Lỗi tại tôi mọi đàng

Lâm Chương

Post by Sơn râu 6 Jul 2026

Mùa xuân năm 85, tôi về quê. Quê tôi ở Gò Chùa, nằm trên liên tỉnh lộ, nhưng vẫn là nhà quê. Tôi bốn mươi ba tuổi, tóc đã có nhiều sợi bạc. Tôi không có tiền, không nghề nghiệp, sống nương tựa vào ba tôi.

Ba tôi bảy mươi hai tuổi, là người tàn phế. Ông mất cánh tay phải trong thời kỳ chiến tranh. Hiện nay, ông sống nhờ vào tiền của anh tôi, gởi về từ Canada. Số tiền này, chỉ đủ ăn tiện tặn. Muốn mua sắm những thứ lặt vặt trong gia đình, ba tôi nuôi heo nái, và nấu rượu. Nấu rượu không có lời, nhưng có hèm trộn chung với cám, làm thức ăn cho heo. Mỗi năm, bán được mấy lứa heo con, cũng được đồng ra đồng vào.

Hàng ngày, tôi đi quanh quẩn lối xóm, mặt mày ủ dột. Không nghĩ ra việc gì làm, để khỏi bám vào ba tôi. Tôi đói lắm. Đói nhiều năm, trước khi về đây. Tôi cần ăn mà mỗi lần bưng chén cơm, tôi như mắc nghẹn. Tôi còn đầy đủ tay chân, làm sao thanh thản nuốt miếng cơm của người cha già tàn tật?

Tôi đi ra đồng, lủi vào rẫy mía, hái những thứ rau sam, rau dệu mọc hoang. Gió lay cờ mía bay trắng đồng, vướng cả trên đầu, trên áo tôi. Loài chim sâu luýt chuýt kiếm ăn trong mía thấy có người, bay vụt lên. Lúc tôi chui ra, gặp ông cụ vác cuốc đi tới.

Cụ hỏi: “Làm gì trong ấy?”

Tôi cầm bó rau giơ lên.

Cụ nói: “Rau dại ư? Đứng đó.”

Cụ lủi ngay vào rẫy mía, lối tôi vừa chui ra. Cụ không tin tôi, muốn kiểm soát xem có cây mía nào bị bẻ trộm. Mặt tôi ra sao, mà ai cũng nghi ngờ trộm vặt? Tôi nghĩ, con người có cái vận. Khi vận mạt thì ám khí tràn lên làm con người bệ rạc, che lấp cái vẻ đường hoàng khả tín. Có phải mặt tôi tôi bây giờ như thế?

Cụ già chui ra, dịu giọng: “Lần sau, đừng vào rẫy.”

Tôi nín thinh bỏ đi.

Tôi đem rau về, giấu sau hè. Lúc ba tôi đi khỏi, tôi luộc rau ăn thêm. Nhiều lần như thế. Có lần ba tôi về bất ngờ, thấy tôi đang ngồi với rổ rau. Không giấu được nữa, tôi gượng cười. Ba tôi đứng sững nhìn tôi, rồi quay đi không nói gì.

Buổi tối. Dưới ngọn đèn dầu, ba tôi ngồi quấn thuốc rê. Ông xe tròn điếu thuốc trên mặt bàn, bằng bàn tay còn lại. Tôi ngồi trong góc tối, nhìn sự thiếu hụt một phần thân thể của ông. Tôi nghĩ, không phải chỉ có thế. Nó còn ảnh hưởng rất lớn đến sự thiếu hụt của tâm hồn, đưa đến buồn chán an phận một kiếp người.

Dì tôi đi ngủ rất sớm. Dì ngủ và thức cùng giờ với gà. Trời mới chạng vạng, gà đã vào chuồng. Ba bốn giờ khuya, gà gáy báo hiệu bình minh. Dì thức dậy, không để làm gì cả. Dì chong đèn ngồi lặng cho đến khi trời sáng. Tôi gọi mẹ kế bằng dì. Mẹ ruột tôi mất. Năm năm sau, ba tôi rước dì về làm vợ. Lúc đó, tôi mười ba tuổi. Dì ở với ba tôi, ba mươi năm không có con. Miệng đời xoi mói, rằng trước khi về với ba tôi, dì đã lang chạ với nhiều đàn ông. Dì ít nói đến độ tôi không biết tình cảm của dì ra sao. Dì không nói câu gì làm tôi buồn, cũng không tỏ thiện cảm với tôi.

Tôi về hai mươi mốt ngày, ba tôi bán lứa heo con. Tiền bán heo, cất trong tủ. Xâu chìa khóa treo ở cây đinh, khuất sau tủ.

Mấy ngày sau, ba tôi nói: “Tiền bán heo mất sạch rồi.”

Dì nhìn tôi, dò xét.

Tôi không biết nói sao, bỏ ra ngoài hiên, ngồi hút thuốc. Dưới chân tôi, những con kiến đen đi tìm mồi. Nắng xế chiều xuân gay gắt lắm. Trời cao và xanh, gợn vài cụm mây nhỏ. Nỗi đời hốt biến như mây chó.

Một bà quảy gánh đi ngoài đường, hỏi vọng vào: “Có đồ gì cũ, bán không?”

Tôi nói: “Có tôi. Mua tôi không?”

Bà nhìn tôi: “Mặt không đáng đồng xu.”

Tôi chợt nhớ có mấy cái muỗng nĩa bằng inoque và đôi dép nhựa đứt quai.

Tôi gọi: “Bà ơi, vào đây.”

Bà cầm muỗng nĩa lên coi: “Tất cả mười đồng.”

Tôi nói: “Mười lăm.”

Bà quảy gánh lên vai.

Tôi nói: “Mười đồng, lấy đi. Còn đôi dép?”

Bà nói: “Cho thì lấy. Không mua.”

Tôi cất tiền trong túi, bâng quơ nhìn đàn gà bươi dưới gốc hàng rào cây dâm bụt. Nhà đang dọn cơm chiều. Tôi bỏ đi lang thang. Chiều tối mịt, tôi ghé quán cà phê. Cà phê sữa, mười hai đồng. Cà phê đen, tám đồng. Tôi uống cà phê đen. Dư hai đồng, tặng luôn cho cô gái chạy bàn. Quán vắng. Bóng đèn nhỏ bằng đầu ngón tay, dùng điện bình acquy, ánh sáng mờ mờ buồn thảm. Tôi ngồi im lặng. Ly cà phê đã hết từ lâu. Tôi ngồi im lặng như thế, thật lâu. Buồn tay, tôi quậy chiếc muỗng chạm lanh canh trong cái ly không.

Cô gái hỏi: “Chú dùng thêm gì?”

Tôi lắc đầu.

Cô lại hỏi: “Có phải chú là cái chú gì cải tạo mới về đó không?”

Tôi nói: “Phải rồi.”

“Được về thì mừng. Sao chú buồn?”

Tôi nói một câu rẻ tiền: “Đời chẳng có gì vui.”

Nói xong, tôi chào cô gái và ra khỏi quán.

Ba tôi ngồi ngoài hiên chờ tôi về. Đèn trong nhà hắt sáng yếu ớt sau lưng, làm khuôn mặt ông tối hẳn, như cái bóng đen in trên nền phong hư ảo.

Ba tôi nói: “Còn chừa phần cơm cho con.”

Tôi đói lắm, nhưng nói: “Con không đói.”

“Con đừng làm thế. Ba không nghi cho ai cả.”

Tôi nghĩ, thân phận tôi, ai cũng nghi ngờ là kẻ gian. Chỉ có ba tôi tin tôi.

Ba tôi nói tiếp: “Ba đã biết người lấy tiền.”

Tôi nghĩ, ba tôi hiểu tôi là đủ rồi.

Ba tôi kể: “Ba dời cái ổ gà đẻ, phát giác ra số tiền cất giấu dưới đáy ổ gà. Dì con nói, ăn ở với ba không có con. Sợ khi chết không ai lo, nên tự lo trước cho mình. Dì con muốn mua bộ táng đá xây mả.”

Tôi gục đầu. Xót cho ba tôi. Xót cho Dì. Xót cho tôi. Ai cũng muốn làm người tốt, hoàn cảnh cứ xô vào ngõ cụt.

Ba tôi, và tôi ngồi đấy. Đêm xuân mà đất trời mờ mịt, oi bức. Muỗi bay vo ve bên tai. Ngoài đường, toán du kích xã đi tuần ngang qua. Họ cười nói oang oang. Súng đạn khua lách cách. Có tiếng chó sủa bên nhà hàng xóm.

Tôi nói: “Con muốn gặp Minh, giải quyết vấn đề một lần cho xong.”

Ba tôi nói: “Đừng. Thằng bồ của nó sẽ đưa con vào tù đấy.”

“Con không làm điều gì rắc rối.”

“Cũng đừng. Ngày con đi tù, nó còn trẻ quá không chờ được. Không phải lỗi tại nó đâu.”

Không phải lỗi tại nó đâu. Lỗi tại ai? Tôi hỏi lòng tôi như thế. Đêm xuân mà đất trời mờ mịt. Tôi dõi mắt nhìn xa hơn, chỉ thấy mờ mờ như ảo giác. Tất cả đều là ảo giác, là phù du, kể cả đời này.

Ngày mồng tám tháng ba, Dì tôi làm bữa ăn ngon. Thịt cá rau cải chiên xào đầy đủ. Dì không tuyên bố một lời.

Ba tôi nói: “Hôm nay, mừng tuổi sáu mươi tư cho dì của con.”

Tôi nắm hai bàn tay, đưa lên trán rất trịnh trọng: “Con chúc dì sức khỏe tốt, sống lâu trăm tuổi.”

Dì nói: “Già quá, chỉ khổ thân. Lúc nào mắt lòa tai điếc, chết đi là vừa.”

Tôi ăn, và nghĩ đến những điều giả dối. Mọi người rõ mặt nhau, mà không rõ lòng nhau. Tội nghiệp dì tôi. Sáu mươi tư tuổi, dì vẫn cô đơn khép kín trong nhà này. Ba tôi cũng cô đơn bên người đàn bà khép kín. Tôi thì quá đau khổ hận đời. Bộ mặt lầm lì, còn gần gũi được với ai?

Chúng tôi đang ăn, có anh du kích đứng trước cửa, hỏi lớn: “Ở đây có ai tên Lâm?”

Ba tôi buông đũa đi ra: “Nó là con tôi. Có chuyện gì không?”

Du kích chìa tờ giấy: “Có giấy mời lên xã.”

Ba tôi cầm tờ giấy quay vào, thắc mắc: “Không biết chuyện gì?”

Tôi nói: “Chuyện gì cũng vậy thôi.”

Ba tôi nói: “Đụng tới bọn này phiền lắm.”

Từ lúc nhận giấy mời, bữa ăn mất ngon. Dì tôi không nói câu gì.

Tôi lên xã, và trở về chuẩn bị ngày mai đi công tác thủy lợi.

Ba tôi hỏi: “Tù mới về, còn trong thời hạn quản chế. Sao bắt đi thủy lợi?”

Tôi nói: “Mỗi địa phương có một ông vua con, áp dụng luật rừng xanh.”

Ba tôi than: “Toàn là luật lệ chết người.”

Tôi nói: “Trong tù lao động, có cơm tù. Về đây lao động, lấy gì ăn?”

Ba tôi lặng lẽ vào nhà bếp, xúc cho tôi bọc gạo, gói vài con cá khô, nhét chút tiền đi xe.

Tôi ngồi xe Lam đi Bến Mương, lội bộ hơn cây số đường đất là vào tới chỗ công tác thủy lợi. Nhiều người đến trước, đang dọn chỗ trong căn nhà trống. Có lẽ xưa là nhà hội của dân Bến Mương. Phía trái cách căn nhà vài chục bước có cây đa già, độ tuổi cũng trăm năm. Tàng cây cao rộng, phủ một vùng bóng lớn. Trên nhánh cây thòng xuống những rễ phụ, đâm xuống đất. Nhiều rễ lâu năm, to bằng cột nhà.

Toán thủy lợi gồm hai mươi tám người. Đàn ông đàn bà, già trẻ đủ mặt. Toán chia làm hai nhóm. Mỗi nhóm có một nhóm trưởng. Tôi bốn mươi ba tuổi, già nhất, được chỉ định làm toán trưởng. Làm toán trưởng cũng là làm chơi thôi. Mọi sự đôn đốc kiểm soát đã có đốc công. Bốn đốc công, coi hai mươi tám người. Lại có thêm một đốc công trưởng, coi bốn đốc công. Ông này có súng K54, mang bên hông rất oai. Tổ chức chặt chẽ qua nhiều tầng lớp kiểm soát, nhưng khi bắt đầu làm việc thì tất cả đốc công đều vắng mặt. Họ vào xóm Bến Mương, ăn nhậu hoặc tán gái. Chúng tôi cầm xẻng cuốc đứng dưới hào, thỉnh thoảng hất một xẻng đất lên, vá những chỗ đê vỡ. Làm việc ầu ơ lấy có. Phần lớn thì giờ là nói chuyện tầm phào, kể chuyện tiếu lâm. Mấy chị đàn bà rất thích nghe chuyện tục. Họ cười nhiều nhất.

Đến trưa, mọi người tự động ngưng làm, vào nấu ăn. Gạo để chung, đồ ăn chung. Đàn bà lo nấu nướng. Đàn ông ngồi hút thuốc tán gẫu, chờ cơm.

Tôi mắc võng vào hai chiếc rễ phụ của cây đa, tránh sự ồn ào trong căn nhà trống.

Một chị nói: “Nằm đây nguy lắm. Cây này có nhiều rắn lục.”

Tôi nói: “Chỉ nằm nghỉ trưa.”

“Ừ. Ban đêm thì không nên.”

Buổi chiều. Hai mươi tám người ra đê, chống cuốc xẻng phơi nắng vài tiếng đồng hồ, lại vào nghỉ.

Sau một ngày rong chơi, các đốc công trở về. Có người nồng hơi rượu. Họ ra đê kiểm soát công việc.

Lúc trở vào, có người nói: “Thời gian có hạn. Bà con làm thế thì bao giờ cho xong? Mai cố gắng lên nhé.”

Một chị trẻ, trề môi: “Đợt này không xong. Đợt sau làm tiếp.”

Anh đốc công đi lại, vỗ vào đít chị trẻ: “Lắm lời chanh chua cong cớn này!”

Chị trẻ vênh mặt: “Thì sao?”

Anh đốc công cười hì hì, cúi sát mặt chị trẻ: “Tối nay phạt cái tội lười biếng.”

Chị khác xía vào chuyện: “Mười người như anh, nó cũng không sợ.”

Anh đốc công hỏi: “Em sợ không?”

Chị nói: “Cỡ anh, tôi chấp hai chục.”

Bọn đàn ông vỗ tay cười đùa.

Cơm chiều xong. Những anh đốc công theo tán tỉnh mấy chị đàn bà. Vài chị đi với họ suốt đêm. Số còn lại, ngủ trong căn nhà trống.

Nhiều đêm khó ngủ, tôi thấy có kẻ lén chui vào mùng người khác. Có một cặp, đêm nào cũng dìu nhau ra gốc cây đa. Vài hôm sau, tôi biết chị đàn bà dọa tôi có rắn lục, là người được dìu ra gốc cây đa, lúc nửa khuya. Chị không sợ rắn lục.

Gần sáng. Tiếng gà gáy vẳng lại từ xóm Bến Mương, là lúc những kẻ lộn sòng trở về đúng vị trí của mình. Công việc thủy lợi lại bắt đầu, như mọi ngày bình thường.

Ngày thứ mười lăm, ông đốc công trưởng tuyên bố: “Hôm nay là ngày cuối cùng, tôi cho bà con nghỉ việc buổi chiều. Trước khi chia tay, tôi đề nghị bà con tùy khả năng mỗi người, đóng góp chút tiền hùn mua vài con gà và lít đế, làm tiệc liên hoan mừng công tác tu sửa hệ thống thủy lợi, đã tiến hành thuận lợi và hoàn tất tốt đẹp. Có ai có ý kiến gì không?”

Mọi người vỗ tay tán thành lời đề nghị văn hoa của ông đốc công trưởng.

Kiểm lại số tiền đóng góp xong, ông chỉ định: “Anh toán trưởng đi mua gà với tôi.”

Tôi nói: “Vâng.”

Trên đường vào xóm Bến Mương, ông đốc công trưởng nói: “Anh ít nói nhỉ?”

Tôi trả lời: “Tôi không có gì để nói.”

Chúng tôi hỏi mua gà nơi nhà của một người quen với ông đốc công trưởng. Ông gọi người này là anh Sáu Lự. Anh Sáu Lự bảo vợ lo bắt gà. Chị Sáu Lự ra sân rải thóc, chu miệng gọi gà: “Chúc chúc chúc…”

Đàn gà đang kiếm ăn rải rác ngoài vườn, nghe tiếng gọi, chạy về mổ thóc trên sân. Có con gà trống lớn không lo ăn, chỉ lo dụ khị con gà mái tơ để đạp mái. Sau khi thỏa mãn, nó vỗ cánh, vươn cổ gáy ò ó o ò o…

Ông đốc công trưởng cười nhìn chị Sáu Lự, và bắt chước giọng gà: “Ò ó o ò o… Đời có thế mà thôi.!”

Chị Sáu Lự cũng cười, mắng: “Đồ quỷ quái!”

Quả thật là đồ quỷ quái. Đời có thế mà thôi. Sao tôi cứ loay hoay buồn rầu khốn khổ với đời?

Sau đợt công tác thủy lợi. Tôi về vẫn y như tình trạng cũ. Buồn nản. Quẫn trí.

Ba tôi đưa bộ truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung, bảo: “Đọc đi.”

Tôi nói: “Còn tâm trí đâu mà đọc.”

“Thằng Lệnh Hồ Xung bị cả hai phái hắc bạch giang hồ chối bỏ, đến nỗi phải than trời đất mênh mông mà ta không còn chỗ dung thân, nhưng cuối cùng nó cũng đâu có chết.”

“Chuyện hư tưởng, đọc để mua vui. Không thể lẫn lộn giữa thực và mộng.”

“Không sống với thực được, thì trốn vào mộng. Đau khổ mãi ích gì?”

“Con đang suy tính một việc làm.”

Ba tôi bảo: “Hãy viết thư sang Canada cho anh con.”

Tôi nói: “Người ta chỉ giúp ngặt, không giúp nghèo.”

“Đây là lúc ngặt của con.”

Ông đưa giấy bút cho tôi. Tôi viết:

Ấp Gò Chùa ngày… tháng… năm…

Kính gởi anh chị Hai,

Trước tiên, em có lời thăm anh chị và chúc sức khỏe. Ở nhà, Ba và Dì vẫn khỏe. Vẫn nuôi heo, nấu rượu bình thường. Sau đây, em xin nói về phần em. Em đi cải tạo mười năm, có tiến bộ về mặt tư tưởng. Được Đảng và nhà nước khoan hồng cho về với gia đình, góp phần xây dựng xã hội mới. Hiện tại, em chưa được bố trí việc làm. Vì vậy, đời sống chưa được đảm bảo tốt. Em mong anh chị vì chút tình ruột thịt mà giúp cho em một số tiền để sống, và chờ đợi…

Một lần nữa, em xin chúc anh chị bình yên, vui tươi, hạnh phúc.

Giấy ngắn tình dài, em xin dừng bút tại đây.

Em của anh chị.

(Ký tên)

Tái bút: Vợ em thì coi như diều đứt dây rồi. Không còn gì để nói.

Tôi đưa lá thư cho ba tôi đọc lại. Đọc xong, ông vò lá thư, ném vào lò nấu cám heo.

“Nó sợ Đảng và nhà nước, mà bỏ chạy. Viết thế này thì một xu cũng không được.”

Tôi lặng người. Có một nỗi gì thấm thía của gã ăn mày bị từ khước.

Lúc ấy, dì tôi đi đâu bên ngoài vừa về tới.

Dì nói: “Cô Bảy Mỹ Quang nhắn con sang nhà, bàn chuyện gì đấy.”

Cô Bảy là em họ của ba tôi. Trước kia, cô là chủ tiệm Mỹ Quang buôn bán đồ điện ở Sài Gòn. Sau hai đợt đánh tư sản mại bản, cô sạt nghiệp phải lui về Gò Chùa, làm bún kiếm ăn qua ngày. Con trai của cô, làm ở Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, đi cải tạo chưa về. Còn đứa con gái theo chồng vượt biên, biệt tăm luôn. Nhiều người cho rằng, vợ chồng con gái của cô đã chui vào bụng cá mập.

