm bằng lái, bị câu xe. Chẳng có gì, duy chỉ đôi ba cái thùng rác và xin mọi người tuân thủ việc giữ gìn vệ sinh chung. Không chắc là những chai rượu hoặc vỏ lon bia thằng khốn kia quẳng vào sau khi tợp xong vẫn còn nằm trong đó bởi tôi vẫn thường thấy một hai cha già đi quờ quạng chúi người vào để thu nhặt đồ phế thải. Và sau cùng đâu có vụ giết người để khiến cảnh sát cất công đi đào bới chứng cớ của tên sát nhân vất lại bên hiện trường. Chỉ hiếp dâm thôi mà và đứa bị hại chẳng hơi sức đâu đi thưa gửi trình báo lấy lại công đạo. Bọn chúng sẽ ghi lời khai, nhiêu khê kéo tuột quần tôi xuống, nằm ngửa trên cái giường kỳ cục để dòm ngó săm soi vào cửa mình với tất cả những nguồn sáng trắng trợn thọc mạch.

Cả hai đi lên thảm cỏ mượt, có chỗ phẳng phiu lún phún có nơi cỏ mọc khá rậm cao. Ước chừng là tâm điểm tôi dừng chân. Tôi nhớ là khi đó tôi đeo tai nghe cắm từ iPhone và bản nhạc đang phát là của Black Sabbath, bài Heaven and Hell. Chật cứng tiếng đàn tiếng trống của thứ hard rock và từ phía sau một cơn bão thịnh nộ quật ngã người tôi xuống. Thằng khốn đã vật tôi nằm ngửa, đôi tai nghe văng ra cỏ và mùi bia rượu ập vào mũi. Đêm đen thẳm sâu y như đang rơi vào địa ngục.

Hắn ngồi xuống, ngó quanh. Tôi cũng nghe chân mỏi để cho vai mình chạm vai hắn. Hắn thắp lửa hai điếu thuốc cùng lần và trao cho tôi một điếu. Tôi phà ra hơi khói: Chơi khó tôi quá. Hắn hỏi: Về điều gì? Bắt tôi ngồi lại ở cái nơi mà lý ra khung cảnh đó là một nỗi ám ảnh. Và thêm thắt: Nếu bạn từng gây tội ác liệu bạn có quay lại chốn cũ để tìm mồi. Vả lại chúng ta hai người, có muốn nó cũng phải ngại ngần chẳng dám tiếp cận. Dù sao tôi cũng cám ơn sự nhiệt tình của bạn, cầu mong trời xui đất khiến thằng khốn lù lù dẫn xác tới. Tôi cũng hy vọng thế, khi tợp rượu vào nó đâu coi trời cao đất dày là gì. Tôi mong được trả thù giúp, mong chứng minh cho My hiểu khi yêu, tôi chẳng từ nan điều gì.

Tôi có hơi cảm động, tôi quàng tay qua người Quân, tôi rờ rịt: Quái, hắn dắt súng ở đâu, quanh lưng quần chẳng có vật gì cộm lên tựa một con chó lửa. Thường ngày, My di chuyển đều bằng phương tiện xe buýt à? Ừ, xe buýt. Bọn họ quảng cáo đó là một quyết định sáng suốt. Lệ phí rẻ, an toàn tuyệt đối, tới bất cứ đâu bạn muốn, có thể ngủ êm một giấc thay vì phải dậy sớm khởi động máy, chong mắt ra điều khiển xe và dễ nực gà khi đường bị nghẽn lối. Đi xe buýt thì đã sao? Khó hiểu lắm à? Hắn nhìn tôi, bóng tối không làm đôi mắt ấy bớt long lanh. Tự nhiên tôi nghĩ tới một chuyện tiếu lâm, để kể cho My nghe: Trên xe buýt đông hành khách, một người đàn ông lịch sự nói với cô gái đứng trước mặt, vất vả cho cô quá, hãy tạm thời ngồi đỡ trên đùi tôi, chả sao cả, đừng ngại. Cô gái nghe lời, xe chạy một đỗi thì cô gái bảo, ông làm ơn cất cái ống vố trong túi quần đi. Gã thanh niên ngồi kề nhanh miệng, cô sang tôi mà ngồi, êm ả lắm, tại vì tôi bỏ hút thuốc lâu rồi.

Có mắc cười không? Tôi ném điếu thuốc vào bụi cỏ. Chúng ta đang hút hiệu Camel, con vật này khi về tới đất có lắm tiến sĩ như Việt Nam lại tự dưng mọc thêm đôi cánh, biến đổi thân phận làm chim. Chuyện ấy có nên xem là chuyện tiếu lâm không? Mắc cười không? Tôi hỏi: Một cái tẩu nhồi thuốc và một con chim lạc đà cái nào ấn tượng hơn? Thực ra thì bạn có mang theo súng không? Quân nói, luôn luôn. Tôi nghi ngờ, để ngoài cốp xe hay sao? Không, vật bất ly thân. Nói xong hắn ôm cứng thân tôi và hôn cùng khắp. Lần này những hàng nút áo vẫn yên hàn vô sự, tuy vậy mông tôi đang mát lạnh khi giao thoa cùng cỏ ẩm sương. Tôi nằm xuống tấm thảm mịn hứng đỡ thân xác hắn dịu dàng đè xuống, chiếm ngự. Tôi cố tập trung, cố không nhớ lại chuyện cũ. Tôi muốn tìm hiểu sự khác biệt giữa hai từ: Hiếp dâm và làm tình. Một cảm giác lạ lùng đang dần xâm chiếm lấy người tôi và nó buộc tôi phải ôm lấy hắn, vò tóc hắn rối và thoả hiệp rên rỉ: Hãy bắn My đi, giết My bằng những phát súng dịu dàng. Dầu gì thì tôi cũng phải đi phá thai. Hơn hai năm đeo đuổi tôi nên trả chút công sức mà hắn đã bỏ ra, chẳng ngại từ nan. Và hiện tại, tôi nên cám ơn hắn, hắn vừa dắt tôi đi suốt con đường trồng nhiều bông hoa hơn cái bãi cỏ nhàu nát này.

Đêm ấy bầu trời trong vắt. Tôi không khóc, nhưng trên cao những vì sao sáng hiện mọc như có nhoè đi. Tôi đòi hắn thắp lửa cho tôi điếu Lạc đà. Tôi nói: Nếu đi xe buýt đông người tôi thích ngồi trên đùi những đấng nam nhi không chịu bỏ thuốc. Đừng cười, mỗi chúng ta đều phải chịu những cách chết khác nhau. Đời vốn vậy. Quân hay Chiến rồi cũng có khi súng hết đạn, đúng không nào? Tôi co người lại, Quân hôn ở cái nơi mà hắn vừa bắn hết cả băng đạn. Nhiệt tình bắn trên đồi cỏ hoang lạnh chẳng ai hay.

Hồ Đình Nghiêm

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Một buổi chiều buồn trên “Đồi Tôn Giáo”.

Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!

(Than ôi! Mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết).

Mạc Đỉnh Chi (1)


Nhìn chung, nhóm “Văn Bút Bidong” chẳng có ban chấp hành, chấp tỏi gì cả. Chẳng có ai là chủ tịch, hội trưởng, lãnh đạo… chỉ là khi có sinh hoạt gì thì tới với nhau.
Bởi Anh Hoàng Vũ là người lớn tuổi nhất, lại là người có trình độ kiến thức về cả kim văn lẫn cổ văn, nhất là cổ văn, nên mọi người mặc nhiên coi anh như con chim đầu đàn. Anh nói gì, bàn gì thấy hay thì ừ, không thì đóng góp ý kiến rồi thực hiện.

Anh chị em trong nhóm văn bút ai có khả năng cứ làm thơ, viết văn thì tờ “Sinh Hoạt Cộng Đồng”, theo cách hiểu tự nhiên nào đó, về “tình anh em”, đồng hội, đồng thuyền, “đồng tỵ nạn”, trở thành diễn đàn chung.
Về, thơ, như tôi đã nói, nhận bài nào tôi đưa anh Hoàng Vũ đọc và chọn cho đăng lên báo. Về văn thì anh Nguyễn Mạnh Dạn trông nom. Có vài khi tôi góp ý về các bài văn do anh chị em gởi tới với anh Dạn, còn thơ thì tôi để anh Hoàng Vũ hoàn toàn quyết định.

Thỉnh thoảng, nhân dịp tết hay lễ lạc nào đó, như ngày lễ Hai Bà Trưng, Cụ Nguyễn Du thì chúng tôi tổ chức nói chuyện, mời anh chị em tham gia, và mời đồng bào đến nghe. Số lượng người nghe cũng khá đông, thường ngồi chật một lớp học. Phần nhiều là thanh niên, các giáo viên chế độ cũ hay đang dạy tiếng Anh, tiếng Pháp ở Khối Giáo Dục. Thành phần tham gia ít nhứt lại là quân nhân, sĩ quan chế độ cũ, ngoại trừ một vài người đang làm việc cho Cao ủy.

Việc mượn phòng ốc hay máy móc, có anh Võ Văn Loan bên Khối Giáo Dục của Cố Vấn Tieou lo liệu giúp. Phòng Phát Triển Cộng Đồng thông báo trên loa phóng thanh hay trên báo, dán thông cáo ở ngoài hành lang của phòng. Anh em trong nhóm Văn Bút thường đến trước giờ sinh hoạt.

Ngoại trừ một số người rất có nhiệt tình với sinh hoạt của trại tỵ nạn, tôi không thể quên một vài anh em, – không kể anh Bửu Tộ, anh Nguyễn Dương Hảo, anh Hồ Đắc Liệu đang làm tại phòng Phát Triển Cộng Đồng -, tôi cảm phục những người có nhiệt tình, thiện chí như Anh Trần Đình Nghị, cựu Đại úy Biệt Động Quân mà tôi đã có lần tôi nói tới, còn phải kể anh Trịnh Hí Phùng, cựu Đại úy thuộc Tiểu đoàn 610 Truyền Tin, đóng ở Đà Nẵng, là người điều khiển chương trình cho các buổi sinh hoạt khéo không ai bằng.

Dù không sửa soạn trước, anh Trịnh Hí Phùng hướng dẫn chương trình, giới thiệu diễn giả, tác giả vừa dí dỏm, vừa thành thật, nói được trọng tâm của vấn đề. Anh nói năng lưu loát, trôi chảy, rõ ràng, xuôi tai, không “ầm ừ, ì à”, như tôi từng thấy ở các “host” trên các đài truyền hình VN ở Mỹ sau nầy. Tôi nghĩ anh có thể đóng góp cho cộng đồng tỵ nạn hữu ích về sau, khi anh đã định cư. Nhưng rồi cả mấy chục năm nay, “biệt vô âm tín”. Tôi chỉ thấy nhạc sĩ Trường Sa xuất hiện trên Paris by Night một lần rồi thôi.

Quả thật, trại tỵ nạn không thiếu nhân tài, bởi vì Quân Lực VNCH ngày trước là nơi “gom” gần như hầu hết nhân tài của Miền Nam VN. Người tỵ nạn có khả năng, tài ba… cũng từ trong tập thể quân đội đó mà ra.

Bởi vì anh Hoàng Vũ là người lớn tuổi nhứt, so với các anh chị khác, tôi cũng là người lớn tuổi hơn họ, nhưng tuổi tôi chưa cao bằng tuổi anh Hoàng Vũ, nên hai chúng tôi thường gặp gỡ chuyện trò với nhau. Nói cho đúng thì môt tuần vài ba lần, anh Hoàng Vũ tới chơi với tôi ở chỗ tôi làm việc.

Một hôm tôi nói với anh:

– “Con gái tôi ở Mỹ mới gởi cho tôi mộ băng cassette nhạc Cổ Điển Tây Phương, anh muốn nghe với tôi không?”

Anh Hoàng Vũ hỏi:

-“Tôi tới nhà anh?”

-‘Không!” Tôi nói. “Chắc phải tìm một chỗ thanh vắng, nghe mới đã. Mình lên chỗ “Đài tưởng niệm thuyền nhân” đi! Chẳng ai quấy rầy mình.”

Xong, chúng tôi hẹn nhau chiều hôm sau.

&

Chiều hôm sau, anh Hoàng Vũ đến chỗ tôi. Tôi xách máy cassette cùng anh đi lên “Đồi Tôn Giáo”, rồi từ đó đi ra chỗ “Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân”.

“Đài Tưởng Niệm Thuyền nhân” – nói thêm cho đầy đủ là “tưởng niệm thuyền nhân bỏ mình trên đường vượt biên”, là một kiến trúc bằng ximăng cốt thép, nằm phía ngoài chùa và nhà thờ, v.v… trên đỉnh đồi, phía ngó vào bán đảo Mã Lai.

Đài gồm có một bệ hình tròn, tượng trưng cho thuyền vượt biển và ba cách buồm khoảng cách đều nhau ở ba phía trên bệ tròn. Ba cánh buồm cao thấp khác nhau, hình tam giác, đỉnh của tam giác là cột buồm, hướng về phía tâm của hình tròn. Công trình nầy do đồng bào tỵ nạn làm ở Khối Xây Dựng bỏ công xây cất, với sự hỗ trợ của Văn Phòng Trại, vật liệu do Cao Ủy Tỵ Nạn cung cấp. Tôi không rõ công trình được xây dựng lúc nào. Khi tôi tới Trại Tỵ Nạn Bidong vào tháng 6 năm 1989 thì công trình đã hoàn tất đâu vài ba năm trước rồi, có lẽ sau khi có nhiều thuyền nhân tử nạn vì “hải tặc Thái Lan”, nhưng chắc là sau công trình “Ông Già Bidong.”

Ngồi ở đây, nhìn ra biển xanh ngắt, sóng biển chập chùng, xa xa là rặng núi Mã Lai như hình răng cưa, cao thấp không đều, “rặng nọ rặng kia không dứt”, như Nhất Linh mô tả trong cuốn “Người Quay Tơ”, tôi nhớ Trường Sơn da diết. Nỗi nhớ chẳng bao giờ dứt được.

Tôi leo lên ngồi trên nền đài hình tròn, dựa lưng vào cánh buồm bằng xi-măng, phía có thể vừa nhìn ra biển, vừa nhìn vào núi Mã-Lai để nhớ đến rặng núi ở quê nhà. Ngồi phía bên kia, đối diện tôi là anh Hoàng Vũ. Tay anh cầm ly cà-phê mới mua ở quán “Lup” dưới chân đồi, trên bãi biển khu C. Tôi không uống cà-phê, nhưng tôi hút từng chặp cái ống vố tôi mang theo. Ống vố và thuốc “Seventy Nine” là do cha Quentin mua tặng tôi mấy bữa trước đây.

Chúng tôi không nói gì cả, sau khi tôi mở cassette nghe bài đầu tiên, Mai Hương hát: “Thôi buồn làm chi, nhớ tiếc làm chi…” Tiếp đó tôi nghe bài “Đã quên hết sầu chưa, lời nầy là tiếng xưa…” và rồi là bài “Chiều buông nhẹ xuống, người tình tìm đến người…” Những bài đầu như “Chiều tà” (Serenata) của Toselli, “Dạ Khúc” (Serenade) của Schubert và “Sầu” (Tristesse) của Chopin thì buồn. Những bài sau nhạc vui hơn như “Trở về mái nhà xưa” (Back to Sorriento) của Curtis, “Dòng Sông Xanh” (Danube Blue) của Strauss…

Băng cassette hết đã lâu mà chúng tôi vẫn ngồi trầm ngâm. Hình như lời ca trong các bài hát, cũng như âm điệu buồn bã, tiếng đàn, tiếng kèn réo rắt của nó hòa cùng cảnh trời chiều mênh mông, của biển xanh, trải rộng muôn trùng; như những lớp lụa mỏng và mềm bao trùm và ấp ủ tâm hồn chúng tôi lại, làm cho chúng tôi cảm thấy sự êm dịu của âm nhạc và cảnh bao la của vũ trụ, của thiên nhiên.

Chúng tôi không muốn nói gì với nhau cả. Rồi tôi chợt nhớ một bài thơ của ông Bùi Khánh Đản viết tặng Nhất Linh khi Nhất Linh đến thăm bạn. Bấy giờ, ông Nhất Linh đang chờ ra tòa, bị xử về vụ Nhất Linh dính líu vô cuộc đảo chánh 11 tháng 11 năm 1960 của ông Đại tá Nguyễn Chánh Thi.

Hai người gặp nhau mà không nói với nhau một lời, một tâm sự, ngoài lời chào hỏi thông thường:

Chiều nào hiu quạnh đến thăm tôi

Anh đã quên không nói một lời

Tám hướng dần buông vào tịch mịch

Hai lòng vẫn ngã chốn xa xôi

Mắt theo dĩ vãng mơ hồ hiện

Tai lắng thời gian thánh thót rơi

Tất cả chìm sâu, sâu xuống mãi

Vì anh chỉ thiếu một lời thôi

(Thiếu một lời)

Không phải tôi muốn so sánh tôi với các vị nào, nhưng tôi nghĩ bấy giờ trong trí Nhất Linh, có lẽ ông đã có ý định tự tử, như sau đó, ông đã uống thuốc độc vào sáng ngày 7 tháng 7 năm 1963, là hôm ông bị ra tòa.

Còn tôi cũng như mọi người trên đảo nầy, chúng tôi đang sống một đời lưu vong mà tương lai thì vô định. Đối diện với cái chết đang tới hay trước tương lai mù mịt và đầy bất trắc, tâm sự người ta cũng có điểm giống nhau, gần nhau.

Sự im lặng kéo dài quá lâu, khiến tôi có cảm tưởng như mọi sự có điều chỉ thêm nặng nề nên tôi mới lên tiếng:

-“Ngay từ khi 13, 14 tuổi, hồi ấy tôi đang học Đệ Lục, có cây đàn ghi-ta đánh chơi, tôi đã hát nghêu ngao những bài hát nầy. Hình như Phạm Duy mới ở chiến khu về, ông soạn lời nhạc cho các bản nhạc đó. Hồi ấy tôi thấy hay, mấy chục năm sau, tôi vẫn thấy hay. Bây giờ tôi vẫn thấy hay. Âm nhạc thật là kỳ diệu!”

-“Âm nhạc đạt được sự kỳ diệu của nó, khi nó vượt qua được những giới hạn bình thường.” Hoàng Vũ nói.

-“Anh làm tôi nhớ câu của Nhất Linh trong “Văn Hóa Ngày Nay”. Ông ta bảo phải “vượt không gian và thời gian.”

-“Đúng đấy chứ. Nó từ bên Âu Châu mà qua tới Việt Nam; rồi từ Việt Nam, theo chân người tỵ nạn mà tới Bidong. Ấy không là vượt không gian rồi hay sao?” Hoàng Vũ giải thích.

-“Còn vượt thời gian?” Tôi hỏi.

-“Anh thích nó khi anh hơn mười tuổi, bây giờ chừng nầy tuổi, anh vẫn còn thích nó. Ấy là vượt thời gian. Chưa kể những bài ca ấy được soạn ra từ Thế kỷ 18, 19 mà nay thì Thế kỷ 20.” Hoàng Vũ giải thích.

Tôi lại hỏi:

-“Theo anh thì khi nào thì văn chương, nghệ thuật “vượt không gian, thời gian như Nhất Linh bảo?”

-“Khi nó đạt tới Đạo, là thấu tới Vũ Trụ.” Hoàng Vũ lại nói.

Tôi cười:

-“Anh nói tôi hiểu rồi. Tôi nhớ hai câu thơ anh viết tặng nhạc sĩ Bửu Lộc. “Bên ngoài vũ trụ bao la, Bên trong vũ trụ có ta với đàn.” Khi bên trong vượt qua những giới hạn để đạt tới “bên ngoài vũ trụ bao la”, là khi đó văn chương nghệ thuật vượt không gian, vượt thời gian. Nhưng tại sao anh lại nói đến với Vũ Trụ là đến với Đạo?”

-“Vũ Trụ không là Đạo thì là cái gì? Chúa mong cho đạt đến Vũ Trụ, Phật cũng mong đạt đến Vũ Trụ. Hình Nhi Thượng của Khổng Tử không bàn đến Vũ Trụ thì bàn đến cái gì? Tôn giáo nào cũng muốn giải nghĩa cho được Vũ Trụ. Mỗi giáo chủ đều muốn giải cho được Vũ Trụ, nhưng không tôn giáo nào giải được cả. Âm nhạc thì đến được đấy, bởi vì người ta có thể theo đạo nầy, không theo đạo kia. Không theo vì chê chớ gì? Âm nhạc, thi ca thì ngược lại, khi nó đã đạt đến Vũ Trụ, người ta có muốn chê cũng không chê được. Hầu như mọi người đều yêu nó. Xưa người ta hát Chopin, nay người ta hát Chopin. Mai kia cũng vậy, còn tôn giáo thì chưa hẳn đạt được như văn chương nghe thuật đâu!” Thấy anh Hoàng Vũ giải thích tuy dông dài, nhưng tôi thích lắm. Tôi lại nói:

-“Theo tôi hiểu có hai Vũ Trụ. Vũ Trụ bên ngoài; đó là cái vô cùng của tầm mắt, là cuối cõi thiên nhai. Nói cuối cũng không đúng nữa. Nói như thế là đem cái giới hạn “thiên nhai” để so sánh, để đo đạc cái vô hạn vũ trụ thì trật lất. Nhưng còn một Vũ Trụ trong ta nữa phải không? Trong tâm hồn chúng ta là một Vũ Trụ sâu thẳm, mà ngay chính mình, mình cũng không bao giờ thấy được cái sâu thẳm của nó. Anh nghĩ sao?”

–“Bên trong vũ trụ là ta với đàn”. Tôi nói là đàn, nhưng thực ra, đó là âm thanh. Âm thanh là biểu tượng Vũ Trụ ở trong mỗi con người. Vì vậy, mấy ai hiểu được hoàn toàn âm thanh đó? Mấy ai “tri âm”? Mấy ai hiểu mình để “Ai tri âm đó mặn mà với ai?” Người ta hiểu được câu chuyện khi nghe tin Tử Kỳ chết rồi thì Bá Nha “đập vỡ cây đàn” là có lý lắm! Nay còn ai nghe đàn để hiểu Bá Nha nghĩ tới cái gì khi đàn. “Nga nga hề chí tại sơn cao, Dương hề chí tại lưu thủy.” Hoàng Vũ nói.

-“Anh nói làm tôi hiểu thêm một điều. Trước nay, tôi vẫn thắc mắc trong đạo Cao Đài, người ta thờ chung ông Phật, ông Chúa với Voltaire, Montesquieu. Bởi vì người ta cho rằng văn học nghệ thuật đạt tới Vũ Trụ trong khi tôn giáo muốn giải thích nó mà giải thích không nỗi. Phải vậy không?”

Anh Hoàng Vũ nhìn tôi, chỉ cười. Anh là người theo đạo Cao Đài.

Một lúc, tôi nói:

-“Thế kỷ Ánh Sáng” mở ra một con đường mới cho nhân loại, trong khi tôn giáo, nói rõ là Thiên Chúa Giáo La Mã, muốn đóng cửa con đường đó lại. Một bên thì mở ra, một bên thì đóng lại. Có phải cái “Ánh Sáng Tư Tưởng” của “Thế Kỷ Ánh Sáng” đã mở đường cho âm nhạc cổ điển Tây phương hay không? Tôi nói vậy là vì tôi chưa đối chiếu tiểu sử Chopin, Schubert nên tôi không biết, nhưng ở Việt Nam ta, anh nghĩ có ai có thể “theo được” Chopin, Strauss chẳng hạn?”

-“Theo được” thì có, nhưng đi cho tới cuối đường thì ít lắm. Vả chúng ta không thiếu định kiến nên không thấy. Chẳng hạn anh thấy gì ở “Giọt mưa trên lá?”, ở “Tiếng nói tinh khôi” hay ở “Dĩ vãng xa xôi” hay ở “Xa cách nhau một đời”. Hiểu cho hết những ý đó là người ta thấy được Vũ Trụ trong tâm hồn của mình. Anh đồng ý không?” Hoàng Vũ giải thích.

-“Đồng ý với anh, nhưng tôi cũng thấy nó trong “nghe những tàn phai”. Tôi băn khoăn hoài, suy nghĩ hoài mỗi khi hát và đồng ý với tác giả rằng“Thấy đời mình là những chuyến xe”, “Thấy người ta chia tay nhau cuối đường” với “Trăm tiếng hư không”, thấy “Bàn im hơi bên ghế ngồi” rồi “ngày đi đêm tới”… Cái tàn phai của đời người bao giờ cũng đi chung đường với tàn phai của Vũ Trụ. Vũ trụ nầy cuối cùng rồi cũng mất, như hai đường song song, kẻ cho tới cùng thì chúng sẽ gặp nhau ở một điểm cuối cùng nào đó, như ông thầy Toán giải thích trong hình học vậy.”

-“Đồng ý với anh!” Hoàng Vũ nói.

-“Nhưng nếu người ta đã thờ Voltaire, Montesquieu, nhắm bộ về sau người ta không thờ Phạm Duy hay Trịnh Công Sơn?”

Anh Hoàng Vũ nhìn tôi cười, một lúc, anh nói:

-“Tôi đã nói với anh rồi! Định kiến. Định kiến thật là ghê gớm. Ngay bây giờ, bên Nhật, người ta đã bỏ công nghiên cứu về nhạc Trịnh Công Sơn. Nhiều đời sau, khi người ta không còn nhìn Trịnh Công Sơn như một tên phản chiến, phản bội, một tên hoạt đầu chính trị, không nhìn Phạm Duy qua những bê bối tình ái của ông ta, thì người ta cũng có thể đối xử với họ khác đi, như đã đối xử với Voltaire, Montesquieu khi người ta tìm hiểu những gì thuộc về Vũ Trụ.”

-“Ở đạo Cao Đài, người ta thờ các nhà tư tưởng, văn nhân, thi sĩ. Tại sao không thờ nhạc sĩ, Chopin hay Schubert chẳng hạn.” Tôi hỏi.

-“Vấn đề là cái gì hay ai đã có thể làm thay đổi hay chuyển hướng để đóng góp cho nhân loại. Chúa hay Phật, hay Đức Khổng, ông Mo-ha-mát làm được việc ấy. “Thế Kỷ Ánh Sáng” không làm chuyển hướng nhân loại hay sao? Nó mở ra cho nhân loại một con đường mới, con đường “Xanh, Trắng, Đỏ” (2). Những người được thờ phải có một công trình lớn. Âm nhạc thì hay nhưng không đạt tới mức “đồ sộ”, cái sức to lớn, mạnh mẽ của nó như văn chương, tư tưởng. Vì vậy, trên bàn thờ Cao Đài, Chopin, Schubert còn chưa có, nói chi tới ông Phạm Duy hay ông Sơn. Sự nghiệp họ còn mỏng quá! Ấy là chưa kể âm nhạc dễ trở thành phương tiện tuyên truyền, cho chính trị cũng như cho tôn giáo. Ngay chính họ cũng làm như vậy. Việc đã có rồi, người ta đã lợi dụng nó rồi.” Hoàng Vũ trả lời.

-“Anh muốn nói thánh ca?” Tôi hỏi.

-“Tôn giáo nào cũng có Thánh ca, Phật ca. Tôn giáo nào cũng có dùng âm nhạc để truyền đạo. Đạo Chúa cũng vậy. Đạo Phật cũng vậy.” Hoàng Vũ nói.”

-“Tôi không ưa những cái gì gọi là lợi dụng. Nhạc Thiền hay Thánh ca cũng hay vậy. Nó chỉ hay khi nó không tuyên truyền cho Chúa hay Phật mà chỉ hữu ích cho “con người”. Anh biết không! Khi tôi còn ở trong trại tù Cải Tạo, năm, bảy năm rồi mà chưa được tha về, buồn dễ sợ. Buổi sáng, kẻng đánh tập họp đi cuốc đất. Bên cạnh tôi là một đội trẻ, gồm một bọn thanh niên bị bắt về tôi vượt biên, trốn “nghĩa vụ”… Gần tới Noel rồi, nghe tụi nó hát “Đêm thánh vô cùng. Giây phút tưng bừng, Đất với trời…” tôi xúc động lắm, dù tôi không phải là người theo Thiên Chúa. Tôi nhớ những đêm Noel đi “ngao du” ở Huế, với bạn bè khi tôi còn độc thân hay với nhà tôi, khi tôi đã cưới vợ. Tôi cho rằng đó không phải là đạo. Đó là những cái gì rất là người, chữ người không cần phải viết hoa.” Tôi nói một hơi.

-“Không viết hoa thì nó mới là người. Viết hoa nhiều khi nó thành quỉ.” Hoàng Vũ vừa nói vừa cười.

Bỗng tôi buột miệng đọc câu thơ của Trần Dần: “Xưa nay, Người vẫn thiếu tin Người. Người vẫn kinh hoàng trước tương lai.”

Rồi tôi nói tiếp: “Nói ra, người ta có thể cho tôi là kẻ vô thần. Thật ra, không phải vậy. Tôi tin ở Tạo Hóa, rất tin nữa là đằng khác, “Tạo Hóa nhiệm mầu” mà; nhìn vào thân thể mình hay nhìn cảnh vật chung quanh mình, cái gì cũng nhiệm mầu, nhưng đạo Chúa hay đạo Phật không phải từ Tạo Hóa mà từ con người, từ những nền văn minh của nhân loại mà ra. Ông Khổng là tinh hoa của văn minh Trung Hoa, Thích Ca là sản phẩm của văn minh Ấn Độ, đạo Thiên Chúa có gốc rễ từ văn minh Lưỡng Hà. Anh thấy đạo Hồi không? Khi ở trại Marang, buổi chiều, tôi nghe tiếng cầu kinh “ê a” phát ra từ trên những cái loa của nhà thờ Hồi giáo gần trại. Cái tiếng “ê a” đó nghe buồn dễ sợ, làm tôi nghĩ tới tiếng “ê a” của những người chăn dê, lùa bầy dê về chuồng sau một ngày cho dê đi ăn trên sa mạc. Văn minh Hồi giáo bắt nguồn từ chăn nuôi, “Văn Minh Ăn Thịt”; nó khác với văn minh của dân ta, là văn minh của ruộng đồng, lúa nước. “Văn Minh Ăn Rau.”

&

Chúng tôi lại không nói gì.

Một chốc tôi hỏi:

-“Anh nghĩ gì về nhạc Thiền, thơ Thiền?”

-“Điều người ta muốn làm ra Thiền thì nó không thể là Thiền, chỉ là “giả Thiền”. Nó không thể hay được. Cứ làm thơ như thể “lững lơ con cá vàng” để cho nó là Thiền thì có bao giờ là Thiền đâu!

-“Anh làm tôi nhớ năm tôi học Đệ Nhất, tôi học Triết dở lắm. Ông Trung bên Tây mới về, cho tôi chống gậy hoài (3). Gần cuối năm 1957, một lần đi chơi lăng, buổi trưa, nghỉ chân ở lăng Minh Mạng, các bạn học biểu tôi đọc thơ. Tôi đọc bài “Tiễn Biệt” của Nguyên Sa.“Người sắp đi chưa hay đi rồi”. Nghe xong, ông Trung bảo bài thơ hay. Sau nầy, tôi lại không thấy hay. Cái gì mà “lững lơ con cá vàng” như anh nói: “Đi chưa hay đi rồi?!” Sau nầy Trịnh Công Sơn cũng viết bắt chước như thế “Người đã đi xa hay người vẫn quanh đây?” (4) Cứ úp úp mở mở, rồi cho đó là Thiền. Phải vậy không? Thiên hạ cứ học nhau làm thơ như vậy rồi cho là thơ Thiền đấy.”

-“Không phải vậy. Khi người ta cố ý làm ra Thiền thì nó không còn là Thiền nữa. Tự nhiên nó Thiền thì chính là Thiền.”

-“Nói thế là mặc khải?” Tôi hỏi.

-“Không. Mặc khải thì Thiền gì nữa. Nó gần giống như xuất thần, tự trong tiềm thức, hay tự trong cái thăm thẳm của vũ trụ trong con người của mình mà phát xuất ra thì hy vọng, hay có thể, tôi nói có thể, là Thiền.” Anh Hoàng Vũ giải thích.

-“Tôi đại dốt về triết, khi học ở Dự bị Văn khoa, điểm Văn Học Sử của ông Mục (5) cứu tôi, vớt tôi khỏi điểm 1 của ông Trung. Tôi chán học là vì vậy. Nghe anh nói tôi càng rối trí.” Tôi trần tình.

-“Tôi lấy ví dụ như thế nầy. Đặc điểm của Thiền là gì? Tỉnh lặng phải không? Khi mình muốn tỉnh lặng, chưa hẳn mình làm được, nói được, viết được cái gì đó về tỉnh lặng. Nhưng khi nghe “Bàn im hơi bên ghế ngồi”, đó không phải là tỉnh lặng thì là cái gì? Tỉnh lặng chỉ mới là im tiếng. Ở đây không phải là “tiếng” mà lại là “hơi”. Viết như thế là đạt tới cái tuyệt đối tỉnh lặng của “tỉnh vật”, không chỉ là im tiếng ở người. Thật là tuyệt cái ông Sơn nầy. Vẽ tranh, tranh tỉnh vật hay tranh phong cảnh, người ta có thể đạt tới cái vô biên của vũ trụ, đạt tới Thiền, đạt tới Đạo.” Hoàng Vũ giải thích.

-“Người ta nói Thiền là đạt tới cái vô cùng của Vũ Trụ thì cái vô cùng ấy tôi đã từng thấy trong thơ. “Niệm thiên địa chi du du, Độc thượng nhân nhi lệ hạ” Thấy cái vô cùng của Vũ Trụ mà khóc, anh nghĩ có phải là Thiền hay không?” Tôi hỏi.

-“Tôi nói với anh điều nầy, về Huy Cận. Thơ Huy Cận có cái mà người ta gọi là “Thiên Cổ Sầu”. “Sầu” dễ làm cho người ta “nhi lệ hạ” như Trần Tử Ngang. Có thể nói cái “sầu” trong thơ Huy Cận mênh mông hơn, sâu đậm hơn cả Thôi Hiệu trong “yên ba giang thượng”. Có “yên ba” Thôi Hiệu mới sầu. Huy Cận thì “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.” Anh Hoàng Vũ so sánh.

