Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 26/6/ 2026

“Rượu vẫn chảy mềm môi thương nữ

Có còn chi cho nỗi đau này!”

Vua Trần Hậu Chủ (583-587) thời Hậu Trần bên Tàu, nổi tiếng tài tử phong lưu, nên hậu cung lúc nào cũng có hàng ngàn mỹ nhân tuyệt sắc. “Hậu Đình Hoa” là một tập thơ phong tình được phổ nhạc cho cung tần, mỹ nữ ca hát mua vui. Đỗ Mục (803 – 853) là một danh sĩ tài hoa, hơn 200 năm sau, ghé qua bến Tần Hoài, thuyền đổ cạnh một quán rượu, trong một đêm trăng sáng, nghe tiếng hát và đàn ca, sênh phách của bọn con hát hầu rượu vẳng lại từ bên kia sông, mà cảm khái viết nên hai câu thơ bất hủ, trong một bài tứ tuyệt “Dạ Bạc Tần Hoài:”

“Thương nữ bất tri vong quốc hận,

Cách giang do xướng “Hậu Đình Hoa.”

Chúng ta là những người, từ 38 năm nay, bỏ nước ra đi, dù no ấm, giàu sang, hạnh phúc gì đi nữa thì cũng là những kẻ ly tổ, bỏ quê hương, làng mạc, mồ mả cha ông mà lưu lạc tới chốn này, nên vẫn canh cánh bên lòng một nỗi đau. Huống chi, giờ nhìn lại quê nhà, trong một chế độ độc tài, toàn trị, quyền làm người và giá trị người dân bị coi nhẹ, công an là công cụ bạo lực, đảng cộng sản dùng để đàn áp người dân, bịt miệng và cầm tù những người yêu nước, bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền. Sĩ phu thấy xấu hổ, tuổi trẻ thấy bất bằng đã dấy lên phong trào yêu nước nhưng đã bị chính quyền đương thời gán ép, ghép vào những tội danh như là chống phá tổ quốc, mưu toan lật đổ chính quyền, làm gián điệp cho ngoại quốc. Tuy nhiên đa số quần chúng, lớn lên và được dạy dỗ theo nhân sinh quan của cộng sản, chỉ biết chăm chút cho bản thân và lo cho sự sống còn của đảng, là nồi cơm và cuốn sổ hưu của họ. Dân chúng phần lớn chạy theo sự sống, mục tiêu tối thượng là lợi lộc, bất kể đạo lý, sẵn sàng bỏ sĩ diện, gia phong để chạy theo đồng tiền, vì có tiền là mua được tất cả.

Đảng cộng sản ác với dân nhưng lại hèn với giặc, nhượng đất, bán đảo, thoả hiệp với kẻ thù, để cho ngư dân bị xua đuổi, bắt bớ ngay trong phần đất, biển nhà. Công an chủ trương “còn đảng còn mình,” lãnh đạo “thà mất nước còn hơn mất đảng,” nên xem sinh mạng người dân như cỏ rác. Tình trạng thoả hiệp, đầu hàng đã đưa đến chuyện mất nước hiển nhiên trước mắt, nhưng trong chính thể đã cam tâm làm tôi đòi cho Trung Cộng hiện nay, chống ngoại xâm từ phương Bắc có nghĩa là chống chính phủ, muốn lật đổ chính quyền, nên nhà tù Việt Nam hiện nay là nơi giam giữ những người yêu nước. Nhà cầm quyền muốn cho dân chúng ngoan ngoãn, chạy theo những thị hiếu tầm thường, thấp hèn để quên việc nước. Ngày xưa, dưới thời Pháp, cộng sản lên án những phong trào thể dục thể thao, lễ hội văn hóa là những trò thực dân bày ra để ru ngủ thanh niên và tôn giáo là thuốc phiện. Những điều đó, hôm nay hiển nhiên đã giải thích rõ ràng chủ trương của đảng cầm quyền. Ở Việt Nam hiện nay có bao nhiêu lễ hội nhân gian, bao nhiêu cuộc thi hoa hậu, bao nhiêu cuộc tranh tài thể thao? Có bao nhiêu nơi ăn chơi, tính “trên từng cây số,” thanh niên lấy nhậu làm vui, để quên mọi sự. Tính trên đầu người, dân Việt Nam uống nhiều bia bậc nhất thế giới, số bia Heneiken được tiêu thụ ở Việt Nam đứng thứ 2 sau Trung Cộng, trong khi Trung Cộng có 1,3 tỉ người còn Việt Nam chỉ có 90 triệu. Rượu chảy đến đâu, việc mua dâm xẩy ra đến đó, tạo ra một đất nước suy đồi, chỉ biết hưởng thụ. Phải chăng đó là tính toán của nhà cầm quyền như những gì mà chính họ đã lên án trong thời bị trị. Tình cảnh đất nước hôm nay, còn tệ hại hơn năm bảy trăm năm về trước, trước nạn ngoại xâm và trước cảnh ăn chơi, làm giàu của bọn tham quan, ô lại, xây nhà cửa như cung đình, làm nhà thờ tổ như lăng miếu. Trần Quốc Tuấn đã nói rõ trong “Bài hịch Tướng Sĩ:”

“Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ nguy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻchăm lo ruộng vườn để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng hát nhãm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh.”

-“Việt Nam bây giờ giàu lắm, vui lắm!” Đó là những gì mà một số người ba mươi tám năm trước đã bỏ nước ra đi rất vội vã, có thể mang chiếc dép phải vào chân trái, nói đến Việt Nam bây giờ. Đó là những gì mà có những người bước ra từ cõi chết, hay còn sống sót trong lúc người thân trầm mình xuống đại dương có trí nhớ rất tồi hay giả vờ quên vì tư lợi. Đó cũng là lời ca tụng của một số người đã ở trong nhà tù cộng sản, được nước Mỹ cưu mang, chỉ mong muốn cao bay xa chạy khỏi nơi hang hùm nọc rắn ngày nọ, nhưng bây giờ lại thấy cỏ bên kia sườn núi xanh non. “Chúng ta đi mang theo quê hương,” nhưng bỏ lại rất nhiều thứ. Trong đó có mồ mả chiến hữu, những anh em thương tật và có thể là một lời hứa hẹn chưa hề nói ra, nhưng là niềm hy vọng của những người ở lại, “như kẻ chăn chiên quay đầu chạy, bỏ bầy chiên lại cho lũ thú rừng!” Trong khi trong nước, có những người trẻ tuổi hy sinh cả tương lai, chấp nhận bước vào cửa nhà tù, cũng như ở hải ngoại, có bao nhiêu người đã tranh đấu cho quê hương, cho đồng bào được quyền làm người, thì trái lại ở đâu đó, chúng ta nghe gì, thấy gì gọi là sinh hoạt văn hoá? Cổ nhân nói: “Một người thầy thuốc mà sai lầm thì có thể giết chết một bệnh nhân, một nhà chính trị mà sai lầm thì có thể giết hại một dân tộc, một nhà làm văn hoá tư tưởng mà sai lầm thì có thể giết hại cả một thế hệ.”

Nhà biên khảo Từ Nhân Nguyễn Văn Thọ đã phân tích ba hạng người làm văn hóá. Một là siêu việt, coi thường lợi danh, không chen chân vào chốn xa hoa phù phiếm để chúng ta có những thiên tài như Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Tản Đà … Người làm văn hoa trung đăng để văn chương phản ảnh đời sống thực tại, gần gũi với người đời, chia sẻ buồn vui, biết thương dân, nghĩ đến dân. Người làm văn hoá hạ đẳng, là những loại thợ (như danh từ công- theo cách nói của cộng sản,) hành nghề văn hoá vì sinh kế, áp dụng thủ đoạn mị dân, chạy theo thị hiếu quần chúng hay tuân hành chỉ thị của người chi tiền. Loại sau này hô hào, trương bảng phát huy văn hóa dân tộc, nhưng phổ biến những điệu vũ dâm đãng mà trên sân khấu trai gái trườn lên mình nhau trong những tư thế làm tình, vũ công nhảy múa tốc váy để bày quần lót (cái mà trong nước gọi là nội y,) cốt chỉ để thoả mãn thị hiếu thấp hèn của con người, cũng là một loại độc dược ru ngủ.

Làm văn hóa siêu việt là thiên tài, tức là của Trời cho; văn hóa trung đẳng còn là dấn thân, tiếp cận, gần gũi với nỗi khổ của đồng loại; văn hoá hạ đăng là thợ hành nghề chỉ hành nghề theo đơn đặt hàng như thợ hát, thợ vẽ, thợ múa … Làm văn hóa hạ đăng cũng như lời phát biểu của một gái bán dâm từ Việt Nam: “làm nghề này vừa sướng vừa có tiền!”

Người ta nói rằng muốn tìm hiểu sinh hoạt của một xã hội thì hãy mở trang quảng cáo hay nghe thấy những đoạn phim chào hàng trên đài truyền hình, hay một lời mời mọc qua làn sóng phát thanh. Bởi nhục dục được đề cao, nên đàn ông đi tìm thuốc làm tình để “yêu em dài lâu,” phụ nữ lo trau dồi son phấn và quần chúng cười mũi, khinh khi khi nói đến chuyện quốc gia đại sự, nước mất nhà tan.

Quốc nội trông đợi gì ở những người hải ngoại và hải ngoại chờ ngọn lửa nào ở trong nước? Những ngọn lửa lẻ loi, cô độc đang bị dập tắt, vì kẻ cai trị có cường quyền. Ở hải ngoại tranh đấu như người lội dòng nước ngược, bị đánh phá, phỉ báng! Thất phu đã nhiều, mà thương nữ thì có mặt ở khắp nơi. Nhưng trách chi thương nữ, trời đất sinh ra họ dùng tiếng hát cho đời mua vui, chỉ trách người làm thương mãi vì lợi nhuận không biết đỏ mặt hổ thẹn, trách quần chúng, như kẻ qua đường, thấy gánh xiếc bên đường dừng chân đứng lại cùng đám đông, vỗ tay, nhe răng cười cợt, khuôn mặt hớn hở, theo phản xạ từ tuỷ sống, chứ chưa hẳn là mệnh lệnh truyền đạt từ giây thần kinh của não bộ.

Giữa thời nhiễu nhương này, còn nghe chăng ai hát câu ca dao ru con buồn rười rượi:

“Đêm qua chớp bể mưa nguồn,

Hỏi người quân tử, có buồn hay không?” (Ca dao)

Đại tá Thinh Nguyen (gốc Việt), Kỹ sư cao cấp hàng không vũ trụ, nguyên Chỉ huy trưởng, Học viện Không quân Hoàng Gia Canada.

dongsongcu.wordpress.com

Posted on June 23, 2026 by dongsongcu

23/06/2026

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 26 Jun 2026

Đại tá Thinh Nguyen, Không quân Hoàng Gia Canada (hình của instagram.com).

Đại tá Thinh Nguyen là một kỹ sư cao cấp hàng không vũ trụ trong Lực lượng vũ trang Canada (CAF), ông nổi tiếng với khả năng chỉ huy sâu rộng và binh nghiệp xuất sắc trong các Phi đoàn phi cơ vận tải, phi cơ chiến đấu và hàng không chiến thuật. Binh nghiệp của ông được đánh dấu bằng một loạt các vị trí chỉ huy và tham mưu nổi bật, bao gồm: Chỉ huy trưởng, Học viện Không quân Hoàng Gia Canada (RCAF) tại Borden; Giám đốc hàng không chiến thuật và mô phỏng, cũng như kinh nghiệm quản lý hệ thống vũ khí cho nhiều Phi đoàn phi cơ; Ông từng là Sĩ quan điều hành, giám sát tại Trung tâm chỉ huy Bộ Tư lệnh phòng không Bắc Mỹ (NORAD).

Ngoài hoạt động các nhiệm vụ kỹ thuật Không quân, Đại tá Thinh Nguyen còn là một Sĩ quan có trình độ học vấn cao, ông hoàn tất Văn bằng Cao học MBA tài chánh và Văn bằng Cao học nghiên cứu quốc phòng. Ông cũng là một vận động viên cầu lông giỏi, đã giành được nhiều chức vô địch của CAF. Ông đã lập gia đình, 2 người con cũng đang phục vụ trong Lực lượng quân sự Canada.

Huy hiệu Không quân Hoàng gia Canada của wikimedia.org

Không quân Hoàng Gia Canada (RCAF); tiếng Pháp: Aviation Royale Canadienne – ARC, là Lực lượng Không quân và Vũ trụ Canada, cung cấp cho Lực lượng quân sự Canada sức mạnh Không quân phù hợp, đáp ứng và hiệu quả. Là một trong ba Bộ Tư lệnh chính của Lực lượng vũ trang Canada thống nhất, hai Bộ Tư lệnh khác là, Bộ Tư lệnh Hải quân Hoàng Gia Canada và Bộ tư lệnh Lục quân Canada. Tính đến năm 2020, quân số Không quân Hoàng gia Canada bao gồm: 12.074 Sị quan, Hạ sĩ quan và Binh sĩ hiện dịch, và 1.969 Sị quan, Hạ sĩ quan và Binh sĩ trừ bị, được hỗ trợ bởi 1.518 nhân viên dân sự. RCAF vận hành 258 phi cơ các loại. Không quân Hoàng Gia Canada chịu trách nhiệm về tất cả các hoạt động hàng không trong Lực lượng vũ trang Canada, giữ an ninh không phận Canada và cung cấp phi cơ để yểm trợ các nhiệm vụ của Hải quân Hoàng gia Canada và Lục quân Canada. RCAF là đối tác với Không quân Hoa Kỳ trong việc bảo vệ không phận lục địa theo Bộ Tư lệnh Phòng không Bắc Mỹ (NORAD). RCAF cũng cung cấp tất cả các nguồn lực hàng không chính và chịu trách nhiệm về Chương trình tìm kiếm và cứu hộ Quốc gia. Không quân Hoàng gia Canada đã tham gia Chiến tranh Đệ nhị thế chiến, Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh vùng Vịnh Ba Tư, cũng như một số nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc và các hoạt động của NATO. RCAF là thành viên của khối NATO.

Sĩ quan Không quân Hoàng Gia Canada gốc Việt ngoài Đại tá Thinh Nguyen là Sĩ quan cao cấp nhất, còn có một số vị Sĩ quan khác được ghi nhân bao gồm: Thiếu tá David Hoang, Sĩ quan tham mưu, Không đoàn 7, Không quân Hoàng Gia Canada; Nữ Đại úy Latashya Truong, Sĩ quan chuyên nghiệp, quản lý và huấn luyện, Không quân Hoàng Gia Canada; Nữ Đại úy Kathleen Nguyen, Sĩ quan quân y Bệnh viện dã chiến số 1 Không quân Hoàng Gia Canada; Nữ Trung uý Joyce Dinh, Sĩ quan hành quân, Không quân Hoàng Gia Canada. Và còn rất nhiều Sị quan gốc Việt khác đang phuc vụ các ngành trong Không quân Hoàng Gia Canada.

Nguồn: instagram.com; facebook.com/441Wing; wikimedia.org

Chân dung nào để lại

Hoàng Kao music

Post by Sơn râu 25 Jun 2026

Trong nghĩa trang chiều có người lính đến từ biệt bạn mình

Có người lính trong chiều tàn lặng lẽ

Đến nghĩa trang từ biệt bạn mình

Chiếc nón sắt trên nấm mồ hoen rĩ

Lỗ đạn đồng cỏ đã lên xanh

Người bạn xưa nằm trong lòng đất

Chân dung nào gửi lại đời sau

Tiếng lá cỏ thì thầm trong nón sắt

Chờ đêm về đi hỏi vạn vì sao

Bạn đã về vùng năm chiến thuật

Ở một nơi không có bom mìn

Không còn tiếng rotor gầm rú

Cơn bão càn qua dưới chiến hào

Người lính cũ qua màu hương khói

Lời điếu văn vọng lại ngàn xưa

Đường chinh chiến bạn không bước nửa

Súng im hơi hón sắt bỏ quên đời

Bạn đã về vùng năm chiến thuật

Ở một nơi không có bom mìn

Không còn tiếng rotor gầm rú

Cơn bão càn qua dưới chiến hào

Giãi đất này bao người nằm lại

Không mộ bia không cả tuổi tên

Bao tử sĩ lá rừng đắp mộ

Gió mưa đau giã mãnh xương tàn

Có người lính mắt buồn vô tận

Chiều nghĩa trang sương khói lên đầy

Người lính cũ đưa tay ngang trán

Nghiêm cẩn chào chiến hữu ngày xưa

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 25 Jun 2026

Gặp gỡ lần đầu tiên với nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, hình ảnh cô gái này không đem lại cho chúng ta một ấn tượng gì đặc biệt. Theo tôi đó là một cô gái trẻ trung còn trẻ so với tuổi (cô sinh năm 1960,) hiền lành, coi bộ nhút nhát, mặt thì buồn rười rượi và có lẽ trong một lúc nào đó, bị phật ý, như một đứa trẻ được nuông chiều, sẽ bật khóc cũng nên!

Nhưng không, sau bề ngoài đó, ít ai tưởng tượng ra nổi Trần Khai Thanh Thủy là một cộ gái can trường, tuy tay yếu chân mềm, nhưng như một bậc anh thư trước thời loạn, biết dùng ngòi bút để chống lại bạo quyền, bị đánh dập, tra khảo, bị tù đày nhiều năm, chưa hết trên tinh thần còn bị lăng nhục, bôi nhọ, bị đổ phân vào nhà, bị khóa trái nhà không cho ra ngoài. Đẹp đẽ cho dân tộc chúng ta biết bao nhiêu, cũng với hình ảnh dịu dàng yếu đuối đó, ở trong thời đại nhiễu nhương của Việt Nam hôm nay, chúng ta có bao nhiêu bậc nữ nhi khí tiết như: Lê Thị Công Nhân, Đỗ Minh Hạnh, Nguyễn Phưong Uyên, Tạ Phong Tần, Hồ thị Bích Khương, Bùi thị Minh Hằng, Phạm Thanh Nghiên, HuỳnhThục Vi … bao nhiêu người nữ dân oan chống bạo quyền, nằm đường ngủ chợ, chấp nhận bị bao nhiêu oan khuất, bị hành hung, mạ ly, vu oan để cất cao tiếng nói cho quyền làm con người mà những trang giấy này ghi không hết. Cá nhân tôi, cũng như một số lớn người ở hải ngoại, nhiều khi tham dự được một cuộc biểu tình, viết được dăm ba bài báo chửi cộng sản, đã nghĩ mình là người chống Cộng ghê gớm, nhưng buổi tối về vẫn có giấc ngủ yên không sợ bị ai đập cửa, không bị ai chận đường lăng mạ, đạp vào xe gắn máy mình đang lái, mà vẫn ngồi trong xe hơi, ở nhà có máy điều hoà không khí, quả cảm thấy hổ thẹn, khi đứng trước những người đã dám đứng lên tranh đấu trong nhà tù lớn, dưới mạng lưới công an và côn đồ chìm nổi dày đặc, với những nhà tù từ xã ấp tới quân ly, với những thủ đoạn đê tiện, chịu bao nhiêu cảnh đớn đau thể xác và tinh thần. Chỉ vì một bài hát yêu nước, Việt Khang chịu cảnh tù tội, gia đình bị làm khó dễ, vợ và con nhỏ lên bốn tuổi nheo nhóc. Đỗ Thị Minh Hạnh, trong sáng như một mảnh trăng rằm, đã bị đưa đi nhiều nhà tù từ Lâm Đồng đến Trà Vinh, Long An, Bình Thuận, Đồng Nai … với bà mẹ lận đận chạy theo con, qua các nhà tù, suốt chặng đường gian khổ. Đang sống trong tự do, no đủ, chăn ấm nệm êm, làm sao chúng ta có thể tưởng tượng ra nỗi những đau đớn, tủi nhục của những người đang chịu cảnh đày đoạ.

