Trung tá Thang Tran, Chuyên gia tích hợp kỹ thuật tác chiến cho các Bộ Tư lệnh chiến đấu Hoa Kỳ.

dongsongcu.wordpress.com

Posted on June 27, 2026 by dongsongcu

27/06/2026

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 28 Jun 2026

Trung tá Thang Tran (hình của linkedin.com).

Trung tá Thang Tran là Chuyên gia tích hợp kỹ thuật tác chiến của Cơ quan dự án nghiên cứu tiên tiến Quốc phòng (DARPA), ông hiện giữ chức Phó Giám đốc, chương trình tích hợp cao cấp cho các Lực lượng đặc nhiệm của các Bộ Tư lệnh Chiến đấu (EPIC) Hoa Kỳ tại Arlington, Virginia. Nhiệm kỳ trước, ông là Trưởng phòng SOJ58, Bộ tư lệnh tác chiến đặc biệt Hoa Kỳ tại Châu Âu (SOCEUR) ở Stuttgart, Baden-Württemberg, Đức Quốc.

Cơ quan Dự án Nghiên cứu tiên tiến quốc phòng DARPA là cơ quan nghiên cứu và phát triển hàng đầu của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Được thành lập vào năm 1958, sứ mạng của DARPA là thực hiện các khoản đầu tư mang tính đột phá, quan trọng vào các công nghệ vì an ninh Quốc gia, nhằm tạo ra lợi thế công nghệ giúp ngăn chặn những bất ngờ chiến lược.

Các Bộ Tư lệnh chiến đấu thống nhất Hoa Kỳ (CCMD) là các Bộ Tư lệnh quân sự chung bao gồm các đơn vị từ hai hoặc nhiều Quân chủng dưới sự chỉ huy của một Tư lệnh duy nhất. Được thành lập bởi Bộ Quốc phòng, cấu trúc hiện tại bao gồm 11 Bộ tư lệnh chiến đấu được chia thành bảy Bộ Tư lệnh khu vực địa lý và bốn Bộ Tư lệnh chức năng.

Trung tá Thang Tran thụ huấn tại Học viện Quân sự Hoa Kỳ (West Point) năm 2003, và tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân khoa học, quản lý kỹ thuật công chánh năm 2007. Đơn vị đầu tiên trong binh nghiệp của một Sĩ quan trẻ, ông là Thiếu uý bộ binh phục tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 12 ỡ Fort Carson, Colorado từ tháng 5 năm 2007 đến tháng 5 năm 2011; Nhiệm vụ tiếp theo, Trung uý Thang Tran được chỉ định phục vụ Tiểu đoàn 3, Liên đoàn 10 Lực lượng đặc biệt Nhảy dù.

Từ tháng 5 năm 2013 đến tháng 4 năm 2015, Trung uý Thang Tran được chỉ định làm Phân đội trưởng Lực lượng đặc biệt thuộc Tiểu đoàn 3, Liên đoàn 10 Lực lượng đặc biệt Nhảy dù, đồn trú tại Fort Carson, Colorado. Tháng 5 năm 2015, Đại uý Thang Tran đuọc bổ nhiệm làm Đại đội trưởng Đại đội yểm trợ, Tiểu đoàn 3, Liên đoàn 10 Lực lượng đặc biệt Nhảy dù đồn trú tại Fort Carson, Colorado.

Tháng 5 năm 2016, Đại uý Thang Tran được chọn làm Sĩ quan Tuỳ viên cho vị Tướng chỉ huy NSOCC-A/SOJTF-A tại Bagram, Afghanistan; Từ tháng 6 năm 2020 đến tháng 7 năm 2021, Đại uý Thang Tran được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng, Tiểu đoàn 3, Liên đoàn 10 Lực lượng đặc biệt Nhảy dù tại Fort Carson, CO/Afghanistan; Từ tháng 4 năm 2019 đến tháng 6 năm 2020, Thiếu tá Thang Tran được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn 3, Liên đoàn 10 Lực lượng đặc biệt Nhảy dù tại Fort Carson, CO/ Stuttgart, Đức Quốc.

Trung tá Thang Tran, Trưởng phòng SOJ58, Bộ Tư lệnh tác chiến đặc biệt Hoa Kỳ tại Châu Âu (hình của x.com/US_SOCEUR/status).

Tháng 9 năm 2021, Thiếu tá Thang Tran được chỉ định làm Sĩ quan hành quân tại Stuttgart, Baden-Württemberg, Đức Quốc; Tháng 6 năm 2022, ông được bổ nhiệm làm Trưởng phòng chiến lược tác chiến tại Stuttgart, Baden-Württemberg, Đức Quốc; Tháng 6 2023, Thiếu tá Thang Tran làm Phó phòng nhân lực J8 tại Stuttgart, Baden-Württemberg, Đức Quốc; Tháng 7 năm 2024, Trung tá Thang Tran được bổ nhiệm giữ chức Trưởng phòng SOJ58, Bộ tư lệnh tác chiến đặc biệt Hoa Kỳ – Châu Âu tại Stuttgart, Baden-Württemberg, Đức Quốc; Và hiên nay, ông là Chuyên gia tích hợp kỹ thuật tác chiến của Cơ quan dự án nghiên cứu tiên tiến Quốc phòng (DARPA), Phó Giám đốc, chương trình tích hợp cao cấp cho các Bộ Tư lệnh Chiến đấu (EPIC) Hoa Kỳ tại Arlington, Virginia.

Trung tá Thang Tran hoàn tất các văn Bằng: Văn bằng Cử nhân khoa học, quản lý kỹ thuật công chánh, Học viện quân sự Hoa Kỳ (United States Military Academy at West Point) năm 2007; Văn bằng Cao học nghệ thuật phân tích Quốc phòng, Trường hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School) năm 2016; Văn bằng quản trị kinh doanh và quản lý tổng quát, Đại học tiểu bang Mississippi (Mississippi State University) năm 2019.

Trung tá Thang Tran là 1 trong hơn 60 nam, nữ Trung tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt, đang phục vụ trong các binh chủng và các ngành của Quân chủng Lục quân, không tính nhiều vị đã về hưu và được thăng cấp Đại tá.

Chú thích: Họ và tên từ tài liệu, Thang Q Tran.

Nguồn: linkedin.com; socom.mil/soceu; x.com/US_SOCEUR/status; en.wikipedia.org

Tàn giấc Nam Kha

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 27 Jun 2026

Tháng Tư đoàn quân di tản

Như dòng nước đổ về Nam

Tháng ba Pleiku triệt thoái

Tháng Tư mất nốt trung phần

Hàng ngàn người dân tơi tả

Tản cư trên khắp ngã đường

Đoàn người như dòng sông chảy

Trôi hoài chẳng biết về đâu

Không còn Nha Trang thơ mộng

Trong cơn hỗn loạn vô cùng

Nắng hanh táp vào áo trận

Nỗi buồn dưới gót giày sô

Tháng Tư vùng hai thất thủ

Bạn bè gãy cánh chim trời

Đứa mất tích trogn rừng thẳm

Đứa chìm đâu đó ngoài khơi

Anh tìm về nơi xóm cũ

Nhà em cửa khóa im lìm

Nhiều gia đình đang hối hả

Dọn đồ đạc để ra đi

Tháng Tư nỗi buồn chất ngất

Nhìn theo từng cánh phi cơ

Bay như đàn chim vỡ tổ

Dấu mờ in cuối chân trời

Năm mốt năm như mộng ảo

Chập chờn nửa tỉnh nửa mê

Những người thanh xuân ngày ấy

Bây giờ đầu tóc như mây

Đời người rồi như ngọn khói

Tan đi vào cõi xa mờ

Năm mốt năm cơn mộng ảo

Hỏi người còn nhớ đến ta

Em bây giờ nơi đâu?

Và có khi nào em còn nhớ đến anh

Bến Thành! Súp Lê vội thổi

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 27 Jun 2026

Nhà văn Sơn Nam (1926-2008) có lần than phiền rằng: Mấy thằng Tây làm bản đồ nước Việt Nam mà ghi mấy cái địa danh trật lất hết trơn!Tây! Trật là phải rồi mà ngay cả người Việt mình, quê mình, mình còn trật huống hồ Tây?!
Chẳng hạn Sơn Nam cắt nghĩa Cần Thơ là ‘con cá sặt rằn’; thì mấy tay tỉnh ủy Cần Thơ đòi đưa ông ra gặp mấy ông tòa quan lớn vì tội ‘biêu xấu’ tỉnh nhà? Vì theo mấy giả, Cần Thơ là Cầm Thi, đất của thơ mới phải.
Thôi nó có súng thì nói gì hỏng được? He he!
Nhà văn Sơn Nam chắc cũng không thèm chấp mấy thằng vừa dốt, vừa ngu lại vừa hỗn ẩu nên ông chỉ khuyên mấy thằng em út văn nghệ, văn gừng của ông đang tập tễnh ‘bò’ vào đường văn học sử là: “Muốn viết văn cho hay là phải học Sử Địa !”
Mà Sử Địa nào mới được chớ? Chớ cái Sử Địa ‘Tề Thiên dóc tổ’ mà học; thì thôi để tui đi nhậu lai rai với bạn văn sướng hơn nhiều?!

Do đó mình cũng không lấy làm gì ngạc nhiên khi mấy đứa nhỏ bây giờ nghe tin bỏ môn Sử trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông đã ‘vui mừng vui quá vui’ xé đề cương môn Sử dỏm, từ trên lầu quăng xuống, bay lả tả đầy sân trường Nguyễn Hiền ở Sài Gòn như vừa mới xảy ra đây!
Người viết thì may mắn không phải đọc cái ‘Sử ruồi bu’ đó!
Nhưng phải học ‘Sử xịn’ chớ ! Dù là ‘Sử xịn’ nhưng đôi khi cũng có trường hợp ông nói gà mà bà nói vịt? Mà mấy ông toàn là sư phụ , ‘danh trấn giang hồ’, mà mỗi ông lại hiểu một kiểu, ‘đá’ với nhau ‘chan chát’ thì em biết tin ai bây giờ?
Chẳng hạn như ông Vương Hồng Sển (1902-1996) có chép câu ca dao:

“Mười giờ tàu lại Bến Thành,
“Xúp lê vội thổi, bộ hành lao xao”

Rồi ông cắt nghĩa là: Mười giờ có một chuyến xe lửa từ Mỹ Tho lên, đỗ ga “Bến Thành” thì kéo còi ….Ông Vương Hồng Sển là người Sóc Trăng nhưng lại cắt nghĩa chữ tàu đây là tàu hỏa hay còn gọi là xe lửa theo tiếng miền Nam nên người viết không đồng ý … kiến ….Bèn lục tìm, kiếm thêm coi còn cái nào khả dĩ hợp lý hơn chăng?

Mười giờ, lúc có đồng hồ, thì chắc câu ca dao này là thời Tây thuộc địa rồi. Nhưng động từ ‘lại Bến Thành’ để chỉ chiếc xe lửa vào ga thì nghe không có lý. ‘Lại’ chỉ chiếc tàu vô, cặp bến thì có lý hơn?!
Còn ‘súp lê’ theo ông Hồ Biểu Chánh (1884-1958) cắt nghĩa rất rõ và rất chi tiết rằng: Súp lê, ông viết bằng chữ ‘s’ thay vì chữ ‘x’ như ông Vương Hồng Sển.
“Síp lê (siffler: thổi còi xe lửa) ở chỗ nơi thoát hơi nước. Xe lửa không được phép cho hơi nước thoát xuyên qua ống khói vì sẽ gây ô nhiễm (bụi than) nên có âm thanh như tiếng huýt sáo; Tiếng Pháp siffler: thổi, hút gió, huýt sáo, còi. Ở đây: thổi còi bằng hơi nước, nghĩa là còi xe lửa”
“Súp lê (soufler: thổi còi tàu) khác với xe lửa, tàu được phép cho hơi nước thoát qua ống khói nên có âm thanh như thụt ống bễ.
Như vậy theo ông Hồ Biểu Chánh nên dùng ‘súp lê’ cho tàu, còn xe lửa thì là ‘síp lê’.

Thế nên theo ông Hồ Biểu Chánh thì lúc 10 giờ, tàu mới vừa cặp vô bến Bến Thành; thì chưa gì đã vội thổi súp lê, chuẩn bị tách bến; nên bộ hành lao xao hỏi sao kỳ vậy cà?

Còn Bến Thành cũng là tên một bến sông, một cái chợ, một ga xe lửa vì thế cho nên mình mới dễ lẫn lộn.
Tuy nhiên “Bên dưới có sông; bên trên có chợ!
Ta với mình chồng vợ nên chăng?”

Để tiện giao thông, buôn bán hàng hóa, khi đường bộ còn chưa phát triển, thì đường thủy, đường sông là chọn lựa trước tiên?
Quả vậy ! theo các nhà Sử Địa cho biết về Bến Thành và Chợ Bến Thành như sau:
“Nguyên thủy, chợ Bến Thành đã có từ trước khi người Pháp xâm chiếm Gia Định. Ban đầu, vị trí của chợ nằm bên bờ sông Bến Nghé, cạnh một bến sông gần thành Gia Định (bấy giờ là thành Quy, còn gọi là thành Bát Quái).

Bến này dùng để cho hành khách vãng lai và quân nhân vào thành, vì vậy mới có tên gọi là Bến Thành và khu chợ cũng có tên gọi là chợ Bến Thành.
Tuy nhiên, sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835), thành Quy bị triệt hạ, phố chợ Bến Thành cũng không còn sầm uất như trước.
Tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định và hai ngày sau, các binh lính người Việt đã tổ chức hỏa công thiêu rụi cả thành phố, tất nhiên chợ Bến Thành cũng bị thiêu hủy.
Sau khi đã vững chân trên mảnh đất Nam Kỳ, năm 1860, người Pháp đã cho cho xây cất lại chợ Bến Thành ở địa điểm cũ (thời Việt Nam Cộng hòa là địa điểm Tổng Nha Ngân khố trên đường Nguyễn Huệ).
Ngôi chợ được xây cất bằng cột gạch, sườn gỗ, và lợp lá. Đến tháng 7 năm 1870, chợ bị cháy mất một gian, phải xây cất lại bằng cột gạch, sườn sắt, lợp bằng ngói, tất cả có năm gian: gian thực phẩm, gian hàng cá, gian hàng thịt, gian hàng ăn uống và gian hàng tạp hóa.
Vào năm 1887, người Pháp cho lấp con kênh và sát nhập hai con đường lại làm một thành đại lộ Charner. Dân bản xứ gọi nôm là đường Kinh Lấp (nay là Đại lộ Nguyễn Huệ). Khu chợ càng trở nên đông đúc với các cửa hiệu phần nhiều là của người Hoa, người Ấn Độ và người Pháp.

Tuy nhiên, khoảng giữa năm 1911, ngôi chợ trở nên cũ kỹ và lâm vào tình trạng có thể bị sụp đổ. Để tránh tai họa, người Pháp cũng lựa chọn một địa điểm khác để xây cất một khu chợ mới, lớn hơn để phục vụ nhu cầu buôn bán sầm uất ngày càng phát triển.
Địa điểm được lựa chọn nằm gần ga xe lửa Mỹ Tho (nay là Bến xe Sài Gòn), tức là địa điểm chợ Bến Thành ngày nay.
Năm 1955 thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, bốn con đường này đổi tên thành đường Lê Thánh Tôn, đường Phan Bội Châu và đường Phan Châu Trinh.

Do đó “Mười giờ tàu lại Bến Thành.
Súp lê vội thổi bộ hành lao xao” …… là nên hiểu theo nghĩa là chiếc tàu (khách, tàu đò) cặp bến Bến Thành hơn là chiếc xe lửa vào ga Bến Thành ?!
Người viết thiệt trong bụng là hỏng dám cãi ông Vương Hồng Sển rồi. Nhưng không cãi nghe cũng tức ‘anh ách’ trong bụng làm sao đó ?!
Còn về chữ ‘súp lê’ người viết cũng tìm được thêm trong câu ca dao:

“Tàu súp lê một! Còn trông còn đợi!
Tàu súp lê hai! Còn đợi còn chờ!
Tàu súp lê ba! Tàu ra biển Bắc…
Tay anh vịn song sắt, nước mắt chảy ròng ròng
Anh lấy khăn mu soa ra chậm.
Cái điệu vợ chồng ngàn dặm không quên!”

Thì lại nghe ông Toan Ánh (1916-2009) cắt nghĩa như vầy người viết cũng hỏng chịu luôn?!
Ông viết rằng: “Pháp chiếm Việt Nam, một mặt dân Việt Nam căm hờn, một mặt một số cô gái Việt Nam kém ý thức, vì hoàn cảnh đã sánh duyên với Pháp trở thành me Tây. Lính Pháp lấy me trong thời gian ở đất Việt, rồi anh lính trở về Pháp, cô me Tây ở lại nước Việt lại lấy chồng, một anh lính khác .
Cuộc tiễn đưa ắt phải xảy ra tại bến tàu Saigon, và có anh chàng Tây đã thút thít vì phải xa vợ, anh bảo rằng ngàn dặm không quên, có thật hay chăng anh ra cửa bể như rồng lên mây?
Sao có sự mâu thuẫn giữa hai câu thơ trên, hay ý tại ngôn ngoại, chỉ có sự mâu thuẫn trên hình thức, còn thực ra thì ngàn dặm có đời nào mà không quên đối với những lứa đôi dị chủng, nhất là trong cuộc chắp nối giang hồ.”
(Trích tác phẩm “Hương Nước Hồn Quê”, tác giả Toan Ánh, NXB. Thanh Niên) Theo ông Toan Ánh là vậy; nhưng có ông bạn văn không đồng ý; vì nghĩ Tây thì làm ‘quái’ gì mà rành tiếng Việt quá vậy để có thể làm ra được một đoạn ca dao tuyệt vời như thế này?
Mà theo anh bạn văn này nói: Đây là của một anh chàng nông dân nghèo khổ,có con vợ mà lại bị bắt đi lính cho Tây trong đệ nhứt thế chiến (1914-1918).
Anh đọc cho người viết nghe một đoạn trong ‘Tuấn, Chàng Trai Nước Việt, chương 12, của ông Nguyễn Vỹ(1912-1971) để ủng hộ cho cái phản bác của mình .
“Tuấn đọc to lên cho cả làng nghe. Tờ ‘Trung Kỳ Bảo Hộ công báo’ là một tờ báo của Toà Khâm Sứ ở Huế gởi đi các tỉnh, tỉnh gởi về huyện, huyện gởi về các làng . Tờ báo đăng tin Nhà nước Bảo hộ Pháp-lang-sa đang đánh giặc với Đức, tức là nước Phổ-lô-si (phiên âm chữ Prusse, Đức phiên âm chữ Deutsch ).
Đức là một nước “dã man, tàn bạo”, bị Pháp-lang-sa đánh cho liểng-xiểng, binh lính Đức chết vô số, có cả hàng ngàn, hàng vạn…v.v…
Nhưng trận giặc còn lâu dài, cho nên “dân An Nam nhờ nước Pháp-lang-sa bảo hộ, phải quyên tiền và đem binh lính sang Pháp để đánh lũ giặc Đức mọi rợ… v.v…
Dân làng, bất luận giàu, nghèo, đều phải góp tiền để mua Phiếu Quốc Trái.

Hơn nữa, làng phải mộ dân tình nguyện đi lính sang Pháp để ‘đánh đuổi giặc Đức’.

