Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam 20/7/1954

Nhã Lan – Phan Nhật Nam

Nhalan – 2607-1-Ngày 20/7/1954

NL: Dẫn Nhập:

Đêm 20 rạng Ngày 21 Tháng 7, 1954, chiếc kim đồng hồ của phòng hội nơi Genèva, Thụy Sĩ được giữ yên ở số 12 của để đúng với lời hứa của Thủ Tướng Mendès France trước quốc hội Pháp là sẽ giải quyết xong vấn đề Đông Dương sau một tháng nhậm chức. Và Ngày 20 Tháng 7 Hiệp Định Đình Chỉ Chiến Sự ở Việt Nam được ký kết với Điều 14 ấn định thủ tục, diễn tiến, thời điểm, thời hạn về việc di cư, tập kết người của hai miền Nam-Bắc. Điều khoản đơn giản nầy đã tạo nên bi kịch mất quê hương lần thứ nhất của lịch sử dân tộc VN – Để được sống tự do, triệu Người Việt Miền Bắc dấn thân ra biển lớn, hình thành cuộc di cư vĩ đại của loài người – Di Cư Vào Miền Nam. Chương trình TMVH thêm một lần được tiếp chuyện với Người Lính PNN để tường trình lại Bi Kịch Lớn đã một lần xẫy ra trên đất nước VN. Kính chào ông PNN,

#1-NL: Thưa ông Pnn, như lời dẫn nhập NL đã nêu, Hiệp Định Genèva 20/7/1954 là một Hiệp Định Đình Chỉ Chiến Sự ở Việt Nam được ký kết giữa hai đại diện quân sự của Pháp và Việt Minh. Quả thật, trước 1975 ở Miền Nam và hiện nay ở hải ngoại hoặc ở trong nước chắc cũng không mấy ai biết rõ, đúng tại sao như thế nào, với ai đã thành hình nên bản hiệp định ấy? Và tại sao chỉ là đình chỉ chiến sự, nghĩa là CHỈ ngưng giao tranh GIỮA PHÁP VÀ VIỆT MINH chứ không có phe phái (CHÍNH TRỊ) nào khác. Vậy mời ông trình bày tình hình quân sự lúc ấy, trước hết của phía Việt Minh.

#1-PNN: Phát súng khai hoả trận Điện Biên Phủ nổ vào lúc 17g05 Ngày 13 Tháng 3 năm 1954 trận chiến kéo dài đúng 55 ngày 25 phút; và quân Pháp hạ súng đầu hàng vào lúc 17g30 Ngày 7 Tháng 5. Lực lượng bộ đội Việt Minh tham gia chiến dịch gồm 11 trung đoàn bộ binh thuộc các Đại đoàn/Sư Đoàn 304, 308, 312, 316 được yểm trợ chiến thuật bởi một trung đoàn công binh; một trung đoàn pháo gồm 24 khẩu pháo binh 105 ly; một trung đoàn sơn pháo 24 khẩu pháo 75 ly và 16 khẩu súng cối 120 ly, một trung đoàn cao xạ 24 khẩu 37 ly phòng không yểm. Toàn thể chiến dịch do Tướng Võ Nguyên Giáp giữ chức Tư lệnh và Thiếu Tướng Hoàng Văn Thái làm tham mưu trưởng. Quan trọng hơn hết là Bộ tư lệnh chiến dịch của Tướng Giáp đặt dưới quyền của Tổng Cố Vấn Vi Quốc Thanh nhận lệnh trực tiếp từ Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ làm việc trực tiếp với Hồ Chí Minh. Vào thời điểm 1953-54, kho vũ khí của Trung cộng gần như đã cạn sau ba năm chiến tranh Nam-Bắc Hàn (1950-1953). Hồi ký của Tướng Giáp cũng xác nhận điều tương tự: Trung cộng đã vét hết ở các đơn vị pháo binh được thêm 7,400 viên đại bác 105 ly cho đủ số 10, 000 viên như đã hứa, nhưng số đạn này tới nơi vào trung tuần tháng 5 khi trận đánh đã kết thúc. Tóm lại, đứng về mặt đạn dược thì phía Việt Minh cần do Trung Cộng cung cấp đã đến lúc không thể kéo dài. Tình hình quân sự nầy buộc phải có một giải pháp chính trị là lần ký kết tại Genèva.