Nhưng câu hỏi ám ảnh và dày vò chúng ta lâu nay, đặt ra mà không ai có can đảm trả lời? Hải ngoại đã có bao nhiêu bài báo, bao nhiêu cuộc phỏng vấn, bao nhiêu bản nhạc bài thơ, bao nhiêu lần thắpnến cho những nhà tranh đấu, nhưng chúng ta đã tiếp đón những người này với thái độ như thế nào, khi họ ra hải ngoại, được hít thở bầu không khí tự do như chúng ta? Thay vì một vòng hoa tri ân, chúng ta gửi đến họ những quả trứng thối! Họ đây là: Hoàng Minh Chính, Nguyễn Chính Kết, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Chí Thiện … và giờ đây một người đang có mặt trong căn phòng này là nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ.

Đây là một người đang ở tù, thì Ngoại trưởng Hillary Clinton đã cầm lá thư có 19 chữ ký của các dân biểu Hoa Kỳ, trong đó có bà Lora Sanchez, can thiệp với CSVN và bức thư kêu gọi có 30,000 chữ ký của đồng bào hải ngoại chúng ta. Trần Khải Thanh Thủy được đưa từ nhà tù ra sân bay Nội Bài, với sự đồng hành yểm trợ của Bí thư Thứ Nhất Toà Đại Sứ Mỹ là Christian Merchant nhân dịp ông mãn nhiệm kỳ hồi hương. Nhà Văn Trần Khải Thanh Thuỷ là hội viên danh dự của Văn Bút Quốc Tế, là 45 người của 22 quốc gia được nhận giải Hellman/ Hammett Grants. Vậy mà chúng ta, những người nhân danh là những người Việt Tự Do chống Cộng ở hải ngoại đã đón tiếp những nhà tranh đấu cho dân chủ từ trong nước ra như thế nào?

Quả là chúng ta văn minh hơn CS, chúng ta không có phân người, dầu cặn, không có roi diện, dùi cui để làm họ đau đớn phần thể xác, nhưng chúng ta làm cho họ đau đớn tinh thần bằng dư luận, qua báo chí qua internet. Chúng ta đón họ với những bài báo dè bĩu, tung lên mạng những lời lẽ vu cáo, lăng mạ, đặt điều, để cách ly họ ra với cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện người đã bị chính quyền Cộng Sản đày doạ trong suốt 27 năm chỉ vì những bài thơ chống đảng, vừa ra nước đã nhận cả một chiến dịch bôi nhọ là Nguyễn Chí Thiện giả, Nguyễn Chí Thiện ăn cắp thơ, Nguyễn Chí Thiện “mở động đĩ!” Nguyễn Chính Kết bị kết tội “đối lập cuội,” “dân chủ cuội,” được công an dễ dàng cho ra đi. Trần Khải Thanh Thủy bị cô lập, ném đá ngay từ đầu khi cô nhận mình là …Việt Tân!

Tệ hại hơn nữa là có những người tự xưng là “làm văn hoá” ở hải ngoại này, đã không phải một, mà hơn một lần, tìm kiếm lợi nhuận trên những tác phẩm trí tuệ của những người đã có công tranh đấu, hy sinh cho quyền làm người, mới thoát cảnh tù đày này. Nhà Văn Trần Khải Thanh Thuỷ, dù đã đến Mỹ được hai năm, trong giai đoạn chân ướt chân ráo, gia đình đang sống nhờ sự cưu mang của nước Mỹ, không có việc làm, hai con còn đi học, chồng mới đoàn tụ, đang đi học nghề tóc! Chúng ta còn tin tưởng gì ở sự lương hảo của những người tự xưng là làm văn hóa, hay phát huy văn hoá dân tộc ở ngay trong cộng đồng người Việt chúng ta.

Những người chống Cộng ở hải ngoại đối với những người chống Cộng từ trong nước ra, với chúng ta như thế sao?

Nhiều người cho rằng việc đánh phá những người tranh đấu từ trong nước khi ra hải ngoại là chủ trương của Cộng Sản, nhưng tham gia công việc “giết người chẳng lọ gươm dao” này hôm nay lại là những người thường vỗ ngực cho mình là người chống Cộng. Câu hỏi đã làm ám ảnh tôi: Rồi đây, nếu Lê Thị Công Nhân, Việt Khang, Đỗ Minh Hạnh, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày … những người chúng ta đang ca tụng, hoan hô hôm nay, được ra nước ngoài, số phận của họ có khác gì ông Nguyễn Chính Kết, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và cô Trần Khải Thanh Thuỷ đang chịu hôm nay không? Đó là hình ảnh một miếng thịt tươi được vứt xuống một hầm cá sấu và chính quyền cộng sản trong nước luôn luôn tìm cách đẩy họ ra khỏi nước để nhờ tay người khác giết họ để khỏi bị mang tiếng là đao phủ thủ!

Phải chăng đã có những nhà tranh đấu lưu vong, bỏ nước ra đi đã hối hận, mà con đường quay trở về là khôngthể! Như vậy phải chăng thái độ BS Nguyễn Đan Quế khi từ chối ra hải ngoại là một thái độ khôn ngoan?

Chúng ta làm gì để xoá bỏ được thái độ vừa vô ơn, độc ác, vừa tiếp tay cho bọn sát thủ ở trong nước như trong những trường hợp đã nêu trên?

Người Kinh Kha về

Hoàng Kao Music

Bao tóc xanh sẽ như màu cây cỏ

Hay thành những đàn đom đóm bay

Hay là sẽ hóa thành ngọn gió

Về quê hương có ghé thăm nhà

Tao vác mày đi giữa chiến trường

Khi mà tiếng sùng nổ sau lưng

Mày nằm sóng xoãi tay buông thỏng

Từng dòng máu rỉ ướt qua tao

Mày sẽ không bao giờ dậy nữa

Chẳng còn than mệt lúc hành quân

Chẳng còn về phép vào quán nhậu

Chia nhau đồng lương lính cuối cùng

Rồi mày sẽ được về với mẹ

Thăm quê nhà rồi ra nghĩa trang

Nơi đó bao bạn bè yên nghỉ

Quay quần chiến hữu chắc là vui

Mày chẳng phải còn ăn gạo sấy

Uống vũng nước mưa trên lá cây

Đêm nằm nghe muỗi rừng thổi sáo.

Rờn rợn bên tai tiếng tử thần

Rồi mày sẽ được về với mẹ

Thăm quê nhà rồi ra nghĩa trang

Nơi đó bao bạn bè yên nghỉ

Quay quần chiến hữu chắc là vui

Chỉ một lần thôi về thăm lại

Mái nhà xưa với mẹ chờ con

Với bầy em nhỏ còn thơ dại

Đã biết buồn khi vắng bóng mày

Tao vác mày đi

Mày không nằm mà trong long

Tao nặng nỗi sầu

Lòng không xát muối mà đau đớn

Buồn nào hơn những cảnh sinh ly

Lòng không xát muối mà đau đớn

Buồn nào hơn khi vác bạn về

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 24 Jun 2026

Vợ chưa mua thuốc xổ. Tôi bắt lại được khâu vàng, sau một tuần lẩn trốn trong bụng. Một chị đấm bóp tình nguyện dẫn chúng tôi đi bán vàng. Dĩ nhiên, sự cám ơn phải thể hiện bằng tiền. Chị lại hướng dẫn chúng tôi ra vùng ngoại ô thành phố, mướn một căn lều bằng lá. Một căn lều theo đúng nghĩa đích thực của nó, nhưng chúng tôi gọi là căn nhà cho đỡ tủi thân. Mái nhà lợp bằng lá mía, chung quanh che chắn bằng liếp tre đan thưa thớt. Chiều sâu căn nhà quá ngắn, nhưng chiều ngang lại quá dài. Nghe nói, trước đây người chủ của nó dùng làm chuồng nuôi gà công nghiệp. Nhưng gà chết toi nhiều quá, nên dẹp luôn. Chuồng bỏ trống. Phía sau nhà còn chất đầy những chiếc lồng gà cũ. Có được một chỗ trú mưa che nắng là tốt rồi. Tôi ra sức quét dọn tẩy uế cả ngày, trông cũng mát mắt. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc tạo điều kiện đời sống. Mua chăn màn nơi sạp bán đồ cũ. Mua chén dĩa, vài cái nồi nấu ăn, thêm chiếc nồi lớn dùng hấp xôi. Vợ tôi chọn nghề bán xôi làm kế sinh nhai. Cái nghề ít vốn, thích hợp với hoàn cảnh, tiện lợi cho việc ăn uống. Xôi bán không hết, vợ chồng con cái ăn xôi trừ cơm. Đỡ phí của trời!