Sự thật, không có dân nào tình nguyện cả. Sau cùng làng xã phải bắt ép thanh niên khoẻ mạnh, gọi là tráng đinh đi lính. Hầu hết lớp “lính tình nguyện” nầy ở khắp xứ Trung Kỳ , Bắc Kỳ cũng như ở Nam Kỳ đều là thanh niên nho học từ 21, 22 đến 24, 25 tuổi.
Phong trào mộ thanh niên đi tùng chinh sang ‘Mẫu Quốc’ là một dịp cho các quan An Nam từ quan tỉnh xuống quan huyện , cho đến các ông hương , ông xã trong làng , đòi ăn hối lộ. Một số đông các ông này chơi ác, cứ nhè bắt bọn thanh niên trai tráng con nhà giàu, đi tùng chinh. Thế là các bậc cha mẹ phú hộ phải đem của tiền lo lót, cho con khỏi đi. Phải lo lót xã một phần, lên lo lót huyện một phần , rồi lo lót các cụ lớn trên tỉnh nữa.
Hối lộ gần như công khai. Nhà giàu đua nhau nhờ cậy chổ này chổ nọ, chạy chọt ông này ông kia, bán cả ruộng đất, nhất là con trai trưởng trong gia đình, khỏi bị bắt “tình nguyện” đi lính sang Pháp.
…Vì lớp thanh niên nhà giàu, hoặc nhà khá giả, hoặc con trai các vị hương chức đều nhờ hối lộ, và nhờ có quyền thế, đã được miễn tùng chinh. Sót lại chỉ có con nhà nghèo không có miếng đất cắm dùi, cho nên phải đi lính “tình nguyện” qua ‘mẫu quốc’ đánh giặc ‘Phổ Lổ Sĩ’.
Nói là qua ‘mẫu quốc’ đánh giặc, nhưng sự thật thì qua bên đó nhập vào một đơn vị gọi là ‘đoàn quân thuộc địa’ chỉ dùng riêng vào việc vận tải lương thực ở hậu tuyến mà thôi. Một số bị bắt ra mặt trận, nhưng cũng chỉ là khiêng vác các khẩu súng lớn, đẩy các cổ đại bác và đào hầm trú ẩn. Chẳng có một người “lính thuộc địa” nào, nhất là lính “Tirailleurs Annamites” được cầm súng đánh giặc cả.
Tất cả thanh niên tùng chinh đều được lịnh đến trình diện tại đồn lính Khố xanh ở các tỉnh, rồi từ tỉnh họ được chở đi tập trung lại, đợi tầu sang Pháp.”
Do đó bị bắt đi lính vì nghèo, phải xa vợ, xa con, xuống tàu đứng sau song sắt như bị ở tù, hỏng khóc sao được? Xúc cảm như vậy mới làm được bài thơ não lòng, bi thiết! Rồi bài thơ đó trải qua biết bao thử thách của thời gian mới được trở thành ca dao, thành tiếng hát ru cho thân phận những người cùng khốn.
Chứ không phải là lời của thằng Tây nào với em Me Tây nào ráo trọi như ông Toan Ánh nói đâu?
Thưa quý độc giả thân mến! Đối với những nhà văn tiền bối như Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển, Nguyễn Vỹ, Toan Ánh thì người viết đều kính phục cả , xin ngả nón cúi đầu; nhưng sỡ dỉ theo ông nầy; bỏ ông kia chẳng qua là chuyện chẳng đặng đừng?!
Ca dao, hát ru là tiếng quê hương . Xa quê, viễn xứ, vẫn nhớ về quê cũ, lại nhớ tới ca dao. Em yêu sai: “Ru con ngủ cho em đi chợ!”, mà thằng nhỏ cứ khóc hoài?
Ru tới ru lui chỉ có hai bài làm thằng nhỏ chắc sẽ thuộc lòng như cháo ; mà lớn lên cắc cớ nó hỏi: “Tía ơi! Nghĩa nó là gì vậy?” Làm tía mà hỏng biết trả lời sao thì mất mặt ‘bầu cua’ lắm lắm ! Cho nên mới có bài viết nầy thưa quý độc giả thân mến!
Có gì sai xin bỏ qua và người viết cũng rất hân hạnh sẳn lòng nghe chỉ giáo của các bực cao minh … để mà được học hỏi thêm!

Tenefire hòn đảo vừa thuộc về Châu Âu vừa mang hơi thở của Châu Phi

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 27 Jun 2026

Nằm giữa Đại Tây Dương mênh mông, Tenerife hiện ra như một hòn đảo vừa quen vừa lạ: châu Âu mà phảng phất hơi thở châu Phi, hiện đại nhưng chất chứa huyền thoại. Những dòng dưới đây là câu chuyện về một vùng đất của núi lửa, gió và ký ức lịch sử chưa bao giờ ngủ yên. Nơi quá khứ và hiện tại cùng đi theo trong từng bước chân của lữ khách.   

Tôi đến Tenerife vào một buổi sáng gió nhẹ thổi đều ngang bến cảng Santa Cruz. Bước vào một quán cà phê ngồi hướng mắt ra Đại Tây Dương xanh và sâu thẳm. Giữa mênh mông nước, hòn đảo lừng lững như một ngọn núi lạc giữa hai thế giới: vừa thuộc về châu Âu, vừa mang hơi thở của châu Phi. Đó là hòn đảo Tenerife nằm gần bờ biển tây bắc của lục địa đen, cùng vĩ tuyến với sa mạc Sahara khô nóng, nhưng lại được bao bọc bởi khí hậu mát mẻ, dễ chịu quanh năm. Cũng nhờ thời tiết ôn hoà ấy đã tạo nên sức hút riêng cho hòn đảo đông dân nhứt của quần đảo Canary – một phần lãnh thổ của Tây Ban Nha, nhưng mang bản sắc rất khác biệt. 

Lịch sử Tenerife không chỉ nằm trong huyền thoại, mà còn in dấu bằng những trận chiến có thật ghi trong sách sử cũng là niềm tự hào của người dân nơi đây. Ngày 25 tháng 7 năm 1797, Santa Cruz từng là chiến trường trong cuộc tấn công của hải quân Anh do đô đốc Horatio Nelson chỉ huy. Sau nhiều đợt tấn công thất bại, Nelson bị thương nặng và mất cánh tay phải. Trận chiến ấy trở thành niềm tự hào của người dân Tenerife – một chiến thắng đã giữ vững hòn đảo trước tham vọng xâm chiếm. Tôi ngồi ngó mắt ra bến cảng và hướng xa ra biển khơi, nước mênh mông và những tàu buôn, ghe đánh cá đang vô, ra mà hình dung trên vùng nước yên bình đó đã từng vang tiếng đại bác và khói lửa chiến tranh. Ngồi mãi mê theo câu chuyện của đảo đến khi cô phục vụ tới đứng bên chào hỏi. Lúc đó tôi mới day lại ngó qua cô gái. Tôi cười và nói: – Cô cho tôi ly cà phê đen. – Ông có ăn sáng không? Bữa sáng ở Tenerife là sự kết hợp giữa truyền thống Tây Ban Nha, cà phê với bánh ngọt, bánh mì nướng với cà chua kiểu của Anh đầy đủ, với trái cây, bánh mì có súc xích… Tôi không quen ăn sáng nên lắc đầu. – Không, cám ơn. Cô gái đi vô trong tôi mới day qua nhìn những khách trong quán, người thì ngồi ăn, người thì uống cà phê, trông họ thảnh thơi, không vội vã, nghe họ trao đổi bằng tiếng Anh, không cần đoán, tôi cũng biết những người đó đều là du khách. Uống cà phê xong, tôi rời quán đi vô phố. Thủ phủ Santa Cruz de Tenerife không chỉ là trung tâm hành chánh, mà còn là trái tim văn hóa của đảo. Những con phố lát đá, những quảng trường ngập nắng và các công trình cổ kính trông có vẻ lặng lẽ, nhưng để lại những câu chuyện hàng trăm năm về trước. Đi giữa thành phố, tôi luôn có cảm giác đang bước trong một không gian pha trộn kỳ lạ: nhịp sống hiện đại của châu Âu hòa cùng vẻ hoang sơ, thô sơ của một vùng đất núi lửa đã từng phung trào. Đến Tenerife mà không biết về Teide thì quả là một thiếu sót. Ngọn núi lửa sừng sững giữa đảo như một vị thần cổ xưa, với đỉnh cao nhất Tây Ban Nha và cũng là một đảo cao nhất của các hải đảo trên Đại Tây Dương. Tính từ chân núi dưới đáy biển, Teide còn được xếp vào nhóm những ngọn núi lửa cao nhất thế giới. Với người dân Tenerife, Teide không chỉ là một ngọn núi mà còn là biểu tượng, là linh hồn của hòn đảo. Vườn quốc gia Teide – nơi bao quanh ngọn núi này – đã được UNESCO công nhận là di sản Thế giới. Đặt chân vào đây, tôi có cảm giác như lạc sang một hành tinh khác: những dòng dung nham cổ đại đông cứng thành hình thù kỳ dị, những thung lũng rộng lớn phủ đá đen, và bầu trời xanh đến mức tưởng như có thể chạm tay vào. Ít ai biết rằng vùng đất đẹp đẽ này từng là nơi cư trú của người Guanches – một nền văn minh cổ xuất hiện từ khoảng năm 200 trước Công Nguyên. Họ để lại dấu tích qua những kim tự tháp nhỏ, mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có liên quan đến nghi lễ thờ mặt trời. Một dân tộc đã biến mất sau khi người Tây Ban Nha chinh phục quần đảo, nhưng dư âm vẫn còn vương trong đá núi và gió biển. Nhưng Tenerife không chỉ kể chuyện bằng những trang sử hay con số địa lý. Hòn đảo này còn có một đời sống tinh thần rất riêng – vừa huyền bí, vừa dí dỏm, như thể đại dương và núi lửa đã bắt tay nhau để tạo nên một vùng đất biết trêu đùa con người.

Có lần tôi gặp một ông cũng lớn tuổi người bản xứ ngồi trước quán cà phê nhỏ ở Santa Cruz. Ông nói với tôi: “Ở Tenerife, đừng tin vào bản đồ. Mà hãy tin vào gió.” Tôi hỏi vì sao. Ông nhấp một ngụm cà phê, nhún vai: “Vì gió ở đây cũng biết đường.” Tôi không rõ ông nói đùa hay nói thật cho đến vài ngày sau, khi lạc vào con đường quanh co dẫn lên Teide. Gió cứ thổi tôi đi, làm như thể muốn dẫn tôi đến một nơi mà hứng dẫn viên du lịch không không nhắc tới. Từ xa, Teide trông như một vị thần đang ngủ. Nhưng khi đến gần, nó lại giống một ông già khó tính, khuôn mặt nhăn nhó vì mấy ngàn năm bị gió biển tạt vào. Tương truyền, người Guanches xưa tin rằng trong lòng núi có một vị thần lửa bị giam cầm, thỉnh thoảng nổi giận làm rung chuyển cả đảo. Người thời nay thì nói núi đã ngủ yên. Nhưng với tôi, đứng trước Teide, vẫn có cảm giác nó chỉ đang nhắm mắt làm bộ ngủ. Ở chân núi, những khối đá đen nằm ngổn ngang như những quân cờ khổng lồ của một cuộc chơi bị bỏ dở. Có người bảo đó là dấu tích dung nham cổ. Có người lại nói đó là đồ chơi của thần linh. Tôi thì nghĩ, có lẽ Teide bày ra tất cả chỉ để nhắc con người rằng thiên nhiên luôn có cách hài hước rất riêng biệt. Với tôi, điều lạ lùng nhứt ở Tenerife không hẳn là núi hay biển, mà là thời gian. Ở đây, thời gian dường như không tuân theo một quy luật cố định. Buổi sáng nắng như mùa hè, buổi trưa mát như mùa thu, chiều xuống sương mù kéo về như thể mùa đông đang tới. Người dân địa phương gọi đó là “tính khí của đảo”.

