Bò bía

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 3rd, 2023

Post by Sơn râu 29 Jun 2026

Tranh Bảo Huân

Bà con mình ai cũng biết: cuộc sống lứa đôi không bao giờ toàn bích. Mít hay bắt chước Mỹ, bắt chước Úc ăn mừng 30, 40, 50 năm dìu nhau chống gậy đi hết cuộc đời ô trọc (lóc) nầy chẳng qua là hai vợ chồng ăn mừng sự tha thứ, độ lượng cho nhau. Vợ tha thứ cho sự ngu ngốc của chồng. Chồng bỏ qua thái độ quá đáng của vợ! Tiền bạc không làm cuộc hôn nhân tốt đẹp hơn; chỉ tánh tình và sự chung thủy mới đóng vai trò quyết định. Tại sao hôn nhân cần sự chung thủy? Nếu không có sự thủy chung, em yêu sẽ ‘thuốc’ mình chết!

Như chuyện của thiên hạ trong thời buổi hỗn mang chiến tranh, chuyện tình của tui cũng ghềnh thác lắm. Chiếc thuyền tình của tui cuối cùng rồi cũng lật chìm theo vận nước nổi trôi.

Chẳng qua em yêu của tui có má Việt, ba Tiều. Là xẩm lai, nên em đẹp não nùng. Hồi còn con gái, có một tay bác sĩ và tui cùng đeo đuổi theo em. Tay bác sĩ ve vãn em bằng một đóa hoa hồng! Tui cho em một trái táo. Em không hiểu nên hỏi: “Tại sao lại là trái táo?” Tui trả lời: “Vì chữ có câu rằng: “An apple a day keeps the doctor away”. Mỗi ngày em có một trái táo thì bác sĩ đi chỗ khác chơi!”.

Em thấy tui miệng lưỡi nên em kết tui để học thêm tiếng Việt. Còn tui kết em để tìm hiểu thêm về người Hoa. Chớ tui thấy ông Vương Hồng Sển, ông Sơn Nam dạy tui về quê tui chưa đủ. Kinh nghiệm cho tui biết là học trên giường là lẹ nhứt.

Em yêu dạy tui: Chợ Lớn nơi em yêu khóc oe oe chào đời có: ngũ bang: người Quảng Ðông, người Triều Châu, người Hải Nam, người Phúc Kiến, người Hẹ. Và em nói quê của anh yêu Lục tỉnh Nam Kỳ gồm: Người Quảng ở nhiều nhất là tại ba tỉnh Miền Ðông: Biên Hoà, Gia Ðịnh, Ðịnh Tường. Người Tiều ở ba tỉnh Miền Tây: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

Mới quen sơ sơ chưa hun em được cái nào thì mùa Hè đỏ lửa CSBV tấn công. Ðang cà nhỏng tại giảng đường năm thứ hai, ngày 10 tháng 8 năm 1972, tui vô tiểu đoàn 2, khóa 4/72/SQTB. Tới ngày 19, tháng Năm, năm 1973 gắn trên vai chiếc lon chuẩn úy trước khi giã biệt kinh kỳ trên đường ra mặt trận tui về Chợ Lớn tìm em.

Em yêu mặc xường xám yểu điệu thục nữ quân tử hảo cầu, em dắt tui đi ăn bò bía. Bò bía là món ăn chơi của Triều Châu gọi là bạc bỉnh, bánh mỏng, đọc kiểu mình là bò bía.

Em yêu dắt tui đến góc đường Lê Lợi và Pasteur. Có lúc em ăn gỏi bò cay thấu trời. Có lúc em ăn phá lấu lòng gà, lòng heo hay lòng vịt, lưỡi heo, dồi, mề, gan…

Tui nghĩ thầm trong bụng mình lấy á xẩm nầy ăn hàng nhiều quá mạt là cái chắc. Hình như em đọc được cái đầu của tui hay sao nên em trấn an tui là em biết cách làm bò bía cho anh nhậu với beer 33.

Ăn xong, em cứ hít hà hoài nên tui đưa em xề qua Viễn Ðông xe nước mía ép với trái tắc gần xịt kế bên.

Ðó chỉ là kỷ niệm. Sau tháng Tư 75, sập tiệm, CS bắt tui đi tù cải tạo. Ðược thả về, tui tự ái không tìm em. Nhưng em lại tìm tui. Em vẫn đợi anh về; dù có mưa tràn trề ngập hết nhà em. Ngày hội ngộ tương phùng Ngưu Lang và Chức Nữ cũng vào tháng Bảy mưa ngâu. Em yêu trổ tài làm bò bía đãi chàng thiếu úy sa cơ thất thế ở tù CS về.

Tui chui vô bếp với em. Bò bía ngon bá chấy bù chét hay không là do tương để chấm. Em làm tương ớt trộn đậu phộng giã nhỏ, phi cho thơm bằng dầu ăn cùng hành khô băm nhỏ.

Em kêu tui chiên hột vịt kiểu ‘Omelette’ thật mỏng. Em luộc lạp xưởng, tôm khô ngâm nước ấm cho mềm. Rau xà lách, rau thơm, cà rốt, củ sắn, su hào rửa sạch, gọt vỏ xắt sợi, tỏi bằm, đậu phộng rang bóc vỏ đâm giã nhuyễn, tương đen cuộn lại với bánh tráng.

Tranh Bảo Huân

Em nói bà cố em bên Triều Châu, cuốn với bánh tráng làm bằng bột mì. Còn bên mình cuộn với bánh tráng làm bằng bột gạo.Thế nên nhờ em dạy tui rành món bò bía sáu câu.

Nhưng chuyện vợ con là phần số mấy ông ơi. Nhà em bị Ðỗ Mười hoạn lợn từ ngoài Bắc vào đánh tư sản mại bản dài dài từ năm 1976. Bề của em tức ba em thấy không thế nào sống nổi nữa nên quyết định bỏ hết nhà cửa, xuống thuyền vượt biên, vượt biển. Ngày gần đi, em tìm gặp tui để vĩnh biệt. Em khóc bụp hai con mắt. Tui không khóc được. Ðôi môi chỉ giựt giựt. Cả tháng em yêu đi, tui như phát điên. Chỉ mong đêm về, ôm cái radio transistor bắt đài BBC để hy vọng coi có tin tàu buôn nào vớt được thuyền vượt biển. Cả trăm ngàn thuyền nhân chết trên Biển Ðông. Những đồng bào xấu số đó có em yêu của tui hay không? Tui không biết. Tui chỉ biết là tui mất dấu em từ độ ấy.

Sau nầy lang bạt qua Úc, tui không còn yêu ai được nữa, tui ở vậy. Mỗi lần nhớ tình em năm cũ, tui đi chợ mua đồ về làm bò bía, nhậu với beer để nhớ tới cái thời yêu dấu đó.

Ba chục năm, vết thương rỉ máu xưa đã liền sẹo. Tui đang đi vào buổi chiều bóng xế của đời mình thì tình cờ qua Facebook, tui quen được một em xuất sắc trong vai tì nữ. Tui mời em từ Sydney bay xuống Melbourne để mật đàm. Ðêm em tới, trên bàn ăn, tui đốt đèn cầy cho thêm phần lãng mạn giữa chàng và nàng trong tuổi đời bóng xế hoàng hôn trời sắp tắt.

Tui đãi em món bò bía. Em vừa ăn vừa uống beer. Em khen nức nở: “Bò bía cuốn chắc, nhưn không rớt ra ngoài. Cuốn nào như cuốn nấy giống hịt như hai điếu thuốc Pall Mall, như hai em sanh đôi.”

Xong em hỏi tui mua ở đâu mà ngon quá vậy? Tui hểnh mũi nói: “Anh làm đó”. Nghe nói vậy, đang ngồi nhậu, em chợt đứng dậy chạy mất dép tuôn luôn ra cửa.

Sau nầy nghe em nói: “Chạy là phải!” Thằng chả nấu ăn ngon như vậy ngu sao mà nhào vô làm vợ thằng chả ai mà hầu thằng chả cho nổi?

ĐXT

Tháng Tư: Bản hòa ca của màu sắc nhân văn

vanchuongviet.com

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 29 Jun 2026

Dù xa quê hương đã lâu, nhưng cứ vào những ngày tháng Tư, lòng tôi lại đau đáu nhớ về Việt Nam. Ký ức hiện lên với những nhịp điệu riêng: những hàng cờ, biểu ngữ và những câu chuyện quá khứ được nhắc lại với nhiều cung bậc cảm xúc. Mỗi vùng miền, mỗi thế hệ đều có cách tưởng niệm riêng, phản ánh khúc quanh lịch sử mà họ đã đi qua. Giữa những bối cảnh ấy, tôi chỉ mong tìm thấy một điểm chung: khát vọng về sự bình yên và khả năng chữa lành vết thương bằng lòng nhân ái. Tháng Tư nhắc ta rằng hòa giải không phải là quên đi, mà là học cách bước tiếp với một trái tim nhẹ nhàng và nhân văn hơn.

Tuy nhiên, tôi sẽ không viết về đất nước mình, bởi vì những ngày này đã có rất nhiều người viết. Tôi muốn kể về tháng Tư ở Hòa Lan, nơi tôi đang sống qua hơn nửa đời người. Những ngày này, Hòa Lan đón tôi bằng nắng dịu, bằng những lễ hội chan hòa tiếng cười và một cộng đồng luôn nâng niu sự tự do của mỗi cá nhân. Người ta xuống phố để sẻ chia niềm vui giản dị: giữa sắc cam rực rỡ và những giai điệu vang lên từ quảng trường, tháng Tư hiện ra như một khoảng lặng đẹp đẽ, nơi con người tìm thấy sự bình an trong nền văn minh đa dạng.

Đây là thời khắc đẹp nhứt trong năm của xứ sở cối xay gió. Khi khí trời trở nên mát mẻ, thiên nhiên và con người dường như cùng cất lên một nhịp điệu chung. Hoa nở rộ, chim líu lo trên cành và con người tưng bừng mở hội.

