Vợ tui!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Gần đây em ngờ rằng thằng chồng của em, ‘giả’ bị mắc bệnh tâm thần, bị bệnh trầm cảm, có lẽ ‘giả’ bị bịnh Alzheimer (hay quên) luôn!
Vợ con sờ sờ ra đó mà không nhớ, chỉ nhớ con bồ xí xọn bán đậu đỏ bánh lọt trước cửa trường Trung học, từng cho thằng chả ăn chịu khi ‘giả’ mới lên 16 tuổi.
Hỏi có tức hông?

Đêm đêm, em thường ra bàn thiên trước nhà đốt nhang để cầu Trời, khẩn Phật cho em thêm sức mạnh như người Nhện (Spider woman!) để có thể tiếp tục chịu đựng người chồng “quái đản” này cho tới khi em tìm được lối đào sanh.
Chắc là kiếp trước em mắc nợ thằng chả nhiều quá, nên kiếp này phải trả cả vốn lẫn lời. Trốn nợ kiếp này, kiếp sau phải trả tiếp, không thể giựt nợ đời như giựt hụi được đâu!
Em đã viết di chúc (sợ tiền em bỏ lại, ‘giả’ sẽ đem nuôi đứa khác), và căn dặn con em rằng:
“Nếu Me đi bán muối, hãy thiêu, (Me không sợ nóng), tro lén đem ra dòng sông Maribyrnong rải xuống! Đừng để tụi Bảo vệ Môi trường nó bắt gặp, nó phạt tiền, tội làm ô nhiễm nước sông!”
“Để hương hồn Me hạc nội mây ngàn! Nhứt định không được chôn vào cái huyệt mà Bố tụi bây đã ‘ó đơ’ (order) sẵn hai cái song song, nằm chình ình trong nghĩa địa!”
“Em rất sợ nằm gần “ông chủ nợ” của đời em lắm rồi!”

***

Đưa cho tui đọc cái bài ‘tố khổ’ bố thằng cu của em yêu tức vợ của thằng chả xong, anh bạn văn kiêm bạn nhậu bèn hỏi tui rằng:
“Nếu anh là tui, anh sẽ cư xử ra sao?”
“Cư xử với con vợ nhà tức em yêu ra sao hả? Gượm đã anh hãy vảnh cái lỗ tai trâu lên mà nghe tui kể như vậy nè:”
Hôm mùng 7, tháng Tư, năm 2016, Hải quân Mỹ vừa cho bà con cô bác mình coi một tấm hình cho thấy hai ông thần nào đó, mặc áo cứu sinh màu vàng cam, quơ tay vẫy rối rít, khi chiếc phi cơ tuần tra biển P-8 A bay ngang qua một hòn đảo hoang vắng không người, tên Fanatik ở Thái Bình Dương. Một chiếc tàu được phái tới giải cứu được hai ông thần, đưa về chốn an toàn sau ba ngày mất tích.
Sỡ dĩ chiếc máy bay nầy bay là là xuống thấp vì thấy trên bãi cát có chữ ‘Help’ to tổ bố ghép bằng những cành lá cọ.
Hỏi nguyên nhân tại làm sao ra đến nông nỗi nầy, thì hai ông thần nầy nói:
“Giận vợ nên rủ nhau xuống thuyền dông ra biển, tính một đi không trở lại, nhứt quyết ra hoang đảo để làm Robinson Crusoe!’’
Hai ngày đầu thì cũng vui, cũng thoải mái hết sức vì không còn nghe tiếng ‘chét chét’ của con vợ nhà; nhưng tới ngày thứ ba thì buồn miệng vì thèm ‘beer’ quá xá.
Hai đứa ngồi gác chưn lên trán ngẫm nghĩ, thấy mình làm vậy thiệt là nông nổi, bồng bột nhứt thời như con nít, đâm ra cực kỳ hối hận nên mới kêu cứu đó chớ.
May phước là máy bay Hải quân Mỹ tuần tra, nó thấy; bằng không con vợ tui sẽ mồ côi ‘chồng’!

Một trong hai ông thần bị hâm hâm, tự ên trốn vơ ra hoang đảo để hạc nội mây ngàn, lại là anh bạn văn của người viết mới chết chứ! Chơi với thằng hâm ắt có lúc mình sẽ bị khùng!
Gặp lại ảnh, tui bèn phỏng vấn chớp nhoáng rằng:
“Sao người bỏ em cho đành lòng?”
Ảnh bèn móc túi ra cho tui coi bức tuyệt tình ca của con vợ ảnh viết để đấu tố bố thằng cu như vầy:
“Em đã có một thời gian dài đăng đẳng theo một ông, đi cạnh đời em mà em phải gọi là chồng. Lúc vui em gọi là ông xã; lúc buồn bã thì gọi là thằng chả hay ‘giả’ để em vui!
Em đã chọn, lỗi tại em mọi đàng, không đổ thừa ai hết vì có đổ thừa cũng không có được.
Ngày ấy, cây si anh trồng ngay lối đi…. Thằng chả chơi mánh, dùng cái sách của ‘Pavlov’ đó mà! Tình yêu là thói quen thôi. Bữa nào vắng thằng chả cũng hơi nhơ nhớ chớ!”

***

Kết luận tình yêu là một ‘thói quen’; rồi đưa tới tình nghĩa vợ chồng cũng vì ‘quen thói’. Chớ thú thật “What’s love?’ Thế gian tình là gì?
“Actually I don’t know”. Tui hổng biết!
Nếu tui hết yêu em; và em cũng hết yêu tui rồi thì tui cũng sẽ trốn ra hoang đảo để tầm trú như mấy thằng Úc nầy mà thôi!
Con vợ chằn ăn và cà chớn lửa như vậy nếu còn ở thì ai mà chịu cho nổi hỡi Trời!
Chỉ có cái khác, mấy thằng Úc nầy không biết lo xa lúc giong thuyền ra hoang đảo, tui sẽ chở theo rất nhiều ‘beer’ VB (Vợ Bỏ) ”

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Cay đắng!

petruskyaus.net

Thơ đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Nhỏ đưa anh, mặt mày ủ dột;
Mỹ Tho buồn, rớt hột, lâm râm…
xe lô Minh Chánh, vừa lăn bánh,
nhỏ lấy mù soa, chấm chéo khăn!

Chấm chéo khăn, sao ngăn dòng lệ?
“xa anh rồi chẳng… dễ gì quên!”
nhỏ xa anh, ngọn đèn vàng võ,
biếng châm dầu, lu, tỏ, thâu đêm?!”

Thâu đêm, nhỏ mươi lần căn dặn:
“Sài Gòn! đèn ngọn đỏ, ngọn xanh,
học hành nha, đừng mê bóng sắc;
bướm ong gì! nhỏ vẫn chờ anh?!”

“Chờ anh…” rồi phụ anh đi biệt!
cách mặt xa lòng, mới bốn năm;
lặng lẽ, nhỏ ôm cầm thuyền khác;
“ vẫn chờ anh…” rốt cuộc, anh lầm!!”

Tình ta đâu phải tuồng cải lương!
“sao vai nhỏ – đào thương – rất đạt?
đã vong phụ, lại còn vớt vát:
tiếng ru buồn, ai hát bên song!”

Ngày đi lúa chửa đơm bông;
ngày về em đã con bồng, con mang *
chữ tình một dở hai dang:
duyên ta thời có, nợ mang mang sầu.

*CA DAO

đoàn xuân thu

melbourne

Cặp đệm, nắm xôi.

petruskyaus.net

Thơ đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Suốt một thời thơ ấu con mang theo:

cặp đệm má đương, nắm xôi má nấu

xôi nếp một, bếp chiều hôm khói toả

mía lau đường, thơm vị ngọt, con yêu!

Xuồng ba lá má là con đò dọc

hai lượt: đến trường, tan học, đón đưa

ngày tựu học, con trốn về với má

(số phận đùa! sau lại phải đi xa.)

Con lớn lên, con đi vào chiến trận

hành quân hoài mấy bận lội đồng bưng

vòng vọng mãi tiếng chày đôi má giã

giã cỏ bàng, đan cặp đệm, nhớ thương!

Nhớ má đồng bưng, ruộng, vườn, rẫy bái

chưn sình lầy, lúa nếp, cánh đồng mưa

chiều dừng quân trợn trạo nhai gạo sấy

bùi ngùi con, nhớ lại nắm xôi xưa.

Má đồng bưng rưng rưng tình mẫu tử

thương má nhiều, thương cặp đệm, nắm xôi!

đoàn xuân thu

melbourne

Tiễn em đi

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 08/07/2019 

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Một tháng trôi qua nhanh không ngờ tới. Ba mươi ngày tuần tự lật giở sang trang, cuộc đời cứ thế vẫn lạnh lùng trôi đi, nhưng ở một vài bộ môn, đôi ba xứ sở, ngày 7 tháng 7 vừa qua đã đánh dấu một sự kiện khó quên. Ngày có trận chung kết Women’s World Cup diễn ra ở sân vận động Stade de Lyon, cầu trường chứa hơn 59.000 người. Lyon này chẳng mắc mớ gì tới ga Lyon đèn vàng “lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế”.

Tôi buồn vì tôi chia tay với môn football (soccer) hết được theo dõi trực tiếp những trận đá banh. Và tôi cũng chia buồn với đội tuyển nữ Hoà Lan (Oranjeleeuwinnen), họ đã bị USA soán đoạt lấy giấc mơ ngàn năm một thuở. Cần nhìn lại sự có mặt của đội bóng màu da cam với các lần thi đấu (toàn thắng) đầy thuyết phục: Thắng New Zealand 1-0. Thắng Cameroon 3-1. Thắng Canada 2-1. Thắng Japan 2-1. Thắng Italy 2-0. Vào bán kết (lần đầu tiên trong lịch sử Dutch) để gặp Sweden và thắng 1-0 ở extra-time; mở toang cánh cửa nhằm đụng đầu địch thủ Mỹ lần cuối cùng.

Hoà Lan phiên âm từ Holland. Quốc gia mang nhiều tên khác nhau, Pays-Bas nếu dùng tiếng Pháp nhưng đa số đều gọi là Netherlands. Địa hình toạ lạc trên vương quốc Bỉ và nằm sát nước Đức thuộc phía tây bắc châu Âu. Nhắc tới Hoà Lan buộc phải nhớ chiến thuật tổng lực do họ triển khai và thành tựu ở các mùa World Cup cũ, được ngợi ca qua tên gọi “Cơn lốc màu da cam”. (Cam là màu của hoàng gia và màu áo luôn khoác vào thân các cầu thủ). Hoà Lan nổi tiếng với Van Gogh Museum, với căn nhà mà cô thiếu nữ Do Thái mang tên Anne Frank ẩn náu trong thế chiến thứ II để viết thành cuốn Nhật ký lừng vang. Là vùng đất khai sinh ra hai nhà danh hoạ Rembrandt và Vermeer (Golden-Age) mà các bức tranh sơn dầu của họ vẫn lưu truyền thiên cổ.

Đội banh nữ Hoà Lan có ba tuyển thủ tài ba, sắc bén: Tiền đạo Vivianne Miedema, áo số 9. 22 tuổi, đá cho Câu lạc bộ nổi tiếng Arsenal, cô từng ghi tới 61 bàn thắng trong 80 trận. Tiền đạo xuất sắc khác là cô Lieke Martens áo số 11, từng được FIFA trao danh hiệu là cầu thủ của năm 2017. Trung phong Sherida Spitse áo số 8, được ví là người truyền cảm hứng cho đồng đội.

Trước khi vào trận chung kết, Netherlands coach, bà Sarina Wiegman chỉ trả lời một câu ngắn gọn trước đám phóng viên: “It’s one match and anything can happen”. Mọi thứ có thể xẩy ra cho tuyển Hoà Lan là cầm hoà, giữ tỉ số 0-0 trong suốt 45 phút hiệp một. Ở đâu cũng thấy bóng áo trắng (tuyển Mỹ) tìm cách xâm nhập vào gần cầu môn và những bóng áo cam luôn rơi vào thế bị động, cố tìm cách giải vây. Thủ môn 29 tuổi, cô Sari van Veenendaal đã tỏ ra rất mực bận rộn việc bay nhảy, cản phá. Nếu Hoà Lan không tìm được đôi tay nhanh lẹ như Sari lo trấn giữ khung thành, Oranjeleeuwinnen đã bị cháy lưới bởi Alex Morgan, Tobin Heath và Crystal Dunn.

Phía tuyển USA, như mọi lần đã dùng đội hình 4-3-3. Tiền đạo cánh trái vẫn do Megan Rapinoe đảm trách, giữa là Alex Morgan, bên phải là Tobin Heath. Bà Jill Ellis, nhà dìu dắt đội tuyển đã sắp đặt một cách hợp lý khi để Carli Lloyd, Mallory Pugh và Christen Press ngồi ghế dự bị. Cũng sáng suốt khi đưa ra hàng trung phong (midfield) toàn cầu thủ trẻ như Julie Ertz, Rose Lavelle, Sam Mewis hoặc Lindsey Horan. Và luôn luôn, không thể thiếu hậu vệ Crystal Dunn năng động, vững chắc. Tài nghệ Crystal luôn làm an tâm cho tuyến trên.

Hoà Lan không triển khai được một đấu pháp rõ ràng, họ lúng túng khi xuống banh, chuyền đi những đường chẳng gây được hiệu quả. Để thay đổi, từ lối giao banh ngắn hình tam giác giữa ba tiền đạo, họ chỉ để một tiền đạo cắm ở giữa sân và giao banh xa, bổng. Điều này thường vấp nhược điểm, một là tiền đạo đó phạm lỗi offside, hai là không đuổi kịp để banh lọt vào tay thủ môn địch thủ. So ra, kỹ thuật cũng như thể lực của tuyển Hoà Lan vẫn kém thua tuyển Mỹ một bậc. Cách cản phá banh của hậu vệ là một chứng minh, gây lỗi lầm (đau đớn) chẳng đáng có. Phút thứ 61, Alex Morgan ngả người trong vùng cấm địa. Mỹ hưởng được quả phạt đền và Megan Rapinoe đá thành công cú penalty. Chưa hết, ở phút 69, trung phong Rose Lavelle dẫn banh đi, lách người qua hai bóng cam hậu vệ, đá căng từ khoảng 17 mét cách khung thành, làm bó tay thủ môn. Bàn thắng rất rõ ràng, rất đẹp mắt. Một nửa cầu trường vỡ oà tất cả mọi âm thanh trong khi nửa kia thì ngồi bất động, sửng sờ. 2-0 và chỉ còn hơn 20 phút (phù du) phép mầu nào hiện ra để san bằng hai bàn cách biệt? Cái đáng hoan nghênh cho các bóng hồng mặc áo cam là với tinh thần thể thao, với nhuệ khí sau cùng, họ đã dâng lên quá nửa sân, áp đảo, xông xáo, vắt kiệt sức để mong kiếm tìm một bàn danh dự. Bất lực, số phận đã không mỉm cười với họ.

Mỹ vô địch, như đã tiên liệu trước. Tất cả đều thay áo, đồng mang số 19 và cùng chung tên Champions sau lưng. 19 là năm 2019. Như thế đội tuyển USA có tới bốn lần World Cup Champions: Vào năm 1991, 1999, 2015 và 2019. Trên áo họ thêu 3 ngôi sao, giờ đây sẽ dệt thêm 1 sao mới.

Ngoài huy chương vàng, ngoài cup vô địch của FIFA trao tay, cầu thủ Megan Rapinoe đoạt chiếc giày vàng. Alex Morgan nhận chiếc giày bạc. Và Rose Lavelle đoạt danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất 2019. Riêng chiếc găng vàng thì trao tặng cho thủ môn Hoà Lan.

Theo nhận định của (nguồn) Forbes: Những lý do khiến đội tuyển nữ Hoa Kỳ đạt được thắng lợi cuối:

Tấn công nhanh từ những phút ban đầu, ở sáu trận đều mở tỉ số kể từ phút thứ 12 trở đi. Niềm tin về thực lực mình có. Những đội banh góp mặt ở World Cup năm 2019 này, trong đội hình không sở hữu được một tiền đạo như Megan Rapinoe, một trung phong như Rose Lavelle, một hậu vệ như Crystal Dunn.

Và cốt lõi quan trọng nhất, theo nhận định của Moira Donegan đăng trên báo The Guardian: “Ở Mỹ, năm 1972, toàn bộ các trường trung học chỉ có khoảng 700 nữ sinh chơi môn soccer. Đến năm 1991, năm của Women’s World Cup được tổ chức lần đầu, số nữ sinh yêu môn đá banh tăng lên con số đáng ngạc nhiên: 121.722. Từ năm 2018, có tới 390.482 nữ sinh trung học biết và thích chơi môn thể thao này. Thống kê trên cho thấy hệ thống giáo dục Hoa Kỳ thành công về mặt phát hiện, nâng đỡ, đào tạo ra những tài năng trẻ so với thế giới”.

Mỹ nhất. Hoà Lan nhì. Thuỵ Điển đứng hạng ba. Cả ba đều đón nhận niềm vui chẳng giống nhau, nhưng có thể nhìn rõ một điều là Hoà Lan đang gặm nhắm thầm lặng thứ hạnh phúc khó cắt nghĩa. Tuy không vô địch thế giới nhưng những bóng áo màu cam đã vẽ được cho trang sử nước nhà họ một bức tranh mới đầy hy vọng, bởi bấy lâu họ vẫn phải “phơi áo” ở vòng 16, tủi hổ về lại với những cối xay gió, với kinh rạch, với cánh đồng bạt ngàn hoa tulip, với bao con đường dành riêng cho xe đạp. Lần này họ thua trong hân hoan, họ quy cố hương với bao vòng hoa đang đợi choàng vào cổ ở quê nhà.

Tôi mong Hoà Lan thắng, chỉ vì muốn nhìn thấy một đổi thay ở diện mạo môn túc cầu thế giới. Khi họ thua, tôi cũng xin gửi lời chia vui cùng họ về ngôi vị thứ hai, đạt được sau bao cống hiến hết mình. Từ nhà dìu dắt, huấn luyện viên cho đến 11 cầu thủ tham dự, ra sân; tất cả đội tuyển Netherlands thảy ít nói. Tôi thích cái kín tiếng ấy, tôi chẳng có cảm tình với những kẻ nhiều lời. Một lần nữa, (đã từng vung vít: Tớ đếch thèm đặt chân vào toà Bạch Ốc). Nay tuy đạt được vinh quang, cầu thủ Mỹ, cô Megan Rapinoe lại phát ngôn: “Tôi cho rằng FIFA đã không biểu tỏ niềm tôn trọng đối với phụ nữ…”

Thôi, nói năng chi cũng bằng thừa. Chỉ còn biết hát lời cải biên: Nay em đã quay lưng, chưa bao giờ buồn thế. Trời cắt sóng đôi nơi, suốt đời làm chia ly…

Hồ Đình Nghiêm

Thuyền quyên

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 30/11/2018 

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Tranh lụa của Đinh Trường Giang

Ở đâu đó trong Nam, thầy Hoặc được mời ra phụ trách giảng dạy môn thẩm mỹ học cùng lịch sử mỹ thuật. Dáng cao gầy, tóc để dài, thầy hút pipe, khói thuốc số 79 thơm ngọt cứ vấn vương mãi trì hoãn, không tan loãng vội. Ít ra thì tiên khởi, đó là nét khác lạ có nơi người thầy, chút phong cách lôi cuốn mang theo ra vùng địa đầu giới tuyến. Ngày đầu thầy “thõng tay vào lớp”: Công việc của tôi là truyền đạt lại những gì tôi thu thập, kiến thức, sự hiểu biết; nhưng phút gặp gỡ ban sơ này, tôi muốn đón nghe các anh chị kể chuyện, bất kể chuyện gì. Mưa nắng, biến động, lề thói, văn hoá ẩm thực, thành kiến, dị đoan… Tôi ở xa, chỉ mường tượng ra một chân dung mang nhiều tính thêu dệt. Và thú thật là tôi thấy thành phố của các anh chị rất đẹp, nhưng tôi chẳng mấy thích nét đẹp ấy. Cái tôi, hoặc sự cảm nhận đầy chủ quan là điều nên tránh. Tôi nhại một câu nói nhiều người ca tụng, đại khái rằng tình yêu là khi hai kẻ cùng nhìn về một hướng. Tôi không thích thứ định nghĩa này. Chúng ta sẽ cùng nhau trao đổi, thế nào là thẩm mỹ học?

Môn thầy Hoặc đảm trách thọ chừng ba tháng. Chưa đủ dài để thầy trò cùng nhìn về một hướng thì lá chắn mong manh án ở phương Bắc bị vỡ, tạo sự chấn động lây lan. Mọi người tự động tìm cách bỏ chạy, Nam tiến. Tụ điểm hồi sinh là hòn ngọc viễn đông. Hãy nên tin là thế, là chiếc phao cuối cùng, là thành luỹ sau chót. Chưa bao giờ, một cách quyết liệt, Sài Gòn đang hoá thân thành vùng đất hứa. Tơi tả, hao hụt, mất mát, phong ba gió bụi… khi đặt chân tới, ba hồn chín vía chưa kịp trở lui đã nhìn nhận ra ngay cái không khí mà người dân thành đô đang hít thở. Nhởn nhơ, vô ngại, an bình, sầm uất. Đau thương là gì? Bỏ đi Tám. Chia ly là chi? Sức mấy mà buồn!

Long gặp Thân ở quán nước vỉa hè. Con đường rộng, thoáng mát. Hai hàng cây già tuổi độ lượng che chắn bóng nắng bằng thứ cành lá luôn reo vui ở tầng không. Cà phê rẻ rề, nhạt hương vị nhưng trong thời điểm này không một ai uống cà phê để nhấm nháp thụ hưởng cái ngon miệng sảng khoái do chất nước đen thần diệu ấy mang lại. Cái sự uống chẳng còn là một động từ đúng nghĩa. Đi, chạy, đứng, ngồi, gọi, uống tuồng như xẩy ra trong vô thức. Cần một chỗ thuận tiện, hy vọng nơi đó sẽ gặp mặt những người bạn lỡ thất tán. Thân trước, Mão sau, rồi chợt nhìn thấy bóng ai cưỡi xe Honda vừa phóng ngang qua y như thằng Dần. Vô tình, một quán nước mọc tạm bợ giữa chốn lạ nước lạ cái đã trở thành “phòng thông tin”. Dồn dập bao nguồn cơn kẻ ở người mất, ai kẹt lại bên kia đèo ai ngồi xà-lan kéo xuống tuốt Vũng Tàu. Và rồi Mão cho hay hắn có gặp mặt thầy Hoặc ở đường Trần Quốc Toản, thầy chở một người con gái ngồi yên sau. Chỉ giới thiệu vắn tắc: Là con gái tôi. Xong phần nhập đề, Mão bắt đầu tả: Thầy Hoặc có hơi xuống sắc, y phục cẩu thả, còn người con gái thì cắt tóc ngắn, da trắng, đôi mắt to ngơ ngác đầy ngờ vực. Và Mão buông dấu chấm: Con gái thầy mang một vẻ đẹp hiển lộng!

Trong phim ảnh, ngành cảnh sát có ban chuyên lo về trọng án vẫn thường hiện diện một tay hoạ sĩ thuộc loại thần sầu, gã sẽ phác hoạ ra chân dung tên sát thủ theo lời thuật lại của nhân chứng và thường thì bức ảnh quỷ khóc ấy chính xác tới mức không thể tin được. Hậu quả: Lưới trời lồng lộng tuy thưa nhưng khó thoát. Râu ông nọ cắm cằm bà kia chưa hề xẩy ra, sự hàm oan khi bắt nhầm đối tượng chẳng diễn tới. Không tuyệt đối y bon, chỉ cần hao hao tới tám chục phần trăm thì hồ sơ vụ án giết người cấp độ một sẽ đóng lại, cơm nhà tù sẽ nhô thêm một khẩu phần.

Tuy chưa được khoác thân danh hiệu là hoạ sĩ, nhưng do ở sự khéo tay, do nhập tâm một nhân ảnh, hắn vẽ xuống giấy khuôn mặt người con gái không tên tuổi. Mão vẽ tới cả chục bức cho tới hồi, theo hắn là “ngon lành”, ghi chú: Gái rượu của thầy Hoặc. Sài Gòn không nhỏ nhưng tao tin thế nào cũng có lúc gặp lại người trong tranh, trao gửi món quà mọn giữa một không gian đầy chật cả biến động bất an.

Ai đã đặt tên Nhà Thờ Ba Chuông? Trưa ấy da trời trám nặng màu chì, ba chuông đứng yên không phát tiếng “gọi hồn ai”, mặc cho tiếng súng nổ cách khoảng từ nhỏ tới lớn từ xa đến gần. Lý ra đường đạn réo nên cày xới trong rừng rậm mới hợp lẽ, tha hồ. Nhưng hôm nay đã đổi khác, tên lửa vụt bay thênh thang giữa một phố phường đầy chật ảnh Phật tượng Chúa. Thần linh câm tiếng mà con cháu của các ngài cũng đang cắn răng với lòng dạ hoang mang. Muôn đời người ta không thích tìm về nước Chúa, lên cõi niết bàn bằng con đường ác đức bất nhân tựa thế. Nhất điểm hồng cắm trước ngực nhưng sau lưng nó trổ ra một miệng chén ngập đầy máu. Thi thể đổ gục xuống, té sấp, chúi nhủi thì rõ là sự đoạn lìa kia chẳng nên gọi là ra đi trong thanh thản được.

Long chạy xe vô con hẻm, hồn ai nấy giữ nên không ai rộng lòng ngó ngàng tới một cô gái bị thương ở chân đang dựa lưng vào cánh cửa đóng kín ghẻ lạnh. Người con gái cắt tóc ngắn và nếu nét vẽ của Mão đạt tới mức thượng thừa thì đích thị cô ấy là con của thầy Hoặc. Người ta bảo súng đạn vô tình, chẳng ai nói tới một sự tình cờ do hữu duyên sắp đặt diễn ra trong cảnh hỗn mang. Long dựng xe, Long quỳ xuống, Long bắn ra một hòn cuội nhỏ: Có phải cô là con của thầy Hoặc? Tôi là học trò của thầy từ Huế vừa chạy vô đây. Cô chỉ đường tôi sẽ chở cô tới nơi cô muốn. Gật đầu, đưa cánh tay vòng qua cổ Long, tin cẩn. Có cái chuông thứ tư trong hồn Long vừa đổ tiếng kinh cong. Khéo léo, chậm rãi, nhẹ nhàng, Long dìu được người ấy lên yên xe. Hãy chịu khó ôm cứng lấy thân tôi. Vì khách lạ tôi chẳng rành địa hình chốn đây, mình có nên tìm tới một nhà thương? Không, nhờ anh chở tôi về nhà rồi hẵn tính.

Dạ thưa thầy. Tôi chưa thể nhớ ra tên cậu. Dạ, tên Long. Cảm ơn lòng tốt của Long. May mà đạn không đi qua xương chân, băng bó, cầm máu, uống trụ sinh chống sốt ngừa nhiễm trùng rồi Quyên sẽ khỏi. Long vào đây tạm trú ở đâu? Chẳng rõ tình hình sẽ ra sao, nếu êm thì ghé nhà chúng tôi dùng tạm một bữa cơm. Dạ cảm ơn thầy. Long nhìn xuống chiếc áo lấm lem máu từ bàn tay Quyên bấu víu. Máu của Quyên thẫm màu khi ngấm rút vào sứa vải, vằn vện tựa hình dạng một đoá hoa thôi lành lặn.

Cảm ơn Mão đã vẽ lại chính xác dung mạo Quyên theo trí nhớ, ít ra thì nhờ vào hội hoạ, nó giúp phần làm đẹp, cứu chuộc cuộc sống nhiều đổ vỡ. Dù tình huống diễn ra ở một hoàn cảnh tối tăm, sắc đẹp của một người nữ tựa một cái phao, chẳng giúp người này thì người kia vẫn có nơi bám lấy.

Thân, Dần, Mão và Long trước sau đều lục tục trở ra lại chốn cũ để ghi danh theo học tiếp. Giờ đây trong chương trình, người ta gạt bỏ gần hết các môn, thôi còn Cơ thể học, thôi Thẩm mỹ học, thôi sinh ngữ Anh hoặc Pháp, thôi còn môn Viễn cận, thôi môn Trang trí, thôi Thuỷ mặc, thôi Văn chương, thôi Triết, hết thời kỳ Phục hưng… Chỉ mê muội trau dồi môn chính trị, vẽ tranh cổ động, chân dung lãnh tụ và kẽ chữ vào các khẩu hiệu ngập màu đỏ đe doạ, tàn phá hết cảnh quang hữu tình. Những ai mơ làm hoạ sĩ đều chẳng còn đất đứng để lôi thôi đơm đặt viễn mộng. Bạn sẽ tốt nghiệp và bạn được bổ đi làm cán bộ nhà nước ở một phòng thông tin văn hoá quận huyện nào đó với danh phận là mũi xung kích trên mặt trận văn hoá (theo bài học chính trị hằng rao giảng: trong ba mặt trận, mặt trận văn hoá tư tưởng là quan trọng nhất).

Đói, rét, thiếu thốn; không riêng ở vật chất. Ngay cả khi sống thở bạn nhìn nhận rõ tâm hồn càng lúc càng sa sút, xơ cứng, héo úa. Ngay cả chính bạn, bạn cũng không đối xử tử tế, cứ mặc xác. Bạn chẳng định ra được ngày mai, tương lai là cái quái quỉ chi rất đỗi trừu tượng. Bạn sạch vốn, không còn tin vào một giá trị nào cả, duy một ước ao: Được thoát ra khỏi ao tù nước đọng.

Ước ao đó là một thứ rất mực xa xỉ, một cái bóng mơ ảo treo trên đầu bạn, thường trực đong đưa, khó chụp bắt. Bạn sống với một tờ kinh cuối: Hy vọng. Không ai thọ được mà thiếu đi niềm trông mong. Trông mong vào điều gì? Đừng cật vấn thế, hãy để yên cho tôi tự mường tượng lấy…

Và rồi một hôm bầu trời sùi sụt mưa dầm làm hoen thêm dung mạo xấu xa của Huế già cỗi, xương xóc hiểm hóc chó ăn đá gà ăn muối; có lá thư phương xa gửi về cho Long theo địa chỉ trường. Khi được gọi tên để nhận lấy, nhìn phong bì, Long biết đã có người kiểm duyệt, xem qua nội dung. Bắt buộc nó phải “lành mạnh”, không úp mở, rêu rao với dụng tâm nói xấu chế độ.

Thành phố HCM ngày… tháng…

Anh Long,

Không biết anh còn nhớ tới em? Nhưng Quyên chẳng thể nào quên anh. Thư này thông báo chỉ hai chuyện, thứ nhất ba em vừa mất vì bệnh phổi, thứ hai là tụi em đã dọn về sống bên Phú Nhuận. Để mưu sinh em có mở quán bán cà phê trước mặt nhà, tạm sống được với cái tên “cà phê cô Quyên thọt”. Nhìn chân mình, luôn là một nhắc nhở, nếu trưa hôm đó không gặp anh, chẳng biết con Quyên sẽ ra sao? Mang ơn anh là chuyện tất nhiên đồng thời Quyên cũng cảm ơn vết thương, nhờ nó mà Quyên an phận với đời độc thân. Bây giờ sống có lứa đôi thêm cực thân, phải không anh?

Hy vọng thư này đến được tay anh. Rồi anh Long sẽ làm cán bộ công nhân viên nhà nước. Trước khi chính thức giã từ đời sinh viên đi nhận nhiệm sở, Quyên mong sẽ được đón tiếp anh một lần ngay tại hàng quán này, để nhìn lại nhau, một lần thôi cũng đủ. Anh Long nhớ giữ gìn sức khoẻ.

Thương,

Một đứa tật nguyền, Quyên.

Cuối niên học, trong chuyến “đi thực tế” lấy tư liệu để làm bài thi ra trường, Long bỏ trốn, leo tàu Thống Nhất mất hơn ngày đường để khối sắt già nua sật sừ chui vào ga Bình Triệu. Hãy tin đi, mày đã từng trải qua dâu bể, vậy thì lần thứ hai vào thành phố nay đã đổi tên không lý gì mày sẽ phải quỵ ngã. Long hỏi thăm lối về Phú Nhuận, tự cho là đúng với lối suy luận, rằng một đứa cắm cúi vẽ tranh cổ động sẽ thấp kém thua một thằng người pha cà phê rồi mang ra cho khách vừa gọi. Dự tính những gì sẽ thổ lộ cùng Quyên, 5 năm đầy chật hoang mang theo nghiệp vẽ sẽ trôi sông đổ biển chẳng tiếc thương nếu được kề cận bên Quyên, gọi Quyên là bà chủ.

Anh vào muộn trễ quá. Em đã bàn giao mọi thứ cho cậu em trai.

Cái túi xách bèo nhèo lỏng lơ máng trên vai Long nghe nặng, xiêu thân. Lâu lắm, khuôn mặt ấy dẫu tiều tuỵ vẫn chưa hề mòn hao trong trí Long. Và âm vực giọng Sài Gòn kia thì muôn năm tải đủ chất dễ thương đến lạ. Vẫn tóc ngắn, như thể nó từ chối cái việc tăng trưởng theo năm tháng vốn gây lắm hao mòn, lật giở vội hòng cướp đoạt niềm vui, rơi rụng đi những thứ ta cần nương nhờ bám víu, mỗi khi một ít. Ngắn của ngày xưa khác cái ngắn hôm nay, ngắn bây giờ mang đủ sự quyết liệt của chống cự, phản kháng; hoặc không thì đó là sự trân tráo, ù lì đầy thách thức trước những băng hoại.

Quyên tính đi đâu? Em sửa soạn đi thăm mộ ba. Anh có nhận được hai bức thư em gửi không? Chỉ nhận một bức thôi, viết ngắn, trong đó dòng chữ: Quyên muốn gặp mặt anh dù chỉ một lần… Anh chở Quyên ra nghĩa trang đi, Quyên sẽ chỉ đường.

Trong hành lý của đứa quyết định đi giang hồ có chứa một tập giấy croquis, chen lấn với những ký hoạ phong cảnh vẫn có đôi ba bức vẽ chân dung sầu muộn của người con gái “trắng da ngắn tóc”. Sẽ xé rời ra, trao vào tay Quyên thế cho một món quà của đứa từ chốn lạ vừa nhập cư. Nhưng phút giây này chưa nhìn ra được khe hở thuận tiện, thích hợp để gửi trao. Mất đi một tờ giấy cứng, không chắc điều này làm cho hành trang mãi cưu mang sẽ vơi nhẹ.

Long nắm ở hai bàn tay ba cây nhang. Trước mặt là nhân ảnh của người thầy dạy môn Thẩm mỹ học ngày xưa. Hơn cả nhất tự vi sư bán tự vi sư, thành kính xẩy ra vì thầy đã qua đời, và thầy để lại cho nghĩa trang này một cô con gái hiếu thảo, vuông tròn với tha nhân, đứng run thân bên tha nhân. Tấm ảnh nhận vào tấm bia so chẳng mấy khác ngày đầu thầy bước chân ra xứ Thần kinh. Quyên nói, sau đổi đời ai đâu còn lòng dạ để nở nụ cười trước ống kính. Nụ cười có khi phải trả giá đắt, phỏng tay. Và đã có ai khóc trong lúc chụp bóng chưa? Người mình mang một khuyết điểm, chẳng dám đấm ngực kêu oan, cứ vùi chôn những đớn đau phẫn hận.

Long quay sang, chạm phải khuôn mặt vừa chợt đanh lại. Gió không làm cho tóc ngắn phải bay, rối mắt. Ở thành phố, Quyên khác; ra nghĩa địa thì Quyên đó đã đổi thay, dựng trồng một nhân dáng hư hao đến khó hiểu, trầy trụa trong lạnh lùng.

Quyên ít khi buồn chân tạt vào đây, ra thăm mộ là bởi Quyên có điều muốn thưa trình với ba, lần sau chót. Một người bị chôn dưới ba tấc đất có nghe được lời mình nói không anh? Thôi thì sẵn có anh Long ở đây, Quyên cũng xin trút ra tâm sự, một thứ “sự thật mất lòng”. Quyên sẽ… sẽ đi lấy chồng cho rảnh nợ!

“Chim quyên ăn trái nhãn lồng”. Rồi sao nữa? Chim qua sông rộng có sổ lồng bay xa? Nhang tàn rất nhanh mà bia đá thì bao giờ cũng lạnh. Người ta tắt thở vì bạo bệnh, vì đói rét, vì xe đụng, vì vào đồn bót, vì cả vạn lý do cắc cớ. Cũng có lắm trường hợp người ta nhắm mắt khi “nghe tin em đi lấy chồng”. Có vậy mới sanh ra cụm chữ “giết người không gươm đao”. Nghe người ấy sang ngang, thông thường, đứa bình thường sẽ thốt xin chúc mừng. Lại có hạng người không được bình thường gục đầu ngó xuống mặt đất đang mất đi trọng lực, hổ ngươi chẳng dám ngóc đầu nhìn mây bay chở theo bao ảo ảnh phù vân. Huế vào Sài Gòn, vạn dặm ấy quy ra khoảng cách xa ngái tới mấy ngàn cây số? Nó có miên man dài bằng chỗ đứng giữa Long và Quyên giờ đây? Chéo áo lụa là kia không chắc duỗi thẳng cánh tay ra là nắm được. Trong lá thư hồi âm cho Quyên dạo nọ, Long có viết ra hàng chữ đằm thắm: Chiếc áo ngày nào thấm rút máu úa nhàu tôi vẫn còn giữ, không giặt; bởi gột rửa sạch máu của Quyên đi thì khác gì chúng ta ngại gánh thương đau cho nhau…

Nhân danh một người từng là chủ quán cà phê có đồng vào đồng ra. Nhân danh dân địa phương, thổ địa này xin được mời khách lãng tử tìm đến một quán ăn. Nhớ ngày xưa ba có mời anh Long ghé nhà ăn chung một bữa cơm nhưng sau đó chẳng thấy anh lại. Chung quy Quyên vẫn còn mang nợ anh, chưa có cơ hội đền đáp… Anh Long đu tàu vào à? Chắc vẫn để bụng đói, chưa chêm cơm hàng cháo chợ?

Xe chạy lòng vòng, bởi Quyên muốn tìm ra một quán vắng. Chốn đông thực khách khiến ta an tâm khi hoà lẩn vào, nhưng lắm lúc ta cũng cần nương nhờ vào khoảng trống, khi đó ta chẳng phân tâm khi thốt ra những lời tình tự. Vắng lặng sẽ giúp ta chắt lọc được, gạn đục khơi trong những ý nghĩ trốn kín trong đầu. Anh Long thích ăn món gì? Quyên dùng thức nào thì cứ thế mà nhân đôi, anh tin vào miệng lưỡi của Quyên.

Miệng lưỡi? Nói gì nghe ghê thế? Chuyện là như vầy, trong bóng tối anh ta ngầm giúp “cà phê cô Quyên thọt” sống còn bằng cách làm êm những vấn nạn mà công an khu phố luôn sách nhiễu, gần đây anh ấy mới bước ra ánh sáng với lời cầu hôn: Tuỳ ở Quyên, ngoại hình anh chẳng được như người ta, anh bị hỏng một mắt, chẳng biết cái không lành lặn ấy có làm Quyên khó xử… Anh Long à, Quyên cũng là đứa tật nguyền và Quyên vẫn luôn coi trọng những gì gọi là thành ý. Tuy không đặt nặng sự tính toán nhưng dù gì gia đình anh ấy có cơ sở làm ăn, của dành của để. Nhiều người đã chúc mừng cho vận số của Quyên…

Quyên vói tay trên mặt bàn, năm ngón bấu víu lấy bàn tay thừa thải của Long. Chưa chính thức long lân quy phụng châu về hiệp phố làm dâu nhà người, ngón tay Quyên đã có chiếc nhẫn vàng tròng vào, thế một thề non hẹn biển. Phải nên mừng cho Quyên thôi. Muốn trách cứ tha nhân, trước tiên hãy tự săm soi lấy mặt mày. Giai cấp vô sản muôn đời không có được quyền ăn nói, chúng chỉ giỏi việc đi phá phách. Và ơn trời, Long chẳng rơi vào thứ hạng của bọn vô học kia. Bỉ cực thì ai mà không từng bị chiếu tướng. Tốt đã qua sông, mã quỵ ngã, pháo cụt nòng, xe bị vây và sĩ tượng đã rơi rụng, thành quách trống lạnh. Nhưng trao một lời chúc thật lòng gửi tới Quyên? Xao xác quá, buồn tủi quá cho lần “hạ thủ bất hoàn”.

Anh Long có thương yêu Quyên? Đến giờ này sao Quyên còn hỏi câu đó? Em nhờ anh giúp trình bày một cái thiệp cưới có được không? Nếu anh thuận lòng, em lại cậy nhờ sang việc khác. Tất cả đều nằm trong khả năng anh có… Em sẽ đi mua sắm vật liệu, dụng cụ đủ thứ… Về nhà, đóng cửa phòng lại… em muốn có một bức tranh nude được ký tên anh… Một kỷ niệm… Một món quà cưới đặc biệt anh trao riêng cho em…

Vì mừng vui lây lan, quán cà phê đóng cửa ba hôm theo ngày trọng đại. Chủ quán, người em trai Quyên cho hay: Bên đàng trai muốn làm rình rang ở quê theo ý của ba má chú rể, heo hút qua sông qua phà cách trở các thứ. Long tự xét “không đủ tư cách” đứng về hàng ngũ nhà gái, hơn nữa phải để tâm vào chuyện sống chết: Kiếm việc làm. Gì cũng được, thợ mộc thợ nề. Tóm gọn là thợ đụng. Lang thang quận này sang quận nọ, về quận Ba trời xui đất khiến được một phòng vẽ thâu nhận, lương lậu thấp hèn nhưng chủ cho ăn cơm trưa tại chỗ.

Lóng rày không hiểu sao có lắm người chết, tang gia dẫu có bối rối cực kỳ họ cũng không nỡ quên một bức chân dung kẻ vắn số, vẽ hối để mang về đặt trên bàn thờ. Nói ác đức bất nhơn, lùa miếng cơm trắng này vào bụng là một phần vin nhờ vô những gia cảnh đang đối mặt với buồn đau. Họ trao một tấm ảnh nhỏ biểu phóng lớn. Ảnh đen trắng, phai nhạt nước thuốc cũng như thời gian can dự làm trầy trụa khá nhiều. Ngon ăn mà, nghề của chàng mà, đúng không? Một anh thợ vẽ đã nói với Long như vậy. Đúng gì. Sai hoàn toàn cha nội ơi. Long khum tay: Có gì xin sư phụ chỉ dạy thêm. Hãy coi tui như học trò trường mầm non, ngó xuống cho em nhờ.

Trước đây, trường ốc dạy bạn phải có một thủ pháp riêng, chia mảng sáng tối và cách đánh bóng càng phung phá càng bạo liệt càng tốt. Chớ gò bó, tỉ mỉ tỉa lông tóc từng sợi như kiểu vẽ truyền thần, o ép cứng ngắt. Chúng ta lên án việc đó, tạm đặt tên là “tranh bờ hồ”, năm đồng bảy trự, không giá trị. Phải xem trọng sự sáng tạo, anh đâu phải là cái máy ảnh để sao chép thật hoàn hảo đối tượng, sự vật kia. Phe thắng cuộc vào tới, chính họ đã làm sống lại thứ tranh bờ hồ. Vẽ lãnh tụ phải gia công vào sự tỉa tót, đi chệch ra thì bị đánh phủ đầu ngay: Bôi bác lãnh tụ. Sao trông đói cơm như thời ở hang Pắc Bó thế nhỉ? Gôm tẩy đi nhé, vẽ lại đi nhớ, vẽ ngày không đủ tranh thủ vẽ đêm nhé.

Vì miếng cơm manh áo, vì đời sống khiến Long phải mang thân lưu lạc tứ cố vô thân ăn nhờ ở đậu, nên Long mụ mị thần hồn chẳng quan ngại tới thời gian đang trôi, mặc sức. Long là cái cối đá xay gạo, nặng nề từng vòng tròn đồng tâm trong khi tháng ngày là chiếc xe khách đã hỏng thắng luôn hung hãn lao thân trên cao tốc, vùn vụt. Vẽ chân dung dùng để thờ phụng thường không sướng vì đa số Long phải nhìn xuống những nhân ảnh già cỗi, chẳng mấy khi được đón nhận tấm ảnh mà chủ nhân là một người con gái đẹp, tươi trẻ. Nếu có ắt hẳn đã lọt vào tay vị sư phụ ngồi bàn bên. Hắn ta cũng xem đó là nguồn cơn để gửi những mơ mộng quàng xiên vào đường nét khi vờn bóng. Đêm hôm bắt gặp một hồn ma trinh nữ e dễ chịu hơn khi đối đầu với con ma nhăn nheo gầy còm run rẩy già chát thều thào?

Vào một buổi trưa, vị sư phụ, ông đàn anh, người đồng chí chính quy chủ lực nói với du kích Long: Việc tao đã chu toàn, tao có thưa với ổng rồi, tao đi có chút công chuyện mất chừng hai ba giờ, có gì mày liệu coi ngó giùm nghen. Sao hồi nào tới giờ tao hổng thấy mày có việc gì bên ngoài để đi giải quyết hết vậy? Đạo đức gương mẫu yêu nghề cũng vừa phải thôi cha nội! Nói xong liền thò tay xuống bàn nhón cho được một điếu thuốc của Long, để đầu trần miệng phun khói đội nắng bước ra đường lúc nào cũng chộn rộn kẻ qua người lại.

Từ cõi ta bà chẳng bình an kia có người mặc trang phục màu đen tìm tới phòng vẽ, mang bước chân thấp cao đi vô. Bàn tay lục soạn vào túi xách để cầm lên tấm ảnh: Tôi cần phóng lớn nó ra kích cỡ 15×30 phân nội trong hai ngày thì tốn mất bao nhiêu tiền? Long cất đầu lên, tìm về giọng nói quen thuộc vừa âm vang trong thính giác. Cách cái tủ gỗ phân chia giữa khách với thợ vẽ tự dưng dựng trồng người thiếu phụ mang gương mặt mệt mỏi đứng đó. Ăn trái nhãn lồng có vừa miệng không mà chim quyên xem chừng mỏi cánh. Long đứng lên, tì bụng vào thành gỗ chắn lối, nhìn ra ngay một giọt nước mắt vừa lăn đổ xuống từ dung mạo người vận đồ đen. Sao kỳ cục vậy nè trời? Anh Long. Phải Long không?

Long ngó xuống bức ảnh, tránh nhìn tia săm soi của người vừa mang tới công ăn việc làm cho Long. Bức ảnh đóng khung khuôn mặt một người đàn ông hơi xanh xao, đặc biệt ông ấy chỉ có một mắt… Đã mất, chết cách đây ba bữa rồi anh Long à. Thút thít. Sụt sùi. Ấm ức. Bờ vai run. Một chéo áo kéo lên để chặm nước mắt, màu phấn hoen. Nếu có mặt “sư phụ” e Long dễ thở hơn. Long chẳng thích vẽ những thứ liên hệ tới đổ vỡ. Hai mắt dễ vẽ hơn là chỉ một con. Có đúng vậy không? Trông nó bất toàn chẳng cân xứng. Với một mắt, liệu anh ta có nhìn thấy hết nét đẹp mà Quyên sở hữu không? Và người đẹp nọ đã phát hiện ra điểm nào đáng yêu trên gương mặt mang dấu vết dị hình ấy.

Bốn hôm nữa sẽ động quan, mang đi chôn. Chắc anh cũng chả cần phải có mặt chia buồn? Ngay hôm đám cưới anh cũng đâu màng, tới chung vui. Một thiếu phụ, một goá bụa, thời gian họ chịu tang chồng kéo dài tới bao lâu, anh biết không? Sao đời sống cứ bắt Quyên phải chịu qua nhiều thử thách vậy? Ước ao là mai này được ở gần bên anh, thứ mộng tưởng đó có dễ thành tựu? Sao anh Long mãi câm lặng? Ngay từ đầu, ngay hôm Quyên bị thương tích, Quyên vẫn… Long chồm người sang vật cản, ôm lấy Quyên rồi khoá môi Quyên lại. Môi Quyên mềm, ấm. Thơm, ngọt, tuyệt chẳng ám mùi khói nhang. Tiệm vẽ chân dung kẻ xấu số chẳng có ai. Người có chồng mới chết không phản ứng, mềm thân đón nhận một trao gửi tưởng chẳng bao giờ còn cơ hội. Thì đã sao? Đừng lắm chuyện. Sợ là sợ người sống chứ ai lại đi sợ ma. Đền bồi cho kẻ sống sót chứ biết trao gì cho kẻ đã tắt thở?

Giọt nước mắt đã bốc hơi. Sao anh đối xử với Quyên như thế? Bởi phút giây này anh chẳng biết nói gì cả. Anh hôn Quyên vì không muốn nghe những phân trần. Anh chẳng thể vin vào bất cứ lý do nào để trách móc Quyên cả. Tin là Quyên xử sự đúng. Chừng nào mồ yên mả đẹp thì hãy tìm tới anh, đừng lý gì tới lề thói ép uổng chịu tang các thứ. Anh nói điều không phải thì xin em bỏ quá, anh muốn làm người chồng thứ hai của Quyên. Chết cũng sướng. Lần này thì Quyên chủ động hôn anh.