-“Huy Cận chỉ hay trước 1945 thôi. Theo Cộng Sản rồi thì dở ẹt. Ông ta không thoát khỏi “đấu tranh giai cấp”. Tôi nói. “Nói thật với anh, tôi con nhà nghèo, tự mò mẫm kiếm cơm ăn học mà cầm cục phấn, khỏi cầm cái bay, cái búa như “mạ” tôi dạy, nên mặc dù dạy môn văn chương, tôi vẫn không chịu được cái cảnh “Những người thiếu nữ buồn không nói, Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì.” (6) Đó là cảnh sống trưởng giả, cơm thừa cá dư. Không bao giờ tôi có thể hát bài “Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn”. Theo Cộng Sản, Nguyễn Văn Tý phủ nhận nó (“Dư âm”), cho là đứa con hoang. Không biết sau nầy ông ta có hối hận vì câu nói đó hay không. Người Việt mình, bảy tám chục phần trăm là nông dân, người nghệ sĩ yêu nước, yêu dân tộc nên viết cái gì cho chính họ, nếu chủ trương “Nghệ thuật vị nhân sinh”. Về điểm nầy tôi thấy những nghệ sĩ đi theo kháng chiến chống Pháp, có những tác phẩm rất hay, “Nhạc Tuổi Xanh”, “Về Đồng Quê “, “Ra đi khi trời vừa sáng”, “Hò leo Núi”. Hay lắm anh.” Tôi nói.

-“Nhiều người làm thơ, viết văn, một là vô tình để mất cái hay của mình. Hai là xu thời. Cái trước còn được, cái sau thì tệ lắm.” anh Hoàng Vũ nói.

-“Anh nói vậy, tôi không hiểu rõ đâu. Rõ hơn đi.” Tôi đề nghị.

-“Ví dụ như vậy!” Hoàng Vũ nói. “Bài hát có câu “Những thành phố em đã đi qua, Đây Paris, đây Luân Đôn, đây Vienne, nhưng có đâu bằng Saigon hôm qua, nhưng có đâu bằng Saigon mai sau.” (7) Viết như thế là hay lắm. Câu sau đó thì trật lất.”

–“Em có mơ ngày hát câu hồi hương”. Tôi nói tiếp.

-“Cái hôm qua, cái mai sau, chỉ là cái trong tâm tưởng. Đẹp lắm, đẹp vô cùng. Nhưng khi em “hát câu hồi hương” thì cái tâm tưởng biến thành cái hiện thực. Hiện thực không như tiềm thức, ít khi gây cho ta xúc cảm. Cứ để Saigon trong tâm khảm mình, đừng cho tôi thấy Saigon ngày hôm nay hay mai sau vì khi xa nó, Saigon chỉ có trong tâm tưởng.” Anh Hoàng Vũ nói.

-“Thế những người không xa Saigon thì sao? Khi đang ở trong Saigon, Saigon ở trước mắt mà không ở trong tâm tưởng. Ví dụ Trần Văn Trạch hát “Đêm khuya trên đường Catinat” (8) có thể là từ 49 hay 50 gì đó. Sau 75 ông ta xa Saigon. Trong mấy chục năm đó, Saigon bao giờ cũng là của ông ta. Nó là Catinat hay đường Tự Do, nó là bùng binh chợ Bến Thành hay Công trường Quách Thị Trang, thì nó vẫn là của ông ta. Ông ta chưa đi, chưa xa Saigon, Saigon vẫn là của ông ta. Khi ông ta đi rồi thì Saigon chỉ còn trong tâm tưởng. Cái trong tâm tưởng là cái không thay đổi được.”

-“Thế có người nói “Khi tôi chết hãy đưa tôi ra biển” thì sao?” Tôi hỏi.

-“Đó chỉ là xu thời. Bấy giờ Việt Cộng mở cửa, đón Việt kiều hồi hương. Bài thơ xu thời theo cái phong trào “áo gấm về làng”, làm sao có thể gọi là thơ, là nghệ thuật.” Anh Hoàng Vụ nói giọng mai mỉa.

Một lúc anh Hoàng Vũ nói:

-“Anh nên nhớ rằng âm nhạc cũa có tác dụng mạnh mẽ về giáo dục. Không phải theo cái kiểu ca dao:“Ai bảo chăn trâu là khổ…” Bên Âu Mỹ, trẻ em mới biết khôn, người ta đã cho nó học đàn, tập làm quen với nhạc cổ điển. Đó là cách họ trau giồi nhân cách và đạo đức cho trẻ con đấy.”

-“Hay nhỉ? Anh nói làm tôi nhớ nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, khi ông còn dạy nhạc ở trường “Khải Định nhỏ”, nói cho học trò biết, khi vợ nhạc sĩ Nguyễn Đình Chiếu mới mang bầu, ông đã cho đứa bé còn ở trong bụng mẹ nghe nhạc cổ điển Tây Phương. Sau nầy, đứa bé đó là Thơ Thơ, đoạt giải dương cầm ở Pháp.” Tôi kể.

-“Nếu dùng âm nhạc như một phương tiện giáo dục, trau giồi nhân cách cho trẻ em thì anh nghĩ sao về “Bésame Mucho”. Âm nhạc cũng có “giai cấp tính” vậy.” Tôi lại hỏi.

-“Tôi không rõ bài hát ấy có đặt vấn đề giai cấp xã hội hay không, nhưng tôi nghĩ nó khác với “Dư Âm” của Nguyễn Văn Tý. Besame Mucho giống như “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng” (9) vậy. Chỉ khác là bài hát ấy đặt vấn để giữa giai nhân và nghệ sĩ. Họ không thể ở chung với nhau.” Hoàng Vũ giải thích.

-Việc anh nói làm tôi nhớ người anh cả của tôi. Năm 1950, anh ấy mới 21 tuổi, làm báo ở Huế. Anh vừa là ký giả vừa là nhà văn. Người anh ấy yêu là cô Nguyễn Thị Ngọc Lan, con gái của một gia đình Huế “kín cổng cao tường.” Bài thơ anh tôi làm, tôi tìm được trong số tài liệu cũ ở tòa soạn báo của anh, sau khi anh ấy bị Tây bắt đem thủ tiêu. Tôi chỉ nhớ được có 4 câu:

“Anh đã biết từ khi vừa gặp gỡ

Tình đôi ta không thể ở chung đời.

Anh con chim phiêu bạt bốn phương trời.

Em là đóa hoa hồng trong biệt thự.” (10)



Đó là giai cấp phải không? Tôi hỏi.

-“Tôi không nghĩ như anh. Tôi cho rằng đó là giai nhân và nghệ sĩ.” Anh Hoàng Vũ giải thích.

&

Một lát sau, tôi lại hỏi: “Tôi vẫn có một thắc mắc về anh?”

-“Việc chi? Anh nói đi!” Anh Hoàng Vũ hỏi tôi:

-“Anh là một người có kiến thức về đạo Phật, về Thiền. Tâm hồn anh là tâm hồn một người thấm nhuần đạo Phật. Tại sao anh theo đạo Cao Đài?” Tôi hỏi.

-“Có hai lý do. Trước hết, tôi muốn về “tam giáo đồng nguyên”. “Tam giáo đồng nguyên là Nho, Phật, Lão ở chung với nhau được. Không ai kỳ thị hay muốn triệt hạ ai. Như anh thấy, trong Cao Đài, thờ đủ hết, nhưng chính yếu vẫn là ba ông: Lão tử, Khổng tử và Thích ca. Người lương hay tín đồ đạo Phật theo đạo Cao Đài là thường tình, dù trên hình thờ vẫn có Chúa, thờ ông Mô-Ha-Mát hay ông nào khác. Nhưng nếu như một tín đồ Thiên Chúa Giáo hay Hồi Giáo thì không bao giờ theo đạo Cao Đài. Tại sao? Tại giáo lý hay tại sự cuồng tín của tín đồ? Người cuồng tín là người khép kín tâm hồn mình lại với tất cả cái gì khác với giáo chủ của mình. Khi “Ta là Ánh Sáng” thì cái không phải là Ta là Bóng Tối. Phải xua tan Bóng Tối đi. Đó là nguyên nhân của Thập Tự Chinh, người Hồi hay Thiên Chúa giáo La Mã thì cũng vậy. Hai là, anh là giáo sư dạy môn lịch sử! Phải không? Anh có dạy lịch sử Pháp xâm lăng và cai trị nước ta hay không? Nếu anh biết lịch sử đó, anh có thể hiểu con đường tôi chọn.” Hoàng Vũ trả lời.

-“Việc Tây xâm lăng nước ta,” Tôi nói. “vừa có tính cách chính trị, vừa có tính cách tôn giáo. Nghĩa là các giáo sĩ, nói như nhiều người từng nói, là “những tên Thực Dân mặc áo thầy tu”. Người Việt bị đàn áp, bị nô lệ, qua đó, đạo Phật bị đàn áp, bị tàn phá vì những tên “Thực dân giả, mặc áo thầy tu” cùng với những tên Thực Dân chính cống. Từ đó, chùa chiền bị phá, đạo Phật bị đàn áp và suy vi. Đầu thế kỷ 20, nhiều người muốn chấn hưng đạo Phật, “Hội Phật Học” được thành lập ở miền Trung, miền Bắc. “Phật giáo Hòa Hảo” là sự trỗi dậy của đạo Phật trong giới bình dân ở miền Tây Nam Bộ. Đạo Cao Đài của anh cũng là một hình thức chấn hưng đạo Phật trong giới trí thức miền Nam, theo cái tinh thần “Hòa Đồng” của người Nam Bộ. Phải không?” Tôi giải thích.

-“Vậy thì còn hỏi tôi gì nữa! Nhưng anh nhớ rằng, sự trỗi dậy đó không chỉ vì tôn giáo mà còn lý do chính trị nữa. Dù không muốn, vì sự tồn vong, tôn giáo phải dính líu vào chính trị. Việc ấy, không phải chỉ thời Ngô Đình Diệm mới có, mà từ trước đó, từ khi Tây đô hộ nước ta. Anh không nhớ rằng Cao Đài từng đi với Nhật, từng có quân đội riêng. “Thất phu hữu trách…” huống gì tôn giáo. Vận nước cả.” Hoàng Vũ giải thích.

-“Tôi hiểu rồi, nhưng anh nhớ Phật giáo không muốn ở trong chính quyền bao giờ. Muốn đi tu thì phải rời ngai vàng, làm thái thượng hoàng.” Tôi nói.

-“Nhìn sâu hơn cũng đúng như thế. Anh nhớ bây giờ, những cuộc cách mạng không đổ máu thì người ta gọi là cách mạng ôn hòa. Cả ngàn năm trước, đạo Phật ở nước ta đã làm công việc ấy.” Anh Hoàng Vũ nói.

-“Tôi không hiểu! Anh muốn nói việc ông Lý Công Uẩn cướp ngôi nhà Trần phải không?” Tôi hỏi.

-“Không phải cướp ngôi. Triều đình nhà Lê suy vi, các quan họp bàn với nhau, nhất là nhờ công sức của Sư Vạn Hạnh, mời ông Lý Công Uẩn lên làm vua. Gọi là “mời”, thực chất đó là một sự thay đổi bằng chính trị, không cướp ngôi, không đổ máu. Việc thay đổi triều đại như thế, từ cái xấu qua cái tốt, từ cái ác qua cái thiện, đó không phải là cuộc cách mạng thì là cái gì? Chỉ có đạo Phật, mà phải là đạo Phật ở nước ta, mới làm được công việc đó. Hồi đó, trong triều thì có Sư Vạn Hạnh, ngoài thì có Sư Lý Khánh Văn; trong ngoài hợp đồng. Thời đại ngày nay, đạo Phật không làm cái công việc đó được nữa, các sư cụ, sư ông, những người tu hành chân chính, không thể ở trong triều, trong chính phủ. Họ rút vô chùa, cúi gầm đầu vào kinh kệ, vào “sắc không”. Những người như chúng tôi, vừa muốn bảo tồn đạo Phật, vừa muốn dấn thân vào một cuộc cách mạng cho đất nước thì phải theo đạo Cao Đài. Một người vừa là “chức sắc” đạo Cao Đài cũng vừa là một nhà cách mạng hay chính trị gia. Anh hiểu không?”

-“Anh muốn nói trường hợp cụ Phan Khắc Sửu?” Tôi hỏi.

