Xe ngựa

baotreomnline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on November 4th, 2022

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Xe ngựa Hoàng gia trước Cung điện Westminster – nguồn Daily Mail  

Ngựa bên Tây, ngựa bên Tàu. Cỡi ngựa chém giết nhau hàng mấy ngàn năm. Vó ngựa Xích Thố của Quan Vân Trường, vó ngựa Hung Nô. Bên Hoa Kỳ, miền Viễn Tây có nhiều ngựa cho mấy tay cao bồi cỡi để chăn bò.

Ngựa đã đẻ ra cái quần jean. Mà Bake 75 gọi là quần bò!

Nhiều hơn nữa là ngựa, là con mã trên bàn cờ tướng, Tấn công lợi hại với pháo đầu mã đội. Hay phòng thủ là bình phong mã.

Hồi xưa nhà giàu mua ngựa về để chạy tới chạy lui. Muốn con vợ hơi ‘phì nhiêu’ đi theo ăn đám thì cần xe song mã. Ðiền chủ cầm ba toong, đội mũ nỉ, mặc đồ Tây, hút ông vố, ngồi coi bảnh tỏn lắm.

Hoàng gia Anh sống đi xe ngựa; băng hà cũng đi xe ngựa cho nó sang. Lóc cóc hộ tống theo sau xe 6 ngựa chỉ chở 4 người là đám kỵ mã mình người nhưng đầu chim (nghĩa đen).

Còn ở nước ta, thế kỷ 19, thực dân Pháp đã đưa ngựa qua Ðông Dương để chở lính, quân trang, quân dụng. Lính đi bộ. Sĩ quan được cỡi ngựa,

Chuyện rằng: Ðại úy Thủy quân Barber đóng tại chùa Khải Tường. Chiều tối ngày mùng 6, tháng Chạp, năm 1860, trúng mỹ nhân kế, Barber cỡi ngựa ra khỏi đồn. Nghĩa quân Trương Ðịnh phục kích dùng giáo đâm, ngựa ngã quỵ. Nghĩa quân giết chết rồi cắt luôn thủ cấp cùng hai cái cầu vai có gắn lon ba khoanh của Barber.

Bên dân sự, các quan chức cao cấp của thực dân Pháp có xe song mã 4 bánh, hai ngựa kéo, đi cho nó oai.

Còn người Việt nghèo, chế xe một con ngựa chở khách và hàng hoá để sanh nhai chớ không có chạy đi chơi.

Có người gọi xe ngựa là xe thổ mộ. Vì cái mui xe khum khum giống hình cái mộ. Diễu dở! Khách đi xe ngựa sợ ngựa bất ngờ nổi điên, lồng lên làm sứt càng gãy gọng, sợ u đầu sứt trán, sợ chết. Hổng lẽ chui vô cái thùng xe là chui vô cái mộ? Lên xe là đi vào chỗ chết hay sao?

Rồi có người lại nói ‘thổ mộ’ là đọc trại từ ‘thảo mã’ hay ‘thụ mã’ theo tiếng Quảng Ðông. Nói vậy không biết phải hay không? Vì cái âm ‘thổ mộ’ cách cái âm ‘thảo mã, thụ mã’ chừng ba cây số.

Xe hơi chạy bằng hơi. Xe bò kéo bằng bò. Xe trâu kéo bằng trâu. Xe ngựa là do ngựa kéo. Tên gì dễ hiểu mình xài. Rườm rà hoa lá cành làm chi cho nó mất thời giờ. Cớ sao phải tự làm khó mình gọi là xe thổ mộ? Thay vì ‘xà ích’ (sais) tiếng Nam Dương gì đó, thì gọi là đánh xe ngựa. Gọi là đánh xe ngựa vì phải có cái roi đánh ngựa, ngựa mới chạy.

(Hồi nhỏ tắm rạch, quậy đùng đùng sình dậy đục nước. Ông Ngoại rút cái roi đánh ngựa giắt trên vách. Ở truồng nhong nhỏng, leo lên bờ chạy tóe khói!) Từ chữ đánh xe ngựa mới có chữ đánh xe. Cho dù xe không cần đánh, nó cũng chạy.

Kỵ binh và những cỗ xe ngựa Hoàng gia thời vua Nguyễn. Ảnh: Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế.

Dân Ðức Hòa, Long An chuyên nghề nuôi ngựa cho Trường đua Phú Thọ Sài Gòn. Ngựa già, đua không lợi ai, dạt ra về kéo xe cho tới chết. Khổ vậy, nên có thành ngữ ‘làm thân trâu ngựa’.

Kéo xe, hai mắt ngựa có hai miếng da che hai bên. Ðể ngựa thẳng một đàng mà lóc cóc. Liếc dọc, liếc ngang ít ít thì bị chửi là đồ ngựa. Liếc dọc, liếc ngang nhiều nhiều thì bị chửi là đồ ngựa bà?!

Bộ yên lưng bằng da, hai quai lồng vào hai càng xe đặt hai bên vai ngựa. Sợi yên lưng còn lồng vào đuôi ngựa đội khi xuống dốc phải giựt lại như cái thắng để kềm ngựa. Không có nó, có ngày xuống mương cả đám. Móng ngựa khỏ lóc cóc trên mặt đường hòa với tiếng lục lạc đeo trước đầu ngựa cộng với tiếng “họ, họ” của ông đánh ngựa tạo thành một bản nhạc vui tai. Vừa đi xe ngựa vừa nghe nhạc sống.

Hai bánh, bằng gỗ giáng hương cho cứng, (mỗi bánh có 12 căm), niềng sắt, tròng lớp vỏ cao su cắt ra từ vỏ xe hơi. Thùng xe bằng gỗ mít. Mỗi bên có ba cửa sổ, dài 1.18m, ngang 0.85m, cao 1m. Thùng xe đặt trên hai gọng dài 2.7m, vít cứng lên trên bộ nhíp thép bốn lá (bốn trên bốn dưới) hình trái khế (ô-van).

Phía đầu thùng xe, hai bên là cặp tai đèn. Hai cái vè chở hàng bằng gỗ bề ngang hơn tấc tay, uốn lượn như dợn sóng. Trên cùng là cái mui uốn cong, lợp thiếc nhô ra tới nửa thân xe tính từ đầu con ngựa.

Xe ngựa trước Chợ Bến Thành – nguồn vntrip

Khách ngồi đâu mặt nhau trên chiếc chiếu bông. Chân co về một phía. Guốc dép máng ở hai cọc sắt phía sau hai góc thùng xe. Vắng, khách ngồi thòng chân ở phía có bàn đạp lên, xuống để giữ xe được cân bằng,

Tóm lại ngựa là cái máy kéo rất mạnh, có ‘bugi’ bự nhứt. Sau nầy, chế ra được chiếc xe hơi, người ta cũng căn vào sức ngựa tính máy xe mạnh hay yếu qua đơn vị mã lực. Máy xe ngựa không chạy bằng xăng, máy chạy bằng cỏ. Hừng đông lóc cóc hàng bông Hóc Môn, Bà Ðiểm vào mấy cái chợ ở Sài Gòn.

Chiều về dắt ngựa đẫm mồ hôi ra Bến tắm ngựa. Gần Bến tắm ngựa, có một cái động nhền nhện phục vụ mấy anh chạy xe ngựa. (Nó giống như gần cái bến xe là có cái động vậy). Vợ hỏi ông đi đâu? Tui đi tắm ngựa là xong ngay. Chửi đồ ‘đ… ngựa’ có phải từ đó mà ra?

Hồi tui còn nhỏ, từ Ngã ba Trung Lương vô chợ Mỹ Tho, đường dài chưa tới 5 cây số, có ông Bảy đánh xe ngựa chạy mỗi ngày. Khoảng năm 1957, tui học lớp năm trường tiểu học Trung An ngang Lộ Vòng Lớn, còn gọi là Lộ Dừa. Tan học, trên đường về, tui thấy xe ngựa của ông Bảy chạy. Dưới cái nóng gay gắt lóa mắt  miền nhiệt đới, nhựa đường như muốn chảy ra, nhịp ngựa vẫn lóc cóc, xe nhịp đằm khơi. Ðôi khi, tui ước ao ông Bảy cho tui quá giang. Nhưng dễ gì! Tui đi bộ dọc lề đường, lượm trái dái ngựa rụng nứt hai, bỏ vô cặp đệm về cho Má nấu cơm.

60 năm trôi qua. Trần gian chớp mắt bao nhiêu mộng. Má tui mất rồi. Tui mất nước, tha hương. Quê nhà bên kia biển. Hình ảnh chiếc xe ngựa, tiếng lóc cóc của 4 móng ngựa khỏ nhịp xuống mặt đường, đêm mơ lại dắt tui về với Má!

ĐXT

Xài giấy 500!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Tuần rồi có một độc giả thương mến thương gọi người viết chiều ra Footscray, vô một cái nhà hàng của bà con Việt Nam mình, vừa lai rai ba sợi vừa nói dóc chơi. Nhà hàng nầy không có cái ‘lái sần’ (licence) bán rượu, bia nên bạn mình phải BYO, (Bring Your Own), tức là tự mang rượu của mình tới nhậu! Được mời ăn nhậu không tốn tiền, tui chỉ đãi lại bằng giai thoại văn chương, chớ tiền có đâu mà hùn vô trả! Được chiêu đãi một cách trọng thị nên rượu vô vài cốc là tui bốc (phét) lên ngay. Mồm miệng tía lia, xài lia chia toàn giấy năm trăm, tức chửi thề thôi tá lả.

Độc giả nầy lần đầu tiên mới diện kiến để bàn chuyện văn chương, thơ phú mà thấy cha nội nhà văn nầy ăn nói bạt mạng như vậy nên hơi làm lạ, con mắt tròn xoe như cái bi ve!

Sượng một chút! Bèn ngẫm bạn mới quen lần đầu mà bỗ bã quá coi kỳ nên tìm cách chữa thẹn bằng cách thuyết trình cái đề tài: ‘Chửi thề là gì?’ Có ích lợi gì không mà sao ai ai cũng chửi, dân tộc nào cũng chửi?

Nhớ hồi mới qua, lang thang cuối tuần, ra Footscray gặp toàn là bọn Ý và Hy Lạp! Thấy được đứa nào mũi tẹt, da vàng là mừng hết lớn cho dù không rõ nó là Tàu Mã (Lai) hay Indo(nesia), hoặc Phi (Luật Tân) gì đó! Chắc ăn như bắp khi nghe thằng chả mới mở miệng ra là ‘Đù’ một cái là biết ngay phe ta liền hà. Do đó chửi thề cũng là một nhãn hiệu không cần cầu chứng tại Tòa cũng cho mình biết đó là người ‘Việt Nam Mít’ mình vậy! Vậy là nhìn bà con xa xứ với nhau, ở đây không có mấy đứa, mời anh bạn sơ giao nầy đi nhậu để kết tình huynh đệ.

“Nghe tiếng anh chửi thề rất là quen. Phải dân Sài Gòn hông?” “Đúng vậy! Tui ở Chợ Cầu Ông Lãnh đó nhe!”
Có người khoái chửi thề để ra vẻ mình ‘ngầu’, mình là dân chơi, là anh chị bự, là đại ca trong chốn giang hồ, sao tui thấy anh hiền như Bụt vậy sao anh Hai cũng chửi thề?

“Ối cuộc đời mà nhiều ‘xì trét’ (stress) lắm! Nhiều cái bực mình nó bơm vào làm lòng mình phình bự như trái banh! Cứ giữ trong lòng hoài, e một ngày nó nổ chắc là mình banh xác. Nên cần có cái vòi. Lúc căng quá thì mình xì hơi ra cho bớt, để lấy lại cái cân bằng mà sống chứ!” Và chửi thề là cái vòi đấy đó đa!

“Anh thấy không dân tộc nào cũng chửi thề hết ráo chớ đâu phải chỉ mình ên người Việt mình? Úc đây cũng chửi thề nghe thấy thương luôn! 

Nhưng là người Việt mà chửi thề bằng tiếng Úc nghe không có đã! Người Việt phải chửi thề bằng tiếng Việt, nghe mới có ép phê!”

Trong cuốn Tháng Ba Gãy Súng, nhà văn Thủy Quân Lục Chiến, Cao Xuân Huy có đoạn đối thoại đầy tiếng chửi thề đầy chất lính, đọc rất ‘đã’ cái miệng như vầy:

“Ông sĩ quan này đây hả?” Nghe câu này, tôi biết chắc là hai người đã nói chuyện về tôi, và dĩ nhiên không phải là nói tốt. Nhằm nhò gì! Tiểu đoàn trưởng không trả lời, quay sang nói với tôi: “Đ.M, ông về đại đội liền bây giờ.”

“Đại đội tôi nằm đâu, thiếu tá?” “Đ.M, không biết, ông đi cho khuất mắt tôi đi!”

Đó là đối với cấp trên. Còn với cấp dưới, mấy thằng em cũng chửi thề ráo trọi: “Đù má, lâu dzậy mậy?” Tiếng nói đột ngột, không đủ lớn nhưng đủ lọt vào tai tôi. Xong rồi! Tiếng chửi thề nghe sao dễ thương lạ. Tiếng chửi thề đã chấm dứt sự nguy hiểm bao quanh tôi.…”

“Đại đội 4 phải không?” “Đù má, đi đâu về trễ vậy cha nội?”

Như vậy ai đã từng là lính làm sao không chửi thề trong cuộc chiến tai trời ách nước, sống nay chết mai cho được chớ? Tôi đã từng là lính, nhiễm cái thói quen nầy vào lậm tới tận trong xương rồi. Khó bỏ lắm!

Có bực thức giả cho rằng chửi thề là rất xấu, là ngôn ngữ của người vô học, vô văn hóa, của bọn đá cá lăn dưa, đầu đường xó chợ. Tui thì không nghĩ vậy chẳng qua đời lính nghe rất quen những lời ‘tục tĩu’ nên tôi chẳng khó chịu gì cả, thấy rất bình thường.

Chửi thề như một phản ứng tự nhiên của cảm xúc, làm tăng nhịp tim lên, làm giảm căng thẳng, giảm đau đớn thể xác, vì thế việc chửi thề được xem như một liều thuốc giảm đau (hổng tốn tiền mua) rất hiệu quả. Chửi thề không phân biệt giới tính, trình độ, tuổi tác; chửi riết rồi quen, mở miệng ra mà không xài giấy năm trăm là nói chuyện cứ cà lăm!