Hiệp Định được ký kết Ngày 20 Tháng 7 Năm 1954 mang chữ ký của Thứ Trưởng Quốc Phòng Tạ Quang Bửu thay mặt Tổng Tư Lệnh Quân Đội Việt Minh và Thiếu tướng Delteil, thay mặt Tổng Tư Lệnh Quân Đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương. Nhắc lại chỉ là Hiệp Định Đình Chỉ Chiến Sự 

#2- NL: Mời ông trình bày tiếp về phía quân đội Pháp. Do thời giờ giới hạn, xin ông chỉ nêu  những điểm chính của tình hình quân sự để quý KTG hôm nay, các thế hệ trẻ hiểu rõ tại sao, như thế nào đã xẩy ra ở Điện Biên Phủ mà hậu quả của chiến trận nơi nầy đã đưa đến lần ký kết Hiệp Định Genève, tiền đề cho lần chia đôi đất nước và những hệ quả sau nầy qua chiến chiến tranh trong giai đoạn sau 1960 với kết thúc của Ngày 30/4/1975

#2-PNN: Đến cuối năm 1953, Chiến Tranh Đông Dương lần Thứ Nhất đã kéo dài 8 năm, quân đội Pháp ở Đông Dương lâm vào thế bị động trên các chiến trường. Quân đội Việt Minh cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã chiếm giữ được nhiều khu vực rộng lớn ở Cao Nguyên Trung Phần; vùng Khu 5 gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.. thuộc miền Trung; các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn và nhiều khu vực ở đồng bằng Bắc bộ.

Trong ý niệm chiến lược kiểm soát đường giao thông nối vùng Thượng Lào với thượng du Tây-Bắc Việt Nam, đồng thời để làm bẫy nhử quân chủ lực Việt Minh tập trung trong một trận địa chiến lớn. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được thành hình án ngữ vùng núi rừng Tây-Bắc nước Việt mà theo quan niệm hành quân của bộ chỉ huy quân đội Pháp thì quân Việt Minh sẽ bị nghiền nát tại đây.

Xét về mặt quân số thì tỉ lệ phía Việt Minh tiến công so với phía Pháp phòng thủ chỉ là 3 đánh 1 tức là tỉ lệ bình thường của một cuộc bao vây công kiên chiến. Nhưng rõ ràng trận chiến đã kết thúc với thắng lợi của Việt Minh là do Tướng Navarre và Bộ chỉ huy quân đội Pháp đã mắc phải sai lầm chủ quan cơ bản khi tin chắc rằng Việt Minh không thể mở ra một trận đánh dài quá 7 ngày tại một địa điểm cách hậu phương Thanh Hóa từ 300 đến 500 cây số đường tiếp tế qua rừng sâu núi cao, và không thể nào đưa pháo nặng vào trận địa như quan niệm ban đầu của Trung Tá Piroth, chỉ huy pháo binh của Pháp. Nhưng cuộc thất trận ngày 7 Tháng 5 chứng tỏ phía Pháp đã hoàn toàn sai lầm. 

Trong tình thế quân sự chẳng đặng đừng chính phủ ở Ba Lê muốn tìm một giải pháp hòa bình có thể chấp nhận được để chấm dứt cuộc chiến đã quá sức chịu đựng nhưng vẫn muốn duy trì quyền lợi tại Đông Dương ở phần đất phía Nam VN, Miên Lào. 