Cơm chiều xong, tôi sang nhà cô Bảy. Dượng Bảy lúi húi nấu nước pha cà phê.

Cô Bảy nói: “Con được về là gia đình mừng. Nhưng ba và dì của con cho biết, con mặc cảm có ăn mà không có làm. Cô có công việc cho con.”

Tôi mừng, đợi nghe cô nói tiếp. Dượng Bảy đem hai ly cà phê đặt lên bàn. Dượng cười. Hàm răng cửa chỉ còn mấy chiếc chơ vơ thảm hại.

Dượng nói: “Con phụ làm bún với dượng.”

Tôi nhận lời ngay. Đối với tôi bây giờ, việc gì cũng được.

Buổi sáng. Cô Bảy ngồi bán bún ở chợ. Tan chợ, cô gánh bún đi lòng vòng lối xóm, đổi gạo. Dượng Bảy và tôi ở nhà xay bột, bồng bột.

Buổi chiều. Cô Bảy về nhà, Dượng và tôi lại nhồi bột, nắn lại từng khối tròn như trái banh. Luộc bột trong một cái trả lớn. Cô Bảy vớt khối bột ra, cho vào cối. Dượng và tôi chèo bột, dùng sức đến đổ mồ hôi. Rồi nắn bột thành những khối hình trụ, cho vào cối ép thành sợi. Việc này, cần sức nặng mà Dượng và tôi đều ốm nhom, phải bê thêm cái cối dằn lên cho tăng phần trọng lượng. Sợi bún chảy xuống nồi nước đang sôi. Lại trút bún ra, cho vào nước lạnh. Cô Bảy vớt con bún rê thành từng lọn, là lúc dượng và tôi ngồi thở. Sau đó, tôi gánh nước luộc bột về cho ba tôi nuôi heo. Ít ra, trong nước luộc cũng còn vương chút bột, góp phần làm con heo mau lớn. Công việc loay hoay mệt nhọc như thế, xong xuôi vào lúc nhà lên đèn.

Cô dượng làm bún chỉ đủ ăn. Tôi làm bún để có ăn, không có lương. Lâu lâu, cô Bảy cho bánh thuốc rê, và cuộn giấy quyến.

Mấy hôm nay, có gánh hát Cải Lương Hồ Quảng ghé xã. Cô Bảy cho tiền bảo tôi đi coi. Tôi đi trong màu trăng. Bầu trời trong vắt, và trăng sáng lắm. Bóng tôi in trải trên đường. Chỉ mình tôi với bóng. Buồn và cô đơn khủng khiếp. Tôi đi đến chỗ có ánh đèn điện sáng choang, người người đông đảo lao xao. Hội trường được che chắn chung quanh làm rạp hát. Phía trước, dựng lều căng bạt, bán cà phê, nước giải khát, bánh kẹo, thuốc lá và thức ăn. Người ta chen chân nhau vào cửa rạp. Tôi không muốn vào. Tôi đi loanh quanh. Lòng tôi nguội lạnh, lẻ loi. Cuối cùng, tôi ngồi dưới một mái lều bán cà phê. Cô bán hàng là người quen, tên Giang. Giang là bạn của vợ tôi. Trước kia, Giang làm ở Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam. Thời thế thay đổi, Giang đem con về sống ở quê. Chồng Giang vượt biên sang Mỹ, nghe đâu đã có vợ khác rồi.

Giang bưng cà phê cho tôi, rồi ngồi ở phía sau chiếc bàn bày hàng.

Giang hỏi: “Anh về có khỏe không?”

Tôi nói: “Khỏe.”

Giang lại hỏi: “Có gặp chị Minh không?”

Tôi lắc đầu: “Thuộc về quá khứ rồi. Gặp làm gì nữa.”

“Chị Minh cũng vì hoàn cảnh.”

“Một trăm người đàn bà phụ bạc, cũng đổ thừa hoành cảnh. Chồng em có liên lạc về không?”

Mắt Giang thoáng chút xa xôi buồn bã: “Coi như nước xuôi ra biển, không trở lại nguồn.”

Tự nhiên tôi thấy tội nghiệp Giang hết sức. Tôi nghĩ, tôi với Giang là người đồng cảnh, dễ tội nghiệp cho nhau.

Tôi hỏi: “Em dọn hàng về lúc nào?”

Giang nói: “Thưa người là em dọn.”

“Đồ đạc nhiều quá, làm sao một mình em đem hết?”

“Em đem làm hai lần.”

“Anh sẽ phụ với em. Một lần là xong.”

Giang ngại: “Có phiền anh không?”

“Phiền gì? Anh cũng đang rỗi rảnh.”

Có mấy người khách ngồi vào bàn cà phê. Giang lo tiếp khách. Tôi đứng dậy bỏ đi. Tôi đi vòng ra phía sau hội trường. Có những cặp tình nhân đứng nép vào nhau, dưới những gốc cây. Tôi nghĩ, ở đâu người ta cũng có thể nói chuyện tình yêu. Cái thứ tình cảm quỷ quái này, nó đánh lừa tất cả. Mới đầu tưởng nó là hạnh phúc, nhưng sau đấy là thất vọng chán chường đau khổ. Tôi cũng thế, tôi cũng bị lừa.

Khi tôi quay lại chỗ Giang. Giang nói: “Tối nay em nghỉ sớm.”

Tôi phụ Giang xếp những đồ đạc lên xe ba gác. Một xe cồng kềnh đầy nhóc.

Tôi hỏi: “Còn cái bàn, chắc phải đi thêm chuyến nữa?”

Giang nói: “Để lại. Ngày cuối cùng dỡ lều, sẽ đem về luôn.”

Giang cầm càng xe. Tôi đẩy ở phía sau. Trên đường về, trăng sáng lắm. Dọc đường, Giang kể về cuộc sống vất vả sau ngày chồng bỏ đi. Tôi kể chuyện làm bún. Giang đùa, rằng tôi có cái tướng của ông chủ lò bún tương lai. Giang và tôi cùng cười. Nói chuyện với Giang, tôi nghe lòng mình ấm lại.

Đến nhà, Giang bảo: “Để nguyên như thế. Cho cả chiếc xe vào nhà. Mai lại đem đi.”

Tôi đứng tần ngần. Nửa muốn nán lại, nửa muốn về.

Giang đến gần tôi, hỏi nhỏ: “Có ai chờ anh ở nhà không?”

Tôi nói: “Không.”

Giang nói như nói thầm: “Thế thì nghỉ lại đây với em.”

Tôi quàng vai Giang.

Giang vùng ra: “Cho em đi tắm.”

Tôi ra đứng ngoài sân, nghe tiếng giội nước sau hè. Tôi hình dung ra thân thể nở nang của người đàn bà một con, da thịt trắng ngần loang loáng nước, dưới trăng. Tôi háo hức đợi chờ. Lúc sau, tôi bước vào nhà. Giang mặc áo cánh mỏng, đang lúi húi khơi lại ngọn đèn. Tôi ôm ghì lấy Giang.

Giang nói: “Từ từ, anh…”

Tôi thổi tắt phụt ngọn đèn, dìu Giang đến chiếc giường, nơi có ánh trăng mờ mờ xuyên qua đầu hồi. Tôi ôm Giang, vuốt ve hôn hít. Giang thở dồn dập. Tôi cũng thở dồn dập.

Bỗng Giang kêu lên nho nhỏ: “Em biết tại sao chị Minh bỏ anh rồi.”

Tôi hoảng hốt: “Không phải thế đâu.”

Giang vùng dậy, thắp đèn: “Em xin lỗi. Khuya lắm rồi, anh về đi.”

Tôi đi về trong đêm trăng sáng. Trời không sương mà vai tôi lành lạnh. Khuya vắng đến rợn người. Tôi nghe rõ cả tiếng côn trùng rên rỉ. Buồn và cô đơn khủng khiếp. Đời vẫn dành cho tôi nhiều ưu ái. Tại tôi làm hư việc. Lỗi tại tôi mọi đàng. Tôi đi. Bóng tôi in trải trên đường. Chỉ mình tôi với bóng.

Hải Quân Trung tá Long Tran, Chỉ huy trưởng Trung tâm yểm trợ tiếp vận Hải quân Hoa Kỳ tại Yokosuka, Nhật Bản

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on July 5, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 6 Jul 2026

HQ Trung tá Long Tran phát biểu trong buổi lễ nhận quyền chỉ huy Trung tâm yểm trợ tiếp vận quốc phòng Hải quân Hoa Kỳ tại Yokosuka, Nhật Bản (hình của Masuyoshi Tomo, Bộ chiến tranh Hoa Kỳ).

Hải Quân Trung tá Long Tran* được bổ nhiệm giữ chức Chỉ huy trưởng Trung tâm yểm trợ tiếp vận quốc phòng Hải quân Hoa Kỳ tại Yokosuka, Nhật Bản ngày 16 tháng 6 năm 2026. Ông thay thế HQ Trung tá Daniel Moldonado III hoàn thành nhiệm kỳ chỉ huy và được thuyên chuyển nhận nhiệm sở mới. Buổi lễ nhận quyền chỉ huy diễn ra trang nghiêm và long trọng dưới sự chủ toạ của Chuẩn tướng Lục quân Kevin Cotman, Chỉ huy trưởng, Bộ chỉ huy tiếp liệu quốc phòng (DLA Distribution) tại New Cumberland, Pennsylvania

Bộ chỉ huy tiếp liệu quốc phòng là Cơ quan cung cấp dịch vụ lưu trữ và phân phối chung của Bộ Quốc phòng. Cơ quan này quản lý chuỗi cung ứng toàn cầu, bao gồm tiếp liệu, lưu trữ và vận chuyển các bộ phận và thiết bị quân sự, hợp tác chặt chẽ với các hoạt động của Hạm đội Hải quân Hoa Kỳ tại các Trung tâm lớn như Norfolk, VA và San Diego, CA. Đối với các hoạt động đặc thù của Hải quân Hoa Kỳ, DLA dựa vào các trung tâm phân phối chuyên biệt được đặt ở vị trí chiến lược gần các hải cảng Hải quân lớn. Trung tâm yểm trợ tiếp vận quốc phòng Hải quân tại Yokosuka, Nhật Bản yểm trợ Đệ Thất Hạm đội Hải quân Hoa Kỳ tại Tây Thái Bình Dương bằng cách cung cấp dịch vụ tiếp liệu và phân phối thiết bị tiền tuyến.

Thuỷ thủ đoàn Trung tâm yểm trợ tiếp vận Hải quân Hoa Kỳ tại Yokosuka, Nhật Bản chào đón Tân Chỉ huy trưởng, HQ Trung tá Long Tran (hình của Masuyoshi Tomo, Bộ chiến tranh Hoa Kỳ).

HQ Trung tá Long Tran là cư dân Houston, Tezas, ông tốt nghiệp Trường Sĩ quan Hải quân OCS (Navy’s Officer Candidate School) năm 2009. Sau đó ông thụ huấn tại Trường tiếp vận Hải quân (Navy Supply Corps School) và trở thành Sĩ quan tiếp liệu ngành tiếp vận Hải quân (Supply Corps, United States Navy). Là một Sĩ quan ngành tiếp vận Hải quân, HQ Trung tá Long Tran lần lượt phục vụ trên các Khu trục hạm, Tuần dương hạm, Hàng không mẫu hạm, Căn cứ yểm trợ tiếp vận Hải quân, Bộ Chỉ huy quân số Hải quân, và hiện nay, Chỉ huy trưởng Trung tâm yểm trợ tiếp vận Hải quân Hoa Kỳ tại Yokosuka, Nhật Bản.

Các đơn vị HQ Trung tá Long Tran được chỉ định và bổ nhiệm phục vụ bao gồm: Tháng 1 năm 2010, HQ Trung tá Long Tran được chỉ định làm Sĩ quan phụ tá tiếp liệu trên Khu trục hạm USS HOPPER (DDG 70). Sau nhiệm kỳ phục vụ trên trên Khu trục hạm USS HOPPER (DDG 70), ông được chỉ định phục vụ tại Trung tâm yểm trợ tiếp vận quốc phòng ở Philadelphia, PA với chức vụ chuyên gia hợp đồng từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 2 năm 2015.

Tháng 7 năm 2015, HQ Trung tá Long Tran giữ chức Sĩ quan tiếp liệu trên Tuần dương hạm USS LEYTE GULF (CG 55) đến tháng 11 năm 2017. Sau đó ông tu nghiệp tại Trường hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School) từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019. Từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019, HQ Trung tá Long Tran phục vụ tại Trung tâm tiếp vận Hạm đội NAVSUP ở Yokosuka, Nhật Bản, ông được bỗ nhiệm làm Chỉ huy trưởng tiếp vận khu vực.

Từ tháng 7 năm 2021 đến tháng 7 năm 2023, HQ Trung tá Long Tran giữ chức Sĩ quan phụ tá tiếp vận chính về tiếp liệu trên Hàng không mẫu hạm USS RONALD REAGAN (CVN 76). Đến tháng 8 năm 2023, ông được điều về Bộ Chỉ huy quân số Hải quân đảm nhận nhiệm vụ Sĩ quan cố vấn ngành tiếp vận Hải quân. Tháng 6 năm 2026, ông được bổ nhiệm chúc Chỉ huy trưởng Trung tâm yểm trợ tiếp vận Hải quân Hoa Kỳ tại Yokosuka, Nhật Bản.

HQ Trung tá Daniel Moldonado III, Chuẩn tướng Lục quân Kevin Cotman và HQ Trung tá Long Tran (hình của Masuyoshi Tomo, Bộ chiến tranh Hoa Kỳ)

HQ Trung tá Long Tran tốt nghiệp Đại học Houston (University of Houston) với văn bằng Cử nhân quản trị kinh doanh, năm 2003; Và hoàn tất Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh, Trường hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School), năm 2019; Ngoài ra, ông còn thụ huấn và tu nghiệp tại Trường Tiếp vận Hải quân (Navy Supply Corps School), Sĩ quan chuyên nghiệp ngành tiếp vận hàng không Hải quân và tiếp vận Hạm đội trên mặt biển (Naval Aviation Supply Officer, Surface Warfare Supply Corps Office) và là thành viên của Cục mãi dịch Bộ quốc phòng. Ông được ân thưởng các loại huy chương: 1 huy chương Joint Service Commendation Medal; 3 huy chương Navy Commendation Medal; 2 huy chương Navy Achievement Medal; và các loại huy chương chiến dịch bội tinh, và huy chương cấp đơn vị.

HQ Trung tá Long Tran là một trong những Trung tá ngành tiếp vận Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt, những vị Trung tá gốc Việt khác được ghi nhận sau đây: HQ Trung tá Nguyen Phu Quy; HQ Trung tá Nguyen Tony Nhat; HQ Trung tá Ta Phuong Anh Chau; HQ Trung tá Chu Calvin Thanh Hoang; HQ Trung tá Bach James Donald; HQ Trung tá Nguyen Thuy Le Thanh; và HQ Trung tá Chau Huu Hanh, sau lên Đại tá nay đã hồi hưu. Theo tài liệu lưu trữ trên trang nhà mynavyhr.navy.mil và Congress.Gov thì có trên 60 HQ Trung tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Hải quân Hoa Kỳ, không tính những vị đã về hưu, cũng như được thăng cấp Đại tá, trong số đó có nhiều nữ HQ Trung tá gốc Việt.

Chúc HQ Trung tá Long Tran thăng tiến hải nghiệp.

Chú thích: *Ghi theo họ và tên từ tài liệu (họ và tên Việt Trần Kim Long); **Hải quân Trung tá=Navy Commander.

Nguồn: facebook.com/DLADistribution; dla.mil; NAVSUP-October 2023; linkedin.com; bienxua-12 Hải Quân Thiếu tá Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung tá năm 2022.

Đi và về

Huy Phương

Post by Sơn râu 6 Jul 2026

Hiện chúng ta rất khó xác định nghĩa của hai tiếng “đi” và “về.” Trở lại nơi mà chúng ta đã từ đó ra đi, hẳn là về. Nhưng nếu một gia đình sau khi ở Việt Nam vài tuần, đang sửa soạn hành lý ra sân bay, thì câu nói của chúng ta là: “Anh chị về Mỹ bình an!” mà không ai nói đi … Mỹ. Vậy thì đi đâu mà về đâu, hắn nghĩa của hai tiếng “đi” và “về,” chẳng giống nhau!

Khi đi thì “ … cột đèn biết đi cũng đã ra đi”, lén lút, hiểm nguy, chia lìa, vô định; khi về thì tấp nập, ồn ào, hể hả. Mấy ai nghĩ đến sự nghịch lý của chuyện đi và về. Tết năm 2008, chính phủ Việt Nam loan báo có hơn 350,000 Việt Kiều (phải hiểu là người Việt ở ngoại quốc) về ăn Tết. Con số này càng ngày càng tăng theo thời gian mà không hề giảm sụt. Lý do người chưa về lần nào, thấy nhiều người về thì mạnh dạn về theo, người về rồi thấy vui, “có tiền” thì về nữa, như lời “Ngài Chủ Tịch Nước” nhắc nhở : “Ai chưa về thì về, ai về rồi thì về nữa!” Trong số người “có tiền” này có những người nhận tiền trợ cấp dưới danh nghĩa tị nạn, từ ngày đặt chân ướt lên Mỹ, Canada, Úc hay Âu Châu cho đến hôm nay. Người tị nạn là người chạy trốn qua một xứ khác, nơi khác để thoát cảnh hiểm nguy, ngược đãi, hoặc bắt bớ bởi một quyền lực ở chốn cư ngụ. Căn cứ vào bằng chứng xác thực việc bị CS cầm tù trong nhiều năm, những người cựu tù nhân chính trị được toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan cấp visa cho vào định cư tại Mỹ dưới danh nghĩa tị nạn. Còn tất cả những người vượt biển, vượt biên khác, muốn được chấp nhận cho định cư đều phải kê khai trên giấy tờ hay qua một cuộc phỏng vấn của nhân viên Cao uỷ Tị Nạn LHQ về lý do họ phải bỏ nước ra đi đến đây. Không như những người về ăn Tết ở trong nước, ở ngoại quốc kể cả Mỹ, Úc, Tây, Gia Nã Đại, người Việt về quê ăn Tết đều dùng máy bay. Vé máy bay đi Việt Nam vào những dịp Tết Nguyên Đán có khi đắt gấp đôi ngày thường mà người ta vẫn chen chúc và vẫn có tiền đi, mua chậm thì hết vé. Người Việt ở tại các nước phương Tây sau biến cố tháng 4-75 là “định cư”, có hẳn quốc tịch, đã trở thành công dân của các nước này rồi, chứ không phải là người đi làm ăn xa, hay trú ngụ tạm thời như những người Việt trong nước hay những người Tàu về ăn Tết ở ngay quê hương của họ. Nhưng đối với người Việt tỵ nạn đã bỏ nước, cứ hai người vượt biển, một vùi thây dưới biển sâu, bỏ cửa bỏ nhà quyết chí ra đi, thì mấy danh từ “về Việt Nam ăn Tết” nghe mỉa mai quá chừng!

Ở nước Úc vì gần với Việt Nam nên số người về ăn Tết rất cao. Ở thành phố Perth, miền Tây nước Úc bay về

Saigon chỉ mất bảy tiếng, chỉ bằng số giờ lái xe tà tà từ Phước Lộc Thọ đi San José, nghe mà ham. Về ăn Tết, đi du lịch thì có cả nghìn lý do mà biện bạch. Thăm cha mẹ sắp lâm chung, dời mồ dời mả, bán nhà mua đất còn nghe được, nhưng với những lý do xả tang, dự đám cưới con ông chú, bà bác thì thà nói “đi Việt Nam chơi” còn hơn, còn chơi gì thì tùy ý thích của Quý Vị.

Chúng ta đã biểu tình, chúng ta đã chống Cộng, nhưng chúng ta lại thích về Việt Nam, vì lý do này hay lý do nọ, thì Cộng Sản không bao giờ sợ. Đừng nghĩ là đi biểu tình thì Cộng Sản chụp ảnh, quay phim làm khó dễ khi về Việt Nam, nếu bị bắt hay bị làm khó dễ thì một đồn mười, ai mà dám về Việt Nam nữa. Cộng đồng chúng ta rất dễ giải, “chín bỏ làm mười”, chống thì cứ chống, về thì cứ về. Ca sĩ Việt Nam qua Mỹ trình diễn với trung tâm nào có lập trường chống Cộng, tôn vinh lá cờ VNCH thì về nước y như là bị khai trừ, bị chế tài, bị cấm hát, trái lại ca sĩ hải ngoại cũng về Việt Nam hát xướng, tuyên bố khen ngợi nhà nước Cộng Sản bên đó trở lại hải ngoại cũng không ai tẩy chay, vì chúng ta không có “nhà nước hải ngoại” và chúng ta tự do.