Sáng sớm. Tôi gánh xôi vào thành phố. Vợ ngồi bên lề bán cho khách qua đường. Người mua kẻ bán nói với nhau bằng ngôn ngữ đôi tay. Miệng ú ớ không nên lời. Đôi khi ngớ ngẩn đến buồn cười. Mấy ngày sau, tôi nghĩ ra một sáng kiến. Nhờ người viết tấm bảng bảng liệt kê giá cả bằng tiếng Miên. Gói nhỏ một đồng. Gói vừa hai đồng. Gói lớn ba đồng. Người mua giơ ngón tay chỉ vào một trong ba hàng chữ ấy. Dễ dàng cho cả đôi bên. Con tôi cũng tích cực góp phần vào sinh kế. Nó bưng cái mâm có những nắm xôi đã gói sẵn, bán dạo theo các tiệm cà phê. Nó biết nở nụ cười mời khách. Có người không muốn ăn xôi, nhưng thấy nó lí nhí nói cái thứ tiếng chẳng ai nghe được và cười hoài, người ta cũng mua. Mặt nó vui hẳn lên, mỗi lần bán được gói xôi. Mười hai tuổi, lăn vào chốn mưu sinh, nó hiểu thế nào là giá trị của những đồng tiền. Còn tôi, đứng xớ rớ không biết làm gì. Lòng bứt rứt không yên. Tôi lang thang tới bến xe đò, xin làm phu khuân vác. Ở ngoài nhìn vào, cứ tưởng vai u thịt bắp là được việc. Nhưng không. Còn một điều kiện khác nữa, và đây mới là điều kiện cần thiết. Muốn có việc, phải giành mối. Trên đường đời, tôi thiếu bon chen, tay chân cò vạc lại vụng về xốc vác, nên chẳng ai thèm mướn.

Chiều về, tôi nằm trên chiếc võng đưa qua đưa lại, buồn bã rời rã. Nhìn vợ con lu bu chuẩn bị cho nồi xôi ngày mai, tôi thấy rõ ràng mình đang sống bám trên hai chiếc lưng gầy gò yếu đuối. Giận mình bất tài vô tướng. Buồn giận quá, đâm ra quẫn trí. Tôi thù bọn chính quyền của quê tôi, thù bà thiếu tá giáo sư ở Nha Trang, thù bọn thằng Nu ở Miên. Từ đó, tôi ghét lây đến cả người đời. Sau những bản mặt hiền từ, họ còn giấu biết bao điều tàn ác bất lương. Những kẻ giả danh, mặt người dạ thú. Trong uất hận, tôi tưởng tượng mình có đủ quyền uy để làm như một Néron ngồi uống rượu, xem lửa đốt thành La Mã. Hay một Tần Thủy Hoàng lùa thiên hạ xuống hầm sâu chôn sống.

Tính tình tôi trở nên bẳn gắt. Con tôi sợ hãi người cha lầm lì dữ tợn. Nó đâu biết trong sâu thẳm cõi lòng, tôi thương và tội nghiệp nó đến nhàu nát ruột gan. Hoàn cảnh khó khăn, nó không được đến trường. Đêm đêm, dưới ngọn đèn dầu, tôi dạy nó về những kiến thức nhà trường. Cố nhồi nhét vô đầu nó những con số toán học. Nó quờ quạng với những ẩn số x, y. Tôi cú đầu nó, và la hét ầm lên. Nó hoảng. Càng hoảng, càng không lãnh hội được gì.

Vợ nói: “Anh dạy học với thái độ của nhân viên phòng tra tấn.”

Nghĩ lại, tôi thấy mình quá nóng tính. Tôi không thể làm thầy, dù là thầy của con mình. Tôi tuyên bố không làm gia sư nữa. Con tôi mừng.

Vợ lại nói: “Suy nghĩ nhiều, coi chừng điên đấy. Phải làm việc gì cho khuây khỏa.”

“Việc gì? Khuân vác cũng không ai mướn.”

“Không làm mướn cho ai cả. Anh đủ sức vác bao bánh mì không?”

“Dư sức.”

“Được rồi. Anh vác bao bánh mì đi bán dạo theo các xe đò đậu dài dài trên đường Thu Mút, gần chỗ em bán xôi.”

“Em có lý. Xôi bán ế, ăn hoài nhợn lên tới cổ họng. Bây giờ thêm bánh mì ế nữa. Mình có thể thay đổi món ăn. Một bữa ăn bánh mì, một bữa ăn xôi.”

Thế là từ đó trở đi, tôi làm người bán bánh mì dạo. Sau khi gánh xôi vào thành phố cho vợ ngồi bán, tôi lội bộ ba cây số tới lò bánh mì, vác một bao trở lại đường Thu Mút. Tôi rảo theo những chiếc xe đò, cầm ổ bánh mì chìa ra trước mặt khách trên xe. Tôi mời họ mua, bằng cách kêu “bòn, bòn”, và gật gật cái đầu.

Ngày đầu tiên, bán được nửa bao bánh mì. Còn nửa bao, tôi vác về. Vợ chồng con cái ngồi ăn bánh mì, cười hỉ hả.

Con tôi nói: “Ăn bánh mì chấm nước mắm, ngon hơn ăn xôi với đường.”

Tôi hỏi: “Con chịu ăn hoài như thế này không?”

“Con chịu. Nếu cho con thêm chút thịt thì ngon hơn.”

Câu nói của con làm lòng tôi đau nhói. Nó cần thịt, nhưng từ lâu chúng tôi đâu dám tốn kém vì loại thực phẩm cao cấp này.

Buổi tối, tôi nói với vợ, dù buôn bán được hay không cũng mua cho con miếng thịt. Vợ nói, đã nghĩ điều đó rồi.

Hôm sau, tôi vác nửa bao bánh mì cũ đi bán nữa. Khách cầm ổ bánh bóp thử, rồi trả về. Tôi cố gỡ gạc tiền vốn, chỉ bán hai phần ba giá, nhưng người ta cũng từ chối. Không ai chịu mua một ổ bánh mì cứng đơ như khúc củi.

Hôm ấy, nửa bao bánh mì cũ còn nguyên. Tôi muốn bỏ nghề.

Vợ khuyên: “Mới thua keo đầu, không đáng ngại. Thử thời vận thêm vài bữa xem sao?”

“Ừ, thì thử. Nhưng cái vốn của mình, đủ sức bù lỗ không?”

“Em còn đủ sức chịu lỗ mười ngày như thế. Hồi còn ở Việt Nam, có người chỉ cho em cách làm bánh mì cũ, trở thành bánh mì nóng giòn. Em sẽ thử.”

Trong khi chúng tôi bàn chuyện, con tôi ăn bánh mì cũ với thịt heo ram mặn.

Nó nói: “Thịt heo Kampuchia, ngon hơn thịt heo xứ mình.”

Tôi hiểu ngay rằng, vì quá thiếu thốn mà nó thấy ngon đó thôi.

Những ngày sau, tôi tiếp tục đi bán bánh mì. Công việc quen dần, tôi rút được nhiều kinh nghiệm mời khách. Làm ăn có khá hơn. Tuy thế, ngày nào cũng còn dư bánh mì đem về. Vợ tôi thoa nhẹ một lớp nước mỏng lên ổ bánh, và ủ qua đêm trong cái bao nylon. Buổi sáng, đem ra hơ trên lửa than. Bánh mì cũ lại trở thành bánh mì nóng giòn!

Chuyện buôn bán cũng đủ cho gia đình sống lây lất qua ngày. Dù vất vả nhưng không bi thảm như lúc đầu. Đêm, tôi nằm hút thuốc trên chiếc võng đưa cọt kẹt. Vợ con tôi lo hấp xôi. Con tôi ríu rít kể chuyện. Có người ăn một lần đến ba gói xôi. Có người ăn xong, còn mua vài gói đem về nhà. Cũng có người chỉ ăn nửa gói, còn nửa gói chê dở, trả và đòi tiền lại.

“Rồi con có trả lại tiền không?” Vợ tôi hỏi.

Nó cười: “Không. Con bỏ chạy.”

Vợ nói: “Lần sau, nếu gặp người như thế nữa, con trả lại tiền cho người ta.”

“Nhưng họ ăn hết nửa gói rồi.”

“Thì trả lại tiền nửa gói.”

Nó vẫn cương quyết: “Không trả. Gói xôi ăn lỡ dở, thì còn bán cho ai được nữa?”

Trong câu chuyện, thường nó khoe học được nhiều tiếng Miên. Nó dạy cho vợ chồng tôi đếm số. Và điều này, cũng cần thiết cho chúng tôi trong giao dịch buôn bán hằng ngày. Không khí gia đình tương đối dễ thở, nhưng láng giềng có điều rắc rối.

Xóm nhà lá tôi ở, toàn là gia đình nghèo người Miên. Cuối xóm, có một nhà người Việt, nhưng tôi cũng không gần gũi tiếp xúc. Qua bao nhiêu cạm bẫy cung ná, tôi nghi ngờ sự thân thiện của người đời. Chúng tôi sống âm thầm khép kín. Tránh động chạm làm mất lòng những người chung quanh. Tuy thế, một hôm bà Miên gần nhà, chỉ trỏ qua nhà tôi và la ầm lên. Tôi đứng bên này cười, dù không hiểu lý do. Nụ cười không đúng lúc, bà tưởng tôi khiêu khích. Bà gầm thét, ném khúc gỗ sang tôi. Tôi né tránh, không phản ứng. Loại người vô giáo dục, thường rất đanh đá chanh chua.

Lúc đó, có anh người Việt nhà cuối xóm đi ngang, thấy vậy đứng lại nhìn. Tôi nhờ anh ta hỏi xem bà có chuyện gì? Sau khi hỏi, anh cho biết bả chửi vì tôi quăng cứt qua nhà bả.

Tôi nói: “Tôi không làm chuyện dơ bẩn đó.”

Bà Miên không tin, cho rằng chỉ có thằng Việt Nam xấu xa mới chơi kiểu mất dạy như thế. Bà còn dọa, coi chừng bà đốt nhà tôi.

Sau hôm ấy, hai nhà hai bên quét rác đùa qua sân nhà tôi. Hành vi kiếm cớ gây sự. Tôi chẳng nói gì. Trò bỉ ổi tiếp diễn mỗi ngày. Cái sân thành nơi đổ rác. Kệ mẹ nó! Nói tới nói lui, ngôn ngữ bất đồng dễ thành lớn chuyện. Im lặng là một cách tỏ lòng khinh bỉ. Tôi cũng đâu cần ăn đời ở kiếp nơi cái xóm nhà lá khốn nạn này. Lúc nào đầu óc tôi cũng nghĩ chuyện ra đi. Tôi như co chim chỉ đậu tạm qua đêm. Rồi bình minh sẽ đến, và tôi sẽ bay đi thật xa.

Mỗi ngày, tôi lội bộ đi và về sáu cây số để lấy bánh mì từ lò nướng. Vợ tôi bàn, nên sắm chiếc xe đạp, giúp đôi chân đỡ mỏi đường xa. Tôi mua chiếc xe cũ trành, với giá rẻ mạt. Xe không thắng, không chuông, không đèn, không vè. Chiếc xe trần trụi đơn sơ đến mức, nếu bỏ bớt một bộ phận nào đó, thì không chạy được. Chẳng ai động động lòng tham với chiếc xe thổ tả này, tôi nghĩ thế. Tôi thường dựng xe nơi góc phố. Đúng năm ngày sau, chiếc xe bị cuỗm mất. Đây cũng là bài học dạy cho tôi biết rằng, bản chất con người là tham ác gian manh. Họ không từ nan bất cứ một thứ gì. Kể cả những vật nhỏ nhoi như cây kim sợi chỉ, cũng dấy lên trong đầu họ ý muốn chiếm đoạt. Từ nghìn xưa, Phật và Chúa đã biết thế, nên chiêu dụ con người ăn ở hiền lành thì được lên Niết Bàn của Phật, hay Thiên Đàng của Chúa. Nhưng người đời thực tế lắm. Họ không thả mồi bắt bóng. Niết Bàn hay Thiên Đàng là ảo ảnh. Của cải trên thế gian là hiện thực. Chiếc xe đạp trành của tôi, dù không béo bở, nhưng rõ ràng nó là một miếng mồi hiện thực, có thể nhá được. Đừng ai đem địa ngục kinh khiếp mà dọa chúng sinh. Ngay chốn trần gian này, đã là địa ngục rồi. Có ai sợ đâu?

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 24 Jun 2026

Một tác giả sau khi hoàn tất tác phẩm, in thành sách xong, có lẽ việc đầu tiên ai cũng phải nghĩ đến là đem tặng tác phẩm của mình cho người khác. Đó là nói chuyện thơ văn có thể ấn hành ra số lớn, còn như trường hợp, hội hoạ, điêu khắc, việc san sẽ có lẽ khó khăn hơn vì tác phẩm chỉ có độc bản, nếu người nghệ sĩ làm nên nhiều phiên bản, thì tác phẩm không còn giá trị gì nữa. Cái dễ và cái khó của một tác phầm văn chương. khảo cứu sau khi ra đời là ở chỗ đó. Sau khi chở sách về nhà, trước khi giao cho nhà sách hay nhà phát hành, tác giả sẽ tặng sách cho những ai? Những người thân yêu trong gia đình hay những người chúng ta vẫn thường gặp gỡ mỗi ngày. Những người viết sách nên hiểu cho một chân lý muôn đời, chỉ người bỏ tiền ra mua sách mới thực sự là người đọc sách! Một nhà văn đã có lời khuyên đồng nghiệp một lời khuyên có tính cách khẳng định, đó là “chỉ tặng sách cho những ai không thể không tặng!” Nhưng những ai là người “không thể không tặng” như lời khuyên quí báu này? Ông anh rễ, cô em dâu là người gần gũi trong gia đình, đã biết rõ sinh hoạt của người viết sách, không lẽ làm lơ không tặng sách. Một người bạn cũ vẫn thường giao du, đi lại thăm hỏi, không lẽ dấu chuyện mình vừa in xong một cuốn sách, dầu đó là tác phẩm đầu tiên hay tác phầm thứ mấy mươi đi nữa. Thường thì tác già không hẹp lòng vì một cuốn sách mà ấn phí không đáng là bao nhiêu, nhưng tác giả sẽ vui hơn khi thấy người được tặng sách thích sách và sẽ bỏ thời giờ ra đọc cuốn sách này, dù sớm hay muộn. Tôi đem một cuốn sách đến tặng một người bạn thân tại  sở làm của anh, ba tháng sau khi trở lại, tôi nhận ra cuốn sách vẫn nằm trang trọng, ngăn nắp trong chiếc tủ để cạnh bàn giấy, có lẽ chưa một lần có dấu tay của người bạn cũ mà tôi quý mến, lật ra những trang sách mà tôi đã viết lên những đêm khó ngủ. Tôi sẽ rất vui, khi thấy tác phẩm của mình nằm lăn lóc, góc sách quăn queo ở phòng khách của bạn, hoặc giả là ngay ở trong nhà cầu của bạn cũng chẵng sao, mà lại lả một điều tốt lành, chứng tỏ bạn đã có lần nghĩ đến tôi, vui buồn cùng tôi, trong những giờ phút “khó khăn” hay “thỏa mãn” nhất của bạn. Đó mới gọi là tri âm, tri kỷ. Có nhiều tác giả chủ trương, ngay cả anh chị em ruột trong gia đình, ông bà nhạc gia. chú bác, bạn bè thân thiết, ân nhân, nếu biết những người đó ít đọc sách, hoặc không có thì giờ đọc sách, thì cũng nhất định không tặng. Điều này nghe ra dễ nhưng khó thực hành. Tôi cũng đã tặng sách cho những người “không thể không tặng.” Chẳng hạn đó là một ông chủ báo mà tôi có thể nhờ đăng mấy dòng giới thiệu về cuốn sách, mặc dầu tôi biết ông lạnh lùng và khó tính, Tôi với ông không thân thiết, nhưng hai bên đều có biết đến nhau. Cẩn thận tôi đã đích thân đem sách dến tòa soạn, nhờ cô thư ký thân tín của ông trao lại. Hai tuần sau, tình cờ tôi gặp ông ở ngay quầy tiếp khách của tờ báo ông, Hình như ông không nhớ tôi là ai, vẫn cái mặt lạnh như tiền. Lỡ bước, tôi đành hòi một câu đáng lẽ không nên hòi:

– “Ông có nhận được cuốn sách tôi gửi cho ông không?” Mặt ông có vẻ suy tư, mơ màng, phải một lúc lâu lắm, ông mới trả lời nhát gừng: -“Hình như có!”

Một người “không thể không tặng” khác là một người bạn cũ hiện có phòng mạch ở khu Bolsa, chúng tôi không thân nhiều, nhưng dã nhiều lần lui tới trị bệnh. Mặc dầu đã thanh thỏa bằng bảo hiểm, không nợ nần gì, nhưng hôm đó nhân tiện vừa ở quán phở ra, lòng đang vui, nghĩ đến ông bạn, ghé qua tặng cuốn sách mới in xong làm quà. Khi cầm lấy cuốn sách từ tay tôi; việc đầu tiên là ông lật xem cái bìa sau, tôi tưởng ông muốn xem hình tác giả, nhưng đôi mắt ông lướt xuống phía dưới, ở chỗ có in giá tiền. Ông ngần ngừ, rồi hình như muốn sờ vào tủi sau, nhưng một điều gì đó, làm ông dừng lại. Nói thì lâu nhưng sự việc diễn ra rất nhanh cho trong mấy giây dồng hồ, thời gian ông đang tần ngần thì tôi đâ lên xe giông mất, quên cả chào ông. Nhiều người nghĩ tác giả đem sách tặng cho mình là muốn bán sách lấy tiền và dã có những thái độ thiếu tế nhị, coi thường tác giả. Cũng may con số này không nhiều. Thêm một người “không thể không tặng” là ông chủ bán bảo hiểm xe hơi cho tôi, tôi vẫn gặp ông hằng năm cũng như ông biết tôi khá nhiều. Lúc tặng sách, ông nhận sách rất lịch sự niềm nỡ, kiểu lịch sự của một “saleman,” nhưng sau đó vài tháng khi ông muốn lấy cảm tình với tôi, qua câu chuyện nhắc đến tên cuốn sách của tôi, thay vì “Nước Mỹ Lạnh Lùng” thì ông nói “Người Mỹ Lạ Lùng.” Một người “không thể không tặng” nữa là một ông nhà văn “lừng danh” cả trước lẫn sau năm 1975 tôi nghĩ tặng sách cho ông là công nhận ông là người có công với văn học và nhắn với ông, chúng tôi là những người đang cố gang mon men, nối tiếp con đường ông đã đi. Thật lòng vì quý mến ông chứ không phải để xin một lời “phán,” Cuốn sách rơi xuống giếng sâu không nghe một âm thanh phản hồi. Ông vẫn thường có thái độ “mục hạ vô nhân” như vậy. Chỉ có dứa nào dại mới xếp ông vào những người “không thệ không tặng.”

Từ đó tội mội thấy mình dại vì nghe lời nhà văn “chỉ tặng sách cho những ai không thể không tặng!” hay là ẩn ý của nhà văn này là đem sách về tặng vợ, người chia xẻ ngọt bùi với mình trong suốt cả một đời người, người mà tất cả những nhà văn trên thế gian này chắc phải đồng ý là “không thể không tặng.” Vậy mà lúc hí hửng, mang đứa con đầu lòng đang quấn trong tấm khăn lông, ở nhà hộ sinh mới ra, thi cái người “không thể không tặng” này nói một câu nghe nghe cụt cả hứng: “Lại in sách! Anh chỉ lo chuyện tào lao, nhớ dọn đống sách trong nhà xe, cho con nó đem xe vào, kẻo buổi sáng trời lạnh đưa thằng nhỏ đi học tội nghiệp!