Từ thời điểm Quyên bị lạc đạn trong một thành phố đang hấp hối, cho đến nay hầu như chúng sinh đều mang phận là loài thú tật nguyền. Long nhìn tấm ảnh kẻ khiếm diện: Anh nên tha thứ cho chúng tôi khi tụi nó đang tìm nhặt lại chút hạnh phúc rớt rơi, người mà tôi chưa tiện biết tên, tôi hứa sẽ vẽ mặt mày anh ngó sao cho có hồn, có chút nghệ thuật. Anh cứ an tâm về miền đất lạnh.

Hồ Đình Nghiêm

Thư (tình nhân) không người lái

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 18/02/2019 

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Khi bị đuổi ra khỏi nhà, hãy nghĩ tới một con chó. Bạn thấy hình ảnh người ta dồn chó tới chân tường chưa? Nói vậy cũng chẳng rõ ràng, cũng tuỳ nơi chốn, cầy quanh đây dường như không chống cự, sớm rơi vào tay khuyển tặc.

Co thân ngủ vật vạ bên căn nhà đã mất dấu (yêu), giữa tan tành đổ vỡ hãy độ lượng trao cho đứa bần cùng hai cục gạch, hắn biết cách làm ấm giấc ngủ đêm đông. Cách động não đó được đàn em một dạ ngợi ca, lưu danh thiên cổ.

Nhà ông bà cha mẹ bao năm cong lưng thu vén gầy dựng, đến đời bạn sống thở trong bó tay, nó trơ lại một đống gạch vụn giao duyên với đồng nát, vài thanh gỗ, ít đồ nhựa… Một loại rác thải chỉ mang chút giá trị cho đám lang thang chuyên nghề bắt phế liệu phải biến thành cơm. Tuy vô thần, bạn cũng nên tin vào số kiếp. Màn trời chiếu đất, nào có dành riêng hoàn cảnh bạn mang? Giày dép còn có số, chẳng biết người dân Thủ Thiêm chân mang dép số mấy?

Có thấy lạ mắt chiều tà người bán hoa tự chém cành ném chậu, hoa rụng tơi bời vì không được giá, thua lỗ? Phù phiếm một vẻ đẹp sớm nở tối tàn trong ba ngày Tết chẳng có mâm cỗ dâng lên bàn thờ. Hoa nở chật nhà thì ích gì cho buổi đó? Hoa thơm nồng khiến tủi hổ đứa gia công ươm trồng. Thân tôi vầy nào xứng hưởng được sự thơm thảo em đền bù gửi trao trong đoạn trường vô thanh.

Thoáng nghe giọng cười uất nghẹn người vừa dò trúng số. Số ăn mày vì mua nhằm xấp vé giả, quảng cáo lô độc đắc cực khủng, có thể vui xuân này hơn xa lắc những mười xuân xưa. Dãy số đẹp mơ màng biến thành đập chắn, xô ngược đôi hàng lệ đổ đầy xuống tim. Mắt ráo hoảnh bị con ngươi tự dưng mọc lên một đốm lửa thù hằn, nhìn đểu ông đi qua bà đi lại. Một đám ma sao ngươi vô phép hú lên tiếng cười?

Trong tiệc cưới vẫn có đứa ngồi bưng mặt khóc, ai qua sông để giọt máu vô thừa nhận đứng bên bờ sóng đánh liên hồi tiếng Mẹ ơi! Mưa Đài Loan có làm mẹ ướt? Chiếc dù osin nâng ước mơ mẹ bay xa khỏi đất nước đáng sống nhất hành tinh này, hành tinh nhốt toàn một lũ mồ côi.

Và lua ba hột cơm xuống bụng, con cá kho mặn mang anh vào nhà thương súc ruột. Quặn lòng bắt xe ôm về với bao ngôn ngữ của văn hoá khinh bỉ đuổi sau lưng anh. Đặt điều làm chảnh, giả bộ không thấy bề trên ùn ùn kéo nhau xuống vọc nước bể đó sao? Bụng lớn bồng bềnh đùa nghịch cùng sóng, nước sạch minh bạch nào có hề gì đâu, nước ta thì nơi nào mà chả ngập sắc đỏ. Đừng đổ thừa lỗi do con cá lạ mà mang tội với thuỷ thần, ông bà ta từng dạy rừng vàng biển bạc, có thuộc bài chăng?

Nếu không muốn tự té thì nghiêm chỉnh chấp hành viết đúng lời tớ bảo. Sau lưng đầy những chấn song ám tối chia từng buồng lố nhố nằm ngồi chẳng trông rõ mặt người hay ma, câm lặng loài mang nhân thân xấu. Giống tờ đơn tự khai viết tay, mọi chuyện ở đây luôn phát xuất khởi đầu bằng 6 chữ vàng Độc lập Tự do Hạnh phúc. Không ai tường 4 chữ đầu là cái chi chi, cứ nhàm tai 2 chữ sau mãi chúc lấy được trong các tiệc cưới. Eo ôi, những trăm năm hạnh phúc cơ. Giời ạ! Nhà ngoại cảm phán em thọ cao tay chỉ tới 50 thôi, là đã phước đức ông bà để lại, đằng ấy liệu mà hoang sớm kẻo phí tuổi xuân, còn thằng chồng thì còn mình, nhớ?

Để tôi dắt vào chùa thắp cây nhang cho tâm tịnh. Tượng Phật độ rày trông xấu hổ, nhường nghiêm trang hoành tráng cho ông Hồ. Nơi xa lánh bụi trần sao chúng sinh nào nỡ lòng khuân ông chằng lửa lạc loài vào, u mê ám chướng. Lê nin phải ở nước Nga, cớ sao thằng chả mò sang việt nàm?

Khi em chấm dứt thư, người ta đăng báo ba ngày linh thiêng của con heo đã xúi mấy chục ngàn nhân mạng nhắm mắt đi gặp ông bà cha mẹ anh chị em định cư ở chốn bồng lai tiên cảnh, họ lỡ vui xuân mà quên béng nhiệm vụ làm người thì phải sống ngó sao cho được tử tế. Anh còn sống tử tế hay ngấc ngư bên kia trời rộng choáng ngộp Độc Lập Tự Do.

Một người em không tên tuổi. Ghét an ninh mạng. Chẳng selfie dung mạo và vô danh như bấy lâu. Hôm nay là mồng mấy? Cứ tạm gọi là đầu năm, anh nhở?

Hồ Đình Nghiêm

Chóe – Nhà Hí Họa Bút Sắt Số Một Việt Nam (4.2)

Uyên Thao

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Phần 4: Người làm vườn độc thoại – cuộc đời của Chóe (Kỳ 3)

Một buổi trưa, tôi vừa ngả lưng xuống chiếc ghế nhựa giữa tòa soạn vắng lặng bỗng Chóe đẩy cửa bước vào. Anh tới đứng sững trước ghế, im lạng nhìn tôi bằng ánh mắt trĩu nặng. Tôi toan lên tiếng nhưng ngưng lại khi thấy Chóe đưa tay nhắc cặp kính, dụi mắt. Rồi Chóe nói một cách khó khăn:

– Nhìn anh làm việc, em cứ muốn khóc!

Tôi hoàn toàn bất ngờ trước sự bày tỏ khác thường của Chóe, cố cười hỏi lại:

– Chóe thấy tôi làm việc thế nào?

Chóe nói nhanh “Anh cô độc quá!” rồi bật nấc.

Tôi choàng ngồi dậy, nhưng Chóe lật đật quay đi, vừa đưa tay chùi má vừa mở cửa bước ra. Tôi bước theo tới cửa thì Chóe đã xuống hết cầu thang. Ðứng nhìn theo anh hối hả bước ra phố, tôi tự nhủ sẽ thu xếp gặp riêng Chóe vào hôm sau. Nhưng tôi không làm nổi việc nhỏ nhoi này. Mức độ căng thẳng với hàng loạt sự việc dồn dập từ cuối tháng 9-1974 luôn đặt tôi vào tình thế không còn một phút rảnh rang. Rồi tờ báo bị thu hồi giấy phép và những ngày lẩn tránh công an mật vụ truy tróc kéo dài cho tới cuối tháng 4-1975.

Một ngày đầu tháng 5-1975, giữa cơn rũ liệt vì tuyệt vọng của thành phố Sài Gòn, Chóe đột ngột tới nhà tôi. Anh cho biết cùng với Hải Triều bị bắt giam hơn ba tháng tại Nha An Ninh Quân Ðội và tự ra khỏi nhà giam này vào buổi trưa 30-4-1975. Chóe kể lại sự chứng kiến cảnh người lính Biệt Ðộng Quân đứng giữa cầu Thị Nghè cầm M.16 bắn chiếc xe tăng đang tiến tới để bị bắn gục xuống. Anh chấm dứt câu chuyện bằng một hơi thở dài rồi ngơ ngẩn nhìn ra vườn. Chóe như già sọm hẳn với những nét khổ não in hằn trên mặt. Trong khoảnh khắc đó, tôi nhớ lại tiếng nấc không kìm hãm nổi của Chóe vào buổi trưa anh gặp tôi tại tòa soạn Sóng Thần và chợt thấy hiển hiện từ vẻ ngoài cùng mọi cung cách hiền hòa bình lặng của Chóe, một con người bị vây hãm triền miên giữa cảm giác xót xa dấy lên từ nỗi đau chồng chất trong tâm khảm – nỗi đau không do cảnh ngộ bản thân mà bắt nguồn từ cuộc sống của đồng loại, cụ thể là từ những dằn vặt về thân phận sâu kiến của con người trước thực tế đang phơi trải. Cung cách hiền hòa bình lặng của Chóe có thể coi như một sắp đặt tự nhiên để nỗi dằn vặt không biến thành ngòi nổ phá tung thân xác anh.

Nhưng Chóe sẽ không bao giờ trút bỏ nổi tâm tư trĩu nặng về những nỗi oan khiên mà đồng loại phải nhận chịu.

Ý nghĩ này trở lại với tôi vào năm 1991.

Thời gian này tôi đã ra khỏi tù và được bạn bè giúp cho có một sạp báo bên cầu Bông, sát trường nữ trung học Lê Văn Duyệt cũ. Cũng một buổi trưa, Chóe bất ngờ xuất hiện. Anh không đạp xe đạp như tôi mà đi xe 125 phân khối. Anh cho biết nhờ vẽ tranh chợ nên có tiền mua xe và anh chọn chiếc xe này để tránh bị cướp bóc chặn đón có thể mất mạng vào những lúc di chuyển ban đêm.

Anh kể tiếp ngoài việc vẽ tranh chợ, anh vẫn vẽ hí họa nhưng vẽ màu, vẽ cỡ lớn, vẽ… rồi bỏ! Bức họa Chóe vừa vẽ xong lúc đó là vẽ một chiếc thang. Anh đưa hai bàn tay ra phía trước phác cho tôi thấy khổ tranh lớn gần bằng bức vách trong đó chỉ có một chiếc thang với phần chân thang là mấy gióng cây buộc chắp vá. Ðầu thang gác lên những áng mây mỏng manh cao vút và chân thang chắp vá đặt trên mấy đám khói vật vờ. Anh kết luận:

– Tôi cứ vẽ theo ý nghĩ bất chợt rồi xếp vào xó bếp.

Trong lúc Chóe kể, tôi nghĩ tới những con người leo trên chiếc thang dẫn lên thiên đường và cảm giác chua xót vây hãm Chóe suốt thời gian vẽ. Tôi nhìn Chóe, thấy anh không thể ngưng vẽ, không bao giờ thoát khỏi nỗi dằn vặt về những oan khiên cứ thản nhiên trút xuống. Ðó chính là cuộc sống của anh. Ðiều may mắn mà Chóe được ban tặng là tài năng và bản tính sẵn sàng cam chịu nên mọi nghịch cảnh chỉ dẫn đến kết quả là những bức tranh với một nụ cười.

Chỉ một lần tôi nghe Chóe nhắc đến nỗi đau kéo dài trong câm nín của riêng anh. Ðó là buổi chúng tôi ngồi với nhau đầu năm 2003 sau khi Chóe tới Mỹ khoảng ba tuần.

Chóe cùng vợ tới Virginia ngày 19 tháng 12 năm 2002 do Kim Việt và Nguyễn Văn Khanh bảo lãnh qua Mỹ chữa bệnh và đang ngụ tạm tại nhà Ðặng Ðình Khiết ở Falls Church. Anh bị bệnh tiểu đường, năm 1997 bị tai biến mạch máu não liệt bại một thời gian, sau đó qua Pháp chữa hai lần vào năm 1998, 2001 nhưng không thuyên giảm, mắt phải bị mù, mắt trái chỉ còn thấy lờ mờ và đi đứng lẩy bẩy. Ðã hai năm, anh không còn cầm được cây cọ nên chuyển qua viết bằng cách đọc vào máy ghi âm cho vợ con chép lại.

Bữa đó, tôi vừa qua cuộc giải phẫu thanh quản không được phép nói nhiều nên Chóe nhắc vợ lấy một truyện ngắn của anh đọc cho tôi nghe.

Truyện viết về cảnh sống trong trại tù cải tạo với những ý nghĩ vẩn vơ, những ước mong mơ hồ, những niềm vui kỳ quặc đẩy lui tôi rất nhanh về quãng thời gian đã qua. Những ngày bị biệt giam tại X.15 gần như tôi không thể rời khỏi mấy chục con kiến luôn chạy loăng quăng tứ góc này qua góc khác và ao ước hoài có một chiếc ghế gỗ để ngồi lên đó, buông thõng hai chân thay vì kéo dài ngày này qua ngày khác cảnh bó gối ngồi bệt trên sàn xi măng. Tôi luôn tưởng tượng khi được ngồi trên chiếc ghế như thế hai khớp đầu gối và các bắp chân buông thõng thoải mái sẽ đem lại cho tôi cảm giác nhẹ nhàng như cánh chim bay bổng trên mây. Chiếc ghế gỗ trở thành ước mơ đeo bám tôi nhiều ngày tháng và hiện hình trở lại khi tôi nghe Chóe diễn tả niềm vui được thoải mái xưng hô mày, tao với… mấy con bò! Chóe có niềm vui tột bậc này khi chuyển về đội Chăn Nuôi lãnh việc chăn bò.

Những dòng chữ đơn sơ nói về niềm vui tột bậc của Chóe có thể dễ dàng trôi qua mắt người đọc, nhưng tôi nghĩ chắc chắn anh đã viết bằng trọn vẹn nỗi chua xót về cảnh ngộ bản thân cùng bè bạn xung quanh và trong lúc viết có thể khuôn mặt Chóe cũng đẫm nước mắt hệt như lúc này khi anh cùng tôi nghe đọc lại đoạn truyện. Những dòng nước mắt lặng lẽ tuôn và những ngón tay Chóe run run mân mê bất định trên gò má tạo cho tôi cảm giác anh đang bị cuốn chìm theo môt ý nghĩ nào đó đến độ không còn biết sự có mặt của tôi cũng như việc chính anh đang khóc. Khi vợ anh đọc dứt, Chóe chậm chạp gỡ cặp kính, đưa bàn tay chùi má. Rồi vẫn với cách nói nhỏ nhẹ chậm rãi, anh kể có lúc ở trại cải tạo, anh phải giở trò trộm cắp vài củ khoai, vài trái bắp để được coi khinh là thứ bỏ đi. Anh phải làm thế vì quá sợ mối ám ảnh bị những cặp mắt rình mò thường xuyên đeo bám.

Năm 1992, khi có cơ hội viết vẽ cho một số tờ báo tại Sài Gòn, anh lại tái diễn tấn tuồng trộm cắp thuở ở trại tù dưới hình thức khác. Chóe cho biết anh bắt đầu vẽ trở lại với bút hiệu Trần Ai, nhưng mọi người vẫn gọi anh là Chóe. Cái tên Chóe luôn được trưng kèm với ba tháng tù hồi đầu năm 1975 tại Nha An Ninh Quân Ðội. Riêng Chóe không thể quên cái tên đó cũng gắn liền với những mối đe dọa phủ quanh cuộc sống của mọi người. Nỗi kinh hoàng ám ảnh Chóe lúc này là cái phần gắn liền kia sẽ trở thành nguồn gốc thảm họa cho cảnh đời vừa trở lại bình thường của anh. Anh sẽ không còn đưọc quây quần giữa những người thân, không còn được sống những ngày êm ả, nhất là không còn được vẽ vời trên giấy. Vì thế, anh phải luôn bôi xóa hai chữ Sóng Thần, bôi xóa hơn mười năm tù trong các trại cải tạo và bôi xóa những cảm nghĩ thực của mình bằng mọi cách. Anh không khó khăn trong việc bôi xóa này vì hết thẩy những người đang muốn có tranh của anh cũng đều muốn bôi xóa. Anh không đơn độc trong màn kịch trộm cắp như thuở ở trong tù nhưng không trốn khỏi nỗi tủi nhục ngấm ngầm vì luôn đối diện với sự dối trá hèn mạt của chính mình.

Tôi đang bị cấm nói và cũng không biết nói gì nên im lặng. Chóe thở dài rồi nhắc vợ kiếm một bài viết của anh đã đăng báo ở Sài Gòn năm 2000. Anh trao bài viết cho tôi. Bài viết có tựa đề Giống Người Khác vỏn vẹn ba cột báo ngắn ghi lại lời tự kể của Chóe về những chuyện anh đã gặp:

‘Tôi vừa chạy xe qua khỏi bùng binh ngã sáu, quẹo qua đường NTMK thí có một thanh niên đuổi theo và ra hiệu cho tôi dừng xe lại. Trông anh ta dáng vẻ đàng hoàng nên tôi cũng tấp xe vào lề đường xem có việc gì. Anh ta cười cười: “Xin lỗi chú, cháu đuổi theo chú từ đường NVC, chú chạy nhanh quá! Không giấu gì chú, cháu là một người rất hâm mộ chú, cháu chạy theo để xin chú một chữ ký”. Gì chứ chữ ký là tôi sẵn sàng và rất hân hoan nữa là đàng khác. Không đợi tôi phải tự lục túi mình tìm bút, chàng thanh niên nhanh nhẩu đưa ngay cây bút và quyển sổ cho tôi ký tên. Tôi thì phải chuẩn bị một chút, thay cái kính cận đang đeo bằng cái kính lão để thấy đường ký ấy mà. Tranh thủ khoảng thời gian ấy, chàng thanh niên hỏi ngay: “Chú là nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu?” Tôi trả lời không phải (may mà vẫn chưa kịp ký tên) rồi thay cái kính cận lại chỗ của kính lão, không quên gật đầu chào chàng thanh niên kia, dọt xe đi.

Tôi không nhớ đây là lần thứ mấy người ta lầm tưởng tôi với Phạm Trọng Cầu. Có lần đi trong đoàn về thăm phố cổ Hội An gồm các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo, cách doanh nghiệp, nhà mặt trận và cả nhà dẫn chương trình Phương Thảo. Ở Hội An có ít người đến rạp Hòa Bình TP.HCM xem Phương Thảo làm MC, nhưng ở đây khán giả biết Phương Thảo dẫn chương trình qua băng video Mưa Bụi. Khán giả reo lên “Phương Thảo, Phương Thảo.” “Ô kia, có cả Phạm Trọng Cầu nữa”. Tôi đi gần Phương Thảo, “Ðó đó, cái ông râu xồm là Phạm Trọng Cầu đó. Mày chạy về kêu chị Bốn nói tối nay trình diễn văn nghệ có cả Phương Thảo và Phạm Trọng Cầu nữa. Chắc là hay lắm đó”. Ðêm ở Hội An tôi cũng lên sân khấu để vẽ tặng khán giả. Có lẽ một số khán giả đêm ấy sẽ nghĩ rằng Phạm Trọng Cầu ngoài tài viết ca khúc, tài đàn hát còn có nghề vẽ chân dung tại chỗ nữa.

Mới đây thôi, khi phim ‘Ðồng tiền xương máu‘ chiếu trên tivi, tôi đến bệnh viện Y Học Dân Tộc trị bệnh, lúc chờ đợi đến lượt mình lên bàn chiếu tia laser, có một bà bệnh nhân đến hỏi tôi “đóng xong phim là vào bệnh viện hả?” Tôi ngớ người ra chưa kịp nói năng gì, bà ta lại tiếp “râu quai nón đẹp thế kia mà đóng phim lại cạo phần quai nón đi uổng thế, nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú mà cũng phải ngồi chờ đến lượt mình sao, anh Lâm Tới?” À! Té ra bà tưởng tôi là diễn viên Lâm Tới. Giữa nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu và diễn viên Lâm Tới làm sao giống nhau mà có người bảo tôi giống hai nhân vật này? Còn một nhân vật nữa mà rất nhiều người bảo tôi giống, họ bảo là tôi giống từ ba chục năm trước cơ (nghĩa là từ lúc tôi chưa để râu) đó là nhà văn Hemingway – ông ta là người Mỹ da trắng chính cống còn tôi là người Việt Nam da vàng 100% mà bảo giống thì giống làm sao cơ chứ?

Nhưng có một người tôi rất muốn giống đó là chính tôi, vậy mà có người còn không chịu tin. Có lần ở tòa soạn, phòng thường trực điện thoại cho tôi bảo là có bà bạn đến tìm. Tôi ra phòng thường trực thấy chẳng ai quen cả và cũng chẳng ai đến nhận người quen với tôi. Người thường trực ngạc nhiên nhìn người phụ nữ xưng là bạn của tôi rồi giới thiệu: “Ðây là họa sĩ Chóe”. Người phụ nữ ấy nhìn tôi rồi lắc đầu: “Chóe hả? Không phải Chóe đâu! Ông kia kìa! Giống… Chóe hơn! Ông này không có vẻ gì là… Chóe cả!”

Bài viết chỉ là một giai thoại vui. Nhưng trọn vẹn nỗi xót xa của Chóe hiện lên rất rõ trước mắt tôi qua những dòng chữ cuối cùng. Tôi hiểu rõ cảm giác tủi nhục ngấm ngầm của anh qua dòng chữ ghi ước muốn chỉ được giống chính mình và lời nói của một người nhận là bạn quen đã nói thẳng với Chóe: “Chóe hả? Không phải Chóe đâu!… Ông này không có vẻ gì là… Chóe cả!”

Câu nói nhẹ nhàng không diễn tả sự ngạc nhiên mà chính là ngọn đòn miệt thị thảm hại đập thẳng vào giữa mặt người nghe. Nỗi đau càng thấm thía hơn do câu nói cứ lập lại hoài vì chỉ là tiếng nói của chính mình.

Tôi nhớ tới lời than của nhà văn tiền bối Ngô Tất Tố do Tô Hoài ghi lại trong hồi ký: Làm người khó lắm!

Tôi nhớ tới chọn lựa của một nhà văn trẻ miền Bắc cũng qua hồi ký của Tô Hoài. Nhà văn trẻ này đã chọn cách tự nuốt qua họng một nắm lưỡi dao cạo để cắt đứt ruột gan mình. Sự việc có thể khó hiểu với những người chưa từng trải cảnh sống xã hội Việt Nam nhưng là thực tế từng ngày từng giờ vây phủ những người có mặt và từng giúp Nhật Tiến rút ra một kinh nghiệm: “Cách duy nhất để tồn tại là phải dối trá hèn hạ, vì chẳng còn nói được cái gì khác hơn khi phải đối thoại với loại người không còn tâm địa con người.”

Ít nhất hai lần, Chóe đã cố tìm cách trốn khỏi cảnh sống đó. Sau khi ra khỏi trại tù cải tạo năm 1985, anh vượt biên nhưng kết quả là phải trở lại nhà tù một lần nữa.

Với hơn mười năm tù, Chóe nạp đơn xin ra đi theo chương trình HO. Ðơn của anh bị từ chối.

Nhân viên ODP bác bỏ mọi lời giải thích, bởi theo nguyên tắc, mọi việc phải được chứng minh bằng giấy tờ. Những tờ Giấy Ra Trại phát cho người tù khi được thả đều kèm theo lời nhắc là bản duy nhất, không thể sửa đổi hoặc xin lại bản khác. Do đó, đã có trường hợp tù nhân Phạm Hiệp tại trại Z.30A bị bắt vì tội trốn học tập vẫn phải nhận tờ giấy ra trại với hàng chữ ghi tội trộm cắp. Phạm Hiệp nêu vấn đề với cán bộ an ninh trại nhưng chỉ nhận được một câu nói chắc nịch: “Anh muốn đổi giấy thì cứ trở về đội học tập tiếp tục, chờ chỉ thị của Bộ.” Tất nhiên Phạm Hiệp không dám mong đổi giấy nữa và đã ra trại với tội danh trộm cắp. Giấy Ra Trại của Chóe không ghi lầm tội trạng nhưng không ghi ngày bị bắt vào tù. Nhân viên ODP nghe Chóe khai đã ở tù hơn mười năm, nhưng không thể dựa vào đâu để xác định tính xác thực của lời khai đó.

Trong cảnh đường cùng, Chóe may mắn có tài vẽ và gặp thời điểm cần chứng cớ cho chủ trương ‘cởi trói cho văn nghệ‘, một chủ trương được ca tụng bằng nhiều danh từ tốt đẹp, đồng thời cũng gợi nhắc không ít nỗi tủi nhục. Chóe dù là gì vẫn không thể vượt khỏi thân phận mà hết thẩy những người xung quanh phải gánh chịu vì chỉ riêng những người mà Nhật Tiến diễn tả là loại người không còn tâm địa con người mới thực sự có quyền quyết định cuộc sống của anh.

Từ 1992, Chóe không chỉ đối thoại với loại người đó mà còn sống dưới sự che chở của loại người đó nên ước mơ được giống chính mình quả là ước mơ cực lớn và nỗi đau phải gian dối khó thể tránh với bất kỳ ai còn biết hổ thẹn.

Nhưng Chóe may mắn vẫn còn những thời khắc sống đúng cuộc sống của mình. Sự kiện này hiển hiện qua nhiều bức họa và qua nhiều bài viết của anh. Những bức chân dung tự họa của Chóe cho thấy anh vẫn sống đúng với mình khi vẽ. Anh đã ghi lại hình ảnh mình bằng cây cọ thọc vào mắt với dòng mực tuôn ra gợi nhắc máu và nước mắt, bằng hình ảnh miệng bị dán kín dưới hai mảnh băng keo bắt chéo hoặc bằng cảnh cầm búa chặt một thân cây lớn với hướng đổ sẽ đè lên chính mình.

Mỗi bức họa này khi in trên báo luôn có một dòng chú thích như ‘khi người có râu quai nón hôn‘ hoặc ‘biếm họa và cây tiêu cực‘. Mọi chú thích đều ghi rõ là của tòa soạn tức do người khác viết và chỉ có sau khi tranh đã hoàn tất. Chóe vẫn vẽ tranh không lời nên chắc chắn vẫn sống trọn vẹn với mình khi vẽ. Tuy nhiên, chấp nhận những chú thích như thế và còn phải bày tỏ sự chấp nhận trong cung cách vui vẻ là những vết thương nhức nhối.

Thêm nữa, vào nhiều dịp được giới thiệu với mọi người, Chóe luôn luôn gặp những dòng tiểu sử của mình như một sản phẩm đúc khuôn, những dòng tiểu sử được lập lại từng chữ trên mọi tờ báo theo cung cách uốn nắn mọi sự kiện trong cuộc sống của anh:

“Họa sĩ Chóe sinh tại An Giang, cầm bút vẽ từ năm 1965 và nhanh chóng được xem là cây biếm họa báo chí bậc nhất Việt Nam. Cây cọ của ông không nể nang một ai, từ Tổng Thống Mỹ Nixon, ngoại trưởng Kissinger cho đến Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Văn Hương, Big Minh… trong những thời điểm nhạy cảm nhất. Trên nhiều báo đối lập như Tin Sáng, Ðiện Tín, họa sĩ Chóe đã vẽ nhiều chân dung nhân vật xâm lược, bán nước với nét bút biếm họa sắc sảo, tiềm ẩn ý tưởng phê phán hoặc ngấm ngầm phơi trần mặt trái của đương sự. Thế là họa sĩ Chóe đã bị chế độ cũ bắt gian. Sau ngày giải phóng, tranh của ông tiếp tục xuất hiện trên nhiều tờ báo và tạo được phong cách riêng trong việc phê phán những thói hư tật xấu, những tiêu cực hủ lậu ngõ hầu góp phần vào công cuộc lành mạnh hóa xã hội…”

Chóe tự hiểu hơn ai hết rằng anh không nổi tiếng từ 1965, không tương quan với những tờ báo Tin Sáng, Ðiện Tín trước 1975, không có thái độ chính trị như được gán ghép. Anh cũng không quên sau 1975 chỉ được trở lại với cây cọ sau mười mấy năm sống trong các trại tù và cầm cọ trở lại với nỗi khiếp hãi sẽ đá phản vào lưới nhà… Nhưng anh không thể chọn lựa ngoài sự im lặng. Thậm chí im lặng mang tính đồng lõa trước cả những bài báo ghi các lời lẽ được gắn cho anh theo hướng bôi xóa một thực tế. Khi đề cập tới một truyện ngắn của Chóe kể lại cảnh tù của mình sau 1975 người viết diễn tả như sau:

“Tôi hỏi Chóe chuyện Sợi Tóc. Chóe ngừng bút vẽ cất cái giọng rề rề kể: Trước năm 75, do chống chiến tranh, tôi bị chính quyền ngụy bắt bỏ tù. Trong tù rặt đàn ông. Một hôm tôi nhặt được sợi tóc dài đàn bà. Cả lũ chúng tôi giành nhau nâng trên tay sợi tóc đàn bà ấy rồi cứ thế tự tưởng tượng, tự mơ tới những người đàn bà của đời mình…”

Mọi độc giả của truyện Sợi Tóc chỉ thấy hiển hiện cảnh sống trong trại tù cải tạo sau 1975 tại một vùng rừng núi, nhưng Lưu Trọng Văn, một cây bút của chế độ, con trai nhà thơ một thời nổi tiếng Lưu Trọng Lư đã viết như vậy.

Chỉ một lần Chóe bày tỏ ý kiến về những gán ghép do sự việc nằm trong giới hạn có thể được. Chóe ghi lại trong một tạp bút như sau:

“Buổi sáng thứ hai đến tòa soạn báo TTCN, một bạn đồng nghiệp cho biết hôm thứ bảy tuần rồi trong một bản tin về ‘Triển lãm của thầy và trò trường Ðại học Mỹ thuật’của HTV có nói đến tôi là một ví dụ tên tuổi xuất thân từ trường Mỹ thuật… Câu chuyện nhầm lẫn trên HTV làm cho tôi băn khoăn suốt buổi sáng không vẽ vời được gì cả. Tôi rất sợ sự hiểu lầm là tôi mạo nhận mình xuất thân từ trường Ðại học Mỹ thuật. Tôi vốn không đủ tiêu chuẩn để thi vào trường Mỹ thuật dù là tiểu học chứ đừng nói đến cao đẳng hay đại học…”

Việc được đài truyền hình HTV đề cao là xuất thân từ trường đại học khiến Chóe phải băn khoăn do vẫn nhớ mình chưa qua bậc tiểu học thì việc anh không ngừng ước muốn được giống mình là điều dễ hiểu khi chính anh luôn phải che đậy bản thân bằng những lời gian dối. Sợ hãi và khinh ghét gian dối nhưng hàng ngày hàng giờ lại phải dựa vào gian dối chắc chắn không giúp tạo nổi một tâm trạng thoải mái.

Vì thế, tôi không ngạc nhiên khi Chóe nhắc lại nhiều lần ý nghĩ chữa bệnh xong, anh sẽ không trở về Việt Nam nữa dù phải sống bất hợp pháp tại Mỹ và đề nghị tôi nên tái xuất bản tờ Sóng Thần, thậm chí chỉ xuất bản mỗi tháng một số thôi. Ao ước của Chóe là được nhìn thấy tên tờ báo hiện tại trên giấy và có Chóe giữa những bạn bè thuở nào.

Diễn biến Hội nghị Paris 1973 về vấn đề Việt Nam (Tiếp theo đây là loạt hình vẽ bởi Họa sĩ Choé trong quyển Tử Tội)

Dâu bể trùng phùng

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Hình minh họa

Tập 2

Phần 10
Mũ nồi xanh

Tôi gói tán đường của tôi vào tờ giấy, rồi đi gặp Long công tử. Đây là tán đường của riêng tôi, tán đường của Trung úy Lợi, hắn đã ăn mất từ mấy ngày trước rồi vì quá thèm ngọt.

Bầu trời Sông Mao hôm nay xanh màu ngọc, không một cụm mây, tôi vỗ vai Long công tử.

-Tao còn tán đường, mày xuống nhà bếp xin gô nước sôi, hôm nay mày muốn ngồi đâu? Brodard hay Givral?

-Givral đi, tự nhiên tao nhớ đến bức tượng hai người lính Thủy Quân Lục Chiến trước Quốc Hội, nhớ đến vòi phun nước nơi tụi mình chụp mấy tấm hình với Biên và Dung.

Cũng hơn mười phút sau Long công tử mới trở lại, hai đứa tôi ngồi xuống bên hè nhà, tôi hỏi Long công tử.

-Tốt nghiệp Thủ Đức xong, mày biến đi đâu mất tiêu vậy?

Long công tử, đặt lon gô nước đường xuống khoảng đất trống giữa hai đứa. -Lễ mãn khóa vừa chấm dứt, lúc bấy giờ cả ngàn ông tân chuẩn úy túa ra khắp mọi nơi cứ như là bầy ong vỡ tổ, mạnh ai nấy bay, trật tự và kỷ luật nhà binh hình như không còn hiệu lực vào lúc này. Trong cảnh hỗn loạn ấy tao chạy đi tìm thằng Biên và mày, tìm hoài không thấy tụi mày ở đâu, cuối cùng tao đành bỏ cuộc. Sau một lúc suy tính, tao lên Khu sinh hoạt mua một bộ đồ rằn ri mới toanh với cặp lon chuẩn úy nơi cổ áo, cái huy hiệu con cọp vàng bay qua cánh hoa dù trắng trên nền xanh lá cây, may nơi tay áo trái gần vai. Thêm cái mũ nồi xanh trên đầu, tao đã nghiễm nhiên trở thành một sĩ quan của binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Sau hai tuần lễ nghỉ phép, mười chín sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt của khóa mình, trong đó gồm có chín sĩ quan tốt nghiệp Thủ Đức và mười sĩ quan tốt nghiệp Đồng Đế, về trình diện Bộ tư lịnh Lực Lượng Đặc Biệt ở Nha Trang. Thiếu tá Thanh trưởng phòng Tổng quản trị của Lực Lượng Đặc Biệt, với gương mặt còn quá trẻ, có thể chưa quá ba mươi tuổi nhưng đầy vẻ phong trần dày dạn gió mưa, trong bộ quân phục rằn ri thẳng nếp, đôi giày bốt đờ sô hai da bóng loáng, thêm cái hoa mai có gạch trên cổ áo, tụi tao say mê chiêm ngưỡng cái nét oai hùng đầy phong độ của ông ta mà quên mất chào hỏi, trình diện. Thiếu tá Thanh thân mật bắt tay từng thằng một, hỏi thăm về những ngày phép mãn khóa, sau đó dẫn tụi tao vào phòng thuyết trình để thuyết giảng sơ qua cho tụi tao nghe về binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Với cây gậy ngắn trên tay, Thiếu tá Thanh chỉ lên sơ đồ tổ chức gắn trên bảng đen, ông thao thao bất tuyệt “Lực Lượng Đặc Biệt là binh chủng thiện chiến, là con cưng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Binh chủng này gồm có những toán Delta, có Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù và mấy chục trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng trên khắp bốn vùng chiến thuật”. Thiếu tá Thanh ngưng nói, ông ta lấy chiếc mũ nồi xanh xuống để trên bàn rồi quay nhìn tụi tao “Các anh cứ ngồi thoải mái, tự nhiên hút thuốc vì chuyện tôi nói có hơi dài dòng. Trước hết tôi xin nói về toán Delta, cho đến hôm nay khi tôi đang nói chuyện với các anh, Lực Lượng Đặc Biệt của Việt Nam Cộng Hòa có tổng cộng tất cả là mười hai toán Delta, tôi xin lập lại là chỉ có mười hai toán mà thôi, không hơn không kém, họ hoạt động thầm lặng riêng rẽ không ai biết đến, thậm chí ngay cả tôi cũng không biết họ đang làm gì, ở đâu. Chỗ này tôi muốn nói riêng với các anh, về hiểm nguy cũng như khổ cực của những toán Delta, sở trường của họ là chiến tranh xâm nhập, cho nên mức độ nguy hiểm về tính mạng giống như là chỉ mành treo chuông. Sĩ quan toán Delta của Lực Lượng Đặc Biệt, một lần công tác vào đất địch là một chuyến mang gươm qua sông Dịch, mười đi mà chỉ có một về ”. Thiếu tá Thanh ngừng nói, nhìn quanh “Mấy anh có biết sông Dịch ở đâu không?”. Dân Văn khoa như tao khi nghe câu hỏi ấy giống như là đi thi mà trúng tủ, tao bèn tà tà đọc luôn hai câu cuối trong bài thơ Dịch Thủy Tống Biệt.

Hình minh họa

Tích thời nhân dĩ một.
Kim nhật thủy do hàn.

Thiếu tá Thanh nói lớn “Ông chuẩn úy nào đó, đứng lên cho tôi coi mặt được không?”. Tao từ từ đứng lên. Thiếu tá Thanh nhìn tao thật lâu, tựa như coi giò coi cẳng mấy con gà nòi, sau đó ông nói “Phòng Tổng quản trị đang cần một phụ tá, chuẩn úy muốn về đó không?”. Tao đoán, chắc ông ấy nghĩ rằng, tại sao lại có một con cừu đi lạc vào giữa bầy cọp như thế này. Không có việc gì phải hấp tấp, tao bèn trả lời Thiếu tá Thanh với giọng lạnh lùng như đang bơi thuyền qua sông Dịch “Thưa Thiếu tá, tôi tình nguyện về Lực Lượng Đặc Biệt là để chiến đấu ở ngoài mặt trận, chớ không phải ngồi văn phòng”. Thiếu tá Thanh với giọng nói nhã nhặn, lịch sự “Cảm ơn tinh thần phục vụ hăng say cao độ của chuẩn úy”. Sau đó ông ta cao giọng, tiếp tục thuyết trình “Tôi xin lập lại toán Delta một khi nhảy vào đất địch, giống như qua sông Dịch, nếu có anh nào đó nghĩ là sông Bến Hải thì cũng được, chuyện trở về mỏng manh như ngọn đèn lung linh trước gió, nó có thể tắt bất cứ lúc nào. Trở về được hay không là tùy lòng dũng cảm, tùy vào kinh nghiệm cũng như khả năng thích ứng trong mọi trường hợp của vị sĩ quan đó. Đi đôi với những hiểm nguy còn có thêm cực khổ gian nan về thể xác. Sĩ quan cũng như binh sĩ của toán Delta phải có một thân thể được đúc bằng sắt, một ý chí được trui rèn trong lò luyện thép, mới có đủ sức chịu đựng với giông tố bão bùng, đủ sức vượt qua mọi thử thách. Thường thì một toán Delta nhảy vô vùng địch chỉ có sáu người, trong đó gồm bốn Việt và hai Mỹ. Hai ông cố vấn Mỹ đi theo chỉ để lo về phần yểm trợ hỏa lực, việc gọi trực thăng bốc và thả toán sẽ do sĩ quan trưởng toán Delta quyết định chứ không phải là cố vấn Mỹ. Bởi vì hai ngày trước cuộc hành quân, viên phi công Mỹ lái trực thăng và sĩ quan trưởng toán Delta, đã cùng nhau bay tiền sát để chọn địa điểm thả và triệt xuất, họ đã có những đồng thuận, quy ước riêng với nhau rồi. Bốn người Việt được trang bị vũ khí cá nhân như M16 hoặc M79 tùy theo nhiệm vụ khi xâm nhập, một cấp số đạn, lựu đạn mini, M26, M67, lựu đạn khói, bảy ngày lương khô và những dụng cụ đặc biệt mà một toán viên Delta phải có. Ba toán viên của toán đều là chuyên viên đặc biệt, họ mang theo rất nhiều mìn claymore và chất nổ. Riêng sĩ quan trưởng toán ngoài phần chịu trách nhiệm về kế hoạch cũng như chiến đấu, ông ta còn phải mang thêm một máy truyền tin PRC25, nặng hơn mười kí lô và một cục pin phòng hờ. Chiếc máy truyền tin này là linh hồn của toán, mất nó cả toán sẽ không có đường về. Sĩ quan trưởng toán Delta của Lực Lượng Đặc Biệt, hoàn toàn không giống như sĩ quan của các binh chủng khác, có được binh sĩ phụ giúp mang đồ, trái lại chính ông ta mang vác còn nhiều hơn một toán viên, cũng có nghĩa là mang vác không thua gì một con lạc đà”. Thiếu tá Thanh ngừng nói, ông đi xuống những hàng ghế mà tụi tao đang ngồi dựa ngửa, thoải mái hút thuốc, thả khói bay đầy phòng. Ông hỏi “Trong số các anh ngồi đây, ai là người chưa từng thấy hộp Ration C của quân đội Mỹ”. Trong đám chuẩn úy tụi tao, nhiều bàn tay rụt rè đưa lên. Thiếu tá Thanh xuống giọng “Đó là hộp thức ăn cho một bữa, của một người lính Mỹ, hộp B1 cho buổi sáng, hộp B2 cho buổi trưa và hộp B3 cho buổi chiều. Trong đó mỗi hộp gồm nhiều lon thực phẩm khác nhau, cân nặng khoảng hai kí lô hai, như vậy thực phẩm cho một ngày phải nặng hơn sáu kí, bảy ngày công tác hơn bốn mươi lăm kí lô thực phẩm. Chỉ có mấy con lừa mới mang nổi. Theo kinh nghiệm của một người lính tác chiến, tôi đoan chắc với các anh, ration C của Mỹ tuy cung cấp đầy đủ năng lượng cho một người lính, nhưng nó chỉ tốt cho những đơn vị đóng quân cố định tại một chỗ, không thuận tiện cho đơn vị hành quân. Tôi đã nhiều lần chứng kiến, khi ở hậu cứ thiếu mồi nhậu một anh lính có thể khui một lon thịt ba lát để chữa lửa, lúc rảnh rỗi họ có thể mở một lon trái cây hộp nhâm nhi cho đỡ buồn, nhưng muốn đem theo đi hành quân, coi bộ hơi khó vì cồng kềnh và quá nặng. Nếu nói như vậy, một chuyến công tác bảy ngày, ông sĩ quan và toán viên của toán Delta họ mang gì để ăn? Thưa quý vị, họ mang một lon gô ruốc thịt heo ba chỉ kho với sả ớt, thêm vài lon thịt hộp trong khẩu phần ration C, đã được sấy khô thành thịt chà bông, và mỗi ngày bảy trăm gam gạo sấy, vì họ không được đốt lửa để nấu ăn. Chỉ chừng đó lương thực đủ cho họ sống bảy ngày trong rừng. Thêm một điều quan trọng nữa là mỗi toán viên Delta được chích hai mũi thuốc chống ho, vì điều tối kỵ nhất của toán Delta là gây tiếng động. Suốt bảy ngày trong rừng họ như là những người câm, nói chuyện với nhau bằng thủ hiệu”. Thiếu tá Thanh đi trở lên bục thuyết trình. “Tôi vừa trình bày sơ lược với các anh về hiểm nguy và gian khổ của những toán Delta. Để đáp ứng nhu cầu cấp bách của chiến trường, hôm nay tôi cần năm vị sĩ quan trong số các anh về toán Delta, anh nào tình nguyện xin đưa tay lên”.

Hình minh họa

Long công tử ngưng kể chuyện, hắn nhìn tôi.

-Tao đố mày, có ông chuẩn úy nào dám tình nguyện về toán Delta không?

Tôi cười thoải mái.

-Ai thì tao không biết, riêng tao “Tẩu vi thượng sách”, tao sẽ chạy xa toán Delta một trăm cây số, chạy mà cấm có quay đầu nhìn lại.

Long công tử gật gù đắc ý.

-Mày đúng là lính văn phòng. Ngày xưa, nếu cho mày về đơn vị tác chiến nắm một trung đội lính bộ binh, khi đụng trận với Việt Cộng, tao tin rằng mày sẽ co giò chạy trước, bỏ binh sĩ dưới quyền sống chết mặc bây.

Tôi không giận Long công tử chút nào vì biết nó nói đúng sự thật, nói ngay bon bản tính của tôi. Trên đời này, còn ai hiểu tôi hơn Long công tử, tôi than với nó.

-Cũng may tao được làm lính văn phòng, chứ nếu phải ra tác chiến thì mặt mũi đâu mà nhìn binh sĩ dưới quyền.

Long công tử lờ đi như không biết tôi nói gì, hắn tiếp.

-Một điều khá ngạc nhiên là khi Thiếu tá Thanh vừa dứt lời, mười chín cánh tay trong phòng không hẹn cùng một lúc đưa lên cao. Thiếu tá Thanh cười vui vẻ “Tôi đã thuyết trình rất rõ ràng rồi, các anh không ngại khổ cực, không sợ nguy hiểm đến tính mạng hay sao? Có anh nào cho tôi biết lý do được không?”. Một giọng Huế ở cuối phòng vang lên “Thưa thiếu tá, Tết Mậu Thân tại cố đô Huế, chính bản thân tôi đã chứng kiến cảnh Việt Cộng giết hại, chôn sống hàng ngàn dân lành vô tội trong những hố chôn tập thể. Tôi vô Trường Bộ Binh Thủ Đức theo lệnh Tổng động viên nhưng ý nguyện là cầm súng chiến đấu chống lại Cộng Sản, nào ngờ khi tốt nghiệp tôi lại có tên trong danh sách về đơn vị không tác chiến, dựa theo những bài Trắc nghiệm định hướng ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Không được đi tác chiến như mình mong đợi, tôi tình nguyện về binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Bởi vì tôi không muốn bị Cộng Sản chôn sống, như Tết Mậu Thân ở Huế họ đã chôn sống dân mình”. Thiếu tá Thanh gật đầu, nét đăm chiêu hiện rõ trên gương mặt sạm nắng của ông. “Thế còn những anh khác không ở Huế thì sao?”. Để trả lời câu hỏi của Thiếu tá Thanh, một giọng nói chững chạc đầy cương quyết “Trước khi tình nguyện vào binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt, tất cả anh em chúng tôi ở đây đều đã chuẩn bị sẵn sàng, nếu một mai có phải hy sinh vì Tổ Quốc, chuyện đó không nằm ngoài dự tính của chúng tôi”.

Long công tử ngưng kể chuyện, hắn bưng lon gô nước đường ngửa cổ uống một hơi.

-Ngon thiệt, tao cảm thấy được chất nước ngọt đi qua cổ họng, xuống đến bao tử rồi theo từng giọt máu tỏa ra khắp thân thể.

Đợi Long công tử uống xong, tôi lấy lon nước từ tay hắn, hớp một ngụm.

Hình minh họa

-Có mười chín ông Kinh Kha thời đại, ông nào cũng muốn về toán Delta, mày nói cho tao biết, làm cách nào mà Thiếu tá Thanh chọn được năm sĩ quan cho toán Delta. Ông ta bỏ ai, chọn ai?

Long công tử cười vang, tiếng cười đầy sảng khoái của một sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt, chứ không phải tiếng cười của một thằng tù ốm đói.

-Chuyện dễ như vậy mà mày không thấy sao, mười chín thằng đều có một tinh thần Quốc Gia cao độ, có trình độ học vấn và hiểu biết tương đương, điểm khác biệt duy nhất là thể chất. Đương nhiên Thiếu tá Thanh chọn những ông chuẩn úy cao và to như những con trâu rừng, có sức chịu đựng dẻo dai để mang vác như một con lạc đà.

Tôi hơi mắc cỡ, khi thấy đầu óc suy luận của mình quá kém cỏi.

-Mày nói đúng, chuyện đơn giản như vậy mà tao nghĩ không ra. Rồi sao nữa?

Long công tử nhắc lại.

-Rồi sao nữa hả? Sau khi đã chọn được năm sĩ quan về toán Delta, thiếu tá trưởng phòng Tổng quản trị lại tiếp tục thuyết trình về Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Với giọng nói đầy tính thuyết phục, ông cho biết “Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù gồm có sáu đại đội, họ chia nhau tiếp ứng cho cả bốn vùng chiến thuật. Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chỉ điều động những đại đội này đánh vào những mục tiêu đặc biệt, những vị trí chiến lược quan trọng của Việt Cộng”. Sau vài lời giới thiệu ngắn gọn về Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, Thiếu tá Thanh đưa ra một nhận xét “Nếu đem so sánh sĩ quan của Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù với Sĩ quan của toán Delta thì kẻ tám lạng người nửa cân”. Đứng trên bục thuyết trình với cây gậy ngắn trên tay, Thiếu tá Thanh tỏ ra lúng túng khi phải chọn tiếp bốn sĩ quan về Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Đây cũng là một bài toán khó cho Thiếu tá Thanh, bởi vì mười bốn ông chuẩn úy còn lại ai cũng muốn về tiểu đoàn này. Cuối cùng để được công bình, Thiếu tá Thanh cho mọi người bốc thăm, bốn tấm giấy có ghi số 81 và mười tấm giấy trắng. Tao bốc nhằm tờ giấy trắng, có nghĩa là tao cùng chín ông chuẩn úy khác, sẽ được phân bố đi khắp các trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng của bốn vùng chiến thuật.