Chúng ta có sức mạnh của đô la mà chúng ta chưa xử dụng hết mười phần công lực của nó. Chúng ta ủng hộ công cuộc đấu tranh dân chủ, chống Việt Nam dâng đất dâng biển cho Trung Quốc mà vẫn về Việt Nam nườm nượp, vẫn đi qua các phi trường, kẹp tờ $10.00 vào trong pass-port, nở một nụ cười “xã giao” với bọn “công an cửa khẩu”. Không phải đợi đến bây giờ mới có người kêu gọi “đừng về Việt Nam trong tháng Tư, mà cách đây 5 năm (2009), trên nhật báo Người Việt, dưới mục Tạp ghi, chúng tôi đã có bài “Về Việt Nam”. Xin trích:

“Chúng ta xử dụng sức mạnh của chúng ta thử một lần, dù là một lần thôi. Tôi không dám đề nghị đồng hương ty nạn Cộng Sản đừng về Việt Nam nữa, về thời gian nào cũng được, mà hiệp sức cùng không về Việt Nam trong một tháng thôi, như một ví dụ, đó là tháng 4-2009. Chúng ta đã gọi là “Tháng Tư Đen” vì sao chúng ta lại về Việt Nam trong tháng đó, chúng ta gọi là “mất nước” thì nước đâu nữa mà về?

Nếu trong tháng 4-2009, tất cả đồng bào ty nạn hải ngoại không về thì chuyện gì sẽ xấy ra ở Việt Nam? Phi trường vắng vẻ, khách sạn ế khách, hải quan đói meo, hàng quán thưa thớt, mãi lực của Saigon xuống thấp. Điều này có thể ảnh hưởng đến quần chúng lao động của các dịch vụ, nhưng đây là lúc đồng bào trong nước chia xẻ tâm tình hải ngoại và họ đang biết hải ngoại đang muốn gì, chống lại điều gì của đảng Cộng Sản trong nước, tùy theo điều mà chứng ta muốn chống hay muốn tỏ thái độ như việc Cộng Sản dâng Hoàng Sa cho Tàu, việc Cộng Sản đàn áp các nhà tranh đấu dân chủ hay đây là dịp bày tỏ sự đồng tình với đồng bào Thiên Chúa giáo Thái Hà. Hải ngoại không có lãnh đạo, hải ngoại có nơi đoàn kết nhưng cũng có nơi cấu xé nhau, hải ngoại nói và làm không đồng nhất, chúng ta có dám nhìn sự thật như vậy không?”

Năm 2009, từ trong ý nghĩ của cá nhân, chúng tôi đã tự túc in 2,000 truyền đơn và nhờ anh Trần Trọng An Sơn (TTCS) cùng một vài anh em đi rải ở những nơi đông người hay gắn lên kính xe của đồng bào ở Bolsa. Chúng tôi không có phương tiện và uy tín để kêu gọi giới truyền thông hải ngoại tiếp tay, cũng không có tiền để in bích chương, biểu ngữ để treo ở nơi đông người như chợ búa, nhà chùa hay nhà thờ, chạy slogan hay script trên truyền thanh, truyền hình khắp nước. Chúng tôi cũng hiểu rằng, điều quan trọng nhất không phải ở chỗ phương tiện, mà là sự việc nêu ra không được sự hưởng ứng của đồng bào, trừ những người đã nguyện là “không bao giờ về VN khi còn chế độ CS.” Tiếng kêu “không về, không gửi tiền về Việt Nam trong tháng Tư,” rõ ràng là “tiếng kêu trong sa mạc!” Mới đây, ba nhân vật của ba tổ chức có nhân sự và tầm vóc hoạt động lớn nhất trong cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ là Bác Sĩ Võ Đình Hữu, chủ tịch Cộng Đồng Người

Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ, Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, chủ tịch hội đồng đại diện Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại, và Giáo Sư Nguyễn Thanh Trang, chủ tịch Tổ Chức Dân Chủ Việt Nam, đã tổ chức họp báo để “kêu gọi đồng bào hải ngoại không về và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tuần lễ sau cùng của tháng Tư Đen, từ 24-30 tháng 4-2014.” Lời kêu gọi chỉ khiêm nhượng gói gọn trong vòng một tuần lễ của tháng 4 năm nay mà thôi. Năm xưa (2009) với một bài báo và 2,000 tờ truyền đơn của một ký giả nhỏ bé không hề đem lại một kết quả nào, thì năm nay (2014,) với ba đoàn thể lớn “vào cuộc,” chúng ta có quyền hy vọng. Theo BS Võ Đình Hữu, ông đã có 36 cộng đồng người Việt ở Mỹ ký tên tham gia, gần như toàn

thể người Việt ở Mỹ, tổ chức của GS Nguyễn Xuân Vinh hiện nay có hơn 10 Trung Tâm Điều Hợp trong nước Mỹ và trên thế giới … chúng ta mong mỏi ở kết quả của lời kêu gọi thiết tha này. Xin các tổ chức chủ quản in bích chương, biểu ngữ để treo ở nơi đông người như chợ búa, nhà chùa hay nhà thờ, chạy “slogan” hay “scrift” trên truyền thanh, truyền hình khắp nước và trước hết, ngay các nhân sự trong ba tổ chức này sẽ không có ai “rón rén” về Việt Nam hay gửi tiền trong tháng tư.

Theo tôi thu gọn lại việc không về hay gửi tiền trong chỉ “một tuần” cuối của tháng 4-2014 là một chiến dịch quá khiêm nhường (một năm có 52 tuần,) nhưng kết quả hay không mới là điều quan trọng. Không ai dại thức một mình khi mọi người đều ngủ. Và chúng ta thường chê trong nước vô cảm, nhưng chúng ta mới là người vô cảm, xem chuyện đất nước này là của người khác, không dám bày tỏ, dù một thái độ nhỏ nhoi.

Người lính thầm lặng

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 5 Jul 2026

Hôm đó anh rời Quân Y Viện

Cùng vết thương còn rỉ máu tươi

Bên thắng cuộc không cho điều trị

Bởi vì anh là lính Cộng Hòa

Anh chống nạng ra đường trưa nắng gắt

Những thương binh dìu dắt nhau đi

Rồi chia tay mỗi người mỗi ngã

Sau cáo văn nhật lệnh đầu hàng

Anh lê mình trên đôi nạng gỗ

Một chân đi khấp khễnh thấp cao

Chân kia nằm chiến trường Bình Phước

Giữ dùm anh người lính can trường

Năm năm trong trại tù lao cải

Anh trở về nhà đã mất rồi

Những người thân đi kinh tế mới

Chẳng còn gì ngoài nỗi cam tâm

Anh trở lại chiến trường Bình Phước

Sống bằng nghề cạo mũ cao su

Nhiều đêm nhớ những đồng đội cũ

Thịt xương tan trên mảnh đất này

Anh tìm về nơi từng chiến đấu

Đến những nơi đồng đội anh nằm

Đem họ về gần nơi anh ở

Nhang khói và chăm sóc mộ phần

Anh đã sống một đời như thế

Cùng những người chiến hữu ngày xưa

Sống trọn tình huynh đệ chi binh

Cho đến khi anh giã từ trần thế

Anh đã về bên đồng đội cũ

Đất Mẹ ôm người lính vào lòng

Đêm khuya khoắc cùng bao chiến hữu

Nhớ một thời chiến đấu bên nhau

Hạ sĩ nhất Biệt Động Quân Võ Phùng Dương

Anh đã sống một đời người lính

Và chết đi như một anh hùng

Nén hương long xin gửi đến anh

Cùng một phút cuối đầu tưởng niệm

Anh đã sống một đời người lính

Và chết đi như một anh hùng

Nén hương lòng xin gửi đến anh

Cùng một phút cuối đầu tưởng niệm

Biệt Kích  Lôi Hổ qua “Huyền Thoại Biệt Kích Cowboy”

Orchid Thanh Le
Post by Sơn râu 5 Jul 2026

Xin vinh danh sự cống hiến và hy sinh thầm lặng của các chiến sĩ Biệt Kích Lôi Hổ trong công cuộc bảo vệ miền Nam Việt Nam.

Một buổi sáng khi lớp học bắt đầu, tôi háo hức nói với người sinh viên:

– Tôi vừa nhận được một điện thư có thông tin liên quan về hồ sơ ngày 28 tháng 3 năm 1968 từ một người ký tên Cowboy Khánh Đoàn.

Bất ngờ anh sinh viên bật dậy từ ghế ngồi, chồm lên phía trước với vẻ mặt rạng rỡ:

– Cowboy Khánh Đoàn ư? Chúng ta gặp may rồi vì sẽ được thêm nhiều thông tin hữu ích. Cô có biết rằng Biệt Kích Mỹ thời chiến tranh Việt Nam khi nghe đến tên “Cowboy Khánh Đoàn” thì ngả mũ khâm phục không?

– Tôi nào biết! Chẳng phải Cowboy chỉ là một chàng trai đội mũ rộng vành, đi ủng có gắn miếng thép ở gót để thúc ngựa, mặc quần jean Levi’s hoặc quần da, cưỡi ngựa giỏi, hay tham gia đấu súng và bắn giỏi bằng cả hai tay, uống rượu trong quán nơi thường xảy ra các cuộc xung đột đó sao?

– Chưa đủ cô ạ. Rộng hơn, Cowboy còn có nghĩa là một người hùng thích phiêu lưu bất kể mọi tình huống hiểm nguy, theo đuổi một nghề nghiệp đòi hỏi sức chịu đựng bền bỉ và lòng can đảm phi thường; nhất là từ khi hàng loạt phim Hollywood về miền Tây hoang dã ra đời thì hình ảnh chàng chăn bò dần được thay thế bằng hình ảnh một chàng trai hành hiệp trượng nghĩa chiến đấu chống lại cái ác.

– Vậy huyền thoại Cowboy của lịch sử Mỹ có liên quan gì đến Cowboy Khánh Đoàn?

Nghe tôi thắc mắc, anh sinh viên mỉm cười:

– Dĩ nhiên tôi có thể kể cho cô nghe những điều tôi biết về người Biệt Kích Lôi Hổ với biệt danh “Cowboy” này nhưng nếu cô hỏi ngay nhân vật chính thì chẳng phải nhiều lý thú hơn sao?

Phải đấy, tôi thật sự muốn biết về Biệt Kích Lôi Hổ nói chung và người có biệt danh Cowboy nói riêng. Tôi tự tìm hiểu sơ qua về Biệt Kích Lôi Hổ trước khi liên lạc với người mình muốn chuyện trò.

Bối cảnh thành lập Biệt Kích Lôi Hổ bắt đầu từ đầu năm 1964 khi Mỹ muốn giúp Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát và phá hủy những mật khu và đường mòn Hồ Chí Minh mà Bắc Việt dùng để chuyển quân và vũ khí với ý đồ thôn tính miền Nam.

Để tránh vi phạm luật lệ qui ước về hiệp định chiến tranh quốc tế ký kết tại Genèva năm 1954, Mỹ thành lập Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát thuộc Bộ Chỉ Huy Trợ Giúp Quân Sự Hoa Kỳ ở Việt Nam (Military Assistance Command Vietnams Studies and Observation Group – MACVSOG) mà trong đó những thanh niên khỏe mạnh, tinh nhuệ, đa số là người Nùng, được chọn để trở thành Biệt Kích Lôi Hổ. Việc huấn luyện, lương hướng, quân trang, quân dụng do Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát cấp phát và được hưởng qui chế tương đương như những quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ phục vụ tại Việt Nam.

 Những gì tôi biết về Biệt Kích Lôi Hổ quá ít ỏi. Cowboy lại kiệm lời, kín đáo, không dễ khơi chuyện. Ngoài những thông tin ông cung cấp nhằm hỗ trợ công tác của Văn Phòng tôi đang trợ giúp, ông không thổ lộ gì hơn. Cuộc nói chuyện qua điện thoại với ông dẫn đến điều tôi muốn biết nhân vật lịch sử nào mà Cowboy yêu thích thì được ông trả lời bằng câu hỏi ngược lại:

– Thế cháu có biết cuốn phim “PT-109” mà trong đó chú thần tượng nhân vật cựu tổng thống Kennedy vào thời điểm đó mới mang cấp bậc trung úy Hải Quân?

– Dạ, có chứ! Cháu còn nhớ sự kiện PT-109 đã đi vào âm nhạc Mỹ với sáng tác mang tên “PT-109” của Jimmy Dean.

Cuốn phim dựa trên nội dung câu chuyện thật của cựu tổng thống Kennedy được sản xuất từ năm 1963 đã đi vào lòng người xem những cảm xúc nhất định. Chú cháu tôi hào hứng nối tiếp nhau nhắc lại nội dung câu chuyện:

“PT-109 là sự kiện chìm tàu phóng ngư lôi mà thuyền trưởng là cựu tổng thống Kennedy đang mang cấp bậc trung úy vào năm 1943 thời Chiến tranh Thế giới thứ hai. Sứ mệnh của tàu phóng ngư lôi là di chuyển sát với một tàu khu trục Nhật Bản ở Solomons trong bóng tối và sau đó tấn công bằng ngư lôi. Sinh hoạt trong vùng chiến sự ở Nam Thái Bình Dương luôn đầy hiểm nguy, khó khăn và thiếu thốn. Tàu PT-109 của trung úy Kennedy không có liên lạc bằng vô tuyến, không được trang bị dẫn đường bằng radar trong lúc bị tàu khu trục Amagiri của Nhật Bản cắt ngang qua mũi tàu theo đường chéo.Trung úy Kennedy ngã nhào xuống, va vào vách ngăn thép. Hai thủy thủ mất tích. Bảy người bị rơi xuống vùng biển đầy cá mập trong tiếng la hét hoảng loạn. Còn 11 người, họ bấu víu vào vòm tàu bị lật úp, lênh đênh cả đêm trên biển Thái Bình Dương, xung quanh là các hòn đảo của kẻ thù.

Không thức ăn, không nước uống, không sóng vô tuyến, không bè cứu sinh, không thuốc men. Tất cả đã bị dạt tứ tung trên mặt biển. Tàu trôi chậm về phía nam. Khi nhận thấy tàu sắp chìm, họ quyết định bỏ tàu và bơi vào bờ. Trung úy Kennedy dùng răng giữ dây buộc phao cứu sinh của một thủy thủ bị bỏng nặng và cõng người này trên lưng, bơi về phía hòn đảo cách đó gần sáu ki-lô-mét.

Họ mệt lả, kiệt sức khi tới được hòn đảo hoang vắng. Họ phải bò vào các bụi cây để trốn tàu của Nhật. Trên đảo không có thức ăn, nước uống, không có gì có thể tận dụng được nhằm duy trì sự sống. Hòn đảo là một cái bẫy tử thần mà đường kính chỉ vỏn vẹn 91 mét. Trung úy Kennedy quyết định bơi từ đảo này đến đảo khác để tìm xem có tàu PT nào đi ngang qua không. Cuối cùng, anh đã dẫn cả đội tới đảo Olasana và thủy thủ đoàn PT-109 được cứu thoát.”

Hiển nhiên là cuốn phim đã ảnh hưởng sâu đậm đến định hướng binh nghiệp của Cowboy: chọn Biệt Kích Lôi Hổ để chiến đấu với kẻ địch, với bệnh tật, với thiên nhiên, để trải nghiệm mưu sinh thoát hiểm, và để được trui rèn trong nghiệp vụ tình báo và kỹ thuật tác chiến.

Nghe tôi nhất định nhận là có chung họ Hồng Bàng với ông và nằn nì ông kể thêm về Biệt Kích Lôi Hổ nhằm hiểu đúng hơn, Cowboy phải bật cười:

– Vậy thì chú sẽ bắt đầu từ kỷ niệm đầu tiên lúc gia nhập Biệt Kích.

Ngày ấy chàng trai vừa được tuyển mộ đang trong thời gian chờ đợi để đơn vị tuyển đủ quân số cho trung đội. Buổi trưa ngày thứ ba tại Sở Liên Lạc, anh bước vào khu nhà ăn đến quầy lấy thức ăn bỏ vào khay và quay tìm chỗ ngồi. Phòng lớn phía ngoài chật cứng, chỉ còn chỗ trống trong phòng nhỏ được ngăn bởi bức tường cao ngang thắt lưng có bảng hiệu chữ O gắn trước cửa (khu vực dành riêng cho sĩ quan) ở xa hướng tay phải. Với khay thức ăn trên tay, anh điềm nhiên bước đến chỗ ngồi nơi góc tường. Lúc anh vừa bắt đầu ăn thì có anh nhà bếp người Mỹ da ngăm, khá to con tiến đến bàn anh.

– You cannot sit in this room. (Anh không được ngồi trong phòng này.)

– Let me finish my lunch, please. (Xin để tôi ăn trưa xong cái đã.)

Anh chàng Mỹ xem chừng giận dữ, quát lên như ra lệnh:

– No. Stand up! Get out of the room now or I’ll punch you out of here. (Không được. Đứng dậy ngay! Bước ra khỏi phòng ngay bằng không tao thụi cho mày ra khỏi đây.)

Bất cần. Ông bà ta có câu “Trời đánh còn tránh miếng ăn”. Anh thản nhiên vừa ngồi ăn vừa nhớ lại lời của mấy tay Nùng dặn nhau chỉ mới cách đây một, hai hôm: “Đi lính Lôi Hổ mà không ba gai là bị đuổi về không được nhận đâu!”

Thình lình anh nhà bếp phóng tới chộp tay trái anh định lôi tuột ra khỏi phòng. Với phản ứng tự nhiên, anh đưa tay lên đỡ gạt bằng cách chặt ngay đúng huyệt nơi cườm tay của hắn ta cùng lúc tiện thể đứng dậy thả cùi chỏ tay còn lại ngay ngực hắn trong chớp mắt. Đòn trúng nhẹ nhàng nhưng hắn đã phải loạng choạng thối lui. Anh bình thản nói với hắn:

– You don’t have the right to do that. I must protect myself. (Anh không được quyền làm thế. Tôi buộc phải tự vệ thôi.)

Tay phải anh vói cái ghế sắt để thủ thân (thật không uổng phí công lao của bố mẹ cho đi học võ thuật từ lúc chín tuổi để cường tráng thân thể), lúc này có anh Mỹ khác ngồi cách hai bàn đứng dậy nói to như hét:

– Take it easy, you guys! (Mọi chuyện ổn thôi, các bạn!)

Rồi anh ta quay sang anh nhà bếp:

– Let me take care of it! (Để tôi lo!)

Anh nhà bếp xụi lơ, bỏ đi.

Anh chàng Mỹ mới này khoảng trên dưới 30 tuổi, trông sáng sủa, cao ráo làm sao! Anh ta bưng khay thức ăn của mình bước đến bàn anh ngồi, nói năng lịch sự:

– May I sit here? (Tôi ngồi đây được chứ?)

– Certainly! (Đương nhiên rồi!)

– Are you a fresh soldier? I havent seen you before. (Lính mới hả? Hồi nào đến giờ tôi chưa thấy anh.)

Không để anh kịp trả lời, anh chàng Mỹ điển trai tiếp tục nói, “Thôi chúng ta nói bằng tiếng Việt đi. Anh có biết đây là phòng ăn của sĩ quan không? Anh muốn làm sĩ quan hả? Tôi là Trung úy Lực Lượng Đặc Biệt chính gốc, chịu trách nhiệm tuyển mộ và huấn luyện trung đội tân binh này, nhưng chưa tìm ra thông ngôn. Tôi nghe anh đối đáp với anh John nhà bếp khá sành sõi tiếng Mỹ, nên có thể nào cho tôi nói chuyện bây giờ với anh như một cuộc phỏng vấn không?”

Thế là cuộc phỏng vấn bất ngờ diễn ra. Đoàn Văn Khánh quê ở Chương Nghĩa Đoài, gần Bùi Chu, Phát Diệm, di cư vào Nam cùng với gia đình năm 1954. Khánh được gia đình cho theo học Pháp ngữ cấp tiểu học. Lên đến trung học thì bố Khánh, một người thức thời, khuyên anh nên chọn theo học Anh ngữ. Khánh đã có thể hưởng một cuộc sống an phận: anh là con trai độc nhất trong gia đình, có giấy chứng nhận sắc tộc thiểu số nên anh được miễn dịch. Tuy nhiên, bản chất khí khái không cho phép Khánh chấp nhận như vậy. Anh muốn làm nhiệm vụ người trai thời chiến bằng cách xếp bút nghiên gia nhập Biệt Kích hầu dễ dàng thoả chí tang bồng.

Cuộc đàm thoại thay cho phỏng vấn kết thúc với biên bản ký nhận hoán chuyển tình trạng hồ sơ của Khánh từ làm lính Biệt Kích chỉ mới ba ngày thành làm thông ngôn. Khánh bắt đầu làm quen với bộ quân phục đồ beo nút đồng, mũ bành to vè, và khẩu Revolvo (Ru-lô) nòng dài và giây đạn (có nhét đạn chung quanh) đeo lủng lẳng. Trông ra dáng một Cowboy oai hùng.

Tôi nối tiếp cuộc nói chuyện bằng câu hỏi:

– Cháu nghe nói tân binh Biệt Kích Lôi Hổ được đưa đến huấn luyện tại các căn cứ tiền đồn hoặc kế bên các trại Lực Lượng Đặc Biệt dọc theo hành lang biên giới như Khâm Đức, A-Shau, hay Khe Sanh, phải không ạ?

– Đúng đấy, nhưng Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng tại Long Thành là nơi trắc nghiệm, tuyển chọn lại và cấp giấy chứng nhận mỗi khóa huấn luyện cho Biệt Kích Lôi Hổ. Đôi khi Biệt Kích cũng được gởi đến các quân trường khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà để có giấy tờ phù hợp chuyên ngành. Những căn cứ huấn luyện này tùy thuộc vào mục tiêu của các nhiệm vụ để cung cấp huấn luyện cần thiết: Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù thì cấp bằng dù, Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ chuyên huấn luyện về chiến thuật hành quân biệt động như rừng núi sình lầy hay hành quân viễn thám, Trung Tâm Huấn Luyện Lực Lượng Đặc Biệt tại Đồng Bà Thìn phụ trách huấn luyện dây tử thần, bắn tỉa, vân vân.

– Biệt Kích Lôi Hổ cũng nhận huấn luyện căn bản tương tự như bao binh chủng khác, phải vậy không chú?

– Đại loại, huấn luyện căn bản của Biệt Kích Lôi Hổ bao gồm huấn luyện vũ khí đủ loại, di hành, cứu thương, mìn bẫy, mưu sinh, thoát hiểm, phản ứng cấp thời, bắt tù binh, võ thuật cho cận chiến, thậm chí đôi lúc có võ sư tiếng tăm ngoại quốc được thuê về dạy.

Cowboy cho biết thêm rằng Biệt Kích Lôi Hổ còn được huấn luyện tự do theo sở thích và khả năng để trở thành điêu luyện bằng cách học hỏi từ bậc đàn anh. Tốp tân binh nghe đi tập bắn thì khoái chí, mang một lần bốn thùng đạn, đến bãi bắn có đàn anh hướng dẫn, chỉ cách tháo, ráp súng tại chỗ và tập bắn vào bia bằng các-tông; dùng đại liên và súng lục bắn cho hết bốn thùng đạn, bắn tự do thoải mái chứ không theo bài bản như ở các quân trường: “Một viên đạn nạp. Nhắm từ lỗ chiếu môn đến đỉnh đầu ruồi. Nín thở. Bóp cò.” Tối về tai người nào người nấy rát bùng, cấp chỉ huy quát gọi cũng chẳng nghe. Vài hôm sau được gọi đi tập bắn tiếp, tân binh rút kinh nghiệm chỉ mang một hoặc nửa thùng đạn, che bít hai tai, bắn kiểu tự do như trong xi-nê, tập đi tập lại cho đến khi bắn không cần phải nhắm mà vẫn trúng đích. Sau vài lần huấn luyện di hành, nếu cảm thấy nặng thì đổi súng khác nhẹ hơn, và cuối cùng đối với bất cứ loại súng gì (của địch lẫn của ta) Biệt Kích đều sử dụng rành rẽ.

Càng nghe càng hiếu kỳ, tôi hỏi thêm:

– Thế huấn luyện Biệt Kích Lôi Hổ có khác biệt cụ thể nào so với các binh chủng khác, thưa chú?

– Sự khác biệt ở chỗ là Biệt Kích Lôi Hổ được huấn luyện hàng ngày hàng giờ mà chính bản thân họ cũng không ý thức được là đang được huấn luyện. Qua sinh hoạt đời thường, họ được các toán trưởng Mỹ ngầm quan sát để hướng dẫn những bài học tình báo, thử thách lòng dũng cảm, sự nhạy bén khôn ngoan, tính trung thực, tinh thần trách nhiệm biết bảo tồn danh dự và hy sinh cho chiến hữu, vân vân.

– Lý thú lắm, chú ạ!

– Thêm một khác biệt nữa là Biệt Kích Lôi Hổ không được huấn luyện quân cách như diễn hành hay chào kính bởi vì càng che dấu tông tích nơi công cộng thì càng dễ dàng thi hành phận sự.

– Quả là Biệt Kích Lôi Hổ phải trải qua bao thực tế để khả năng và thành tích chiến đấu được xem xét, trắc nghiệm và đánh giá kỹ lưỡng; do đó để được công nhận là một Biệt Kích Lôi Hổ xuất sắc trong toán thám sát ắt là một thử thách lớn.

– Không sai. Đã có biết bao tay giang hồ ngang tàng gia nhập Biệt Kích Lôi Hổ mà cũng phải đào ngũ ngay từ thời gian đầu huấn luyện. Cháu biết đấy, an toàn sinh mạng luôn là hàng đầu ở bất cứ tình huống nào cho nên mỗi lần nhận nhiệm vụ, Biệt Kích Lôi Hổ đều phải thực tập đội hình, vũ khí tác xạ, điều nghiên địa thế, khí hậu, phương tiện và vị trí di chuyển, phân công, cứu thương, vân vân. Các toán viên phải bảo đảm phối hợp hành động ăn ý dù chỉ thể hiện qua ánh mắt hoặc bằng cử chỉ để hoàn thành nhiệm vụ tốt đẹp.

Chuyển sang khía cạnh quyền lợi của Biệt Kích Lôi Hổ, tôi thẳng thắn hỏi ông:

– Phía Mỹ đãi ngộ Biệt Kích Lôi Hổ ra sao, thưa chú?

– Tùy theo toán trưởng Mỹ đề nghị dựa vào thành tích đạt được mà phía Mỹ tăng lương. Thỉnh thoảng có tháng Biệt Kích Lôi Hổ được lãnh lương hai lần, cũng có tháng lên đến ba lần. Chuyện khó tin nhưng vẫn xẩy đến với Biệt Kích Lôi Hổ của các toán thám sát. Bởi thế ở Huế có câu hò rằng “ơ…ơ… khi mô sông Hương cạn nước ơ…ơ… thì Lôi Hổ mới hết tiền”.

Tôi hỏi Cowboy về chuyện thăng cấp của riêng ông và được biết sau vài chuyến di hành huấn luyện vào sâu mật khu bên kia biên giới, cũng có những lần đụng địch quân, Cowboy được thăng cấp bậc là Trung úy Biệt Kích Lôi Hổ. Trung đội trưởng long trọng gắn hai baza màu đỏ bên hai cầu vai của Cowboy trước hàng quân.

Cowboy kể thêm rằng những lần đi công tác hay về phép Biệt Kích Lôi Hổ không phải qua bất cứ hệ thống kiểm soát nào của phi trường và cũng không phải chờ đợi. Xe của Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát sơn màu đen không có bảng số, chỉ treo một cái thẻ bằng cỡ căn cước, ra vào cổng phi trường trình cho Quân Cảnh xem là được ngoắc tay cho đi qua.

Tôi nghe đến đây thì buột miệng:

– Kể thì oai quá!

– Thật ra Biệt Kích Lôi Hổ như tụi chú rất giản dị và bình thường, tương tự như bao người lính khác của các binh chủng oai hùng thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa; hoặc e là không bằng họ nữa là khác.

Vẫn lời lẽ khiêm tốn, Cowboy không quên nhấn mạnh rằng những chiến tích mà các toán thám sát Lôi Hổ lập nên còn được sự yểm trợ của những đôi cánh thép trong các chuyến bay thả biệt kích dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh của Phi Đoàn Thần Phong 219. Phi đoàn 219, hậu thân của biệt đoàn 83, tăng phái cho Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát, được phi công của hai phía Việt-Mỹ và các Biệt Kích biết dưới danh hiệu “Kingbee”. Mặc dù không trú đóng cùng căn cứ với Biệt Kích nhưng mức độ hiểm nguy của nhiệm vụ thả và bốc toán của phi đoàn 219 không thua gì nỗi chết rình rập bên Biệt Kích Lôi Hổ. Các phi công Thần Phong gan dạ và tài tình, bất kể thời tiết xấu hay đạn pháo đối phương bủa vây vẫn bằng mọi cách đáp xuống để đem Biệt Kích và xác chiến hữu ra khỏi vòng vây địch.

Ông đồng thời nhắc đến một nhân vật anh hùng trong Phi Đoàn Thần Phong 219 cũng được mệnh danh là “Cowboy”.

– Thế còn chú thì sao? Cháu được biết một nhiệm vụ mà chú thi hành đã có mã “Cowboy” để liên lạc truyền tin. Nhưng từ lúc nào và tại sao biệt danh “Cowboy” gắn liền với tên tuổi của chú trong sự ngưỡng mộ vượt bực của Biệt Kích Mỹ?

Ông cười vang:

– Do từ một câu chuyện được nhắc rồi nhớ chứ thực sự bản thân chú không nhớ.

Đó là sau lần đụng địch bị thương phải cưa bỏ chân và không thể tác chiến được nữa, Cowboy được điều phái đến phòng truyền tin.

Một buổi sáng mở cửa phòng làm việc, Cowboy Khánh Đoàn bất ngờ thấy trong phòng lố nhố các trưởng ban, một số sĩ quan, và một người Mỹ ăn vận dân sự. Một trưởng ban giới thiệu Cowboy với người Mỹ này:

– Đây là người mà ông đã muốn gặp từ tối qua đến giờ.

Người Mỹ quay qua chăm chú nhìn Cowboy, hỏi một loạt “Mày là Cowboy?”, “Mày trú đóng tại Tiền Doanh 1?”, “Mày thuộc toán thám sát ALABAMA?”, “Mày giữ vị trí 02?”.

Cowboy đi từ ngỡ ngàng này sang ngỡ ngàng khác. Mỗi câu hỏi được đáp với một cái gật đầu.

– Mày có biết tao là ai không?

Lần này câu trả lời là cái lắc đầu kèm theo cái nhíu mày.

Người Mỹ tiến sát gần, nhìn sâu vào mắt Cowboy:

– Mày đúng là Cowboy rồi.

– Thì chớ sao nữa!

– Ô-kê, nếu mày thực sự là Cowboy thì tao sa thải mày ngay từ lúc này.

Đến lúc đó thì Cowboy nổi nóng. Bản chất ngang tàng trỗi dậy, Cowboy lớn tiếng:

– Tao cóc cần biết mày là ai hết. Tao chỉ biết mày đuổi việc tao là hết sức phi lý vì tao đang cần tiền nuôi vợ con. Cho tao biết lý do sa thải đi.

– Rõ ràng mày không biết hoặc không nhớ tao là ai hết sao?

– Tao đã nói tao chẳng nhớ mày là thằng quái nào rồi mà.

– Tao đã cố tình nhắc đến Tiền Doanh 1, rồi toán thám sát ALABAMA, rồi vị trí 02, vân vân, thế mà mày vẫn không thèm nhận ra tao nữa ư?

Giọng nói lộ vẻ thất vọng rõ rệt, rồi bất ngờ người Mỹ dang hai tay ôm ghì lấy Cowboy thiếu điều nghẹt thở, đoạn quay qua nói với mọi người:

– Cái cấp bậc trung tá của tao ngày hôm nay là của nó. Cái chức vụ Chỉ huy trưởng Cố vấn Quân Đoàn 1 sắp tới của tao cũng là của nó.

Cowboy đứng như trời trồng, ngẩn ngơ.

Người Mỹ ăn vận dân sự chính là trung tá Granham. Cùng ngày, tại buổi lễ nhận chức vụ mới, vị trung tá kể lại câu chuyện trước sự hiện diện của các chiến hữu tham dự.

“Ngày đó, trung tá Granham còn là đại úy, nhận nhiệm vụ truyền tin nhập với toán Cowboy. Xảy ra đụng địch, phía đối phương quăng lựu đạn chày. Máu toé đầy mặt viên đại úy khiến hắn tối tăm mặt mũi không mở mắt được, giãy giụa, thét la đau đớn.

Cowboy lúc đó đang ẩn nấp sát bên cạnh viên đại úy, cảm thấy bất ổn, không còn giải pháp nào khác hơn, chỉ còn cách chĩa họng súng ngang mang tai hắn ta, rít khẽ:

– Mày không im miệng là tao cho mày đi luôn.

– Tao trúng rồi. Làm sao đây?

– Để tao tính.

Từng được huấn luyện cứu thương, Cowboy mở vội ba-lô sơ cứu tại chỗ: băng bó tạm, tiêm ngay morphin để viên đại úy bớt rên rỉ. Viên đại úy vẫn không thể mở mắt được nên Cowboy quyết định chớp nhoáng: lệnh cho toán ở lại cự địch và đồng thời bắn yểm trợ để anh cõng viên đại úy chạy đến nơi trực thăng cứu thương sẽ đáp. Với khuôn mặt nhòe nhoẹt máu và bệt bùn đất, viên đại úy nằm đó nghe rõ mồn một chỉ thị của Cowboy, gượng bò lên bám vai anh, trút bỏ ba-lô cá nhân để giảm trọng lượng, gắng nương theo để Cowboy cõng chạy men theo sườn đồi.

Những tưởng rằng chiến tranh khiến con người ta trở nên lạnh lùng, tàn nhẫn nhưng kỳ thực chính chiến tranh tạo ra lắm thứ hết sức đời thường. Cái đời thường ở đây chính là tình chiến hữu sống chết có nhau.

Hai tiếng đồng hồ có dư, tính từ lúc Cowboy cõng chạy người chiến hữu bị thương trên lưng và miệng liên tục thốt ra lời khích lệ trong giọng nói hổn hển, ngắt quãng: “Mày ráng chút nữa. Đừng lo. Có tao bên mày đây.” Khoảng cách đến bãi đáp không quá xa nhưng sức nặng quá tải khiến Cowboy phải nghiến răng, thở hồng hộc lên đồi xuống dốc. Vùng biên giới Lào tựa chảo đang rang cát. Nóng thiêu. Khô bỏng. Mồ hôi tuôn ròng mờ mắt. Hai thân người đổ chập thành một bóng dài trong một đôi chân đang rảo chạy. Đôi chân vững chãi ấy có vài lần chậm lại để liên lạc truyền tin hay quan sát tình hình, phán đoán, và quyết định hành động ứng biến. Chỉ khi nghe tiếng cánh quạt của trực thăng nặng nề vang dội trên đầu thì Cowboy biết mình đã tròn trách nhiệm với chiến hữu.

Biệt Kích Lôi Hổ đa số là dân tứ xứ ở Việt Nam, trai tráng độc thân, vào sinh ra tử cùng nhau biết bao lần, lúc bình thường cũng như lúc lâm nguy họ đều chia sẻ hy sinh cho nhau. Họ không có gì để mất mát hay đổi chác nên cũng chẳng cần bon chen, so đo tính toán. Họ không thích bị ai ăn hiếp và quan niệm cái quý giá nhất là mạng sống con người. Dẫu chỉ còn một chiến hữu sống sót thì cũng phải bằng mọi giá đưa người chiến hữu ấy trở về cho bằng được. Đối với Biệt Kích Lôi Hổ, tình huynh đệ chi binh ngấm vào xương vào máu họ rồi. Cowboy cho rằng điều mình làm không là ngoại lệ.

Thành thử ra, sau khi viên đại úy bị thương được tải lên trực thăng an toàn, Cowboy quay trở lại nhập toán cùng anh em tiếp tục thi hành nhiệm vụ. Cowboy quên phắt câu chuyện.

Ngược lại, những giờ phút sống chết bên nhau thấm đẫm tình chiến hữu lại không dễ phai mờ trong tâm trí của viên đại úy ngày đó tức viên trung tá khi gặp lại Cowboy. Lời kết ông gửi đến các chiến hữu đang lắng nghe câu chuyện là: “Tôi tuy là người Mỹ nhưng rất ngưỡng mộ Biệt Kích Việt. Họ liều lĩnh, bất khuất, và nhất là không bỏ rơi chiến hữu. Cowboy lúc đó đã có thể bỏ rơi tôi vì tôi rên la làm cho đối phương dễ truy kích và có thể bắn chết anh ấy nhưng Cowboy đã không màng đến mạng sống của mình mà còn tìm cách an ủi cho tôi giảm đau đớn. Từ trước đến nay tôi chưa phục ai mà chỉ phục Cowboy. Một Cowboy thực sự.”

 Phi đoàn trực thăng 219 hay Biệt đoàn 83 Thần Phong – Long Mã tức Biệt đội Delta cũ (The Immortal King Bee) chuyên phụ trách những phi vụ thả và bốc các toán Biệt Kích nằm trong vùng địch, dọc đường mòn HCM, có khi sâu vào biên giới Lào và Cao Miên. 

 Lần “sa thải” đó đã cất nhắc Cowboy lên chức vụ đại đội trưởng Đại đội An ninh Cố vấn Quân Đoàn 1.

Các lời khâm phục từ Biệt Kích Mỹ được miệng truyền miệng nhanh chóng. Thêm nhiều câu chuyện được kể về những lần đụng địch khác mà Cowboy cùng vào sinh ra tử với anh em và sự ứng biến tài tình của Cowboy đã cứu nguy cho cả toán. Biệt danh “Cowboy” là một dấu ấn vinh dự trong cuộc đời cầm súng của ông.

Nhân khi tôi nhắc hỏi về chuyện cái chân bị cưa bỏ sau lần đụng địch, Cowboy bồi hồi:

– Cháu có biết không, sở dĩ chú nhớ quá rõ ngày 19 tháng 8 năm 1971 vì đó là ngày Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trong bài diễn văn của ông rằng “Ai đứng trên giòng sông Tchepone (Lào) thì người đó thắng cuộc.” Điều trùng hợp là ngày đó toán thám sát của chú đang ở trên giòng sông Tchepone. Chú bị thương ở chân và được trực thăng tải về trị thương tại Bệnh viện 95 của Mỹ ở Đà Nẵng. Không may là cái hố mà anh em kéo chú ra khỏi là một hố bom nên chân chú bị nhiễm trùng gây sốt cao. Các bác sĩ hội chẩn và báo cho chú biết phải cưa khúc chân đó bằng không sẽ bị hoại tử mà chết.

– Xem ra chú không còn lựa chọn nào khác ngoài giải pháp cưa bỏ chân?

– Không phải vậy cháu ạ. Cháu nghĩ xem, chú sinh ra để chiến đấu mà bây giờ cắt bỏ chân thì chi bằng để chú chết sướng hơn.

Ông trầm ngâm giây lát và nói tiếp:

– Cháu biết mà, bác sĩ Mỹ chỉ thực hiện ca mổ với sự đồng ý của bệnh nhân, cụ thể là ký vào giấy tờ hoặc có nhân chứng. Y sĩ đoàn thấy xem ra khó thuyết phục để chú đồng ý cưa bỏ chân nên họ ngầm vận động các toán Biệt Kích Mỹ-Việt kéo đông đến bệnh viện vòng trong vòng ngoài nhất mực khuyên chú cưa bỏ chân để anh em còn thấy mặt.

Rồi ông chùng giọng:

– Hỏi cháu rằng chú còn biết nói gì nữa? Anh em sống chết hết lòng với nhau là vậy. Thời gian trị thương tưởng nhanh nhưng hóa ra lâu quá, mãi đến tháng tư năm sau chú mới được xuất viện. Chẳng phải vì bác sĩ Mỹ không giỏi đâu, ngược lại đằng khác, nhưng là do chú: đang ngồi xe lăn mà thấy anh em đến thăm là chú đứng bật dậy đi hiên ngang về phía họ định tay bắt mặt mừng nhưng quên rằng mình đã cụt chân. Nào phải một lần, ít nhất ba lần như thế nên đầu xương rớt ra, phải làm lại…

Ký ức về thời cầm súng hiện hữu trong tim, trong óc Cowboy mỗi ngày, kể bao lâu mới hết!