#3- NL: Thưa ông Nam, bản thân ông cũng như hầu hết các vị khách của chương trình khi bàn về tình hình chính trị quân sự ngoại giao (không chỉ đối với riêng VN) mà toàn bộ khu vực Đông Nam Á, trên thế giới luôn đề cập đến Trung cộng trước đây hay hiện nay cũng vậy. Thế nên, mời ông nói về tác động, ảnh hưởng có tính quyết định của nhà nước Bắc Kinh ở thời điểm trận Điện Biên Phủ và lần ký kết Hiệp Định Genèva 1954…

#3- PNN: Ngày 10 tháng 10, 1953, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gởi công điện cho Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (Danh xưng chính thức của Đảng Cộng Sản Đông Dương sau lần giải tán tháng 11, 1945): “Năm 1950 chúng tôi đã đáp ứng đề nghị của các đồng chí lần lượt cử hai đồng chí La Quý Ba, Vi Quốc Thanh sang Việt Nam làm công tác giúp đỡ có tính chất cố vấn. Đồng thời quyết định Vi Quốc Thanh làm Tổng cố vấn quân sự phụ trách công tác giúp chỉ đạo chiến tranh và xây dựng quân đội Việt Nam. Đồng chí La Quý Ba làm Tổng cố vấn chính trị phụ trách công tác giúp xây dựng đảng, địa phương và chính sách”.

Ngày 12 tháng 1, 1954 Tướng Giáp và Tướng Vi Quốc Thanh đến quan sát chiến trường và nhận thấy kế hoạch “Đánh Nhanh-Thắng Nhanh” trong vài ngày không bảo đảm thắng lợi và vượt khả năng của bộ binh, pháo binh, lại gây ra những thương tổn quá mức chịu đựng đối với bộ đội cộng sản. Cuối cùng, Tướng Giáp sau một đêm không ngủ sáng 26 tháng 1, đã đi tới một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của ông qua thuyết phục sự đồng ý của Vi Quốc Thanh để thay đổi kế hoạch tác chiến thành “Đánh chắc/Thắng chắc”.

Về chính trị-ngoại giao, phái đoàn Trung cộng do Châu Ân Lai cầm đầu toàn quyền quyết định về vận mệnh chính trị Việt Nam ở Hội Nghị Genève.

#4-NL: Nếu không thể phủ nhận vai trò của Trung Cộng trong những quyết định đối với đảng và nhà nước cộng sản VN từ trước, sau 1954, thì vị thế của Mỹ đối với VN, vùng Đông Nam Á, lại là một thế lực mang tính quyết định đối trọng – Cụ thể tình thế VN suốt từ hậu bán thế kỷ 20 cho dến nay. Mời ông nói về thế và lực của Mỹ đối với Quốc Gia Việt Nam, VNCH trong giai đoạn trước, sau 1954, 1955… Cụ thể trong lần hình thành, thi hành Hiệp Định Geneva, 20/7/1954  

#4-PNN: Khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, 1945 thế giới buộc phải nhận hiểu ra nghĩa khổ đau của chiến tranh. Và những người cầm quyền của phần đông các quốc gia Đông-Tây kẻ thắng lẫn người bại hầu như đều có nổ lực chung để tránh nạn chiến tranh mà hậu quả sẽ là gánh nặng bi thảm vô vàn đối với mỗi dân tộc. Nhưng đất nước Việt Nam sau 1945 lại là diễn trường của những xung đột quyết liệt của các cường quốc!  Chiến tranh Việt Nam còn là điểm thoát hơi an toàn của tranh chấp thế giới qua thế trận chiến tranh lạnh vừa hình thành giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản dẫu cả hai đã một lần cùng nhau trong trận chiến chống phát xít của liên minh phe trục Đức-Nhật từ 1939 đến 1945.

Chiến Tranh Lạnh dần kết thành khi hai khối tư bản và cộng sản đều cùng thủ đắc một loại vũ khí giết người hàng loạt – Đấy là vũ khí nguyên tử mà nếu như chiến tranh bùng vỡ cả phe thắng lẫn bên thua đồng chịu chung tình thế bị hũy diệt toàn diện. Mối lo sợ về vũ khí nguyên tử buộc các siêu cường cụ thể Liên Xô và Mỹ phải thiết lập nên tương quan cân bằng nơi những vùng trái độn khắp thế giới. Và chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất nơi chiến trường Việt Nam đã được hiện thực từ tháng 12 năm 1946 dẫn đến kết thúc vào tháng 7, 1954 tại Hội Nghị Genève cùng lần đất nước qua phân.