Long công tử dang tay lấy lon gô nước.

-Tao không cần giải thích, chắc mày cũng dư biết, hai chữ biên phòng tự nó đã nói lên được vị trí các trại Lực Lượng Đặc Biệt ở đâu rồi. Sau khi đã phân phối xong đơn vị cho mười chín sĩ quan, Thiếu tá Thanh với giọng nói đầy chân tình “Các anh tuy đã đội chiếc mũ nồi xanh, nhưng chỉ mới đặt có một chân lên ngưỡng cửa của căn nhà Lực Lượng Đặc Biệt. Tôi, Thiếu tá Thanh nhân danh người đi trước, có bổn phận phải giúp đỡ các anh hội nhập vào đại gia đình Lực Lượng Đặc Biệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, càng sớm càng tốt. Điều trước tiên tôi có thể làm được là, tôi sẽ gởi các anh tới căn cứ Động Ba Thìn ở Cam Ranh, để học một khóa căn bản về Lực Lượng Đặc Biệt. Các anh phải nhớ rằng, đây là một ngoại lệ chỉ dành riêng cho các anh, bởi vì muốn học khóa căn bản Lực Lượng Đặc Biệt, các sĩ quan phải cần có một tới hai năm kinh nghiệm tác chiến, mới được theo học khóa này. Khóa học sẽ kéo dài khoảng năm tháng”. Thiếu tá Thanh ngưng nói, ông chỉ vào một vị chuẩn úy ngồi ở dãy ghế đầu “Thời gian chuẩn úy theo học ở quân trường Thủ Đức bao lâu?”. Ông chuẩn úy nói “Thưa thiếu tá, nếu kể luôn giai đoạn một ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, thời gian thụ huấn trong quân trường của chúng tôi, tổng cộng chỉ có sáu tháng”. Thiếu tá Thanh nói “Sáu tháng, từ một học sinh, từ một sinh viên, các anh đã lột xác để trở thành chuẩn úy, trở thành một sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Với khóa Lực Lượng Đặc Biệt, các anh phải cần thêm năm tháng nữa để học về mưu sinh thoát hiểm, về xâm nhập vào đất địch, và về nhiều kiến thức cần thiết cho một binh sĩ Lực Lượng Đặc Biệt mà tôi không tiện nói ra đây. Sau khi tốt nghiệp khóa học này, các anh sẽ được học thêm một khóa nhảy dù, thời gian khoảng năm tuần. Khi các anh đã tốt nghiệp hai khóa học căn bản nói trên, các anh có thể hãnh diện là mình đã chính thức trở thành một thành viên trong đại gia đình Lực Lượng Đặc Biệt. Riêng năm anh thuộc toán Delta và bốn anh 81 Biệt Cách Nhảy Dù, thì đường còn dài, còn lắm chông gai, các anh lại phải học thêm những khóa chuyên biệt khác nữa”.

Hình minh họa

Long công tử ngừng nói, nhíu mày như để nhớ lại chuyện xưa.

-Sau mấy khóa học đổ mồ hôi sôi nước mắt ở Động Ba Thìn, tao được đưa về trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng Thiện Ngôn ở Tây Ninh, cách biên giới Việt Miên sáu cây số. Đây là một trong số mấy chục trại Lực Lượng Đặc Biệt trên khắp bốn vùng chiến thuật. Trên bản đồ quân sự một phần năm mươi ngàn, vị trí trại Thiện Ngôn nằm gần ngay tâm điểm trung ương cục R của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, nó là cái gai trong mắt, là khúc xương chận ngay cổ họng của Việt Cộng, cho nên bằng mọi giá, họ luôn luôn tìm cách nhổ bỏ khúc xương này. Trại có hai phi trường trực thăng, một ở bên trong và một ở bên ngoài trại, một phi trường dã chiến lót vỉ sắt PSP cho phi cơ C123 và C130. Về vũ khí, trại có năm khẩu đại bác 105 ly do quân nhân Mỹ sử dụng, hai khẩu súng cối 106 ly và hàng chục khẩu đại liên 12 ly 7, của đại đội Dân Sự Chiến Đấu. Về binh sĩ, trại có khoảng một trăm quân nhân Mỹ, nhưng trong đó chỉ có mười hai binh sĩ Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ mà thôi, số còn lại là binh sĩ pháo binh, truyền tin, kỹ thuật, thêm sáu đại đội lính Dân Sự Chiến Đấu, trong đó có ba đại đội gốc người Miên. Bên phía Việt Nam Cộng Hòa có khoảng mười hai quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt. Tất cả quân nhân Mỹ, sáu đại đội Dân Sự Chiến Đấu cũng như quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đều đặt dưới sự điều động, chỉ huy của Đại úy Tuấn Lực Lượng Đặc Biệt. Ông ta là căn cứ trưởng của trại Lực Lượng Đặc Biệt Thiện Ngôn. Trại như là một cái ốc đảo nằm gọn giữa rừng sâu, không có đường bộ để ra vào, con đường duy nhất có thể tiếp cận với thế giới bên ngoài là nhờ vào trực thăng và vận tải cơ của cố vấn Mỹ. Ba tháng đầu tiên ở trại, buồn chán đến phát điên bởi vì Đại úy căn cứ trưởng cho uống cà phê dài dài, uống cà phê theo nghĩa bóng có nghĩa là huấn luyện. Buổi sáng, Đại úy căn cứ trưởng một ly cà phê, chuẩn úy cũng một ly cà phê, cà phê Mỹ chua lè nhạt như nước lã, vậy mà ngày nào tao cũng phải uống hai cữ, vừa uống vừa nghe Đại úy căn cứ trưởng giảng bài về chuyện hành quân phối hợp với cố vấn Mỹ và lính Dân Sự Chiến Đấu, học về kế hoạch hành quân, kế hoạch yểm trợ hỏa lực, thôi thì đủ mọi thứ từ A tới Z, và cuối cùng là trách nhiệm và bổn phận của một căn cứ phó.

Long Công tử vươn vai, duỗi chân rồi than thở.

-Mày thử nghĩ coi, tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức xong, tao phải cưa thêm năm tháng căn bản Lực Lượng Đặc Biệt ở Động Ba Thìn, học về chuyện khi đói làm thế nào ăn mấy con sâu, nhai rắn rít, bọ cạp để sống còn, khi khát học cách uống nước trong rễ cây, trong thân cây, khi bị thương học cách nhai lá rừng đắp lên vết thương để cầm máu, đau yếu học cách nuốt lá rừng để trị bịnh rồi học cách sử dụng những dụng cụ đặc biệt, mà một người lính Lực Lượng Đặc Biệt mang theo khi hành quân. Và bài học quan trọng nhất tốn nhiều ngày giờ nhất, là hành quân xâm nhập. Vừa dứt khóa học căn bản Lực Lượng Đặc Biệt, tao tưởng sẽ có cái phép dăm bảy ngày về Sài Gòn bay bướm, ra Givral uống cà phê khoe cái mũ nồi xanh trên đầu, tiện thể nhìn xe cộ ngược xuôi trên đường phố cho đã con mắt, nào ngờ cả bọn lại bị lùa sang học nhảy dù thêm năm tuần lễ nữa. Nhảy dù là khóa học không dễ nhưng cũng không khó, để huấn luyện về thể xác, mỗi buổi sáng tụi tao với ba lô trên vai, súng cầm tay chạy một lèo từ Động Ba Thìn đến Hòa Do rồi chạy về, hơn chục cây số chớ phải chơi đâu, lính mà chạy không thua gì những con ngựa ở trường đua Phú Thọ. Chiều đến ở trong trại học nhảy, học bò, học té. Khi học về nhiều cách té, để cho đỡ buồn tụi tao gọi đùa là té bảy món, té sấp, té ngửa, té chổng mông, té bò càng, té lăn cù, té chúi nhủi, té chổng gọng. Cuối cùng khóa sinh phải nhảy đủ bảy sô ngày và một sô đêm trên các loại máy bay, từ C47 sang C119, C123 rồi C130 mới được cấp phát bằng nhảy dù. Học như vậy tao tưởng đã đủ lắm rồi, nào ngờ khi về trại Thiện Ngôn còn bị Đại úy căn cứ trưởng cho uống cà phê dài dài. Sau khi trải qua không biết bao nhiêu là gian nan khổ cực, cuối cùng tao chính thức được bổ nhiệm làm căn cứ phó. Khi biết tao đã sẵn sàng lao đầu vào vùng lửa đạn, nhân vụ một trung đoàn Việt Cộng pháo kích và tấn công vào trại, sau đó rút về bên kia biên giới. Đại úy Tuấn căn cứ trưởng cho lệnh mở cuộc hành quân về phía biên giới Cam Bu Chia, nơi mà bộ chỉ huy cơ quan đầu não cục R của Việt Cộng ẩn núp. Lực lượng hành quân gồm có hai đại đội Dân Sự Chiến Đấu, một toán cố vấn Mỹ có hai sĩ quan, một hạ sĩ quan, hai thông dịch viên, hai truyền tin. Bộ chỉ huy hành quân do tao trực tiếp chỉ huy, có một hạ sĩ quan phụ tá, hai truyền tin, hai quân y, bốn khinh binh, một trung đội Trinh Sát, một trung đội Vũ khí nặng. Sau hai ngày băng rừng lội suối, tụi tao tới biên giới, đây là lần đầu tiên trong đời tao xuất ngoại qua Cam Bu Chia mà không cần mang theo giấy tờ xuất nhập cảnh.

Hình minh họa

Tôi tò mò hỏi Long công tử.

-Lần đầu tiên, đứng trước những người lính áo quần rằn ri, mặt mũi bặm trợn như ông kẹ, mày có run sợ chút nào không?

Long công tử nhìn tôi.

-Mày là Trung úy mà hỏi gì kỳ vậy, run thì làm sao mà chỉ huy lính được.

-Long à, hơn sáu năm ở Trường Võ Bị Đà Lạt, tao chỉ có khả năng chỉ huy hai người hạ sĩ quan trực với tao mà thôi.

Long công tử đùa.

-Mày hỏi cũng phải, mặc dầu đã được Đại úy căn cứ trưởng chỉ bảo cẩn thận, truyền thụ võ công đầy đủ, bao nhiêu chiêu thức bí truyền của ổng, tao đều thuộc nằm lòng. Vậy mà đứng trước hàng quân khi ban lịnh hành quân, tao vẫn bị khớp như thường, ăn nói không được lưu loát cho lắm. Tuy vậy chỉ vài phút sau, tao nói hăng say cứ như là đồng nhập. Từ đó về sau, nói chuyện trước hàng quân, với tao cũng giống như là uống ly bia, hút điếu thuốc mà thôi.

Tôi hỏi Long công tử.

-Một Đại đội Dân Sự Chiến Đấu có bao nhiêu người?

Long công tử nhăn mặt ra chiều đau khổ. -Tùy theo mùa, một Đại đội Dân Sự Chiến Đấu có trên một trăm người, đến mùa lúa chín, quân số của đại đội chỉ còn một nửa, bởi vì họ bỏ lính trở về nhà gặt lúa. Xong mùa gặt, họ mới vô lính lại, đúng như cái tên gọi Dân Sự Chiến Đấu. Theo tao biết, một Đại đội Dân Sự Chiến Đấu được tổ chức gần giống như Đại đội chủ lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cũng gồm có đại đội trưởng, trung đội trưởng, tiểu đội trưởng. Sự khác biệt là họ chỉ có chức vụ chứ không có cấp bậc, nếu một người lính Dân Sự Chiến Đấu tuyển mộ được một trung đội, thì người đó sẽ là trung đội trưởng, nếu tuyển mộ được một đại đội, người tuyển mộ sẽ là đại đội trưởng. Lực lượng Dân Sự Chiến Đấu là lính không có số quân, họ được người Mỹ huấn luyện, trang bị vũ khí và lãnh lương của Mỹ. Điều duy nhất yếu kém của Đại đội Dân Sự Chiến Đấu là đại đội trưởng hay trung đội trưởng chỉ giỏi trong việc chỉ huy lính chiến đấu chứ không biết gọi phi pháo yểm trợ. Do vậy trong bất cứ cuộc hành quân nào, sĩ quan của Lực Lượng Đặc Biệt sẽ là cấp chỉ huy. Tao là chuẩn úy căn cứ phó, nên chỉ huy hai Đại đội Dân Sự Chiến Đấu khi hành quân là chuyện bắt buộc. Ngày thứ ba trong cuộc hành quân, tụi tao bắt đầu di chuyển qua biên giới, lâu lâu mình bất ngờ tràn qua biên giới một lần, phá hủy các căn cứ hậu cần của cục R rồi lẹ lẹ rút về, chẳng có ủy hội quốc tế nào dám đến tận chiến trường trong rừng sâu núi thẳm để kiểm soát hay phản đối. Tao chia lực lượng làm hai cánh quân, Đại đội I Dân Sự Chiến Đấu đi cánh trái, Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu bên cánh phải, cách nhau chừng một trăm mét, bộ chỉ huy của tao với toán cố vấn Mỹ đi ở giữa.

Hình minh họa

Đi vô hang cọp đánh phá, không u đầu thì cũng sứt trán, buổi trưa trong rừng rậm nhiệt đới không một chút gió, với cái nóng oi bức vây quanh, bộ chỉ huy của tao đang lầm lủi di chuyển với đội hình hàng một, tao bỗng nghe được cùng một lúc, nhiều tiếng nổ long trời lở đất của đủ loại vũ khí cá nhân cũng như cộng đồng vào hướng ba giờ, tức là hướng của Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu. Nhanh như chớp tao báo cáo với Đại úy căn cứ trưởng tọa độ điểm đứng của tao, sau đó là hướng tấn công

của địch, rồi xin yểm trợ pháo binh cũng như không yểm. Vừa nói chuyện qua máy PRC25 tao vừa cho lệnh trung đội Trinh Sát cùng với hai khẩu đại liên M60, bẻ một góc chín chục độ, đội hình của bộ chỉ huy đã thành hàng ngang, tất cả tiến về phía trước. Mới di chuyển chừng hai chục thước, tao đã gặp những người lính của Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu, vừa bắn cầm chừng rồi dạt về phía sau. Tao lập tức cho bố trí hai khẩu đại liên, khi những người lính Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu vừa lui tới, hai khẩu đại liên của tao quạt như điên về phía trước, thêm hơn ba chục cây M16, M79 của trung đội Trinh Sát đồng loạt bắn hổ trợ. Vừa bắn tụi tao vừa di chuyển từ từ về phía trước trong tiếng nổ kinh hồn của B40 chen lẫn với tiếng đạn AK xé gió bên mang tai, rồi tiếng cành cây gãy kêu răng rắc, tiếng đạn chạm vào thân cây kêu lụp bụp, cho đến khi gặp địa thế tương đối khá tốt, tất cả bọn tao trụ lại. Ngay lúc ấy, Trung úy cố vấn Mỹ McKenzie phóng ào tới bên tay phải, cách tao chừng hơn mười mét, ông ta đặt khẩu đại liên M60 xuống một mô đất rồi lẹ tay siết cò. Tao nhìn về phía trước, đám lính Việt Cộng đông như một đàn kiến, đang tranh nhau tràn lên định làm cỏ Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu, bất ngờ bị ba cây đại liên đồng loạt khai hỏa, khói lửa mù trời, vỏ đạn rơi đầy đất chen lẫn với tiếng nổ của súng M16, M79, người chứ đâu phải mình đồng da sắt mà chịu cho thấu, lính Việt Cộng lớp rớt như sung rụng, lớp bỏ chạy tán loạn. Hai tay xạ thủ đại liên lại xách súng chạy theo tao về phía trước, đặt súng trên vùng có xạ trường tốt, tiếp tục khạc đạn. Lúc này những người lính Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu sau cú bị phục kích bất ngờ, được sự trợ giúp của trung đội Trinh Sát và trung đội Vũ khí nặng, họ đã tái tổ chức lại đội hình, và bắt đầu phản công.

Trong khi hai cây đại liên của tao thi nhau nổ giòn giã từng chặp, thì cây đại liên của Trung úy McKenzie gặp trở ngại nên im bặt, tao lẹ làng phóng mình tới gần bên Trung úy McKenzie, mắt liếc nhìn khẩu M60, miệng hét lớn “Change it”. Trung úy McKenzie nghe tao nói nhưng ông ta vẫn đứng im như trời trồng, giương cặp mắt xanh lè màu ve chai nhìn tao. Vốn liếng tiếng Anh của bảy năm trung học, cộng thêm ba năm Anh văn là sinh ngữ chính ở Đại học Văn khoa coi như đổ sông bỏ biển. Các giảng viên ở Viện đại học đã bắt tao học nhiều tác phẩm lừng danh trên thế giới của đại văn hào William Shakespeare, Mark Twain, Ernest Hemingway. Bấy lâu nay, tao cứ đinh ninh trong đầu là mình biết tiếng Anh, nào ngờ khi đụng chuyện, chỉ mới nói có hai chữ mà cũng không xong. Biết là Trung úy McKenzie không hiểu tao nói gì, quá tức giận mình, tao bước qua cây đại liên, mang cái bao tay da to tổ bố vào, rồi thay cái nòng súng đại liên đang bốc khói, thiếu điều muốn cháy luôn cái bao tay da. Trung úy McKenzie nhìn tao, đưa một ngón tay cái lên trời.

Long công tử chuyển qua giọng nói đầy vẻ bực dọc.

-Ngay lúc ấy tao muốn nói với Trung úy McKenzie là “Mày còn chần chờ gì nữa, bắn đi” nhưng miệng thì lại câm như hến, không nói được một chữ tiếng Mỹ nào. Cho dù trong cái đầu của tao đã hoạt động hết công suất để dịch câu nói trên sang tiếng Mỹ, vậy mà không cách gì làm được. Ngày xưa khi còn đi học, mình chỉ chú trọng đến văn phạm, ngữ pháp, coi nhẹ chuyện đàm thoại, muốn nói một câu tiếng Mỹ, tao phải nghĩ câu nói ấy bằng tiếng Việt trong đầu, rồi dịch sang tiếng Mỹ, cuối cùng mới nói được mấy chữ tiếng Mỹ mà mình muốn nói. Cả một quá trình diễn tiến đầy nhiêu khê phức tạp trong đầu mới nói ra được một câu, lúc bấy giờ đứng giữa khói lửa mù trời, đạn bay như sao xẹt, giữa sự sống và cái chết, bắn chậm thì chết, tao càng luống cuống ngớ cả người. Trong lúc bối rối quá sức, không biết phải nói như thế nào cho Trung úy McKenzie hiểu, túng quá tao đành đưa ngón tay trỏ lên trời, duỗi thẳng ra rồi co lại giống như mình đang bóp cò, miệng hét lớn “Shoot, shoot”. Như một cái máy Trung úy McKenzie lẹ làng chụp khẩu đại liên M60. Bóp cò. Tiếng nổ chát chúa kéo dài từng chặp ba viên một, của khẩu đại liên M60 do Trung úy McKenzie bắn, xen lẫn với tiếng đì đùng vang trời của những quả đạn 105 ly do năm khẩu đại bác từ căn cứ Thiện Ngôn bắn yểm trợ, tạo nên một âm thanh hỗn tạp nghe sao mà êm tai quá chừng. Cũng cùng lúc ấy một tiếng “ầm” cọng với sức nóng hừng hực của một quả đạn B40, nghe muốn điếc con ráy vang lên chỗ khẩu đại liên M60, nơi mà tao vừa rời khỏi ít phút trước đó. Khẩu M60 văng xa mấy thước, cái nòng súng biến đi đâu mất, dây đạn đại liên đứt thành mấy khúc, người xạ thủ đại liên và phụ xạ thủ chỉ còn là hai cái xác bầy hầy máu tươi trộn lẫn với đất cát, một cái xác mất đầu, một xác mất tay, trong khi cánh tay còn lại của xác chết vẫn còn co giật nhè nhẹ. Tao cúi đầu nhìn hai cái xác nhưng không còn nhận ra ai là ai. Một lúc sau khi pháo binh 105 ly ngưng hoạt động, tao nghe được tiếng quạt phành phạch của trực thăng võ trang vần vũ trên trời, tiếng rocket xé gió bay về phía địch.

Hình minh họa

Long công tử im lặng một lúc, rồi quay qua nhìn tôi.

-Tao thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, nếu khẩu đại liên M60 của Trung úy McKenzie không kẹt đạn, tao không chạy qua thay giùm cái nòng súng cho ông ta, tao chỉ còn là một đống thịt bèo nhèo trộn lẫn với máu xương, làm gì có cơ hội ngồi đây để tâm sự vụn với mày. Giống như trường hợp của mày, nếu không có hai người lính Quân Cảnh chia cắt mày và Dung ở đuôi chiếc phi cơ C130 thì giờ này…

Long công tử bỏ lửng câu nói, hắn uống một hớp nước đường.

-Khi mà chiến trường vừa ngớt tiếng súng, tao dẫn theo trung đội Trinh Sát đi truy kích lục soát, trước mắt tao là cảnh địa ngục của trần gian với xác người nằm ngổn ngang nơi chiến địa. Kết quả sơ khởi hai chục Dân Sự Chiến Đấu bị chết và bị thương, Việt Cộng bỏ xác tại chỗ hơn bốn chục mạng, súng AK, B40 và M16 nằm lăn lóc khắp nơi. Trong khi tao đang lục soát, qua máy truyền tin PRC 25, Đại úy căn cứ trưởng đang bay trực thăng trên trời, xát muối ớt tao tơi bời hoa lá “Ông làm ăn cái kiểu gì kỳ vậy, cố vấn Mỹ báo cáo với tôi lực lượng Dân Sự Chiến Đấu chết với bị thương hơn hai chục mạng”. Sếp lớn chưa biết ất giáp gì đã vội kêu máy giũa mình, cái chết ngay trước mặt tao còn không sợ, sá gì Đại úy căn cứ trưởng, tao nổi điên tắt mẹ nó cái máy PRC 25 cho được việc. Hành động đó, khiến tao có thể bị tù như không, nhưng mà một khi bị chạm dây, phản ứng của con người ngay lúc đó sẽ không còn do lý trí điều khiển nữa, mà nó tùy theo tần số của dòng điện cao hay thấp.

Tôi ngắt lời Long công tử.

-Cho con gà nòi của mình cáp độ trận đầu, Đại úy căn cứ trưởng tưởng con gà của mình yếu bóng vía, nên ông nổi giận chứ gì?

Long công tử không trả lời tôi, hắn kể tiếp.

-Ba ngày sau, tụi tao về lại đến căn cứ Thiện Ngôn. Một buổi họp Việt Mỹ được tổ chức, rút ưu khuyết điểm của trận đánh. Hai tay cố vấn Mỹ đi theo Đại Đội I Dân Sự Chiến Đấu, than phiền sự yếu kém chỉ huy của tao nên con số thương vong của Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu, đi bên cánh phải lên đến hơn hai chục người. Tao giận cành hông định đứng lên phản đối, bất ngờ Trung úy McKenzie phát biểu ý kiến, ông ta nói “Nếu không có Chuẩn úy Long nhanh chóng điều hai cây đại liên M60 cùng với trung đội Trinh Sát, trung đội Vũ khí nặng lên tiếp ứng, có thể cả Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu đã bị làm cỏ sạch rồi, sạch sẽ không còn một mạng, nói gì chỉ chết có hai chục”. Đang nói chuyện, Trung úy McKenzie bất ngờ đứng lên, với giọng nói đầy hăng say “Tôi đã chiến đấu bên cạnh Chuẩn úy Long, suốt thời gian Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu bị Việt Cộng phục kích, và tôi chưa bao giờ thấy một ông sĩ quan nào kể cả sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, can trường gan dạ như Chuẩn úy Long. Ông ta đã anh dũng chiến đấu để làm chủ chiến trường, từ bị phục kích trở thành tấn công, từ thua thành chiến thắng cho Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu mà chứng cớ còn đó, với hơn bốn mươi xác Việt Cộng bỏ lại nơi chiến trường. Đó là tất cả những gì tôi đã tận mắt chứng kiến, trong cuộc hành quân cách đây ba ngày”. Với tao, bài học kinh nghiệm sau trận đánh là, tao cố gắng thực tập nghe và nói tiếng Mỹ thường xuyên với Trung úy McKenzie hơn. Bởi vì tao không muốn trong tương lai, khi đứng giữa chốn tên bay đạn lạc, mà lại nói chuyện với cố vấn Mỹ bằng thủ hiệu. Khi buổi họp kết thúc, hai cố vấn Mỹ đến bắt tay tao xin lỗi, họ nói rằng chỉ nhìn con số tử vong của hai bên chứ không biết được sự chiến đấu anh dũng của tao.

Hình minh họa

Long công tử cười mà cái miệng méo xệch.

-Anh dũng can trường con mẹ gì, phản xạ tự nhiên của tao, khi nghe tiếng súng nổ, tao đem hai cây đại liên cùng với trung đội Trinh Sát, trung đội Vũ khí nặng lên tiếp ứng, may mắn gặp đúng thời đúng chỗ, chớ tao có tài cán gì đâu. Sau trận đánh đó, tao được binh sĩ trong trại tin yêu, họ nhìn tao với con mắt đầy nể phục. Từ đó cho đến cuối năm bảy mươi, khi mà Lực Lượng Đặc Biệt giải tán, chuyển qua 81 Biệt Cách Nhảy Dù và Biệt Động Quân Biên Phòng tao vẫn là căn cứ phó của trại Lực Lượng Đặc Biệt Thiện Ngôn, ở đó để lãnh pháo kích dài dài, vẫn hành quân liên miên, đụng độ với Việt Cộng thêm nhiều trận ác liệt, mấy lần tưởng chừng như có thể lạc nẻo xuống địa ngục. Gần cuối năm bảy mươi, tao lên chức thiếu úy rồi sau đó chuyển qua Biệt Động Quân Biên Phòng. Tao bùi ngùi từ giã cái mũ nồi xanh, với không biết bao nhiêu là mến thương quyến luyến trong lòng. Khi qua làm lính mũ nâu tao được cử đi học khóa “Tác chiến trong rừng” ở Mã Lai Á. Cũng nhờ cả năm trau giồi Anh ngữ với trung úy McKenzie ở trại Lực Lượng Đặc Biệt, khi lấy cái test đi du học ở trường Sinh ngữ Quân đội, tao vượt qua một cách dễ dàng với số điểm hơn chín mươi, trong khi bài test chỉ cần bảy mươi điểm mà thôi.

Long công tử chép miệng.

-Đi Mã Lai học, nghe thoáng qua cứ như là đi du học ngoại quốc, thực sự với khóa học chỉ kéo dài một tháng, không đủ thời giờ để ngắm cảnh rừng núi của Mã Lai, nói gì đến chuyện học. Lần này tao xuất ngoại có giấy tờ đàng hoàng, qua Mã Lai mà không có giấy nhập cảnh, ai chớ tụi Mã nó bỏ tù mình như không.

Tôi nhắc Long công tử.

-Mày có biết mấy giờ rồi không?

Long công tử lắc đầu.

-Không, nhưng mà chắc tới giờ tao phải đi lãnh cơm rồi, chủ nhật tuần tới mình gặp nhau đi.

Tôi vỗ vai Long công tử.

-Ừ, cứ như vậy, nhớ giữ gìn sức khỏe.

Dâu bể trùng phùng

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 29 Feb 2024

Hình minh họa

Tập 2

Phần 9
Long Công Tử

Tôi bưng hũ ruốc thịt heo kho sả chỉ còn khoảng một phần tư, để lên cái xách tay rồi nói với Trung úy Lợi.

-Hơn hai tháng rồi, tao với mày nhờ nó mà sống hùng sống mạnh, sống huy hoàng. Cho đến hôm nay chỉ còn lại chừng này, phải chi mấy tháng trước, vợ tao làm cho tao chừng hai hũ như thế này thì đỡ cho tụi mình biết mấy.

Trung úy Lợi nhìn tôi.

-Hồi còn ở Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến, khi thấy hũ ruốc thịt kho sả của mày tao cười chế nhạo, đến hôm nay mới biết là mình hồ đồ, thiển cận. Mà thôi chuyện đã lỡ rồi, biết làm sao bây giờ, có mấy ai ngờ được mười ngày là mười tháng đâu.

Tôi múc một ít ruốc thịt cho vào cái hũ thủy tinh nhỏ bằng nắm tay. Cái hũ này tôi lượm được trong đống rác khi đi làm lao động, với ý định là làm cái ly uống nước, sau đó bỏ công kì cọ cái hũ với cát mịn, rồi lên nhà bếp của khối Đà Lạt xin chút nước sôi rửa lại một lần nữa. Sau màn làm tổng vệ sinh, cái hũ thủy tinh trông cứ như là mới mua ở chợ về. Hôm qua tôi muốn dùng nó để đựng ruốc kho sả, lại thêm một chuyện nữa tôi phải làm là lúc đi lao động tôi lượm về một cục gỗ, tốn mấy giờ đẽo gọt, mài trên nền xi măng, cuối cùng tôi có được cái nắp đậy vừa khít với cái hũ thủy tinh.

Trung úy Lợi hỏi tôi.

-Mày làm gì vậy?

-Tao muốn đem qua khối Bình Thuận cho Long công tử hũ ruốc này. Tội nghiệp nó đói gần chết suốt ba, bốn tháng trường khi bị nhốt ở Cà Tót, không cơm không cháo, chỉ ăn toàn khoai mì, rồi đọt mì với măng, đã vậy còn mang thêm cái bịnh sốt rét. Người chứ đâu phải voi, sức đâu mà chịu cho nổi. Mấy ngày trước ở cổng trại, mày thấy Long công tử rồi chứ gì, người ngợm của nó chỉ còn là da bọc xương.

Trung úy Lợi gật đầu.

-Mày nói phải, đem cho nó là đúng rồi, tụi mình còn hai lon thịt hộp, mày lấy cho nó một lon đi. So với nó, tao với mày tuy cũng ở tù nhưng còn may mắn hơn nhiều vì vẫn còn mập mạp, mạnh khỏe quá mạng, dư sức chịu đựng mà.

Khi nghe Trung úy Lợi nói như vậy khiến tôi cảm thấy sung sướng trong lòng, sẵn dịp tôi nói luôn:

-Chuyện giao thiệp với mọi người tao không được khéo cho lắm, có việc này tao muốn nhờ mày.

-Chuyện gì? Nói tao nghe thử coi, có được không?

Hình minh họa

-Mày làm sao tìm mua cho tao mấy viên thuốc Chloroquine trị sốt rét của lính mình ngày xưa, thêm một lon sữa đặc có đường.

Trung úy Lợi cười sằng sặc.

-Mẹ nó, mày cũng vừa thôi, đòi toàn là thứ hàng cao cấp. Sống ở địa ngục mà mày muốn mua loại hàng chỉ có ở thiên đường dương thế, thì làm sao mà mua cho được. Để từ từ đi, tao còn phải dò xét cẩn thận rồi mới nói lại với mày sau.

Tôi đẩy nhẹ Trung úy Lợi.

-Mày học được ở đâu mấy chữ “hàng cao cấp” vậy.

Nói xong, tôi lấy trong ví bốn tờ giấy năm trăm tiền Việt Nam Cộng Hòa, đưa cho Trung úy Lợi.

-Tao chỉ có hai ngàn, đây là tất cả gia tài vốn liếng của tao, mày cầm lấy đi tìm mua thuốc với sữa giùm.

Trung úy Lợi cầm tiền rồi hỏi:

-Mày mua cho Long công tử phải không?

Tôi nói:

-Không lẽ cho tao hay mày, tụi mình còn mạnh như trâu, đâu có cần mấy thứ đó.

Phải hai ngày sau, khi ăn cơm chiều xong, Trung úy Lợi đưa cho tôi tám viên thuốc Chloroquine và một lon sữa đặc có đường hiệu ông Thọ. Mừng như bắt được vàng, tôi nói với Trung úy Lợi.

-Mày hay thiệt, cứ như là điệp viên. Nói cho tao nghe mày kiếm ở đâu ra vậy?

Trung úy Lợi loay hoay lục trong túi, đưa lại cho tôi ba tờ giấy năm trăm.

-Đây là một ngàn rưỡi tiền còn dư lại, thuốc sốt rét không tốn tiền mua, tao xin được của một thằng ở Tổ 39 thuộc khối Đà Lạt của mình. Còn lon sữa ông Thọ có một thằng ở khối Bình Tuy, nó bán lon sữa cho tao với giá năm trăm đồng.

Tôi ngạc nhiên quá sức, nói với Trung úy Lợi.

-Tao tưởng thằng có lon sữa, nó phải đòi nhiều hơn chớ. Từ sau ngày ba mươi tháng tư, mệnh giá của đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa thay đổi bất thường liên tục khiến cho mọi người chẳng biết đâu mà lần. Hôm nay còn có chút giá trị, ngày mai có thể trở thành tờ giấy lộn. Với tao có trong tay lon sữa, coi bộ vững tâm hơn là cầm tờ giấy năm trăm.

Tôi đặt lon sữa, thuốc sốt rét, lon thịt hộp và hũ ruốc nho nhỏ vào cái bao cát, túm gọn đầu bao cát lại khoác lên vai rồi rủ Trung úy Lợi.

-Bây giờ tao đem mấy cái thứ này qua khối Bình Thuận cho Long công tử, mày đi với tao cho vui.

Trung úy Lợi vui vẻ.

-Đi thì đi nhưng nhớ về sớm, bảy giờ là phải họp tổ rồi đó.

-Mày yên chí, qua đưa cái bao này cho Long công tử, dặn dò vài câu rồi về liền mà.

Tuy nói với Trung úy Lợi như vậy nhưng khi gặp Long công tử, nhìn cái thân xác ốm yếu gầy gò của nó, tôi không đành lòng đi ngay, cứ chần chờ, quyến luyến không nỡ dời chân.

Trung úy Lợi vì đợi quá lâu nên hối tôi.

-Quân nè sắp tới giờ họp tổ rồi, tụi mình phải về thôi.

Hình minh họa

Tôi ráng nấn ná thêm chút xíu, dặn dò Long công tử.

-Mày nhớ uống thuốc và uống sữa, như vậy mới mau bình phục được.

Khi tôi và Trung úy Lợi về đến nơi, cũng là lúc tổ trưởng bắt đầu điểm danh để họp tổ. Tất cả mọi người ngồi thành hình chữ nhật trên sân đất trong phòng ngủ, mười sáu cái miệng đói ăn, hét ra lửa ngày nào, giờ đây ông ổng hát bài “Bác cùng chúng cháu hành quân”. Sở dĩ tôi nói hét ra lửa, là vì với cấp bậc trung úy trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nếu ở đơn vị tác chiến, chức vụ của mấy ông trung úy thường là đại đội trưởng. Bài hát mà chúng tôi vừa vỗ tay vừa gào lên, âm điệu của bản nhạc lúc thì the thé, lúc thì eo éo cứ như là bản nhạc Tàu lời Việt.

Điện Biên năm nào vọng lời Bác giữa chiến hào.

Tôi say sưa hát nhưng trong lòng cứ nơm nớp lo sợ hão huyền, Bác đang ở giữa chiến hào, lỡ bị trúng bom của thực dân Pháp chết banh thây, thì còn ai mà đọc lời “Chúc Tết Mậu Thân”. Điều quan trọng hơn là cái lăng của Bác ở Quảng trường Ba Đình, không lẽ bỏ trống, chắc phải làm cái thi hài bằng sáp thế vào, để cho dân chúng đến chiêm ngưỡng. Tất cả những bản nhạc mà chúng tôi hát trong tù, đều là loại nhạc lai căn mất gốc, được sáng tác theo đơn đặt hàng của đảng Cộng Sản. Vậy mà bọn tù chúng tôi bị bắt buộc phải học thuộc lòng khoảng sáu, bảy bài hát này. Hàng ngày trước khi họp tổ, họp sinh hoạt kiểm điểm, là cả tổ phải căng họng rống lên một bài hát lai Tàu. Một vài lần, anh tổ trưởng thấy khí thế chống đế quốc Mỹ, chống Ngụy của tù nhân chưa được mạnh mẽ cho lắm, bèn bắt hát thêm bản nữa, hát cho đến khi sạch bóng quân thù, Mỹ cút Ngụy nhào mới được ngưng. Đó là hình ảnh mở màn cho một buổi họp tổ trong tù, một ngày họp hai lần, tính ra một tuần chúng tôi phải hát ít nhất là mười bốn lần mấy bài hát thổ tả của Việt Cộng.

Gần một tuần trôi qua, hôm nay là chủ nhật, tất cả mọi người được nghỉ ngơi không phải đi lao động, một mình tôi đi qua khối Bình Thuận thăm Long công tử. Nội quy của trại không cấm chúng tôi đi từ khối này qua khối khác, nhưng chẳng có mấy ai đi lang thang, thường chỉ quanh quẩn trong khối của mình, bởi vì không một ai muốn bị phê bình, kiểm điểm vì cái tội liên hệ linh tinh. Chỉ mới có mấy ngày không gặp mà sắc diện của Long công tử đã thay đổi hẳn. Tôi không ngờ Long công tử hồi phục nhanh như vậy, hắn có thể tự đi lại một mình không cần phải chống gậy, giọng nói của hắn nghe đã bắt đầu mạnh hơn, không thều thào đứt khoảng, hụt hơi như khi gặp tôi tuần trước. Tôi nắm vai Long công tử.

-Trông mày khỏe hơn trước nhiều rồi.

Long công tử cười, giải thích với tôi.

-Mỗi buổi sáng tao ăn một chén cháo, uống một viên thuốc Chloroquine, sau đó mới xuống nhà bếp của khối xin một lon nước sôi đem về phòng. Bảy người trong phòng đã đi lao động hết rồi, một mình tao một cõi muốn làm gì thì làm, chẳng có ai phiền hà gì đến mình. Tao pha một chén sữa rồi cứ nhẩn nha mà thưởng thức, còn gì khoái cho bằng khi tao ngửa cổ uống một hơi, chất ngọt của đường, vị béo của sữa đi qua cổ họng, trôi tới đâu mình cảm thấy ngọt ngay tới đó. Cứ vậy tao từ từ uống cạn hết chén sữa ngon lành. Buổi trưa, tao lại đi xuống bếp lãnh phần cơm của mình, một chén rưỡi cơm thêm một miếng bí đỏ to bằng nửa ngón tay cái, với tao chừng đó đã là quá sức hậu hỉ rồi, có nằm mơ cũng không tin là mỗi bữa ăn lại có chén rưỡi cơm. Thế nhưng có một điều tao không ngờ tới là, tay nấu bếp có lẽ thấy tao yếu đuối bịnh hoạn, hắn bèn cho thêm một miếng cơm cháy cỡ hai ngón tay.

Long công tử đưa hai ngón tay lên nhìn, rồi gật đầu.

-Đúng rồi cỡ đó thôi, mày có biết không, miếng cơm cháy đó mà ăn với ruốc thịt heo kho sả của mày thì không gì ngon bằng. Chút béo của mỡ heo, chút ngọt của đường, cái mặn của muối, cay cay của ớt, mùi thơm của sả, giòn giòn của cơm cháy, tao ăn mà cứ tưởng như ngày xưa khi đi chơi khuya về ngang qua khu Tân Định, ăn khúc bánh mì kẹp thịt nơi xe bánh mì Sáu Voi. Chiều đến tao lại lãnh chén rưỡi cơm, lại ăn với ruốc, hộp thịt mày cho tao vẫn chưa ăn, còn để dành đó.

Hình minh họa

Tôi nói với Long công tử.

-Hộp thịt đó của Trung úy Lợi cho mày, chứ không phải của tao. Trung úy Lợi là bạn tao mới quen sau này khi bắt đầu vô tù, còn bạn cũ chẳng thấy thằng nào, chắc tụi nó lanh tay lẹ chân bay qua Mỹ hết rồi. À Long nè, mày có biết là Biên chết rồi không?

Long công tử lặng người đi hồi lâu rồi hỏi tôi.

-Biên chết lâu chưa? Từ ngày ra trường tao đi biệt luôn rất ít khi về Sài Gòn nên không biết gì.

-Để tao nhớ lại coi, Biên nó chết đâu khoảng năm bảy hai tại Quảng Trị.

Tôi kéo Long công tử.

-Ở đây tù túng quá, tụi mình kiếm chỗ nào thoáng mát, ngồi nói chuyện cho thoải mái hơn, tao muốn biết tại sao mày là dân Sài Gòn mà lại bị đưa đi học tập ở Cà Tót, Phan Thiết.

Long gật đầu.

-Mày nói phải, tụi mình ra sau hè bên hông nhà bếp, chỗ đó ít người qua lại.

Tôi và Long công tử ngồi bên hè nhà bếp, dựa lưng vào tường. Long công tử nâng cái lon gô uống một ngụm nước rồi bắt đầu câu chuyện.

-Mùa hè năm sáu mươi sáu, tao vừa xong năm thứ nhất bên Văn khoa, một thằng quanh năm suốt tháng chỉ biết rong chơi khắp cả cái đất Sài Gòn, không có nơi nào mà thiếu dấu chân của tao, ăn chơi xả láng như vậy mà cũng xong được năm thứ nhất, đúng là chuyện đáng mừng. Để thưởng công cho mình, tao bèn lấy vé máy bay, lên đồn điền của ba tao ở Ban Mê Thuột. Lúc đầu tao chỉ định ở chơi dăm bảy ngày, trốn cái nóng nực ở Sài Gòn đi tìm chút không khí trong lành của cao nguyên, không ngờ đó là một cuộc phiêu lưu kéo dài luôn ba tháng, cho đến ngày nhập học ở Văn khoa, tao mới trở về lại Sài Gòn. Đồn điền của ba tao cách Ban Mê Thuột vào khoảng mười cây số, trên đường từ Ban Mê Thuột đến cầu Mười bốn.

Long công tử ngưng nói quay nhìn tôi.

-Mày có đến Ban Mê Thuột bao giờ chưa?

Tôi lắc đầu.

-Chưa.

Hình minh họa

-Có dịp mày cũng nên đi một lần cho biết cái xứ đất đỏ bụi mù đó, nó như thế nào. Bụi mù nhưng con người thì lúc nào cũng trong sáng, không một chút mù mờ. Ngày đầu tiên ở Ban Mê Thuột, tao lái chiếc Land Rover của ba tao dạo phố. So với mấy chiếc xe Honda hai bánh đang chạy ở phố Ban Mê Thuột, chiếc Land Rover như một con voi rừng chạy bên cạnh mấy con nai. Ngồi trên xe tao phì phà điếu thuốc lá, nhìn đời bằng nửa con mắt, thành phố gì mà buồn quá sức, bụi đỏ bám đầy khắp nơi nhìn đâu cũng một màu gạch, phố xá vắng tanh người đi thưa thớt, thỉnh thoảng vài chiếc xe nhà binh chạy vụt qua để lại một lớp bụi mù trên đường phố. Không biết làm gì cho hết giờ, tao chui vào rạp ciné Lodo ở ngay trung tâm thành phố. Được mươi phút tao phải hộc tốc chạy thoát thân, bởi vì cái nóng ngột ngạt khó thở của rạp chiếu bóng không có máy lạnh. Mới có một ngày ở Ban Mê Thuột mà tao đã ớn đến tận cổ. Ngày thứ hai, tao theo anh tài xế xe truck tên là Phục tới thăm đồn điền của ông già tao. Khi xe đã ra khỏi thành phố chừng bốn cây số, đường xá ở đây vắng bóng người di chuyển, trên quốc lộ chỉ có duy nhất một cô gái đang đi bộ. Anh Phục chỉ cô gái rồi nói “Con nhỏ đó tên Hà, mặt mũi coi dễ thương vậy mà tính tình lại cộc cằn, thô lỗ như là dân đầu đường xó chợ”. Tao quay đầu lại, chỉ kịp nhìn thoáng qua thì xe đã chạy quá xa. Tao nói với anh Phục “Anh biết cô ta hả?”. Anh Phục trả lời “Biết chớ cô Hà làm công trong đồn điền của mình, sở dĩ tôi nói cô ta khó ưa vì có xe của đồn điền chở công nhân đi làm miễn phí mà cô ta không chịu đi, cứ nhất định lội bộ”. Khi tới đồn điền, một mình tao ngồi trong văn phòng nhìn qua khung cửa kính, mới đầu tháng sáu hãy còn bốn năm tháng nữa mới đến mùa thu hoạch cà phê, cho nên cái sân đóng bao cà phê rộng mênh mông vắng hoe, chỉ có vài nữ công nhân đang làm việc. Óc tò mò khiến tao lén quan sát cô Hà. Về sắc đẹp thì đúng như anh Phục nói, Hà không có vẻ đẹp sắc sảo mặn mà, nhưng xinh xắn dễ thương như một con búp bê, còn về tính tình thì hoàn toàn khác hẳn những gì anh Phục nói. Hà vui vẻ với mọi người, ăn nói dịu dàng lại hay pha trò làm cho mấy cô công nhân cười bò lăn. Chuyện xảy ra trước mắt khiến tao không tin Hà là một con người cộc cằn. Bị sắc đẹp của Hà mê hoặc, sắc đẹp của một loài hoa nơi núi rừng hoang dã, nên ngày hôm sau tao lái chiếc Land Rover chạy rề rề theo sau Hà, suốt mấy cây số đường cô ta cắm cúi đi không một lần ngó lại. Ngày hôm sau mọi chuyện cũng diễn ra y như vậy. Sang đến ngày thứ ba, tao gần như mất kiên nhẫn, lái xe theo sau Hà nhưng trong bụng thì nản lắm rồi, đã mấy lần tao muốn bỏ cuộc quay về Ban Mê Thuột. Đúng ngay lúc ấy, Hà quay lại nhìn chăm chăm vào mặt tao rồi hỏi “Coi bộ anh rảnh quá há, tôi lội bộ mệt muốn chết, anh lái xe theo tui mấy ngày nay, anh không biết mệt hay sao?”

Long công tử ngừng kể, hắn bưng cái lon gô nước uống một hơi rồi quay sang tôi.

-Chỉ chờ chừng đó, khi nghe người đẹp mở miệng, tao mừng quá sức tắt máy xe, nhảy xuống chạy theo Hà rồi lấy giọng êm dịu nói “Tôi sợ cô mỏi chân nên muốn chở cô tới đồn điền, nhưng nghe người ta nói cô không ưa đi xe hơi, nên tôi không dám hỏi”. Hà nhìn tao rồi nói “Ai nói với anh như vậy?”. Tao trả lời “Anh tài xế Phục nói là cô chỉ thích đi bộ”. Hà phá ra cười rồi nói với tao “Tui không đi xe của đồn điền là vì mỗi lần chở tui, ông Phục lại kiếm cách tán tỉnh, anh biết không ổng hơn tui cả chục tuổi, già khú đế, thiếu điều có cháu rồi mà còn bày đặt dụ dỗ tui”. Tao nghĩ thầm trong bụng, tôi cũng đang tán tỉnh cô đây nè, nghĩ như vậy nhưng tao lại nói “Tôi chỉ muốn giúp cô thôi”. Hà cười vui vẻ “Được rồi tui sẽ đi xe, nhưng anh phải thề với trời đất là anh sẽ không học cái thói dê xồm của ông Phục”. Tao lập tức đưa hai tay lên trời rồi nói “Xin thề”. Miệng nói nhưng trong đầu lại nghĩ. Khi mở lời tán tỉnh em, anh Phục quên mất chuyện cưa sừng làm nghé, nên mới lâm cảnh điêu tàn như vậy. Với tao bước đầu khó khăn qua đi không mấy khó, kể như tao đã làm quen được với Hà.

Tôi hỏi Long công tử.

-Bộ Hà không biết mày là con ông chủ, là ông chủ nhỏ của đồn điền hay sao?

Long công tử nói.

-Theo tao nghĩ, ngay lúc ấy thì không. Những ngày sau đó ở Ban Mê Thuột là những ngày tao thật sự sống trong vui vẻ, đầy thoải mái bên Hà. Sáng chủ nhật khi mặt trời lên khá cao, tao lái chiếc Land Rover chở Hà đi lang thang quanh phố Ban Mê Thuột. Đường sá trong thành phố nhỏ hẹp ngắn ngủn so với Sài Gòn, chỉ mới đạp ga vài lần đã đi hết một con đường. Tao cho xe chạy dọc theo đường Ama Trang Long, Hà ngồi trên chiếc ghế bên cạnh luôn miệng giải thích rõ ràng những gì tao muốn biết, gặp đường Tôn Thất Thuyết tao cho xe quẹo phải, chạy ngang qua những dãy nhà khang trang sạch sẽ, khi đến đường Hoàng Diệu, tao quẹo phải một lần nữa rồi hỏi Hà muốn đi đâu. Câu trả lời của Hà nghe thật hết sức dễ thương “Anh muốn đi đâu tùy ý, em thuộc từng ngóc ngách của thành phố này vì em lớn lên ở đây, nhưng đây là lần đầu tiên em ngồi trên một chiếc xe hơi sang trọng chạy trong phố Ban Mê Thuột”.

Hình minh họa

Long công tử quay sang hỏi tôi.

-Mày biết xe Land Rover rồi chứ gì? Chiếc xe hai cầu dùng để chạy trong đồn điền, có thể chở nặng, băng rừng vượt suối, vậy mà Hà coi đó là chiếc xe sang trọng. Chuyện trò với Hà được vài câu xe đã đến đường Lý Thường Kiệt, tao phân vân không biết phải quẹo trái hay phải. Cuối cùng tao và Hà xuống xe đi bộ, tao muốn tận tay sờ vào cái thành phố Ban Mê Thuột chứ không muốn làm kẻ cưỡi ngựa xem hoa. Khi ngang qua một quán cà phê có bề ngoài rất là đẹp, trang hoàng bắt mắt ở đường Lý Thường Kiệt, tao kéo Hà vào vì tò mò muốn thưởng thức cà phê Ban Mê Thuột. Mang danh là thủ phủ cà phê của miền Nam, chắc chắn cà phê ở đây không thể dở được. Trái với cái vỏ hào nhoáng bên ngoài, trong quán cà phê không có gì đặc sắc, tao gọi hai ly cà phê phin rồi cùng Hà ngồi thưởng thức những bản nhạc tiền chiến phát ra từ mấy cái loa hàng trăm watt treo trên tường. Cà phê trong quán rất đậm đặc, vị khá ngon nhưng mùi thơm thì hoàn toàn không có. Chắc tao đòi hỏi hơi nhiều khi muốn so sánh với những quán cà phê nổi tiếng ở Sài Gòn. Tao hỏi Hà biết quán cà phê nào ngon nhất ở đây không. Hà cúi mặt lí nhí trong miệng “Em nói ra sợ anh không tin, từ nhỏ tới giờ em chưa bao giờ uống một giọt, nói gì đến một ly cà phê. Làm sao em biết ở đâu có cà phê ngon. Nếu anh hỏi em loại rau cải nào ngon hay dở, tốt hay xấu em sẽ trả lời được, bởi vì ngày xưa em vẫn phụ mẹ bán rau cải trong chợ Ban Mê Thuột. Thực ra không phải vậy đâu, em bưng một cái rổ nhỏ trong đó gồm có độ chục trái chanh, một mớ hành lá, mươi trái ớt, bán dạo cho những người khách ngừng xe bên lề đường trước chợ, kiếm được đồng nào hay đồng nấy, phụ giúp mẹ”. Những câu nói của Hà khiến tao bắt đầu suy nghĩ rồi đâm ra nể trọng cái lối ăn nói chơn chất thật thà, không một chút che giấu của cô ấy. Qua khung cửa sổ của quán cà phê, nắng đã lên cao đem theo cái nóng hâm hấp của cao nguyên chụp xuống thành phố, bụng đã bắt đầu thấy xót vì ly cà phê quá đậm, tao và Hà rời quán, thả bộ đến nhà hàng Mỹ Cảnh. Tao biết nhà hàng này vì lúc sáng tao đã lái xe chạy ngang qua.

Long công tử ngẩn nhìn lên bầu trời Sông Mao xanh ngắt một màu, đôi mắt của hắn rõ ràng đang chìm trong quá khứ. -Khi hai đứa đã ngồi yên trong nhà hàng, tao kêu một tô súp măng cua, sau đó là hai dĩa steak ăn với sà lách và khoai tây chiên, một dĩa mì ống xào thịt bò, thêm một chai bia 33 cho tao và một ly soda chanh cho Hà. Thức ăn dọn đầy bàn, tụi tao vừa ăn vừa trò chuyện vui vẻ, nhờ vậy mà tao biết được hoàn cảnh cũng như đời sống kinh tế của Hà. Với giọng nói tự nhiên đầy chân thật, không một chút ngại ngùng, Hà kể cho tao nghe về cuộc sống túng quẫn nghèo khó của gia đình mình. Mười sáu tuổi, đậu bằng trung học đệ nhất cấp, cha chết vì tai nạn xe, Hà bỏ học đi làm kiếm tiền nuôi thân, hơn ba năm làm công trong đồn điền của ba tao, cuộc sống tạm ổn định, tiền lương chỉ đủ sống đắp đổi qua ngày. Tuy vậy Hà vẫn cho là mình rất may mắn khi có được một việc làm ổn định ở cái xứ Ban Mê Thuột đất đỏ buồn hiu, nơi mà mọi người thường gặp khó khăn trắc trở trong khi tìm kiếm công ăn việc làm. Không biết chút xíu gì về Ban Mê Thuột nhưng tao vẫn gật đầu đồng ý với Hà, rồi than phiền về thành phố vắng vẻ, buồn quá sức so với Sài Gòn. Hà nói với tao “Bởi vì anh rảnh rỗi quá, cho nên sinh ra buồn chán, ngày mai em sẽ dẫn anh đến nơi này và hy vọng anh sẽ thích. Sáng mai, nhớ đón em trên đường như mọi lần”. Tao thanh toán tiền ăn rồi để một mớ tiền tip trên bàn. Khi vừa bước chân ra khỏi tiệm, tao ngạc nhiên khi thấy Hà đưa cho tao mớ tiền rồi nói “Anh để quên tiền nè”. Tao cầm mấy tấm giấy bạc trên tay Hà, vô tình nhìn thấy tay áo dài trắng may bằng loại vải rẻ tiền mà Hà đang bận, tuy chưa rách nhưng đã sờn nhiều chỗ quanh cổ tay áo. Tao chợt hiểu ra, đồng tiền đối với Hà rất là quý. Sau khi giải thích với Hà chuyện phải cho người hầu bàn chút tiền gọi là cảm ơn, tao trở vào tiệm giải quyết chuyện tiền tip. Khi tao bước ra cửa, Hà nói với tao, câu nói chắc suốt đời tao không bao giờ quên “Số tiền mà anh trả cho bữa ăn hôm nay bằng nửa tháng lương của em, tiền anh cho người ta đủ để em sắm một đôi dép mới”. Tao đứng như trời trồng, ngượng ngùng lúng túng. Khi đã hiểu rõ Hà muốn nói gì, một chút tình thương xuất phát tận đáy lòng chợt đến với tao.

Hình minh họa

Long công tử ngưng kể chuyện, nó hỏi tôi.

-Mấy giờ rồi?

Tôi nhìn đồng hồ.

-Mười một giờ hơn.

Long công tử hối tôi.

-Mày về ăn cơm đi, tao phải đi lãnh phần cơm của tao. Chủ nhật tuần tới rảnh qua đây chơi, tao cần có người để tâm sự, dân Sài Gòn như tao, một mình sống lạc loài trong khối Bình Thuận, quả thật là buồn còn hơn là ở tù.

Tôi nắm chặt tay Long công tử, an ủi hắn.

-Mày nói đúng, yên chí đi còn có tao ở đây, gắng ăn uống, thuốc thang, tuần tới tao qua thăm mày. À quên nữa, bịnh sốt rét của mày tới đâu rồi?

Long công tử với nụ cười rạng rỡ trên môi.

-Mẹ nó có mấy viên thuốc Chloroquine, cái thứ thuốc mà ngày xưa tụi mình chê lên chê xuống thiếu điều muốn vứt vào thùng rác, không hiểu sao bây giờ nó như là thuốc tiên, tao mới uống có mấy viên mà con vi trùng sốt rét Cà Tót, nó biến mất tiêu.

Cuối tuần đó, tôi không qua thăm Long công tử được, phải đợi thêm hai tuần lễ nữa tôi mới có dịp qua thăm nó, lý do rất giản dị vì tất cả khu trung úy gồm có năm khối phải tập trung lại, bốn khối đi đến phi trường dã chiến Sông Mao để gỡ vỉ sắt PSP, đem về làm hàng rào bao quanh khu trung úy, khối còn lại lo phần đào đất để chôn vỉ sắt PSP xuống. Phi trường này trước đây do công binh Mỹ thiết kế và xây dựng để cho phi cơ vận tải đáp xuống tiếp tế thực phẩm đạn dược, cho những căn cứ quân sự quanh Sông Mao. Hôm nay phi trường trở thành vô dụng đối với cách mạng, vì Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đánh nhau với Mỹ bằng xe tăng và trọng pháo, chứ không dùng phi cơ. Hơn nữa nhu cầu trước mắt là cần chỗ chắc chắn để nhốt tù, cho nên phải gỡ PSP đem về làm hàng rào trại tù.

Chỉ tiêu của Việt Cộng đưa ra là, mỗi ngày hai tù nhân phải đem từ phi trường về trại một tấm PSP. Đoạn đường di chuyển dài khoảng hai cây số, muốn khiêng, vác, cõng, gánh, lôi , kéo, làm gì cũng được tùy tù nhân, miễn sao đem được tấm vỉ sắt về trại.
Khi đám tù nhân chúng tôi đến phi trường, Trung úy Lợi nhìn phi đạo rộng mênh mông, dài ngút mắt được lót bằng vỉ sắt, hắn lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán.

-Tao đã quan sát kỹ rồi, phi trường Sông Mao có hai phi đạo, phi đạo nhỏ dành cho trực thăng, dùng vỉ sắt M8, phi đạo dài và rộng dành cho vận tải cơ, dùng vỉ sắt M8A1. Tấm vỉ sắt M8 có tám mươi bảy cái lỗ to như cái chén, bề ngang của nó đo được ba mươi tám phân, bề dài ba mét, nặng ba chục kí lô, thứ này Việt Cộng không muốn dùng nó làm hàng rào, vì sợ tù nhân có thể nhìn xuyên qua những cái lỗ này, quan sát được bên ngoài và bám theo những cái lỗ đó leo rào vượt ngục. Thứ mà Việt Cộng muốn là loại M8A1, không có lỗ, bề ngang sáu mươi phân, bề dài ba mét sáu, nặng bốn mươi lăm kí lô. Hai thằng tù khiêng một tấm vỉ sắt M8A1, tuy không nặng lắm nhưng lại cồng kềnh, đi gần hai cây số coi bộ hơi oải à nha.

Tôi nhìn Trung úy Lợi.

-Sao mày rành quá vậy? Biết hai, ba loại vỉ sắt, biết được tám mươi bảy cái lỗ. Mày đếm hồi nào vậy?

Hình minh họa

-Đếm cái con mẹ gì, tất cả những thông số kỹ thuật đó tao học ở Trường công binh. Chỉ có mấy con số mà không nhớ thì đi lính bộ binh như mày cho được việc.

Tôi sửa lưng nó.

-Phải rồi mấy cái con số vô dụng đó thì mày nhớ kỹ, còn nguyên cuộn dây dẫn điện to như cái cối đá thì mày quên mất tiêu. Phải không?

Trung úy Lợi cười.

-Vô dụng sao được mày, không có tao làm sao tụi mày biết tấm vỉ sắt mà tụi mày sẽ khiêng, nặng đúng bốn mươi lăm kí.

Tôi đề nghị với Trung úy Lợi.

-Hai thằng khiêng một tấm vỉ sắt nặng bốn mươi lăm kí, đi hai cây số, đúng như mày nói coi bộ hơi oải gân đó. Hay là mình kêu thêm hai thằng nữa, bốn thằng gánh một tấm, một ngày đi hai lần, sáng một chuyến, chiều một chuyến, vừa nhẹ nhàng vừa thoải mái. Khỏe re như con bò kéo xe.

Trung úy Lợi tán đồng.

-Mày nói đúng, để tao đi kêu gọi thêm hai thằng nữa.

Bốn thằng tù tụi tôi, dùng một cọng kẽm gai được tháo ra từ hàng rào cột vào hai đầu tấm vỉ sắt, lòn khúc cây qua vòng kẽm gai, gánh tấm vỉ sắt về. Mỗi ngày gánh hai chuyến không có gì là mệt nhọc, chỉ có chuyện nguy hiểm là khi gỡ kẽm gai nơi hàng rào của phi trường, có thể bị trúng mìn. Nhiều ông sĩ quan ở đơn vị tác chiến than thở, đánh đấm bao nhiêu năm không sao, giờ đây vô tù, bị đạp mìn giống như chết lỗ chân trâu, lảng nhách.

Bốn khối trung úy lo vận chuyển vỉ sắt từ phi trường về trại, khối còn lại lo phần đào đất để chôn tấm vỉ sắt. Bề dài của một tấm vỉ sắt là ba mét sáu mươi phân, chôn sâu xuống đất sáu mươi phân, chiều cao còn lại của hàng rào là ba mét. Gần bảy trăm tù trung úy làm việc suốt hai tuần, cái hàng rào sắt kiên cố đã hoàn tất. Bốn góc trại, mỗi góc có một cái tháp canh cao hơn hàng rào, mỗi tháp canh được bố trí một cái đèn pha và một khẩu đại liên phòng không 50. Loại súng này bắn máy bay còn rớt, sá gì mấy thằng tù ốm nhom cho dù có leo lên tới đỉnh của hàng rào, cũng sẽ làm mồi ngon cho mấy cây đại liên phòng không 50 này. Nhìn bức tường cao ngút mắt, thêm mấy họng súng đại liên đen sì, lúc nào cũng sẵn sàng nhả đạn, đa số tù nhân đều nhắm mắt chào thua, trừ những vị nào có máu Papillon mới dám nghĩ đến chuyện vượt ngục.

Xong phần hàng rào, tù trung úy được lệnh khiêng thêm vỉ sắt về trại. Bao nhiêu tháng rồi tuy không có đi tu nhưng tù nhân phải ăn chay nằm đất, chuyện ốm yếu và bịnh tật dễ xảy ra, hôm nay được cách mạng ưu ái chăm lo sức khỏe của tù nhân, cho khiêng PSP về làm gường ngủ nên mọi người đều hăng hái làm lao động. Mỗi phòng tám người, được lấy bốn tấm vỉ sắt kết với nhau thành một cái gường, bề ngang 2 mét 4, dài 3 mét 6, kê trên hàng chục viên gạch xi măng. Tính ra mỗi người được gần nửa mét bề ngang để nằm ngủ. Tới đây tù cải tạo Sông Mao đã có nơi ăn chốn ở an toàn đúng như ông bà mình nói “Có an cư thì mới lạc nghiệp”. Tù nhân chỉ còn một việc duy nhất là đi lao động.

Hôm thứ bảy, Trung úy Lợi “liên hệ” với ai đó mua được ba tán đường, liên hệ là chữ tôi mới học được của cách mạng, nó có nghĩa là liên lạc móc nối với người khác, trao đổi tin tức hoặc buôn bán, đại khái là như vậy. Thật ra tôi chưa hiểu rõ hoàn toàn ý nghĩa chữ “liên hệ” để sử dụng cho chính xác.

Chủ nhật sau khi ăn sáng xong, tôi lấy một bộ quần áo của tôi, sau đó gói một tán đường vào trong tờ giấy báo to bằng bàn tay, đem qua khối Bình Thuận cho Long công tử, hai tán đường còn lại là phần của tôi và Trung úy Lợi.

Hình minh họa

Hơn hai tuần không gặp, hôm nay Long công tử trông khỏe hẳn ra, giống như hắn lên được vài kí thì phải. Sau khi đưa tán đường cho Long công tử, tôi nói với hắn.

-Ngày đi học tập ngoài bộ đồ bận trên người, tao còn mang theo hai bộ nữa để thay đổi. Theo tao đoán suốt mấy tháng qua, mày chỉ có một bộ bà ba đen này thôi phải không?

Long công tử hỏi lại tôi.

-Sao mày biết?

-Mấy tuần trước khi gặp mày nơi cổng trại, ngoài cây gậy đánh chó trên tay, mày đâu có gì nữa.

Không đợi Long công tử trả lời, tôi lấy trong ví ra một đồng bạc mới tinh còn thơm mùi giấy, trịnh trọng đưa cho hắn.

-Tuần trước đổi tiền, ở trong trại của mình quản giáo thu tiền của tù nhân đi đổi giùm, cứ năm trăm đồng Việt Nam Cộng Hòa đổi lấy một đồng tiền Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa. Tao còn một ngàn rưỡi tiền Việt Nam Cộng Hòa, đổi được ba đồng tiền mới. Trung úy Lợi lấy một đồng mua được ba tán đường, còn lại hai đồng tao đem tặng mày một đồng, mày giữ lấy để phòng khi hữu dụng.

Long công tử cười, nụ cười đầy sảng khoái.

-Bắp cải à cất tiền đi, khi nào cần tao sẽ qua mày, còn quần áo thì tao lấy chớ vì đúng là tao đang cần, mấy tháng rồi chỉ có một bộ duy nhất trên người, hôm nay nó bốc mùi rồi. Bây giờ tao xuống nhà bếp xin một lon gô nước sôi, bỏ tán đường vào, hai thằng mình ra ngồi sau hè, kể chuyện đời xưa nhâm nhi chút nước đường. Cứ tưởng tượng như tụi mình đang ngồi ở Thanh Thế, ăn cái bánh Pâté Chaud với vỏ mỏng giòn rụm, gói gọn lấy miếng thịt bằm thơm mùi bơ, uống ly cà phê sữa nóng, nhìn thiên hạ dẫn nhau bát phố Sài Gòn mà nhớ lại “Những ngày xưa thân ái”. Có Biên, có Dung, có mày, có tao, có cả một bầu trời của tuổi thanh xuân tràn đầy hạnh phúc.

Tôi khen Long công tử.

-Ý kiến của mày quả thật tuyệt vời, không có chỗ chê, tao ra sau hè đợi mày.

Được chừng mươi phút sau, Long công tử bưng lon gô nước gói trong miếng vải bao cát, hắn ngồi xuống bên cạnh tôi.

-Nè Bắp cải, mày còn nhớ lần tụi mình ăn tối ở Thanh Bạch không?

Tôi nhắm mắt lại, để cho hồn của mình bay về quá khứ, miệng nói với Long công tử

-Không nhắc đến thì thôi, nhắc lại nhớ quá trời, nhớ da diết, nhớ quay quắt, nhớ điên cuồng.

Giọng nói của Long công tử vang lên bên tai tôi.

-Nói cho tao biết, chuyện tình của mày với nàng Dung xinh đẹp, kết cuộc có đẹp hay không?

Tôi mở mắt nhìn Long công tử, thong thả kể cho hắn nghe về đời sống quân ngũ của mình như thế nào, rồi chuyển sang chuyện tình cảm giữa tôi với Dung và Cúc. Tôi say sưa kể lại từng chi tiết nhỏ nhặt vụn vặt, từ chuyện tôi được đọc lá thư của nó viết cho Dung, chuyện hai người Quân cảnh đưa tay cắt đứt tôi và Dung nơi đuôi chiếc vận tải cơ C130, đến chuyện đám cưới của tôi và Cúc nơi quán cơm gần bến xe. Cuối cùng tôi thú thực với Long công tử.

-Lý trí nói với tao rằng, hãy sống cho xứng đáng với mối tình đậm đà sâu sắc của Cúc, trong khi trái tim của tao thì nhất định không chịu, một hai cứ bắt tao phải nghĩ đến Dung. Từ ngày đứt phim tới hôm nay, tao sống bằng lý trí, quyết không để trái tim của tao được quyền can dự vào.

Hình minh họa

Long công tử thở dài.

-Hình như phần số của mày đã sắp sẵn như vậy rồi, mày có cố gắng vùng vẫy cũng vô ích mà thôi, hãy an hưởng hạnh phúc mà định mệnh đã dành cho mình.

Long công tử bưng cái lon gô lên.

-Tao bỏ hai phần ba tán đường vào lon gô nước sôi, một phần ba tán đường tao cho thằng nấu bếp. Tội nghiệp thằng tốt bụng quá sức, cứ vài ngày nó lại cho tao một miếng cơm cháy. Mày đừng có nghĩ là mấy tay nấu bếp muốn cho ai cơm cháy thì cho, không phải như vậy đâu, tất cả cơm cháy phải chia đều ra cho mọi người. Anh chàng nấu bếp chỉ được phần cơm cháy dôi ra chút đỉnh, thấy tao yếu đuối bịnh hoạn, nên tay nấu bếp cho tao phần dôi ra mà hắn có, để tao “bồi dưỡng”.

Tôi đùa với Long công tử.

-Chắc tại có thêm chút cơm cháy mỗi bữa ăn, cho nên hôm nay mày mập ra thấy rõ, chỉ có điều.

Tôi kéo vai áo bà ba đen của Long công tử, đưa mũi giả vờ hít mấy cái, rồi nói.

-Có chuyện này tao muốn hỏi mày, thằng tù nào cũng hôi ình vì đi làm lao động ngoài nắng, hết lớp mồ hôi này đến lớp mồ hôi khác tích tụ trên người, thấm vào trong quần áo, một tuần mới được đi tắm một lần cho nên hôi là phải. Riêng mày chắc mấy tháng rồi chưa tắm phải không? Người của mày còn hôi hơn tao gấp mấy lần.

Long công tử than thở.

-Tao biết chớ, đi tắm là một đặc ân, nhưng mà từ trại ra đến đập nước xa quá, tao đi đâu có nổi. Biết là mình hôi hám đó nhưng đành chịu thôi, cho đến hôm nay tao mới khỏe lại, lần tới tao sẽ đi tắm, tiện thể sẽ thay bộ đồ đen này bằng bộ đồ của mày mới cho tao.

Bắt chước Long công tử, tôi dùng những chữ mới học được nói với nó.

-Khi tới nơi tắm, mày nhớ “tranh thủ” tìm thức ăn để “cải thiện”. Khi đang tắm dùng chân của mày rà trong lớp cát dưới đáy sông, nếu gặp được vật gì cân cấn dưới chân, đó là con chem chép to cỡ hai, ba ngón tay. Với mười lăm phút tắm giặt, thằng dở nhất cũng mò được năm, bảy con chem chép, đem về luộc rồi bỏ vô chén cháo ăn buổi sáng. Tao không cần nói, mày cũng biết chén cháo ngon ngọt bổ dưỡng cỡ nào. Đó là việc đáng nhớ nhất khi đi tắm mà tao phải căn dặn mày, còn chuyện giặt quần áo, tắm cho sạch sẽ bớt hôi, chắc cũng không quan trọng lắm đâu. Mày không nghe người ta thường nói đùa với nhau “Trâu bò mấy tắm, mà một con cũng bán được cả chục ngàn” hay sao? Bây giờ chuyện quan trọng là, tao chỉ muốn mày kể tiếp cho tao nghe về người tình Ban Mê Thuột của mày.

Long công tử nhấp một chút nước đường rồi đưa cái lon gô cho tôi. -Mấy tuần trước tao kể tới đâu rồi? À, tao nhớ ra rồi. Sáng hôm sau tao lái xe tới khúc đường cũ, Hà đang lửng thửng thả bộ dọc theo quốc lộ, khi nghe tiếng xe ngừng lại sau lưng, Hà quay người mở cửa xe phóng lên rồi nói với tao cứ tiếp tục chạy. Tao lái xe được cả chục cây số rồi mà chưa thấy Hà nói gì về nơi sắp đến, chỉ nghe cô ta vui vẻ kể cho tao nghe chuyện đi câu cá, cho đến khi tao nhìn thấy cây cầu khá dài và lớn chắn ngang phía trước. Hà nói “Trước mặt anh là cầu Mười bốn, bắc ngang con sông Serepok. Sở dĩ người ta gọi là cầu Mười bốn vì nó nằm cách Tòa hành chánh Thành phố Ban Mê Thuột đúng mười bốn cây số. Ở hai đầu cầu đều có trạm gác, anh phải ngừng lại để mấy ông lính kiểm soát”.  Khi tao ngừng xe lại, mấy người lính bao quanh tao với giọng nói đầy thân thiện “Ông cụ đâu? Ông cụ đâu?”.

Hình minh họa

Vì quá bất ngờ, tao ngớ người ra không biết trả lời như thế nào. Một người lính nhìn tao “Anh là tài xế mới của ông cụ hả?”. Sau vài giây suy nghĩ, tao nói “Dạ đúng”. Người lính nói “Tụi tôi tưởng ông chủ đồn điền đem bánh mì thịt cho chúng tôi”. Lúc bấy giờ tao mới hiểu ra, khi thấy chiếc xe Land Rover của ba tao, những người lính Địa Phương Quân giữ cầu tưởng ba tao đem bánh mì đến ủy lạo. Gì chứ chuyện giao tế tao rành quá sức, tuy trong xe không có bánh mì nhưng tao nghĩ ngay đến mấy cây thuốc lá để sau thùng xe, mà tao mua để hút khi ở Ban Mê Thuột. Không một chút chần chừ, tao đi vòng ra sau xe, lấy một cây thuốc Lucky “Không có bánh mỳ nhưng có cái này, tặng mấy anh hút cho ấm lòng khi canh gác”. Có cây thuốc lá làm quà, mấy người lính quay sang hỏi Hà “Cô Hà đi câu cá phải không?”. Hà trả lời “Dạ, con dẫn anh tài xế mới này đi câu cho biết”. Tao cho xe chạy chầm chậm qua cầu, bề ngang của mặt cầu chỉ vừa đủ cho một chiếc xe, thêm một lằn nhỏ riêng biệt rộng khoảng một mét dành riêng cho khách bộ hành. Theo như tao ước đoán, vào khoảng hai, ba chục năm về trước khi xây cất cây cầu này, xe hơi thời bấy giờ chẳng có bao nhiêu, người Pháp vì muốn tiết kiệm tiền nên họ thiết kế cây cầu chỉ cần cho một lằn xe là đủ rồi. Vì lý do đó, những người lính Địa Phương Quân đóng đồn ở đây có hai nhiệm vụ, ban ngày họ là cảnh sát giao thông lo việc điều hành xe cộ lưu thông trên cầu, đêm đến họ là lính gác giặc bảo vệ cây cầu.

