This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Đêm 20 rạng Ngày 21 Tháng 7, 1954, chiếc kim đồng hồ của phòng hội nơi Genèva, Thụy Sĩ được giữ yên ở số 12 của để đúng với lời hứa của Thủ Tướng Mendès France trước quốc hội Pháp là sẽ giải quyết xong vấn đề Đông Dương sau một tháng nhậm chức. Và Ngày 20 Tháng 7 Hiệp Định Đình Chỉ Chiến Sự ở Việt Nam được ký kết với Điều 14 ấn định thủ tục, diễn tiến, thời điểm, thời hạn về việc di cư, tập kết người của hai miền Nam-Bắc. Điều khoản đơn giản nầy đã tạo nên bi kịch mất quê hương lần thứ nhất của lịch sử dân tộc VN – Để được sống tự do, triệu Người Việt Miền Bắc dấn thân ra biển lớn, hình thành cuộc di cư vĩ đại của loài người – Di Cư Vào Miền Nam. Chương trình TMVH thêm một lần được tiếp chuyện với Người Lính PNN để tường trình lại Bi Kịch Lớn đã một lần xẫy ra trên đất nước VN. Kính chào ông PNN,
#1-NL: Thưa ông Pnn, như lời dẫn nhập NL đã nêu, Hiệp Định Genèva 20/7/1954 là một Hiệp Định Đình Chỉ Chiến Sự ở Việt Nam được ký kết giữa hai đại diện quân sự của Pháp và Việt Minh. Quả thật, trước 1975 ở Miền Nam và hiện nay ở hải ngoại hoặc ở trong nước chắc cũng không mấy ai biết rõ, đúng tại sao như thế nào, với ai đã thành hình nên bản hiệp định ấy? Và tại sao chỉ là đình chỉ chiến sự, nghĩa là CHỈ ngưng giao tranh GIỮA PHÁP VÀ VIỆT MINH chứ không có phe phái (CHÍNH TRỊ) nào khác. Vậy mời ông trình bày tình hình quân sự lúc ấy, trước hết của phía Việt Minh.
#1-PNN: Phát súng khai hoả trận Điện Biên Phủ nổ vào lúc 17g05 Ngày 13 Tháng 3 năm 1954 trận chiến kéo dài đúng 55 ngày 25 phút; và quân Pháp hạ súng đầu hàng vào lúc 17g30 Ngày 7 Tháng 5. Lực lượng bộ đội Việt Minh tham gia chiến dịch gồm 11 trung đoàn bộ binh thuộc các Đại đoàn/Sư Đoàn 304, 308, 312, 316 được yểm trợ chiến thuật bởi một trung đoàn công binh; một trung đoàn pháo gồm 24 khẩu pháo binh 105 ly; một trung đoàn sơn pháo 24 khẩu pháo 75 ly và 16 khẩu súng cối 120 ly, một trung đoàn cao xạ 24 khẩu 37 ly phòng không yểm. Toàn thể chiến dịch do Tướng Võ Nguyên Giáp giữ chức Tư lệnh và Thiếu Tướng Hoàng Văn Thái làm tham mưu trưởng. Quan trọng hơn hết là Bộ tư lệnh chiến dịch của Tướng Giáp đặt dưới quyền của Tổng Cố Vấn Vi Quốc Thanh nhận lệnh trực tiếp từ Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ làm việc trực tiếp với Hồ Chí Minh. Vào thời điểm 1953-54, kho vũ khí của Trung cộng gần như đã cạn sau ba năm chiến tranh Nam-Bắc Hàn (1950-1953). Hồi ký của Tướng Giáp cũng xác nhận điều tương tự: Trung cộng đã vét hết ở các đơn vị pháo binh được thêm 7,400 viên đại bác 105 ly cho đủ số 10, 000 viên như đã hứa, nhưng số đạn này tới nơi vào trung tuần tháng 5 khi trận đánh đã kết thúc. Tóm lại, đứng về mặt đạn dược thì phía Việt Minh cần do Trung Cộng cung cấp đã đến lúc không thể kéo dài. Tình hình quân sự nầy buộc phải có một giải pháp chính trị là lần ký kết tại Genèva.
Hiệp Định được ký kết Ngày 20 Tháng 7 Năm 1954 mang chữ ký của Thứ Trưởng Quốc Phòng Tạ Quang Bửu thay mặt Tổng Tư Lệnh Quân Đội Việt Minh và Thiếu tướng Delteil, thay mặt Tổng Tư Lệnh Quân Đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương. Nhắc lại chỉ là Hiệp Định Đình Chỉ Chiến Sự
#2- NL: Mời ông trình bày tiếp về phía quân đội Pháp. Do thời giờ giới hạn, xin ông chỉ nêu những điểm chính của tình hình quân sự để quý KTG hôm nay, các thế hệ trẻ hiểu rõ tại sao, như thế nào đã xẩy ra ở Điện Biên Phủ mà hậu quả của chiến trận nơi nầy đã đưa đến lần ký kết Hiệp Định Genève, tiền đề cho lần chia đôi đất nước và những hệ quả sau nầy qua chiến chiến tranh trong giai đoạn sau 1960 với kết thúc của Ngày 30/4/1975
#2-PNN: Đến cuối năm 1953, Chiến Tranh Đông Dương lần Thứ Nhất đã kéo dài 8 năm, quân đội Pháp ở Đông Dương lâm vào thế bị động trên các chiến trường. Quân đội Việt Minh cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã chiếm giữ được nhiều khu vực rộng lớn ở Cao Nguyên Trung Phần; vùng Khu 5 gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.. thuộc miền Trung; các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn và nhiều khu vực ở đồng bằng Bắc bộ.
Trong ý niệm chiến lược kiểm soát đường giao thông nối vùng Thượng Lào với thượng du Tây-Bắc Việt Nam, đồng thời để làm bẫy nhử quân chủ lực Việt Minh tập trung trong một trận địa chiến lớn. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được thành hình án ngữ vùng núi rừng Tây-Bắc nước Việt mà theo quan niệm hành quân của bộ chỉ huy quân đội Pháp thì quân Việt Minh sẽ bị nghiền nát tại đây.
Xét về mặt quân số thì tỉ lệ phía Việt Minh tiến công so với phía Pháp phòng thủ chỉ là 3 đánh 1 tức là tỉ lệ bình thường của một cuộc bao vây công kiên chiến. Nhưng rõ ràng trận chiến đã kết thúc với thắng lợi của Việt Minh là do Tướng Navarre và Bộ chỉ huy quân đội Pháp đã mắc phải sai lầm chủ quan cơ bản khi tin chắc rằng Việt Minh không thể mở ra một trận đánh dài quá 7 ngày tại một địa điểm cách hậu phương Thanh Hóa từ 300 đến 500 cây số đường tiếp tế qua rừng sâu núi cao, và không thể nào đưa pháo nặng vào trận địa như quan niệm ban đầu của Trung Tá Piroth, chỉ huy pháo binh của Pháp. Nhưng cuộc thất trận ngày 7 Tháng 5 chứng tỏ phía Pháp đã hoàn toàn sai lầm.
Trong tình thế quân sự chẳng đặng đừng chính phủ ở Ba Lê muốn tìm một giải pháp hòa bình có thể chấp nhận được để chấm dứt cuộc chiến đã quá sức chịu đựng nhưng vẫn muốn duy trì quyền lợi tại Đông Dương ở phần đất phía Nam VN, Miên Lào.
#3- NL: Thưa ông Nam, bản thân ông cũng như hầu hết các vị khách của chương trình khi bàn về tình hình chính trị quân sự ngoại giao (không chỉ đối với riêng VN) mà toàn bộ khu vực Đông Nam Á, trên thế giới luôn đề cập đến Trung cộng trước đây hay hiện nay cũng vậy. Thế nên, mời ông nói về tác động, ảnh hưởng có tính quyết định của nhà nước Bắc Kinh ở thời điểm trận Điện Biên Phủ và lần ký kết Hiệp Định Genèva 1954…
#3- PNN: Ngày 10 tháng 10, 1953, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gởi công điện cho Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (Danh xưng chính thức của Đảng Cộng Sản Đông Dương sau lần giải tán tháng 11, 1945): “Năm 1950 chúng tôi đã đáp ứng đề nghị của các đồng chí lần lượt cử hai đồng chí La Quý Ba, Vi Quốc Thanh sang Việt Nam làm công tác giúp đỡ có tính chất cố vấn. Đồng thời quyết định Vi Quốc Thanh làm Tổng cố vấn quân sự phụ trách công tác giúp chỉ đạo chiến tranh và xây dựng quân đội Việt Nam. Đồng chí La Quý Ba làm Tổng cố vấn chính trị phụ trách công tác giúp xây dựng đảng, địa phương và chính sách”.
Ngày 12 tháng 1, 1954 Tướng Giáp và Tướng Vi Quốc Thanh đến quan sát chiến trường và nhận thấy kế hoạch “Đánh Nhanh-Thắng Nhanh” trong vài ngày không bảo đảm thắng lợi và vượt khả năng của bộ binh, pháo binh, lại gây ra những thương tổn quá mức chịu đựng đối với bộ đội cộng sản. Cuối cùng, Tướng Giáp sau một đêm không ngủ sáng 26 tháng 1, đã đi tới một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của ông qua thuyết phục sự đồng ý của Vi Quốc Thanh để thay đổi kế hoạch tác chiến thành “Đánh chắc/Thắng chắc”.
Về chính trị-ngoại giao, phái đoàn Trung cộng do Châu Ân Lai cầm đầu toàn quyền quyết định về vận mệnh chính trị Việt Nam ở Hội Nghị Genève.
#4-NL: Nếu không thể phủ nhận vai trò của Trung Cộng trong những quyết định đối với đảng và nhà nước cộng sản VN từ trước, sau 1954, thì vị thế của Mỹ đối với VN, vùng Đông Nam Á, lại là một thế lực mang tính quyết định đối trọng – Cụ thể tình thế VN suốt từ hậu bán thế kỷ 20 cho dến nay. Mời ông nói về thế và lực của Mỹ đối với Quốc Gia Việt Nam, VNCH trong giai đoạn trước, sau 1954, 1955… Cụ thể trong lần hình thành, thi hành Hiệp Định Geneva, 20/7/1954
#4-PNN: Khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, 1945 thế giới buộc phải nhận hiểu ra nghĩa khổ đau của chiến tranh. Và những người cầm quyền của phần đông các quốc gia Đông-Tây kẻ thắng lẫn người bại hầu như đều có nổ lực chung để tránh nạn chiến tranh mà hậu quả sẽ là gánh nặng bi thảm vô vàn đối với mỗi dân tộc. Nhưng đất nước Việt Nam sau 1945 lại là diễn trường của những xung đột quyết liệt của các cường quốc! Chiến tranh Việt Nam còn là điểm thoát hơi an toàn của tranh chấp thế giới qua thế trận chiến tranh lạnh vừa hình thành giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản dẫu cả hai đã một lần cùng nhau trong trận chiến chống phát xít của liên minh phe trục Đức-Nhật từ 1939 đến 1945.
Chiến Tranh Lạnh dần kết thành khi hai khối tư bản và cộng sản đều cùng thủ đắc một loại vũ khí giết người hàng loạt – Đấy là vũ khí nguyên tử mà nếu như chiến tranh bùng vỡ cả phe thắng lẫn bên thua đồng chịu chung tình thế bị hũy diệt toàn diện. Mối lo sợ về vũ khí nguyên tử buộc các siêu cường cụ thể Liên Xô và Mỹ phải thiết lập nên tương quan cân bằng nơi những vùng trái độn khắp thế giới. Và chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất nơi chiến trường Việt Nam đã được hiện thực từ tháng 12 năm 1946 dẫn đến kết thúc vào tháng 7, 1954 tại Hội Nghị Genève cùng lần đất nước qua phân.
Do không ký kết vào Bản Thông Cáo Chung lần kết thúc hội nghị, phái đoàn Mỹ do Bedell Smith làm trưởng đoàn phủ nhận việc tuân thủ thi hành. Cũng bởi, theo Điều 6 của Hiệp Định thì Vĩ Tuyến 17 chỉ là: “Giới tuyến quân sự có tính chất tạm thời, không thể coi là một ranh giới về chính trị hay về lãnh thổ”. Trong suốt hai thập niên sau năm 1954 chính quyền Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà vẫn luôn khẳng định: Đại diện hai quốc gia không hề ký nhận hiệp định nên không bị ràng buộc vào những điều khoản của hiệp định ấn định như việc thống nhất lãnh thổ qua hiệp thương bầu cử dự trù vào năm 1956.
Tuy nhiên, Quân Lực Mỹ nói chung, Hải Quân Mỹ nói riêng không thiếu lòng nhân ái đối với người Việt Nam tỵ nạn cộng sản. Bởi chính Người Lính Hoa Kỳ đã thực hiện cuộc không vận và hải vận lớn nhất thế giới trước sau thế chiến thứ hai để cứu nạn gần một triệu Người Việt ra đi từ miền Bắc. Và kỳ diệu cảm động thay, sau ngày 30 Tháng 4 năm 1975, những chiến hạm và không lực Hoa Kỳ lại đưa những người tỵ nạn Việt Nam rời khỏi nước trong một thời gian kỷ lục 48 giờ trước, sau lần Sàigòn thất thủ.
#5-NL: Chúng ta kết thúc buổi làm việc, trở lại đối tượng chính, cũng là nạn nhân của lần đất nước chia đôi bởi Hiệp Định 20/7/1954. Hiệp Định làm tiền đề cho một trận máu xương khởi động từ 1960 đưa tới biến cố sụp vỡ miền Nam 30 tháng 4, 1975 do, từ Hiệp Định Paris, 27/1/1973 mà Điều 1 của Hiệp Định Paris nầy cũng chính là Điều 1 của Hiệp Định Geneva 1954. Xin mời ông …
#5-PNN: Hội nghị Geneva kết thúc với điểm then chốt là đường ranh giới chia cắt hai miền Nam-Bắc Việt Nam cuối cùng đã được đồng thuận với Vĩ Tuyến 17 nằm dọc theo sông Bến Hải bắc Thị Xã Đông Hà thuộc Tỉnh Quảng Trị. Giữa những bàn cải quyết định vận mệnh Dân Tộc Việt chẳng một ai lý hội đến giọt nước mắt cay đắng của Ngoại Trưởng Nguyễn Quốc Định và lời tuyên bố phẫn nộ của Bác sĩ Trần Văn Đỗ trưởng đoàn đại diện chính phủ Quốc Gia Việt Nam khi phản đối sự phân chia đất nước bất kỳ nơi đâu. Bởi Ngoại Trưởng Định và Bác Sĩ Đỗ hẳn đã hình dung ra bi kịch của đất nước là khi chấm dứt một cuộc chiến bằng cách lập nên một vùng phi quân sự dọc theo một giới tuyến chỉ là cách thay đổi chiến tranh qua một hình thái khác, tạm thời đình hoãn để đến khi tái bùng nổ, cuộc chiến mới sẽ tạo nên những thảm cảnh tàn khốc đau thương gấp bội. Từ nhận định có tính chiêm nghiệm nầy, chỉ sáu năm sau Hội Nghị Geneva, chiến tranh tiếp bùng nổ trên quê hương, súng đạn bi kịch Việt Nam liền được tiếp nối tại một thời điểm với lần thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do mưu định, tổ chức, điều động của Bộ Chính Trị Đảng cộng sản tại Hà Nội, 20/12/1960.
#6- NL: Mời ông kết thúc câu chuyện hôm nay về một Mối Đau – Mối Đau Chung của toàn Dân Tộc VN – Mà Lịch Sử đã chứng minh không kẻ thắng người người thua trong trận máu xương kéo dài từ 19 tháng 12, 1946, tạm chấm dứt bởi Hiệp Định Genèva 1954 và thêm một lần gọi là “Tái lập Hòa Bình tại VN” qua Hiệp Định Paris 1973 đưa đến kết thúc tại Ngày 30/4/1975
#6-PNN: Sau 9 năm kháng chiến chống Pháp khởi từ đêm 19 tháng 12 năm 1946 với bao xương máu người Việt của hai bên, khi ký hiệp định ngưng chiến Đông Dương 20 tháng 7, 1954, đảng cộng sản Việt Nam trong thực tế đã tạo cớ cho Mỹ vào thế chân quân đội Pháp tại Đông Dương. Và kẻ được hưởng lợi lớn nhất lại chính là Trung Cộng vì bây giờ đã có thể nói chuyện với siêu cường Âu-Mỹ trên thế mạnh. Trong lúc thế nước lâm vào tình trạng vô cùng khó khăn và phức tạp, ngày 16 Tháng 6 năm 1954 Quốc Trưởng Bảo Đại đề cử ông Ngô Đình Diệm giữ chức thủ tướng Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam với toàn quyền hành động. Ngày 7 tháng 7 1954, Thủ Tướng Ngô chính thức nhậm chức ra mắt nội các đầu tiên tại Sàigòn, Bác Sĩ Trần Văn Đỗ được Thủ Tướng Diệm cử sang Genève cầm đầu phái đoàn Quốc Gia Việt Nam thay thế Ngoại Trưởng Nguyễn Quốc Định xác định thêm một lần chính sách không chấp thuận đối với bất cứ hình thức phân chia nào, quyết tâm giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam. Nhưng khi Ngoại Trưởng Đỗ đến Genève thì sự đã rồi hai phái đoàn Pháp và Việt Minh do xếp đặt có tính quyết định của Liên Xô, Anh Quốc và nhất là của Trung Cộng.
Chiến tranh Việt Nam sau khi TQLC Mỹ đổ quân lên Đà Nẵng 8/3/1965 mang hình thái khác với máu xương người Việt miền Nam tuông tràn trên đất khổ quê hương đưa đến kết thúc của ngày 30 Tháng 4, 1975 – Khi người Mỹ buộc VNCH ký kết Hiệp Định Ba lê 27/1/1973 với những điều khoản hoàn toàn bất lợi; Mỹ rút quân 60 ngày sau, hoàn tất, thực hiện Thông Cáo Thượng Hải 1972, nhường diễn trường Đông Nam Á lại cho Bắc Kinh – Tiền đề của biến động tại Biển Đông hôm nay trong Thế Kỷ 21. Hóa ra lịch sử hầu như chỉ là lần lập lại những bi thảm đau thương từ trước. Nỗi đau sau lớn hơn, nặng hơn lần trước gấp bội phần.
Ngoài ra có một yếu tố RẤT QUAN TRỌNG mà đến nay vẫn không mấy ai để ý (vì vẫn KHÔNG ĐƯỢC GIẢI MẬT) là Hội Nghị Liễu Châu (3-5/7/1954) là HỘI NGHỊ MẬT QUYẾT ĐỊNH nên vận mệnh VN qua ký kết 20/7/1954 tại Genèva, làm tiền đề cho chiến tranh VN sau nầy. Muốn nói phải có một buổi làm việc nhiều giờ khác.
Cám ơn Quý KTG đã tham dự lần tường trình về một Mối Đau Chung. Kính cám ơn Người Lính Pnn.
“Three may keep a secret, if two of them are dead”, Benjamin Franklin.
1.
Hội Cao niên mở cửa sáu trên bảy. Cách chợ ba trăm mét, xa chùa gần hai cây số và thân cận láng giềng với trung tâm thẩm mỹ hớt tóc nhuộm sấy- chuyên trị làm nail. Giống như tên gọi, căn phòng rộng mười mét vuông ấy chứa đựng những vật dụng già tuổi. Bàn ghế không đồng dạng. Cái gỗ cái nhựa, cái đen đúa cái màu mè. Có tủ đựng sách với hàng chữ lớn dán trên vách: “Coi tại chỗ, cấm mang đi”. >>” />Sách đa phần là truyện chưởng và tình cảm gay cấn của Quỳnh Dao. Có máy lọc cà phê, có bình thủy, có ấm trà. Có cỗ bài tây, có bàn cờ tướng và có thể, rất nhiều thứ khác nằm ẩn dấu đằng sau lối đi vào phòng vệ sinh.
Nếu tuổi bạn đã 65, hoặc già hơn? Bạn mua vé đi xe buýt với giá phân nửa. Cũng thế, buồn chân bạn vào cửa hàng The Salvation Army mua áo quần cũ, tha một đống đồ hiệu với giá bèo không tưởng được sau khi xuất trình giấy chứng thực tuổi đã về chiều. Hội cao niên thì bảnh hơn, họ hay dụ khị bạn đi chơi xa ngoạn cảnh mà chẳng cần phân biệt tuổi tác. Hai chục bạc mỗi đầu người, xe đò hạng sang, sáng đi chiều về bao luôn thức ăn nước uống. Nói chung, khi bạn đã già, đi đâu bạn cũng hưởng được sự đặc ân khác thường. Bạn mua thuốc trợ lực cũng dễ, tựa lấy đồ trong túi ra, đâu khó khăn như bọn trẻ khi muốn thử qua công hiệu của Viagra.
Ông Bảy đi theo người bạn già dẫn đường. Ông hít phải mùi nước đái qủi từ tiệm hớt tóc xông ra nồng nặc thì nghe người bạn la to: Tới rồi!
Nền vàng chữ đỏ. Chữ Hội cao niên kẻ sơn chẳng được thẳng thớm. Ông Bảy có một nhận xét: Vàng, đỏ. Riêng lãnh vực thẩm mỹ, hai màu ấy luôn thù nghịch nhau. Da vàng máu đỏ, đâu phải chỉ vì cái cớ ấy mà dân Việt nỡ lòng nhắm mắt vi phạm vào cái khoản “ngó cho được mắt”. Giả sử ai đó quét phông màu xanh đậm, bleu noir, rồi dùng sơn trắng mà “quất” ba chữ Hội cao niên lên trên coi có phải “Tây” hơn không? Chỉ cần mường tượng thôi, chín chín phần trăm đã thấy “thằng” xanh trắng đẹp ăn đứt “thằng” vàng đỏ.
Bước vào cửa, hai ngọn néon đón chào ông Bảy bằng thứ ánh sáng chiếu lệ. Ngọn thứ ba thì mãi nhấp nháy, hổng chịu năng nổ với chức năng. Gần đất xa trời, chữ ấy nghe thấm thiá, riêng với con người. Ngọn đèn đang hấp hối kia sao chẳng ai đành lòng đem quẳng thùng rác? Nó chiếu xuống hội phòng, lan toả một thứ gì buồn buồn, day dức trong câm nín. Có hai người đàn ông tóc bạc đang ngồi chơi cờ và người thứ ba là một madame mãi loay hoay với khay đựng trà. Tiếng ly tách va chạm nhau, tiếng những con cờ bằng gỗ gõ chan chát xuống bàn. Bận bịu. Không ai rảnh mà trông lên kẻ mới bước chân vào phòng. Ông Bảy lại nghĩ: Ở cuộc đời, tất cả chúng sinh đều mắc phải nhiều lầm lỗi. Và đáng phàn nàn là cái phận người bé nhỏ ấy đều bị cuộc chơi bắt phải tuân thủ một điều lệ: Hạ thủ bất hoàn. Thua, chỉ có hối tiếc ăn năn. Khắc vào da thịt một thứ tì vết mà ai đó dẫu có thứ tha cũng khó gội rửa cho sạch. Ông Bảy trước 75 là một nhân viên có chức phận trong ty Ngân khố. Một mình, ông nuôi bốn đứa con học hành tới nơi tới chốn. Nhưng mà lớn lên, đứa con đầu đụng trận, thây phơi ngoài chiến địa. “Áo bào thay chiếu anh về đất” như câu thơ hào sảng của ai kia. Đứa hai, không oanh oanh liệt liệt như anh nó, chết trong tù cải tạo một vùng đất xa xăm đâu tận ngoài Bắc. Đứa ba, con gái, mình hạc xương mai, du học ở Pháp rồi để cho thằng thực dân lạ hoắc lạ huơ ẳm đi chẳng một lời cáo phó “au revoir” để lại. Thằng út vượt biển, qua Canada phấn đấu thi đỗ làm bác sĩ, lấy vợ cùng đẳng cấp, mở phòng mạch hốt bạc, bảo lãnh ông Bảy qua và… và mặt lạnh như tiền, thuê cho ông Bảy căn hộ hẹp bé “Bố ở riêng cho được tự do”. Chúng nó giáng một đòn quyết liệt, hạ thủ bất hoàn, ông Bảy nhìn tướng sĩ tượng tan tác, thành quách u sầu đành dong cờ trắng đầu hàng vô điều kiện. Đem con bỏ chợ, ông Bảy phải ngửa tay xin tiền trợ cấp xã hội. Gầm đầu xuống đất nhỏ ba giọt lệ, ngước mắt nhìn cao xanh mà cười lên ba tiếng. Bậc làm cha mẹ thường mang niềm vui tràn bờ khi con cái thành công ngoài trường đời. Đôi khi lỡ miệng dông dài về chúng thì người nghe chuyện chớ vội trách cứ là họ huênh hoang. Ông Bảy khác, ổng ngậm miệng hến, câm như thóc. Con mèo biết dấu cứt là ông Bảy. Ổng mồ côi trước cuộc đời. Người bạn già nói với ông bằng thứ triết lý mơ hồ của Tây: “Oh! C’est la vie!”. Và cụ thể bằng tiếng Việt, giọng Nam chơn chất: Anh Bảy theo tui, giỏi chân tới hội cao niên sinh hoạt dăm ba bữa. Biết đâu tìm gặp ở đẳng một niềm vui, dẫu bèo bọt.
Cuối cùng thì người đàn bà nhìn thấy khách. Tuy lớn tuổi nhưng lưng bà còn thẳng, dáng vẻ linh hoạt và cái đáng nói là son phấn tuồng như chưa hề bị phụ rẫy một lần trên gương mặt đang tươi cười kia. Bà mặc áo đen có đính những hạt cườm xanh đỏ trước ngực, quần tây màu mỡ gà là thẳng nếp. Trang phục tử tế như thể vị chủ tịch hội phụ nữ sắp sửa diễn thuyết về đề tài Hai Bà Trưng, giặc đến nhà sao bắt đàn bà phải gồng mình uýnh lộn? Đàn ông trốn đi đâu?
– Chào anh. Anh vẫn khỏe?
Bạn ông Bảy gật đầu:
– Dạ, nhờ trời. Chị cũng thường?
Người đàn bà ngó chăm vô mặt ông Bảy, ánh mắt đong đầy những nỗi niềm. Mày lá liễu nhíu, mắt lá răm sắc, sóng thu ba đo lường, lóng lánh tia nhìn tra vấn. Tội phạm mang tên Bảy cứng đờ người, tự hỏi thầm: Ta là ai? Và em là ai? Hy vọng giữa đôi ta chưa hề một lần sơ ngộ. Và như thế, mụ ấy không thể moi ra đống cứt ta từng cất dấu. Cái quá khứ đau thương ấy…
– Mấy anh ngồi chơi.
Bàn có rất nhiều ghế. Như thứ phô trương thanh thế, rằng cao niên rất đông hội viên. Tiếng kéo ghế không làm bận tâm hai tiên ông đang đắm mình vào bàn cờ gần tới hồi tàn cuộc.
– Thiệt đúng lúc, trà uống được rồi đây.
Người đàn bà bày chiếc khay ra giữa bàn. Mười ngón tay, ông Bảy đếm, có ba chiếc nhẫn tròng vào đó. Một vàng và hai kim cương. Vàng ảm đạm, kim cương thì lanh lợi chớp nháy hột nhỏ hột to. Đó là thứ chứng minh nhân dân, đóng mộc vào thân phận người đàn bà. Ông Bảy đón lấy tách trà từ tay người nhiều của. Đẳng cấp ấy quá cao xa. Tôi tên là Trần Trụi, ngoại hiệu Rớt Mồng Tơi. Ông Bảy cười:
– Cám ơn chị
– Xin lỗi anh tên chi?
– Dạ, tên Bảy.
– Anh Bảy qua lâu mau?
– Dạ, cũng chưa được lâu. Coi như mới, thảy đều còn lạ nước lạ cái.
– Trà uống được không?
– Ngon. Dạ, cũng thơm…
– Tui nói có trời chứng giám, anh Lắm như người quân tử, nhân nghĩa lễ trí tín, đức độ đến là thế mà trời sao nỡ sớm bắt đi?
Một quân cờ giáng xuống bàn. Thảng thốt như tiếng nổ của một hòn đạn vừa rời nòng súng. Chết điếng.
– Trà này của người quen từ Toronto mang về phúng điếu. Sẵn đây e mình cũng nên ngậm ngùi ngồi yên tưởng niệm đến anh Lắm đôi ba giây. Chức vị anh Lắm hiện bỏ trống, tuần sau có cuộc bầu bán hội trưởng, anh Bảy nhớ đến chung vui. Có tiệc trà thân mật do chính tay quí chị em chúng tôi đảm trách. Chao! Đời sống này buồn quá, còn gặp nhau ngày nào thì nên vui mừng ngày đó. Tui nói thế liệu anh Bảy nghe có hợp nhĩ không?
– Dạ, chị nói đúng. Ở đời nên lấy cái tình làm trọng. Giàu có chớ khinh khi kẻ nghèo túng, ai cũng là phận di dân!
– Sao giọng điệu anh nghe hệt như anh Lắm? Cái phương ngữ ấy người Cộng sản họ gọi là san bằng giai cấp, người chớ có bóc lột người. Chao! Mệt ngất ngư. Sang hèn chi rồi cũng châu về hiệp phố. Cát bụi cả! Bèo bọt ráo!
Ông Bảy bắt đầu thấy ê mình. Có thể lâu quá ông mới được dịp tiếp chuyện với người đồng hương. Như thiền giả ngồi diện bích trong thạch động đã lâu, nay bước chân xuống đời thuyết pháp dĩ nhiên phải trẹo quai hàm. Xe chạy đường dài, cháy bu-gi lột dên hư xú báp là chuyện thường hằng. Không lấy gì làm lạ! “Xăng có thể cạn, lốp có thể mòn, nhưng số máy số sườn vẫn không hề thay đổi!”
Bạn ông Bảy ngồi nín khe chẳng góp lời. Tôn trọng ý kiến của đôi “trai gái” đang luận tới cái mong manh có trong cuộc sống. Đề tài ấy dẫu nói năm canh cũng chưa thể tàn cuộc. Và không cứ là già đầu, bọn trẻ cũng ưa phát ngôn linh tinh đến nó. Vì thế nghe hoài rất dễ ngấy. Chuyện tình yêu cũng xưa cũ không kém, vậy mà lạ lùng một điều, con này ăn nằm với thằng kia, gã nọ lén vợ đi chơi bời… dẫu nghe bất tận cũng còn nguyên dạng háo hức. Nó luôn rành rành hàng chữ sau đuôi: Xem sang hồi sau sẽ rõ. Hồi hộp khiếp!
Chuyện vãn đang nhạt dần, trà nước thảy đều nguội, ông Bảy chưa biết sắp xếp một câu kết luận phải phép để được rời đi thì lại có thêm một cụ ông hom hem bước vào. Nhân sinh thất thập cổ lai hy! Câu ấy láo. Hay lại nói trớ đi, nhờ bơ sữa của đế quốc nên mới thọ được thế? Cái ấy thậm ngụy biện!
– Anh Bùi.
Người đàn bà reo lên. – Chứ chị ấy đâu?
Kẻ thọ hiếm hoi kia nói mà không nhìn một ai:
– Bà ta đang ở trên chùa làm việc thiện nguyện công quả. Chốn ấy tôi không thể đứng xớ rớ được lâu, lội bộ tới đây ngồi chờ cho được việc.
Ông tên Bùi nhấc hỏng một chiếc ghế nhựa, tìm chỗ khuất lấp ngồi hút thuốc. Nơi đó có dấu sẵn cái gạt tàn bằng nhôm. Nơi đó màu vách có vẻ ám tối, tựa hồ khói thuốc đã làm bức tường bị ung thư.
– Một ngày anh hút mấy điếu?
Người đàn bà hỏi khi mang tới cho ông Bùi tách trà.
– Gần một bao. Tôi ghét đếm số.
– Chẳng một ai ngăn cản?
– Gia đình tôi phật tử thuần thành, đâu ai làm chuyện ác đức thế!
Khói thuốc che mờ một phần gương mặt ông Bùi. Giọng ông ta chẳng hề pha chút diễu cợt. Ông nhấp chút nước, ướt bờ môi:
– Bà chưa nghe vợ tôi phân trần?
– Dạo này lu bu ít khi gặp nhau.
– Cuộc đời này tôi chỉ còn duy nhất một niềm kỳ vọng. Vợ tôi nói. Đó là một ngày kia được trông thấy ông từ bỏ thuốc lá. Như vậy thì nhân danh một người chồng tốt tôi vẫn phải tiếp tục hút, bởi tôi chẳng đành lòng cướp đi niềm kỳ vọng của bà ta. Sống mà không nuôi hy vọng. Giời ơi! Cuộc sống ấy nhạt tựa hồ mồm chẳng ngậm được điếu thuốc thơm.
– Tuần sau có cuộc họp. Anh Bùi nhớ đến.
– Nhớ. Trước đây ông hội trưởng có hút thuốc không nhỉ?
– Không. Tuyệt đối. Anh Lắm là người đạo đức gương mẫu đủ mọi mặt.
– Vậy mà hắn đã chết. Buồn thay! Người đàng hoàng đạo đức sống lâu, xưa nay hiếm! Tôi nói với vợ tôi trên đường đến chùa trưa nay: Hút thuốc có cái lợi, kẻ quen biết cạy mặt chẳng dám mời mình tới nhà chúng. Đó là hạnh phúc số một. Số hai là mình suốt đời thong dong, chẳng ai bầu một đứa nghiện thuốc như tôi vào chức hội trưởng, kế toán, ngoại nội vụ hoặc thủ qũy. Vậy thì xin cứ thỏng tay vào chợ, lim dim khói thuốc ở bờ môi tịnh khẩu.
– Anh Bùi nói nửa đúng nửa sai.
Một tiên ông đứng lên. Bị chiếu bí, giận dỗi xoá hết dấu vết có trên bàn cờ. Ông tiến lại chỗ ngồi ông Bùi.
– Đâu, thuốc đâu? Làm một điếu cho thơm râu.
– Thuốc đây. Cứ thoải mái. Tôi trót nói sai chỗ nào xin cụ chỉ giáo cho.
– Cốt lõi vấn đề nằm ở chỗ anh có ham chức hội trưởng hay không? Ngần ấy thôi. Chẳng cần lôi kéo xì ke ma túy vào cho rách việc. Sao, thích không? Bao bọn này một chầu phở thì tuần sau đổi đời làm hội trưởng một cách đường bệ.
– Không ngửi được. Qúi vị bỏ tiền ra đút lót dụ dỗ tôi thế chân me-xừ Lắm thì họa may.
– Ngược đời! Phàm muốn có vai vế chức phận người ta phải giở trò lòn cúi tranh thủ hối lộ mua quan bán chức chớ. Thôi, sinh hoạt với nhau đã lâu chúng ta biết rõ lòng dạ nhau quá, mượn cái vị mặt mũi mới toanh này làm trọng tài một phen.
Mọi con mắt đều chú mục quang tới ông Bảy. Những con mắt đục bụi trần, duy đôi mắt bà ấy là long lanh. Tinh tường sáng lạng một cách đáng ngạc nhiên. Chẳng biết bà ta xỏ chỉ qua lỗ đít cây kim có dễ không? Ông Bảy gãi đầu:
– Tui biết nói năng chi?
– Kệ, cứ phát ngôn. Mình đang ở xứ tự do dân chủ. Người ngoại cuộc bao giờ cũng sáng mắt hơn.
– Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép anh đây? Tên tuổi còn chưa tường nói chi tới ý kiến này nọ. Quí vị có ưa ăn phở thì chúng ta cùng kéo nhau đi. Tiền qũy của hội sau khi mua vòng hoa phúng điếu anh Lắm còn đúng ba mươi tám đồng, dư sức qua cầu để chào đón anh Bảy ngày đầu đến với hội ta.
Mọi người chộn rộn hẳn lên. Đàn bà họ giỏi hơn đàn ông ở chỗ, biết gỡ rối tơ lòng, biết tháo chướng ngại, tìm ra con lộ hanh thông trong khi hoàn cảnh lâm vào chỗ ngỡ là tắc tị, dễ gây hận thù. Phở. Nó là cái quái gì mà nghe đi kéo ghế thì ai nấy mặt mày linh hoạt, có thần khí ngay. Duy ông Bùi vẫn bình chân như vại, khói dâng mù mờ, khoảng cách đâm xa.
– Sao thế?
– Tôi ngấy phở. Vã, bả về đây tìm không thấy lại sinh chuyện. Lại Nam mô di Phật.
– Xeo phôn đâu? Trình với bả một tiếng.
– Cái gì?
– Không có điện thoại di động, điện thoại cầm tay sao?
– Thứ ấy để bọn trẻ con nó nghịch phá đú đởn chòng ghẹo nhau. Ngần này tuổi ai lại đi ôm của nợ đó? Không thấy chướng tai gai mắt sao?
– Ông này lạc hậu! Ở Việt nam người ta còn bán cả xeo phôn bằng giấy kia. Đời mới, mẫu mã đa dạng.
– Hiện đại nhỉ!
– Chứ sao. Đắt như tôm tươi. Để đốt xuống dưới cho thân bằng quyến thuộc có phương tiện mà réo gọi nhau.
– Khiếp. Địa ngục tối tăm không thấy đường, mày mò sao lại bấm đúng số phôn của ông thì bỏ mẹ.
Ông Bùi cười lớn, tự tán thưởng lấy mình. Người kia thoa đầu tóc lưa thưa:
– Thua. Đấu cờ thua, đấu khẩu cũng thua. Điệu này phải ra tiệm phở gọi đúng một tô xe lửa để gỡ sĩ diện mới được.
Trừ ông Bùi, mọi người đều tới lấy áo khoát, móc trên dãy đinh đóng ngập vào vách. Những chiếc áo thay phiên rời đi, lộ ra toàn phần bức tranh màu nước đã phai nhạt màu. Ông Bảy nghiêng đầu ngắm. Chẳng hiểu tay họa sĩ phóng bút ra thứ cây gì? Một cụm lá rối đâm ngang dọc, tua tủa. Và tại sao người ta lại cố tình máng nó ở đó, hà hiếp nó một cách không khoan nhượng. Bạn ông Bảy giải thích:
– Vách tường ở đó bị thủng một lỗ khá lớn, dùng tấm tranh để che đậy là hợp lý nhất.
– Nó chẳng mấy đẹp phải không anh Bảy? Người đàn bà góp lời. – Trúc có đâu mà kỳ cục thế?
Bạn ông Bảy hỏi:
– Sao chị biết đó là cây trúc?
– Cố hội trưởng bảo thế. Chính anh Lắm mang nó tới chứ ai? Trúc, biểu tượng cho người quân tử.
– Vớ vẩn! Ông Bùi bình phẩm. Ngày xưa tôi đi học, thầy giáo kể chuyện có ông gì đi sứ sang Tàu, táy máy đưa tay rờ rịt vào bức tranh vẽ thật sống động bị người quyền thế họ mắng cho. Cả thẹn, chàng kia đành bào chữa: Trúc là quân tử cớ sao để cho chim chóc, hạng tiểu nhân bám đậu vào? Kẻ hèn này chỉ muốn xua đuổi chim bay đi… Thiệt là quê một cục! Mất mặt bầu cua. Cho hay người Việt mình thì ngu ngơ chậm lụt mãi từ đời ông Bành tổ tới giờ. Mấy đứa cháu tôi bị bố mẹ chúng ép đi học tiếng nước nhà, ngày một ngày hai bèn cúp cua. Chớ cớ sự gì thế các cháu? Ông ơi, cô giáo dạy trước đây người Việt mình biết đẻ trứng. Một trăm cái lận. Chắc họ bắt chước trong phim Aliens. Stupid! Đi học mà nghe người lớn dối gạt, ông biểu chúng cháu phải làm sao? Tôi ngậm bồ hòn làm ngọt, xuội lơ làm đồng minh với bọn nhóc tì.
– Bậy thật! Có ai lại như ông? Chim có tổ người có lông…
Người đàn bà che miệng cười:
– Sao lại mang lông lá vào? Có ai no hair đâu? Chim có tổ người có tông. Xin anh nhớ cho.
– Ừ thì tông. Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Tóm tắt là phải cố đừng quên nguồn cội. Ăn phở cũng là cách tôn trọng gìn giữ văn hoá xứ ta. Chẳng ke cholesterol.
– Văn với hoá! Anh về Việt nam lần nào chưa?
– Chưa. Tại sao?
– Anh sẽ cảm thấy lạc lõng bởi chốn ấy không còn ai nói cùng thứ ngôn ngữ với anh. Tiếp thị, công đoạn, khuyến mãi, cường độ, sự cố, cự ly… Đầu anh khi ấy sẽ mọc lên cái ý nghĩ: Mình đang lạc bước tới một tiểu bang của Trung quốc vĩ đại. Made in China, mua một món hàng sản xuất ở đó thì chả có gì phải phấn khởi hồ hỡi cả. Buồn, buồn lắm! Chưa kể bị ngộ độc hồi nào chẳng hay!
Không một ai tiếp lời. Yên lặng vì ngao ngán, hoặc làm thinh vì nhận xét ấy quá xác đáng? Đó là phút giây mà ông Bảy hay biết tên người đàn bà: Trúc. Ông có vẻ chịu đèn, ông luôn đi cạnh bà. Ông mở cửa cho mọi người thong dong cùng bước ra. Ngoài đường chẳng có nắng, gió thênh thang lùa ngang bãi đậu xe trống, mang hàn khí tới, xua đuổi mùi nồng của hoá chất từ tiệm hớt tóc thường trực bủa vây.
2.Lên thiên đường hay xuống địa ngục. Điều ấy chẳng có nghĩa lý gì để mang ra hù dọa kẻ còn sống. Chết, trước tiên đó là một sự thiệt thòi. Khiếm diện, mất dấu và những người thân quen đón nhận sự bất thường khi ý thức rằng mỗi ngày họ hao hụt mãi những liên hệ quanh mình, thưa vắng dần mọi giây mơ rễ má. Ông Bảy đứng cúi đầu trước chân dung người bạn, ngoại cảnh ủ dột không cướp đi được cái ý nghĩ mà ông vừa suy tưởng. Ông như đứng dưới một cây phong vào cuối mùa Thu. Lá vàng vốn ít, giờ chỉ còn lưa thưa trên cành một hai chiếc đong đưa như tay vẫy gọi. Ông Bảy nhìn tấm ảnh chụp ăn gian, đóng khung gương mặt kẻ trung niên đầy khắc khổ. Gương mặt ấy như nói thầm, moa vốn không mấy vui từ hồi còn sung, giờ này moa đi và moa hài lòng được ngồi trên chuyến tàu suốt. Trong gia đình, con cháu tề tựu đông đủ. Họ chẳng lộ vẻ đau đớn. Nói hạnh phúc thì dường như hơi hàm oan, nhưng họ toại nguyện vì người nằm trong áo quan đã lên đường với tất cả sự êm thắm. Ông ăn cơm chiều xong, ông tháo răng giả ngâm vào ly nước, ông tắm táp, ông thay bộ đồ ngủ sạch sẽ, ông xem DVD cuốn phim “Xuân, Hạ, Thu, Đông… và Xuân” của Nam Hàn và trên chiếc ghế nệm ấm áp ông đã làm một giấc thiên thu. Nhiều người khi nghe kể lại đã ước ao, đến phiên mình, trời gọi cũng xin chắp tay đi hầu ngài với cái cách thức “yên hàn vô sự” ấy. Đừng vật vã đau đớn, đừng dây dưa lâu dài với cuộc đời mà mình luôn bất bình này. Rũ bỏ nợ nần hệ lụy, dứt khoát phủi tay tan biến vào chốn khôn cùng. Đó là niềm kỳ vọng sau rốt của một kiếp người.
Ông Bảy thắp hương, ông hơi buồn vì nhìn quanh không phát hiện ra một gương mặt nào từng sinh hoạt ở hội cao niên. Họ chẳng đến phúng điếu như thể họ sợ hãi vong linh người vừa khuất mặt sẽ nắm tay họ ra đi cho có bạn đường. Ông Bảy nói đôi ba lời khuôn sáo cho phải phép với những người chít khăn tang rồi lặng lẽ rời khỏi nhà quàn. Ông sẽ chết và ai là người đứng ra lo hậu sự? Cái dấu hỏi đó đè nặng vào lòng ông Bảy, để rồi không toan tính, ông đón xe buýt và giật chuông xuống trạm dừng gần nhà người đàn bà tên Trúc.
Cửa mở không lâu sau hồi chuông đầu. Người đàn bà hiện ra với tất cả sự rạng rỡ nơi trang phục, nơi cách trang điểm, nơi mặt hoa da phấn. Dường như bà ấy sẽ đi ra ngoài, đi tới phường hoa đô hội chứ không đi thăm người chết. Sắc màu diêm dúa đó dành cho một cuộc tiệc tùng có hát karaoke. Màu đen, trắng, xám tuyệt không hiện hữu trên người Trúc. Một chút nước hoa phảng phất, nồng đậm tựa bùa mê thuốc lú.
Cửa đóng. Căn hộ dâng tràn sự tịch mịch thân thuộc. Lặng lờ tới độ nghe được cả tiếng đập từ hai trái tim.
– Em đi đâu?
– Không. Em linh cảm là anh sẽ đến. Em có nấu nồi cháo gà nhưng để khuya mới thưởng thức. Giờ thì anh uống trà hay cà phê?
Ông Bảy cởi giày. Ông rất ghét chuyện ấy. Đi thăm nhau mà chẳng khác phải dâng tấu bẩm báo oan ức với quan to. Công đường đã có quy cũ, cũng được đi, nhưng hà cớ gì thuê ấp ở tạm mà cũng chộn rộn bắt chước chuyện cong lưng cúi mình gỡ giây tháo giày? Đời là bể khổ! Phải vậy chăng? Đã biết khổ, sao không giải tỏa bớt đi những rắc rối kiểu này, hở em yêu dấu!
– Cà phê đau tim, trà thì mất ngủ. Anh không uống.
– Hôm nay ai đã làm cho anh buồn bực để đâm dỗi hờn?
– Sao em không tới thắp cho lũy một cây hương?
– Em có nỗi khổ tâm.
Người đàn bà quay lưng. Khổ tâm của ông Bảy là phải đối mặt với những câu hỏi: Vợ anh đâu? Anh có mấy đứa con? Chúng làm gì? Chúng ở đâu? Sao anh một mình bơ vơ ở xứ lạ? Ngàn lẻ một thứ cắc cớ. Vì vậy chưa bao giờ ông Bảy đặt ra những câu hỏi tựa thế cho bất kỳ một ai. Ông chỉ quan tâm tới hiện tiền, quá khứ là cánh cửa vừa đóng sập sau lưng. Mở nó ra làm gì? Nó bày biện cả một trời bất hạnh. Ông Bảy đi theo sau lưng người đàn bà. Đôi vớ ông mang như chẳng bám được vào nền gỗ. Ông không thấy thăng bằng. Nếu té, ông sẽ bổ nhào tới ôm lấy tấm lưng tròn trịa kia. Cái nịt vú, cái lưng quần, chia đều những ngấn thịt. Tựa hồ ai kia đã gói cột đòn bánh tét một cách vụng về. Tết sắp đến, ông Bảy nhớ là đã quá lâu ông chưa hề ăn lại thứ bánh nếp nhân thịt mỡ và đậu xanh đãi vỏ kia. Ông thích cắt từng lát mỏng, chiên trong chảo dầu. Để lửa nhỏ, riu riu, thong thả trở mặt, dục tốc bất đạt. Vàng ươm, dòn rụm. Chấm chút nước mắm ớt… Ông nuốt nước miếng.
– Hay anh uống bia?
– Ừ. Trời trở, làm đại một chai cho ấm người.
Người đàn bà mở tủ lạnh. Trong đó có vẻ trống trải, ngọn đèn nhỏ ẩn mình ở góc kẹt vì thế mà dường như sáng quắc. Đầu chỗ ông Bảy cũng vậy. Không mấy khi đèn đuốc tối tăm vì bị lu hủ thịt thà rau quả che choáng. Nó sáng, vì chủ nó độc thân. Chủ nó già, chủ nó chẳng thiết tha miếng ăn. Lai rai ba sợi cũng phải có bạn hiền. Mình ên nuốt hổng trôi.
Ông Bảy ngồi xuống ghế. Chiếc bàn ăn nhỏ, bồn rửa chén, lò điện rồi tới tủ lạnh. Ông thấy cánh cửa phòng ngủ mở rộng. Tờ lịch lớn treo trên vách in hình tài tử Trung quốc (hay Hồng-kông?) Thập diện mai phục hay Vô gian đạo? Cầm gươm hay nắm súng? Chiếc giường trải ra phẳng phiu, gối vun đầy chẳng có dấu tích người nằm để hằn xuống vết trủng. Khuê phòng hay lãnh cung?
– Khi nào đói thì cứ cho em biết. Cháo gà dễ ăn, chẳng nặng bụng.
Ông Bảy đón lấy chai bia. Ông vặn nắp và thấy không khó như ông nghĩ.
– “Khuya nay em cắt cổ con gà vàng, để chi mai nó gáy hai đàng biệt ly!”.
– Trời! Xịn quá ta. Anh Bảy cũng biết sáng tác thi phú nữa sao? Nghe mà rụng rời!
– Thi phú gì? Tối tác gì? Cái đó gọi là văn chương truyền khẩu. Tại em nấu cháo gà. Tại mới đó mà người kia đã lặng lẽ biệt ly.
Người đàn bà lộ vẻ buồn. Ngồi xuống ghế đối diện ông Bảy, tay chống cằm, nhìn mông lung. Tia mắt xa vắng, không thu nhận vật thể. Ngó là ngó rứa thôi. Giây phút yên lặng như mặc niệm trôi qua. Người đàn bà nói ơ hờ:
– Con gà nằm trong nồi kia là gà thả.
– Em bảo sao?
– Không phải gà công nghiệp hằng hà sa số lúc nhúc đứng chen vai thích cách trong chuồng.
– Gà đi bộ thong thả? Chắc thịt ngon hơn? Xưa kia, mình cũng có một thời được thả, giờ thì thịt thà bở rệt, nhão nhẹt, ngó mất ham. Mình cũng đang nằm trong nồi, đúng không? Hiểu ở một nghĩa nào đó.
– Ý anh muốn nói: Sống đây mà như chết rồi?
– Ừ. Buồn vô hậu phải không Trúc?
– Em không nghĩ vậy. Chắc tại anh vừa đi gặp mặt người chết, trong đầu còn đọng lại hình ảnh thê lương.
Ông Bảy uống hết chai bia. Có thể bà ấy nói đúng. Như mũi ông, đã yên vị chốn này rồi mà sao vẫn còn ngửi ra mùi khói hương? Trầm uất và tử khí. Lý ra phải hít được thịt da nồng nàn của chị gà mái đang trầm mình trong những hạt gạo mềm nhừ. Lý ra phải say hương hoa nhẹ toả từ cơ thể người nấu cháo gà kia.
– Đó là cái tâm lý bình thường, như em từng gặp phải hôm đưa đám anh Lắm. Em đã rầu đời, hiu hắt cả tuần lễ sau đó.
– Lắm? Tay đó ra sao mà trong mọi câu chuyện em thường để gã chen vào?
– Đó là người có cảm tình sâu đậm với em. Những đứa con của ảnh cũng đồng tình xúi dục: Ba hãy đến với dì Trúc cho đời có chút màu hồng. Lắm, là người đàn ông từng mang lại cho em ít nhiều thi vị, dìu em bước ra khỏi niềm cô quạnh luôn vây bọc. Lắm, anh ấy từng ngồi trên cái ghế mà anh đang ngồi. Cái tên cũng lạ. Nhiều lắm, khổ lắm, sướng lắm, chán lắm, vui lắm. Anh thấy không? Đói lắm, no lắm, mệt lắm. Gì cũng lắm!
– Anh có điểm nào giống Lắm không?
– Lần đầu nhìn thấy anh ở hội cao niên em đã thót tim. Mái tóc, vầng trán, cái sống mũi… Em nhủ thầm, trời đất ơi, có phải hoàng thiên đã rộng lòng làm luật bù trừ cho em. Một kẻ ra đi không lâu liền có người khác hiện hữu, lò dò dẫn xác tới.
– Cho anh thêm chai bia.
– Không. Anh không có quyền uống nhiều như thế. Em ghét người say.
– Anh vốn đang say. Những người từng sinh hoạt đằng hội cao niên nói chùng vụng rằng chính em góp phần mang tới cái chết cho ông hội trưởng Lắm.
– Anh tin không?
– Chuyện ruồi bu. Hơi đâu anh phải để ý tới ba cái vớ vẩn nọ?
– Em có nốt ruồi mọc ở chỗ kín. Sách vở của thuật bói toán phán rằng, nếu qúy bà nào được vậy thì sanh con toàn cả qúy tử, gia đạo an vui, chồng mê mệt không cách gì ham của lạ, tơ tưởng chuyện mèo mỡ gà đồng. Kết quả là gì? Một con số không. Láo, đặt điều cả!
– Thấy chưa? Em chúa ghét người say. Bia đang nói, có phải không?
Ông Bảy nhìn vào phòng ngủ. Ông ngó tấm lịch.
– Chắc là em biết Lý Tiểu Long? Cái chết của Bruce Lee mờ ám tới độ có dạo báo chí Hồng kông ngờ rằng ổng bị thượng mã phong.
– Thượng mã phong là sao? Gió trên lưng ngựa? Hề hấn gì với kẻ từng tu luyện kung-fu?
– Nói gì thì nói, anh vẫn thấy đó là cái chết đẹp đẽ nhất. Người quân tử chê bai, đồ hạng phàm phu tục tử phơi thây trên bụng đàn bà. Nhạc sến thì hát hỏng, đi không trọn đường tình. Chết ở cái thời điểm không nên chết.
– Đúng quá chứ còn gì nữa. Xin anh hãy nghĩ tới kẻ bên dưới một chút. Họ sẽ đau đớn và sợ hãi biết dường nào khi mở mắt chứng kiến kẻ yêu mình đang tắt thở. Mới năng nổ lao động đó, mới loay hoay như gà mắc đẻ đó, vậy mà biến đổi ngay thành một tử thi, da thịt lạnh lẽo. Khiếp!
– Anh không hớt tóc húi cua. Anh nuôi tóc, dù đã bạc đầu.
– Chi vậy?
– Để cho em dễ nắm, em sẽ giật rụng hai bên mai và khi đó hồn anh không thể du địa phủ. Ba hồn chín viá sẽ lộn lui làm anh lai tỉnh. Người ơi, tui vẫn đi trọn đường tình.
– Dịch vật. Già không nên nết!
Người đàn bà phán. Và ông Bảy phải hiểu ra “không nên nết” là một đức tính đáng tưởng thưởng, cần tuyên dương. Người ta chẳng thể sống mãi được với những điều răn. Đạo đức sẽ làm họ biến dạng thành một con gà nuốt giây thun. Viện cớ nhức đầu vì bia, ông Bảy xin được ngã tấm lưng xuống tấm nệm gợi mời kia.
A. Ông sẽ thiếp một giấc ngon.
B. Ông sẽ thao láo con mắt nằm đợi một điều gì đó tới trong len lén, ngần ngại, rụt rè.
C. Ông sẽ vùng dậy đòi ăn cháo gà rồi mặc áo mão mang hia xăm xăm trở về chỗ thường trú trong đêm vắng.
Trong ba giả thiết, điều B có vẻ gần gũi với sự thật.
Không mấy lâu, ông nghe được bước chân đi lại gần. Ngọn đèn vàng ngoài bếp thu hẹp dần nguồn sáng bởi cánh cửa vừa nhẹ khép. Chẳng đóng kín, vì bóng tối sẽ làm người ta vấp ngã, sẽ làm khó đôi mắt. Nhờ nhợ, đủ để ông Bảy nhìn ra cốc nước óc ách, sóng sánh, xô động trong tay cầm của người đàn bà.
– Uống cái này đi.
– Anh đã nốc hết chai bia. Chưa giải thủy, sao lại bắt dộng thêm thứ này vào?
Hai tay đều bận bịu. Lòng bàn tay trái mở ra, chìa tới cho ông Bảy thấy một viên thuốc.
– Đừng nói nhiều. Ngồi dậy. Nghe lời em đi.
– Để anh nhớ lại, bao lâu rồi anh mới hưởng được phút giây sung sướng này. Săn sóc, thăm hỏi, ân cần, quan hoài tới cái mạng già này. Đó là những thứ đã li dị anh gần nửa đời người.
Không lấy thuốc vội, ông Bảy vuốt ve bàn tay người đàn bà. Da ở đó chưa nhăn nhàu, còn tươi mát; nhưng với kiến thức căn bản, người đàn ông tên Bảy hiểu Trúc đã qua thời kỳ mãn kinh. Có nghĩa là dẫu ở chỗ kín mọc lên hàng trăm nốt ruồi quý tướng Trúc cũng không thể đẻ đái ra hoàng tử công chúa. Cái giếng nước mát ngọt kia đã bốc hơi, đã khô ráo. Nhắm mắt ném xuống một đồng tiền với lời khẩn cầu trong thành tâm cũng hun hút chẳng nghe tiếng hồi âm vọng dội.
– Sao bảo là nhức đầu? Thực ra thì anh muốn uống thứ gì?
– Anh không biết gọi tên. Thứ mà anh Lắm uống mỗi khi gần em.
– Đồ dê chúa. Sức mọn đừng vác nặng. Đã nghe câu tục ngữ ấy chưa?
– Câu đó dài sao em nỡ cắt ra phân nửa. Phần sau là: Lời nhẹ chớ khuyên người! Anh là đầu con vịt, em chớ hoài công đổ nước lên, chẳng thấm đâu.
– Cầm ly nước đi, ông thánh. Để em đi lấy thuốc hầu ngài.
Ông Bảy đặt ly nước trên table de nuit. Rũ mền phủ đắp toàn thân, trăn trở vặn vẹo cho xương cốt được thư giãn. Tấm nệm dưới lưng reo vui nhún nhảy, có vẻ hớn hở. Đằng chỗ ông Bảy thì khác. Nệm cứng, mua garage sale và hầu như nó luôn thù tiếp ông bằng sự lạnh lẽo cố hữu. Tự thân nó, xông lên thứ mùi khó giải thích chứ chẳng được thơm tho tinh khiết như ở đây. Nói chung, những thứ có mặt trong ấp này đều đáng yêu cả. Sự cố này người Việt gọi là hàng độc, siêu xịn, đồ hiệu, khó đụng hàng, rất ấn tượng ở đời thường.
– Hên cho anh, chỉ sót lại đúng một viên.
….
– Sao không chiêu một ngụm nước. Ăn tươi nuốt sống vậy sao?
– Uống nước sẽ làm loãng thuốc đi.
– Kỳ cục!
– Nằm xuống đây bồ tèo, trong mền ấm lắm.
– Ai lại không biết điều đó. Trong chăn có rận không?
– Hình như có. Anh ngứa ngáy lắm.
– Để em đi kiểm tra cửa nẻo bếp núc điện nước lần cuối.
Ông Bảy nghe tiếng lục đục phát ra từ phòng vệ sinh. Tiếng nước chảy, tiếng dội cầu. Robinet mở, vòi nước khoá kẻo kẹt. Đèn đóm tắt ngúm. Cuối cùng là mùi thơm, như hoa dạ lý nở bông thật gần.
– Đã nghe rục rịch gì chưa?
– Mau vậy sao?
– Để em đốt một cây hương.
– Chi vậy? Tưởng niệm anh Lắm à?
– Đừng ăn mắm ăn muối nói quàng nói xiên. Để đo thời khắc. Sau này lỡ có truyền đạt kinh nghiệm cho ai thì anh có chứng cớ. Ừ, hương cháy đâu khoảng một phần ba thì tui biến thành cha già dịch ngay.
– Trúc à, sao anh thấy em nói câu nào ra cũng mặn mà đáng yêu hết á. Láo chết.
– Mà ít ra thì anh cũng nên vận động trí óc một phần, chớ có ỉ lại giao mạng cho thuốc thang.
– Phát huy sáng kiến nữa sao?
– Hãy nghĩ tới một cái gì đó. Cái mà anh thiếu thốn đã lâu, cái mà anh thèm khát.
– Lỡ anh là bợm nhậu, trí óc anh hiện ra một két bia thì hỏng việc.
– Lúc nào cũng cắc cớ. Không chừng về khoản này anh dám thua kém anh Lắm.
– Được lắm. Đàn ông rất dễ tự ái. Em cứ chọc giận thì anh sẽ sung ngay.
– Hy vọng thế. Sung chớ đừng nổi sùng. Em chúa ghét hạng đàn ông cộc cằn lỗ mãng.
– Mình biết tánh tình nhau quá mà. Nằm xuống đây đi Trúc, thứ cây biểu tượng cho người quân tử, để anh chỉ cho em xem cái vật tượng trưng hạng tiểu nhân.
Đêm đó, ông Bảy ăn hết hai bát cháo gà. Uống hết hai chai Bud ướp lạnh. Người ông nóng, và lạ lùng thay ông đủ sức dắt bà Trúc đi qua hai lần cửa, cảnh giới ở đó thật khác thường, lung linh rạng ngời, làm người ta phải nhắm mắt lại mà rên xiết trong sướng sung. Nửa đêm về sáng, ông Bảy đi đái với đôi chân run. Ông rảy cho khô vòi nước mềm oặc và ông nói với cái mặt già đọng trong gương soi: Ủa, mày chưa chết sao?
3. Trung tâm thẩm-mỹ-hớt-sấy-gội-nhuộm-chuyên-trị-làm-nail ngày mỗi phát đạt. Láng giềng nó là tiệm bán bánh-mì-thịt-nguội-nem-giò-chả-đủ-loại-chè vì thế cũng đông bạn hàng, người vào kẻ ra ăn tại chỗ hoặc gói mang về. Khó kiểm tra lượng khách ở tiệm bán bánh mì, nhưng chỗ hớt tóc thì dễ nhìn thấy qua chứng tích để lại trên nền gạch hoa. Tóc vụn quét tém vào góc, cao một cách khó chịu, ngứa ngáy mắt nhìn. Khách vào tiệm đa phần là đàn bà con gái, dung nhan có điều gì tiềm ẩn làm bạn phải hoài nghi chuyện thật giả. Nếu bạn là phóng viên cho một tờ báo lá cải rẻ tiền, bạn chịu khó căng lỗ tai ngồi đấy khoảng một giờ, màng nhĩ bạn đầy ắp những lượng thông tin rùng rợn, chuyện dài của khúc ruột ngàn dặm. Trong tiệm có đặt mua hai tờ tuần báo, tiếng nói địa phương, cho khách khứa đọc lai rai khi ngồi chờ tới phiên. Tiếc thay, cả hai đều là báo chợ, quảng cáo chiếm hai phần ba số trang, cầm bẩn cả tay. Nếu bạn khó tính, bạn sẽ đánh giá thấp những kẻ mó tới món ăn tinh thần nọ. Nếu bạn dễ dãi, đợi hớt tóc ngoáy tai lấy ráy, buồn tay vớ nó lên xem thì mắt bạn sẽ vấp phải Kết bạn bốn phương, hỏi đáp chuyện trở ngại phòng the, tử vi trọn tuần, tin về tài tử điện ảnh, truyện ma và túi bụi lùng bùng chuyện dài hình sự ở quê nhà. Gái điếm, thôn nữ đăng ký lấy chồng ngoại bất kể tật nguyền bệnh tật. Ma túy, thuốc lắc. Con đâm cha, mẹ đổ cường toan vào mặt con. Bố ghen tuông đốt lửa người tình. Dâu ngủ với cha chồng, đồng sàng đồng mộng… Nhân danh Cha, thánh thần… Amen. Hết thuốc chữa! Nhức đầu choáng váng thì chỉ còn biết đọc các ô quảng cáo bán nhà bán xe cần người giữ trẻ sang gấp cửa tiệm… Có hàng chữ nhắn tin đăng ở góc khiêm nhường: ” Tìm cô Nguyễn thị Hoa Lài, con ông Nguyễn văn Bảy. Trước 75 sang Pháp du học. Nay ở đâu xin liên lạc gấp để biết tin cha đang đau nặng. Quý vị đồng hương ai hay biết cô Lài xin viết thư hoặc điện thoại mách bảo cho bà Trúc. Số sau đây… Thành thật cám ơn.”
Bà Trúc nào vậy cà? Thắc mắc hả? Thử hỏi bà chủ tiệm một phen. Đấy, bà nhuộm tóc đỏ mặc quần bò ấy. Quần bò là quần gì? Cái ông này. Đồ dở hơi! Ba mươi giây sau, bà chủ xẹt tới. Jeans Versace bó lấy cái mông luôn khiêu khích vật vã mỗi khi uốn lượn đi kiểu mình xà: Bà Trúc trước đây thường đến sinh hoạt với hội cao niên. Thực sự thì bà còn trẻ, nhăm hai tuổi là cùng. Em biết bà ấy vì cùng gặp ở chỗ giải phẩu sắc đẹp. Nghe giang hồ đồn, ông nào ăn nằm chung đụng với bà ta đều chung số phận từ chết tới bị thương. Hội cao niên thì giải tán rồi, nhường chỗ cho tiệm bán bánh mì thịt nguội. Buôn bán phải hỗ tương cho nhau, trước đây kề cận toàn ông già bà cả chán bỏ mẹ, chẳng thu hoạch được gì! Thôi, giả tiền cho em đi chứ. Vừa hớt vừa sấy tổng cộng hai mươi nhăm đô. Khẩn trương lên!
Khách đi ra. Bất ngờ trời giáng cho trận mưa rầm rộ. Nghe ngói, dầm dề. Chưa chiều mà màu sắc u ám trông nẫu cả người. Ở Canada, thống kê rõ ràng là cứ đến mùa này số tử vong tăng lên rất cao. Cho hay đất trời và thời tiết ngoại cảnh ảnh hưởng lớn lao đến số phận một kiếp người.
Ông Bảy nhập viện đúng mười ngày. Ổng nằm hấp hối trên giường bệnh đã hai hôm. Trúc không vào thăm đã bốn tám tiếng đồng hồ, lâu thật lâu có bà y tá dáng dấp đẫy đà chậm chạp vén màn nghiêng đầu vào ngó chừng. Không nhìn mặt ông, chỉ trông lên những con số xanh đỏ hiện ra trên máy nhiều dây nhợ chằng chịt. Tấm màn vải rung động và bà y tá biến mất như một con ma. Yên ả tựa một nhà mồ. Nếu chết, ông Bảy chẳng có điều gì trối trăn, gửi lại nhân gian. Nếu Trúc vào, ông sẽ thì thầm bên tai Trúc: Ở đây vắng vẻ không ai, anh ước nguyện chỉ một điều, vạch quần xuống chỉ cho anh trông rõ hạt nốt ruồi quý báu của em. Anh sẽ cất giữ hình ảnh đó ở võng mô, mắt anh sẽ nhắm và trước khi qua cầu húp cháo lú anh sẽ hét thật to ở bến sông Mê: Anh yêu em.
Mưa mãi không tạnh. Khi taxi đổ bà Trúc xuống trước thềm bệnh viện trung ương Montréal, ngước mặt dòm trời, tuyết mỏng bay vần vũ lạnh căm. Trắng toát.
Sửa soạn cho bữa ăn sáng, Trúc Thanh chiên trứng, còn tôi dọn bơ, bánh mì, phó mát và đồ dùng ra bàn. Trời im gió, khí trời man mát lạnh, sự yên lặng làm cảnh quang khép kín và có phần u uẩn. Chợt con gà nhà hàng xóm kêu lên cục tác, cục tác rân trời, làm cho con Kuma, tên con chó, cũng hùa theo sủa vang. Đang yên ắng bỗng trở nên ồn ào tiếng gà và tiếng chó. Một lát sau gà hết cục tác và chó cũng im miệng, tất cả trở lại bình yên. Tôi nói với Trúc Thanh:
– Gà hàng xóm đẻ rồi, thế nào mình cũng có trứng ăn.
Trúc Thanh day ngang hỏi:
– Sao papa biết gà hàng xóm đẻ?
Tôi thay câu trả lời bằng câu thành ngữ:
– Gà đẻ gà cục tác, ác đẻ ác la.
– Câu này tui có nghe nhưng hổng biết nghĩa là gì?
– Nghĩa là một người muốn giấu việc gì đó rồi tự hô hoán lên để hòng che giấu, khiến cho người ta nghi ngờ, hoặc vô tình lộ ra, khiến mọi người biết được.
– Con gà thì ai cũng biết, còn con ác là con gì?
– Là con chim ác-là, một trong những loài chim giòng họ với chích choè, có lông mình màu đen, dưới ức thì màu trắng.
– Ờ, tên nghe ngộ quá hén.
Hôm nay ngày chủ Nhựt đầu tháng chín. Thường những ngày nghỉ chúng tôi ăn sáng trễ. Sau buổi ăn sáng và dọn dẹp đồ dùng vô máy rửa xong. Trúc Thanh đi lại góc nhà lấy bọc đồ ăn của chó, đi qua trút vô thau cho Kuma ăn rồi tới nằm trên sa lon bên phòng khách, mở truyền hình xem tin tức ở Việt Nam. Còn tôi thì rót thêm tách cà phê, bưng lại ngồi bên chiếc bàn ăn. Để tránh tiếng động của truyền hình, tôi lấy tai nghe nhét vào hai lỗ tai, mở laptop vừa nhâm nhi cà phê vừa rà đọc trên một website văn chương của Việt Nam. Cô-vít hoành hành hơn một năm qua, ở Việt Nam xuất hiện nhiều nhà thơ quá, cho nên Cô-vít đã nhiễm vào thơ ca cũng bộn: “Sài gòn mệt lắm rồi phải không anh? Đã nằm nghỉ bao ngày chưa đứng dậy, hạ đã qua thu về rồi đấy, phố vắng không còn nghe tiếng chân qua…”*. Đọc chưa hết bài thơ mà lòng nghe trống vắng. Chợt Trúc Thanh cao giọng hô lớn:
– Chời ôi, buồn chán quá đi!
Tôi nhìn qua thấy vợ đang uốn mình, vươn vai có vẻ chán chường, mệt mỏi thiệt. Con Kuma nằm bên dưới sa lon, cũng chỏ mõm lên trần nhà, mắt mở to ngơ ngác. Tôi tháo tai nghe ra để lên bàn và day qua nhìn lên màn ảnh truyền hình, thấy đang chiếu một clip cảnh dân chúng thiếu ăn, kéo tới nhà tổ trưởng trong một khu dân phố chửi bới om sòm trời đất, tôi đưa mắt ngó vợ và trầm ngâm. Từ lâu rồi mỗi khi ngoại cảnh có chuyện thì tôi hay xoay tâm thức nhìn lại bên trong mình để xem cái cảm giác nó ra làm sao? Tôi hít thở một vài hơi, khi tâm tư lắng đọng, mới nhận ra trong lòng mình cũng có chút bồn chồn và buồn chán. Thường thì những cảm xúc nội tâm vui, buồn, sướng, khổ gì tôi luôn nhìn nó một cách bình thản và chấp nhận xem đó như một phần của sự sống.
Sự buồn chán làm cho giấc ngủ có vấn đề rồi sanh tật thức đêm hút thuốc, uống rượu, cờ bạc, ăn vặt hoặc bị u ám và trầm cảm. Nhiều người hung hăng, lợi dụng dịch bệnh, ngoài đời thì gian trá, còn lên mạng thì lừa gạt người ta. Từ ngày dịch Covid 19 xuất hiện cho tới nay, truyền thông xã hội cung cấp những thông tin rất linh hoạt, tất cả đều giúp con người chống lại sự nhàm chán. Những học giả và những nhà chuyên môn đã dạy cho chúng ta nhiều bài học quí giá để vượt qua khoảng thời gian buồn tẻ. Thiệt vậy, nguy hiểm vô cùng! Điều này cũng quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng, bởi vì nếu nhiều người cảm thấy buồn chán, sẽ có nguy cơ là họ sẽ ít tuân thủ các biện pháp đứng đắn chống dịch của các chuyên gia đưa ra. Tôi day ngang hỏi Trúc Thanh:
– Bà xã biết sự buồn chán từ đâu ra không?
Tiếng ồn của truyền hình át câu hỏi của tôi, Trúc Thanh cầm đồ bấm lên, bấm giảm bớt tiếng ồn và kêu tôi lặp lại câu hỏi. Nghe tôi nói xong, Thanh trầm ngân một chút rồi nói:
– Có nhiều nhà chuyên môn đã cân nhắc câu hỏi này và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau. Nhưng thực tế thì chỉ có hai loại chán nản mà người trong cuộc mới hiểu được.
Tính ra bao năm qua vợ chồng sống với nhau cũng có thể gọi là thuận thảo. Nhưng hơn một năm qua, từ ngày đại dịch hoành hành, trong nhà ít nghe tiếng cười. Mỗi khi tôi hỏi chuyện, Thanh chỉ trả lời ngắn gọn, nhiều khi cộc lốc. làm cho không khí gia đình có hơi ảm đạm. Hôm nay thấy vợ có ý nói, nên tôi mới mồi thêm:
– Nói tiếp đi.
– Ví dụ như một người bị kích động sanh ra buồn chán và một người bị bắt buộc phải làm một chuyện gì ngoài ý muốn cũng sanh ra buồn chán. Tuy hai trường hợp khác nhau nhưng sự buồn chán thì giống nhau, tức là ở trong trạng thái chối bỏ, đâm ra phản ứng bồn chồn và cáu kỉnh trước một tâm trạng không thú vị gì hết, còn bị nặng hay nhẹ thì tùy nhận thức của mỗi người.
Tôi hơi ngạc nhiên nhìn qua vợ, hổng biết hôm nay cô ăn trúng thứ gì mà dài dòng triết lý. Tôi nhìn Trúc Thanh tươi cười và nói:
– Có lẽ nhờ Cô-vít mà mama phân tích sự buồn chán một cách rành mạch. Thật vậy, sự chán nản làm người ta thờ ơ, hổng phải thờ ơ với người ngoài mà còn thờ ơ với chính mình, trong trường hợp này, người có một mức độ kích thích thấp mới hổng cảm thấy mệt mỏi.
– Vậy tui nói trúng rồi.
Thành thật mà nói, lúc ban đầu, từ khi đại dịch xuất hiện, tôi nghĩ thế giới này có vô số virus độc hại chết người và trong một thế giới đầy hỗn loạn; chiến tranh, khủng bố, bệnh tật, ô nhiễm môi trường, bão lụt, cháy rừng, thứ nào cũng giết chết rất nhiều người chớ hổng riêng gì viruscorona. Nhưng mặt khác, thiên nhiên cũng có ưu đãi cho ta sông, suối, núi đồi và nhiều cuộc chơi, giải trí lành mạnh. Cho nên tôi thờ ơ và ít quan tâm đến chuyện hiểm nguy của viruscorona. Tôi nói:
– Mama nói trúng một trăm phần trăm! Nhưng sự buồn chán trong tui còn rất thấp, nó hổng đủ kích thích đưa đến sự mệt mỏi, mất ngủ, chán chường rồi than vắn thở dài.
– Có thể papa thấy mọi thứ là vô nghĩa nên hổng quan tâm.
– Ồ, đây cũng là một vấn đề, theo ý tui thì ngược lại, buồn chán là hậu quả của việc làm không ý nghĩa. Nhưng nó cũng cho ta thấy mọi thứ đều có ý nghĩa, cũng nhờ nó mà con người ta hướng thiện, muốn sống một cuộc sống có ý nghĩa hơn và luôn luôn kiếm tìm làm việc gì đó có ích cho đời, cho người. Nói chung muốn hết buồn chán, chúng ta phải tham gia vào những sinh hoạt tích cực, đừng để những chuyện tiêu cực tác động thì thâm tâm mình sẽ được yên ổn thôi.
– Ờ, nhưng quan trọng là phải làm như thế nào?
– Hổng nên quá quy tắc phải làm theo cách của người này, người nọ mà do trực giác và sự trải nghiệm của chính mình, bằng cả tấm lòng và những mối quan hệ là biết chia cơm, sẻ áo cho những người cùng khổ.
– Chuyện này mình cũng có làm nhưng sao vẫn thấy chán nản và bất an?
– Có lẽ tại mình làm chưa đủ.
– Bao nhiêu mới đủ?
Tôi đổi giọng khôi hài, nói:
– Chuyện đủ thiếu ở đây là về mặt tinh thần, mình sống sao cho tốt với gia đình, láng giềng, bạn bè, đồng nghiệp thì sẽ mang lại cho mình cảm giác sâu sắc, tức là đầy đủ ý nghĩa cho cuộc sống. Khác hơn chuyện đong lúa, đong gạo đóng góp cho hội từ thiện vài ba tấn và chút ít tiền giúp đỡ người khó khăn trong mùa đại dịch, rồi ngồi bấm truyền hình lên xem mấy cái clips bên nhà, coi bà con có lãnh được gạo, nhận được tiền và mong ngóng coi dịch bệnh qua khỏi chưa.
Trúc Thanh xìu mặt, chau mày nói:
– Nãy giờ nói chuyện tui thấy mệt thêm, mình phải làm sao, chớ hổng lẽ ngồi một chỗ chịu trận, cho cái buồn chán nó lấn dần làm ngột ngạt, khó thở không khác nào bị nhiễm viruscorona.
– Tui thấy sự buồn chán nó lây sang người khác cũng hổng thua gì Cô-vít.
– Ừa, tui nghỉ còn hơn nữa, vì buồn chán nó lây qua báo chí, đài phát thanh, truyền hình. Còn Cô-vít thì lây người qua người.
Trúc Thanh cười ra tiếng và nói tiếp:
– Vì vậy cho nên tui hổng dám chat hay gọi nói chuyện với bạn bè, luôn cả gia đình bên nhà cũng hổng dám gọi luôn.
Tôi cũng cười và nói:
– Từ ngày đại dịch cho tới nay tui mới thấy mama cười tươi.
Là một thủy thủ, thường đi đó, đi đây mà bị treo giò ở nhà mấy tháng trời, lâu rồi không còn có những cuộc hẹn với bạn bè lên hội quán và vào lúc lên đèn lang thang trong một thành phố lạ hay ngồi bên gành đá trên một bãi cát ở hải đảo xa xôi. Có lẽ vì sự ngăn cách giữa con người do dịch bệnh, sự thay đổi dường như đánh mất thói quen hàng ngày hoặc vì ở nhà lâu quá lòi ra một đống thời gian nhàn rỗi, công việc đã biến mất thì sự nhàm chán nó hiện ra. Biết vậy cho nên tôi tìm tòi, học hỏi để biết cách làm sao giảm bớt sự buồn chán. Tôi nói tiếp:
– Có lẽ tại ngày nào mama cũng ngồi xem và đọc tin tức trên báo mạng, nghe truyền thanh, xem truyền hình, nhứt là xem những videoclips ở Việt Nam, toàn chuyện tiêu cực làm tâm mama bất an rồi sanh ra buồn chán chớ gì?
– Có thể lắm! Sợ dịch hổng dám ra ngoài chơi, nằm nhà mở truyền hình theo dõi những chuyện ở bên kia trái đất, mà toàn là những chuyện xấu xa không. Tui chưa thấy trên thế giới có nước nào chống dịch bát nháo như ở nước Việt Nam. Cái ngữ này mà ngồi xem riết, hổng bị mắc dịch cũng bị bịnh trầm cảm rồi tiêu đời luôn.
– Cô-vít mới mẻ quá, nên nước nào cũng bát nháo chớ hổng riêng gì Việt Nam. Nhưng dịch qua mau hay chậm còn tùy theo nhận thức của người dân và chánh quyền nước đó có đủ thông minh để điều hành chống dịch không nữa.
Tôi chờ xem phản ứng của vợ, nhưng Trúc Thanh hổng nói gì mà ngồi bật dậy, cầm đồ bấm lên, bấm tắt truyền hình rồi đứng lên đi vô bếp rót ra hai ly nước bưng lại để trước mặt tôi một ly. Thanh để ly nước của cô lên bàn và ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Với vẻ mặt buồn buồn, cô nói mà như kể chuyện:
– Papa nói cũng đúng, ngồi xem mấy cái videoclips cảnh chiếc xe gắn loa nặng watt chạy hô hào những khẩu hiệu chống dịch ầm ĩ trên các đường phố, thôn làng đề cao sự sáng suốt của chánh quyền, rồi đẻ ra một đống khẩu hiệu như là “Chống dịch như chống giặc, năm K, năm T, ba tại chỗ, một cung đường hai điểm đến…”.
– Oh! Nghe cũng kiêu lắm chớ.
– Kiêu gì mà kiêu, xem tin tức thì thấy ông thủ tướng cùng quốc hội họp hành lia chia rồi đưa ra hết chỉ thị này tới nghị quyết nọ, còn lịnh cho công an thành lập những chốt chống dịch chặn đá, giăng giây trong các đường phố và trên quốc lộ, để bắt đầu cho chuyện cấm chợ ngăn sông. Nhưng khi chỉ thị trung ương xuống địa phương thì quan quyền, công an, cảnh sát giao thông đẻ ra thêm cả đống chỉ thị khác, mỗi người mỗi cách hổng ai giống ai, làm cho cả nước xôn xao, bát nháo lên như thời loạn lạc. Chỉ thị của nhà nước đưa ra ai ở đâu thì ở đó, chuyện có nhà nước lo, hổng ai bị đói và hổng ai bị bỏ lại sau lưng. Vậy mà dân chúng trong thành phố ào ạt bỏ chạy, họ bồng bế nhau chạy trong sự sợ hãi, bất an, trên đường chạy tránh dịch có những đứa bé vài ba tháng tuổi được ba, má bồng theo dãi nắng, dầm sương, ăn bờ ngủ bụi giống y chang như cái thời chiến tranh, loạn lạc.
Tuy trong lòng tôi cũng thấy chán nản và khó chịu. Nhưng nhìn nét mặt buồn bã của vợ thấy mà thương, tôi dịu giọng nói với vợ mà cũng nói với chính mình:
– Tất cả do mình thôi em, mình làm mình mất tự tin, căng thẳng, buồn chán và cảm thấy hổng có gì chắc chắn hết.
– Chớ nhìn cảnh khắp nước nháo nhào loạn xị cả lên ai mà hổng thấy thương tâm.
– Nhìn về mặt tiêu cực thì mama thấy vậy, còn nhìn qua mặt tích cực thì cũng có khác.
– Tui hổng thấy gì khác và cũng hông có gì là tích cực hết?
– Sao không! Những tổ chức Không Đồng, những mạnh thường quân, những người giàu tốt bụng, những nhà tu hành trong nước và những người nước ngoài, góp công, góp của lo cho những người nghèo khổ. Còn y tá, bác sĩ, nhà sư, ni cô, ông cha, bà phước ngày đêm chăm lo cho bệnh nhân và nhiều hội từ thiện lo chôn và đốt những người chết vì Cô-vít. Nếu hổng có những việc tích cực như vầy thì dân chúng trong vùng dịch sẽ ra sao?
– Ờ, papa nói cũng đúng, chuyện này mà để cho các cơ quan, công an và lính tráng của nhà nước lo thì dân Sài Gòn chết đói hết trơn.
– Cũng có thể, nhưng nói cho cùng thì chánh quyền Việt Nam cũng còn khá hơn chánh quyền Trung Cộng.
– Khá gì đâu?
– Mama hổng thấy sao, một xã hội dân sự đã được thành hình ở Việt Nam. Còn bên Tàu từ đầu mùa dịch cho tới giờ mình có thấy bóng dáng một hội từ thiện nào vô giúp đỡ dân họ đâu.
– Tại nhà nước Trung Cộng hổng cho người ngoài vô làm.
– Mama ngộ ra rồi phải không?
– Ờ, ngộ ra lúc này thôi, tui nghĩ qua dịch rồi thì đâu cũng vô đó.
– Chuyện này thì tùy thuộc sự quyết tâm của dân Việt Nam mình thôi. Khôn thì nhờ, dại thì chịu!
– À, mà trước tới giờ làm chuyện gì mình cũng đồng lòng với nhau, nhưng từ khi dịch Vũ Hán xuất hiện tới nay, vợ chồng mình cứ như nước với lửa, mở miệng ra là bốc đồng, lớn tiếng.
– Đây hổng phải hiện tượng trầm cảm thì là gì.
Thúc Thanh rùng mình một cái:
– Ờ hén, papa nói đúng, ghê thiệt!
Mãi tới hôm nay tôi mới thấy vợ mình ngoan ngoãn, chăm chú lắng nghe, và nhìn ra sự thật. Tôi mỉm cười và nói với giọng nghiêm túc:
– Sao mama sao hổng nhìn lại bên trong mình, khám phá nguồn năng lượng tốt đẹp trong tâm, tui tin nó sẽ làm cho mama dễ chịu mà ngủ ngon.
Tôi chờ Trúc Thanh nói gì đó, nhưng cô chống tay lên gò má, hai mắt sáng ngời, vui tươi và nhìn tôi không chớp, cô ra chiều suy nghĩ nhưng không nói gì. Thấy vậy tôi nói tiếp:
– Coi như nhờ trận dịch này thử nghiệm quan hệ vợ chồng mình.
– Sống với nhau tới già rồi mà còn thử nghiệm sao?
– Cuộc sống này luôn luôn thay đổi, luôn luôn là cuộc thử nghiệm, mama hổng thấy sao. Cả năm qua dường như mình không cùng ở chung một tần số. Đã đến lúc vợ, chồng mình điều chỉnh băng tần lại được rồi.
Gương mặt Thanh trở nên rạn rỡ và giọng nói nhỏ nhẹ hơn:
– Nhưng điều chỉnh bằng cách nào và bắt đầu từ đâu?
– Ngay bây giờ!
Tôi đưa mắt nhìn ra vườn nhà sau, hổng biết từ lúc nào mà trời mưa lâm râm. Day nhìn xuống laptop, tiện tay rà chuột bấm xem trang thời tiết, thấy thông báo, chiều nay trời gió nhẹ, hổng có mưa nhưng nắng đẹp và nhiệt độ lên tới hai mươi sáu độ C. Tôi ngước lên, chỉ tay ra vườn nhà nói:
– Mama nhìn kìa, vườn sau nhà hôm nay bông nở nhiều và đẹp lắm nhưng vì lâu ngày hổng chăm sóc nên hoa lá nó lộn xộn hết trơn.
Trúc Thanh đứng dậy bước ra đứng bên cửa kiếng, mặt ngó ra ngoài nhìn mưa, mưa trong ánh, trời không gió nên mưa thẳng giọt. Tôi bấm tắt laptop đứng lên đi lại bên vợ. Thanh day ngang vịn tay lên vai tôi và nói:
– Coi dàn bầu kìa, nó bò qua tới bên kia mái nhà kho rồi.
Nhìn những trái bầu trái cở ngón tay cái bị vàng và vài trái lớn cở cườm tay treo lủng lẳng dưới dàn tôi nói:
– Trái ra cũng nhiều, nhưng hổng biết đậu được bao nhiêu?
– Ờ, bị vàng cũng nhiều.
Tôi đưa tay mở cửa, đội mưa bước đi ra nhà kho, moi trong góc nhà lấy ra cái ghế dài, chiếc chiếu nylon và cây dù lớn mà tôi đã xếp cất từ mùa hè năm ngoái, ôm mấy thứ vô để giữa nhà. Thanh ngạc nhiên hỏi:
– Papa lấy mấy cái này vô làm gì vậy?
– Lát trưa mình đi ra bãi cát nằm chơi.
– Trời mưa mà?
– Chút xíu nữa hết mưa và trưa nay nắng đẹp lắm. Mama lên soạn đồ rồi xuống làm bánh mì, bỏ theo mấy chai nước, nhớ lấy khăn và quần cụt cho tui và mama cũng đem theo đồ tắm, có thể lội xuống nước được đó.
Trúc Thanh nghe đi biển thì mừng húm:
– Ờ, ờ được đó lâu lắm rồi mình chưa đi biển.
Nói xong cô liền đi lên phòng soạn đồ. Ngó ra ngoài, trời vẫn còn mưa, tôi đi lại chỗ để đồ đạc của con chó, lấy chiếc lược rồi đi ra khoảng trống giữa nhà, ngoắt con Kuma lại, nó liền chạy lại liếm liếm chân, tôi ngồi xuống vừa chải bộ lông trắng mượt vừa nói:
– Trưa nay con theo papa, mama ra bãi cát chơi thì phải chải chuốt lại cho đẹp trai mới được.
Có lẽ con chó hiểu được những gì tôi nói nên trong họng nó ư ử và ngoan ngoản nằm xuống. Đương chải lông cho Kuma, Trúc Thanh cầm hai bộ đồ từ nhà trên đi xuống, hỏi:
– Papa coi tui bận đồ nào được?
– Xuống biển đổi không khí một buổi thôi mà, mama bận cái nào cũng được, miễn sao cho thoải mái là ô kê.- Nãy giờ lựa hoài mà hổng biết bận cái nào.
– Vậy thì khỏi bận cái nào hết, mình đi xuống bãi trần, truồng cho khỏi mất công chọn lựa.
– Cái ông này, già rồi mà ăn nói bậy bạ không à!
Thanh mắn tôi một cái rồi bỏ lên nhà trên. Tôi tiếp tục chải lông cho Kuma, từ ngày bị dịch Cô-vít tới nay, sợ nhiễm bịnh, chúng tôi hổng cho mấy đứa con về nhà, nhờ có Kuma trong nhà mới có chút rộn ràng và sáng ra đường dẫn nó theo cũng thấy vui, nếu hông có nó vợ chồng ở nhà buồn hiu. Chải lông cho Kuma xong thì trời đã tạnh mưa rồi. Tôi vuốt vuốt lên lưng con Kuma, nói với nó:
– Đẹp trai rồi.
Kuma day lại liếm liếm vào tay tôi. Tôi đứng lên dẹp cái lược rồi đi lại ôm cái ghế, cây dù và chiếc chiếu đen ra để xuống bãi đậu xe. Vừa mở cốp xe định để đồ vô thì thấy ông hàng xóm, thật ra thì bà chớ hổng phải ông, cách một cái nhà có hai người phụ nữ đồng tình luyến ái sống chung nhau, nhưng bà này tướng tá mạnh mẽ giống đàn ông, bà cũng tự nhận là đàng ông, nên tôi gọi là ông. Ông cũng mang lỉnh kỉnh đồ đạc ra để lên sau chiếc xe du lịch. Tôi chào buổi sáng, ông chào lại và nhìn cái mớ đồ tôi để dưới đất, ông hỏi:
– Đi nghỉ hè hả?
Tôi đưa tay ra khoát khoát độ chừng, nói:
– Đi ra con đê Lelystad nằm chơi. Còn ông?
– Xuống miền Nam chơi một hai ngày thôi.
– Miền Nam tháng trước bị nước ngập, hổng biết giờ ra sao?
– Nước đã vựt xuống và mọi sinh hoạt bình thường lại rồi.
– Vậy à.
Ông hỏi:
– Vợ ông có ở nhà không?
– Có.
– Tụi tui đi nghỉ hè, muốn nhờ vợ ông giúp chút chuyện.
– Ông muốn bà xã tui giúp gì thì vô nhà hỏi bả đi.
Nói xong hai người mạnh ai nấy lo việc của mình. Tôi bỏ đồ vô cốp xe. Trúc Thanh trong nhà đi ra hỏi:
– Có dẫn Kuma theo không?
– Có chớ.
– À, xong rồi papa đi mua một cây bánh mì.
– Sao hổng ăn bánh mì lát với phó mát cho gọn.
– Tui còn xá xíu với đồ chua, ăn bánh mì cây mới hợp, papa nhớ mua bánh mì loại ổ nhỏ của Pháp mới dòn.
– Yes. Madam!
Ông hàng xóm đang bỏ đồ đạc lên xe, thấy Trúc Thanh day lưng đi vô nhà, ông chạy theo chận lại và hỏi gì đó. Tôi cũng hổng tò mò hóng chuyện làm gì, bèn đi ra phía trước mở nắp thăm nước xe và thăm nhớt máy. Khi tôi vô nhà hổng thấy Trúc Thanh đâu, đoán biết cô ta qua nhà bên coi ông hàng xóm nhờ làm gì đó. Tôi lấy dây dẫn và kêu Kuma lại đưa cổ cho tôi trồng dây vô rồi dẫn đi ra cửa. Vừa tới cửa thì gặp Trúc Thanh bưng cái vỉ có mấy trứng gà, cô đi vào. Miệng cười toe toét, vui vẻ nói:
– Chờ tui để trứng vô nhà rồi đi theo với.
Tôi với Kuma đi ra đường trước nhà đứng chờ. Không lâu sau Trúc Thanh trở ra đi cùng. Chúng tôi đi trên con đường hai bên là thảm cỏ xanh mượt. Tôi cúi xuống tháo dây cho con Kuma rồi đứng lên cười ha ha và nói với Trúc Thanh:
– Hồi nãy tui đoán hôm nay mình có trứng gà ăn, là có liền.
Trúc Thanh nói:
– Bà hàng xóm…
Tôi chặn:
– Ông chớ bà gì.
– Bà ở trong nhà mà, Trúc Thanh nói tiếp, bà cho trứng còn đưa chìa khoá cho tui, nhờ tui coi chừng nhà dùm và cho gà ăn trong thời gian hai người đi nghỉ hè.
– Vậy hả?
Lúc đó Kuma đứng lại trên sân cỏ ngước đầu chỏ mõm lên trời, cong hai chân sau xuống muốn ỉa, tôi đưa sợi dây dẫn cho Trúc Thanh và chỉ tay vô siêu thị, nói:
– Chờ Kuma ỉa xong, mama dẫn nó đi một vòng, tui vô siêu thị mua bánh mì. Xong rồi trở ra mình vô nhà và đi ra biển chơi được rồi.
– Papa nhớ mua xúc xích cho Kuma nữa nhé.
Hôm nay Chủ Nhựt, đầu tuần tháng chín, mặc dù hai mươi mốt tháng chín trời Hoà Lan mới vào thu. Nhưng tôi nghĩ, dù thời gian có đi qua hay trở lại cũng hổng quan trọng lắm, vì tôi đã nhận ra rằng, trong những ngày mùa hè vẫn có lẫn lộn ngày mùa thu hoặc mùa xuân. Hè năm nay thời tiết thất thường, ngày dài và đêm cũng dài. Hai tuần qua mưa nhiều và trời cứ ui ui, bổng dưng trưa nay có nắng đẹp. Dù rằng tôi là người yêu thích những cuộc phiêu với những tuyến đường dài, nhưng tôi vẫn thấy có điều thú vị về những kỳ nghỉ ở bãi biển, nhứt là Trúc Thanh, nghe tới biển là cô ta phấn chấn lên, cho nên biển đối với chúng tôi trở nên thân thiết. Vì vậy hễ môi lần muốn đi chơi, y như rằng, chúng tôi nghĩ ngay chuyện ra biển. Nếu đi đường trường thì tôi lên núi hoặc vô rừng và tham quan những cảnh thiên nhiên. Riêng nơi phố thị chúng tôi xem là hàng thứ yếu, là nơi để ăn, uống vui chơi tạm thời. Thiên nhiên mới là nơi cho chúng tôi thưởng ngoạn.
Hơn một năm qua, chúng tôi không có một kỳ nghỉ nào ở bãi biển, nhưng điều đó không ngăn chúng tôi hổng nhớ về biển. Chuyến ra bãi cát chiều nay, cũng là chuyến đi để chuyển đổi những ý nghĩ nằm lì quá lâu, làm cho Trúc Thanh hơi hơi trầm cảm. Bãi cát dài chứa được hàng ngàn du khách, biển nằm trong con đê lớn, nước ngọt, tuy nhỏ hơn so với biển nước mặn, nhưng đủ rộng cho nhiều người trượt nước với những chiếc dù đủ màu sắc gần và xa có những chiếc tàu trắng tươi với những cách buồm cũng trắng tươi, thấp thoáng trên mặt nước phản chiếu lóng lánh ánh mặt trời. Lâu lắm rồi chúng tôi mới thấy được nhiều người đi trên bãi cát, để đề phòng Cô-vít, họ cấm dù trải khăn ngồi từng nhóm giữ khoảng cách. Chúng cũng tôi mở ghế xếp ra, trải chiếu, cắm dù lên cát và bung dù ra lấy bóng mát. Con Kuma liền đi lên chiếu ngồi, mặt ngó ra biển, Trúc Thanh cũng ngồi xuống vuốt tay lên lưng Kuma.
Một ngày đầy cảm hứng, buổi sáng man mát yên bình, buổi trưa nắng ấm và tâm thần thoải mái, nhứt là bên người mình yêu thương. Kuma thấy mấy con chó khác vui đùa trên cát nó liền đứng dậy, sủa một cái rồi chạy ra nhập bọn. Tôi thay quần cụt rồi cùng Trúc Thanh đứng lên thong thả bước chân trần đi xuống viền nước. Trúc Thanh nhúng chân xuống làn nước trong, dùng mình một cái và nói:
– Nước lạnh quá, cho nên hổng có người xuống tắm.
Tôi cũng bước chân xuống nước, nghe những hạt cát mịn màng vuốt ve ngón chân lành lạnh. Tôi nói với Trúc Thanh:
– Mama chỉ cần nhắm mắt lại thì cảm nhận được con sóng nhè nhẹ mơn trớn đôi chân trần mát lạnh và cát mịn êm êm….
Không gì bằng một ngày thư giãn trên bãi cát để xoá tan những phiền muộn, âu lo ngót cả năm qua và ánh nắng mặt trời chiếu xuống cũng đủ mang lại cảm giác yên bình. Ta có thể lặng sâu vào tâm thức mới thấy được mùa hè tuy có rất nhiều màu sắc, nhưng thiên nhiên miền biển chỉ có hai màu; màu xanh có bầu trời và nước biển; màu vàng có nắng và cát./.
Lời mở: Tôi ra khỏi trại cải tạo, mười lăm năm rồi. Tôi vẫn nhủ với lòng, hãy quên những ngày khốn khổ ấy đi. Quên để mà sống. Trí nhớ của tôi bây giờ tồi lắm. Tôi quên nhiều chuyện, nhưng chuyện trong tù tôi không sao quên được. Nó hằn sâu trong tâm tôi, như cây đinh đóng vào cột xương sống, làm dấu mốc thời gian. Mỗi lần trí nhớ cục cựa, là mỗi lần đau. Sau mỗi lần viết về trại tù CS, tôi lại tự nhủ với lòng, đây là bài cuối cùng, không nhắc đến nữa. Nhưng nó như cái bóng đen ám ảnh tôi hoài. Và tôi lại viết về nó. Tôi viết như người kể chuyện, để giải toả nỗi ám ảnh. Giải toả theo kiểu của anh thợ hớt tóc, trong truyện Một Ngàn Lẻ Một Ðêm, phải đào lỗ mà la lớn lên rằng, “Ông vua có lỗ tai lừa!” Tôi không xây dựng thành một cái truyện ngắn của người làm nghệ thuật viết văn. Tôi chỉ kể chuyện về trại tù CS. Nói bao nhiêu cũng thấy thiếu. Còn người đọc thì cảm thấy quá thừa. “Biết rồi. Khổ Lắm. Nói mãi.” Trong cái bị làm bằng bao cát của Lê Thơm mang bên hông, có xác một con chó con. Nó bị bóp cổ chết vào trưa nay. Chuyện này, chỉ hai người biết: Lê Thơm và tôi. Giết một con chó nhỏ không khó, nhưng mạo hiểm mang ra cổng trại là một thử thách lớn dành cho kẻ bạo gan. Con chó lông trắng đốm đen, đẹp như con chó giả nhồi bông. Nó thân thiện với tất cả mọi người. Ðưa tay, tróc lưỡi vài cái, nó chạy đến quấn quít. Nó ngây thơ trong trắng lắm. Nó không có tội gì cả. Vậy mà nó bị giết. Cái số nó chết yểu, nên trời xui đất khiến nó lân la gần gũi với những con ma đói. Người ta nuôi nó để ăn thịt. Nếu nó không chết bây giờ, thì ngày 2 tháng 9, cũng chết bởi tay thằng chủ của nó. Từ đây tới ngày ấy, đâu còn bao lâu? Chỉ sáu tháng nữa thôi. Sau sáu tháng phù du, rồi cũng bị đem ra tế thần cho mấy ông cán bộ đánh chén say sưa, mừng ngày độc lập. Chết như thế là chết lãng nhách. Thôi thì hy sinh ngay bây giờ, còn được ý nghĩa phục vụ nhân sinh. Mấy hôm trước, Lê Thơm nói: “Tao có kế hoạch ăn no, với điều kiện mày phải hợp tác.” Tưởng gì chứ được ăn no, tôi hợp tác liền. Miếng ăn bây giờ, là vấn đề quan trọng hàng đầu. Khi đói, bộ nảo tuột xuống nằm trong cái dạ dày. Mọi suy tính đều hướng về miếng ăn, phục vụ cho cái dạ dày. Từ đó, người ta bộc lộ hết bản năng sinh tồn. Mà bản năng sinh tồn, thì người và vật giống nhau. Tuy thế, tôi vẵn hỏi lại cho rõ: “Kế hoạch thế nào?” “Mày đấm một cú thật mạnh vào chỗ này.” Hắn nghiêng đầu qua một bên, chỉ vào quai hàm. “Chi vậy? Thằng khùng!” “Tao muốn dưới mang tai sưng lên, để khai sưng quai bị.” “Và được nghỉ lao động?” “Nghỉ lao động là cái chắc. Nhưng mục đích chính là kiếm ăn.” “Nói rõ hơn coi?” Lê Thơm xít lại gần tôi: “Dạo này, sáng trưa chiều, đều sắn. Ngày nào cũng sắn. Trường kỳ sắn. Nhiều thằng ăn sắn, quai hàm bạnh ra. Có thằng ma lanh, lấy tay chà xát đỏ lên, rồi khai sưng quai bị. Y tá tưởng thật, cho nó ra ở nhà cách ly, ngoài hàng rào.” “Ở cách ly, vẫn đói.” “Bên hông nhà cách ly, hàng rào bị phá một khoảng bằng cái lỗ chó chui. Nếu được ở cách ly, ban đêm tao chui lỗ chó, đột nhập nhà kho, trộm nếp.” “Chơi trò mạo hiểm, dễ mất mạng. Mày nhớ vụ thằng Khánh nửa khuya chui rào, ra nương moi khoai lang, bị bắn bể đầu gối, phải cưa chân lên tận háng không?” “Ðó là nó chui từ trong ra ngoài. Còn tao chui từ ngoài vô trong.” “Ngoài hay trong cũng vậy. Vệ binh đi tuần thấy bóng người lấp ló ban đêm, nó nổ súng không thương tiếc.” Vụ thằng Khánh thế này. Nó là đại uý pilot. Những thằng Không Quân thường to con. Vào tù, càng to con càng bất lợi. Ăn uống cùng một tiêu chuẩn, thằng to con đói nhiều hơn thằng nhỏ con. Vào một đêm đông miền thượng du, trăng sáng lắm. Khánh chui rào, mò vào nương moi khoai lang. Cán bộ đi tuần tra an ninh bắt gặp con ma đói. Cán bộ bảo Khánh đứng nghiêm, rồi chỉa họng súng vào đầu gối của Khánh, bóp cò. Khánh bị bể khớp xương đầu gối, quỵ ngay tại chỗ. Cán bộ vào báo động, tập họp cả trại điểm danh. Anh em tù cải tạo không hiểu chuyện gì. Một lúc sau, vệ binh khiêng Khánh vào, bỏ nằm giữa sân trại. Cấm, không ai được đến gần. Trời đông lạnh buốt. Khánh nằm đau nhức rên la suốt đêm. Sáng ra, Khánh được khiêng lên bệnh xá của đoàn 779. Bệnh xá cũng chỉ có mấy thứ lá cây hái về từ ngoài rừng, sao làm thuốc nam. Hai người tù phục vụ ở bệnh xá, là bác sĩ của chế độ cũ miền Nam, cũng đành bó tay. Phải chuyển Khánh đi nơi khác. Khánh được võng đi cả ngày đường, qua bao nhiêu sơn khê đồi núi mới ra tới bệnh viện Yên Bái. Tám tháng sau, Khánh về lại trại, với cái chân cụt gần tận háng. Anh em ngồi nghe Khánh kể chuyện, đều khiếp vía. Tại bệnh viện Yên Bái, người ta trói tay chân Khánh vào giường, rồi cưa chân mà không có thuốc tê mê gì cả. Danh từ chuyên môn gọi là “giải phẩu sống”. Khánh đau quá, ngất đi mấy lần. Giải phẩu sống lần đầu, vết thương nhiễm trùng sưng tấy lên và làm mủ. Giải phẩu sống lần thứ hai, người ta cho Khánh uống rượu đế đến say mèm, rồi mới cưa. Khánh nói, có rượu vào, cảm thấy ít đau. Nhắc chuyện của thằng Khánh, cũng không làm Lê Thơm nao núng. “Ðừng doạ tao. Ðấm một cú đi.” Lê Thơm nghiêng đầu, đưa quai hàm chờ đợi. Tôi đẩy ra: “Cú đấm của tao, có thể làm mày tréo bản họng. Mày tự đấm mày đi.” “Tao làm rồi. Nhưng tự đấm mình, tao không dám mạnh tay. Mày giúp tao hoàn thành kế hoạch.” “Kế hoạch của thằng khùng!” Nói xong, tôi bỏ đi. Lê Thơm cụt hứng, chửi thề. Hai ngày sau nữa. Ăn trưa xong, anh em vào lán nằm nghỉ ngơi. Lê Thơm, và tôi còn ngồi lại ở nhà ăn. Con chó nhỏ quanh quẩn dưới chân. Nó mới xuất hiện khoảng hơn nửa tháng nay. Từ trên khung, nó hay chạy xuống trại trong giờ ăn. Nhìn con chó một lúc, Lê Thơm chợt nẫy ý lạ: “Thịt con chó này.” Tôi trợn mắt: “Ðừng đùa. Chó cán bộ trại phó đấy.” Hắn cương quyết: “Chó cán bộ, cũng xơi.” “Làm sao ăn?” “Tao có cách. Mày dụ nó ở đây. Tao lấy cái bao cát.” Tôi chưa kịp đồng ý hay không. Hắn chạy vụt đi. Tôi nhìn con chó. Tội nghiệp! Nó không biết gì cả. Tôi đưa tay. Nó liếm. Tôi vuốt đầu. Nó quíu tai lại. Tôi vỗ nhẹ trên lưng. Nó nghểnh cổ, lim dim đôi mắt. Quỷ thần trời đất ơi! Nó dễ thương như vậy, ai nở lòng nào giết cho đành? Lê Thơm cầm bao cát, hấp tấp chạy lại: “Nhanh lên!” Tôi lắc đầu. Hắn mở rộng miệng bao giơ ra, giục: “Nhanh! Bóp cổ, thồn vào.” Không còn suy nghĩ nữa, tôi chụp cổ con chó, siết mạnh. Nó giãy giụa, quào bốn chân trong không khí. Lê Thơm túm chân, tròng vào bao cát. Hắn nói: “Tiếp tục bóp.” Nếu có kẻ nhìn thấy, hậu quả khốn nạn sẽ không lường nổi. Tôi kêu lên: “Kinh quá mày ơi! Tha nó đi.” Tôi buông tay. Con chó vừa kêu “ẳng” một tiếng, đã bị Lê Thơm siết cổ lại liền. Tới giờ xuất trại lao động buổi chiều, cả đội xếp hàng đôi, lần lượt ra cổng. Cán bộ trực trại, và quản giáo đứng ngay cổng kiểm soát. Vệ binh coi tù, mang súng đi sau cùng. Lê Thơm lảnh việc nấu nước cho đội. Hắn quảy cặp thùng, mang bị đựng chó bên hông, thản nhiên đi ra cổng. Tôi vái thầm, cầu trời cho hắn thoát. Và hắn thoát thật. Tôi thở phào, nhẹ cả người. Ra đến hiện trường lao động, mọi người túa vào rừng chặt nứa. Rừng xanh mênh mông. Ðồi núi chập chùng. Vệ binh mang súng đi qua đi lại ngoài bìa rừng, canh tù làm việc. Lê Thơm chọn thế đất tương đối bằng phẳng. Việc đầu tiên, hắn đào một cái hố nhỏ. Ai cũng tưởng hắn đào bếp lò. Nhưng thật nhanh, hắn cho con chó xuống, và lấp đất lại. Bên trên, hắn đốt một đống lửa, nấu nước. Ðó là chuyện hắn kể sau này. Trong giờ giải lao. Tôi tới chỗ nấu nước. Lê Thơm múc cho tôi một ca nước sôi. Nhìn quanh, không thấy có dấu hiệu gì chứng tỏ Lê Thơm nướng chó. Tôi hỏi nhỏ: “Chó đâu?” Hắn chỉ vào đống lửa. Tôi lấy cớ mồi lửa đóm hút thuốc lào, dùng cái que cời than lên, vẫn không thấy chó. Hắn bảo: “Ði khỏi chỗ này ngay. Ðừng làm tụi nó sinh nghi.” Tôi tin tưởng vào tài ứng biến của Lê Thơm. Xưa kia, hắn là thiếu tá, có thời làm quận trưởng quận Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long. Ngày nay vào tù, hắn nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh mới, lanh lợi trong mọi vấn đề. Nhất là cải thiện, hắn nhanh như sóc. Trong đội, không thằng nào qua mặt được Lê Thơm. Thoáng thấy đó, biến đó không ngờ. Hồi hắn còn trong tổ làm vườn. Giờ trưa, mọi người đều nghỉ ngơi. Hắn lúi húi moi khoai lang, đem xuống suối rửa, nhưng mắt vẫn rảo quanh quan sát. Hắn thấy Thu Sứt từ những bụi cây đàng xa, đang rình mò theo dõi hành động của hắn. Tay này mang quân hàm trung uý, có người anh vào Nam làm giải phóng, và bỏ mạng trong trận chiến mùa hè năm 72, ở Bình Long. Bao nhiêu hận thù, Thu Sứt trút lên đầu anh em tù cải tạo. Sở dĩ Thu Sứt có biệt danh này, là do cái môi bẩm sinh bị sứt, phải vá lại. Vì thế cái miệng chum chúm, làm cho cái mặt luôn luôn mang nét quạu quọ như người đang hờn giận. Có lần, Thu Sứt bắt gặp anh Năng đang cải thiện. Thu Sứt gọi về, bắt Năng đứng giữa bốn vệ binh vây quanh. Thu Sứt hạ lệnh cho bốn vệ binh bề hội đồng. Năng bị đấm văng bên này, bị đá giạt bên kia, giống như những cầu thủ giao banh. Cuối cùng, Năng gục xuống ngất xỉu, được khiêng về trại cho anh em tù săn sóc. Sau thành tích ấy, Thu Sứt nổi danh là hung thần ác sát. Trong trại còn một người nữa, cũng nổi danh không kém Thu Sứt. Ðó là chàng trung sĩ vệ binh Nương Mặt Ngạnh. Thật ra, anh ta tên là Lương, nhưng do nói ngọng thành Nương, và do xương quai hàm bạnh ra, nên có biệt danh là Nương Mặt Ngạnh. Khi dẫn tù đi lao động, anh ta cầm theo chiếc gậy bằng cây giang, trông như khúc đoản côn. Ðã nhiều lần anh ta quất thẳng cánh vào anh em tù cải tạo. Ai từng bị đòn của Nương Mặt Ngạnh cũng đều ẹo xương sống. Thành tích của Nương Mặt Ngạnh ở hiện trường lao động rất đáng gờm. Anh ta bắt tù đứng trên triền núi. Thế núi dốc, anh ta đứng phía trên. Sau vài câu đay nghiến, bỗng Nương Mặt Ngạnh đá thốc dép râu vào mặt người tù. Bất ngờ không kịp chống đỡ, người tù ngả vật ra, sặc máu mũi. Trong kỳ cả trại học tập về chính sách khoan hồng nhân đạo của đảng và nhà nước, anh em tù phản ảnh chuyện này lên ông trại trưởng. Ông trại trưởng bảo: “Chính sách của đảng và nhà nước trước sau như một. Nhưng các anh quá quắc, không trừng trị không được.” Thế là huề! Ðảng và nhà nước vẫn tiếp tục chủ trương khoan hồng nhân đạo. Anh em tù vẫn tiếp tục bị trừng trị. Trở lại chuyện Lê Thơm khi bị Thu Sứt theo dõi. Hắn biết nguy tới nơi rồi. Hắn cho tất cả khoai lang vào thùng tưới, đi lên. Ở đằng xa, Thu Sứt nương theo những bụi cây đi tới, quyết bắt tại trận tên tù đang cải thiện. Lê Thơm chờ cho Thu Sứt đi khuất sau chòm cây, hắn trút thùng khoai xuống hố ủ phân bắc. Rồi quay xuống suối như đang tiếp tục xách nước tưới rau. Phân bắc là cứt người, ủ lại để bón rau. Hố phân bắc đầy giòi bọ, và mùi rất khắm. Thu Sứt xuất hiện, khi Lê Thơm đang múc nước dưới lòng suối. “Anh kia! Làm gì đấy?” “Xách nước tưới rau.” “Anh rửa gì dưới suối?” “Tôi có rửa gì đâu?” “Láo! Anh vớt tất cả đem lên đây.” “Có gì mà vớt?” “Khoai lang.” “Làm gì có?” “Hãy mò xuống, vớt lên.” Lê Thơm mò xuống, vớt lên những sỏi đá.” Tức quá, Thu Sứt xăn quần lội xuống suối. Mò chỗ cạn không thấy, Thu Sứt mò ra sâu hơn, ướt cả quần, vẫn không thấy. Thu Sứt quay lên, mặt hầm hầm bảo Lê Thơm về ngay, trình diện trên khung. Tại khung, Thu Sứt đưa tờ giấy, bình mực, và cây bút cho Lê Thơm, bảo: “Viết kiểm điểm.” Lê Thơm hỏi lại: “Chừng nào nộp giấy?” “Chiều nay.” “Không kịp. Tôi còn phải đi lao động.” “Cho anh nghỉ việc buổi chiều. Ở lại lán viết kiểm điểm.” Lê Thơm viết, đại ý rằng từ ngày đi cải tạo, hắn luôn phấn đấu để trở thành người tốt. Cán bộ bảo viết kiểm điểm. Nhưng hắn không biết kiểm điểm về vụ gì? Mong cán bộ chỉ dẫn. Buổi chiều. Lê Thơm đem giấy lên nộp. Thu Sứt đọc xong, vỗ bàn: “Kiểm điểm về vụ cải thiện khoai lang. Biết chưa?” “Nhưng tôi đâu có cải thiện khoai lang?” “Có. Anh phải viết rằng anh có cải thiện khoai lang. Nghe rõ chưa?” “Vâng. Tôi rõ. Xin cho biết chừng nào nộp giấy?” “Cho anh nghỉ việc sáng mai, viết kiểm điểm. Trưa hôm sau nộp.” Thu Sứt đưa Lê Thơm tờ giấy khác. Anh ta yên chí sẽ căn cứ vào nội dung tờ kiểm điểm, nện cho Lê Thơm một trận mập mình, và cùm vào nhà kỷ luật. Lần thứ hai, Lê Thơm viết rằng: Tôi đang đứng dưới suối xách nước tưới rau. Cán bộ nghi ngờ tôi đang rửa khoai lang. Và ra lệnh cho tôi phải viết có cải thiện khoai lang. Tôi tuân lời cán bộ, nhận có cải thiện khoai lang. Nhưng thật sự tôi không dám làm chuyện vi phạm nội quy như thế.” Trưa hôm sau. Thu Sứt đọc kiểm điểm của Lê Thơm xong, xé toạc tờ giấy, giận dữ: “Viết láo lếu thế này, thì sao gọi là tự giác?” Lê Thơm bình tĩnh: “Tôi viết theo lệnh của cán bộ.” Thu Sứt gầm lên: “Câm họng. Cút ngay! Lần sau, dù có lủi giỏi như chạch cũng không thoát.” Trong tù, Lê Thơm dám “giỡn mặt” cán bộ, quả là lớn gan. Tôi phục hắn. Nói theo Thu Sứt, hắn lủi giỏi như chạch. Hắn đã thoát không phải một lần, mà nhiều lần sau nữa. Chỉ một lần sau cùng, hắn không thoát được. Và lần không thoát được ấy, đưa Lê Thơm đến sự tử vong. Tôi đã nói về trường hợp Lê Thơm bỏ mạng, trong một truyện khác. Tối hôm thịt con chó, trời vừa nhá nhem, Lê Thơm khều tôi ra ngoài đầu hồi. Hắn mở cái bị, lôi ra con chó cứng đơ, dính đầy đất cát. Hắn lột da, xé miếng thịt đưa tôi. Chưa bao giờ ăn thịt chó, tôi nghe nhờn nhợn trong cổ khi cầm miếng thịt. Lê Thơm bảo: “Ăn đi. Nguồn protéin bổ dưỡng vô song.” Hắn nhai ngấu nghiến. Tôi bắt chước ăn thử, thấy ngon. Tôi nghĩ, với sự đói khát lâu ngày, bất cứ món gì cho vô miệng cũng thấy ngon. Thằn lằn, rắn mối, cào cào, châu chấu, ốc sên, dế nhủi đều ngon, và cũng là nguồn protéin cần thiết cho cơ thể. Ðặc biệt, có con sâu màu trắng thường rúc trong gỗ mục, toàn thân nó chứa một chất sữa rất béo. Con sâu vô danh này, tù đặt tên là con Magarit. Có thể nói con Magarit là sâm động vật, giá trị không thua sâm thực vật của Ðại Hàn. Hai chúng tôi ăn đến nửa con chó, thì đụng phần thịt sống. Bởi khi chôn con chó xuống đất, phía trên nóng nhiều làm thịt chín, nhưng không đủ sức chín tới phía dưới. Lê Thơm nói: “Ăn luôn. Người tiền sử vẫn ăn thịt sống.” Tôi đề nghị: “Cắt ra từng miếng nhỏ, cho vào lon Guigoz nấu.” “Mang ra mang vô cổng trại, nguy lắm.” “Tới phiên tao mạo hiểm. Tao sẽ nấu ngay đêm nay.” Ðêm ấy, tôi lần mò trong bóng tối, vào nhà bếp cời than đặt vào hai chiếc lon Guigoz. Xong, lại quay về lán ngồi đợi thịt chín. Khi lấy lon về, cũng phải ra vào hai bận. Công việc chỉ có thế, nhưng vô cùng nguy hiểm. Vệ binh rình rập đâu đó, thấy bóng người ra khỏi lán mà không cầm theo cây đèn dầu, chúng sẽ bắn, nếu không chết cũng bị thương. Tôi tin con người có số mạng. Dù ở tù, nhưng ngôi sao chiếu mạng của tôi còn sáng lắm. Quỷ thần che chở cho tôi trong mọi trường hợp bất trắc hiểm nguy. Ngay trong đêm, Lê Thơm và tôi thanh toán sạch luôn hai gon Guigoz thịt. Con chó nhỏ được chôn kín vào nơi không trời không đất. Hoàn toàn mất dấu. Khi ăn, tôi nói: “Nghĩ tội con chó quá, mày ơi!” Lê Thơm nói: “Cũng bởi tình cảm tiểu tư sản như thế, mà hôm nay mới vào tù.” Tôi lại nói: “Miếng ăn tưởng chừng rất nhỏ nhoi. Nhưng có lúc người ta dám đem cả sinh mạng mình ra thử thách. Xem thế, đủ biết cái ăn là quan trọng vô cùng.” Lê Thơm gạt ngang: “Ðừng triết lý vặt, ăn mất ngon, con ạ!” Vài hôm sau, ông đại uý cán bộ trại phó cầm sợi dây cột chó, xuống trại vào giờ ăn trưa. Ông đi quanh quẩn tìm kiếm. Ông hỏi: “Các anh có thấy con chó của tôi chạy xuống đây không?” Mọi người im lặng. Lê Thơm lên tiếng: “Con chó nào, cán bộ?” “Con chó trắng đốm đen.” “Có phải con chó nhỏ không?” “Ðúng rồi.” “Ồ… Lúc trước, nó vẫn thường chạy lại đây. Hai ngày nay không thấy.” “Hôm qua, tôi còn cho nó ăn. Mới mất hôm nay thôi.” Lê Thơm sốt sắng: “Tôi sẽ để ý. Nếu thấy, tôi giữ nó lại, báo cho cán bộ.” Ông trại phó lắc đầu thất vọng: “Chắc bị cáo vồ rồi.” Nói xong, ông quay đi. Lê Thơm thầm thì với tôi: “Mình thịt con chó đã hai ngày. Nó nói hôm qua còn cho chó ăn. Bọn này hễ mở miệng ra là nói láo. Chuyện lớn chuyện nhỏ đều láo.”
Điều răn thứ tám trong kinh “Mười Điều Răn” của Thiên Chúa dạy trong Cựu Ước là chớ làm chứng dối như là làm chứng gian hoặc bội thề, làm mất thanh danh người khác, nói xấu, vu khống, cáo gian, nói dối, tán dương người khác khi họ làm điều xấu và không làm chứng cho sự thật. Giới cấm thứ tư trong “Ngũ Giới,” năm điều Phật cấm là không được nói dối. Theo Phật Giáo, xử sự không công bằng, làm chứng gian, có thể lừa gạt được người khác nhưng không sao lừa gạt được nhân quả.
Trong ngành tư pháp, từ thời xưa, quan tòa đã phải sử dụng đến một công cụ khá hữu hiệu để xử án: lời khai của người làm chứng. Tuy nhiên, công cụ này cũng bị lộ rõ mặt nguy hại, nếu quan tòa lỡ tin vào những lời chứng gian dối thì sẽ thi hành những bản án oan khuất, phản công lý. Vì vậy làm chứng gian là một trọng tội. Khai quả quyết một việc không có là có thật cũng như chối hẳn một việc có thật là không có cũng bị coi là làm chứng gian.
Làm chứng gian tại toà xử có thể làm sai lệch bản án và giết một người. Nhà viết sử viết gian có thể làm u mê, sai lạc của một thế hệ. Nhưng ngày nay, 24 giờ một ngày đêm qua truyền thông, báo chí, rất nhiều người làm chứng gian mà không ai quan tâm vì cứ nghĩ rằng đó là điều vô hại. Muốn dối gian, trục lợi cho hàng sản xuất của mình, nhà buôn cần những người làm chứng gian “quả quyết một việc không có là có thật” mà nói đi nói lại nhiều lần sẽ có người tin. Quảng cáo đã trở thành hình thức tuyên truyền phổ biến nhất trên thế giới để các tập đoàn và công ty quảng bá hình ảnh, sản phẩm của mình cho mọi người với nhiều hình thức khác nhau trên báo chí, truyền thanh, truyền hình và internet. Kỹ thuật tuyên truyền hay quảng cáo là phải lập đi lại càng nhiều lần càng tốt, đánh đổ sự suy nghĩ phân tích các sự việc, làm thui chột trí phán đoán vì phải nghe thấy những sự việc như vậy nhiều lần. Giới bình dân lại dễ lầm lẫn chấp nhận: “Không hay, không đúng sao lại được nhiều người nói, nhiều người khen!” Mà không phải trong xóm, trong làng, trong khu phố mà thấy trên TV, trên mặt báo, qua radio?
Kỹ thuật quảng cáo, tuyên truyền là câu chuyện phải được bảo chứng bởi người nổi tiếng, vậy tuỳ theo đó mà chọn người quảng bá cho thương hiệu. Tuỳ theo đối tượng tiếp nhận thông tin qua truyền thông hằng ngày người ta sẽ lựa chọn những khuôn mặt nổi tiếng cho phù hợp, nhưng những nhân vật này thường không được chọn lựa trong chính quyền. Nếu khách hàng là giới trẻ thì người ta sẽ chọn các ca sĩ, nhạc sĩ trẻ, các “hot boy” hay “hot girl.” Nếu sản phẩm của chúng ta là các sản phẩm dinh dưỡng như sữa hay vật dụng chăm sóc y tế thì các bác sĩ hay các bà mẹ là lựa chọn đầu tiên. Nếu là mỹ phẩm thì có các hoa khôi, tài tử, diễn viên, ca sĩ, vì vậy ngày nay giới nghệ sĩ tên tuổi, đặc biệt có thể sống nhờ các thương vụ quảng cáo mà lợi tức cũng ngang hàng với việc xuất hiện hay trình diễn. Dù qua đời đã hơn 50 năm, Marilyn Monroe vẫn được chọn làm gương mặt đại diện mới cho nước hoa Chanel số 5, trước đó nam tài tử Brad Pitt đã được trả 7 triệu cho hợp
đồng quảng cáo cho loại nước hoa này. Scarlett Johansson quãng cáo cho hãng Louis Vuitto. Ca sĩ Mariah Crey quảng cáo cho nước hoa M của hãng Elizabeth Arden. Nữ tài tử trứ danh Elizabeth Taylor với loại nước hoa White Diamonds đắt nhất thế giới. TNS Bob Dole đã quảng cáo cho Viagra.
Chính vì sự khâm phục, yêu mến và tin cậy những khuôn mặt nổi tiếng, có khi là thần tượng của mình, nên người ta tin luôn những điều gì họ nói nên các thương hiệu ngày nay gần như luôn luôn nắm bắt, gọi mời các diễn viên, ca sĩ, người mẫu, hoa hậu … làm người đại diện quảng cáo cho sản phẩm của họ. Ngay ở Việt nam bây giờ, người mẫu, ca sĩ, hoa hậu cũng hái ra tiền nhờ các hãng buôn từ lớn như Mercedes Benz, Honda, Audi, Toshiba … cho đến các hãng kem dưỡng da, son phấn. Tệ hơn nữa, là ngày nay, ngay tại hải ngoại, có những vị xuất gia tu hành mặc áo vàng, cũng lên truyền hình để quảng cáo cho thứ thuốc này, môn thuốc nọ!
Quảng cáo trong ngành dược phẩm cũng không mới mẻ gì. Tuy nhiên nói về công dụng của thuốc men, người ta đã xử dụng những từ ngữ, hình ảnh khiến cho người tiêu dùng hiểu lầm về công dụng của sản phẩm này, và coi mình như đang mắc phải những bệnh trầm trọng, nan y, khó chữa. Trong 11 báo cáo được đăng tải trên tạp chí “Public Library of Science Medicine” vào năm 2012, các chuyên gia y tế của Anh, Mỹ và một số quốc gia khác đã cảnh báo rằng: Có đến hàng chục căn bệnh được cho là mới xuất hiện trong thời hiện đại và đang tăng nhanh là không có thực hoặc không hề nghiêm trọng như chúng ta vẫn tưởng như yếu khả năng sinh lý, tính hiếu động của trẻ em, các bệnh thần kinh … Thông qua các chiến dịch quảng cáo rầm rộ do các công ty dược phẩm phát động, những biểu hiện khác biệt này đã được “nhào nặn” thành những căn bệnh nghiêm trọng và phổ biến. Câu nói “thuốc … chứa rất nhiều thành phần như … sẽ giúp bạn ….. ” có lẽ đã trở thành “khẩu hiệu” của quảng cáo dược phẩm … (Nguyễn Huyền Trang- trang quảng cáo AJC)
Và trong các quảng cáo, quảng cáo dược phẩm được xem như là một quảng cáo có trách nhiệm nhất. Quảng cáo nước hoa, thì mỗi người một ý thơm hay không thơm, thích hay ghét còn tuỳ “người đối diện,” quảng cáo thuốc mọc tóc thì còn tuỳ cơ thể từng người mọc nhanh hay mọc chậm, quảng cáo máy hút bụi hay một tấm nệm giường, thật ra xấu tốt cũng chăng sao. “Với cơ quan Thực phẩm và Dược phẩm Hoa kỳ (FDA) thì dược thảo được xếp hạng thực phẩm phụ, như đã quy định trong Dietary Supplement Health and Education Act năm 1994. Dược thảo được bầy bán không cần thử nghiệm, nghiên cứu như âu dược, mặc dù dược thảo có tính cách trị bệnh và cũng có tác dụng phụ.” (BS Nguyễn Ý Đức). Một bác sĩ chuyên về ung thư tại Quận Cam đã cho biết bà có một bệnh nhận ung thư qua sự điều trị của bà, đã không chết vì ung thư mà chết vì một
loại thuốc được quảng cáo trên báo chí và truyền hình, không qua ý kiến của bác sĩ, vì quá tin tưởng mà dùng quá độ.
Nhiều khách tiêu dùng đã củng cố lòng tin của mình đã lập luận, “thuốc không hay sao trên đài phát thanh và truyền hình người ta khen dữ vậy,” “thuốc không hay sao diễn viên này khen, ca sĩ nọ giới thiệu, ông MC kia tán dương!” Cuối cùng họ đem số phận và sức khoẻ của mình thử thách cùng một loại nghệ thuật quảng cáo rất tầm thường nhưng có mãnh lực thu hút và nhồi nhét ý niệm rất mạnh mẽ! Cũng cùng mục đích “chẳng qua vì tiền,” nhưng người khôn quảng cáo cho cái chai thuốc gội đầu, còn người dại kêu gọi người ta bỏ viên thuốc vào miệng. Người xưa có nói: “Làm thầy thuốc lầm thì giết một người,” chuyện này chỉ xẩy ra giữa hai người, ông thầy thuốc và bệnh nhân, nhưng làm thầy thuốc, mách nước cho cả nghìn người trên truyền hình, nếu lầm, thì giết cả trăm họ.
Trong luật pháp “Khai quả quyết một việc không có thật, cũng như chối hắn một việc có thật là không có cũng bị coi là làm chứng gian.” Trong ý niệm này, “tôi quả quyết tôi đã dùng thuốc này là một việc không có thật” – mà “một việc có thật mà tôi đã từ chối không nói, là tôi chưa hề dùng qua thuốc này!”
Nhưng làm chứng gian tại toà án thì lãnh án tù, làm chứng gian trên báo chí, phát thanh truyền hình thì không ai bắt tội. Có một ông chánh án tên gọi là “lương tâm” thì không có da có thịt, vì ông vô hình, cũng không có răng để “cắn rứt” ai, và người ta thường nại lý do là: “ông đi vắng!”
Landon khui chai Tequila, rót chất nước vàng óng vô 5 ly sót. Ông rút dao găm, đâm trái chanh trên đĩa, cắt 6 miếng. Alvin đưa 6 bao muối nhỏ, cho 6 người. 6 ly Tequila đưa lên. Landon nói nhỏ.
– Trách nhiệm và chiến thắng!
Sáu người lính đánh thuê cạn ly sót. Xé bao muối nhỏ, rắc lên mu bàn tay, cầm lát chanh, quét muối bỏ vô miệng, nhai!
Andrew rót rượu. Mọi người cạn ly. 6 bàn tay lấy lát chanh, quét muối, bỏ miệng, nhai!
Thompson rót ly thứ 3.
Sáu người lính đánh thuê nốc cạn.
– Cạch! Cạch! Cạch! Cạch! Cạch! Cạch!
Ném 6 ly sót vô thùng rác.
Chiếc xe đò liên tỉnh, hơi nghiêng qua một bên, vì quá nhiều hành khách ngồi trên mui. Trong số, có 2 người thợ rèn. Thompson và Garry. Hai anh qua chợ phiên tại Chaman của Pakistan, bán dao, kéo. Mới sáng sớm, nên trời lạnh ngắt. Đèo Guldara còn lấp lửng trong màn sương mù trắng đục. Chiếc xe đò chạy chậm lại. Anh lính Pakistan chỉ xuống vạch sơn đỏ dưới mặt đường. Xe đò ngừng.
– Tài xế! xe chở quá nhiều người… Chạy qua đèo giống như cái quan tài sống!
Tài xế nhảy xuống.
– Anh thông cảm! Bây giờ chỉ còn chuyến xe sáng và chuyến chiều… Xe hư hết rồi! Không đủ chở khách!… Nên tôi phải dồn vô chuyến này…
– Nhưng nguy hiểm quá! Dễ lật trên đèo lắm!… Anh bỏ hết những người ngồi trên mui xuống! Cho họ chờ chuyến buổi chiều!
“Landon chỉ tay trên màn hình.
– Thompson và Garry giả trang thành hai người bán dao kéo, đi xe đò tới chợ phiên tỉnh Chaman. Chợ này nằm gần biên giới Pakistan và Afghanistan… Đúng 9 giờ sáng. Nhân vật Y trên chuyến bay Air Pakistan sẽ đáp xuống phi trường Chaman. Cô sẽ được đưa về thăm nhà trong 2 ngày cuối tuần tại một biệt thự gần khu chợ phiên…”
Thompson ngồi trên mui, nên nghe rõ anh lính Pakistan nói.
– Không được! Nếu nó tống mình xuống, đợi chuyến xe chiều… Thì coi như kế hoạch… Bể!
Thompson nói với Garry.
Anh lấy cây thuốc lá Camel trong ba lô, ngoắt người tài xế.
– Tụi tôi đi bán dao kéo ở chợ phiên Chaman!… Nếu bị ở lại để chờ chuyến xe chiều là chết tụi tôi!… Coi như không buôn bán gì được! Anh cầm cái này đưa cho…
Thompson chỉ người lính Pakistan.
Anh tài xế chạy tới, đút cây thuốc lá vô túi áo rằn ri của anh lính. Anh lính nhón chân, nhìn về phía trạm gác, anh ta lí nhí.
– Lỡ lần này!… Lần sau… Chừng đó khách ngồi trên mui… Phải hai cây!
Anh lính Pakistan đưa khẩu súng ra dấu. Chiếc xe đò nghiêng nghiêng chạy qua đèo Guldara.
“Landon đưa tay.
– … Sau khi tiếp xúc với nhân viên CIA tại chợ phiên. Họ sẽ yểm trợ kế hoạch của chúng ta. Vào giờ nghỉ trưa, từ 12:00 cho tới 1:30 chiều. Nhân vật Y sẽ dùng bữa trưa với gia đình tại biệt thự. Thompson và Garry đột nhập, bắt sống chị ta. Nên nhớ! “Bắt sống” mọi hoạt động càng yên tĩnh càng tốt, tránh đụng chạm với cảnh sát Pakistan… Và dùng dao làm vũ khí”.
Garry bày đống dao đi rừng, dao cắt trái cây, dao cắt thịt cá, dao chặt xương trên tấm vải nhựa màu trắng. Thompson sắp những cây kéo. Kéo cắt giấy, kéo cắt vải, kéo mũi nhọn cắt thực phẩm. Phía trước hàng dao.
Tranh Hồ Đắc Vũ
Tiếp xúc
Anh Ả Rập quấn khăn trùm đầu, mặc quần lính rằn ri ngồi xuống, cầm cây kéo cắt giấy.
– Cây này bao nhiêu?
Anh ta hỏi.
– 50 AFN! Nếu anh trả bằng tiền.
Garry trả lời
– Không! Tôi đổi một cái kéo cắt vải của Mỹ.
– Anh cho coi kéo!
Anh Ả Rập đứng dậy. Lấy trong túi xách tay cây kéo có sơn 3 sọc xanh, đỏ, trắng.
– Đây!
Thompson bước tới sát anh Ả Rập. Nói mật khẩu.
– Kế hoạch Y!
– Bắt cóc! Tôi yểm trợ!
– Tôi là Thompson và Garry!
– Amir!
Anh Ả Rập bắt tay.
11giờ 30.
Thompson lấy con dao đi rừng, dao cắt trái cây, dao cắt thịt, bỏ vô túi vải. Garry chụp 5 cái dao cắt trái cây. Anh Ả Rập cầm con dao chặt xương. Cả ba ra sau lưng chợ. Leo lên chiếc Toyota trắng.
Qua hết đường phố. Chiếc Toyota chạy vô khu dân cư hạng sang. Nhiều hàng cây chà là vây quanh các biệt thự màu trắng nằm trên bãi cỏ xanh mát.
Anh Ả Rập chỉ tay
– Căn nhà của nhân vật Y… là căn biệt thự…
Xe chạy chậm lại.
– … Màu trắng, cổng sắt màu xanh lá, nằm bên mặt… Số 25… Phía trước!
Xe chạy qua căn nhà mục tiêu. Quẹo phải ngay góc ngã ba. Ngừng lại dưới bóng mát của những cây chà là.
Amir mở cốp xe. Lấy ra 2 cái máy cắt cỏ loại cầm tay.
– Hai anh cắt cỏ ven đường! OK?
– Tôi đợi đây!
Anh chỉ cái GPS.
– Đã có máy liên lạc với hai anh. Trong trường hợp nguy hiểm, cần tiếp cứu. Báo động! Khi hai anh bắt được nhân vật Y. Báo hiệu “GO” Tôi sẽ chạy xe vô, đón tại cổng sau!
Quan sát mục tiêu
Garry cầm máy, cắt cỏ dọc lề đường phía trước nhà. Thompson cắt cỏ dọc phía sau nhà. Garry nhìn vô cổng.
– Chiếc Mercedes màu trắng đậu trong sân… Mục tiêu đang có mặt trong nhà”
Garry nói trong máy.
– Sân sau nhà có chiếc xe bán tải Toyota màu đen… Vậy là thêm người!
Thompson nói.
– Tao đột nhập cửa sau, quan sát… Sau đó cùng tấn công hai mặt! Đợi lệnh!
Anh cắt sợi dây xích, đẩy nhẹ cánh cửa cổng.
– Kít…ttt!
Cánh cửa kêu nhỏ.
Thompson thụp đầu xuống, tay giữ cánh cửa ngay vị trí cũ. Cửa trong nhà mở. Một người đàn ông râu xồm, đeo mắt kính, mặc đồ lính Pakistan, thò đầu, nhìn hai bên. Ông đóng cửa lại.
Thompson báo ngay cho Garry.
– Trong nhà có người đàn ông mặc đồ lính… Nếu ông ta có vũ khí! Sẽ rắc rối!
“Landon nhấn mạnh.
– … Mọi hoạt động càng yên tĩnh càng tốt, tránh đụng cảnh sát Pakistan… Và dùng dao làm vũ khí”. Bảo vệ mục tiêu tối đa! CIA yêu cầu “Mục tiêu phải còn sống! Xinh đẹp và không trầy miếng da nào…”
Garry nghe tiếng xe chạy tới, anh chụp cây cắt cỏ, cắt ngay lề đường, gần cổng nhà.
Chiếc xe díp của quân đội Mỹ thắng trước cổng. Garry quay lại. Một anh mặc bộ đồ ka ki vàng, tóc quăn, bờm tròn như Mỹ đen, bước ra.
– Shalom!
Garry đưa tay chào. Anh ta chào lại, vòng ra sau xe. Garry thấy bên hông xe có dòng chữ.
“Music TV”, Garry hỏi.
– Đi thu hình ca nhạc?
Anh ta cười.
– Thu hình bữa tiệc sinh nhật của… Ủa? Anh không biết đây là nhà của ai à?
– Không!
Anh kia bước tới, nói nhỏ.
– … Kỹ sư hàng đầu của Afghanistan… Bà đang phát triển vũ khí nguyên tử cho Taliban!
Anh tóc bờm cúi xuống lấy cái máy quay. Garry vòng sau lưng anh tóc bờm.
– Bụp!
Garry nện cái máy cắt cỏ vô đầu anh ta. Kéo anh tới thùng rác. Bỏ vô, đậy nắp lại.
Đột nhập
Thompson đã bò vô cửa sau, anh đưa sợi dây kính hồng ngoại ló lên khỏi cầu thang.
Một phòng rộng với bàn tiệc tròn, đầy món ăn. Thompson so sánh hình mục tiêu trên GPS. Chị kỹ sư ở ngoài rất đẹp. Tóc đen, choàng khăn voan trắng, không bịt mặt, đang ngồi nói chuyện với người mặc đồ lính đeo mắt kính, có lẽ là chồng chị. Một bà lớn tuổi, tóc bạc, ngồi bên một y tá.
– Thompson! Tao sẽ vô ngay nhà bằng một người quay video! Mày yểm trợ từ cửa sau.
Garry cầm máy quay Video, đẩy cửa, bước vô nhà.
– Shalom! “Music TV”
Anh chào.
– Shalom.
Mọi người chào.
Garry mở đèn trên máy quay, anh đưa tay báo hiệu, bắt đầu quay. Garry lùi lại, quay toàn cảnh căn phòng. Chị đàn bà và ông mặc đồ lính đưa tay. Cùng nói.
– Chúc mừng sinh nhật mẹ!
Mọi người cạn ly, bắt đầu bữa tiệc.
Thompson đã bò lên cửa sau của phòng ăn. Garry bước tới gần, anh quỳ xuống, quay một cảnh từ bà mẹ tới chị đàn bà và ông mặc đồ lính.
– Tao đang quay video!
Garry nói trong máy. Anh đưa chân đá vô cửa. Thompson ló đầu.
– Tao sẽ tới gần chị đàn bà và ông lính, quay cận ảnh lúc hai người cụng ly. Mày tấn công ông ta, tao chụp thuốc mê chị đàn bà, khống chế bà mẹ và y tá!… Mình thoát ra bằng cửa sau!
Tấn công
Garry đưa tay ra hiệu. Ông mặc đồ lính rót rượu nho ra hai ly. Garry từ từ bước tới bên chị đàn bà. Anh đưa tay, ra hiệu cụng ly. Thompson bò sát dưới thảm, vòng qua sau lưng ông mặc đồ lính.
Garry cố tình rọi đèn vô mặt ông ta, ông che mặt, không thấy chung quanh. Thompson chồm lên.
– Rẹt!
Nhát dao cứa ngang cổ.
– Rầm!
Ông mặc đồ lính té xuống sàn. Garry để máy quay lên bàn, chiếu đèn vô mặt bà già và cô y tá. Anh quay qua chụp gói thuốc mê vô mặt chị đàn bà đang há miệng kinh ngạc. Chị ngửa mặt, đầu quẹo qua trên ghế. Thompson, Garry cùng chụp thuốc mê vô chị y tá và bà già. Hai người gục xuống bàn.
Thompson bấm máy.
“GO”
Chiếc bán tải Toyota thắng trước cổng sau. Amir lái xe, Thompson dìu chị đàn bà ra xe. Garry chạy ra cửa trước, leo lên chiếc díp Mỹ có hàng chữ “Music TV”. Nổ máy. Anh chạy theo chiếc xe bán tải Toyota.
Nắp thùng rác văng ra, Cái đầu tóc quăn, bờm tròn như Mỹ đen, đội mớ rác ló lên, nhìn chung quanh.
– Aaaaa…hhh!
Anh Ả Rập mặc đồ lót, chống tay leo lên.
– Rầm!
Thùng rác ngã xuống. Anh ta lồm cồm bò ra. Chạy vô nhà của chị Ả Rập, chụp cái phone trên bàn.
Chiếc Toyota và xe díp Mỹ vừa quẹo trái lên xa lộ, chạy về hướng biên giới.
Bị truy nã
– Tạch! Tạch! Tạch!
Chiếc xe cảnh sát Pakistan màu trắng xanh bắn loạt Ak sát đầu xe. Xe Toyota chạy lui, quẹo phải ngay ngã ba, leo bờ cỏ, lên xa lộ. Garry lái chiếc díp, vượt qua exit, vòng lên xa lộ. Xe cảnh sát hụ còi, chạy theo.
– Tach! Tạch! Tạch!
Dãy núi biên giới đã thấp thoáng trước mặt. Cảnh sát bắt đầu bắn.
– Bụp! Bụp!
Hai bánh sau của Toyota trúng đạn, xe quay một vòng, chạy xuống bờ cỏ. Garry quay đầu xe trên xa lộ. Chạy ngược lại. Đối đầu với xe cảnh sát. Garry đứng lên… Anh cảnh sát ngồi ghế bên kia, chồm ra, chĩa khẩu súng tay.
– Phụp! Phụp!
Hai lưỡi dao nhỏ, cắt trái cây xẹt vô, cắm đúng thái dương của anh cảnh sát đang lái xe
– Đùng! Đùng!
Hai phát đạn xéo lên trời… Xe cảnh sát tông đầu vô dãy cột xi măng ngăn giữa lòng xa lộ, lộn vòng trên cao, rớt xuống.– Ầm!
Bốc cháy.
Garry chạy thẳng. Anh nói trong máy
– Tao tới đón! Chạy lên xa lộ!
Thompson cõng chị đàn bà, Amir cầm khẩu súng tay, chạy lên xa lộ.
Garry thắng gấp.
– Rét…ttt!
Đầu xe quay lại. Thompson đẩy chị đàn bà còn mê man vô ghế sau, Amir ngồi trước với Garry.
– Mình cắt đường núi, chạy qua biên giới… Không qua đèo! Vì cảnh sát đang chặn đường ở đó!
Amir bấm GPS. Garry ra exit, chạy tới con đường nhỏ vòng qua núi trước mặt.
Amir nói.
– Chạy thẳng, quẹo vô núi đá… Leo ngọn đồi trước mặt! Dưới chân đồi là con suối… Bên kia suối là Afghanistan! Ngừng lại!
Garry ngừng, Amir xuống xe, anh vỗ đầu xe, đưa tay chào
– Về nhà an toàn!
Garry chạy thẳng, anh quẹo ngay núi đá, leo lên đồi.
– Tạch! Tạch! Tạch!
Đạn tung lớp đất đỏ ngay đầu xe díp. Chiếc xe cảnh sát Pakistan đang đứng ngay dốc đồi. Chĩa khẩu Ak. Garry thắng lại.
Giác đấu
– Tao chơi màn giác đấu! Thompson lái xe! Đưa con dao rừng cho tao!
Garry cầm con dao, chồm ra cửa bên phải.
– Thompson! Chạy thẳng vô tụi nó! Lách qua trái… Tao chém thằng tài xế là xong chuyện!
– Tạch! Tạch! Tạch!
Tràng Ak nổ trước đầu xe díp, nẹt trên lớp thép.
– Mẹ! Tụi nó bắn sát quá!
Thompson nói.
– Mầy chạy thẳng vô, tụi nó sợ… Bắn chưa chắc trúng! Ha Ha! Trúng chưa chắc chết! Chạy đi!
Thompson xông chiếc díp thẳng vô xe cảnh sát… Anh lách nhẹ qua trái. Garry chồm người ra ngoài thọc con dao rừng lưỡi dài vô mặt anh tài xế, lưỡi dao hụt ra phía sau lưng ghế.
– Quay lại!
Garry, mở cánh cửa xe, anh đứng một chân trên ghế, một chân trên thanh sắt bên hông xe. Thompson nhịp nhịp máy.
– B…Rùm! B… Rùm! B… Rùm!
Anh tống ga.
Chiếc díp lao nhanh tới xe cảnh sát. Tài xế lách qua trái, anh cảnh sát ngồi bên, đứng dậy chĩa khẩu súng ngắn vô mặt Garry!
– Phực!
– Aaa…hhh!
Cánh tay cầm khẩu súng của anh cảnh sát văng xuống sườn đồi. Xe cảnh sát quay đầu lại, chạy xuống đồi để chận đầu chiếc xe díp.
– Thompson! Lách qua trái, nhào vô bên tài xế!
Garry la lớn.
Thompson chạy theo xe cảnh sát, lách qua trái. Garry đứng thẳng một tay bám cửa xe đã mở ra, tay kia đưa cao cây dao rừng. Thọc mạnh!– Phập!
Lưỡi dao rừng kẹt ngang cổ anh tài xế, làm đầu anh không gục xuống được… Máu túa ra… Xe cảnh sát rú lên, lăn xuống bờ suối.
– Ầm!
Một tháng sau. Báo chí ở Washington chạy cột tin nóng.
“Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thông báo. Cuộc trao đổi giữa một nhà khoa học Afghanistan đang xây dựng vũ khí nguyên tử cho Taliban với ái nữ của một nhân vật lãnh đạo Hoa Kỳ đã thành công tốt đẹp… tại Thụy Sĩ.”
Riêng tặng những cựu biệt kích SOG và những người đã hy sinh
Post by Sơn râu 3 Jul 2026
Một buổi chiều sau những giờ tập luyện đổ mồ hôi trong khu rừng nhiệt đới, vài huấn luyện viên cùng với “học viên” thuộc đơn vị SOG vào câu lạc bộ uống vài chai bia xả hơi. Trung sĩ Jason T. Woodworth thuộc căn cứ hành quân tiền phương 2 (FOB-2) lên tiếng hỏi “Al, anh và Ben đã từng đi hành quân với toán biệt kích. Cảm tưởng thế nào? Ý tôi muốn so sánh với những khoá huấn luyện khác”. Tôi suy nghĩ vài giây, rồi trả lời rất thành thực.
“Đầu tiên là chúng ta đang ở trên vùng đất của người Da Đỏ. Mình giống như con mèo đi nhón gót nhẹ nhàng trong một căn phòng đầy những con chuột đang ngủ. Anh phải biết rằng nếu một con tỉnh giấc, sẽ có một trận đánh nhau, và nếu chúng bắt được anh, mọi chuyện kết thúc! Tuy nhiên, anh là người Hoa Kỳ nên hy vọng sẽ được đi thăm một trại tù binh nào đó. Còn nếu anh là biệt kích quân người Việt hay Nùng, mạng sống của anh… kể như đi đứt! Khi anh vượt biên qua Lào hoặc Cambodia, trước một kẻ thù đông gấp bội, anh sẽ phải chiến đấu cho sinh mạng của anh.”.
Tôi và Ben cùng với trung sĩ Gene Williams là toán biệt kích thứ năm xâm nhập vào đất Lào. Trung sĩ nhất Charles “Slat” Petry, trung sĩ nhất William Card và trung sĩ Jim “Halo” Smith đã xâm nhập hai chuyến đầu với cùng kết qủa. Do đó phải tổ chức lại, chọn lựa toán viên và huấn luyện kỹ càng (con sâu làm rầu nồi canh).
Trong tháng Năm 1968, trại LLĐB Khâm Đức có một tiểu đoàn thuộc sư đoàn Americal lên tăng cường, bị hai trung đoàn chính quy Bắc Việt tấn công, tràn ngập. Trong trận đánh này, quân đội Hoa Kỳ tổn thất nhân mạng 37 quân nhân. Trong tháng Tám năm 1970, bộ chỉ huy Bắc (CCN), đơn vị SOG, cùng với sư đoàn Americal phối hợp, mở lại căn cứ này, nhưng gặp phải phản ứng quyết liệt của quân đội Bắc Việt nên bộ chỉ huy Bắc phải bỏ luôn Khâm Đức (Trước đó, SOG xử dụng trại LLĐB Khâm Đức để đưa những toán biệt kích xâm nhập qua Lào). Những quân nhân SOG thuộc bộ chỉ huy Bắc (CCN) tham dự cuộc hành quân này gồm có: đại úy G. Jordan, trung sĩ nhất R.L. Noe (đi phép trong thời gian căn cứ bị tấn công), P. Bellofatto, trung sĩ A. Zapada, J. Lyman, M. Jordan, Billips, và M. Gonzales.
Chúng tôi đến khu vực Khâm Đức vào cuối năm 1965, trên những ngọn núi gần biên giới Lào-Việt, nơi hướng tây nam thành phố Đà Nẵng. Ở đó đã có toán A-105 LLĐB/HK chỉ huy trại LLĐB Khâm Đức). Bộ chỉ huy Bắc thiết lập căn cứ hành quân tiền phương (FOB) ở đó.
Tại các trại LLĐB ngoài vùng I chiến thuật, bạn bước ra khỏi cổng trước đã có thể bị bắn sẻ, phục kích trước khi ra đến phi đạo. Toán A LLĐB đến trại LLĐB Khâm Đức trước đó đã đặt rất nhiều mìn bẫy, khi toán này đến, cỏ tranh cao hơn đầu người đã phủ kín bãi mìn, không ai dám ra gỡ những quả mìn đó nữa.
Mục tiêu của chúng tôi (toán biệt kích SOG) là những kho chứa đồ tiếp vận của quân đội Bắc Việt, dấu trong khu vực rừng núi rậm rạp, phiá bên kia rặng núi, trên đất Lào. Toán biệt kích SOG đã nằm chờ (thơì tiết tốt) cả tuần lễ, hy vọng trời sẽ quang đãng, hết mưa để thi hành công tác. Trung tá Raymond “Cherokee” Call ở Đà Nẵng (CCN) lợi dụng trời tốt, bay (trực thăng) lên Khâm Đức. Tôi rất “ngần ngại” thời tiết ở đây, khi đã xâm nhập vào đất Lào, bỗng dưng thời tiết trở nên xấu, kể như toán biệt kích “kẹt” luôn, chỉ còn nước lội bộ trở về. Nhưng bộ chỉ huy MACV thúc đẩy, nên toán biệt kích phải lên đường.
Toán biệt kích xuống bãi đáp không có gì trở ngại. Nhưng như tôi đã lo ngại, khi chúng tôi vừa di chuyển, mây đen lại kéo đến che kín bầu trời, rồi bắt đầu mưa. Cơn mưa thật to, phải di chuyển qua bãi cỏ tranh dưới mưa là một cực hình. Chúng tôi nghĩ rằng, địch quân cũng chẳng đi lại trên đường mòn trong cơn mưa gió nên, nên mọi người đi trên con đường… cho đỡ cực nhọc.
Toán biệt kích ăn mặc bộ quần áo “bà ba đen” ướt sũng nước. Ba biệt kích Nùng đi đầu dẫn đường, “Ski” (trung sĩ nhất Bernie “Ben” Dunakoskie), một thiếu úy LLĐB/VN và tôi đi phiá sau. Khi trời hết mưa, chúng tôi tiếp tục đi trên con đường thêm một đoạn nữa trước khi chui vào một bụi cây.
Gần bụi cây, con đường uốn quanh, chúng tôi có thể quan sát cả hai phiá. Bỗng người biệt kích Nùng hướng đạo (nhiều kinh nghiệm, luôn đi đầu) ra dấu hiệu có một toán tuần tiễu của địch, nhưng không ai trông thấy để chuẩn bị. Khi toán lính Bắc Việt đến khúc quanh, ông thiếu úy LLĐB lên đạn khẩu tiểu liên K-9 Thụy Sĩ, rồi hai bên nổ súng.
Người biệt kích Nùng vừa bắn vừa lui về chỗ toán biệt kích. Từ hai đầu con đường mòn, thấy xuất hiện thêm nhiều lính Bắc Việt. Chúng tôi vội nổ súng để yểm trợ cho người biệt kích Nùng rút lui, rồi cả toán rút lui qua một bụi cây khác. Trong khi địch tiếp tục bắn vào bụi cây chúng tôi đã rút ra. Người biệt kích Nùng cho biết địch có khoảng một đại đội.
Trong khi toán lính Bắc Việt vẫn tiếp tục bắn cầm chừng đợi quân tăng viện, chưa dám tấn công, tôi ra lệnh cho toán biệt kích tiếp tục lui ra khỏi khu vực chạm súng. Trong toán biệt kích đã có người trúng đạn, Lon bị trúng một viên nơi vai, vết thương không nặng, tôi băng vội cho anh ta, rồi để anh ta đi phiá sau. Lúc này tôi và “Ski” lên dẫn đường cho toán biệt kích.
Ra khỏi khu vực nguy hiểm, tôi dẫn đầu toán biệt kích chạy trở lại bãi đáp trực thăng. Sau khi chạy được khoảng một tiếng đồng hồ, thấy có vẻ an toàn, tôi cho lệnh ngừng lại để xem lại toán biệt kích. Thêm hai biệt kích Nùng bị thương nhẹ, chúng tôi băng bó tạm để không để lại vết máu trên đường rút lui.
Lúc đó chúng tôi bắt đầu lo sợ (không như lúc nổ súng, sống… chết). Sau khi địch quân chấn chỉnh lại, chúng sẽ đuổi theo toán biệt kích. Và chúng tôi tiếp tục chạy, giữ khoảng cách với địch quân càng xa càng tốt, trước khi trời sập tối. Trên đường chạy, thỉnh thoảng chúng tôi ngừng lại để tôi chấm lại điểm đứng. Chúng tôi gặp nhiều đường mòn ngang dọc, có thể do người thiểu số bên Lào đi săn bắn. Chúng tôi tìm cách xóa dấu chân khi di chuyển, để địch quân không thể tìm ra lộ trình toán biệt kích di chuyển.
Tôi ra lệnh cho toán biệt kích di chuyển nhanh, phải ra khỏi khu rừng cây rậm rạp mới liên lạc được với căn cứ hành quân tiền phương Khâm Đức. Chúng tôi tìm được một khoảng trống, trải tấm pano để nhận diện. Chiếc phi cơ quan sát FAC đã nhận ra toán biệt kích ở dưới, cho chúng tôi điểm đứng chính xác và hướng dẫn chúng tôi di chuyển đến một bãi đáp gần nhất để trực thăng vào đón. Bãi đáp cách vị trí hiện tại của toán biệt kích khoảng… ba cây số.
Viên phi công FAC hỏi có áp lực của địch không? Tôi trả lời “có” bằng hai tiếng “click” bóp vào tay cầm cobinet máy truyền tin. Tuy nhiên FAC nói, mây thấp trực thăng không thể vào ngay được, hẹn sẽ đón toán biệt kích tại bãi đáp lúc 9:00 giờ sáng hôm sau. Tôi trả lời “OK!”, chiếc FAC vội bay đi chỗ khác để đánh lạc hướng địch quân. Chúng tôi lại đeo ba lô di chuyển để bù lại thời gian bị mất khi liên lạc với chiếc FAC và trước khi trời tối.
Chúng tôi vừa đi vừa ăn, trước khi trời tối, tôi cho lệnh ngừng lại nghỉ để xem lại toán biệt kích. Vết thương của Lon vẫn còn chẩy máu vì phải di chuyển, tôi băng thêm một lớp nữa, rồi toán biệt kích lại tiếp tục lên đường cho đến khi trời tối hẳn. Chúng tôi tìm được một bụi cây lớn chui vào, nằm thành vòng tròn, đầu quay vào trung tâm để phòng thủ.
Nằm yên được khoảng một tiếng đồng hồ, chợt một loạt súng nổ vang ở xa vọng lại làm cả toán biệt kích giật mình. Đó là kiểu bắn “dọ dẫm” của địch, tôi nói khẽ với biệt kích Nùng tên Cẩn nằm cạnh “nói mọi người, khóa an toàn khẩu súng”. Bây giờ một phát súng nổ bất cẩn, chẳng khác gì “Lậy ông! Tôi ở bụi này” (Đúng vậy, toán biệt kích đang nằm trong bụi).
Tiếng súng càng rõ hơn, cùng với tiếng người gọi nhau, tôi có cảm giác, tóc gáy mình dựng lên. Chúng tôi biết địch đang mong chúng tôi bắn trả lại. Lính Bắc Việt càng lúc càng gần về phiá toán biệt kích, tôi hồi hộp, hy vọng mọi người ai cũng giữ được bình tĩnh. Cuối cùng, chúng tôi nhìn thấy địch quân chỉ cách bụi cây khoảng 30 thước, cầm đuốc soi xuống đất tìm dấu vết, nhưng đám cỏ đã được chúng tôi đưa chân gạt qua lại làm đứng thẳng trở lại.
Không biết làm gì hơn, một tên quạt vào trong bụi cây, nơi có toán biệt kích một loạt đạn, bay ngang đầu chúng tôi vài phân. Rồi tiếp theo, một tên khác bước vài bước về hướng bụi cây quan sát. Toán biệt kích “đứng tim”, tôi có cảm tưởng chúng không bao giờ đi khỏi chỗ này, một biệt kích Nùng sờ nhẹ vào tay tôi như chờ lệnh, nhưng chúng tôi vẫn nằm im. Ít phút sau, toán lính Bắc Việt bỏ đi, ánh đuốc cùng với tiếng người từ từ đi xa dần… Chúng tôi thở mạnh ra.
Trước khi trời sáng, chúng tôi ăn thật nhanh rồi bắt đầu di chuyển về hướng bãi đáp. Toán biệt kích di chuyển thật chậm, cẩn thận nghe ngóng. Chúng tôi chỉ nghe tiếng chim hót chào mừng buổi sáng sớm. Bầu trời vẫn còn những đám mây xám, tôi hy vọng mặt trời lên sẽ làm tan bớt mây, để trực thăng vào đón chúng tôi.
Khoảng 6:30 phút, chúng tôi đến một giòng suối, nước chẩy từ trên núi xuống và sẽ đến bãi đáp trực thăng. Tôi quyết định cho toán biệt kích đi dưới suối để không để lại dấu chân, vả lại, trên bản đồ giòng suối sẽ đi đến bãi đáp để trực thăng vào triệt xuất toán biệt kích. Không sợ để lại dấu chân, chúng tôi di chuyển nhanh. Khoảng 7:30 toán biệt kích ngừng lại để nghỉ lấy sức, tôi coi lại vết thương của Lon, lấy nước suối rửa sơ qua vết thương, viên đạn vẫn còn nằm bên trong, anh ta nghiến răng để khỏi la. Sau đó tôi cột cánh tay lại, đồ ăn và những đồ nặng của Lon chia cho anh em trong toán biệt kích mang bớt. Hai biệt kích Nùng khác bị thương nhẹ cũng được thay băng, rồi đem tất cả những cuộn băng dính máu đi chôn, không để lại dấu vết.
Chúng tôi ngừng chân lúc tám giờ sáng, để liên lạc nhưng không có phi cơ nào trên bầu trời nên không được. Tôi lo lắng, với thời tiết xấu, phi cơ không vào được để “bốc” toán biệt kích. Trong chuyến xâm nhập đầu tiên vào đất Lào, cùng với trung sĩ nhất Petry, một trực thăng CH-34 thuộc phi đoàn 219 “King Bee” Việt Nam chở đại úy Larry Thorne bị rơi cũng vì thời tiết xấu thay đổi nhanh chóng. Đại úy Thorne cùng phi hành đoàn Việt Nam tử nạn.
Khi toán biệt kích di chuyển đến, chỉ còn cách bãi đáp khoảng 200 thước, người biệt kích Nùng đi đầu nổ súng và từng loạt súng nổ tiếp theo, vang dội núi rừng. Có lẽ địch đã nghi ngờ, khu vực này có thể làm bãi đáp trực thăng, và chúng tôi đã đụng đầu với toán canh gác của địch. Các biệt kích quân Nùng, không do dự (vì địch ít người), chạy lên tấn công chớp nhoáng. Đạp lên đầu địch quân (có lẽ chỉ một, hai tên đã bị tiêu diệt), chúng tôi tiếp tục chạy đến bãi đáp. Đó là nguồn hy vọng của toán biệt kích, phải đến bãi đáp, tử thủ cho đến khi trực thăng vào cứu.
Chúng tôi đến bãi đáp, việc đầu tiên coi lại toán biệt kích, đã có ba biệt kích Nùng bị thương nhẹ đang xé băng cá nhân băng tạm vết thương. Tôi ra lệnh cho “Ski” cùng với hai biệt kích Nùng đi quanh khu vực bãi đáp, coi chừng còn tên địch nào nữa không. Tôi đi lại chỗ Lon, anh ta gục vào một thân cây, khuôn mặt tái xanh vì đau đớn và kiệt sức. Phía bên phải áo của anh ta đẫm ướt máu, từ hôm qua đến giờ Lon đã mất nhiều máu vì phải di chuyển, phải chạy. Lon thực sự là một người can đảm, không kêu than. Tôi cởi áo anh ta ra, miếng băng đã đẫm máu đang nhỏ từng giọt máu xuống. Tôi thay miếng băng khác, cột chặt vết thương lại để cầm máu. Đến lúc đó tôi biết rằng Lon không thể chạy được nữa, và cả toán biệt kích cũng đã… hết đường.
Có tiếng súng nơi hướng “Ski” và Cẩn đang lục soát. Tôi đỡ Lon nằm xuống đất, lấy khẩu tiểu liên Thụy Sĩ K-9 của anh ta, tháo cơ bẩm vứt đi một nơi, khẩu súng một hướng khác. Tôi ra hiệu cho hai biệt kích Nùng lại, khiêng Lon ra bìa bãi đáp trực thăng nằm đợi. Lúc đó “Ski” và Cẩn lui trở lại, sau lưng họ có lính Bắc Việt chạy qua lại giữa những thân cây lớn. Tôi nổ súng làm chúng phải đứng lại, nấp sau thân cây. Toán biệt kích chỉ còn ba người chưa bị thương, tôi ra lệnh cho binh sĩ Nùng bố trí sau những hàng cây nơi bià rừng, quay lưng ra bãi đáp chống cự với địch. “Ski” bò ra giữa bãi đáp trải tấm Pano làm dấu cho trực thăng trông thấy, Cẩn bò theo bảo vệ “Ski”. Sau khi xong việc, cả hai di chuyển qua phiá bên kia, nằm bảo vệ bãi đáp trực thăng.
Tôi mở máy truyền tin, cố gắng liên lạc. Bầu trời vẫn u ám, nhiều mây. Tôi biết rằng, đến buổi chiều nếu trực thăng không vào được, định mệnh dành cho toán biệt kích coi như… đã an bài. Khoảng 10:00 giờ sáng, tôi nghe tiếng khu trục A1 Skyraider bay vần vũ trên bầu trời, vội đổi qua tần số “Không-Lục” để liên lạc. Tiếp theo là tiếng trung tá Call, bộ chỉ huy Bắc (CCN) gọi danh hiệu của toán biệt kích.
Trung tá Call báo cho biết đã cho một trực thăng tải thương đến. Tôi báo tín hiệu “Shining Brass” (Khẩn cấp! Toán biệt kích đang lâm nguy, có thể bị tiêu diệt). Khi phi cơ quan sát bao vùng nhận được tín hiệu “Shining Brass”, sẽ điều động tất cả các phi cơ: phản lực, khu trục, trực thăng võ trang, đang trên vùng hành quân Shining Brass của đơn vị SOG (Lào) bay về đánh giải vây để cứu toán biệt kích đang gặp nguy hiểm.
Tiếp theo tôi nghe tiếng phản lực cơ F-104 “Star Fighter” gầm thét trên bầu trời như đe dọa những đơn vị Bắc Việt đang tìm cách tiêu diệt toán biệt kích. Viên phi tuần trưởng gọi toán biệt kích.
– Shining Brass! Shining Brass! Đây là Lancer Leader.
– Lancer Leader! Đây là Shining Brass. Mừng khi nghe tiếng bạn!
Viên phi tuần trưởng cười, trả lời.
– Nghe nói bạn đang gặp khó khăn ở dưới. Chúng tôi giúp được gì không?
– Bạn dọn dẹp xung quanh bãi đáp, cách khoảng 50 thước được không?
– Nhận rõ!
“Ski” từ phiá bên kia đầu bãi đáp chạy trở lại báo cáo, có nhiều địch quân đang tiến về bãi đáp, anh ta cùng với Cẩn quay trở lại với toán biệt kích. Tôi gọi Lancer Leader.
– Lancer Leader! Đây Shining Brass, Có nhiều địch quân di chuyển nơi đầu bãi đáp cách khoảng 300 thước, bạn dọn dẹp chỗ đó luôn giùm tôi.
Mấy chiếc phản lực F-104 lao xuống thả bom, tiếng nổ điếc tai. Trung tá Call gọi lại cho biết, trực thăng cấp cứu đang vào, toán biệt kích chuẩn bị. Viên phi tuần trưởng “chơi đẹp”, nói tôi cùng toán biệt kích lo chuẩn bị bãi đáp, anh ta sẽ làm nhiệm vụ “điều không”. Tôi ra lệnh khiêng Lon ra bãi đáp, gọi mấy binh sĩ Nùng đang bố trí nơi đầu bãi đáp chạy trở vào “Nhanh lên! Nhanh lên!”.
Thêm một phi tuần F-104 khác lên bao vùng. Cả toán biệt kích khiêng Lon đi vào khoảng trống bãi đáp. Toán bảo vệ của “Ski” cũng vào đến nơi, tôi vui mừng trông thấy cặp mắt Lon mở ra, có vẻ tỉnh táo. Tôi nghe tiếng động cơ trực thăng bay vào, đó là mấy chiếc trực thăng võ trang, bay vào bắn hỏa tiễn xung quanh bãi đáp. Rồi thì chiếc trực thăng H-34, Việt Nam do phi công Cowboy đáp xuống, anh ta đưa tay vẫy đám biệt kích. Tôi hối mấy biệt kích Nùng đưa Lon lên, cùng với mấy người bị thương. Chiếc H-34 cất cánh rời bãi đáp nhanh chóng.
Chiếc thứ hai sẽ vào “bốc” những người còn lại của toán biệt kích. Chợt trung tá Call ra lệnh cho Mustachio (một phi công H-34 Việt Nam khác. Cowboy và Mustachio thuộc phi đoàn 219 trực thăng “King Bee” rất nổi tiếng trong đơn vị SOG) tránh ra khỏi bãi đáp vì cả trung đội lính Bắc Việt đã vào sát bãi đáp. Các trực thăng võ trang lại phải bay vào làm một tour nữa. Mustachio theo sau đáp xuống. Tôi, và “Ski”, viên sĩ quan LLĐB/VN cùng hai binh sĩ Nùng leo thật nhanh vào trong máy bay.
Mấy trực thăng võ trang vẫn bay vòng trên đầu bãi đáp cho đến khi chiếc H-34 đã ra khỏi bãi đáp an toàn. Về đến bộ chỉ huy Bắc (CCN) ngoài Đà Nẵng, tôi cùng với “Ski” vào câu lạc bộ uống vài chai bia với hai phi công H-34 Việt Nam. Chiều hôm đó, tôi cùng với “Ski” lên một chiếc C-47 bay vào Saigon trình diện đại tá Arthur D. “Bull” Simon chỉ huy trưởng đơn vị SOG.
Đại tá Simon muốn trưởng toán biệt kích gặp ông ta đã trước khi báo cáo kết qủa lên cơ quan MACV. Đối với ông ta… phải làm việc tận lực. Trả viên sĩ quan LLĐB về lại đơn vị, cho Lon về hưu, thuyên chuyển các biệt kích Nùng qua đại đội Xung Kích Hatchet Force.
Lời Cuối:
1. Khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc, những quân nhân mất tích bên Lào, không một người nào sống sót trở về.
2. Trong các cuộc hành quân “vượt biên”, đơn vị SOG mất khoảng 400 quân nhân LLĐB Hoa Kỳ.
3. Trong tháng Năm 1968, bộ chỉ huy Trung (CCC, Kontum), một toán biệt kích lâm nguy, phi công trực thăng Hoa Kỳ không dám đi. Phi công Cowboy (Việt Nam) bay vào cứu thoát toán biệt kích đưa về Kontum. Trên đường về căn cứ, Cowboy rớt trực thăng tử nạn, để lại vợ và một con thơ.
Tháng trước lúc tàu trên đường qua Valencia có hẹn với Frans và Musli khi tàu ghé bến sẽ lên bờ chơi. Nhưng chiều hôm đó tàu vừa ghé chưa kịp tắt máy thì cần cẩu đã thả xuống, câu lên liền mấy chục cái containers và thả xuống mấy chục cái, chưa đầy bốn tiếng đồng hồ tàu lại hải hành. Cũng từ đó tàu chạy liên tục qua lại giữa Ma Rốc và Tây Ban Nha, mỗi cảng đậu lại nhiều lắm là một ngày, chừng đó thời gian thì đâu có đủ cho thủy thủ lên bờ.
Tôi xuống tàu tháng cuối mùa hè, bây giờ đã vào mùa thu, mới đó đã hơn hai tháng lênh đênh trong vùng Địa Trung Hải. Hôm nay tàu ghé cảng Vigo, đậu lại được ba ngày, nhờ vậy mới có thời gian cho thủy thủ đổ bộ xả hơi. Vigo là một đô thị trong tỉnh Pontevedra thuộc khu tự trị Galicia, nằm về phía tây bắc của bán đảo Iberia, trên bờ phía nam trong vịnh Ria de Vigo của Tây Ban Nha. Gió Đại Tây Dương thổi về làm dịu mát buổi xế chiều, tôi bận chiếc áo lót bên trong áo sơ mi, bên ngoài khoác chiếc áo khoác hai lớp cho hợp với khí hậu mùa thu. Ngồi xuống băng ghế mang giày và cột dây giày xong, tôi đứng dậy, mang lô lên vai, đi ra sau lái thấy Frans và Musli, cũng ba lô trên vai, áo quần bảnh bao, đứng trên đầu cầu thang lóng ngóng có vẻ nóng ruột. Tôi vừa cười vừa nói:
– Y chang khách du lịch.
Musli ngước mặt hinh hỉnh nói:
– Dĩ nhiên.
Frans đi tới chìa passport của tôi ra trước mặt tôi, nói:
– Của chú nè.
Trên tàu passport của thủy thủ đoàn được giữ trong phòng thuyền trưởng, Frans lên lấy passport tiện tay nó lấy cho tôi luôn. Đúng ra ở vùng này tôi không cần passport, vì tôi có quốc tịch Hoà Lan và được phép đi qua nhiều nước Âu châu với thẻ căn cước, nhưng thế giới bây giờ đương hỗn loạn, sự tự do trên những quốc gia tự do cũng hạn chế, con người ta luôn nghi ngờ và rình rập nhau. Nhiều khi lên bờ trình giấy cho nhân viên gát cổng, thấy tôi không phải là người da trắng mà hổng có paspoort, họ bắt phải trở xuống tàu lấy. Cầm paspoort nhét vô túi ba lô, tôi ngước lên khoát tay nói với hai đứa:
– Ok, chúng ta đi.
Trước đây tôi có thói quen, hễ mỗi lần tới một thành phố đẹp, có thời gian rảnh tôi dành hết cho ngoài đường. Đối với tôi thời gian lang thang ngoài trời là bác sĩ chữa lành mọi bịnh tật, hơn nữa đi bộ giữa thế giới tự do và không gian mở rộng cũng làm cho tinh thần thoải mái, nó cho ta có thời gian để suy ngẫm và sắp xếp nội tâm cho hoà hợp với sự hào phóng của thiên nhiên, nhưng đó là chuyện hơn chục năm trước, bây giờ tuổi đời cũng khá bộn, đi bộ nhiều bị mỏi chưn. Quen lâu rồi, Frans biết tánh tôi nên nhìn tôi cười cười và nói:
– Tắc xi sắp tới rồi chú.
Phần đông người trẻ ngày nay đi thì như chạy và ngại con đường, đoạn đường đi bộ chừng mười lăm hai mươi phút đối với chúng đã là xa lắm rồi. Có lần mấy đứa ngồi trong tắc xi, thấy tôi đi bộ bên đường, chúng kêu tài xế dừng lại rồi hai đứa nhào xuống xốc nách rinh tôi nhét vô xe, muốn cho tôi đi tắc xi mà làm như cảnh sát bắt tội phạm vậy.
Chúng tôi ngồi tắc xi vô phố, chú tài xế dừng lại khuôn viên rộng, cạnh một bến nước. Sau khi trả tiền tắc xi chúng tôi xuống xe rồi đi dọc theo bờ nước, ngoài kia hổng biết sông hay là vịnh mà giữa dòng có vài chiếc tàu buồm vô ra ? Bên kia bờ là núi đồi thâm thấp, ẩn trong rừng cây lúp thúp những mái nhà, dưới chưn đồi là một dãy phố sừng sững hướng ra bến nước, nơi lố nhố nhiều cột buồm của những tàu du lịch từ bốn phương tới đậu. Frans đứng lại, nó đưa điện thoại cho tôi và nói:
– Chú chụp dùm tụi con.
Tôi đón lấy điện thoại, hai đứa đi tới đứng choàng tay qua vai nhau làm dáng trước hàng cây cổ thụ có tàn lá xanh um và cạnh dưới những gốc cây có vài bồn hoa với nhiều màu sắc. Chụp xong cho hai đứa, Musli kéo tôi lại đứng với nó và đưa máy qua Frans nhờ chụp, chụp xong thấy tôi dợm bước ra Frans liền nói:
– Chú chờ chút.
Frans moi trong ba lô ra cái chưn gắn máy ảnh bằng nhựa, nó kéo chưn ra rồi kêu tôi đưa điện thoại của nó cho nó kẹp vô chưn, xong nó đặt chưn lên mặt đường rồi kêu tôi và Musli đứng ngay cho nó nhắm, Frans để năm giây tự động, bấm máy và liền đi nhanh tới đứng cạnh bên để chụp chung ba đứa. Chụp xong tôi hỏi:
– Tụi con muốn chụp chỗ nào nữa không?
Frans vừa tháo điện thoại, xếp chưn nhét vô ba lô và nói:
– Cảnh ở đây đẹp quá, để con tự chụp.
Tôi chỉ chiếc băng đá bên đường, cạnh những bồn hoa, nói:
– Chú qua đó ngồi chờ, tụi con tự nhiên, chụp hình xong rồi mình đi tiếp:
Musli hỏi:
– Chú không chụp nữa sao?
– Chụp chung được rồi, chú đã già chụp mình ên hổng đẹp đâu.
Musli vỗ vai tôi:
– Chú đâu có già.
Câu này tôi nghe nhàm quá nên không đính chánh làm gì. Tôi đi qua chiếc băng đá, tháo ba lô để lên mặt chiếc băng rồi ngồi cạnh ba lô hít thở, định thần và đưa mắt ngắm cảnh. Khách du lịch cũng đông nhưng khuôn viên quá rộng nên không chen chúc ồn ào và sự yên ắng đến nghe rõ tiếng chim kêu trong nhữn tàn lá trên hàng cây.
Tôi thích thành phố Vigo có những con đường thoai thoải dốc và cạnh bên những ngọn đồi thấp, làm tôi nhớ tới núi rừng Tây Nguyên-Việt Nam, nơi đó mùa này hoa dã quỳ nở vàng khắp núi rừng. Chợt nghĩ lan man về những năm đầu lang bạt, tôi chỉ có cái radio bằng bàn tay, mang tiếng loại radio bắt được các đài trên thế giới nhưng thiệt ra là tùy vùng, tùy lúc, nếu đi bên vùng châu Á, thì nghe được vài giờ của mấy đài nước ngoài phát tiếng Việt và đài Hà Nội. Qua Phi châu hay Nam Mỹ, những lúc tàu ra khơi thì không nghe được, có khi cả năm hổng nghe tiếng Việt và chẳng biết tin tức quê nhà. Có lẽ dạo đó tôi chưa biết nhiều về thế giới bên ngoài, nên mới thấy không nước nào trên trái đất này đẹp hơn nước Việt Nam, vì vậy trong lòng luôn canh cánh nhớ về quê hương sông nước, biển đảo, đồng bằng cho tới Đại Ngàn của miền Cao Nguyên nước Việt. Những năm sau này nhờ internet mà tôi biết khá đầy đủ những chuyện xảy ra trong nước Việt Nam mình và luôn cả thế giới, tất cả đều nằm gọn trong lòng bàn tay, muốn biết bất cứ thứ gì, chỉ cần mở điện thoại thông minh ra bấm bấm, quẹt quẹt vài cái thì nghe và đọc được hết những chuyện đã xảy ra từ phố thị cho tới Hóc-Bò-Tó trên quê hương, có lẽ vì vậy mà niềm nhớ thương quê hương chỉ thoáng qua, chớ không còn thiết tha như ngày trước nữa.
Những chuyện trước kia như bóng mây bay qua bầu trời. Tôi đưa mắt nhìn ra bờ sông, người ta ăn bận kín đáo hơn những ngày hè, đàn bà bận áo đầm, vai mang túi xách trông sang trọng làm sao, đàn ông nai nịt bảnh bao và mang máy chụp hình, thỉnh thoảng đưa máy lên chụp mấy bà hoặc chụp chung một nhóm. Ai cũng có cặp có đôi chỉ có Frans và Musli, hai thằng đực rựa loay hoay trên bến tàu, lúc đứng, lúc khom, lúc ngồi và day qua, day lại, tay cầm điện thoại đưa lên mắt nhắm chụp cảnh. Chụp đã rồi hai đứa mới chịu đi lên, tới bên tôi Musli hỏi:
– Mình đi đâu chú?
Tôi chưa kịp nói gì thì Frans kề miệng gần tai tôi nhưng không nói nhỏ, nó cố ý nói cho Muisli nghe luôn:
– Musli muốn đi kiếm gái.
Tôi nhìn qua Musli, nó cười cười không nói gì. Thiệt ra những thủy thủ trẻ đổ bộ, ngoài chuyện gái gộc, nhậu nhẹt ra thì đâu còn gì nữa. Nhớ lại những ngày tôi mới tập tễnh hải hành, con người ta dễ gần nhau lắm, lên hội quán thì đàn bà, con gái lúc nào cũng sẵn sàng và mỗi khi tàu ghé bến, vừa hạ cầu thang thì các cô leo lên tàu ở chơi với thủy thủ cho tới khi tàu khởi hành các cô mới chịu chia tay, thủy thủ ra khơi tên nào cũng phờ phạc và tiền bạc trong túi cũng sạch trơn. Từ khi có HIV thì các cô, các bà không xuống tàu nữa và lên hội quán thì ngoài vài cô bán hàng ra, còn lại toàn là đực rựa, thủy thủ có muốn xả-súp-páp thì chịu khó lên bờ vô những khu đèn đỏ, nhưng dù sao đi nữa thời gian này cũng còn có những khu đèn đỏ để cho thủy thủ giải quyết vấn đề. Đến khi dịch cô-vít tràn lan khắp thế giới thì những khu đèn đỏ đóng cửa luôn, chuyện liên hệ người và người không còn nữa, thủy thủ đành phải chịu, tên nào hổng chịu nổi thì tự sướng cho qua cơn.
Nếu tương lai thủy thủ không còn liên hệ với người trên đất liền nữa thì những tháng hải hành buồn bã biết bao. Tưởng chừng như bế tắc, nhưng dịch cô vít chỉ qua một thời gian, con người cũng có phần cởi mở hơn. Lâu lắm rồi tôi không vô những khu ăn chơi nữa nên hổng biết mấy khu đèn đỏ và những nhà chứa có sinh hoạt lại bình thường không? Tuy nhiên trong phố của những quốc gia nằm trong vùng Địa Trung Hải, thỉnh thoảng cũng thấy vài cô đứng đường chào hỏi và vô mấy hộp đêm cũng có các cô tới rạ rẫm xin ngồi chung, thường là các cô tị nạn từ châu Phi qua. Đi chơi với mấy đứa nhỏ tôi biết vậy thôi, chớ thiệt ra chuyện gái gú lâu rồi tôi không còn thiết tha nữa nên không biết được nhiều. Tôi đứng lên và khom xuống lấy ba lô mang lên lưng rồi day qua để tay lên vai Musli cười thông cảm:
– Con khỏi lo, ăn thì để chú lo, chơi thì để Frans dẫn đường, bây giờ mình cứ đi, hể thấy chỗ nào vui thì tắp vô.
Chúng tôi rời công viên băng qua con đường hướng về trung tâm. Đi ngang một con đường thấy những quán ăn treo bảng hiệu khắc trên tấm bảng gỗ giống như furanchos, có mái che bằng những tấm kiếng và có rất nhiều người ngồi ăn uống bên những chiếc bàn đặt cạnh nhau trước hiên. Tò mò tôi men vô xem thì thấy hai bên trước nhà hàng bàn ghế xếp ngay ngắn. Ở Tây Ban Nha có những chỗ ăn uống gọi là furanchos, nơi đây bán thức ăn truyền thống của gia đình tự chế biến và rượu nho cũng tự ủ để gia đình dùng, khi nào uống không hết mới đem ra bán lại, nối tiếp nhau đời này qua đời khác cả mấy trăm năm, sau này được nhà nước bảo tồn và đưa lên thành tập quán, lâu ngày nó nổi tiếng và phổ biến cho khách du lịch nước ngoài đến đây và được công nhận là văn hoá ẩm thực đặc thù của Tây Ban Nha. Furanchos mở cửa tối đa ba tháng trong năm, thực đơn chỉ có năm sáu món và thực khách ngồi ăn trước sân có tàn cây bóng mát hay dưới một giàn nho hoặc trong mái hiên nhà, nhưng ở đây xô bồ xô bộn không giống như furanchos mà tôi biết.
Tôi đi trước, Frans và Musli đi theo sau vô con đường hai bên nhà hàng bàn ghế sắp ngay ngắn và thực khách cũng khá đông, nghe họ trao đổi với nhau bằng tiếng Anh, tôi ngờ rằng những thực khách ngồi trong đây, họ đến từ những chiếc tàu buồm đậu dưới bến kia. Có một khoảng dành cho những người bán hàu, gian bán hàu trông riêng lẻ nhưng nó có liên hệ với các nhà hàng, khách mua một dĩa hàu có thể ngồi vào bàn của một trong những nhà hàng nào cũng được, cứ gọi nhân viên hoặc người bán hàu bưng tới. Những con hàu tươi sống được các bà cạo, rửa sạch sẽ và tách ra trưng bày trên dĩa để ngay ngắn trên chiếc bàn trông hấp dẫn vô cùng, giá tiền mỗi dĩa tám con, con nhỏ giá mười tám euro, con lớn hai mươi lăm euro. Tuy Vigo nổi tiếng hàu tươi được quảng cáo là ngon nhứt, không biết nó có “nhứt” như quảng cáo không? Nhưng nhìn dĩa hàu tươi, sống được tách ra sạch sẽ, ruột mập, trắng sắp ngay ngắn trên dĩa lót nước đá và kèm theo nửa trái chanh để cạnh bên trông rất hấp dẫn, nhìn là muốn ăn ngay.
Tôi đứng lại trước những chiếc bàn trống của một nhà hàng, day qua hỏi hai đứa:
– Tụi con thích ăn đồ biển không?
Frans lưỡng lự nhưng Musli liền nói:
– Được đó chú.
Frans cũng gật đầu theo:
– Ô kê.
Chúng tôi bước vô vừa tới cửa quán, anh phục vụ ôm mấy quyển thực đơn bước ra vui vẻ chào và mời chúng tôi ngồi xuống chiếc bàn trống ở dưới hiên nhà, trên bàn đã sắp sẵn giấy xếp, ly, dao, nĩa. Chúng tôi vừa ngồi xuống thì anh ta đưa chúng tôi mỗi đứa một quyển thực đơn và hỏi:
– Các anh uống gì?
Tôi day qua nói với hai đứa:
– Đồ biển hợp với rượu vang trắng hoặc bia, đứa nào thích uống gì thì cứ kêu.
Hai đứa đồng ý uống rượu vang trắng. Tôi ngước lên nói với anh phục vụ.
– Cho chai vang trắng.
Anh nhân viên vô trong lấy rượu, chúng tôi mở menu ra xem, phải nói là ở Tây Ban Nha đồ biển rất phong phú. Nhứt là ở Vigo hải sản tươi sống nhờ vùng nước Đại Tây Dương chưa bị ô nhiễn, còn giàu chất dinh dưỡng cho các loại cá và nhiều loại động vật có vỏ. Những nhà hàng hải sản Tây Ban Nha đầu bếp chế biến đồ biển rất ngon và trang trí dĩa thức ăn trông bắt mắt. Tôi gấp quyển menu lại để lên bàn, Frans và Musli đang đọc menu, thấy tôi không đọc menu nữa nên ngước lên hỏi:
– Chú thích món gì vậy?
Tôi trả lời:
– Vô nhà hàng hải sản thì phải ăn cá, tôm.
Frans nói:
– Con thấy món nào cũng mắc.
Tôi cười dí dỏm nói:
– Cứ kêu ăn cho đã, ăn xong không tiền trả thì chú vô phụ bếp, còn hai đứa rửa chén trừ tiền.
Chúng tôi cười ha hả. Musli gấp quyển thực đơn lại để lên bàn, nói:
– Vậy chú gọi đi, tiệc này con trả.
Tôi khều nhẹ lên vai Frans cười và nói:
– Nghe chưa, yên tâm ăn, uống cho đã, phần sau cùng có Musli lo.
Frans cũng để quyển thực đơn lên bàn và nói:
– Đâu phải con ngại trả tiền, nhưng hồi biết chú tới giờ, đi với chú vô mấy quán bình dân không à.
– Hơn cả tháng nay không đổ bộ, tiền dư ra, ăn sang một bữa cũng đâu sao.
Lúc đó anh bồi bàn cầm chai rượu đi ra rót cho mỗi người một ly, xong anh để chai rượu lên bàn, day qua hỏi chúng tôi chọn thức ăn chưa. Tôi liền nói:
– Một dĩa mariscada cho ba người.
Anh bồi hỏi:
– Thêm gì nữa không?
– Không.
Anh bồi bàn đi rồi tôi mới day qua giải thích với hai đứa:
– Nếu muốn biết vùng biển đó có loại hải sản gì thì vô nhà hàng nơi đó gọi một dĩa mariscada thì sẽ biết.
Frans ồ lên nói:
– Món này có nghe chú nói nhưng con chỉ biết nó qua hình ảnh thôi.
Tôi cười và nói:
– Thiệtra thì cũng các món hải sản thôi, nhưng người có tâm hồn ăn uống thì nhìn dĩa mariscada tha hồ mà hình dung ra các động vật dưới đáy biển.
Frans co cánh tay phải và gồng lên, tay trái đập mạnh qua bắp tay phải một cái bụp. Nó cao giọng nói:
– Ăn đồ biển rất khoẻ!
Musli đưa ngón tay cái ra gặt gặt và hoạ theo:
– Nhứt là ăn hàu.
Tôi cười nói:
– Hai đứa còn trẻ, còn khoẻ, không ăn gì thì cũng mạnh như dê, cứng như cây, còn chú có uống cả bụm Viagra chưa chắc gì thằng nhỏ ngóc đầu lên nổi, nói chi ba cái đồ biển này thì nhằm nhò gì.
Chúng tôi cười ha hả và đưa ly rượu vang lên cụng. Lúc đó bồi bàn vụ bưng mâm ra, anh lấy ba cái dĩa hấp nóng để trước mặt cho mỗi đứa một cái, anh dọn ra bàn dĩa mariscada kèm theo rổ nhỏ đựng bánh mì và mấy hộp sốt, xong anh ta chúc chúng tôi ăn ngon rồi day lưng đi trở vô. Trong dĩa mariscada có ghẹ, chem chép, tôm thẻ, tôm tích, sò, mực ống và có bốn con hàu, con nào cũng mập và trắng tươi, tôi lấy bỏ qua dĩa mỗi đứa hai con hàu, nói:
Musli và Frans đớp mấy cái hết hai con hàu, Musli ngó ra chỗ bán hàu rồi dợm đứng lên nói:
– Để ra mua thêm dĩa hàu.
Tôi đưa tay lên ra dấu kêu nó ngồi xuống và nói:
– Ngồi đó ăn đi.
Tôi lấy chai rượu rót phần còn lại chia ra ba ly rồi nhìn qua thấy anh bồi bàn đứng trong góc bèn đưa tay ngoắc ngoắc, anh bồi bàn đi tới, tôi kêu thêm chai rượu, một dĩa hàu con lớn. Anh ta đi vô trong, tôi ngồi xuống bưng ly lên mời hai đứa. Nhấp ly rượu rồi để xuống, cầm nĩa ghim con tôm cắn một cái và nhìn hai đứa đang cắm cúi ăn mực ống ngon lành. Tôi cười thầm trong bụng, đúng là ăn để nạp thêm năng lượng! Người In Đô có ý nghĩ giống như người Việt, họ nghĩ đồ biển, nhứt là hàu là một loại thực phẩm kích thích và nó chứa các hợp chất để nâng cao vấn đề tình dục, theo tôi biết thì khoa học chưa chứng minh được điều này. Tôi vừa nhâm nhi rượu vừa nhìn người ta ăn uống mà nghĩ ngợi mông lung, những khách đến từ bốn phương họ ăn uống no nê để hưởng thụ chuyến đi du lịch, không biết họ nghĩ gì khi thức ăn và rượu trên bàn của họ đã gần hết? Nhìn Musli và Frans chú tâm ăn, uống ngon lành, có lẽ hai đứa vừa ăn vừa nghĩ tới lát nữa đây sẽ gặp mấy cô gái đang chờ trong các hộp đêm. Anh phục vụ bưng dĩa hàu để lên bàn và nói lời chúc ăn ngon. Lúc này Musli mới ngước lên ngó qua tôi hỏi:
– Chú không ăn hàu?
Tôi xoa tay lên bụng nói:
– Bụng chú không tốt, tụi con ăn đi.
Tôi day qua Frans nói:
– Ăn xong con dẫn Musli đi chơi đi.
Frans hỏi:
– Chú hổng đi với tụi con sao?
– Không, tụi con đi đi.
Musli ngạc nhiên day ngang hỏi:
– Sao vậy, sao chú hông đi?
– Tụi con đi chơi tới sáng mai cũng không sao, còn chú thức sau mười hai giờ thì coi như thức luôn tới sáng.
Có lẽ Frans quen với tôi lâu và hay nói chuyện với nhau nên nó hiểu ý tôi, nó chen vô:
– Ô kê.
Nó day qua nói với Musli bằng tiếng In Đô. Musli ừ hử rồi hai đứa lấy hàu bỏ lên dĩa, nặn chanh và rắc thêm tiêu, trước khi ăn hai đứa bưng ly lên cụng. Ba người ăn gần hết dĩa mariscada, thiệt ra tôi chỉ ăn mấy con tôm với bánh mì và nhâm nhi rượu, còn lại hai đứa cắm cúi ăn nhiều hơn. Frans và Musli ăn hết chục hàu, mười hai con và uống hết rượu trong ly. Hai đứa có vẻ hả hê, lấy khăn giấy lau miệng, chùi tay, xong Frans day qua tôi hỏi:
– Vậy chú chờ tụi con ở đâu?
Tôi khoát tay, vui vẻ nói:
– Khỏi chờ, xong chỗ này, chú đi dạo phố, lát tối chú tự xuống tàu, tụi con thong thả chơi đi, chơi đến khi cạn tiền, hết năng lượng thì về.
Ba người cười ha hả… Xong Musli ngoắt tay kêu anh bồi bàn lại, thấy nó ra dấu cho anh ta tính tiền. Tôi chỉ tay vô bàn ăn nói:
– Tụi con đi chơi đi, chỗ này để chú.
Frans nói:
– Đâu được, hôm nay chú để tụi con.
Lúc đó anh phục vụ đi tới để dĩa hoá đơn lên bàn, Musli xem thực đơn xong, nó lẹ làng móc ra một sắp đô la Mỹ với vẻ tự nhiên và bình thản đưa cho anh phục vụ, phần đông thủy thủ người In Đô có vẻ nghèo nàn và tính toán từng đồng, nhưng Musli rất hào phóng, chơi xả láng không tính toán với anh em, quả là phong cách của dân anh chị. Có lẽ trước khi giã từ nghề đòi nợ mướn nó tóm được mối xộp nào đó và được người ta trả công bằng đô la cho nó mang theo để làm lại cuộc đời, tôi mỉm cười và hài lòng với sự suy đoán khôi hài của mình. Nhưng anh bồi bàn xua tay cho biết là nhà hàng không nhận đô la. Tôi liền móc bóp ra nói:
– Vậy để chú trả.
Frans đưa tay chặn tay tôi và nói:
– Đâu được chú.
Frans liền móc bóp, mở ra rút tiền euro đưa cho người phục vụ. Trả tiền xong hai đứa đứng lên đi vô toilet, lát sau hai đứa trở ra, tóc tai gọn gàng, mặc mày sáng sủa. Tới bên tôi Frans lên tiếng:
– Hổng ấy chú đi với tụi con vô ba uống vài ly rồi đi đâu thì đi.
Tôi chỉ tay xuống dĩa thức ăn còn dư và chai rượu còn hơn phân nửa vui vẻ nói:
– Chú ăn và uống hết chỗ này đủ rồi
Frans hiểu ý tôi nó ừ hử mỉm cười. Musli tỏ vẻ ái náy, ngập ngừng nói:
– Nhưng chú…
Tôi cười vui vẻ và đưa tay ra đẩy nhẹ lên vai Musli:
– Đừng lo cho chú, hai đứa tự nhiên chơi vui vẻ.
Hai đứa đi rồi tôi mới thấy người nhẹ nhõm, té ra cỡ tuổi tôi bây giờ ở mình ên lúc nào cũng thấy thoải mái, không như hồi trẻ sôi nổi, đi đâu cũng muốn có bạn, có bè cặp kè cho vui. Nhìn dĩa mariscada còn lại hai con tôm tích, một con mực, một con ghẹ đã tách ra sẵn, mu ghẹ đầy gạch vàng vàng, và vài ba con chem chém, hai đứa chú ý ăn hàu nên không đụng tới ghẹ. Tôi lấy phần mu ghẹ bỏ vô dĩa và lấy chai rượu rót vô ly. Vừa nhấm nháp rượu và thưởng thưởng thức hương vị béo béo, mặn mặn của gạch ghẹ, làm tôi nghĩ tới các loài thủy tộc như tôm thẻ, tôm hùm, mực, bạch tuộc, các loài cá nhiều màu sắc đang bơi lội và những loài có vỏ như chem chép, nghêu, sò, ốc, hến trầm mình dưới đất, cát của lòng biển sâu, nơi đó có cả một thế giới rực rỡ đầy màu sắc sắc… Nghĩ tới đây chợt nhiên cổ họng tôi ơn ớn, muốn ọi ra, tôi bèn đưa ly rượu vang lên miệng hớp một cái để dằn cơn buồn nôn. Để ly rượu xuống bàn rồi đưa tay ngoắt anh bồi bàn lại, nói:
– Nhờ anh dọn hết dĩa dơ và đĩa thức ăn thừa đem vô, chừa lại cho tôi chai rượu vang được rồi!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.