Do không ký kết vào Bản Thông Cáo Chung lần kết thúc hội nghị, phái đoàn Mỹ do Bedell Smith làm trưởng đoàn phủ nhận việc tuân thủ thi hành. Cũng bởi, theo Điều 6 của Hiệp Định thì Vĩ Tuyến 17 chỉ là: “Giới tuyến quân sự có tính chất tạm thời, không thể coi là một ranh giới về chính trị hay về lãnh thổ”. Trong suốt hai thập niên sau năm 1954 chính quyền Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà vẫn luôn khẳng định: Đại diện hai quốc gia không hề ký nhận hiệp định nên không bị ràng buộc vào những điều khoản của hiệp định ấn định như việc thống nhất lãnh thổ qua hiệp thương bầu cử dự trù vào năm 1956.

Tuy nhiên, Quân Lực Mỹ nói chung, Hải Quân Mỹ nói riêng không thiếu lòng nhân ái đối với người Việt Nam tỵ nạn cộng sản. Bởi chính Người Lính Hoa Kỳ đã thực hiện cuộc không vận và hải vận lớn nhất thế giới trước sau thế chiến thứ hai để cứu nạn gần một triệu Người Việt ra đi từ miền Bắc. Và kỳ diệu cảm động thay, sau ngày 30 Tháng 4 năm 1975, những chiến hạm và không lực Hoa Kỳ lại đưa những người tỵ nạn Việt Nam rời khỏi nước trong một thời gian kỷ lục 48 giờ trước, sau lần Sàigòn thất thủ.

#5-NL: Chúng ta kết thúc buổi làm việc, trở lại đối tượng chính, cũng là nạn nhân của lần đất nước chia đôi bởi Hiệp Định 20/7/1954. Hiệp Định làm tiền đề cho một trận máu xương khởi động từ 1960 đưa tới biến cố sụp vỡ miền Nam 30 tháng 4, 1975 do, từ Hiệp Định Paris, 27/1/1973 mà Điều 1 của Hiệp Định Paris nầy cũng chính là Điều 1 của Hiệp Định Geneva 1954. Xin mời ông …

#5-PNN: Hội nghị Geneva kết thúc với điểm then chốt là đường ranh giới chia cắt hai miền Nam-Bắc Việt Nam cuối cùng đã được đồng thuận với Vĩ Tuyến 17 nằm dọc theo sông Bến Hải bắc Thị Xã Đông Hà thuộc Tỉnh Quảng Trị. Giữa những bàn cải quyết định vận mệnh Dân Tộc Việt chẳng một ai lý hội đến giọt nước mắt cay đắng của Ngoại Trưởng Nguyễn Quốc Định và lời tuyên bố phẫn nộ của Bác sĩ Trần Văn Đỗ trưởng đoàn đại diện chính phủ Quốc Gia Việt Nam khi phản đối sự phân chia đất nước bất kỳ nơi đâu. Bởi Ngoại Trưởng Định và Bác Sĩ Đỗ hẳn đã hình dung ra bi kịch của đất nước là khi chấm dứt một cuộc chiến bằng cách lập nên một vùng phi quân sự dọc theo một giới tuyến chỉ là cách thay đổi chiến tranh qua một hình thái khác, tạm thời đình hoãn để đến khi tái bùng nổ, cuộc chiến mới sẽ tạo nên những thảm cảnh tàn khốc đau thương gấp bội. Từ nhận định có tính chiêm nghiệm nầy, chỉ sáu năm sau Hội Nghị Geneva, chiến tranh tiếp bùng nổ trên quê hương, súng đạn bi kịch Việt Nam liền được tiếp nối tại một thời điểm với lần thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do mưu định, tổ chức, điều động của Bộ Chính Trị Đảng cộng sản tại Hà Nội, 20/12/1960.