Nắng đã lên cao, Long công tử nhắm mắt lại, hắn lấy cái nón may bằng vải bao cát che mặt, rồi nói.

-Khi xe đã qua khỏi cầu được một đoạn ngắn, Hà chỉ tao rẽ vào một con đường mòn, đậu xe lại. Hai đứa bắt đầu lội bộ qua cánh rừng thưa đến một căn nhà tranh vách đất, với cánh cửa chỉ khép hờ. Hà nói với tao “Đây là nhà của cậu em, mình xuống bến sông lấy ghe, trên ghe lúc nào cậu em cũng để sẵn đầy đủ mọi thứ cần thiết để câu cá. Mà nè, anh có biết bơi không?”. Tao nói với Hà “Không những biết bơi mà còn bơi giỏi nữa”. Tụi tao xuống một chiếc ghe nhỏ, phải gọi là thuyền độc mộc mới đúng, vì nó được làm bằng một thân cây khá to, bề ngang của thuyền khoảng chừng bảy, tám tấc, chiều dài hơn ba thước. Chưa tới mùa mưa lũ nên nước sông đỏ ngầu, chảy lờ đờ, Hà sử dụng mái chèo một cách thành thạo, con thuyền lướt đi nhẹ nhàng trên sông. Trên thuyền với hàng chục cây cần câu không có đọt, dài khoảng hơn một sải tay đã cột sẵn cước và lưỡi câu, mồi là mấy con sâu đựng trong một cái lon nhỏ. Hà chèo thuyền dọc theo bờ sông, khoảng hơn mười mét lại cắm một cần câu, cột thêm sợi dây đỏ để làm dấu. Sau khi đã cắm hết cần câu, Hà để cho thuyền trôi lửng lơ trên sông rồi nói với tao “Mình nằm đây chờ, trong lúc đợi cá cắn câu, anh nhìn cây cầu Mười bốn trước mặt mình đi, hôm nay nếu may mắn mình sẽ thấy được mấy ông phi công Việt Nam, lái máy bay bà già chui qua gầm cầu”.

Long công tử dỡ cái nón vải bao cát, nhìn quanh một vòng rồi mới nói tiếp.

-Trước mắt tao, cây cầu với ba cái chân cột khổng lồ hình quả trám đỡ lấy mấy nhịp cầu với những đường cong mềm mại không đồng đều ở bên trên, thành cầu đúc bê tông cốt sắt hình chữ V thật đơn giản nhưng lại phối hợp rất nhịp nhàng với chân cầu, tất cả những yếu tố trên, tạo cho cây cầu có một nét đẹp hút hồn. Giữa núi rừng cao nguyên hoang vắng, cây cầu đứng một mình, lung linh soi bóng nước, như một tác phẩm nghệ thuật mà người kỹ sư Pháp nào đó đã bỏ công tạo nên. Nhờ vào chiều cao của một chiếc xe GMC, đang bò chầm chậm qua cầu, nên tao ước lượng được chiều cao từ mặt nước sông đến đáy cầu phải cỡ chừng hai chục mét, khoảng cách rộng nhất giữa hai chân cầu độ chừng năm mươi mét. Với những khoảng cách lý tưởng như vậy, tao tin rằng chiếc phi cơ bà già có thể chui qua gầm cầu mà không gặp bất cứ trở ngại nào. Nhưng mà đó chỉ là cái nhìn của một thằng sinh viên Văn khoa như tao mà thôi, còn chuyện chui qua được gầm cầu hay không phải hỏi mấy ông phi công Việt Nam còn trẻ tuổi, thích phiêu lưu mạo hiểm mới biết được. Trong lòng bán tín bán nghi, một thoáng nghi ngờ về câu nói của Hà, tao hỏi “Em thấy máy bay chui qua gầm cầu rồi phải không?”. Hà trả lời “Có, em được thấy vài lần khi câu cá ở đây, lần nào cũng như lần nấy, hồi hộp muốn đứng tim, khi thấy chiếc phi cơ L19 xuất hiện ở cuối chân trời, trông nó giống như một con đại bàng sải cánh, lướt trên mặt sông, quắp lấy con mồi rồi bay vút lên trời cao”. Dưới ánh nắng rực rỡ của buổi sáng mùa hè, Hà ngồi nơi cuối thuyền, trong bộ đồ bà ba với những đường cong tuyệt đẹp, hai tay ôm lấy mái chèo lắc nhẹ, đẩy con thuyền trôi lững lờ về phía mặt trời. Nhìn hình ảnh của một thiếu nữ khỏe mạnh, ở lứa tuổi đôi mươi chèo thuyền trên sông, xa xa thấp thoáng cây cầu nổi bật trên nền trời xanh màu ngọc bích, trong lòng phân vân tao tự hỏi, không biết người đẹp hay cây cầu đẹp.

Hình minh họa

Tôi đưa lon gô nước đường cho Long công tử.

-Làm một hơi cà phê sữa Thanh Thế đi mày, em xinh em đứng một mình cũng xinh, cần gì phải có cây cầu làm hậu cảnh.

Long công tử dường như không quan tâm đến lời nói của tôi cho lắm, hắn nói tiếp.

-Hà cho thuyền quay ngược lại về phía thượng nguồn, cặp sát vào bờ sông, từ từ dỡ những cần câu lên, hơn chục cái cần câu mà chỉ có được một con cá nặng ước chừng một kí. Tao tính toán trong đầu, cất công từ Ban Mê Thuột đến đây, chèo thuyền bơi dọc theo bờ sông mấy tiếng đồng hồ chỉ để bắt được một con cá. Đời sống của những người dân quê ở đây, sao mà khổ quá vậy. Tao hỏi Hà “Sao ít cá quá vậy em?”. Hà giải thích cho tao hiểu “Câu cá Lăng đuôi đỏ ở trên sông này phải giăng dây ngang sông, cột thật nhiều lưỡi câu, dùng mồi tươi như là ếch, nhái, mới có hy vọng bắt được nhiều cá lớn. Chuyện đó chỉ dành cho những người câu cá chuyên nghiệp. Câu cá như em, gặp ngày may mắn lắm cũng chỉ bắt được dăm ba con cá Lăng cỡ này, họa hoằn lắm mới được con cá lớn hơn chút xíu. Mà anh có biết không, em chỉ cần một con cá thôi, như vậy là đủ rồi”. Nhìn gương mặt tươi cười hớn hở của Hà, tao hỏi “Em định làm gì với con cá này”. Hà nói với tao “Cá Lăng đuôi đỏ ở chợ Ban Mê Thuột bán rất được giá, em đem con cá xuống chợ nhờ chị Ba bán cá, bán giùm em. Sau đó em sẽ dùng số tiền bán cá, mua một đôi dép mới”. Tao lặng người đi vì thương cảm, thương cho những ước mơ sao mà nó bình dị quá chừng, mấy ngày trước đó tao cất công theo đuổi Hà, vì thích cái vẻ đẹp ngây thơ duyên dáng của một cô gái quê. Và nhất là muốn thỏa mãn cái tự tôn mặc cảm của mình, của một thằng công tử sống ở thủ đô, coi tiền như rác, quanh năm chỉ biết vung tiền qua cửa sổ để mua lấy những “Cuộc vui đầy tháng, trận cười suốt đêm”. Cho đến khi đi ăn trưa ở nhà hàng Mỹ Cảnh, rồi đi câu cá trên sông Serepok, biết được hoàn cảnh khó khăn của Hà, tao như lạc bước qua một vùng đất đầy kỳ hoa dị thảo đã bị lảng quên bởi thời gian. Tao hoàn toàn bị khuất phục trước cái trong sáng giản dị, hồn nhiên của Hà. Từ chỗ đi chinh phục tao trở thành kẻ bị chinh phục. Mặt trời đứng bóng, Hà lấy trong cái giỏ xách hai củ khoai “Anh đói rồi phải không? Anh một củ, em một củ, ăn xong mình trở về Ban Mê Thuột”.

Tôi cười rồi nói với Long công tử.

-Coi bộ mày bị lậm thuốc rồi. -Lậm quá đi chớ, nếu không tại sao Hà xách con cá đi vào chợ, tao lại lẽo đẽo theo sau. Đưa con cá cho chị Ba, cầm tiền trong tay Hà quẹo qua hàng bán dép guốc. Sau một lúc lựa chọn, mang thử, Hà mua đôi dép được làm bằng một loại nhựa rẻ tiền màu xanh, nhỏ hơn chân của Hà ước chừng một phân. Thấy lạ, tao nhắc mà như hỏi Hà “Tại sao em chọn đôi dép quá nhỏ như vậy, khi đi sẽ đau chân cho mà coi”. Hà giải thích “Đi vài ngày, quai dép sẽ giãn ra là vừa”.Khi hai đứa tao bước ra khỏi chợ, nắng chiều đổ xuống mái tóc đen huyền óng mượt của Hà, hắt lên cái bóng dáng nho nhỏ xinh xinh trải dài theo hè phố, tao đi bên Hà mà trong lòng mơ thấy hai cái bóng nắm tay nhau. Mua được đôi dép, nét vui tươi hớn hở hiện rõ trên gương mặt của Hà. Tao dẫn Hà vào nhà hàng, cũng lại là nhà hàng Mỹ Cảnh, ở Ban Mê Thuột vào thời buổi đó, hình như chỉ có độc nhất một cái nhà hàng này mà thôi. Chuyện cũng dễ hiểu, vì tao mới tới Ban Mê Thuột chưa được một tuần, nên không biết nhiều về thành phố này.  

Hình minh họa

Tao chọn một cái bàn nằm kín đáo trong góc, khi thấy tao gọi toàn là những món ăn đắc tiền, ông chủ nhà hàng Mỹ Cảnh là người Việt gốc Hoa hỏi tao với giọng nói lơ lớ “Nị ở Sài Gòn mới lên Ban Mê Thuột phải không? Vậy mà ngộ lại thấy nị quen lắm”. Tao cười rồi pha trò “Trông tôi chắc giống mấy tay du đảng trong phim Hồng Kông, đang chiếu ở rạp hát Lido chứ gì”. Ông chủ nhà hàng đứng suy nghĩ một lúc rồi nói “Ngộ biết nị giống một người, mà ngộ nghĩ hoài không ra”. Từ nãy đến giờ Hà ngồi im lặng bên tao, đột nhiên lên tiếng “Giống ông chủ đồn điền cà phê phải không?”. Ông chủ nhà hàng Mỹ Cảnh vỗ tay cái bốp, rồi nói “Đúng rồi, nị đúng là con của ông chủ đồn điền Nam Long, ngộ có mấy mẫu đất trồng cà phê gần đồn điền của ông chủ Nam Long”. Vừa nói ông chủ hàng Mỹ Cảnh vừa cười thân thiện “Ông chủ lớn Nam Long có ghé đây ăn uống vài lần, khi nào về Sài Gòn nị cho ngộ gởi lời thăm ông chủ”. Trong suốt bữa ăn, Hà nói cho tao nghe là ngay cái ngày đầu tiên, cô ấy đã biết tao là con ông chủ đồn điền, không phải qua giọng nói, cách ăn bận của người Sài Gòn, lối tiêu xài xa xỉ, mà là tao có nhiều nét giống ba tao, nhất là đôi mắt và cái trán. Hóa ra suốt mấy ngày qua tao bị lừa, địch biết ta mà ta không biết địch, thua là phải.

Tôi đùa với Long công tử.

-Mang danh là công tử của Sài Gòn hoa lệ, của Hòn Ngọc Viễn Đông mà bỏ thây nơi cái xứ Buồn Muôn Thuở thì tệ thiệt.

Long công tử chống chế.

-Tình yêu mà mày. Mấy ngày sau, sáng hôm đó thay vì cùng tao đi đến đồn điền, Hà mời tao về nhà, vì nàng có chuyện quan trọng cần nói. Tao lái xe mà trong lòng băn khoăn thắc mắc, không biết Hà muốn nói chuyện gì đây. Theo sự hướng dẫn của Hà, tao cho xe quẹo trái trên quốc lộ, chạy trên con đường đất nhỏ và hẹp, chỉ mới được độ một trăm thước, Hà chỉ vào một ngôi nhà bên đường rồi nói “Nhà em đó”. Trước mặt tao là một căn nhà gỗ nhỏ bé với những tấm ván cũ kỹ ghép vào nhau một cách vụng về cẩu thả, nhiều chỗ đã bị mục nát do sự tàn phá của nắng mưa. Tao thầm nghĩ nếu có một cơn gió mạnh thổi qua, không chừng cả ngôi nhà có thể bị sập đổ như không. Khi bước chân qua ngưỡng cửa, mắt tao chạm phải một rừng giấy bao xi măng cũ dán đầy tường. Sau một hồi suy nghĩ, tao mới hiểu được công dụng của những tờ giấy dán trên tường là để che gió lùa qua kẽ ván. Trước mặt tao, một người đàn bà thân hình nhỏ nhắn, tuổi chừng bốn mươi, gương mặt phảng phất nét u buồn, bà ta đang ngồi trên chiếc ghế nơi bàn ăn, chân mang đôi dép nhựa màu xanh còn mới tinh. Lúc bấy giờ tao mới hiểu ra, tại sao Hà mua đôi dép nhỏ hơn chân của nàng một chút. Hà lên tiếng giới thiệu với tao “Má của em”. Quay sang người đàn bà, Hà nói “Má à, đây là anh Long, con của ông chủ đồn điền, nơi con đang làm việc”. Người đàn bà chỉ vào chiếc ghế duy nhất còn trống trước mặt bà “Mời cậu ngồi chơi, tôi có vài chuyện muốn hỏi cậu”. Tao ngồi xuống ghế, miệng nói “Cảm ơn bác”. Má của Hà hỏi tao “Năm nay cậu bao nhiêu tuổi? Học hành tới đâu?”. Tao từ tốn nói với bà “Thưa bác con hai mươi mốt tuổi, đang học đại học ở Sài Gòn”. Má của Hà hỏi tiếp “Cậu học kỹ sư hay bác sĩ”. Tao trả lời với bà “Thưa bác con học bên Văn khoa”. Nói như vậy nhưng tao không biết bà có hiểu tao nói gì hay không. Sau đó, suốt gần cả tiếng đồng hồ, má của Hà hỏi tao đủ mọi chuyện về gia đình của tao. Cuối cùng bà nói “Con Hà đang làm công trong đồn điền của ba cậu, đồng lương của nó kiếm được chỉ đủ mẹ con tôi sống đắp đổi qua ngày. Cậu hãy nhìn căn nhà chúng tôi đang ở, nó tồi tàn xập xệ như thế nào, trong khi gia đình của cậu giàu sang quyền quý, mai mốt khi cậu ra trường, cả một tương lai huy hoàng sáng lạng đang chờ đón cậu. Cậu thử nghĩ coi, con Hà có xứng đáng với cậu hay không?”. Bà má của Hà ngưng nói chừng như hơi mệt khi phải nói nhiều, được một lúc sau bà mới nói tiếp “Con Hà nó còn quá nhỏ chưa biết gì về cuộc đời, cậu đừng chơi qua đường, tội nghiệp cho nó”. Nghe má Hà nói, tao nghĩ “ có phải bác muốn nói con là thằng sở khanh không?”. Tao ngồi đó, giận muốn run lên, giận vì má của Hà chưa biết gì về tao mà đã vội nặng lời. Tao đứng lên chào bà rồi xin phép ra về, trước khi đi tao nhẹ nhàng nói với bà “Xin bác cứ yên tâm, từ hôm quen Hà tới nay, con chưa bao giờ có ý định lợi dụng, bằng cớ là con chưa chạm đến cái móng tay của Hà”. Ngay chiều hôm đó, tao mua vé máy bay trở về Sài Gòn.

Hình minh họa

Long công tử co tay, duỗi chân ra chiều mệt mỏi.

-Một tuần sau, tao nhận được điện tín của Hà chỉ vỏn vẹn có năm chữ “Hà cần gặp anh gấp”. Mới đầu vì giận bà má của Hà, tao quăng mẹ nó cái điện tín vào thùng rác, rồi lái xe xuống Brodard. Mới uống một hớp cà phê, tao vội vã trả tiền vì trong lòng bồn chồn đứng ngồi không yên, tao lái xe mà không biết đi đâu. Cho đến khi thắng xe lại trước hãng hàng không Việt Nam, lúc bấy giờ tao mới biết tại sao. Thì ra tiếng gọi của tình yêu, tuy êm dịu nhẹ nhàng như gió thoảng bên tai, nhưng cái hấp lực của nó quả thật còn mạnh hơn sức hút của trái đất. Tao bay lên Ban Mê Thuột.

Long công tử cười, nụ cười của Sài Gòn ngày xưa.

-Mày biết không, khi gặp lại tao, gương mặt của Hà vui tươi hớn hở như trẻ con được quà. Ôm chặt lấy tao, Hà nói “Má em đâu có phiền trách gì anh, bà chỉ muốn nói với anh là đừng chơi qua đường, còn chuyện nếu anh muốn lấy em đàng hoàng, bà đâu có ngăn cản”. Cho đến cuối hè năm đó, tao và Hà có được hai tháng rong chơi nhiều nơi, từ Ban Mê Thuột xuống Nha Trang tắm biển, nhìn cát vàng biển xanh, chạy qua Phan Rang ngắm cảnh Tháp Chàm, thăm bãi biển Ninh Chữ, vòng lên cái xứ bắp cải đầy sương mù của mày, uống ly cà phê Thủy Tạ, rồi bay về lại Ban Mê Thuột. Hai tháng trường sống trong hạnh phúc tuyệt vời, và có thể nói là đẹp nhất trong cuộc đời của tụi tao. Mãi cho đến khi năm học sắp bắt đầu, tao mới chịu trở về Sài Gòn. Ngày tiễn tao ở phi trường Phụng Dực, lúc ngồi nơi phòng chờ đợi lên máy bay, Hà đặt tay tao lên bụng của nàng rồi nói nhỏ “Em có bầu”. Năm đó, tao mới hai mươi mốt tuổi, nghe tin mình sẽ có con, một cảm giác là lạ chợt đến, ngạc nhiên lẫn thích thú. Tao bóp nhẹ tay Hà “Anh biết rõ trách nhiệm và bổn phận của mình, em yên tâm vài tháng nữa anh sẽ trở lại, tiền bạc thì anh đã để sẵn cho em đủ chi dùng cả năm rồi. Nhớ giữ gìn sức khỏe”.

Long công tử quơ tay tìm lon nước, hắn chậm rãi hớp một ngụm.

-Năm đó, tao bay lên Ban Mê Thuột thường xuyên như đi chợ, cho đến khi học xong năm thứ hai, tao mới thú tội với ba tao về chuyện đã có vợ mà giấu cha mẹ. Cuối cùng tao cho ba tao biết, hiện giờ dâu và cháu của ông đang ở Ban Mê Thuột. Nghe tao nói chuyện, gương mặt của ba tao đầy vẻ giận dữ, ông chửi mắng tao không tiếc lời, chưa bao giờ tao thấy ông giận như vậy. Ngày hôm sau, ba má tao dẫn tao lên Ban Mê Thuột. Việc đầu tiên mà ông bà làm là mua lễ vật đem đến nhà má Hà xin lỗi, tạ tội. Sau đó ông xin phép má Hà, cho ông được đem Hà và thằng cháu nội của ông về sống trong căn nhà to lớn, đầy đủ tiện nghi ở đồn điền. Thì ra, cái tội lớn tày trời của tao, là dám để thằng cháu đích tôn của ông phải sống trong điều kiện nghèo khó, thiếu thốn đủ mọi bề. Thêm một chuyện cũng quan trọng không kém, trước khi về lại Sài Gòn, ông họp với chú Luật là người quản lý và chú Bốn là người phụ tá quản lý của đồn điền từ bao lâu nay, với cái lệnh ngắn gọn là mỗi tháng phải trích cho vợ con của tao một số tiền lớn. Đó là quà của ông nội cho thằng cháu đích tôn.

Tôi nghe Long công tử kể chuyện, bất chợt nhớ lại những lời của má Long công tử nói với tôi, hình như có gì đó không ổn.

-Long à, tao có chút thắc mắc, năm đó là năm sáu bảy, má của mày đã có dâu có cháu, tại sao đến năm sáu mươi tám khi tụi mình còn ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, chính má của mày nói với tao là mày chưa có vợ, bà mong có cháu để bồng mà không có.

Long công tử giải thích cho tôi bằng câu hỏi.

-Mày có bao giờ nghe nói đến cái bịnh tưởng tượng, bịnh hoang tưởng không?

-Không. Tưởng tượng đâu có phải là bịnh, chẳng hạn bây giờ tao tưởng tượng mình được thả ra khỏi trại tù này, như vậy là tao đang bị bịnh hay sao?

Long công tử nhíu mày.

-Mày nói đúng, không thể gọi là bịnh tưởng tượng được, cứ tạm gọi là hoang tưởng. Năm tao mười lăm tuổi, thì má tao bắt đầu bị bịnh. Hôm ấy tao đang ngồi ăn sáng nơi phòng ăn của nhà tao, bỗng đâu một cột lửa chen lẫn với khói đen bốc lên cao ở ngoài sân. Tao vội vàng phóng ra khỏi nhà, chiếc xe Mercedes của ba tao đang bốc cháy dữ dội, cách đó độ chục thước má tao đang lấy xăng tưới lên chiếc xe Peugeot 403 của bà, rồi châm lửa đốt. Tao hỏi má tao tại sao mà làm như vậy. Câu trả lời của bà rất giản dị, bà nói là đang đốt hai con voi trốn trong nhà của bà. Sau đó còn nhiều vụ tương tự như vậy xảy ra, chẳng hạn khi thì bà nói tao không phải là con của bà, khi thì bà có hai đứa con trai chứ không phải một mình tao. Sau nhiều lần ba tao đưa má tao đến bịnh viện khám bịnh, mới biết bà bị cái bịnh hoang tưởng. Ngoài những lúc như vậy, má tao là một người khá bình thường, thoáng nhìn qua không một ai biết được là bà bị bịnh.

Tôi gật đầu.

-Thì ra là vậy, tao không biết má mày bị bịnh nên mới hỏi.

Long công tử nói thêm.

-Một phần cũng vì hoàn cảnh gia đình như vậy, cho nên ba tao dồn hết tình thương cho thằng con, ông chiều tao hết mực muốn gì cũng được. Là con một trong gia đình giàu có, dấu chân của tao từng in khắp chốn ăn chơi thanh lịch của Sài Gòn, tao tiêu xài hoang phí không một chút e dè, cho nên bạn bè mới tặng cho tao cái tên Long công tử. Khi học xong năm thứ ba, tao muốn đem vợ con về Sài Gòn, ba của tao đồng ý với điều kiện là tất cả mọi người phải sống chung trong căn biệt thự của ông, để ông bà nội được gần thằng cháu. Tao không chịu, vì muốn sống tự do thoải mái với vợ con trong một căn biệt thự khác. Mày cũng biết rồi, ba tao có tới mấy căn biệt thự ở Sài Gòn, tại sao phải sống chung. Chuyện chỉ có vậy, lại đưa đến xung đột giữa hai cha con. Tuổi trẻ nông nỗi, không nghĩ đến phải trái, tao bỏ học ngang xương, tình nguyện vô Thủ Đức rồi sau đó là Lực Lượng Đặc Biệt.

Long công tử thở dài rồi than.

-Tao là một thằng ích kỷ, chỉ muốn làm theo sở thích của mình, tội nghiệp cho ba má tao, ông bà phải sống trong buồn bực một thời gian dài. Riêng vợ tao khỏi cần nói, mày cũng biết là Hà khổ đau đến mức nào.

Long công tử vỗ nhẹ vào vai của tôi.

-Mày còn nhớ không, khi đang học ở Thủ Đức với mày và Biên, trong một lần đi phép tao có nói với Dung là tao đã có vợ và đứa con hơn một tuổi, đang sống ở Ban Mê Thuột trông coi cái đồn điền của ba tao. Dung cũng có kể chuyện này cho mày nghe rồi mà.

Long công tử nhìn cái đồng hồ đeo tay của tôi.

-Tới giờ tao phải đi lãnh cơm, tuần tới tụi mình gặp nhau đi.

Tôi gật đầu đồng ý.

-Ừ, tao về đây, mày nhớ giữ gìn sức khỏe.

Tuy khuyên Long công tử như vậy nhưng tôi biết, ở trong tù của Việt Cộng, khi đau ốm không thuốc men, chuyện chăm sóc sức khỏe nằm ngoài vòng tay của mình.