Bè bạn gần xa

Phan Lạc Phúc

Văn Nghệ xuất bản California USA 2000

Bìa Khánh Trường

Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)

Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)

Post by Sơn râu 17 Oct 2026

Dạo ấy là đầu xuân năm 1980. Vừa nghỉ Tết xong là tù cải tạo thuộc trại K2 Thanh Phong chúng tôi bắt đầu vào chiến dịch “đưa nước về đồng”. Trại Thanh Phong nằm ở một miền sơn cùng thủy tận, sát gần biên giới Lào. Từ đường quốc lộ 1, Ga Thanh Hóa vào đây, ô tô đi thông đồng bén giọt cũng phải mất một ngày. Đấy là mùa khô, còn mùa mưa thì không biết đâu chừng. Có khi hai, ba ngày, có khi hàng tuần hay nửa tháng vì chỉ có đường xe chạy đến huyện lỵ Như Xuân. Từ huyện ly Như Xuân đến chỗ thiết lập trại tù còn chừng 20 cây số thì không còn đường tỉnh lộ mà chỉ còn đường đất, đường rừng; qua sông, qua suối là xe tải phải lựa đường mà đi qua, không có cầu có cống. Mưa xuống nước trên nguồn tràn về, sông suối dềnh lên là “cách núi ngăn sông” ai ở đâu, ở đó không còn lưu thông gì được nữa. Có lần tháng 7 mưa ngâu, vợ chồng cô em gái tôi ở quê nhà Sơn Tây lên thăm nuôi nhưng vừa đến huyện lỵ Như Xuân là trời mưa bão, không còn đi vào Thanh Phong được. Hai vợ chồng nó và chú em cứ ngồi nhà trọ mà chờ đợi cho trời ngớt mưa, ngớt bão. Chờ hơn một tuần mà không ngớt, nước sông nước suối vẫn cứ cuồn cuộn đổ về. Vẫn còn mưa ở thượng nguồn. Ba người đi thăm nuôi đem cho người thân tù cải tạo được 20 ký gạo, mà trên 10 ngày nằm đợi ở huyện Như Xuân, ăn hết số gạo “thăm nuôi” mà vẫn chưa đi tiếp được. Đành phải quay về.

Ngày xưa hồi kháng chiến, vào đến khu 4 này, ở chợ Rừng Thông, cầu Bố nghe nói đến miền đất Hồi Xuân, La Hán là đã thấy rụng rời. “Con đường đi La Hán, xa như đường lên trời, đôi giày tao vẹt đế, hồn tao chia đôi nơi” (1), nhưng mà Hồi Xuân, La Hán thời ấy mà sánh với trại Thanh Phong bây giờ thì chưa thấm vào đâu. Hồi Xuân, La Hán mới chỉ bằng một nửa đường đi đến Thanh Phong. Thật ra, tù cải tạo chúng tôi không được rõ cho lắm về địa dư của miền đất này. Nội qui của tù cải tạo rất nghiêm ngặt: cấm không được tiếp xúc với dân, cấm không được đọc sách báo chưa được kiểm duyệt, cấm tuyệt không được nghe radio riêng cho nên tù cứ như ếch ngồi đáy giếng. Chúng tôi chỉ cảm nhận được sự xa xôi, hẻo lánh của miền đất này khi nghe tin là ở trên K1, phân trại cách chúng tôi chừng 4, 5 cây số (nơi giam giữ anh em Biệt kích, những người tù thâm căn cố đế từ đầu thập niên 60, cùng với những tù nhân quốc tế khác như người Lào, người Thái, người Miên, người Trung Hoa, người Mã Lai, v.v … dưới niêm hiệu chung là CIA) có một người phụ nữ Lào đã đi xuyên rừng núi trong thời gian hai ngày tới được đây thăm chồng là một biệt kích người Lào.

___________________

Thơ Tất Vinh

Như vậy đây chắc gần với Hạ Lào. Chúng tôi thấy dân cư ở đây phần đông là đồng bào thiểu số – có nhiều người họ Đái. Từ đó tôi mới nhớ đến một bậc đàn anh thời tiền chiến là Đái Đức Tuấn hay còn gọi là Tchya, vốn người Thanh Hóa này. Đàn anh Tchya những khi “phùng trường tác hí” thường xưng Vương vì anh là dòng dõi lang, đạo nổi tiếng của vùng sâu tỉnh Thanh. Tác phẩm của anh là “Thần Hổ”, là “Ai hát giữa rừng khuya” nói về những truyền thuyết vừa linh thiêng vừa rùng rợn của một miền đất thâm u còn thưa thớt dấu chân người. Miền đất thâm u ấy là đây chăng?

Đưa những tù nhân cải tạo thuộc diện “ác ôn, côn đồ, có nợ máu với nhân dân” đến miền đất “khỉ ho cò gáy, chó ăn đá gà ăn muối” này, những người Bôn sê vích muốn cùng một lúc làm một công hai việc. Đem những tù nhân mà họ căm giận nhất cho nếm mùi lao động khổ sai tại một miền nước độc đồng thời dùng “nước sông, công tù” khai phá một vùng đất hoang vu. Cái chiến dịch kêu bằng “đưa nước về đồng” khởi diễn đầu xuân 80 cũng nằm trong phương hướng ấy. Vì phải đi đào mương dẫn nước, nên tù cải tạo phải đi làm xa các nông, lâm trường thường lệ. Tụi tôi bữa nay lao động ở một khu gần bờ suối, có mấy gia đình người kinh ở rải rác xung quanh. Người kinh ở trong nhà lợp tranh hoặc rạ, có vườn, có sân, có giếng nước. Nhà đồng bào Thái thường là nhà sàn, hoặc nhà rông bằng gỗ cổ kính, những cây cột nhà bằng danh mộc đã lên nước bóng đen. Bên cạnh những nhà sàn vững chắc, to lớn, những ngôi nhà của người kinh xem ra èo uột, sơ sài … Trong một ngôi nhà có bụi mía lưu niên lên nước vàng ngà bên bờ dậu, xuất hiện 2 chị em cô gái người kinh tha thướt. Giữa những đồng bào thiểu số lùn đậm và chất phác hai chị em cô gái người kinh trông giống như hai cô tiên bị một hình phạt nào trên thượng giới mới lưu lạc xuống cõi trần. Hai người con gái rất thanh tú, quần áo đen đạm bạc vẫn không che dấu nổi cốt cách trâm anh. Làn da trắng xanh, trắng xanh vì quý phái hay trắng xanh vì nước độc. Có lẽ cả hai. Hai người con gái rất đẹp nhưng rất buồn, tuổi cũng không còn trẻ nữa. Cô chị chừng ngót 30, cô em chừng 26, 27. Cái sắc đẹp mong manh sắp tàn, trong một khung cảnh âm u như ở nơi đây, gieo trong tâm hồn tôi một nỗi ngậm ngùi khó tả. Vì trại cách nơi làm việc cũng khá xa, chừng ba cây số nên buổi trưa tù ở lại tại chỗ; ăn qua quýt cho xong rồi tìm chỗ bóng cây nằm vật vạ cho tới giờ làm việc buổi chiều. Một người bạn trẻ, cựu phi công (nghe phong thanh ở nhà vợ mới đem con trả cho “bà nội”) cùng tôi nằm tạm nghỉ dưới gốc cây sầu đâu ở gần bụi mía. Chợt cô gái (người em) đi ra vườn cầm một con dao đi lại chỗ bụi mía và chặt một lúc 5, 6 cây. Cô kéo mía đến gần chỗ chúng tôi và nói “các chú ăn đi”. Tù mà thấy mía là mừng hết lớn nhưng nội qui cấm liên hệ với dân, cấm chuyện trò, trao đổi cho nên chúng tôi đưa mắt nhìn về phía cán bộ quản giáo đang ngồi bên bờ suối. Cô gái lẳng lặng đi gặp anh công an. Anh này xưa nay hắc ám có tiếng nhưng không biết cô gái trình bày ra sao mà anh ta đi lại chỗ chúng tôi mà nói “Các anh chia nhau ăn đi”. Cô em lại chặt thêm 9, 10 cây nữa để có đủ mía chi cho cả đội. Trong một xứ sở nghèo nàn lạc hậu như miền Bắc Việt Nam, con cá lá rau là điều quý hiếm, tại sao gia đình hai cô gái người kinh này lại quá hào phóng với anh em tù như vậy? Cô chị ở trong nhà chạy ra, tiếp tay chặt mía với cô em và nói “các chú ăn hộ đi”.

Anh công an quản giáo vì có người đẹp ở gần nên cũng dễ hãi hẳn ra. Anh cho phép chúng tôi, tôi và anh bạn tù phi công, đi ra sau nhà chỗ giếng nước, rửa mặt. Cô em đi lấy gầu cho chúng tôi kéo nước. Qua câu chuyện đổi trao ngắn gọn bên bờ giếng giữa anh bạn trẻ phi công và cô gái, tôi được biết là gia đình cô thuộc diện “chỉ định cư trú”, nhà nước cho phép ở đâu mới được ở. Ông nội cô trước đây làm tri phủ Nho Quan, Ninh Bình. Sau 1954 gia đình cô “được” đưa đi định cư trong vùng núi rừng Thanh Hóa. Ba của cô đi dân công chết trong chiến dịch Hạ Lào. Mẹ cô mới chết cách đây hai năm vì ngã nước. Gia đình thuộc diện “chỉ định cư trú” nên cô không được ở đâu lâu. Cứ đến khai khẩn xong một vùng đất hoang, ở được chừng 5, 7 năm, nhà nước lại chỉ định đi nơi khác, vào sâu nữa trong rừng. Gia đình cô đến Như Xuân này đã là chỗ định cư thứ 5. Vừa có lệnh gia đình cô sắp phải dời đi nơi khác nữa. “Cho nên các chú không ăn hộ mía đi thì cũng không biết để làm gì”. Gia đình cô hiện tại chỉ còn ba người, hai chị em cô, và ông nội cô, tri phủ Nho Quan cũ, bây giờ đã trên 80 tuổi.

Chợt có tiếng động ở đầu nhà. Từ khuôn cửa một ông già chống gậy bước ra. Cụ già râu tóc bạc phơ, mặc một cái áo pardessus đã cũ nát, cái kính lão xệ xuống gần sống mũi, đang run rẩy đứng bên thềm nhà. Cụ nâng cặp kính lên nhìn chúng tôi và khẽ kêu lên thảng thốt: “Eh alors, mes enfants … ” (Này các con ta … ) Vừa nói xong, không biết vì xúc động hay vì quá già yếu, cụ già dựa vào khung cửa mà ho rũ rượi từng cơn. Cô gái chạy vội đến đỡ ông và nói “Khổ lắm ông ơi, ông ra đây làm gì nữa … “

“Này các con ta … ” ông cụ chắc đã chờ đợi chúng tôi mấy chục năm trời với bao nhiêu hy vọng. Bây giờ không ngờ ông gặp chúng tôi trong hoàn cảnh này, cùng một kiếp tù xơ xác … Tôi nghĩ ngày mai đây không biết ông cụ già trên 80 tuổi kia, sẽ còn lưu lạc nơi đâu; Những cô con gái thanh tân kia sẽ sống ra sao trong xó rừng u uất?


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply