This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Nghe nói, người ta dự trù thiết lập nhà máy làm giấy, tại một tỉnh thuộc miền xuôi. Nhà máy do nước Thụy Điển bên trời Âu viện trợ cho nước ta. Không biết công trình đã khởi công hay chưa. Chỉ nghe tin đồn, mà tin đồn thì thực hư chẳng lấy gì làm chính xác. Nhưng có điều chắc chắn, những người thất trận từ miền Nam xa xôi, bị đẩy tuốt lên vùng mạn ngược, đã được lệnh khai hoang, phá rừng để trồng cây bạch đàn. Lúc đầu, không ai biết trồng bạch đàn làm gì. Mãi sau, mới vỡ lẽ ra rằng, thân gỗ xốp của bạch đàn có thể dùng làm giấy. Nhà máy chưa xây, đã bắt tay vào việc tạo nguồn nguyên liệu cung cấp. Quả là biết lo xa!
Những tháng mùa Đông. Trời Việt Bắc mang một màu trắng đục. Chưa nói tới cái rét trên da thịt, chỉ nhìn màu trời ảm đạm, đã thấy buốt cả tâm hồn. Kẻ đi đày, áo rách, xác ve. Lòng sầu quê cũ. Nếu so với kẻ đi xây Vạn Lý Trường Thành vào thời Tần Thủy Hoàng, chắc cũng có điểm tương đồng. Sử sách ngàn năm xưa chép lại, tiếng kêu ai oán còn nghe văng vẳng theo ngọn Đông phong dọc suốt dãy Trường Thành. Khí uất xông lên, mây mù che ám một góc trời phía Bắc Hàm Dương. Chế độ nhà Tần bị diệt, cung A Phòng cũng cháy thiêu. Đền đài cung điện nguy nga, bỗng chốc hoá tro tàn. Trải qua bao nhật nguyệt nắng mưa. Hươu nai chạy trên nền cũ. Lau sậy lút đầu. Chứng tích một thời ác nghiệt kinh thiên, còn lại một Vạn Lý Trường Thành. Dù nhân loại không muốn tái diễn chế độ bạo tàn, nhưng các sử gia khẳng định rằng, lịch sử luôn luôn lặp lại. Và lịch sử Việt Nam đang lặp lại cái thời Tần Thủy Hoàng, hơn hai ngàn năm trước. Không gian, thời gian sai biệt, tình huống chẳng khác gì nhau. Đốt sách và đày ải con người, dường như sao nguyên bản của chính sách nhà Tần.
Lên miền Thượng Du, đứng đâu cũng thấy núi non bốn bề vây hãm. Trông về Tây Bắc, lô nhô một dãy chắn ngang tầm mắt. Núi nhoà sương, không rõ nét. Muốn sang bên kia, khu vực được chọn trồng cây bạch đàn, phải qua đèo. Đèo không cao mà dốc ngược. Thế đất yên ngựa nằm vắt ngang dãy núi. Thoạt nhìn, đã ngao ngán đôi chân. Đường đèo trơn ướt, gập ghềnh đá tảng, luồn lách qua những cây nhỏ cây to, quanh năm che khuất mặt trời. Đá núi ngậm sương lâu ngày, phủ áo rêu phong. Người đi trước, nhỡ làm lăn một tảng đá, khó lường được tai nạn khốc liệt cho người đi sau. Có nhiều đoạn đèo cheo leo bên bờ vực. Tay bám vào cây, chân lần từng bước. Sơ ý ngã xuống vực, mất mạng như chơi.
Đoàn tù lên dốc lom khom, thân chúi về phía trước, trông như những con ốc sên to lớn dị thường, từ từ bò trên miệng vực. Để chống cái rét thiên nhiên, có bao nhiêu áo quần vá víu, tù nhân đều chùm đụp cả lên người. Trên lưng lại chở thêm chiếc ba lô tự tạo. Trong ấy đựng nhiều thứ vặt vãnh, nhưng vô cùng cần thiết cho một một đời sống vốn đã đơn giản hoá đến mức tối đa. Những hình nhân biến tướng, thành những hình thù kỳ dị biết di động. Dù đã trùm nhiều lớp áo quần, nhưng vẫn thấy rét. Rét từ đâu trong xương rét ra. Rợn từng hồi, dọc theo xương sống. Rét thắt ruột gan vì đói. Rét luồn vào đường gân thớ thịt, tạo thành cơn run.
Lên tới đỉnh đèo, ngồi lại nghỉ mệt. Ủ hai bàn tay trong cặp đùi, sưởi ấm cho những ngón lạnh tê. Hai bên sườn núi mịt mù sương trắng. Nhìn xuống lũng, mây nặng màu chì, la đà trên thôn bản. Vời trông xa xa. Không gian mù đục, chẳng thấy chân trời. Làm người quen sống tụ họp nơi những vùng đất thấp. Lên cao, cảm giác chênh vênh hiu quạnh lạ lùng. Khí ẩm. Cây lá ướt mù sương. Trời đứng gió. Mọi vật chung quanh im lìm, dường như nín thở. Chỉ có lũ vắt rừng đang âm thầm hoạt động. Nghe hơi người, vắt từ lá mục bò lên, bám vào kẻ ngón chân. Vắt trên lá cây buông mình rớt xuống, chui vào cổ áo. Khi nghe da thịt ngứa ngáy, con vắt đã no máu rồi. Trên mặt địa cầu, nơi nào cũng có loài hút máu. Nhưng so ra, trong tất cả các loài hút máu, không có loài nào kinh khủng bằng loài người. Loài người, khi đã hút máu người, thì hút đến cạn kiệt sự sống. Những kẻ đi đày hôm nay, đang bị xuất huyết bởi chính đồng loại của mình.
Trong nỗi cùng khốn, chợt nghĩ đến một nhà văn ngoại quốc. Ông ta cảm thấy bị lưu đày ngay trên quê hương mình. Ở những quốc gia bình yên sung túc, cuộc đời nhàn tản mãi, làm người ta nhàm chán. Họ muốn tìm cảm giác mới cho tâm hồn, tưởng tượng ra mọi nỗi thống khổ để quằn quại rên la cho thân phận kiếp người. Trên quê hương tôi, những thứ đó chẳng cần tưởng tượng. Tất cả những bất hạnh khổ đau nào cũng đều hiện thực. Chiến tranh. Nghèo đói. Chết chóc. Tù đày. Không vào địa ngục, cũng thấy cảnh A Tỳ. Quỷ Vô Thường hiển lộng. Những đấng Từ Bi Cứu Thế đều bỏ đi xa. Chúng sinh lặn ngụp trong bể trầm luân. Kêu gào. Than khóc. Chẳng thấy ai ra tay cứu độ. Thế mới biết, tại sao Lão Tử một mình cưỡi trâu xanh biệt tăm vào núi. Nhưng, thời của Lão Tử còn có thể tìm nơi cao sơn cùng cốc lánh đời. Thời của tôi, ẩn trong hang cùng xó núi cũng chẳng yên thân. Người ta sẽ lôi ra, gán cho đủ thứ tội lên đầu. Thành phần xã hội ở đây, được phân chia rất rõ. Quỷ và Người. Con người ở dương thế, nhưng sống trong trạng thái địa ngục. Phía sau những khẩu hiệu tưởng chừng dẫn tới thiên đàng, thật ra là đường về âm cảnh. Làm người trong thời của tôi, thường xuyên đi trên chông gai lửa đỏ. Tinh thần khủng hoảng, nhìn đâu cũng hồ nghi có họng súng lưỡi lê rình rập. Đêm chập chờn ác mộng. Nghe tiếng chó sủa, giật mình thảng thốt. Nghe gà gáy báo hiệu bình minh, sợ có kẻ tới nhà gọi đi thẩm vấn. Bị thẩm vấn là điềm báo tai ương, dữ nhiều lành ít.
Lên đèo đã vất vả. Xuống đèo, càng vất vả hơn. Không vận dụng sức lực nhiều, nhưng lắm rủi ro. Bất cứ lúc nào cũng có thể sẩy chân lăn xuống vực. Có nhiều đoạn dốc ngược, không thể di chuyển bằng đôi chân. Ngồi mà tuột dốc. Thương cho cái đít quần. Lết xuống tới chân núi, đít quần mòn rách te tua. Hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, cái ăn cái mặc là quý. Mảnh vải che thân bị rách, cũng đau như chính da thịt mình xây xước.
Qua tới khu vực chọn trồng bạch đàn, việc đầu tiên là lo chỗ ở. Tù nhân tạm trú trong nhà kho hợp tác xã. Nhà kho tứ bề trống lốc, không vách phên che. Dựng nhà kho để làm mô hình cho hợp tác xã. Người dân sơn cước chưa đủ miếng ăn, có đâu dư thừa lương thực cho vô nhà kho? Để chống cái lạnh thiên nhiên, tù nhân được ra đồng ôm rơm về lót ổ. Ngày còn nhỏ, nghe nói đến ổ rơm của người nghèo Miền Bắc. Thời xa xưa ấy, tưởng đã qua rồi. Không ngờ, mấy chục năm sau người tù đến đây, thực hiện cái ổ rơm cho chính mình. Ổ rơm của tù có hình thức như chiếc máng dài. Lòng máng lót nửa tấm chăn. Nửa tấm còn thừa, dùng đắp lên người. Cuộn mình lâu trong ở rơm, hơi ấm tụ lại, thấy đời cũng dễ chịu. Khi con người bị tước mất tất cả, thì một chút tiện nghi nhỏ nhoi, cũng nhân lên thành sự thoải mái lớn. Thoải mái thường sinh ra những ước mơ tình cảm. Nếu được nằm ôm vợ trong cái ổ rơm ấm áp này, thì hạnh phúc biết chừng nào. Nghĩ thế, lại bàng hoàng. Từ lâu, gia đình vợ con đã không còn là nỗi nhớ nhung quay quắt. Những hình bóng mờ nhạt ấy lùi sâu vào quá khứ, xa xôi như thời tiền sử. Trong cảnh cố cùng đói rách, dạ dày vật vã đòi ăn, kéo cái đầu xuống thấp, chạm mặt vào thực tại. Ước mơ được gần gũi gia đình hạnh phúc, là chuyện quá tầm tay. Đòi hỏi bức bách bây giờ là miếng ăn. Một đòi hỏi tầm thường của con vật. Thế nhưng không dễ gì được thoả mãn. Đêm nằm trăn trở, chỉ mơ tưởng miếng ăn hèn mọn. Củ sắn, hạt ngô bỗng to lên, chiếm hết những khoảng tình cảm dành cho vợ con, đẩy lùi hết những mơ mộng viễn vông. Khẩu hiệu tự do ấm no hạnh phúc, xem chừng đơn giản. Nhưng muốn vươn tới, không dễ. Bởi những khống chế giam cầm, những nghèo đói kinh niên, những trù dập răn đe, đi ngược chiều khẩu hiệu.
giữa thời kinh mang
người nằm trong đất không yên
phá mả tìm vàng
cạy nắp áo quan
huyệt sâu chấn động hồn thiên cổ
gỗ đá còn đau nhức thấu xương.
Người chết đã thế. Người đang sống vật vờ mà mong bình yên hạnh phúc, là điều hư tưởng.
Gần cuối thập niên bảy mươi, cả nước lâm vào tình trạng kiệt quệ. Hội Lương Nông quốc tế ồ ạt tuôn bột mì vào nước ta cứu đói. Bột mì được phân phối lên tận miền cao. Người dân sơn cước không quen ăn thứ bột xa lạ này, nên điều đình với trại tù đổi lấy sắn ngô. Chuyện trao đổi, người khác quyết định, nhưng tù nhân lại ăn bột mì. Phẩm càng cao, lượng càng ít. Tù đói rã ruột. Đói lờ đờ trắng mắt. Đói chóng mặt xiêu xiêu. Thời gian này, có nhiều người phải chống gậy mà đi. Cán bộ cho thế là cố tình bôi bác chế độ, bắt phải vất gậy. Sự thật tự nó đã hiển bày, cần chi bôi bác?
những bạn tôi ngồi như cổ thụ
già trăm năm trước tuổi không ngờ
manh áo vá che mùa gió bấc
mặt hao gầy râu tóc xác xơ.
Buổi sáng, trước khi lên rừng, được một cục bột luộc bằng nắm tay. Buổi chiều về, được ổ bánh mì dài cỡ gang tay. Ăn một lượng bột như thế với nước muối, mà phải ra sức “chém tre đẵn gỗ trên ngàn”, thì linh hồn nào cũng muốn ruồng bỏ xác thân.
Sương sớm còn âm u, đoàn tù đã có mặt trên vùng khai hoang. Đồi núi chập chùng. Rừng già heo hút. Tưởng như từ thời khai thiên lập địa chưa có chân người đi tới. Muỗi đói, vắt rừng làm tổ. Quơ ngọn dao lay động lá cành. Muỗi bay ra như bầy ong vỡ tổ. Muỗi cánh bông, hung dữ lạ thường, ào ạt tấn công. Nhưng muỗi cũng chưa đáng sợ bằng vắt. Vắt áp dụng chiến thuật du kích. Âm thầm len lõi, và đánh bất ngờ. Khi phát hiên được vắt, ta đã bị tổn thất rồi. Chỗ vắt bám, máu cứ ri rỉ cả ngày. Còn một loài ác ôn nữa, vô cùng độc địa. Loài này không nhiều, nên ít ai nói tới. Đó là ve chó. Vùng hoạt động lý tưởng của ve chó, là nách và háng. Người bị ve chó, cảm thấy sốt nhẹ và hơi đau nơi vết thương. Cổi áo ra xem. Một vùng da ửng đỏ. Trung tâm vùng đỏ, con ve vẫn còn bám như một hạt đậu đen, rúc sâu vào da thịt. Không biết nó bám đã mấy ngày rồi. Hấp tấp lôi nó ra, thì đầu và chân nó dính lại trong thịt. Nơi ấy sẽ làm độc thành ghẻ. Phương pháp hiệu nghiệm nhất để trục toàn thân tên cố lỳ, dùng đầu điếu thuốc nóng hơ vào đít nó. Chiến thuật hoả công buộc con ve rời nơi tử thủ như cái hố tròn bằng đầu đủa, tươm máu. Hậu quả ve chó để lại một vết thương ngứa ngáy cả tháng trời chưa khỏi.
Một thời gian dài khai hoang, vùng rừng già tre nứa mênh mông nằm rạp xuống. Châm một mồi lửa, tất cả cháy thiêu. Lửa cháy lan suốt đêm, không người canh giữ. Đất nước là của chung, nếu nạn cháy rừng xảy ra, ai nhận lấy trách nhiệm? Nửa khuya, đứng từ nhà kho hợp tác xã nhìn lên, bầu trời tối đen, không thấy dáng núi. Chỉ thấy lửa cháy trên cao, như lửa trời cháy giữa thinh không. Sau một đêm, vùng rừng thiêng tồn tại cả ngàn năm bị hủy ra tro. Người tù nhìn đất, ngẩn ngơ. Người với đất chung niềm đau nhức. Đất lặng thinh phơi bãi tro tàn.
Tù nhân khai hoang phá rừng dọn đất, nhưng không có lệnh chỉ định trồng bạch đàn. Nghe nói gần khu hợp tác xã, có trại lâm nghiệp. Trại này đang ương giống bạch đàn. Nhân viên lâm nghiệp toàn là phụ nữ độc thân. Bởi những đàn ông trai tráng đã hiến mình cho Đảng, vào Nam làm cuộc cách mạng thần kỳ bằng xương máu. Cách mạng giành được toàn quyền kiểm soát Miền Nam, nhưng họ không bao giờ về nữa. Tình trạng trai thiếu gái thừa, phụ nữ phải đảm trách những việc nặng nhọc trên các công nông trường. Cán cân nam nữ chênh lệch, gây nên lắm chuyện cười ra nước mắt. Phụ nữ lâm nghiệp đã từng đệ đơn kêu gào lên chính phủ, xin cung cấp đàn ông. Mục đích để có đứa con chăm sóc cho mình lúc tuổi già bóng xế. Và đàn ông phục vụ tập thể các cô trong trường hợp này, không theo cái nghĩa người chồng ân ái với vợ, mà phải hiểu như con nọc làm bổn phận nhảy đực truyền giống cho con nái sinh đẻ.
Bao giờ cây con bạch đàn sẽ trồng xuống vùng đất khai hoang? Hiện nay, các công trình thường hay bỏ dỡ nửa chừng. Chỉ cần một ý kiến thay đổi nào đó, toàn bộ kế hoạch trồng bạch đàn sẽ hủy bỏ. Trên xứ sở này, chuyện vô lý nào mà không thể xảy ra? Nghe nói (lại nghe nói), vật liệu từ Thụy Điển đem sang nước ta để xây nhà máy giấy, bị mất quá nhiều do nạn ăn cắp. Thụy Điển đã đơn phương hủy bỏ hợp đồng rồi. Không có nhà máy giấy, trồng bạch đàn làm gì? Lệnh khai hoang, trở thành lệnh phá rừng vô tội vạ. Ngày đoàn tù vượt đèo về trại cũ, nhằm ngày Chúa Giáng sinh. Trời đổ mưa phùn. Mưa lất phất lai phai, trắng cả núi rừng. Lao đao trên đèo trơn dốc ngược, lại nghĩ đến cây thập giá trên vai Chúa. Ngài xuống đời gánh vác tội lỗi cho loài người. Chúng tôi gánh vác tội lỗi cho ai, mà cũng muôn vàn khổ nạn?
Trong những hình ảnh được lưu lại của Saigon năm xưa, hình ảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đi chiếc Velosolex màu đen chạy trên đường phố, có lẽ là hình ảnh đem lại cho tôi nhiều kỷ niệm nhất, nhắc nhở lại một quãng thời gian dài đã xa, mà chính mình cũng đã gắn bó với chiếc xe này.
Sản phẩm Velosolex do hai nhà sản xuất Pháp là Maurice Goudard và Marcel Mennesson cho ra đời tại Paris năm 1946, sau khi Thế Chiến Thứ II chấm dứt. Velosolex đơn giản là một chiếc xe đạp với một động cơ treo trên tay lái. Động cơ có một khối kim loại cứng, hình ống, nhám để cọ sát vào lốp bánh xe trước để đẩy bánh xe đi, do vậy bánh xe trước phải luôn luôn bơm hơi căng cứng. Người xử dụng khởi động bằng cách đạp xe cho có trớn vài mét, xong đẩy bộ máy rời “ghi đông” để khối kim loại tròn ép sát với bánh xe, tùy thuộc mặt đường. Xe không thể lên dốc, người xử dụng phải đạp phụ. Mỗi lần trời mưa, bánh xe bám bùn đất, Velosolex trở nên trơn trượt, rất khó khởi động, mặt khác, ổ gắn bu-gi của xe phơi ra ngoài, gặp trời mưa bị ẩm cũng khó nổ máy, do đó Velosolex chỉ dễ xử dụng trên những con đường khô ráo, bằng phẳng.
Bộ máy xe cho phép người lái treo lên tay lái, để bỏ động cơ và đạp Velo giống như bất kỳ chiếc xe đạp nào khác, trong trường hợp xe hết xăng hay máy trục trặc không nổ. Khi một chiếc Velosolex hết thời, máy móc rệu rã, nó sẵn sàng vứt bỏ cái đầu máy thường ngày vẫn treo trước “ghi-đông” để gia nhập với hàng ngũ xe đạp “bình dân.” Velosolex dầu sao cũng vang bóng một thời, ra đời từ năm 1946 và chính thức giã từ thế giới, tạm ngừng sản xuất tại Pháp vào năm 1988, chuyển qua Tàu và Hungary nhưng rồi cũng đi vào quá khứ, sau khi đã bán được hơn 7 triệu chiếc. Chiếc xe Velosolex đầu tiên tôi có, mua năm 1960, sau khi ra đời, đi dạy học vài năm và chuẩn bị lập gia đình, tại một đại lý ở Huế, xe được chở từ Saigon ra. Ở Việt Nam trong thời đó thì những ai có tiền, lương cao mới có thể.
Xe chỉ chạy với tốc độ từ 15 mph đến 20 mph, và cũng mua Lambretta hay Vespa, còn khả năng chỉ có khá hơn xe đạp một bậc, thì xử dụng chiếc Velosolex. Thời giá của chiếc xe này vào năm 1960 là $8,500 trong khi lương độc thân của một công chức hạng trung khoảng $6,000. Ở Huế những lúc trời mưa to gió lớn, với những con đường bùn đất, đi xe Velosolex thật ra chẳng sung sướng gì, mà đôi khi còn là một cực hình khi bắt đầu khởi động cho máy nổ. Khác hẳn với các thành phố lớn như Saigon, Đà Nẵng, đối với các tỉnh thuộc địa đầu giới tuyến sau khi chia cắt đất nước, hình ảnh chiếc Velosolex vẫn còn là cái gì rất mới lạ, nên khi bạn cỡi xe vào đường làng, phun khói trắng, có thể có những đứa trẻ tò mò chạy theo xem chiếc xe lạ lùng này.
Ba năm sau, nhận tờ giấy động viên trong tay, chiếc Velosolex chung nỗi buồn vui trong ba năm tròn phải từ giã tôi ra đi, để giúp chủ trang trải một số nợ nần. Năm 1964, sau khi ở quân trường ra, được bổ nhiệm về một đơn vị ở Saigon, thuê nhà ở khu Bình Hòa, trên chuyến xe buýt khởi hành từ rạp hát Thanh Vân- Gia định đến Sở Thú- Saigon mỗi ngày, bây giờ lại có thêm một ông chuẩn úy với bộ quân phục làm việc kaki vàng số 2, đội nón “casquette” mới tinh đi về. Ông thiếu tá chỉ huy đơn vị thương tình anh chuẩn úy mới ra trường, phải leo xe buýt mỗi ngày, nên cho mượn tiền, để lại mua … một chiếc Velosolex! Chỉ trong vòng bốn năm, vật giá leo thang, năm 1964, cũng chiếc xe ấy đã tăng giá khoảng 30%. Chiếc xe Velo thứ hai này cuối cùng bị đào thải trước đợt xe Honda Dame cũ, đồ thải của Nhật, được nhập vào Việt Nam, ưu tiên cho lính tráng dưới thời ông Không Quân Trần Đỗ Cung làm Tổng Cục Tiếp Tế.
Có thể nói Velosolex thuộc loại xe bình dân, không bì được với các ông bạn người Đức mạnh mẽ như Goebel, Sachs, hay hai ông bạn người Ý hào hoa và sang trọng hơn, có mặt đồng thời là Lambretta và Vespa. Lambretta được phổ biến đi khắp thế giới qua Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Ấn Độ, Đài Loan, Ba Tây, Columbia … và có tuổi thọ khá dài. Vespa trông thanh lịch và dễ thương hơn, nên trong bốn năm từ 1947 đến 1950, hãng Piaggio đã bán được hơn 90 nghìn chiếc, nhưng phải chờ khi Audrey Hepburn ôm eo Gregory Peck’s trên chiếc Vespa lạng lách trong thành phố Roma, trong phim Vacances Romaines (Roman Holiday) ra đời năm 1953, thì chiếc Vespa đã trở thành nổi tiếng, bán hơn 100 nghìn chiếc ngay trong năm đó. Dáng mảnh khảnh của những chiếc Velosolex màu đen thong dong trên đường phố với cô thiếu nữ mang đôi gang tay trắng, đội nón lá, để tà áo bay bay … là hình ảnh dễ thương của Saigon, của một thời sinh viên đẹp đẽ. Những năm về sau khi chiến tranh càng khốc liệt, các lại xe phân khối lớn ồ ạt nhập cảng vào càng nhiều, những xa lộ được mở ra, khi ai cũng mê tốc độ, Velosolex đành chấp nhận số phận bị bỏ lại đằng sau.
Bây giờ người ta đang muốn phục chế lại những chiếc Velosolex, Vespa của ngày xưa không phải để dùng trên đường phố mà như là một vật kỷ niệm ghi dấu một thời. Cô thiếu nữ với chiếc Velosolex trên đường phố Saigon trong bức ảnh này, được chụp vào năm 1961. Tôi đoán chừng tuổi cô ngày đó khoảng chừng 20 đến 25. Bây giờ đã trên nửa thế kỷ trôi qua, nếu còn đâu trên cõi đời này, cô đã ngoại tuổi thất tuần. Chiếc Velosolex ngày đó chắc không còn tồn tại, nó chỉ là một bóng mờ dĩ vãng như những gì chỉ hiện diện một thời, nhưng có thể còn lưu lại trong trí nhớ của chúng ta mãi mãi.
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Một đời ta, ba đời nó” để nói rằng đời người dài nhưng những vật sở hữu thì dễ mất mát hay hư hao. Từ ấu thơ cho đến hôm nay, chúng ta đã dùng bao nhiêu chiếc xe, ở bao nhiêu ngôi nhà, dùng bao nhiêu đôi giày hay bộ quần áo. Nhưng cũng có đôi khi, ngôi nhà, con đường, tấm ảnh hay trang sách còn đó, nhưng “những người muôn năm cũ” đã không còn nữa!
Không thấy thi sĩ nào đem chiếc Velosolex vào thơ, tôi đành mượn đôi lời của nhạc sĩ Ngọc Lễ viết về xe đạp, để tạm thương nhớ một thời Velosolex:
Người đàn bà bước vào bồn nước, từ tốn ngồi xuống. Nước dâng mấp mé bề cao của thành bồn, những bong bóng xà phòng tụ tập lại với nhau, chen lấn trong gợn sóng. Khăn lông quấn lại dùng để kê đầu, người đàn bà duỗi chân nằm buông xuôi. Sức đẩy của nước làm người bềnh bồng, vừa khó chịu vừa thích thú. Nước ấm nhấp nhô ve vuốt ở bờ ngực, nơi mà không lâu trước đó nó cũng được vuốt ve bởi đôi bàn tay, bởi môi hôn cuồng nhiệt.
Trò chơi chấm dứt trong rã rời, giờ này nó được đền bồi bằng một ngơi nghỉ thực thụ. Nó cần phải tẩy xóa, kỳ cọ đi dấu tích. Những lỗ chân lông sẽ giãn nở để da thịt thôi bám lấy mùi mồ hôi, thôi dính nhờn những tinh dịch vung vãi. Người đàn bà nhắm mắt, cố quên những gì hai đứa đã làm cho chiếu chăn nhàu nát trên cái giường luôn phát tiếng thôi thúc. Bà thử nhớ lại những điều đã nói với hắn. Nói nhiều, kể cả than van và rên rỉ, nhưng câu quan trọng nhất, rắp tâm sẽ thốt ra đã không có “thời gian” mở miệng. “Thôi, chấm dứt là vừa. Chúng ta chẳng nên kéo dài sự liên hệ này nữa”. Giản dị chỉ có thế, nhưng muôn vàn khó khăn. Ở hắn luôn tỏa ra điều gì đó làm người đàn bà yếu đuối. Sự tự chủ như một đập chắn quá thấp so với lượng thủy triều mà hắn biết cách tạo ra. Lòng cảnh tỉnh bị ướt nghe ngói, chút mặc cảm phạm tội bị sặc nước và người đàn bà đánh mất mọi thứ sau đó, chìm trong cái cảm giác đê mê không cưỡng chống lại được. Hắn là thủy tinh và sơn tinh hết bùa chú, bỏ người đàn bà nằm chịu trận, mặc cho ngập lụt cuốn trôi. Dẫu sao đó là sự đầu hàng thật dễ chịu, như mưa cuồng trút xuống cánh đồng hạn hán và nông dân chẳng kêu ca nếu đất bị úng thủy. Mùa gặt sẽ tới, chạy trời không khỏi nắng. Sự thật sẽ phô bày, chóng hay muộn tùy thuộc vô tài diễn xuất, và người đàn bà rất sợ một vai trò diễn viên. “Đã quá đủ. Chấm dứt đi thôi. Không nên gặp gỡ lại nhau.” Người đàn bà sẽ viết hàng chữ đó lên một tờ giấy, như lá cờ trắng dong lên từ phiá kẻ thua cuộc. Bà nhét vào thùng thư ở cái chung cư có 16 căn hộ. Bà không nhấn nút nhựa số 15 như mỗi bận hụt hẫng lao vào. Bà quyết tâm quay gót mặc dù không hiểu được tâm hồn mình có được thảnh thơi sau đó? Người ta luôn được tha thứ nếu họ ý thức việc mình làm là trái khuấy, dù muộn trễ. Buông đao xuống cũng có thể thành Phật huống hồ…
Người đàn bà tháo nút cho nước thoát đi, đứng dậy với chiếc khăn lớn, lau nhẹ nhàng mỗi một vuông da. Hắn từng hôn lên vùng lụa là ấy và tuồng như chưa hề xao lãng bỏ sót một chỗ nào. Nếu hắn tỉnh trí trong động tác âu yếm kia, hắn có thể đếm được bao nhiêu nốt ruồi nằm lẫn khuất trên mình mẩy đang co rúm lại. Người đàn bà có cảm tưởng như cơ thể đã mỗi ngày một hao mòn đi bởi sự tham lam chẳng mỏi mệt của hắn. Hao vì miệng mồm, và mòn vì ánh mắt. Hắn có một cặp mắt gần như của kẻ biết về ma thuật thôi miên. Trân tráo, mê muội và cuốn hút. Hắn nhìn, người bất động tựa hình ảnh một danh thủ dương cầm cúi đầu ngó xuống những phím ngà trước khi hòa nhập vào dòng nhạc cuồng cuộn chảy ra từ mười ngón tài hoa. Phút gửi hồn vào hư không ấy khiến người đàn bà an tâm. Không phải đùa, hắn dường như đang định thần trước khi bắt tay vào việc tạo hình. Hắn có vẻ là một kẻ biết tôn trọng cái đẹp, mất thì giờ để dọn đường cho nghệ thuật đăng quang. Người đàn bà ngồi ở vị trí mà hắn vừa định đoạt. Đèn tắt, tấm màn cửa được kéo giạt sang phân nửa. Tuyết bay nhẹ ngoài trời, sắc trắng của tuyết đập mạnh vào ô kính, hắt thành vũng rạng ngời trên da thịt người đàn bà. “Hãy nghĩ tới một điều gì đó”. Hắn nói. “Như vậy sẽ giúp cho dáng ngồi được tự nhiên hơn”. Người đàn bà nghe lời. Bà nghĩ tới việc đầu tiên khi mở cửa vào nhà, bà sẽ bước vào bồn tắm. Sẽ đổ dung dịch dầu thơm có mùi hoa hồng vào nước ấm, sẽ ngâm toàn thân trong đó khoảng hai mươi phút. Sự tỉnh táo sẽ tìm tới, đầu óc thôi mụ mị và mình sẽ gọi điện thoại cho một nhà hàng Pháp, hoặc Ý, đặt hai phần thức ăn, mang tận nhà vào lúc sáu giờ chiều. Người đàn bà tập trung suy nghĩ phần nối tiếp nhưng phát hiện ra mình chưa bắt gặp sự thoải mái nơi dáng ngồi. Có lẽ nó cứng ngắt, có lẽ nó đang tê dại đi. Suốt đời, chưa bao giờ bà phải ngồi trần truồng lâu như thế này cả. Bên bệ cửa có sưởi, hơi ấm lan man bò chậm rãi trên da, xua đuổi dần những tái tê nổi hột ở đấy. Mũi người đàn bà ngửi ra mùi sơn dầu khi hắn nặn từng ống màu ra palette. Tịch lặng dâng đầy trong căn phòng nhỏ, tiếng đập của trái tim vọng dội vào đôi tai. Màu sắc được pha trộn, tấm bố ngửa mình đón nhận những nét cọ khởi đầu. Tấm bố rung lên như một mặt trống đang có tay vỗ. Không, rõ ràng đó chỉ là âm thanh mơ hồ đầy tưởng tượng. Hồi hộp đập. Hoang mang đập. Hiếu kỳ đập. Trắc ẩn đập. Và trong tất cả chuỗi tiếng động đang luân phiên thao diễn trong màn nhĩ, tai người đàn bà như nghe ra tiếng chuyển động của kim đồng hồ. Tích tắc, tích tắc… Gì thì gì, ta phải trở về trước bốn giờ. Mùa đông chốn này, màu tái tê của giá băng thường biết cách dối gạt một lượng định của mắt nhìn. Sớm, muộn; chuyện ấy phải cần ngó chính xác vào mặt đồng hồ. Ba giờ, người đàn bà mặc lại áo quần trong khi hắn vẫn nheo mắt đối mặt với tấm tranh. Hắn đốt thắp một điếu thuốc với những ngón vấy bẩn màu, như bị chảy máu bầm dập. Hắn lùi ra xa. Đầu điếu thuốc rực cháy như một hòn than. Khói thuốc không loãng tan, quần tụ trước mặt hắn như một đám mây nhỏ. “Bao giờ trở lại? Mai hay mốt? Mười giờ hay mười một giờ?” Sau đám mây vọng ra tiếng hỏi. Người đàn bà làm thinh, thấy mỏi ở hai vai, đau ở lưng và thốn ở bụng. “Ngày mai nhé. Chỉ có gương mặt cần sửa lại chút đỉnh. Tranh không thể xấu hơn người. Đời vẫn thường gọi đẹp như tranh…” Người đàn bà cột chiếc khăn quàng vào cổ, thoa lại chút son môi và trong tấm gương đang soi đã bắt giữ một nhân dáng nào thật lạ lẫm. Nó giống như người thiếu nữ khỏa thân trong tấm tranh chưa hoàn thành kia. Một người không có linh hồn…
Hơi nóng làm căn phòng mờ ẩm. Người đàn bà dùng tay xoa chùi tấm kính, ngó mặt mình như kẻ song sinh này nhìn đứa chào đời cùng lần với mình, cùng thoát ra từ một bào thai, một cửa mình. Này chị kia, chị hư lắm nhé. Chị liệu mà giữ mình đấy. Xứ sở này tuy mênh mông nhưng người Việt mình luôn là ma xó, chuyện gì họ cũng tường tận cả và thêm mắm thêm muối là đức tính không đổi của họ; như thế chị có mà chạy đàng trời cho khỏi sự đàm tiếu. Người đàn bà nhăn mặt, sự tàn phai chưa đến với số tuổi bốn mươi nhưng vẻ tươi trẻ đã chẳng còn dấu vết trên ấy. Nó ra đi biền biệt và nó vất lại một vầng trán nhiều nếp nhăn. Như thể đứa con trưởng thành bỏ nhà đi làm ăn xa và người mẹ choáng váng trước những vung vãi nó để lại trong căn phòng đầy bụi. Người đàn bà kéo tấm gương sang bên, phiá sau là một hộc tủ có ba ngăn đầy chật những chai lọ mỹ phẩm. Shiseido, Lancôme, Clinique… Chúng phô trương vai kề vai để án che một ống kem nhỏ, vặn vẹo nép mình như muốn lẫn trốn. Người đàn bà thò hai ngón tay nhặt nó lên, mở nắp rồi bôi chất thuốc Vagisil vào chỗ kín đáo nằm giữa hai chân. Bà thoáng rùng mình. Nghĩ tới hình ảnh một ông bác sĩ tay đeo găng cao su mỏng, những ngón thăm dò đi dần vào đường khe với đôi mắt chăm chú nhìn sâu vào chỗ ấy. “Mọi thứ bình thường”. Ông ta nói. “Bà có thai lần đầu phải không?” Bà khép lại đôi chân mãi mở rộng. Căn cứ vào đâu để người ta biết được chuyện đẻ con so con rạ? Bà có đọc đâu đó, ở số tuổi bốn mươi thật không tốt cho việc sinh nở, lần đầu. Đứa bé sẽ gánh chịu thiệt thòi nhiều hơn người mẹ. Trí tưởng đã dắt ta đi quá xa. Người đàn bà than lên, mặc lại áo quần trong đôi chân run rẩy. Bà bước hẳn ra khỏi phòng tắm, nghĩ tới một thứ nước giải khát sẽ đổ vào cổ họng khô khát. Phân vân giây lát cuối cùng trà là thứ đánh thắng mọi nhãn hiệu. Không Coke, chẳng cà phê. Không nước cam, chẳng sữa đậu nành. Bà bắt ấm nước lên lò ga, vòng tay chờ sự sùng sục sôi réo bằng tiếng hú không đứt đoạn phát ra ở vòi. Tiếng kêu ấy muôn đời vẫn mang theo nó cái hối thúc khó chịu. Như con tàu sẽ chuyển bánh ở một sân ga vắng lặng, tiếng trầm thiết của hồi còi làm người nghe bần thần, và sau đó nó dồn vào lòng người đưa tiễn sự hụt hẫng. Người đàn bà đã từng hứng chịu qua nỗi mất mát ấy, ở tuổi thanh xuân. Và khi bốn mươi, gặp mặt hắn lần đầu người đàn bà đã phải dằn lòng để khỏi bật lên một tiếng la. Giống quá. Giống không tưởng được. Như hai giọt nước. Vô tình, hắn đã mang quá khứ của người đàn bà dựng lại nguyên vẹn trước mắt…
Ngoài ô cửa kính là một màu trời nhạt nhòa, màu của bóng tối đang lấn chiếm, phủ lấp dần hình dáng những chiếc xích đu phơi thân lạnh cóng ngoài công viên. Bên kia công viên sẽ là con đường uốn cong, đằng sau căn nhà có mái ngói đỏ ấy là một trạm đợi cuả chuyến buýt mang số 100. Chiếc xe cồng kềnh sẽ tấp vào đấy mỗi một hai mươi phút để đổ người xuống hoặc mang ta lên, hục hặc chạy không được suông sẻ vì những trạm dừng; và cuối cùng, ba mươi lăm phút sau nó sẽ vất ta đứng bên lề với trái tim đập mệt. Căn chung cư có 16 căn hộ. Ngón tay nhấn nút chuông ở số 15. Cửa mở. Một thế giới kỳ lạ được bày ra. Trong đó chẳng có lề luật nào được quy định, tuyệt đối không treo bảng Stop. Lý trí được ngơi nghỉ, thân xác nắm tay nhau dắt đến một cõi miền tịch lặng, cổ sơ và rất hoang đường… Như tất cả những gì hắn bày biện ở trong từng tấm tranh. Một người đàn ông của hai mươi năm về trước chẳng biết gì về hội họa, nhưng những trang viết của anh ta cũng có hấp lực khác thường. Nghệ thuật là gì? Người đàn bà không hiểu ra, nhưng có lẽ, trước tiên nó phải biết chối bỏ thực tại. Nó hoán đổi cuộc sống đơn điệu của mình, phút chốc làm mình trở thành “trẻ dại”. Mình đi trong một khu rừng nhiều kỳ hoa dị thảo mà không cần thắc mắc đâu là lối ra. Tiếng nước sôi réo kêu cùng lần với những ngọn đèn đường thắp sáng bên ngoài cửa kính. Người đàn bà chế nước vào bình trà, nhìn những số điện thoại dán đầy trên cánh cửa tủ lạnh. “Pizza Domino”. “Cho tôi một cái trung bình kèm với khoai tây chiên”. “Địa chỉ của bà?” “666 đường Lucifer”. “Tất cả là mười lăm đồng. Cám ơn bà. Khoảng mười phút chúng tôi sẽ mang đến “. Tách trà uống chưa vơi đã nghe tiếng xe thắng đứng trước khoảng sân hẹp. Người đàn bà ngó đồng hồ, hai tay vẫn ôm giữ thứ dung dịch luôn tỏa mùi thơm nhẹ của sen, của lài. Những ngón lạnh cần được sưởi ấm. Cửa mở, người đàn ông lách mình vào kèm theo chút heo may. Ông ta cởi áo khoác treo lên cái giá gỗ đặt ở lối ra vào. Dáng người hơi mập, mọi cử động đều chậm rãi. Kể cả khi cười, những cơ bắp quanh miệng thao tác có hơi lâu mới kéo được hai bờ môi nhếch lên. Ông ta than công việc ở chỗ làm rất nản. Ông ta từng thở dài, đời sống ở đây nhàm chán, vô vị. Và có những canh khuya ông thò tay qua, vật người vợ nằm ngửa ra rồi trút xuống hết những nỗi niềm câm lặng khác. Tựu trung, ông là một người chồng tốt dù có những thứ công việc ông làm dở dang, qua quýt. Làm lưng chừng.
– Hôm nay là một ngày đặc biệt?
Người đàn ông lên tiếng. Đặt câu hỏi mà như loan báo một nguồn tin.
– Tại sao?
– Bếp núc củi lửa thảy đều lạnh tanh.
– Em thấy không được khỏe khi đối mặt với ông Táo. Cơ thể đòi đình công nghỉ xả hơi một bữa.
Người đàn ông cởi giày. Đôi vớ trắng không ôm lấy bàn chân khi ông vào bếp. Những bước đi trông như trẻ con.
– Em sẽ cho anh ăn thứ gì?
– Pizza. Anh còn chung tình với nó không?
– Chung tình. Nhưng nên gặp gỡ mỗi tháng một lần thôi.
Người đàn bà nhìn vào mặt chồng. Ở đó chẳng có nét gì nổi bật, tướng số gọi là một khuôn mặt phúc hậu. Bạn bè gọi là cục vắt thành hòn, thật thà như đếm. Hiện tại, nó không buồn không vui. Khó mà hiểu được nó che đậy điều gì ở bên trong. Tiếng chuông kêu vang làm hai người ngó về cánh cửa cùng lần.
– Anh mở cửa giùm, em đi lấy tiền.
– Khỏi, anh có sẵn đây.
Người đàn ông thò tay vào túi quần trong khi tiến lại mở cửa. Ông đón nhận cái hộp giấy vuông, nóng ấm và thơm ngát. Nó sẽ ngon miệng, bụng đói của ông xác quyết điều ấy. Ông là người dễ tính, chẳng hề biết kén cá chọn canh. Món ăn gì, khi nhai nuốt, ông cũng tự tìm ra cái hương vị quyến rũ nằm ở trong đó. Không dễ đâu, khi một sớm một chiều bọn Tây đều cắm cúi húp sạch tô phở lớn với một bộ mặt mãn nguyện. Ông ta giải thích. Phải thơm ngon mới thuyết phục nổi cái đám đông nhiều thành kiến ấy. Nó là văn hoá thu gọn của một dân tộc. Chớ nên chê bai Miên Lào Ấn Thái Mỹ Mễ Hàn Tàu… Triết lý của ông làm cho cái dáng dấp ấy ngày mỗi nặng nề. Người đàn bà nhìn thấy một vuông giấy xanh rơi xuống sàn gỗ khi ông chồng đóng cửa. Bước lại, nhặt lên và bà mang nó đặt xuống bàn ăn. Một tờ giấy bạc chỉ còn phân nửa.
– Của anh phải không?
– Ừ. Lấy hộ anh dao dĩa. Em uống bia không?
– Soát lại trong túi thử xem.
– Cái gì?
– Một nửa kia. Mang ra để em dán cho tờ bạc được lành lặn.
– Quên nó đi. Chỉ là trò đùa rất con trẻ.
– Trò đùa?
– Trong bữa tiệc uống quá chén thành ra hơi bốc đồng. Anh tính đợi phút chót mới nói cho em nghe, như một món quà gây ngạc nhiên.
– Em không thích đón nhận sự ngạc nhiên. Bất ngờ mà làm gì khi trái tim mình luôn không được khỏe? Còn anh, anh thích đối đầu với nó không?
– Mấy hôm nay, em có mang một triệu chứng nào đó. Em có vẻ thay đổi. Anh chẳng rành về đàn bà, hình như khi tắt kinh người ta đâm bẳn gắt?
– Em sẽ bẳn gắt hơn khi anh cứ lấp liếm nói vòng vo.
– Ôi dào. Bữa ăn coi bộ chẳng ngon miệng được rồi!
Người đàn ông than. Ông mở cửa tủ lạnh, khui lon bia và đổ nó khá lâu vào miệng. Cần cổ ông lên xuống cái vật nghẹn riêng biệt của giống đực. Một trái táo suốt đời không thể tiêu hóa, theo cổ tích.
– Như thế này nhé…
– Nói đi. Em đang chú tâm nghe.
– Đám cưới con anh Nguyện. Bắt đầu là vậy. Hôm đó em kêu đau lưng, ở nhà không tham dự. Nhớ không?
– Nhớ. Hai tháng trước. Em đau thật chứ không phải ngụy tạo.
– Vì đi lẻ loi, tụi nó sắp anh ngồi chung bàn với những tên độc thân. Những thằng trẻ tuổi ấy rất sung, chúng uống rượu như thể em uống nước cam. Có một tay tóc dài, râu ria tướng tá ngó nghệ sĩ được bọn ấy gọi là Renoir. Quảng cáo rằng chàng ta “siêu” đến nỗi chỉ cần ngó qua người đẹp trong phút giây, đêm về có thể họa lại không sai trật một mảy may. Nói tóm chúng nổ điếc cả con ráy. Anh mở ví và chỉ cho thằng Renoir ấy xem tấm ảnh của em. Ba mươi giây. Nó nói thế. Mắt long lanh, miệng cười đểu. Một khuôn mặt đáng ghét. Cao ngạo. Hắn bảo: Ba mươi giây chỉ là một cách nói. Tôi nghĩ, hai tháng sau thì bức tranh sẽ hoàn thành. Không đẹp không lấy tiền. Và cuối cùng tờ bạc này được xé làm đôi như một cam kết. Nửa kia, dĩ nhiên là nằm trong tay thằng Renoir dỏm nọ.
Miếng Pizza nghẹn trong cần cổ người đàn bà. Không riêng giống đực, giống cái cũng biết ăn trái cấm vậy. Người đàn bà đè tay lên ngực và cúi đầu đi như chạy vào phòng vệ sinh. Ngồi ở bàn ăn, người đàn ông có thể nghe tiếng nôn thốc tháo từ sau cánh cửa vọng ra. Ông ngó vào miếng Pizza đang cầm ở tay. Mỏng manh mọi thứ có ở đó. Ớt, nấm, thịt thà… Cái gì đã khiến vợ mình phải dợn mữa? Ông kiểm soát phần còn lại nằm trên bàn. Đó là một cái Pizza bình thường như tất cả những cái Pizza có trên trái đất này. Một thức ăn rất dễ phát phì và lâu tiêu. Ông đi lại chỗ phát ra tiếng nước chảy. Cánh cửa khóa chốt ở bên trong. Ông gõ tay lên lớp gỗ sơn màu hồng nhạt. Thấy ngón trỏ dính sốt cà chua đỏ, ông mút nó chùn chụt.
– Em sao rồi?
Yên lặng trả lời.
– Có sao không? Hello… Ông kéo dài chữ cuối, lên xuống trầm bổng.
– Anh thích đón nghe một ngạc nhiên không?
– Thích. Con tim anh luôn khỏe. Ngạc nhiên làm đời sống mình thi vị hơn.
– Em đã mang thai.
Người đàn ông áp nửa khuôn mặt vào cánh cửa, dính sát. Như muốn nghe rõ hơn. Như người cha áp tai vào bụng bầu vợ hiền cố đón nhận sự chuyển động của thai nhi đang cuộn tròn bên trong vọng dội ra. Tim ông đập hụt nhịp nhiều bận. Bất ngờ làm mặt ông tái đi. Tái như một kẻ bắt gặp vợ mình đang ngoại tình. Ông lắp bắp:
– Trời đất ơi. Phải nói cho bà già nghe mới được. Bả đợi tin này ròng rã đã bốn năm. Mẹ bọn bây, tao đâu có phải hạng người bất lực. Ông đi tới phiá có bắt điện thoại, nửa tờ giấy bạc còn nằm trên bàn. Giờ này có thể nó đã hoàn tất bức tranh. Căn nhà này thực sự đã thiếu quá nhiều thứ. Một tấm tranh sơn dầu treo lên tường. Một tiếng khóc của trẻ thơ. Ông bấm bảy con số.
– Má hả má. Khoẻ không? Má ưa đón nghe một ngạc nhiên không? Một tin vui… Đổi nhà đổi xe gì đâu má… Không, cực như chó thăng quan tiến chức gì má… Má nói vợ con há, chưa, chưa kiếm ra việc… Nhưng mà… Má nói sao? Con không tin đâu à nghen… Xe buýt số 100 à? Biết, con biết đường đó. Thằng tóc dài nào? Hổng có đâu… Trời, bọn ác khẩu bao giờ cũng nhiều… Má nói sao? Má nghe khi đi chùa à, coi chừng mà oan Thị-kính đó má. Vợ con con biết chớ… Gì mà kinh khiếp thế! Má nói vậy không sợ con nửa hồn thương đau hay sao?..
Bò cái tiếng Anh bò là ‘cow’. Cowboy là thằng trên lưng ngựa, chăn bò tại các trang trại Miền Viễn Tây, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Bọn cowboy sống hoang dại khoái làm anh hùng nghĩa hiệp.
Thế nên có chuyện rằng: Hai tên cao bồi ngồi uống trong quán rượu. Một chủ trang trại bước vào! “Tao căm thù bọn da đỏ! Tuần trước những thằng khốn đó đã đốt cháy rụi chuồng trại của tao rồi! Nếu bất kỳ ai mang đến cho tao một con ngựa của tụi dân da đỏ; tao sẽ thưởng một ngàn đô!” Hai tên cao bồi bước ra khỏi quán và phóng lên ngựa. Chẳng lâu sau, họ đuổi kịp một tên da đỏ đẩy tên nầy văng khỏi yên ngựa, lăn tròn xuống khe núi. Nhưng con ngựa trung thành vẫn chạy theo chủ nó. Hai tên cao bồi vội đuổi theo. “Ê nhìn kìa! Nhìn kìa!” “Nhìn cái con khỉ? Hổng lo bắt con ngựa đem về mà lãnh thưởng!”
“Nhìn một cái đi!” “Đâu đâu?” Vòng quanh trên hẻm núi là khoảng 2000 tên da đỏ đang ngồi trên yên ngựa! “Chúa ơi! Hai đứa mình sẽ thành triệu phú!”
Rồi cũng có chuyện rằng: Một tay cao bồi già đi tiệm cạo râu vì mặt ông đầy những vết nhăn, ông không thể tự cạo râu cằm được. Ông thợ hớt tóc lấy trái bóng bàn kêu người khách ngậm vô miệng thì gò má căng lên. Râu được cạo xong, ông cao bồi già khen đúng là mày râu nhẵn nhụi nhưng lỡ tui nuốt phải trái bóng bàn nầy thì sao? Thì vài bữa ông đem nó trả lại cho tui cũng giống như nhiều người khác đã làm thôi!”
John Wayne
Cowboy nổi tiếng nhứt trên màn bạc là: John Wayne của miền Tây hoang dã. Henry Fonda trong vai Wyatt Earp trong ‘My Darling Clementine’ Nhưng con gái ông là tài tử Jane Fonda lại bị các cựu binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam nguyền rủa gọi ‘ả’ là ‘Jane Hanoi’ vì tiếp tay với kẻ thù đâm sau lưng chiến sĩ. Clint Eastwood lầm lì đáng sợ, trừ gian diệt bạo trong các bộ phim “spaghetti western” như “The Good, The Bad and The Ugly”
Nhưng nổi tiếng nhứt trong đám chuyên trị vai cao bồi là Ronald Reagan.
Là kép nhì, đóng vai cao bồi không xuất sắc bằng những tài tử khác nhưng nổi tiếng hơn vì Reagan là Tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ (1981- 1989). Reagan góp phần rất lớn vào việc làm chủ nghĩa CS sụp đổ ở Liên Xô và các nước CS Đông Âu.
Cao bồi thường đội nón và mang giày cao bồi, mặc áo khoác dày ngăn gió đồng cỏ, đội nón vành rộng che nắng cháy da miền hoang dã.
Cao bồi mặc quần jean, vải dày mặc lâu chỉ sờn thôi. “Bake” hai nút rất mê, chúng gọi là quần bò. Thằng nào cũng ráng để dành tiền ra chợ trời Huỳnh Thúc Kháng mua một cái quần bò trong hàng thùng về mặc để lấy le.
Clint Eastwood
Thiếu nữ Úc tân thời ở Melbourne, theo thời trang mặc quần jean giặt đá cho nó sờn, rách vài lỗ chỗ vì em muốn làm ‘Lolita bụi’.
Cowboy qua Việt Nam húp nước mắm thành cao bồi vườn là những đứa đua đòi, tánh tình ngang ngược không biết lễ phép là gì.
Ông bà mình thuộc cái văn hoá ‘Cánh đồng lúa nước’ nên cần trâu bò làm sức kéo. Trâu chậm hơn, nhưng mạnh hơn bò nên đi cày, bừa, trục làm đất trước khi sạ lúa.
Bò lẹ hơn trâu nên dùng để kéo xe chở nặng nên có xe bò. Chở nhẹ chạy vù vù đã có xe ngựa. Bài học thuộc lòng xưa: “Thời giờ: ngựa chạy, tên bay. Hết trưa lại tối, hết ngày lại đêm”
Miên có xe bò nhiều hơn Duồn (tức Việt). Năm nào Miên cũng đua bò chạy bụi tung mịt mù ở vùng Tịnh Biên Châu Đốc.
Xe trâu cũng có nhưng có trong bài Xe Trâu của thi sĩ Kiên Giang. “Xe trâu cót két. Cót két xe trâu. Bánh xe nằng nặng in sâu lối mòn”.
Ronald Reagan
Úc không thấy nuôi trâu; chỉ thấy nuôi bò để vắt sữa và ăn thịt. Sữa tươi để làm ‘cappuccino’ cà phê kiểu Ý (Italy) hoặc đóng hộp làm sữa bò; làm cà phê phin (filter) kiểu Pháp.
Con nít dứt sữa mẹ, chưa mọc đủ răng để ăn cơm nhão thì chuyển qua bú sữa bò. Từ đó loài người ngu đi. Vì có chữ ‘ngu như bò’. Bú bò, bú của con ngu thì làm sao khôn cho được? Thế nên muốn chửi đứa nào ngu thì đừng chửi nó ngu như bò! Nó quánh cái mũi ăn trầu cái đầu xỉa thuốc về vợ nhìn không ra. Hãy hỏi: “Ông còn bú sữa bò không?
Úc khoái ăn bít tết (beefsteak) với nhiều loại sauce và khoai tây chiên, đôi khi với tomato và cải xà lách. Thịt bò nướng sơ sơ mặt ngoài gọi là ‘rare’ thịt hơi sống, còn máu. (Vì thực khách nầy là ác quỷ Dracula). Thịt bò vừa chín tới, vẫn còn màu hồng nhạt ở giữa là medium. Thịt bò chín hoàn toàn, thịt khô hơn là well done.
Qua tay Mít, thì ít xít ra nhiều, thịt bò tới 7 món như: Bò nhúng giấm. Chả đùm. Bò cuốn mỡ chài (mỡ bò). Bò lá lốt. Bò sa tế. Bò bít-tết. Cuối cùng là món cháo bò.