Hồn ma biên giới

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 23 Jun 2026

Những bóng cọp núi rừng biên giới

Như ma hời tan giữa ngàn sâu

Bao con người không tên không tuổi

Chết giữa rừng không tuổi không tên

Họ là những bóng ma biên giới

Không thân nhân cũng chẳng bạn bè

Không địa chỉ không nơi thường trú

Không số quân cũng chẳng thẻ bài

Kinh Kha đi không màng sinh tử

Sống vô danh tử cũng vô danh

Mỗi nhiệm vụ mỗi lần được chết

Đời mấy ai chết được hai lần

Bao nhiêu năm núi rừng biên giới

Từ Hạ Lào, Cam Bốt, Tam Biên

Bao người hy sinh đền nợ nước

Những con người không tuổi không tên

Kinh Kha đi không màng sinh tử

Sống vô danh tử cũng vô danh

Mỗi nhiệm vụ mỗi lần được chết

Đời mấy ai chết được hai lần

Bao nhiêu năm cây rừng bóng lá

Lôi Hổ xưa còn lại mấy người

Hay từ lâu đã thành xương trắng

Lá xây thành huyệt mộ vô danh

Họ những bóng ma biên giới một thời

Có mấy người còn tuổi còn tên

Bao nhiêu người lá rừng xây mộ

SBTN Kim Nhung với người lính viết văn Phan Nhật Nam

2606-1-NQL

Post by Sơn râu 23 Jun 2026

Dẫn Nhập:

Kính thưa Quý Thính Giả, vị thế cao quý của Nước Mỹ hôm nay là kết quả của một quá trình tranh đấu, chiến đấu của nhiều Dân Tộc thuộc Liên Bang Mỹ với nhân tố quyết định là do Tập Thể Quân Lực Hoa Kỳ. Cũng thế, Quốc Gia VNCH đã có một Mùa Hè Lẫm Liệt 1972 với những Người Lính hiến thân nơi Cổ Thành Quảng Trị; Xa Cam, An Lộc, Bình Long; Đồi Charlie, Tân Cảnh, Kontum… Mời ông PNN, một Người Lính trình bày về Ngày Quân Lực 19 Tháng 6, 1965 đã xẩy ra một lần nơi Miền Nam với tập thể Quân Lực VNCH, và so sánh hôm nay qua tình hình chính trị-quân của Nước Mỹ với Người Lính Liên Bang Hoa Kỳ. Kính chào ông Pnn.

#1- KN: Nhằm để quý KTG hôm nay hình dung đủ và đúng tình hình chính trị – quân sự của Miền Nam trước lần hình thành nên Ngày Quân Lực, 19/6/1965 – Mời ông trình bày về tình hình tổng quát chính trị-quân sự nơi Miền Nam trước, vì KNS qua nhiều buổi với nhiều vị khách thuộc nhiều thế hệ, nhìều thành phần đồng thuận về một điều: Tình thế chính trị luôn là yếu tố quyết định về tình hình quân sự của tất cả lịch sử của mọi quốc gia. Miền Nam, VNCH năm 1965 không ra khỏi định luật nầy. Xin mời ông

#1-PNN: Ngày Quân Lực 19 Tháng 6, 1965 là thời điểm Quân Lực VNCH chính thức nhận nhiệm vụ Bảo Quốc –An Dân cho đến kết thúc 30 Tháng 4,1975. Trước tiên, cần nhắc lại một biến cố chính trị quan trọng đã xẩy ra trong Mùa Hè, Tháng Sáu, 1965 nơi Miền Nam.

Gần hai năm sau 1/11/1963, lần lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, tập đoàn tướng lãnh miền Nam đã chỉ lo tranh giành, củng cố quyền lực, không lưu tâm đến nhiệm vụ bảo vệ dân, giữ nước. Nắm lấy cơ hội, giới cs miền Bắc đã huy động các sư đoàn chính quy vào Nam nhằm thôn tính trọn miền Nam trong thời điểm 1964, 1965. Từ tình hình nguy nan nầy, chính phủ Mỹ, Tổng Thống Hoa Kỳ L. Johnson (có nhiều lý do chính trị-ngoại giao chiến lược toàn cầu khác) đã quyết định thực hiện chiến lược “Mở rộng Chiến Tranh VN từ sự kiện Vinh Bắc Bộ, Tháng 8/1964”, dội bom B8a1c Việt, đưa các đơn vị tác chiến bộ Mỹ vào Nam VN, trước tiên tại Đà Nẵng, 3/1965. Sự kiện nầy song hành cùng những biến động chính trị tại miền Nam trong na8m1964, 1964 chứng tỏ các chính phủ dân sự của Thủ Tướng Trần Văn Hương, Phan Huy Quát KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI TÌNH HÌNH QUÂN SỰ NGUY NGẬP ĐANG DẦN XẨY RA. (1964-1956)  

#2- KN: Nam VN là chiến trường khắc nghiệt nhất mà quân đội Mỹ đã gặp phải trong suốt lịch sử tuy mới mẻ nhưng đầy kỳ tích đáng hãnh diện của họ. Đối lại, phía cộng sản bao gồm CS Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phòng Miền Nam là những yếu tố chính trong chiến cuộc mà QLVNCH phải trực tiếp đương cự từ 20/12/1960, ngày thành lập Mặt Trận Giải Phóng MN đến 30/4/1975 kết thúc chiến dịch HCM. Mời ông nói về tình hình diễn tiến quân sự của phía cộng sản đưa tới thời điểm 1965. Một thời điểm cụ thể đã bùng nổ chiến cuộc cao nhất nơi Miền Nam?

#2- PNN: Nói câu #2. Không phải: 1/Quan niệm điểm thông tục của phía Mỹ/VN War của Lyne Novick, Ken Burns (chỉ từ 3/1965); 2/Phía CSVN: Lần thành lập MTGPMN (20/12/1960. Nhưng thực tế lich sử cho thấy là từ Hội Nghị Liễu Châu (3-5/5/1954) trước lần ký kết chia đôi chia đôi đất nước, 20/7/1964. Cụ thể hơn là nguyên nhân, diễn tiến, hậu quả của Trận Ấp Bắc, 3/1/1963. Bình Giả 12/1964. Đồng Xoài 6/1965 – Đồng Xoài, Bình Dương gây thiệt hại nặng cho phía cộng hòa. Đồng Xoài chỉ cách Sàigòn khoảng 100 cây số đường chim bay. Cụ thể hơn cả, các chính phủ dân sự (Thủ Tướng TVHương, PHQuát, NVLộc) quả tình không đủ khả năng chỉ huy, điều hành, ứng phó với hỗn loạn chính trị-nguy cơ quân sự trong những năm 1964, 1965, 1966, 1968, 1972… Và Quân Lực Cộng Hòa sau biến động Miền Trung 1966, những lần giữ nước thành công trong Mậu Thân 1968, Mùa Hè 1972, đã phải chịu tình thế bó tay thất trận chung lần tuẩn nạn với Dân Tộc tại thời điểm 30 Tháng 4, 1975. Nhưng đây không phải do sai lầm, yếu kém của quân lực ấy mà tình thế năm 1975 đã vượt khỏi trách nhiệm, khả năng, tinh thần và vật chất của QLVNCH. Nhưng đấy không là chủ đề của cuộc nói chuyện hôm nay.

#3- KN: Thưa Qúy KTG, lịch sử thế giới có những ngẫu nhiên rất cảm khích là: Nếu Mùa Hè 1965, 1972 ở Miền Nam đã có Ngày Quân Lực 19/6/1965; và những cảnh tượng hùng vĩ với Người Lính VNCH nơi Cổ Thành Quảng Trị; Xa Cam, An Lộc, Bình Long; Đồi Charlie, Tân Cảnh, Kontum… Thì cuộc đổ bộ của Liên Quân Anh-Mỹ-Gia Nã Đại lên bờ biển Normandy nước Pháp trong Ngày 6 Tháng 6, 1944 là một xác chứng rất đáng kính phục về lần hy sinh  lớn lao của Người Lính/Chủ yếu là Người Lính Mỹ – Thế nên, Ngày Memorial Day vừa qua, 25/5/2026 đã là một Ngày Trọng Đại của Lịch Sử Nước Mỹ. Mời ông nói về ngẫu nhiên lịch sử nầy.

#3- PNN: Nói câu #3 VNCH đã có một Mùa Hè Lẫm Liệt 1972 tại những nơi xa lạ không mấy ai biết bỗng chốc vang dội trong lòng Người Miền Nam yêu nước từ trước, sau 1975. Nước Mỹ với Ngày Memorial Day nhằm tưởng niệm những chiến binh thuộc Quân Lực Hoa Kỳ đã hy sinh trong cuộc đổ bộ lên bờ biển Normandi nước Pháp ngày 6/6/1944 là đỉnh cao nhất của lần hy sinh tận hiến. Chiến dịch Overlord là mật danh của một chiến dịch quân sự quy mô lớn của quân đội Đồng Minh/chủ yếu là quân lực Mỹ tại miền Bắc nước Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Đây là chiến dịch tấn công từ biển vào đất liền lớn nhất trong lịch sử, với sự góp mặt của hơn 1.200 máy bay, hơn 5.000 tàu chiến các loại và gần 160.000 binh lính Đồng Minh tham gia đổ bộ trong ngày đầu tiên, tức ngày 6 tháng 6 năm 1944, Từ ngày 6 tháng 6 tới ngày 21 tháng 8 năm 1944, quân đội Đồng Minh đã đưa tổng cộng 2.052.299 binh sĩ vào miền bắc nước Pháp. Riêng thương vong của Mỹ là 124.394 người, trong đó có 20.668 binh sĩ tử trận

#4- KN: KN xin kết thúc buổi nói chuyện hôm nay với một giả thuyết (rất có thể) nếu đã xẩy ra: Ấy là: 41/Nếu không có lần QL/VNCH nhận lãnh trách nhiệm tại Ngày Quân Lực 19/6/1975 và thất bại lần giữ nước trong Mùa Hè 1972 thì điều gì sẽ xẩy ra cho VN/Nam VN? Và 42/ Nếu Quân Đội Đồng Minh/Chủ yếu là Quân Lực Mỹ thất bại trong lần đổ bộ lên bờ biển Normandi trong Chiến Dịch Over Lord thì Châu Âu và thế giới sẽ ra sao từ 1944, 1945 kia?   

#4- PNN: Nói câu #4. Trả lời hai giả thuyết #41 và #42. Lịch sử sẽ phải được viết lại một cách trung trực, khách quan. Và bổn phận, khả năng của những Thế Hệ Thứ Nhất, Thứ Hai… của CĐ Người Việt, của Nước Mỹ và CĐ Thế giới hôm nay phải là nhân tố quyết định thế nào cho Hiện Tại và Tương Lai toàn thế giới. Giả thuyết nầy sở dĩ được nêu ra để thấy mỗi thế hệ, mỗi dân tộc luôn phải có bổ phận kính trọng PHẦN HY SINH CỦA NGƯỜI LÍNH cho dù thuộc quốc gia, chế độ nào.   

KN cám ơn Quý KTG theo dõi câu chuyện. Kính cám ơn Người Lính Pnn.

Tản mạn chiều Thu

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post 27/12/2019

Post by Sơn râu 23 Jun 2026

Anh tài xế tắc xi đón tôi trước phi trường Vigo vào lúc xế chiều và đưa tôi về khách sạn. Sau khi đưa căn cước cho cô ngồi sau quày tiếp khách xác nhận, cô đưa tôi thẻ khoá và số phòng của tầng một. Anh tài xế tắc xi coi như xong nhiện vụ, anh day qua vui vẻ bắt tay giã từ và hẹn tám giờ sáng ngày mai anh tới chở tôi xuống tàu. Tôi lên phòng tắm rửa, thay áo quần xong, rồi đi xuống, định đi ra phố. Vừa ra khỏi thang máy liền gặp một anh nhân viên khách sạn đứng trước cửa, chào tôi và lịch sự đưa hai tay, khom người ra dấu mời tôi vô phòng ăn. Đã quen với cảnh ăn búp phê, ngủ khách sạn, tôi cũng không lạ gì mấy cái khách sạn do công ty đài thọ, nếu không tự bỏ tiền túi ra thì khó mà chọn được thức ăn cho vừa miệng, biết vậy nên tôi chẳng cần hỏi họ có đặt phần ăn cho tôi không. Nhưng thấy anh nhân viên vui vẻ cười chào, tôi bèn quẹo vô xem thử, chỗ để thức ăn cũng chỉ mấy món bánh mì, bơ, mứt trái cây, đồ uống có trà, cà phê và nước trái cây. Tôi đi rảo một vòng rồi dừng lại máy pha cà phê, bỏ tiền vô bấm lấy một tách cà phê đứng uống và móc túi lấy điện thoại, nhìn đồng hồ, mới hơn bốn giờ chiều, cũng còn sớm. Tôi uống cạn tách cà phê, để tách lên bàn rồi bước ra đường.

Tôi đứng trước cửa khách sạn, mở điện thoại bấm xem bản đồ, thấy một con đường chỉ đi thẳng tới trung tâm gần hơn con đường dọc bờ sông. Tôi lưỡng lự một chút rồi quyết định men theo con đường dọc bờ sông, tuy đường hơi xa nhưng tôi thích cảnh bờ sông vì sông lúc nào cũng đẹp và ít ồn ào hơn trên đường phố, nhứt là những dòng sông nằm dưới chân núi.

Tôi có thói quen hễ mỗi lần tới một địa danh nào, thời gian rảnh tôi dành hết cho ngoài đường, đối với tôi thời gian lang thang ngoài trời là bác sĩ chữa lành mọi bịnh tật, hơn nữa đi bộ giữa thế giới tự do và không gian mở rộng cũng là bậc thầy tuyệt vời nhất về tinh thần, nó cho ta có thời gian để suy ngẫm về cuộc sống, sắp xếp lại nội tâm cho hoà hợp với cảnh đẹp hào phóng của thiên nhiên. Ở trên tàu tụi nhỏ không hiểu được ý nghĩ của tôi, chúng cho tôi là ông già hà tiện. Nhiều lần mấy đứa ngồi trong tắc xi, thấy tôi đi bộ bên đường, chúng kêu tắc xi dừng lại rồi hai đứa nhào xuống xốc nách rinh tôi nhét vô xe, muốn cho tôi đi tắc xi mà giống như cảnh sát bắt tội phạm vậy. Phần đông người trẻ ngày nay xem chuyện đi bộ là một cực hình, chúng làm việc với màn ảnh vi tính, chuyện gì cũng muốn cho mau xong. Còn đi thì như chạy và ngại con đường, đoạn đường đi bộ chừng mười lăm, hai mươi phút đối với chúng cũng đã dài lắm rồi, phải gọi tắc xi mới được.

Vigo là một thị xã ven biển thuộc vương quốc Tây Ban Nha và nằm day mặt ra Đại Tây Dương. Vào mùa thu trời chiều lành lạnh, tôi bận chiếc áo lót bên trong áo sơ mi và khoác chiếc áo len bên ngoài cho phù hợp với khí hậu miệt này. Tôi đi bên bờ sông có nhiều cây xanh và bông hoa nhiều màu sắc, dưới dòng sông tàu bè xuôi ngược, bên trên là dãy núi đồi thâm thấp. Trong khuôn viên, những cây cổ thụ buông tàn lá xanh um và cùng dãy phố đứng sừng sững day mặt ra bờ sông, nơi có bến cảng cho những du thuyền từ bốn phương tới đậu. Trong không khí man mác và cái ánh nắng hanh vàng như tô điểm sắc màu cho buổi chiều thêm phần rực rỡ.

Đi giữa khu phố thoai thoải dốc lên, dốc xuống và chung quanh bao bọc những ngọn đồi thấp làm cho tôi có cảm giác như đi trong những phố núi trên vùng Cao Nguyên ở Việt Nam. Có lẽ hôm nay tôi nhớ về miền cao, vì hồi sáng khi sắp lên đường, tôi có nhận tin của người bạn trẻ ở Tây Nguyên, cậu ta nhắn vài dòng và mấy câu thơ:

“Tặng anh mấy câu thơ hoa dã quỳ, anh đọc lên cho nhớ nước, nhớ non chơi:

Em là hoàng hậu Tây Nguyên

bông dã quỳ

mà anh yêu tha thiết

em rung rinh đong đưa trong sương lạnh

sao vẫn ấm nồng trong trái tim anh

Cậu ta viết tiếp:

Tây Nguyên-Việt Nam mình giờ là mùa cà phê chín và hoa dã quỳ nở rộ rồi đó anh. Anh đi nhiều và thấy nhiều cảnh lạ, nhưng chắc không nơi nào đẹp bằng quê hương mình phải không anh?”

Không hiểu sao những ngày đầu lang bạt, tôi chỉ có cái radio bằng bàn tay, mang tiếng loại radio bắt được các đài trên thế giới nhưng thật ra là tùy vùng, tùy lúc, những lúc tàu ra khơi thì không nghe được gì hết. Ngày hai mươi bốn giờ, nếu đi bên vùng Châu Á, thì nghe được vài giờ của mấy đài nước ngoài phát tiếng Việt, còn qua Phi Châu hay Nam Mỹ, có khi cả năm chẳng nghe, chẳng biết gì về tin tức quê nhà. Ấy vậy mà trong lòng tôi lại luôn canh cánh nhớ về quê hương sông nước, biển đảo, đồng bằng cho tới núi non Đại Ngàn của miền cao nước Việt, dạo đó tôi thấy quê hương tôi nơi nào cũng đẹp, không nơi nào trên trái đất này sánh bằng và nỗi nhớ, niềm thương triền miên làm tôi mất ngủ. Còn bây giờ thì tin tức, ca nhạc, thơ văn đều ở trong điện thoại thông minh, nằm gọn trong lòng bàn tay, muốn biết bất cứ thứ gì thì chỉ cần mở ra bấm, quẹt vài cái là nghe và đọc được hết những chuyện gì đã xảy ra trên vũ trụ hành tinh này. Nhứt là qua những người bạn trẻ mà tôi biết rất nhiều chuyện đất nước Việt Nam, từ chuyện trộm cắp, cho vay nặng lãi, giết người cướp của, hiếp dâm, buôn người cho tới chuyện quốc gia đại sự, chuyện ngàn đời trên nước Việt Nam với những tham quan hại người cướp của và cũng tự họ thanh toán lẫn nhau. Chuyện nhỏ, chuyện to, chuyện phóng đại, chuyện tào lao, chuyện nào cũng có trên mạng nhưng sao tôi có cảm giác nó xa lạ, hổng dính líu gì tới tôi hết. Có lẽ tuổi tác tôi đã cao, mà cũng có lẽ vì cả đời tôi nghe và chứng khiến sự dối trá của thế nhân quá nhiều nên tâm thức tôi không cho phép tôi suy nghĩ lung tung. Tôi để dành thời gian cho trí óc được nghỉ ngơi, nghỉ ngơi chớ hổng phải nghĩ ngợi. Chiều nay nhờ người bạn trẻ, cậu ấy là một nhà thơ, gợi lại tâm trí tôi về miền đất Tây Nguyên nơi thiên nhiên phong phú có phố núi, có hoa dã quỳ màu vàng giống như hoa hướng dương, mỗi năm vào mùa đông ở Việt Nam, tức là đầu mùa thu Âu Châu, khắp vùng Cao Nguyên hoa dã quỳ vàng rực.