Tôi lại nghĩ Tenerife giống như một nghệ sĩ – mỗi giờ đổi một tâm trạng, chẳng ai đoán trước được. Santa Cruz, thành phố từng khiến đô đốc Nelson mất một cánh tay, giờ hiền hòa đến mức tôi  có thể ngồi hàng giờ bên bến cảng chỉ để nghe sóng và nhìn những con làu lướt sóng ra khơi. Khi nhắc về trận chiến năm 1797, người dân kể lại với vẻ mặt nửa nghiêm túc, nửa tinh nghịch. “Nelson mạnh lắm,” họ nói, rồi mỉm cười, “nhưng Tenerife còn mạnh hơn.” Có lẽ vì vậy mà hòn đảo này mang một cá tính rất riêng: biết tự bảo vệ mình, biết kể chuyện, và đôi khi còn cố tình làm người ta lạc đường, chỉ để dẫn đến một cảnh đẹp bất ngờ. Đêm xuống, khi gió biển lướt qua con phố nhỏ, tôi có cảm giác như nghe thấy đại dương thì thầm. Chợt tiếng nói như thì thầm từ trong tâm khơi dậy. Việt Nam quê hương tôi có những hải đảo và suốt chiều dài lịch sử cũng có chiến tranh, và chiến tranh chấm dứt đã hơn nữa thế kỷ rồi vậy mà mỗi khi kể lại vẫn nghe mùi thù hận và sát khí chiến tranh còn trong giọng nói, lời lẽ nặng nề thô tục mạt sát nhau, như muốn ăn thua đủ vẫn chưa thấy được sự bao dung. Còn nơi đây không phải chỉ tiếng sóng ôn hòa, mà còn là tiếng kể chuyện về người Guanches, về những kim tự tháp thờ mặt trời, về những trận chiến xa xưa như kể chuyện cổ tích và cả những bí mật mà chỉ có gió Tenerife mới biết. Và tôi tin rằng nếu ai đến đây, hòn đảo này cũng sẽ kể cho nghe một câu chuyện khác – không dành cho lịch sử, không dành cho du khách, mà dành riêng cho chính mình.  

Dronten. 10.1.2026

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 27 Jun 2026

Một buổi trưa. Tôi đang nằm trên võng. Vợ con tôi đi chợ mua nếp và lá sen dùng cho việc bán xôi. Có gã Bộ Đội Việt Nam mang quân hàm thượng úy xuất hiện đột ngột trước ngưỡng cửa.

Gã hỏi: “Có phải anh tên Trần Văn Năm?”

Tôi tái mặt. Có chuyện gì đây? Đối với tôi, người của chính quyền Việt Nam được coi như sứ giả của điềm báo tai ương.

“Vâng. Tôi là Trần Văn Năm.”

Khi giao tiếp với mọi người, tôi tự đặt cho mình một cái tên giả. Nhưng sao gã Bộ Đội này biết? Gã tìm tôi có chuyện gì? Và biết gì về thân thế tôi? Nếu gã phát giác ra tôi đang cư ngụ bất hợp pháp, rắc rối sẽ không nhỏ. Tôi chưa kịp mời, gã đã vào nhà kéo ghế ngồi. Gã là khách, nhưng thái độ và cử chỉ hoàn toàn chủ động. Tôi trở nên lúng túng thụ động trước một đối tượng mà tôi rất ngại phải gặp mặt.

Tôi miễn cưỡng tiếp người lạ bằng chén nước lã: “Xin lỗi, nhà tôi không có sẵn nước trà.”

Gã khoát tay: “Được rồi.”

Tôi ngồi bối rối.

Gã tra vấn: “Anh lên Kampuchia làm gì?”

“Bán bánh mì.”

Gã cười nhạt: “Thật không?”

“Nếu không tin, anh có thể hỏi những người Miên chung quanh đây. Họ biết việc làm của vợ chồng tôi.”

“Ở Việt Nam anh làm nghề gì?”

“Thợ mộc.”

“Cách Mạng vào Miền Nam, anh có đi cải tạo không?”

“Không. Chính sách của Cách Mạng không bắt những người dân như tôi đi cải tạo.”

Gã lắc đầu: “Tôi muốn nói chuyện với anh trong tinh thần hiểu biết và thành thật, nhưng anh chối quanh. Anh biết cô Nga không?”

“Biết.”

Gã nhắc tên cô Nga làm tôi giật mình.

“Cô là gì của anh?”

“Em nuôi.”

“Cô Nga nói, anh là sĩ quan ngụy. Đi cải tạo, được Cách Mạng tha về. Trốn đi vượt biên, và bị người ta giựt hết vàng. Có đúng không nào?”

Thôi rồi. Bể chuyện hết rồi. Tôi hoảng sợ, ngồi im. Có lẽ, mặt tôi cắt không còn giọt máu. Thầm rủa con Nga khốn nạn. Nó lợi dụng sự thân mật của gia đình tôi để điều tra và tố cáo.

Gã tiếp: “Tôi đến đây là muốn giúp anh.”

Gã giúp được gì cho tôi? Muốn bắt bớ hay lường gạt? Gã lầm. Tôi chẳng còn của cải gì cho gã giở trò lưu manh lường gạt.

“Anh vượt biên là hành động trốn chạy. Tôi giúp phương tiện cho anh chạy. Nếu ở lại hoạt động chống đối, tôi bắt anh.”

Tôi ngồi nghe, không dám tin, không dám có ý kiến.

“Tôi đóng quân ở Tân Hao. Về đây công tác, sẵn dịp ghé lại nói chuyện cùng anh. Tôi có quen với một thằng chủ ghe người Miên. Hắn thường chở người vượt biên. Tôi là người cho hắn mượn súng đề phòng bọn cướp biển Thái Lan. Chuyến nào cũng trót lọt an toàn. Khi có dịp, tôi sẽ dẫn hắn đến đây để hai người trực tiếp nói chuyện với nhau.”

Tôi dè dặt: “Cô Nga đã nói về tôi, chắc cũng đã cho anh biết, tôi không còn vàng để vượt biên.”

“Vì thế mà tôi muốn anh gặp hắn để bàn xem có cách nào giúp được anh.”

“Tôi bỏ ý định vượt biên rồi. Hiện tại, chỉ lo làm nuôi vợ con.”

Gã cau mặt: “Cô Nga năn nỉ tôi giúp anh, nhưng anh nghi ngờ mãi.”

“Xin đừng gài bẫy tôi, tội nghiệp.”

“Muốn bắt anh lúc nào chả được. Gài bẫy làm đếch gì.”

“Tôi sẽ hỏi lại cô Nga, về chuyện này.”

Gã đến đột ngột như muốn áp đảo tinh thần tôi. Và ngồi chưa nóng đít, đã thoắt đi như một cơn dông. Thái độ kỳ lạ của gã làm tôi hoang mang, nửa tin nửa ngờ. Mong gặp cô Nga để hỏi về gã sĩ quan bộ đội. Nhưng cô như cánh chim phiêu bạt, biết đâu mà tìm?

Cô Nga về lại Phnom Penh, khi gia đình tôi đang ăn cơm chiều. Lần nào về, cô cũng mang theo món gì đó để ăn với chúng tôi. Tôi nghĩ, cô chịu đựng sự dày vò thân xác để mua món ăn đem đến. Đã mấy lần, tôi bảo cô không nên mua gì cả. Cô chỉ ậm ờ, rồi vẫn làm như những lần trước.

Vợ tôi nói: “Em về đây, đừng phí tiền mua món này món kia. Chị ngại lắm.”

Cô cười: “Không tốn kém bao nhiêu. Em góp phần cho vui.”

Khi nói chuyện, cô thường nở nụ cười rất tươi. Vì thế mà nhiều thằng mê cô chăng?

Sau bữa cơm, tôi chờ cô nói về gã Bộ Đội, nhưng cô cứ lờ đi.

Cuối cùng, tôi mở lời: “Hôm trước có một thượng úy đến nhà anh…”

“Ồ! Hắn đến rồi hả? Có nói gì không?”

Tôi hỏi lại: “Em đã nói gì với hắn?”

Cô gọi vợ tôi cùng ngồi: “Em quen với gã thượng úy này lâu rồi. Hắn có nhiều tiền. Em thắc mắc, với đồng lương chết đói của bộ đội, hắn lấy tiền đâu ra mà nhiều thế? Hắn kể rằng hắn bán bãi cho những tổ chức vượt biên. Nghe chuyện vượt biên, em nghĩ ngay đến anh chị. Em kể cho hắn về những khó khăn hiện tại của anh chị, và yêu cầu hắn giúp đỡ. Hắn đòi điều kiện. Em bảo, thân xác em chính là điều kiện của hắn.”

“Sao em tự hy sinh mình như thế?” Vợ tôi ái ngại.

Cô nói: “Chị ơi, đời em đã ba chìm bảy nổi, quý giá chi đâu mà so đo hơn thiệt. Em tính đưa hắn về đây giới thiệu, nhưng chưa có dịp. Không ngờ hắn tự mò đến trước. Hắn nói với anh chị thế nào?”

“Hắn nói sẽ dẫn thằng cha chủ ghe đến, nhưng anh chưa biết thực hư ra sao, chưa dám tin.”

“Chuyện này có thể tin được. Hắn chịu giúp mà không đặt điều kiện với anh chị, vì hắn biết anh chị không còn gì cả.”

“Tốt đến thế à?”

“Không. Hắn đặt điều kiện với em.”

“Điều kiện gì?”

“Sau khi anh chị ra đi, em làm vợ hắn.”

Vợ tôi hỏi: “Rồi em tính sao?”

Cô bình thản: “Trao đổi như thế cũng hay. Hắn cần tình. Em cần tiền.

Ngồi lặng một lúc lâu, vợ tôi xúc động cầm tay cô Nga: “Chị có lỗi với em,”

Cô ngạc nhiên: “Không. Chị có lỗi gì đâu?”

Cô Nga không hiểu, nhưng tôi hiểu. Vợ tôi ân hận vì đã nghi ngờ có chuyện vụng trộm giữa tôi và cô Nga, và gọi cô là con đĩ ngựa, dù chỉ nói với tôi.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 27 Jun 2026

Mùa này Huế có còn phượng đỏ

Tiếng ve nào gọi nỗi buồn xa

Nơi này cả một trời hoa tím

Nhớ em xưa tiếng guốc học trò.

(Nhớ Huế- Huy Phương)

Mùa hạ đã tới đâu đây trên những cành hoa “La Jancaranda” nở sớm. Ở đây không có những cành hoa phượng đỏ của quê hương, mà dù chúng ta có tìm lại được màu hoa ấy trên xứ Mỹ ở những vùng ấm áp như Hawaii, Floria thì cũng không thể nào tìm lại được tiếng ve sầu của một thuở xa xưa của tuổi học trò. Màu sắc và âm thanh ấy hình như mỗi ngày hè đến vẫn thường hiện hữu với nhau, để lại cho chúng ta bao nhiêu kỷ niệm những ngày ngồi ghế nhà trường, thuở ấu thơ.

Từ ngày ra đất khách đến nay, hình ảnh nhắc nhở chúng ta mùa hè đã tới là những cành hoa phượng tím, nhưng âm thanh những tiếng ve đã bặt từ lâu, có còn chăng là để lại những dư âm mờ nhạt trong tâm tưởng. Vậy mà không ngờ  ở nơi xa xôi này, cách quê hương cả nửa vòng trái đất,không phải tôi, mà những người Việt xa xứ ở vùng Đông Bắc nước Mỹ, sắp có dịp nghe được lại âm thanh của một thời xa xưa. Đó là nguồn tin của National Geography cho biết, hàng tỷ con ve sầu, bặt tiếng sau mười bảy năm dài, chôn kín trong lòng đất sẽ xuất hiện trở lại vào mùa hạ năm nay tại một vùng đất rộng lớn bên bờ duyên hải Đại Tây Dương từ Georgia cho đến tận biên giới Mỹ- Canada. Trời đất sinh ra giống ve, thân nhẹ, bụng rỗng, để tiếng kêu có thể lớn, suốt cuộc đời ngắn ngủi chỉ biết phục vụ cho chuyện rong chơi, lên tiếng hát cho đời mua vui, vì sao người đời lại lên án ve và so sánh ve như những người không biết nhìn xa thấy rộng chỉ biết ăn chơi. Nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine mô ta hình ảnh chú ve một cách tệ hại:

“Ve sầu kêu ve ve

Suốt mùa hè

Đến kỳ gió bấc thổi

Nguồn cơn thật bối rối

Một miếng cũng chẳng còn

Ruồi bọ không một con!”

và ông La Fontaine tạo ra hình ảnh một chú ve đói rách, tồi tàn phải “vác miệng chịu khúm núm, sang chị Kiến hàng xóm, xin cùng chị cho vay, giăm ba miếng qua ngày!”

Chị Kiến trọc phú, vô cảm lại lên giọng nhà giàu: “Xưa chú hát, nay thử múa coi đây!”

Làm sao có thể so sánh loài ve “ca hát cho đời mua vui”  với giống kiến nhỏ nhoi, hèn mọn, tham lam. Ở đâu có thứcăn, dù thối tha như xác chết, bẩn thỉu giòi bọ, xa xôi bao  nhiêu, giống kiến cũng đánh hơi rất giỏi, hô hào, động viênanh em, giòng họ, đồng chí, quần chúng, nhanh chân, xếp hàng đến chia phần. Chúng hì hục khuân vác, lôi thôi, lếchthếch đi từng đàn, mang chiến lợi phẩm về hậu cứ, giữa  đường thấy ai quẳng vào một miếng mồi mới, là cả bọn lại kéo nhau lại, cấu xé chia phần. Thời thơ ấu chúng ta ai lại không bị kiến cắn một lần, ở chỗ kín cũng như chỗ hở, và chưa bao giờ dám bắt kiến, vì kiến là loài hung dữ, nhưng tuổi thơ nghịch ngợm lại kiếm mũ mít, dùng sào, gậy đi bắt ve sầu, một giống hiền lành chẳng bao giờ biết cắn, chích hay tấn công loài khác. Thật ra suốt cuộc đời ve chẳng cần nhờ cậy vay mượn ai, phần lớn cuộc đời của ve là thời kỳ ấu trùng sống trong  lòng đất ở độ sâu khoảng từ 30 cm đến 2,5 m, hút nhựa rễcây để sống và có cặp chân trước đào bới rất khỏe. Khi đến giai đoạn chuyển tiếp cuối cùng để kết thúc thời kỳ ấu trùng, những con ve trưởng thành đào một đường hầm lên mặt đất và chui lên, lột xác lần cuối, để kỷ niệm bằng cái vỏ ve già gắn chặt trên một cái cây nào đó và ngậm sương, lấy hương hoa của trời đất để cất tiếng hát ca. Ve sầu ấp ủ từ lòng đất, nhưng lúc trưởng thành biết leo lên cao, hợp đoàn cùng cất tiếng hát, suốt đời không biết giành giật, bon chen ví như người quân tử hay kẻ thánh nhân, đâu lại đem so sánh với quân tiểu nhân, ô hợp chỉ biết cái ăn uống phàm tục như loài kiến.

Trên mỗi mẫu đất, giống ve Magicicada tập trung từ hàng chục nghìn đến cả triệu con trên cây lớn cây nhỏ, và không như loài côn trùng hay chim chóc khác, hát mỗi con một điệu. Giống ve sầu đoàn kết “triệu con tim- một tiếng  nói” cùng cất lên một giọng ca đồng nhất. Những buổi trưa hè oi ả, trong không gian im vắng, đôi khi chúng ta tưởng như loài ve đang say ngủ, nhưng chỉ cầnmột tiếng động cơ xe qua trên đường, cả khu vườn bỗng bừng dậy với tiếng ve inh ỏi, cơn sóng âm thanh dồn từ khu vườn này chạy lan qua khu vườn khác. Xưa, ở kinh thành Huế, có một vị quan khó tính, ông thường bực mình vì tiếng ve mỗi trưa làm cho ông khó ngủ, nên sai lính ra vườn đuổi ve. Ve không phải một hai con như gà dễ đuổi, trong khu vườn có cả trăm nghìn con ve, chỉ cần một tiếng động mạnh, hay rung thử một thân cây, là tất cả ve đều đồng loạt cất tiếng, nên đuổi ve cũng như hốt sạch lá rừng là điều không tưởng.

Ve đực tạo âm thanh bằng cách rung hai cái “loa” làm bằng màng mỏng, phát triển từ lồng ngực, có sườn bên trong. Những vòng sườn được co giãn thật nhanh, làm rung màng mỏng, tạo sóng âm thanh. Bụng ve rỗng nên có thể khuếch đại thành tiếng ve kêu rất to. Ve lắc mình và dùng cánh để tạo nhịp lên xuống cho “bài hát” của mình. Mỗi giống ve có một thứ tiếng, cường độ, cao độ khác nhau. Tiếng ve hát cũng là lời mời gọi, âu yếm đối với người tình. Vì sao người ta gọi là tiếng ve … sầu? Có phải vì tiếng ve đều đặn, nghe buồn nản, hay tiếng ve thường gợi nhớ đến mùa hạ, mùa của tuổi thơ ấu đã qua, mùa của ly biệt. Mặt khác, loài ve có xầm xì gì chuyện thị phi của ai đâu, mà người đời khắc nghiệt gán cho thành ngữ “lời ong, tiếng ve!”

Tôi chưa hiểu vì sao loài ve xuất hiện ở miền Đông nước Mỹ, mà không ở đây, nơi miền Tây nắng ấm, cho tôi được một lần, sau bao nhiêu năm bỏ nước ra đi, được nghe tiếng ve của một thời xa xưa, giữa một trưa hè vắng lặng hôm nay.

9. Giấc chiêm bao

Hoang Kao Music

Post by Sơn râu 26 Jun 2026

6 năm miệt mài thân lao cải

Ngày ngày lao động giết thời gian

6 năm miệt mài thân lao cải

Ngày ngày lao động giết thời gian

Bữa ăn cơm độn toàn khoai sắn

Ăn hoài nên cũng bớt them cơm

Năm tháng trôi qua trên đất Bắc

Vĩnh Phú đồi chè mây trắng bay

Vài anh bạn tù không dậy nữa

Lên đồi cao nằm ngắm cỏ cây

Nhớ hôm đó tới giờ lao động

Cuốc xẻn cầm tay đã sẳn sàng

Bỗng nghe những tiếng người nhốn nháo

Đích thân trại trưởng đọc lệnh tha

Vậy là từng tốp rồi từng tốp

Xếp hàng chật kín cả khoảng sân

Hồi hộp còn hơn jhi lấy vợ

Cuối cùng ta cũng được đọc tên

Cùng hai thằng bạn chạy về trại

Dọn dẹp vài đồ đạc linh tinh

Buổi chiều hôm đó sang khu tạm

Nghĩ qua đêm chờ mai lên đường

Buổi tối cuối cùng nơi lao cải

Được bữa cơm ngon để chia tay

Cơm trắng cơm không độn khoai sắn

Có cả thịt kho thiệt là sang

Sáng đó nhận tờ giấy ra trại

Xe cam nhông đến chở người đi

Quay đầu nhìn lại lần sau cuối

Anh em còn lại đó cũng nhiều

Xe rồi cũng tới ga Hàng Cỏ

Rũ thằng bạn đi uống cà phê

Ôi sáu năm trời quên mùi vị

Giờ thấy nó ngon nhất trên đời

Chín giờ tối lên tàu Nam tiến

Hà Nội trời đêm mờ hơi sương

Hình như trời đã gần giáp Tết

Mới đó mà qua sáu năm trường

Tàu đến xứ Thanh rồi xứ Mệ

Đón thêm vài tốp tù miền Nam

Đều được thả về cùng đợt ấy

Nhìn anh em mà mắt rưng rưng

Một ngày hai đêm trên tàu lửa

Miền Nam ơi ta đã trở về

Một thoáng chẳng lặn còn bè bạn

Nắm xương tàn gửi đất phương xa

Tàu đến Biên Hòa chưa dừng hẳn

Thấp thoáng dãy nhà ta ngày xưa

Lựa lúc tàu còn đang chạy chậm

Có chàng ta nhảy như nhảy dù

Ba chân bốn cẳng về hẽm cũ

Thấy vợ lọc cọc đạp xe ra

Hai vợ chồng ôm nhau cùng khóc

Sự thật rồi mà ngỡ chiêm bao

Sự thật mà cứ ngỡ chiêm bao

Sự thật mà cứ ngỡ chiêm bao.