Trên những cánh đồng nằm dưới mực nước biển, bông tulip bắt đầu lan ra như những tấm vải lụa màu rực rỡ. Ở Lisse, Noordoostpolder hay Flevoland, những cánh đồng nối tiếp nhau đến tận chân trời, đỏ, vàng, tím, hồng xen nhau thành một bức tranh vừa tỉ mỉ vừa khoáng đạt, đẹp đến nao lòng. Không phải chỉ trong những cánh đồng lớn, mà ngay mảnh vườn nhỏ trước mỗi ngôi nhà cũng có vài bụi bông tulip. Vườn nhà tôi không trồng tulip, nhưng hổng biết từ đâu cũng chui lên một bụi, vừa nở được hai bông màu đỏ tươi, như một thói quen giản dị và bền bỉ của người Hòa Lan với loài bông đã trở thành biểu tượng của quốc gia.

Mỗi năm cũng trong mùa xuân đầy bông hoa ấy, khu vườn Keukenhof mở cửa, như một không gian được chăm chút tỉ mỹ đến từng chi tiết. Hơn bảy triệu loại bông hoa không chỉ được trồng để khoe sắc mà còn để kể một câu chuyện về lịch sử làm vườn, về sự kiên nhẫn và cả niềm tự hào âm thầm của một quốc gia nhỏ bé nhưng giàu sáng tạo.

Nhưng tháng Tư không chỉ có màu sắc của bông hoa. Ngày 27 tháng 4 là Ngày của Quốc Vương. Khắp Hoà Lan rực lên sắc cam, màu của hoàng gia. Từ Amsterdam đến Utrecht, Rotterdam, những con phố, dòng kinh và quảng trường bỗng trở nên sống động hơn ngày thường. Màu cam xuất hiện trên áo quần, trên mặt người, trên cờ, trên những món đồ nhỏ xinh bày bán khắp nơi. Người ta tràn ra đường, ca hát, buôn bán, trò chuyện. Ở mỗi trung tâm chợ, từ thị xã đến thành phố lớn, đều có khu chợ đồ cũ: từ máy móc điện tử, áo quần, sách vở đến những món đồ chơi trẻ em, tất cả được bày ngay trên mặt lộ.

Không có khoảng cách giữa người với người trong ngày này. Chỉ có sự cởi mở, tiếng cười rất con người và một cảm giác tự do rất rõ ràng, rất gần gũi. Một lễ hội không chỉ để kỷ niệm mà còn để ta hòa chung nhịp thở, cùng chia sẻ bầu không khí hiền hòa và lối sống nhân văn. Đi giữa Hoà Lan vào những ngày này, người ta dễ nhận ra một điều: đất nước này không chỉ đẹp ở cảnh quan mà còn ở cách nó giữ gìn sự cân bằng trong tâm tức con người.

Giữa những con kinh thẳng tắp của Amsterdam, những cây cầu đá cổ kính và những ngôi nhà cũ xưa mái nhọn soi bóng xuống mặt nước, thời gian dường như trôi chậm lại. Xa hơn một chút, ở Kinderdijk, những cối xay gió vẫn đứng đó, lặng lẽ như đã từng qua nhiều thế kỷ. Hay ở Giethoorn, nơi không có tiếng xe, chỉ có nước và những lối đi nhỏ, cuộc sống giữ nguyên một nhịp riêng rất yên bình.

Nhưng chỉ cần bước thêm vài con phố, một Hoà Lan khác hiện ra. Những công trình kiến trúc táo bạo, những không gian nghệ thuật đương đại, những tuyến giao thông vận hành nhịp nhàng, tất cả cho thấy một xã hội không ngừng chuyển động. Mặc dù đất nước này cũng trải qua chiến tranh, nhưng người Hòa Lan trân trọng quá khứ không bám víu hận thù. Họ sống với hiện tại, mở lòng với cái mới, với những ý tưởng khác biệt, với một tương lai đang được xây dựng từng ngày.

Có lẽ vì vậy cho nên trải nghiệm ở Hoà Lan luôn mang một cảm giác thanh bình trọn vẹn. Buổi sáng có thể đi một vòng xe đạp dưới hàng cây, khi mệt dừng lại bên đường mua một miếng phô mai kẹp bánh mì hay khoai tây chiên dòn chấm sốt mayonnaise hoặc chiếc bánh ngọt stroopwafel còn ấm. Buổi chiều, người ta có thể bước vào một bảo tàng, hay đơn giản là ngồi bên kinh nước, nhìn thành phố trôi qua trong yên tĩnh. Và khi đêm xuống, những quảng trường lại sáng đèn, mang theo một nhịp sống hoàn toàn khác.

Hoà Lan không phô trương. Vẻ đẹp của nó đến từ sự hài hòa giữa cũ và mới, giữa tĩnh và động, giữa truyền thống và những bước đi rất hiện đại.

Đến xứ sở đầy bông hoa, người ta không chỉ nhìn thấy một đất nước. Mà còn cảm nhận được một cách sống: cởi mở, tinh tế và luôn hướng về phía trước nhưng không đánh mất những gì đã làm nên bản sắc của mình.

Và có lẽ, điều còn lại sau hành trình của du khách không chỉ là ký ức về những cánh đồng tulip, khu vườn triệu hoa hay những lễ hội rực rỡ… mà là một nhịp sống chậm hơn, sâu tận đáy lòng, cái thứ mà người ta vô tình mang theo khi rời đi.

Dronten 20/4/2026

Chuồng người

http://www.dutule.com

Lâm Chương

23 Tháng Chín 2019

Post by Sơn râu 29 Jun 2026

Chỉ còn vài ngày nữa là thu hoạch xong vụ mùa. Tôi được miễn đi lao động, vì cái chân đau. Hôm qua lúc chuyển lúa vào bồ, tôi vô ý vấp ngã nơi bậc thềm nhà kho. Mặc dù đã được nắn bóp, sửa trặc, nhưng khớp xương mắc cá chân vẫn sưng đỏ, đau nhức.
Khi các đội đã xuất trại, tôi chống cây gậy ra cửa, đứng nhìn lên sân trại. Giữa sân có đặt ba cái thùng phuy, dùng chứa phân người. Sau một đêm bài tiết của anh em trong trại, phân được xúc từng gánh đem đổ vào thùng. Hàng ngày, người của đội rau xanh sẽ chuyển ba cái thùng này bằng xe cải tiến đến vườn rau. Đổ phân xuống hố, lấp phủ lên một lớp đất. Ủ phân. Một thời gian sau, phân từ màu vàng như đất sét nhão, biến thành màu xám như bùn, đã tới lúc có thể dùng được, xúc lên làm phân bón rất tốt. Phân được chế biến kiểu này gọi là phân Bắc. Mới đầu, anh em đội rau xanh rất tởm phân Bắc, nhưng thời gian lâu dài, tiếp xúc mãi thành quen, thấy cũng không có gì đáng gớm ghiếc, và khám phá ra cái công dụng tuyệt vời của nó. Chỉ cần rau muống nếm một chút phân Bắc, rau trở nên xanh tốt, tăng trưởng rất nhanh.

Từ trong đội cải tạo hình sự, có hai tên cầm que đi đến thùng phuy. Nó bươi móc thứ gì trong đó. Một trong hai tên này, tôi quen. Hồi mới quen, tôi hỏi nó:

– Mày tên gì?

– Ný!

– Tên ngộ quá! Họ gì?

– Nê!

– Cái gì? Làm gì có họ Nê?

– Có chứ! Rất nhiều! Tên họ của cháu: Nê văn Ný.
Tôi chợt hiểu, bật cười:

– Mày nói ngọng. Tên họ của mày là Lê văn Lý.

– Người miền Nam của các chú thường nói thế. Ở đây chúng cháu gọi Nê Văn Ný!

Từ đó trở đi, tôi cũng gọi nó là thằng Ný.

Thấy nó bươi móc trong thùng phuy, tôi kêu lớn:

– Ný! Mày làm cái gì đó?

Nó quay lại nhìn tôi, rồi bỏ cái que, đi lại gặp tôi.

– Hôm nay sao chú được nghỉ?

– Tao bị bong gân chân. Còn mày?

– Cháu chờ để trưa gánh đồ ăn thông tầm cho đội!

– Mày tìm gì trong thùng phân?

– Nhà bếp vừa đổ rác trong ấy. Cháu kiếm chút rau cải vụn.

– Ăn uống dơ bẩn, có ngày bỏ mạng con ơi!

– Cháu mang về rửa sạch, cho vào ca cống, đun sôi, vi trùng nào chả chết!

Tôi nhìn thân hình gầy gò, cái mặt hốc hác của nó, và nghĩ đến mình. Tôi có khác nó gì đâu. Cùng một hoàn cảnh khốn khó, người ta không cần tỏ lòng trắc ẩn cho nhau.

Đứng tần ngần một lúc, nó hỏi:

– Chú có thuốc nào, cho cháu xin một bi!

-Vô đây!

Tôi dẫn nó vào lán, ngắt trong cái bọc nhỏ, cho nó một bi thuốc lào. Rít xong hơi thuốc, nó nói:

– Hôm nay, đội cháu có mấy thằng được chỉ định nên khung, mổ nợn cho cán bộ bồi dưỡng. Cháu không được đi.
Tiếc thật!

– Mổ lợn đâu có gì thích mà mày tiếc?

– Thích chứ! Được xơi thịt!

– Cán bộ cho ăn hả?

– Không. Làm gì có người tốt thế!

– Vậy ăn bằng cách nào?

– Khi được chỉ định đi mổ nợn, thằng nào cũng phải măc hai nớp quần. Nớp trong được bó sát vào bìu dái như cái quần xì của người miền Nam. Đến núc xẻ thịt thì xén vài cục, nén dấu vào quần, dưới bìu dái. Trước khi về, cán bộ bắt đứng xếp hàng, mò xét khắp ngườii, nhưng không mò dưới bìu dái. Thế nà thoát!

-Tụi mày tài thật!

– Cách này dùng mãi, bị phát giác. Chúng nó bắt cởi đồ, chỉ còn độc cái quần trong, thò tay sờ vào quần, sờ nắn trong háng, nhột bỏ mẹ. Bắt gặp có dấu thịt, chúng nó dần cho nát đòn và cùm vào nhà kỷ nuật.

– Khó khăn, nguy hiểm như vậy, tụi mày không sợ?

– Trong khó khăn nẩy sinh sáng tạo. Chúng cháu nghĩ ra được cách giấu thịt, chỉ có trời biết.

Nó ngừng lại, chỉ tay vào túi tôi:

– Chú cho cháu thêm bi thuốc!

– Mày có tài thật, đang kể chuyện tới hồi gây cấn là ngừng lại, đòi thứ này, thứ nọ.

Dù cằn nhằn nhưng tôi vẫn ngắt cho nó bi thuốc lào thứ hai. Nó cẩn thận cho bi thuốc vào nõ điếu, châm mồi lửa, rít một hơi dài…Tôi giục:
– Kể tiếp đi. Cái mánh lới giấu thịt của mày!

– Thằng nào được chỉ định đi mổ lợn, khi trở về đội cũng phải nạp cho thằng đội trưởng hai cục thịt bằng ngón chân cái. Không có, nó thụi vào bụng cho thổ huyết!

– Tao không muốn nghe chuyện thằng đội trưởng của tụi mày. Hãy kể phương pháp dấu thịt mà mày cho rằng sáng tạo.

– Vâng! Phương pháp này không cần phải chuẩn bị đồ nghề gì cả. Lúc xẻo thịt, nếu cán bộ không để ý, cứ xén từng cục, cho vào mồm xơi tươi!

– Ăn thịt sống hả?

– Vâng! Xơi thịt sống thì đã có sao?

– Tụi mày ăn uống như người tiền sử!

– Người tiền sử nà người xứ nào mà ăn uống như chúng cháu?

– Chẳng phải xứ nào cả! Đó là tổ tiên của chúng ta nhiều triệu năm về trước. Khi chưa tìm ra lửa, loài người phải ăn thịt sống.

– Đấy! Họ vẫn khỏe mạnh, sinh tồn đến ngày nay. Cọp beo cũng thế!

– Hãy nói vấn đề lấy thịt. Tụi mày ăn tại chỗ, nhưng làm sao lấy về cho thằng đội trưởng?

– Chúng cháu xén sẳn vài cục, khi có nệnh về nà cho vào mồm nuốt ngay. Bọn cán bộ dù có con mắt thánh cũng không bắt gặp. Xét xong, chúng cháu vội về đội, móc họng, nôn ra niền, nạp đủ số cho thằng đội trưởng.

– Rồi thằng đội trưởng ăn bằng cách nào?

– Hắn rửa cục thịt sạch chất nhớt, cho vào ca cống, đun lên nà có được bữa ăn ngon.

Nói xong, thằng Ný đứng dậy:

– Cháu phải về gánh cơm cho đội thông tầm. Cái chân chú đau, không nên đi đứng nhiều.

Nó quay lưng, ra khỏi lán.

Nhìn đôi vai gầy guộc của nó rút lại như đôi vai của người bệnh ho lao, tôi gọi: -Ný! Mày trở lại lấy vài bi thuốc lào, đêm nay hút cho đỡ lạnh!

Vào những ngày cuối năm, trời bỗng dưng trở lạnh. Mưa phùn lất phất trên những vòm cây. Đồi nương ẩm đục. Ngày hai mươi chín tháng Chạp, được phép trại trưởng, các đội khỏi phải xuất trại lao động bên ngoài. Thay vào đó, anh em được giao công tác dọn dẹp và làm vệ sinh trong trại, chuẩn bị đón Tết.

Tôi đang ngồi nhổ cỏ dọc theo những chân tường ngăn chia các đội. Thăng Ný đi ra. Hôm nay nó mặc bộ đồ lành lặn, sạch, mặt hiện niềm vui. Tôi nói:

– Chưa Tết mà ngó mày, tao đã thấy mùa xuân!

Nó báo tin: – Cháu được mẹ từ Vĩnh Yên nên thăm. Bộ đồ này cháu mượn của thằng bạn, để mẹ cháu không nhìn thấy cháu rách. Cháu đang chờ cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi.

– Mày ngon rồi! Vừa có đồ ăn của trại, vừa được mẹ tiếp tế thêm. Tết này mày huy hoàng!

– Vâng! Huy hoàng thật! Cháu không ngờ may mắn đến thế!

Khoảng hai giờ chiều, cán bộ dẫn thằng Ný về trại, tay ôm bụng, mặt nhăn nhó, tái nhợt. Ngờ nó bị trúng gió, tôi theo nó vào lán. Nó nằm vật lên sạp, lăn lộn, kêu đau bụng và lạnh. Tôi hỏi mượn mấy thằng bạn của nó ve dầu nóng để cạo gió.

Thằng đội trưởng hình sự đứng nhìn một lúc, nói:

– Chả phải trúng gió đâu! Nó bị bội thực đấy! Móc họng nôn ra là khỏi ngay!

Nhiều thằng khác lao nhao:

– Nôn? đi! Nôn đi!

Thằng Ný trườn về bìa sạp, rướn cổ, thò đầu ra ngoài, cho ngón tay vào miệng. Có thằng la lớn:

– Hãy khoan!

Và nó chạy ra ngoài, đem vô một cái thau bằng nhựa, bưng thau kề sát miệng thằng Ný:

– Hãy nôn vào đây!

Thằng Ný móc họng, ụa mữa. Đồ ăn lẫn nhớt dãi tuôn trào xuống thau. Thằng bưng thau bóc lên những miếng thịt còn dính lòng thòng nhớt dãi, đưa lên miệng ăn. Một thằng khác đang đói cũng ăn.

Có thằng nhăn mặt: – Gớm quá!

Thằng bưng thau nói:
– Gớm gì? Từ bụng kia sang bụng nọ mà thôi!

Sáng mồng một Tết, mọi người quy tụ ra sân trại coi anh em văn nghệ trình diễn. Có đàn và trống xập xình vui tai. Tôi gặp thằng Ný đang lóng ngóng coi hát. Tôi hỏi:

– Mày khỏe hẳn chưa?

– Hôm sau nà khỏe ngay!

– Mẹ mày thăm nuôi, sao tao thấy mày đi vào tay không?

– Nhà cháu nghèo, không có tiền sắm sửa. Thăm nuôi là thăm cho có nệ thế thôi! Mẹ cháu chỉ mang cho cháu một con gà nuộc, và một cân xôi.

– Sao không đem vô trại, để dành ăn từ từ?

– Nếu đem vô trại, mấy thằng đầu gấu, chúng nó giành giựt cả. Thế cháu mới xơi hết tại chỗ!

Tôi trợn mắt:

– Mày ăn hết một lần hết con gà và cân xôi?
– Vâng! Không còn cách nào khác! Lúc thì dư thừa phải nôn ra, bây giờ thì đói.

Nhìn thằng Ný, tôi thấy nó đang tàn tạ, khô héo dần. Nó không có mùa Xuân.

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 29 Jun 2026

Mười hai năm, trên xứ Mỹ. Thời gian không dài lắm, nhưng cũng đủ lãng quên những oán hờn ngày cũ. Bao nhiêu khuôn mặt bẩn thỉu xấu xa trong quá khứ, nhòa dần trong trí nhớ. Chỉ hình ảnh một cô Nga là còn đậm nét trong tôi. Muốn tìm cô để đền cái ơn tri ngộ, không là điều dễ. Trên đất nước Kampuchia ngày ấy, tôi cũng chẳng biết cô lưu lạc phương nào. Và tên Nga cũng chưa chắc là tên thật của cô ở quê nhà.

Làm sao tìm lại được một con chim bay trong bao la trời đất?

Lâm Chương

(Trích trong tập truyện “Đi giữa bầy thú dữ”, Văn Mới, 2002)

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 29 Jun 20265

– “Tôi vừa ở bệnh viện về! Anh từ phòng cấp cứu mới ra!”nghe từa tựa như hai câu mở đầu trong bài thơ “Đôi Mắt Người Sơn Tây” của Quang Dũng. Câu nói không mang những nỗi reo vui như thời thơ ấu: “Buổi sáng hôm ấy, một buổi sáng đầy sương thu và gió lạnh, … ” hay “Je vais vous dire ce que me rappellent tous les ans … ” Ở tuổi già, nhất là tuổi già ốm đau ở hải ngoại, ai mà không đôi lần đã thốt ra câu nói này!

Nhưng lần này ở bệnh viện về, tôi muốn có đôi lời tâm sự với bạn. Nếu có lê thê vài chi tiết, đó không phải là muốn quan trọng hoá vấn đề, mà là cần thiết để chuyên chở những điều mà tôi thực tâm muốn bày tỏ và tâm sự với bạn bè tôi, những vị cao niên vừa bước qua khỏi tuổi 65. Ở tuổi già chúng ta có nhiều bệnh không dẫn đến cái chết, nhưng chúng ta vẫn lo sợ và cần đến sự cấp cứu. Buổi sáng hôm ấy, khi thức giấc tôi cảm thấy một dòng nước từ mũi trái đang chẩy ra, lấy mảnh khăn giấy chậm thì mới hốt  hoảng nhận ra đó là một dòng máu tươi. Thời thơ ấu, hìnhnhư ai trong chúng ta cũng đã có một lần bị “chảy máu cam” vì chạy chơi ngoài năng, hay đánh lộn ngoài đường “chảy máu mũi,” được mẹ vã nước lạnh lên trán, nhét những đọt lá dâu non vào mũi. Chuyện này tái diễn nhiều lần, chỉ sau một phút là máu ngưng chảy. Nhưng lần này, tuổi đã già, lại đang ở nơi xứ sở đang có nền y tế khá tốt, dòng máu từ mũi liên tục chảy mươi phút, bịt kín mũi thì máu chảy xuống miệng, lỡ máu chẩy không ngừng thì sao? Chỉ còn cách gọi cấp cứu để vào bệnh viện.

Ở phòng cấp cứu, nhân viên y tế không cho uống thuốc cầm máu, chỉ tìm cách chặn chỗ máu chảy, nhất là khi chỗ ấy lại là lỗ mũi nữa, thì quả là một cực hình. Bác sĩ đưa vào lỗ mũi một vật tương tự như đầu lọc của một điếu thuốc lá, nhưng có kích thước lớn và dài hơn nhiều, xong bơm một dung dịch vào đó, khiến vật ấy căng phồng lên, chận không cho máu chẩy thêm (Rhino Rocket.) Chảy máu mũi là một bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nên không thể vào bệnh viện để tốn kém cho ngân sách y tế, nên máu hết chẩy thì về nhà.

Về đến nhà, máu tiếp tục chảy thì lại phòng cấp cứu, on-off như vậy đến lần thứ tư. Lần đầu hốt hoảng nên gọi 9-1-1, ba lần sau bình tĩnh hơn, và nghĩ là không đến nỗi chết, nên nhờ con lái xe đưa vào bệnh viện.

“Sự bất quá tam!” Đến lần thứ tư, thấy bệnh nhân “lỗ mũi ăn trầu” lại xuất hiện, bác sĩ trực hội ý với các bác sĩ chuyên môn về tai-mũi-họng cho bệnh nhân vào bệnh viện và mời một toán giải phẩu chuyên môn đến ngay trong vòng một tiếng đồng hồ sau, đưa chúng tôi lên bàn mổ. Kỹ thuật này gọi “demolization” tương tự như thông tim, thời gian là 60 phút, dùng đường tĩnh mạch từ đùi phải để đưa một bong bóng nhỏ lên tận một mạch máu nhỏ trên mũi để làm cho máu ngưng chảy.

Lần này tôi có thể yên tâm về nhà, hy vọng triệu chứng “hộc máu mũi” này không còn xẩy ra nữa, vì cách đây 9 tháng chuyện này đã xẩy và tôi đã phải vào bệnh viện một lần rồi. Tôi khai báo với các bạn là tôi chỉ có Medicare-Medicaid, một thứ bảo hiểm y tế mà người mang quốc tịch Mỹ ở đây ai trên 65 tuổi cũng có, không cần phải đi làm một ngày.

Theo chỉ dẫn trong sách y khoa, chỉ khi nào chảy máu mũi trên 20 phút mới đi bác sĩ (không gọi 9-1-1 để cấp cứu) vì đây là một bệnh không nguy hiểm đến tính mạng. Với một bệnh không nguy hiểm đến tính mạng, cơ quan y tế Mỹ đã làm cho tôi một cuộc “tiểu giải phẩu” với một toán chuyên khoa về tim mạch, mà tốn phí không dưới $30,000. Một trường hợp nguy hiểm đến tính mạng như một người bạn tôi mới đây, vào bệnh viện cấp cứu vì bệnh tim, làm by-pass, phải có đến ba bác sĩ túc trực bên giường bệnh, chi phí lên đến $80,000, mà người bạn tôi không phải móc túi chi ra một đồng. Đó là nói về ca mổ, chưa tính nằm bệnh viện hơn tuần, thuốc men, tiền ăn uống, tiền xe cấp cứu. Ở đây cũng có những vị cao niên, may mắn chưa vào bệnh viện một lần, nhưng cũng có người vào ra cấp cứu và bệnh viện “như đi chợ,” vậy thử hỏi chi phí y tế mà chính phủ Mỹ trả cho những dịch vụ y tế này lên đến con số bao nhiêu?

Ngoài chuyện housing, tiền trợ cấp sinh sống hằng tháng, tiền trả cho bác sĩ và dược phòng, sống yên như vậy, tuổi già chúng ta cũng đã làm khổ “nhà nước” bao nhiêu rồi. Nay chỉ một cơn đau, một lần vào bệnh viện, chúng ta đã “đốt” hết của quỹ y tế 50,70 nghìn đô la.

Sở dĩ tôi nói “vòng vo Tam Quốc” như vậy là để nhắc  lại chuyện “Cá Tháng Tư” mà tôi đã “thả” ra ngày này, cách đây hai năm. Giả dụ, chính phủ sẵn lòng cấp chonhững ai là di dân trên 65 tuổi ở đất Mỹ này, một số tiền, một lần $30,000 nếu họ bằng lòng rời bỏ nước Mỹ này để  về nơi quê quán, mà không trở lại. Câu chuyện “giả tưởng” nhưng rất có nhiều người tin vì trong chúng ta cũng có nhiều người có con cái, thân nhân ở Việt Nam, hay vì tuổi  già cô đơn, con cái tệ bạc, nếu có được một số tiền về quê xây dựng lại cuộc đời, yên vui tuổi gìa, họ sẵn sàng chấp nhận. Thật ra, số đông cao niên còn bịn rịn, lưu luyến cái  đất Mỹ này cũng vì còn trợ cấp tài chánh, nhà cửa, y tếtương đối đầy đủ mà về lại cố hương, không bao giờ có được.

Đề nghị của tôi có lợi cho nước Mỹ. Trong trường hợp của tôi và người bạn bị bệnh tim trong câu chuyện ở trên, nếu chấp thuận nhận mỗi người $30,000 và đã trở về nước, thì chính phủ Mỹ hai năm nay đã “saving” được một số tiền khá lớn. Con số này nếu nhân lên với con số “cao niên tị nạn” bằng lòng với giải pháp “rời” nước Mỹ như trên, quỹ y tế của liên bang Hoa Kỳ sẽ đỡ được một gánh nặng. Tiếc rằng chưa có vị dân cử nào ở  thủ đô Hoa Thịnh Đốn “chộp” được con “Cá Tháng Tư”của tôi.

Tôi nghĩ đến một chuyện chẳng may, nếu một ngày nọ, quỹ y tế của nước Mỹ không còn hay nghèo đi, lấy gì để trả y phí cho trường hợp của tôi hay bạn tôi. Nước Mỹ thật sự đang giàu có, trong bệnh viện, từ cây kim chích, miếng bông, hộp khăn giấy, cái khẩu trang, bịch nước biển, chiếc khăn trải giường … và những vật dụng y tế, thuốc men đắt tiền, chưa lúc nào thấy thiếu. Nhưng liệu với lối hành xử như chúng ta hiện nay, trong tương lai, chúng ta hay con cháu còn được hưởng những tiện nghi như bây giờ không.

Cho tất cả mọi người trên 65 tuổi, có lợi tức thấp hay không có lợi tức, ngoài trợ cấp gia cư, y tế, lương thực, chính phủ phải trả thêm tiền viện dưỡng lão có y tá, săn sóc người bệnh ngoại chẩn, dịch vụ săn sóc tại gia, nhu cầu khám bệnh và thử nghiệm, dụng cụ y khoa dài hạn (giường nằm, xe lăn, gậy chống, tã lót … ) Như vậy cũng chưa đủ, các bạn cao niên, trong khi còn lái xe được, còn kiếm chỗ day-care để đến đó ban ngày, vui chơi, ăn uống, tập thể dục, làm theraphy, chơi computer. Thuốc men thì nửa xài nửa bỏ, bác sĩ chiều bệnh nhân, khi thì xin thuốc bao tử cho bà cô bên nhà, khi thì cần thuốc dán đau lưng cho ông anh rễ ở quê. Nhức mỏi? (Ai già trên 70, như cổ xe quá thời gian mà không xộc xệch,) thì tìm đến các “pain center” than van, nhõng nhẽo như những đứa trẻ, để có người đắp nước ấm, xoa bóp, chạy điện. Tiền ấy ai trả? Chúng ta có ý định tham gia một cuộc biểu tình chống việc cắt giảm Medicare chứ? Thì trước hết, chúng ta phải tiêu pha dè xẻn, hợp lý! Cũng như chúng ta đòi nước Mỹ phải có biện pháp kinh tế với Việt Nam, trong khi chính  chúng ta “tuồn” hàng chục tỉ đô la về nước mỗi năm. Điềuđó có mâu thuẫn chăng?  Thấy những tiện nghi, đặc biệt là tiện nghì y tế màchúng ta may mắn được hưởng hôm nay, trong lòng tôi thấy mang ơn nước Mỹ. Đối với cá nhân tôi, nước Mỹchăng có món nợ nào, như nhiều người Việt Nam đã kêu gào nước Mỹ đang mắc nợ họ. Tôi không những chỉ mang nợ những ưu đãi vật chất của quốc gia này, mà còn mang ơn mối tình cảm của những nhân viên ngành y tế tận tâm, dịu dàng với bệnh nhân, mà tôi không dám dùng hai chữ “từ mẫu” để tránh một sự liên tưởng đau lòng. Tôi mang ơn những sự đón tiếp sốt sắng trong phòng cấp cứu, dù lúc đó đồng hồ trên tường đã chỉ ba giờ sáng. Tôi mang ơn người  bác sĩ đã “xin lỗi” tôi, hay người y tá đã nắm chặt tay tôikhi tôi rên rỉ vì không chịu nổi cơn đau.

Tôi sợ rồi đây, các bạn trẻ của tôi sắp bước vào tuổi 66, 67 (mà không bao giờ có thể trở lại con số 65,) và cả con cháu của tôi, những thế hệ lỡ đường sẽ không còn đượchưởng hạnh phúc như tôi nữa!