Nhà phát minh vĩ đại bò 7 món cho giới khoái ăn nhậu, trong đó có tui, là ông Adams Henry, Chà Và Ấn Độ, theo đạo Hồi, quốc tịch Pháp tên Việt là Nguyễn Thành có vợ Việt là bà Huỳnh Thị Quế.
Bò 7 món tại Au Pagolac ngày nay
Tháng 4 năm 1930, hai vợ chồng mở nhà hàng Au Pagolac ở quê nội tui là Tân Hiệp trên quốc lộ 4 cách tỉnh lỵ Mỹ Tho chừng 13 cây số.
‘Au’ rút gọn chữ ‘à le’ là ‘tại’. Pagolac? “Pagode” là chùa và “lac” là hồ. Pagolac gần chùa bà Thiên Hậu, phía sau là hồ sen lớn. Pagolac tên Tây gợi trí tò mò; bò chỉ luôn địa điểm cho khách biết đường mà tới.
Hồi xưa, nghèo chết mẹ, đi Au Pagolac ăn bò 7 món nằm mơ còn chưa có. Sau nầy quê người thịt bò là xoàng. Nhưng Footscray (một vùng ngoại ô ở Melbourne) chẳng có nhà hàng nào bán bò 7 món để tui dắt ‘ghệ’ đi ăn!
Lâu lâu em yêu của tui, tức bà chằn của tui, làm món bò lá lốt bỏ sẵn trong ngăn lạnh. Muốn nhậu, xả đá đút vô lò nướng là xong. Bò lá lốt chấm nước mắm nêm giằm khóm thêm ớt hiểm bằm uống beer VB (Victoria Bitter) ngon bá chấy bù chét.
Bài “Bò” xong rồi; hẹn em kiếp sau. Ý quên! Tui chưa chết mà! Xin hẹn em lần sau. Giờ tui đi nướng bò lá lốt nhậu một mình để quên nỗi buồn xa xứ đây!
“Ngày về quê tìm lại bạn bè thời lưới gộc nhưng hổng còn ai nói chi tới đàn chú, bác. Lục lạo trên google tìm cả buổi cũng hổng thấy hình nào giống con cá gộc. Bèn nhắn tin bạn bè trong nước và ngoài nước, hỏi có ai còn giữ tấm hình cá gộc không? Cuối cùng thì có một ông anh đưa cho một cái link của một công ty bán cá gộc, mở ra xem mới thấy hình con cá gộc mà là loại cá gộc ghe cào còn non, nên trông không giống cá gộc tới lứa của thờiluưới gộc. Dù sao đi nữa có còn hơn không. Sợ mai mốt già rồi nằm xuống, không còn ai nhớ tới miệt mũi Cà Mau có một thời “rừng vàng bạc biển” mà ngày nay không còn nữa. Nhớ lại ngày xưa, tôi bèn viết lại truyện thời lưới gộc. Xin kính dâng hương hồn các bác, các chú đã dạy tôi nghề đánh cá gộc. Kính tặng bà con bên vàm Sông Ông Đốc và các bạn ngư phủ đồng thời.”
Lúc mới vào nghề đánh cá tôi có nghe bậc đàn chú, đàn anh làm nghề lưới gộc lâu năm kể lại rằng hồi trào ghe buồm một chiếc ghe dài trên mười thước và một dàn lưới gộc chiều dài chừng vài ba trăm sải tay. Những ngày mùa gió Nam, sáng sớm ngư phủ dựng buồm cho ghe ra bãi bủa lưới, xế chiều kéo lưới trúng cá gộc khẳm ghe. Đâu như sau nầy, lưới cước bén và dài cả ngàn sải mà phải chạy tuốt ra khơi đánh, dác nào kéo được một hai trăm con là đã trúng lắm rồi. Thời đó chưa có nước đá, cá gộc và bong bóng gộc làm khô bán cho người Tàu; bong bóng họ nấu cao lâu, cá khô họ dành ăn cháo trắng, cơm trắng và nhậu ba xị đế cho nên cá gộc bán không được giá. Sau nầy nhờ cá gộc đông đá xuất cảng qua Tân Gia Ba (Singapore) giá mắc gấp ba bốn lần cá khô nên xóm lưới gộc mới phất lên như diều gặp gió.
Thời ghe buồm lưới gộc đan bằng chỉ gai, cọng lưới cỡ đầu đũa ăn, lỗ lưới mười phân. Một tay lưới gộc chiều dài mười sải, dạo dài ba sải. Giữa thập niên sáu mươi Tân Gia Ba qua mua bán, trao đổi, họ đem chỉ cước qua cho dân nơi đây đương lưới thí nghiệm. Lưới cước thành công nhờ màu trắng trong, bén cá và nhẹ hơn lưới gai. Từ đó ngư phủ dùng cước số một trăm tư để đan lưới gộc, lỗ lưới cũng vẫn giữ mười phân như cũ. Lưới chánh là dùng đánh cá gộc và cá đường. Ngoài ra lưới còn bắt được cá sóc, cá sủ, cá sạo, cá bè, cá chét và nhiều thứ cá lặt vặt vừa cỡ, tức là con cá nào bằng bắp chưn trở lên mới đóng được lưới gộc. Cá đường thì hội ở mũi Cà Mau vào những con nước chết tháng ba hoặc về bãi vào mùa gió nam, còn cá gộc đánh được ba mùa, trừ mùa gió bấc, nên dân ngư đặt tên là lưới gộc.
Lúc tôi còn nhỏ ghe lưới gộc gắn máy hiệu gì tôi không biết, chỉ nhớ là mỗi buổi chiều những chiếc ghe nổ máy phành phạch phun khói ra khơi cùng những ghe mang những cánh buồm được đan bằng đệm nên nhìn từ xa thấy những cánh buồn màu nâu xậm. Có lẽ những cái máy thời đó được nhập từ Ấn Độ nên người ta gọi là máy Ấn Độ. Tới khi tôi khôn lớn và nhận thức được thì máy Yanmar F5 – F10 nằm ngang của Nhựt Bổn đã lần lượt thay cho máy Ấn Độ đã lỗi thời. Tuy nhiên ngư dân ở đây vẫn còn se chỉ gai để đương lưới gộc. Khoảng giữa thập niên sáu mươi Sông Đốc vàm thành lập hợp tác xã giao thương với Tân Gia Ba. Tân Gia Ba cho tàu qua neo ở cồn ngoài mũi Cà Mau cạnh vùng biển nơi mà lưới gộc hành nghề. Chiều về khi kéo lưới được cá ngư phủ mổ bụng lấy bóng bóng, bỏ ruột, rửa thân cá sạch rồi cặp lại tàu của Tân Gia Ba cân để cho họ bỏ vô hầm lạnh đông đá. Phần ngư phủ cân cá xong lấy phiếu, khi hết con nước về hợp tác xã đếm phiếu tính tiền. Sông Đốc vàm lúc đó trở thành một hải cảng là nhờ cá gộc được xuất cảng với giá cao. Cũng từ đó dân ngư nơi đây mới biết cách dùng nước đá để ướp cho cá tươi. Ngoài cá gộc ra người ta còn xuất cảng vi cá mập, bong bóng cá đường và rất nhiều bong bóng khô và cá, tôm khô khác…
Tôi chưa bao giờ thấy thời nào Sông Đốc vàm phồn thịnh và dân ngư nơi đây có cuộc sống sung túc như những năm sáu mươi. Có lính quốc gia đóng đồn nhưng không có chiến tranh, có dân bài bạc nhưng không trộm cắp. Đầu con nước ngử phủ cho ra biển, mãn con nước về rửa ghe ăn nhậu đờn ca tài tử nhưng, không du côn lập băng lập đảng đánh nhau. Tuy nhà lá xập xệ nhưng con gái, đàn bà bận đồ vải nhập từ Tân Gia Ba, tay đeo vòng cẩm thạch, bông tai, cà rá bằng vàng y. Con trai thì đeo đồng hồ hiệu Titoni mua từ thương lái người Tân Gia Ba.
Khi tôi nhập vào làng ngư phủ thì máy Yanmar đầu xanh, đầu bạc loại đứng; máy đầu xanh một lốc mười ngựa, đầu bạc một lốc mười lăm ngựa được thay cho máy Yanmar F5 – F10. Ban đầu dùng Yanmar đầu xanh gắn ghe mũi nhọn mà người ta gọi là ghe bô lão. Về sau ghe lưới gộc đóng theo kiểu Thái Lan mũi thẳng đứng có ca-bin rộng và mỗi chiếc trọng tải trên hai chục tấn, gắn máy Yanmar đầu bạc ba lốc, bốn lốc…
Rất tiếc cuộc sống sung sướng, vui vẻ ấy đến với dân vùng ven vàm sông Ông Đốc quá ngắn ngủi. Bắt đầu năm 1968 chiến tranh tràn lan làm cho Tân Gia Ba không giao thương được nữa và hợp tác xã ở sông Ông Đốc cũng giải tán luôn. Đường sông Cà Mau – Sông Đốc Vàm bị cấm. Không lưu thông được trên sông về Cà Mau thì dân nơi đây mở đường biển lên Rạch Giá. Những ghe lưới gộc cũng phải lên Rạch Giá lấy nước đá và thức ăn đủ cho một tháng ra khơi, đánh tới mãn con nước thì cho ghe trở về Rạch Giá bán cá và lấy thêm nhiên liệu trở về Sông Đốc vàm cho ngư phủ nghỉ ngơi chờ đầu con nước lại ra khơi đánh tiếp.
Khi tôi thành ngư phủ chuyên nghiệp thì ghe lưới gộc đã dùng máy kéo, tuy không còn hì hục kéo lưới bằng tay như đàn anh, đàn chú trước kia nhưng máy móc mỗi ngày một tối tân và kỹ thuật đánh bắt mỗi ngày một tinh vi, nên đánh riết rồi cá gì cũng phải hết. Trước kia sáng cho ghe ra bủa lưới, chiều kéo lưới gỡ cá. Cho ghe chạy về cồn neo muối cá xong ngư phủ đánh một giấc thẳng cẳng tới sáng sớm hôm sau tiếp tục. Sau nầy cá đóng ít phải canh nước đánh đêm và đánh trùm lên rạn, vậy mà lắm khi ra khơi đánh cá cả tháng trời về bán chỉ đủ sở hụi.
Tôi còn nhớ rất rõ cái mùa lưới cuối cùng năm ấy.
Lúc chạng vạng tối một chiếc ghe Thái Lan bốn lốc đầu bạc từ ngoài lằn nước xanh chạy phăng phăng vô cồn bùn rồi bỏ neo. Sau khi neo ghe xong bác Sáu kêu tôi tắt máy và mở đèn bên ngoài. Dưới ánh đèn nêon sáng choang, những con cá gộc màu vàng, mỗi con nặng có hơn chục ký, chúng nằm lẫn lộn chung với cá lặt vặt đầy nhóc trên boong. Mấy anh ngư phủ cột xong dây neo lần chen chưn bước trong đống cá mà đi. Hai Dê phía trước đi lại thấy bác Sáu trong ca bin ló đầu ra, anh hớn hở nói liền:
– Ngày mơi cá còn đóng như vầy thì chắc hổng đủ nước đá đánh tới mãn con nước quá bác.
Bác Sáu kiêu hãnh hỏi lại:
– Sao hổng đủ mậy?
Hai Dê chỉ vô đống cá:
– Bác thấy đó, cả thảy một trăm ba chục cá gộc, tính sơ sơ mất hết ba bốn chục cây nước đá đó là chưa kể mấy trăm ký cá vặt mà nước đá mình muối xong đợt nầy còn bảy tám chục cây là cùng.
Bác Sáu vừa trả lời vừa ra lịnh:
– Cái thằng dốt tính, bắt đầu từ đêm nay nước đá chỉ dành ướp cá gộc còn cá lặt vặt cho xẻ muối mặn mần khô hết.
Suốt ngày kéo lưới mệt lả người, còn một đống cá gộc chưa mổ bụng, moi ruột bỏ xuống hầm đông đá mà còn phải xẻ cá muối mặn, cái điệu nầy chắc phải thức suốt đêm rồi. Ngày nào khác chắc ngư phủ kêu trời, nhưng hôm nay ai cũng vui vẻ chấp nhận ý bác. Cả mùa qua chưa đánh dác nào được trên trăm con cá, bây giờ chỉ mong cá tiếp tục đóng cho tới mãn con nước có thức suốt cũng chẳng hề gì. Hơn nữa gần tới Tết rồi ai cũng quyết chí phải về ăn Tết với vợ con cha mẹ linh đình một năm cho bỏ phen cực nhọc. Hai Dê đề nghị anh em bắt tay mổ bụng cá liền. Bác Sáu gạt ngang:
– Thôi, vô cơm nước trước rồi ra mần, đêm nay tao thức mần với tụi bây.
Trong bữa ăn bác Sáu vui vẻ nói huyên thiên về kinh nghiệm đánh cá của mình hồi trào ghe buồm. Kính lão đắc thọ, chúng tôi ngồi nghe bác nói, dù sao đi nữa bác cũng thuộc hạng kỳ cựu trong nghề lưới gộc. Trong đời bác đã trúng cá và trúng nhiều hơn bây giờ nữa, nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên bác vui nhứt trong đời lưới gộc. Nguyên nhân hồi đầu năm 1972 vùng biển khơi mũi Cà Mau xuất hiện hai chiếc tàu sắt lớn bằng những chiếc hạm tuần biển, máy móc gì hổng biết mà nổ nghe bành bành, ống xẹt măng phun khói cuồn cuộn. Hai chiếc kéo miệng cào bề ngang có hơn trăm sải, lướt qua rạng ngọt sớt. Mỗi lần đổ đục họ dùng cần trục câu lên cá lớn họ bắt, cá nhỏ họ liệng trôi trắng mặt biển mặc sức cho bầy nhàn bu lại sớt ăn.
Từ đó trở đi vùng biển của lưới gộc bị hai chiếc tàu sắt quậy đục ngầu như vậy cá voi còn phải trốn nữa nói chi tới ba con cá gộc. Trong thời gian đó có cào Xiêm cào tôm thẻ cũng trúng lắm cho nên ghe lưới gộc lần lượt đổi sang nghề cào Xiêm hết. Vì danh dự nghề nghiệp ba đời mần lưới gộc bác Sáu quyết bám theo nghề lưới gộc cho tới cùng. Theo bác thì biển giả là nghề của ba Cậu (1) thì làm sao mà lường trước được, con nước nầy thất thì chờ con nước sau, mùa nầy thất thì chờ mùa tới. Kệ bác nói gì thì nói, dàng bạn thấy lưới gộc hết thời bèn bỏ bác sang qua đi cào. Còn lại anh Hai Dê là bạn thân tín hồi còn ghe bô lão và tôi từ mới tập sự đã theo ghe của bác cho tới ngày nay nên chúng tôi không nỡ lòng bỏ bác mà đi.
Đầu tháng Chạp âm lịch cũng là đầu mùa lưới gộc. Bác Sáu kêu thêm mấy người bạn mới, phân Hai Dê làm chủ lực, tôi làm tài cải và bác làm tài công, sau khi xuống lưới bác cúng cặp vịt cho dàng bạn ăn nhậu đã một bữa rồi bác cho ghe trực chỉ xuống cồn ngoài khơi mũi Cà Mau. Bác thề có ba Cậu, Nam Ông đánh không có cá gộc bác sẽ không về ăn Tết.
Năm nay hai chiếc tàu sắt cào đôi có lẽ đã đổi vùng nên không thấy bóng dáng chúng đâu hết. Một mình một cõi thênh thang mặc cho bác bủa lưới ngang dọc. Mới dác đầu đã hơn trăm ký cá vặt, tám chục con cá gộc và hôm nay là dác thứ hai trúng hơn cả trăm con. Bác Sáu vui mừng chửi thề ỏm tỏi lên:
– Bà mẹ, chuyến nầy về tao cho mấy thằng cào Xiêm tối mày tối mặt luôn!
Thường thì chuyến ra khơi là một tháng, nhưng chuyến đó chưa đầy ba tuần lễ mà bốn trăm cây nước đá đã hết sạch, dác lưới cuối cùng bác phải ướp sương sương cá gộc rồi cho ghe chạy thẳng lên Rạch Giá. Bán cá xong trở về Sông Đốc vàm đúng ngày hai mươi ba tháng Chạp ta. Sau khi chia tiền cho bạn xong bác vật con heo trăm ký, xẻ thịt chia cho dàng bạn đem về ăn Tết với vợ con và bác còn lì xì cho mỗi đứa một bao phong bì màu đỏ dầy cộm.
Sau chuyến bác Sáu trúng cá gộc, đám cào Xiêm tối mày tối mặt thiệt chớ hổng phải chơi. Họ đâu để bác dễ dàng ăn một mình như vậy được. Những tay lưới gộc đã cất trong nhà chứa vật dụng bây giờ lôi ra cột dây ranh lại, kéo hết dàng lưới xuống ghe, cứ ra khơi đánh thử một vài con nước nếu được thì tiếp tục, không thì vươn ngán ra cào tiếp có chết ai đâu. Đầu mùa gió chướng năm ấy những ghe lưới gộc đã trở lại vùng biển cũ.
Biển im phăng phắc và nước trong xanh. Chiều kéo lưới bầy cá mập lắc (2) lượn quanh ghe táp phầm phập, chúng chầu chực chờ những con cá đóng lưới được ngư phủ kéo lên gần mặt nước thì nhào tới xớt một cái tức thì con cá bị tiện hết khúc đuôi máu loang đỏ lòm, máu loang càng nhiều thì cá mập kéo tới càng đông. Ngư phủ người kéo lưới người dùng mung phóng xuyên qua lưng và lấy câu bắt kê ngang hông giựt từng con cá mập kéo lên ghe. Có đêm tranh dành với bầy cá mập cho tới giữa khuya mới kéo xong dác lưới, đã mất thời giờ mà còn thiệt hại. Có bữa kéo được trăm con cá gộc thì bị cá mập táp đứt khúc hết ba chục con, nhìn những con cá bị đứt khúc nằm ngổn ngang thấy mà xót ruột. Tuy nhiên các anh ngư phủ cũng bắt được một mớ cá mập, nhưng vi cá mập lắc không đủ tiêu chuẩn bán, còn xác mần khô thỏi bán cho dân nhậu hoặc mấy bà buồn miệng nướng ăn chơi thì đâu được bao nhiêu.
Dác lưới đầu ghe nào cũng được vài chục cá gộc và cá lặt vặt có trên trăm ký. Ai cũng tin chắc năm nay cá gộc sẽ đóng trở lại.
Niềm hy vọng của họ chỉ được vài ba con dác lưới đầu thì có chuyện xảy ra. Một sáng nọ, trong lúc ngư phủ ăn bữa cháo lót lòng trước khi ra khơi bủa lưới. Chợt nghe tiếng máy nổ phành phành, mọi người giựt mình nhìn ra ngoài cồn. Chao ơi! Trời mới vừa đâm mây ngang (3) mà đèn của hai chiếc tàu sắt sáng trưng ở bên ngoài bìa rạn, có lẽ họ đương kéo dác cào hừng đông. Hồi đầu mùa cho tới bây giờ vui mừng vì cá gộc đóng trở lại nên dân ngư quên mất hai chiếc tàu sắt ăn hại kia, bây giờ thấy nó lù lù trở lại làm ai nấy lặng thinh không nói lời nào chỉ biết nhìn nhau thở dài ngao ngán.
Không biết từ hồi nào ngư dân có luật dưỡng ngư không văn bản, vùng cá gộc chỉ có lưới gộc được đánh, những lưới nhỏ hơn không được đánh vào, ngược lại những vùng của lưới khác thì lưới gộc cũng không được xâm phạm. Nhưng hai ông tàu sắt nầy ở đâu hổng biết, cứ ngang nhiên cho ghe cào càng đại vô lưới người ta, có ghe bị hai chiếc cào cho cả dàng lưới nát bét, hễ chạy tới mắng vốn thì mấy ông đem súng ra dọa. Có tin đồn hai chiếc tàu đó là của vợ ông tổng thống và cũng có tin khác nói là của ông tướng nào ở Sài Gòn. Cho dù của ai đi nữa nhưng thời buổi chiến tranh ai có súng là người đó có quyền làm mưa làm gió, dân đen chỉ có nước kêu trời.
Mấy năm nay tới mùa cá đường hội, thì mấy ông lính địa phương trong Gò Công và Ông Trang ra bắt phải đóng hối lộ. Ghe nào không tiền thì phải nạp bong bóng cá đường; không bong bóng, không đóng tiền thì mấy cha cầm ghe người ta lại chờ người nhà đem tiền xuống chuộc, bằng không thì không cho về. Lưới gộc sống nhờ vào cá gộc và cá đường, nhưng hai nơi nầy không còn yên ổn nữa, thôi thì rũ lưới thiệt sạch ém vừa ranh vừa lưới xuống một hầm rồi ráp miệng cào, vươn ngáng ra chạy về hòn Chuối, hòn Hàn cào tôm bạc thẻ cho chắc ăn.
Những ghe có ráp cào Xiêm đi hết còn lại mình ên bác Sáu. Mỗi sáng bác chạy khỏi lằn cào của hai chiếc tàu sắt bác mới cho bủa lưới, nhưng đánh kiểu nầy thì lệch lằn cá, cho nên ba bốn dác lưới mà chẳng thấy mặt mũi con cá gộc nào hết. Muốn lấy đủ sở hụi bác phải canh nước đánh đêm. Chiều lên khi mặt trời vừa líp xuống viền nước phía trời Tây, bác Sáu cho ghe chạy tuốt ra ngoài lằn nước sâu mười bốn sải, bác lên ranh đánh nổi hy vọng bắt được mớ cá bè làm khô sình (4) bán lấp vào sở hụi. Bủa lưới xong trời cũng vừa sụp tối, bác ngồi canh cho tới khi khuya mới kêu Hai Dê ra thay canh cho bác đi ngủ. Trong lúc mọi người yên giấc, chợt nghe tiếng Hai Dê kêu giựt giọng:
– Bác Sáu! Bác Sáu ơi! Lưới bị đứt rồi sao mà ghe trôi ào ào bác ơi!!
Bác thức giấc cào nhào.
– Cái thằng, đánh nổi thì lưới phải trôi nhanh.
Tuy miệng nói vậy nhưng bác cũng ngồi dậy đi ra phía trước. Tôi cũng thức dậy theo bác. Bác ra mũi cầm dây dung lên thấy lưới còn bác trở lại hông ghe lấy trái dò thẩy xuống dò nước, khi trái dò chạm tới đáy biển bác thấy ghe trôi ào ào không được bình thường lắm. Bác kêu tôi xuống đề máy và đánh thức đám bạn dậy thay đồ chuẩn bị kéo lưới.
Các anh vừa choàng dây lên trái lăn cho máy kéo lưới chợt máy cuốn ro ro lên hơn ba tay lưới thì hết, phần còn lại gần nguyên dàn lưới trôi đâu mất tiêu. Bác Sáu đứng sững hồi lầu, ngao ngán thở dài, không nói không rằng bác vô mui quay vô lăng cho ghe trực chỉ hướng cồn rồi ra lịnh bỏ neo. Từ lúc neo ghe cho tới sáng đâu ai ngủ nghê gì được. Mấy người pha hết bình trà nầy qua bình trà trà khác ngồi nhâm nhi đoán già đoán non coi lưới trôi hướng nào… Tới khi trời hừng sáng bác Sáu kêu tài cải đề máy ra lịnh nhổ neo. Bác phân công Hai Dê và bác thay phiên nhau cầm lái, tài cải cùng dàng bạn thay nhau đứng trên mui ghe dòm nếu thấy ranh thấy lưới thì xuống báo cho bác hay….
Suốt ba ngày trời ban đêm neo ghe, ban ngày cho ghe chạy từ cạnh phía Nam hòn Hàn xuống tuốt hòn Khoai, đôi lần bác cho ghe vô vùng cấm nhưng ngoài hai chiếc tàu sắt đương tung hoành trên vùng biển lưới gộc trước kia và vài chiếc ghe câu khơi thấp thoáng phía ngoài hòn Khoai ra chẳng thấy bóng dáng đâu là cờ hay ranh lưới nhà. Hổng lẽ cứ cơm ghe bè bạn chạy khơi khơi như tàu tuần biển. Sáng sớm hôm đó tự nhiên bác Sáu đánh thức dàng bạn dậy, gương mặt bác hết căng và cau có. Bác kêu thằng nhỏ theo nấu ăn mở hầm lấy con cá sạo nấu cháo và kêu một ngư phủ nướng khô cá đuối và đem hết bánh kẹo ra. Còn hơn nửa can rượu bác kêu tất cả tụ tập vô ca bin ngồi vòng tròn. Vô vài cốc bác ôn tồn nhỏ nhẹ:
– Tao suy tính kỹ rồi, không kiếm lưới nữa, có chạy thêm chỉ tốn dầu, thiết nghĩ lưới gộc hết thời rồi, có kiếm được dàn lưới đem dìa cũng để chật nhà chớ chẳng ích lợi gì.
Bác nhìn mọi người dò ý, thấy ai cũng yên lặng chờ nghe. Bác nói tiếp:
– Về kỳ nầy tao giao ghe cho thằng Dê làm tài công, day qua tôi bác nói, còn thằng Cu, mầy theo phụ anh Hai mầy ra Sơn Rái gắn ngáng, ráp cào đem dìa đi cào.
Day qua dàn bạn:
– Đứa nào theo cào thì theo bằng không thì nhảy qua ghe khác. Có đứa nào ý kiến gì hông?
Ai cũng đồng ý ở lại với bác làm nghề cào. Tôi lên tiếng hỏi:
– Còn bác làm gì?
Bác hừ một cái:
– Thằng hỏi kỳ cục, tao về nhà làm chủ của tụi bây, lưới gộc đã bỏ tao rồi thì tao cũng hổng cần nó nữa, về chuyến nầy tao bỏ nghề luôn.
Bác quyết định như vậy rất hợp ý với dàng bạn. Mọi người vui vẻ nhẹ nhàng như vừa trút đi một gánh nặng. Khi cháo chín thằng nhỏ dọn lên mọi người ăn và uống hết can rượu xong bác Sáu mới chịu cho nhổ neo và cho ghe trực chỉ về vàm Sông Ông Đốc. Đó là chiếc ghe cuối cùng đã bỏ nghề lưới gộc vào giữa mùa gió chướng năm 1973.
Đại Tây Dương 22-06-2007
Chú thích:
1. Ba Cậu chớ không phải bà cậu. Tục truyền, ngày xưa có gia đình một bà mẹ và ba đứa con trai sống gần biển. Một hôm bà mẹ xuống bãi mò cá bị sóng cuốn trôi. Ba cậu con trai mò hoài không được bèn nghĩ ra một cách là se chỉ đan thành miếng lưới rồi đem ra biển thả xuống rà, nhưng tìm hoài không thấy xác mẹ đâu mà chỉ bắt được rất nhiều cá. Dân làng thấy vậy mới bắt chước se chỉ đan lưới để bắt cá. Về sau ba cậu chết người ta nhớ ơn lập bàn thờ thờ ba Cậu. Mỗi khi ra biển dân ngư vái ba Cậu cho chuyến ra khơi trúng nhiều cá và từ đó dân ngư xem ba Cậu như là tổ của nghề chài lưới.
2. Cá mập lắc mỗi con chừng hai chục ký.
3. Mây đâm ngang là lúc rạng đông ở phía mặt trời mọc có những đám mây xám, mây đen đâm ngan chơn trời.
Sơn Ca và mèo ngủ chung, mèo nằm trong lòng, gối đầu lên cánh tay nó như một đứa em cưng. Nó thường vuốt ve, nhiều lúc còn hôn lên cái mũi đỏ hồng của mèo nữa.
Ông Lâm nói: “Con không nên hôn mèo.”
“Why?” Nó hỏi.
Ông Lâm không thích lối hỏi cộc lốc theo kiểu người Mỹ. Ông dặn các con, ngoài thì giờ ở trường, về nhà phải nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt. Tập cái lễ độ của người Đông Phương, gọi dạ bảo vâng. Ông sợ con ông quên nguồn gốc giống nòi, và kể với nó về chuyện Lạc Long – Âu Cơ, trăm trứng trăm con.
Nó hỏi lại: “Chuyện ấy có thật không?”
“Đã bảo rằng truyền thuyết, thì đừng hỏi thật hay giả. Hỏi thế chẳng khác nào con móc họng ba.”
“Móc họng là gì vậy ba?”
“Là kê tủ đứng chận họng không cho người ta nói.”
“Nhưng con hỏi để tìm hiểu.”
“Tìm hiểu thì phải biết lắng nghe, chứ không phải hỏi có tính cách bắt bí.”
Trong gia đình, ông Lâm cảm thấy có điều gì không ổn đối với các con. Chẳng hạn, khi ông nhắc về một xứ sở xa xôi có một nền văn hiến bốn ngàn năm đầy tự hào của ông. Nghe xong, đứa con gái lớn ngồi trầm ngâm. Tưởng nó đã thấm nhuần tư tưởng do ông truyền đạt. Ông đặt câu hỏi để rà lại sự hiểu biết của nó.
“Con nghĩ thế nào?”
“Con nghĩ, Mỹ chỉ có hai trăm năm lập quốc mà tiến bộ văn minh kinh khủng. Còn bốn ngàn năm văn hiến sao èo uột quá.”
“So sánh thế là bất công với tổ tiên mình. Nhìn tới nhưng phải biết ngó lui, con ạ!”
Và ông nêu những sự kiện trong quá khứ dân tộc, để con ông ngó lui.
Nó nhận xét: “Cả một pho lịch sử thấm đầy máu và nước mắt.”
“Chỉ có thế thôi sao?”
“Thế thôi!”
“Con không thấy tiền nhân của mình rất anh hùng sao?”
Đứa con gái e dè hỏi lại: “Ba cho phép con nói thật không?”
“Nói đi. Thanh thật là đức tính đáng quý.”
“Anh hùng nhưng hiếu chiến quá.”
“Tổ cha bây! Chưa chi đã phản lại giống nòi. Đạp cứt ngoại lai! Chống lại thằng ăn cướp, đánh đuổi ngoại xâm, là ý chí quật cường mà gọi rằng hiếu chiến à?”
Thấy ông Lâm nổi sùng, đưa con gái không dám mở miệng. Nó đã có kinh nghiệm, khi ba nó trừng mắt lớn tiếng, nó nên im lặng, cút đi nơi khác.
Cũng vì nguồn gốc dân tộc và bảo tồn văn hoá, đôi khi ông Lâm làm người khác phải ngỡ ngàng. Có lần, ông đến thăm người bạn, gặp lúc nhà đang đông khách.
Con của bạn và các bạn của nó chào ông bằng cách đưa tay vẫy vẫy, miệng nói:”Hi! Hi!”
Ông Lâm khó chịu với kiểu chào có vẻ đồng đẵng này, ông cho thế là trịch thượng. Ông miễn cưỡng chào lại, và hỏi cho có chuyện để hỏi: “Các cháu còn đi học hay đã đi làm?”
Chúng cứ ngớ ra, không hiểu.
Vợ người bạn vội đỡ lời: “Tụi nó không biết tiếng Việt đâu. Tất cả đã ra trường, đã đi làm. Toàn là bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư cả đấy.”
Cách giới thiệu của bà, ông Lâm thấy có hàm ý hãnh diện khoe khoang.
Ông nói: “Tụi nó là những con dơi.”
“What’s koan giơi?” Chúng trố mắt nhìn nhau.
Có đứa thông dịch: “The bats.”
“Why? Why?”
Lại cũng kiểu hỏi cộc lốc. Ông Lâm cười cười khinh khỉnh: “Con dơi nhập bầy với chim. Chim nói, mày không phải chim, mày có mỏ chuột lông mao, hãy về chơi với chuột. Dơi về nhập bầy với chuột. Chuột nói, mày không phải chuột, mày có cánh biết bay như chim, hãy về chơi với chim. Các cháu cũng thế. Mỹ không nhận mũi tẹt da vàng là người đồng chủng. Quay về với Việt, thì không biết nói tiếng Việt, làm sao hội nhập?
Sau khi nghe thông dịch, chúng kêu lên: “Koan giơi. Koan giơi.” Và nhún vai cười hô hố.
Bà vợ ông chủ nhà hơi ngượng, vì ông Lâm chẳng những đã không tâng bốc vị nễ các sĩ các sư, lại còn giở giọng châm biếm mỉa mai một cách kỳ quặc. Ngày ấy trở đi, hai bên ít khi lui tới.
Đối với Sơn Ca, ông đã dặn rồi nhưng một lúc bất chợt nào đó, nó vẫn “why” với ông. Lần này, ông chỉ thoáng nhíu mày.
“Lông mèo vào phổi sẽ bị ho lao.”
“Cô giáo của con không dạy như thế.”
“Nhưng ngày ba còn nhỏ, bà nội của con đã dạy ba như thế.”
Con bé có vẻ suy nghĩ: “Ho lao là do vi trùng. Lông mèo đâu phải vi trùng. Sao bà nội dạy ba kỳ vậy cà?”
“Không kỳ cà gì cả. Hít lông mèo vào mũi, nếu không ho lao thì cũng bị hen suyển.”
“Con phải hỏi lại cô giáo.”
Sơn Ca coi cô giáo của nó là nhất. Trong gia đình, ông Lâm đã giảm uy tín từ ngày tiểu bang và nhà trường phát động chương trình kêu gọi mọi người bỏ hút thuốc. Cô giáo dạy rằng hút thuốc có hại cho sức khoẻ, và làm ảnh hưởng luôn những người chung quanh. Về nhà, nó năn nĩ ông bỏ hút. Ông hứa, và bỏ được hai ngày. Sau đó, ông hút lại còn dữ hơn khi chưa bỏ. Nó mách với cô giáo về chuyện ông thất hứa. Cô khuyên hãy “kiên trì tranh đấu cho đến thắng lợi sau cùng: bãi bỏ hút thuốc.” Ở nhà, con bé có mẹ và chị em nó đồng lòng sát cánh đấu tranh không mệt mỏi. Bên ngoài, nó có cô giáo hậu thuẫn làm đồng minh không bao giờ phản bội. Ông Lâm bị cô lập, đối nội đối ngoại đều thất thế. Nhưng ông hút đã mấy mươi năm rồi, không dễ gì một sớm một chiều, ai lung lay được cái nền tảng vững chắc của nicotine thấm nhuần trong máu, và thói quen phì phà khói thuốc. Cuộc chiến hút và chống hút còn đang dằn co chưa biết ngã ngũ ra sao.
Một hôm con bé đi học về, nhảy cà tưng mừng rỡ: “Ba ơi. Ba ơi. Con được honeroll rồi.”
“Được honeroll thì tốt thôi. Con giỏi lắm.” Ông Lâm xoa đầu tán dương nó.
“Ba có hứa, nếu con học giỏi thì ba thưởng. Con đã nói trước phần thưởng gì, ba nhớ không?”
“Một con mèo.”
“Mai ba dẫn con ra Pet Shop mua mèo đi ba.”
“Pet Shop chỉ bán chó con.”
“Có cả mèo nữa. Con đã vào coi một lần rồi.”
Để lấy lại uy tín, hòng lèo lái các con ông đi vào con đường bảo tồn văn hoá dân tộc, ông Lâm giữ lời, và đưa Sơn Ca ra tiệm chó mèo. Nó chọn một con mèo con, lông trắng như cục tuyết, cái mũi hồng hồng. Có con mèo, nó không thích chơi với những con “sea monkey”, một loại sinh vật có nhiều chân như con rít, nhỏ như con lăn quăn, bơi trong lọ nước. Sơn Ca nuôi “sea monkey” chẳng làm phiền gì ai. Nó đặt lọ nước lên bàn, soi thêm cái kính lúp, và chúi mũi vào ngắm nhìn những con vật li ti bơi qua bơi lại. Thế thôi. Nhưng, nuôi mèo thì phiền. Nhà thuê ở tầng cao, mèo không có nơi phóng uế bên ngoài. Thỉnh thoảng, nghe cái mùi thum thủm chua chua nhức óc, ông Lâm rà mũi đánh hơi khắp các góc kẹt trong nhà, tìm cho ra nơi phát xuất. Chỉ vài thỏi cứt nhỏ bằng ngón tay út, nhưng sức công phá khứu giác thật dữ dội. Nước đái mèo cũng không dễ ngửi. Đó là mùi khai của nước đái trẻ con có pha thêm chút giấm. Nếu không phát hiện sớm, để lâu bốc mùi nồng gắt còn hơn nước đái quỷ. Ông Lâm đề nghị trục xuất con mèo ra khỏi nhà. Đề nghị cũng là một trò chơi dân chủ. Sang tới xứ này rồi, chế độ quân chủ đã lỗi thời, người cha không phải là một ông vua nhỏ có quyền áp đặt mọi thứ trong gia đình. Tất cả đều được hợp bàn để lấy biểu quyết chung, nhưng quyền quyết định tối hậu vẫn là ông. Vì muốn thu phục nhân tâm, nên ít khi ông Lâm dùng quyền phủ quyết. Một buổi tối, cả nhà ngồi lại bàn thảo với nhau. Mười người mười ý. Cuối cùng, đi đến thoả thuận chung. Sơn Ca được tiếp tục nuôi con mèo, nhưng nó phải đảm trách công việc lau nhà. Mục đích chính là lau nước đái và hốt cứt mèo.
Vì Sơn Ca sẽ hỏi lại cô giáo về tác hại của lông mèo, nên ông Lâm điện thoại đến nhà cô giáo trước, kể chuyện Sơn Ca hôn mèo, và nhờ cô nói giúp là lông mèo làm ho lao hoặc hen suyển.
Cô giáo phản đối: “Tôi không thể nói điều trái y học.”
“Thế cô cũng tán đồng cho nó hôn mèo?”
“Không phải. Tôi chỉ nói không nên hôn mèo vì vấn đề vệ sinh.”
“Nếu đặt vấn đề vệ sinh, thì mèo đâu phải con vật dơ bẩn?”
“Thưa ông, không nên đi quá xa mục đích yêu cầu của ông. Cứ hãy nhìn lên TV, người Mỹ họ ôm ẳm chó mèo trong lòng và hôn hít, đã có sao đâu? Ông không muốn thế, tôi sẽ khuyên Sơn Ca đừng hôn mèo. Đơn giản chỉ có thế.”
“Cô cũng nên cho nó biết thêm, rằng chó mèo có thể gây ra dị ứng về đường hô hấp, như một số người dị ứng với phấn hoa thảo mộc.”
“Lại nữa! Điều này có lẽ ông phải nhờ một bác sĩ giải thích cho con ông. Tôi là một cô giáo, không có khả năng ôm đồm nhiều thứ.”
“Nhưng con tôi nó tin cô.”
“Chính vì thế mà tôi không thể nói những gì ngoài lãnh vực hiểu biết chuyên môn. Đối với trẻ em, một lần nói sai hoặc thất hứa, những lần sau nó không tin nữa.”
***
Sơn Ca đặt tên con mèo là Snowball. Nó réo Snowball cả ngày, nhưng con mèo cứ trơ ra như không phải gọi nó.
Ông Lâm nói: “Nó đã có tên rồi. Nó không thích ai gọi nó là Snowball.”
“Tên gì?”
“Meo.”
“Ai đặt cho nó vậy?”
“Má nó đặt từ khi mới sinh ra.”
“Meo. Tên xấu tệ.”
“Nhưng nó thích. Con thử gọi Meo đi.”
Sơn Ca giả giọng mèo kêu meo meo. Con mèo liền đến ngay.
“Còn tên của con, ai đặt vậy?”
“Má mày.”
“Tại sao đặt Sơn Ca?”
“Ở Việt Nam ngày trước, có cô ca sĩ tên Sơn Ca, hát rất hay. Má con thích giọng hát của cô ấy, và lấy tên cô đặt cho con. Sơn Ca cũng là tên của một loài chim có tiếng hót líu lo vui tai lắm. Con có thích tên của con không?”
“Thích. Nhưng người Mỹ gọi con là Sơn Khê.”
“Họ gọi là gì, kệ họ. Con cứ giữ tên con. Ba rất ghét những mũi tẹt da vàng mà gọi là Mai Cồ, là Biu, là Bóp, là Hé Lìn, là Xí Nì …”
“Người Mỹ gọi tên ba thế nào?”
“Lâm nhưng họ phát âm thành Lem.”
“Lamb là con cừu nhỏ, hiền lành dễ thương lắm. Nhưng ba dữ quá à!”
Ông Lâm cười, trìu mến ôm đứa con gái nhỏ vào lòng. Ông hi vọng rằng với đứa con này, ông sẽ dạy nó theo ý của ông. Uốn măng từ lúc còn non. Dạy con từ thuở còn thơ… Mấy đứa con lớn, ông coi như sắp vuột ra khỏi tầm tay rồi.
***
Con Meo Snowball gợi nhớ về một quãng đời cũ, có con Miêu Nữ, con nuôi của Biên Khuỳnh. Trong trại có hai Biên. Để phân biệt, Biên thuộc đội đi rừng kéo gỗ, anh em đặt là Biên Xe Be. Còn Biên tay cán vá của đội Xây Dựng là Biên Khuỳnh.
Miêu Nữ được Biên Khuỳnh đem về nuôi từ ngày còn tấm bé. Trưa, anh nằm nghỉ ngơi trên chiếc võng, Miêu Nữ nằm trên mình anh. Cũng có lúc, anh đặt Miêu Nữ một mình trên võng, ngồi một bên đưa qua đưa lại như người mẹ dỗ giấc con thơ. Tôm khô, lạp xưởng là loại thực phẩm cao cấp của tù, anh nhịn ăn, dành cho Miêu Nữ. Phải nhìn những lúc Biên Khuỳnh nằm nghiêng trên lán sạp, cầm từng con tôm khô đút cho Miêu Nữ ăn, mới thấy hết cái tình của Biên Khuỳnh đối với Miêu Nữ. Cũng có khi anh vuốt ve Miêu Nữ, mà đôi mắt buồn xa vắng như đang nhìn về một cõi đâu đâu. Anh em trong đội rất cảm thông giờ phút “sầu đứt ruột” ấy của Biên Khuỳnh.
Những năm tù cải tạo ngoài miền Bắc, Biên Khuỳnh không ai thăm nuôi. Lâu lâu, nhận được thư mẹ già, cũng chỉ những lời hỏi thăm và căn dặn yên tâm học tập tốt để sớm về đoàn tụ với gia đình. Nếu không viết như thế, khi qua tay kiểm duyệt, bức thư sẽ đi thẳng vào sọt rác. Đó là những câu phải viết theo “thủ tục hiện hành”. Nhưng bà còn phải đáp ứng cho Biên Khuỳnh biết gia đình vợ con ra sao chứ? Không, bức thư không cho anh biết thêm điều gì, ngoài hai câu trích dẫn trong truyện Kiều:
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Xã hội nào mà không có những điều đau đớn lòng. Nhưng điều đau đớn lòng, mẹ anh trông thấy là điều gì? Biên Khuỳnh mù tịt!
Năm 1983, Biên Khuỳnh được chuyển về Long Khánh, ở trại Xuân Lộc. Theo lời cán bộ, đưa đợt tù này về Nam, tạo điều kiện thuận lợi tiếp tục cải tạo tốt. Nghe tin, mẹ anh từ Nha Trang, đáp tàu đi Long Khánh, lên xe đò đi Xuân Lộc, ngồi xe Lam vào Gia Rai, lội bộ thêm một khoảng đường giữa hai hàng cây so đủa, dẫn tới nhà khách thăm nuôi. Lần đầu tiên sau bao năm đi tù, Biên Khuỳnh được thăm nuôi. Gặp nhau, hai mẹ con đều rớt nước mắt, vì thấy tình trạng sa sút đến thảm hại của người thân. Không biết mẹ già đã nói những gì, Biên Khuỳnh buồn hiu, tịnh khẩu mấy ngày. Dần dần rồi anh em đội Xây Dựng cũng hiểu ra nỗi niềm của anh. Người đàn bà hết dạ yêu anh một thuở, tưởng “sông có cạn, núi có mòn, tình vẫn không thay đổi”, đã đành đoạn cuốn gói đi theo người khác. Mà người khác lại đang thời hãnh tiến, thuộc phía đối nghịch cùng anh. Hai đứa con anh như cụm lục bình trôi theo mẹ, bềnh bồng vất vưởng, bữa đói bữa no. “Trải qua một cuộc bể dâu. Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, mẹ Biên Khùynh viết trong thư là thế.
Trong trại, không chỉ Biên Khuỳnh bị vợ bỏ. Nhiều người cũng ở vào trường hợp tương tự như anh, nhưng mỗi người hành sử mỗi khác. Ở tù là một bất hạnh. Gia đình vợ con tan nát là thêm một bất hạnh nữa. Nỗi đau khổ chồng chất quá lớn đã xô con người vào đường cùng. Có người cắt động mạch, hoặc thắt cổ tự vận. Có người lao đầu vào lò lửa đang cháy rực, tự nướng mình. Có người nhảy vô chảo nước sôi, tự luộc mình. Anh em bằng hữu sợ một lúc quẩn trí nào đó, Biên Khuỳnh liều mạng. Nhưng anh không làm thế.
Anh nói: “Đàn bà trắc nết mê trai, bạc tình là chuyện thường. Chỉ tội cho con cái khổ lụy vì người mẹ tội lỗi.”
Để khuây khoả nỗi buồn, Biên Khuỳnh xin một con mèo nhỏ đem về nuôi. Ngoài những giờ đi lao động, anh và mèo quấn quít bên nhau. Tình thương hai đứa con trôi giạt, anh phả hết vào con mèo. Anh em đội Xây Dựng đặt tên cho mèo là Miêu Nữ, con nuôi của Biên Khuỳnh.
Miêu Nữ dễ thương hết sức. Hai tròng mắt xanh lục màu ve chai. Bộ lông trắng mịn, vá thêm mảng lông màu vàng nhạt, như một thiếu nữ quàng tấm khăn san trên cổ. Nó bước đi nhẹ nhàng, ăn uống nhỏ nhẻ. Lật ngửa nó ra, lấy ngón tay cù vào nách. Nó uốn éo thân hình, quơ bốn chân bấu lấy bàn tay, kề miệng ngoạm nhẹ ngón tay rồi nhả ra ngay. Khi đùa, Miêu Nữ không bao giờ cắn mạnh, và cũng không vươn móng vuốt. Biên Khuỳnh bày trò chơi, cột miếng vải vào một đầu sợi dây, nhữ cho Miêu Nữ nhào tới chụp. Anh liền kéo miếng vải đi nơi khác, và Miêu Nữ chụp hụt. Anh nói, để tập cho nó lanh lẹ khi bắt chuột. Anh lại cầm sợi dây, thòng miếng vải xuống giật giật như câu ếch, Miêu Nữ phóng lên chụp. Đôi lúc phóng quá đà, Miêu Nữ té ngửa. Anh nói, để tập cho nó nhảy cao. Thời gian rồi cũng làm cho nỗi đau buồn của Biên Khuỳnh nguôi ngoai dần, vết thương thành sẹo. Miêu nữ lớn lên trong tình thương của anh. Đến kỳ Miêu Nữ “biết yêu”, anh em đội Xây Dựng có rất nhiều đề tài để nói.
Ở tù không biết ngày nào ra, hơi đâu mà buồn hoài. Yếu tố tinh thần rất quan trọng. Nếu cảm thấy ngột ngạt là nhà tù, thoải mái là nhà mình. Có khi mình đóng cửa nằm nhà cả ngày, đã có sao đâu. Nhưng nếu ở trong phòng giam, mình cảm thấy khó chịu. Tất cả đều do cảm ứng tinh thần mà ra. Hãy bỏ qua hết mọi thứ phiền não để mà sống, và cũng đừng tự hỏi sống như thế có ý nghĩa gì không. Ở tù, hãy lo mạng sống trước, còn sống thế nào cho ý nghĩa, dành cho những người đang được tự do. Cứ coi như đây là nhà của mình, thì thời gian năm năm, mười năm sẽ qua vèo như giấc ngủ trưa. Chàng Moritz trong “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” sống qua được hai mươi năm trong tù, nhờ cái đầu anh ta ít suy nghĩ. Triết gia Tristan tự tử sau một thời gian ngắn bị giam cầm, chính vì cái đầu nhiều khúc mắc của anh đã hại anh. Có người lý luận như thế, dù chỉ để an ủi mình. Nhưng nhiều đêm nằm trăn trở trên sạp gỗ, bị lũ rệp tấn công không ngủ được, nghĩ lại cái triết lý sống trong tù ấy, không phải là không đúng. Và Miêu Nữ là một yếu tố quan trọng làm anh em đội Xây Dựng quên thời gian dài khủng khiếp của trại tù.
Thời kỳ cơ thể Miêu Nữ bắt đầu rạo rực. Một dấu mốc quan trọng đầu đời. Nhiều anh ý kiến, phải tuyển cho Miêu Nữ một tấm chồng thật xứng đôi vừa lứa. Già hết xí quách, không được! Đen đủi xấu xí, không được! Ốm o gầy mòn hoặc mập phệ, cũng không được! Tiêu chuẩn làm mẫu được đưa ra: mạnh khoẻ, trẻ trung, và nhất là bộ áo lông khoác bên ngoài phải đẹp là yếu tố hàng đầu. Con đực xấu hình sẽ di truyền một đàn con xấu mã.
Cả trại chỉ có Miêu Nữ là con mèo duy nhất, nhưng khi tới tuổi động tình, không biết loài vật thông tin với nhau bằng cách nào, liền có ngay một chàng mèo mướp xa lạ, từ đâu đến ve vãn làm quen.
Một anh ra vẻ hiểu biết: “Loài vật rượn đực có mùa. Trong thời kỳ rượn đực, âm hộ của con cái nở lớn và tiết ra một mùi rất đặc biệt. Đó là dấu hiệu báo cho con đực.”
“Nhưng con Miêu Nữ nhà mình, âm hộ vẫn nhỏ xíu.”
“Nhỏ là vì nó còn trinh, cái hoa của nó đã ửng đỏ lên rồi đấy.”
“Còn cái mùi, có ai ngửi được mùi gì đặc biệt không?”
“Chỉ con vật nó đánh hơi được mùi của nhau thôi. Con người làm sao ngửi được mùi của con vật?”
Có anh lái vấn đề sang hướng khác: “Thế, đàn bà khi động tình, âm hộ có tiết ra mùi gì không?”
Nhiều tiếng cười hô hố sau câu hỏi.
“Đàn bà, bốn mùa thời tiết nắng mưa, bất kể ngày đêm sáng tối, lúc nào cũng có thể làm tình được. Cần chi phải tiết ra mùi này mùi nọ!”
Biên Khuỳnh lên tiếng: “Tôi xin các ông. Đừng nhắc đến cái loài động vật xương sống thẳng đứng, nhưng không có tình cảm ấy nữa.”
“Loài gì xương sống thẳng đứng, không tình cảm nhỉ?”
“Anh ta ám chỉ đàn bà đấy. Cay cú con vợ nhà phản trắc, rồi ghét lây những người đàn bà khác. Thế là bất công!”
“Các anh đồng ý chọn chàng Mướp cho Miêu Nữ không?”
“Mướp là ứng phu duy nhất, không chọn nó thì chọn ai?”
Thế là chàng Mướp đương nhiên trúng tuyển. Nhiều người nói, mèo chỉ giao hợp ban đêm, chưa ai thấy được cái pha cụp lạc ấy bao giờ. Và kế hoạch chương trình được đề ra cho cái đêm động phòng của Miêu Nữ, làm sao để mọi người có thể quan sát rõ ràng.
“Đừng tránh né sự thật. Cứ nói thẳng là thị dâm đi.”
Buổi tối, trong phòng giam, Miêu Nữ bị cột dưới sàn bằng sợi dây dài. Mục đích dụ chàng Mướp vào phòng. Miêu Nữ kêu meo meo, có vẻ xốn xang. Mướp lượn vòng bên ngoài, cũng kêu meo meo. Kêu hoài không thấy tình nhân, Mướp chồm lên cửa sổ nhìn vào. Cuối cùng, do tiếng gọi tình yêu thôi thúc, chàng phóng qua cửa sổ, vào với nàng.
Mọi người tránh gây tiếng động, sợ làm Mướp mất bình tỉnh. Một số nằm trên sạp, thòng đầu nhìn xuống sàn. Một số lót tấm nylon, nằm dưới nền đất nhìn cho rõ.
Lúc đầu, Mướp ta chưa dám xáp gần. Chàng lượn quanh Miêu Nữ, nhìn tới nhìn lui, quan sát động tịnh. Mướp lượn tới đâu, Miêu Nữ quay nhìn theo đó, chứng tỏ nàng đang thèm muốn lắm. Thấy tình hình có vẻ khả quan, Mướp khép vòng lượn, xáp lại gần, cọ mình vào Miêu Nữ. Nàng ngước đầu, vươn cổ đợi chờ. Chàng âu yếm vuốt ve cần cổ êm mướt như nhung của nàng bằng cái đầu của mình. Miêu Nữ đê mê làm cái đuôi xù lông, dựng đứng lên. Mướp tưởng đã có thể tiến thêm một bước nữa, bèn đặt chân trước lên lưng Miêu Nữ, đè xuống, định leo lên. Bất ngờ nàng kêu “méo”, và cào vào mặt chàng. Mướp giật mình phóng ra xa.
Có người la lên: “Gái còn trinh mà bị tấn công sỗ sàng quá, nó mắc cỡ. Phải từ từ!”
Sau một phút ngỡ ngàng, Mướp lấy lại bình tĩnh, đến gần ve vãn nữa, làm lại cái màn mơn trớn từ đầu. Vài lần như thế, và lần nào khi tới giai đoạn leo lên, Mướp cũng bị Miêu Nữ cào cho rách mặt. Trên tình trường, có lẽ Mướp đã từng nhiều lần xông trận, cho nên có thừa bản lảnh và kinh nghiệm. Gặp trường hợp quá khó, phải dùng biệp pháp mạnh: cưỡng dâm. Mướp cắn cổ, đè Miêu Nữ xuống. Nàng la lớn, vùng vẫy dữ dội. Kẻ bạo dâm chưa làm ăn gì được, đã bị nàng cào cắn tơi bời. Chàng nhảy ra, đứng trơ tráo nhìn nàng và thở. Nàng gồng mình, xù lông, nhe nanh trong tư thế sẵn sàng xé xác con quỷ râu xanh.
“Ha, ha, ha. Miêu Nữ nhà mình gìn giữ tiết trinh quyết liệt hơn Kiều Nữ của Nguyễn Du.”
Biết gặp phải chằn tinh nữ quái, chàng thất vọng quay mình phóng qua cửa sổ, ra ngoài.
Mất dịp thị dâm, có anh chưởi thề: “Đù mạ, ép duyên cũng không xong.”
“Thế mới biết, trên đời này làm gì có cảnh hiếp dâm. Nếu nó không chịu, cứ giãy giụa hoài, đố thằng nào đút vô cho lọt!” Một anh nói như vừa phát giác ra chân lý.
Mọi người đi ngủ để lấy sức ngày mai lao động. Biên Khuỳnh tháo dây, thả Miêu Nữ.
Không biết Miêu Nữ lẻn ra hồi nào. Giữa khuya, nghe tiếng mèo tru tréo kêu la đau đớn, ngoài hàng rào trại.
Vài anh choàng dậy.
“Xong rồi! Miêu Nữ đã bị phá trinh.”
” Mất trinh làm gì mà la dữ dội thế. Đúng là con Miêu Nữ nhà mình bị bệnh khổ dâm.”
***
Nhớ lại thời kỳ Miêu Nữ động đực, ông Lâm cất tiếng gọi: “Sơn Ca ơi, con nuôi Meo Snowball được bao lâu?”
“Con không nhớ rõ. Có lẽ cũng năm hay bảy tháng rồi.”
“Con đem nó ra đây cho ba coi.”
“Ba cũng thích Meo Snowball của con hả?”
Sơn ca ẳm con mèo đặt vào lòng ông Lâm. Ông nâng nó lên, giở cái đuôi, nhìn vào đít.
“Ba nhìn gì kỳ vậy?” Con bé hỏi.
Ông trả lời tránh né: “Nó ỉa không chùi đít. Ba coi có sạch không.”
“Cứt mèo khô queo, không dính đít đâu. Ba đừng lo.”
Ông Lâm không phân biệt được cái âm hộ nở lớn, ửng đỏ, có mùi của mèo cái động đực và bình thường ra sao. Nhưng ông tính đã đến kỳ rạo rực của con Meo Snowball.
“Từ nay, ban đêm con thả nó ra hành lang. Đừng giữ nó ở trong phòng.”
“Tại sao?”
“Lại nữa, hết “why” rồi tới “tại sao”. Lúc nào con cũng hỏi, cũng thắc mắc.”
“Cô giáo dạy muốn hiểu biết rõ ràng thì phải hỏi.”
“Này nhé, con có bạn để nói chuyện cho vui, thì Meo Snowball cũng cần phải có bạn chứ?”
“Con là bạn của nó.”
“Nhưng nó cũng cần thêm vài đứa bạn đồng loại.”
“OK.”
“Hãy nói “vâng”, đừng “OK.” với ba.”
Con bé cười, vâng dạ.
***
Miêu Nữ có mang. Chàng Mướp quất ngựa truy phong biến dạng. Trên cõi đời nhiều gian trá này, tên Sở Khanh nào cũng giống nhau. Nói năng đường mật. Chìu chuộng vuốt ve. Thề thốt đủ điều. Không có em, anh sống không còn ý nghĩa, cho nên anh có thủ sẵn một chai thuốc rầy. Nếu em lắc đầu từ chối, thì anh sẽ nốc cạn chai thuốc này, tự tử trước mặt em. Nàng sợ gây án mạng, xiêu lòng để cho chàng tháo sợi dây lưng quần. Thế là xong! Nhưng khi nàng bắt đầu đặt vấn đề trách nhiệm, là lúc chàng tìm đường tháo lui. Chàng Mướp thuộc loại cao thủ trong các cao thủ Sở Khanh. Cặp bồ với Miêu Nữ một thời gian rất ngắn, Mướp trốn đi không lời từ giả, để lại cho Miêu Nữ một bầu tâm sự.
Biên Khuỳnh trách nhiệm săn sóc “bà bầu”, theo dõi thai nhi. Anh em đội Xây Dựng tiếp tay trong vấn đề thực phẩm, có được món ngon cũng chia phần cho Miêu Nữ bồi dưỡng.
Một hôm, Biên Khuỳnh kêu lên: “Tôi nghe nó máy rồi!”
Anh em bu lại, người nào cũng muốn thăm thai Miêu Nữ. Đặt bàn tay lên cái bụng bầu, vuốt nhẹ, để yên, nghe ngóng.
“A ha… Nó chòi cộm cả tay tôi.”
“Nó đạp dữ quá!”
“Ấy! Đừng bóp mạnh, coi chừng sẩy thai.”
“Tôi nghe lúc nhúc cả một bụng. Lứa này dễ chừng cũng được mười con.”
“Làm gì có. Mèo chứ đâu phải heo mà đẻ nhiều thế?”
“Anh nghĩ bao nhiêu?”
“Từ ba đến năm là cùng.”
“Theo kinh nghiệm, tôi biết mèo cũng như cọp, chỉ đẻ tối đa hai con.”
“Bố khỉ! Chả có thằng nào kinh nghiệm hết. Chỉ nói phét!”
“Xin can các ngài. Miêu Nữ mang thai mệt mỏi, nó cần nghỉ ngơi. Các ngài cứ rờ mò, nắn bóp hoài. Sẩy thai mất!”
Đội Xây Dựng trông chờ ngày Miêu Nữ lâm bồn. Chưa chi mà nhiều anh đã đặt cọc trước. Anh nào cũng muốn có một con mèo để nuôi.
Biên Khuỳnh kiếm đâu được cái thùng carton, bỏ vào đấy một manh bố, vài miếng giẻ rách, lót ổ cho Miêu Nữ nằm cử. Và ngày ấy thật vô cùng đặc biệt. Miêu Nữ nằm trong thùng kêu meo meo, bức rức không yên. Biên Khuỳnh ngồi một bên, thỉnh thoảng đưa tay vuốt đầu Miêu Nữ để an ủi. Nhiều người đứng chung quanh, hai tay chống đầu gối, chổng khu nhìn vào. Đây mới là giờ phút “đàn bà đi biển một mình”. Miêu Nữ rướn mình. Rặn. Một cái đầu bé tí thò ra. Lại thụt vào. Rặn nữa. Lại thò ra. Rồi nguyên cái đầu lòi ra luôn, tới cổ bị mắc kẹt, khựng lại. Miêu Nữ hết hơi, ngưng rặn, thở lấy sức.
Biên Khuỳnh cầm chiếc đủa gõ mạnh bàn tay: “Đừng! Để tự nó đẻ.”
Có anh sớn sát kêu lên kinh ngạc: “Sao nó đẻ bằng lỗ đít nhỉ?”
“Điên! Chỉ có chị của ông đẻ bằng lỗ đít. Chứ mèo phải đẻ bằng âm hộ.”
Hiệp thứ hai. Miêu Nữ lấy hết sức. Rặn nữa. Phọt ra nguyên một sinh vật bằng ngón chân cái, động đậy trong cái bọc nhờn đục. Nhiều người thở phào. Hình như trong lúc Miêu Nữ rặn, nhiều người cũng rặn theo.
Có tiếng reo: “Mèo đẻ bọc điều. Con này đúng là quý tử.”
“Con nào mới ra cũng nằm trong bọc như nhau. Chả có gì lạ.”
Miêu Nữ quay lại liếm sạch cái bọc nhờn. Sinh vật hiện nguyên hình, hai mí mắt còn dính liền không mở được. Nếu không tận mắt nhìn thấy mèo đẻ, chưa chắc ai đã đoán được sinh vật đang ngo ngoe này là một con mèo con.
Miêu Nữ đẻ chưa xong. Tiếng kẻng từ ngoài cổng vang lên, báo hiệu giờ xuất trại lao động buổi chiều. Mọi người dãn ra, chuẩn bị đi làm. Mấy lần Biên Khuỳnh rời thùng carton, nhưng Miêu Nữ chồm lên, kêu meo meo réo gọi. Anh quay lại, ngồi kế bên. Miêu Nữ lại nằm xuống, chuẩn bị đẻ tiếp. Miêu Nữ cần sự có mặt của Biên Khuỳnh, và anh cũng không nỡ rời xa con vật trong cơn đau đẻ. Lần đầu tiên, anh em đội Xây Dựng thấy được chân tình thiết tha gắn bó giữa người và vật, ai cũng cảm động. Anh em đề nghị Biên Khuỳnh khai bệnh nghỉ lao động, ở lại lán để đỡ đẻ và săn sóc cho Miêu Nữ.
Trước khi rời trại, có anh dặn: “Nhớ giữ cái nhau mèo. Quý lắm đấy.”
“Giữ lại làm gì? Các ông định ăn sao? Nghe nói, ăn nhau người để tẩm bổ hay trị bệnh gì đó, nhưng phải là nhau của đàn bà con so mới tốt. Còn nhau mèo, chưa nghe nói có ai ăn. Các ông định tẩm bổ hay trị bệnh?”
“Không phải ăn. Ai làm chủ cái nhau mèo, sẽ gặp nhiều điều hên.”
“Nhảm! Thế mà cũng có người tin được.”
“Không tin thì để cho người khác tin. Việc gì phải phê bình chỉ trích?”
Một anh lên giọng dạy đời: “Trong cơn tuyệt vọng, đôi khi niềm tin là chiếc phao cứu mạng. Trên đường đời, lấy niềm tin để xoa dịu những bất trắc đớn đau, làm hành trang đi tới. Kẻ nào không có niềm tin, thấy tương lai chỉ là một hố huyệt bi thảm sau cùng.”
“Ha, ha, ha… Từ một cái nhau mèo, sinh ra lắm câu triết lý cải lương!”
Suốt khoảng đường từ trại đến hiện trường lao động, cái nhau mèo và niềm tin là đề tài bàn luận của anh em đội Xây Dựng.
***
Miêu Nữ sinh tư. Một thằng Cu, lông mướp giống bố như in. Ba cái Bướm, lông trắng vá vàng như mẹ. Miêu Nữ đúng là mẹ đảm, vừa lo bắt chuột nuôi mình, vừa cho con bú mớm chu đáo. Bầy con lớn nhanh như thổi. Sau một thời gian ngắn, thằng Cu Mướp vượt trội và bộc lộ cái tính hung hăng giành giật. Khổng Tử viết: “Nhân chi sơ tính bổn thiện”, e rằng không đúng với trường hợp Cu Mướp. Mỗi lần bú, nó đạp con này, hất con kia. Và khi cái vú nó đang bú hết sữa, nó sẵn sàng dùng đầu ủi văng những con khác để chiếm lấy cái vú nào còn mọng sữa. Nhìn bản chất mà đặt tên, anh em đội Xây Dựng đặt cho nó cái tên rất ư là phá hoại xã hội: Thằng Ăn Cướp.
Ban ngày là thời gian Miêu Nữ cho con bú và nghỉ ngơi. Đêm, nó ra ngoài, lẫn vào bóng tối, dầm trong sương đêm, rình rập săn mồi, tha chuột về cho con. Chuột lớn, nó xé ra từng mảnh cho con dễ ăn. Chuột nhỏ, nó không cắn chết, chỉ làm con vật mất đi sự lanh lẹ, để con nó tập vờn, chụp, bắt cho quen việc săn mồi. Lần nào, Thằng Ăn Cướp cũng giành lấy để tập, và ăn một mình. Anh em đội Xây Dựng thường gõ đầu, dạy cho nó biết thế nào là luật công bằng. Nhưng Thằng Ăn Cướp vẫn tính nào tật ấy, không thay đổi.
Chăm chỉ nuôi con được ba tháng, Miêu Nữ bắt đầu ruồng rẫy đàn con. Nó lại động đực và đi tìm tình nhân mới. Khi nó nằm, đứa con nào còn quyến luyến mẹ, mon men tới gần cọ dựa, bị nó vả vào mặt, nhe nanh làm dữ, rồi đứng dậy lạnh lùng bỏ đi.
Dù biết đấy là bản năng thiên tính của loài vật, nhưng có anh cũng mượn cớ chửi xéo: “Đồ hư đốn mê trai, nhẫn tâm dứt tình mẫu tử.”
Anh khác thêm vào: “Thế cũng còn khá. Miêu Nữ nhà mình nuôi dạy con cho đến ngày biết tự lập. Nhiều bà vừa đẻ con ra, liền thả trôi sông, hoặc bóp mũi ném vào thùng rác, như ném một món nợ đời. Hạng ấy, còn thua xa Miêu Nữ.”
Biên Khuỳnh bực dọc: “Tại sao, chuyện gì các anh cũng bắt quàng sang loài động vật có xương sống thẳng đứng?”
“Đừng cay cú bạn ạ! Trong đội Xây Dựng, bạn không phải là người duy nhất bị vợ bỏ. Và nếu tính cả trại, khối thằng khác còn đau hơn bạn nữa. Hãy chịu khó động não một chút đi. Ở tù, có vợ hay không, đều như nhau cả. Mai kia được thả ra ngoài. Thằng nào còn vợ, thì cứ thế mà tiếp tục cuộc chơi. Thằng nào mất vợ, thì bỏ thời gian đi quơ quào đâu đó, cũng kiếm được một con đàn bà điền vào khoảng trống. Trên quả đất lúc nhúc đầy người ta này, không thiếu giống cái.”
“Nói nghe dễ! Người chứ đâu phải vật mà bạ đâu xâu đó.”
“Hừm! Cứ suy tận cùng bằng số, mọi sự gán ghép giữa nam và nữ, đều vì cái ấy của nhau thôi!”
Một anh lên giọng mô phạm, phê bình: “Đúng là lý luận của bọn háo dâm, tôn thờ dục lạc!”
***
Một ngày, Biên Khuỳnh cùng nhiều người khác, được lệnh tha khỏi trại cải tạo. Trong thời gian chờ làm thủ tục phóng thích tù nhân, Biên Khuỳnh đan một cái lồng trúc, dự định sẽ đem Miêu Nữ về cùng anh. Bằng hữu nói, trong giới xe đò thường tin dị đoan, không chịu chở mèo, sợ bị điềm xui gây ra tai nạn dọc đường. Và khuyên anh nên để Miêu Nữ lại cho đội Xây Dựng nuôi, để chuyến đi về của anh khỏi gặp trắc trở.
Cuộc chia tay nào cũng buồn. Nhưng cuộc chia tay giữa Biên Khuỳnh và Miêu Nữ, có pha thêm nước mắt. Anh ôm Miêu Nữ: “Con ơi, bố không muốn bỏ con, nhưng bố con mình đành phải xa nhau thôi. Một phần máu thịt của con, không biết có hên hay không, nhưng bố giữ nó và luôn mang theo mình như một kỷ vật.”
Biên Khuỳnh móc trong đãy nhỏ bằng vải, một cái nhau mèo đã phơi khô, đưa cho Miêu Nữ ngửi như chứng minh lời nói của mình, rồi cẩn thận cất vào trong đãy. Anh bắt tay anh em đội Xây Dựng. Ôm Miêu Nữ lần chót, hai mắt anh đỏ hoe, và cúi mặt xuống sát Miêu Nữ như hôn từ biệt. Mang túi xách lên vai, anh đi thẳng ra cổng trại, không dám quay đầu nhìn lại.
Miêu Nữ không biết đó là lần chia tay cuối cùng với bố nuôi của nó. Nhưng đến tối, nơi chỗ nằm hằng đêm, không thấy Biên Khuỳnh, nó kêu meo meo, và quanh quẩn đi tìm đến tội nghiệp. Những ngày sau, nó vẫn còn thơ thẩn đi tìm. Gặp ai nó cũng ngước lên, kêu meo meo, như hỏi: “Bố tôi đâu rồi?”
Sau đợt thả tù, các trại thưa người. Ban chỉ huy dồn tù nhân lại để dễ bề quản lý. Trại cũ bỏ trống. Anh em đội Xây Dựng đem Miêu Nữ và đám con của nó theo. Nhưng chỉ một đêm, Miêu Nữ bỏ đi đâu mất. Mãi sau này, có người ngang qua trại cũ, ghé vào tìm vài thứ vật dụng còn sót, thấy Miêu Nữ đã về lại nơi đây, lảng vảng nơi chỗ nằm có hơi hướm bố nuôi của nó. Lán trại chỉ còn những đồ đạc phế thải vất ngổn ngang. Và trên sạp gỗ, vẫn còn cái thùng carton lật nghiêng với manh bố rách. Thời gian phủ lên mọi vật một lớp bụi mờ mờ. Biên Khuỳnh đã đi rồi, Miêu Nữ ở với ai?
***
dòng đời trôi,
Biên Khuỳnh về đâu?
Miêu Nữ bây giờ ra sao,
giữa những điêu tàn hoang phế?
“Ông đang nói gì thế? Vợ ông Lâm hỏi.
Ông giật mình: “Không! Chẳng nói gì.”
Quay qua các con, bà nói: “Má thấy nhiều khi ba của tụi bây ngồi lặng hàng giờ, thỉnh thoảng cười vu vơ, hoặc lảm nhảm một mình. Đó là dấu hiệu của tuổi già, lẫn rồi đấy.”
Đứa con gái lớn: “Con nghe nói những người bị tù cải tạo ở Việt Nam, tinh thần bị khủng hoảng, tâm trí mất bình thường. Hay là con đưa ba đến bác sĩ tâm thần, khám thử xem sao?”
Ông Lâm cười lớn: “Chỉ có mẹ con tụi bây điên thôi. Con có bao giờ nghe nói, tuổi trẻ nhìn tới tương lai, người già nhìn về quá khứ?”
Mấy đứa con vỗ tay: “A… Ba của tụi mình đang nhìn về cái thời còn làm quan, mang hia đội mão”
Xin cám ơn Nhà Văn Phạm Phú Minh với hai ngày “Triển Lãm & Hội Thảo về Phong Hoá- Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn” tại Little Saigon. Có thể nói rằng khi tôi lớn lên, biết yêu thương chữ nghĩa, viết được một bài luận được thầy giáo đọc lên cho cả lớp nghe thời trung học và sau này ra đời, thấy yêu thích văn chương, tôi nghĩ, là không phải riêng mình mà cả thế hệ của chúng tôi phải mang ơn Tự Lực Văn Đoàn. Những người yêu thích và đã đọc hết tất cả tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn có thể phân biệt được tác phẩm này với tác phẩm kia, chuyện của Thạch Lam khác với Nhất Linh, hay khó có thể lầm Thế Lữ với Khái Hưng, nhưng nói về ảnh hưởng của Tự Lục trong thế hệ của chúng ta thì không thể nói phần này, phần nọ là của ai, ảnh hưởng của ai nhiều ai ít. Ảnh hưởng về văn chương đã đành, chúng ta còn biết đến phong cảnh và phong cách của con người Hà Nội, sinh hoạt của một lớp người, trưởng giả hay khốn cùng trong bối cảnh của thời gian mà chúng ta thường gọi là “tiền chiến.”
Trước hết là về văn chương chữ nghĩa và lối viết của TLVĐ trong sáng và ngắn gọn. Tự Lực Văn Đoàn không những thoát ra khỏi lối văn biền ngẫu nhiều từ Hán Việt thời đầu thế kỷ 20, ngay cả so với những cuốn tiểu thuyết mới hơn ra đời từ giữa thập niên 1920 như Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Quả Dưa Đỏ của Nguyễn Trọng Luật, hay lối văn đơn giản như lời nói dân dã của Hồ Biểu Chánh, Tự Lực Văn Đoàn đã tỏ ra khác hẳn, tiến lên một trình độ rất xa, dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ Hán Việt, một lối văn có thể phù hợp với đại chúng. Chỉ vài chục năm sau, khi Tự Lực Văn Đoàn đã đi vào chương trình giáo khoa, với những bài học thuộc lòng cho cấp trung học đệ nhất cấp, thanh thiếu niên vùi mình trong thế giới của TLVĐ thì lối văn chương của những tác giả viết cách đó chừng năm bảy năm như đã nói trên, đã bị đẩy lùi vào quá khứ, xem như một loại văn ít được phổ biến, không ai còn dùng đến. Cách viết của những tác giả trong TLVĐ đã ảnh hưởng không ít đối với lớp thanh thiếu niên Việt Nam lớn lên trong khoảng thời gian từ 1945 trở về sau, còn tiếp tục tại miền Nam cho đến sau này, chỉ trừ miền Bắc sau năm 1954, văn chương TLVĐ bị lên án, xem như sản phẩm của tiểu tư sản, làm ru ngủ thanh niên. Nhiều tác giả bị bách hại, nhiều người khác phải ly hương. Sau 1954 ở miền Bắc, TLVĐ bị cấm triệt để, lớp trẻ lớn lên trong chế độ đó hầu như chẳng còn biết gì về một văn đoàn “quan trọng nhất của Việt Nam trong một ngàn năm qua” như lời giáo sư Nguyễn Hưng Quốc trong cuộc hội thảo ngày 7 tháng 7 tại báo Người Việt vừa rồi. Chính sách đó đã để lại một lỗ hổng trong hiểu biết của con người Việt Nam về chính lịch sử văn học của đất nước mình, gây ra biết bao thiệt thòi, thiếu sót.
Cũng thời gian ấy tại miền Nam TLVĐ vẫn tiếp tục được dạy trong bậc trung học, vẫn được những nhà nghiên cứu xem xét một cách tích cực, các tác phẩm của văn đoàn này vẫn được tái bản đều đặn cho thấy dân chúng vẫn tiếp tục đọc và yêu thích, bên cạnh các cố gắng đổi mới của các nhóm văn chương khác, như Sáng Tạo và các lớp cầm bút trẻ về sau. Nhờ chế độ giáo dục và quan niệm khai phóng của miền Nam trong thời đất nước bị chia cắt, khối tài sản văn hóa của dân tộc được tiếp tục sống với cuộc sống của người dân, tạo nên sự liên tục tinh thần cho dân tộc, tránh được tình trạng què quặt thê thảm trong não trạng của con người sống trên đất nước của mình mà chẳng biết gì về các thành tựu của những thế hệ đi trước mình.
Đối với tôi, trước hết, các tác phẩm TLVĐ cho tôi biết đến những nhân vật khốn khổ hay bình thường trong xã hội. Hình ảnh của “Nhà Mẹ Lê” hay câu chuyện của vợ chồng anh Phó Thức “trên đê Yên Phụ một buổi chiều mùa hạ” trong “Anh Phải Sống” là những cảnh đời để lại nhiều ấn tượng nhất cho tôi những năm mới bước vào ngưỡng cửa trung học. Không có TLVĐ, chúng ta ít tưởng tượng ra được cảnh đời trong truyện ngắn Thạch Lam với cảnh quê hương nghèo nàn, đói lạnh …. , chuyện những cô gái nhảy cô đơn trong đêm Giao Thừa, hay người phu xe chở một cô gái ăn sương đi kiếm khách vào đêm ba mươi Tết, cả hai đều đói và tuyệt vọng, cô gái thì không kiếm ra khách, người phu kéo xe có khách nhưng khách đi xe lại không kiếm ra tiền! Cả anh chàng thất nghiệp tên Sinh trong truyện “Đói” mà những ngày đói lạnh ở Hoàng Liên Sơn, tôi đã không khỏi liên tưởng tới. Nhờ có TLVĐ chúng tôi mới biết đến và yêu mến Hà Nội, dù là một Hà Nội trong trí tưởng, qua những trang sách. Ở tuổi thiếu niên, chưa hề bước chân ra khỏi xóm làng hay thị xã của quê hương, nhưng tâm hồn chúng tôi đã thực sự bay bồng về một Hà Nội ba mươi sáu phố phường và tưởng tượng ra hình ảnh những cô tiểu thư “khăn san” yêu kiểu ngày đó của Hà Thành. Đâu là cầu Thê Húc, đâu là đê Yên phụ, rồi con đường Cổ Ngư, cầu Long Biên … tất cả đều thành hình trong trí tôi qua những trang giấy in thô sơ; chúng tôi còn tưởng tượng ra tiếng chuông leng keng của chuyển xe điện qua Bờ Hồ hay tiếng rao “phá xa” của Hà Nội. Tôi đã đem lòng yêu cả những con đường mang tên Phố, hàng Đào, hàng Ngang … những nơi chốn đã được mô tả trong toàn bộ tác phẩm của TLVĐ. Qua một thế giới của “người lớn”, cả những tên phố
Khâm Thiên, xóm Cô Đầu và hình ảnh những chiếc bàn đèn thuốc phiện trong bóng tối của một căn gác nào đó của Hà Nội cũng còn lưu lại trong trí nhớ. Nói chung là tất cả sinh hoạt của Hà Nội ẩn hiện trong mấy mươi cuốn sách của TLVĐ mà hình như chúng tôi chưa bỏ qua một cuốn nào, có cuốn đã đọc đi đọc lại nhiều lần mà không thấy chán.
Quả tiểu thuyết đã tạo cho trí tưởng tượng của người đọc bay bồng, đi xa về một nơi chốn được mô tả qua những trang giấy in. Có thể người ta không thể tìm ra ngọn núi Văn Dú trên rừng núi Bắc Việt, nhưng nó nằm trong trí nhớ của tôi, một đứa trẻ đã mê “Vàng Và Máu” của Thế Lữ ngày nào. Cả cái làng Từ Lâm êm đềm và thơ mộng, và cả ngôi chùa Long Giáng vẫn còn ở đâu đó trong một góc khuất của trí nhớ mà không hề hiện diện trên bản đồ Việt Nam. Cả Xuân Diệu một thời mới lớn: “cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu!” Rồi bài thơ “Hổ Nhớ Rừng” của Thế Lữ, vào lứa tuổi tôi chẳng có ai không thuộc nằm lòng, để có một ngày, rất nhiều người lính thất trận, nằm trong nhà tù cộng sản ba mươi tám năm xưa đã xót xa, cảm khái, đọc thầm … hay với một Thế Lữ khác, mang tâm trạng của một khách ly hương: “rũ áo phong sương trên gác trọ, lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang!”
TLVĐ cho chúng ta những mối tình trong sáng, chung thuỷ, có những lúc vượt qua được nghịch cảnh nhưng cũng có lúc chịu an bài với số mệnh, với lễ giáo. Chúng ta rất ít khi “đọc”được một nụ hôn giữa trai gái trong mấy mươi truyện của TLVĐ, dù là Mai với Lộc (Nửa Chừng Xuân) Phong và Trâm (Nắng Thu) hay tha thiết hơn như Loan và Dũng, rạo rực nôn nao, nhưng không hề được một lần cầm lấy tay nhau, dừng nói gì đến một nụ hôn: “Quả tim chàng đập mạnh … Chàng trông thấy trước mặt bàn tay hơi run run của Loan, hôm nào, cời những quả đậu non trong rá, chàng nhớ đến cái cảm tưởng ngây ngất được thấy đôi môi Loan mềm và thơm như hai cánh hoa hồng, bao nhiêu them muốn ngấm ngầm bấy lâu trong một phút rạo rực trổi dậy.
Bốn bàn chân vẫn bước đều đều … Chàng nghĩ nếu lúc đó có ngừng lại thì Loan sẽ cũng theo chàng ngừng lại; chàng sẽ đưa cánh tay đỡ lấy Loan và miệng chàng sẽ nói câu mà chàng vẫn thầm nhủ với Loan đã bao lần trong giấc mơ:
– Anh sẽ yêu em trọn đời …. (Đôi Bạn của Nhất Linh) Nhưng những chuyện ấy sẽ không bao giờ được thực hiện. Đó là những mối tình thanh khiết, nhẹ nhàng của cả một thế hệ gái trai trước chiến tranh hay hoàn toàn trong sạch thuần khiết như giữa Ngọc, chàng trai Hà Nội và “chú” tiểu Lan trong “Hồn Bướm Mơ Tiên,” thầm lặng để còn nghe được tiếng … “lá rơi,” là một điệp ngữ được nhắc đi nhắc lại trong phần cuối tập tiểu thuyết này.
Nhìn lại thời gian non một thế kỷ, TLVĐ hiện hữu trong văn học Việt Nam, ảnh hưởng đến hàng triệu ngườicủa nhiều thế hệ, mà giá trị của nó là đích thực, từ văn chương, tư tưởng, lối sống, thời trang, âm nhạc … hiển nhiên, không cần ai phải chôn xuống, rồi lại đào lên, sỉ nhục rồi vinh danh, phủ nhận rồi công nhận. Giá trị của TLVĐ cao hơn, dài hơn một đời người, một chế độ. Những người Việt Nam yêu văn học lớn lên từ nửa sau thế kỷ XX rõ ràng là mang một món nợ rất lớn về văn học, đó là Tự Lực Văn Đoàn, nơi đã cho chúng ta những tác phẩm làm mới hằn nền văn học nước nhà, những tác phẩm có nội dung và hình thức hoàn toàn Việt Nam, làm nền tảng cho cả một lớp người cầm bút đông đảo về sau.
Ðất Mỹ Tho hồi xưa là đất Miên. Thế kỷ 17, Chúa Nguyễn cho người Minh Hương, phản Thanh phục Minh vượt biên từ bên Tàu qua định cư và lập nên Mỹ Tho đại phố.
Mỹ Tho tiếng Miên là “Mi Sâr’ nghĩa là xứ có giai nhân da trắng. Sau nầy, chung đụng với người Quảng (Ðông) người Tiều (Châu), nên con gái Mỹ Tho sanh ra, không cần trắng da vì bởi phấn dồi, em đẹp một cách não nùng!
Mùa gió chướng, từ Cửa Ðại, nước mặn tràn vô đâu có lên tới Vàm Kinh Bảo Ðịnh. Tắm nước ngọt quanh năm, suốt tháng con gái Mỹ Tho trắng như bông bưởi là phải rồi!
Rồi năm 1862, Tây mũi lõ chiếm Mỹ Tho. Nó đắp lộ, xẻ đường vuông vức như bàn cờ. Tây cất cái cầu Quay. “Chừng nào cầu quay nọ thôi quay. Thì qua với bậu mới đứt dây cang thường.” “Chừng nào xe lửa Mỹ bung vành. Tàu Tây kia liệt máy anh mới đành xa em”. Tháng Tư, 1975, CSBV tràn vô. VC trong bưng biền tràn ra. Anh bỏ em chạy sút dép qua tới Melbourne nầy. Chiều cuối năm, từ quê nhà, em yêu ngày cũ đã xa, một á xẩm Quảng Ðông, gọi qua trách móc: “Nghe anh hò; con gái Mỹ Tho lầm chết!”
Con đường Trưng Trắc từ Vườn Hoa Lạc Hồng chạy cho tới Cầu Quay. Dọc bờ kinh, dãy nhà sàn gie ra mặt nước biết bao nhiêu tiệm ăn và quán nhậu. Chốn phồn hoa đô hội, VC vô, nó đập tanh bành hết ráo.
Sở dĩ rành 6 câu vọng cổ là vì những năm 1960, Má tui bán cơm tấm bên hông rạp Ðịnh Tường, đường Trưng Trắc Mỹ Tho. Ngoài Má tui ra, còn có Chú Phu người Quảng, xe bán hủ tiếu. Chú Tiều xe bán bò vò viên.
Chú Tiều có thằng đệ tử, nhỏ hơn tui ba tuổi, tên Mẹt. Những ngày bão rớt, hai đứa ngồi chong ngóc dưới hàng hiên nhìn mưa mà tán dóc. “Lớn lên nị làm gì?” Nó nói: “Thì bán bò vò viên. Cưới vợ đẻ con rồi cũng bán bò vò viên.”
Thằng Mẹt kể rằng: “Trời chưa sáng bửng, chú Tiều dắt nó ra tiệm nước trước rạp hát Vĩnh Lợi ăn hủ tiếu, bánh bao, xíu mại và uống cà phê. Xong sư phụ xỉa răng, hút thuốc Bastos đỏ trên đường về.”
“Mười ký thịt bò mối giao tận nhà hồi sáng sớm. Ngày mưu sinh của hai thầy trò bắt đầu. Thịt bò mới, không cần rửa. Cắt miếng nhỏ chừng hai ngón tay. Hốt từng nắm bỏ lên tấm thớt dầy khổng lồ để dưới đất.
Rạp Vĩnh Lợi, Mỹ Tho.
Ngồi trên chiếc ghế thấp, dùng hai thanh thép dẹp và dài đập cho thịt bè ra, tém thịt lại rồi lại đập. Xong ướp đường, bột ngọt, muối, tiêu, tỏi và hành tím. Bỏ thịt vô cối quết. Cuối cùng vò viên bỏ vô nồi nước đang sôi. Hàng trăm viên thịt bò bằng nhau luộc chín sẽ nổi lên thì lấy vợt trụng mì vớt nó ra ngoài. Nồi nước luộc bò vò viên làm nước lèo.
Tương đen trộn với tỏi xay nhuyễn, chút nước cốt dừa bắc lên bếp, xào xong bỏ vô hũ. Sa tế là ớt tươi, ớt khô, ớt bột với dầu ăn, hăng hăng nồng lỗ mũi, vô một hũ. Xắt sẵn ngò gai bỏ vô một cái thố.”
Xong xả, tắm, mặc cái quần tiều dài quá gối, áo ba túi may bằng vải ka ki. Ăn cơm trưa rồi đẩy xe đi bán.
Xe có nồi nước lèo rất lớn. Có hộc kiếng đựng bò vò viên. Có tô vừa, chén nhỏ, nĩa nhỏ có hai chia.
So với ba chục đồng, giá tiền một tô hủ tiếu thời đó, 4 cục bò vò viên lớn bằng đầu ngón tay cái mà giá tới 20 đồng thì hơi mắc.
Muốn ăn bò vò viên, đàn bà thì sai chồng; con gái thì sai em xách gà mên mua về. Yểu điệu thục nữ mà ăn dọc đường, dọc sá sợ chết cái duyên em.
Nên khách toàn là đàn ông. Gần đó, căn nhà xưa thời Pháp thuộc, là hậu trạm của một phi đội L-19, máy bay đầm già thám sát cho Sư đoàn 7. Những phi công mặc áo liền quần màu đen, thêu con rồng trên ngực áo, vai lon trung úy. Ði bay về, cả bọn hay ra xe bò vò viên của chú Tiều đổ xí ngầu lắc.
Xí, ngầu, lắc là bốn, năm, sáu. Tiếng Tiều: xập xí; xập ngầu, mười bốn, mười lăm nghĩa là không rõ ràng, không chắc chắn. Hột xí ngầu có sáu mặt. 1 chấm với 4 chấm màu đỏ. 2, 3, 5, 6 chấm màu đen.
Xe hủ tiếu bò viên
Khách nắm tay ba hột xí ngầu đổ xuống một cái tô. Ba hột có mặt giống nhau gọi là bão. Khách ăn ván đó ngay lập tức. Hai hột có chấm giống nhau, tính điểm hột thứ ba. Từ 4 viên giá 20 đồng, thắng được 8 viên. Thắng nữa được 16 viên, lúc đó mới được ngưng chơi. Ăn no cành hông mà chỉ tốn có 20 đồng.
Còn tiếp tục đổ nữa gọi là nhồi. Từ 16 gấp đôi thành 64, 128, 256 viên. Lỡ thua một cái là mất hết.
Mỗi lần khách đổ ăn, chú Tiều chung một đồng xu. Xong cuộc, đếm đồng xu là biết ăn được bao nhiêu viên. Ăn không hết, gởi lại, mai ăn nữa. Khách chơi xí ngầu lắc cũng có đứa xấu tánh. Ăn thì la rùm. Thua mặt dài như mặt ngựa, chửi thề ỏm tỏi. Chú Tiều ăn thua gì mặt cứ tỉnh rụi. Không cười xỏ, không nhăn nhó. Sợ chọc quê, nó thua, nó quánh cho thấy bà.
Cũng có bữa xui, bị tổ trác. Mới đẩy xe ra, chưa bán được cắc nào, đổ thua một tay phi công hết 256 viên. Chú năn nỉ ăn bi nhiêu thì bi! Mai lại ăn tiếp! Nó không chịu. Nó chạy về nhà, rinh ra một cái nồi ế kinh, bắt chú Tiều chung đủ. Vừa múc bò vò viên cho nó, chú lầm bầm chửi thề bằng tiếng Tiều trong miệng.
Có lần hai thằng công an chìm thua quá, tức, nó lấy 3 hột xí ngầu bỏ vô túi. Chú Tiều năn nỉ gần gãy lưỡi nó mới cho chuộc lại. Năn nỉ tốn tiền chuộc? Mua 3 hột khác. Chú Tiều nói với tui là trong ruột hột xí ngầu nó có chứa thuỷ ngân. Ðổ quen tay, muốn ra mấy nút thì ra.
Chiều cuối năm, lục bọc bò vò viên em yêu bỏ trong tủ đá. Nước súp có ngò gai, có tương ớt, sa tế đủ cả. Ăn bò vò viên; uống với bia lon! Sao tui không thấy sừn sựt ngon như ngày xưa ấy. Hình như nó thiếu mất cái hồn cố thổ khi còn phải xa quê!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.