Bến Footscray

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

October 17th, 2025

Post by Sơn râu 26 Jun 2026

Bến là một nơi cuộc đời tị nạn CS trôi theo dòng đời cuồng lũ. Với tôi đó là bến Footscray.

Footscray là một cái tên bắt nguồn từ Foots Cray, một ngôi làng nhỏ nằm bên dòng sông Cray, cách London, Anh quốc không xa. Giờ đây, Footscray là một vùng ngoại ô tấp nập của thành phố Melbourne, cách trung tâm khoảng 5 cây số về phía tây. Nằm trong thành phố Maribyrnong, Footscray là một vùng đất sôi động với sự pha trộn tinh tế giữa khu dân cư, thương mại và công nghiệp.

Từ thời xa xưa, Footscray vốn là đất của hai bộ tộc thổ dân Wurundjeri Woi Wurrung và Boonwurrung thuộc quốc gia Kulin, đã sinh sống trên vùng này hơn 40,000 năm.

Người Châu Âu đầu tiên đặt chân đến đây là Charles Grimes vào năm 1803.

Sau cơn sốt vàng những năm 1850, Footscray bừng tỉnh, phát triển thành khu công nghiệp nhộn nhịp. Nhưng ngày nay, với sự đổi thay của thời gian, nơi đây đã trở thành trung tâm văn hóa đa dạng, là điểm đến cho nghệ sĩ, người sành ăn và những ai mê sự sôi động của cuộc sống đa sắc tộc.

Góc đường Barkly và Nicholson năm 1954,

Hãy thử nhớ lại những con đường mà bất cứ ai từ bà con mình đến đây đều quen mặt: Barkly Street, Droop Street, Geelong Road, Irving Street, Moreland Street, và Whitehall Street.

Năm 1954, góc đường Barkly và Nicholson là một nơi không mấy khác biệt so với hôm nay. Tuy nhiên, những con người đã đi qua đây trong tấm hình đen trắng cách nay 70 năm thì chắc chẳng còn ai hiện diện. Từ đó đến nay, vùng đất này chứng kiến sự thay đổi không ngừng của thời gian và con người.

Tuy nhiên, điều khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn cả là câu hỏi:

“Barkly là ai mà được tên đường mang danh?

Và Sir Francis Nicholson là ai mà tên ông cũng được đặt cho đường phố nổi tiếng nơi đây?”

Sir Henry Barkly – Người kiến tạo nước Úc. Sir Henry Barkly, sinh ngày 24 tháng 2 năm 1815 tại London, là một nhà quản lý thuộc địa tài ba người Anh. Ông giữ chức Thống đốc tiểu bang Victoria từ năm 1856 đến 1863, một giai đoạn trọng đại trong sự phát triển của vùng đất này.

Trong nhiệm kỳ của mình, Barkly đã giám sát việc mở rộng hệ thống đường sắt, góp phần thúc đẩy kinh tế và giao thông, đồng thời là người sáng lập Đại học Melbourne, một trong những biểu tượng học thuật hàng đầu nước Úc hiện nay.

Sir Henry Barkly

Danh hiệu “Sir” mà ông mang là một sự tôn vinh của Hoàng gia Anh dành cho những người có đóng góp xuất sắc cho đất nước và các thuộc địa. Trước khi đến Victoria, Barkly từng làm việc ở British Guiana và Jamaica, còn sau đó ông giữ chức Thống đốc ở Mauritius và Thuộc địa Cape.

Cái tên Barkly không chỉ được ghi nhớ qua những con đường như Barkly Street mà còn lưu danh trong lịch sử thuộc địa và phát triển của Úc. Ông mất ngày 20 tháng 10 năm 1898, nhưng dấu ấn của ông vẫn còn mãi với thời gian.

Sir Francis Nicholson – Người đặt nền móng cho nước Úc mới

Sir Francis Nicholson (1753–1818) là một nhân vật không kém phần quan trọng trong lịch sử thuộc địa Úc. Ông giữ chức Phó Thống đốc New South Wales từ năm 1800 đến 1804, rồi là Thống đốc Van Diemen’s Land (Tasmania ngày nay) từ 1804 đến 1808.

Ông nổi tiếng với những nỗ lực ổn định đời sống và phát triển các thuộc địa đầu tiên của nước Úc. Nicholson đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện nông nghiệp và quản lý tù nhân, những yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nền tảng xã hội mới.

Tên tuổi của ông cũng được đặt cho nhiều địa danh, trong đó có Nicholson Street – một trục đường quan trọng ở Footscray, góp phần ghi nhớ công lao của ông trong công cuộc khai phá và phát triển vùng đất mới.

Sir Francis Nicholson

Riêng tôi, ít nhất một tuần một lần, ông bạn thân Chín Triệu, dân gốc Xóm Vạn Chài cuối đường Trần Quang Khải Tân Định Sài Gòn, lại xách xe, mang theo chai rượu chát (red wine) rủ rê tôi xuống nhà hàng Thanh Vinh – tọa lạc bên tay trái góc Barkly và Nicholson để lai rai, nói dóc chơi.

Đó là nơi mà bao ký ức cũ – từ năm 1954 đến hôm nay – vẫn còn vẹn nguyên như tấm hình đen trắng in dấu thời gian. Đôi khi, chúng tôi nhìn nhau mà tự hỏi, mấy ai trong số những người xưa cũ còn hiện diện giữa chốn phồn hoa này?

Tôi vẫn nhớ lời em yêu của tôi, tức bà La Sát, bà chằn lửa của tôi tức là con vợ tôi thường hay nói, mỗi khi tôi dành nhiều thời gian “tụ bè tụ đảng đi nhậu để nói dóc”.

Em rầy tôi như má rầy con vậy:

“Cơm không nấu chỉ biết ăn. Ăn xong chén không rửa. Đồ không giặt! Tối ngày cứ tụ bè tụ đảng đi nhậu để nói dóc không hà! Thiệt là đồ vô tích sự!”

Ha ha! Có lẽ trong mỗi câu chê trách ấy là cả một tình cảm thân thương, một sự quan tâm lặng thầm mà chỉ người trong cuộc đời nô lệ mới thấu hiểu.

Và cũng bởi lẽ, như tôi vẫn nói với con cái mình: không phải cứ đi học trường lớp mới là học. Học là cả một cuộc đời, học trong từng phút giây sinh hoạt, học trong những cuộc chuyện trò, học trong men rượu và trên những con phố quen thuộc.

Footscray hôm nay là minh chứng sống động cho sự giao thoa giữa lịch sử và hiện đại, giữa văn hóa bản địa và ảnh hưởng Âu Mỹ, giữa quá khứ công nghiệp nặng nhọc và tương lai đô thị hóa năng động.

Tên tuổi Sir Henry Barkly và Sir Francis Nicholson không chỉ là dòng chữ trên các bảng tên đường mà còn là những biểu tượng cho lòng kiên trì, sự phát triển và cống hiến cho vùng đất Úc xa xôi này.

Và với riêng tôi, dù có đôi khi bị gọi là “đồ vô tích sự”, thì Footscray vẫn là mái nhà, là miền ký ức, là nơi tình bạn và những câu chuyện đời thường vẫn còn vang vọng bên những con phố thân quen.

DXT

45. Tản mạn sáng mùa Thu

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 26 Jun 2026

Mới hôm qua lúc tôi đi qua khu chợ gần nhà, trên đường lác đác lá khô bay theo cơn gió nhẹ, mớ lá còn lại dồn đống nằm trên mặt đường, khi tôi dẫm lên chúng kêu lạo xạo dưới gót giày. Chỉ sau một đêm mưa, tất cả lá vàng nằm la liệt trên đường đều bị ướt, mặc tình cho tôi dẫm lên mà không còn nghe chúng kêu lạo xạo và cũng không còn nhúc nhích như ngày hôm qua. Tuần này trường nghỉ thu, đám trẻ không đi học và trời còn sớm ít người đi đạp lên lá nên màu sắc những chiếc lá vàng vẫn còn nguyên chưa thay đổi. Sau cơn mưa không gian trong sạch, loáng thoáng sương pha, cây cỏ sạch sẽ quá làm lòng ái náy, tôi bước chậm hơn và nhìn kỹ xuống từng bước chưn để tránh đạp lên những chiếc lá vàng ướt và sạch.

Hồi gia đình tôi mới dọn về đây, lúc đó hai con gái vừa mới lớn, cũng trên con đường này tôi thường dẫn hai đứa tới trường. Mới đó mà tôi đã già rồi, các con cũng đã lớn, cảnh vật có nhiều thay đổi, nhưng ngôi trường nằm bên kia chiếc cầu bắt ngang kinh, cạnh bên là trạm y tế và phòng thể thao. Phía bên phải, cách đường đi bộ và đường xe đạp có hai siêu thị bán thực phẩm, một nhà hàng nhỏ và quán bán khoai tây chiên cạnh bên tiệm bán bách hoá phẩm. Tất cả phát triển rộng lớn, chợ xôn xao hơn, nhứt là những ngày thường, tiếng nói tiếng cười rộn rã của đám học trò trong giờ ra chơi làm sống động sân trường. Cảnh vật có thay đổi nhưng mùi thơm, âm thanh và những màu sắc quen thuộc của các loại bông hoa đẹp đẽ nơi này thay đổi theo thời gian tôi đều thấy rõ. Đúng rồi, hàng cây hai bên đường! Tôi biết nó lúc con đường này mới làm, người ta trồng nó hồi còn non và đọt cao ngang ngực, bây giờ nó đã lớn và cao nhìn rớt nón luôn. Tuy nhiên nó là hai hàng cây mà tôi rất thích, lớp vỏ bao thân cây màu xám điểm vết trăng trắng, đen đen trông vững chãi và ra dáng phong trần. Mỗi khi đi ngang tôi thường vịn vào một gốc cây và nhìn hai hàng cây hai bên đường dài, từ gốc lên tới ngọn, giữa hai tàn lá hiện ra một khung trời lạ mắt; mây trắng, mây đen tạo ra những nét ngộ nghĩnh trên nền trời xanh.

Sáng sớm có sương mỏng, đi trên đường lòng lâng lâng niềm nhớ. Không biết mùa thu với lá vàng ướt trầm buồn hay là vì tin tôi vừa nhận được hồi hừng đông mà trong lòng có hơi xao động. Đứa cháu nhắn:

– Ba con mất rồi, giờ còn chú, chú nghỉ hưu dìa với tụi con, tụi con sẽ lo cho chú.

Nghe cháu nói cũng động lòng, không biết có phải vì chuyện cháu nói khiến tôi buồn bã hay là cảnh vật mùa thu làm lòng tôi chùng xuống. Hơn hai tháng trước đây, lúc anh Bảy còn sống tôi có hứa với ảnh, sau chuyến qua Úc thăm chị Sáu, khi trở về Hoà Lan tôi sẽ kiểm tra sức khoẻ, nếu tất cả ổn hết tôi sẽ về Việt Nam ăn Tết và ở chơi với ảnh vài tháng.

Rồi tôi sang Úc, hơn bốn mươi năm trước gia đình anh chị Sáu và đứa em Út của tôi vượt biển qua Úc định cư, gộp chung chưa được mười người, bây giờ cộng thêm cháu chắt lên hơn hai chục mạng, có mấy đứa kêu vợ chồng tôi là ông, bà. Thăm nhau một tháng, lúc tôi và Trúc Thanh sắp về thì nghe tin anh Bảy đã chết. Nghĩ chị Sáu lớn tuổi hơn thế nào cũng chết sớm nên tôi qua thăm trước, ai ngờ anh Bảy chết trước. Vậy là lời hứa về quê ăn Tết và ở với ảnh coi như mắc nợ rồi, chợt nghe mí mắt ươn ướt, tôi thọt tay vô túi áo định lấy giấy lau. Hôm qua Úc anh rể, chồng chị Sáu, mua tặng tôi chiếc áo tay cụt và có mười cái túi lớn nhỏ phía trước. Anh nói:

– Cậu mày lớn tuổi thường xuyên bịnh hoạn, bận áo nhiều túi đựng thuốc men và đồ dùng cá nhân rất tiện mỗi khi đi đâu đó.

Nghe cũng có lý và tin tưởng sự tiện ích của chiếc áo mười túi nên thuốc men và có gì nho nhỏ mà thấy cần những lúc đi đâu đó tôi đều bỏ vô mấy túi áo mang theo. Tôi thọt vô túi đụng ngay chùm chìa khóa, chùm chìa khoá mỗi khi cần tôi thường tìm nó, có khi mất cả buổi, giờ không cần thì đụng phải nó ngay. Lục qua túi khác đụng phải tiền cắc và cái bóp, thêm một túi nữa thì đụng mấy vỉ thuốc. Chậc! Bây giờ mới thấy cái áo có mười túi này rất phiền phức, ý là đồ đạc tôi bỏ chưa đầy hết mười túi. Lục lạo một hồi mới tìm thấy một gói khăn giấy còn nguyên mà Trúc Thanh đã nhét vô túi nhỏ trên ngực áo mỗi khi tôi ra đường. Moi được sắp khăn giấy, rút ra một tờ thì cơn xúc động đã qua rồi, những chuyện như vầy trước đây tôi chỉ đưa tay áo lên dụi dụi mắt, mũi mấy cái là xong. Nhưng cũng đưa khăn giấy lên lau mắt và nhẹ nhàng khịt mũi. Chợt nhớ câu: “người tính không bằng trời tính”. Thiệt ra hồi nào tới giờ tôi chưa từng nghĩ tới chuyện ngày về hưu tôi sẽ về Việt Nam để dưỡng già. Dù sao thì anh Bảy cũng đã chết rồi, chuyện về nước sẽ tính sau. Nhận thức được cuộc sống quá ngắn ngủi, bất thường, sống nay chết mai. Vì vậy hôm trước khi từ giã anh chị Sáu và các cháu bên Úc trở về Hoà Lan tôi có nói:

– Vài ba năm nữa biết ai còn ai mất nên em hổng dám hẹn trước ngày nào sẽ qua thăm anh chị và các cháu.

Chỉ có các cháu còn trẻ nhao nhao cho rằng tôi sẽ sống lâu trăm tuổi. Nhưng anh chị Sáu cũng nhận biết điều bất thường của kiếp con người nên không nhắn nhủ, hẹn hò chuyện sau này thăm viếng. Giọng chị nghẹn ngào nói một câu:

– Ờ, cậu dìa bên bển giữ gìn sức khoẻ.

Thiệt ra tôi rất hài lòng với cuộc sống ở đây, và cảm thấy ánh nắng ban mai âm ấm chiếu lên mặt rất tuyệt vời. Tôi định đi qua cầu rồi tà tà trên con đường dành cho người đi bộ và thẳng tới đầu đường quẹo qua con đường nhỏ bọc ra phía sau cuối khu chợ, vô siêu thị mua vài món đồ mà sáng nay trước khi đi làm Trúc Thanh đã dặn, sợ tôi quên, khi tới hãng Thanh còn gởi tin qua WhatsApp, cô ghi rõ ràng đầy đủ những món cần để nấu súp mùa thu. Tôi đi chưa tới đầu cầu, chợt thấy một chiếc xe đạp rà thắng tắp vô lề, một người đàn bà bước xuống gạt chưn chống xe, xong bà đi tới trước mặt tôi:

– À, bà Emma!

Vừa vui mừng vừa lúng túng chưa kịp nói thêm gì thì bà cất tiếng:

– Chào buổi sáng, ông khoẻ không?

– Dạ, tôi vẫn khoẻ, bà và ông nhà cũng khoẻ phải không?

– Khoẻ, khoẻ hết.

Đoạn bà nói tiếp:

– Hôm thứ Bảy tuần rồi tôi gặp Thanh làm Voedsel Bank (một hội từ thiện dự trữ thực phẩm để dành phát cho dân nghèo trong thị xã) trong siêu thị ở Biddinghuizen.

– Ờ, mỗi tháng Thanh làm vài giờ khi siêu thị này, lúc siêu thị kia.

– Tốt rất tốt. Dạo này thấy nó tỉnh táo và khoẻ ra.

Hồi Trúc Thanh bệnh, những chuyến tôi hải hành, vợ chồng bà đem Thanh về nhà săn sóc, nhà bà ở một xã gần đây, đạp xe chừng mười phút, vậy mà rất lâu tôi không tới thăm gia đình bà. Tôi vẫn nhớ ông, bà nhưng không hiểu sao tôi chỉ nhắc nhở Thanh mua quà tặng mỗi Giáng Sinh hay ngày sinh nhựt của ông bà, chớ lâu lắm rồi chưa lần tới thăm. Tôi nhìn bà Emma và cảm thấy áy náy trong lòng, tôi nói:

– Nhờ bà giúp đỡ nên Thanh mới được khoẻ.

Nói ra mới thấy câu nói mình vô duyên, tôi đưa tay lên gãi gãi cái đầu trọc. Bà Emma phớt lờ câu nói và cử chỉ khó coi của tôi. Bà cười vui vẻ hỏi:

– Nghe Thanh nói ông đã nghỉ hưu?

– Ờ, tôi nghỉ được nửa năm rồi.

– Tốt, tốt cho Thanh, có ông ở nhà nó hết buồn.

– Dạ, tôi cũng nghĩ vậy, vì hai đứa con gái của tôi đã ở riêng hết rồi, nên mỗi khi đi xa trong lòng tôi hổng yên chút nào hết, sợ Thanh ở nhà mình ên bị trầm cảm trở lại, nhứt là những tháng lạnh mùa thu và mùa đông. Vì vậy khi công ty đề nghị cho nghỉ hưu sớm tôi chấp nhận liền.

– Ông làm việc lâu rồi mà.

– Cũng hơn bốn mươi năm.

– Oh, lâu quá.

Nói xong Emma từ giã tôi để ra chợ, trước khi đạp xe đi bà còn dặn:

– Nói với Thanh hôm nào tới nhà chơi.

– Chắc rồi, chúng tôi sẽ tới.

Nhìn theo tới khi bà Emma đạp một khoảng xa tôi mới ngước mặt lên hít một hơi thiệt sâu và thở ra nhè nhẹ. Hơi thở của mùa thu! Tôi tiếp tục bước, đối với tôi thời gian thả tà tà, hít thở cái không khí trong lành, nó cho tôi không gian rộng rãi và thời gian đủ để sắp xếp những xáo trộn trong đầu. Hơn vậy nữa, đi bộ cũng là dịp cho tôi ngẫm nghĩ coi có chuyện gì đó để ghi chép lại.

Một cơn gió thoáng qua, nghe ớn lạnh, tôi rùng mình một cái rồi đưa tay kéo cổ áo khoác cao hơn và quấn chiếc khăn quàng quanh cổ cho kín thêm chút nữa. Tôi nhận ra rằng đứng giữa những hàng cây, nơi mặt trời không thể chiếu qua những ngọn cây khi chúng còn xum xuê lá là một nơi khá mát mẻ vào mùa hè, thời gian đó tôi với Trúc Thanh có thể đi bộ vào trong bóng mát của những rừng cây ở quanh vùng hoặc đạp xe qua bất cứ nơi đâu trong đất nước Hoà Lan nhỏ bé mà xinh đẹp này.

Khi đi tới đầu cầu chợt nghe tiếng động dưới kinh, tôi đi chậm lại, tay vịn lan can cầu, đưa mắt ngó xuống dòng nước thấy một bầy vịt bơi qua. Mấy tháng trước đây, hai con vịt này là một cặp vợ chồng cùng với những con vịt con kêu chíp chíp, chúng bơi trong lau sậy bên bờ kinh tìm mồi. Bây giờ con cái của vợ chồng vịt đã lớn, chúng sẽ sanh sản và tự làm cha mẹ sau vài tháng nữa. Có rất nhiều thứ đã thay đổi từ mùa xuân sang mùa thu, những bông hoa tươi nở vào mùa xuân bây giờ không còn, lá trên hàng cây xanh đã biến thành vàng, đỏ và nâu. Mấy ngày qua lá cây đã rụng nhiều, bằng chứng là chúng nằm la liệt mặt đất, cứ đà này chẳng bao lâu trên cây sẽ không còn lá nữa.