#6- NL: Mời ông kết thúc câu chuyện hôm nay về một Mối Đau – Mối Đau Chung của toàn Dân Tộc VN – Mà Lịch Sử đã chứng minh không kẻ thắng người người thua trong trận máu xương kéo dài từ 19 tháng 12, 1946, tạm chấm dứt bởi Hiệp Định Genèva 1954 và thêm một lần gọi là “Tái lập Hòa Bình tại VN” qua Hiệp Định Paris 1973 đưa đến kết thúc tại Ngày 30/4/1975

#6-PNN: Sau 9 năm kháng chiến chống Pháp khởi từ đêm 19 tháng 12 năm 1946 với bao xương máu người Việt của hai bên, khi ký hiệp định ngưng chiến Đông Dương 20 tháng 7, 1954, đảng cộng sản Việt Nam trong thực tế đã tạo cớ cho Mỹ vào thế chân quân đội Pháp tại Đông Dương. Và kẻ được hưởng lợi lớn nhất lại chính là Trung Cộng vì bây giờ đã có thể nói chuyện với siêu cường Âu-Mỹ trên thế mạnh. Trong lúc thế nước lâm vào tình trạng vô cùng khó khăn và phức tạp, ngày 16 Tháng 6 năm 1954 Quốc Trưởng Bảo Đại đề cử ông Ngô Đình Diệm giữ chức thủ tướng Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam với toàn quyền hành động. Ngày 7 tháng 7 1954, Thủ Tướng Ngô chính thức nhậm chức ra mắt nội các đầu tiên tại Sàigòn, Bác Sĩ Trần Văn Đỗ được Thủ Tướng Diệm cử sang Genève cầm đầu phái đoàn Quốc Gia Việt Nam thay thế Ngoại Trưởng Nguyễn Quốc Định xác định thêm một lần chính sách không chấp thuận đối với bất cứ hình thức phân chia nào, quyết tâm giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam. Nhưng khi Ngoại Trưởng Đỗ đến Genève thì sự đã rồi hai phái đoàn Pháp và Việt Minh do xếp đặt có tính quyết định của Liên Xô, Anh Quốc và nhất là của Trung Cộng.

Chiến tranh Việt Nam sau khi TQLC Mỹ đổ quân lên Đà Nẵng 8/3/1965 mang hình thái khác với máu xương người Việt miền Nam tuông tràn trên đất khổ quê hương đưa đến kết thúc của ngày 30 Tháng 4, 1975 – Khi người Mỹ buộc VNCH ký kết Hiệp Định Ba lê 27/1/1973 với những điều khoản hoàn toàn bất lợi; Mỹ rút quân 60 ngày sau, hoàn tất, thực hiện Thông Cáo Thượng Hải 1972, nhường diễn trường Đông Nam Á lại cho Bắc Kinh – Tiền đề của biến động tại Biển Đông hôm nay trong Thế Kỷ 21. Hóa ra lịch sử hầu như chỉ là lần lập lại những bi thảm đau thương từ trước. Nỗi đau sau lớn hơn, nặng hơn lần trước gấp bội phần.

Ngoài ra có một yếu tố RẤT QUAN TRỌNG mà đến nay vẫn không mấy ai để ý (vì vẫn KHÔNG ĐƯỢC GIẢI MẬT) là Hội Nghị Liễu Châu (3-5/7/1954) là HỘI NGHỊ MẬT QUYẾT ĐỊNH nên vận mệnh VN qua ký kết 20/7/1954 tại Genèva, làm tiền đề cho chiến tranh VN sau nầy. Muốn nói phải có một buổi làm việc nhiều giờ khác.    

Cám ơn Quý KTG đã tham dự lần tường trình về một Mối Đau Chung. Kính cám ơn Người Lính Pnn.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment