Thiên nhiên ở Guyana

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 1 Jul 2026

Những tháng mùa Thu, vùng biển Caribbean khi im lắng, lúc sóng vời vợi dâng cao. Vào những ngày trở gió, từng bầy cá chuồn như hàng ngàn cánh bạc bay lấp lánh trong ánh mặt trời. Mỗi lần tàu cán ngang bầy cá làm chúng giựt mình hốt hoảng phóng tua tủa và đáp trên boong tàu trắng vã. Thủy thủ đoàn sách xô ra lượm, làm sạch rồi đem vôi đưa cho đầu bếp.

– Bếp, chiên.

– Ô kê.

Trong lúc gã đầu bếp lấy xô cá đổ ra bàn rắc muối, tiêu lên ướp. Già Luis với Jony đi vô lựa một vài con tươi đem ra sau lái lấy dao lóc thịt ăn liền. Jony xin nước tương chấm cá. Thấy già Luis ngồi ăn cá sống, gã đầu bếp lột vài tép tỏi, cắt mấy miếng chanh trộn tiêu và muối để vô dĩa đem ra đưa cho già.

– Ông chấm với cái nầy ăn đỡ tanh miệng.

Già lắc đầu.

– Nature, nature.

Hai tiếng nature (thiên nhiên) đã nhập vào đời sống của già Luis từ thâm căn cố đế nào. Không cạo râu, không tắm rửa, không bận áo mỗi khi tàu đến vùng nhiệt đới, coi phim con heo, ăn cá sống đối với già tất cả đều là thiên nhiên, theo già thì động vật dưới biển rất nhiều loại ăn sống được chớ không riêng gì cá chuồn. Sáng ra là thấy già cởi trần mang chiếc dao găm ngang hông, bận chiếc quần Jean cắt ống cụt ngang đầu gối, viền ống bung chỉ tua tủa. Nhìn già Luis gã bếp nhớ tới lão Ernesto trong một truyện nổi tiếng của Hemingway. Trước đây một thế kỷ lão Ernesto cũng lênh đênh đâu đó trong vùng biển Caribbean mấy ngày đêm và có lẽ cũng ăn cá chuồn sống, vì vùng nầy chỉ có loại cá chuồn mới bay lên ghe lên tàu được. Quê hương già Luis ở vịnh Viscaya thuộc vương quốc Tây Ban Nha, suốt đời già sống trên biển nhiều hơn ở đất liền. Còn Jony người In Đô, trước kia có đi tàu đánh cá Nhựt Bổn nên học được cách ăn cá sống của Nhựt, nó có thể ăn một hơi nửa ký lô cá tuna sống chấm muster hoặc năm bảy con cá chuồn sống chấm nước tương vậy mà thịt bò bít-tết nó chê sống không dám ăn.

Rohadi cầm chiếc chày đâm tiêu đi ra đưa cho già Luis. Thấy hai người ăn cá sống, nó chỉ tay lên đầu lắc lắc, day qua nói với gã đầu bếp.

– Coi hai người khùng.

– Ai khùng? Gã đầu bếp hỏi.

– Hai người ăn cá sống.

– Thì đã sao?

Rohadi cũng không biết trả lời sao. Jony nghinh mặt hách dịch:

– Đ. m. sống trên đời một miếng cá sống cũng hổng dám ăn thì lấy tư cách gì mầy chê cười người khác.

Rohadi biết mình lỡ lời nên nó vội xin lỗi hai người. Nó dặn già với Jony uống ít thôi vì đêm nay tàu neo ngoài vàm sông Demerara thủy thủ phải chia phiên gác.

– Mày khỏi lo, có già Nature nầy thì không thằng ăn trộm nào dám bén mảng xuống tàu đâu.

Già vừa nói vừa cầm chày đâm tiêu dộng cộp cộp xuống boong. Chuyện thủy thủ đoàn canh gác mỗi khi tàu vô hải phận Guyana mới bắt đầu từ sau vụ trộm xảy ra chuyến trước. Sáng hôm ấy, lúc phương Đông vừa đâm mây ngang, chưn trời bàng bạc trắng và gió bấc phả hơi lạnh đều đều. Xa xa dải đất liền lờ mờ trong sương sớm, lốm đốm vài ánh đèn nấn ná như chưa muốn chia tay với ánh bình minh. Hoa tiêu hướng dẫn tàu chạy chầm chậm vô vàm. Đầu bếp đứng trên boong phía sau tàu, đây là chỗ đứng lý tưởng của gã mỗi khi rảnh việc, buổi sáng cũng như buổi trưa, buổi chiều và buổi tối, chỉ có chỗ nầy gã mới bình tâm nhìn được cảnh vật chung quanh. Nước trong sông Demerara đổ ra pha nước biển gân lên màu cẩm thạch, tàu đạp nước vẽ lên hai lằn bọt trắng dài tít phía sau. Chợt nhiên từ trong làn sương mờ đục hiện ra một chiếc ghe gắn máy chạy theo sau lái. Người đứng trước mũi ghe cầm đoạn dây đầu có móc, quây vun vút và quăng đầu dây phóng thẳng lên boong, hắn kéo sợi dây cho chiếc móc móc chặt vô thành tàu, lập tức ba người con trai ốm nhom như ba con khỉ đu dây leo thoăn thoắt leo lên boong. Đầu bếp hốt hoảng chạy vô mui, quay điện thoại lên phòng lái.

– Báo cáo thuyền trưởng có ăn trộm lên tàu!

Thuyền trưởng báo với hai tên gác tàu. Hai tên gác tàu chạy ra bắn hai phát súng cũng vừa lúc chiếc ghe tháo dây vạt ra và nhấn hết ga vọt biến hút trong đám sương mù.

Mọi chuyện xảy ra chưa đầy mười lăm phút. Già Luis ra sau kiểm điểm đồ đạc, mất hai cuộn dây cột lái và một cái mô-tơ cuốn cầu thang, già lên phòng lái cự nự thuyền phó sao không cho người canh phía sau lái, vì già đã cảnh cáo trước ở vùng Nam Mỹ nầy trộm cướp như rươi. Già xồng xộc đi xuống hằn học với gã đầu bếp.

– Tại sao thấy ăn trộm mà mầy không chạy ra phang nó.

Thấy già Luis hầm hì như muốn ăn tươi nuốt sống đầu bếp. Gã day qua nhìn già cười một cái và chỉ ngón tay thẳng lên trán già:

– Ông già khùng! Trong lúc ăn trộm đương hành nghề, chỉ có những thằng điếc không biết sợ súng mới dám chường đầu ra lãnh đạn, dây và máy mất bảo hiểm bồi thường cho công ty đầy đủ, chớ còn nhân mạng của những tên thủy thủ mạt rệp như bọn mình bị ăn trộm đâm hoặc bắn chết, may mắn còn được cái xác liệm trong cái hòm loại rẻ tiền đem về cho vợ con ở nhà lãnh.

Nghe gã đầu bếp xối xả một tràng, gương mặt hầm hừ của già đột nhiên biến mất, già gãi gãi lên mỏ ác, chỗ không có tóc, tươi cười:

– Xin lỗi, mới bảnh mắt ra gặp nhiều chuyện, giận quá tao quên.

Già chìa tay ra:

– Cho tao chai bia.

Đầu bếp mở tủ lạnh lấy bia khui nút đưa cho già, già cầm chai bia ngước cổ tu một hơi hết sạch. Bỏ chai vô thùng rác già nói:

– Tàu sắp sửa bỏ neo.

Neo tàu xong thuyền trưởng ra lịnh. Bắt đầu từ bây giờ, mỗi khi tàu vô vùng nầy thủy thủ khỏi phải cạo sét sơn tàu, mỗi người chia phiên canh gác. Trước tới giờ thủy thủ đoàn thường xuyên thực tập cách phòng chống khi tàu cháy hoặc rời tàu khi chìm nhưng không có thực tập cách đề phòng trộm cướp vì vậy mạnh ai nấy tự nghĩ ra cách bảo vệ tàu. Lúc khẩn cấp thủy thủ phải dùng gậy gộc, dao găm, cán chổi làm vũ khí.

Hôm tàu trở lại Houston, thuyền trường đi mua sắm thực phẩm với gã đầu bếp trên chợ Việt Nam. Ông thấy cây chày đâm tiêu đầu bự, đầu nhỏ vừa nắm tay ông liền mua hai cái đem xuống tàu. Già Luis khoan đầu nhỏ của chiếc chày một lỗ và sỏ ngang một sợi dây da vừa ôm cổ tay để phòng khi đập ăn trộm chày khỏi vuột. Đêm nay thủy thủ bắt đầu xử dụng vũ khí bằng chày đâm tiêu sản xuất ở Việt Nam được già Luis cải tiến.

Chiếc Elsa vô tới hải phận Guyana lúc năm giờ sáng. Thuyền phó đánh thức thủy thủ đoàn dậy chuẩn bị đón hoa tiêu. Tàu vô tới làn nước đục thì chiếc ghe chở hoa tiêu cũng vừa cặp lại. Có lẽ vì còn ngái ngủ nên thủy thủ đoàn thả thang dây ẩu tả sao đó để thang tuột làm hoa tiêu té xuống nước mình mẩy ướt như chuột lột. Gã hoa tiêu tức giận mặt hầm hầm đi vô tàu tìm phòng thay quần áo. Thuyền phó bị thuyền trưởng chửi, thuyền phó chửi lại thủy thủ đoàn, thủy thủ đoàn xanh máu mặt, thằng nầy đổ lỗi cho thằng kia và cãi vã nhau chúy choé. Tháp tùng với hoa tiêu có hai người chịu trách nhiệm gác tàu, một người mang túi quần áo, một người mang cây súng trường lót tót theo sau.

Tàu neo ngoài vàm chờ tới trưa nước lớn mới nhổ neo chạy vô Linden. Sông Demerara khúc ngoài sâu và rộng thênh thang, càng vô trong sông càng cạn và hẹp đủ để hai chiếc tàu buôn loại lớn chạy ngược chiều nhau. Thuyền phó đem máy quay phim ra quay cảnh. Hai bên bờ sông, cây thốt nốt và trúc xanh mọc hoang xen lẫn trong rừng cây tạp nhạp. Cách khoảng theo tán rừng những ngôi nhà sàn sơn xanh sơn đỏ, phía sau nhà chuối, dừa và vườn rau được nhà nông trồng ngay hàng thẳng lối. Mặt sông phẳng lặng, nước đục phù sa, vài đám lục bình, rác rến hững hờ trôi. Những hàng đáy được cắm vững vàng day miệng theo chiều con nước ròng, nước lớn. Những cô gái bận áo quần nhiều màu sắc ngồi sau lái cầm dầm bơi trên những chiếc xuồng con sơn màu xanh dợt, chầm chậm xuôi ngược hai bên mé nước cạn hoặc những chiếc đò gắn máy trong lòng khoang chạy tà tà và nhiều xuồng thon dài gắn máy phía sau phóng nhanh như ca nô phả sóng trắng xóa. Con nít trên xóm đứa lội, đứa bơi xuồng ra giữa dòng giơ tay vẫy vẫy. Thủy thủ trên tàu cao hứng gói kẹo, bánh, nước ngọt trong bọc ni lông liệng xuống nước. Đám con nít bơi theo tranh lấy những gói quà, chúng la ó vang dội khắp mặt sông.

Tàu ghé cảng Linden lúc mặt trời sắp khuất xuống ngọn cây. Bến cảng nằm bên bờ sông vừa đủ đậu một chiếc tàu, sàn lót ván dầy, không có kè đá, người ta cắm cây xúc bên ngoài cho tàu cặp và dây được cột lên những cột trụ bắt dính vô mặt sàn. Không có cần cẩu nên trông bến trống trơn. Trên bờ hai dãy nhà thiếc nằm nép mình bên rừng cây tạp nhạp có nhiều lá vàng chen lẫn trong khối lá tươi xanh, xa xa trên dạng rừng, nền trời hiện lên màu máu đỏ. Từng bầy chim trời kéo nhau bay về chỗ ngủ, chỉ còn lại bầy diều hâu còn nán lại trên sông, dang đôi cánh rộng thả lơ lửng lưng trời như điểm tô cho dòng sông thêm phần hùng tráng.

Trời nhá nhem tối, hai chiếc đò dọc chở đầy đàn bà và con gái cặp vào chiếc Elsa. Hai anh gác tàu thòng thang dây xuống cho các cô lần lượt leo lên. Một lát sau các bà các cô da đen và da nâu đứng đầy nhóc phía sau lái tàu. Thuyền trưởng hào phóng mở kho rinh lên ba thùng bia và hai thùng nước ngọt. Thủy thủ đoàn góp bia và rượu thêm vào chất thành một đống. Gã đầu bếp cắt phó mát, hâm xúc xít bày ra. Nhạc được mở lớn và mọi người đứng vòng tròn, khui bia lốp bốp mời nhau, các cô gái da đen bóng lưỡng mỗi khi cười nhe hàm răng trắng nhách. Các cô gái khởi động uốn éo theo điệu vũ khỏa thân, vạch ngực trần, vén đùi cao, ôm các anh cọ xát thân hình. Già Luis ở trần giơ tấm thân đầy lông lá, râu ria phủ gần hết gương mặt. Già đi tới đi lui, rờ mông cô nầy, bóp vú cô kia, coi mòi già xông xáo còn hơn đám trẻ. Thủy thủ đứa tóc dài chấm vai, đứa đầu tóc bù xù, đứa cạo đầu trọc lóc mặt mày thằng nào thằng nấy đã nhuộm màu thiên nhiên rừng rú. Khỏi cần đốt lên nhóm lửa hồng, giữa ánh đèn điện vàng vọt, trông họ giống dân da đỏ cắm trại giữa rừng trước đây vài thế kỷ.

Sau khi lo cho đám thủy thủ xong xuôi thì đêm cũng dần lên, gã đầu bếp tách ra khỏi đám tiệc, gã cầm chai bia leo lên boong sau lái đứng nhìn ra dòng sông. Trên sông lấp lánh ánh đèn của một chiếc xuồng câu và rừng thấp im lìm trong giấc ngủ. Nhìn đèn nhà vườn leo lét theo những tán rừng dọc hai bờ sông, làm gã nhớ quê hương ray rứt. Lâu lắm rồi gã chưa về thăm giòng sông cũ, hổng biết trên dòng sông ấy các cô gái quê có còn bẽn lẽn vân vê tà áo thẹn thùng khi gặp người con trai lạ muốn làm quen. Cuộc sống lam lũ, mộc mạc nơi đó khác xa nơi nầy một trời một vực.

– Bếp, tao kiếm mầy nãy giờ.

Đương vẩn vơ thả hồn về quê hương chợt nghe tiếng già Luis, day lại thấy già cũng vừa đi tới, gã hỏi.

– Kiếm tui chi vậy?

– Mày còn Whisky không?

– Còn, ông cần hả.

– Ừa, cho tao mượn một chai.

Gã bếp ngước cổ đưa chai lên uống hết phần bia còn lại rồi liệng vỏ chai xuống sông.

– Ông theo tui.

Gã vô phòng lấy rượu đưa cho già. Cầm chai rượu già nói:

– Mấy con đĩ muốn uống rượu.

Gã nhướng mắt mỉm cười:

– Thì cứ cho nó uống nhưng ông thì uống vừa thôi.

Già cười hì hì nói:

– Tao biết rồi.

Thấy gã bếp ngồi xuống chiếc băng, già hỏi:

– Mày không xuống chơi sao?

– Không, ông chơi đi tui hơi mệt rồi.

– Vậy thì ngủ đi.

Già Luis đi rồi gã bếp vô phòng tắm đánh răng, rửa mặt xong gã lấy quyển sách leo lên giường nằm đọc.

Mỗi lần tàu ghé Linden, sáng nào gã cũng pha một ly cà phê bưng ra sau boong đứng, vừa nhâm nhi cà phê vừa ngắm mây xám đâm ngang phía trời Đông, sương mù đọng trắng trên mặt của dòng sông và lan tỏa trên dạng rừng cây tạp nhạp. Trên tàu yên ắng, gã đứng nghe tiếng thú và chim rừng đánh thức, gọi nhau đi tìm mồi…

Sáng nay gã định xuống phòng bếp pha cà phê. Nhưng khi bước ngang phòng ăn gã thấy từ trên mặt bàn cho tới sàn tàu đầy nhóc lon bia và lon nước ngọt, mùi hôi hỗn hợp bốc lên nồng nặc. Trong đám ngổn ngang bừa bộn và hôi hám, có một người con gái trẻ bận áo thun đỏ, cổ rộng xệ một bên ngực, bày ra gần hết chiếc vú căng tròn, cô bận chiếc váy màu đen, chiếc giỏ nhựa màu ngà mang trên vai thòng xuống khỏi bắp đùi, cô ta ngồi trên ghế, mặt ngước lên trần, miệng há hốc ngáy khe khẽ. Cô gái của miền sông nước Guyana mũi cao, mắt đen, chưn mày đậm, da nâu, lông tay, lông chưn rậm rì và cặp giò dài tỏa ra một sức sống mạnh mẽ và hứa hẹn những cuộc truy hoan không mệt mỏi. Ở bên Âu châu thân thể nầy phải đặt trong căn phòng kiếng có đèn màu hồng mờ mờ, nệm, gối thơm tho, kẻ nào muốn thử một lần cho biết, phải mất từ trăm Euro trở lên. Thường thì các cô xuống tàu đứng cho các anh chọn, cô nào hổng được chọn có thể ngồi lại ăn nhậu tới mãn tiệc rồi về. Không hiểu vì sao hôm nay sót lại một cô nằm trong cái đám ngổn ngang hôi hám như vầy.

Gã đi vô lắc lắc chiếc vai trần tươm mồ hôi rin rít của cô gái:

– Hello, hello, good morning, good morning!’

Cô gái giựt mình đưa tay vừa dụi mắt vừa nói giọng nhừa nhựa.

– Buồn ngủ quá.

– Sáng rồi, cô về nhà ngủ đi.

Cô gái mở mắt hổng lên, giọng lè nhè.

– Nhưng tui mệt quá.

Gã phân vân, hổng lẽ để cô ta ngủ ngồi giữa ban ngày ban mặt trong phòng ăn như vầy coi kỳ quá, gã nói.

– Cô lên phòng của tôi ngủ đi.

Cô gái đứng dậy mặt đờ đẫn giọng ngái ngủ:

– Phòng ông ở đâu?

– Chờ tui một lát.

Gã lên phòng, lấy bóp tiền nhét túi quần, đồ đáng giá và máy móc dồn hết vô tủ khóa lại. Gã trở xuống kêu cô gái:

– Đi theo tui.

Sau khi đưa cô gái lên phòng gã trở xuống bếp, trong lúc pha cà phê gã mới giựt mình, nhớ lại hồi mới đổi về tuyến đường nầy, mỗi lần ghé đây, đên khuya gã thường bị đánh thức bằng tiếng gõ cửa, gã không bao giờ mở. Đến khi các cô hè nhau đập cửa rầm rầm, buộc lòng gã phải mở cửa ra năn nỉ các cô đi chỗ khác, nhưng các cô cứ nằng nặc đòi gã cho vô. Các cô nói, chỉ ngủ thôi hổng làm gì cũng được. Nói chơi không! Gã thừa biết các cô vô được rồi đâu có để gã nằm yên ngủ một cách dễ dàng. Năn nỉ không được, cuối cùng gã phải lo lót thuốc lá và bia rượu cho tên gác tàu, nhờ hắn ta can thiệp dùm. Ấy vậy mà có khi nào gã ngủ được một giấc cho ngon, chốc lát lại nghe tiếng giựt nước rào rào, tiếng cười, tiếng nói, tiếng la oai oái, tiếng chưn rầm rập giống y như chó rượng đực tháng bảy. Hôm nay mắc chứng gì gã đem lòng tốt ra đối xử với cô gái nầy. Rước cô ả vô phòng rồi làm cách nào trục ra đây. Trong lúc miên man lo tới cái hậu quả không lành có thể xảy ra thì già Luis từ trên phòng lộp cộp đi xuống. Già nhìn vô phòng ăn thấy giống như kho chứa đồ phế thải, già đưa nắm tay kẹp ngón cái vô ngón giữa làm dấu tục gặt gặt, già chửi thề:

– Goddamn! biết ăn nhậu, biết làm tình nhưng không biết dọn dẹp.

Gã bếp nhìn già lắc đầu:

– Thôi ông à, lâu ngày lênh đênh trên biển, ghé bến được vài ngày cho tụi nhỏ xả hơi với chớ.

Nói là nói vậy, thật ra gã thừa biết hồi hôm cái mặt râu của già cũng có tham dự trong cái đám xô bồ xô bộn kia. Gã rót cà phê ra hai tách, bỏ đường, sữa rồi đưa qua già một tách.

– Mình ra sau lái ngồi uống cà phê đi, tới giờ làm việc bắt tụi nhỏ dọn dẹp năm mười phút xong ngay.

Vừa bưng tách cà phê đi theo gã già vừa càu nhàu.

– Chỉ có hai thằng già mình lo, chớ tụi nó mà lo cái gì.