Đi ra giữa cầu hồi nào không hay, khi nghe đàn vịt kêu cạc cạc. Tôi tỉnh lại sau cơn suy nghĩ vu vơ, đưa mắt nhìn xuống thấy bầy vịt xôn xao dòng nước dưới dạ cầu. Tôi xoay người nhìn lại phía sau, thấy một phụ nữ ngồi trên chiếc xe điện dành cho người tàn tật, xe điện không gây tiếng động, rất êm và rất nhẹ nhàng, cô ta gần bên hồi nào tôi không hay. Tay cô cầm một túi bánh mì cũ và lấy ra xé từng miếng bánh sandwich trắng liệng chúng xuống mặt nước trước mặt. Tôi đứng nhìn những chú vịt ăn ngấu nghiến những miếng bánh mì ướt với thái độ biết ơn. Tôi nhìn kỹ người phụ nữ, cô ta bận chiếc áo khoác len màu nâu, tóc nhuộm màu nâu, cắt tỉa gọn gàng và chiếc váy trắng lộ ra từ bên dưới, sự trầm ấm của màu nâu được cân bằng nhờ sắc trắng tươi sáng rất sang trọng với đôi giày chắc chắn màu nâu sẫm, trông hài hoà với sắc thái mùa thu. Nhìn cách ăn mặt và nét mặt phúc hậu, đoán chừng cô ấy tuổi trên năm mươi, thích ăn diện, thích làm đẹp và biết sẻ chia. Không biết cô bị bệnh gì mà phải ngồi xe dành cho người tan tật? Tôi lại nghĩ về Trúc Thanh, người phụ nữ từ ngày về sống với tôi đã chịu cực chịu khổ từ thể xác đến tinh thần trong những ngày tháng tôi đi xa. Có lẽ Thanh cũng như người phụ nữ này, cũng thích ăn diện, thích làm đẹp và giương mặt hiền hậu thoáng chút u buồn. Năm mươi tuổi Thanh bị đột quỵ trong lúc tôi còn lênh đênh trên biển, nếu đêm đó hổng có con gái lớn ở nhà thì chắc chắn Thanh không sống được. Khi tôi trở về thì Thanh đã nằm nhà thương, bác sĩ phát hiện van tim Thanh có vấn đề và đề nghị phải phẩu thuật càng sớm càng tốt. Sau ngày phẩu thuật Thanh bị bệnh trầm cảm, nhứt là những tháng ngày cuối năm khi trời âm u trở lạnh, thu sang đông, trời càng lạnh càng âm u thì bệnh của Thanh càng trầm trọng. Tôi ngừng suy nghĩ khi thấy người đàn bà liệng mớ bánh mì cuối cùng và chờ đàn vịt ăn hết bánh rồi bà mới cho quay xe đi. Người phụ nữ ngồi điều khiển chiếc xe điện rất thành thạo, thong thả nhẹ êm chạy giữa hai hàng cây trên con đường la liệt lá vàng, trông quý phái làm sao. Khi người phụ nữ xa rồi, tôi nhìn lên hàng cây, những chiếc lá rất mỏng manh, màu vàng sắp rụng, cành cây trống trải, trông nhẹ nhàng như trút đi gánh nặng. Lại nghĩ về Trúc Thanh,  bề ngoài trông yếu đuối, nhưng sức mạnh tinh thần rất mạnh mẽ, cơn trầm cảm nặng đến đỗi mỗi lần nhìn thấy tôi là Thanh vô cớ sợ hãi, có lúc chúng tôi phải tạm cách ly để Trúc Thanh trị bệnh. Cơn bệnh kéo dài gần hai năm, tưởng như không còn trị được nữa, nhưng cuối cùng Thanh cũng  vượt qua. May mắn thay, nhờ ơn các bác sĩ và những người từ tâm trên đất nước nhân ái đầy tình người này đã giúp Thanh vượt qua những năm tháng tối tăm mà không bị ngồi xe điện dành cho người tàn tật như phụ nữ cho vịt ăn vừa rồi. Tôi đi qua khỏi cầu đến cuối đoạn đường và quẹo qua con đường cạnh bờ nước dẫn tới siêu thị. Chợt nhớ lời Trúc Thanh nói lúc ăn sáng:

– Trời đã vào thu rồi, mỗi ngày một lạnh thêm, cũng đến lúc chọn công thức nấu súp mùa thu.

– Quan trọng vậy sao?

– Ăn uống hổng quan trọng thì cái gì là quan trọng đâu?

Tôi biết nấu những món ăn ngon và trình bày dĩa thức ăn cũng bắt mắt và cũng biết mùa thu bên Hoà Lan có những món ăn, món súp được chế biến bằng trái cây, rau, củ trong mùa. Mấy năm trước Thanh nấu bí rợ khi trời trở lạnh. Vào khoảng thời gian này, bí rợ có sẵn trong các chợ bán rau. Trúc Thanh làm việc trong một hảng chế biến thức ăn đóng hộp nhựa bán trong siêu thị và có học về dinh dưỡng. Thanh cũng thích nấu ăn nên hay nói về dinh dưỡng trong cách ăn uống.

– Mùa thu và mùa đông con người ta rất dễ xúc động, nếu không chú ý hệ thần kinh, hô hấp và tất cả các hoạt động trong cơ thể thì rất dễ mất cân bằng. Ăn uống hợp lý thì cơ thể và tâm trí được cân bằng làm cho người ta cảm thấy tràn đầy năng lượng, hạnh phúc, nhiệt tình và sáng tạo; Tâm trí bình tĩnh, nhận thức rõ ràng và sống động thì những chứng lạnh, khô, thô thiển sẽ biến mất.

Mặc dù Thanh nói không có gì sai, nhưng nói nhiều quá sợ bệnh trầm cảm tái phát, nhứt là những ngày trời trở lạnh. Định tìm cách ngăn lại nhưng khi nhìn ra cửa kiếng phía trước thấy sương lãng đãng bao hàng cây. Chợt nhớ tới lời người tư vấn nói trước đây: “người rối loạn lưỡng cực, còn được gọi là trầm cảm, dù được trị hết rồi, nhưng họ hay khó chịu với những lời tiêu cực hay bất đồng trực tiếp.” Và khuyên tôi nên nói chuyện nhẹ nhàng với Thanh. Hiểu được nguyên do, từ đó tới giờ tôi không dùng lời có tánh khiêu khích để nói với Thanh. Tôi bèn nói vuốt theo:

– Ừa, Papa thường bị môi khô, đôi lúc tay, chưn bị lạnh và khớp đầu gối đau nhiều hơn, nhứt là khi nhìn cảnh vật âm u lạnh ngắt, trong lòng bồn chồn khó tả.

– Bởi vậy người ta mới bày ra cách chuẩn bị thức ăn, nước uống cho phù hợp theo mùa.

Mùa thu năm nay Thanh đổi món mới. Theo Thanh thì năm nay thịnh hành món súp Âu châu kết hợp châu Á, bởi vì có xài nước cốt dừa. Đó là một món súp rau, đậu đơn giản rất thích hợp cho mùa thu. Thiệt ra thì những món súp đậu của Hoà Lan ăn một lần là ớn cả năm. Nhưng thấy Thanh nhiệt tình quá, với lại món súp này cũng khá hấp dẫn. Dù sao món ăn có nhiều rau, củ rất thích hợp cho mọi người, mọi lứa tuổi.

Trước khi vô siêu thị tôi bấm điện thoại xem lại nguyên liệu cơ bản của món súp Á, Âu mà Trúc Thanh đã ghi trước khi đi làm. Gồm có đậu ván đỏ (nhãn hiệu Bonduelle), cà chua, cà rốt, củ hành trắng, tỏi, ớt đỏ, ớt bột, thìa là, bột cà chua, nước cốt dừa… Những món này trong các siêu thị ở Hoà Lan đều có bán.

Chợt nhiên tôi phát hiện ra một điều: mấy chục năm làm đầu bếp trên tàu tôi gần như không khi nào phải lục coi cần thứ nào, chỉ đọc qua sách một lần là nhớ. Vậy mà giờ đây tôi rị mọ coi từ chữ trong điện thoại. Hổng chừng khi vô trong siêu thị rồi tôi cũng phải mở điện thoại rà soát lại một lần nữa cho chắc ăn.

Dronten 5 11 2024

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 26 Jun 2026

Những ngày bán bánh mì, tôi quen một cô tên Nga. Tôi gặp lần đầu khi cô đáp chuyến xe đò từ Krong Kaoh Kong về Phnom Penh. Cô bước xuống đường Thu Mút trong cái dáng vẻ của một cô gái bụi đời. Hút thuốc và ngồi quán uống cà phê. Cô mua bánh mì, ăn kèm với bò kho. Thấy tôi là người Việt, cô bắt chuyện làm quen. Vài lần như thế, đôi bên tỏ ra thiện cảm. Cô cho biết đã sống bốn năm trên xứ Chùa Tháp. Quê cô ở Bến Tre. Năm hai mươi tuổi, cô có người yêu đi Bộ Đội, đóng quân trên đất Kampuchia. Cô lên đây tìm người yêu, nhưng anh đã chết tan xác trong một cuộc phục kích bằng mìn của quân Khmer Đỏ. Đau buồn không muốn trở về quê cũ, cô sống lang thang nương tựa vào các trại quân Việt Nam. Tôi hiểu ngay rằng cô đang làm gái điếm. Năm nay, cô hai mươi bốn tuổi. Bốn năm lăn lóc bụi đời, cô già đi trước tuổi. Tôi cũng nói với cô về chuyện gia đình làm ăn sinh sống. Cô ngỏ ý muốn thăm vợ con tôi. Tôi dẫn về nhà, giới thiệu vợ con. Từ đó trở đi, đôi bên thành chỗ thân quen. Mỗi lần về Phnom Penh, cô ngủ lại nhà tôi.

Có lần cô nói: “Em xin kết nghĩa làm em nuôi của anh chị.”

Tôi hỏi đùa: “Ai sẽ nuôi ai?”

Cô cười: “Anh chị nuôi em.”

“Nhà anh chỉ có xôi và bánh mì.”

“Hai thứ đó cũng đủ no rồi.”

Buổi tối, vợ tôi thì thầm: “Giai đoạn đầu, làm em nuôi. Giai đoạn sau, làm vợ nhỏ.”

Tôi nạt: “Nghĩ bậy!”

“Anh sắp ló đuôi rồi đấy.”

“Đuôi gì?”

“Đuôi dê.”

“Anh coi nó như em.”

“Lằn ranh anh em kết nghĩa mỏng manh lắm. Nhích tới một bước, em nuôi biến thành vợ nhỏ.”

“Ghen hả?”

“Tôi mà thèm ghen với con đĩ ngựa ấy à?”

“Ô hay! Sao mạt sát người ta? Nếu em không thích, anh bảo nó đừng đến đây nữa.”

“Hứ! Để coi hai người sẽ tiến đến đâu.”

Dù thế, bề ngoài vợ tôi không tỏ vẻ gì để cô Nga biết được ý nghĩ của mình. Tôi cũng không hề bảo cô đừng đến nữa. Cô coi gia đình tôi là chỗ thân tình. Lâu dần, cô hiểu rõ hoàn cảnh và lý do chúng tôi có mặt trên đất Kampuchia.