Sương rừng bát ngát

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 28 Jun 2026

Năm mươi năm trước trên núi rừng

Tôi đã gặp anh

Một người lính không còn nguyên vẹn

Sau bảy mươi lăm trên kinh tế mới

Tôi gặp một người lính phế binh

Chân tay anh mất đi một nửa

Nửa kia năm lại chốn sa trường

Anh mặc đồ nhà binh cũ nát

Rách tả tơi như cuộc đời anh

 Chân nạng gổ một tay cầm cuốc

Đắp nhọc nhằn lên mỗi luống khoai

Tôi còn nhõ nhưng âm thầm hiểu

Hiểu những người một thuở vì dân

Anh mất mát cho tôi lành lặn

Chiến cuộc tàn khổ cuộc mưu sinh

Đêm rừng lạnh sương mù bát ngát

Tôi nghe anh kể chuyện đời mình

Gõ nắp xong và anh khẽ hát

Bón tro buồn liệm kín đời anh

Anh trở về trên đôi nạng gỗ

Anh trở về bại tướng cụt chân’

Anh trở về đời đau lặng lẽ

Một mình anh bên núi rừng xanh

Ngoài rừng khuya vọng về tiếng cú

Ánh trăng mờ tan giữa màu sương

Đôi mắt anh hình như ướt lệ

Tôi thấy mình mắt cũng rung rung

Ôi một thời trên kinh tế mới

Có những điều chẳng thể nào quên

Tôi đã gặp người trai lính trận

Mất tay chân khổ nhọc núi rừng

Năm mươi năm chỉ là cơn mộng

Cầu chúc anh vạn sự an lành

Tôi vẫn nhớ một đêm rừng lạnh

Ngồi nghe anh kể chuyện chiến trường

Tôi vẫn nhớ một đêm rừng lạnh

Bếp lữa buồn hiu hắt đời anh

Tôi vẫn nhớ một đêm rừng lạnh

Bên bếp lữa hiu hắt

Tôi ngồi nghe người phế binh

Hát nhạc buồn như đời anh

Bia miệng

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 28 Jun 2026

Cứ năm năm, vào mùa Thu, là hơn hai ngàn đại biểu của gần 90 triệu đảng viên CS trên cả nước Tàu tụ tập nhau ở Bắc Kinh để bầu lên 200 ủy viên chánh thức và chừng 170 dự khuyết cho ban Chấp hành Trung ương đảng CS Trung Quốc. Rồi ban Chấp hành Trung ương bầu 25 uỷ viên Bộ Chính trị và 7 người trong Thường vụ Bộ Chính trị.

Đám chóp bu, ruồi bu này thay cho gần một tỷ 400 triệu người dân Tàu vừa đề nghị sửa đổi điều lệ Đảng và Hiến pháp để Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước sau hai nhiệm kỳ tức 10 năm không bắt buộc phải về vườn như đồng bọn đã từng cam kết lúc trước.

Nghĩa là ngồi hoài (nếu còn ngồi nổi) và ngồi cho tới chết! “Hoàng thượng vạn tuế! Vạn vạn tuế!” Ai là đạo diễn cái đề nghị ngược chiều lá đổ này này? Thì Tổng bí thơ, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng Tập Cận Bình! Chớ ngoài ra, ai dám trồng khoai đất này?

Mà muốn tự tung tự tác như vậy thì Tập Cận Bình phải thanh trừng đối thủ chánh trị, thâu tóm quyền lực tuyệt đối nhằm đưa cá nhân mình lên, bằng vai bằng vế với Mao Trạch Đông.

Lãnh tụ độc tài trong lịch sử phong kiến Tàu có nhiều… rất nhiều. Tàn bạo nhứt chắc phải kể đến Tần Thủy Hoàng, người đã từng đốt sách, chôn sống học trò.

Nhưng lãnh tụ CS Mao Trạch Đông, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa coi đó chưa nhằm nhò gì nên cười khè khè nói: “Tần Thủy Hoàng chôn sống 460 học giả; chúng tôi chôn 46.000 học giả còn sống…Bọn trí thức nguyền rủa chúng tôi là Tần Thủy Hoàng. Chúng đã sai. Chúng tôi còn hơn Tần Thủy Hoàng gấp ngàn lần”. Mao Trạch Đông đâu có coi các nhà độc tài phong kiến khác như Hán Vũ Đế, Khang Hy hoặc Càn Long ra “cà ram” nào?

Giờ Tập Cận Bình muốn vươn lên tầm của Mao Trạch Đông thì chắc cũng coi Đặng Tiểu Bình chỉ là cái “bình tiểu” mà thôi!

Xưa là “Mao Chủ tịch muôn năm”; giờ là “Tập Chủ tịch muôn năm”.

Còn cái vụ Chủ tịch muốn “nằm” chỉ xảy ra… khi Chủ tịch ngồi hết nổi. Ắt phải nằm! Cái khác nhau giữa một chánh quyền độc tài và một chánh quyền dân chủ là ở chỗ cho dù Tổng thống Mỹ có giỏi cỡ nào chăng đi nữa, được dân bầu hai nhiệm kỳ 8 năm, là tối đa! Xong phải về vườn dù muốn hay không. Còn làm dở ẹc, mới được một nhiệm kỳ 4 năm, là dân nó cho về… là phải nghỉ.

“Thick skin”, da dầy, người Việt mình gọi là “mặt dầy mày dạn”; là cá tính cần thiết cho một người làm chánh trị; nhứt là trong các thể chế dân chủ.

Một nhà lãnh đạo trong thể chế dân chủ, mặc dù bị phê bình chỉ trích tơi bời (đôi khi khá bất công) như trường họp của Tổng thống Mỹ George W. Bush chẳng hạn. Nhưng ông vẫn đắc cử được hai nhiệm kỳ! Vì da ông đủ dầy nên các nhà hài hước đem ra làm đề tài châm biếm thì kệ tụi nó chớ!

Ngược lại những nhà độc tài, dẫu nắm toàn bộ quyền lực trong tay lại sợ hãi việc dân phê bình. Vì dẫu là một tên độc tài khát máu nhưng hình như da mặt lại không được dầy cho lắm, dễ bị nhột, nên không thích bị đùa dai! Bị dân chọc là nổi điên lên hè! Nên có chuyện rằng: Stalin đi xem hài kịch. Hắn cười toe toét từ đầu đến cuối.

Khi hết tuồng, vãn hát, Stalin nói: “Ta thích cái hài kịch này lắm đó! Nhưng thằng hề lại để ria mép giống hịt ta hè, đem nó ra xử bắn!” Tất cả đều sững sờ, không ai dám nói một lời; cho đến khi có một người thu hết can đảm, rụt rè lên tiếng: “Đồng chí Stalin! Chúng ta có thể ra lịnh cho thằng hề này cạo râu đi?”

Stalin trả lời: “Đề nghị hay đó! Kêu nó cạo râu trước rồi bắn nó sau vậy!”

“Chánh quyền từ nòng súng” như Mao Trạch Đông từng tuyên bố! Cứ sai Công an, Mật vụ móc súng ra “hù”; là kẻ thù của cách mạng đâm rét… phải chạy mất luôn cả dép!

Còn không chạy mà ở lại… kiếm sống bằng diễn hài, vẽ tranh biếm họa, viết chuyện châm biếm, đùa cợt, giỡn mặt với các tai to mặt lớn của đảng CS là trước hay sau cũng bị sờ gáy, đem vô hộp cất kỹ.

Tốt hơn hết là: “Đừng nghĩ! Nếu nghĩ thì đừng nói! Nếu nghĩ, nói thì đừng viết! Nếu nghĩ, nói và viết thì đừng ký tên! Nếu nghĩ, nói, viết và ký tên là vận hên đã hết!” Chết chắc!

Nguyên văn tiếng Anh như vầy, nó hay hơn lời dịch nhiều vì nó có vần, có điệu nên người dân lỡ sống dưới ách kềm kẹp của chế độ độc tài CS dễ nhớ, dễ thuộc để mà không hứng ẩu, phát biểu linh tinh (?!)

(Don’t think. If you think, then don’t speak. If you think and speak, then don’t write. If you think, speak and write, then don’t sign. If you think, speak, write and sign, then don’t be surprised!)

***

Cái chủ nghĩa CS ở Trung Cộng và cái tàn dư nọc độc của nó ở nước Nga Putin và ở Cambodia Hun Sen bây giờ có nhiều thứ rất giống nhau; làm như mấy ông “Trời con” này học cùng chung một thầy và một sách vậy. Hun Sen, vốn là lính của bọn khát máu Khmer Rouge (tức Khmer đỏ) tự phong mình là “Ngài Thủ tướng! Tổng tư lịnh tối cao!”, đã dùng bàn tay sắt để cai trị đất nước Cambodia hơn 33 năm bằng bạo lực.

Hun Sen không từ bất cứ thủ đoạn nào để tiêu diệt phe đối lập và các phương tiện truyền thông độc lập. Hun Sen phong cho con rể làm Phó Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia; để sai nó “quánh” chết cha đứa nào là nó cũng “quánh”!

Hun Sen gắn lon Đại tá chỉ huy đội cận vệ cho con trai út. Các tên độc tài đều bị bịnh hoang tưởng, (paranoia), thức cũng sợ, ngủ còn sợ hơn nữa, sợ có người ám toán nên đưa thằng con làm cận vệ mới tàm tạm tin được.

Hun Sen gắn lon Trung tướng Tham mưu trưởng các Lực lượng vũ trang Hoàng gia Campuchia cho Hun Manet, là con trưởng. Tía làm Thủ tướng, Tổng tư lịnh tối cao (tính làm tới năm 90 tuổi, xui thay cho dân chúng Khmer là Hunsen, sanh năm 1952, năm nay mới có 66 hè. Còn lâu quá!); Con làm Tham mưu trưởng! Tía con nắm toàn thể chánh quyền, quân đội, cảnh sát, công an! Thôi rinh cả nước Cambodia về nhà mình luôn một lần đi cho nó gọn! Tuy vậy cũng chưa dám chắc ăn; nên Hun Sen hăm he trước rằng: “Tháng Bảy này nếu thất cử là có nội chiến; là có đánh nhau!”

Sao kỳ vậy cà? Đã bầu cử công bằng là có ăn có thua chớ. Đâu có cái vụ ăn vùa thua giựt như mấy đứa lắc bầu cua… Thua rồi làm ẩu đâu nè!

***

Trong nước Cambodia thì Hun Sen muốn múa chàng mua tiên gì cũng được! Cho dù dân chúng có tức điên lên cũng đành ngậm hột thị. Nhưng ở nước Úc này thì nó khác nhe!

Chuyện rằng: Ngày 14 và 15 tháng Ba này, Hunsen sẽ đến Sydney, tiểu bang NSW, Úc Châu dự Hội nghị giữa Úc và các nước ASEAN.

Cộng đồng người Úc gốc Cambodia rục rịch biểu tình phản đối. Hun Sen quá ư là tức tối, chửi họ là chó và lớn lối đe dọa là: “Nếu cho rằng đốt hình Hun Sen sẽ làm Hun Sen chết. Nghĩ vậy là lầm!” “Hun Sen sanh vào năm Thìn, con rồng (1952). Hãy đến tất cả các chùa chiền trên thế giới đốt hết những con rồng thì lúc đó Hun Sen mới chết!” “Cầm bằng nếu các ngươi vẫn ngoan cố biểu tình chống đối, dám đốt hình nộm của ta thì ta sẽ rượt tới tận nhà để tẩn chúng bây một trận ra trò. Ta nói cho các người biết trước!”

Cộng đồng người Cambodia ở Úc nghe vậy rất phẫn nộ; (nói một cách thành thật là cũng hơi sợ sợ) nên la um sùm: “Quyền được biểu tình, quyền dân chủ!”“Hun Sen không quan tâm tới nhân quyền; không tôn trọng nước Úc đã nuôi dưỡng ông ta rồi giờ lại cả gan quay lại đe dọa chính dân nước Úc!”

Bộ trưởng Ngân khố đối lập, Chris Bowen và Dân biểu Chris Hayes, đơn vị Fowler – NSW, thuộc đảng Lao Động, bảo vệ cử tri khu vực bầu cử của mình lên tiếng: “Chúng ta sẽ sát cánh cùng Cộng đồng người Úc gốc Cambodia ủng hộ quyền được biểu tình một cách ôn hòa!”

“Cho dù làm Thủ tướng, ông ấy đến đất nước chúng ta cũng không được phép đe dọa bất cứ một ai.” Đâu phải gậy múa vườn hoang được nè! Mình là thượng khách, mà bị chủ nhà cự nự, sửa lưng như vậy cũng trặc lưng, đau chớ! Phải không?!

Ông bà người Việt mình nói: “Trăm năm bia đá cũng mòn. Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ!” Còn ông bà người Tàu cũng nói: “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử. Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”.

(Là con người từ xưa đến nay ai mà không chết, nhưng khi chết đi phải để lại tiếng thơm lưu danh vào sử sách)

Bởi  trong cõi trần gian ai tránh khỏi được miệng đời? Vậy thì phải sống ra làm sao để người đời đừng mỉa mai: phải sống ra làm sao để có tiếng thơm lưu truyền đến ngàn đời sau.

Từ xưa đến nay, con gì mà không chết. Kể cả con người. Tần Thủy Hoàng hôn quân vô đạo từng sai cận thần đi kiếm thuốc trường sanh bất tử… Kết cục rồi cũng tử. Chỉ còn lưu xú vạn niên! Bởi “hùm chết để da, người ta chết để tiếng”.

Làm lãnh tụ của một nước thì làm sao lúc đương chức thì dân thương; lúc về vườn thì dân nhớ. Chớ đừng bắt chước cái thói độc tài đảng trị! Đang sống sờ sờ ra đấy mà nhân dân cứ rủa thầm trong bụng cho nó đi chầu ông bà ông vải cho rồi như câu chuyện dưới đây! Một bà lão người Nga thời CS Liên Xô đến trạm chờ xe bus. Chiếc nào cũng như xe heo, cũng đầy chật hành khách đến rồi đi!

Cuối cùng, có tin vui trước giờ tuyệt vọng, sau cả hai tiếng đồng hồ chờ gãy lưng sống, may mắn quá, bà cũng chen lên được một chiếc xe.

Lau mồ hôi trán, làm dấu thánh giá: “Xin tạ ơn Thượng đế!”

Nghe vậy, viên tài xế xe bus sửa lưng: “Má ơi! Má phải nói là: Xin tạ ơn lãnh tụ Stalin mới phải!” Bà cụ rối rít: “Ờ! Từ rày về sau “già” sẽ nói y như vậy! Nhưng nè nếu một mai lãnh tụ Stalin qua đời thì “già” sẽ nói như thế nào?”

“À lúc đó, Má nói là: “Xin tạ ơn Thượng đế!”

47. Thư không viết

vanchuongviet

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 28 Jun 2026

Này hải đăng Hải Yến

Em yêu lắm và ta cũng yêu nhiều lắm

Hôm tàu về Âu Châu tôi có nhận của Hoàng Yến gói quà gói trong một phong bì giấy xốp, bên trong ép những tờ giấy trắng tẩm nước hoa ngọc lan thơm phức. Phần quà có hai cuộn băng cải lương, một tập thơ lay out trên máy vi tính, bìa màu vàng bóng, mỗi bài thơ in trên một màu giấy khác nhau. Trong gói quà có kèm theo một bức thư viết nắn nót nét chữ học trò. Yến cho biết, trên biển có nhiều loài chim lạ mà cô rất thích, cô muốn tôi kể cô nghe về chuyện các loài chim biển và chuyện vui buồn trên chuyến hài hành. 

Hôm kia có xảy ra một chuyện mà tôi cũng hông biết vui hay là buồn, chỉ thấy sau khi dọn dẹp xong thủy thủ đoàn thằng nào thằng nấy mệt muốn đứt hơi. Chuyện bắt đầu vào buổi trưa. Trong lúc tàu chạy cách bờ biển Châu Phi gần trăm hải lý. Chợt nghe chuông báo động reo ầm ĩ, thường thì chuông reo một ngắn một dài là báo hiệu tàu bị cháy, bảy dài một ngắn tức là tàu bị nạn gì đó, thủy thủ phải chuẩn bị rời tàu. Nhưng hôm đó chuông reo liên hồi không ai hiểu là báo hiệu chuyện gì hết. Tuy vậy thủy thủ đoàn cũng mang áo phao tụ tập lên phòng lái. 

Lên tới nơi thấy mặt viên thuyền trưởng không có gì là khẩn trương hết, ông kêu mọi người cởi áo phao ra và  ông chỉ tay về phía trước mũi tàu. Mọi người nhìn theo tay ông và ồ lên một cái. Xa xa một vùng khói sương mù mịt.  Jono, thủy thủ người In Đô, thắc mắc:

– Mưa hay sương mù? 

Thuyền trưởng đáp:

– Không phải mưa cũng không phải sương mù mà là cát từ trong sa mạc Sahara bị gió lốc cuốn ra.

– Mình cách bờ gần trăm hải lý thì làm sao cát bay ra được.

– Gần trăm hải lý mà nói gì, cát của sa mạc Sahara bay qua tới Âu Châu lận. Ở Hoà Lan, nhứt là những ngày mùa xuân, lắm khi sáng thức dậy đi ra ngoài thấy trên lá cây, trên mui xe và trên mái nhà cát mịn đóng một lớp mỏng, thì biết đó là cát của sa mạc Sahara bị gió lốc cuốn rải về. 

Giải thích xong chuyện cát bị gió lốc cuốn từ sa mạc Sahara sang Âu Châu, viên thuyền trưởng ra lịnh đóng kín hết các cửa và trong lúc tàu chạy qua ngang vùng cát không ai được ra ngoài boong, trừ trường hợp người nào có chuyện cần ra ngoài thì phải đeo mặt nạ hoặc kiếng che mắt và khẩu trang.

Không bao lâu tàu lọt vào vùng gió cát mịt mùng. Lạ thay lẩn, trong cát vô số cào cào, con nào con nấy lớn bằng nửa cườm tay, xanh màu đọt chuối, hai hàm răng giống như hai kìm sắt, loại cào cào nầy lỡ đáp lên một thửa ruộng hoặc một vườn hoa màu nào chắc chắn trong nháy mắt sẽ bị chúng cắn phá sạch sành sanh. May mắn cho nhà nông, nhà vườn đám cào cào không bay vào ruộng, vườn mà theo gió cát bay ra tận biển khơi làm mồi cho cá. 

Khi tàu qua khỏi vùng gió cát thì trời đã về chiều. Những trự cào cào bị ống khói phun cháy cánh rơi rụng nằm lẫn lộn trong cát ngập cả boong tàu. Thủy thủ đoàn phải mất một phen xúc cát và xác cào cào đem đổ xuống biển, sau đó kéo ống nước ra xịt rửa tàu, tới khi xong chuyện thì đã quá giữa khuya. 

Biển Châu Phi thường êm sóng và màu nước rất xanh. Một ngày trôi qua và ngày thứ hai đã hết. Mọi người đã quên chuyện cát sa mạc Sahara và con tàu chạy rất bình yên. Thủy thủ đoàn lúc nầy được nhàn rỗi hơn, tối lại họ tụ tập vô phòng ăn coi phim và uống bia. Tôi cầm chai bia ra lái tàu ngồi nhâm nhi. Đêm nay hăm mốt âm lịch, đầu hôm trăng chưa mọc. Biển tối đen, chưn vịt tàu đạp nước rù rù, nước biển gợn lên một đường dài ngời sáng trông giống như dãy Ngân Hà vướng vô bánh lái và bị tàu kéo theo. Ngồi trên tàu tôi có cảm giác như ngồi trên một hành tinh lạ. Xa xa trên hải phận quốc tế nổi bật sáu chòm đèn tàu buôn, ba chiếc xuôi Nam, ba chiếc ngược Bắc, tàu tôi đương hướng về phía Đông. 

