Dâu bể trùng phùng

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Hình minh họa

Tập 2

Phần 10
Mũ nồi xanh

Tôi gói tán đường của tôi vào tờ giấy, rồi đi gặp Long công tử. Đây là tán đường của riêng tôi, tán đường của Trung úy Lợi, hắn đã ăn mất từ mấy ngày trước rồi vì quá thèm ngọt.

Bầu trời Sông Mao hôm nay xanh màu ngọc, không một cụm mây, tôi vỗ vai Long công tử.

-Tao còn tán đường, mày xuống nhà bếp xin gô nước sôi, hôm nay mày muốn ngồi đâu? Brodard hay Givral?

-Givral đi, tự nhiên tao nhớ đến bức tượng hai người lính Thủy Quân Lục Chiến trước Quốc Hội, nhớ đến vòi phun nước nơi tụi mình chụp mấy tấm hình với Biên và Dung.

Cũng hơn mười phút sau Long công tử mới trở lại, hai đứa tôi ngồi xuống bên hè nhà, tôi hỏi Long công tử.

-Tốt nghiệp Thủ Đức xong, mày biến đi đâu mất tiêu vậy?

Long công tử, đặt lon gô nước đường xuống khoảng đất trống giữa hai đứa. -Lễ mãn khóa vừa chấm dứt, lúc bấy giờ cả ngàn ông tân chuẩn úy túa ra khắp mọi nơi cứ như là bầy ong vỡ tổ, mạnh ai nấy bay, trật tự và kỷ luật nhà binh hình như không còn hiệu lực vào lúc này. Trong cảnh hỗn loạn ấy tao chạy đi tìm thằng Biên và mày, tìm hoài không thấy tụi mày ở đâu, cuối cùng tao đành bỏ cuộc. Sau một lúc suy tính, tao lên Khu sinh hoạt mua một bộ đồ rằn ri mới toanh với cặp lon chuẩn úy nơi cổ áo, cái huy hiệu con cọp vàng bay qua cánh hoa dù trắng trên nền xanh lá cây, may nơi tay áo trái gần vai. Thêm cái mũ nồi xanh trên đầu, tao đã nghiễm nhiên trở thành một sĩ quan của binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Sau hai tuần lễ nghỉ phép, mười chín sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt của khóa mình, trong đó gồm có chín sĩ quan tốt nghiệp Thủ Đức và mười sĩ quan tốt nghiệp Đồng Đế, về trình diện Bộ tư lịnh Lực Lượng Đặc Biệt ở Nha Trang. Thiếu tá Thanh trưởng phòng Tổng quản trị của Lực Lượng Đặc Biệt, với gương mặt còn quá trẻ, có thể chưa quá ba mươi tuổi nhưng đầy vẻ phong trần dày dạn gió mưa, trong bộ quân phục rằn ri thẳng nếp, đôi giày bốt đờ sô hai da bóng loáng, thêm cái hoa mai có gạch trên cổ áo, tụi tao say mê chiêm ngưỡng cái nét oai hùng đầy phong độ của ông ta mà quên mất chào hỏi, trình diện. Thiếu tá Thanh thân mật bắt tay từng thằng một, hỏi thăm về những ngày phép mãn khóa, sau đó dẫn tụi tao vào phòng thuyết trình để thuyết giảng sơ qua cho tụi tao nghe về binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Với cây gậy ngắn trên tay, Thiếu tá Thanh chỉ lên sơ đồ tổ chức gắn trên bảng đen, ông thao thao bất tuyệt “Lực Lượng Đặc Biệt là binh chủng thiện chiến, là con cưng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Binh chủng này gồm có những toán Delta, có Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù và mấy chục trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng trên khắp bốn vùng chiến thuật”. Thiếu tá Thanh ngưng nói, ông ta lấy chiếc mũ nồi xanh xuống để trên bàn rồi quay nhìn tụi tao “Các anh cứ ngồi thoải mái, tự nhiên hút thuốc vì chuyện tôi nói có hơi dài dòng. Trước hết tôi xin nói về toán Delta, cho đến hôm nay khi tôi đang nói chuyện với các anh, Lực Lượng Đặc Biệt của Việt Nam Cộng Hòa có tổng cộng tất cả là mười hai toán Delta, tôi xin lập lại là chỉ có mười hai toán mà thôi, không hơn không kém, họ hoạt động thầm lặng riêng rẽ không ai biết đến, thậm chí ngay cả tôi cũng không biết họ đang làm gì, ở đâu. Chỗ này tôi muốn nói riêng với các anh, về hiểm nguy cũng như khổ cực của những toán Delta, sở trường của họ là chiến tranh xâm nhập, cho nên mức độ nguy hiểm về tính mạng giống như là chỉ mành treo chuông. Sĩ quan toán Delta của Lực Lượng Đặc Biệt, một lần công tác vào đất địch là một chuyến mang gươm qua sông Dịch, mười đi mà chỉ có một về ”. Thiếu tá Thanh ngừng nói, nhìn quanh “Mấy anh có biết sông Dịch ở đâu không?”. Dân Văn khoa như tao khi nghe câu hỏi ấy giống như là đi thi mà trúng tủ, tao bèn tà tà đọc luôn hai câu cuối trong bài thơ Dịch Thủy Tống Biệt.

Hình minh họa

Tích thời nhân dĩ một.
Kim nhật thủy do hàn.

Thiếu tá Thanh nói lớn “Ông chuẩn úy nào đó, đứng lên cho tôi coi mặt được không?”. Tao từ từ đứng lên. Thiếu tá Thanh nhìn tao thật lâu, tựa như coi giò coi cẳng mấy con gà nòi, sau đó ông nói “Phòng Tổng quản trị đang cần một phụ tá, chuẩn úy muốn về đó không?”. Tao đoán, chắc ông ấy nghĩ rằng, tại sao lại có một con cừu đi lạc vào giữa bầy cọp như thế này. Không có việc gì phải hấp tấp, tao bèn trả lời Thiếu tá Thanh với giọng lạnh lùng như đang bơi thuyền qua sông Dịch “Thưa Thiếu tá, tôi tình nguyện về Lực Lượng Đặc Biệt là để chiến đấu ở ngoài mặt trận, chớ không phải ngồi văn phòng”. Thiếu tá Thanh với giọng nói nhã nhặn, lịch sự “Cảm ơn tinh thần phục vụ hăng say cao độ của chuẩn úy”. Sau đó ông ta cao giọng, tiếp tục thuyết trình “Tôi xin lập lại toán Delta một khi nhảy vào đất địch, giống như qua sông Dịch, nếu có anh nào đó nghĩ là sông Bến Hải thì cũng được, chuyện trở về mỏng manh như ngọn đèn lung linh trước gió, nó có thể tắt bất cứ lúc nào. Trở về được hay không là tùy lòng dũng cảm, tùy vào kinh nghiệm cũng như khả năng thích ứng trong mọi trường hợp của vị sĩ quan đó. Đi đôi với những hiểm nguy còn có thêm cực khổ gian nan về thể xác. Sĩ quan cũng như binh sĩ của toán Delta phải có một thân thể được đúc bằng sắt, một ý chí được trui rèn trong lò luyện thép, mới có đủ sức chịu đựng với giông tố bão bùng, đủ sức vượt qua mọi thử thách. Thường thì một toán Delta nhảy vô vùng địch chỉ có sáu người, trong đó gồm bốn Việt và hai Mỹ. Hai ông cố vấn Mỹ đi theo chỉ để lo về phần yểm trợ hỏa lực, việc gọi trực thăng bốc và thả toán sẽ do sĩ quan trưởng toán Delta quyết định chứ không phải là cố vấn Mỹ. Bởi vì hai ngày trước cuộc hành quân, viên phi công Mỹ lái trực thăng và sĩ quan trưởng toán Delta, đã cùng nhau bay tiền sát để chọn địa điểm thả và triệt xuất, họ đã có những đồng thuận, quy ước riêng với nhau rồi. Bốn người Việt được trang bị vũ khí cá nhân như M16 hoặc M79 tùy theo nhiệm vụ khi xâm nhập, một cấp số đạn, lựu đạn mini, M26, M67, lựu đạn khói, bảy ngày lương khô và những dụng cụ đặc biệt mà một toán viên Delta phải có. Ba toán viên của toán đều là chuyên viên đặc biệt, họ mang theo rất nhiều mìn claymore và chất nổ. Riêng sĩ quan trưởng toán ngoài phần chịu trách nhiệm về kế hoạch cũng như chiến đấu, ông ta còn phải mang thêm một máy truyền tin PRC25, nặng hơn mười kí lô và một cục pin phòng hờ. Chiếc máy truyền tin này là linh hồn của toán, mất nó cả toán sẽ không có đường về. Sĩ quan trưởng toán Delta của Lực Lượng Đặc Biệt, hoàn toàn không giống như sĩ quan của các binh chủng khác, có được binh sĩ phụ giúp mang đồ, trái lại chính ông ta mang vác còn nhiều hơn một toán viên, cũng có nghĩa là mang vác không thua gì một con lạc đà”. Thiếu tá Thanh ngừng nói, ông đi xuống những hàng ghế mà tụi tao đang ngồi dựa ngửa, thoải mái hút thuốc, thả khói bay đầy phòng. Ông hỏi “Trong số các anh ngồi đây, ai là người chưa từng thấy hộp Ration C của quân đội Mỹ”. Trong đám chuẩn úy tụi tao, nhiều bàn tay rụt rè đưa lên. Thiếu tá Thanh xuống giọng “Đó là hộp thức ăn cho một bữa, của một người lính Mỹ, hộp B1 cho buổi sáng, hộp B2 cho buổi trưa và hộp B3 cho buổi chiều. Trong đó mỗi hộp gồm nhiều lon thực phẩm khác nhau, cân nặng khoảng hai kí lô hai, như vậy thực phẩm cho một ngày phải nặng hơn sáu kí, bảy ngày công tác hơn bốn mươi lăm kí lô thực phẩm. Chỉ có mấy con lừa mới mang nổi. Theo kinh nghiệm của một người lính tác chiến, tôi đoan chắc với các anh, ration C của Mỹ tuy cung cấp đầy đủ năng lượng cho một người lính, nhưng nó chỉ tốt cho những đơn vị đóng quân cố định tại một chỗ, không thuận tiện cho đơn vị hành quân. Tôi đã nhiều lần chứng kiến, khi ở hậu cứ thiếu mồi nhậu một anh lính có thể khui một lon thịt ba lát để chữa lửa, lúc rảnh rỗi họ có thể mở một lon trái cây hộp nhâm nhi cho đỡ buồn, nhưng muốn đem theo đi hành quân, coi bộ hơi khó vì cồng kềnh và quá nặng. Nếu nói như vậy, một chuyến công tác bảy ngày, ông sĩ quan và toán viên của toán Delta họ mang gì để ăn? Thưa quý vị, họ mang một lon gô ruốc thịt heo ba chỉ kho với sả ớt, thêm vài lon thịt hộp trong khẩu phần ration C, đã được sấy khô thành thịt chà bông, và mỗi ngày bảy trăm gam gạo sấy, vì họ không được đốt lửa để nấu ăn. Chỉ chừng đó lương thực đủ cho họ sống bảy ngày trong rừng. Thêm một điều quan trọng nữa là mỗi toán viên Delta được chích hai mũi thuốc chống ho, vì điều tối kỵ nhất của toán Delta là gây tiếng động. Suốt bảy ngày trong rừng họ như là những người câm, nói chuyện với nhau bằng thủ hiệu”. Thiếu tá Thanh đi trở lên bục thuyết trình. “Tôi vừa trình bày sơ lược với các anh về hiểm nguy và gian khổ của những toán Delta. Để đáp ứng nhu cầu cấp bách của chiến trường, hôm nay tôi cần năm vị sĩ quan trong số các anh về toán Delta, anh nào tình nguyện xin đưa tay lên”.

Hình minh họa

Long công tử ngưng kể chuyện, hắn nhìn tôi.

-Tao đố mày, có ông chuẩn úy nào dám tình nguyện về toán Delta không?

Tôi cười thoải mái.

-Ai thì tao không biết, riêng tao “Tẩu vi thượng sách”, tao sẽ chạy xa toán Delta một trăm cây số, chạy mà cấm có quay đầu nhìn lại.

Long công tử gật gù đắc ý.

-Mày đúng là lính văn phòng. Ngày xưa, nếu cho mày về đơn vị tác chiến nắm một trung đội lính bộ binh, khi đụng trận với Việt Cộng, tao tin rằng mày sẽ co giò chạy trước, bỏ binh sĩ dưới quyền sống chết mặc bây.

Tôi không giận Long công tử chút nào vì biết nó nói đúng sự thật, nói ngay bon bản tính của tôi. Trên đời này, còn ai hiểu tôi hơn Long công tử, tôi than với nó.

-Cũng may tao được làm lính văn phòng, chứ nếu phải ra tác chiến thì mặt mũi đâu mà nhìn binh sĩ dưới quyền.

Long công tử lờ đi như không biết tôi nói gì, hắn tiếp.

-Một điều khá ngạc nhiên là khi Thiếu tá Thanh vừa dứt lời, mười chín cánh tay trong phòng không hẹn cùng một lúc đưa lên cao. Thiếu tá Thanh cười vui vẻ “Tôi đã thuyết trình rất rõ ràng rồi, các anh không ngại khổ cực, không sợ nguy hiểm đến tính mạng hay sao? Có anh nào cho tôi biết lý do được không?”. Một giọng Huế ở cuối phòng vang lên “Thưa thiếu tá, Tết Mậu Thân tại cố đô Huế, chính bản thân tôi đã chứng kiến cảnh Việt Cộng giết hại, chôn sống hàng ngàn dân lành vô tội trong những hố chôn tập thể. Tôi vô Trường Bộ Binh Thủ Đức theo lệnh Tổng động viên nhưng ý nguyện là cầm súng chiến đấu chống lại Cộng Sản, nào ngờ khi tốt nghiệp tôi lại có tên trong danh sách về đơn vị không tác chiến, dựa theo những bài Trắc nghiệm định hướng ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Không được đi tác chiến như mình mong đợi, tôi tình nguyện về binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Bởi vì tôi không muốn bị Cộng Sản chôn sống, như Tết Mậu Thân ở Huế họ đã chôn sống dân mình”. Thiếu tá Thanh gật đầu, nét đăm chiêu hiện rõ trên gương mặt sạm nắng của ông. “Thế còn những anh khác không ở Huế thì sao?”. Để trả lời câu hỏi của Thiếu tá Thanh, một giọng nói chững chạc đầy cương quyết “Trước khi tình nguyện vào binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt, tất cả anh em chúng tôi ở đây đều đã chuẩn bị sẵn sàng, nếu một mai có phải hy sinh vì Tổ Quốc, chuyện đó không nằm ngoài dự tính của chúng tôi”.

Long công tử ngưng kể chuyện, hắn bưng lon gô nước đường ngửa cổ uống một hơi.

-Ngon thiệt, tao cảm thấy được chất nước ngọt đi qua cổ họng, xuống đến bao tử rồi theo từng giọt máu tỏa ra khắp thân thể.

Đợi Long công tử uống xong, tôi lấy lon nước từ tay hắn, hớp một ngụm.

Hình minh họa

-Có mười chín ông Kinh Kha thời đại, ông nào cũng muốn về toán Delta, mày nói cho tao biết, làm cách nào mà Thiếu tá Thanh chọn được năm sĩ quan cho toán Delta. Ông ta bỏ ai, chọn ai?

Long công tử cười vang, tiếng cười đầy sảng khoái của một sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt, chứ không phải tiếng cười của một thằng tù ốm đói.

-Chuyện dễ như vậy mà mày không thấy sao, mười chín thằng đều có một tinh thần Quốc Gia cao độ, có trình độ học vấn và hiểu biết tương đương, điểm khác biệt duy nhất là thể chất. Đương nhiên Thiếu tá Thanh chọn những ông chuẩn úy cao và to như những con trâu rừng, có sức chịu đựng dẻo dai để mang vác như một con lạc đà.

Tôi hơi mắc cỡ, khi thấy đầu óc suy luận của mình quá kém cỏi.

-Mày nói đúng, chuyện đơn giản như vậy mà tao nghĩ không ra. Rồi sao nữa?

Long công tử nhắc lại.

-Rồi sao nữa hả? Sau khi đã chọn được năm sĩ quan về toán Delta, thiếu tá trưởng phòng Tổng quản trị lại tiếp tục thuyết trình về Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Với giọng nói đầy tính thuyết phục, ông cho biết “Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù gồm có sáu đại đội, họ chia nhau tiếp ứng cho cả bốn vùng chiến thuật. Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chỉ điều động những đại đội này đánh vào những mục tiêu đặc biệt, những vị trí chiến lược quan trọng của Việt Cộng”. Sau vài lời giới thiệu ngắn gọn về Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, Thiếu tá Thanh đưa ra một nhận xét “Nếu đem so sánh sĩ quan của Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù với Sĩ quan của toán Delta thì kẻ tám lạng người nửa cân”. Đứng trên bục thuyết trình với cây gậy ngắn trên tay, Thiếu tá Thanh tỏ ra lúng túng khi phải chọn tiếp bốn sĩ quan về Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Đây cũng là một bài toán khó cho Thiếu tá Thanh, bởi vì mười bốn ông chuẩn úy còn lại ai cũng muốn về tiểu đoàn này. Cuối cùng để được công bình, Thiếu tá Thanh cho mọi người bốc thăm, bốn tấm giấy có ghi số 81 và mười tấm giấy trắng. Tao bốc nhằm tờ giấy trắng, có nghĩa là tao cùng chín ông chuẩn úy khác, sẽ được phân bố đi khắp các trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng của bốn vùng chiến thuật.

Long công tử dang tay lấy lon gô nước.

-Tao không cần giải thích, chắc mày cũng dư biết, hai chữ biên phòng tự nó đã nói lên được vị trí các trại Lực Lượng Đặc Biệt ở đâu rồi. Sau khi đã phân phối xong đơn vị cho mười chín sĩ quan, Thiếu tá Thanh với giọng nói đầy chân tình “Các anh tuy đã đội chiếc mũ nồi xanh, nhưng chỉ mới đặt có một chân lên ngưỡng cửa của căn nhà Lực Lượng Đặc Biệt. Tôi, Thiếu tá Thanh nhân danh người đi trước, có bổn phận phải giúp đỡ các anh hội nhập vào đại gia đình Lực Lượng Đặc Biệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, càng sớm càng tốt. Điều trước tiên tôi có thể làm được là, tôi sẽ gởi các anh tới căn cứ Động Ba Thìn ở Cam Ranh, để học một khóa căn bản về Lực Lượng Đặc Biệt. Các anh phải nhớ rằng, đây là một ngoại lệ chỉ dành riêng cho các anh, bởi vì muốn học khóa căn bản Lực Lượng Đặc Biệt, các sĩ quan phải cần có một tới hai năm kinh nghiệm tác chiến, mới được theo học khóa này. Khóa học sẽ kéo dài khoảng năm tháng”. Thiếu tá Thanh ngưng nói, ông chỉ vào một vị chuẩn úy ngồi ở dãy ghế đầu “Thời gian chuẩn úy theo học ở quân trường Thủ Đức bao lâu?”. Ông chuẩn úy nói “Thưa thiếu tá, nếu kể luôn giai đoạn một ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, thời gian thụ huấn trong quân trường của chúng tôi, tổng cộng chỉ có sáu tháng”. Thiếu tá Thanh nói “Sáu tháng, từ một học sinh, từ một sinh viên, các anh đã lột xác để trở thành chuẩn úy, trở thành một sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Với khóa Lực Lượng Đặc Biệt, các anh phải cần thêm năm tháng nữa để học về mưu sinh thoát hiểm, về xâm nhập vào đất địch, và về nhiều kiến thức cần thiết cho một binh sĩ Lực Lượng Đặc Biệt mà tôi không tiện nói ra đây. Sau khi tốt nghiệp khóa học này, các anh sẽ được học thêm một khóa nhảy dù, thời gian khoảng năm tuần. Khi các anh đã tốt nghiệp hai khóa học căn bản nói trên, các anh có thể hãnh diện là mình đã chính thức trở thành một thành viên trong đại gia đình Lực Lượng Đặc Biệt. Riêng năm anh thuộc toán Delta và bốn anh 81 Biệt Cách Nhảy Dù, thì đường còn dài, còn lắm chông gai, các anh lại phải học thêm những khóa chuyên biệt khác nữa”.

Hình minh họa

Long công tử ngừng nói, nhíu mày như để nhớ lại chuyện xưa.

-Sau mấy khóa học đổ mồ hôi sôi nước mắt ở Động Ba Thìn, tao được đưa về trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng Thiện Ngôn ở Tây Ninh, cách biên giới Việt Miên sáu cây số. Đây là một trong số mấy chục trại Lực Lượng Đặc Biệt trên khắp bốn vùng chiến thuật. Trên bản đồ quân sự một phần năm mươi ngàn, vị trí trại Thiện Ngôn nằm gần ngay tâm điểm trung ương cục R của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, nó là cái gai trong mắt, là khúc xương chận ngay cổ họng của Việt Cộng, cho nên bằng mọi giá, họ luôn luôn tìm cách nhổ bỏ khúc xương này. Trại có hai phi trường trực thăng, một ở bên trong và một ở bên ngoài trại, một phi trường dã chiến lót vỉ sắt PSP cho phi cơ C123 và C130. Về vũ khí, trại có năm khẩu đại bác 105 ly do quân nhân Mỹ sử dụng, hai khẩu súng cối 106 ly và hàng chục khẩu đại liên 12 ly 7, của đại đội Dân Sự Chiến Đấu. Về binh sĩ, trại có khoảng một trăm quân nhân Mỹ, nhưng trong đó chỉ có mười hai binh sĩ Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ mà thôi, số còn lại là binh sĩ pháo binh, truyền tin, kỹ thuật, thêm sáu đại đội lính Dân Sự Chiến Đấu, trong đó có ba đại đội gốc người Miên. Bên phía Việt Nam Cộng Hòa có khoảng mười hai quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt. Tất cả quân nhân Mỹ, sáu đại đội Dân Sự Chiến Đấu cũng như quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đều đặt dưới sự điều động, chỉ huy của Đại úy Tuấn Lực Lượng Đặc Biệt. Ông ta là căn cứ trưởng của trại Lực Lượng Đặc Biệt Thiện Ngôn. Trại như là một cái ốc đảo nằm gọn giữa rừng sâu, không có đường bộ để ra vào, con đường duy nhất có thể tiếp cận với thế giới bên ngoài là nhờ vào trực thăng và vận tải cơ của cố vấn Mỹ. Ba tháng đầu tiên ở trại, buồn chán đến phát điên bởi vì Đại úy căn cứ trưởng cho uống cà phê dài dài, uống cà phê theo nghĩa bóng có nghĩa là huấn luyện. Buổi sáng, Đại úy căn cứ trưởng một ly cà phê, chuẩn úy cũng một ly cà phê, cà phê Mỹ chua lè nhạt như nước lã, vậy mà ngày nào tao cũng phải uống hai cữ, vừa uống vừa nghe Đại úy căn cứ trưởng giảng bài về chuyện hành quân phối hợp với cố vấn Mỹ và lính Dân Sự Chiến Đấu, học về kế hoạch hành quân, kế hoạch yểm trợ hỏa lực, thôi thì đủ mọi thứ từ A tới Z, và cuối cùng là trách nhiệm và bổn phận của một căn cứ phó.

Long Công tử vươn vai, duỗi chân rồi than thở.

-Mày thử nghĩ coi, tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức xong, tao phải cưa thêm năm tháng căn bản Lực Lượng Đặc Biệt ở Động Ba Thìn, học về chuyện khi đói làm thế nào ăn mấy con sâu, nhai rắn rít, bọ cạp để sống còn, khi khát học cách uống nước trong rễ cây, trong thân cây, khi bị thương học cách nhai lá rừng đắp lên vết thương để cầm máu, đau yếu học cách nuốt lá rừng để trị bịnh rồi học cách sử dụng những dụng cụ đặc biệt, mà một người lính Lực Lượng Đặc Biệt mang theo khi hành quân. Và bài học quan trọng nhất tốn nhiều ngày giờ nhất, là hành quân xâm nhập. Vừa dứt khóa học căn bản Lực Lượng Đặc Biệt, tao tưởng sẽ có cái phép dăm bảy ngày về Sài Gòn bay bướm, ra Givral uống cà phê khoe cái mũ nồi xanh trên đầu, tiện thể nhìn xe cộ ngược xuôi trên đường phố cho đã con mắt, nào ngờ cả bọn lại bị lùa sang học nhảy dù thêm năm tuần lễ nữa. Nhảy dù là khóa học không dễ nhưng cũng không khó, để huấn luyện về thể xác, mỗi buổi sáng tụi tao với ba lô trên vai, súng cầm tay chạy một lèo từ Động Ba Thìn đến Hòa Do rồi chạy về, hơn chục cây số chớ phải chơi đâu, lính mà chạy không thua gì những con ngựa ở trường đua Phú Thọ. Chiều đến ở trong trại học nhảy, học bò, học té. Khi học về nhiều cách té, để cho đỡ buồn tụi tao gọi đùa là té bảy món, té sấp, té ngửa, té chổng mông, té bò càng, té lăn cù, té chúi nhủi, té chổng gọng. Cuối cùng khóa sinh phải nhảy đủ bảy sô ngày và một sô đêm trên các loại máy bay, từ C47 sang C119, C123 rồi C130 mới được cấp phát bằng nhảy dù. Học như vậy tao tưởng đã đủ lắm rồi, nào ngờ khi về trại Thiện Ngôn còn bị Đại úy căn cứ trưởng cho uống cà phê dài dài. Sau khi trải qua không biết bao nhiêu là gian nan khổ cực, cuối cùng tao chính thức được bổ nhiệm làm căn cứ phó. Khi biết tao đã sẵn sàng lao đầu vào vùng lửa đạn, nhân vụ một trung đoàn Việt Cộng pháo kích và tấn công vào trại, sau đó rút về bên kia biên giới. Đại úy Tuấn căn cứ trưởng cho lệnh mở cuộc hành quân về phía biên giới Cam Bu Chia, nơi mà bộ chỉ huy cơ quan đầu não cục R của Việt Cộng ẩn núp. Lực lượng hành quân gồm có hai đại đội Dân Sự Chiến Đấu, một toán cố vấn Mỹ có hai sĩ quan, một hạ sĩ quan, hai thông dịch viên, hai truyền tin. Bộ chỉ huy hành quân do tao trực tiếp chỉ huy, có một hạ sĩ quan phụ tá, hai truyền tin, hai quân y, bốn khinh binh, một trung đội Trinh Sát, một trung đội Vũ khí nặng. Sau hai ngày băng rừng lội suối, tụi tao tới biên giới, đây là lần đầu tiên trong đời tao xuất ngoại qua Cam Bu Chia mà không cần mang theo giấy tờ xuất nhập cảnh.

Hình minh họa

Tôi tò mò hỏi Long công tử.

-Lần đầu tiên, đứng trước những người lính áo quần rằn ri, mặt mũi bặm trợn như ông kẹ, mày có run sợ chút nào không?

Long công tử nhìn tôi.

-Mày là Trung úy mà hỏi gì kỳ vậy, run thì làm sao mà chỉ huy lính được.

-Long à, hơn sáu năm ở Trường Võ Bị Đà Lạt, tao chỉ có khả năng chỉ huy hai người hạ sĩ quan trực với tao mà thôi.

Long công tử đùa.

-Mày hỏi cũng phải, mặc dầu đã được Đại úy căn cứ trưởng chỉ bảo cẩn thận, truyền thụ võ công đầy đủ, bao nhiêu chiêu thức bí truyền của ổng, tao đều thuộc nằm lòng. Vậy mà đứng trước hàng quân khi ban lịnh hành quân, tao vẫn bị khớp như thường, ăn nói không được lưu loát cho lắm. Tuy vậy chỉ vài phút sau, tao nói hăng say cứ như là đồng nhập. Từ đó về sau, nói chuyện trước hàng quân, với tao cũng giống như là uống ly bia, hút điếu thuốc mà thôi.

Tôi hỏi Long công tử.

-Một Đại đội Dân Sự Chiến Đấu có bao nhiêu người?

Long công tử nhăn mặt ra chiều đau khổ. -Tùy theo mùa, một Đại đội Dân Sự Chiến Đấu có trên một trăm người, đến mùa lúa chín, quân số của đại đội chỉ còn một nửa, bởi vì họ bỏ lính trở về nhà gặt lúa. Xong mùa gặt, họ mới vô lính lại, đúng như cái tên gọi Dân Sự Chiến Đấu. Theo tao biết, một Đại đội Dân Sự Chiến Đấu được tổ chức gần giống như Đại đội chủ lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cũng gồm có đại đội trưởng, trung đội trưởng, tiểu đội trưởng. Sự khác biệt là họ chỉ có chức vụ chứ không có cấp bậc, nếu một người lính Dân Sự Chiến Đấu tuyển mộ được một trung đội, thì người đó sẽ là trung đội trưởng, nếu tuyển mộ được một đại đội, người tuyển mộ sẽ là đại đội trưởng. Lực lượng Dân Sự Chiến Đấu là lính không có số quân, họ được người Mỹ huấn luyện, trang bị vũ khí và lãnh lương của Mỹ. Điều duy nhất yếu kém của Đại đội Dân Sự Chiến Đấu là đại đội trưởng hay trung đội trưởng chỉ giỏi trong việc chỉ huy lính chiến đấu chứ không biết gọi phi pháo yểm trợ. Do vậy trong bất cứ cuộc hành quân nào, sĩ quan của Lực Lượng Đặc Biệt sẽ là cấp chỉ huy. Tao là chuẩn úy căn cứ phó, nên chỉ huy hai Đại đội Dân Sự Chiến Đấu khi hành quân là chuyện bắt buộc. Ngày thứ ba trong cuộc hành quân, tụi tao bắt đầu di chuyển qua biên giới, lâu lâu mình bất ngờ tràn qua biên giới một lần, phá hủy các căn cứ hậu cần của cục R rồi lẹ lẹ rút về, chẳng có ủy hội quốc tế nào dám đến tận chiến trường trong rừng sâu núi thẳm để kiểm soát hay phản đối. Tao chia lực lượng làm hai cánh quân, Đại đội I Dân Sự Chiến Đấu đi cánh trái, Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu bên cánh phải, cách nhau chừng một trăm mét, bộ chỉ huy của tao với toán cố vấn Mỹ đi ở giữa.

Hình minh họa

Đi vô hang cọp đánh phá, không u đầu thì cũng sứt trán, buổi trưa trong rừng rậm nhiệt đới không một chút gió, với cái nóng oi bức vây quanh, bộ chỉ huy của tao đang lầm lủi di chuyển với đội hình hàng một, tao bỗng nghe được cùng một lúc, nhiều tiếng nổ long trời lở đất của đủ loại vũ khí cá nhân cũng như cộng đồng vào hướng ba giờ, tức là hướng của Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu. Nhanh như chớp tao báo cáo với Đại úy căn cứ trưởng tọa độ điểm đứng của tao, sau đó là hướng tấn công

của địch, rồi xin yểm trợ pháo binh cũng như không yểm. Vừa nói chuyện qua máy PRC25 tao vừa cho lệnh trung đội Trinh Sát cùng với hai khẩu đại liên M60, bẻ một góc chín chục độ, đội hình của bộ chỉ huy đã thành hàng ngang, tất cả tiến về phía trước. Mới di chuyển chừng hai chục thước, tao đã gặp những người lính của Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu, vừa bắn cầm chừng rồi dạt về phía sau. Tao lập tức cho bố trí hai khẩu đại liên, khi những người lính Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu vừa lui tới, hai khẩu đại liên của tao quạt như điên về phía trước, thêm hơn ba chục cây M16, M79 của trung đội Trinh Sát đồng loạt bắn hổ trợ. Vừa bắn tụi tao vừa di chuyển từ từ về phía trước trong tiếng nổ kinh hồn của B40 chen lẫn với tiếng đạn AK xé gió bên mang tai, rồi tiếng cành cây gãy kêu răng rắc, tiếng đạn chạm vào thân cây kêu lụp bụp, cho đến khi gặp địa thế tương đối khá tốt, tất cả bọn tao trụ lại. Ngay lúc ấy, Trung úy cố vấn Mỹ McKenzie phóng ào tới bên tay phải, cách tao chừng hơn mười mét, ông ta đặt khẩu đại liên M60 xuống một mô đất rồi lẹ tay siết cò. Tao nhìn về phía trước, đám lính Việt Cộng đông như một đàn kiến, đang tranh nhau tràn lên định làm cỏ Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu, bất ngờ bị ba cây đại liên đồng loạt khai hỏa, khói lửa mù trời, vỏ đạn rơi đầy đất chen lẫn với tiếng nổ của súng M16, M79, người chứ đâu phải mình đồng da sắt mà chịu cho thấu, lính Việt Cộng lớp rớt như sung rụng, lớp bỏ chạy tán loạn. Hai tay xạ thủ đại liên lại xách súng chạy theo tao về phía trước, đặt súng trên vùng có xạ trường tốt, tiếp tục khạc đạn. Lúc này những người lính Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu sau cú bị phục kích bất ngờ, được sự trợ giúp của trung đội Trinh Sát và trung đội Vũ khí nặng, họ đã tái tổ chức lại đội hình, và bắt đầu phản công.

Trong khi hai cây đại liên của tao thi nhau nổ giòn giã từng chặp, thì cây đại liên của Trung úy McKenzie gặp trở ngại nên im bặt, tao lẹ làng phóng mình tới gần bên Trung úy McKenzie, mắt liếc nhìn khẩu M60, miệng hét lớn “Change it”. Trung úy McKenzie nghe tao nói nhưng ông ta vẫn đứng im như trời trồng, giương cặp mắt xanh lè màu ve chai nhìn tao. Vốn liếng tiếng Anh của bảy năm trung học, cộng thêm ba năm Anh văn là sinh ngữ chính ở Đại học Văn khoa coi như đổ sông bỏ biển. Các giảng viên ở Viện đại học đã bắt tao học nhiều tác phẩm lừng danh trên thế giới của đại văn hào William Shakespeare, Mark Twain, Ernest Hemingway. Bấy lâu nay, tao cứ đinh ninh trong đầu là mình biết tiếng Anh, nào ngờ khi đụng chuyện, chỉ mới nói có hai chữ mà cũng không xong. Biết là Trung úy McKenzie không hiểu tao nói gì, quá tức giận mình, tao bước qua cây đại liên, mang cái bao tay da to tổ bố vào, rồi thay cái nòng súng đại liên đang bốc khói, thiếu điều muốn cháy luôn cái bao tay da. Trung úy McKenzie nhìn tao, đưa một ngón tay cái lên trời.

Long công tử chuyển qua giọng nói đầy vẻ bực dọc.

-Ngay lúc ấy tao muốn nói với Trung úy McKenzie là “Mày còn chần chờ gì nữa, bắn đi” nhưng miệng thì lại câm như hến, không nói được một chữ tiếng Mỹ nào. Cho dù trong cái đầu của tao đã hoạt động hết công suất để dịch câu nói trên sang tiếng Mỹ, vậy mà không cách gì làm được. Ngày xưa khi còn đi học, mình chỉ chú trọng đến văn phạm, ngữ pháp, coi nhẹ chuyện đàm thoại, muốn nói một câu tiếng Mỹ, tao phải nghĩ câu nói ấy bằng tiếng Việt trong đầu, rồi dịch sang tiếng Mỹ, cuối cùng mới nói được mấy chữ tiếng Mỹ mà mình muốn nói. Cả một quá trình diễn tiến đầy nhiêu khê phức tạp trong đầu mới nói ra được một câu, lúc bấy giờ đứng giữa khói lửa mù trời, đạn bay như sao xẹt, giữa sự sống và cái chết, bắn chậm thì chết, tao càng luống cuống ngớ cả người. Trong lúc bối rối quá sức, không biết phải nói như thế nào cho Trung úy McKenzie hiểu, túng quá tao đành đưa ngón tay trỏ lên trời, duỗi thẳng ra rồi co lại giống như mình đang bóp cò, miệng hét lớn “Shoot, shoot”. Như một cái máy Trung úy McKenzie lẹ làng chụp khẩu đại liên M60. Bóp cò. Tiếng nổ chát chúa kéo dài từng chặp ba viên một, của khẩu đại liên M60 do Trung úy McKenzie bắn, xen lẫn với tiếng đì đùng vang trời của những quả đạn 105 ly do năm khẩu đại bác từ căn cứ Thiện Ngôn bắn yểm trợ, tạo nên một âm thanh hỗn tạp nghe sao mà êm tai quá chừng. Cũng cùng lúc ấy một tiếng “ầm” cọng với sức nóng hừng hực của một quả đạn B40, nghe muốn điếc con ráy vang lên chỗ khẩu đại liên M60, nơi mà tao vừa rời khỏi ít phút trước đó. Khẩu M60 văng xa mấy thước, cái nòng súng biến đi đâu mất, dây đạn đại liên đứt thành mấy khúc, người xạ thủ đại liên và phụ xạ thủ chỉ còn là hai cái xác bầy hầy máu tươi trộn lẫn với đất cát, một cái xác mất đầu, một xác mất tay, trong khi cánh tay còn lại của xác chết vẫn còn co giật nhè nhẹ. Tao cúi đầu nhìn hai cái xác nhưng không còn nhận ra ai là ai. Một lúc sau khi pháo binh 105 ly ngưng hoạt động, tao nghe được tiếng quạt phành phạch của trực thăng võ trang vần vũ trên trời, tiếng rocket xé gió bay về phía địch.

Hình minh họa

Long công tử im lặng một lúc, rồi quay qua nhìn tôi.

-Tao thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, nếu khẩu đại liên M60 của Trung úy McKenzie không kẹt đạn, tao không chạy qua thay giùm cái nòng súng cho ông ta, tao chỉ còn là một đống thịt bèo nhèo trộn lẫn với máu xương, làm gì có cơ hội ngồi đây để tâm sự vụn với mày. Giống như trường hợp của mày, nếu không có hai người lính Quân Cảnh chia cắt mày và Dung ở đuôi chiếc phi cơ C130 thì giờ này…

Long công tử bỏ lửng câu nói, hắn uống một hớp nước đường.

-Khi mà chiến trường vừa ngớt tiếng súng, tao dẫn theo trung đội Trinh Sát đi truy kích lục soát, trước mắt tao là cảnh địa ngục của trần gian với xác người nằm ngổn ngang nơi chiến địa. Kết quả sơ khởi hai chục Dân Sự Chiến Đấu bị chết và bị thương, Việt Cộng bỏ xác tại chỗ hơn bốn chục mạng, súng AK, B40 và M16 nằm lăn lóc khắp nơi. Trong khi tao đang lục soát, qua máy truyền tin PRC 25, Đại úy căn cứ trưởng đang bay trực thăng trên trời, xát muối ớt tao tơi bời hoa lá “Ông làm ăn cái kiểu gì kỳ vậy, cố vấn Mỹ báo cáo với tôi lực lượng Dân Sự Chiến Đấu chết với bị thương hơn hai chục mạng”. Sếp lớn chưa biết ất giáp gì đã vội kêu máy giũa mình, cái chết ngay trước mặt tao còn không sợ, sá gì Đại úy căn cứ trưởng, tao nổi điên tắt mẹ nó cái máy PRC 25 cho được việc. Hành động đó, khiến tao có thể bị tù như không, nhưng mà một khi bị chạm dây, phản ứng của con người ngay lúc đó sẽ không còn do lý trí điều khiển nữa, mà nó tùy theo tần số của dòng điện cao hay thấp.

Tôi ngắt lời Long công tử.

-Cho con gà nòi của mình cáp độ trận đầu, Đại úy căn cứ trưởng tưởng con gà của mình yếu bóng vía, nên ông nổi giận chứ gì?

Long công tử không trả lời tôi, hắn kể tiếp.

-Ba ngày sau, tụi tao về lại đến căn cứ Thiện Ngôn. Một buổi họp Việt Mỹ được tổ chức, rút ưu khuyết điểm của trận đánh. Hai tay cố vấn Mỹ đi theo Đại Đội I Dân Sự Chiến Đấu, than phiền sự yếu kém chỉ huy của tao nên con số thương vong của Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu, đi bên cánh phải lên đến hơn hai chục người. Tao giận cành hông định đứng lên phản đối, bất ngờ Trung úy McKenzie phát biểu ý kiến, ông ta nói “Nếu không có Chuẩn úy Long nhanh chóng điều hai cây đại liên M60 cùng với trung đội Trinh Sát, trung đội Vũ khí nặng lên tiếp ứng, có thể cả Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu đã bị làm cỏ sạch rồi, sạch sẽ không còn một mạng, nói gì chỉ chết có hai chục”. Đang nói chuyện, Trung úy McKenzie bất ngờ đứng lên, với giọng nói đầy hăng say “Tôi đã chiến đấu bên cạnh Chuẩn úy Long, suốt thời gian Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu bị Việt Cộng phục kích, và tôi chưa bao giờ thấy một ông sĩ quan nào kể cả sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, can trường gan dạ như Chuẩn úy Long. Ông ta đã anh dũng chiến đấu để làm chủ chiến trường, từ bị phục kích trở thành tấn công, từ thua thành chiến thắng cho Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu mà chứng cớ còn đó, với hơn bốn mươi xác Việt Cộng bỏ lại nơi chiến trường. Đó là tất cả những gì tôi đã tận mắt chứng kiến, trong cuộc hành quân cách đây ba ngày”. Với tao, bài học kinh nghiệm sau trận đánh là, tao cố gắng thực tập nghe và nói tiếng Mỹ thường xuyên với Trung úy McKenzie hơn. Bởi vì tao không muốn trong tương lai, khi đứng giữa chốn tên bay đạn lạc, mà lại nói chuyện với cố vấn Mỹ bằng thủ hiệu. Khi buổi họp kết thúc, hai cố vấn Mỹ đến bắt tay tao xin lỗi, họ nói rằng chỉ nhìn con số tử vong của hai bên chứ không biết được sự chiến đấu anh dũng của tao.

Hình minh họa

Long công tử cười mà cái miệng méo xệch.

-Anh dũng can trường con mẹ gì, phản xạ tự nhiên của tao, khi nghe tiếng súng nổ, tao đem hai cây đại liên cùng với trung đội Trinh Sát, trung đội Vũ khí nặng lên tiếp ứng, may mắn gặp đúng thời đúng chỗ, chớ tao có tài cán gì đâu. Sau trận đánh đó, tao được binh sĩ trong trại tin yêu, họ nhìn tao với con mắt đầy nể phục. Từ đó cho đến cuối năm bảy mươi, khi mà Lực Lượng Đặc Biệt giải tán, chuyển qua 81 Biệt Cách Nhảy Dù và Biệt Động Quân Biên Phòng tao vẫn là căn cứ phó của trại Lực Lượng Đặc Biệt Thiện Ngôn, ở đó để lãnh pháo kích dài dài, vẫn hành quân liên miên, đụng độ với Việt Cộng thêm nhiều trận ác liệt, mấy lần tưởng chừng như có thể lạc nẻo xuống địa ngục. Gần cuối năm bảy mươi, tao lên chức thiếu úy rồi sau đó chuyển qua Biệt Động Quân Biên Phòng. Tao bùi ngùi từ giã cái mũ nồi xanh, với không biết bao nhiêu là mến thương quyến luyến trong lòng. Khi qua làm lính mũ nâu tao được cử đi học khóa “Tác chiến trong rừng” ở Mã Lai Á. Cũng nhờ cả năm trau giồi Anh ngữ với trung úy McKenzie ở trại Lực Lượng Đặc Biệt, khi lấy cái test đi du học ở trường Sinh ngữ Quân đội, tao vượt qua một cách dễ dàng với số điểm hơn chín mươi, trong khi bài test chỉ cần bảy mươi điểm mà thôi.

Long công tử chép miệng.

-Đi Mã Lai học, nghe thoáng qua cứ như là đi du học ngoại quốc, thực sự với khóa học chỉ kéo dài một tháng, không đủ thời giờ để ngắm cảnh rừng núi của Mã Lai, nói gì đến chuyện học. Lần này tao xuất ngoại có giấy tờ đàng hoàng, qua Mã Lai mà không có giấy nhập cảnh, ai chớ tụi Mã nó bỏ tù mình như không.

Tôi nhắc Long công tử.

-Mày có biết mấy giờ rồi không?

Long công tử lắc đầu.

-Không, nhưng mà chắc tới giờ tao phải đi lãnh cơm rồi, chủ nhật tuần tới mình gặp nhau đi.

Tôi vỗ vai Long công tử.

-Ừ, cứ như vậy, nhớ giữ gìn sức khỏe.

Dâu bể trùng phùng

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 29 Feb 2024

Hình minh họa

Tập 2

Phần 9
Long Công Tử

Tôi bưng hũ ruốc thịt heo kho sả chỉ còn khoảng một phần tư, để lên cái xách tay rồi nói với Trung úy Lợi.

-Hơn hai tháng rồi, tao với mày nhờ nó mà sống hùng sống mạnh, sống huy hoàng. Cho đến hôm nay chỉ còn lại chừng này, phải chi mấy tháng trước, vợ tao làm cho tao chừng hai hũ như thế này thì đỡ cho tụi mình biết mấy.

Trung úy Lợi nhìn tôi.

-Hồi còn ở Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến, khi thấy hũ ruốc thịt kho sả của mày tao cười chế nhạo, đến hôm nay mới biết là mình hồ đồ, thiển cận. Mà thôi chuyện đã lỡ rồi, biết làm sao bây giờ, có mấy ai ngờ được mười ngày là mười tháng đâu.

Tôi múc một ít ruốc thịt cho vào cái hũ thủy tinh nhỏ bằng nắm tay. Cái hũ này tôi lượm được trong đống rác khi đi làm lao động, với ý định là làm cái ly uống nước, sau đó bỏ công kì cọ cái hũ với cát mịn, rồi lên nhà bếp của khối Đà Lạt xin chút nước sôi rửa lại một lần nữa. Sau màn làm tổng vệ sinh, cái hũ thủy tinh trông cứ như là mới mua ở chợ về. Hôm qua tôi muốn dùng nó để đựng ruốc kho sả, lại thêm một chuyện nữa tôi phải làm là lúc đi lao động tôi lượm về một cục gỗ, tốn mấy giờ đẽo gọt, mài trên nền xi măng, cuối cùng tôi có được cái nắp đậy vừa khít với cái hũ thủy tinh.

Trung úy Lợi hỏi tôi.

-Mày làm gì vậy?

-Tao muốn đem qua khối Bình Thuận cho Long công tử hũ ruốc này. Tội nghiệp nó đói gần chết suốt ba, bốn tháng trường khi bị nhốt ở Cà Tót, không cơm không cháo, chỉ ăn toàn khoai mì, rồi đọt mì với măng, đã vậy còn mang thêm cái bịnh sốt rét. Người chứ đâu phải voi, sức đâu mà chịu cho nổi. Mấy ngày trước ở cổng trại, mày thấy Long công tử rồi chứ gì, người ngợm của nó chỉ còn là da bọc xương.

Trung úy Lợi gật đầu.

-Mày nói phải, đem cho nó là đúng rồi, tụi mình còn hai lon thịt hộp, mày lấy cho nó một lon đi. So với nó, tao với mày tuy cũng ở tù nhưng còn may mắn hơn nhiều vì vẫn còn mập mạp, mạnh khỏe quá mạng, dư sức chịu đựng mà.

Khi nghe Trung úy Lợi nói như vậy khiến tôi cảm thấy sung sướng trong lòng, sẵn dịp tôi nói luôn:

-Chuyện giao thiệp với mọi người tao không được khéo cho lắm, có việc này tao muốn nhờ mày.

-Chuyện gì? Nói tao nghe thử coi, có được không?

Hình minh họa

-Mày làm sao tìm mua cho tao mấy viên thuốc Chloroquine trị sốt rét của lính mình ngày xưa, thêm một lon sữa đặc có đường.

Trung úy Lợi cười sằng sặc.

-Mẹ nó, mày cũng vừa thôi, đòi toàn là thứ hàng cao cấp. Sống ở địa ngục mà mày muốn mua loại hàng chỉ có ở thiên đường dương thế, thì làm sao mà mua cho được. Để từ từ đi, tao còn phải dò xét cẩn thận rồi mới nói lại với mày sau.

Tôi đẩy nhẹ Trung úy Lợi.

-Mày học được ở đâu mấy chữ “hàng cao cấp” vậy.

Nói xong, tôi lấy trong ví bốn tờ giấy năm trăm tiền Việt Nam Cộng Hòa, đưa cho Trung úy Lợi.

-Tao chỉ có hai ngàn, đây là tất cả gia tài vốn liếng của tao, mày cầm lấy đi tìm mua thuốc với sữa giùm.

Trung úy Lợi cầm tiền rồi hỏi:

-Mày mua cho Long công tử phải không?

Tôi nói:

-Không lẽ cho tao hay mày, tụi mình còn mạnh như trâu, đâu có cần mấy thứ đó.

Phải hai ngày sau, khi ăn cơm chiều xong, Trung úy Lợi đưa cho tôi tám viên thuốc Chloroquine và một lon sữa đặc có đường hiệu ông Thọ. Mừng như bắt được vàng, tôi nói với Trung úy Lợi.

-Mày hay thiệt, cứ như là điệp viên. Nói cho tao nghe mày kiếm ở đâu ra vậy?

Trung úy Lợi loay hoay lục trong túi, đưa lại cho tôi ba tờ giấy năm trăm.

-Đây là một ngàn rưỡi tiền còn dư lại, thuốc sốt rét không tốn tiền mua, tao xin được của một thằng ở Tổ 39 thuộc khối Đà Lạt của mình. Còn lon sữa ông Thọ có một thằng ở khối Bình Tuy, nó bán lon sữa cho tao với giá năm trăm đồng.

Tôi ngạc nhiên quá sức, nói với Trung úy Lợi.

-Tao tưởng thằng có lon sữa, nó phải đòi nhiều hơn chớ. Từ sau ngày ba mươi tháng tư, mệnh giá của đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa thay đổi bất thường liên tục khiến cho mọi người chẳng biết đâu mà lần. Hôm nay còn có chút giá trị, ngày mai có thể trở thành tờ giấy lộn. Với tao có trong tay lon sữa, coi bộ vững tâm hơn là cầm tờ giấy năm trăm.

Tôi đặt lon sữa, thuốc sốt rét, lon thịt hộp và hũ ruốc nho nhỏ vào cái bao cát, túm gọn đầu bao cát lại khoác lên vai rồi rủ Trung úy Lợi.

-Bây giờ tao đem mấy cái thứ này qua khối Bình Thuận cho Long công tử, mày đi với tao cho vui.

Trung úy Lợi vui vẻ.

-Đi thì đi nhưng nhớ về sớm, bảy giờ là phải họp tổ rồi đó.

-Mày yên chí, qua đưa cái bao này cho Long công tử, dặn dò vài câu rồi về liền mà.

Tuy nói với Trung úy Lợi như vậy nhưng khi gặp Long công tử, nhìn cái thân xác ốm yếu gầy gò của nó, tôi không đành lòng đi ngay, cứ chần chờ, quyến luyến không nỡ dời chân.

Trung úy Lợi vì đợi quá lâu nên hối tôi.

-Quân nè sắp tới giờ họp tổ rồi, tụi mình phải về thôi.

Hình minh họa

Tôi ráng nấn ná thêm chút xíu, dặn dò Long công tử.

-Mày nhớ uống thuốc và uống sữa, như vậy mới mau bình phục được.

Khi tôi và Trung úy Lợi về đến nơi, cũng là lúc tổ trưởng bắt đầu điểm danh để họp tổ. Tất cả mọi người ngồi thành hình chữ nhật trên sân đất trong phòng ngủ, mười sáu cái miệng đói ăn, hét ra lửa ngày nào, giờ đây ông ổng hát bài “Bác cùng chúng cháu hành quân”. Sở dĩ tôi nói hét ra lửa, là vì với cấp bậc trung úy trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nếu ở đơn vị tác chiến, chức vụ của mấy ông trung úy thường là đại đội trưởng. Bài hát mà chúng tôi vừa vỗ tay vừa gào lên, âm điệu của bản nhạc lúc thì the thé, lúc thì eo éo cứ như là bản nhạc Tàu lời Việt.

Điện Biên năm nào vọng lời Bác giữa chiến hào.

Tôi say sưa hát nhưng trong lòng cứ nơm nớp lo sợ hão huyền, Bác đang ở giữa chiến hào, lỡ bị trúng bom của thực dân Pháp chết banh thây, thì còn ai mà đọc lời “Chúc Tết Mậu Thân”. Điều quan trọng hơn là cái lăng của Bác ở Quảng trường Ba Đình, không lẽ bỏ trống, chắc phải làm cái thi hài bằng sáp thế vào, để cho dân chúng đến chiêm ngưỡng. Tất cả những bản nhạc mà chúng tôi hát trong tù, đều là loại nhạc lai căn mất gốc, được sáng tác theo đơn đặt hàng của đảng Cộng Sản. Vậy mà bọn tù chúng tôi bị bắt buộc phải học thuộc lòng khoảng sáu, bảy bài hát này. Hàng ngày trước khi họp tổ, họp sinh hoạt kiểm điểm, là cả tổ phải căng họng rống lên một bài hát lai Tàu. Một vài lần, anh tổ trưởng thấy khí thế chống đế quốc Mỹ, chống Ngụy của tù nhân chưa được mạnh mẽ cho lắm, bèn bắt hát thêm bản nữa, hát cho đến khi sạch bóng quân thù, Mỹ cút Ngụy nhào mới được ngưng. Đó là hình ảnh mở màn cho một buổi họp tổ trong tù, một ngày họp hai lần, tính ra một tuần chúng tôi phải hát ít nhất là mười bốn lần mấy bài hát thổ tả của Việt Cộng.

Gần một tuần trôi qua, hôm nay là chủ nhật, tất cả mọi người được nghỉ ngơi không phải đi lao động, một mình tôi đi qua khối Bình Thuận thăm Long công tử. Nội quy của trại không cấm chúng tôi đi từ khối này qua khối khác, nhưng chẳng có mấy ai đi lang thang, thường chỉ quanh quẩn trong khối của mình, bởi vì không một ai muốn bị phê bình, kiểm điểm vì cái tội liên hệ linh tinh. Chỉ mới có mấy ngày không gặp mà sắc diện của Long công tử đã thay đổi hẳn. Tôi không ngờ Long công tử hồi phục nhanh như vậy, hắn có thể tự đi lại một mình không cần phải chống gậy, giọng nói của hắn nghe đã bắt đầu mạnh hơn, không thều thào đứt khoảng, hụt hơi như khi gặp tôi tuần trước. Tôi nắm vai Long công tử.

-Trông mày khỏe hơn trước nhiều rồi.

Long công tử cười, giải thích với tôi.

-Mỗi buổi sáng tao ăn một chén cháo, uống một viên thuốc Chloroquine, sau đó mới xuống nhà bếp của khối xin một lon nước sôi đem về phòng. Bảy người trong phòng đã đi lao động hết rồi, một mình tao một cõi muốn làm gì thì làm, chẳng có ai phiền hà gì đến mình. Tao pha một chén sữa rồi cứ nhẩn nha mà thưởng thức, còn gì khoái cho bằng khi tao ngửa cổ uống một hơi, chất ngọt của đường, vị béo của sữa đi qua cổ họng, trôi tới đâu mình cảm thấy ngọt ngay tới đó. Cứ vậy tao từ từ uống cạn hết chén sữa ngon lành. Buổi trưa, tao lại đi xuống bếp lãnh phần cơm của mình, một chén rưỡi cơm thêm một miếng bí đỏ to bằng nửa ngón tay cái, với tao chừng đó đã là quá sức hậu hỉ rồi, có nằm mơ cũng không tin là mỗi bữa ăn lại có chén rưỡi cơm. Thế nhưng có một điều tao không ngờ tới là, tay nấu bếp có lẽ thấy tao yếu đuối bịnh hoạn, hắn bèn cho thêm một miếng cơm cháy cỡ hai ngón tay.

Long công tử đưa hai ngón tay lên nhìn, rồi gật đầu.

-Đúng rồi cỡ đó thôi, mày có biết không, miếng cơm cháy đó mà ăn với ruốc thịt heo kho sả của mày thì không gì ngon bằng. Chút béo của mỡ heo, chút ngọt của đường, cái mặn của muối, cay cay của ớt, mùi thơm của sả, giòn giòn của cơm cháy, tao ăn mà cứ tưởng như ngày xưa khi đi chơi khuya về ngang qua khu Tân Định, ăn khúc bánh mì kẹp thịt nơi xe bánh mì Sáu Voi. Chiều đến tao lại lãnh chén rưỡi cơm, lại ăn với ruốc, hộp thịt mày cho tao vẫn chưa ăn, còn để dành đó.

Hình minh họa

Tôi nói với Long công tử.

-Hộp thịt đó của Trung úy Lợi cho mày, chứ không phải của tao. Trung úy Lợi là bạn tao mới quen sau này khi bắt đầu vô tù, còn bạn cũ chẳng thấy thằng nào, chắc tụi nó lanh tay lẹ chân bay qua Mỹ hết rồi. À Long nè, mày có biết là Biên chết rồi không?

Long công tử lặng người đi hồi lâu rồi hỏi tôi.

-Biên chết lâu chưa? Từ ngày ra trường tao đi biệt luôn rất ít khi về Sài Gòn nên không biết gì.

-Để tao nhớ lại coi, Biên nó chết đâu khoảng năm bảy hai tại Quảng Trị.

Tôi kéo Long công tử.

-Ở đây tù túng quá, tụi mình kiếm chỗ nào thoáng mát, ngồi nói chuyện cho thoải mái hơn, tao muốn biết tại sao mày là dân Sài Gòn mà lại bị đưa đi học tập ở Cà Tót, Phan Thiết.

Long gật đầu.

-Mày nói phải, tụi mình ra sau hè bên hông nhà bếp, chỗ đó ít người qua lại.

Tôi và Long công tử ngồi bên hè nhà bếp, dựa lưng vào tường. Long công tử nâng cái lon gô uống một ngụm nước rồi bắt đầu câu chuyện.

-Mùa hè năm sáu mươi sáu, tao vừa xong năm thứ nhất bên Văn khoa, một thằng quanh năm suốt tháng chỉ biết rong chơi khắp cả cái đất Sài Gòn, không có nơi nào mà thiếu dấu chân của tao, ăn chơi xả láng như vậy mà cũng xong được năm thứ nhất, đúng là chuyện đáng mừng. Để thưởng công cho mình, tao bèn lấy vé máy bay, lên đồn điền của ba tao ở Ban Mê Thuột. Lúc đầu tao chỉ định ở chơi dăm bảy ngày, trốn cái nóng nực ở Sài Gòn đi tìm chút không khí trong lành của cao nguyên, không ngờ đó là một cuộc phiêu lưu kéo dài luôn ba tháng, cho đến ngày nhập học ở Văn khoa, tao mới trở về lại Sài Gòn. Đồn điền của ba tao cách Ban Mê Thuột vào khoảng mười cây số, trên đường từ Ban Mê Thuột đến cầu Mười bốn.

Long công tử ngưng nói quay nhìn tôi.

-Mày có đến Ban Mê Thuột bao giờ chưa?

Tôi lắc đầu.

-Chưa.

Hình minh họa

-Có dịp mày cũng nên đi một lần cho biết cái xứ đất đỏ bụi mù đó, nó như thế nào. Bụi mù nhưng con người thì lúc nào cũng trong sáng, không một chút mù mờ. Ngày đầu tiên ở Ban Mê Thuột, tao lái chiếc Land Rover của ba tao dạo phố. So với mấy chiếc xe Honda hai bánh đang chạy ở phố Ban Mê Thuột, chiếc Land Rover như một con voi rừng chạy bên cạnh mấy con nai. Ngồi trên xe tao phì phà điếu thuốc lá, nhìn đời bằng nửa con mắt, thành phố gì mà buồn quá sức, bụi đỏ bám đầy khắp nơi nhìn đâu cũng một màu gạch, phố xá vắng tanh người đi thưa thớt, thỉnh thoảng vài chiếc xe nhà binh chạy vụt qua để lại một lớp bụi mù trên đường phố. Không biết làm gì cho hết giờ, tao chui vào rạp ciné Lodo ở ngay trung tâm thành phố. Được mươi phút tao phải hộc tốc chạy thoát thân, bởi vì cái nóng ngột ngạt khó thở của rạp chiếu bóng không có máy lạnh. Mới có một ngày ở Ban Mê Thuột mà tao đã ớn đến tận cổ. Ngày thứ hai, tao theo anh tài xế xe truck tên là Phục tới thăm đồn điền của ông già tao. Khi xe đã ra khỏi thành phố chừng bốn cây số, đường xá ở đây vắng bóng người di chuyển, trên quốc lộ chỉ có duy nhất một cô gái đang đi bộ. Anh Phục chỉ cô gái rồi nói “Con nhỏ đó tên Hà, mặt mũi coi dễ thương vậy mà tính tình lại cộc cằn, thô lỗ như là dân đầu đường xó chợ”. Tao quay đầu lại, chỉ kịp nhìn thoáng qua thì xe đã chạy quá xa. Tao nói với anh Phục “Anh biết cô ta hả?”. Anh Phục trả lời “Biết chớ cô Hà làm công trong đồn điền của mình, sở dĩ tôi nói cô ta khó ưa vì có xe của đồn điền chở công nhân đi làm miễn phí mà cô ta không chịu đi, cứ nhất định lội bộ”. Khi tới đồn điền, một mình tao ngồi trong văn phòng nhìn qua khung cửa kính, mới đầu tháng sáu hãy còn bốn năm tháng nữa mới đến mùa thu hoạch cà phê, cho nên cái sân đóng bao cà phê rộng mênh mông vắng hoe, chỉ có vài nữ công nhân đang làm việc. Óc tò mò khiến tao lén quan sát cô Hà. Về sắc đẹp thì đúng như anh Phục nói, Hà không có vẻ đẹp sắc sảo mặn mà, nhưng xinh xắn dễ thương như một con búp bê, còn về tính tình thì hoàn toàn khác hẳn những gì anh Phục nói. Hà vui vẻ với mọi người, ăn nói dịu dàng lại hay pha trò làm cho mấy cô công nhân cười bò lăn. Chuyện xảy ra trước mắt khiến tao không tin Hà là một con người cộc cằn. Bị sắc đẹp của Hà mê hoặc, sắc đẹp của một loài hoa nơi núi rừng hoang dã, nên ngày hôm sau tao lái chiếc Land Rover chạy rề rề theo sau Hà, suốt mấy cây số đường cô ta cắm cúi đi không một lần ngó lại. Ngày hôm sau mọi chuyện cũng diễn ra y như vậy. Sang đến ngày thứ ba, tao gần như mất kiên nhẫn, lái xe theo sau Hà nhưng trong bụng thì nản lắm rồi, đã mấy lần tao muốn bỏ cuộc quay về Ban Mê Thuột. Đúng ngay lúc ấy, Hà quay lại nhìn chăm chăm vào mặt tao rồi hỏi “Coi bộ anh rảnh quá há, tôi lội bộ mệt muốn chết, anh lái xe theo tui mấy ngày nay, anh không biết mệt hay sao?”

Long công tử ngừng kể, hắn bưng cái lon gô nước uống một hơi rồi quay sang tôi.

-Chỉ chờ chừng đó, khi nghe người đẹp mở miệng, tao mừng quá sức tắt máy xe, nhảy xuống chạy theo Hà rồi lấy giọng êm dịu nói “Tôi sợ cô mỏi chân nên muốn chở cô tới đồn điền, nhưng nghe người ta nói cô không ưa đi xe hơi, nên tôi không dám hỏi”. Hà nhìn tao rồi nói “Ai nói với anh như vậy?”. Tao trả lời “Anh tài xế Phục nói là cô chỉ thích đi bộ”. Hà phá ra cười rồi nói với tao “Tui không đi xe của đồn điền là vì mỗi lần chở tui, ông Phục lại kiếm cách tán tỉnh, anh biết không ổng hơn tui cả chục tuổi, già khú đế, thiếu điều có cháu rồi mà còn bày đặt dụ dỗ tui”. Tao nghĩ thầm trong bụng, tôi cũng đang tán tỉnh cô đây nè, nghĩ như vậy nhưng tao lại nói “Tôi chỉ muốn giúp cô thôi”. Hà cười vui vẻ “Được rồi tui sẽ đi xe, nhưng anh phải thề với trời đất là anh sẽ không học cái thói dê xồm của ông Phục”. Tao lập tức đưa hai tay lên trời rồi nói “Xin thề”. Miệng nói nhưng trong đầu lại nghĩ. Khi mở lời tán tỉnh em, anh Phục quên mất chuyện cưa sừng làm nghé, nên mới lâm cảnh điêu tàn như vậy. Với tao bước đầu khó khăn qua đi không mấy khó, kể như tao đã làm quen được với Hà.

Tôi hỏi Long công tử.

-Bộ Hà không biết mày là con ông chủ, là ông chủ nhỏ của đồn điền hay sao?

Long công tử nói.

-Theo tao nghĩ, ngay lúc ấy thì không. Những ngày sau đó ở Ban Mê Thuột là những ngày tao thật sự sống trong vui vẻ, đầy thoải mái bên Hà. Sáng chủ nhật khi mặt trời lên khá cao, tao lái chiếc Land Rover chở Hà đi lang thang quanh phố Ban Mê Thuột. Đường sá trong thành phố nhỏ hẹp ngắn ngủn so với Sài Gòn, chỉ mới đạp ga vài lần đã đi hết một con đường. Tao cho xe chạy dọc theo đường Ama Trang Long, Hà ngồi trên chiếc ghế bên cạnh luôn miệng giải thích rõ ràng những gì tao muốn biết, gặp đường Tôn Thất Thuyết tao cho xe quẹo phải, chạy ngang qua những dãy nhà khang trang sạch sẽ, khi đến đường Hoàng Diệu, tao quẹo phải một lần nữa rồi hỏi Hà muốn đi đâu. Câu trả lời của Hà nghe thật hết sức dễ thương “Anh muốn đi đâu tùy ý, em thuộc từng ngóc ngách của thành phố này vì em lớn lên ở đây, nhưng đây là lần đầu tiên em ngồi trên một chiếc xe hơi sang trọng chạy trong phố Ban Mê Thuột”.

Hình minh họa

Long công tử quay sang hỏi tôi.

-Mày biết xe Land Rover rồi chứ gì? Chiếc xe hai cầu dùng để chạy trong đồn điền, có thể chở nặng, băng rừng vượt suối, vậy mà Hà coi đó là chiếc xe sang trọng. Chuyện trò với Hà được vài câu xe đã đến đường Lý Thường Kiệt, tao phân vân không biết phải quẹo trái hay phải. Cuối cùng tao và Hà xuống xe đi bộ, tao muốn tận tay sờ vào cái thành phố Ban Mê Thuột chứ không muốn làm kẻ cưỡi ngựa xem hoa. Khi ngang qua một quán cà phê có bề ngoài rất là đẹp, trang hoàng bắt mắt ở đường Lý Thường Kiệt, tao kéo Hà vào vì tò mò muốn thưởng thức cà phê Ban Mê Thuột. Mang danh là thủ phủ cà phê của miền Nam, chắc chắn cà phê ở đây không thể dở được. Trái với cái vỏ hào nhoáng bên ngoài, trong quán cà phê không có gì đặc sắc, tao gọi hai ly cà phê phin rồi cùng Hà ngồi thưởng thức những bản nhạc tiền chiến phát ra từ mấy cái loa hàng trăm watt treo trên tường. Cà phê trong quán rất đậm đặc, vị khá ngon nhưng mùi thơm thì hoàn toàn không có. Chắc tao đòi hỏi hơi nhiều khi muốn so sánh với những quán cà phê nổi tiếng ở Sài Gòn. Tao hỏi Hà biết quán cà phê nào ngon nhất ở đây không. Hà cúi mặt lí nhí trong miệng “Em nói ra sợ anh không tin, từ nhỏ tới giờ em chưa bao giờ uống một giọt, nói gì đến một ly cà phê. Làm sao em biết ở đâu có cà phê ngon. Nếu anh hỏi em loại rau cải nào ngon hay dở, tốt hay xấu em sẽ trả lời được, bởi vì ngày xưa em vẫn phụ mẹ bán rau cải trong chợ Ban Mê Thuột. Thực ra không phải vậy đâu, em bưng một cái rổ nhỏ trong đó gồm có độ chục trái chanh, một mớ hành lá, mươi trái ớt, bán dạo cho những người khách ngừng xe bên lề đường trước chợ, kiếm được đồng nào hay đồng nấy, phụ giúp mẹ”. Những câu nói của Hà khiến tao bắt đầu suy nghĩ rồi đâm ra nể trọng cái lối ăn nói chơn chất thật thà, không một chút che giấu của cô ấy. Qua khung cửa sổ của quán cà phê, nắng đã lên cao đem theo cái nóng hâm hấp của cao nguyên chụp xuống thành phố, bụng đã bắt đầu thấy xót vì ly cà phê quá đậm, tao và Hà rời quán, thả bộ đến nhà hàng Mỹ Cảnh. Tao biết nhà hàng này vì lúc sáng tao đã lái xe chạy ngang qua.

Long công tử ngẩn nhìn lên bầu trời Sông Mao xanh ngắt một màu, đôi mắt của hắn rõ ràng đang chìm trong quá khứ. -Khi hai đứa đã ngồi yên trong nhà hàng, tao kêu một tô súp măng cua, sau đó là hai dĩa steak ăn với sà lách và khoai tây chiên, một dĩa mì ống xào thịt bò, thêm một chai bia 33 cho tao và một ly soda chanh cho Hà. Thức ăn dọn đầy bàn, tụi tao vừa ăn vừa trò chuyện vui vẻ, nhờ vậy mà tao biết được hoàn cảnh cũng như đời sống kinh tế của Hà. Với giọng nói tự nhiên đầy chân thật, không một chút ngại ngùng, Hà kể cho tao nghe về cuộc sống túng quẫn nghèo khó của gia đình mình. Mười sáu tuổi, đậu bằng trung học đệ nhất cấp, cha chết vì tai nạn xe, Hà bỏ học đi làm kiếm tiền nuôi thân, hơn ba năm làm công trong đồn điền của ba tao, cuộc sống tạm ổn định, tiền lương chỉ đủ sống đắp đổi qua ngày. Tuy vậy Hà vẫn cho là mình rất may mắn khi có được một việc làm ổn định ở cái xứ Ban Mê Thuột đất đỏ buồn hiu, nơi mà mọi người thường gặp khó khăn trắc trở trong khi tìm kiếm công ăn việc làm. Không biết chút xíu gì về Ban Mê Thuột nhưng tao vẫn gật đầu đồng ý với Hà, rồi than phiền về thành phố vắng vẻ, buồn quá sức so với Sài Gòn. Hà nói với tao “Bởi vì anh rảnh rỗi quá, cho nên sinh ra buồn chán, ngày mai em sẽ dẫn anh đến nơi này và hy vọng anh sẽ thích. Sáng mai, nhớ đón em trên đường như mọi lần”. Tao thanh toán tiền ăn rồi để một mớ tiền tip trên bàn. Khi vừa bước chân ra khỏi tiệm, tao ngạc nhiên khi thấy Hà đưa cho tao mớ tiền rồi nói “Anh để quên tiền nè”. Tao cầm mấy tấm giấy bạc trên tay Hà, vô tình nhìn thấy tay áo dài trắng may bằng loại vải rẻ tiền mà Hà đang bận, tuy chưa rách nhưng đã sờn nhiều chỗ quanh cổ tay áo. Tao chợt hiểu ra, đồng tiền đối với Hà rất là quý. Sau khi giải thích với Hà chuyện phải cho người hầu bàn chút tiền gọi là cảm ơn, tao trở vào tiệm giải quyết chuyện tiền tip. Khi tao bước ra cửa, Hà nói với tao, câu nói chắc suốt đời tao không bao giờ quên “Số tiền mà anh trả cho bữa ăn hôm nay bằng nửa tháng lương của em, tiền anh cho người ta đủ để em sắm một đôi dép mới”. Tao đứng như trời trồng, ngượng ngùng lúng túng. Khi đã hiểu rõ Hà muốn nói gì, một chút tình thương xuất phát tận đáy lòng chợt đến với tao.

Hình minh họa

Long công tử ngưng kể chuyện, nó hỏi tôi.

-Mấy giờ rồi?

Tôi nhìn đồng hồ.

-Mười một giờ hơn.

Long công tử hối tôi.

-Mày về ăn cơm đi, tao phải đi lãnh phần cơm của tao. Chủ nhật tuần tới rảnh qua đây chơi, tao cần có người để tâm sự, dân Sài Gòn như tao, một mình sống lạc loài trong khối Bình Thuận, quả thật là buồn còn hơn là ở tù.

Tôi nắm chặt tay Long công tử, an ủi hắn.

-Mày nói đúng, yên chí đi còn có tao ở đây, gắng ăn uống, thuốc thang, tuần tới tao qua thăm mày. À quên nữa, bịnh sốt rét của mày tới đâu rồi?

Long công tử với nụ cười rạng rỡ trên môi.

-Mẹ nó có mấy viên thuốc Chloroquine, cái thứ thuốc mà ngày xưa tụi mình chê lên chê xuống thiếu điều muốn vứt vào thùng rác, không hiểu sao bây giờ nó như là thuốc tiên, tao mới uống có mấy viên mà con vi trùng sốt rét Cà Tót, nó biến mất tiêu.

Cuối tuần đó, tôi không qua thăm Long công tử được, phải đợi thêm hai tuần lễ nữa tôi mới có dịp qua thăm nó, lý do rất giản dị vì tất cả khu trung úy gồm có năm khối phải tập trung lại, bốn khối đi đến phi trường dã chiến Sông Mao để gỡ vỉ sắt PSP, đem về làm hàng rào bao quanh khu trung úy, khối còn lại lo phần đào đất để chôn vỉ sắt PSP xuống. Phi trường này trước đây do công binh Mỹ thiết kế và xây dựng để cho phi cơ vận tải đáp xuống tiếp tế thực phẩm đạn dược, cho những căn cứ quân sự quanh Sông Mao. Hôm nay phi trường trở thành vô dụng đối với cách mạng, vì Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đánh nhau với Mỹ bằng xe tăng và trọng pháo, chứ không dùng phi cơ. Hơn nữa nhu cầu trước mắt là cần chỗ chắc chắn để nhốt tù, cho nên phải gỡ PSP đem về làm hàng rào trại tù.

Chỉ tiêu của Việt Cộng đưa ra là, mỗi ngày hai tù nhân phải đem từ phi trường về trại một tấm PSP. Đoạn đường di chuyển dài khoảng hai cây số, muốn khiêng, vác, cõng, gánh, lôi , kéo, làm gì cũng được tùy tù nhân, miễn sao đem được tấm vỉ sắt về trại.
Khi đám tù nhân chúng tôi đến phi trường, Trung úy Lợi nhìn phi đạo rộng mênh mông, dài ngút mắt được lót bằng vỉ sắt, hắn lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán.

-Tao đã quan sát kỹ rồi, phi trường Sông Mao có hai phi đạo, phi đạo nhỏ dành cho trực thăng, dùng vỉ sắt M8, phi đạo dài và rộng dành cho vận tải cơ, dùng vỉ sắt M8A1. Tấm vỉ sắt M8 có tám mươi bảy cái lỗ to như cái chén, bề ngang của nó đo được ba mươi tám phân, bề dài ba mét, nặng ba chục kí lô, thứ này Việt Cộng không muốn dùng nó làm hàng rào, vì sợ tù nhân có thể nhìn xuyên qua những cái lỗ này, quan sát được bên ngoài và bám theo những cái lỗ đó leo rào vượt ngục. Thứ mà Việt Cộng muốn là loại M8A1, không có lỗ, bề ngang sáu mươi phân, bề dài ba mét sáu, nặng bốn mươi lăm kí lô. Hai thằng tù khiêng một tấm vỉ sắt M8A1, tuy không nặng lắm nhưng lại cồng kềnh, đi gần hai cây số coi bộ hơi oải à nha.

Tôi nhìn Trung úy Lợi.

-Sao mày rành quá vậy? Biết hai, ba loại vỉ sắt, biết được tám mươi bảy cái lỗ. Mày đếm hồi nào vậy?

Hình minh họa

-Đếm cái con mẹ gì, tất cả những thông số kỹ thuật đó tao học ở Trường công binh. Chỉ có mấy con số mà không nhớ thì đi lính bộ binh như mày cho được việc.

Tôi sửa lưng nó.

-Phải rồi mấy cái con số vô dụng đó thì mày nhớ kỹ, còn nguyên cuộn dây dẫn điện to như cái cối đá thì mày quên mất tiêu. Phải không?

Trung úy Lợi cười.

-Vô dụng sao được mày, không có tao làm sao tụi mày biết tấm vỉ sắt mà tụi mày sẽ khiêng, nặng đúng bốn mươi lăm kí.

Tôi đề nghị với Trung úy Lợi.

-Hai thằng khiêng một tấm vỉ sắt nặng bốn mươi lăm kí, đi hai cây số, đúng như mày nói coi bộ hơi oải gân đó. Hay là mình kêu thêm hai thằng nữa, bốn thằng gánh một tấm, một ngày đi hai lần, sáng một chuyến, chiều một chuyến, vừa nhẹ nhàng vừa thoải mái. Khỏe re như con bò kéo xe.

Trung úy Lợi tán đồng.

-Mày nói đúng, để tao đi kêu gọi thêm hai thằng nữa.

Bốn thằng tù tụi tôi, dùng một cọng kẽm gai được tháo ra từ hàng rào cột vào hai đầu tấm vỉ sắt, lòn khúc cây qua vòng kẽm gai, gánh tấm vỉ sắt về. Mỗi ngày gánh hai chuyến không có gì là mệt nhọc, chỉ có chuyện nguy hiểm là khi gỡ kẽm gai nơi hàng rào của phi trường, có thể bị trúng mìn. Nhiều ông sĩ quan ở đơn vị tác chiến than thở, đánh đấm bao nhiêu năm không sao, giờ đây vô tù, bị đạp mìn giống như chết lỗ chân trâu, lảng nhách.

Bốn khối trung úy lo vận chuyển vỉ sắt từ phi trường về trại, khối còn lại lo phần đào đất để chôn tấm vỉ sắt. Bề dài của một tấm vỉ sắt là ba mét sáu mươi phân, chôn sâu xuống đất sáu mươi phân, chiều cao còn lại của hàng rào là ba mét. Gần bảy trăm tù trung úy làm việc suốt hai tuần, cái hàng rào sắt kiên cố đã hoàn tất. Bốn góc trại, mỗi góc có một cái tháp canh cao hơn hàng rào, mỗi tháp canh được bố trí một cái đèn pha và một khẩu đại liên phòng không 50. Loại súng này bắn máy bay còn rớt, sá gì mấy thằng tù ốm nhom cho dù có leo lên tới đỉnh của hàng rào, cũng sẽ làm mồi ngon cho mấy cây đại liên phòng không 50 này. Nhìn bức tường cao ngút mắt, thêm mấy họng súng đại liên đen sì, lúc nào cũng sẵn sàng nhả đạn, đa số tù nhân đều nhắm mắt chào thua, trừ những vị nào có máu Papillon mới dám nghĩ đến chuyện vượt ngục.

Xong phần hàng rào, tù trung úy được lệnh khiêng thêm vỉ sắt về trại. Bao nhiêu tháng rồi tuy không có đi tu nhưng tù nhân phải ăn chay nằm đất, chuyện ốm yếu và bịnh tật dễ xảy ra, hôm nay được cách mạng ưu ái chăm lo sức khỏe của tù nhân, cho khiêng PSP về làm gường ngủ nên mọi người đều hăng hái làm lao động. Mỗi phòng tám người, được lấy bốn tấm vỉ sắt kết với nhau thành một cái gường, bề ngang 2 mét 4, dài 3 mét 6, kê trên hàng chục viên gạch xi măng. Tính ra mỗi người được gần nửa mét bề ngang để nằm ngủ. Tới đây tù cải tạo Sông Mao đã có nơi ăn chốn ở an toàn đúng như ông bà mình nói “Có an cư thì mới lạc nghiệp”. Tù nhân chỉ còn một việc duy nhất là đi lao động.

Hôm thứ bảy, Trung úy Lợi “liên hệ” với ai đó mua được ba tán đường, liên hệ là chữ tôi mới học được của cách mạng, nó có nghĩa là liên lạc móc nối với người khác, trao đổi tin tức hoặc buôn bán, đại khái là như vậy. Thật ra tôi chưa hiểu rõ hoàn toàn ý nghĩa chữ “liên hệ” để sử dụng cho chính xác.

Chủ nhật sau khi ăn sáng xong, tôi lấy một bộ quần áo của tôi, sau đó gói một tán đường vào trong tờ giấy báo to bằng bàn tay, đem qua khối Bình Thuận cho Long công tử, hai tán đường còn lại là phần của tôi và Trung úy Lợi.

Hình minh họa

Hơn hai tuần không gặp, hôm nay Long công tử trông khỏe hẳn ra, giống như hắn lên được vài kí thì phải. Sau khi đưa tán đường cho Long công tử, tôi nói với hắn.

-Ngày đi học tập ngoài bộ đồ bận trên người, tao còn mang theo hai bộ nữa để thay đổi. Theo tao đoán suốt mấy tháng qua, mày chỉ có một bộ bà ba đen này thôi phải không?

Long công tử hỏi lại tôi.

-Sao mày biết?

-Mấy tuần trước khi gặp mày nơi cổng trại, ngoài cây gậy đánh chó trên tay, mày đâu có gì nữa.

Không đợi Long công tử trả lời, tôi lấy trong ví ra một đồng bạc mới tinh còn thơm mùi giấy, trịnh trọng đưa cho hắn.

-Tuần trước đổi tiền, ở trong trại của mình quản giáo thu tiền của tù nhân đi đổi giùm, cứ năm trăm đồng Việt Nam Cộng Hòa đổi lấy một đồng tiền Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa. Tao còn một ngàn rưỡi tiền Việt Nam Cộng Hòa, đổi được ba đồng tiền mới. Trung úy Lợi lấy một đồng mua được ba tán đường, còn lại hai đồng tao đem tặng mày một đồng, mày giữ lấy để phòng khi hữu dụng.

Long công tử cười, nụ cười đầy sảng khoái.

-Bắp cải à cất tiền đi, khi nào cần tao sẽ qua mày, còn quần áo thì tao lấy chớ vì đúng là tao đang cần, mấy tháng rồi chỉ có một bộ duy nhất trên người, hôm nay nó bốc mùi rồi. Bây giờ tao xuống nhà bếp xin một lon gô nước sôi, bỏ tán đường vào, hai thằng mình ra ngồi sau hè, kể chuyện đời xưa nhâm nhi chút nước đường. Cứ tưởng tượng như tụi mình đang ngồi ở Thanh Thế, ăn cái bánh Pâté Chaud với vỏ mỏng giòn rụm, gói gọn lấy miếng thịt bằm thơm mùi bơ, uống ly cà phê sữa nóng, nhìn thiên hạ dẫn nhau bát phố Sài Gòn mà nhớ lại “Những ngày xưa thân ái”. Có Biên, có Dung, có mày, có tao, có cả một bầu trời của tuổi thanh xuân tràn đầy hạnh phúc.

Tôi khen Long công tử.

-Ý kiến của mày quả thật tuyệt vời, không có chỗ chê, tao ra sau hè đợi mày.

Được chừng mươi phút sau, Long công tử bưng lon gô nước gói trong miếng vải bao cát, hắn ngồi xuống bên cạnh tôi.

-Nè Bắp cải, mày còn nhớ lần tụi mình ăn tối ở Thanh Bạch không?

Tôi nhắm mắt lại, để cho hồn của mình bay về quá khứ, miệng nói với Long công tử

-Không nhắc đến thì thôi, nhắc lại nhớ quá trời, nhớ da diết, nhớ quay quắt, nhớ điên cuồng.

Giọng nói của Long công tử vang lên bên tai tôi.

-Nói cho tao biết, chuyện tình của mày với nàng Dung xinh đẹp, kết cuộc có đẹp hay không?

Tôi mở mắt nhìn Long công tử, thong thả kể cho hắn nghe về đời sống quân ngũ của mình như thế nào, rồi chuyển sang chuyện tình cảm giữa tôi với Dung và Cúc. Tôi say sưa kể lại từng chi tiết nhỏ nhặt vụn vặt, từ chuyện tôi được đọc lá thư của nó viết cho Dung, chuyện hai người Quân cảnh đưa tay cắt đứt tôi và Dung nơi đuôi chiếc vận tải cơ C130, đến chuyện đám cưới của tôi và Cúc nơi quán cơm gần bến xe. Cuối cùng tôi thú thực với Long công tử.

-Lý trí nói với tao rằng, hãy sống cho xứng đáng với mối tình đậm đà sâu sắc của Cúc, trong khi trái tim của tao thì nhất định không chịu, một hai cứ bắt tao phải nghĩ đến Dung. Từ ngày đứt phim tới hôm nay, tao sống bằng lý trí, quyết không để trái tim của tao được quyền can dự vào.

Hình minh họa

Long công tử thở dài.

-Hình như phần số của mày đã sắp sẵn như vậy rồi, mày có cố gắng vùng vẫy cũng vô ích mà thôi, hãy an hưởng hạnh phúc mà định mệnh đã dành cho mình.

Long công tử bưng cái lon gô lên.

-Tao bỏ hai phần ba tán đường vào lon gô nước sôi, một phần ba tán đường tao cho thằng nấu bếp. Tội nghiệp thằng tốt bụng quá sức, cứ vài ngày nó lại cho tao một miếng cơm cháy. Mày đừng có nghĩ là mấy tay nấu bếp muốn cho ai cơm cháy thì cho, không phải như vậy đâu, tất cả cơm cháy phải chia đều ra cho mọi người. Anh chàng nấu bếp chỉ được phần cơm cháy dôi ra chút đỉnh, thấy tao yếu đuối bịnh hoạn, nên tay nấu bếp cho tao phần dôi ra mà hắn có, để tao “bồi dưỡng”.

Tôi đùa với Long công tử.

-Chắc tại có thêm chút cơm cháy mỗi bữa ăn, cho nên hôm nay mày mập ra thấy rõ, chỉ có điều.

Tôi kéo vai áo bà ba đen của Long công tử, đưa mũi giả vờ hít mấy cái, rồi nói.

-Có chuyện này tao muốn hỏi mày, thằng tù nào cũng hôi ình vì đi làm lao động ngoài nắng, hết lớp mồ hôi này đến lớp mồ hôi khác tích tụ trên người, thấm vào trong quần áo, một tuần mới được đi tắm một lần cho nên hôi là phải. Riêng mày chắc mấy tháng rồi chưa tắm phải không? Người của mày còn hôi hơn tao gấp mấy lần.

Long công tử than thở.

-Tao biết chớ, đi tắm là một đặc ân, nhưng mà từ trại ra đến đập nước xa quá, tao đi đâu có nổi. Biết là mình hôi hám đó nhưng đành chịu thôi, cho đến hôm nay tao mới khỏe lại, lần tới tao sẽ đi tắm, tiện thể sẽ thay bộ đồ đen này bằng bộ đồ của mày mới cho tao.

Bắt chước Long công tử, tôi dùng những chữ mới học được nói với nó.

-Khi tới nơi tắm, mày nhớ “tranh thủ” tìm thức ăn để “cải thiện”. Khi đang tắm dùng chân của mày rà trong lớp cát dưới đáy sông, nếu gặp được vật gì cân cấn dưới chân, đó là con chem chép to cỡ hai, ba ngón tay. Với mười lăm phút tắm giặt, thằng dở nhất cũng mò được năm, bảy con chem chép, đem về luộc rồi bỏ vô chén cháo ăn buổi sáng. Tao không cần nói, mày cũng biết chén cháo ngon ngọt bổ dưỡng cỡ nào. Đó là việc đáng nhớ nhất khi đi tắm mà tao phải căn dặn mày, còn chuyện giặt quần áo, tắm cho sạch sẽ bớt hôi, chắc cũng không quan trọng lắm đâu. Mày không nghe người ta thường nói đùa với nhau “Trâu bò mấy tắm, mà một con cũng bán được cả chục ngàn” hay sao? Bây giờ chuyện quan trọng là, tao chỉ muốn mày kể tiếp cho tao nghe về người tình Ban Mê Thuột của mày.

Long công tử nhấp một chút nước đường rồi đưa cái lon gô cho tôi. -Mấy tuần trước tao kể tới đâu rồi? À, tao nhớ ra rồi. Sáng hôm sau tao lái xe tới khúc đường cũ, Hà đang lửng thửng thả bộ dọc theo quốc lộ, khi nghe tiếng xe ngừng lại sau lưng, Hà quay người mở cửa xe phóng lên rồi nói với tao cứ tiếp tục chạy. Tao lái xe được cả chục cây số rồi mà chưa thấy Hà nói gì về nơi sắp đến, chỉ nghe cô ta vui vẻ kể cho tao nghe chuyện đi câu cá, cho đến khi tao nhìn thấy cây cầu khá dài và lớn chắn ngang phía trước. Hà nói “Trước mặt anh là cầu Mười bốn, bắc ngang con sông Serepok. Sở dĩ người ta gọi là cầu Mười bốn vì nó nằm cách Tòa hành chánh Thành phố Ban Mê Thuột đúng mười bốn cây số. Ở hai đầu cầu đều có trạm gác, anh phải ngừng lại để mấy ông lính kiểm soát”.  Khi tao ngừng xe lại, mấy người lính bao quanh tao với giọng nói đầy thân thiện “Ông cụ đâu? Ông cụ đâu?”.

Hình minh họa

Vì quá bất ngờ, tao ngớ người ra không biết trả lời như thế nào. Một người lính nhìn tao “Anh là tài xế mới của ông cụ hả?”. Sau vài giây suy nghĩ, tao nói “Dạ đúng”. Người lính nói “Tụi tôi tưởng ông chủ đồn điền đem bánh mì thịt cho chúng tôi”. Lúc bấy giờ tao mới hiểu ra, khi thấy chiếc xe Land Rover của ba tao, những người lính Địa Phương Quân giữ cầu tưởng ba tao đem bánh mì đến ủy lạo. Gì chứ chuyện giao tế tao rành quá sức, tuy trong xe không có bánh mì nhưng tao nghĩ ngay đến mấy cây thuốc lá để sau thùng xe, mà tao mua để hút khi ở Ban Mê Thuột. Không một chút chần chừ, tao đi vòng ra sau xe, lấy một cây thuốc Lucky “Không có bánh mỳ nhưng có cái này, tặng mấy anh hút cho ấm lòng khi canh gác”. Có cây thuốc lá làm quà, mấy người lính quay sang hỏi Hà “Cô Hà đi câu cá phải không?”. Hà trả lời “Dạ, con dẫn anh tài xế mới này đi câu cho biết”. Tao cho xe chạy chầm chậm qua cầu, bề ngang của mặt cầu chỉ vừa đủ cho một chiếc xe, thêm một lằn nhỏ riêng biệt rộng khoảng một mét dành riêng cho khách bộ hành. Theo như tao ước đoán, vào khoảng hai, ba chục năm về trước khi xây cất cây cầu này, xe hơi thời bấy giờ chẳng có bao nhiêu, người Pháp vì muốn tiết kiệm tiền nên họ thiết kế cây cầu chỉ cần cho một lằn xe là đủ rồi. Vì lý do đó, những người lính Địa Phương Quân đóng đồn ở đây có hai nhiệm vụ, ban ngày họ là cảnh sát giao thông lo việc điều hành xe cộ lưu thông trên cầu, đêm đến họ là lính gác giặc bảo vệ cây cầu.

Nắng đã lên cao, Long công tử nhắm mắt lại, hắn lấy cái nón may bằng vải bao cát che mặt, rồi nói.

-Khi xe đã qua khỏi cầu được một đoạn ngắn, Hà chỉ tao rẽ vào một con đường mòn, đậu xe lại. Hai đứa bắt đầu lội bộ qua cánh rừng thưa đến một căn nhà tranh vách đất, với cánh cửa chỉ khép hờ. Hà nói với tao “Đây là nhà của cậu em, mình xuống bến sông lấy ghe, trên ghe lúc nào cậu em cũng để sẵn đầy đủ mọi thứ cần thiết để câu cá. Mà nè, anh có biết bơi không?”. Tao nói với Hà “Không những biết bơi mà còn bơi giỏi nữa”. Tụi tao xuống một chiếc ghe nhỏ, phải gọi là thuyền độc mộc mới đúng, vì nó được làm bằng một thân cây khá to, bề ngang của thuyền khoảng chừng bảy, tám tấc, chiều dài hơn ba thước. Chưa tới mùa mưa lũ nên nước sông đỏ ngầu, chảy lờ đờ, Hà sử dụng mái chèo một cách thành thạo, con thuyền lướt đi nhẹ nhàng trên sông. Trên thuyền với hàng chục cây cần câu không có đọt, dài khoảng hơn một sải tay đã cột sẵn cước và lưỡi câu, mồi là mấy con sâu đựng trong một cái lon nhỏ. Hà chèo thuyền dọc theo bờ sông, khoảng hơn mười mét lại cắm một cần câu, cột thêm sợi dây đỏ để làm dấu. Sau khi đã cắm hết cần câu, Hà để cho thuyền trôi lửng lơ trên sông rồi nói với tao “Mình nằm đây chờ, trong lúc đợi cá cắn câu, anh nhìn cây cầu Mười bốn trước mặt mình đi, hôm nay nếu may mắn mình sẽ thấy được mấy ông phi công Việt Nam, lái máy bay bà già chui qua gầm cầu”.

Long công tử dỡ cái nón vải bao cát, nhìn quanh một vòng rồi mới nói tiếp.

-Trước mắt tao, cây cầu với ba cái chân cột khổng lồ hình quả trám đỡ lấy mấy nhịp cầu với những đường cong mềm mại không đồng đều ở bên trên, thành cầu đúc bê tông cốt sắt hình chữ V thật đơn giản nhưng lại phối hợp rất nhịp nhàng với chân cầu, tất cả những yếu tố trên, tạo cho cây cầu có một nét đẹp hút hồn. Giữa núi rừng cao nguyên hoang vắng, cây cầu đứng một mình, lung linh soi bóng nước, như một tác phẩm nghệ thuật mà người kỹ sư Pháp nào đó đã bỏ công tạo nên. Nhờ vào chiều cao của một chiếc xe GMC, đang bò chầm chậm qua cầu, nên tao ước lượng được chiều cao từ mặt nước sông đến đáy cầu phải cỡ chừng hai chục mét, khoảng cách rộng nhất giữa hai chân cầu độ chừng năm mươi mét. Với những khoảng cách lý tưởng như vậy, tao tin rằng chiếc phi cơ bà già có thể chui qua gầm cầu mà không gặp bất cứ trở ngại nào. Nhưng mà đó chỉ là cái nhìn của một thằng sinh viên Văn khoa như tao mà thôi, còn chuyện chui qua được gầm cầu hay không phải hỏi mấy ông phi công Việt Nam còn trẻ tuổi, thích phiêu lưu mạo hiểm mới biết được. Trong lòng bán tín bán nghi, một thoáng nghi ngờ về câu nói của Hà, tao hỏi “Em thấy máy bay chui qua gầm cầu rồi phải không?”. Hà trả lời “Có, em được thấy vài lần khi câu cá ở đây, lần nào cũng như lần nấy, hồi hộp muốn đứng tim, khi thấy chiếc phi cơ L19 xuất hiện ở cuối chân trời, trông nó giống như một con đại bàng sải cánh, lướt trên mặt sông, quắp lấy con mồi rồi bay vút lên trời cao”. Dưới ánh nắng rực rỡ của buổi sáng mùa hè, Hà ngồi nơi cuối thuyền, trong bộ đồ bà ba với những đường cong tuyệt đẹp, hai tay ôm lấy mái chèo lắc nhẹ, đẩy con thuyền trôi lững lờ về phía mặt trời. Nhìn hình ảnh của một thiếu nữ khỏe mạnh, ở lứa tuổi đôi mươi chèo thuyền trên sông, xa xa thấp thoáng cây cầu nổi bật trên nền trời xanh màu ngọc bích, trong lòng phân vân tao tự hỏi, không biết người đẹp hay cây cầu đẹp.

Hình minh họa

Tôi đưa lon gô nước đường cho Long công tử.

-Làm một hơi cà phê sữa Thanh Thế đi mày, em xinh em đứng một mình cũng xinh, cần gì phải có cây cầu làm hậu cảnh.

Long công tử dường như không quan tâm đến lời nói của tôi cho lắm, hắn nói tiếp.

-Hà cho thuyền quay ngược lại về phía thượng nguồn, cặp sát vào bờ sông, từ từ dỡ những cần câu lên, hơn chục cái cần câu mà chỉ có được một con cá nặng ước chừng một kí. Tao tính toán trong đầu, cất công từ Ban Mê Thuột đến đây, chèo thuyền bơi dọc theo bờ sông mấy tiếng đồng hồ chỉ để bắt được một con cá. Đời sống của những người dân quê ở đây, sao mà khổ quá vậy. Tao hỏi Hà “Sao ít cá quá vậy em?”. Hà giải thích cho tao hiểu “Câu cá Lăng đuôi đỏ ở trên sông này phải giăng dây ngang sông, cột thật nhiều lưỡi câu, dùng mồi tươi như là ếch, nhái, mới có hy vọng bắt được nhiều cá lớn. Chuyện đó chỉ dành cho những người câu cá chuyên nghiệp. Câu cá như em, gặp ngày may mắn lắm cũng chỉ bắt được dăm ba con cá Lăng cỡ này, họa hoằn lắm mới được con cá lớn hơn chút xíu. Mà anh có biết không, em chỉ cần một con cá thôi, như vậy là đủ rồi”. Nhìn gương mặt tươi cười hớn hở của Hà, tao hỏi “Em định làm gì với con cá này”. Hà nói với tao “Cá Lăng đuôi đỏ ở chợ Ban Mê Thuột bán rất được giá, em đem con cá xuống chợ nhờ chị Ba bán cá, bán giùm em. Sau đó em sẽ dùng số tiền bán cá, mua một đôi dép mới”. Tao lặng người đi vì thương cảm, thương cho những ước mơ sao mà nó bình dị quá chừng, mấy ngày trước đó tao cất công theo đuổi Hà, vì thích cái vẻ đẹp ngây thơ duyên dáng của một cô gái quê. Và nhất là muốn thỏa mãn cái tự tôn mặc cảm của mình, của một thằng công tử sống ở thủ đô, coi tiền như rác, quanh năm chỉ biết vung tiền qua cửa sổ để mua lấy những “Cuộc vui đầy tháng, trận cười suốt đêm”. Cho đến khi đi ăn trưa ở nhà hàng Mỹ Cảnh, rồi đi câu cá trên sông Serepok, biết được hoàn cảnh khó khăn của Hà, tao như lạc bước qua một vùng đất đầy kỳ hoa dị thảo đã bị lảng quên bởi thời gian. Tao hoàn toàn bị khuất phục trước cái trong sáng giản dị, hồn nhiên của Hà. Từ chỗ đi chinh phục tao trở thành kẻ bị chinh phục. Mặt trời đứng bóng, Hà lấy trong cái giỏ xách hai củ khoai “Anh đói rồi phải không? Anh một củ, em một củ, ăn xong mình trở về Ban Mê Thuột”.

Tôi cười rồi nói với Long công tử.

-Coi bộ mày bị lậm thuốc rồi. -Lậm quá đi chớ, nếu không tại sao Hà xách con cá đi vào chợ, tao lại lẽo đẽo theo sau. Đưa con cá cho chị Ba, cầm tiền trong tay Hà quẹo qua hàng bán dép guốc. Sau một lúc lựa chọn, mang thử, Hà mua đôi dép được làm bằng một loại nhựa rẻ tiền màu xanh, nhỏ hơn chân của Hà ước chừng một phân. Thấy lạ, tao nhắc mà như hỏi Hà “Tại sao em chọn đôi dép quá nhỏ như vậy, khi đi sẽ đau chân cho mà coi”. Hà giải thích “Đi vài ngày, quai dép sẽ giãn ra là vừa”.Khi hai đứa tao bước ra khỏi chợ, nắng chiều đổ xuống mái tóc đen huyền óng mượt của Hà, hắt lên cái bóng dáng nho nhỏ xinh xinh trải dài theo hè phố, tao đi bên Hà mà trong lòng mơ thấy hai cái bóng nắm tay nhau. Mua được đôi dép, nét vui tươi hớn hở hiện rõ trên gương mặt của Hà. Tao dẫn Hà vào nhà hàng, cũng lại là nhà hàng Mỹ Cảnh, ở Ban Mê Thuột vào thời buổi đó, hình như chỉ có độc nhất một cái nhà hàng này mà thôi. Chuyện cũng dễ hiểu, vì tao mới tới Ban Mê Thuột chưa được một tuần, nên không biết nhiều về thành phố này.  

Hình minh họa

Tao chọn một cái bàn nằm kín đáo trong góc, khi thấy tao gọi toàn là những món ăn đắc tiền, ông chủ nhà hàng Mỹ Cảnh là người Việt gốc Hoa hỏi tao với giọng nói lơ lớ “Nị ở Sài Gòn mới lên Ban Mê Thuột phải không? Vậy mà ngộ lại thấy nị quen lắm”. Tao cười rồi pha trò “Trông tôi chắc giống mấy tay du đảng trong phim Hồng Kông, đang chiếu ở rạp hát Lido chứ gì”. Ông chủ nhà hàng đứng suy nghĩ một lúc rồi nói “Ngộ biết nị giống một người, mà ngộ nghĩ hoài không ra”. Từ nãy đến giờ Hà ngồi im lặng bên tao, đột nhiên lên tiếng “Giống ông chủ đồn điền cà phê phải không?”. Ông chủ nhà hàng Mỹ Cảnh vỗ tay cái bốp, rồi nói “Đúng rồi, nị đúng là con của ông chủ đồn điền Nam Long, ngộ có mấy mẫu đất trồng cà phê gần đồn điền của ông chủ Nam Long”. Vừa nói ông chủ hàng Mỹ Cảnh vừa cười thân thiện “Ông chủ lớn Nam Long có ghé đây ăn uống vài lần, khi nào về Sài Gòn nị cho ngộ gởi lời thăm ông chủ”. Trong suốt bữa ăn, Hà nói cho tao nghe là ngay cái ngày đầu tiên, cô ấy đã biết tao là con ông chủ đồn điền, không phải qua giọng nói, cách ăn bận của người Sài Gòn, lối tiêu xài xa xỉ, mà là tao có nhiều nét giống ba tao, nhất là đôi mắt và cái trán. Hóa ra suốt mấy ngày qua tao bị lừa, địch biết ta mà ta không biết địch, thua là phải.

Tôi đùa với Long công tử.

-Mang danh là công tử của Sài Gòn hoa lệ, của Hòn Ngọc Viễn Đông mà bỏ thây nơi cái xứ Buồn Muôn Thuở thì tệ thiệt.

Long công tử chống chế.

-Tình yêu mà mày. Mấy ngày sau, sáng hôm đó thay vì cùng tao đi đến đồn điền, Hà mời tao về nhà, vì nàng có chuyện quan trọng cần nói. Tao lái xe mà trong lòng băn khoăn thắc mắc, không biết Hà muốn nói chuyện gì đây. Theo sự hướng dẫn của Hà, tao cho xe quẹo trái trên quốc lộ, chạy trên con đường đất nhỏ và hẹp, chỉ mới được độ một trăm thước, Hà chỉ vào một ngôi nhà bên đường rồi nói “Nhà em đó”. Trước mặt tao là một căn nhà gỗ nhỏ bé với những tấm ván cũ kỹ ghép vào nhau một cách vụng về cẩu thả, nhiều chỗ đã bị mục nát do sự tàn phá của nắng mưa. Tao thầm nghĩ nếu có một cơn gió mạnh thổi qua, không chừng cả ngôi nhà có thể bị sập đổ như không. Khi bước chân qua ngưỡng cửa, mắt tao chạm phải một rừng giấy bao xi măng cũ dán đầy tường. Sau một hồi suy nghĩ, tao mới hiểu được công dụng của những tờ giấy dán trên tường là để che gió lùa qua kẽ ván. Trước mặt tao, một người đàn bà thân hình nhỏ nhắn, tuổi chừng bốn mươi, gương mặt phảng phất nét u buồn, bà ta đang ngồi trên chiếc ghế nơi bàn ăn, chân mang đôi dép nhựa màu xanh còn mới tinh. Lúc bấy giờ tao mới hiểu ra, tại sao Hà mua đôi dép nhỏ hơn chân của nàng một chút. Hà lên tiếng giới thiệu với tao “Má của em”. Quay sang người đàn bà, Hà nói “Má à, đây là anh Long, con của ông chủ đồn điền, nơi con đang làm việc”. Người đàn bà chỉ vào chiếc ghế duy nhất còn trống trước mặt bà “Mời cậu ngồi chơi, tôi có vài chuyện muốn hỏi cậu”. Tao ngồi xuống ghế, miệng nói “Cảm ơn bác”. Má của Hà hỏi tao “Năm nay cậu bao nhiêu tuổi? Học hành tới đâu?”. Tao từ tốn nói với bà “Thưa bác con hai mươi mốt tuổi, đang học đại học ở Sài Gòn”. Má của Hà hỏi tiếp “Cậu học kỹ sư hay bác sĩ”. Tao trả lời với bà “Thưa bác con học bên Văn khoa”. Nói như vậy nhưng tao không biết bà có hiểu tao nói gì hay không. Sau đó, suốt gần cả tiếng đồng hồ, má của Hà hỏi tao đủ mọi chuyện về gia đình của tao. Cuối cùng bà nói “Con Hà đang làm công trong đồn điền của ba cậu, đồng lương của nó kiếm được chỉ đủ mẹ con tôi sống đắp đổi qua ngày. Cậu hãy nhìn căn nhà chúng tôi đang ở, nó tồi tàn xập xệ như thế nào, trong khi gia đình của cậu giàu sang quyền quý, mai mốt khi cậu ra trường, cả một tương lai huy hoàng sáng lạng đang chờ đón cậu. Cậu thử nghĩ coi, con Hà có xứng đáng với cậu hay không?”. Bà má của Hà ngưng nói chừng như hơi mệt khi phải nói nhiều, được một lúc sau bà mới nói tiếp “Con Hà nó còn quá nhỏ chưa biết gì về cuộc đời, cậu đừng chơi qua đường, tội nghiệp cho nó”. Nghe má Hà nói, tao nghĩ “ có phải bác muốn nói con là thằng sở khanh không?”. Tao ngồi đó, giận muốn run lên, giận vì má của Hà chưa biết gì về tao mà đã vội nặng lời. Tao đứng lên chào bà rồi xin phép ra về, trước khi đi tao nhẹ nhàng nói với bà “Xin bác cứ yên tâm, từ hôm quen Hà tới nay, con chưa bao giờ có ý định lợi dụng, bằng cớ là con chưa chạm đến cái móng tay của Hà”. Ngay chiều hôm đó, tao mua vé máy bay trở về Sài Gòn.

Hình minh họa

Long công tử co tay, duỗi chân ra chiều mệt mỏi.

-Một tuần sau, tao nhận được điện tín của Hà chỉ vỏn vẹn có năm chữ “Hà cần gặp anh gấp”. Mới đầu vì giận bà má của Hà, tao quăng mẹ nó cái điện tín vào thùng rác, rồi lái xe xuống Brodard. Mới uống một hớp cà phê, tao vội vã trả tiền vì trong lòng bồn chồn đứng ngồi không yên, tao lái xe mà không biết đi đâu. Cho đến khi thắng xe lại trước hãng hàng không Việt Nam, lúc bấy giờ tao mới biết tại sao. Thì ra tiếng gọi của tình yêu, tuy êm dịu nhẹ nhàng như gió thoảng bên tai, nhưng cái hấp lực của nó quả thật còn mạnh hơn sức hút của trái đất. Tao bay lên Ban Mê Thuột.

Long công tử cười, nụ cười của Sài Gòn ngày xưa.

-Mày biết không, khi gặp lại tao, gương mặt của Hà vui tươi hớn hở như trẻ con được quà. Ôm chặt lấy tao, Hà nói “Má em đâu có phiền trách gì anh, bà chỉ muốn nói với anh là đừng chơi qua đường, còn chuyện nếu anh muốn lấy em đàng hoàng, bà đâu có ngăn cản”. Cho đến cuối hè năm đó, tao và Hà có được hai tháng rong chơi nhiều nơi, từ Ban Mê Thuột xuống Nha Trang tắm biển, nhìn cát vàng biển xanh, chạy qua Phan Rang ngắm cảnh Tháp Chàm, thăm bãi biển Ninh Chữ, vòng lên cái xứ bắp cải đầy sương mù của mày, uống ly cà phê Thủy Tạ, rồi bay về lại Ban Mê Thuột. Hai tháng trường sống trong hạnh phúc tuyệt vời, và có thể nói là đẹp nhất trong cuộc đời của tụi tao. Mãi cho đến khi năm học sắp bắt đầu, tao mới chịu trở về Sài Gòn. Ngày tiễn tao ở phi trường Phụng Dực, lúc ngồi nơi phòng chờ đợi lên máy bay, Hà đặt tay tao lên bụng của nàng rồi nói nhỏ “Em có bầu”. Năm đó, tao mới hai mươi mốt tuổi, nghe tin mình sẽ có con, một cảm giác là lạ chợt đến, ngạc nhiên lẫn thích thú. Tao bóp nhẹ tay Hà “Anh biết rõ trách nhiệm và bổn phận của mình, em yên tâm vài tháng nữa anh sẽ trở lại, tiền bạc thì anh đã để sẵn cho em đủ chi dùng cả năm rồi. Nhớ giữ gìn sức khỏe”.

Long công tử quơ tay tìm lon nước, hắn chậm rãi hớp một ngụm.

-Năm đó, tao bay lên Ban Mê Thuột thường xuyên như đi chợ, cho đến khi học xong năm thứ hai, tao mới thú tội với ba tao về chuyện đã có vợ mà giấu cha mẹ. Cuối cùng tao cho ba tao biết, hiện giờ dâu và cháu của ông đang ở Ban Mê Thuột. Nghe tao nói chuyện, gương mặt của ba tao đầy vẻ giận dữ, ông chửi mắng tao không tiếc lời, chưa bao giờ tao thấy ông giận như vậy. Ngày hôm sau, ba má tao dẫn tao lên Ban Mê Thuột. Việc đầu tiên mà ông bà làm là mua lễ vật đem đến nhà má Hà xin lỗi, tạ tội. Sau đó ông xin phép má Hà, cho ông được đem Hà và thằng cháu nội của ông về sống trong căn nhà to lớn, đầy đủ tiện nghi ở đồn điền. Thì ra, cái tội lớn tày trời của tao, là dám để thằng cháu đích tôn của ông phải sống trong điều kiện nghèo khó, thiếu thốn đủ mọi bề. Thêm một chuyện cũng quan trọng không kém, trước khi về lại Sài Gòn, ông họp với chú Luật là người quản lý và chú Bốn là người phụ tá quản lý của đồn điền từ bao lâu nay, với cái lệnh ngắn gọn là mỗi tháng phải trích cho vợ con của tao một số tiền lớn. Đó là quà của ông nội cho thằng cháu đích tôn.

Tôi nghe Long công tử kể chuyện, bất chợt nhớ lại những lời của má Long công tử nói với tôi, hình như có gì đó không ổn.

-Long à, tao có chút thắc mắc, năm đó là năm sáu bảy, má của mày đã có dâu có cháu, tại sao đến năm sáu mươi tám khi tụi mình còn ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, chính má của mày nói với tao là mày chưa có vợ, bà mong có cháu để bồng mà không có.

Long công tử giải thích cho tôi bằng câu hỏi.

-Mày có bao giờ nghe nói đến cái bịnh tưởng tượng, bịnh hoang tưởng không?

-Không. Tưởng tượng đâu có phải là bịnh, chẳng hạn bây giờ tao tưởng tượng mình được thả ra khỏi trại tù này, như vậy là tao đang bị bịnh hay sao?

Long công tử nhíu mày.

-Mày nói đúng, không thể gọi là bịnh tưởng tượng được, cứ tạm gọi là hoang tưởng. Năm tao mười lăm tuổi, thì má tao bắt đầu bị bịnh. Hôm ấy tao đang ngồi ăn sáng nơi phòng ăn của nhà tao, bỗng đâu một cột lửa chen lẫn với khói đen bốc lên cao ở ngoài sân. Tao vội vàng phóng ra khỏi nhà, chiếc xe Mercedes của ba tao đang bốc cháy dữ dội, cách đó độ chục thước má tao đang lấy xăng tưới lên chiếc xe Peugeot 403 của bà, rồi châm lửa đốt. Tao hỏi má tao tại sao mà làm như vậy. Câu trả lời của bà rất giản dị, bà nói là đang đốt hai con voi trốn trong nhà của bà. Sau đó còn nhiều vụ tương tự như vậy xảy ra, chẳng hạn khi thì bà nói tao không phải là con của bà, khi thì bà có hai đứa con trai chứ không phải một mình tao. Sau nhiều lần ba tao đưa má tao đến bịnh viện khám bịnh, mới biết bà bị cái bịnh hoang tưởng. Ngoài những lúc như vậy, má tao là một người khá bình thường, thoáng nhìn qua không một ai biết được là bà bị bịnh.

Tôi gật đầu.

-Thì ra là vậy, tao không biết má mày bị bịnh nên mới hỏi.

Long công tử nói thêm.

-Một phần cũng vì hoàn cảnh gia đình như vậy, cho nên ba tao dồn hết tình thương cho thằng con, ông chiều tao hết mực muốn gì cũng được. Là con một trong gia đình giàu có, dấu chân của tao từng in khắp chốn ăn chơi thanh lịch của Sài Gòn, tao tiêu xài hoang phí không một chút e dè, cho nên bạn bè mới tặng cho tao cái tên Long công tử. Khi học xong năm thứ ba, tao muốn đem vợ con về Sài Gòn, ba của tao đồng ý với điều kiện là tất cả mọi người phải sống chung trong căn biệt thự của ông, để ông bà nội được gần thằng cháu. Tao không chịu, vì muốn sống tự do thoải mái với vợ con trong một căn biệt thự khác. Mày cũng biết rồi, ba tao có tới mấy căn biệt thự ở Sài Gòn, tại sao phải sống chung. Chuyện chỉ có vậy, lại đưa đến xung đột giữa hai cha con. Tuổi trẻ nông nỗi, không nghĩ đến phải trái, tao bỏ học ngang xương, tình nguyện vô Thủ Đức rồi sau đó là Lực Lượng Đặc Biệt.

Long công tử thở dài rồi than.

-Tao là một thằng ích kỷ, chỉ muốn làm theo sở thích của mình, tội nghiệp cho ba má tao, ông bà phải sống trong buồn bực một thời gian dài. Riêng vợ tao khỏi cần nói, mày cũng biết là Hà khổ đau đến mức nào.

Long công tử vỗ nhẹ vào vai của tôi.

-Mày còn nhớ không, khi đang học ở Thủ Đức với mày và Biên, trong một lần đi phép tao có nói với Dung là tao đã có vợ và đứa con hơn một tuổi, đang sống ở Ban Mê Thuột trông coi cái đồn điền của ba tao. Dung cũng có kể chuyện này cho mày nghe rồi mà.

Long công tử nhìn cái đồng hồ đeo tay của tôi.

-Tới giờ tao phải đi lãnh cơm, tuần tới tụi mình gặp nhau đi.

Tôi gật đầu đồng ý.

-Ừ, tao về đây, mày nhớ giữ gìn sức khỏe.

Tuy khuyên Long công tử như vậy nhưng tôi biết, ở trong tù của Việt Cộng, khi đau ốm không thuốc men, chuyện chăm sóc sức khỏe nằm ngoài vòng tay của mình.

Cánh diều của đôi ta.

petruskyaus.net

Thơ Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Cuồn chỉ may của má,

tờ nhựt trình của ba,

bụi tre già của ngoại,

hồ dán của anh hai,

anh, em, thời thơ dại,

cánh diều của đôi ta.

Trời quê ta gió nổi

em chạy, đuổi theo anh

ngã xuống lại đứng lên

anh ơi! chờ em với!

Em chạy, đuổi theo anh

suốt một thời thơ dại;

em chạy, đuổi theo anh

suốt một thời con gái;

anh! cánh diều đôi ta

bay xa! đừng băng nhá!

Rồi một ngày tình ta thôi đã hết!

đốn đủng đỉnh về, anh kết chữ tân hôn

chẻ lá dừa, em giúp anh dựng rạp

anh đâu biết rằng dao cứa nát tim em.

thôi vĩnh biệt! dẫu còn yêu anh mãi!

anh! cánh diều thời thơ dại đã băng.

Em trả lại má cuồn chỉ may

bởi cánh diều đôi ta không còn bay, bay nữa.

em trả lại ba tờ nhựt trình

đăng lời mừng anh: hương lửa ba sinh.

bụi tre già của ngoại lại lên xanh

đâu biết được lòng em đà héo úa.

em trả lại anh hai hồ dán

bởi tình ta đà keo rã, hồ tan.

Đêm hợp cẩn, giao bôi

nếu anh nhớ tình ta thời thơ dại?!

quà cưới em đi, anh hãy mở ra

anh sẽ thấy: cánh diều của đôi ta

và em, ngàn giọt lệ!

 đoàn xuân thu

Vợ bỏ… là chuyện nhỏ!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Vua Quang Võ có người chị gái, đã góa chồng, rất ái mộ cái tài làm văn và viết báo của Tống Hoằng. Thương chị phòng không chiếc bóng, buồn, nên Vua muốn chị mình nuôi ‘cu’ cho nó hót ‘cú cu’ cho vui.

Một hôm, Quang Võ ngự giá đến nhà Tống Hoằng để nhậu chơi: “Nè Tống Hoằng! Miệng đời hay nói: ‘Giàu đổi bạn, sang đổi vợ’! Quan điểm của khanh về chuyện đó ra sao? Trẫm cho phép, cứ tự đáy lòng mình mà ‘vô tư’ phát biểu nhé!”

Tống Hoằng nghe vậy, mặt mày thất sắc, da xanh chành như trái chanh, đổ mồ hôi hột, quỳ xuống tâu rằng: “Bần tiện chi giao mạc khả vong, tào khang chi thê bất khả hạ đường.”

(Lúc nghèo hèn chơi với bạn, giờ chạy Mercedes hai cửa ‘xì po’ rồi; nhớ cho bạn quá giang; vợ chồng đói phải ăn cám với nhau; giờ ăn tôm hùm, trứng cá muối ‘caviar’ thì không nên đuổi em xuống nhà dưới mà ăn cơm nguội nước mắm kho quẹt).

Xin phụ đề Việt ngữ là ‘Tào’ hay còn gọi ‘tao’ là cái máng, cái nơi súc vật ăn, còn ‘khang’ là cám, khi người ta nghèo khổ, đói quá mới ăn.

Thế nên đâu có cái vụ cục muối chia hai mà cục đường lủm hết. Thói đời tham đó bỏ đăng hà rầm nhưng thần không dám!

Quang Võ thầm cảm phục Tống Hoằng là con người có thủy, có chung.

Ai dè, hôm sau Tống Hoằng vào chầu, tâu với Vua Quang Võ rằng: “Bệ hạ gãi đúng chỗ ngứa của thần. Hỏi đúng việc, đúng người, đúng lúc nhưng không đúng chỗ… Không đúng chỗ là hỏi cái chuyện tham đó bỏ đăng ngay tại nhà hạ thần mà Thánh hoàng không để ý thấy vợ thần đang núp sau rèm cửa.

Bây giờ: Thần xin hỏi hoa đào năm trước còn cười gió đông?” Quang Võ lắc đầu: “Trẫm ‘sorry’ nhe. Tưởng nhà ngươi chê, nên đã gả chị Trẫm cho thằng khác, nó ẵm đi rồi.”

Tiếc hùi hụi, về trằn trọc thâu đêm sáng ra, tóc Tống Hoằng bạc trắng. Thế nên: “Ai về nói với ông câu/ Cá ăn thời giựt để lâu mất mồi.” Mỡ tới miệng là táp liền nhớ nhe!

***

Tui thì khác với chú Ba nhe. Vợ chồng ở với nhau là do tình yêu. Còn yêu còn ở hết yêu hết ở; chớ cái vụ vợ già, vợ xấu đâu có ăn thua gì đâu nè.

Thấy Tổng thống bên Tây là Emmanuel Macron mới 39 tuổi mà lấy cô giáo của mình là Brigitte tới 65 tuổi già háp đó, từng có 3 đứa con riêng và tổng cộng 7 đứa kêu bằng bà nội, bà ngoại đó thấy không?

Nhưng thằng bạn nhậu của tui hổng đồng ý phản bác: Lấy vợ già chỉ để che mắt thế gian, chớ thiên hạ đồn rùm là Tổng thống trẻ đẹp nầy thuộc ‘thành phần thứ ba’ đang có tình ta với tay cận vệ vai u thịt bắp, mồ hôi dầu.

Tay nầy hung hăng con bọ xít quánh thôi hết biết một người biểu tình chống đối… mà Tổng thống vẫn bao che, đi đâu cũng có nó kè một bên kể cả đi nghỉ mát; nên báo Tây nó la làng quá xá: Nước Pháp đề cao nhân quyền, dân được quyền biểu tình mà quánh nó về mà má nó nhìn cũng không ra thì coi sao được hè?

Nghe vậy, nhưng tui cũng vẫn tin là chuyện vợ chồng của Tây nó thoáng hơn người Việt mình nhiều! Theo thống kê là cứ hai cặp cưới nhau, là có một cặp trước sau gì cũng dắt nhau ra Tòa để chia của, chia con.

50% còn lại chưa chắc bền vững đâu nhe mà đã có dấu răng rắc sắp gãy đôi rồi đó. Nhưng chưa ngã rẽ tâm tình vì thằng chồng thấy ly dị vợ mình hao xu quá!

“Ly dị em rồi. tụi tui chia hai căn nhà. Em lấy phần ở trong còn tui ở ngoài sân! Hu hu!”

Và mấy anh mình lận đận đường tình kháo nhau rằng: “Lốc xoáy, cuồng phong, bão tố và ly dị có cùng một điểm chung là: khi đi nó mang theo cả căn nhà bấy lâu nay ta còng lưng cày trả góp!”

Tuy nhiên thằng bạn Úc lại quan niệm là dân chơi sợ gì mưa rơi nên nói: “Ly dị giống như mình mua được bức tranh quý. Tốn rất nhiều tiền nhưng là chuyện rất đáng làm! Vì càng ở càng đau. Ly dị giống như mình đi ‘lấy nước trong người tui ra’ mà có văng theo cục sạn thận. Ðau thấy ông bà tiên tổ nhưng sau đó hết đau. Ly dị xong là mình phẻ. Bấy lâu là con chim vào lồng, con cá cắn câu; giờ sút chuồng chạy nhong nhong, mai bông nầy, mai hoa nọ thì ngu sao mà hổng chịu làm?”

Cái khổ là mình thương con vậy mà ra Tòa em cứ đòi giành. Em nói: “Thưa Tòa em sản xuất chúng ra thì sắp nhỏ phải thuộc về của em.” Ông Tòa gật đầu: “Ờ nghe có lý đó!”

“Tui xin phản bác! Ông Tòa bỏ một đô vào cái máy, một lon ‘coke’ chui ra. Nó thuộc về ai? Thuộc về tui hay là thuộc về cái máy!”

Rồi cuối cùng ông Tòa xử làm sao? À xử huề, chia hai, chục đứa con, mỗi người 5 đứa.

Ra khỏi tòa án gia đình, em cười lỏn lẻn, nói rằng: “Hai đứa mình đã thôi nhau! Tình nghĩa vợ chồng đã ‘on bon phi nan’ nhưng hãy coi nhau là bạn, hãy giữ hoài sợi dây liên lạc nhe anh!”

“Ðứt cái bực, còn lòng thòng chi nữa nè. Tình còn đâu nữa mà thù thế thôi! Tui đã bị bắt cóc, tới hôm nay mới được phóng thích thì ngu gì mà tiếp tục liên lạc với người đã nhẫn tâm cầm tù mình suốt ngần ấy năm chớ?

Dẫu chia tài sản xong, bộng, tui không còn tiền để ăn chơi, gái gú!”

Thằng bạn Úc khác của tui lại nói: “Em ly hôn với tao vì lý do tôn giáo: Em thờ tiền bạc mà tao lại không có tiền để em tôn thờ! Thế nên ly dị sẽ chứng minh được một điều là: má em hay má tao là người đoán đúng!”

Xong nó quay lại hỏi tui rằng: “Tại sao chú mầy lại đâm đơn ly dị?” “Tại vì bà ấy nói dóc với tao! Suốt đêm không về, bà ấy nói ngủ lại ở nhà em gái! Ðúng là dóc tổ! Chính tao mới ngủ lại ở nhà em gái bả mà!”

Phần mấy em, thất vọng về đường tình với thằng quỷ hó nầy xong, em tính ở vậy. Nhưng lòng xuân còn đương rạo rực, nên em ngậm ngải tìm trầm, tìm người chồng trong mộng.

Tranh Bảo Huân

Một hôm, đi dự thi hoa hậu về, em lượm được cây đèn rất cổ xưa. Tò mò mở nắp thì luồng khói bay ra: Thần đèn cúi đầu tạ ơn rối rít. “Ta bị nhốt trong cái đèn nầy đã 4 ngàn năm; cám ơn người đã giải thoát cho ta bằng cách ban em một điều ước. Ước gì cũng được hết ráo!”

“Thiệt vậy hả? Em xin ước rằng sẽ lấy được một ông chồng dễ nuôi và dễ dạy.

Ði làm về là chạy ngay lại bên em; cho dù em đang ngồi dạo trên facebook. Sau khi hun em cái chụt, chạy vụt vào trong bếp thổi lửa nấu cơm chiều.

Trong khi em đang ‘tám’ với bạn bè trên cái ‘iPhone’ thì chàng lui cui dọn ra bữa tối. Ăn xong, em sướt mướt rơi nước mắt khi xem phim tình cảm Ðại Hàn thì chàng đang lui cui rửa chén.

Thấy em buồn, âu yếm hỏi trong thẻ tín dụng của anh còn tiền để em đi shop không? Em khịt khịt ho khan vài tiếng khi mùa Ðông Melbourne sương mù ướt đầy khung cửa kiếng, là chàng rinh tới một ly nước ấm và một viên thuốc Panadol.

Nửa đêm về sáng, đồng hồ gõ bon bon 5 tiếng, lúc em đang mơ màng một giấc mơ hoa là chàng vùng dậy chạy vô bếp, bật bếp ga lên, chiên trứng và hâm cho sắp nhỏ ăn sáng rồi chở chúng tới trường.

Chàng mãi mãi là đứa trẻ luôn muốn nằm trong vòng tay, rúc vào ngực em chớ không bao giờ liếc dọc liếc ngang ‘con ngựa bà’ nào hết ráo!”

Nghe xong, ông thần đèn mặt mày ảo não: “I’m sorry! Thôi hãy nhốt ta lại vào chiếc đèn nầy đi! Hu hu!”

Ông thần đèn không biết rằng trên thế giới nầy thằng ngu, đó là tui, đứng sờ sờ trước mặt lại phải chịu thua làm mất mặt bầu cua. Vậy cũng xưng là thần đèn!

Chính vì vậy mà mấy anh bạn mình bị vợ bỏ hà rầm còn với tui chuyện đó là chuyện nhỏ… Không bao giờ xảy ra; vì em yêu của tui không cần thần đèn giúp cũng đã kiếm ra được tui đúng với lòng ước nguyện rồi thì em ngu sao mà đòi ly dị tui chớ!

đoàn xuân thu.

melbourne

Vĩnh biệt nghệ sĩ Thành Được!

Đoàn Xuân Thu

baotreonline.com

December 9th, 2023

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Nghệ sĩ Thành Được đã vĩnh biệt chúng ta lúc 8 giờ ngày 16, tháng 11, năm 2023 tại thành phố Milpitas, Santa Clara, gần San Jose, tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Nghệ sĩ Thành Được tên thật là Châu Văn Được, sinh năm 1934, tại làng Nhơn Mỹ, Kế Sách, Sóc Trăng.

Dọc hai bờ kinh Kế Sách, bên nầy chợ là làng An Mỹ, kéo dài tới làng Song Phụng ngoài sông Cái, sông Hậu. Đất làng Nhơn Mỹ dọc bờ kinh kéo dài ra tới sông lớn. Giữa sông là Cù lao Quốc gia, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, năm 1967, đã đi tàu Hải quân Vùng bốn sông ngòi, căn cứ đóng tại Bến Ninh Kiều, Cần Thơ đến đây kinh lý.

Khi đi theo gánh Thanh Cần, ông Châu Văn Được tính chọn tên nghề là Út Được; vì ông ái mộ giọng ca vọng cổ của Út Trà Ôn. Nhưng rốt cuộc chọn tên Thành Được vì ông cũng ái mộ Thành Công ca trên Đài Phát thanh Pháp Á.

Nghệ sĩ Thành Được  

(Nếu bắt chước Út Trà Ôn, là phải lấy cái thứ Út trong nhà cộng với cái quận nơi ông ở; ông sẽ là Út Kế Sách. Hay ông bắt chước cô Ba Bến Tre, cô Ba Trà Vinh, cô Năm Cần Thơ hoặc bà Năm Sa Đéc (vợ nhà biên khảo Vương Hồng Sển) lấy tên Út Sóc Trăng hay sao? Đọc tên Út Được, Út Kế Sách, Út Sóc Trăng, Út ơi … khán giả có thể tưởng ông là đào; không phải kép. Phần mấy cái tên nầy toàn là âm trắc mà xuống câu vọng cổ là phải âm trầm, nó mới muồi. Nên theo thiển nghĩ của tui, ông quyết định chọn tên nghề Thành Được là đúng đắn. Vì “Được” là tên do cha mẹ đặt. “Thành” là thành công trong đời đi hát.)

Nghệ sĩ Thành Được và Hà Triều Hoa Phượng bắt đầu nổi tiếng với tuồng hương xa Nhựt Bổn ‘Khi Hoa Anh Đào Nở’ trên sân khấu Thuý Nga Phước Trọng năm 1957. Nghệ sĩ Thành Được vai Tô Điền Sơn đóng cặp với Bích Sơn (cháu của nghệ sĩ Bích Thuận đoàn Kim Chung, Bắc di cư).

Sau đó, Thành Được hát cho đoàn chuyên lưu diễn của bà bầu Kim Chưởng. Năm 1961, ông cưới nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan. Hai vợ chồng làm bầu gánh Út Bạch Lan, Thành Được. Cuộc hôn nhân này 3 năm ngắn ngủi rồi tan vỡ. Theo sau là một số rắc rối. Có lần ông bị bắt, soạn giả Viễn Châu, tức danh cầm Bảy Bá, nhà ở chợ Nancy, đường Trần Hưng Đạo, đã sáng tác 6 câu vọng cổ ‘Đêm lạnh trong tù”. Từ lúc đó tới bây giờ, tui chưa nghe ai ca bài nầy cay đắng, u uất hơn Thành Được. “Em ơi! Nếu hết yêu nhau hãy vì nhau mà câm lặng, đừng để chữ yêu lại hoá ra thù … Tôi đếm thời gian qua ngưỡng cửa lao tù … Đang buổi đậm đà em phụ tình tôi. Đêm nay giữa bức tường lao lý. Trăng lặn lâu rồi, lệ chưa tan”.

Nghệ sĩ Thành Được và Thanh Nga trong vở “Tiếng Hạc Trong Trăng”

Về đầu quân đoàn Thanh Minh – Thanh Nga, Thành Được đóng cặp và gắn bó tình cảm một thời với nữ nghệ sĩ Thanh Nga, thanh sắc vẹn toàn, trong những vở tuồng xã hội của Hà Triều Hoa Phượng như: Nửa đời hương phấn, Con gái chị Hằng, Tấm lòng của biển …

Năm 1966, tuồng Tiếng hạc trong trăng của đôi soạn giả Loan Thảo, Yên Ba với Thanh Nga vai Xuyên Lan, Nam Hùng vai Tô Điền, Việt Hùng vai Bình Thiếu Quân, kép lão Minh Điển vai Thần y Đông Trạch, Thành Được, qua vai tướng cướp Thi Đằng, đoạt huy chương vàng giải Thanh Tâm của ký giả Trần Tấn Quốc.

Lúc CS chiếm được Miền Nam, Thành Được diễn vai Bảy Đờn ‘cúng cụ’ trong vở ‘Người Ven Đô’ đoàn Sài Gòn 1. Tuồng nầy có câu thoại nổi tiếng: “Tôi là Tám Khỏe. Tôi xin tuyên bố ly khai với Việt cộng”. Nhưng Tám Khỏe Út Trà Ôn không ly khai mà Bảy Đờn Thành Được ly khai thiệt. Năm 1984, đoàn văn công cải lương 284 mang tuồng ‘Đời Cô Lựu’ của Tư Trang (Trần Hữu Trang, thợ hớt tóc tại chợ Phú Kiết, quận Bến Tranh, tỉnh Mỹ Tho trúng bom Mỹ đi theo Bác ở Cục R tại Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt, Cam Bốt) đi lưu diễn tại các nước Châu Âu để tuyên truyền, dụ khị gom tiền lẻ của kiều bào cho CS. Nghệ sĩ Thành Được lại ‘được’ kiều bào giúp đỡ tị nạn chính trị tại Đức. Năm 1995, Thành Được ‘quy mã’ tức ‘qua Mỹ’. Năm 2004, lúc được 70 tuổi, 50 năm tuổi nghề và 20 năm đời tị nạn, (toàn là bội số của những thập niên) nghệ sĩ Thành Được nghỉ hát, về hưu.

Nghệ sĩ Thành Được những ngày cuối đời

Là một trong những ký giả kịch trường hồi xưa như Phong Vân, Nguyễn Ang Ca … có nhiều bài phê bình đi trên trang kịch trường báo Tiếng Dội, báo Đuốc Nhà Nam của ông Thanh Tâm Trần Tấn Quốc, thân phụ của tui, ký giả kịch trường Đoàn Hùng Việt, từng nhận xét: “Về diễn xuất, ít có kép hát nào qua được Thành Được  Vì cách diễn, ông cẩn trọng, ít có động tác thừa thãi. Trong những bài bản cải lương, ông không lạm dụng (pha giọng nữ uốn éo, bay lượn trên trời như Minh Cảnh, Minh Phụng, Minh Vương…). Cách ông nhấn chữ, nhá âm bằng, trắc theo tình cảm của vai diễn, giống thoại kịch. Giọng ông chân phương, đặc sệt Miền Tây Nam Kỳ, thực tế đời thường; nhưng rất sang trọng.”

Dẫu biết nghệ sĩ Thành Được 89 tuổi là sống thọ nhưng nghe hung tín, lòng tui cũng bùi ngùi. Vì qua ông, tui nhớ thời thơ ấu, ba tui dẫn tui tới hí viện Vĩnh Lợi (của thầy Năm Tú) trên đường Lý Công Uẩn, gần Chợ Mỹ Tho coi ông diễn, nghe ông muồi rệu. Ông qua đời, tấm màn nhung vừa buông xuống một màu tang. Dàn nhạc Tây chơi “Auld Lang Syne” để chấm dứt một vở tuồng đời. Xin ông yên nghỉ, “Rest in peace”, nhưng lời ca vọng cổ của ông vẫn còn ở lại cho đời.

ĐXT

Thơ không dễ cởi

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 26/10/2018 

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Cởi là lột bỏ, tháo ra. Khác với cỡi, là leo lên. Một ví dụ rõ như ban ngày: Đợi em cởi áo quần, xong rồi anh sẽ cỡi em. (Đằng ấy là bác sĩ thú y hở? Sao nỡ xem tớ là bò? Ăn no bò cỡi?)

Chốt lại, thơ nào phải y phục mà hăm he lột truồng? Tôi xin thú nhận, rất vụng về, loay hoay giữa hỏi, ngã. Chưa từng đưa tay cởi áo mỹ nhân cũng như mù mờ việc cỡi ngựa xem hoa.

Nhà thơ từng phân trần:

“Cởi đồ thì dễ nhưng thơ
thì không dễ cởi như đồ đâu em”.

Em dễ chịu thì không nói làm gì, gặp em khó tánh sẽ bắt bẻ: Ai biểu cởi đồ ra dễ, anh mà lạng quạng tui khẻ tay anh. Khẻ là lấy thước gỗ mà đánh, (chẳng biết dấu hỏi hay dấu ngã? Đánh nhẹ gọi bằng đánh khẽ?) Thế thì cũng tuỳ thuộc vào đối tượng mà phân trần, để tránh lôi thôi. Đối tượng của nhà thơ chừng như thuộc loại dễ bảo cả? (Bị lời thơ mê hoặc?). Nhưng lắm khi cũng:

“Sượng sùng không biết hỏi ai
Về nhà cũ đứng cổng ngoài chờ cơm”.

Nhà cũ ắt sẽ có vợ (cũ) ở bên trong. Dậm cẳng khi chờ cơm chín, nhớ ca dao có bàn qua “hoàn cảnh”:

… bây giờ lửa đã cháy lên,
lợn no con nín, tòm tem thì tòm.

Tòm tem súc tích, giàu có hơn chữ làm tình, nhỉ? Nhưng hình như nó mang chút vụng trộm, có vẻ “đi tàu nhanh”, có vẻ “mì ăn liền”, bạ đâu xâu đó. Nhà thơ có khi đã phân biệt rạch ròi ra hai vấn nạn giữa làm tình và làm thơ:

“Thơ tình khác với làm tình
khác nhau xa chẳng phải hình như đâu
thơ tình mê hoặc rất lâu
làm tình mê muội rất mau lẹ mà!”

Tác giả, nhà thơ ấy, thời gian gần đây “mê hoặc rất lâu” trên hầu hết các diễn đàn văn chương hải ngoại. “Chẳng phải hình như đâu”, người đọc đã quen thuộc tên tuổi Nguyễn Hàn Chung, vị sứ giả mang duy một nhiệm vụ: Phóng khoáng trao gửi ra giữa đời vỏn vẹn một chữ Tình, sau khi nhìn ngắm Tình qua nhiều góc cạnh kèm với chút thật thà, chút bông lơn, chút trào phúng mà đa phần là rút ruột răn đe, kế đến chúi mũi chúi lái vào như kiểu ngày mai đã tận thế. Trong nước kêu bằng “chơi không khoan nhượng” hoặc “ăn chơi không sợ mưa rơi”. Chữ Tình dường như muôn đời thích “chăn gối” với thể thơ lục bát. Và nhà thơ Nguyễn Hàn Chung đã vừa đích thân đứng ra se duyên cho anh Sáu Tản chung đôi với chị Tám Thần. Trang 29 có bài Chèn:

“Em từ
chèn
khít
lên tôi

Hai thiêu thân
múa
cặp đôi lạc bầy

Vẫn còn
hở
dấu vân tay

Cho nhau
chèn
thế gian này
vào trong”.

Chèn thường đi với ép. Ngày xưa, mấy cô gái thích nói: Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép em! Đó cũng là lời phân bua của các cậu con trai, không đổi nội dung. Cả giống cái lẫn giống đực đều xài chung được, chẳng sai văn phạm. Nó có tản thần không? Khi người ta sợ hãi cùng cực, tột độ, ví như vừa nhát thấy ma, mặt tái nhợt, nói ú ớ, vấp váp. Thời khắc trôi (chừng tàn một nén nhang?) lúc đó kẻ vô phúc kia mới lại thần hồn, tìm được sự tỉnh trí. Để giải thích về cái thót tim chợt va vấp trong sát na kia, người ta thường dùng tới chữ: Tản thần.

Nguyên trạng là thế, nhưng tản thần chẳng chịu dậm chân một chỗ. “Nó” hăm hở đi xa để trên đường tình cờ đối mặt với một dung nhan cực kỳ diễm lệ, người ta cũng chỉ biết ú ớ bình phẩm: Đẹp tản thần!

Khi người nữ đã đẹp tới mức tản thần thì á hậu hoặc hoa khôi cũng đành gạt lệ thua buồn. Đẹp tản thần đứng mút đầu này trong khi ở mút chỉ cà tha kia là xấu đến ma chê quỷ hờn. Trong tác phẩm Cung Oán dài tới 356 câu của Nguyễn Gia Thiều có câu bàn tới vẻ đẹp từa tựa tản thần, chỉ bóng gió thôi: “Tây Thi mất vía Hằng Nga giật mình”. Cổ thi thường ỡm ờ thế, tả cảnh mây mưa chỉ ngắn gọn có đôi hàng: “Thôi, chuyện vợ chồng thì ai nấy cũng đã tường, kể ra làm gì cho tốn giấy”. Tả người đẹp vén xiêm y ngồi đái sau vườn đêm: “Chị hằng trông thấy liền đỏ mặt mà trốn sau đám mây đen!”

Tản thần theo cách luận chuyện của nhà thơ Nguyễn Hàn Chung thì khó có ai “dễ cởi đâu nghe”. Bạn hãy tạm quên cái nhan có vẻ “tản thần” đầy đe doạ nọ, thử đọc một bài có dính tới “lục bát tản thần” hoạ may ngộ ra, bài Tự Ngôn Thơ:

“Chuyên tâm lục bát tản thần
Không ham cày xới mấy tầng thanh cao

Trữ tình bờ bụi ca dao
Rong chơi tự sự tầm phào lâng lâng
Đôi khi gieo thả rần rần
Cũng là hơi hám cách tân bộn bề

Những gì cấm kị u mê
Tung ra xả láng chẳng hề sợ nhau
Thuốc nào vơi bớt niềm đau
Là ta chích choác cần đâu e dè

Chuyên tâm lục bát vỉa hè
không cam bóng sáo mòn đè lên thơ”.

Có thể đây là một tuyên ngôn, nhằm xác định chủ đích của tác giả. Quan niệm của nhà thơ, tự mình khoanh vùng và rõ là ông chưa từng phụ bạc ca dao. Một đôi bài khiến tôi nhớ qua Bùi Giáng (phân trần), dăm ba bài khác lại tưởng tới Nguyễn Đức Sơn (bông đùa). Ngay cả người luôn tìm cách làm mới thơ, Thanh Tâm Tuyền cũng có khi (1963) tự nhận:

“hồn nhiên tôi trở thành thi sĩ ca dao
đêm hôm qua mưa luồn mái dạ
mưa ngủ cùng những kẻ cô đơn
bao nhiêu xa cách không bằng giận hờn
đừng giận anh em hỡi mưa trời còn thương anh

mưa bên kia sông mưa nửa dòng nước
ta thương cô mình như bước nhớ chân”.

Cái khác biệt là nhà thơ Thanh Tâm Tuyền “làm ca dao”, mượn điển tích trong ca dao mà khi thuật lại, không dụng tới thể lục bát như thường hằng. Và lục bát của Nguyễn Hàn Chung hôm nay đang đứng về phía Luân Hoán, Hoàng Lộc, những bậc tài hoa vẫn muốn tránh xa sự nhàm chán mà lục bát thường gặp phải khi lỡ rơi vào tay những kẻ vừa nhập môn. Chợt nhớ ra, ba người vừa nhắc tới đều được sinh đẻ ở đất Quảng Nam. Nơi có lẫy lừng Bùi Giáng:

“Ta đi gởi lại đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù”.

Sương mù có phải là cõi thơ? Sương mù sẽ vây khốn một đứa như tôi nếu hắn rục rịch “chích choác cần đâu e dè”:

Sáu tám tưởng có bấy nhiêu
Ai ngờ buổi nọ thơ kêu tản thần.

Tôi nhìn ra chút tản thần ở bài Rặn Thơ, in ở trang 183:

“Anh ngồi rặn
méo
tàn nhang

Em ngồi rặn
nhíu
hai làn môi cong

Chúng mình
rặn
quá long đong

Nhưng còn
rặn
nghĩa là lòng còn đau”.

Tản thần khiến tôi chẳng ngán, tôi yêu thích giọng điệu đặc trưng của riêng Nguyễn Hàn Chung qua bài Thời Tiết:

“Gió đâu có biết buồn vui
có khi thành bão giết người
như chơi

Mưa đâu có phải của trời
có khi trần trụi buông lời
phù vân

Sấm đâu có phải là thần
có khi đánh xuống mộ phần
hồn ma

Sét đâu có phải đàn bà
có khi cũng phóng tia ra
phũ phàng

Gió mưa sấm sét ngỡ ngàng
từ nghe chúm chím điệu đàng

Em yêu…”

Mượn thời tiết để luận tới “Em yêu”. Hết nắng mưa xong thì Để Trả Lời Một Câu Hỏi:

“Yêu chay là
kiếp nạn
tôi

Mắc chi
em
trả treo lời
thị phi

Tôi yêu gái đẹp
làm gì

Chỉ yêu
gái hết
dậy thì

Như em”.

Cõi thơ Nguyễn Hàn Chung bộn bề cảnh giới khó lường giữa thực hư, ma quỉ chận đường hoặc ong bướm vờn quanh, tựu trung đều dắt người đọc tới cuối đường “Tình”. Nhiệt tình dắt, vui thú dắt, hướng đạo sinh ấy còn biết đùa cho lữ hành vơi bớt nhọc nhằn. Chặt trái dừa tươi: Ngọt tản thần chưa? Ngậm hột ô mai: Chua tản thần chưa? Lên núi cao dòm xuống triền vực: Đã chóng mặt tản thần chưa? Cứ đi đi về về những lời hỏi han mà đa số là nhắm tới hỏi riêng cho cô em, bà chị, vợ người vợ ta, không thể gom toàn vẹn, chập chùng biết mấy là đủ bóng hường nhan? Bài Tôi Đi Tôi Về là một bài hay, hay khó bề phân giải:

“Tôi đi họ đổi thành tên
tôi về ăn lá rau dền vẫn ngon
tôi đi xe, dép ít mòn
tôi về cái lớp da non phản thùng

Tôi đi từ tạ ngủ mùng
tôi về muỗi vẫn tình chung truy tầm
tôi đi bùn hết níu chân
tôi về xế hạ cởi trần tắm mưa

Tôi đi ra chỗ cây dừa
khắc con tim với câu thơ khật khùng
tôi đi râu tóc rối tung
tôi về bộ dạng yên hùng xuống trai

Tôi đi như bất kỳ ai
Tôi về chẳng giống ai ngoài giống tôi”.

“Lục bát tản thần” gom đúng hai trăm (200) bài thơ chất trong bề dày 242 trang. Layout đẹp, rõ ràng, mát mắt. Bản Sắc Việt in lần đầu, tháng 9, 2018. Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung từng dạy học tại Quế Sơn (1971-2006). Trước đây nhà thơ từng mang các bút hiệu: Nguyễn Phong Hàn, Nguyễn Đức Mù Sương. Hiện định cư tại Houston, Texas. Tác phẩm đã xuất bản:

Tìm Tôi Trong Bóng (1999)
Nói Hộ Phù Du (2002)
Nghịch Lưu Của Tuổi (2011)
Dự Cảm Rời (2016)
Lục Bát Tản Thần (2018)

Góp mặt trong “40 năm thơ hải ngoại” (2017) và “Hư Ảo Tôi” (2018).

Cộng tác với hầu hết các tạp chí (báo giấy) cũng như đăng thơ thường trực ở tất cả các trang báo mạng. Là một nhà thơ không mỏi mệt ăn nằm với thi ca, đặc biệt chung tình cùng lục bát. Có bài mang tên Dục Tánh, tâm sự như sau: “Mê vui
thưởng thú tinh thần

Có quên
cái sợi rần rần
thịt da

Tới giáo đường hỏi
đức cha

Vô ni viện hỏi
sư bà
chân tu

Chắp tay
lòng vẫn
tối hù

Khuya về nghe
tiếng con cu
gáy cườm”.

Như thế, tôi e là nhà thơ vẫn chướng, vẫn chấp nê, vẫn lầm đường lạc lối, vẫn chưa ngộ, vẫn lầm lủi đi giữa đường trần, giông bão thì nhiều mà an lạc vốn ít ỏi. Chừng nào nhà thơ tự nhận “lòng vẫn tối hù” thì chừng đó người yêu thơ còn đón đọc thêm những sự tình căng thẳng khác, mà qua tài nghệ bông lơn của ông Nguyễn Hàn Chung ta nghe nhận một sự vỗ về, đơn sơ nhưng chân tình. Ở đời chẳng việc gì phải rao giảng triết lý cả, bởi những thứ quanh mình vốn trần trụi đến tản thần. Nhớ có khi nhà thơ tự thú:

“còn tâm sự được còn phiêu
không tâm sự được cũng liều mạng thơ”.

Cá nhân tôi vẫn luôn mong mỏi sự giấn liều của nhà thơ. Mai này sẽ có một trường thi dài hơn 2018 câu hiện hữu mà tác giả Nguyễn Hàn Chung sẽ viết nên, một thứ ca dao rất mới của thế kỷ 21 không thể đành đoạn những vần ca dao súc tích của cha ông để lại. Hãy đặt lòng tin vào viễn ảnh ấy. Hãy cùng tôi phiêu bồng vào cõi ngỗn ngang tâm sự ấy, nơi cất giữ tiếng nói của một nhà thơ 67 tuổi đời mà tấm lòng thì mãi ăn đời ở kiếp, cởi ra, lộ hàng với phơi phới thanh xuân.

Hồ Đình Nghiêm

Thắp tạ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 24/05/2019 

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Từ trái: Tô Thùy yên, Hồ Đình Nghiêm và Đinh Cường

Thắp Tạ là tập thơ thứ hai của thi sĩ Tô Thuỳ Yên phát hành vào năm 2004.

mây bay bay như những vẫy biệt…
nàng đứng cho tàn như một nén nhang.

Với tôi, người đại diện cho hội hoạ: Hoạ sĩ Đinh Cường. Đại diện cho thi ca: Thi sĩ Tô Thuỳ Yên. May mắn là có khi tôi được ngồi chen vai thích cánh với nhị vị. Và còn buồn đau nào hơn khi, hai người tôi ngưỡng mộ đã lần lượt kẻ trước người sau bỏ tôi ở lại với bóng tối. Mới hưởng lấy hơi ấm từ thân nhiệt toả lan, giờ lạnh ngắt như “Lúc tàn khuya. Nhà hương hoả tối mốc. Còn ai không, có gọi chỉ thêm buồn…”

Tranh Đinh Cường nhốt chặt sự thơ mộng, thì thơ Tô Thuỳ Yên mở rộng một cảnh quang hiu quạnh, rờn rợn đến thắt lòng: Đánh mất trong đành đoạn, tang thương trong bể dâu, vắng bặt nụ cười khi nhìn lại. Sau cùng là một lìa xa.

Cái chết tru rân giờ nguyệt tận…
Máu bung từ mỗi lỗ chân lông,
Mọi người nghe chính mình kêu rú…
Liệu sáng mai còn ai nữa không?


Trong thơ Tô Thuỳ Yên chất chứa ngập đầy những dấu hỏi, bao gợn lòng chẳng thể giải đáp nguôi ngoai. Một kẻ hạnh phúc là kẻ đó không hề đơm đặt, thổ lộ ra đôi điều ẩn khuất? Dấu hỏi nào mà chẳng gây cảnh bi thương?

Ở bài “Mòn Gót Chân Sương Nắng Tháng Năm”:

Chẳng hẹn mà sao vẫn đợi nhau?
…
Bắt gặp lòng ta bay đảo điên?
…
Tên đoá hoa này, ngươi nhớ chăng?

Ở bài “Tưởng Tượng Ta Về Nơi Bản Trạch”:

Ai thở dài chi cho não nuột?

Ở bài “Bất Tận Nỗi Đời Hung Hãn Đó”:

Ồ, sao tất cả lặng trang?

Ở bài “Chim Bay Biển Bắc”:

Ngọn cỏ cần chăng danh phận cỏ?
…
Nói khác đi điều đã quá xưa?
…
Kiếm hoài công cái có nơi ta?

Ở bài “Goá Phụ”:

Em khóc hoài chi lẽ diệt sinh?

Ở bài “Mùa Hạn”:

Bao giờ mây sẽ chuyển về đây?
…
Hạnh phúc chan hoà lên cỏ cây?
…
Áo chưa người giữ để xin buông?
…
Người khách xa nào sẽ đến đây?
…
Nhà ta biết có còn nguyên vẹn?
Tái hợp nào không nhuốm ngậm ngùi?

Ở bài “Tàu Đêm”:

Thành tàu sao chẳng vỗ mà ca?
Mai này xô giạt về đâu nữa?
…
Đất lạ, người ta sống thế nào?
…
Có xót thương người qua biển dâu?
…
Nhớ thương nào giấu thấm vành khăn?

Ở bài “Ta Về”:

Một đời được mấy điều mong ước?
…
Mười năm, cổ lục đã ai ghi?
…
Phải, ôi vàng đá nhắn quan san?
…
Mười năm, cây có nhớ người xa?
…
Thân thích những ai giờ đã khuất?
…
Đêm buồn, ai nữa đứng bờ ao?
…
Ai đó trong hồn ta thổn thức?

Ở bài “Đi Về”:

Đi về suốt bãi sông Hằng, gặp ai?
Lạnh trời, đâu lửa hơ tay?
…
Sang đêm, ai nữa đi về, gặp ai?

Ở bài “Người Ở Lại”:

Có phải người buồn hay ngó xuống?
…
Chỉ có bóng mình sao?
…
Đời còn chỗ nào vui?
…
Để đến nỗi ngồi hoài bên giếng cạn?
…
Tàn đời mạt kiếp liệu còn gặp?

Ở bài “Nỗi Đợi”:

Vương tử, sao đời đến nỗi vậy?
…
Quân rã, còn ai điểm trống canh?
…
Hỏi ai, ai có là tri kỷ?
Ai có buồn chớp bể mưa nguồn?
…
Lệ nào, ôi chẳng của tiền nhân?

Ở bài “Thức Giấc Trong Biệt Giam”:

Những sớm hôm mưa nắng thể nào?
…
Có nhớ trong này chờ cháy ruột gan?

Ở bài “Giấc Hoành Môn”:

Đất bạc phước rồi chăng?
…
Đạp vô thường đổ nát mà đi?
…
Chọn lấy cho mình một cách chết?

Ở bài “Ánh Tàn Dư”:

Ôi điều ước cùng thiên thu hoạ hoằn người sực nhớ ra chưa?
…
Ôi có hừng đông nào chẳng làm ta muốn khóc?

Những dấu hỏi. Hỏi là cốt hỏi vậy thôi vì biết chắc chẳng có lời đồng vọng, hay nói khác đi, bạn đã ngộ phần nào ở nỗi im thin thít kia.

Khi còn ngồi bên nhau trong gang tấc, tôi có lần e dè đưa ra một ước muốn với hai anh: Xin cho hỏi thăm mười câu về công việc tạo hình, ý nghĩa đích thực khi làm ra cái đẹp mà hai anh đã từng và vẫn còn theo đuổi. Hoạ sĩ Đinh Cường cười hiền: Anh em trong nhà e khó ăn khó nói. Thi sĩ Tô Thuỳ Yên vỗ vai: Giờ mình nên “nghe im lặng mà sống, nhìn trời đất mà vui”, xin Nghiêm bỏ quá đừng làm khó anh nha.

Ai trong chúng ta cũng có khi từng lỡ một chuyến tàu, xe đò, máy bay. Ngày ấy, nếu tôi một tâm một dạ sắt son đòi hỏi cho kỳ được thì Đinh Cường cũng như Tô Thuỳ Yên đã vị tình đáp trả sự nhiều chuyện của chú em. Một lần thôi nhé, rồi mãi mãi chia xa. Câu đó vĩnh viễn đã không thốt ra.

Giờ đây, tôi xin chép lại một đoạn đầu trong bài “Giã Biệt” để nhớ anh:

Khuya đó, anh lên đường,
Từ bỏ căn nhà,
Từ bỏ quê hương…
Tất cả không còn của anh nữa.

Anh lên đường, cúi mặt lên đường
Giả tảng không nhìn nỗi sỉ nhục.
Phi trường bị đánh thức
Rộn vội cho xong
Để còn ngủ gỡ lại.
Anh ngậm nghẹn lời từ biệt,
Liên tưởng việc xe chôn kẻ tội đồ
Dấp dúi về khuya
Ở một nơi nào không phải là thánh địa.
Bạn bè anh còn sót lại kể chẳng mấy người
Không tiễn đưa anh,
Ý chừng ngại nhắc nhở…

Ôi những trang gia phả phiền hà,
Người ta đã xé bỏ,
Hòng đoạt trọn gia tài,
Vứt lông lốc ra ngoài cho gió cuốn.

Thi sĩ Tô Thuỳ Yên ơi, tôi thật tình “ngại nhắc nhở”. Nhưng khi anh thực sự vắng mặt, cầm lòng không đậu tôi buộc phải lèm bèm (chữ của thi sĩ Thanh Tâm Tuyền) đôi câu. Tôi vẫn nhớ khuôn mặt rám nắng của anh hôm đó, nhớ nụ cười rộng miệng của anh khi nghe tôi giới thiệu vợ mình. Và anh có ngay một bộc lộ thân tình: “Ủa, dzậy đây là Bích nhỏ, Bích lớn ngồi kia kìa”.

Xin thành thật chia buồn cùng chị Bích (lớn). Lời ấy nghe thật khuôn sáo, bởi tôi nhớ lời anh Võ Đình dạo nào: “Không ai chia được (cùng mình) nỗi mất mác lớn lao ấy!”

Lại nhớ bài thơ “Anh Hùng Tận” có bốn câu:

Ta gạn dăm lời thơ tặng bạn
Dẫu từ lâu bỏ việc văn chương.
Thiệt tình, tên bạn ta không nhớ
Nhưng mà trông mặt thấy quen quen.

Tên tôi, anh từng không nhớ. Bây chừ cũng thôi trông thấy quen quen.

Cánh cửa lớn lao nào
Mở ra và đóng lại
Kín như bưng,
Tưởng chừng không có cửa.

Cánh cửa này, ta cũng sẽ đi qua.

Thi sĩ Tô Thuỳ Yên vừa khuất bóng sau cánh cửa vội đóng. Anh mất, văn chương viết tiếng Việt từ nay cũng khép lại một con đường. Lộ trình riêng anh khai mở, những con đường khác chưa định hình ra một danh xưng lớn lao như anh. Vĩnh biệt nhà thơ, với tôi, độc cô cầu bại.

Hồ Đình Nghiêm

Tha hương ngộ cố tri

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm 

Posted 15/01/2018 

Post by Sơn râu 28 Feb 2028

Hồ Đình Nghiêm thưa chuyện cùng nhà văn Võ Kỳ Điền
Nhà văn Võ Kỳ Điền

Hồ Đình Nghiêm (HĐN): Mến chào anh Võ Kỳ Điền. Đầu tiên xin được chia vui, niềm vui khi nhà văn vừa in xong tác phẩm mới. Bấy chầy sức khỏe anh ra sao? Có sung như khi trải lòng bằng chữ viết?

Võ Kỳ Điền (VKĐ): Cám ơn Nghiêm đã hỏi thăm. Tới tuổi nầy hình như anh đã già. Anh chỉ nói là hình như thôi nghe, tuy vậy trong bụng cứ nghĩ mình còn trẻ măng. Anh em mình có một cái sướng là khi nào muốn già thì già mà muốn trẻ thì cứ tha hồ cho trái tim đập nhịp phơi phới như lúc mười tám vậy đó. Thời gian của anh bây giờ hết để dành cho nhà thuốc đến nhà thương, rồi sẽ có một ngày không xa đến nhà dưỡng lão… Nhưng càng không đi ra ngoài nhiều như xưa thì lại gần gũi tới bàn viết, hết đọc cái nầy thì viết cái kia, không viết được chữ nào thì giấy nó trách mực nó buồn, nhờ vậy mà có lại niềm vui của mấy chục năm về trước. Đã lỡ vướng vào cái nghiệp văn chương bút mực dù ít dù nhiều rồi, làm sao mà đành lòng không liếc ngang liếc dọc trở lại cho được, phải không Nghiêm?

HĐN: Có khi nghe anh nói “thiệt là mang nặng đẻ đau”. Anh có thể ta thán thêm về nỗi khổ ấy cho những người (ví dụ như tôi) đang chuẩn bị sanh con? Để hắn liệu thần hồn mà xoay trở, dù biết mỗi người đau riêng một kiểu. Cảm ơn kinh nghiệm của anh. Anh xuất thân là một nhà giáo. Anh là người thích đọc cổ văn, giỏi chữ Hán chữ Nôm. Những vòng “cương tỏa” ấy có làm khó anh khi bày giấy bút ra để gửi tấc lòng? Hình như anh tự khắc nghiệt với chính mình khi viết?

VKĐ: Mỗi bà bầu, mỗi người đau một kiểu. Không phải tới bây giờ anh mới rên đâu, ngay cả ba mươi năm về trước anh đã từng than thở rên rỉ rồi. Anh thấy các bạn viết sao mà dễ dàng, cứ vài ba tháng có một hay cuốn thơ hoặc truyện ngắn, truyện dài ra mắt. Nghe thấy mà sốt ruột. Còn anh thì có nhiều khi chỉ một cái tựa hay một câu, anh viết cả tuần, suy nghĩ đắn đo, lựa chữ nầy, chọn chữ kia, đổi tới đổi lui từng ý, từng tứ… Thành ra thời gian sáng tác của anh phải tính bằng năm hoặc phải cả chục năm, rồi tới cuốn “Câu Hỏi Kiếp Người” nầy tính ra là hai mươi lăm năm. Hình như là anh đi lạc vô khu vườn văn chương của các bạn rồi. Anh có ông anh bên Mỹ thương thằng em nầy lắm và bài nào anh viết, ảnh cũng tìm đọc say mê. Hình như đối với ảnh, nhà văn Võ Kỳ Điền là tài hoa số một. Tuy vậy nhiều lần ảnh điện thoại qua hỏi – Mầy làm cái gì mà chậm lụt quá vậy, tao đợi mấy tháng rồi mà không thấy được bài mới nào?

Trời đất, ông anh cứ tưởng em của ổng giỏi như hàng xóm. Không được vậy đâu anh ơi, anh cho em phân trần một chút, một là em thuộc mẫu người chậm rề, không lanh lẹ bằng người. Hai là em bị ông Lưu Hiệp đời Tấn cản trở. Ông nầy đã viết trong cuốn Văn Tâm Điêu Long, quyển phê bình văn học đầu tiên của Trung Hoa, hồi thế kỷ thứ 6, trong đó có chỉ tám cái bịnh của văn chương (Văn Chương Bát Bịnh). Thành ra khi viết em cứ sợ hết bịnh nầy tới bịnh kia, nên không dám viết lẹ, phạm lỗi… Nào ngờ vì sợ bịnh nên mắc thêm một bịnh mới là bịnh sợ sai sót, rồi bịnh làm biếng, đó là một vài lý do riêng tư, không viết được nhiều. Nghiêm và bạn đọc thông cảm cho anh nghen.

HĐN: Anh có từng đơm ý nghĩ: Tại sao bạn văn của mình hồi đó đông vui nhiệt náo mà giờ này lạnh ngắt vậy nè? Thưa anh, điều gì khiến xảy ra tình cảnh ấy? Anh vắng mặt quá lâu mới trở lại sinh hoạt “ở chốn nhân gian không thể hiểu” (Du Tử Lê?). Thưa anh, sông có khúc người có lúc. Lúc anh giấu mặt đi ắt là khi anh phải đương cự với phong ba. Sóng gió chừng nghe êm, phải không thưa anh?

VKĐ: Nghiêm ơi, mỗi người có một thời, dài ngắn khác nhau, không thời nào giống thời nào, không chuyện nào giống chuyện nào. Đừng bao giờ trách người mà phải coi lại mình. Mình sống khép kín, xa lánh bạn bè, gậm nhấm nỗi đau, ngay cả chuyện mình mình còn không hiểu rõ thì bạn làm sao mà hiểu được, làm sao mà giúp đỡ mình. Ngày xưa Đức Phật cầm một hột muối đưa cho một đệ tử và nói – Con coi nè, đây là hột muối mặn lắm. Cậu đệ tử ngây thơ hỏi lại – Dạ thưa đức Phật, mặn là sao, con không hiểu? Đức Phật tìm mọi cách để giải nghĩa. Cậu đệ tử vẫn không biết, cuối cùng Đức Phật nói – Con liếm đi thì biết liền. Như vậy phải sống trong nỗi đau thì mới biết đau là thế nào. Kết luận với Nghiêm là lỗi của anh chớ không phải của bạn hay lỗi của cuộc đời. Ý niệm tác thành định mệnh, mình muốn nó như vậy thì tương lai mình sẽ như vậy.

HĐN: Không chừng mà gần hai chục năm đã trôi qua, nhớ về ngày cũ nọ tôi có làm cuộc phỏng vấn anh khi người ta nhiễu sự đẻ ra cụm chữ “văn chương miệt vườn”. Tôi nhớ là anh đã phản bác việc phân biệt đầy cắc cớ đó. Lâu quá rồi, anh còn nhớ những quan điểm của anh? Quên nó đi, hay nên nhắc lại chút xíu?

VKĐ: Cái vụ “Văn Chương Miệt Vườn” đó rầm rộ một thời gian, trong giai đoạn trước đây và bây giờ hình như đã lụi tàn. Thực sự thì anh không thích khi gọi một nhà văn hay một nhà thơ kèm theo chữ nầy hay chữ kia. Ví như nhà thơ hải quân, không quân, bác sĩ, dược sĩ, miệt vườn, tình yêu, rừng núi, hầm bà lằng gì đó… Tại sao phải thêm nghề nghiệp riêng tư vô chỗ nầy. Trong nghệ thuật chỉ có hay hoặc dở. Chấm hết. Thời gian sẽ làm nên giá trị của mỗi người. Tác phẩm viết ra, năm năm, mười năm, ba bốn chục năm sau người ta còn nhắc tới, tên tuổi còn nghe người ta nói tới thì người đó thành công được. Còn mới tháng trước qua tháng sau không ai nhắc tới nữa thì dầu có quảng cáo rầm rộ, đặt tên miệt nầy miệt kia… thì cũng đâu có giá trị gì… Cục đá quăng xuống nước phải có tiếng vang, lớn hay nhỏ là tùy tài năng cao hay thấp. Chỉ có bấy nhiêu thôi. Không phải ở cái quảng cáo, cũng không phải ở cái danh xưng. Ngọc thì cứ là ngọc và đá thì dù đặt tên nó là gì đi nữa thì trước sau gì cũng là đá thôi.

HĐN: Dạo đó, đôi ba người trong giới phê bình văn chương hải ngoại đã xếp anh vào nhóm “những nhà văn chống Cộng”. Thưa tác giả tập truyện “Kẻ Đưa Đường”, nhà văn nghe vậy và nhà văn có ý nghĩ gì không?

VKĐ: Có lẽ điểm nầy đúng và anh cũng thích như vậy. Từ nhỏ anh không có ý nghĩ mình sẽ viết văn và mơ mộng sẽ trở thành nhà văn, điều nầy quá khó đối với anh. Nhưng cuộc biến động sau 30-4-1975 làm đất nước tan tành và cuộc sống toàn dân bị xáo trộn nặng nề khiến anh trăn trở nghĩ suy, cảm thấy mình phải có bổn phận góp lên tiếng nói chống sự áp bức độc tài, tàn bạo của chủ nghĩa Cộng Sản. Cho nên trong lời tựa cuốn “Kẻ Đưa Đường” anh đã viết: “Tôi nghĩ rằng văn chương có nhiều loại nhưng theo tôi thứ văn chương đích thực phải là tiếng nói của kẻ yếu chống độc tài, áp bức, bạo lực, bất công bất cứ từ đâu đến. Nó phải chống bất cứ hình thức nô lệ nào, chống sự ngu xuẩn, hầu đưa CON NGƯỜI vươn lên từ tối tăm đổ vỡ.”

Anh cũng đồng ý văn chương là một bộ môn nghệ thuật. Nhưng nếu nghệ thuật nào phản ánh được thời thế có lẽ nó làm cho cuộc sống thăng hoa hơn. Anh không dám phê bình hay so sánh với các quan niệm khác về việc nầy. Có bạn chê anh viết dở vì kém khía cạnh nghệ thuật. Anh cám ơn lời nhận định thẳng thắn nầy và cũng biết rõ ràng như vậy nhưng không thể nào viết khác được. Tài năng anh chỉ có chừng đó, không thể nào bắt chước bạn khác được…

HĐN: “Pulau Bidong. Miền Đất Lạ” là cách thu xếp những chương đời đầy lôi cuốn, những nhân vật thật sống động lui tới thoải mái trong các trang sách do bởi cách dựng chuyện thật cao tay nghề của tác giả. Tôi chưa thể là người phê bình, tôi chỉ là một độc giả tầm thường, nhưng tôi khóc cười theo lối dẫn đắt của anh. Cho phép tôi được tò mò, cuốn sách đó hình như phải chứa tới 90 phần trăm của sự thật?

VKĐ: Bạn nè, cuốn “Pulau Bidong Miền Đất Lạ” nầy mới nhìn cái nhan đề thì bạn đọc cứ tưởng là một quyển hồi ký vượt biên, nếu tinh ý bạn sẽ thấy có cái gì không phải. Rõ ràng nó là cuốn kể chuyện vượt biên từ Việt Nam đến Mã Lai nhưng khi đọc sẽ thấy mỗi chương là một truyện ngắn, viết không phải theo loại bút ký, phóng sự mà viết theo bút pháp của một nhà văn. Khi viết anh đắn đo, phân nửa dành riêng cho chuyện vượt biên, một biến cố lớn của đất nước mà những thuyền nhân là nhân chứng sống của lịch sử đương đại, còn lại nửa kia dành cho văn chương tâm tình, để cho cõi lòng mình xô dạt theo sóng nước đảo xa, lẫn trình bày quan niệm sống sao cho đời mình đẹp đẽ, sống có ý nghĩa. Bao nhiêu là sự thật, bao nhiêu là hư cấu, xin thành khẩn khai báo, các sự kiện đều là thật, còn cái gì có thể thêm tại sao mình lại không thêm, nêm thêm một chút tiêu, một chút muối, một chút đường, bỏ thêm vài cọng hành, cọng ngò thái nhỏ, nồi canh văn chương chẳng cũng thơm ngọt hơn sao?

HĐN: Tôi cũng là một thuyền nhân nhưng thú thật là tôi bất lực khi muốn chia sẻ niềm đau với những số phần không may. Do vậy tôi xin cảm ơn anh, ít ra thì mai này người sau sẽ hay biết dân tộc mình đã có lúc phải chịu qua một thảm trạng như vậy. Giả như tôi nói “sinh bất phùng thời” thì anh có góp thêm cho tôi một ý tưởng nào khác chăng?

VKĐ: Nghiêm đừng nghĩ như vậy, anh em mình may mắn biết viết chút đỉnh, người viết được chuyện nầy, kẻ viết được chuyện kia, làm sao mà nói ai nhiều ai ít được. Ngay cả bạn đọc không viết nhưng ủng hộ việc làm của anh em mình mấy chục năm nay cũng là đáng quý rồi. Trong một khu vườn không phải chỉ có một thứ cây, cũng không phải chỉ có thuần một loài hoa cỏ. Nếu giống hệt nhau thì buồn lắm, phải có hoa nầy hoa kia, trái nầy trái nọ thì mới đúng nghĩa một khu vườn đẹp muôn hồng ngàn tía. Còn nếu chỉ toàn một loài vạn thọ… thì chán chết, ai mà mê.

Anh đôi khi cũng có nghĩ đến câu “Sinh bất phùng thời” có lẽ đúng một lối nhìn nào đó. Anh, Nghiêm và bao nhiêu đồng bào cùng thế hệ mình hầu như không có tuổi trẻ. Ba mươi năm chiến tranh tàn khốc, đổ vỡ, tang thương, chết chóc suốt ngày rình rập, tuổi hoa niên vụt qua hồi nào không hay… rồi xứ lạ quê người. “Vui là vui gượng kẻo là. Ai tri âm đó mặn mà với ai…”

Nhưng trời đất công bình lắm Nghiêm ơi, mất cái nầy được cái kia. Anh em mình, đồng bào mình mất rất nhiều và được cũng rất nhiều. Thanh niên mình ở hải ngoại nè, đã có biết bao nhiêu là nhân tài. Mấy triệu người thuyền nhân học hỏi được bao nhiêu là cái hay cái lạ của thế giới. Văn minh như vết dầu loang, nó đã loang về tận quê hương và anh để ý thấy đồng bào trong nước có nhiều suy nghĩ mới đáng khích lệ… Lúc nào anh cũng hy vọng một ngày tươi sáng của đất nước, của dân tộc.

HĐN: Bây giờ tuổi anh đã cao, về già vui thú cùng văn chương là giải pháp thỏa đáng nhất. Nhưng… nhưng thưa anh, một nhân vật trong Tam Quốc Diễn Nghĩa từng than: “Ta không phụ người sao người nỡ phụ ta”. Cuộc chơi này xem chừng đang phụ mình, anh có thấy vậy không? Hay anh nghe theo Nguyễn Du: “Rằng: Trăm năm cũng từ đây, của tin gọi một chút này làm ghi”.

VKĐ: Anh hoàn toàn không nghĩ tới khía cạnh bị cuộc đời hay văn chương phụ và không hề trách cứ ai một điều gì. Anh đạo Phật nhưng rất thích câu của Thiên Chúa. Bất cứ trường hợp nào khi bị thất bại, suy nghĩ tới nghĩ lui, nghiền ngẫm cho thấu đáo thì té ra – “lỗi tại ta mọi đàng”. Quả đúng vậy.

HĐN: Mang nặng đẻ đau. Sinh xong thì buộc phải có thời gian hậu sản. Thưa nhà văn Võ Kỳ Điền, trong lúc dưỡng sức anh có dự tính, có mơ mòng về một giấc mộng nào không? Về văn chương cũng như về thời cuộc? Tôi có dọ hỏi nhà thơ Bắc Phong, anh ấy lạc quan tin rằng rồi quê hương sẽ đổi thay. “Kẻ Đưa Đường” nghĩ sao?

VKĐ: Anh cũng hy vọng như bạn Bắc Phong, chuyện đất nước khi lên thì phải xuống, khi xuống thì phải lên. Từ bên Tây tới bên Tàu có triều đại nào bền vững muôn đời đâu. Theo Dịch lý thì “vật cùng tắc biến, khí mãn tắc khuynh”. Chuyện đời phải thay đổi, không có bất cứ cái gì đứng yên hoài được. Chỉ có một ước mong anh đã viết trong câu kết bài “Cây Sầu Riêng Vườn Cũ” là sau khi đất nước thay đổi thì “… cầu trời cho nó đừng quá đổ nát tang thương”. Nhưng mà Nghiêm ơi, mỗi ngày anh đọc báo bên nhà, thấy nhiều chuyện hằng ngày xảy ra trên quê hương… mà muốn khóc. Làm sao bây giờ, đành phải chờ thôi…

HĐN: “Dùng dằng chưa nỡ rời tay, vầng đông trông đã đứng ngay góc nhà”. Thốt lời tạm biệt cùng anh đây. Nếu tâm sự chưa đã, thì xin anh chia sẻ một lời sau cùng.

VKĐ: Anh em mình gặp nhau phương trời nầy, được độc giả thương mến bao nhiêu năm, được bạn bè sẻ chia ngọt bùi, tất cả là do nghiệp duyên của bao kiếp trước, không phải tự nhiên mà có được. Để kết thúc cuộc đối thoại thân tình nầy anh xin mượn hai câu thơ của Hồ Dzếnh:

“Đã trót tương phùng trong một quán,
Dẫu trà ôi rượu nhạt cũng là duyên”

HĐN: Thành thật cảm ơn phút bộc bạch đáng trân trọng anh dành cho. Xin được thay mặt số đông bạn đọc, mến gửi lời chúc sức khỏe đến nhà văn Võ Kỳ Điền. Xin bảo trọng.

VKĐ: Anh cám ơn Nghiêm, cám ơn quý độc giả theo dõi bài nói chuyện nầy. Nhà văn chúng tôi không có gì hết ngoài một tấm lòng biết ơn. Trân trọng.

Hồ Đình Nghiêm thực hiện bằng điện thư.
Montréal, ngày 11 tháng 1 năm 2018.



Chóe – Nhà Hí Họa Bút Sắt Số Một Việt Nam

Uyên Thao

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Phần 4: Người làm vườn độc thoại – cuộc đời của Chóe (Kỳ 2)

Uyên Thao

Nói về cách vẽ, Chóe cho biết anh thường hình dung các nhân vật qua đặc trưng của một số loài vật chẳng hạn anh thấy nhân vật Nguyễn Cao Kỳ có cặp mắt lộ cùng vóc dáng gợi nhắc con gà chọi, còn nhân vật Nguyễn Văn Thiệu có cái cằm nhẵn khiến anh nghĩ tới chiếc hàm ếch… và anh vẽ theo lối hình dung đó. Nhưng hí họa của Chóe không chỉ cuốn hút bời nét vẽ sắc sảo sống động mà chủ yếu bời ý nghĩa hàm ẩn nơi hình tượng. Ý nghĩa này tùy thuộc cảm nhận của người coi nhưng rất ít khi cách biệt với hướng diễn tả của anh, dù Chóe chuyên vẽ tranh không lời.

Trước bức họa con bò mang tên Ðông Dương đứng xoạc chân cho hai nhân vật Mao Trạch Ðông và Nixon bú sữa, không ai có thể nghĩ khác về cuộc chiến Việt Nam trong vòng khai thác của các thế lực quốc tế. Cũng không ai nghĩ khác về thực chất Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam qua hình tượng nhân vật Nguyễn Thị Bình ngồi chàng hảng mở một ngõ vào cho hai lãnh tụ Nga Sô – Trung Cộng vác hỏa tiễn lom khom đi tới. Vào lúc dư luận thế giới mừng đón hòa bình trở lại với Việt Nam, viện hàn lâm Thụy Ðiển quyết định tặng giải Nobel Hòa Bình cho Lê Ðức Thọ và Kissinger, Chóe diễn tả nền hòa bình Việt Nam qua hình ảnh con bồ câu non chưa ra khỏi vỏ trứng bị cả một chùm rắn độc lúc nhúc bao quanh.

Hí họa của Chóe trong thời điểm này gần như lời gào thét cảnh báo về một hiểm họa đang ập đến qua hình ảnh Tổng Thống Mỹ Nixon với chiếc áo túi rộng giấu kín hai cán binh Cộng Sản Bắc Việt vênh váo ngậm xì-gà hoặc hình ảnh một cán binh Cộng Sản Bắc Việt đội nón cối trang bị toàn đồ Mỹ với đôi ủng cao bồi, ngậm dọc tẩu mang hình Kissinger, tay xách cặp Mỹ, nách kẹp rượu Mỹ… khệnh khạng bước tới và hình ảnh Lực Lượng Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến chỉ là một thứ robot trống rỗng vô hồn…

Cuối năm 1972, tôi cần thêm không khí mới cho tờ báo nên hỏi Chóe có bao giờ thấy mục hí họa trên tờ JEO – Journal d’Extrême Orient – xuất bản những năm trước tại Sài Gòn không. Chóe nhìn tôi rồi lắc đầu nói anh chẳng biết tờ JEO là cái gì. Sau khi nghe tôi tả lại và cho biết muốn có một mục như thế trên trang nhất tờ Sóng Thần để chuyển mục hí họa hiện có của Chóe vào trang ba, Chóe nói sẽ cố thử. Chiều hôm sau, anh tới tòa soạn đưa cho tôi ba bức họa với tựa đề Hí Ðộc Diễn. Anh vẽ tranh không lời và giải thích tên anh là Chí nên bỏ bớt chữ C để tạo tên cho nhân vật đồng thời cũng tạo một bút danh khác. Nhân vật Hí được anh vẽ nhấn mạnh về chiếc cằm và hai tiếng độc diễn gợi liên tưởng ngay tới Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Mục Hí Ðộc Diễn lôi cuốn độc giả từ ngày đầu cũng là mục đem lại không ít tai họa cho tờ báo. Trong một kỳ báo, Chóe vẽ nhân vật Hí dắt chó đi chơi trong bức họa có ba cảnh liên tục. Cảnh thứ nhất là Hí thảnh thơi đi dạo với một con chó bên cạnh. Cảnh thứ hai là Hí đi giữa ba, bốn con chó. Cảnh thứ ba là cả một rừng chó chen chúc bao kín Hí tới mức chỉ còn hở chỏm đầu. Giữa không khí chống tham nhũng, bức tranh khiến tờ báo bị tịch thu với tội trạng mạ lỵ Tổng Thống.

Kiểu buộc tội của Bộ Thông Tin thuở đó thường nặng tính gán ép ngoài mức tưởng tượng. Số báo loan tin Cộng Sản pháo kích vào thị xã Cam Ranh sát hại 8 thường dân bị tịch thu với tội danh gây hoang mang dư luận. Số báo khác loan tin một buôn Thượng tại Pleiku bị Cộng Sản tàn sát không còn ai sống sót bị tịch thu với tội danh cố tình hạ thấp uy tín quân đội vì không bảo vệ dân chúng. Số báo khác nữa loan tin bộ đội Cộng Sản Bắc Việt thuộc Sư Ðoàn Sao Vàng họp thành từng nhóm về hàng tập thể tại Quảng Ngãi bị tịch thu vì loan tin thất thiệt. Theo Bộ Thông Tin, danh từ tập thể chỉ dùng được khi toàn bộ Sư Ðoàn trên về hàng một lượt chứ không thể dùng khi chỉ có những nhóm năm, mười người về hàng…

Cung cách buộc tội như thế để tịch thu báo khến tôi không dập nổi ý nghĩ Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa đang cố bảo vệ chế độ Cộng Sản miền Bắc bằng cách trắng trợn ngăn chặn báo chí đóng góp vào nỗ lực chiến đấu chung của miền Nam. Ý nghĩ này đến với tôi từ tháng 5-1972 khi chỉ trong một tháng, báo Sóng Thần bị tịch thu liên tục 30 số do phản ảnh tức khắc mọi tin tức chiến sự.

Tôi không giữ riêng ý nghĩ trong đầu mà viết bài đặt vấn đề công khai với Quốc Hội và nói thẳng với Tổng Trưởng Thông Tin Trương Bửu Ðiện, khi ông ra lệnh cho Giám Ðốc Nha Báo Chí Trần Văn Lưu mời tôi tới trực tiếp thảo luận với ông về cách làm việc của Bộ này.

Bộ Thông Tin chẳng những không thay đổi cách làm việc mà tiếp tục với mức cao hơn gấp bội vào thời Tổng Trưởng Hoàng Ðức Nhã. Cung cách đó khiến bất kỳ bức hí họa nào của Chóe cũng có thể mang lại tai họa tức khắc. Hàng loạt bức họa về đề tài thời sự và chính trị như bức họa về Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam qua hình ảnh Nguyễn Thị Bình ngồi chàng hảng cho hai lãnh tụ Mao Trạch Ðông – Brejnev chui vào, bức họa về những cuộc đi đêm tại hội nghị Paris qua hình ảnh Kissinger – Lê Ðức Thọ nằm phủ chung một tấm mền hay bức họa diễn tả tình trạng ngưng bắn theo hiệp định Paris bằng cặp đùi trần khép chéo với vòng tay ôm hờ… đều bị buộc là khiêu dâm, vi phạm điều 35 luật Báo Chí.

Tờ Sóng Thần với mức in trung bình trên một trăm ngàn số mỗi ngày nên mỗi lần bị tịch thu đều như lãnh một đòn chí mạng vì tổn hại vốn liếng quá lớn. Nhưng tòa soạn không thấy cần nhắc nhở Chóe điều gì, ngoài sự tán trợ anh bước tới theo hướng đi đã chọn.

Qua nhiều bức họa của Chóe, nụ cười bị chìm hẳn giữa những đợt trào cảm xúc chua xót, tủi hờn, phẫn nộ. Anh đến với mỗi đề tài như bị cuốn vùi trong cơn lốc xoáy dữ dằn và cảnh ngộ quay cuồng cùng cực đã khiến phải lộ toàn diện tác động tàn khốc cùng tính chất ghê hãi của từng sự kiện thực tế trước thân phận nhỏ nhoi của con người.

Các bức họa về đề tài chiến tranh và hòa bình đã diễn tả tận cùng cảnh ngộ trớ trêu bi thảm của người dân Việt Nam qua hình hài chỉ còn như nhánh cây khô của đứa trẻ đang cố nút một bình sữa rỗng do phần đáy đã bị đập vỡ hoặc qua tấm thân trơ xương của một kẻ giơ chiếc nón mê xin bố thí mà đồng xu Hòa Bình bố thí lại xé toạc chiếc nón mê đó.

Gần như Chóe không cầm bút diễn tả ý nghĩ mà sống trọn vẹn với nỗi đau của kiếp nạn nhân cùng sự trực cảm về những cảnh đoạn trường mà thời thế dồn dập trút xuống đầu mọi con người đang có mặt trên mảnh đất Việt Nam. Hí họa của Chóe chỉ còn đem lại nụ cười cay đắng và thúc đẩy những dòng nước mắt qua hình ảnh người dân miền Bắc thân tàn ma dại với thương tích đầy mình ngửa tay cầu xin ơn huệ tái thiết nơi từ tâm của tha nhân trong khi lãnh tụ được diễn tả bằng hình ảnh ngất ngưởng hả hê trên bàn tiệc với đôi đũa là những lóng xương người.

Khi linh mục Ðinh Xuân Hải cùng một vài linh mục xuất hiện trên màn ảnh Truyền Hình Sài Gòn bênh vực Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đả kích những người chống tham nhũng, Chóe ghi lại sự việc bằng bức họa một linh mục từ trong máy truyền hình vươn tay nắm cây dáo nhọn thọc vào tim một người đang phơi thây trên thập tự giá. Sau khi tờ báo in bức họa, linh mục Thiên Hổ xuất hiện tại tòa soạn với ánh mắt buồn thảm tôi chưa bao giờ thấy. Ông tới trước bàn nhìn tôi, lắc đầu nói thật chậm:

– Mày làm tao mất ngủ suốt đêm qua. Tao khóc vì bức tranh của thằng Chóe.

Trưởng ban trị sự Sáu Cao với thói quen cáu kỉnh từ thuở sống tại chiến khu Bà Ðen hai mươi năm trước gần như thường xuyên cau có gắt gỏng, cũng cho biết không ngăn nổi nước mắt trước bức họa đó và bức họa về tình trạng báo chí bị bóp nghẹt qua vụ án Sóng Thần 31-10-1974 với hình ảnh cô gái chít khăn tang, thân xác gầy guộc, quần áo tả tơi bị trói chặt chân tay, cột vào một cây gai dưới trời nắng lửa.

Riêng tôi, mỗi lần nhận những bức họa từ tay Chóe, tôi luôn có cảm tưởng anh không vẽ mà vừa hòa nhập và nhận chung gánh nặng oan khiên để cất lên tiếng gào xé ruột củanhững con người yếu đuối đang quặn mình dưới đủ loại roi vọt.

Chóe gần như luôn cố tránh đề cập tới việc vẽ cũng như ý nghĩa những bức họa của mình. Khi có ai đặt câu hỏi, Chóe thường đáp lại bằng nụ cười hiền hòa và một câu nói vắn gọn:

– Tôi vẽ để chọc cười thôi, ai hiểu sao cũng được.

Lúc này Chóe đã trở thành quen thuộc với người đọc báo tại Việt Nam và cả với một số người ngoại quốc, Khoảng cuối năm 1973, Chóe cho tôi biết có một người Mỹ liên lạc qua Trần Dạ Từ muốn gom những bức họa đã in báo của anh thành sách để xuất bản ở Mỹ. Anh chờ quyết định của tôi, vì hầu hết những bức họa đó đều in trên báo Sóng Thần. Tôi thấy đây là chuyện đáng mừng không chỉ cho riêng Chóe nên nhắc anh thúc Trần Dạ Từ cứ tiến hành và không cần thắc mắc gì về mọi vấn đề khác chẳng hạn như vấn đề bản quyền.

Mấy tháng sau, đầu năm 1974, Chóe tới tòa soạn trao cho tôi tập sách mang tựa đề The World of Chóe với dòng chữ phụ ở dưới: Vietnam’s Number-one Editorial Cartoonist. Sách do Glade Publications ở North Carolina ấn hành mở đầu bằng những trang viết về Chóe của Barry Hilton. Theo Barry Hilton, lịch sử luôn bị áp chế của Việt Nam đã hình thành truyền thống đối kháng quyết liệt coi rẻ mọi kẻ nắm quyền uy với lối nhạo báng đặc thù khởi từ quan điểm của lớp người bị dày xéo. Và, có thể coi những kiểu điên loạn đầy sáng tạo của Chóe là cách biểu hiện truyền thống đó cao nhất trong thế kỷ hai mươi (1).

Barry Hilton cho rằng cuộc sống giữa vòng cuốn hút của mọi loại công việc khiến nhiều người Mỹ vẫn mơ hồ về Việt Nam. Do đó, vấn đề đặt ra, theo Barry Hilton, gần như một chương trình trao đổi văn hóa toàn diện để nói cho người dân xứ sở này biết những thứ mà người dân xứ sở kia ưa thích – họ sống như thế nào, suy nghĩ về điều gì, cười vui vì điều gì? Tác phẩm của Chóe là bức thư ngỏ bán chính thức tuyệt vời của dân tộc Việt Nam gửi cho toàn thế giới, khởi sự giải đáp thắc mắc thứ ba vừa nêu. Tác phẩm này là Chóe với trọn vẹn sự kỳ quái, cũng là phần đóng góp của Việt Nam vào sự hiểu biết và hòa bình quốc tế (2).

Chóe trao tập sách và cho tôi biết đây là ấn bản hạn chế để tham khảo ý kiến chứ chưa phải ấn bản phát hành. Chóe chỉ nhận được ít bản để gửi tới những người cần thiết. Ít lâu sau đó, tôi được biết Barry Hilton không thể ấn hành tập sách do Bộ Ngoại Giao Mỹ không muốn thấy tập sách phổ biến vì nội dung đả kích nặng nề Ngoại Trưởng Kissinger và Tổng Thống Nixon về đường lối giải quyết cuộc chiến Việt Nam lúc đó. Barry Hilton là viên chức của Bộ này nên đành bỏ ý định và tập sách mãi mãi chỉ có 1000 bản in thử trao tay cho một số người.

Chóe không nói lời nào về sự việc kém vui này và cũng không tỏ ra thất vọng hay bực bội. Anh luôn giữ nguyên vẻ bình thản cố hữu với nụ cười hiền hòa thoải mái. Anh vẫn bình thản như thế, khi nhật báo Sóng Thần đặt vấn đề hủy bỏ các luật báo chí trái với nội dung Hiến Pháp VNCH khiến tòa soạn thường xuyên căng thẳng vào cuối năm 1974. Mỗi ngày Chóe lặng lẽ xuất hiện đưa những bức họa cho số báo hôm sau rồi lặng lẽ biến đi như chiếc bóng. Kể cả khi tòa soạn quyết định đốt báo để phản đối lệnh tịch thu, Chóe cũng không bày tỏ ý kiến nào, ngoài việc im lìm tiếp tục vẽ.

Cuộc chiến Việt Nam 1954-1973 (Dưới đây là phần hình ảnh tranh vẽ của Họa Sĩ Choé trong quyển Tử Tội)