-“Trong đạo Cao Đài, không phải chỉ một trường hợp cụ Phan Khắc Sửu. Nhưng anh phải nhớ một điều, Cao Đài không đưa thần quyền vào thế quyền như đạo Thiên Chúa hay đạo Hồi.” Anh Hoàng Vũ nói thêm.

-“Như vậy là anh đặt vấn đề “chính trị và tôn giáo”. Mục đích chính trị hay cách mạng thì rõ rồi: Cứu cánh là Dân Tộc. Còn người ta phải thấy cho được cái vĩ đại của tôn giáo chứ, người ta theo đạo nầy, đạo kia để làm gì? Cái vĩ đại nhất của tôn giáo là gì?” Tôi hỏi.

-“Anh thử đưa ra vài ví dụ đi.” Anh Hoàng Vũ đề nghị tôi.

-“Cái vĩ đại đó là “cứu rỗi?” Tôi nói.

-“Cứu rỗi là cứu khỏi tội lỗi, sự trừng phạt để sống đời đời với Thiên Chúa, phải không?” Anh Hoàng Vũ hỏi.

-“Mấy ông cha nhà thờ giảng như vậy chớ chi?” Tôi nói.

-“Vậy thì trật lất.” Anh Hoàng Vũ đáp lại.

-“Là “giải thoát”, như trong Phật giáo.” Tôi lại nói.

-“Tức là “siêu xuất trần thế, thoát khỏi luân hồi sanh tử, tới cõi “nát bàn”. Phải không?” Hoàng Vũ lại hỏi tôi.

-“Vâng! Tôi nghĩ vậy.” Tôi nói.

-“Cũng trật lất nữa.”

Một lúc sau Hoàng Vũ nói:

-“Cái vĩ đại của tôn giáo là “Vị Tha”. Vị tha là vì người khác. Khi mình buồn. Mình phải nghĩ tới có người đang buồn hơn mình. Khi ta khổ, phải nghĩ tới có kẻ đang khổ hơn mình. Khi ta đói, phải nghĩ tới kẻ đang đói hơn mình. Khi ta đau, phải nghĩ tới kẻ đang đau hơn mình… Cứ như thế mà nghĩ?” Anh Hoàng Vũ giải thích.

-“Chỉ nghĩ tới thôi sao?” Tôi hỏi.

-“Nghĩ tới là bước thứ nhất. Kế đó là tìm cách giúp người khác. Chia cái ấm cho người đang lạnh, chia cái ăn cho người đang đói. Chia cái vui cho người đang buồn…” Anh Hoàng Vũ giải thích.

-“Thì cũng giống như ông bà ta dạy “Lá lành đùm lá rách.” Ở trong trại tù, ai cũng đói thì chúng tôi “Lá rách đùm lá nát.”

-“Đó là cái vĩ đại của tôn giáo đấy. Đạo Phật chỉ có ý nghĩa khi có “Từ bi-hỉ xã”. Đạo Khổng thì có Nhân ái, Kiêm ái. Đạo Thiên Chúa cũng vậy, chỉ có ý nghĩa khi có “Bác ái”. Ngoài những điều đó ra thì đều vô nghĩa. Tôn giáo mà không có tình thương, tự nó sẽ tiêu vong.” Hoàng Vũ nói.

-“Tôi không ưa mấy ông cha, mấy ông giám mục. Giám mục Ngô Đình Thục thì người Huế “ẹ” lắm. Nhưng “Bác Ái Công Giáo” thì thật là vĩ đại. Cái đó nó ở trong văn hóa của người Âu Mỹ. Không có “Bác Ái Công Giáo” thì không có tại tỵ nạn nầy anh à!” Tôi góp ý với Hoàng Vũ.

&

Anh Hoàng Vũ không trả lời, nhưng tôi biết anh đồng ý với điều tôi vửa nói. Chúng tôi lại im lặng.

Tôi nhìn vô rặng núi xương sống của bán đảo Mã Lai. Mặt trời chạm vào đỉnh đỉnh, tung toé muôn ngàn tia lửa đỏ, dội lên những đám mây chiều đang sũng nước.

Trời muốn mưa.

Khung cảnh nầy sao quá giống cảnh hồi nhỏ, tôi hay ngồi bên bờ sông Thạch Hãn, nhìn lên rặng Trường Sơn. Tôi thấy nhớ nhà da diết, nhớ như khi còn nhỏ, tôi theo gia đình chạy tản cư lên núi vậy.

Một lúc, một nửa mặt trời chìm sau đỉnh núi. Hễ mặt trời khuất hết sau núi, trời sẽ bất thần tối hẳn đi. Nghĩ vậy, tôi buồn bã đứng dậy, vừa trụt xuống khỏi nền đài cao, vừa nói với anh Hoàng Vũ:

-“Mình về thôi anh!”

hoànglonghải

(1)-Thanh thiên nhất đóa vân

Hồng lô nhất điểm tuyết

Thượng uyển nhất chi hoa

Dao trì nhất phiến nguyệt

Y! Vân tán, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết!

(Một đóa mây giữa trời xanh

Một giọt tuyết trong lò lửa

Một cành hoa giữa vườn thượng uyển

Một vầng trăng trên mặt nước hồ

Ôi! mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!)

(2)-Xanh, Trắng, Đỏ: Ba mầu cờ của nước Pháp. Trượng trưng cho Bác ái, Bình đẳng, Tự do là mục tiêu của cuộc Cách Mạng Pháp 1789. Tư tưởng bắt nguồi từ “Thế kỷ Ánh sáng”.

(3)-Gậy, tức điểm 1, điểm Giáo sư Triết Nguyễn Văn Trung thường cho ở bài “luận Triết” của tôi. Tôi thường nói đùa với bạn: “Ông cho tao chống gậy!”

(4)-Một câu trong bài “Tình Nhớ” của Trịnh Công Sơn

(5)-Giáo sư Lê Hữu Mục dạy (tôi) môn Văn Học Sử ở lớp “Dự Bị Văn Khoa” Đại Học Huế năm 1958.

(6)-Câu trong bài thơ “Đây Mùa Thu tới” của Xuân Diệu.

(7)-“Em còn Nhớ Mùa Xuân”, Ngô Thụy Miên.

(8)- Đêm khuya trên đường Catinat –Trần Văn Trạch.

(9) Diễm Tuyết (Đời Thanh):

Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu

(10) Tôi không cho rằng mấy câu thơ nầy hay, nhưng đó là “di cảo” của người anh quá cố khi còn rất trẻ. Ông là bạn thơ của Thi sĩ Thanh Thanh (Lê Xuân Nhuận)

Bèo giạt

Hoàng Long Hải 

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Bài 8

Sân khấu khu B
Sân khấu Khu B là một rạp hát lộ thiên. Người ta lợi dụng cái lòng chảo của ngọn núi Bidong, sườn núi hình vòng cung như một nửa cái nón lá lật ngữa, chôn lên đó những tấm sắt lớn, cũng hình vòng cung để cho khán giả ngồi hoặc đứng, ngó xuống dưới kia, chỗ thấp là một cái sân khấu bằng gỗ khá rộng.

Các cánh gà đã làm sẵn bằng ván ép, vẽ tranh. Phông màn thì chỉ khi nào có trình diễn mới dựng nên. Thời gian đầu, khi chưa có các cuộc thanh lọc “tàn sát” người tỵ nạn, lòng người tỵ nạn còn vui và nhiều hy vọng thì chương trình văn nghệ diễn ra đều đều, tháng nào cũng có, để đồng bào được vui.

Sau khi có thanh lọc rồi, người hỏng thì buồn, khóc và lo lắng cho tương lai, có người tuyệt vọng, tự tử; người chưa thanh lọc cũng đâm ra băn khuăn, lo lắng, nên chẳng còn văn nghệ, văn gừng gì nữa. Sân khấu khu B vắng hoe, như là chứng tích của “một cuộc hí trường”, nơi cũng từng diễn ra cảnh vua quan, binh tướng, tuy là trên sân khấu, không phải là đời thực, cũng làm vui buồn cho bao nhiêu người!

Tôi định cư chính thức ở đảo ngày 4 tháng Sáu năm 1989. Chỉ mấy hôm sau, là được xem trình diễn văn nghệ ở sân khấu khu B.

Vào chương trình, mọi người đứng nghiêm chào cờ. Nhạc và tiếng hát cất lên: “Nầy công dân ơi…” Và tiếp theo Quốc ca là bài “Việt Nam! Việt Nam! Nghe từ vào đời…”

Và tôi xúc động đến nỗi, có lúc, bỗng chốc, có mấy giọt nước mắt trào ra ở khóe mi.

Quí vị không tin tôi!?

Có thể!

Nhưng chỉ có ai từng sống trong cảnh đọa đày đau khổ, trải qua những giờ phút nguy khốn nhứt trong cuộc đời. Những ai từng cầm từng lát khoai mì mốc cố ăn để mà sống. Những ai cầm cái cuốc không muốn nỗi, cũng phải giơ cao cuốc lên để làm cho xong, cho qua một ngày khổ sai. Những ai cầm dao đốn những cây rừng to để biến đất rừng thành trại tù giam hãm bạn bè mình. Những ai từng thấy bạn tù của mình hấp hối trong cơn bệnh hoạn ngặt nghèo mà không có thuốc thang, bác sĩ. Những ai từng thấy những ông già tù ngồi không vững, đi muốn xiêu té, chết dần từng ngày, từng giờ vì thiếu ăn… Những người đó sẽ cảm nhận một cách sâu sắc rằng thế nào là sống, thế nào là được sống, thế nào là thoát vòng lao lý, là không còn bị kềm kẹp, đe dọa, là những hãi hùng khi còn trong trại tù, là hy vọng, là tự do.

Giờ đây, tất cả những buồn phiền, đau đớn, tuyệt vọng đó đã qua rồi, đã biến khỏi tâm tư, tình cảm, chỉ còn lại những vui mừng, sung sướng vì “giải thoát”, vì được “giải phóng” đích thực, thật sự, không còn dối trá, lừa đảo, thủ đoạn, gian manh thì mới thấm thía như tôi khi nghe lại những bài ca quen thuộc, những lời ca mình từng hát, lời ca từng nung nấu, hun đúc tình cảm của mình đối với quê hương, xóm làng, với bà con, đồng bào, dân tộc, từ khi còn thơ ấu, thì sẽ thông cảm tôi, tại sao tôi khóc khi nghe lại tiếng hát bài Quốc ca sau một thời gian dài sống trong cảnh ảm đạm, u tối, kềm kẹp, đau xót của một chế độ cai trị dã man và gian trá bậc nhứt trong lịch sử dân tộc.

Đối với những đêm văn nghệ, có đơn ca, hợp ca, hợp xướng, hài kịch, ca kịch, tuồng tích cải lương, với sự giúp đỡ của Cao ủy Tỵ nạn, phương tiện không thiếu, nhưng ca sĩ, kịch sĩ, đạo diễn, tuồng tích, hóa trang, việc may sắm y phục, v.v… Tôi nghĩ là thiếu, là gặp khó khăn.

Gặp khó khăn là điều không thể tránh, nhưng thiếu thì không thiếu. Không có những ca sĩ đệ nhứt hạng, đệ nhị hạng, nhưng người hát hay thì không thiếu: Vũ Nga, Thu Thủy, Thanh Thảo, v.v… Cũng có những người từng hoạt động trong lãnh vực văn nghệ trước 1975. Cũng có người mới được đào tạo mới đây, dĩ nhiên không phải ở thủ đô Saigon mà ở cái gọi là thành phố Hồ Chí Minh như Ngụy Vũ, những người vì yêu thích mà trở thành nghệ sĩ, đạo diễn cải lương như Lê Vĩnh Tường.

Những buổi trình diễn văn nghệ nầy trên một phương diện nào đó, rất thành công. Có nghĩa là khi buổi trình diễn xong rồi, đồng bào ra về vui vẻ, bàn tán náo nức, khen ca sĩ nầy, nghệ sĩ kia, cả nữ nghệ sĩ nhưng không chừng đó lại là một anh “đực rựa”, giả đóng vai khác giống, v.v…

Tình trạng sinh hoạt ở đảo, về mặt quản lý có nhiều điều không đàng hoàng. Khi tôi tới trại thì ông cựu thiếu tá Nguyễn Văn Lỳ, khóa 12 Thủ Đức đang làm Trại trưởng. Ông nầy mang tai tiếng nhiều về các vụ quan hệ với mấy bà, nay bà nầy, mai bà khác. Cái chức vụ ấy như một phương tiện để mấy ông quan hệ tình ái bê bối. Lúc ấy, ông cựu trung tá Bùi Văn Xuẩn làm Trưởng khối An ninh, cũng mang tiếng không kém về các vụ dung chứa bọn làm bậy, như bao che cho những người nấu rượu lậu, bọn “bồ-tạt” (tiếng Mã Lai là du đảng) là bọn du côn trấn lột, v.v…

Đúng ra, ông Nguyễn Văn Lỳ rời đảo đi định cư sớm – ông nầy tới đảo trước ngày “đóng cửa đảo”, khỏi bị thanh lọc, nên đi định cư sớm – nhưng, tuy làm trại trưởng, thường làm việc với Cao ủy nhưng văn phòng nầy không giúp đỡ ông ta khi ông ta bị phái đoàn Mỹ từ chối, không cho định cư ở Mỹ. Ông ta phải đi Úc, kéo luôn bà Đ. đi theo, sau khi tặng cho bà nầy một cái bầu. Bà Đ. là “người quen cũ” của nhạc sĩ Trường Sa ở Bidong. Vì tế nhị, sau nầy, tuy gặp Trường Sa nhiều lần, tôi chẳng bao giờ hỏi ông về chuyện “Con sáo sổ lồng” mà ông đã từng “Đem sáo sang sông.”

Khi ông Nguyễn Văn Lỳ rời đảo, ông cựu thiếu tá Ngô Văn Thu lên thay. May mắn, ông Ngô Văn Thu là người chăm việc, đàng hoàng, có tư cách, nhiều người có cảm tình với ông, nhưng ông ta lại bị “đấu tố” ở Sân Khấu Khu B vì “không phải là người phe ta.”

Hôm ấy, chẳng có văn nghệ văn gừng gì cả, chỉ là vì cái chức trưởng trại, nên các ông chế độ cũ bày loa, máy phát thanh ra sân khấu và đấu tố ông trại trưởng.

Ông ta mới lên chức, đã có gì đúng sai đâu mà đấu tố? Không có lỗi gì cả? Dễ thôi! Muốn thì tìm, tất phải có… tì vết. Ấy là việc mà tổ tiên gọi là “Bới lông tìm vết.” Vậy là có ông Trương Hồng Sơn, cựu sinh viên trường Đại Học CTCT lên cầm micro tố cáo ông Thu nào là nay “Anh” lên làm trại trưởng, có nhà ở riêng, rộng rãi, mát mẽ, có quạt máy, có radio, có ngược ngọt xài thoải mái, quên mất anh em, bè bạn, quên mất “chiến hữu, chiến tả” gì đó, v.v…
Buồn cười chưa?!
Những thứ ấy do Cao ủy chu cấp cho, người trước sinh hoạt ra làm sao, ông Thu tiếp tục theo đúng tiêu chuẩn của Cao ủy cho như vậy. Tại sao lại đem bêu rếu ở đây?

Thế là đồng bào, tưởng tới sân khấu Khu B coi văn nghệ, té ta “mấy ổng chơi nhau” nên đồng bào bất mãn, bàn tán, chê bai mấy ông chia phe, v.v…

“Mấy ổng chơi nhau”. Có phải đó là “truyền thống” của…

Hôm sau, trên đường đi làm, tình cờ gặp ông Cựu Đại tá Nguyễn Thiều, khóa 16 Võ Bị, cự Trung đoàn trưởng Trung đoàn nào đó thuộc Sư Đoàn 22, đóng ở Bình Định, từng bị chê là “tam thập lục kế” trước lính của ông; chào nhau xong, tôi nói:

– “Hôm qua, vụ sân khấu Khu B., người ta cho rằng ông đứng đằng sau vụ tố khổ ông Thu đấy. Ông là người có cấp bậc cao nhứt trên đảo, là huynh trưởng, phải đứng ra dàn hòa thôi.”

Thay vì trả lời tôi, ông cựu đại tá Nguyễn Thiều quay ngoắt bỏ đi, không nói gì cả.

Lên tới phòng PTCĐ, tôi thấy nhiều người đang bàn tán sôi nổi chuyện sân khấu Khu B tối qua, phê phán khá nặng nề, cho là phe phái, gây chia rẽ nầy nọ.

Tôi không tham gia, ngồi vào chỗ làm việc.

Bửu Tộ tới ngồi trước mặt tôi, nói:

– “Mấy cha nầy kỳ ghê, có gì cái chức trại trưởng tạm thời mà chơi xấu nhau dữ vậy!”

– “Ham chức, háo danh là tâm lý thông thường. Ở loanghouse tôi, ông thiếu úy Lang, bạn ông đại úy Khoái, được chuyển đến trại Marang. Trại nầy là trại chuyển tiếp, chỉ ở tạm vài hôm, có cần chức chưởng gì đâu. Ai biết ít nhiều tiếng Anh thì xí xô xí xào với mấy thằng lính Mã Lai để lãnh gạo, lãnh củi giúp đồng bào. Cả trại nầy, lúc ấy phần đông là dân Long Phú (Sóc Trăng) và Bình Đại (Bến Tre), chữ nghĩa không có, ông ta chỉ đứng ra lãnh đồ giúp. Vậy mà khi tôi mới tới đảo, ông ta khoe: “Tôi là trại trưởng Marang” huống gì cái chức trại Bidong nầy là to lắm. Dù là cục xương khô, tranh nhau cũng không có chi lạ cả.”

Thực ra, càng về sau, người ta càng thấy khả năng và thiện chí của ông Thu với đồng bào, cả người sống, lẫn người chết.

Ngoài việc chăm sóc đời sống thường nhựt của người tỵ nạn, ông ta tổ chức nhiều đợt, kêu gọi đồng bào tham gia đi làm cỏ và sửa sang các khu nghĩa địa. Mộ nào có bia thì lấy sơn vẽ tên lại cho rõ. Mộ nào chỉ là nắm đất, ông cho lấy đá đắp chung quanh cho ra hình dáng mộ phần. Xong khu nghĩa trang ở gần khu Đ, ông lại cho lên sửa lại những ngôi mộ trên sườn núi Bidong, nơi nầy ít ai biết. Hơn cả chục năm trước, có một đợt dịch tả, Cao ủy lo không kịp, chết hơn chục người, chôn ở trên sườn núi đó.

Hầu hết những ngôi mộ nầy không có thân nhân. Họ vượt biên một mình hay thân nhân định cư đã lâu, chưa có dịp trở lại thăm viếng mồ mả người đã khuất.

Mấy ông đối thủ thấy vậy, biết mình làm không xong gì, mới chịu nằm im.

Sau đó ít lâu, ông cố vấn Hùng cho chúng tôi biết là ông cao ủy Francesco yêu cầu thay ông cựu trung tá Bùi văn Xuẩn trưởng khối An Ninh. Theo cố vấn Hùng thì ông cao ủy Francesco phê bình ông Bùi văn Xuẩn cho rằng làm việc không hữu hiệu. Không hữu hiệu chỉ là cách nói khéo. Theo dư luận thì ông ta bao che bọn “bồ tạt” và bọn nấu rượu lậu!

Tôi đề nghị:

– “Ông cố vấn nên cho tổ chức bầu cử đi, khỏi mang tiếng phe đảng.”

Cố vấn Hùng nói:

– “Tôi cũng nghĩ vậy, để cho đồng bào tập làm quen với đời sống dân chủ.”

Cô Mỹ Duyên góp ý:

– “Nếu đi định cư được, qua nước người ta có bầu bán, đồng bào cũng có ý niệm về bầu cử tư do. Còn như phải về, đồng bào có dịp so sánh bầu cử tự do với bầu cử độc tài. Đằng nào cũng có lợi.”

Cô Mỹ Duyên là con gái bác sĩ Nguyễn Hữu Phần. Bác sĩ Phần từng theo học “hậu đại học” ở Mỹ, trước 1975, là Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ. Mẹ cô là hiệu trưởng một trường tiểu học tư, do chính bà làm chủ, đã bị Việt Cộng lấy mất trường, thành ra thầy cô bị “mất dạy”. – Chúng tôi hay nói đùa lén cô Mỹ Duyên như vậy -. Cô Mỹ Duyên học rất giỏi, nhưng không vô y khoa được vì lý lịch số 13, phải học trung học y tế. Buồn tình, cô vượt biên với cậu em, tên Nhân. Anh nầy làm việc thiện nguyện ở văn phòng ông Bill, coi sóc các em “mai-no”, tức là bọn trẻ con vượt biên một mình, không có thân nhân cùng đi.

Hai chị em cô nầy hiện định cư ở Úc.

Cô Mỹ Duyên là người làm việc giỏi, rất nhiệt tâm, thân cận với cố vấn Hùng. Cô có thành lập một đoàn gọi là “Thanh niên Chí nguyện” chuyên đảm trách các công việc xã hội, giúp đỡ các gia đình neo đơn. Gọi là “chí nguyện” nên không nhận thù lao bất cứ của ai, về việc gì. Công việc họ thường làm là đi dọn rác, hốt rác, vét cống rảnh nước dơ cho thông, từ các longhouse chảy ra suối, sửa sang những ngôi nhà bị hư hỏng. Tuy các công việc nầy do khối Vệ Sinh và Xây Dựng đảm trách, nhưng các khối nầy thường làm những công việc thường nhựt, có đám “Thanh niên Chí nguyện” giúp sức, các khối giải quyết được những vấn đề lớn hơn, khó khăn hơn. Hôm tôi sửa nhà, mặc dù tôi không còn làm việc ở phòng PTCĐ nữa, bày tỏ yêu cầu với cô Mỹ Duyên, cô cho mấy “Thanh niên Chí nguyện” đến giúp đỡ, dựng mái hiên nhà rộng ra, buổi chiều có chỗ ngồi chơi.

Việc bầu trưởng khối An Ninh được tổ chức rất chu đáo.

Văn phòng trại cho người vận động đồng bào tham gia đông đảo. Còn những người ra ứng cử thì tự họ lo. Việc in ấn truyền đơn của các ứng cử viên thì thì do cô Mỹ Duyên đảm trách. Cô ấy thực hiện công việc nầy đứng đắn, công bằng, không ai trách cứ vào đâu được.

Lần ấy, ông Cao Dai, cựu thiếu tá, đắc cử Trưởng khối An Ninh, cùng với ông Khoa, cựu trung úy, làm phó khối.

Việc ông ta đắc cử cũng dễ hiểu thôi, bởi vì mọi người đã ngán ông cựu trung tá Bùi Văn Xuẩn lắm rồi. Ngay chính cao ủy Francesco cũng nói trong buổi hội nghị: “Mùa cũ đã qua rồi, nên cày xới đất đai lên để gieo hạt cho mùa mới.” Dĩ nhiên, ông phải nói khéo như thế.

Tuy vậy, chỉ 1 năm, người ta lại ngán cái “mùa mới” nầy. Mùa mới cũng như mùa cũ. Hạt giống đã như thế rồi, mùa mới hay mùa cũ cũng chỉ gặt lên những sản phẩm như thế mà thôi.

Lại bầu lại, ông Cao Dai thất cử. Ông nầy cũng chẳng cao thượng gì hết. Đang khi kiểm phiếu, – cũng tại sân khấu Khu B. – phiếu đối thủ của ông càng ngày càng nhiều, vượt cao lên. Biết chắc mình thua, ông trưởng cùng ông phó, chui ra ngõ sau, lặn mất, không ở lại đó mà chúc mừng đối thủ như người Âu Mỹ thường làm. Ai cũng cười. Người ta cười ông Cao Dai làm thợ lặn hay người ta cười cho “Văn minh Việt Nam”?

Bấy giờ, vì thấy số phận mình còn dan díu với trại tỵ nạn lâu dài, người ta càng tổ chức nhiều hội đoàn: Nào là “Hội cựu tù nhân chính trị” hy vọng với hội gốc ở bên Mỹ, bên Tây có giúp đỡ gì cho mình được chăng? Các hội Cựu Quân Cán Chính như hội Không Quân, hội Hải Quân, hội Sư Đoàn Bộ Binh, hội Biệt Động Quân, hội Thiết Giáp… Không thấy hội Nhày Dù hay Thủy Quân Lục Chiến, có lẽ số cựu quân nhân thuộc các binh chủng nầy không bao lăm người, không lý chỉ một hai người mà vừa làm hội trưởng, hội phó và hội viên..?

Lại cũng có người liên lạc với các “chính phủ lư vong” bên Mỹ. Các chính phủ nầy thì tôi không có ý kiến, – cũng có thể là không dám có ý kiến – nhưng cũng có người ở trại được phong chức. Ông Nguyễn Bửu Th., trại trưởng được chính phủ… gì đó ở Cali phong cho chức “Đại biểu Chính phủ” ở Malaysia. Tôi không rõ mấy tiếng “đại biểu chính phủ” nầy có ý nghĩa như thế nào, có giống chức đại biểu chính phủ của nước Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 hay không? Nếu thế thì lãnh thổ và dân chúng ở đâu? Không lý dùng lãnh thổ và nhân dân Mã Lai mà làm “đại biểu”.

Sau khi đọc báo “Đường Sống?” thấy chính phủ công bố chức nầy chức kia cho người nầy người nọ, tôi hỏi ông Nguyễn Bửu Th., thì ông ta khoe cho tôi thấy cái giấy chứng nhận của chính phủ cấp riêng cho ông. Cách đây 20 năm ông ấy được cái chức “đại biểu chính phủ”, lâu ngày thăng quan tiến chức, không rõ bây giờ ông ta lên tới cái chức gì rồi. Còn cái giấy chứng nhận, như bọn tôi nói đùa “Cất cho kỹ, lỡ khi đau bụng, bỏ vào nồi sắc uống cho bớt đau.”

Bên cạnh sân khấu Khu B là khu thanh nữ, tức là khu dành riêng cho các cô gái vượt biên một mình. Khu nầy hơi nghiêm nhặt, cấm đàn ông con trai léng phéng vào đây. Thành ra, ở cái sân khấu nầy, bên phía nhìn vào khu thanh nữ là nơi “phát tín hiệu truyền tin.”

Longhouse tôi ở phía bên nầy sân khấu, phía bên kia là khu thanh nữ. Cứ mỗi sáng, tôi thấy hai cha con, hết người cha lên đứng bên hông sân khấu ra “tín hiệu” cho một cô nào trong đó. Sau cha là đến phiên anh con trai. Anh nầy cũng đến phát “tín hiệu” cho một ai đó trong khu trên. Sau nầy mới vỡ lẽ, người nhận tín hiệu của người cha có biệt danh là “Dung nhỏng nhẻo” cùng quê với Nguyễn Thị Định. Theo người ta nghĩ, cô nầy phải rớt thanh lọc vì là con cán bộ hiện dang tại chức ở Việt Nam, con cái có lý do gì mà gọi là “bị ngược đãi chính trị” như trong luật tỵ nạn chính trị của Cao Ủy Liên Hợp quốc qui định? Nhưng nhờ người cha là sĩ quan chế độ cũ, khéo vẽ phù phép mà lọt qua lưới của Cao ủy Tỵ nạn, sau định cư ở Úc. Thế còn anh con trai? Anh nầy có vợ đi theo nên hai bên vợ và bồ xảy ra… đánh ghen. Việc phải nhờ cao ủy gian xếp. Ôi! đời tỵ nạn, cũng không thiếu gì chuyện vui cười…

Như tôi nói ở phần trên, do hoàn cảnh phải ở lại trại tỵ nạn lâu ngày, do tâm lý khi khó khăn thì người ta tìm đến nhau, do hy vọng những tổ chức của cộng đồng người Việt hải ngoại có thể giúp đỡ trong việc thanh lọc, các hội đoàn cựu quân cán chính được thành lập.

Một hôm, nghe thông báo, tôi đi họp hội Thiết Giáp vì tôi vốn là sĩ quan Thiết Giáp trước khi biệt phái. Hội khoảng trên 10 người, gồm từ ông cựu thiếu tá Thái Văn Sang, khóa 12 Thủ Đức, cho tới anh binh nhứt, binh nhì nào đó, tôi không nhớ tên.

Sở dĩ tôi nhớ ông cựu thiếu tá nầy, nói thật lòng, cũng bởi ông có loon lá nầy nọ, thứ nữa ông cũng thuộc hàng quái kiệt khó chơi. Trong một trận đánh nào đó, dĩ nhiên trước 1975, có lẽ M-113 của ông bị bắn cháy. Dấu tích còn lại trên mặt ông vì ông chưa kịp đi thẩm mỹ viện. Điều đó thì đáng thương cho ông, nhưng quả thật tôi không ưa ông là vì ông thuộc hàng đệ tử của cựu thiếu tá (sắp lên trung tá – như ông ta khoe –) phó phòng 3 Sư Đoàn Dù nhưng cải tạo có hơi ít – chỉ 4 năm rưởi, nhờ giác ngộ cách mạng trước 1975 nên được về sớm. Quí vị có thể xem lại ở bài số 2, phòng SB thì rõ. Ngoài ra, ông nầy cũng thuộc hàng, như tôi có nói trong phần phát thanh hằng ngày trên đảo, cũng là người đi tìm lại “thời hoàng kim”. Tạm thời, ông tìm lại thời ấy ở mấy cô trong khu thanh nữ trước đã.

Thế cũng cho qua đi. Nhưng hôm họp mặt “chiến hữu” lần đầu tiên, mỗi người tự giới thiệu mình cho mọi người biết tên họ cấp bậc, đơn vị, v.v… thì ông cựu thiếu tá Thái Văn Sang tự giới thiệu như sau:

– “Tôi là người ai cũng biết…”

Sau buổi họp, trên đường về nhà, cùng đi với ông Tuyên, cựu trung úy Thiết giáp, tôi nói với ông ta:

– “Tới đảo rồi, mấy ông chế độ cũ nhiều người thấy mình lớn quá, cứ tưởng rằng ai cũng biết mình, ai cũng phải biết mình…”

Từ đó, tôi chẳng họp hành “hội đoàn hội đúm” gì nữa cả, và cũng chẳng tham gia “cộng đồng, cộng kẽm” gì nữa cả, cứ lo làm báo, phát thanh cho thiên hạ đọc chơi, cho thiên hạ nghe chơi…cũng đỡ buồn nhiều lắm. Thời gian chờ đợi đi thanh lọc nhờ vậy cũng ngắn lại nhiều.

Tuy nhiên, tôi biết có nhiều anh em rất tốt, thật lòng thương nhau. Ông Lê Hữu Thu, nguyên là thượng sĩ Cảnh Sát, tham gia hội Cảnh Sát Quốc Gia. Khi ở trại, ông cũng góp ý với những người chuẩn bị thanh lọc, giúp đỡ họ làm sao trình bày cho rõ ràng, mạch lạc những khó khăn vì chế độ trước khi vượt biên. Sau nầy, khi đi định cư rồi, từ Hạ Uy Di, nơi ông ở với các con đã định cư trước, nhiều lần gởi tiền về cho hội ở đảo để giúp đỡ các anh chị em gặp khó khăn.

Ở phòng Phát Triển Cộng Đồng, nhiều việc phải đưa lên sân khấu Khu B như văn nghệ, bầu bán (kết thúc và công bố kết quả). Việc tôi làm, – báo bung và phát thanh -, chẳng phải lên sân khấu, cũng đỡ. Lên chỗ “hí trường” ấy, cũng ngại. Biết đâu lại có người tìm ra tôi có cái lỗi gì đó – Chắc gì tôi không có lỗi, mà còn lỗi nhiều lắm cũng nên – người ta đưa lên đó đê phê phán, phải tẻn tò, không ngán sao được!?

Đời, quả thật là “Tạo hóa gây chi cuộc hí trường!” như Bà Huyện Thanh Quan nói vậy./

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Bài 7

Những bài thơ hay
https://tusachonline.files.wordpress.com/2014/11/136.jpg?w=750Sau khi tờ SHCĐ đăng bài thơ “Với Bóng” của Hoàng Vũ, tôi ghé thăm anh và mời lại chỗ tôi làm việc chơi. Anh đến thật. Thấy anh, mời ngồi chơi, tôi nói: “Bóng không có quyền lợi, không vì quyền lợi nên theo anh tới cuối đời. Vậy người ta gọi là chung thủy.”

Anh Hoàng Vũ trả lời:

– “Đời sống không thể có vô thủy vô chung. Hễ có thủy phải có chung. Có thủy mà không chung là vì ích kỷ. Người ta bỏ nhau là vì ích kỷ.”

– “Tôi nhớ người xưa có nhiều nhận định rất hay về con người. “Gia biến biết con thảo, nước loạn biết tôi trung.” 30 tháng Tư, không chỉ đau cho công cuộc chống Cộng của người miền Nam mà đau cho cả tình người. Vợ chồng, cha con, anh em, bạn bè, chiến hữu, thầy trò. Nỗi đau đó kể sao cho hết.”

– “Bỏ ngoài việc gia đình, chuyện riêng. Ngoài xã hội, anh biết những ai còn nhau?” Hoàng Vũ hỏi tôi.

– “Chịu! Theo anh thì ai?” Tôi nói.

– “Những ai đến với nhau không vì quyền lợi vật chất. Chỉ bằng tinh thần.”

– “Anh muốn nói bạn văn? Bạn văn nào? Mấy cha háo danh, bỏ nhau lẹ lắm.” Tôi cười, nói.

– “Háo danh thì đâu còn là văn chương đích thực. Tôi muốn nói theo ý nghĩa đích thực, chân chính của văn chương.”

– “Vậy anh còn lại ai? Nói như anh thì không ít đâu.” Tôi nói.

– “May mắn, tôi còn đông.”

Rồi anh kể tên, kể người để tôi viết bài trước, “Những người làm thơ cổ.” Nhưng tôi muốn anh cho tôi xem thơ của họ, đăng thơ của họ. Đó là nguyên ủy của những bài thơ sau đây:

Khóc Vũ Hân

Vũ Hân, quê Quảng Nam, bị tật bẩm sinh, là một nhà thơ, – tác giả thi phẩm “Diễm Trang”, nhà giáo nổi tiếng ở trường Bồ Đề Huế.

Sau 1975, ông bị buộc phải thôi dạy học, sống lây lất ở Saigon, vợ bỏ. Ông chết trong cảnh nghèo khó. Bài thơ nầy Hoàng Vũ khóc Vũ Hân khi nghe tin Vũ Hân qua đời.

Ức Vũ quân hề lệ mãn khâm

Trường Sơn Quảng địa nhất tinh trầm

Yên hoa phong bút, hồn như tại

Hà huống tao nhân ảo tỵ trần

bản nôm:

Thấm bâu lệ nhớ bao lần

Quê hương bỗng xót một vì sao rơi

Bút hoa gởi lại với đời

Đành sao anh vội về nơi chia đường.