 Cách đây hơn 5 năm, Cowboy được vinh danh là hội viên danh dự của Hiệp Hội Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ bao gồm các hội viên từ các cuộc chiến tranh Thế giới thứ hai, Triều Tiên, Việt Nam, Grenada, Somalia, vùng Balkans, Afghanistan, Iraq, vân vân. Dịp đó, một người Mỹ ăn vận dân sự sải bước đến vỗ vai thân mật hỏi Cowboy “Mày nhận ra tao không hả Cowboy? Tụi mình cùng là toán viên tại Tiền Doanh 1 đây mà.” Người Mỹ dân sự chính là cựu thiếu tướng Eldon A. Bargewell. Thấy Cowboy gục gặc đầu, ông tướng cười sảng khoái “Mày chịu nhận tao rồi vậy tụi mình chụp một tấm ảnh làm kỷ niệm đi, Cowboy.”

Nhân thể, tôi liên tưởng đến một vị tướng khác, chuẩn tướng Terry Tucker, thời còn tại nhiệm với chức vụ chỉ huy trưởng Lực Lượng Đặc Nhiệm Hỗn Hợp (Joint Task Force Full Accounting – JTFFA) vào cuối thập niên 90, đã hết lời ca ngợi khi bất ngờ biết được Cowboy tuy đã mất một chân mà vẫn tình nguyện sang Lào để hỗ trợ đội công tác tìm kiếm hài cốt của các biệt kích Mỹ trong nhiều năm liền. Nghe tôi nhắc nhớ, Cowboy chia sẻ với tôi rằng ông chỉ đơn thuần muốn đem đến một sự an ủi cho hương hồn của các Biệt Kích Mỹ-Việt, các chiến sĩ Thần Phong còn bơ vơ trong rừng núi bạt ngàn của xứ người, chưa được trở về đất mẹ.

 Góp công sức tìm kiếm chiến hữu mất tích đã đành, mà đối với chiến hữu đã hy sinh, Cowboy cũng đậm tình. Tôi biết điều này qua lời kể của Martha Cryan, em gái của Biệt Kích Mỹ Kenneth Cryan. Khi được báo tin về cái chết của anh trai, Martha quá đỗi buồn đau, chỉ ít lâu sau cùng gia đình chuyển sang Châu Âu sinh sống trong suốt 24 năm. Khi trở lại Mỹ, điều đầu tiên cô làm là đến thăm anh trai Kenneth tại Nghĩa Trang Quốc Gia Golden Gate ở Bruno, California, đúng vào Ngày Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong. Bất chợt thấy một cựu chiến binh Châu Á trong quân phục và bê-rê xanh đang quì trước mộ của anh trai mình, cô lặng người xúc động. Hỏi ra mới biết rằng Cowboy là chiến hữu của Kenneth. Nhiều năm trước đó khi thông tin về những hoạt động của Biệt Kích Mỹ-Việt ở lãnh thổ Lào chưa được bạch hóa, Martha nào biết gì hơn ngoài sự thông báo về cái chết của Kenneth. Giờ đây cô được nhận niềm an ủi lớn lao là anh trai cô đã từng có chiến hữu đồng cam cộng khổ nhớ đến mình và bất kể dù còn sống hay đã chết, tình đồng đội của họ bất diệt.

Đối với các chiến hữu còn sống vất vưởng bên quê nhà, Cowboy còn trăn trở hơn.

Biệt Kích Lôi Hổ được tuyển mộ để thế thân cho lính Mỹ thành thử ra không có số quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà chỉ có mã hoặc ẩn số do Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát cấp phát. Tiếc thay, các toán thám báo Biệt Kích Lôi Hổ trên danh nghĩa chỉ được liệt kê là Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát thuộc Bộ Chỉ Huy Trợ Giúp Quân Sự Hoa Kỳ ở Việt Nam mà không được xem là một đơn vị tác chiến.

Nếu hoàn tất nhiệm vụ, thì sống. Dẫu thương tích đầy mình hoặc thậm chí hy sinh tính mạng, thì không huy chương nào được trao tặng hoặc truy tặng. Bị lộ, bị bắt thì họ không được hưởng chút quyền lợi nào từ qui chế tù binh Genèva; ngay cả các cơ quan nhân đạo quốc tế như Hội Hồng Thập Tự, Hội Ân Xá Quốc Tế cũng không biết cách nào để can thiệp.

Xem ra, một khi người lính tình nguyện gia nhập cuộc chiến không qui ước thì phải chấp nhận qui luật của cuộc chơi. Một cuộc chơi quyết liệt và tàn nhẫn. Dù sống hay chết thì tên của họ cũng đều nằm trong bóng tối.

Cho đến thời điểm hiện tại, Biệt Kích Lôi Hổ vẫn chưa được công nhận thuộc về một quân đội nào, một chính phủ nào. Công nhận tính chính danh của Biệt Kích Lôi Hổ đồng nghĩa với trách nhiệm của chính phủ sở tại là thực hiện quyền lợi cựu chiến binh cho họ.

– Đối với Biệt Kích Lôi Hổ, danh dự được công nhận vẫn là điều quan trọng hơn quyền lợi.

Cowboy thốt lời khẳng khái để rồi lời tâm sự tiếp sau nghe chút gì chua xót:

– Từ ngày đặt chân sang Mỹ, chú đã cùng với anh em phối hợp thu thập chứng cứ, lập hồ sơ để chính phủ sở tại cứu xét trường hợp Biệt Kích Lôi Hổ. Đồng thời, các chiến hữu Biệt Kích Mỹ cũng nỗ lực không ngừng nghỉ để vận động chính giới lưu tâm. Đến giờ này vẫn chưa có được số hồ sơ tại tòa án thì còn nói gì được đây? Thú thực đã có những khi chú rất chán nản.

Chúng tôi ngậm ngùi trao đổi nhau tiếng thở dài tháng tư.

– Xin chú Cowboy đừng tuyệt vọng!

Yên lặng từ đầu giây điện thoại bên kia.

– Chú Cowboy ơi, đừng bỏ cuộc!

Vẫn yên lặng. Tôi ước ao có đôi đũa thần biến ước mơ của Cowboy thành hiện thực hơn là gắng thốt ra những lời an ủi vụng về của mình.

Giây lâu sau Cowboy cất lời khẽ đủ tôi nghe:

– Không đâu! Chú sẽ không tuyệt vọng. Chú sẽ không bỏ cuộc. Anh em còn cần chú.

– Bravo chú Cowboy! Hội ngộ Biệt Kích Mỹ-Việt năm nay, cháu sẽ thu xếp đến sớm trước một ngày để gặp mặt chú.

Kể cũng lạ! Chú cháu tôi ở cách nhau chưa đầy hai tiếng đồng hồ lái xe, vậy mà không chịu gặp mặt ngay.

Phải đợi thêm một thời gian nữa sẽ đáp máy bay đến một nơi họp mặt để chung tay chung sức và để cùng chia sẻ về một hy vọng một ngày trong tương lai Biệt Kích Lôi Hổ gốc Việt sẽ được công nhận là cựu chiến binh Mỹ, những người đã từng cống hiến và hy sinh trong công cuộc bảo vệ chính nghĩa.

Vậy mới là duyên ngộ. Phải vậy không chú Cowboy?

***

Chú thích của người viết: 02 là chức vụ thông ngôn trong các toán thám sát của Biệt Kích Lôi Hổ.

Orchid Thanh Lê

Thuyền nhân

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 5 Jul 2026

Những ngày gió nhẹ biển êm, giữa đêm khuya chợt giấc, tôi có thói quen ra boong nhìn trời, ngắm trăng, ngắm sao và những chòm đèn của những con tàu xa xa. Đêm nay trăng khuyết mà trời trong quá, nên thấy những vì sao sáng tỏ. Nhìn vầng trăng già hơn nửa mảnh treo ngang vòm trời, tôi nghĩ tới một đời người có khác nào vầng trăng khi tròn, khi méo, thoáng chốc lụi tàn. Kiếp người ngắn ngủi, ấy vậy mà hổng biết là bao nhiêu chuyện vui, chuyện buồn, chuyện suông sẻ, chuyện éo le xảy ra trong đời sống. Có chuyện tưởng chừng như theo thời gian quên lãng, nhưng rồi chỉ trong giây phút tâm trí bừng sáng và nhớ lại một cách rõ ràng.

Những tháng năm tập tễnh hải hành, tôi đi đi, lại lại hải cảng Belfast mỗi tuần một lần, cảnh vật nơi đây tôi cũng đã quen. Sau đó tôi đổi những tuyến đường xa, cho tới năm nay, hơn ba mươi năm rồi, tôi mới trở lại tuyến đường Belfast. Bao năm trôi qua, quang cảnh nơi này có nhiều thay đổi, hồi đó mùa đông tuyết rơi nhiều lắm nhưng bây giờ thì ít hơn, cây cối trụi lủi, trơ cành, những con đường trơn nhớt. Ở đây ít khi trời trong và khô ráo, cảnh vật luôn mơ màng và thường mỗi sáng có sương mù, hiếm hoi lắm mới có ngày nắng đẹp. Trước kia khi tới một vùng đất mới, ban đêm tôi có thể đi lang thang nếu mệt thì vô quán ngồi. Nhứt là bên Nam Mỹ, ở những nước có khu ăn, uống bình dân mở cửa suốt đêm, tôi có thể vào đó ngồi uống bia tới sáng. Bây giờ đi mới nửa khu phố tự dưng tôi hổng muốn đi nữa, đúng là tâm trạng làm biếng của tuổi già, chớ hổng phải vì tuổi già sức yếu. Nghĩ tới tuổi tác, tôi mỉm cười một cái rồi quay gót giày đi trở về hội quán.

Vô hội quán tôi thường ngồi mình ên trong góc, uống nước lọc và nhìn người ta sinh hoạt. Đã qua hơn ba mươi năm rồi, nhân viên trong hội quán đã thay đổi hết, lớp nhân viên trẻ thay lớp già nên tôi hổng còn người quen trong hội quán nữa. Nhưng hổng sao, nhân viên hội quán luôn lúc nào cũng vui vẻ, thân thiện và rất tử tế, thủy thủ cần gì thì họ tận tình giúp đỡ. Tôi mới quen với Bryony, cô nhỏ là nhân viên tiếp thị của hội quán, cô thường xuyên xuống tàu nạp tài khoản internet và xem thủy thủ có cần giúp đỡ gì không. Nghe thủy thủ trên tàu gọi tôi là uncle, cô cũng bắt chước gọi tôi là uncle, tiếng Anh uncle nghĩa là chú. Chuyến trước Bryony xuống tàu trong lúc thủy thủ ra boong hết nên tôi ngồi tiếp cô nhỏ. Cô hỏi tôi:

– Chú có thường lên hội quán?

Tôi cười:

– Có chớ mỗi khi ghé đây là chú lên, hơn ba mươi năm trước, hội quán này là nhà của chú, dạo đó trong hội quán ai cũng biết chú.

– Oh, chú còn nhớ ai không?

– Còn, còn nhớ ông John, vì ông ấy thương chú lắm.

– À, con biết ông John.

Nhắc tới ông John tôi nhớ lại, ông John là nhân viên hội quán, ông đứng quày rót bia và rượu cho khách, tiếng Anh gọi là bartender. Lần đầu tôi mua bia, ông hỏi tôi:

– Bia gì?

Tôi nói:

– Bia gì cũng được miễn là của nước Anh.

Ông cười vui vẻ vừa đưa tay lấy ly và lon bia ông vừa nói:

– Ô kê, ô kê…When in Rome, do as the Romans do.

Thấy ông đưa cho tôi bia Guinness. Tôi nói:

– Guinness là bia của Ái Nhĩ Lan mà.

Ông nói:

– Đúng đúng, nhưng đây là hải đảo của Ái Nhĩ Lan.

– Cũng được, tôi nói, Guinness là bia đen của Dublin, nổi tiếng thế giới.

– Đúng đúng…

Từ đó tôi mới biết Belfast là phần đất của Anh quốc nằm bên hải đảo Ái Nhĩ Lan và tôi thuộc luôn câu thành ngữ “When in Rome, do as the Romans do”, nghĩa là “Nhập gia tùy tục”. Ông John hỏi tôi là người gì. Tôi nói:

– Tôi là người Việt.

– Nam Việt hay Bắc Việt?

– Nam Việt.

– Oh! Southern Vietnamese, boat people!

Nghe ông hô lớn, nhân viên trên hội quán và nhiều thủy thủ hướng mắt về tôi. Khi tôi quay ra tìm chỗ ngồi thì nhiều thủy thủ ân cần mời tôi ngồi chung, mời tôi cụng ly, uống cạn bia họ mua thêm bia cho tôi uống. Có người hãnh diện khoe tàu họ đã từng vớt người tị nạn rồi đưa về trại Tân Gia Ba và nhiều người hỏi tôi về chuyện vượt biển. Lúc đó tôi nói tiếng Anh còn bập bẹ, phải chi dạo đó có điện thoại thông minh và Google dịch như bây giờ thì tôi đỡ mỏi tay. Tôi nói chuyện bằng tay nhiều hơn bằng miệng, nhưng mọi người vẫn chăm chú lắng nghe, có lẽ họ nghe bằng mắt nhiều hơn bằng tai. Hổng biết họ hiểu câu chuyện tôi kể được bao nhiêu, nhưng tôi cảm nhận được, trong mắt họ tôi là người đáng thương, cần được an ủi và giúp đỡ. Cũng từ đó trở đi nhân viên hội quán gặp tôi ai cũng vui vẻ đón chào và hổng gọi tên cúng cơm tôi mà gọi biệt danh tôi là Boat People.

Hổng riêng gì người Anh cư xử tử tế với thuyền nhân. Thời gian đó tôi ghé bất cứ những nước tự do nào trên thế giới, người ta nghe tôi giới thiệu: “I am Vietnamese.”Tức thì có người hỏi:“Nam Việt hay Bắc Việt?” Khi biết tôi người miền Nam Việt Nam, nhiều người trố mắt ra vẻ cảm thông và kinh ngạc hô lên: “Oh! Boat people! hoặc ! Southern Vietnamese boat people!”. Có người đưa ngón tay cái ra trước mặt tôi gặt gặt và có người thân thiện vỗ vai, nói:

– Southern Vietnamese people is good, very good…

Ông John là người ân cần và luôn giúp đỡ tôi, mặc dù tôi có việc làm và có tiền mua sắm, nhưng ông cũng chỉ cho tôi chỗ máng áo, quần, khăn, nón, đồ dùng cũ mà hội quán dành cho thủy thủ. Cũng từ đó tới nay, những ngày hải hành, ghé hội quán tôi thường tới chỗ máng áo quần cũ lựa cái nào vừa lấy về mặc. Ông John về nhà kể với vợ ông sao đó mà thỉnh thoảng bà mua kem đánh răng, bàn chải và xà bông gội đầu để sẵn trong bọc, nhờ ông đưa cho tôi. 

Tôi hỏi Bryony:

– Ông John còn khoẻ không?

Cô nhỏ đưa bàn tay ra lắc:

– Hông biết, lâu rồi con không gặp ông ta.

– Oh, vậy con có biết địa chỉ của ông ấy không?

– Không, nhưng con tìm được.

Ngẫm nghĩ một chút, tôi lưỡng lự và nói với Bryony:

– Lâu quá rồi, hổng biết ông John còn nhớ chú không.

Bryony cười:

– Không thành vấn đề, chú còn nhớ ổng là tốt rồi.

Hôm kia tàu ghé bến tôi nhận tin nhắn của Bryony, cô nhỏ hẹn tôi tối lên hội quán, ông John sẽ xuống thăm. Trước kia, hội quán lúc nào cũng chật nứt người, bàn nào cũng đầy bia rượu, thủy thủ ăn to nói lớn ồn ào. Bên góc phòng đặt cả chục hộp điện thoại nhưng thủy thủ vẫn đứng dọc dài chờ để gọi về thăm nhà. Bây giờ những hộp điện thoại công cộng đã dẹp hết, thủy thủ nào cũng có điện thoại thông minh, họ ngồi chung nhau nhưng mắt chăm chú nhìn màn hình, ngón tay rà rà bấm bấm lên mặt điện thoại, người nào muốn nói chuyện với gia đình thì ra góc ngoài đứng tha hồ nói, không khí hiền hoà nhưng trông có vẻ lạnh lùng.

Hổng biết từ bao giờ, tôi quên bẵng cái quốc tịch và hổng màng tới mình là người gì nữa. Ai hỏi tôi phải là người In Đô không, tôi yes và hỏi có phải Phi Luật Tân không, tôi cũng yes. Lâu rồi tôi cũng hổng nghe ai hỏi tôi câu: “Ông có phải người Việt không?”  Nhưng tôi có nghe đầy tai về chuyện người Việt giết người, cướp của, trộm cắp, buôn người, trồng cần sa và bán ma túy xuyên quốc gia. Ở Anh quốc những tiệm nails trốn thuế và chứa chấp nhiều người ở lậu, trẻ em trong tuổi vị thành niên bị bóc lột sức lao động, người làm việc bất hợp pháp bị bắt nhiều vô số, bắt hoài mà hổng hết. Không phải riêng nước Anh, mà khắp Âu Châu này, nhiều nhứt là nước Nga và những nước Đông Âu. Bọn buôn người như buôn bán thú vật chở trên những xe hàng, con người ta mà chúng coi như là heo, gà, vịt đem nhét đầy nhóc trong những containers chở xuyên qua nhiều biên giới. Khi bị cảnh sát phát hiện, moi ra thì người nào người nấy ngất ngư gần chết và cũng có khi khui container thấy có người ngột thở chết queo, trong số đó nhiều nhứt là người ở Việt Nam. Cũng có người Việt tổ chức vượt biển đưa người vô nước Anh bằng ca nô bị cảnh sát biên phòng bắt. Những người Việt ngày nay tài giỏi thiệt, nước Việt Nam nằm xa mù chì bên kia bán cầu, phải qua hai đại đương, đi tàu buôn phải mất hơn hai tuần lễ, ấy vậy mà sao nhiều người Việt có mặt trong những containers và trên những chiếc ca nô nhỏ xíu bên tận trời Âu lạnh lẽo này.

Trong lúc tôi đang suy tư về quá khứ, chợt có một thủy thủ tới khèo vai và kề mặt sát vào mặt tôi, tôi nghe nực nồng mùi bia, ông hỏi:

– Ông có phải là ông Tấn đầu bếp?

– Tôi ngước nhìn ông khách một cái, như một tia chớp trong đầu, tôi nhận ra ông ngay:

– Oh, Bobby.

Gặp lại đồng nghiệp cũ, giống như gặp hồn ma hiện về. Trong lòng tôi hổng mừng vui và cũng không vồn vã. Tôi chỉ chiếc ghế trước mặt nói:

– Ngồi xuống, ông khoẻ không?

Vẫn thái độ giống như hơn hai mươi năm về trước, lè nhè khi say xỉn. Ông  vừa ngồi xuống vừa nói:

– Khoẻ khoẻ… Ông vẫn còn làm cho công ty cũ à.

– Ờ, vẫn làm bình thường. Dạo này ông sao rồi, vợ con gì chưa?

– Vẫn vậy, vẫn độc thân và vẫn làm thủy thủ.

Bobby và tôi quen nhau hồi còn trẻ, ông lớn hơn tôi vài ba tuổi gì đó, hồi đó tôi và ông đi chung tuyến đường từ Pháp sang Belfast này. Sau vài năm tàu hết hợp đồng tôi và ông cũng đổi tàu khác nhau và sau đó nghe có một đồng hương của ông nói ông đã chết rồi. Sống chung với đân In Đô đã lâu, tôi cũng biết cái tánh ba xạo nói láo của họ cũng hổng thua người Việt mình, nhưng với tánh hay say xỉn, lè nhè giống như Bobby, nghe nói ông chết, tôi tin ngay. Vì vậy hôm nay tình cờ gặp lại ông tôi có cảm giác như gặp một hồn ma. Tôi đứng lên đi lại quày mua bưng lại cho ông ly bia.  Bobby nhìn chai nước lọc trước mặt tôi, ông hỏi:

– Mày hổng uống bia sao?

– Uống, nhưng thỉnh thoảng thôi.

Lúc đó tôi thấy Bryony vô hội quán và đi lại phía bàn tôi, nhưng hổng hiểu sao cô nhỏ    quẹo qua đi vô đứng trong quày ba đưa tay ngoắc ngoắc tôi lại. Tôi đứng dậy đi tới hỏi chuyện gì. Bryony đứng phía trong quày bar chồm ra nói với tôi:

– Ông John hổng tới được.

– Ô kê.

Tôi đi lại bàn vừa ngồi xuống thì Bobby đưa ngón tay ra dấu tục, và hất mặt về phía Bryony. À, tôi hiểu vì sao Bryony vừa thấy Bobby thì cô nhỏ quay gót đi vô trong. Tôi làm mặt nghiêm, nói với Bobby:

– Ở đây là Seamen’s mission ông à. Ông muốn đàn bà, con gái sao hổng ra quán Bar ngoài góc phố:

Ông lắc đầu:

– Ngoài đó cũng hổng còn đàn bà như trước nữa.

Tôi nhìn Bobby, ngoài sáu chục rồi, lại say xỉn như ông thì còn hơi sức đâu mà gái với gộc. Tôi nói:

– Tui quên, thời tui với ông còn trẻ, chưa ai biết virus HIV nên đàn bà con gái, tự do xuống tàu chơi với thủy thủ. À, mà ông già rồi còn chấm mút được mẹ gì mà đòi đàn bà?

Ông cười kha kha rồi đưa bia lên hớp một cái, để ly xuống ông nói:

– Có đàn bà nhìn cũng vui mắt, ông khoa tay một vòng nói, mày hổng thấy sao, toàn toàn là đực rựa mà thằng nào thằng nấy giống như con gà chết. Nhìn gương mặt lừ đừ, hổng còn chút mùa xuân của ông, tôi hết muốn dây dưa. Tôi nói:

– Thời đại nào, cuộc sống đó. Tụi nhỏ là gà chết còn tui với ông thuộc loại gà già, hết gáy được rồi, nói chi chuyện đá, thôi cho qua chuyện đàn bà, con gái đi cha nội. 

Bobby bưng ly bia lên uống, để ly xuống, hổng nói gì mà chỉ gừ gừ trong cổ họng. Nhìn tướng tá ốm nhôm như con khô hố của ông và nghỉ tới một con người sống không chịu lập gia đình, chỉ biết có bia, rượu và gái giang hồ mà lây lất sống cho tới ngày hôm nay thì cũng là lạ.  Chợt nhiên tôi thốt lên:

– Oh, Ghosts!

Bobby giựt mình nhìn tôi, có lẽ ông tưởng tôi kêu Trời, ông hỏi:

– Chuyện gì?

Tôi mỉm cười:

– Không, hổng có gì hết. 

Hẹn với ông John, ổng hổng tới được, coi như xong rồi. Mọi hôm thì Bryony thường lại ngồi nói chuyện chơi với tôi, hôm nay bị Bobby làm kỳ đà cản mũi, nên con nhỏ hổng tới được. Tôi thấy mình cũng không còn lý do gì ngồi nán lại đây nữa. Tôi đứng lên bắt tay từ giã Bobby:

– Ông ngồi chơi, tui phải xuống tàu.

Bobby đứng lên và ngập ngừng một chút rồi nói:

– Mày cho tao xin hai chục pound.

– Để tui xem.

Tôi móc bóp, may cho ông, tôi còn một tờ hai chục và mớ tiền lẻ, tôi trút ra đưa hết qua cho ông:

– Ông ở lại chơi vui vẻ.

Tôi đi ngang qua bar, thấy Bryony đứng trong góc, tôi đưa tay chào. Cô nhỏ kêu tôi đứng lại, cô đi ra đưa cho tôi cái nón len.

– Cho chú nè.

Lần trước ghé hội quán tuyết rơi mà đầu tôi vừa mới cạo trọc và ngoài trời thì lạnh quá, tôi lại chỗ để đồ cũ vạch đống đồ ra tìm. Thấy tôi đứng vạch tìm hơi lâu, Bryony đi tới hỏi tôi tìm gì, tôi nói tìm nón len, cô nhỏ phụ tìm nhưng không có nón len. Đêm nay cầm cái nón len mới toan, tôi nghĩ, có lẽ Bryony mua nón cho tôi. Tôi hôn phớt lên má cô nhỏ một cái và nói:

– Cám ơn.

– Không có chi.

Đêm nay không có sương mù, trời trong quá và trăng khuyết một bên, ánh sáng yếu ớt của vầng trăng làm cho ánh đèn những con tàu thêm rực rỡ. Lòng tôi chợt sáng và nghĩ ra, nếu hổng có chuyện xảy ra trong chuyến đi này thì tôi đã quên mất tiêu cái khoảng đời lẽ ra tôi hổng được quên. Trước kia gặp bạn đồng nghiệp trên những hội quán xa xôi, chúng tôi háo hức vui mừng cùng nhau ngồi uống bia và tán chuyện cho tới khi hội quán đóng cửa chưa thôi. Nhưng lần này gặp Bobby tôi có cảm giác như gặp lại con người cũ kỹ xa xôi nào và tôi mới nhận ra Bobby là cột mốc cho một lớp người thay đổi và tốc độ của cả một thế giới đổi thay. Thân thể và tâm hồn tôi cũng bị thời gian làm cho chai sạm. Cũng ngay bây giờ, trong đêm nay, tôi mới nhận ra một điều là những người đồng hương cùng thời tị nạn với tôi ai cũng đã an cư lạc nghiệp ở một quốc gia tự do nào đó trên trái đất này. Riêng tôi thì ngót hơn bốn chục năm trôi qua, cho tới bây giờ, tôi vẫn còn là một Vietnamese boat people, nghĩa là một Thuyền Nhân người Việt và vẫn còn lênh đênh trên sóng nước.

Teestport 20/3/2019

Lên rừng thăm bạn

Lâm Chương

Post by Sơn râu 5 Jul 2026

Từ trên đồi cao nhìn xuống, giữa đại ngàn mênh mông xanh ngắt, đám rẫy của anh Khan nhỏ như một chiếc chiếu, màu nhạt lá non. Tôi lặn lội tìm đến giang sơn biệt lập của anh khi mùa bắp đang rộ trái. Lọt thỏm giữa đám rẫy là lều tranh. Giữa lều, treo một chiếc võng làm bằng bao bố. Những ngày ở đây, tôi ngủ trên chiếc võng này. Cái sạp tre để sát vách, chỗ ngủ hàng đêm của anh Khan.

Đối diện vách bên kia, anh kê những viên đá làm ba ông táo nấu ăn. Mọi thứ trong lều đều đơn giản. Phía ngoài, gần bên hông lều, một cái hố đang đào dở. Hố rộng bằng căn phòng nhỏ. Theo lời anh, còn phải đào sâu hơn nữa, khoảng hai thước.

Lúc mới đến, tôi hỏi: “Đào hố để làm gì?”

Anh nói: “Bắt khỉ.”

Tôi ngạc nhiên: “Bắt khỉ?”

“Ừ , bắt khỉ.”

“Để ăn thịt?”

“Khỉ ốm, chỉ có da bọc xương. Thịt khỉ lại tanh, không ai ăn.”

“Không ăn thì bắt để làm gì?”

“Để đuổi khỉ.”

“Bắt khỉ để đuổi khỉ? Tôi không hiểu.”

“Cứ ở đây vài hôm thì hiểu.”

Anh Khan không giải thích. Có lẽ anh muốn dành cho tôi một lý thú bất ngờ.

Buổi sáng sớm, trời còn mát, và buổi chiều, khi mặt trời xuống lấp lửng trên đọt cây rừng, nắng cũng dịu bớt, tôi phụ anh Khan trong công việc đào hố. Anh xúc đất vào cái ki đan bằng nan trẹ Tôi kéo đất lên, đổ chung quanh hố. Anh gầy nhưng sức dẽo và bền, tôi không bì kịp. Làm việc với anh, tôi đuối, phải nghỉ từng chặp. Những lúc tôi nghỉ, anh một mình xúc từng xẻng đất quăng lên. Anh làm đều đặn, khoan thai như đang tập thể dục dưỡng sinh. Đối với anh, không có gì phải vội vàng. Anh quan niệm rằng con người lầm lẫn khi chạy đua với thời gian. Đời sống ngắn ngủi mà một lúc muốn chụp bắt nhiều thứ. Và sau cùng, cái thứ mà họ không muốn chụp bắt đến với họ. Đó là sự tử vong. Khi nằm ngắc ngoải, họ nghĩ lại và thấy rằng họ chưa kịp sống cho đúng nghĩa một người đã sống. Nghe anh bày tỏ cái quan niệm sống này, tôi rất chán, nhưng vẫn hỏi sống thế nào cho đúng nghĩa một người đang sống? Anh nói, không tham cầu, không chờ đợi, tận hưởng sự hiện hữu trong từng giây phút. Tôi hỏi tận hưởng luôn cả nghịch cảnh, và nỗi niềm đau khổ? Anh nói nghịch cảnh hay đau khổ là do tâm cảm. Tại sao không coi đó là sự thay đổi món ăn của tinh thần? Đã từng ăn những món dở, mới biết thế nào là món ngon. Tôi cười, rằng tư tưởng anh được chắp nối một phần triết Đông, một phần triết Tây. Anh nói, anh chẳng cần biết Đông hay Tây. Anh sống theo kiểu của anh. Và anh cũng nói, tôi đã đến đây rồi, nên bỏ quên sách vở, để cho cái đầu được nghỉ ngơi thư thái.

Buổi trưa, lúc trời bắt đầu nắng gắt, tạm ngừng công việc đào hố. Tôi theo anh Khan đi kiểm soát chung quanh rẫy. Có những chỗ bị chồn, sóc cắn phá làm bắp hư hại. Và, vài nơi trên những luống khoai lang bị heo rừng ủi. Anh lần theo những dấu chân, để biết lối nào heo thường vào rẫy. Phải trừ khử những con heo phá hoại này. Anh Khan nói thế.

Tôi thấy chung quanh rẫy có treo những cái thùng thiếc, buộc lòng thòng thêm vài viên đá, và nối sợi dây dài đến lều.

Tôi hỏi: “Để làm gì?”

Anh nói: “Chuyện đơn giản thế này cũng không biết. Mãi chạy theo máy móc tinh xảo, lo tìm hiểu những chuyện xa vời tận mặt trăng mặt trời, đến lúc quay trở lại với đời sống thiết thực cận kề thì loay hoay, bối rối.”

“Anh chưa trả lời câu hỏi của tôi.”

“Mùa bắp ra trái, thú rừng thường hay đến kiếm ăn. Nhất là khỉ, heo rừng, chồn, sóc phá hại mùa màng. Thú rừng rất sợ tiếng động. Lâu lâu, giựt sợi dây làm thùng thiếc khua động để thú rừng bỏ chạy.”

“Tôi coi trong sách vở, nói người ta làm những hình nộm, trông giống như người đang giữ vườn, để đánh lừa thú vật không dám đến gần.”

“Chẳng có sách vở nào nói hình nộm để đuổi thú. Hình nộm chỉ có tác dụng đuổi chim mà thôi. Trên những cánh đồng, mùa lúa chín, người ta làm hình nộm ở nơi trống trải, dễ nhìn thấy, để chim muông không dám đáp xuống ăn lúa. Còn đây là rẫy bắp giữa rừng, nhiều cây cối rậm rạp che khuất, làm hình nộm không có tác dụng với thú rừng.”

Tôi đến với anh Khan được ba ngày. Lòng đã chán. Anh ít nói đến độ lầm lì. Sau những bữa cơm chiều, anh thường ngồi bập thuốc rê, trầm tự Lưng anh hơi còng xuống. Trông giống một hình tượng cô đơn, im lặng ngồi chịu đựng với thời gian. Tôi nói với anh như thế. Anh chỉ mỉm cười, xa vắng. Tôi cố gợi chuyện, bằng cách hỏi tại sao anh tách rời vợ con, lên rừng một mình như người ở ẩn? Tại sao khi ra khỏi tù, anh vụt đổi thái độ và lối sống? Anh ngó mông ra rừng, nói chậm rãi, thỉnh thoảng dừng lại một lúc lâu để bập vài hơi thuốc. Mỗi lần nhìn lại chặng đường đã đi qua, thật kinh khủng. Chiến tranh như con quái vật khổng lồ, theo nó thì bị nó ăn nuốt, cưỡng lại thì bị nó chà đạp. Đàng nào cũng chết, chỉ có điều chết trước hay sau mà thôi. Anh may mắn chưa kịp chết thì chiến tranh chấm dứt, bước sang giai đoạn khác. Trong tình thế mới, anh bị đẫy vô tù. Ở tù đã khốn nạn, nhưng ở tù dưới chế độ được mệnh danh là ưu việt, lại càng khốn nạn hơn. Những con người của chết độ ưu việt này, đã phát triển đến cao độ cái tính nham hiểm và gian trá. Họ biến tù nhân thành những con ma đói, và hạ xuống ngang hàng với súc vật. Điếu thuốc đã tàn, anh Khan ngừng lại vấn thêm điếu khác. Lúc nào cũng có điếu thuốc đang cháy khi anh nói, và anh cứ bập hoài, như để trấn an một nỗi niềm, hay để suy nghĩ, gạn lọc từng câu. Ngày anh được thả ra khỏi nhà tù, có người bạn cùng chung cảnh ngộ, kể cho anh nghe hai câu chuyện ngụ ngôn, gọi là chút quà tiễn bạn, làm vốn sống khi ra khỏi địa ngục.

Truyện một: Có một thương gia giàu có, hay đi buôn bán nhiều nơi, gom góp những vật quý trong thiên hạ về làm của riêng. Trong số những vật quý này, có con sáo biết nói tiếng người. Một hôm, người thương gia nói với con sáo rằng: “Sáo ơi, ta có việc sắp đi ngang qua quê hương thuở trước của mày. Vậy, mày có gì nhắn cho bạn cũ ở đó, ta chuyển lời chọ” Con sáo nói: “Ông chủ làm ơn cho tôi gởi lời thăm các bạn, và hỏi chúng có nhắn gì cho tôi hay không.”

Khi đến quê hương của con sáo, người thương gia ngước nhìn lên vòm cây, nơi có đàn sáo đang đậu, ông nói: “Đàn sáo ơi, con sáo quý của nhà ta, gởi lời thăm chúng bây. Và hỏi chúng bây có nhắn lại lời gì cho nó hay không?” Đàn sáo im lặng. Người thương gia đứng chờ một lúc. Và lạ thay, từ trên cây, đàn sáo rớt xuống chết hàng loạt.

Người thương gia trở về, con sáo của ông hỏi: “Ông chủ ơi, các bạn tôi thế nào?” Người thương gia nói: “Ta đã chuyển lời thăm của mày, hỏi chúng có nhắn gì cho mày không, chúng chỉ im lặng. Và sau đó rớt xuống chết như bị lời trù rủa ghê gớm.”

Ngày hôm sau, người thương gia thấy con sáo quý của mình nằm chết trong chuồng. Ông xách con sáo vất ra ngoài như một thứ đồ bỏ. Bỗng, con sáo vỗ cánh bay đi mất, trước sự ngạc nhiên của người thương gia.

Dứt chuyện thứ nhất, anh Khan nhìn tôi chờ đợi một sự góp ý. Tôi hỏi ý nghĩa chỗ nào? Anh giải thích, con sáo bị nhốt trong lồng vì nó có giá trị. Giả chết là một cách đánh lừa người thương gia, rằng nó không còn giá trị nữa. Nhờ thế mà nó thoát được sự giam cầm. Trong chế độ ưu việt này, người nào tỏ ra có giá trị, sẽ bị theo dõi dòm ngó. Nếu không dùng được, họ tiêu diệt, chứ không cho sống. Tốt nhất là giả ngây khờ, chẳng ai thèm để ý, sẽ được yên thân. Tôi mừng vì anh Khan đã bắt đầu tỏ thái độ cởi mở, ít ra anh cũng không còn giữ thế thủ với tôi. Còn chuyện thứ hai, tôi hỏi.

Truyện hai: Trong một buổi lâm triều, sứ giả của một nước láng giềng, dâng tặng nhà vua ba bức tượng hình người, và xin cho biết bức tượng nào giá trị nhất. Nhà vua và cả đám quần thần cầm lên, săm soi hoài, thấy ba bức tượng đều giống nhau, trọng lượng cũng bằng nhau, khó mà phân định bức tượng nào giá trị nhất. Cuối cùng, vua cho truyền rao trong dân chúng, tìm người thông minh giúp vua giải quyết vấn đề ba bức tượng.

Khi nghe chuyện này, có một nông dân cầm theo ba cọng rơm, lên đường đến kinh đô, xin vào yết kiến nhà vua để tìm hiểu giá trị của ba bức tượng. Anh xỏ cọng rơm vào lỗ tai bức tượng thứ nhất, cọng rơm thông qua lỗ miệng. Anh xỏ cọng rơm vào lỗ tai bức tượng thứ hai, cọng rơm thông qua lỗ tai phía bên kiạ Anh xỏ cọng rơm vào lỗ tai bức tượng thứ ba, xỏ đến cuối cọng rơm, nhưng vẫn không thấy thông ra chỗ nào.

Anh nông dân cầm bức tượng thứ ba đưa cho nhà vua và nói, đây là bức tượng giá trị nhất.

Tôi lại hỏi ý nghĩa thế nào? Anh Khan cười, nụ cười ít thấy nơi một kẻ trầm tư, rằng nếu không có lời bình giải kiểu Mao Tôn Cương, thì tôi khó mà lãnh hội được cái thâm thuý của người xưa. Câu chuyện trên muốn nói, thứ nhất, tai nghe mà bép xép ra lỗ miệng, thì hoạ tòng khẩu xuất, nghĩa là tai hoạ theo cái miệng mà rạ Thứ hai, nghe tai này lọt qua tai kia, không nhớ gì cả, là thứ vô dụng. Cả hai loại người trên, chẳng giá trị gì. Thứ ba, nghe và cất kỷ trong lòng, không nói rạ Đây là loại người ý tứ kín đáo. Sống trong chế độ ưu việt, áp dụng Ba Không: không nghe, không thấy, không biết, có thể tránh được nhiều tai vạ. Tôi nói, tránh được tai vạ để giữ tính mệnh, nhưng sống mà buồn quá, cũng chán. Anh Khan ngước nhìn lên đám mây cao, nói trời lặng thinh, nhưng bốn mùa vẫn luân chuyển, vạn vật vẫn không ngừng sinh hoá. Không ai có thể biết được ngày mai sẽ xảy ra chuyện gì. Hãy chờ xem.

Một ngày, sau bữa cơm chiều, có hai gã người Thượng ghé rẫy của anh Khan. Anh giới thiệu, một người tên Y Nôm, người kia tên SõLum. Cả hai đều nước da ngăm đen, thân hình rắn rỏi. Họ dắt theo một con chó, loại chó săn, cao giò, bụng thon, tai vểnh, lông có vằn như cọp. Và mang theo những cái rế đan bằng mây rừng, giống cái rế lót nồi ở những vùng quệ Như đã hẹn trước, anh Khan đưa họ đi quan sát dấu chân heo rừng. Dài theo những lối heo thường ra vào phá rẫy, họ đặt những cái rế lật ngửa lên. Giữa rế để một miếng mồi bằng loại thịt đã có mùi hôi, được móc với một chùm lưỡi câu. Mỗi lưỡi câu cột dính với vành tròn phía trong của cái rế, bằng sợi cước dài khoảng gang taỵ

Tôi hỏi: ” Làm thế mà có thể bắt heo rừng được saỏ”

Y Nôm hỏi lại: “Chứ ông cán bộ nghĩ phải làm thế nào?”

“Tôi nghe người ta nói, dùng một thân cây níu quằn xuống làm cần bẫy, cột sợi dây làm thòng lọng, đặt trên mặt đất. Khi heo dẵm phải, cần bẫy bật, và cái thòng lọng siết giò heo treo lên.”

“Ông cán bộ chỉ nghe người ta nói, chứ ông không có để cái tay làm công việc. Làm cái bẫy như thế cũng được, nhưng không tốt và có hại cho con người.”

“Tại sao không tốt mà lại có hại cho người?”

Y Nôm cười, lắc đầu.

Anh Khan nói: “Nó không đủ lời giải thích đâu. Này nhé, trên đường heo đi, không dễ tìm được cây nào thích hợp để làm bẫy. Và khi đã làm bẫy rồi, không dễ gì con heo dẵm chân phải cái vòng thòng lọng. Giả dụ, heo đã dẵm vào thòng lọng, cần cây bật siết giò heo treo lên. Nó có thể cắn đứt dây, hoặc cắn đứt lìa một cái giò bỏ lại để thoát thân.”

“Trời đất! Nó dám tự cắn đứt cái giò à?” Tôi kêu lên kinh ngạc.

“Có nhìn thấy cái giò bỏ lại, mới biết loài heo rừng gan dạ phi thường. Làm cái bẫy như trên, đã khó lại tốn nhiều công, nhưng kết quả rất ít. Và chừng nào heo chưa mắc bẫy thì còn duy trì cái bẫy. Nếu lỡ có ai ngang qua, vô tình dụng phải, sức bật của cần bẫy có thể gây nguy hiểm.”

“Thế còn cái rế kia, bắt heo cách nào?”

“Cách nào thì chờ xem. Có thể ngày mai, ngày mốt. Không lâu đâu.”

“Nếu trong vài ngày, heo không đi qua lối đặt những cái rế, thì có cần phải thay mồi không?”

“Không cần. Heo là loài ăn tạp. Mồi càng bốc mùi càng hấp dẫn.”

Khi hai gã người Thượng đi khỏi, tôi hỏi anh Khan, tại sao Y Nôm gọi tôi là cán bộ? Anh nói, tất cả những ai đến với buôn bản vùng cao, mang cái dáng dấp phi lao động, chỉ biết đứng nhìn, hỏi những câu ngớ ngẩn, và chỉ trích phê bình, lý thuyết suông mà chẳng làm được gì , họ đều gọi là cán bộ. Anh nói tiếp, trong thời chiến tranh, người Thượng đã đóng góp tích cực một phần xương máu cho sự thành công chiếm đoạt miền Nam. Người ta hứa hẹn với họ, rằng họ sẽ được đền bù xứng đáng bằng cách cải thiện cho đời sống dân buôn bản tốt đẹp hơn. Nhưng chiến tranh chấm dứt đã lâu rồi, chế độ đã thành hình vững chắc, mà đời sống của họ vẫn thế, thậm chí còn khó khăn hơn. Họ không còn được làm ăn tự do nữa. Thỉnh thoảng, có những ông cán bộ từ miền xuôi lên đây, gọi sự tự do này là sự tuỳ tiện, thiếu tổ chức. Người ta đặt ra kế hoạch, bắt họ phải làm theo khuôn mẫu. Những kẻ không có một chút kinh nghiệm nào về đời sống giữa núi rừng, dạy khôn cho kẻ được sinh ra và lớn lên từ bao đời cha ông ở đây. Tóm lại, người ta nói về vấn đề cải thiện đời sống, mà không hề cung cấp phương tiện. Người ta chỉ muốn tổ chức lại mô hình xã hội, để dễ bề kiểm soát mà thôi. Trên đường trở lại căn lều, anh Khan nói từ ngày có tôi đến đây, anh đã phá lệ Ba Không: không nghe, không thấy, không biết.

Sáng hôm sau, anh Khan và tôi đang ăn khoai lang lót dạ, nghe có tiếng chó sủa, và tiếng kêu ơi ới ngoài rừng.

Anh Khan nói: “Y Nôm, SõLum gọi.”

Tôi theo anh ra nơi đặt bẫy. Hai gã người Thượng, mỗi người cầm một cây lao, đầu có bịt sắt nhọn, đứng vây một lùm cây rậm. Con chó sủa, nhiều lần dọm mình muốn chồm vô, nhưng không dám.

SõLum ngoắc tôi: “Ông cán bộ lại đây coị”

Theo ngón tay chỉ của SõLum, một con heo rừng lông xám, hai bên mép có nanh dài và cong. Loại heo độc chiếc, đủ khả năng tách bầy, đi kiếm ăn một mình riêng lẻ. Nhìn cái tư thế mắc bẫy của con heo, tôi hiểu được tất cả những gì hôm qua còn thắc mắc. Heo táp miếng mồi, nuốt tới cổ, không trôi được vì đã mắc phải những lưỡi câu, cột bởi những sợi cước dính vào lòng chiếc rế. Vì sợi cước ngắn nên cái rế áp sát vào mõm. Heo dùng chân trước đẫy chiếc rế ra, nhưng không dám đẫy mạnh vì sợ sợi cước căng, làm lưỡi câu móc đau cuống họng. Đẫy một hồi, chân trước vô tình lọt vào một cái lỗ của chiếc rế. Coi như một cái chân đã bị trói. Cái chân trước còn lại, sẽ tiếp tục đẫy nữa, rồi cũng sẽ lọt vô cái lỗ khác, không rút ra được. Thế là cái mỏm heo và hai chân trước hoàn toàn bị khoá bằng chiếc rế. Heo không dám làm động mạnh chiếc rế, sợ lưỡi câu móc đau cuống họng. Khi đã mắc bẫy, heo chỉ có thể lê lết xa nơi đặt bẫy một khoảng mười thước không hơn. Và, người thợ săn chỉ còn một việc phải làm sau cùng, là phóng lao đâm vào những chỗ nhược của con heo mà không sợ bị nó tấn công ngược lại.

Sau vụ bẫy heo rừng. Anh Khan nói, Y Nôm và SõLum cho biết đàn khỉ đã kéo về lảng vảng vùng này rồi. Nhưng chừng nào chúng đến tảo thanh rẫy bắp thì chưa biết. Một hôm, tôi thấy vài con khỉ nấp ló trên cây. Anh Khan nói, đó là những con tiền sát, đi dò địa bàn hoạt động. Khỉ là loài tinh khôn sau loài người. Chúng sống có đàn. Mỗi đàn có một con khỉ đầu đàn. Con này sẽ dẫn đàn đi kiếm ăn rày đây mai đó, như những bộ tộc du mục thời xưa. Chúng đến cái rẫy nào một lần, sẽ lẩn quẩn ở đó nhiều ngày, ăn cho tàn mạt rồi mới chịu đi nơi khác. Con khỉ đầu đàn, không vào rẫy. Nó ngồi trên ngọn cây cao để canh chừng, và xua con cháu vào mục tiêu, ăn cho no, còn độn hai bên má làm phần dự trữ. Trước khi rút lui, chúng còn mang theo một hoặc hai trái bắp làm chiến lợi phẩm, và đóng thuế cho con khỉ đầu đàn. Khi nào con khỉ đầu đàn la ré lên là báo hiệu có biến, đàn khỉ đang ăn sẽ bỏ chạy, mất trật tự còn hơn cuộc di tản chiến thuật từ cao nguyên về miền biển. Tôi hỏi thế những cái thùng thiếc khua động chung quanh rẫy, không có tác dụng làm chúng sợ hay saỏ Anh Khan nói, cũng có tác dụng trong những lần đầu, nhưng nhiều lần sau chúng quen, không sợ nữa. Khi ta ở trong lều, thì chúng phá ngoài rẫy. Khi ta ra rẫy, chúng kéo vô trong lều, lục phá tan hoang đồ đạc.

Một buổi trưa, nghe tiếng khọt khẹt ngoài rẫy, anh Khan giựt dây khua thùng báo động và chạy ra xem. Một vạt bắp bị phá. Nhiều cây gảy gục và trái bị cạp lem nhem dang dở.

Anh nói: “Chỉ mới đợt đầu mà thiệt hại như thế, thì đàn khỉ này có thể đông gần trăm con.”

Tôi ra bìa rẫy, nhìn lên những ngọn cây rừng, tất cả đều im lìm.

“Chúng đã chạy xa hết rồi.” Tôi nói.

“Chưa chắc. Có thể chúng nấp đâu đó trong những vòm lá. Thử ném mạnh một viên đá lên thì biết ngaỵ”

Tôi ném viên đá, không thấy động tĩnh gì. Anh Khan ném một khúc gỗ mục lên tàng cây khác. Bỗng nghe ào ào trên cây. Bầy khỉ hốt hoảng chuyền cành, đổi chỗ ẩn nấp. Chỉ trong vài giây ngắn ngủi, tất cả đều im lìm trở lại. Nhìn kỹ sẽ thấy vài con thu mình trong lá, hai mắt thao láo nhìn xuống.

Trở lại lều, anh Khan chuẩn bị bắt khỉ bằng cách đâm một chén muối ớt thật cay, trộn với cơm nguội, để xuống hố. Anh dựng thêm một cây tầm vông từ dưới lên miệng hố, và giải thích, cây tầm vông làm cái thang cho khỉ xuống hố. Gặp cơm trộn ớt đỏ, nó sẽ bốc ăn, cay quá chảy nước mắt, nó sẽ đưa tay dụi mắt. Tôi cười, bàn tay dính ớt mà dụi vào mắt, thì chỉ còn có cách làm hiệp sĩ mù nghe gió kiếm mà thôi.

Chuẩn bị xong, anh Khan kéo tôi ra một góc rẫy, nơi bìa rừng, ngồi dưới bóng cây tọ Anh nói, bỏ trống cái lều, nhường cho bầy khỉ. Nhưng suốt chiều hôm đó, không có con khỉ nào bén mảng vào lều.

Hai hôm saụ Trên đường từ nhà Y Nôm trở về, vừa đến rẫy đã nghe tiếng con khỉ đầu đàn trên ngọn cây ngoài rừng la ré lên, anh Khan chạy vội vào lều. Bầy khỉ tuôn ra, phóng chạy. Đồ đạc trong lều bị phá tung, vất bừa bãi. Dưới cái hố, bên hông lều, những con khỉ còn kẹt lại, tranh nhau leo lên bằng cây tầm vông. Cứ con này ôm cây tầm vông leo lên, thì con kia sợ hãi nắm đuôi kéo xuống, giành leo lên trước. Rốt cuộc, không con nào lên được miệng hố. Chúng quờ quạng, loi choi, bưng mặt, dụi mắt, và la chí choé. Anh Khan rút cây tầm vông lên. Thế là những con khỉ dưới hố đã hoàn toàn bị nhốt. Tôi đếm được bảy con.

Tôi hỏi: “Đã bắt khỉ rồi. Bây giờ, làm cách nào đuổi khỉ?”

“Đến giai đoạn này, mọi chuyện sau đều dễ dàng.”

Tất cả đồ nghề đã chuẩn bị từ trước. Anh Khan dùng thanh cây, một đầu có buộc thòng lọng, tròng vào cổ từng con, kéo lên, trói lại. Anh lấy kéo cắt lông trên đầu khỉ, như bị cạo trọc. Và lấy sơn màu đen đỏ trắng vàng, phết lem nhem lên đầu, lên mặt khỉ, trông rất khôi hài. Xong, anh mở trói, thả nó chạy vào rừng. Lại lôi con khác lên, hớt lông, sơn đầu…

Anh Khan giải thích, khỉ có khuynh hướng nhập bầy. Những con khỉ này, nó sẽ chạy đi tìm bầy để nhập. Nhưng những con khỉ khác không còn nhận ra bạn nữa, và tránh xa nó như con vật quái đản. Tự bản thân con vật bị sơn mặt, nó không biết nó quái đản, nên bầy khỉ càng chạy tránh, nó càng bám theo để nhập bầy. Cứ thế, một bên chạy, một bên bám riết, càng ngày càng đi xa, thật xạ

“Rồi nó sẽ về đâu?”

“Rừng núi bao la muôn trùng, ai biết sẽ về đâu.”

“Những con khỉ bị bôi sơn lên mặt, rồi sẽ ra saỏ”

“Cũng không ai biết sẽ ra saọ Nếu nó cứ bám riết theo bầy, có thể một ngày nào đó, con khỉ đầu đàn sẽ cắn nó chết.”

Sáng mai, tôi sẽ rời khỏi lều rẫy, bỏ lại núi rừng, từ giả anh Khan để đi một nơi thật xạ Trong đêm, tôi nằm thao thức trên chiếc võng, không ngủ được. Nhìn ánh trăng khuya lạnh lẽo soi vào căn lều trống trải, tôi nghĩ đến những ngày cô đơn của anh Khan giữa đám rẫy đìu hiụ Tôi lại nghĩ đến đàn khỉ cứ chạy mãi, chạy mãi, không biết giờ này chúng dừng lại hay chưa? Anh Khan cũng không ngủ được. Anh ngồi dậy vấn thuốc, bất ngờ anh hỏi tôi, nghĩ thế nào về những con khỉ bị sơn mặt? Tôi nói, nếu ở Âu Mỹ, Hội Bảo Vệ Súc Vật sẽ can thiệp cho nó. Anh bảo, khi tôi sang xứ người, nên tìm đến cái Hội Bảo Vệ Súc Vật, để nhờ họ che chở. Và nhớ hỏi họ, rằng giữa vùng rừng núi Việt Nam, có những “con khỉ người” đang bị sơn mặt, họ có bảo vệ không?

Lâm Chương

Khi người lính bị kéo ngã

quinhon11.com

Thursday, June 25, 2026

LÊ XUÂN MỸ

Post by Sơn râu 5 Jul 2026

Các bạn thân mến,

Mấy hôm nay bản tin về bức tượng đồng Người lính VNCH của tượng đài “Thank You America” bị kẻ xấu phá hoại và kéo đi khỏi khu Tượng Đài Tưởng Niệm tại thành phố San Jose, miền Bắc California, Hoa Kỳ. Hành động tệ hại này đã khiến những người VN còn nặng lòng với đất nước bàng hoàng và khổ tâm.

Tôi hy vọng và chờ đợi bài viết từ các bạn tôi, những người bạn thời Trung Học Phan Chu trinh Đà Nẵng, niên khóa 63-70, ít nhất là một người…. đó là ông bạn Xuan My, ông ý đã từng viết về hành trình đi tìm mộ của thân phụ mất tại trại tù cải tạo, và cũng vừa ra mắt cuốn sách viết về thân mẫu “Giọt lệ biết làm sao ngưng..” vô cùng cảm động.

Và trưa nay tôi đã đọc được bài viết “KHI NGƯỜI LÍNH BỊ KÉO NGÔ

của Xuan My. Tôi xúc động vì bài viết đã đến như tôi mong đợi và nội dung bài viết cũng chính là nỗi niềm của tôi. Cảm ơn ông nhiều nghe ông Mỹ. Xin mời các bạn cùng đọc.

Quý mến. DIỄM HƯƠNG.

——

KHI NGƯỜI LÍNH BỊ KÉO NGÃ.

Lê Xuân Mỹ

Tuần qua, cộng đồng người Việt tại San Jose không khỏi bàng hoàng khi hay tin bức tượng người lính Việt Nam trong tượng đài “Thank You America” bị kẻ gian lấy đi cùng lá cờ và chiếc lư hương đặt phía trước tượng đài. Vài ngày sau, người ta tìm thấy bức tượng bị kéo lê và bỏ lại trong một khu vực của những người vô gia cư. Điều khiến nhiều người suy nghĩ là trong cụm tượng có hai người lính đứng cạnh nhau, một người lính Mỹ và một người lính Việt Nam Cộng Hòa, nhưng chỉ có bức tượng người lính Việt Nam bị lấy đi.

Tôi đọc tin ấy nhiều lần. Ban đầu là sự ngạc nhiên, sau đó là nỗi buồn. Không phải vì giá trị của một pho tượng bằng đồng, mà vì ý nghĩa của những gì bức tượng ấy tượng trưng. Đối với nhiều người Mỹ, đó có thể chỉ là một tượng đài chiến tranh. Nhưng đối với nhiều người Việt tị nạn như tôi, đó là biểu tượng của lòng biết ơn. Hai người lính đứng cạnh nhau không chỉ nói lên một giai đoạn lịch sử mà còn nhắc nhở về sự hy sinh, tình đồng minh và mối ân tình mà cộng đồng người Việt tị nạn luôn dành cho nước Mỹ.

Cho đến hôm nay, không ai biết chính xác vì sao chỉ có tượng người lính Việt Nam bị lấy đi. Có thể đó chỉ là một vụ trộm cắp đơn thuần. Có thể kẻ gian thấy bức tượng ấy dễ tháo gỡ hơn. Cũng có thể hoàn toàn là sự ngẫu nhiên. Cũng có thể có chủ đích nào đó. Chúng ta không nên vội vàng kết luận khi chưa có kết quả điều tra. Tuy nhiên, đối với nhiều người thuộc thế hệ của tôi, sự việc ấy vẫn để lại một cảm giác khó tả. Câu hỏi “Vì sao chỉ có người lính Việt Nam?” cứ quanh quẩn trong đầu như một nỗi trăn trở không dễ trả lời.

Có lẽ bởi vì phía sau bức tượng ấy là hình ảnh của biết bao con người thật. Tôi nhìn bức tượng và nhớ đến cha tôi. Ông là một sĩ quan Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 1975, ông bị đưa đi học tập cải tạo và qua đời trong trại giam Vĩnh Phú năm 1979. Gia đình tôi từ đó rơi vào cảnh thiếu thốn. Mẹ tôi phải gồng gánh nuôi đàn con, còn tôi phải làm đủ nghề để cùng mẹ chăm sóc bảy người em còn nhỏ. Những năm tháng ấy đã lùi xa gần nửa thế kỷ nhưng chưa bao giờ phai nhạt trong ký ức.

Khi sang Mỹ năm 1998, tôi mang theo không chỉ hành trang của một người di dân mà còn mang theo ký ức của một người con mất cha trong trại cải tạo. Nước Mỹ không thể trả lại cho tôi những năm tháng đã mất, không thể mang cha tôi trở về với gia đình, nhưng nước Mỹ đã cho gia đình tôi cơ hội xây dựng lại cuộc đời. Các con tôi trưởng thành trên đất nước này. Các cháu tôi được sinh ra trên đất nước này. Và tôi có cơ hội sống những năm tháng tuổi già trong bình yên, được viết lại những câu chuyện của một thế hệ đã trải qua chiến tranh, tù đày, mất mát và hành trình đi tìm tự do.

Có lẽ vì vậy mà mỗi lần nhìn tượng đài “Thank You America”, tôi luôn cảm nhận đó là một lời cảm ơn được đúc thành hình tượng. Cảm ơn những người lính Mỹ đã từng chiến đấu tại Việt Nam. Cảm ơn đất nước đã mở rộng vòng tay đón nhận hàng triệu người tị nạn. Cảm ơn cơ hội mà nước Mỹ đã dành cho những gia đình như gia đình tôi.

Điều khiến tôi xúc động hơn nữa là chiếc lư hương cũng bị lấy đi. Trong văn hóa Việt Nam, lư hương không chỉ là một vật trang trí. Đó là nơi người sống gửi gắm lòng tưởng nhớ đến người đã khuất. Đó là nơi một nén nhang được thắp lên để nối quá khứ với hiện tại. Nhìn hình ảnh bức tượng và lư hương bị kéo khỏi vị trí vốn có của chúng, tôi chợt nghĩ đến số phận của những người lính Việt Nam Cộng Hòa sau cuộc chiến. Nhiều người ngã xuống trên chiến trường. Nhiều người chết trong các trại cải tạo. Nhiều người lưu lạc khắp thế giới. Và không ít người đã ra đi trong lặng lẽ.

May mắn thay, bức tượng đã được tìm thấy. Rồi đây nó sẽ được dựng lại. Những vết trầy xước có thể được sửa chữa. Chiếc lư hương có thể được thay mới. Nhưng sự việc ấy đã nhắc cho chúng ta thấy rằng ký ức cần được gìn giữ và lịch sử không nên bị lãng quên. Chúng ta phải làm gì để những việc như thế này không thể xảy ra một lần nữa. Người ta có thể kéo ngã một bức tượng, nhưng không thể kéo ngã lòng biết ơn của một cộng đồng. Người ta có thể lấy đi một khối đồng, nhưng không thể lấy đi những ký ức đã khắc sâu trong trái tim của hàng trăm ngàn người Việt tị nạn.

Hơn năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày chiến tranh kết thúc. Những người lính năm xưa giờ đây phần lớn đã già yếu hoặc đã ra đi. Nhưng chừng nào vẫn còn những người nhớ đến họ, chừng nào vẫn còn những người dừng chân trước tượng đài để tưởng niệm, thì người lính ấy vẫn còn đứng đó. Không chỉ đứng trong công viên của thành phố San Jose, mà còn đứng trong ký ức của cả một thế hệ và trong lòng biết ơn của những người Việt đã tìm được cuộc sống mới trên quê hương thứ hai của mình. Và vì vậy hãy bảo vệ những tượng đài như “Thank You America” sẽ và mãi mãi không bao giờ bị đánh cắp.

Lê Xuân Mỹ
https://www.facebook.com/share/p/1Bafx8q3ik/?mibextid=wwXIfr

Tranh luận về cờ vàng-cờ đỏ

quinhon11.com

Tôn Vân Anh Ania  

Bút Chì Gilbert 21/6/2026

Post by Sơn râu 5 Jul 2026

Xin chào quý vị, tôi là Tôn Vân Anh, một người xuất thân từ miền Bắc Việt Nam, đang sống và làm việc tại Ba Lan. Mấy hôm nay, chuyện tranh luận về Cờ Vàng – Cờ Đỏ sau khi tôi xuất hiện trên trang bìa của tạp chí Ba Lan là điều khiến tôi phải trăn trở. Thay vì để sự tranh cãi thì với tư cách là người trong cuộc, tôi muốn đưa ra quý vị vài lời, để ít nhất tôi muốn bảo toàn quyền được bày tỏ chính kiến của mình.

Trước tiên, tôi xin phép kể câu chuyện này để quý vị dễ hình dung: Ngày 6 tháng 6 vừa qua, Mirra Andreeva bước lên bục vinh quang của French Open với tư cách là một tay vợt người Nga. Nhưng bên cạnh cô không có lá cờ Nga.

Đó là một hình ảnh khiến tôi suy nghĩ rất nhiều.

Nước Nga đã làm gì để một cô gái trẻ phải vô địch thế giới trong hoàn cảnh như vậy? Đó là vì sự tàn bạo và độc tài của bạo chúa Putin.

Người ta thường nghĩ rằng lá cờ và đất nước là một. Nhưng thực tế không phải như vậy, lá cờ chỉ là biểu tượng chính trị của một thời đại, nó không phải Đất Nước. Mirra không chối bỏ nguồn gốc Nga của mình. Cô không phản bội dân tộc mình. Cô không xúc phạm người Nga. Ngược lại, chính vì tôn trọng người Nga nên cô không muốn một chế độ putin đang bị thế giới coi thường phủ bóng lên thành quả thể thao của mình. Bởi vì cô muốn nói rằng: tôi là một người Nga.

Hai ngày sau, tôi bất ngờ nhận ra rằng câu chuyện của Mirra lại giúp tôi hiểu rõ những tranh cãi đang diễn ra xung quanh mình.

Nhớ lại khoảng tháng 5 năm nay, một nhà báo của Newsweek Polska gọi điện cho tôi. Anh hỏi tôi có thời gian không?

Tôi trả lời rằng có, nhưng không có nhiều. Sau đó chúng tôi gặp nhau trong một quán cà phê, làm việc cùng nhiếp ảnh gia. Mọi thứ diễn ra hoàn toàn bình thường như rất nhiều lần tôi từng tiếp xúc với báo chí Ba Lan. Tôi không biết bài báo sẽ đăng khi nào, tôi cũng không biết đó sẽ là bài viết trung tâm của cả số báo và càng không biết rằng hình ảnh của tôi cùng lá cờ vàng sẽ xuất hiện trên trang bìa Newsweek Polska. Đã thế, cờ vàng lại quá nổi trên trang nhất Newsweek Polska, tuần báo đứng thứ ba tại Ba Lan về chất lượng, uy tín và số người truy cập, con số độc giả lên tới hàng triệu mỗi tuần.

Cho tới vài ngày trước, khi tôi đang đi nghỉ ở Ý, tôi nhận được tin nhắn kèm hình ảnh từ một người bạn, nói rằng anh đang đổ xăng thì bất ngờ nhìn thấy lá cờ vàng trên kệ báo. Một người bạn khác cũng gọi kể rằng “đang đi mua rau thì bắt gặp luôn cô Vân Anh với lá cờ vàng trên quầy tạp chí”.

Nhưng rồi ngay sau đó, tôi cũng đọc được những lời kết tội. Người ta nói rằng tôi đã “đồng lõa với Newsweek để xúc phạm người Việt Nam”. Lạ quá, tôi có làm gì để xúc phạm người Việt Nam? À hóa ra, tôi không cầm cờ đỏ mà cầm cờ Vàng.

Tôi đã ngạc nhiên thật sự, tại sao một người yêu lá cờ vàng lại phải cầm lá cờ đỏ để chụp ảnh? Tôi đã từng rất đỏ, phải mất rất nhiều năm miệt mài tìm hiểu để nhận ra hệ giá trị của Dân Tộc mình là gì cơ mà! Tôi là con người, tôi có tự do thể hiện quan điểm chính trị mà? Tại sao lựa chọn của tôi lại bị công kích để ép phải thể hiện quan điểm chính trị của người khác?

Tôi đã hỏi rất nghiêm túc, chân thành và cầu thị. Nhưng thay vì câu trả lời, tôi chỉ nhận được những áp lực, những lời chụp mũ và những cuộc đấu tố quá giới hạn của sự vô liêm sỉ quen thuộc.

Có lẽ, nhiều người đã qua tới Châu Âu rồi mà vẫn chưa phân biệt được đâu là Tổ quốc, đâu là Nhà nước, đâu là Dân tộc và đâu là một đảng cầm quyền nên vẫn bị dẫn dắt bởi những công tác dân vận của đảng cộng sản ở nước ngoài.

Mirra cũng có “cờ nước Nga được cả thế giới công nhận” đó thôi, nhưng cô ấy không phải chụp ảnh với nó. Đơn giản vì Tổ Quốc của cô ta đang bị độc tài putin thao túng.

Câu chuyện thế nào là Tổ Quốc, Đất Nước và Dân Tộc, thế nào là Nhà Nước và Đảng Cầm Quyền có vẻ như đã dần được ngã ngũ trong lòng một bộ phận không nhỏ người Việt chân chính, nhất là người Việt ở Ba Lan. Thế nên chiến dịch “đấu tố nhưng hơi lố” của bộ máy tuyên truyền đối ngoại của đảng cộng sản đã phải tìm lối thoát khác.

Họ đổi giọng, cho các nick đỏ mọc lên để nói rằng “tôn trọng quyền lựa chọn cá nhân của Tôn Vân Anh, nhưng Tôn Vân Anh không được xúc phạm Việt Nam”. Kiểu như là mấy bà nick đỏ công nhận quyền tôi chọn không lên giường với chồng của bà ấy, nhưng tôi từ chối vậy là xúc phạm cả ông chồng lẫn bà vợ?? Các bạn ấy đang nghĩ vậy thật sao?

Sự thật, tôi thấy chồng của các bà là đề tài nan giải: bạo hành, độc ác, tham lam và nham hiểm, thì các bà mới là người cần có vấn đề.

Một dân tộc tồn tại hàng nghìn năm. Một chế độ chính trị chỉ tồn tại trong một giai đoạn lịch sử. Hai khái niệm ấy không phải là một. Người dân Nga không phải là Điện Kremlin. Nước Nga không phải là bạo chúa Putin. Cũng như dân tộc Việt Nam không thể bị đồng nhất với bất kỳ đảng phái chính trị nào. Đó là lý do vì sao tôi không xem những lời công kích vừa qua là câu chuyện cá nhân tôi mà tôi xem đó là biểu hiện của một nền chính trị đã quá quen với việc độc quyền biểu tượng, độc quyền lòng yêu nước và độc quyền quyền được định nghĩa thế nào là Tổ quốc.

Tôi không nói điều này để kể công cho bản thân. Tôi nói điều này để chỉ ra hậu quả của chủ nghĩa độc tài. Một hệ thống tồn tại bằng tuyên truyền tất yếu sẽ sợ những biểu tượng nằm ngoài tầm kiểm soát của nó. Một hệ thống tồn tại bằng sự phục tùng tất yếu sẽ khó chấp nhận quyền lựa chọn của người khác.

Chính vì vậy, mỗi lần lá cờ vàng xuất hiện công khai, phản ứng dữ dội nhất lại đến từ những người đang cố bảo vệ một độc quyền đang dần mất đi sức thuyết phục trên Đất Nước tôi.

Tôi trả giá khi phải chống lại những độc quyền chính trị sao? Mặc kệ. Tôi nói đây để kể tội của độc tài. Tô Lâm và Lê Minh Hưng, Bộ Chính Trị, Ban Tuyên Giáo, Mặt Trận Tổ Quốc, các tổ chức vệ tinh của Đảng CS đang là những nhân tố và mắt xích trong hệ thống độc đoán, đàn áp, tù đày, ngu dân, nuôi bò(dlv), trộm c.ướp, và b.óc lộ.t. Cờ vàng giúp cho bộ mặt độc tài ngày một phản cảm, chính nghĩa của cờ vàng ngày một hiện rõ sau khi bức màn gian trá của cờ đỏ rơi xuống.

Với những anh chị muốn né tránh đề tài cờ quạt, tôi công nhận đề tài này có thể gây chia rẽ. Tuy vậy, tôi thấy rằng không thể lờ nó đi. Vì đến một lúc nào đó, thay cho “tin và yêu” vào cờ đỏ, đông đảo người dân Việt sẽ chuyển sang “hiểu và yêu” cờ vàng – như những chuyển biến mà tôi đã bước qua một cách dễ dàng, để quyết tâm đến với tình yêu cờ vàng của tôi, và bảo vệ được tình yêu đó qua nhiều thử thách. Các anh chị thấy Mirra như thế nào? Cô ấy không hề đau khổ vì không có cờ Nga đại diện! Ngược lại, Mirra đã xứng đáng làm một người Nga chân chính khi nhìn rõ đúng sai. Cô không cần cờ Nga hay Putin để được thế giới công nhận là một người Nga.

Với những người vẫn dùng cờ đỏ để trang trí cho sự kiện, món ăn Việt Nam, quảng cáo du lịch Việt Nam, tôi xin chia sẻ câu chuyện ntn:

Ông giáo dạy tôi, một lần sau giờ dạy tủm tỉm cười, bảo: “ôi em ơi, thầy phải thu xếp sang Việt Nam chơi vài tuần, càng sớm càng tốt”.

Tôi hỏi, “vậy ạ, sao thầy phải vội ạ?” Thì thầy lại cười nữa và bảo rằng “cứ thi thoảng lại có nước độc tài bị xoá sổ, tôi phải tới thăm các nước xã hội chủ nghĩa trước khi nó bị đào thải. Nhanh nhanh kẻo hết!”.

Đấy, Việt Nam ta có những cái vừa độc vừa lạ mà nước khác không có hoặc không còn. Thế nên cờ đỏ có thông điệp và giá trị riêng của nó – khẳng định Việt Nam đang có độc tài cộng sản điều hành và cờ đỏ không liên quan cờ vàng. Đỡ khỏi mập mờ, cũng là cái hay! Tôi không phủ nhận hay chống lại cờ đỏ ở khía cạnh đó. Nhưng rõ ràng Việt Nam có nhiều biểu tượng hay hơn cờ đỏ, ví dụ như: cờ vàng, cờ ngũ sắc, trống đồng, bông sen, cây tre, con rồng, nem rán, nón lá của Việt Nam chắc chắn đẹp hơn, ngon bổ tốt hơn và quan trọng nhất là chính nghĩa hơn so với cờ Phúc Kiến mà Quốc Tế Cộng Sản Komintern mang vào Việt Nam.

Quốc tế Cộng sản đã tan, nhưng cộng sản Việt Nam vẫn quyết tâm xây dựng xã hội chủ nghĩa kể từ khi nội chiến. Đã hơn 50 năm Việt Nam cam go với cờ đỏ nhưng thực chất quãng thời gian đó chả thấm thía gì so với 4000 năm lịch sử dân tộc Việt Nam. Một chương sách không phải là một quyển sách. Người Việt sẽ còn viết nên những trang sử vẻ vang với lá cờ truyền thống mà ông cha ta để lại. Tôi nợ bà con cô bác lời cảm ơn sâu sắc. Cảm ơn đông đảo người Việt ở khắp năm châu, các bạn trẻ trong nước và các bạn ở Ba Lan đã đồng hành với tôi trong những ngày qua.

Một chương sách không phải là một quyển sách. Nhưng một trang sách vừa viết những ngày qua ắt đã thay đổi phần nào nội dung của những chương tiếp tới. Cảm ơn Mirra đã cho tôi cơ hội mỉm cười với người Nga. Cảm ơn Newsweek Polska bởi trang bìa thiết kế tuyệt đẹp.

Lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc Việt Nam không bắt đầu từ năm 1945. Và cũng sẽ không kết thúc ở một chế độ chính trị bạo tàn.

Và cuối cùng, xin cảm ơn câu chuyện này vì đã mở ra một cuộc đối thoại mà sớm hay muộn, dân tộc của chúng ta cũng phải đối diện với nó mà thôi.

Ton Van Anh Ania

Warsaw, Ba Lan 20.06.2026

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 5 Jul 2026

Tại Việt Nam, vào tháng 8/2013, ông Lê Hiếu Đằng, nguyên sinh viên “tranh đấu,” người có 45 tuổi đảng và hầu hết cuộc đời “cách mạng” của ông là giữ những chức vụ “ngoại vi” trang trí, làm đẹp cho đảng Cộng Sản, trong bài viết “Suy nghĩ trong những ngày nằm bệnh”, để nói lên những suy nghĩ của mình, trong đó có việc lên án đảng của ông đã phản bội nhân dân và kêu gọi thành lập một chính đảng mang tên “Đảng Dân Chủ Xã Hội” để đối lập với đảng Cộng Sản. Chúng ta chưa quên bài học của Đảng Dân Chủ Việt Nam là một “chính đảng của tư sản dân tộc và tiểu tư sản, trí thức yêu nước và tiến bộ Việt Nam”, hoạt động từ năm1944, đã từng giành 46 ghế trong Quốc hội khóa I Cộng Sản năm 1946, có 2 ghế trong Ủy Ban Dân Tộc Giải Phóng VN, và 4 ghế trong chính phủ lâm thời. Thời gian “ kháng chiến toàn quốc” năm 1946, đảng gia nhập Mặt trận Việt Minh (do đảng Cộng Sản thành lập năm 1941) – coi như huề vốn. Năm 1988, đảng Dân Chủ tự giải thể hay bị bức tử vì đã đến lúc chấm dứt vai trò?

Báo Quân Đội Nhân Dân đã nói thẳng với ông Lê Hiếu Đằng rằng: “Đâu có phải cứ đa nguyên, đa đảng là tự nó đã có dân chủ” cũng như dư luận trong và ngoài nước đã lên tiếng đồng tình hay phản bác những chuyện ông Lê Hiếu Đằng nêu ra. Điều tôi tự hỏi là những gì chúng ta suy nghĩ hay viết ra trên gường bệnh có khác những gì chúng ta suy nghĩ hay viết ra trên bàn giấy văn phòng không? Câu trả lời đương nhiên là khác.

Trên giường bệnh có nghĩa là lúc chúng ta đang đau ốm. Kinh nhà Phật đã nói :“Thân không cầu không bệnh, thân không bệnh thì tham dục dễ sinh.” Đau ốm, bệnh tật thì chăng còn tham vọng, mơ ước, ham muốn gì nữa! Ăn ngon, mặc đẹp, dục tình, danh vọng hay tiền của đều là những chuyện lòng không còn mảy may ham muốn, ngoài chuyện chúng ta cảm nhận thân thể đang đau đớn, sinh lực hao mòn, không biết ngày mai còn ngồi dậy được không hay sẽ giã từ cõi đời này để về cõi chết. Tính từ khi còn là một sinh viên tranh đấu cho đến nay, thời gian đã nửa thế kỷ, những lúc còn son trẻ, trí óc sáng suốt, thân không bệnh tật, tâm không phiền não, đi theo đảng hại dân, hại nước, sao không nghe ông nói được một lời cho vừa tai, phải đạo, để cho đến tới bây giờ, trên giường bệnh, mới trăn trở nghĩ đến chuyện phải trái ở đời.

Nhưng dù sao, trên giường bệnh là lúc tĩnh lặng nhất, là lúc tâm không động vọng tới chuyện đời, lời nói của ông ít ra cũng gây được ít nhiều suy nghĩ cho những con người còn quan tâm tới đất nước, nhưng chúng ta cũng thừa biết rằng khi đảng Cộng Sản đang cầm quyền, thì dù có lập mười đảng đối lập cũng vô ích.

Người tán thành cổ võ hăng hái nhất cho ông Lê Hiếu Đằng là ông cựu dân biểu “đối lập” VNCH, Hồ Ngọc Nhuận, một người cũng được chế độ này cho ôm những chiếc ghế “tô son vẽ phấn” cho chế độ kiểu ông Đằng như là Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, “hồ hởi, phấn khởi” tuyên bố rằng: “Vận hội mới cho nước nhà đã đến …” Ông cũng lạc quan cho rằng: “Sẽ có hàng trăm và rồi đây hàng ngàn đảng viên cộng sản đồng loạt khước từ độc tài toàn trị, thành lập chính đảng mới để đấu tranh công khai với Đảng Cộng Sản cầm quyền.”

Sự tin tưởng này khá ngây thơ, nông nỗi! Liệu ông Lê Hiếu Đằng và ông Hồ Ngọc Nhuận nếu đang giữ  những chức vụ như Uỷ Viên Trung Ương Đảng, Bí Thư hay Chủ Tịch UBND của một tỉnh hay thậm chí là một Tổng Giám Đốc một công ty đang ăn nên, làm ra, bổng lộc ngập mặt, con cái du học, tư thất như cung đình, nhà thờ tổ như lăng miếu, liệu ông có can đảm bỏ đảng, “đồng loạt khước từ độc tài toàn trị” để “đấu tranh công khai với Đảng Cộng sản cầm quyền” không? Hay là đang ở những cương vị vật vờ của “Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam,” quyền cũng không, mà tiền cũng chăng có, mới đứng ra làm đối lập, mà là đối lập quá chậm.

Ngày xưa ở miền Nam, làm “đối lập” như Hồ Ngọc Nhuận, lãnh lương dân biểu, được hoãn dịch, có quyền bất khả xâm phạm, công du ngoại quốc, có các thế lực vô minh yếm trợ, múa men quay cuồng mà không bị bắt bớ tù đày, ai chẳng làm được. Khốn nạn hơn nữa, trong thời gian đó, Hồ Ngọc Nhuận lại móc nối với Cộng Sản để được lên mặt ngày hôm nay, tệ lắm thì cũng được làm thứ “Mặt Trận … ” cũng còn có xe con, lương bổng. Bỏ mặt trận nhảy ra làm đối lập thực sự với đẳng Cộng sản, chỉ được ăn mắm tôm, phân người ném vào nhà. Nhuận huyên hoang coi như thời cơ đã đến, dùng đại ngôn “phá xiềng,” vậy thì trong 38 năm nay, con vật giữ nhà bị xích, có sủa được một tiếng nào không?

Nhưng thật sự nếu ý tưởng này được thực hiện, đảng bỏ tiền ra nuôi đối lập để mị dân, hay làm đẹp cho chế độ, cho ông Lê Hiếu Đằng làm Chủ tịch, Hồ Ngọc Nhuận là Phó “Đảng Dân Chủ Xã Hội” thì đảng đối lập này có khác gì cái “Mặt Trận Tổ Quốc” hiện nay các ông đang phục vụ đâu, nó cũng chỉ có một chức năng là làm “đẹp mặt chủ nhà” không hơn không kém! Tiếc rằng, Hồ Ngọc Nhuận, theo thói quen tâng bốc, đã bỏ khẩu hiệu “Đảng Dân chủ Xã hội Việt Nam mới nhất định thắng lợi!” quá sớm. Những phát biểu chống lại chủ trương của đảng Cộng Sản trong nhiều năm này của một người muốn đối lập cũng chỉ là của một người bất phùng thời, không còn được trọng dụng, Phải nói là chúng ta rất buồn khi nhìn thấy trong chế độ Cộng Sản hiện nay, những người trả thẻ đảng, tuyên bố chống cường quyền, làm đối lập đều là những người hưu trí

hết quyền lực hay bị đẩy ra nước ngoài. Còn lại thì, toàn thể bộ máy nồng cốt của chế độ đều giả mù, che tai, ngậm miệng, coi chính đảng như băng đảng, thiếu cái văn hóa liêm sĩ là “văn hóa từ chức” như bảo chí trong nước lâu nay đã thường dể cập đến, để ôm lấy quyền lực. “Con chim sắp chết cất tiếng hót bi ai, người sắp chết nói lời nói phải!” Ông Võ Văn Kiệt trước lúc qua đời cũng vì đã có đôi lời nói phải, mà phải nhận một cái chết mờ ám, đột ngột. Ông Võ Nguyên Giáp, một đại công thần của CSVN, đến tuổi hơn trăm, đã có quan tâm và đưa ra một số lời bình luận về tình hình đất nước như vụ PMU18, đổi mới nền giảo dục cũng như góp ý gay gắt ba lần là phải ngưng dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên, vì lý do an ninh quốc gia và vấn đề môi trường, nhưng có ai thèm đáp ứng đâu. Nếu ông Giáp muốn sống thêm it lâu nữa thì cũng nên biết tịnh khẩu.

Những chuyện  suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh” của ông giả trên 70 tuổi, đã có một lúc làm “sinh viên tranh đấu” qua thời, đảng bỏ đã lâu không dùng tới, có gì đâu mà làm ẩm ĩ!

* Lê Hiếu Đằng từ trần tại Sài Gòn ngày 23 tháng 1 năm 2014, hưởng thọ 70 tuổi.