Đương thả hồn theo cảnh vật chợt nghe tiếng động rột rẹt ở góc mui. Tôi mới nhớ tới con nhàn bị bịnh sao đó mà tôi để nó trong lòng cuộn dây lái từ hồi sáng tới giờ. Con nhàn nầy hồi hôm đậu với hàng trăm con nhàn khác ngủ ở đằng trước, sáng sớm đồng bọn bay đi săn mồi còn vãi phân lại trắng trên mặt boong. Trong lúc xịt nước rửa tàu, Jono thấy một trự đứng co ro bên cuộn dây cáp của cần trục, anh bắt đem vô giao cho tôi. Tuy biết thức ăn của loài nhàn là cá sống, trên tàu không có cá, tôi mới lấy bánh mì xé nhỏ và lon nước đặt trước mặt nó nhưng từ sáng tới giờ nó không ăn uống gì hết. 

Trong ánh đèn lờ mờ từ trên trần mui dọi xuống, trông con nhàn thê thảm với bộ lông khô, xoắn lại từng cọng, chỉa ra như lông nhím, đôi lần nó nhấp cánh định bay nhưng thân hình lê thê lết thếch, miệng ngáp ngáp rồi quỵ cặp giò chúi nhủi. Thấy tội nghiệp quá, tôi đỡ nó dậy để lại chỗ cũ, lấy bánh mì nhét vô miệng nhưng nó không nuốt được, cần cổ cứ lắc lư mỏ rẫy mạnh làm bánh văng tứ tung, cái mửng nầy kéo dài cho tới ngày mai thì làm sao nó sống được. Con nhàn cũng có quê hương là hài đảo xa gần nào đó, với đôi cánh ngàn dặm nó có thể đi đi về về bất cứ lúc nào, chẳng may giữa đường lâm bịnh hấp hối và nằm đây chờ chết.   

Nhìn con nhàn sắp chết, tôi nhớ tới Hoàng Yến, người con gái mảnh mai, ốm nhưng không yếu, nhan sắc trung bình. Cô biết viết văn, làm thơ, không uống rượu nhưng ăn thịt chó và cô rất thích nhìn loài chim biển bay lượn trên bãi biển lúc chiều hôm. Tôi gọi loài chim biển trắng là con nhàn, còn cô gọi nó là hải âu. Tôi bắt bẻ:

– Hải âu không phải tiếng Việt. 

Cô cãi lại:

– Gọi hài âu là nhàn thì giống dân Hai Lúa.

– Hai Lúa làm ruộng thì làm sao biết được tên của các loài chim biển. 

– Tại sao thủy thủ các anh gọi hải âu là con nhàn?

– Tui hổng biết từ đâu nữa, nhưng nhớ hồi còn nhỏ làm ngư phủ trong vịnh Thái Lan, miệt đó có hai loại nhàn, nhàn sẻ nhỏ con, lông màu trắng mượt, nhàn ô thì lớn hơn nhàn sẻ, lông cũng mượt mà và trắng tươi nhưng đặt biệt dưới ức có một đốm lông đen.

– Vậy thì chữ nhàn ô cũng không phải thuần tiếng Việt.

– Nhưng ít ra cũng có phân nửa tiếng Việt.

– Nhưng Yến thích gọi nó là hải âu nghe thi vị hơn.

– Giống tiểu thuyết tình cảm của Tàu thì có, nhưng cô là nhà thơ mà, gọi sao nghe hay và có vị thơ là được, còn tôi thì quen gọi chim nhàn rồi sửa lại kỳ thấy mồ. 

Có lần đi chơi ngoài bãi biển, Yếu thấy một con nhàn chết khô nằm trên gành đá, cô rưng rưng buồn, cầm con nhàn chết cứng đưa cho tôi và biểu tôi đào cát chôn cất cho đàng hoàng. Mỗi lần gặp chuyện cảm động cô hay thốt lên câu “Buồn năm phút”. Hôm đó mặt cô dàu dàu buồn…năm phút khi thấy tôi đào cát chôn cất hải âu.

Hồi chiều có mấy thủy thủ sợ con nhàn ỉa dính dơ tàu mới kêu tôi liệng nó xuống biển, tôi không nỡ lòng liệng khi thấy nó chưa chết. Cứ để đó khi nào nó chết rồi tính sau. 

Không biết bây giờ là mấy giờ mà ánh trăng già hơn nửa mảnh nằm ngang đọt cần trơi, ánh sáng nhạt nhoà chan hoà trên mặt biển. Trời nước yên bình quá, có lẽ tôi phải viết cho Yến một lá thư dài, kể chuyện biển cho cô nghe. Tôi trở vô phòng, kéo mở hộc tủ lấy giấy, viết để lên bàn. Chợt thấy tập thơ của Yến bên cạnh, tôi ngồi xuống lần giở tập thơ. Đập vào mắt mắt tôi một bài thơ chữ nghiêng trên trang giấy màu xanh nước biển và có in hình mấy con nhàn đương dang cánh bay.

Tôi đọc:

*”Ta yêu lắm nhịp đều hoà của biển

Sóng trầm lặng rồi sóng lại dâng

Bình minh lên và hoàng hôn xuống

Trong thoáng mơ hồ bâng khuâng một chút

Cho Hải Yến tung cánh giữa khơi

Lẩn vào mây…

Mây xanh ngát bầu trời

Cho đêm đen thẳm tối

Có hải đăng mịt mù xa trên cao

Này Hải-Đăng Hải-Yến

Em yêu lắm và ta cũng yêu nhiều lắm

Biển trời xanh…

Thời tuổi nhỏ cũng xanh” 

Hoàng Yến chưa từng ra khơi bao giờ vậy mà cô làm thơ về biển rất sống động. Còn tôi thì lênh đênh trên biển nhiều hơn ở đất liền. Biển khi xanh màu da trời, lúc xanh màu cẩm thạch, bàng bạc lóng lánh và lúc thì đục màu phù sa. Chim biển rất nhiều loại, có con đen như quạ, con thân hình mập chè bè, chưn thì giống như chưn con vịt, con thì giống như cò đen, cò trắng, hạc… nhưng nhiều nhứt vẫn là chim nhàn. Tôi không biết viết văn, làm thơ gì hết thì làm sao viết thư tả cảnh biển ban đêm có trăng tỏa sáng và triệu trệu sao trời lấp la lấp lánh, ban ngày thì có chim bay lượng trên mặt bước và bầu trời xanh bát ngát… Tôi ngần ngại, muốn viết cho Yến một lá thư dài, nhưng chuyện biển của tôi quái đản, kỳ cục, nhạt nhách nhạt nhẽo cũng như chuyện cát, cào cào và chuyện con nhàn sắp chết. Biết đâu đọc xong thư Yến hỏi tôi con nhàn chết chưa và nếu chết rồi thì có đem nó chôn cất cho đàng hoàng không. Trên biển lấy đất đâu mà chôn. Còn nói tôi sẽ thủy táng con nhàn sau khi nó chết thì thế nào Yến cũng thốt lên câu tội nghiệp và “buồn…năm phút”. Không muốn cô nhỏ phải mất năm phút buồn, tôi bèn thu xếp giấy, viết cất vào học tủ và cầm lấy tập thơ leo lên giường nằm đọc à vỗ giấc ngủ./.

Đại Tây Dương tháng 5 2008

*Thơ của Hoàng Ngâu

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 28 Jun 2026

Nơi ven rừng âm u, trong một đêm trăng mù sương, cô Nga đưa chúng tôi xuống bãi Tân Hao. Cô đi với gã thượng úy. Gã đến đây, kiểm soát và đếm đầu người để tính ra số vàng tên chủ ghe người Miên phải trả.

Mọi người đã lên ghe. Vợ con tôi cũng lên ghe rồi. Cô Nga đứng sát mé nước. Sóng trườn lên bãi ướt cả gấu quần. Tôi cầm tay cô, ứa nước mắt nói những lời từ biệt.

Cô cũng siết tay tôi: “Anh chị ra đi bình yên. Mong chị không hiểu lầm em.”

Dưới màu trăng khuya, tôi không nhìn rõ mặt cô Nga nhưng tôi đoán cô buồn lắm. Đó là lần cuối cùng tôi gặp cô.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 28 Jun 2026

“Dân hai nhăm triệu ai người lớn?

Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”

-Tàn Đà: “Mậu Thìn Xuân Cảm”

Thuở còn trẻ đọc các chuyện đi sứ trong đó có chuyện Mạc Đĩnh Chi, tôi thấy rất phục tài ứng đối của ông Trạng Nguyên này. Một lần Mạc Đĩnh Chi đến thăm phủ Thừa tướng nhà Nguyên, trong phủ trang hoàng lộng lẫy, giữa phòng có treo một bức trướng thêu hình con chim sẻ đậu trên cành trúc trông rất sinh động. Trạng ngỡ là chim sẻ thật nên đưa tay ra bắt, Thừa tướng và các quan quân nhà Nguyên đều phá lên cười và có ý cho là người phương xa bỉ lậu. Mạc Đĩnh Chi nhanh trí chữa thẹn, vội lấy bức họa xuống và xé toạc thành nhiều mảnh. Trong khi mọi người đều kinh ngạc, ông nghiêm mặt giải thích: “Tôi nghe người xưa vẽ cành mai và chim sẻ, chứ chưa thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc bao giờ. Trúc là bậc quân tử, chim sẻ là kẻ tiểu nhân, nay tế tướng lại thêu cành trúc với chim sẻ như vậy là để tiểu nhân trên quân tử, sợ rằng đạo của tiểu nhân sẽ mạnh, đạo của quân tử sẽ suy. Tôi vì thánh triều mà trừ giúp bọn tiểu nhân.”

Nay trên đầu đã hai thứ tóc, nghĩ lại chuyện xưa, muốn chửi gia chủ là ngu, treo tranh không biết ý nghĩa, hay mượn cớ chửi quần thần của nước người ta là đám tiểu nhân, mà làm trò “vờ vĩnh” rồi hung hãn xé tranh nhà người thì tài ngoại giao của Đĩnh Chi quả thực cũng còn nhiều vấn đề cần bàn. Xem lại những chuyện thuộc giai thoại làng nho, đến những chuyện tiếu lâm dân gian thì giật mình thấy dân Việt trong đó có mình, xem chừng rất thích những trò nghịch lỡm, khôn vặt hay miệng lưỡi trí trá, đốp chát với người hơn là làm việc đứng đắn. Những chuyện như Trạng Quỳnh gạt tiền bà chúa Liễu, làm sớ dâng sao chữa bệnh cho công chúa bị lên sởi, hay ăn cắp mèo của Chúa hay đến chuyện hai anh chàng “thông minh nhưng thất bại trong khoa cử,” Ba Giai tuột quần giữa chợ để đôi co với cô bán hàng là “nâu này của cô hay của tôi,” Tú Xuất giả mù qua cầu để nhìn các cô tắm truồng dưới suối, ra chợ mua chim để tìm cách bóp vú cô bán hàng, hay lừa quán cơm để đòi bồi thường mấy chục lạng bạc. Những chuyên lưu manh trò trí trá như vậy lại được dân chúng truyền tụng, viết thành tuồng, chèo, kịch để công diễn và già trẻ lớn bé xem chừng đọc một cách hả hê thỏa mãn. Không tin bạn cứ google “trạng Quỳnh” và “Ba Giai Tú Xuất” thử xem tìm được bao nhiều trang web có “chuyên đề” về những nhân vật này.

Chắc chắn khả năng ngôn ngữ là một phần của trí thông minh, nhưng khả năng này có khi biều hiện qua những bài hiệu triệu cảm động lòng người hay phân tích tổng hợp nâng cao dân trí, thì có khi chỉ là những trò “xảo ngôn” lừa lọc hay miệng lưỡi ganh đua vụn vặt, thứ vụn vặt quanh bữa cỗ ngoài đình làng. Thế nhưng ganh đua đốp chát nhỏ mọn ngoài đình lại không phải là trò của đám “tiểu nông” như các nhà trí thức chuyên nghiên cứu văn hóa Việt Nam vẫn thường hay đổ tội, mà là của đám nhà nho “tiểu trí thức,” trong đó quyền lực của quan lại cũng không mà sức lực của nông dân cũng không. Người có quyền lực hay sức lực muốn can thiệp hay thậm chí áp chế người khác chắc không ai cần “nói cạnh nói khóe.” Ký cho đối phương một cái lệnh tống giam hay “quai” cho một cú vào hàm là giải quyết ngay công việc. Thế nhưng nếu không có sức có quyền, nói thăng thì sợ bị đáp trả, thì tốt hơn hết có lẽ là “chỉ tang mạ hòe” (chỉ vào cây dâu mà lại mắng cây hỏe). Đối phương có biết mình ám chỉ thì không có bằng chứng cụ thể để đáp trả. Chẳng lẽ lại tự nhận là người ta đang chửi mình, rồi chửi lại.  Trò “chỉ tang mạ hòe” quả là khôn. Nhưng thiết nghĩnó là loại khôn vặt, xuất phát từ thế của kẻ yếu. Mà đã chuyên khôn vặt thì khó mà có đầu óc khôn lớn. Người Việt chúng ta không nhiều thì ít thường hãnh diện về cái khôn ngoan lanh lẹ này nhưng qua thực tế lịch sử cái khôn vặt này chưa thấy đem đến phát minh sáng kiến, chính sách ích quốc lợi dân nào mà chỉ dẫn đến những trò tham vặt gian vặt. Lại trong một xã hội mà “thẳng thắn thật thà thường thua thiệt, lọc lừa lươn lẹo lại lên lương” như hiện nay ở Việt Nam, thì số người muốn dùng trí tuệ, tài năng, và công sức của chính mình để thành công lại cảng khan hiếm. Đa số chỉ muốn dùng thủ thuật, mánh mung để đạt được kết quả hay tìm kiếm lợi nhuận trước mắt. Cẩm nang khôn vặt của Việt Nam chứa không ít ca dao tục ngữ, “ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau;” “lanh mồm miệng, đỡ chân tay,” “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn,” v.v …Báo chí trong nước tường thuật không ít về những trò tham vặt của dân Việt “hiện đại.” Trong lãnh vực học thuật có chuyện ông Tiến sỹ- Phó Giáo Sư Nguyễn Chí Bền, Viện Trưởng Viện Văn Hoá- Thông Tin (!) ăn cắp tài liệu nghiên cứu của GS Tô Ngọc Thanh về văn hóá chiêng cồng của đồng bào dân tộc để in sách làm của mình. Chơi trội hơn với tầm mức quốc tế là Thạc sỹ Lê Đức Thông sinh năm 1981 bị các chuyên san Natural Science, Journal of Modern Physics, Physics Letters B, Europhysics Letters, tuyên bố rút bỏ các bài “nghiên cứu” của ông này và nhóm đồng tác “giả” vì tội đạo văn. Trong lãnh vực văn nghệ thì nhạc sĩ trẻ Trương Tuấn Huy thú nhận lấy sáng tác “Chút Tình”của Trường Nhân, sửa tên thành “Chút Tình Phai” đem bán. Một nhạc sĩ tương đối có tên tuổi là Bảo Chấn thì cũng “đạo” bản “Frontier” và “Crescendo” của Keiko Matsui dể hô biến thành bài “Tình Thôi Xót Xa” và “Dường Như.” Nói về nạn nhân thì nhạc sĩ Trần Duy Đức ở hải ngoại cũng bị các nhạc sĩ “tài hoa” ở trong nước “thuổng” bài “Nếu Có Yêu Tôi.” Chuyện ma của Nguyễn Ngọc Ngạn thì được một nhà xuất bản trong nước “cầm nhầm” đổi nhan đề, đổi tên tác giả và đem xuất bản, bán lấy tiền.

Trong chuyện chính trị Việt Nam thì ông tổ khôn vặt là Hồ Chí Minh. Từ chuyện cướp danh hiệu và công trình các bậc tiền bối như Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, chuyện tổ chức đón tiếp Pháp đến Hà Nội ngày 19-5 mà lại nói là mừng sinh nhật của mình, đến chuyện viết sách ký tên người khác để tự tâng bốc mình trước sau gì cũng bị phơi bày sự thật. Một trong những chuyện tiêu biểu cho sự “khôn ngoan” của người đứng đầu miền Bắc được nhân dân “truyền tụng” là chuyện bắt tay một bộ trưởng Pháp của Hồ Chí Minh. Trong lần tới thăm Bộ trưởng Bộ Hải Ngoại Marius Moutet năm 1946, ông Hồ đang đi lên các bậc tam cấp thì ông Moutet giơ tay ra bắt tay khi đang đi xuống. Ông Hồ vờ không thấy, cúi xuống bế và âu yếm bé gái đi cùng ông bộ trưởng trong khi vẫn bước tiếp lên. Chỉ khi ở bậc thang ngang hàng với Moutet, ông Hồ mới đưa tay ra bắt. Chỉ tội nghiệp cháu bé gái.

Nối tiếp tấm gương tiền bối lãnh tụ, các quan lại Cộng Sản đời nay lại tiếp tục ngụy tạo bằng chứng trốn thuế để bắt giam Điếu Cày và Lê Quốc Quân, ném đồ dơ vào nhà người đấu tranh dân chủ như Bùi Minh Hằng và Huỳnh Ngọc Hiếu, chụp mũ bằng bao cao su “qua xử dụng” như Cù Huy Hà Vũ, cho công an giả dạng côn đồ hay cho côn đồ giả dạng công an. Không chỉ quê nhà mà chuyện quê người cũng lắm, chuyện “ở quanh đây, đâu là chuyện bất ngờ.” Từ chuyện nhỏ kiểu “thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ.” Làm trong công sở thì ăn cắp giấy bút, làm bệnh viên ăn cắp bao tay, kim chích đem về nhà. Lại nghe chuyện một bà chủ tiệm nail không dám bỏ ra mấy đồng mua bao thư, mà đến nhà băng ăn cắp bao thư deposit ở chỗ máy ATM, để bỏ tiền trả

lương nhân viên. Đến chuyện lớn, một số tổ chức đấu tranh dân chủ hải ngoại đôi khi cũng đâm lén vài dao vào lưng nhau, tranh công đoạt lợi, hay thập thò đi đêm, rồi chờ đèn xanh đèn đỏ, thay vì tập trung trí khôn xây dựng lực lượng, phát triển đường lối, ngày đêm chờ ngày phục quốc. Ngẫm nghĩ lui tới thì quả thật khôn vặt sẽ dẫn đến tham vặt mà tham vặt lại dẫn đến khôn vặt. Cái trí khôn nhỏ bé thì chỉ thấy lợi trước mắt, không nghĩ đến hậu quả lâu dài hay sâu rộng. Cái lòng tham nhỏ bé thì chỉ vận dụng trí khôn vừa phải để học hành đối phó, để lừa lọc vài người.  Đất nước bây giờ tụt hậu cả vài trăm năm so chỉ vớinhững quốc gia trong vùng. Với cái “đình cao” khôn vặt tham vặt đó thì có đến ngàn năm sau cũng khó thấy dân tộc  này “rồng bay” hay “hổ nhảy.” Biết đến khi nào dân mình mới bớt cái khôn vặt và trưởng thành để hết là “trẻ con” như nhà thơ Tản Đà đã phán?