Tôi bèn đi tới một băng đá trong khuôn viên, ngồi xuống. Sau khi hơi thở đều hoà, tôi moi óc, lục lạo coi trong đó có còn nhớ thêm được chút gì về miền Tây Nguyên nữa không. Lần theo tin nhắn của nhà thơ và tình cờ ngồi ở giữa phố núi quê người, tôi nhớ lại được nơi miền cao quê hương tôi bây giờ là mùa cà phê chín đỏ, theo nhà thơ trẻ là gia đình cậu ta cùng nhiều gia đình khác, còn được cái may mắn của những người trồng cà phê, tuy không khá giả nhưng còn có thu hoạch mỗi mùa. Cũng ở Tây Nguyên có một xã nhờ trồng tiêu mà giàu có, trước đó không lâu, cả xã nhà cửa bình thường, phải nói là xập xệ, bỗng chốc biệt thự mọc lên như nấm mọc sau mưa, nên người ta đặt cho đó là xã Tỷ Phú Hồ Tiêu. Được đâu vài năm những vườn tiêu bị bịnh và chết sạch, cả xã lâm cảnh nợ nần bủa vây đành phải bỏ nhà, bỏ đất, lìa quê, trốn nợ làm người tha phương cầu thực. Bây giờ vườn tiêu chỉ còn những trụ cột dành cho giây tiêu leo bằng xi măng trơ trọi trong đám cỏ dại và nhiều ngôi biệt thự không có người ở, nằm lạnh lẽo giữa những cây cối um tùm trông như những toà lâu đài hoang trong truyện cổ tích. Xã Tỷ Phú Hồ Tiêu bây giờ có thể gọi là xã Tiêu Điều cũng được.

Tôi đứng lên rời băng đá và đi tiếp lên con đường hướng về trung tâm. Nhưng trong đầu tôi lởn vởn câu hỏi của người bạn trẻ: “Không nơi nào đẹp bằng quê hương mình phải không anh?” Trước kia nghe câu này tôi liền hô “Yes” hoặc “Right”. Nhưng sau khi về thăm quê hương chứng kiến sự đổi thay không còn dấu vết thì những ý nghĩ thường tình đã biến mất trong tâm trí tôi luôn. Tôi lưỡng lự, chưa biết trả lời sao, nếu tôi trả lời thẳng e rằng nhà thơ hiểu lầm rồi cho tôi là một tên mất gốc, bội nghĩa vong ân. Trong lúc tôi còn vu vơ suy nghĩ để tìm câu trả lời, thì chợt thấy trong một hẻm nhỏ có mái che bằng kiếng và nhiều người ngồi ăn uống bên những chiếc bàn xếp đặt cạnh nhau trên đường. Tò mò tôi men vô xem, thì ra những hàng ăn treo bảng hiệu furanchos bằng tấm bản gỗ, hai bên trước cửa nhà hàng bàn ghế lấn ra lề đường chỉ chừa lại lối đi hẹp. Ở Tây Ban Nha thường có những ngôi nhà mang tên furanchos, nơi đây bán thức ăn truyền thống của gia đình tự chế biến và rượu nho cũng tự ủ để gia đình uống, họ uống không hết mới đem ra bán lại, nối tiếp nhau đời này qua đời khác cả mấy trăm năm, riết rồi thành tập quán, về sau nó nổi tiếng được bảo tồn và được công nhận văn hoá ẩm thực để phổ biến cho khách du lịch đến nước này. Dọc theo lối đi có vài chiếc bàn dành cho những người đàn bà bán hàu, những con hàu tươi sống được các bà cạo rửa sạch sẽ và tách ra để trưng bày trên dĩa trông hấp dẫn vô cùng. Những gian bán hàu trông riêng lẻ, nhưng thật ra họ có liên hệ với các nhà hàng, khách mua một dĩa hàu có thể ngồi vào bàn tại một trong những nhà hàng nào cũng được. Trong nhà hàng bán rượu tự ủ và những món ăn khác truyền thống khác. Bây giờ mới đầu mùa thu, khách du lịch còn rất đông, nghe họ nói tiếng Anh, tôi ngờ rằng những thực khách ngồi trong đây, họ đến từ những chiếc thuyền buồm đậu dưới bến sông kia. Số thực khách ngồi trong dãy quán hơi đông nhưng không ồn ào và không chật chội lắm, trông mấy chị bán hàu cũng thảnh thơi. Tôi nhìn giá những dĩa hàu mỗi dĩa tám con, con nhỏ giá mười tám euro, con lớn hai mươi lăm euro. Tuy Vigo nổi tiếng hàu tươi và ngon nhất, không biết có “ngon nhất” như quảng cáo không, nhưng nhìn dĩa hàu tươi, sống được tách ra trong và trắng kèm theo trái chanh chẻ đôi để trong dĩa thấy hấp dẫn lắm, nhìn là muốn ăn ngay. Có lẽ thực khách ăn hàu để khai vị với rượu trắng chơi thôi, thường thì bàn nào tôi cũng thấy ngoài đồ biển ra cũng có các món thịt, cá, tôm, cua lẫn lộn trên bàn.

Tôi nhìn đồng hồ đã hơn sáu giờ chiều, vậy là ăn chiều được rồi. Tôi trờ tới một chiếc bàn trống trước một nhà hàng ngồi xuống chiếc ghế. Anh phục vụ đem menu ra đưa tôi và hỏi tôi uống gì.Tôi nói anh chờ tôi xem menu trước. Anh ta gật đầu đồng ý và đi trở vô trong làm gì đó. Tôi mở menu ra xem, phải nói là ở Tây Ban Nha đồ biển rất phong phú, mỗi vùng biển có vài loài tôm, cá khác nhau. Nhà hàng hải sản nơi đây họ chế biến đồ biển trông bắt mắt và lại rất ngon, nói theo ngôn ngữ bình dân của người miền Tây Nam Việt là:

– Ngon bá chấy!

Từ Địa Trung Hải ra Đại Tây Dương, nếu muốn biết vùng biển đó có loại hải sản nào thì chỉ cần gọi một dĩa mariscada. Trước khi ăn, ví von một chút cho vui, ngồi nhìn dĩa mariscada ta tha hồ mà tưởng tượng ra hải sản ở nơi đó có những loài gì và có thể hình dung dưới biển có các loài thủy tộc như tôm thẻ, tôm hùm, mực nang, mực ống và loài cá nhiều màu sắc đang bơi lội hoặc những loại nghiêu, sò, ốc, hến, chem chép trầm mình phía dưới lòng đất, cát của đáy biển cạn và sâu. Thực đơn đầy đủ giá từ năm chục tới một trăm euro, nhưng bụng tôi không đủ đói để tiêu thụ hết. Cuối cùng tôi chọn mấy món đơn lẻ, chiều rồi tôi không dám ăn hàu vì cái bụng tôi không được tốt lắm, bạch tuộc và tôm thẻ luộc cũng khá hấp dẫn nhưng tôi không thể ăn hết một lần ba bốn món. Tôi gọi anh bồi bàn lại và chọn món mực nhỏ chiên dòn (chipirones) ăn kèm bánh mì và một ly rượu nho trắng. Bao nhiêu đó cũng đủ cho tôi lấp đầy bao tử buổi chiều nay và thưởng thức được hương vị của miệt biển Vigo này.

Tôi có thói quen, hễ mỗi tới một nơi lạ, tôi thích tìm hiểu thức ăn nơi đó hơn. Ngoại trừ đi chung với bạn bè, kêu một mâm mariscada ra cho họ ăn, riêng tôi thì nhấm nháp rượu và để ý tới hương vị của từng món hơn là chuyện ăn nhiều hoặc ăn cho đã. Ngồi vừa nhâm nhi rượu vừa nhìn người ta ăn uống cũng thấy hay hay. Bỗng trong đầu tôi nảy ra câu trả lời cho cậu nhà thơ trẻ bên quê nhà. Tôi bèn móc điện thoại ra và bấm trả lời câu hỏi của người bạn thơ: “Cũng như sự biến đổi trong tự nhiên ta có thể đem ra so sánh với mùa xuân xuất hiện hoa, bướm, cỏ cây, chim muông tất cả với sắc màu tươi trẻ, tới mùa hè vui tươi hớn hở, mùa thu thì buồn vui tùy cảnh ngộ và cuối cùng tất cả tàn lụi theo mùa đông. Mùa đông chim bay xa tìm nắng ấm và bướm đã chết, lá hoa cây cỏ tiêu điều. Hoa dã quỳ ở quê hương ta vậy, vào cuối đông trên quê hương ta, nó sẽ tàn phai rồi đầu mùa đông năm sau nó sẽ trở lại. Cái quê hương mà ta đã thấy nó cũng như mọi vật trên đời, nó cứ xoay vần, thay đổi và biến mất theo thời gian. Nhưng con người không chấp nhận sự thay đổi nên lòng luôn bất an và tâm thức không bao giờ được yên nghỉ. Có khi nào cậu nghĩ trong lòng mỗi con người chúng ta còn có một quê hương rất thanh bình, nơi có nhiều hoa thơn cỏ lạ và đẹp vô cùng. Có thể nói rằng trên trái đất này không còn có một quê hương nào khác đẹp hơn.”

Sines 20.12.2019