*

Nhất phiến tài tình vạn cổ thương

Nhàn văn độc khứ thệ hà phương

Ô hô! Thế sự mai trường mộng

Hốt kiến trần khôi sở đoạn trường

bản nôm:

Tài hoa một kiếp thân thương

Cánh mây biền biệt cuối đường phiêu du

Mộng trường chôn chặt nghìn thu

Màu tro xám lạnh bùi ngùi tâm can

Hoàng Vũ

Bạch Hạc Qui Sào

(Bài thơ nầy Hoàng Vũ làm lúc cùng đi với thi sĩ (bác sĩ) Thái Can, thi sĩ Thường Quán đến thăm thi sĩ Chính Hà mới từ Bắc vào, phải nằm bệnh. Chính Hà là cháu 7 đời Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, tác giả Cung Oán Ngâm Khúc)

Lân cư bất thức hạc qui sào

Hạnh ngộ thi tình khởi hứng cao

Giả trí, giả năng, đô bạch phát

Nhi chung, nhi tứ thị hồng mao

Hoàng tâm nhất điểm thôi trần để

Thanh hải không chu nhận thủy trào

Lãm thúy ngô quân ưng trúng tuyết

Kim bằng lai khứ thưởng phong tao.

Hoàng Vũ

(bài nầy tôi không có bản dịch nôm)

Bài họa của Thái Can:

Thái Can (1910– 1998) là một trong 40 nhà thơ được giới thiệu trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh. Thơ Thái Can phần nhiều đã đăng ở Phong Hóa, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Hà Nội Báo, Văn Học Tạp Chí, 1935. Ông sinh ra và lớn lên tại xã Đức Lâm, Đức Thọ, Hà Tĩnh, tốt nghiệp trường Đại học Y khoa Đông Dương, hành nghề bác sĩ tại Đà Nẵng, sau đó sang Hoa Kỳ.

Ngày 22/04/1998, nhà thơ, bác sĩ Thái Can qua đời tại California.

Ý nhi hạnh ngô phụng lai sào

Thanh khí giao tình trác vận cao

Thế sự hồi đầu song bạch mấn

Công danh đáo để nhất hồng mao

Ngã tri kim nhật duy tân phái

Thùy thức đương xuân quán cựu trào

Kim cốc chi lan nghinh đối ẩm

Đáp tình, sổ vận ký phong tao

Thái Can tự Vọng Chi.

Giải thích (của Hoàng Vũ):

1- Chim ý nhi gặp chim phượng hoàng đến thăm nhà

2- Niềm thanh khí đã gởi lại bài thơ với vần điệu trau chuốt đẹp đẽ.

3- Việc đối đầu lúc mãn cuộc đời đều không tránh hai chòm tóc mai bạc thếch

4- Công danh cuối cùng như sợi lông bay

5- Tôi biết học phái ngày nay chọn tân học

6- Nhưng ai ngờ trong lứa tuổi trẻ trung nầy lại quán thông nền cổ học nữa,

7- Xin thân mời đến vườn kim cốc, chúng ta uống rượu và làm thơ với nhau.

8- Vài vần thơ thanh tao xin đáp lòng gởi đến bạn.

Ghi chú người viết:

Hoàng Vũ thường dịch ra quốc ngữ các bài thơ của thi hữu ông. Tôi không rõ hai bài nầy tại sao ông không dịch nôm, chỉ giải thích để tôi chép lại.

Hoàng Vũ đến thăm nhạc sĩ giáo sư âm nhạc Bửu Lộc.

Trước 1975, nhạc sĩ Bửu Lộc phụ trách chương trình Ca Huế trên đài phát thanh Saigon mỗi trưa thứ sáu. Những người Huế lưu lạc vào tận miền Tây Nam Bộ như tôi, nghe ca Huế, có ai không buồn, không nhớ Huế không?!

Bên ngoài vũ trụ bao la

Bên trong vũ trụ là ta với đàn

Bên ngoài sông nước Hương Giang

Bên trong sông nước là đàn với ta

Còn non nước, còn cỏ hoa

Còn người tri kỷ, còn ta còn đàn.



Thơ Nhạc Sánh Ngôi

Đàn ai động phiếm thả hồn bay

Cùng với thơ ta quyện chốn nầy

Đàn gợi niềm vui đời lãng tử

Thơ ta vang dội khắp cung mây



Khanh với ta quen tự thuở nào

Quên rồi, việc ấy nghĩa gì đâu!

Đường tơ khanh gởi vào vô tận

Qua biển lòng ta những dạt dào



Đã trót làm thơ nên thẩn thơ

Quen nhau trong bước hẹn không ngờ

Ta đang nhặt lá mùa thu rụng

Nghe tiếng đàn khanh trẩy tiếng tơ



Trời bắt làm quen ta với người

Phải chi duyên nợ đã lâu rồi

Từ khi trái đất còn hoang vắng

Thì nhạc với thơ đã sánh ngôi





Tiễn Người Đi

Kính viếng hương linh thi sĩ Bàng Bá Lân

Hoàng Vũ

Hạc trở về non, bỏ cuộc rồi

Đường trần gởi lại chuyện buồn vui

Mảnh thân dù liệm trong lòng đất

Hương bút còn bay giữa cõi người

Dìu dặt “Đàn Thu” cung phiếm loạn

Bàng hoàng thi xã lệ tâm rơi

Trăm năm là mấy! Sao anh vội?

Khóc tiễn người đi, bút nghẹn lời



Ghi chú:

Khi bài thơ nầy được phổ biến trên tờ Sinh Hoạt Cộng Đồng, có một cô gái đến chỗ tôi làm việc, tự xưng là con gái thi sĩ Bàng Bá Lân, gởi lời cám ơn thi sĩ Hoàng Vũ. Tôi thật vô ý, không ghi tên cô ta, cũng không ghi địa chỉ. Sau nầy thanh lọc, không biết cô ta đậu hay hỏng, cũng không biết bị cưỡng bức hồi hương hay định cư ở quốc gia thứ ba nào!!!

Viếng Mộ Song Thân

Vì chinh chiến, tôi xa quê hương 20 năm, sau mới được về thăm mộ, xúc cảm công ơn cha mẹ, tôi làm bài thơ nầy để tạ tội với Hai Vị Song Thân – Hoàng Vũ.

Tích niên thử địa song đường tại

Kim nhật hoàng vân nhất đóa qui (1)

Nhất kiến song phần khô cảo lý

Cam đường đoạn đoạn bất thăng bi!

dịch nôm:

Năm xưa bố mẹ nơi nầy

Giờ con mỗi một trong bầy về thăm

Nhìn đôi mộ, Cỡ mầu tang

Lòng đau như cắt, ruột đau rối bời.

Hoàng Vũ (1983)

Năm 1990, mùa hạ, rằm tháng Tư, thầy Nguyên Đạt chùa Phật giáo trên Đồi Tôn Giáo tổ chức lễ Phật Đản rất trọng thể, trước nay chưa ai từng làm.

Trước khi có thanh lọc, các sư sãi nhanh chóng được đi định cư ở Úc, ở Mỹ hoặc Canada. Ai cũng lo đi cho nhanh, nên ít ai để tâm lo tổ chức ngày vía cho Phật tử. Thầy Nguyên Đạt tới đảo sau ngày “đóng cửa đảo”, biết mình còn ở lại trại tỵ nạn lâu nên thầy lo tổ chức lễ Phật đản cho đồng bào Phật tử. Vã lại, thầy Nguyên Đạt là người có nhiều sáng kiến, có óc tổ chức nên trong suốt thời gian còn ở đảo, mỗi năm, mấy kỳ vía lớn, thầy tổ chức lễ rất trọng thể, ai nấy đều nô nức tới lễ chùa và ca ngợi công đức thầy Nguyên Đạt không tiếc lời.

Năm đó (1990), tôi có ra số SHCĐ đặc biệt về lễ Phật đản. Anh Hoàng Vũ gởi tới đăng bài thơ hay:

Hoa và Đạo

Hạ chí liên thành diễm khả lân

Khẳng tương hoa đạo ngoại khinh trần

Đạo khai trí tuệ thường an định

Hoa hướng tâm linh tự nhập thần

Đạo pháp như như hề quảng đại

Nhất chân lãng lãng thị huyền thâm

Nê trung bất nhiễm sương đầu thảo

Ý ngoại mê đồ sử tử xuân

Hoàng Vũ (tự) dịch:

Tháng hạ sen khoe lộng lẫy màu

Vườn trần Hoa Đạo khác chi nhau

Đạo đưa trí tuệ vào viên mãn

Hoa hưóng tâm linh đến nhiệm mầu

Phật pháp rõ ràng duyên rộng lớn

Chân như bàng bạc lý cao sâu

Trong bùn không nhiễm sương đầu cỏ

Lòng nhẹ căn trần đẹp xiết bao!

Khi nhân bài thơ nầy, đọc xong, tôi hỏi Hoàng Vũ một câu, bây giờ nhớ lại, thấy mình còn ngớ ngẩn, không biết chi về đạo cả:

– “Anh theo đạo Cao Đài, tại sao còn làm bài thơ về lễ Phật?”

Hoàng Vũ cười:

– “Nếu đã đạt tới Đạo thì đâu còn là Phật hay không Phật, là Cao Đài Tiên Ông hay chúa Giê Su, Mô-ha-Mát. Khi người đi tu tìm về tới Chân Nguyên, đạt tới sự huyền vi của Đạo, có nghĩa là Đạo cũng không còn, không còn gì cả, là hư vô, nói chi tới Chúa hay Phật”

Tôi rất tâm đắc câu trả lời của anh. Vì vậy, khi viết bài “Mùa Sen” tôi đưa bài thơ của anh làm phần kết.

Làm báo và phát thanh ở phòng Phát Triển Cộng Đồng tôi được nhiều cái vui.

Trước hết là anh em bạn văn, bạn thơ, nghệ sĩ đến chơi đông đảo, chuyện trò, mặc dù chẳng có chuyện chi quan trọng cả, chỉ là đến chơi với nhau. Các anh em có máu văn nghệ văn gừng cũng đến góp bài, góp ý. Thậm chí, những anh em chẳng có văn nghệ văn gừng gì cả như anh Cao Dai, anh Kỳ (Khối Vệ Sinh), anh Khoa (Khối An Ninh), anh Võ Văn Loan (Khối Giáo Dục), anh Cựu Thiếu tá Trần Ngọc Bảy (bệnh viên SickBay), dĩ nhiên không thiếu nhạc sĩ Trường Sa và bạn thân của anh là cựu Hải Quân Trung tá Châu Ngọc Tuấn. Và mấy giáo sư dạy ở trường sinh ngữ, trường Pháp cũng đến chơi.

Có hai người đàn bà thường rủ nhau đến thăm và cho uống càphê, là một người gọi tôi bằng chú: Phan Thị Bạch Yến, trước kia là hoa khôi trường Đồng Khánh, vợ bác sĩ Lê Văn Tập. Bạch Yến vượt biên cùng các con, bác sĩ Tập còn ở trong tù, vừa được Việt Cộng giảm án tử hình. Một người nữa, cũng nổi tiếng đẹp là Trần Như Minh Nguyệt, vợ Bửu Hạp, bạn đồng nghiệp với tôi khi tôi chưa nhập ngũ.

(1) Kinh thi có câu: “Hoàng vân nhất đóa phi, Du tử hà thời qui?” Nghĩa là: Nhìn mây bay, không biết bao giờ con về. Câu nầy tương tự câu: “Huề thủ thượng hà lương, Du tử mộ hà chi” (Cầm tay nhau bước lên cầu, Hỏi chàng du tử chiều này đi đâu?) là ý trong câu “Hà lương chia rẽ đường nầy” trong “Chinh Phụ ngâm”. Cũng vì ý nầy mà tôi chê ông Du Tử Lê dốt chữ. Đúng ra thì ông ta phải viết “Lê Du Tử”, không thể nói ngược “Du Tử Lê” được. Xin Xem bài cùng tên trên các web.