Già Luis lớn hơn gã một gần một con giáp, thân thể già sắp bệ rạc, đã vậy còn mang bịnh ghiền rượu. Mỗi khi say già nói năng bậy bạ làm đám trẻ coi thường, chúng đòi đập già hoài. Hồi tàu mới ghé, già cá với bọn nhỏ, thằng nào cắt được lông háng của mấy đứa xuống tàu già thua một kết bia, bằng không thì mỗi thằng chung già một kết. Hôm qua tụi nó đem lông lại đòi bia. Già nói không phải lông thiệt già không chịu chung. Tụi nhỏ hăm he đòi thủy táng già. Thấy vậy gã đầu bếp mới lấy bia của gã đưa cho tụi nó, nhưng tụi nó không lấy. Gã kêu tụi nó tha cho già phen nầy. Thật ra thì tụi nhỏ hù già chơi cho bỏ ghét, chớ chúng cũng thừa biết bia rượu già mua hàng tuần hổng đủ cho già uống thì lấy đâu già chung. Nhờ được bọn trẻ thương nên chúng chịu lắng nghe gã. Già biết vậy nên mỗi lần gây chuyện với xắp nhỏ già vô phân trần với gã để gã dàn xếp với chúng. Nhìn già giống y như người tiền sử. Gã bếp nói.

– Từ mặt mày cho tới mình mẩy ông lông phủ đầy, chỉ trên đầu bị sói, ông định lấy lông của mấy con đĩ gắn lên cho hết sói hả.

Đã vậy già còn ngoan cố đứng giải thích cho gã đầu bếp nghe giữa lông dưới háng và tóc của đàn bà khác nhau như thế nào. Già quả quyết mấy đứa nó chơi gian, không muốn chung bia mới cắt tóc của mấy con nhỏ đem lại gạt già. Đến một nơi đĩ điếm lúc nào cũng sẵn sàng, ai có tiền bỏ ra muốn làm gì trên thân xác các cô cũng được. Trong lúc làm tình tụi nhỏ chụp hình, quay video đủ cách đủ kiểu, huống hồ chi lấy kéo cắt vài ba nhúm lông. Tuy nhiên gã đâu lạ gì cái tánh cãi bướng rất nature của già nên chẳng cần đôi co với già làm gì.

Tánh thiên nhiên của già không thể nào gần gũi được đám trẻ nên già mới đeo theo gã bếp. Để cho có tình thân, già thường dùng câu ‘hai thằng già mình’ mỗi khi nói chuyện. Gã bếp day qua nói với già:

– Nhưng mấy thằng nhỏ cũng đâu có thằng nào được khỏe.

– Có sướng thì có mệt.

– Dĩ nhiên, nhưng hồi trẻ thì mình cũng vậy thôi ông à.

Chợt nhiên già day ngang nói:

– Hồi nãy tao thấy mầy dẫn một con vô phòng.

Gã đầu bếp chỉ tay vô cái đống xô bồ xô bộn trong phòng ăn, nói:

– Thấy ả ngủ ngồi trên cái đống rác kia, tui mới kêu lên phòng cho ngủ nhờ.

– Tao trông con nhỏ cũng được mắt.

–Đẹp, chớ được gì, mấy thằng nhỏ bộ xỉn hết rồi sao mà hông lấy con nhỏ bốc lửa.

– Say khướt còn biết đẹp xấu gì nữa.

– Ông thấy nó đẹp thì cứ tự nhiên đem nó về phòng.

Già đưa một ngón tay lên giữa miệng:

– Suyt! Mầy đừng nói với ai.

Gã đầu bếp đương suy tính làm cách nào để tống khứ cô gái, nhân cơ hội nầy gã chộp ngay:

– Được rồi, trưa nay ông đem cô ta về phòng mặc sức cho ông cạo lông mà chẳng tốn lon bia nào.

Già cười sằng sặc làm hàm râu quai nón của già run run.

Suốt buổi sáng gã đầu bếp nấu nướng phân phát đồ ăn cho hơn hai chục mạng làm gã mệt đừ, mồ hôi hột đổ ra ướt hết chiếc áo thun. Gã lên phòng thấy cô nhỏ đã thức từ hồi nào, cô nhỏ mới vừa tắm, đầu tóc còn ướt, bận chỉ có chiếc áo thun và quần lót, trời nóng nực, trông cô nhỏ mát mắt liền. Cô ta ngồi bên bàn phì phèo thuốc lá. Thấy gã vô cô ta than đói bụng. Gã xuống múc cơm và thịt đầy một dĩa đem lên đưa cho cô gái.

– Nè, cô ăn xong rồi đi qua phòng ông Luis.

– Không.

– Sao vậy? Cô không cần tiền à?

– Ông Luis hôi rình.

– Ông ta là người của thiên nhiên nên không cần tắm rửa, cô đem ổng vô phòng tắm rửa sạch sẽ ổng trở lại thơm tho chớ gì.

Cô gái đưa ngón tay trỏ ra dấu quặt lên quặt xuống:

– Nhưng con “gà cồ” của ổng không ngóc nổi.

– Sao cô biết?

– Hồi hôm tui ở phòng ông ấy.

Té ra hồi hôm già đem con nhỏ vô phòng, vậy mà sáng ra già tỉnh khô làm bộ không biết gì hết. Thật ra thì nghề làm đĩ xứ nào cũng có, ở đâu cũng vậy, hễ rớ tới đĩ thì phải sòng phẳng chuyện tiền bạc. Nhưng đĩ điếm xứ nầy xuống tàu ngoài chuyện kiếm ăn, kiếm uống, kiếm tiền còn đòi phải thỏa mãn dục vọng nữa. Bệ rạc như già lại thêm tật ghiền rượu, bữa ăn nào thiếu rượu tay, chưn già run bần bật đến đỗi cầm nĩa xỉa thịt đưa lên miệng, miếng thịt không vô miệng mà trợt lên gò má. Lậm rượu tới mức đó ôm con gái chơi cho đỡ thèm chớ làm ăn được khỉ khô gì.

Thủy thủ nào thường đi tuyến đường Nam Mỹ cũng nghe câu chuyện về một anh thủy thủ, say rượu quắc cần câu không đáp ứng tình dục cho cô gái. Cô ta nỗi khùng lên giữa khuya lấy dao lắt cu anh nọ liệng xuống sông. May cho già Luis, gặp cô nhỏ nầy còn hiền nên bỏ xuống phòng ăn ngủ, chớ phải tay cô gái trong câu chuyện vừa kể thì chắc chắn cái “củ từ ” của già bị cắt liệng xuống sông cho cá rỉa. Chuyện thường đem kể trên hội quán hoặc lúc nhậu nhẹt để đưa cay. Tuy nhiên khó mà lường trước được trong đêm đương ngủ, chợt giựt mình đau đớn với máu me đầy háng. Sau khi xe cấp cứu chở vô nhà thương băng bó, sáng ra biết mình đã trở thành thái giám bất đắc dĩ. Nghĩ tới đây cũng đủ ê ẩm hạ bộ rồi. Gã nói với cô gái.

– Tui cũng như ông Luis vậy thôi, tui già rồi.

Gã day ngang mở tủ lấy khăn, áo sửa soạn đi tắm, cô gái bước tới vừa thoa thoa hai bàn tay vô cặp mông của gã vừa nói.

– Tui tắm cho ông.

– Không được, cô làm ơn ăn cơm xong rồi đi dìa cho tui còn nghỉ ngơi.

Gã đẩy cô gái ra, đi vô phòng tắm đóng cửa, khóa lại.

Tắm rửa thay quần áo xong trở ra. Gã thấy dĩa cơm còn nguyên trên bàn còn cô nhỏ thì nằm trần truồng trên giường. Thấy gã cô gái liền quỳ lên tay thoa cặp vú, tay vuốt chùm lông đen mượt quăn queo phía dưới bụng, thân hình uốn éo mặt ngước lên khiêu gợi giống y như mấy cô gái ngồi trong mấy cái sex-shop. Cô chồm qua ôm gã. Gã giựt mình đưa tay chống đỡ vô tình chạm phải trái ngực mềm mại và không tránh được cái hôn bất ngờ. Sẵn trớn cô ta câu cổ gã cứng ngắt. Gã đẩy cô gái ngồi xuống giường, nâng cằm cô gái, nhìn thẳng vào đôi mắt đen huyền, chưa kịp mở lời thì bất thình lình cô gái ngã người ra sau, kéo gã trườn tới, nguyên người gã ngã sấp đè lên mình cô ta. Lập tức tay phải cô câu cổ gã, tay trái nắm kéo tay gã nhét vô giữa háng. Gã vội rụt tay về, cô gái ghì mạnh cho trở vô và kẹp chắc hai bắp dùi lại. Thân thể cô ta bốc lên hừng hực, miệng rên khe khẽ please…please… Muốn thoát khỏi cảnh thiên nhiên rừng rú không còn cách nào khác hơn giúp cô nhỏ qua cơn cháy bỏng. Gã đút mấy đầu ngón tay vô ngoái mạnh, tức thì cô gáy nẩy người bần bật, da thịt căn cứng, tay quờ quạng lung tung. Cuối cùng cô đê mê không còn biết trời trăng gì nữa, mặt mày nhăn nhó, mũi dún lại nhiều ngấn trong giống như loài sói rừng, tay bấu mạnh lên ngực cào cấu nổi lằn trên vú và miệng kêu ăng ẳng như chó con đói sữa. Tới đây gã bếp cảm thấy máu trong người chạy rần rần, mình mẩy nóng đổ mồ hôi, hơi thở đứt đoạn, da mặt căng và toàn thân như đồng loã với tiếng kêu của cô gái. Cùng lúc cô gái thét lên tột đỉnh thì những dồn nén lâu ngày trên biển của gã bếp cuồn cuộn tràn theo đương đạo ào ạt tuôn ra như nước xịt rửa boong tàu….Giúp cô nhỏ xong gã ê ẩm cả người. Gã đứng lên đi vô phòng tắm lấy xà bông rửa tay và rửa sạch cái “ngã” đã làm nhớp nhúa chiếc quần lót mới thay. Khi gã trở ra, cô gái ngồi dậy đến bên gã rờ rẫm, hỏi dò.

– Ông không làm gì thiệt sao?

– Dĩ nhiên là không.

– Tại sao?

– Tui không có gì cho cô đâu.

– Không sao.

Cô gái đưa tay mò xuống dưới dạ bụng của gã. Gã đỡ tay cô gái.

– Này cô nhỏ, tui không làm tình với cô được đâu.

Mặc kệ cô gái nài nỉ, gã lấy áo quần thẩy lên người cô ta.

– Cô bận quần áo vô rồi đi dìa cho tui còn phải nghỉ ngơi.’

Coi mòi khó thuyết phục được gã đầu bếp, cô gái để quần áo lên băng, đứng dậy đi vô phòng tắm, không đóng cửa, tự nhiên ngồi xuống đái xè xè vô bồn cầu, xong cô ta xối nước rửa ráy mình mẩy. Trước khi ra khỏi cửa cô hỏi xin tiền đi đò. Khi cô gái đi rồi gã leo lên giường ngả lưng nằm thở một hơi dài, coi như xong cái của nợ. Gã nằm ngay ngắn và bắt đầu đều hoà hơi thở. Trong lúc mơ màng, gã chợt nhớ quên vặn đồng hồ báo thức. Gã vói tay lên đầu nằm quờ qua quờ lại nhưng chỗ để đồng hồ trống trơn. Gã lồm cồm ngồi dậy tìm vẫn không thấy, có lẽ cái đồng hồ đã đi theo cô gái mất rồi. Gã nằm xuống nhắm mắt, chợt nhớ lại hồi sáng nầy gã thấy cái giỏ xách da của cô gái xẹp lép, nhưng sao hồi nãy nó lại phình ra như có chửa. Gã nghi ngờ ngồi dậy lấy chìa khoá mở tủ. May quá, máy móc đồ đạc còn nguyên. Nhưng khi mở tủ trong phòng tắm thì xà bông gội đầu, bàn chải, kem đánh răng dự trữ và cái máy cạo râu đã được cô gái dọn sạch bách.

Sáng sớm hôm sau tàu khởi hành. Già Luis ngồi cú rủ trong phòng ăn mặt như thụng mất trong hàm râu quai nón, nhìn già giống như loài khỉ đột ở châu Phi, ai hỏi gì già cũng hổng trả lời mà gừ gừ trong cổ họng như chó gậm xương. Đợi mọi người ăn xong và ra boong làm việc, già bưng tách cà phê vô phòng bếp mếu máo nói với gã đầu bếp, hồi hôm ăn trộm vô phòng già; máy móc, đồng hồ và số tiền dành dụm mua computer cho con gái đã bị ăn trộm lấy hết.

– Mất hết không còn một xu hùmm… m…

Già gầm lên như cọp gầm rồi khóc hu hu như con nít. Chẳng những gã đầu bếp không nói lời an ủi mà còn mỉm cười xỏ lá:

– Ông cẩn thận lắm mà, chày đâm tiêu sản xuất ở Việt Nam đâu sao hổng đem ra khệnh ăn trộm, tối ngày cứ lo nhắc người nầy, nhở người kia coi chừng trộm cắp sao ông không giỏi coi chừng đồ đạc của ông đi.

– Bốp!

Bất thình lình già chọi tách cà phê qua ngang đầu gã va vô vách bể nát. Già vừa đi ra boong vừa chửi gã đầu bếp om xòm trời đất.

Ai tới đây trước sau gì cũng nếm mùi hở ra bị chôm, lơ là bị chộp ít thì dày, dép, nhiều thì đồ đạc đắt tiền. Người cẩn thận lúc nào cũng kè kè chìa khóa trong mình mà còn bị lừa huống hồ chi già, nhứt là khi uống rượu say để cửa phòng toang hoác, già thì nằm chò co trên băng nệm miệng há hốc ngáy khò khò, ai rinh già liệng xuống nước già cũng chẳng hay nữa.

Lần nào cũng vậy, tàu đậu vài ngày, khi ra khơi, đám nhỏ thằng nào cũng bị cháy túi, nhưng đối với chúng tiền bạc không thành vấn đề, miễn là được hưởng thụ. Trong lúc hưởng thụ thể xác của các cô gái chúng còn dùng máy chụp điện tử chụp chứa nghẹt mấy cái laptop và thu video sang ra đầy mấy cuộn băng. Diễn viên nữ trần trụi dang háng chổng mông, hình thù thì đen thui như tràm cháy, diễn viên nam say rượu quắt cần câu vậy mà cũng bày đặt hết kiểu nầy sang kiểu nọ cà hì, cà hục, cà trật, cà vuột đóng phim con heo mà thằng “cu tí” quặt quà quặt quại giống như con gà chết trong khung cảnh bừa bộn vỏ chai rượu và lon bia. Ánh sáng không đều, người quay thuộc loại tơ lơ mơ, ống kính lúc lướt qua bên nầy, khi sang bên nọ nhanh như xe lửa chay trên đường đèo, màn ảnh giựt giựt coi phát chóng mặt. Tác phẩm không đạt tiêu chuẩn phát hành. May ra còn ghi được cảnh sông nước thiên nhiên của Guyana mà thiên nhiên nơi đây thì giống y chang thiên nhiên ở quê hương của gã đầu bếp.

Gạch đã ra lò

Lâm Chương

Post by Sơn râu 1 Jul 2026

(Nhà văn Lâm Chương)

Hắn ở nhà thuê. Đặc tính của người thuê nhà là không ở một chỗ nào quá lâu. Hơn 20 năm sống trên đất Mỹ, hắn dời chỗ 7 lần. Và lần nào cũng thuê đúng tầng 3, trên cao chót vót. Cái số hắn là vậy.

Lúc còn ở Việt Nam, có lần hắn đi coi bói. Lão thầy bói hỏi hắn về ngày tháng năm sinh. Hắn mù tịt. Bởi hắn được sinh ra trong thời giặc giã, má hắn hoảng hốt bồng con chạy loạn trối chết. Bà ngoại hắn nói nửa đùa nửa thật, rằng má hắn đẻ rớt ra hắn trên đường chạy loạn. Sao lạ vậy? Có ai vừa chạy vừa đẻ không? Người ta đau bụng quằn quại rên la gần chết mới đẻ được. Nhiều đứa bé bướng bĩnh nằm ì không chịu ra, bắt buộc phải dùng biện pháp mạnh, giải phẩu nắm đầu lôi ra. Còn hắn tạo điều kiện dễ dàng cho người đã cưu mang hắn. Ngay từ lúc sơ sinh, hắn đã thể hiện tính nhân bản, chẳng làm khó ai bao giờ. Có điều lầm lẫn là hắn đã ra đời không đúng lúc. Rồi khi ổn định nhà cửa, mãi lo tất bật với miếng ăn hàng ngày, chẳng ai nghĩ đến chuyện làm cái giấy khai sinh cho thằng nhỏ. Coi như sự có mặt của nó trên cõi đời này là một chứng minh hùng hồn rằng nó là một đơn vị hợp pháp trong xã hội loài người. Má hắn đâu biết con bò, con trâu hay chiếc xe gắn máy cũng cần phải có giấy chủ quyền. Hắn không có giấy tờ gì cả. Mãi đến năm 7 hay 8 tuổi gì đó, hắn mới bắt đầu đi học. Cho đi học là một cách giữ chân hắn trong trường để đừng chạy nhảy rong chơi phá làng phá xóm. Chữ nghĩa không cần thiết. Má hắn người đồng quê, sống bằng vào ruộng rẫy, mọi sự suy nghĩ hết sức đơn giản. Chữ nghĩa mà làm ông làm cha gì ai? Lúc đói cũng phải xăn quần lội xuống ruộng cày cấy mới có miếng ăn. Hắn chưa đủ lớn để có thể xăn quần lội xuống ruộng. Phải cho hắn đi học để hắn đừng đi chơi. Đơn giản chỉ có thế. Nhưng nhà trường lại rắc rối, đòi phải có giấy khai sinh. Má hắn dẫn hắn ra hội đồng xã. Ông hộ tịch trợn trừng nạt nộ lớn tiếng, gạn hỏi đủ điều làm như má hắn lượm một thằng nhỏ ở đâu, hoặc ăn cắp con ai rồi mạo nhận là con mình. Trước thái độ dữ dằn của ông hộ tịch, má hắn khiếp vía, không sao nhớ được hắn sinh ra vào ngày tháng năm nào. Cuối cùng rồi cũng làm được cái giấy khai sinh, căn cứ vào thời điểm đất nước có những sự kiện như thế, và lấy đó làm dấu mốc năm sinh của hắn. Còn ngày tháng sinh không xác định được nên để trống. Đó là một thiệt thòi lớn cho hắn sau này. Hắn không lấy được lá số tử vi về vận mệnh của mình. Tương lai cuộc đời coi như mù mịt.

Hắn không biết ngày sinh tháng đẻ, lão thầy bói nhìn mặt xem tướng và xem chỉ tay cho hắn.

Lão nói: “Con người thọ khí âm dương của Trời Đất và khí huyết của cha mẹ mà sinh ra. Từ bậc vua quan cho đến hàng dân dã cũng đều như nhau cả. Nhưng trong đó, máy tạo hoá có phân biệt khác nhau là cái tướng. Bởi vậy, người tuy đông mà không ai giống ai hết. Tướng ấy thể hiện người sang hèn, giàu nghèo, yểu thọ, ngay gian, kể ra không cùng. Hễ hình hài mang lốt tướng nào thì vận mệnh cũng theo hình tướng ấy, không khi nào sai.”

Nếu theo lý luận của lão thầy bói thì hình tướng của hắn coi như hỏng bét. Hắn không đẹp trai. Phụ nữ không yêu hắn. Họ chỉ thương hại. Nhiều người nhận xét mặt hắn có vẻ cù lần, lương thiện một cách đần độn. Cũng vì lương thiện một cách đần độn nên ở đời hắn thường chịu nhiều thua thiệt. Nhìn mặt xem tướng, mặt hắn toàn thể hiện những nét phá tướng. Còn chỉ tay hắn, những chỉ ngang lằn dọc xiên qua xẹo lại nát bấy, chẳng ra làm sao cả. Điều này chứng tỏ hắn gặp nhiều khó khăn, trắc trở trên đường đời. Nhưng hãy để thầy bói đoán xem sao. May ra lão tìm được đường chỉ nào khả dĩ hoá giải bớt những hắc ám trong đời hắn. Quả thật, lão nói rất nhiều. Toàn những điều bất hạnh. Hắn tự an ủi, rằng lão chỉ đoán mò và nói bá láp. Coi như trật lất hết. Duy chỉ một điều làm hắn nhớ mãi, bây giờ nghiệm lại thấy đúng.

Lão bảo: “Cậu cao số lắm.”
Hắn hỏi: “Cao số là nghĩa làm sao?”
Lão giải thích: “Đời cậu ba chìm bảy nổi, lắm lúc gian nan nguy hiểm, nhưng cậu yên tâm đi. Tất cả đều tai qua nạn khỏi.”

Hắn thở phào, thầm khen lão thầy bói nói đúng như thần. Nhà hắn nghèo, lại không có thân thế nhờ cậy ai nên khi đi lính, hắn được ưu tiên đưa ra chiến trường. Đời nào cái bọn con ông cháu cha mà ra trận mạc? Hắn khơi khơi xách súng ra chiến trường như đi bắn chim vậy. Không anh hùng mà cũng lắm phen vào sinh ra tử. Chẳng biết hắn có bắn chết thằng nào hay không. Khi lâm trận, đạn bắn như mưa, nhiều người ngã xuống. Chưa chắc đó là do viên đạn của hắn. Ngược lại, đồng đội hắn cũng nhiều người ngã xuống. Nhưng hắn thì 10 năm trận địa chưa mất một sợi lông chân, dù vất vả gian nan có thừa. Có người hỏi, sao hắn đi chinh chiến lâu thế mà không trầy trụa sứt mẻ gì? Hắn bảo vì hắn chạy giỏi và có biệt tài né đạn. Nói chơi cho vui vậy thôi. Thật ra, có lẽ vì cao số nên đạn tránh hắn.

Hắn hỏi thêm: “Ngoài cái chuyện tai qua nạn khỏi, cao số còn có nghĩa gì khác nữa không?”

Lão thầy bói nhíu mày: “Tương lai vận mệnh con người đâu thể nói rõ ràng như 2 với 2 là 4. Tuỳ cậu suy nghiệm từng sự việc xảy ra.”

Hắn cố gạn hỏi về cái chuyện cao số, mong lão thầy bói bật mí thêm về tương lai của hắn: “Thầy đã coi cho tôi thì xin nói hết những gì thầy biết.”

Lão có vẻ nổi cáu, xẵng giọng: “Cao số là cái số sống trên đầu trên cổ thiên hạ. Thôi, đủ rồi. Tiền quẻ bao nhiêu thì nói bấy nhiêu. Xin đừng hỏi nữa.”

Sống trên đầu trên cổ thiên hạ ư? Hắn nào dám mơ như thế. Hắn vốn người chậm lụt, trí năng thấp kém. Chỉ mong thiên hạ đừng bắt nạt đè đầu bóp cổ là may lắm rồi.

Sau những năm dài chinh chiến, tình thế bắt đầu đổi khác. Lúc những người mang dép râu, đội nón cối từ trong hang ổ rừng xanh xuất hiện trên các phố thị miền Nam, cũng là lúc hắn sa chân xuống hầm tai hoạ. Nói trắng ra là đi tù. Đi tù, nhân phẩm bị chà đạp, khổ nạn như con trâu bị bỏ đói mà bắt phải kéo cày. Vậy mà lão thầy bói bảo hắn sống trên đầu trên cổ thiên hạ. Ngược lại thì có.

Khi qua Mỹ, nhiều lần dời chỗ ở, và lần nào hắn cũng thuê đúng tầng 3. Thật tâm hắn không muốn thế, nhưng hai tầng dưới đã có người thuê rồi. Thôi, đành chịu vậy. Ở tầng 3, mỗi lần di chuyển đồ đạc vất vả vô cùng. Nhưng rồi hắn cũng tìm được lý do an ủi, lên xuống lầu cao là một cách tập thể dục. Người ta tốn tiền mua dụng cụ tập luyện thân thể. Hắn khỏi tốn khoản tiền ấy. Bạn hắn, phần đông đều cao tuổi, chân tay cò vạc yếu đuối. Có lần ông bạn già lẩy bẩy leo đến tầng 3 của hắn, há mồm thở dốc.

Ông nói như hụt hơi: “Ở trên đầu trên cổ thiên hạ càng mệt, chứ sướng ức chi?”

Câu nói vô tình làm hắn chợt nhớ lời lão thầy bói. “Cao số là cái số sống trên đầu trên cổ thiên hạ.” Trời! Chuyện tương lai xa hàng mấy chục năm mà lão nói trúng phóc. Hiện tại hắn đang sinh hoạt ăn uống, tắm rửa, ngủ nghê gì cũng trên đầu của 2 tầng nhà dưới. Trước kia, hắn lầm tưởng lão thầy bói muốn nói hắn ác ôn, chuyên môn đè đầu cưỡi cổ người khác. Hoá ra không phải thế. Lão ám chỉ cái số hắn ở trên cao. Ở Mỹ như vậy là số nghèo. Số mạt rệp! Số vất vả! Người giàu không xây nhà cao. Họ sợ đi lên đi xuống mỏi chân, lại dễ trượt té u đầu sứt trán như chơi. Họ chủ trương trải rộng mặt bằng, cơ ngơi chiếm nhiều diện tích khang trang mát mẻ. Khác với Việt Nam. Nhà nào lên lầu cao là giàu, dân có máu mặt. Người nghèo, nhà cửa chật chội, thấp lè tè. Ngước nhìn lên lầu cao, đôi khi mặc cảm thân phận mình nhỏ bé, thấp kém hơn thiên hạ.

20 năm hắn vẫn ở nhà thuê, chứng tỏ hắn nghèo thật. Khi mới qua Mỹ, hắn không có tiền sắm đồ đạc trong nhà. Hắn thường lang thang đi lượm những món đồ người ta vất đi, đem về dùng lại. Hắn nghĩ, nếu ở Việt Nam đem những món này ra chợ trời cũng bán được khối tiền. Thế thì ở đây người ta vất, tội gì mình phải mua? Mình chỉ lượm, chứ trộm cắp của ai mà xấu hổ? Nghĩ vậy, nhưng nhiều lúc thấy người ta dòm ngó, hắn cũng ngượng. Dù hắn đã tạo cái dáng như người nhàn rỗi dạo chơi để đừng ai chú ý.

Trong khi săn nhặt đồ cũ, hắn gặp một đồng nghiệp người Mễ. Anh này qua Mỹ trước hắn vài tháng, tiếng Anh cũng ấm ớ như hắn. Cả hai vừa nói chuyện vừa dùng đôi tay diễn tả. Tuy nhiên, anh ta có đầy kinh nghiệm trong nghề. Anh bảo phải có một chiếc xe đẩy khi đi lượm đồ cũ. Hắn nói không thể kiếm được. Tuần sau, anh ta cho hắn một chiếc shopping cart giống như chiếc của anh đang đẩy, và truyền đạt cho hắn những kinh nghiệm vô cùng quý giá: “Điều gì người Mỹ tính rồi thì khỏi tính lại, vì họ đã tính rất chính xác. Nơi nào người Tàu đã bỏ đi thì đừng đến ở, vì họ rất giỏi mưu sinh mà còn thất bại thì mình không thể thành công. Đồ đạc gì của người Việt Nam vất thì đừng lượm, vì người Việt vốn tính cần kiệm nên đồ họ bỏ ra thì không ai còn dùng được nữa.”

Sau một thời gian quen biết, anh bạn Mễ sắm được chiếc xe hơi cũ. Chiếc xe trông thảm, trầy trụa móp méo tùm lum, nhưng tiếng máy nghe êm. Mới đầu hắn tưởng anh ta lượm được ở đâu đó. Nhưng không, anh bảo mua rẻ của một thằng bạn Mễ. Từ khi có chiếc xe, anh giải nghệ đi lượm đồ cũ, chuyển hướng đi yard sale. Đây cũng là một cách săn lùng đồ cũ dưới hình thức khác. Mỗi cuối tuần, anh chở hắn đi. Đồ yard sale bán rẻ như cho. Đối với hắn, đi yard sale cũng là một cái thú. Đi hoài, đâm ra ghiền yard sale. Và hắn khám phá ra có nhiều người cũng ghiền như hắn. Những bộ mặt quen thuộc ấy, hắn gặp hoài ở các địa điểm yard sale. Cuối tuần, thay vì đi chơi, họ đi ngắm đồ yard sale may ra vớ được món bở với giá rất bèo. Hắn đọc báo, thấy nói có người mua khung hình cũ về tháo ra, bắt gặp những đồng tiền xưa hoặc giấy tờ tuỳ thân cũ từ cả trăm năm trước. Những thứ lâu đời đó bỗng trở thành vô giá đối với dân chơi đồ cổ. Dân chơi đồ cổ là dân nhiều tiền lắm của. Khi đã đam mê, họ có thể chơi ngông dám bỏ ra số tiền rất lớn để đổi lấy một món đồ cũ mèm, xem ra không còn chút giá trị thực dụng nào cả. Hắn mong một ngày mình cũng có được món đồ gì lọt vào mắt xanh của dân sưu tầm đồ cổ. Không mua vé số mà cũng trúng độc đắc. Nhưng dịp may ấy chẳng bao giờ đến với hắn. Bởi lão thầy bói đã nói rồi, số hắn ở trên cao, nghĩa là số nghèo.

Nói đến đồ cổ, không thể không nói đến những món không cần phải cổ, cũng có thể đem bán đấu giá. Đó là đồ dùng của các nhân vật nổi tiếng đã chết rồi. Cái đồng hồ, cây bút của cố tổng thống John F. Kennedy, hoặc cái quần lót của nữ tài tử Marilyn Monroe. Hắn thật không hiểu người ta tranh nhau đấu giá để mua cho được cái quần lót của Marilyn Monroe làm gì? Ngắm chăng? Nó cũng như trăm nghìn cái quần lót người khác, có gì lạ mà ngắm? Ngửi chăng? Trước khi mang ra đấu giá, người ta đã tẩy giặt sạch rồi. Còn hơi huớm gì mà ngửi? Từ cái quần lót của Marilyn Monroe, hắn nhớ lại chuyện ông vua Tự Đức cũng “xếp tàn y lại để dành hơi” sau khi nàng cung nữ yêu lìa đời. Hắn tưởng tượng, mỗi khi nhớ cái mùi của người đã từng chung chăn gối, nhà vua lấy cái quần lót của nàng đưa lên mũi ngửi một cách say mê với đôi mắt lờ đờ ngây dại. Hắn bật tiếng cười khan. Trăm họ thần dân mà biết nhà vua ngửi quần lót đàn bà thì còn ra cái thể thống gì?

Trở lại chuyện của hắn. Hiện tại, nhà hắn đầy đủ tiện nghi với những đồ đạc săn nhặt từ thùng rác và yard sale. Vợ hắn lắc đầu, cho rằng những thứ hắn tha về toàn là của người chết mà thân nhân của họ muốn tống khứ đi. Con hắn gớm ghiếc, bảo đấy là đồ dùng của người mắc bệnh Aids, cần phải vất bỏ tẩy uế. Hắn không đồng quan niệm với vợ con. Nhưng nhiều đêm nằm ngẫm nghĩ, săn nhặt đồ cũ cũng vì nghèo. Hơn thế nữa, nó thành thói quen. Tương tự như khi hắn ra khỏi tù, đi đường thấy cái bao nhựa nylon cũng lượm bỏ túi. Một thói quen bệnh hoạn đã thâm nhập vào tận xương tuỷ, do đời sống quá khó khăn thiếu thốn trong tù tạo nên. Cũng như khi mới qua Mỹ, liệng bỏ những cái bình đựng sữa, đựng nước bằng nhựa nylon thì tiếc, mà giữ lại thì không biết để làm gì. Không phải một mình hắn có triệu chứng bất thường như thế. Một trung tá Mỹ lái máy bay dội bom miền Bắc Việt Nam bị bắn rơi, rồi bị bắt làm tù binh 7 năm ở trại tù Hoả Lò, Hà Nội. Sau ngày trao trả tù binh giữa Mỹ và Cộng Sản Bắc Việt, ông được báo chí phỏng vấn. Ông nói về những nỗi đắng cay trong tù. Và điều đó đã ngấm sâu vào ông, trở thành thói quen vô thức trong sinh hoạt hàng ngày. Chẳng hạn, khi đi cầu ông dùng rất ít giấy vệ sinh để lau chùi, dù cuộn giấy vệ sinh chẳng đáng gì để ông phải bận tâm suy nghĩ về sự tiết kiệm. Hắn cũng nhớ lại thời gian hắn bị lưu đày ra đất Bắc, không có đến mảnh giấy vụn làm vệ sinh. Hắn phải dùng miếng giẻ rách xé ra từ quần áo cũ để lau chùi. Mỗi khi đi tiêu ngoài rừng, nếu dùng lá cây thi bất tiện lắm. Lá cây trơn láng, chùi không sạch. Lá cây nhám, có nhiều lông làm xót ngứa hậu môn. Dùng miếng giẻ là tiện nhất. Chùi xong, xếp miếng giẻ cho vào túi nhựa nylon, rồi cất vào túi quần. Buổi chiều về ngang con suối, vệ binh cho dừng lại tắm rửa, luôn tiện giặt miếng giẻ để lần sau dùng nữa. Hắn dùng hoài, cho đến khi nào có được miếng giẻ khác thay thế tốt hơn. Khi còn ở tù, lúc nào hắn cũng thủ sẵn miếng giẻ trong túi. Chỉ cần hai miếng giẻ là đủ dùng cho cả năm.

Khi nghĩ về số phận, hắn tự hỏi, hắn đâu làm nên tội gì, sao ông Trời bất công với hắn? Hắn không tự chọn sinh ra trong một gia đình nghèo nàn thiếu trước hụt sau. Hắn lại sở hữu một cái đầu kém thông minh, không có một năng khiếu đặc biệt gì để bon chen cùng thiên hạ. Vào quân đội thì làm con chốt thí trên chiến trường. May mà con quái vật chiến tranh chưa kịp nhai xương hắn thì cuộc chiến chấm dứt, nên còn được cái mạng trở về. Rồi hắn bị đẩy vô tù. Người ta trút lên đầu hắn bao nhiêu là tội lỗi tày trời, rằng phản bội tổ quốc, bán nước cầu vinh. Tự vệ chống lại thằng ăn cướp mà gọi là phản bội sao? Và cái thân cùng đinh của hắn thì quyền hành gì mà có thể bán cả giang sơn tổ quốc? Ra khỏi nhà tù, hắn tìm cách vượt biên ngay. Bởi quá tin người, hắn bị lừa đảo hết tiền và suýt bỏ mạng. Phải đến chuyến thứ 13, hắn mới đi trót lọt. Người ta kỵ con số 13, nhưng vận mệnh của hắn lại hợp với con số xui xẻo này.

Bây giờ, hắn đang ở Mỹ. Phần đông người Việt ở đây đều có đời sống thoải mái. Tiền bạc, xe hơi, nhà cửa đàng hoàng. Sao hắn vẫn ở nhà thuê? Có phải tại hắn lười biếng? Hay mệnh Trời đã định? Hắn phản đối ông Trời, và quyết tâm cải lại số Trời. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết, “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Hắn sẽ thắng thiên. Hắn sẽ làm giàu. Hắn sẽ thí mạng cùi làm việc để có nhiều tiền. Đang làm tà tà ngày 8 tiếng trong nhà in, hắn xin làm thêm giờ phụ trội. Đầu tắt mặt tối, mệt nhoài thở chẳng ra hơi. Muốn có nhiều tiền, thật khổ lắm thay! Một ông bạn thấy hắn quá vất vả để trở mình làm giàu, bèn nói một câu chí lý: “Ở Mỹ, người ta cho con ngựa ăn no, nhưng bắt phải chạy đua.” Hắn đang làm con ngựa chạy đua. Máu hắn đã bị vắt cạn trong các trại tù Việt Nam, khi sang đây thì đã sức cùng lực tận, còn đua với ai được nữa?

Một năm trời làm con ngựa chạy đua, hắn bã người. Hắn ra tiệm thuốc Bắc, mua sữa mật ong chúa về uống mỗi ngày. Theo quảng cáo, đây là loại thần dược làm tráng dương cho người già, tăng sức cho người trẻ. Càng uống, hắn càng kiệt sức. Khốn nạn! Lúc nào tay chân hắn cũng rã rời, mệt mỏi và buồn ngủ. Hắn nổi giận, ném mấy lọ thuốc còn lại vào sọt rác. Hắn nghi mình có bệnh tiềm ẩn gì đó đang rúc rỉa dần xương thịt. Hắn đi bác sĩ. Sau khi thử nghiệm, bác sĩ cho toa mua multi vitamin, khuyên hắn cần nghỉ ngơi và ăn uống điều độ. Bệnh tiềm ẩn mà cách điều trị đơn giản vậy sao? Thôi thì hãy tin nơi bác sĩ. Dù sao ông ta cũng đã khổ công mài mòn bao nhiêu cái đít quần trong các giảng đường y khoa. Chứ không phải như mấy cha nội mới biết đọc i tờ, theo Việt Cộng vào rừng khiêng xác chết và rửa ghẻ một thời gian, khi ra thành phố bỗng trở thành bác sĩ ngang xương. Do kiến thức y khoa giới hạn, thay gì cứu người, họ trở thành kẻ sát nhân. Đã có nhiều người bỏ mạng vì loại bác sĩ xuất thân từ rừng xanh rồi. Thằng con trai của hắn là một trong những nạn nhân ấy. Hắn căm hận gọi loại bác sĩ này là bác sĩ tử thần. Căm hận thì nói thế thôi, chứ hắn làm gì được ai?

Bắc sĩ dặn mỗi ngày uống 1 viên multi vitamin, hắn chơi luôn 2 viên một ngày cho chắc ăn. Đồng thời, hắn nghỉ làm thêm giờ phụ trội. Không còn đầu tắt mặt tối nữa. Sức khoẻ hắn phục hồi nhanh chóng.

Những lúc rỗi việc, hắn hay lôi Truyện Kiều ra đọc mua vui như lời cụ Nguyễn Du nói. Gần cuối truyện, hắn chú ý đến đoạn thơ: Ngẫm hay muôn sự tại trời/ Trời kia đã bắt làm người có thân/ Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao. Thì ra qua thân phận nàng Kiều, cụ Nguyễn Du muốn nhắn lại người đời sau rằng cụ đã từng muốn cải mệnh trời, nhưng cuối cùng đành chịu thua. Một thi nhân bậc nhất của Việt Nam còn phải chấp nhận ngậm đắng nuốt cay, hắn là cái thá gì mà cưỡng được số trời đã định? Nói theo kiểu Mạc Ngôn, nhà văn Trung Quốc, kiếp này hắn như gạch đã ra lò, định hình rồi không thay đổi được nữa.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 1 Jul 2026

Một vụ “nổi loạn” của tù nhân đã bùng phát tại một phân trại giam Z30A Xuân Lộc vào ngày Chủ nhật 30 tháng 5-1913 đã được báo chí trong nước đưa tin, mà nguyên nhân là tù nhân phản đối chế độ nhà tù hà khắc: thường xuyên bị cán bộ coi tù đánh đập và phần ăn bị cắt xén.

Theo tin của báo chí Việt Nam, biến cố gọi là “nổi loạn” chỉ kéo dài 6 tiếng đồng hồ, khởi đầu từ 8:30 sáng và bị dập tắt lúc 2:30 chiều, khi tù nhân đồng ý thả con tin là giám thị trại giam, đại tá Hồ Phi Thắng. Mức độ bạo động chỉ ở mức 50 tù nhân la ó và một số khác phá cửa khu kiên giam, giải thoát cho 19 người ra khỏi khu vực này (nhưng vẫn ở trong vòng trại tù) vào nhà bếp lấy nước uống (!) và tìm dụng cụ nhà bếp làm vũ khí. Thiệt hại của cuộc “nổi loạn” ở mức “hỏng vài bình ga ở nhà ăn và chăn, màn, giường của phạm nhân,” như chính một tên tướng công an trong đoàn điều tra từ Hà Nội vào Xuân Lộc nhận định. Đây là một cuộc nỗi loạn trong nhà tù cộng sản ở qui mô mà người nổi loạn không có vũ khí, nhà tù không bị đốt, không ai chết hay bị thương, không có tù vượt thoát. Tuy vậy, công an Việt Nam đã điều động hằng trăm “cảnh sát cơ động” ở các tỉnh lân cận về Xuân Lộc để “ổn định trật tự” và Tổng Cục Trưởng Tổng Cục 8 Trung Tướng Cao Ngọc Oánh cho những người cầm đầu là “lưu manh chuyên nghiệp, không chịu cải tạo, thường xuyên vi phạm nội quy, kỷ luật của trại giam” và hứa sẽ thẳng tay “trừng trị” họ. Đầu tiên chúng cho chuyển trại 5 tù nhân chính trị đến trại Xuân Mộc và sau đó chúng cách ly một số tù nhân để điều tra thẩm vấn. Công an coi tù Cộng Sản luôn nhất quán trong kế sách thủ đoạn đối phó với những vụ nổi loạn làm reo trong tù. Chúng tách rời những người có khả năng cầm đầu để điều tra, ly gián và cuối cùng đưa họ đến một trại tù khắc nghiệt khác để mượn tay đồng bọn trừng trị hay những tù nhân khác hành hạ.

Người viết này cũng đã chứng kiến một vụ “nổi loạn” vào cuối năm 1981 của những người bạn tù “cải tạo” tại trại Z30D Hàm Tân. Khoảng 100 tù nhân ở hai lán đã từ chối “lao động,” hát nhạc chính huấn, và hô khẩu hiệu chống Cộng Sản trong thời gian một ngày một đêm. Vì không có tổ chức và mục đích cụ thể, và có lẽ cũng không có lãnh đạo và kế hoạch, khi bị thuyết phục và trấn áp, các tù nhân đã đồng ý chấm dứt cuộc nổi loạn và trở lại lán trại. Sáng hôm sau các công an từ trung ương đã được điều đến để làm việc. Trại ngưng lao động hai ngày để anh em tù “cải tạo” ở nhà để viết kiểm điểm. Mỗi người ngồi cách xa nhau, giám sát bởi các vệ binh và quản giáo, không được trò chuyện, trao đổi ý kiến với nhau. Tổng kết các bản “tự kiểm” này, ban chỉ huy trại tù tìm ra những người được cho là “cầm đầu,” và chỉ một tuần sau họ bị gọi ra khỏi phòng giam, mang tư trang lên xe “bít bùng” giữa đêm chuyển đến trại trừng giới ở Tuy Hoà.

Những lý do như phản đối việc tù nhân bị đánh đập, thực phẩm bị cắt xén chỉ là những chuyện dễ thấy bề ngoài. Thật ra chế độ lao tù dưới các chế độ cộng sản rất tệ hại vì người tù bị đối xử không khác gì súc vật. Họ bị tước đoạt không chỉ miếng ăn, manh áo, mà còn nhân phẩm của chính mình. Chúng ta đã nghe nói đến những trại lao động cưỡng bức của Liên Xô mang tên GULAG, chữ gọi tắt của Tổng Cục Trại Lao Cải, cũng như các trại Lao Động Cải Tạo (Laodong Gaizao) và Lao Giáo (Laojiao) của chính quyền Trung Cộng. Các trại tù và trại lao động được sử dụng để giam giữ không chỉ tù hình sự, gái mại dâm, người nghiện ma túy và những người phạm tội vặt khác lên đến 4 năm mà không đưa ra xét xử, mà còn là nơi giam giữ những người bất đồng chính kiến. Tra tấn và ngược đãi là những hành vi phổ biến trong hệ thống trại tù này. Chẳng hạn, ở Bắc Hàn hơn 30% tù nhân lao động khổ sai phải chết trong tù, tù nhân đói đến mức phải ăn chuột và giun đất để sống còn.

Cộng Sản Việt Nam có tài tổng hợp các mô hình trại tù của Liên Xô, Trung Cộng và Bắc Hàn để tạo nên những trại tù “cải tạo” trên toàn quốc sau năm 1975. Chỉ nói riêng đến thân phận tù “thường,” không phải tù quân nhân viên chức miền Nam, ở miền Bắc vào năm 1979, chúng tôi đã chứng kiến những cảnh đau lòng, khốn nạn trong các đội tù hình sự khi họ được đưa về từ vùng biên giới Việt-Hoa. Để khống chế người tù, cán bộ công an cho những tên “đầu gấu,” được cắt cử như là đội trưởng tự quản lộng hành. Những màn “chào buồng” dành cho tù nhân mới thường xuyên xẩy ra. Khẩu phần cụ thể là thau cơm được phân phối cho đội tù mỗi ngày đều do “đầu gấu” quyết định. Cho ai ăn, không cho ai là quyền của y. Tù nhân chỉ là những xác người ghẻ lở biết đi, hoàn toàn chịu khuất phục không chỉ trước bạo lực mà còn trước cơn đói và sợ đói dai dẳng. Tôi cũng đã gặp những đoàn nữ tù hình sự gầy còm rách rưới trên quê hương miền Bắc, bị đày đọa trong những công việc nặng nhọc như vác cột điện, đào đất. Thậm chí, điều tội nghiệp nhất cho những người nữ tù yếu đuối này, qua tiết lộ của những người tù hình sự gần gũi với chúng tôi, là đến kỳ kinh nguyệt, họ không có nỗi một miếng giẻ rách để làm băng vệ sinh nên họ phải dùng đến lá chuối khô để giải quyết!

Dưới chế độ Cộng Sản, có thể có tù nổi loạn trong trại giam đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình nhưng chưa bao giờ thành công, vì các vụ nổi loạn không có tổ chức và kế hoạch cụ thể cũng như không có các tổ chức dân sự hay các cơ quan truyền thông quan tâm ủng hộ và tranh đấu cho họ. Chính quyền cũng không bao giờ vì những vụ này mà xét lại cách quản lý các trại giam của mình. Nhìn nay nhớ xưa, tại miền nam Cộng Sản đã cho ra đời cái gọi là Ủy Ban Vận Động Cải Thiện Chế Độ Lao Tù miền Nam vào ngày 30.10.1970, với hơn 80 thành viên từ nhiều thành phần xã hội “sáng lập.” Mặc dù người đứng đầu là Linh mục Chân Tín với vai trò chủ tịch nhưng thực ra chỉ huy ủy ban lại chính là những cán bộ CS hoạt động nội thành, như Sinh viên Trần Văn Long, người giữ chức Tổng thư ký của Ủy ban, mà sau năm 1975 giữ chức Phó Bí Thư Thành Đoàn. Đúng như thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã viết trong bài “Vì Ấu Trĩ:”

Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối

Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương

Cả nước đã quay về một mối

Một mối hận thù, một mối đau thương!

Trong cuộc phỏng vấn của đài Radio France Internationale vào tháng 6 năm 1993, Linh mục Chân Tín đã cho biết sự “ấu trĩ” một thời của mình: “Tôi nghĩ đảng Cộng Sản, người cộng sản chỉ làm thế nào để cướp chính quyền và giữ chính quyền với bất cứ giá nào. Khi chúng tôi đấu tranh cho Nhân quyền, thì ĐCS lợi dụng cái đó của chúng tôi, không là vì con người hay là vì dân tộc, mà chính vì họ muốn nhờ chúng tôi một cách gián tiếp để giành chính quyền. Sau 1975, bề ngoài họ cũng có vẻ như chấp nhận Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền mà họ đã ký và họ cũng đã cho vào Hiến pháp của họ, nhưng đó chỉ là vấn đề chiến thuật để cho thế giới biết họ cũng là người văn minh, cũng tôn trọng con người, tôn trọng quyền con người. Nhưng thực sự, theo tôi thấy, người cộng sản không đặt vấn đề nhân quyền, họ luôn nhìn con người là một công cụ để thực hiện bá quyền, chúng chà đạp con người đề giữ quyền bính với bất cứ giá nào.”

Từ những con cờ của Cộng Sản như như LM Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, bà Ngô Bá Thành, Thích Trí Quang, Thích Pháp Lan, Ni Sư Huỳnh Liên .. các dân biểu đối lập như đám Kiều Mộng Thu, Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận … đến những tay CS nằm vùng như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân … chỉ “lớn lối” được dưới một chính thể tự do, dân chủ nhưng tê liệt, bại xuội, cụp tai, bị khuất phục dưới những chế độ độc tài, sắt máu, công an trị như chế độ hiện nay. Đấu tranh cải thiện chế độ lao tù đối với Cộng Sản chỉ là chiêu bài. Những con cờ và tay sai khi đã làm xong nhiệm vụ thì “điểu tận cung tàn.” Những “hào khí” đấu tranh cho chế độ lao tù một thời của đám con rối chỉ là cơn lên đồng ấu trĩ vì chúng “ăn làm sao nói làm sao” khi nỗi đọa đày của người tù chính trị lẫn hình sự Việt Nam vẫn còn tiếp tục trên khắp miền đất nước, ở miền Bắc từ 1945 và ở miền Nam từ 1975 đến nay, chế độ lao tù dưới thới CS còn xảo quyệt, hà khắc và dã man hơn cả thời Pháp thuộc.

Tuần qua đọc những tin tức về vụ Z30A, tôi mong một điều. Dù là tù hình sự hay tù chính trị thì cũng là những con người. Dù tù hình sự bị mất quyền công dân nhưng họ vẫn là những con người và phải được đối xử như những con người. Công cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ hôm nay cũng phải bao gồm việc đấu tranh cải thiện chế độ lao tù cho những người tù này, mà trong đó không ít vì bị oan sai, vì hoàn cảnh xã hội vô nhân đẩy đưa, vì đói nghèo bóc lột vùi dập. Các tổ chức và phong trào đang đấu tranh cho những tù nhân chính trị tù nhân lương tâm cũng nên ghé mắt đến những người tù hình sự dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam, để họ dù trong lao tù vẫn còn được bảo vệ nhân phẩm và được quyền sống cho ra con người.

Chúng ta chắc chắn không trông mong gì vào đám con rối của CS hoạt động ở miền Nam trước đây, nhưng có lẽ vẫn còn rất nhiều hy vọng vào tuổi trẻ VN cả trong nước lẫn hải ngoại. Chăng phải chính những tù hình sự “nổi loạn” vừa qua đã nhờ tù chính trị chuyển tin ra ngoài để giúp vận động hỗ trợ họ đấy sao. Nếu mục tiêu cải thiện chế độ lao tù VN hiện nay trở thành cuộc vận động thì thế giới, các tổ chức NGO và truyền thông, có thể đồng hành với chúng ta, và người dân trong nước có dịp hiểu thêm được ý nghĩa chân thực của quyền làm người, biết được tấm lòng của những người đấu tranh cho một tương lai Việt Nam dân chủ và tự do.

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 30 Jun 2026

Mày dậy đi thôi, đừng im lặng

Mới vài phút trước còn đùa vui

Hai thằng chia nhau một điếu thuốc

Cười khà qua làn khói trắng bay

Mày dậy đi thôi, đừng im lặng

Sao mắt nhìn tao thật buồn rầu

Một viên đạn lạc qua nón sắt

Sao mày vội bỏ bạn bè đi

Tao ước chiến trường là sân khấu

Nơi kép đào họ chết mỗi ngày

Đóng vai chết xong rồi đứng dậy

Ngày chết mấy lần vẫn sống nhăn

Mày dậy đi thôi cùng bè bạn

Nơi quán khuya tràn ly rượu cay

Nghe Thanh Tuyền ca Rừng lá thấp

Thành phố sau lưng mộng ước gì

Tao ước chiến trường là sân khấu

Nơi kép đào họ chết mỗi ngày

Đóng vai chết xong rồi đứng dậy

Ngày chết mấy lần vẫn sống nhăn

Mày còn nằm đó trong im lặng

Những vết máu khô đã tím bầm

Đôi mắt hai mươi đang say ngũ

Nhưng là giấc ngũ của ngàn thu

Mày dậy đi thôi đừng im lặng

Rừng lá u linh tiếng cú kêu

Ngoài kia hỏa châu thay nến niệm

Trong tiếng trực thăng hối hả về

Ngoài kia hỏa châu làm nến liệm

Trong tiếng trực thăng hối hả về

Lát nữa đây, trực thăng sẽ đưa mày ra khỏi nơi đây

Mày trở về và sẽ không bao giờ trở lại

Hãy ngũ giấc ngũ thật bình yên

Không còn nghe tiếng đạn pháo

xé toan giấc ngủ trong những đêm bên chiến hào

và trong cánh rừng khuya.

Bản nháp

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 26/02/2018 

Post by Sơn râu 30 Jun 2026

Đò trôi êm mái chèo đều lực đẩy. Ban đêm giòng nước ấm ngửa mình đón hạt mưa rơi. Không lớn chẳng nhỏ chỉ đủ cho tầm nhìn thu ngắn, nhoè trên bờ thẳm những ngọn đèn vàng run thân trong vũng tối lần lượt khuất chìm.

Con đò cũng tầm trung theo lượng định, dưới vòm che hình bán nguyệt úp vung có gắn cửa tạm bợ ở mỗi đầu, một trước một sau, mong manh tựa tấm màn bằng giấy cứng cốt ngăn gió lùa cùng tia nhìn thọc mạch kẻ bàng quang. Sau, có giăng tấm bạt nhỏ bằng chất liệu ny-lông chùng, thấp ngang đầu người ngồi chèo đò và nhằm che chắn mưa tạt khỏi làm ướt lò củi ẩm còn âm u hòn than hồng vương khói mỏng. Trước là đằng đầu gỗ tháp gia công tạo dáng cong lên, đâm vào bóng tối nhiều sương quyện trông hư thực chẳng thiết nhìn rõ một bến bờ ghé lại, mặc tình đẩy đưa giữa đoạn sông vắng.
Đi trên cầu, giọt mưa đâm thấy lạnh nhột vỡ vào da rợn cảm nhưng chẳng ngờ được là mưa rơi xuống sông làm rỗ mặt, sự tiếp nhận đó có điều diệu kỳ nào can dự khiến cho thân dẫu trần truồng không manh áo vẫn chẳng thấy lạnh một mảy may. Ấm, nóng là đằng khác. Ngủ chay hay ngủ mặn, mò sâu tới chốn bồng bềnh này việc tiên quyết phải nên thực thi là xin hãy trút bỏ y phục để chứng minh nguyên cớ. Điều lệ ấy giúp người ta làm quen với mắc cỡ ban đầu rồi dần dà sự hổ ngươi sẽ bị rơi tỏm ngoài sông, lóp ngóp sặc nước, chết chìm. Triết lý tượng hình: Đẹp trai không bằng chai mặt. Đối tượng bổ sung thêm: Thẹn thùng chi nữa anh ơi, đã là cọp thì nào biết tới lần khân ngại ngần!

Cái ngủ khác với cái ăn, bởi rằm hoặc mồng một người ta có quyền vô tư chấm mút việc ngủ mặn. Trở ngại chút xíu nếu kẻ bán hoa vốn là Phật tử thuần thành: Anh ngẵng nghịch cũng vừa phải thôi, cho em nhờ tí, bữa ni kiêng cử nhác chơi. Trời sinh con gái có nhiều thứ bất tiện, ngoài chay với mặn hằng tháng họ còn bị dính chấu vấn nạn kinh nguyệt hành. Họ leo lên bờ so vai nhìn đời hiu quạnh. Có đi không? Đi mô được bữa ni, người em chẳng được sạch sẽ, khi khác anh hỉ!

Mưa giăng chập chùng ngoài đò, ngoại vật ướt át. Nhưng trên tấm chiếu khô hạn bốc mùi lạ thường này đàn ông con trai thảy nên mặc áo mưa. Bài công dân giáo dục sơ cấp từng truyền dạy: Cẩn tắc vô áy náy xa hối hận. Và nói tình ngay, sao mầm bệnh nhỡ vô phúc bị nhiễm phải kia lại mang được tên gọi quá gợi cảm: Em Giang Mai tới chị Hoa Liễu. Người thích môn đạo đức thì rộng lòng chỉ mặt xỉa xói không khoan nhượng: Chết mày chưa, thích đi đêm có ngày cũng gặp thằng lậu mủ đón đường. Nhức nhối không con?

Áo mưa chưa bao giờ bị liệt vào hàng đắt đỏ, gộp chung vào chuyện mần ăn, tính luôn tiền đò, em lấy anh giá văn nghệ. Ủa, văn nghệ văn gừng luôn nằm trên sân khấu, sao có khi lại mò xuống tận chốn phong ba này? Tiểu liên bán tự động có hai ngấc, liên thanh hay nhát gừng bắn phát một. Ngó sức vóc kiểu tân binh như anh e nên vác súng trường thô lậu, nổ cắc bụp phát thì lo hào hển rút quân. Phương án này một phần tuỳ thuộc vào lương lậu để nhắm liệu cơm gắp mắm. Dư tiền chút đỉnh thì em cho vật mình sang bên đợi bình minh nhú sẽ tính kế lên bờ, xem như năm canh vùi thân vào manh chiếu ấm chứ nỡ lòng nào đưa đầu trần người đi trong mưa gió sảng hồn lìa xa cơn mơ về sáng.

Người con gái tóc dài che nửa khuôn mặt như số đông quý chị em thích làm vậy. Bày ra nửa dung mạo khó bề tìm đoán một số tuổi thích hợp. Cứ du di chín bỏ làm mười để hàm hồ là hai chục trăng thôi tròn. Sạch nước cản thì trông mong gì khi chân bước xuống đò khoắn bùn đục nước ba mươi sáu kế thảy đều hạ sách. Cha có tù tội đâu mà bán mình trả hiếu? Chữ trinh làm gì mà hét tới ngàn vàng, nghe lùng bùng lỗ tai. Không dám đâu!

Mèo ăn vụng thường chẳng có quyền lựa chọn cục mỡ, thêm căng thẳng hiện trường cấp bách. Vui buồn tuỳ thuộc vào diễn biến tâm sinh lý bữa nọ. Đôi lúc cháy hàng, dòm trước ngó sau còn mỗi chị tuổi hơn ba chục cũng đành gát chân lên nhau nằm luận chuyện đời, những thứ éo le luôn cắc cớ bày ra rồi bàn giao vào mỗi phận số con người. Và gần bốn chục tuổi đầu vẫn xưng em với thằng con trai mới có nhị thập niên, chẳng lấy đó làm điều vui miệng gọi con chim cu mới ra ràng bằng hai tiếng anh ơi! Xem nào, đã đủ lông đủ cánh chưa đây. Ui, thương hết biết. Phàm bọn đàn ông khác đều một hạng lỗ mãng cục súc ưa hành hạ kẻ thất thế chịu nằm dưới. Đâu ai thư sinh dịu dàng như anh. Nói tội trời chớ anh mô phải người ruồi gieo máu lửa, khi nớ cánh hoa thời loạn ắt khó rụng tàn!

Người con gái với tay vặn nhỏ tim bấc ngọn đèn dầu cho bớt sáng trước khi cởi hết áo quần đạp ún thành đống dưới chân. Lòng đò chật, do vậy ánh sáng có yếu bằng cây diêm sinh cũng dư sức táp thứ màu vàng đục lên đôi vú nhỏ, trắng nhợt nhạt. Như loài bò sát, cô chuồi thân mềm mại nằm thẳng đuột đợi chờ. Lần đầu hay răng? Cô hỏi, mắt long lanh trao gửi chút ngờ vực. Ở hạ thể cô thu cất một vũng tối, có dốt môn hình học đứa người trần mắt thịt cũng nhìn ra tụ điểm cân phân một tam giác đều có ba cạnh bằng nhau. Nếu tính sai thì đổ thừa là vì lông đen mọc rối bời che bớt phần nào cái sắc sảo dễ đánh sập thành quách. Hề, đã gọi là mỹ nhân trong thiên hạ, tự cổ chí kim đều thủ đắc thứ vũ khí chết người kia, hảo hán đi mười phương hành hiệp cũng phải e ngại chừa riêng phương ấy, cổ thi từng gọi: Chốn ấy hang hùm chớ mó tay!

Năm hạt nút áo tự nhiên làm khó tay lần, quýnh quáng. Cái nịt dùng thắt lưng buộc bụng cũng chướng, gây trở ngại không nhỏ. Đi chơi đĩ, mấy chữ này thật khó êm tai. Rồi ra sẽ đến hạn kỳ tam thập nhi lập, phải tự kiếm cách lo làm nháp trước cho khỏi vướng mắc cuộc tình, đường đi ong bướm đã tường một khi.

Thầy cô giở sách ra dạy: Thân thể người ta chia ra làm ba phần: Đầu, mình và tứ chi. Giáo khoa quả đoán: Chỉ nhiêu đó thôi. Giải thích chút đỉnh: Tứ chi là gộp hai tay với hai chân lại mà thành. Hết. Đâu mà đơn giản vậy cà! Con người chúa rắc rối lắm mà. Kiêng khem tằn tiện quá đáng. Phì nhiêu trù phú trốn đi đâu? Chí ít cũng nên phân định là “người ta” gồm có giống cái và giống đực. Cớ làm sao một bên thì chẳng ra cơm cháo gì trong khi khác giống lại “sẵn đúc một toà thiên nhiên”? Một bên bình nguyên còi cọc bằng phẳng xuôi xị, bên kia lại phồn vinh không giả tạo những hòn non bộ, đèo cao lũng thấp, suối khe cùng rừng lá thấp mê muội đích thị là báu vật của trời ban… Răng đó? Cần giúp một tay không? Dưới tấm chiếu là những thanh gỗ ghép lại thành chỗ ngã lưng. Độ cứng của nó có thể làm mỏi gối chồn chân, nhưng hạng tuổi cỡ lục thập nhi nhĩ thuận mới quan ngại chớ thanh niên trai tráng hồi nào giờ đều dạng ngựa non háu đá. Ngựa cũng có nhiều giống, Xích thố của Quan Vân Trường hay bạch mã của Triệu Tử Long thuộc vào khoa học viễn tưởng, kỳ dư tất thảy đều lệ thuộc vào câu chú: Chạy xa mới hay đường dài. Hối thúc như bị Tào Tháo rượt đuổi thì chóng bở hơi tai, phì phò khịu chân xếp vó.

Người con gái chẳng biểu lộ buồn vui, giọng ráo hoảnh: Biết cớ sự này thì đã nhờ o Thảo bán cho ly rượu thuốc, anh uống để dìu em tới chốn xa. Quanh đi quẩn lại nhịp trống chưa báo sang canh. Thôi đành chờ lần sau, so ra còn khá hơn là phải chịu khóc đầm đìa ngoài biên ải. Cô ngồi dậy, chỉ tròng chiếc áo bà ba đậy điệm nhũ hoa cho khỏi trúng gió rồi vớ lấy cái thau nhựa, kéo nhẹ liếp cửa ở đằng đầu. Mưa vẫn rơi, làm màu đêm vấy trên sông ánh lên sắc xanh huyền hoặc. Lần ra sát mạn đò, cô gái vục thau xuống để múc lên một dung tích đầy vun, động tác thành thục chẳng sóng sánh trào đổ. Ngồi xích lại gần cửa tránh mưa, khum bàn tay hứng nước và khoan nhặt đưa lên đặt xuống kỳ cọ rửa ráy vệ sinh cửa mình. Nếu có hà bá hoặc con cháu thuỷ thần đi hoang bên dưới con đò e chúng cũng kiêng dè cạy mặt người sở hữu lắm hương mùi bụi trần vây khổn. Thau nước qua sử dụng được hoàn trả xuống con sông nổi tiếng Hương thơm. Tiếng nước táp vào bề phẳng trầm mặc của nó bật lên thứ cung bậc nghe sướng cái lỗ tai, cơ hồ vỗ bàn tay vào mông đít lắm thịt. Tuy mênh mông nhưng gây vang ra điệp trùng hồi đáp vọng dội. Bây giờ thì hình tam giác cân đã biến đổi thành thứ hình học không gian có nhiều phương thức chứng minh “ngó vậy mà hổng phải vậy”. Đôi giọt nước còn ngập ngừng ở thềm rêu chưa vội nhỏ xuống, rời đi từ cụm tóc xoắn, rối, bời bời một nguồn cơn khó ráp lại nên câu cú. Chủ nhân lách người qua khe hẹp rồi ngồi xuống chiếu tròng đôi chân vào chiếc quần đen chịu nhiều nếp gấp, bèo nhèo. Mái tóc bị ướt ít nhiều, cô để vậy không buồn lau khô; như bên dưới mãi chịu sự ẩm thấp, tuồng quan niệm “để vậy cho mát em”. Việc trước mắt cần giải quyết là thử ném viên đá dò đường, thăm dò nhằm đuổi khách. Ong đã hút nhuỵ hoa, dù chưa vơi hương mật thì liệu đường mà chờn vờn chốn khác. Bắt chấm mút phải bu vô, đến hồi hết sức chớ tô vẽ trò.

Người ta gầy sòng cờ bạc thử đỏ đen luôn theo tiêu chí thua keo này bày keo khác. Xóc xáo lại bộ bài, chia ván mới.

Cô gái nghe thế liền cười nửa miệng: Mô có ai cản ngăn? Cớ sự là anh còn tiền để chung cho nhà cái không?

Tên em là chi, anh quên hỏi?

Kêu em là Xì-lát cũng được, hay xập xám, hay thùng pha sảnh, tuỳ ở anh cả, em đâu quan hoài, chuyện nhỏ.

Răng không nói em tên Thoa cho anh an tâm.

Đánh bài mà bắt phải khai tên, có ngược đời không? Ừ, em là Thoa đây, có chuyện chi không?

Có chớ, đại sự là đàng khác. Nếu đúng là Thoa thì em chắc nhớ ra một thằng tên là Ngô Văn Đồng. Ba ngày trước hắn thiếu tiền được Thoa cho mắc chịu, chỉ thu giữ thẻ căn cước của hắn làm vật thế chân…

Rồi răng nữa?

Tối nay anh xuống đây có mang theo tiền chuộc.

Đứa con gái cười rộng miệng, cười rung cả vai, rối cả tóc. Đánh bài thì anh có cơ may gỡ lại vốn, nhưng anh chơi em thì khác, một ra đi không trở lại, tiền trao cháo múc. Nghe mắc cười quá, vừa húp cháo vừa đòi lấy lui vật thế chân, tham lam vừa vừa thôi ông thầy. Cái anh chàng tên Đồng nớ đã lạ đời lại quen thêm người bạn thật kỳ khôi. May mà em không phải tên Thoa, em chưa khi mô cho người ta mắc chịu cả. Chịu chơi cũng ở chừng mực mô thôi, chơi kiểu nghịch tặc thì ai mà chịu đời cho thấu!

Có nghĩa là anh ưa gầy cuộc vui lần nữa coi bộ không xong?

Đêm mai hẵng hay, em sẽ dọ hỏi giúp để anh gặp đúng người mà lấy lại thẻ căn cước. Thiệt cả gan! Ra đường không bọc theo giấy tờ tuỳ thân chẳng sợ họ bắt đi lính sao?

***

Khi đất nước hà khắc, độc đoán, mê muội, kỳ thị, đày ải, bần cùng hoá nhân dân. Cuối chân tường người ta đào được một lỗ đen, đặt tên: Vượt biên. Rỉ tai nhau: Đánh đổi bằng mọi giá để thoát ra được địa ngục trầm luân này. Hai chữ “vượt biên” mới toanh luôn đeo nặng trong giấc ngủ đầy ác mộng, lắm tính toan. Nó trở thành một ước ao chẳng có gì so sánh được, vô đối. Bao trùm và vĩ đại tới độ phát sinh ra câu thoại cười ra nước mắt: Nếu cột đèn có chân nó cũng bỏ trốn!

Hơn cả vết dầu loang, hơn cả cơn bệnh dịch, người ta đồng loạt đổ xô đi tìm sinh lộ bất chấp tử lộ chực chờ. Nếu vượt biển, động vật hai chân nương nhờ vô ghe tàu, hoặc một vật nổi được trên mặt nước có gắn động cơ sau đuôi bất biết tới sông dài bể rộng. Có kẻ trần tình lời nghe quặn lòng thắt gan: Hãy cho tôi thấy mặt trùng khơi một bận rồi có chết cũng cam tâm!

Muốn ra ngoài cửa biển có ghe chực sẵn để bốc người đi, những đứa “phản bội tổ quốc” phải chung tiền thuê “taxi”- lại một thuật ngữ mới ám chỉ mấy con đò nguỵ trang kín kẽ “đưa người ta không đưa sang sông” mà chạy xớn xác ra gặp sóng biển bạc đầu. “Bóng chiều không thắm không vàng vọt” như Thâm Tâm tả mà phải tối trời không trăng sao, đen như mực tối như hũ nút mới đắt địa. “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thật!” Dầu sôi lửa bỏng ai còn lòng dạ mà đùa dai giỡn thật với giả. Tất cả giá trị hiện vật đều bỏ lại, chỉ vác mạng không đóng vai thi nhân làm bài hành về tứ phương vô định. Hành phương Nam của Nguyễn Bính e chẳng thấm thía bằng bài hành của Thuyền nhân: Một là con nuôi má, hai là con nuôi cá, ba là má nuôi con. 1: Tự do. 2: Chết. 3: Ngục tù. Chẳng lôi thôi gì cả.

Ngày xưa, cổ nhân đi hành quân sát bên doanh trại địch đóng, muốn bảo mật phải tuân thủ “ngựa thì cất lạc, người thì ngậm tăm”. Giờ đây nằm chất lớp chư cá ương trên lòng đò ướt lưng áo lạnh, con trẻ thì uống thuốc ngủ để khỏi cất tiếng khóc nhè làm bể ổ, người lớn có khấn nguyện thì Nam mô A di đà Phật cứu khổ cứu nạn chỉ lâm râm tụng thầm cho mỗi mình nghe thấy. Đò có gắn máy đuôi tôm vì thồ người khẩm nặng, tiếng lạch bạch vang giữa đôi bờ kéo theo bao nỗi niềm mà dạ chẳng yên để phân định buồn vui đang ngập sóng trong lòng. Chắc rằng mặt sông có xao động cũng chẳng tài nào sánh với tâm thức kẻ cùng khổ đang lặng lẽ trốn chạy. Ba đào dâng lên trong người, say với thứ mà sóng và rượu không đủ độ mạnh làm chao đảo. Người cầm tay lái là một ông già gầy ốm ngồi sau đò, cô gái phụ đỡ ông thì ngồi bên một đống rong rêu cao ngất vớt được tự lòng sông. Tuy có bóng tối can dự nhưng cô ta cũng nhìn nhận ra được đứa “hành khách” nửa nằm nửa ngồi sát bên đôi chân. Một ván bài vừa chia phần mà nhà cái mang tên định mệnh. Vật đổi sao dời, biến thiên dâu bể tới cỡ nào cô vẫn không quên bộ phong tróc ảnh ám nơi thằng con trai đã từng nhờ cô giúp trở thành đàn ông một đêm mưa sụt sùi ngày cũ. Một chút dại khờ đi kèm với lòng thuỷ chung, hắn một mực tìm tới cô để ngủ qua đêm, chẳng ai khác. Không Thoa chẳng Lài, không Xuân chẳng Gái cho dù bốn chị em ấy nhan sắc có đứa mặn mà hơn, thể hình có đứa văm hơn, tuổi tác có đứa son trẻ hơn.

Bắt chước người bạn rắn mắt, hắn từng nhăn nhó gãi đầu đòi để căn cước bọc nhựa ở lại thế chân. Hắn biết cách san bằng hố sâu dị nghị bằng lối đùa nghịch hồn nhiên. Cách hắn tiếp cận, lối xử thế không như hành động một con đực muốn trấn lột, chiếm đoạt con cái. Hắn dịu dàng mơn trớn, như người nữ nằm dưới thân hắn chẳng phải là một ả điếm, thứ vật thể hắn dùng để trút bỏ bao hằn học trong khi hành lạc. Trong đầu hắn tuồng không mọc ra ý tưởng chơi cho xứng đồng tiền bát gạo. Hắn chẳng biết chữ dày vò, dập liễu vùi hoa. Và tới phút yếu lòng cô đã thú thật tên cô cho hắn nghe.

Diệu. Hắn thầm thì. Hắn cũng có bộ nhớ tinh nhạy, nhìn là nhận ra ngay. Hắn kê đầu vào đùi cô, từ tốn rướn thân lên. Chừng như hắn đang mó bàn tay tinh nghịch vào chỗ đó. Chỗ thôi còn là vùng oanh kích tự do, chỗ đã ký kết hiệp định ngưng bắn có hiệu lực đã ba năm. Nôm na là cô ngủ chay chừng đó tháng ngày. Cô theo ông già dùng đò mưu sinh một nắng hai sương, chở cát từ thượng nguồn về, chở rong từ hạ lưu lên, chở gạch từ xí nghiệp sản xuất mang ra chợ… Tóm tắc là lu bu làm thợ đụng chứ không nằm ngửa trên chiếu để mặc cho cuộc đời vấy bẩn tàn phá kiếp hồng nhan. Hắn thăm dò, bàn tay chăm đi hoang. Hắn nói hắn từng trông lui, tưởng nhớ cô, những ngày êm đẹp cũ. Hắn ngỡ cô đã bị dồn đẩy bắt đi khai hoang lập ấp trên vùng kinh tế mới đèo heo hút gió nào đó. Cô nín thinh, ngồi yên chẳng kháng cự. Cô biết hắn sắp liều lĩnh đi xa với cuộc lữ chịu nhiều hoạn nạn.

Lâu rồi đôi vú cô chẳng có tay ai sờ nắn. Bộn bề tháng ngày cửa mình cô, cái hình tam giác lạ thường như cách ví von của hắn, chưa có ai đo đạc mân mê vò rối. Cô hớt tóc trên đầu lắm lần nhưng bên dưới chừng như nó vẫn vậy, vẫn cong xoắn vẫn không mấy dài. Và năm ngón tay hắn đang khiến người cô chao đi, co rút lại. Chưa khi nào cô thèm làm tình với hắn đến vậy. Nếu bị đổ bể, taxi không gặp ghe đợi, tôi sẽ tìm cách đi vào ngục thất thăm anh. Cô nói nhỏ, đủ cho hắn nghe. Dù vẽ ra điềm gở, hắn đón nhận chút cảm động vì lời cô mang đủ chất thành thật.

Hắn moi trong lưng quần ra cái khâu hai chỉ, dự trù bán đi khi tới đảo để đánh về nhà cái điện tín báo tin. Nhưng phần số đã bày ra cuộc gặp gỡ này… Diệu. Diệu cất giữ nó đi, khi mô lấy chồng thì có sẵn, chẳng bợn lòng mà đeo vào ngón tay chứng thực là mình yên bề gia thất. Chỉ xin đánh đổi, hãy thầm nguyện cho anh đến được bến bờ tự do. Áo Diệu có hai miếng vải vá khác màu, ở vai và ở khuỷ tay. Người Diệu nồng mùi nắng dù đò trôi trong đêm mà cửa biển gần kề đang dồn thổi vào một lượng gió mặn muối. Mặn đến chạnh lòng.

Mọi người hối hả bồng bế nhau dồn lên ghe lớn, cao ngất, chòng chành, sóng nhồi, mênh mông con nước rộng doạ dẫm. Cầu trời khẩn Phật cho anh được tai qua nạn khỏi. Diệu nói với một đầu tóc đang bị rối bung. Đó là thời điểm thích hợp nhất để Diệu nhắm mắt liều lĩnh hôn vào môi hắn. Vị mặn ứa từ cửa sổ tâm hồn bò chậm rãi xuống bờ môi khô hụt nhịp thở. Hắn liếm quanh.

Phút cuối rời xa đất mẹ hắn đã thu cất vào buồng phổi lượng dưỡng khí mà Diệu vừa hà hơi tiếp sức. Và đầu mấy ngón tay hắn hình như vẫn nhờn rít chất sữa ngọt thất thoát từ mật khu, từ cửa mình ấm áp Diệu thầm lặng gửi trao. Còn gì nữa mà keo sơn gắn bó!

Hồ Đình Nghiêm

“Bỏ đi Tám!”

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 30 Jun 2026

Ca dao quê mình vốn có một câu dài thòng hè:

“Sáng mai đi chợ Gò Vấp. Anh mua một xấp vải đem về.

Cho con Hai nó cắt. Con Ba nó may. Con Tư nó đột. Con Năm nó viền. Con Sáu đơm nút, con Bảy vắt khuy.

Anh bước cẳng ra đi, Con Tám nó níu, con Chín nó trì. Ớ Mười ơi! Sao em để vậy còn gì áo anh?”

Thằng bạn nhậu cắc cớ vừa hỏi khó, vừa chọc quê tui: “Sao dân Lục tỉnh Nam Kỳ của ông có tới chín con vợ lận?”

Dân quê tui xưa giờ đâu ai có tới chín con vợ? Nuôi sao nổi? Chẳng qua thằng cha may mắn trong câu ca dao nầy là chủ một hãng may.

Nó bèn hỏi tiếp: “Ðặt tên là để kêu! Sao mấy ổng hổng chịu ‘Hồng, Lan, Mai, Cúc’ gì hết ráo mà kêu thứ không vậy cha nội?”

Chẳng qua là vầy, tui trả lời: “Hồi thời tui mới sanh ra, bậc làm Tía Má thường đặt hai tên cho con mình. Một gọi ở nhà; hai đề trong giấy khai sanh, hộ tịch. Tên trong khai sanh thì đẹp. (Thường là tên người yêu cũ của Tía mình hay người Tía thầm thương trộm nhớ, tình đơn phương vì ‘ẻn’ vẫn ngó lơ).

Còn tên ở nhà, xấu háy, do Má mình, ít chữ hơn Tía mình, đặt như ‘Cu đen’ chẳng hạn để người khuất mặt khuất mày không cà nanh mà bắt con mình đi mất!”

***

Quê tui họ ít kêu tên lắm. Tên chỉ xài lúc cúng cơm, tức lúc mình ngỏm củ tỏi để cho thầy tụng đọc. Còn ngoài xã hội, chợ đời, giai tầng xã hội cao thấp khác nhau thì cũng gọi bằng thứ không hè!

Thầy Hai không hẳn là thầy giáo. Chỉ cần có học chút đỉnh làm thông ngôn hoặc thơ ký… là thầy Hai hết ráo.

Chú Ba, là chú chệt và thiếm xẩm có tiệm bán mì, hủ tiếu hay bán hàng xén trong xóm. Ðể giữ khách, chú Ba bán chịu, ghi sổ tất nhiên là dộng thêm tiền lời chút đỉnh. Nhưng bà con mình dễ dãi, hịch hạc coi đó là chuyện nhỏ.  Coi chú Ba, như bà con trong nhà, em của Tía mình, để dễ mua chịu đó mà.

Nhưng xin bà con nhớ đừng thêm chữ Tàu thành chú Ba Tàu nhe! Chú Ba giận lắm, cho dù chú Ba là người Tàu thiệt; chớ hổng phải Tào lao. “Giận là vì ngộ với nị là bà con. Gọi chú Ba Tàu thì mình là người dưng sao? Ðâu có được!”

(Tui e rằng nị muốn tui kêu là chú Ba, là bà con, để be bờ không cho tui ve vãn A Lìn, con gái của nị phải hông? Nị là người phân biệt chủng tộc. Nị chỉ muốn gả A Lìn cho thằng Tửng không hè! Không chịu gả cho người Việt! Vì nó làm biếng lắm! Chỉ khoái ăn nhậu tối ngày! Không lo buôn bán mần ăn gì hết ráo để nuôi con gái và đám cháu ngoại của nị phải không nè?)

Còn anh Tư, là đại ca trong chốn giang hồ đâm thuê chém mướn. Còn anh Năm, chuyên đá cá lăn dưa ở chợ Cầu Ông Lãnh, là đàn em của anh Tư.

Anh Tư, anh Năm thì không thích gì đám thầy chú thứ Sáu. Ðó là đám ‘phú-lít’, giữ trật tự trong chợ. Còn gọi là Sáu Lèo. Lèo (chẳng hạn như trong chữ hứa Lèo) là chuyên đặt chuyện nói dóc, làm khó làm dễ, hù dọa bà con mua gánh bán bưng để kiếm chút cháo. Nên hay bị chúng ghét.

Dựa hơi Sáu Lèo để mần ăn, là anh Bảy Chà, còn gọi là Chà ‘Sét ti’ (Chetty) chuyên thâu tiền hoa chi của chợ; tiện thể cho vay tiền góp. Sáng xuất, chiều thâu. Tiền lời chỉ ‘xanh xít đít đui’ (‘cinq’ thành ‘six’; ‘dix’ thành douze) chỉ 20% thôi. Nhưng đó là cho vay cắt cổ, ăn lời cắt họng vì tính ra một tháng tới 600% vốn bỏ ra.

Riêng cái đám đông nhứt trong chợ đời là đám dân ngu khu đen, vác mướn, chạy xe ba gác, đạp xích lô là thằng Tám tay làm hàm nhai, có đồng nào xào đồng nấy.

***

Cũng cái vụ thằng Tám. Vì có cái giai thoại rằng: Sau 1954, hiệp định Genève đình chiến, chia đôi đất nước. Cả triệu đồng bào miền Bắc xuống tàu há mồm của Mỹ di cư vào Nam. Một nhóm trong Nam, từng tham gia kháng chiến 9 năm, xuống tàu Ba Lan tập kết ra Bắc.

Riêng ông Sơn Nam từ quê nhà, miệt rừng U Minh thượng lên Sài Gòn kiếm sống. Mẫu thân ông từ dưới quê lặn lội lên để coi ‘thằng Tám’ chết sống ra sao?

“Mầy lên đây làm gì để sống?”

“Viết văn!”

Bà già hỏi lại: “Viết văn là làm gì? Viết văn có sống được không?”

Ông Sơn Nam trả lời (chắc để cho mẫu thân của mình an tâm): “Viết một giờ bằng người ta đạp xích lô cả ngày!”

Tui kể cái giai thoại ngồ ngộ nầy cho bà con nghe chơi. Thì có có một ông nội đọc xong chỉ gởi cho tui hai chữ: “Chú Tám?”

Thú thiệt, tui không biết nhà văn Sơn Nam có phải thứ Tám hay không? Dù hồi xưa, cách đây chừng một thế kỷ, gia đình ở quê có tới 10 đứa con là chuyện rất bình thường.

Tui bèn trả lời là: “Thưa ông Nội! Hồi chút éc, cách đây cũng cỡ 60 năm, ở Cua Ðạo Ngạn, làng Ðạo Thạnh, Mỹ Tho, tui là bạn hàng xóm, sát vách nhà Ðào Thúy Hằng, con gái lớn của nhà văn Sơn Nam, để tui hỏi thử coi sao?

Rồi tui được Mỹ Linh, tên ở nhà của Ðào Thúy Hằng, trả lời tui nguyên văn như vầy: “Thu! Ông bà nội tui có ba người con: Bác Hai tui tên Phạm Minh Trí, kế là ba tui, Phạm Minh Tài mà hộ tịch cho thành Tày, cô Út là Phạm Thị Xuân. Bác Hai học giỏi, có bằng Thành Chung nhưng không được học bổng như ba tui, cô Tư cũng học hết tiểu học. Nhà ở miệt rừng, gói ghém đủ ăn nhưng sống thong dong, không lam lũ”.

Ủa vậy sao? Vậy mà có một nhà phê bình văn học tuốt bên Tây viết, lâu nay tui cứ tưởng thiệt giờ té ra trật chìa hết ráo. Ổng dám phán vầy nè:“Sơn Nam tên thật là Phạm Minh Tài, nhiều tài liệu ghi Tày, có lẽ vì trên khai sinh ghi Phạm Anh Tày. Chữ Tài đúng hơn vì ông có người em tên Trí!”

Phạm Minh Tài chớ Phạm Anh Tài cái gì? Vì anh của nhà văn Sơn Nam là Phạm Minh Trí, chớ hổng phải là em như ông phê bình văn học nầy đoán mò: anh là Tài thì tất phải có em tên Trí. Tài Trí!).

Mấy ông hộ tịch làng hồi xưa chỉ biết chữ quốc ngữ lẹt quẹt nên viết chính tả trật hà rầm hè. Tài thành Tày. Lan (tên một loài hoa) thành Lang (con chó sói).  Hoặc ông Vương Hồng Sển, thực ra là Vương Hồng Thạnh, giấy khai sinh lại ghi nhầm là ‘Sển’.

Ông còn tới luôn bác tài, phán là: “Gia đình là nghiệp chủ khá giả, ông sống tuổi trẻ thong dong.”

Hồ nghi lời nhà phê bình văn nghệ nầy nói, tui bèn lục tìm trong hồi ký của ông Sơn Nam thì:“Tôi chào đời vào năm 1926 ở vùng U-Minh, thuộc huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Nhà ở ấp Giữa, làng Ðông Thái, trên bờ con rạch Thứ Sáu, cong queo, từ giữa rừng chảy ra biển, khoảng 4 kilômét. Xóm tôi hồi đó còn vài mươi gia đình người Khơme. Chung quanh nhà, đầy lau sậy, luôn luôn có muỗi.”

… Ðược đi học ‘College de Can Tho’ là nhờ có học bổng. Dù vậy thân phụ ông phải cầm bộ lư và chân đèn để có tiền sắm quần áo cho ông đi học xa nhà.

Vậy mà nhà phê bình văn nghệ nầy còn ‘ủi’ tới là: “Bút hiệu Sơn Nam là do kỷ niệm người vú nuôi gốc Miên.”

Nhà nghiệp chủ, có của ăn của để nên có vú nuôi?  Cái nầy là người mù sờ voi thiệt rồi. Hồi xưa trong quê, đứa con nào còm cõi, còi cọc vì Má thiếu sữa thường hay nhờ bà hàng xóm cho bú thép. Nhà miệt rừng, đất phèn không thì làm gì giàu để có được chị Vú nuôi bao giờ?

Khi quyển Hương Rừng Cà Mau, tập truyện ngắn được nhà Phù Sa của nhà văn Ngọc Linh xuất bản, Sơn Nam nói: “Tôi gởi một quyển về cho bác Hai tôi, đã khoảng 90 tuổi. Ông không biết chữ Hán, chữ Quốc ngữ gì cả, nhờ đứa cháu ngoại đọc cho nghe. Nghe xong, ổng nói: “Thằng nầy nói dóc, nghe được quá. Nói dóc mà có căn cứ”.

Kết luận mần văn là nói dóc nhưng phải có căn cứ. Thế nên khi viết về tiểu sử của một nhà văn nổi tiếng thì mình cũng làm siêng siêng một chút tra cứu thêm đi nhe. Ðoán mò rồi đoán trật lất thì coi sao đặng nè?

Nhà văn Sơn Nam qua đời vào xế trưa ngày 13, tháng Tám, năm 2008, hưởng thọ 82 tuổi. Nếu ông còn sống, với cái tánh hịch hạc dễ chịu, dễ chơi của dân Lục tỉnh Nam Kỳ, chắc ông sẽ rầy tui: “Ðôi co, nói tới nói lui chi cho mệt vậy hè? Bỏ đi Tám!”

Đoàn Xuân Thu

Thế sự đổi thay

vanchuongviet.com

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 30 Jun 2026

Dịch cô vít tung hoành hơn hai năm trời, làm con người khắp thế giới chán chường, mệt mỏi. Khi dịch vừa lắng xuống, luật phòng chống dịch được gỡ bỏ, mọi người như trút gánh nặng, thở phào nhẹ nhõm, thì chiến tranh Nga và Ukrainia nổ ra, làm cả thế giới tiếp tục xôn xao. Hai nước đánh nhau mới hơn ba tháng, không biết những châu lục khác thay đổi ra sao? Chớ riêng châu Âu thì dân chúng than phiền chuyện vật giá leo thang phát chóng mặt. Trong công ăn việc làm cũng có vấn đề, không thể tưởng tượng được mọi thứ khác hơn trước quá nhiều về mặt tinh thần lẫn thể chất, cũng vì nguyên do đó mà hôm xuống tàu tôi có hơi ngạc nhiên khi gặp lại Ivan, thợ máy người Nga. Tôi quen với Ivan hồi nó còn là phụ máy, nó thuộc thế hệ trẻ, sống trong thế giới tự do Âu Châu, hấp thụ được văn hoá của Tây phương, có lối sống vui vẻ, hoà đồng, hiểu biết và văn minh hơn lớp người Nga đàn anh, đàn chú nó. Trong đầu tôi nảy sanh ra thắc mắc và có ý khôi hài, định hỏi nó: “Sao chưa về nước theo đoàn quân xâm lược mà còn ở đây làm thợ máy?” Nhưng tôi kịp dừng vì sợ chạm tới tự ái dân tộc. Tôi trớ qua chào và hỏi thăm sức khoẻ gia đình nó:

– Lâu rồi không gặp, mày và gia đình mày khoẻ hết phải không?

Ivan trả lời:

– Tất cả ổn hết, cám ơn.

Hình như Ivan cũng muốn tránh né chuyện thời sự nóng bỏng đang xảy ra trên quê hương của nó. Nó hỏi lại tôi:

– Phi trường Amsterdam đông người lắm phải không?

– Đúng rồi, tao tới Schiphol lúc bốn giờ khuya, chen chúc sắp hàng rồng rắn cho tới bảy giờ sáng mới lên được máy bay. Chậc, từ trước tới giờ tao chưa từng đi máy bay cực khổ như đi lánh nạn. À, nghe nói những chuyến bay giữa Nga và Âu châu bị cấm, vậy mày đi qua đây bằng cách nào?

Ivan nhún vai, gương mặt buồn bã nói:

– Hôm tui xuống tàu thì chưa bị cấm, nên tui hông biết bây giờ ra sao.

Lúc đó viên thuyền trưởng đi tới. Ivan lặng lẽ bỏ đi vô trong. Thuyền trưởng nhìn theo Ivan, cho tới khi nó đi khuất sau cánh cửa. Ông day qua tôi cười cười và nói:

–  Nói chuyện với Ivan ông nên cẩn thận.

Tôi không khó chịu và ngạc nhiên về câu nói của ông. Nhưng giả bộ ngây ngô, không biết gì, hỏi:

– Có vấn đề sao?

– Nếu ông không nói về chiến tranh giữa Ukraine và Nga thì không có vấn đề gì hết.

– Chiến tranh thì nói chiến tranh, nói thanh bình sao được.

Thuyền trưởng ngây người nhìn tôi và nói:

– Nhưng ông đừng đem chuyện xấu của nước Nga ra làm đề tài để chọc ghẹo Ivan nữa nhé.

Tôi gật đầu hô:

– Yes sir!

Ông vỗ vỗ tay lên vai tôi rồi bỏ đi lên phòng lái. Thuyền trưởng bằng tuổi tôi. Lúc ông còn là thuyền phó cho một công ty tàu chạy những tuyến đường châu Á. Lần đầu về công ty này làm việc, biết tôi là người Việt tị nạn bằng thuyền. Ông hãnh diện khoe:

– Trước kia tàu tui vớt được năm mươi ba người Việt vượt biển.

Lúc đó những người Việt tị nạn đường biển có tên là Vietnamese Boat people và được người khắp thế giới tự do yêu thương và tận tình giúp đỡ. Cũng từ đó tới nay, mỗi lần nói chuyện với tôi ông luôn ôn tồn tỏ vẻ thân thiện. Thật ra thì thuyền trưởng thấy tôi trước đây không ưa những người Nga và thường chỉ trích nước Nga và hay chế ngạo những người Nga già còn tánh tham lam, keo bẩn theo phong cách sống của thời cộng sản. Cũng vì vậy mà ông sợ tôi đem chuyện nước Nga xâm lăng Ukraine ra chế giễu, xỏ xiên trước mặt Ivan sẽ làm mất đi hoà khí trên tàu, nên ông mới lưu ý tôi đó thôi.

Có lẽ cũng vì chuyện chiến tranh giữa Ukraine và Nga làm cho con người Ivan thay đổi, nhìn nó giống như tốp người sống trong xã hội chủ nghĩa thời còn liên bang xô viết.  Hết giờ làm việc nó về phòng đóng cửa lại, trong bữa ăn nó ngồi nín thinh, có đêm tôi thấy nó ngồi xem phim mình ên, gương mặt lúc nào cũng suy tư và trầm buồn. Tôi có thể hiểu được tâm trạng Ivan trong lúc này, nên tôi không đá động chuyện thời sự của nước Nga và Ukraine đánh nhau tơi bời hoa lá, (phố xá tanh bành té bẹ còn hơn những trận đánh Mùa Hè Đỏ Lửa trên quê hương tôi vào những năm 1972 -1973) trước mặt nó. Tôi không biết thuyền trưởng có nói gì với Ivan không mà gặp tôi nó cười chào gượng gạo, chớ không còn vui tươi và tỏ vẻ thân thiện như trước kia nữa.

Đêm hôm ấy tôi đứng sau lái nhìn mặt trăng tròn như chiếc mâm bạc bị phủ mờ trong màn sương mỏng. Chợt nghe tiếng điện thoại trong túi áo báo tin, tôi móc điện thoại ra xem mới biết tàu đã vô hải phận Bồ Đào Nha. Vậy là ngày mai tàu sẽ tới Lisbon.

Thủ đô Lisbon nằm bên sông Tagus ở phía tây bán đảo Iberia hướng ra Đại Tây Dương mà cũng là thành phố lớn nhứt của Bồ Đào Nha. Hơn nữa nó còn là một trong những thành phố lâu đời trên thế giới và cũng là thủ đô lâu đời đứng hàng thứ hai của châu Âu, sau Athens. Lisbon có trước các thủ đô hiện đại khác ở Châu Âu hàng thế kỷ. Đây thành phố duy nhứt dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Điển hình là tài chánh, thời trang, truyền thông, giải trí, nghệ thuật, thương mại quốc tế, giáo dục và du lịch, là một trong hai thành phố quan trọng của Bồ Đào Nha. Cùng với Porto được công nhận là thành phố lớn của Bồ Đào Nha, là trung tâm thương mại và công nghiệp của khu vực phía bắc sông Mondego. Trọng tâm lịch sử của Porto đã được Unesco công nhận là di sản thế giới.

Mùa xuân năm nay thời tiết nơi đây ấm áp, tuy trăng đêm nay không sáng và bầu trời có sao thưa, nhưng không khí trong lành mát dịu cũng làm con người ta dễ chịu hơn. Nhớ năm ngoái, nhằm giữa mùa đại dịch, tàu cũng ghé lại thành phố Lisbon, thủy thủ chúng tôi lên phố phải tuân thủ luật phòng dịch. Nghĩa là lên bờ phải đeo khẩu trang, vô siêu thị phải giữ khoảng cách với nhau, đứng một hàng rồng rắn dọc từ trong ra tới ngoài lộ chờ mua đồ và khi vô quán ăn người phục vụ đặt đâu chúng tôi phải ngồi đó. Bây giờ dịch đã qua rồi, thủy thủ tha hồ mà đổ bộ, không còn cái cảnh khi ăn, uống mới được tháo khẩu trang và ăn, uống xong khi ra đường thì kéo khẩu trang lên đậy miệng, mũi lại.

Ivan từ trong muôi đi ra, có lẽ nó từ hầm máy mới chui lên nên còn bận nguyên bộ đồ bảo hộ, hai tay cầm hai chai bia và khui bia bằng cái khui của nó tự chế bằng bù lon, con tán. Khui xong nó đưa cho tôi một chai và nói:

– Ông uống với tui.

Mấy tháng qua đầu gối của tôi bị viêm, đau luôn cả bắp chưn, anh bạn y sĩ châm cứu trị cho tôi đau mười phần giảm bớt tám chín phần. Trước ngày tôi lên đường anh bạn dặn phải uống thuốc đúng giờ; không được uống bia, rượu và ăn đồ cay. Hôm ở khách sạn của phi trường, tình cờ ngồi chung với cặp trai gái người Tàu, thấy vui vui tôi uống hết ba ly bia nửa lít. Sáng hôm sau ra phi trường, kéo hành lý chen chúc hết mấy tiếng đồng hồ, hổng biết vì uống bia hay vì đứng lâu mà chưn tôi bị đau, nhức lại. Nhưng trước sự vồn vã của Ivan làm tôi không từ chối chai bia của nó mời được. Nó đưa chai lên mời, tôi đưa chai lên cụng với nó một cái, rồi hai thằng ngước cổ nốc một hơi. Xong nó khoe:

– Tàu tới Lisbon tui về.

– Ồ, vậy sao? Có vé bay chưa?

– Có rồi, chiều mai tôi lên khách sạn ngủ, sáng mốt bay qua Minsk, Belarus đổi chuyến bay qua Moscow.

Nhờ nó nói tôi mới biết là cấm thì cấm, người ta cũng biết cách luồn lách. Còn bữa trước nó nói không biết phải đi cách nào, chắc có lẽ nó không muốn đá động những chuyện phiền phức đang xảy ra bên Nga nên nó nói cho qua chuyện đó thôi. Tôi nói:

– Oh, vậy là tốt rồi.

Định hỏi nó có trở lại làm việc nữa không? Nhưng thấy bình thường thì không sao, hoàn cảnh lúc này thì có hơi ngại. Với lại từ hôm gặp nó tới nay mới thấy nó được thoải mái một chút. Không biết Ivan nghĩ gì mà nó im lặng. Tôi nhìn biển, nhìn trăng và sao trời, tất cả đều lặng yên. Một lúc sau tôi mới tìm ra câu hỏi để phá tan bầu không khí có vẻ lạnh lùng này:

– Mày có tới thành phố Lisbon lần nào chưa?

Hình như nó cũng cảm nhận thoát được cái bầu không khí minh mông nhưng trầm lắng. Nó day qua tôi lắc đầu và nói:

– Không, không tôi chưa một lần lên Lisbon, nhưng đọc báo du lịch tôi biết nó đẹp lắm.

– Đúng rồi, Lisbon là một thành phố cổ kính nhưng rất hiện đại, là một thành phố hiền hoà và cũng khá an toàn cho khách bốn phương. Tao nghĩ nơi đây cũng là một trong những thành phố lý tưởng cho khách du lịch nào thích tham quan thành phố.

– Đúng rồi, Lisbon vẫn còn dùng xe điện có một toa ngắn, loại xe xưa cách đây hàng thế kỷ và xe tuk tuk (xe lam), hình như hai loại xe này trong các đô thị Âu Châu chỉ có thủ đô Lisbon còn xử dụng. À mà ông có tới sân vận động José Alvalade chưa?

– Chưa, có lẽ vì tao hổng ưa đá banh nên tao không thích nơi đó.

– Tui nghĩ ai tới Lisbon mà không tới sân vận động José Alvalade là thiếu sót.

– Thật ra thì tao không thích đi mình ên tới những nơi lộng lẩy do bàn tay con người xây dựng.

Nó cười thành tiếng:

– Vậy sao tôi thấy ông tham quan thành phố Venezia và đi xem những ngôi nhà cổ, đồn bót cũ kỹ cách đây vài trăm năm trên quần đảo Canary ông khen đẹp và kiên cố quá trời?

– Vì những thứ đó nó có từ bao thế kỷ, nó đã trở thành đồ cổ rồi.

Ivan cười:

– Vậy là phải chờ một hai thế kỷ nữa, cho sân vận động José Alvalade thành đồ cổ rồi ông mới tới xem.

Chúng tôi cười ha hả và đưa bia lên cụng. Ngước cổ uống hết phần bia còn lại trong chai, liệng chai vô thùng rác. Ivan móc trong túi áo bảo hộ thêm hai chai bia nữa.

– Trời! Mày thủ sẵn bia trong túi?

 Nó đưa chai bia mới khui cho tôi và nói:

– Dĩ nhiên.

Sau khi bỏ đồ khui vô túi áo, nó đưa chai lên cụng. Vậy là chúng tôi uống tiếp tục. Uống xong tôi nói:

– Thiệt ra thì đi chơi mình ên tao thích tìm những món đặc sản nơi mình đến và hoà mình với dân địa phương. Còn những nơi hoành tráng thì đi chung với người hợp ý mới vui. Tao có ý định sẽ dẫn vợ tao đi Lisbon một lần, chắc chắn sẽ tới sân vận động José Alvalade cho bà xã tao chụp hình danh lam nổi tiếng bà sẽ thích lắm.

– Tôi có nghe thủy thủ đoàn nói ông biết nhiều về những món ăn địa phương ngon lắm.

– Dĩ nhiên, tao là đầu bếp mà và tao cũng thường dẫn thủy thủ In Đô lên ăn những món ngon lạ của nhiều nơi chớ hổng riêng của Bồ Đào Nha.

– Ông thấy ở Lisbon có món nào đặc biệt?

– Thiệt ra những phố cảng nằm hướng ra biển, thì không lạ gì chuyện quảng cáo về hải sản tươi sống nổi tiếng trong vùng, món nào cũng đặc biệt. Mày cũng biết đó, những nhà hàng, quán nhậu hải sản đông đúc giữa những con đường trung tâm thành phố, các đầu bếp thi nhau chế biến những món hải sản, trong khung cảnh nhộn nhịp, vui tươi và rất hấp dẫn. Nhưng phiền cái là đi mình ên mà hổng biết chút khái niệm về ăn uống, thì khó mà chọn được các món ăn cho vừa miệng vừa vui và một bữa nhậu vừa lòng.

 – Vậy làm sao biết món nào vừa miệng?

– Điều này rất khó nói, ở Bồ Đào Nha, có rất nhiều món ăn nhưng làm sao ăn thử hết. Tao chỉ đưa ra vài món thông thường tao thích như salade de polvo (salad bạch tuộc), pastéis de Bacalhau (cá tuyết chiên giòn) Gambas à Guilho (Tôm rim) và caracóis (ốc). Thí dụ như Petiscos gọi chung là những món ăn nhẹ nổi tiếng của Bồ Đào Nha, nhưng Petiscos cũng giống như món tapas ở Tây Ban Nha, cũng là món nhấm nhẹ, uống rượu vang Bồ Đào Nha hay bia lạnh thì ngon bá chấy luôn.

– Nhưng nhiều món đặc biệt như vậy thì biết chọn món nào?

– Thì vô nhà hàng nhìn hình ảnh trong bảng thực đơn, thấy món nào bắt mắt thì chọn, theo tao thì các món ăn trong nhà hàng, món nào nhìn cũng hấp dẫn và mùi vị thơm ngon. Nhưng cái khung cảnh chỗ ngồi mới góp phần tạo ra cái đặc biệt. Ivan đưa bia mời tôi uống, xong rồi hỏi:

– Là sao?

Tôi nói:

– Thay gì sắp xếp một danh sách các món ăn ngon trong đầu giống như tao kể nãy giờ. Tốt nhứt là chỉ cần tìm một khung cảnh đẹp trên bãi biển hoặc một nơi thích hợp trong góc phố, chọn một vài món vặt bắt mắt làm đồ nhấm nhẹ và uống một vài ly rượu vang Bồ Đào Nha là cảm thấy đặc biệt lắm rồi.

– Nãy giờ uống bia khan và nghe ông kể các món ăn đặt biệt làm cho tôi uống bia cũng rất ngon.

Tôi với Ivan ngước cổ uống hết chai bia. Xong nó chìa tay ra bắt tay tôi, gương mặt trở nên buồn bã nói:

– Sáng mai tôi đi sớm, lần này tôi về rồi hổng biết có còn gặp lại nữa không?

Lời từ giã nghe như lời trăng trối! Và tôi nghĩ cũng như nó vậy, nhưng vẫn nói một câu an ủi thông thường:

– Trái đất này nhỏ mà, còn sống thì mình còn gặp lại.

– Tui hy vọng!

Xong tôi với nó mỗi thằng cầm một vỏ bia bỏ vô thùng rác và chia tay bằng câu chúc ngủ ngon.

Vô phòng tắm rửa, đánh răng, thay quần, áo rồi lên giường nằm nhưng chưa ngủ được. Đầu óc tôi suy nghĩ, chiến tranh lúc nào cũng buồn thảm, làm cho con người của những quốc gia khác nhau cũng bị ảnh hưởng lây và ngại ngùng, giữ kẽ mỗi khi đối diện nói chuyện với nhau. Tôi nhớ lại chuyện quá khứ, từ khi Liên Bang Sô Viết tan rã, nước Nga không còn cảnh tối tăm như thời cộng sản nữa. Người Ukraine và người Nga rất thân thiện và  làm việc với nhau rất vui vẻ. Cho tới những năm gần đây chánh trị của hai nước bốc đồng và hục hặc thì họ không còn thân thiện và bắt đầu tỏ thái độ khó chịu với nhau. Cho tới khi tổng thống Putin phát động cuộc xăm lăng nước Ukraine thì người Ukraine không thấy qua đây làm việc nữa. Lúc này tôi mới hiểu ra những người Ukraine họ về nước để đầu quân chiến đấu, đánh đuổi giặc ngoại xâm. Chợt nhiên trong lòng tôi thấy thương cho dân nước Nga, họ mới hít thở không khí tự do chưa được bao lâu thì phải trở về với cuộc sống tối tăm của nước Nga thời chiến tranh lạnh. Không biết tương lai, số phận những người Nga tiến bộ này rồi sẽ đi về đâu? Và không hiểu rồi sau này, khi chiến tranh nơi đó chấm dứt, dân Nga được đi ra nước ngoài có bị người ta nhìn với con mắt mất cảm tình như người ở một số quốc gia nhìn người Việt với con mắt không thiện cảm?

Dronten 18-9- 2022

Định số

Lâm Chương

Post by Sơn râu 30 Jun 2026

Nếu có thể tự quyết định vận mệnh của mình thì đời tôi đâu có tệ. Tôi thuộc loại học hành không được siêng năng, nhưng có cái mộng lớn, muốn đỗ đạt cao, để khi ra làm việc khoẻ thân, lại được nhiều người trọng vọng. Bao nhiêu lần, tôi ra vào đã nhẵn mặt trường thi, nhưng kết quả chẳng lấy gì làm khả quan lắm. Thất bại trên đường khoa cử, tôi còn đang loay hoay tìm một hướng đi khác, thì lệnh động viên gởi tới. Túng thế, tôi đành trốn lính. Nói rằng trốn cũng không đúng, tôi đang chờ định mệnh đưa tôi đến một cơ hội nào đó, khá hơn trường hợp đi lính. Nếu tình trạng bấp bênh này, kéo dài tới mùa thi năm sau, may ra tôi kiếm thêm được một cái bằng cấp lận lưng cho đời đỡ tủi. Hàng ngày, tôi vẫn lêu bêu ngoài phố, ngang nhiên đi trước mặt các toán Cảnh Sát chận xét giấy tờ tùy thân của thanh niên, để tóm cổ những thằng không thi hành lệnh gọi nhập ngũ, như tôi. Và mười lần như một, Cảnh Sát đều làm ngơ, không thèm xét hỏi khi tôi đi qua. Chắc họ thấy cái mặt có vẻ hiên ngang đầy khí phách của tôi, rồi tưởng tôi là thằng đàng hoàng?

Một hôm, khi đi ngang khu chợ đông người, tôi thấy một bà bán hàng cầm đòn gánh đánh một người đàn ông đạp xích lô. Người đàn ông chỉ tránh né, đỡ đòn mà không hề phản công. Bà bán hàng vừa đánh vừa chửi rủa. Tò mò, tôi đứng lại coi, và cau mày, nghĩ: “Cái loại đàn bà đanh đá, chanh chua thế này, mà cũng có người dám lấy làm vợ!” Trong phút chốc, một xe Cảnh Sát ập tới, hốt gọn hai người lên xe. Bà bán hàng thấy tôi cau mày, tưởng tôi động lòng trắc ẩn, cảm thông với bà, nên đưa tay chỉ tôi và nói với Cảnh Sát: “Cậu này là người chứng kiến từ đầu đến cuối câu chuyện, có thể làm chứng cho tôi.”

Tôi vội chống chế: “Không! Tôi có biết gì đâu?”

Nhưng đã quá muộn, người Cảnh Sát đẫy luôn tôi lên xe, và nói: “Chúng tôi cần lời khai trung thực của cậu, giúp chúng tôi phân xử vụ này phân minh.”

Khi ngồi trên xe, trên đường về bót, người đàn bà bán hàng và người đàn ông xích lô tranh nhau để giải thích với tôi về lý do ấu đả xảy ra, cố giành phần phải cho mình. Người nào cũng mong vì cảm tình riêng trong nhất thời, tôi sẽ nói những lời có lợi cho họ. Nhưng, tôi còn tâm trí đâu mà để ý chuyện ruồi bu của họ. Tôi đang nghĩ đến vấn đề khó khăn rắc rối sắp tới của tôi.

Tại bót Cảnh Sát, trước khi lấy lời khai nhân chứng, họ yêu cầu tôi xuất trình giấy tờ tùy thân. Sau khi xem xét giấy tờ, viên Cảnh Sát ngồi sau chiếc bàn nhỏ, ngẩng đầu lên hỏi: “Cậu có giấy hoãn dịch không?”

Tôi lắc đầu. Thế là họ chẳng cần tôi làm nhân chứng. Họ tống tôi vô phòng tạm giam, chờ giao cho Quân Cảnh, đưa vào quân trường thụ huấn trò chơi súng đạn. Tôi nghĩ, định mệnh đã khiến người đàn bà bán hàng xô tôi vào khúc quanh mới của cuộc đời. Thời gian thụ huấn tại quân trường Thủ Đức, có một bài thi trắc nghiệm tâm lý. Theo lời vị sĩ quan giám khảo, bài thi này được chấm bởi máy IBM, đưa tới quyết định ám số chuyên nghiệp của mỗi quân nhân trong đời binh nghiệp. Trong bài có rất nhiều câu hỏi ngớ ngẩn, buồn cười, vô lý.

Thí dụ: “Khi đang đứng trên lầu cao, bạn có ý tưởng muốn nhảy xuống đất không?” Chỉ những kẻ điên khùng hoặc muốn tự vận mới trả lời “có” mà thôi. Tôi không thuộc loại người này. Nhưng muốn trả lời trái ngược, để cho cái máy IBM không biết đường nào quyết định. Tôi đánh dấu thập vào ô chữ “có”. Nhiều câu hỏi khác, tôi cũng trả lời một cách bất thường như thế. Thật không ngờ, ngày ra trường, tôi mang ám số chuyên nghiệp loại tác chiến. Tôi nói với mấy tên bạn đồng khoá về điều này, và chê cái máy IBM thiếu chính xác.

Chúng nó lý luận rằng: “Đứng trên lầu cao, mày muốn nhảy xuống đất, có nghĩa mày là thằng gan cùng mình. Vì thế, cái máy quyết định đưa mày ra tác chiến để làm người hùng chiến trường. IBM chính xác quá đi chứ!”

Cũng trong thời gian ở quân trường, kỳ thi hạch miệng về môn chiến thuật, vị sĩ quan giám khảo đặt câu hỏi: “Theo tin tình báo, vào giờ G, sẽ có một trung đội địch di chuyển ngang địa điểm B. Anh nhận nhiệm vụ dẫn trung đội đến điểm B phục kích. Đúng giờ G, địch di chuyển ngang qua một tiểu đoàn, chứ không phải một trung đội như tin tình báo. Trong trường hợp này, anh là trung đội trưởng, phải xử trí thế nào?”

Tôi đứng ngẩn ra một lúc, than thầm: “Trời ơi, đặt chi một câu hỏi hóc búa, làm khó người đem thân giúp nước!” Đối với môn chiến thuật, khi huấn luyện viên giảng bài, tôi thường ngủ gục, nên sự lãnh hội và ghi chép có rất nhiều thiếu sót. Cuối cùng, tôi nghĩ, đã đem quân đi phục kích, gặp địch là phải đánh chứ còn lừng khừng gì nữa.

Tôi trả lời một tiếng cứng cỏi: “Đánh.”

Vị sĩ quan trố mắt ngạc nhiên nhìn tôi, nói: “Cấp số giữa địch và ta quá chênh lệch. Nếu đánh thì trung đội sẽ chết hết. Tôi cho anh quyết định lần thứ hai.”

Tôi lại suy nghĩ, nếu dẫn quân chạy, thì cũng chưa chắc thoát được hoả lực hùng hậu của địch, mà còn mang tiếng hèn. Chi bằng nhào vô tử chiến, dù bên ta chết hết, nhưng cũng gây cho địch một tổn thất nặng nề. (Đó chỉ là ý nghĩ thôi. Trên thực tế, có lẽ tôi sợ đến quýu cả tay chân, không dám động đậy.)
Và lần thứ hai, tôi cũng trả lời: “Nhất định đánh.”
Vị sĩ quan giám khảo lắc đầu, bỉu môi: “Anh không biết gì về chiến thuật cả. Trường hợp này, anh phải im lặng cho địch đi qua, để ta bảo toàn lực lượng. Sau đó, báo về trung tâm hành quân, cho phi pháo dội lên đầu tiêu diệt địch.” Ông ngó tôi một lúc để nghĩ ngợi, rồi nhè nhẹ gục gật cái đầu, nói tiếp: “Môn thi này, tôi cho anh mười bảy điểm, không phải vì anh giỏi chiến thuật. Đó là số điểm gan dạ phi thường của anh.”
Sau chín tháng mồ hôi, sương gió, nắng mưa trên các bãi tập vùng đồi Tăng Nhơn Phú, tôi ra trường Thủ Đức, được đưa về một đơn vị Biệt Động Quân. Nghe nói, có vị sĩ quan trưởng phòng năm, sắp sửa đi thụ huấn bổ túc một khoá tâm lý chiến. Hiện tại, tiểu đoàn đang cần một phụ tá trưởng phòng năm, để tạm thay thế điều hành công việc trong thời gian ông này đi vắng. Tôi cố tạo một bộ mặt hiền lành, để người ta thấy tôi dễ thương, cho tôi làm phụ tá thì đời đỡ khổ biết mấy. (Đâu có ai thích bộ mặt hung dữ, dễ ghét làm phụ tá cho mình).

Một buổi chiều, trong phiên hợp, ông già tiểu đoàn trưởng, nói với các sĩ quan: “Có thằng chuẩn uý mới ra trường, trông nó còn non sữa lắm, cần phải lăn chai, tẩm thuốc cho săn da, chắc thịt. Có đại đội nào nhận thằng này không?”

Vị đại đội trưởng đại đội hai, lên tiếng: “Để tôi nhận. Tôi chỉ cần “dợt” nó vài ba tháng là đêm ngủ hết thấy ác mộng, sét đánh cũng không giật mình.”

Quay nhìn tôi, ông già tiểu đoàn trưởng nói: “Tạm thời chuẩn uý về đại đội hai, rồi từ từ sắp xếp lại, tính sau.”

Tôi đã chờ đợi cái câu: “… từ từ sắp xếp lại, tính sau.” gần mười năm, nhưng chẳng thấy ai sắp xếp lại, và tính gì cả. Tôi vẫn là thằng lính đi trận cho đến ngày tàn cuộc chiến.

Về đại đội hai, tôi làm cố vấn trung đội. Theo thông lệ của binh chủng, sĩ quan mới ra trường chỉ được làm cố vấn trung đội. Gọi là cố vấn cho oai, chứ hình thức chỉ là thằng lính trơn, mang ba lô lẽo đẽo theo trung đội để học nghề đánh giặc. Sau ba tháng, nếu thấy “làm ăn” được, sẽ cho nắm trung đội trưởng.

Đúng mười lăm ngày, sau khi tôi về đại đội, một trận đánh lớn xảy ra. Giữa khuya, đang nằm ngủ, tôi choàng dậy vì một tiếng nổ thật lớn. Tiếp theo, tiếng súng nổ liên hồi không ngớt. Tôi nghe có tiếng ai la lớn: “Địch tấn công!” Trong bóng đêm lờ mờ, tôi thấy mọi người đang lao xao, tất bật xách súng đạn nhào ra kháng tuyến. Tôi cũng quơ vội súng đạn, phóng xuống hố cá nhân, nằm chết điếng, không dám ngóc đầu lên, nghĩ thầm: “Đi thứ lính gì mà lang thang rày đây mai đó, không có đồn bót phòng vệ cố định. Đêm nằm, không có lấy một hàng rào kẽm gai làm chướng ngại vật. Địch chỉ cần xông tới là vị trí bị tràn ngập ngay. Đời một chuẩn uý mới ra trường, sắp tàn mạng tại đây, đêm nay.”

Khi trận đánh còn đang tiếp diễn, không biết thằng truyền tin từ đâu vụt đến, bảo tôi hãy di chuyển chỗ khác, vì chỗ tôi đang núp, ngay tầm B40 của địch. Quả thật, đã có mấy trái B40 nổ chát chúa gần bên tôi rồi. Nhưng, tôi không đi đâu hết. Không phải tôi gan, chỉ vì quá sợ, tôi không dám ló đầu lên khỏi mặt đất mà thôi. Một lúc sau, vị thượng sĩ già trung đội trưởng bò tới, căn dặn tôi hãy nằm yên tại chỗ, và bảo tôi hô lên thật lớn.

Tôi hỏi: “Hô cái gì?”

“Anh em trung đội giữ nguyên vị trí chiến đấu.” Thượng sĩ nói.

Tôi lập lại: “Anh em trung đội giữ nguyên vị trí chiến đấu.”

“Phải la thật lớn cho mọi người đều nghe.”

Tôi rướn đầu lên khỏi miệng hố, gân cổ hô mệnh lệnh bằng cái giọng sợ hãi lạc thần, bị át đi trong tiếng đạn nổ dữ dội như nhiều nhà cùng đốt pháo tết một lượt. Trong đêm, ba lần, vị thượng sĩ đã bò tới, bò lui bắt tôi hô lớn câu đó.

Trận đánh tàn trước lúc trời sáng. Có nhiều người chết và bị thương. Tôi lên khỏi hố, đi qua đi lại, không biết làm gì. Những người khác đang lo bó những tử thi vào poncho, và những chiếc trực thăng đang đáp xuống tải thương, dưới ánh sáng chập chờn của hoả châu.

Buổi xế chiều, sau phiên họp với các đại đội trưởng, ông già tiểu đoàn trưởng cho lệnh gọi tôi lên trình diện. Tôi hồi hộp, lo sợ ông ta sẽ xài xễ trách mắng. Vì trong suốt trận đánh, tôi chỉ rúc đầu xuống hố cá nhân, không bắn được viên đạn nào. Nhưng thái độ của ông làm tôi vô cùng ngạc nhiên.

Ông thân mật vỗ vai tôi, và nói: “Tuyến phòng thủ của đại đội hai là mặt bị tấn công mạnh nhất. Mày, chuẩn uý mới ra lò mà can đảm, và biết điều động trung đội giữ vững vị trí chiến đấu, đẫy lùi hai đợt xung phong của địch. Đáng lẽ mày được tưởng thưởng anh dũng bội tinh, nhưng còn nhiều anh em khác đã tham dự nhiều trận trước, chưa được tưởng thưởng. Thôi, lần này hãy nhường cho họ. Tao biết mày có khả năng, lần sau tao không quên đâu. Đời còn dài, mày còn nhiều cơ hội đụng trận.”

Tôi đâu biết, địch đã xung phong hai lần, đều bị đẫy lui. Công đó của ai, chứ không phải của tôi. Tôi cũng không ham cái huy chương. Tôi lo vì câu nói của ông tiểu đoàn trưởng: “…Đời còn dài, mày còn nhiều cơ hội đụng trận.” Với tôi, câu này còn có nghĩa rằng, mày còn nhiều cơ hội chạm mặt tử thần. Nghe mà ớn lạnh!

Trở lại trung đội, tôi hỏi vị thượng sĩ: “Tại sao trong đêm ông bảo tôi hô lớn mệnh lệnh nhiều lần, khi có ông đang chỉ huy trung đội?”

Ông giải thích: “Nay mai, chuẩn uý sẽ nắm quyền trung đội trưởng, và tôi làm trung đội phó. Tôi muốn tạo cho chuẩn uý một lớp hào quang người hùng. Nếu anh em không tin khả năng của chuẩn uý, khó chỉ huy lắm. Chuẩn uý yên trí đi, với cương vị trung đội phó, tôi sẽ giúp đỡ chuẩn uý hết mình. Đừng lo.”

Bây giờ, tôi mới hiểu mục đích của người đồng đội. Tôi nghĩ, định mệnh đã dùng ông như bàn tay, để sơn phết cho tôi, một tên hèn nhát được nhìn như một người can đảm. Lại một lần khác, trong cuộc hành quân vùng sình lầy. Mục tiêu là khu rừng phía trước. Khi đại đội đang lội bì bõm dưới nước, gần tới bìa rừng thì từ trong những lùm cây, địch khai hoả dữ dội. Tôi nhìn thấy nhiều người ngã xuống. Cả đơn vị lâm vào thế tấn thối lưỡng nan. Lui không được, tiến không xong. Những người còn lại phải trầm mình xuống nước, bám theo những bờ đất, bắn chống trả, chờ phi pháo yểm trợ. Tôi cũng trầm mình xuống nước. Chợt nhớ đến một con vật tối kỵ đối với tôi: con đỉa. Tôi quay đầu ra sau, quan sát. Trời ơi! Một con đỉa bự bằng cái quai dép râu, trên lưng có hai cái sọc vàng như cương ngựa, đang phóng nước đại về phía tôi. Kinh hoàng, tôi trườn lên nằm trên bờ đất. Bây giờ, tôi là mục tiêu ngon lành cho bao nhiêu họng súng từ bìa rừng bắn xuống.

Thằng truyền tin hấp tấp, nói: “Thẩm quyền gọi máy, bảo chuẩn uý xuống bờ núp đạn.”

Tôi vẫn nằm trên bờ, xả súng bắn ngược lên bìa rừng.

Lúc sau, thằng truyền tin lại nói nữa: “Thẩm quyền bảo, nếu chuẩn uý không chịu núp đạn, ổng sẽ bắn chuẩn uý chết trước khi bị địch bắn.”

Tôi nhìn lui, thấy vị đại đội trưởng chỉa họng súng về phía tôi. Tôi nhìn xuống nước, con đỉa đâu mất rồi. Nhưng, chắc còn nhiều con khác đang lặn trong nước chờ đợi tôi, để chui vào quần áo, bám vào da thịt. Nghĩ đến lớp da con đỉa nhớt nhợt, trơn lùi, tôi ghê tởm, rùng mình nổi gai ốc.

Nỗi sợ đỉa lớn hơn nỗi sợ hoả lực của địch, tôi vụt đứng dậy, quơ tay làm thủ hiệu tấn công, miệng la lớn: “Xung phong. Xung phong.”

Vừa la, tôi vừa bắn và nhào lên. Lính trong trung đội thấy tôi xung phong một cách anh dũng, cũng đứng dậy bắn, đồng loạt hô: “Xung phong” và tràn lên chiếm bìa rừng. Nhiều anh em đồng đội ngả xuống giữa khoảng đường ngắn ngủi nhưng thập tử nhất sinh này.

Nhờ vào địa thế mới chiếm làm bàn đạp, đơn vị đã thanh toán hoàn toàn được mục tiêu sau một ngày giằng co quyết liệt. Quân số trung đội tôi, hai mươi sáu thằng, chỉ trở về một nửa.

Ngày ông liên đoàn trưởng đến thăm đơn vị, để khen tặng công trạng tiểu đoàn, ông già tiểu đoàn trưởng ca ngợi tôi không tiếc lời: “Tao đứng từ xa, quan sát trận địa bằng ống dòm, thấy trung đội của mày chơi mạnh và đẹp như một mũi nhọn đầu tiên thọc vào hông địch. Nhất là mày, một chuẩn uý mới ra lò, đã tỏ ra xứng đáng là con chim gương mẫu đầu đàn. Dù chưa đủ ba tháng thử thách, tao cũng cho mày nắm quyền trung đội trưởng, từ đây. Tao đã đề nghị lên thượng cấp, tưởng thưởng cho mày anh dũng bội tinh ngôi sao bạc.”

Nghe ông tiểu đoàn trưởng nói, tôi mắc cỡ đỏ mặt. Lần này, định mệnh dùng con đỉa rượt tôi chạy về phía trước, để người ta lầm tưởng rằng tôi là một tên anh hùng gan dạ. Trong binh nghiệp, đời tôi cứ thế mà đi, như có bàn tay vô hình đưa đẩy. Bao nhiêu lần dấn thân vào bom đạn, vì chưa tận số nên tử thần chưa cầm lưỡi hái cắt đứt sự sống của tôi. Gần mười năm trận mạc, tôi chỉ bị xây xước nhẹ, vài lần. Lính trận coi chuyện đó như kiến cắn mà thôi.

Nếu đứng trên phương diện quốc gia mà xét, tôi là một công dân tốt. Chẳng có ông thầy bói nào dám tiên đoán rằng tôi có số ở tù. Cuối tháng Tư, năm bảy mươi lăm. Định mệnh lại xô tôi vào khúc quanh mới. Khúc quanh này bi thảm và ác liệt hơn khúc quanh mười năm trước.

Sau ngày chế độ miền Nam sụp đổ, tôi lò dò ra nạp mạng. Tưởng chỉ bị chửi bới sơ sơ, rồi người ta đuổi về, cho đạp xích lô, hoặc đi cày, làm ruộng kiếm ăn. Không ngờ họ lý luận rằng, kẻ tốt của chế độ này, là thành phần xấu của chế độ kia. Cùng một không gian, nhưng thời gian thay đổi, tôi vụt biến thành tù nhân, và bị đưa ra đất Bắc cải tạo. Chẳng biết Nguyễn Du thông đạt cái lý lẽ thiên cơ mầu nhiệm đến cỡ nào, nhưng trường hợp của tôi, ông đã nói quá đúng: “Cho hay muôn sự tại trời!”

Làm tù khổ sai nơi miền thượng du. Lao động quần quật giữa vùng sơn lam chướng khí. Chiều về, không đủ miếng ăn. Thường xuyên bị nhục mạ đủ điều. Đêm nằm trong bóng tối phòng giam, tôi nghĩ, sao vận mệnh con người lại bị sắp xếp bởi một bàn tay vô hình? Dù không làm được việc thiện, nhưng tôi cũng chẳng làm việc gì ác. Thế tại sao tôi lại sa vào địa ngục trần gian? Có cách nào cưỡng lại được không? Đang trong hoàn cảnh bi đát, bỗng tôi nhớ thêm một câu, trong truyện Kiều: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.” Tôi tin cụ Nguyễn Du, và quyết tâm thay đổi vận mệnh, bằng cách tháp tùng với vài người bạn, làm một cuộc vượt trại, hi vọng cải được số trời.

Toán vượt trại gồm bốn người. Trong thời gian ba tháng, chúng tôi bí mật bàn thảo kế hoạch, và chuẩn bị những vật dụng cần thiết cho chuyến đi.

Đêm đầu tiên, chui ra khỏi hàng rào trại tù, chúng tôi đi về hướng Tây, và để lại nhiều dấu vết. Mục đích đánh lừa cho địch theo dấu, truy đuổi về hướng Tây. Họ sẽ đoán, chúng tôi xuyên Lào, qua Thái Lan. Đến ngày thứ hai, chúng tôi đột ngột chuyển về hướng Bắc, và không để lại dấu vết. Sở dĩ, chúng tôi chọn hướng này vì biết được mối tình hữu nghị giữa hai nước Việt Trung đã trở mặt rồi. Chúng tôi đang nằm trong địa phận Yên Bái, dự trù mười lăm ngày sau, sẽ có mặt bên kia biên giới. Dãy núi hình rẽ quạt Hoàng Liên Sơn trong sách địa dư ngày còn đi học, hiểm trở hơn nhiều so với tưởng tượng của tôi. Núi tiếp núi, chập chùng như sóng biển. Nhắm hướng Bắc, theo đường chim bay, chúng tôi leo lên tận những đỉnh núi mây mù phủ kín quanh năm, lần mò qua những lũng thấp âm u đầy sên vắt. Chịu biết bao nhiêu nhọc nhằn, nguy hiểm. Ngày thứ mười hai, một người vĩnh viễn bỏ thây lại giữa rừng già, bởi chứng sốt cấp tính. Còn lại ba người, chúng tôi vẫn đi tiếp tục đoạn đường, theo kế hoạch ban đầu. Hai ngày sau, khi đang len lỏi giữa rừng cây, trèo lên dốc núi, chúng tôi bị một người đàn bà Mèo nhìn thấy. Tính giết đi để bảo toàn bí mật, nhưng không ai nở xuống tay với người vô tội. Để sống, thì cũng biết đây là mầm tai họa. Cuối cùng, tha cho người đàn bà Mèo đi. Và chính người này, đã tố giác chúng tôi với chính quyền đia phương. Định mệnh vẫn không dung cho kẻ có lòng nhân. Chúng tôi bị bủa vây cùng khắp. Ngày thứ mười sáu, cả toán bị phát hiện, lúc tôi đang núp ló nơi một khe nước trên lưng chừng núi.

Một tên chỉa súng vào tôi, hô lớn: “Đứng dậy. Giơ tay lên.”

Tôi từ từ đứng dậy, buông xuôi hai tay.

“Giơ tay lên.” Hắn lập lại mệnh lệnh.

Tôi lắc đầu, đứng sững nhìn hắn. Cử chỉ phản đối này, như một thách thức cho hắn bắn vào giữa ngực tôi. Trong khi chờ đợi viên đạn, tôi nghe một luồng khí lạnh từ dưới bàn chân, vụt tràn dâng lên tới đỉnh đầu, làm cả người lạnh toát. Tôi vốn nhát gan, nhưng lâm vào đường cùng, tôi liều mạng. Hành động này, dễ làm cho người ta tưởng tôi là người can đảm.

Tên cầm súng kéo cơ bẩm, cho đạn lên nòng, nghiêng đầu, nhắm hướng súng vào mục tiêu. Bỗng tên chỉ huy từ phía sau, vượt tới, hất mũi súng chỉa lên trời, không cho bắn.

Hắn ra lệnh: “Trói nó lại.”

Một lần nữa, bàn tay vô hình của định mệnh đã điều khiển tên chỉ huy giữ lại mạng sống tôi. Nơi chúng tôi bị bắt, thuộc địa phận Lao Cai. Nếu chậm hơn vài ngày, có thể chúng tôi sang được bên kia biên giới Việt Trung, thoát khỏi cảnh tù đày và đời tôi đã đổi khác.

Mười năm sau, tôi ra khỏi tù. Sức khoẻ đã bị vắt cạn trong những ngày lầm than, đói khổ. Bây giờ, tôi đang sống tàn tạ nơi quê người. Nhìn lại đời mình như một bức tranh lỡ tay của người hoạ sĩ, với những phác hoạ nửa chừng dang dở, những lem nhem làm ố khung màu. Một bức tranh hư, bị ném vào xó góc, buồn hiu, đóng bụi.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 30 Jun 2026

… Các mành vỡ từ hai bên cố ráp vào vẫn rời ra, xộc lệch không tài nào ăn khớp. (LKH)

“Trăm Năm Ly Hợp” là một cuốn sách của tác giả Lê Khắc Hoan, một ký giả, nhà văn cũng là nhà giáo “bên thắng cuộc,” vừa xuất bản ở Việt Nam, nói về chuyện đoàn tụ và ly cách của dòng họ Lê Khắc từ một ngôi làng nhỏ của miền Trung sỏi đá: Văn Xá, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Dòng họ này cũng như hằng trăm dòng họ của đất nước Việt Nam, bởi thảm nạn từ Việt Minh đến Cộng Sản, dưới danh nghĩa giải phóng dân tộc để đem gông cùm Cộng Sản choàng vào cổ người dân Việt Nam, đã chịu cảnh ly tán trong một thời gian dài, nhưng rồi khi nghĩ có thể kết hợp được, lại càng ly tán, xa cách nhau hơn.

Nhan đề cuốn sách là “Trăm Năm … ” nhưng thực tế từ lúc tác giả ra Bắc đến lúc trở về lại quê hương, vỏn vẹn có 30 năm. Sau khi thân phụ ông, nguyên là tri phủ Quảng Trạch và Duy Xuyên, sau ngày Việt Minh cướp chính quyền, qui ẩn về Văn Xá được cử làm “Chủ Nhiệm Việt Minh Xã” qua đời, gia đình của tác giả, hai bà mẹ và hơn chục anh em, theo ông anh rể, một viên chức chính quyền Việt Minh ra Bắc.

Tám năm sau, về phía miền Nam, năm 1954, khi đất nước chia cắt, cũng có những người tập kết ra Bắc, để lại gia đình bên này sông Bến Hải. Ở miền Bắc thì sau hiệp định Geneve, một triệu người xuống tàu bỏ tài sản, ruộng vườn, làng mạc, mồ mả cha ông di cư vào Nam, không ít gia đình đã chịu cảnh ly tán, người bên này kẻ bên kia. Trong cuốn “Trăm Năm Ly Hợp” tức “Lê Khắc Gia Phả Chí” lẽ cố nhiên cũng nhắc đến cội nguồn tổ tiên và những vị sinh tiền đã gầy dựng nên một dòng họ Lê Khắc đông đúc ngày nay. Vì làng Văn Xá nằm về phía Nam song Bến Hải, nên nếu chia hai dòng họ cho hai bờ Bắc Nam, thì phía Nam nhân sự đông đúc gấp bội bờ Bắc. Ca ngợi dòng họ và xiến dương những bậc tài trí về cả phía văn lẫn võ, tác giả cố gắng đem lại sự quân bình cho dòng họ ở cả hai miền. Nhưng khi tác giả trở về Nam, một số thân tộc đã bỏ nước ra đi, một số phải chịu cảnh tù đày, một số khác thất vọng, cay đắng, trừ những người ít bị thương tổn, không muốn liên lạc hay hợp tác, nhận họ với phía “giải phóng.” Khi tác giả gặp gỡ những người ở lại, thì dù là anh em, họ ít muốn nói đến những người ra đi, cho nên tập sách, nói là “gia phả chí,” dưới hình thức ký sự, cũng không tránh khỏi nhiều thiếu sót.

Một cuốn sách của một người “bên kia” dù là viết về dòng họ của riêng mình, cho bà con hai bên cùng đọc, cũng không tránh khỏi chuyện đi cho đúng lề, và để cuốn sách được xuất bản, cũng có đoạn ca tụng “bác Hồ”, dùng chữ “nguy quyền Saigon,” kêu gọi bà con “về đầu tư, xây dựng đất nước”, ca tụng làng Văn Xá Anh Hùng chống Mỹ (!), thiết nghĩ không có sức thuyết phục để anh em trong dòng tộc ngồi lại với nhau, mà chỉ gây thêm chia rẽ:

“Trong cuộc chiến 30 năm đằng đẳng, những người ở lại bám trụ làng quê đã lập võ công hiển hách. Văn Xá được Nhà nước vinh phong Đơn vị Anh hùng. Xứng đáng với quê hương, đông đảo anh em họ mạc của Văn Trí (bút hiệu cửa tác giả), những người Lê Khắc thoát ly đi kháng chiến mà còn sống, khi quay về đều đỏ ngực Huân chương.”

Tác giả bị ám ảnh bởi màu đỏ của huân chương, huy chương, và ông đã nói với một người chú ruột: “nếu chú Lự của cháu tập kết ra Bắc thì cháu đoan chắc chú sẽ nhận được tấm huân chương cao nhất trong số bà con Lê Khắc hiện diện ở miền Bắc,” (trang219) trái lại tôi lại bị ám ảnh bởi màu đỏ của máu. Ba mươi năm trước, vào tuổi lên 10, tác giả ra Bắc, cũng với tuổi đó ở lại quê hương, tôi đã mục kích bao nhiêu cảnh Việt Minh bắn người trên bờ ruộng, cắt cổ, mổ bụng, thả xác trôi sông rất hãi hùng, sợ đến nỗi ban đêm không dám ra vườn đi đái. Mỗi đêm nghe tiếng chó sủa là dân làng lạnh người, co rúm lại vì sợ.

Và ở một đoạn khác:

“Máu đào của bà con Lê Khắc cùng với hàng ngàn đồng bào đồng tộc làng Văn đã tô thắm lá cờ “Đơn vị anh hùng”, danh hiệu vẻ vang Nhà nước phong tặng nhân dân và lực lượng vũ trang Hương Văn! Về thăm quê hương, Văn Trí từng ngó thấy chứng tích căn cứ Lữ đoàn 101 hơn 2.000 lính Mỹ đóng quân trên địa bàn Văn Xá năm 1968. Trong kháng chiến, 1.100 người làng cầm súng thoát ly. Văn Xá đã phối hợp với bộ đội chính quy đánh 1.200 trận. Riêng lực lượng bán vũ trang của làng độc lập chiến đấu hơn 500 trận. Văn Xá có 125 thương binh và 605 liệt sĩ!”(trang 364)

Chúng tôi, người viết bài này, là người em họ của tác giả, có mặt trong cái dòng họ Lê Khắc này, là một người lính miền Nam, suốt thời gian tác giả ra Bắc, từ năm 1966 (nếu tác giả cho là thời điểm lực lượng Hoa kỳ có mặt tại miền Nam) cho đến năm 1972 (sau hiệp định Paris 1973, quân đội Mỹ đã về nước), vẫn thường về thăm viếng quê hương nhiều lần. Văn Xá vẫn thanh bình yên ổn, lâu lâu có anh du kích rình mò thẩy mấy quả lựu đạn vào chốt gác nghĩa quân.

Cũng là một nhà báo quân đội, chúng tôi có quan tâm và có các thông tin về các trận chiến, nhưng chúng tôi chưa bao giờ thấy hay nghe nói có 2,000 lính Mỹ đóng ở địa phận làng Văn xá, mà ở đây lại có đến 1,200 trận chiến thư hùng + 500 trận của du kích Văn Xá, đầy tưởng tượng như trên. (Cứ thử lấy con số 1,700 trận chiến bom đạn, chia cho thời gian 6 năm, mỗi năm xẩy ra 283 trận, mỗi tháng gánh chịu hơn 23 trận, như vậy cứ gần một ngày, Văn Xá xây ra một trận đánh. Một trận đánh kéo dài bao nhiêu giờ, mà ở đoạn kế tiếp, tác giả lại nói: “ … vẫn nguyên vẹn mái đình Văn Xá, vẫn yên lành nhà thờ Lê đại tộc, nhà thờ phái Lê Khắc, nhà thờ Trung Phụng đại phu và mấy trăm phần mộ đồng loạt đúc bia “phái Lê Khắc.”

Nếu “tài liệu” của tác giả là thật, thì Văn Xá đã trở thành bình địa, một vũng bùn hay là một đống “xà bần” như cổ thành Quảng Trị rồi! Nên nhớ diện tích làng Văn Xá là 1,390 Km2, và làng chỉ có 8,663 người dân.

Tác giả cho đây là “điều thần diệu,” nhưng với tôi, đó là điều mâu thuẫn vì những tài liệu mà tác giả dẫn chứng trên, hầu như đã trích từ một tờ Quân Đội Nhân Dân nào đó, thường nhắm vào chiến dịch tuyên truyền thành tích cho dân ngu, không nói thành có, không hề căn cứ vào những sự thật rất sơ đẳng! Một phần tác giả cũng bị ảnh hưởng bởi thứ “thành tích truyền khẩu” để bị lầm lẫn những địa danh cách xa nhau hằng trăm cây số như Ashau, A Lưới với một ngôi làng nhỏ Văn Xá thanh bình, trên Quốc lộ 1 nằm trên trục lộ Huế- Quảng Trị, chỉ cách Huế 13 km, nườm nượp xe cộ qua lại hằng ngày. Trong suốt 432 trang in, “Trăm Năm Ly Hợp” tác giả đã có thiện ý tạo sự đoàn kết của dòng tộc sau nửa thế kỷ chia lìa. Tác giả đã thú nhận gửi đi hằng trăm e- mail, lời nhắn cho bà con, nhưng không hề được hồi âm và ngay đối với người viết bài này, những đứa cháu ở Việt Nam cũng ngần ngại không muốn cho tác giả biết địa chỉ, dù là địa chỉ e-mail. Điều này chứng tỏ, “miền Bắc nhận hàng” đã xong, nhưng miền Nam vẫn còn miễn cưỡng, chưa muốn “nhận họ.” Cuốn sách ra đời, tôi nghĩ là tác giả muốn hàn gắn lại vết thương cho họ hàng, dù từ bên này hay bên kia, dù ở trong nước hay lưu lạc xa quê hương, nhưng hình như những cố gắng của tác giả không đem lại sự mong muốn. Sau 30 năm, khi con tàu xuyên Việt có thể nhả khói, kéo những hồi còi, chạy suốt, nối Hà Nội- Huế với Saigon, nhân gian, bao nhiêu giòng họ tưởng là đoàn tụ, nhưng đây là lúc chia cách lớn nhất, không còn là vì khoảng cách của sông núi, mà bởi lòng người ly tán, tưởng chừng, rồi đây cả trăm năm sau, cũng chưa thể hàn gắn được. Sau chiến tranh Nam Bắc, người cha tập kết trở về dắt díu theo một bà vợ của đảng, mấy đứa cháu của bác, để rồi nhìn nhau trong ngỡ ngàng, lạnh nhạt, thống hận và đắng cay. Họ không còn giống nhau từ sự hiểu biết, giọng nói, lối sống và tư tưởng. Vợ chồng mà đó, anh em ruột thịt mà đó, cha con mà đó, nhưng xa cách nghn trùng, càng dùng ngôn ngữ để tiến lại gần nhau, càng thấy xa nhau. Trong suốt cuốn sách, những dòng chữ sau đây có thể nói là suy nghĩ chân thật nhất của một người trở về nhận ra cái tan hoang của dòng tộc:

“Ấy là năm 1975, quy cố hương, đại đoàn tụ. Văn Trí mấp mé tuổi 40, hát váng lên “Ba mươi năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông/ Ba mươi năm dân chủ cộng hòa kháng chiến đã thành công”, rồi nghẹn ngào “tôi lớn rồi mà như ngây thơ … “. Sướng vui cực điểm.

Và hẫng hụt lập tức. Ơ hay, nước Việt toàn thắng, sao người Việt không ai vui trọn vẹn. Tổ quốc hòa bình, gia đình chiến tranh. Hơn 20 ông chú bà cô của Văn Trí, gia đình đông đúc, năm 1946 cũng rẽ làm đôi, phần ra Bắc, phần vào Nam. Hòa bình hội tụ cả trăm con cháu Lê Khắc, mừng mừng tùi tủi. Nhưng các mảnh vỡ từ hai bên cố ráp vào vẫn rời ra, xộc lệch không tài nào ăn khớp. Việt Nam độc lập thống nhất, non sông nguyên vẹn còn đây, nước không mất, nhưng nhà tan. Dòng tộc ly tán. Tiếng súng im mà lòng người xao xác không yên. Các mối xung đột tự bên trong gia tộc âm ỉ, rồi bùng phát. Con cháu tung toé tứ tán mười phương. Ôi, ra là thế, tự khi nào, cuộc chiến sắc tộc khốc liệt đã quyện xoắn với nỗi niềm bứt phá giằng xé chia rẽ trong từng dòng họ, từng gia đình, thậm chí từng người. Cuộc đối đầu đụng độ khủng khiếp giữa hai hệ tư tưởng ấy, làm sao chỉ mặt đặt tên phanh phui lý giải, ngõ hầu hòa giải đồng bào tộc Việt, gắn kết huynh đệ họ Lê? Công cuộc này khốc liệt cam go không thua 30 năm bom đạn. Dòng tộc thân thương ơi, lẽ nào phải chắp nối trăm năm mới hoàn nguyên chu trình ly hợp? (trang 21)

Có thể trong số những người bên kia trở về năm 1975, ít có ai nhìn thấy được sự ly tán ngay trong giờ khắc mà chúng ta tưởng là sum họp, nỗi buồn xót xa trong ngày mà những người thắng cuộc tưởng là vui. Tác giả Lê Khắc Hoan có thể nhìn thấy nỗi đau xót ấy của một dòng họ, nhìn cây thấy rừng, như trong trăm nghìn dòng họ trên đất nước Việt nam, nhưng có lẽ ông chưa tìm thấy nguyên nhân của sự việc, vì còn mải mê với sự nghiệp “ngực đỏ huân chương” của những đứa con Lê Khắc trở về. Để kết luận, tác giả đã bày tỏ: “Hai phần ba thế kỷ trong vòng xoáy đối đầu tàn khốc, rốt cuộc, không một người nào ở phía nào được hạnh phúc vẹn tròn. Cho dù công danh hiễn đạt. Cho dù vợ đẹp con khôn. Cho dù tiếng tăm lừng lẫy, chính trực nhân từ, tài ba uyên bác … cũng nổi chìm quăng quật trong cuộc chiến đa diện, đa phương … “

Thưa tác giả, cũng là người anh họ của tôi! Chúng tôi nghĩ, hạnh phúc sẽ được vẹn toàn, nếu từ nửa thế kỷ trước, nếu đất nước này không bất hạnh có nhân vật Hồ Chí Minh, mang chủ nghĩa cộng sản từ Liên Xô về để đày đoạ dân tộc Việt Nam trong bao nhiêu năm, và chắc chắn chúng ta sẽ có “hạnh phúc vẹn toàn,” đó là ngày chế độ cộng sản tàn lụi trên quê hương Việt Nam.

Người lính thầm lặng

Hoang Kao Music

Post by Sơn râu 29 Jun 2026

Hôm đó anh rời Quân Y Viện

Cùng vết thương còn rỉ máu tươi

Bên thắng cuộc không cho điều trị

Bởi vì anh là lính Cộng Hòa

Anh chống nạng ra đường trưa nắng gắt

Những thương binh dìu dắt nhau đi

Rồi chia tay mỗi người mỗi ngã

Sau cáo văn nhật lệnh đầu hàng

Anh lê mình trên đôi nạng gỗ

Một chân đi khấp khễnh thấp cao

Chân kia nằm chiến trường Bình Phước

Giữ dùm anh người lính can trường

Năm năm trong trại tù lao cải

Anh trở về nhà đã mất rồi

Những người thân đi kinh tế mới

Chẳng còn gì ngoài nỗi cam tâm

Anh trở lại chiến trường Bình Phước

Sống bằng nghề cạo mũ cao su

Nhiều đêm nhớ những đồng đội cũ

Thịt xương tan trên mảnh đất này

Anh tìm về nơi từng chiến đấu

Đến những nơi đồng đội anh nằm

Đem họ về gần nơi anh ở

Nhang khói và chăm sóc mộ phần

Anh đã sống một đời như thế

Cùng những người chiến hữu ngày xưa

Sống trọn tình huynh đệ chi binh

Cho đến khi anh giã từ trần thế

Anh đã về bên đồng đội cũ

Đất Mẹ ôm người lính vào lòng

Đêm khuya khoắc cùng bao chiến hữu

Nhớ một thời chiến đấu bên nhau

Hạ sĩ nhất Biệt Động Quân Võ Phùng Dương

Anh đã sống một đời người lính

Và chết đi như một anh hùng

Nén hương long xin gửi đến anh

Cùng một phút cuối đầu tưởng niệm

Anh đã sống một đời người lính

Và chết đi như một anh hùng

Nén hương lòng xin gửi đến anh

Cùng một phút cuối đầu tưởng niệm