“Định kiến về những người hay chửi thề, cho rằng họ có IQ thấp (tức ngu) hay khả năng diễn đạt kém là hoàn toàn sai. Chửi thề là một ngôn ngữ giàu cảm xúc, giàu nhịp điệu nhứt là trong quán nhậu.

Có thể nói việc chửi thề cũng là một trong những nhu cầu cơ bản của mỗi người, bên cạnh những nhu cầu như ăn, uống, ngủ…!

Nhưng ăn nhiều, vợ tui nói, cũng đâu có tốt (sẽ bị béo phì), uống nhiều, vợ tui nói, sẽ say, và ngủ nhiều, vợ tui nói, sẽ ngu! Chửi thề như một liều thuốc, uống quá nhiều sẽ làm giảm công hiệu! Chửi thề quá xá, nhiều hơn là cần thiết sẽ làm mình ‘over dosed’, làm mình hiện nguyên hình là một người thiếu văn hóa. Chửi thề càng nhiều thì tác dụng xả ‘xì trét’ của nó lại càng ít đi”.

Nên chửi thề ít thôi! Nhưng cái nào ra cái nấy mới được! Những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng lẫy lừng trên chốn văn đàn (đâu phải du côn, du kề gì đâu) cũng đều chửi thề hết ráo, dù ít! Khi tiếng chửi thề, nó mang guốc mộc, đi vào Văn học sử, nó mang cái tánh nghệ thuật rất cao.

Một từ rất tục tĩu, trong miệng các nhà thơ, nhà văn phát ra nó trở thành một vần thơ, một đoản văn cũng hay như những từ bác học khác vậy thôi. Chỉ cần đưa nó vô đúng lúc, đúng ngữ cảnh, đúng ngữ điệu, đọc lên sẽ thấy cái ảo diệu của tiếng chửi thề!

Hồi xưa nhà thơ Cao Bá Quát bất mãn triều đình Tự Đức đi làm loạn. Bị bắt, giải ra pháp trường hành quyết. “Ba hồi trống giục đù cha kiếp/ Một nhát gươm đưa đéo mẹ đời!”

Hai câu thơ, tiếng Nôm, đối nhau chan chát nghe như hát, như một bản thiên anh hùng ca của một người sa cơ thất thế nhưng không hèn yếu, cúi đầu mà chịu nhục.

Ai dám bảo hai câu chửi thề nầy nó không có tánh văn chương?

Ngoài Bắc, những năm 60, có nhà văn Tuân Nguyễn (xin đừng nhầm với Nguyễn Tuân, rất nổi tiếng trước 45 với những bài tùy bút) theo ông Phùng Quán kể lại trong truyện “Người Bạn Lính Cùng Tiểu Đội” như vầy: “Hòa bình lập lại, Tuân ra khỏi quân ngũ, đi học tiếp và tốt nghiệp Đại học Sư Phạm, làm thầy giáo. Sau đó được điều về Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam.

Còn tôi, lâm vào cảnh khổ nạn văn chương Nhân văn Giai phẩm phải về tá túc bên bờ hồ Tây, nhập phường câu cá trộm”

“Trong khi bạn bè thân thích, kể cả máu mủ ruột thịt, người yêu, đều xa lánh tôi, thì Tuân Nguyễn vẫn gắn bó, cưu mang tôi. Mặc dầu lúc này anh là người có chức danh của một cơ quan quan trọng, bắt đầu có tiếng tăm trên thi đàn. Tuân mò tìm được nơi tôi tá túc, thường xuyên mang cho tôi áo quần, tem gạo, phiếu thịt, kẹo, thuốc lá căng tin”

“Một lần, tôi hỏi Tuân: Cậu hay gặp mình, thế nào cơ quan họ cũng biết. Cậu không ngại à…? : Có ngại cái con ‘c.c’. Đù mạ …!”

Nhưng em yêu của tui cực kỳ phản đối! Em phán rằng: “Hồi xưa Tía má em chắc chắn là không bao giờ chịu gả em cho một đứa cứ mở miệng ra là chửi thề bốp trời thiên như anh đâu!”

Tui gật gù: “Thiệt đúng là phần số mà! Phải hồi xưa anh mở miệng ra ‘chơi’ một tiếng. Không cưới được em, anh cưới đứa khác; chắc đời anh đã khá hơn rất là nhiều lần.” He he! 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne

Chân dung

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Chiều cuối năm anh đi cắt tóc,
cắt dùm anh cho hết nỗi buồn:
quê nhà nhớ, tóc ngày mỗi bạc,
buồn rất xanh… làm tóc phai luôn!

Chiều cuối năm với đầu tóc ngắn,
bảnh bao anh, xuống phố một mình,
thấy em vui… với người yêu mới,
tình mình… theo tiền bạc… linh đinh.

Chiều cuối năm đi lui đi tới,
vì anh không biết sẽ đi đâu?
nhạc xuân nghe.. .người vui quá đỗi;
mặt anh… như mất của… rầu rầu…

Chiều cuối năm đi mua chai rượu,
uống cạn đêm nay, cạn nỗi sầu,
sáng mai thức dậy, đi cày nữa,
tiếp tục đi cày, một kiếp trâu.

Anh hỏi anh? sao khùng quá sá?
buồn chi than, thở nỗi tha hương,
Footscray, ngàn kẻ tha phương đó
họ vẫn vui… ai rảnh sầu thương?

Cứ giả bộ như cây với cỏ,
nghĩ suy gì? như đá trơ trơ,
đất quê người hay trời quê cũ,
ai cũng đau một kiếp, phận người.

Chiều cuối năm chạy xe ra biển,
nén hương lòng anh, ngút nhớ thương,
xác em yêu, phương nào sóng vỗ,
nguyện dùm anh ước vọng tương phùng.

Chiều cuối năm gởi tiền cho má,
nồi thịt kho, dưa giá năm nào,
tết vui, đừng nhắc, con nhảy mũi,
lỡ bịnh rồi, má khóc… con xa.

Ghép lại đời ta bao mảnh vỡ,
trở thành méo mó một chân dung,
đừng buồn nữa, ngày mai mồng một,
cười lên đi! mếu… sẽ tiêu tùng!

Đoàn Xuân Thu

Melbourne

Trăng lu

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 22/07/2019 

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Như thường lệ, Huỳnh Thị Giáng Thu về nhà lúc bảy giờ. Hai mùa mưa nắng sẽ làm thay đổi độ sáng tối nhưng đang hè, từ ngoài lộ xuống con đường đất đâm thẳng tới cổng nhà, mặt trời tuồng như vẫn còn gửi lại ánh dương quang. Nắng tuy yếu nhưng độ nóng chưa giảm sút, ẩm thấp, hầm hập. Lưng áo ướt đẫm mồ hôi, dán vào da Thu sít sao. Nực nội.

Dù gì thì đường đất tuy gồ ghề mấp mô chút đỉnh nhưng nó ít thu giữ nhiệt lượng so với đường nhựa dài hơn mười cây số mà Thu vừa đạp xe băng qua, chưa kể hàng cây khuynh diệp mọc cách khoảng với cây vú sữa đứng bên đàng đang xôn xao gửi trao cho Thu chút giò vờn quanh thân. Thu thấy dễ chịu. Bao giờ cũng vậy, càng gần tới nhà nỗi nhọc mệt cứ từ tốn rời khỏi người Thu. Thu nghĩ tới cái lu sành đựng nước đặt bên chái bếp, nước chứa đựng trong đó sao nó mát ngọt cách gì đâu. Thò lon vô múc, dội từ tốn xuống đầu, mình và tứ chi, nghe khoái cảm đâm gai trên da thịt. Lại thần hồn. Nhưng mà nói vậy chứ giờ này hẳn còn thanh thiên bạch nhật, đợi trăng lu Thu mới thầm lặng ra ngồi bên cái lu, có vậy mới tìm đúng sự thư giãn, khỏi trông trước ngó sau như đứa tội phạm có mưu đồ bất chính, tắm hối tắm hả.

Thu có cô bạn đồng nghiệp, Thắm thuê phòng trọ ngụ trên phố, đã một hai lần theo Thu về đây “thăm qua cho biết”. Thăm xong thì đưa cảm nhận, chốn này ngó yên hàn vô sự ghê nơi, sát ven thành thị đạp xe không xa mà ngỡ như về thấu làng quê, cảnh sắc đối cực với phố phường hỗn tạp. Thắm vạch đầu gối chưa liền vết thương, đưa cùi chỏ hai khuỷ tay trầy trụa cho Thu xem: Mình đi làm về, suốt đường thì luôn đề cao cảnh giác, gần tới nhà trọ lại mất tập trung cứ ỉ i chỉ ba bước là vào nhà, đùng một cái có đứa vụt xe lên giựt mất cái túi đeo chéo người. Thắm chửi thề một hồi, xong cái thở dài: Tiền mất tật mang, xe méo vành, áo xống sút chỉ đứt khuy hở hang như vừa bị đánh ghen. Cầm lòng không đậu lại vọt miệng: Con bà nó!

Tuần trước nhập đề, tuần sau Thắm vô thân bài vòng vo gạ ý muốn được Thu dàn xếp cho một chỗ ở trọ, bạn bè tuy chưa thâm tình nhưng cũng có thể nói có phúc cùng mang có hoạ cùng gánh, tánh tình con Thắm này ra sao thì Thu cũng đã biết. Thu chưa nghĩ xong một kết luận ổn thoả, Thu thành thật: Để mình thử hỏi ý kiến của ông anh xem sao, quyền huynh thế phụ.

Anh Đông làm bảo vệ trong một thương xá. Người trông cũng dễ coi, ít ăn ít nói mà số trời đã định hay sao á, gần ba chục tuổi đầu hầu như chưa một lần biết nắm tay con gái thì mong chi binh kiểu hán nôm tam thập nhi lập. Cha mất đã lâu, hai anh em sớm tối đi làm hầu thu nhặt lợi tức mang về phụng dưỡng mẹ già. Mẹ ở nhà lo việc chợ búa thổi cơm và mẹ biết nghề thầy bói, cứ than vắn thở dài số thằng Đông canh cô mồ quả, như người ta thì giờ này tao đã có cháu nội lúc thúc bầu bạn một bên lưng!

Trong mâm cơm chiều khi nghe Thu thố lộ ý muốn của cô bạn Thắm, đang ăn canh chua Đông ngừng nhai như gặp phải xương cá, nuốt trộng cục cơm cho khỏi cấn cuống họng: Thắm nào cà? Mày nhắm có chơi được không? Người mẹ ngó hai đứa con, gát đũa lên miệng chén: Phải đa, nhường cho nó một góc nhà đặng kiếm thêm chút huê lợi, chưa kể là lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Cứ mở rộng cửa một phen, không chừng mà trời tính không bằng người tính, có cơ hội thì muốn ăn phải lăn vô bếp.

Như thường lệ, về tới nhà Thu mang xe đạp vào dựng trong góc, khoá cứng. Thay bộ bà ba gọn nhẹ, rửa tay lau mặt bối tóc lên, uống miếng nước rồi cà rà đợi mẹ sai việc. Thăm dò mực nước trong lu, nếu cạn thấp xuống thì qua nhà dì Sáu xin ra giếng gánh đôi thùng. Dì Sáu sẽ lập lại điệp khúc: Mày khoẻ thật đó nghe Thu, chừng nào cho tao ăn miếng trầu cau. Coi, cái lưng ong, nước da bánh mật, cái mông nở. Bộ má mày hổng sốt ruột sao cà? Để “trấn an dư luận” Thu vừa gánh đi đôi thùng nước nặng oằn vai vừa xuống câu ca dao: “Bướm vàng đậu ngọn mù u, lấy chồng càng sớm lời ru càng buồn”. Dì Sáu hứ một tiếng rõ to: Sớm mẹ gì nữa, hồi đó con Sáu này sang sông chỉ tuổi mười lăm. Lạc hậu vừa vừa thôi mày, hoa mới dâng lên bàn Phật dòm qua ngó lại đã tàn héo dỗi hờn.

Thu nhặt sâu bó cải, dội qua miếng nước đợi tôm đổi sang màu hồng mới đùn rau vào nồi. Việc ăn uống của ba mẹ con không việc gì phải làm rình rang, thích giản đơn chớ chẳng phải thắt lưng trói bụng như thuở nào phải nhá cơm độn trường kỳ. Thêm nữa, tan việc cơ quan, Đông mang tật ưa nấn ná phá mồi, tợp chút bia ngoài quán cùng một hai người bạn, mang bộ mặt đỏ nhừ về tới nhà thì chẳng thiết việc nhai cơm. Đông nói, tui thuộc hạng dễ nuôi, chẳng kén cá chọn canh, nuốt chi cũng đặng. Mấy đứa bạn bảo, chúng tao có vợ con còn đếch ngán huống chi mày độc thân vui tính về làm đéo gì giờ này? Vô êm cái này đi…

Thu ngó anh: Gần mực thì đen, nhuộm cho gắt sẽ khiến con gái sợ hãi. Chủ nhật này Thắm về nhà mình chơi đó, lo bỏ tật nói thánh nói tướng những đếch với đéo là vừa. Con Thắm mà nghe ra e chết khiếp, phút đầu gặp nhau đã thấy tinh tú quay cuồng. Người Mẹ làm đồng minh: Thu nó nói phải đó mày, tiếng là em nhưng luận việc chẳng sai. Ai đúng thì mình nên nghe, như ba mày đó, cứ cứng đầu nam vô tửu như kỳ vô phong, nói sửa đổi hổng chịu chấp hành cuối cùng phải qua đời vì thượng mã phong.

Đông moi túi quần ra đúng hai trăm năm chục ngàn: Chủ nhật này mẹ liệu làm cái gì ngó xôm tụ chút nha, trước thắp cho ông già ba cây nhang, sau nhà có khách cũng nên tỏ vẻ đình đám, tránh cho con Thu khỏi phải mất mặt bầu cua. Em Thắm có biết uống bia không Thu? Ngồi cưa lai rai với Đông này một vài lon cho đôi đàng được thêm hưng phấn. Thắm đã từng đến đây? Hồi nào vậy cà? Thì cái hồi mà anh còn bận tùng tam tụ tứ ngoài quán cơm bụi mãi quên đường về. Nó hỏi chớ ông anh bồ đâu tui hổng ngó ra, làm em phải man khai nói tốt cho anh, ờ ổng chăm lao động lắm, làm tăng ca có khi tối mịt mới dứt điểm. Thắm ngó đẹp gái không mày? Thu tìm lời diễn tả trong lúc cả anh cả mẹ đều dóng tai lên đợi chờ. Gái miền Tây Nam bộ, thích nghe nhạc boléro, yêu màu tím, chưa từng một lần dang dở, đẹp xấu tuỳ người đối diện… Chủ nhật đã tương ngộ, bộ giờ này đang ngồi trên lửa hay sao kìa?

Người mẹ đếm xấp giấy bạc, xong nhét vào cái túi áo lót kín đáo bên trong làm như ra ngõ gặp anh hùng, lắm diệu thủ thư sinh nhanh tay lẹ mắt. Bà nói, nếu con Thắm chịu tá túc ở đây tránh gió mưa thì thằng Đông nên tha đâu về vài tấm ván đặng ngăn chia buồng cho nó ở. Thu nói nhanh, sẵn mua luôn tấm tồn nghen anh Đông? Chi vậy? Bị canh khuya tui ra bên lu đứng tắm cứ thấy nhột nhạt y như có ai núp sẵn để nhìn chùng vụng, phải tìm cách che đậy cho bớt thông thoáng. Đông cười, thằng con dì Sáu chứ còn ai trồng khoai đất này, nó đi khoe khắp xóm là chỗ kín đáo của phụ nữ trong khu vực nó từng tường tận thấy qua. Thu chửi: Tổ cha thằng ranh con! Hèn gì mấy lần qua gánh nước giếng cu cậu tròn mắt ra nhìn như kiểu muốn ăn tươi nuốt sống vậy đó. Hồi nào quởn, anh thử uýnh dằn mặt nó cái coi. Í, đánh làm chi cho mang tiếng ỷ lớn hiếp bé. Sao mày không mang mỹ nhơn kế ra xài? Bẹo hình bẹo dạng mà sai nó thả gàu xuống giếng múc nước đổ vào thùng xong cái nói mày có ngon thì gánh về nhà tao coi có đặng không. Người mẹ la: Hạ sách!

Bữa chủ nhật tươi hồng “đến hẹn lại lên”, chủ khách định ra vai vế nghiêm minh đúng thủ tục xong thì cuộc trò chuyện cởi mở coi mòi rôm rả lắm tiếng cười đùa tiếp diễn chừng bất tận. Tình hình thuận lợi cho cả song phương, một bên thuê chỗ trọ giá hời lại đi đâu cũng có chị có em sông liền sông núi liền núi; một bên thì nhìn ra ngay cái suối nguồn tươi trẻ từ hạ lưu sắp hoá thân hoà nhập vào dòng chính, sẽ tìm cách ngăn đập chắn cho lưu lượng khỏi hư hao hòng làm thuỷ điện thắp sáng đời thằng Đông và mẹ già có được đứa cháu nội tay bế tay bồng “cực mấy tao cũng chịu”. Trai khôn tìm vợ chợ đông, lù khù trời độ cơn giông đì đùng, canh khuya rón rén vén mùng, tình nghe thắm thiết vụng chùng ngon cơm, coi như bắt lửa bó rơm, trần thân cháy bỏng thịt thơm hít hà. Đông cười mình ên, có vậy mới thấy, khi người ta chỉ mới mường tượng ra một bóng hình thì tâm tư người ta nghe chuyển biến để có thể mần thơ, gọi là xướng hoạ một nỗi niềm bấy chầy hạn hán. Nôm na là Đông bị choáng, chịu đèn quá mạng nhan sắc Thắm mang.

Ăn uống no say xong, Thắm làm như đứa con dâu hiền thục phụ Thu mang chồng chén bát ra ngồi bên lu múc nước vô thau, kỳ cọ rửa muỗng đũa, úp có thứ lớp vào rá nhựa. Người mẹ nói: Phải đa, nên nhúc nhích hoạt động cho tiêu cơm bị mình còn món chè khoai môn tráng miệng. Đâu ra đó xong thì cũng kịp lúc chè chín khoai nhừ. Ăn mặn xong tới ăn ngọt, chung cuộc ngã ngũ ra một viễn ảnh: Bây giờ là ngày 13, cuối tháng Thắm xong hợp đồng thuê phòng trọ chốn đó. Trước khi dọn về đây ở thì nhà này cũng cần sơn phết sửa sang chút đỉnh, dựng ván ngăn buồng định vị cho Thắm có được chốn riêng tư. Thắm nghe Đông quyền huynh thế phụ phát ngôn, nhai miếng môn ngọt nhừ mắc kẽ răng mà thầm nghĩ: Lời ngươi nói thật hợp bụng ta, mai này ắt sẽ có lắm thứ ta cậy nhờ ngươi thanh thoả giúp vậy!

Như lệ thường, tật cứ chưa bỏ; hoặc đang còn rộng cẳng chẳng có vợ hiền trói chân, tan việc Đông tới quán nhậu đưa cay cùng chiến hữu, hạnh phúc được bán trời không văn tự. Nói cho sướng mồm cũng là phép mà phương thức vật lý trị liệu luôn khuyến khích, như kiểu bị xe đụng gãy chân, trong thời gian chờ đi đứng bình thường anh phải nén đau, vất gậy gộc nương tựa để học cách mò mẩm tự mình cất bước xiêu vẹo. Vạn sự khởi đầu nan, người xưa từng bàn qua vấn nạn.

Mỗi tụ điểm nhóm họp rượu bia cho đến uống cà phê râm rang tâm sự đều có chung điểm trùng hợp, rằng đó nào khác gì một phòng thông tin mà đồ chừng thời buổi nay “phát sóng” toàn cả chuyện nằm mộng cũng chẳng ngờ. Khoa học viễn tưởng, khó tin. Ông bà thường bảo: Rượu vào lời ra. Đằng này rượu chưa nhấp một giọt, lời đã chảy lai láng. Một chiến hữu ngồi sát vai Đông thuật chuyện vừa xảy ra trưa hôm qua, có con mẹ đi vào tiệm bán vàng, cởi nón quạt cho mát mặt, quạt tới đâu bà chủ tiệm vàng đứng gần ú ớ tới đó, lẳng lặng mở tủ kính dồn nữ trang vào cái túi vải. Bả trình báo công an tui như bị bóng đè như bị hồn oan nào sai khiến vậy đó. Chừng tàn một cây nhang mới sực tỉnh, mới biết vừa cúng cho ai đó đống vàng giá trị ngang với ba chục ngàn đô la. Một ông đối ẩm ngồi chung bàn góp tiếng, vậy thì cũng gần trùng chuyện lạ ở Nha Trang tuần rồi, họ đóng vai kẻ lạc đường tay nắm sẵn tờ giấy, nhắm ra đối tượng mới lại gần: Xin làm ơn chỉ giúp tôi đường đến địa chỉ này. Họ mở tờ giấy ra, người kia nhìn vô, không nói chẳng rằng tự động cởi tư trang, moi hết tiền bạc ra giao vào tay “linh hồn lạc lối”. Người kể chuyện lạ có thật thở dài để chấm câu, mình có cẩn tắc cao độ cũng đụng mặt ưu phiền bủa vây. Cẩn tắc vô ưu thì coi như xưa rồi diễm. Ông khác hoài nghi, phỏng đoán: Chắc là bùa ngải gì đó rước từ Miên về. Nghe đâu ở bên Thái có bán chui một dược liệu, hoà vào nước uống sẽ xúi con gái quên trời quên đất, đầu óc chỉ sáng chuyện chiếu giường, chết bỏ bể bỏ. Ôi, thời nay người ta đối đãi nhau toàn cả bùa mê thuốc lú!

Đông không ăn nhằm bùa mê thuốc lú, Đông chỉ bị ông sếp kêu lên văn phòng ân cần bảo ban: Trong thương xá ta có lắp đặt tám cái caméra, thu hình và phát hiện hàng hoá bị trộm cắp thất thoát rất nhiều. Chú làm bảo vệ mà mắt chú đặt ở đâu? Đừng ngủ gục nữa nhé. Năng nổ lên, yêu nghề lên, chú tâm theo dõi những ai mà lòng chú sinh nghi ngờ. Muốn việc làm ổn định, đòi tăng lương chú phải hô hoán và bắt được đối tượng đánh cắp hàng hoá của thương xá ta. Nói ít hiểu nhiều, chú đi làm việc đi.

Đông đi làm việc, người bảo vệ năng nổ chợt trông ra bốn đứa có bộ dạng thậm thụt khả nghi. Hình như chúng vừa khoắm đi một món gì đó. Đông vừa hả miệng la vừa thu ngắn khoảng cách, nào ngờ bảo vệ chẳng biết món kung-fu nào trong khi bốn đứa kia võ nghệ đầy mình, chỉ nhìn hình xăm trổ của chúng thôi đã nghe thắt ruột, chân mềm đá cứng, gối mỏi chân chồn. Bốn đứa vây Đông vào giữa, cả tay lẫn chân đều xuất chiêu toàn đòn hiểm, độc vật như võ Thái Lan. Đông nếm được vị mặn của máu trước khi đầu rơi xuống, va vào góc cạnh một cái tủ chưng đầy chai lọ nước hoa Chanel, Dior, Cartier, Prada, Gucci, Armani. Hương mùi choáng váng. Bất tỉnh nhân sự.

Tin không vui chuyền gửi về một cách cực đoan, sai quy trình, siêu bức xúc. Thu nhờ Thắm dắt mẹ mình đi vào bệnh viện thăm ngó anh Đông thử xem còn nguyên vẹn bao phần. Thắm hỏi: Cớ sao bồ lại ở nhà? Lòng dạ nào… bồ mắc chứng bệnh gì vậy? Thu nói nhỏ, trong người tự nhiên mọc nhiều mụn nhọt, ở nách ở bẹn, kỳ cục nhất là cửa mình cứ ẩm thấp ngứa ngáy khó chịu lắm, tâm tư lắm. Thắm làm tài khôn: Bồ nên đi hỏi thăm, vạch áo cho bác sĩ xem lưng là vừa, tui nghi bồ bị bệnh da liễu hổng chừng. Đái có rát không? Ngửi ra mùi hôi không? Thu la: Không, không, trăm lần không vạn lần không. Thu định thắp nhang trên bàn thờ van vái ông già đưa mặt xuống độ trì, nhưng ngại mang tội vì nghĩ trong người không được sạch, lấn cấn điều gì đó. Đi vô rồi lại trở ra, lòng như lửa đốt. Thân thể biến chứng, đứng ngồi chẳng yên, đồ chừng phải xin nghỉ việc ba hôm. Lại thêm khi không anh Đông bị sao quả tạ chiếu, xui chi xui vô hậu.

Mẹ về mặt chảy dài, khô héo già thêm, mất chừng năm tuổi thọ. Chỉ riêng Thắm, y như tên gọi vẫn thuỷ chung nét mặn mòi chẳng hư hao. Thắm cho hay là băng bông quấn đầy người anh Đông, mắt nhắm mắt mở nói năng vấp váp nhớ trước quên sau cà giựt cà tàng dục tốc bất đạt. Ban đầu ảnh hổng nhận ra mình, cô nào đi chung với má dị? Xong cái ảnh cầm tay mình nói, vậy là cháy kế hoạch, Đông này không thể chỉnh trang xây đắp riêng cho Thắm một giang sơn, có gì hãy tạm thời di dời ngọc thể đặt lưng ngủ ngáy trên giường anh. Anh quyết đánh thắng bệnh tật hòng sớm về đoàn tụ. Đắng miệng quá, giá mà giờ này tay nắm được một lon bia… À, nhắn con Thu nên đề phòng chuyện cái lu, bạn anh nói thằng Đực con dì Sáu ở vườn sau nó mua được chất bột hàng hiếm, muốn chùng vụng bẻ cành hái hoa thì đổ gói bột cho hoà tan trong nước. Cái lu nhà mình, trăm sự cũng nhờ vô lu. Tắm táp, vo gạo, nấu canh… Nước chứa trong đó… Thằng Đực rắn mắt thường dòm lén con Thu thoát y vốc nước kỳ cọ… Đực mà ra tay thì…

Y tá xua đuổi không cho người nhà ngồi đó mà hỏi han, về đi cho bệnh nhân ngơi nghỉ. Đầu bị va chạm nặng nên trí óc anh ta đang hoảng loạn, bắt người ta động não thì thuốc thang gì cũng bó tay thôi. Sớm mai hẳn tới, có thương thì ảnh đòi thứ gì nên chìu lòng kẻo ảnh nổi quạu, thiệt là không tốt đâu nha. Thắm hỏi: Ảnh đòi uống bia lon, có ô kê không nè? Bác sĩ cười, chớ mần bia lon, nhưng uống lon cô ca cô la thì… chuyện nhỏ. Thu nói mà như hát: Cảm ơn bạn hiền, may mà có Thắm đời còn dễ thương. Mai đi làm nhớ khai giúp con Thu bị bệnh tình xin vắng mặt đôi ngày cố khắc phục nghiệp chướng. Ở đời ăn hiền ở lành cũng bị quá báo, thề không nói láo, húp cháo cũng gãy răng.

Thắm về nhà trọ, Thu vào đứng bên giường, cởi đồ tuốt luốt nhờ tấm gương phản ảnh hiện thực đồi truỵ. Thật sôi gan ứa máu, thật ngậm đắng nuốt cay. Thể hình này sao chóng đổi thay? Mới ban sáng hồng hào chút đỉnh, sao giờ này mận đỏ lan tràn quá ư đình đám, chưa tính những vết cào từ móng tay cho đã ngứa. Ôi thôi cụm lông ở đó sao xơ xác quá đỗi, mình tránh mó tay vào vì sợ nó bắt mình tự tìm lấy khoái cảm. Nhục dục như một bình xăng chực chờ một mồi lửa. Mình quyết kềm chế, đánh thắng bản thân.

Khuya, trông trăng trăng lặn ngó sao sao mờ, dứt tiếng chó sủa vu vơ trong xóm vẳng ra, Thu xé rào lòn thân dẫm chân vào khu vườn nhà dì Sáu. Kia là cây trứng cá ít lá, nọ là cái vành giếng tròn méo khó định rõ. Xấn thêm năm mười thước là gặp bậc tam cấp dẫn lên căn nhà cửa đang đóng kín. Cửa bỗng xịch mở, chừng như người đó hành nghề đề phòng trộm cướp, xuất hiện ngay để bắt quả tang:

Ủa, tính qua gánh nước hả? Sao khuya vậy? Thằng Đực vừa nói vừa bước xuống khỏi tam cấp. Hắn ở trần, mặc xà lỏn đi chân đất, thoạt nhìn ngỡ như hắn mới lộ hình từ địa đạo Củ Chi lên. Tuổi hắn chừng mười bảy, nhưng khẩu súng ngắn dấu trong quần đang sửng cồ ưa khai hoả. Thu đưa tay cởi hạt nút áo:

Trời nóng chết mẹ, tính qua tắm giếng. Nước trong lu quá ít, tắm hổng đã, hổng hạ nhiệt, cứ nhin nhín, cứ nhịn thèm.

Bấy chầy vẫn xài nước trong lu à? Có phát hiện, có thấy biến chuyển gì không?

Ờ, kỳ cục ghê vậy đó. Dội nước trong lu xong tự dưng nghe ngứa ngáy, canh khuya lên giường nằm trằn trọc cứ mơ tưởng bóng hình một thằng con trai.

Đực đi lại gần. Thu chẳng quay đầu, cứ thế mà bước lui cho tới hồi chạm tay vào thành giếng thấp. Lại cởi thêm một hạt nút áo:

Bà già đâu?

Bả qua nhà ông Xã trưởng coi ti-vi.

Ở một mình không sợ ma sao Đực?

Ma sợ tui thì có.

Đực cười trong cổ. Hắn có hơi bối rối, chừng như tiến thối lưỡng nan. Những đứa chuyên đi dòm lén đàn bà con gái sẽ không hình dung ra được một ngày kia có người con gái bạo gan tự tay trút bỏ áo quần trước mặt. Lại cực rối loạn khi nghe đối tượng vòi “tắm chung với tui nha. Gãi giúp tui những nơi mà tay mày mò không với tới”.

Đêm tối hù, vậy chứ mắt Đực trông rõ mười mươi vùng ngực trắng một cách dã man của người con gái tên Thu. Trắng xanh như có tráng qua chất lân tinh, như bầy đom đóm vừa đậu xuống, lập loè. Đom đóm chúa cất tiếng hỏi:

Có đắt đỏ tốn kém không vậy?

Về cái gì?

Về gói bột thần sầu quỉ khóc ấy.

Ờ, mắc chút đỉnh nhưng chỉ là chuyện nhỏ. Không ngờ là nó công hiệu đến thế.

Công hiệu ra sao?

Đực ngây mặt ra, đực mặt. Thu khom mình nhặt cuộn dây cột ở chiếc gàu. Giếng này sâu nên chẳng ai tiếc việc nối dài sợi dây.

Lại gỡ mấy cái nút thắt giúp tui cái nào. Dây nhợ lòng thòng như cuộn chỉ rối. Đực nghe lời, hắn ngửi được mùi con gái, hắn thấy hơi nóng từ thân thể đứng sát sao kia đang toả nhiệt. Một lát nữa thôi chiếc quần của Thu được cởi ra, Thu sẽ hối hắn gãi cho đã ngứa, cho trôi cơn hạn.

Cái mà Đực không ngờ, là sớm hơn giây lát, chỉ trong một tích tắc, Thu vừa hít một hơi sâu, dồn vào đôi tay bao sức lực mà Thu có, cắn răng xô thằng Đực xuống lòng giếng.

Một tiếng thét trong đêm, nhỏ thua tràng chó tru. Tiếng một vật thể đánh vào những viên đá trơn láng mọc rêu xanh và chấm dứt bằng tiếng vỡ ra của mặt nước hứng dội, vui tai nụ cười của thuỷ thần rộng lòng tiếp nhận lễ vật. Để chống ngập, người ta rêu rao bà con nên dùng lu. Với cá nhân Thu, để chống tệ nạn luân phiên bày ra trong xã hội, nên dùng giếng để ém bớt, để chôn những thằng người không tử tế. Có dẫn tới đâu thì nén lòng đợi, hạ hồi phân giải.

Thu về nhà, nghe da thịt thôi ngứa. Trời hè kỳ cục, gần đêm rằm mà chị Hằng vẫn bỏ đi xa. Mây vẫn dầy che màu trăng lu, ám tối.

Hồ Đình Nghiêm

Tội phạm

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 11/12/2019 

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

1.
Trước tiên, họ cử người đi tìm Beo. Họ có ảnh Beo và thu thập các sinh hoạt cá nhân của đứa thanh niên 22 tuổi được lấy ra từ laptop của Sóc. Một chi tiết nằm trong bài thơ mới nhất của Sóc khiến cảnh sát quan tâm: Vẽ ra, gợi tới một cánh rừng mở lối cho đôi nhân tình nắm tay vào tự cưỡng chống những oan khuất. Giả thiết đặt ra, dưới mắt nhìn của bạn dân: Chúng vào rừng tự tử.

Tấm bản đồ thành phố được trải rộng, một vùng đất cao gần như bỏ hoang nằm hướng tây bắc được ghim ngay một cây kim đỏ. Theo lời khai từ phía gia đình, Sóc mất tích đã hai hôm, họ xin phép được vào phòng Sóc, mọi vật ngăn nắp chừng như y nguyên. Sóc chẳng mang theo người một thứ gì cả, cái túi đeo vai, thứ mà con gái luôn không quên khi có việc đi ra ngoài vẫn nằm gần cửa. Trên bàn, vuông bạc MacBook Air đặt ngay ngắn và nó trở thành đầu mối duy nhất hòng khai mở được ít nhiều tin tức. Một chuyên viên giỏi về điện toán mất chừng mười phút đã tìm ra được password để vào lùng sục thế giới riêng tư của chủ nhân, họ xem lướt những trang thơ của Sóc, những trao đổi với bạn trai và do vậy họ tình nghi Beo.

Họ in ảnh Sóc ra, phát cho nhóm dân địa phương tình nguyện tham gia vào việc đi tìm kiếm Sóc. Mười bốn người chia làm hai nhóm để tiến vào rừng thưa bằng hai lối khác nhau. Họ trang bị gậy gộc, đèn bấm và túi ny-lông dùng chứa bất kể thứ gì mà Sóc đánh rơi, mang chúng về lab xét nghiệm.

Rừng ẩm thấp, mặt đất mấp mô. Mùi gỗ mục có nơi các cây già cỗi gãy bật gốc rễ, mùi đất nhão hoà với mùi hăng của rêu xanh khuấy lại đậm đặc. Vô số các giống côn trùng nhỏ có cánh bay hoảng loạn tựa một đám bụi phiêu hốt. Yên ắng, chỉ có tiếng chân bước kèm hơi thở vội, tiếng gậy va đập vào đá, cây lá cựa mình gửi xuống những giọt lạnh.

Sóc tuổi 16, buồn vui bất chợt, đầu óc không mấy bình thường, tự nghỉ học vì “mọi người chả ai hiểu em cả”. Sóc có thơ đăng trên một diễn đàn văn học uy tín nằm ở thành phố khác mà người chăm sóc từng làm một màn giới thiệu: “Một tài năng trẻ mang nổi loạn đi cày phá những khuôn mẫu quen thuộc”. Và facebook Sóc có hơn hai ngàn người theo dõi. Khi đọc hết bài thơ mới nhất, chính vị cảnh sát trưởng quận hạt đã thốt ra lời khen thưởng: Tuyệt tác. Sau đó ông nói với thuộc cấp, mặc dù tôi chẳng hiểu con bé muốn nói tới điều gì. Duy hình ảnh cánh rừng nằm giữa hai hàng chữ đã ám ảnh tôi.

Một số người tốt bụng bỏ công sức dựng lên cái lều bạt nằm ven rừng, họ sẵn lòng cung cấp cà phê, nước trà nóng, bánh ngọt tự làm cho những người sẽ tiến vào hoặc trở ra từ cánh cửa thâm u của khu rừng hoang dại kia. Trong đó là một thế giới khác lạ, nửa đe doạ nửa lôi cuốn, có bác nói khi cắn mẩu bánh hạnh nhân nướng thơm vừa lửa.

Gần cuối ngày, dù chưa tối, hai toán mặc áo có may đoạn vải đính chất lân tinh trước ngực từ vũng mờ lần lượt đi ra. Họ được khuyến cáo rằng mức độ an toàn chưa được kiểm chứng, gấu hoặc thú dữ có thể làm hang động trú ẩn bên trong. Thất bại. Chẳng có gì. Ngay cả dấu vết một cành cây nhỏ bị gãy vết mới, một đám cỏ bị dẫm chân lên cũng không thấy. Nói chung là vô sự. Có ông đã trách móc vị cảnh sát trưởng về mức độ thẩm thấu thi ca hoàn toàn sai lạc, bị dẫn dắt một cách vô lối bởi cái mơ mộng hoang tưởng của con bé 16 tuổi sống xa thực tế.

Hôm sau, bốn nhân viên có mặt ở trụ sở cảnh sát bất ngờ khi thấy chính Beo xô cửa đi vô. Hắn nói: Sóc đã bỏ tôi dù tôi van nài trì kéo van xin thề thốt, nhưng Sóc vẫn rứt áo ra đi. Chỉ nói đúng một câu “chẳng ai hiểu tôi cả”. Sóc nhảy phóc lên một toa tàu trống, một tên đàn ông chực sẵn đưa tay kéo bạn ấy vào. Có thể giờ này đoàn tàu đang tiến dần về thành phố Rock. Một nhân viên công lực rời khỏi bàn giấy, xô ghế đứng lên: Đây là thứ thông tin cần thiết. Nhưng tạm thời chúng tôi sẽ cho bạn ngồi tạm trong buồng giam kia bởi bạn còn phải trả lời nhiều câu hỏi.

Cảnh sát huy động hai xe nháy đèn và hú còi vội trườn ra xa lộ. Họ đạp chân ga phóng nhanh, họ có quyền coi thường tấm bảng lưu ý vận tốc tối đa là 80 cây số giờ. Kim đồng hồ chậm chạp bò lên số 100. người lái xe có bộ mặt hớn hở trong khi gã ngồi ghế bên cạnh vũ khí trang bị tận răng đang ngáp trẹo quai hàm. Gã đưa cảm nhận: Yên lành quá cũng không tốt, chúng ta dư thừa thời gian chỉ để đuổi theo một con bé bốc đồng nổi máu đi giang hồ, cứ mặc xác nó chứ, nên tôn trọng tới đời sống mỗi cá nhân. Đồng hồ tốc độ lên tới con số 110. Nhưng bạn phải hiểu nó vị thành niên, là con gái độc nhất của ông thị trưởng và ông ta đang ngồi trên lửa.

Khi hai chiếc xe y trang nhau như hai giọt nước có chạy hàng chữ bên hông “Vì dân mà ra sức bảo vệ” lăn vào địa phận Rock, máy bộ đàm liên lạc bỗng phát tiếng rè kiểu vừa bắt sóng. Chúng tôi vừa tới, nghe rõ trả lời. Nghe rõ. Cảnh sát địa phương đây. Motel Mộng Đẹp vừa xảy ra án mạng, nghe rõ trả lời. 5 trên 5, Mộng Đẹp nằm ở đâu? Ngay giao lộ 19 và 55 ấy. Tốt, chúng tôi sẽ có mặt ở đó. Quẹo xuống hương lộ, bụi mù bao lấp toàn bộ chiếc xe chạy đàng sau.

Một cảnh sát mặc áo chống đạn tỏ vẻ nôn nóng, đi lại chiếc xe lấm lem vừa thắng đứng, đèn xanh đỏ vẫn không ngừng quay trên trần xe. Bọn tôi gọi các anh tới để nhỡ nạn nhân là đối tượng mà các anh đang cất công tìm kiếm… như vậy đỡ tốn kém thời giờ cho các anh. Nói xong dùng tay ra dấu, tấm ny-lông trông lạnh lẽo được một người đeo găng tay lật giở ra. Săm soi, đối chiếu với tấm ảnh Sóc… Một tiếng la “lạy Chúa tôi” cất lên. Một thi thể tuổi dậy thì trần truồng. Hai con mắt không chịu nhắm kín.

2.
– Em mấy tuổi rồi?

– 19.

– Đừng đùa.

– Không tin sao? Đưa tiền đây, em sẽ đàng hoàng bước vào tiệm bán rượu tha về một chai mang nhãn hiệu anh thích uống.

– Cũng có thể. Trông em hút thuốc dáng vẻ sành điệu.

– Do đâu anh hoài nghi để hỏi tuổi em? Vì ngực em không lớn?

– Em biết làm tình vào năm mấy tuổi?

– Từ khi má anh đẻ ra cho anh một đứa em.

Gã thanh niên cười lên tiếng lớn, lấy làm sảng khoái, có vẻ thích thú.

– Em thật đặc biệt.

– Đừng nói vậy. Không chắc là anh hiểu em.

– Nhưng em hiểu anh yêu em, đúng không? Anh phạm tội vì em.

– Chúng ta vừa làm tình. Điều đó chính em cũng không hiểu lấy em.

– OK. Bây giờ không nên đào sâu vào chữ hiểu. Yêu đương làm người ta mù quáng. Em thích ăn gì, anh ra ngoài mua về?

– Ừ, ít ra thì anh cũng hiểu là em đang đói. Một cái pizza.

Bước xuống giường, gã mặc lại quần áo. Chăn gối xô lệch, gã vuốt lại đầu tóc rồi cúi người hôn đứa con gái đặc biệt. Một chân vẫn lòi ra khỏi chăn, màu da đọng vào mắt gã một đốm sáng. Gã nói, anh sẽ trở về, không lâu đâu, chừng khoảng nửa giờ, tối đa.

Người con gái thắp lửa một điếu thuốc, mơ màng nằm nghe tiếng xe vừa rời khỏi vuông sân trước motel. Cô tìm thấy một cây viết nằm kề bên cuốn niên giám điện thoại, ngồi dậy và bắt đầu hí hoáy viết vào những tờ giấy rút ra từ hộp Kleenex.

3.
Từ quán ăn bước ra, chất chồng trong thùng bán nhật báo hắn nhìn thấy ở trang nhất có in hàng chữ Missing kèm tấm ảnh đóng khung khuôn mặt cô gái 16 tuổi mang tên Sóc. Vì tấm ảnh cuốn hút hắn không trông ra bản tin loan tải về một vụ án mạng. Hắn lộ vẻ bối rối. hàng chữ mực đen cho hay đó là con cưng của một vị thị trưởng, hắn tin rằng chẳng ai dại khi muốn đùa với lửa cả. Hắn tìm bao thuốc nhưng sực nhớ là đã để bên người con gái thật đặc biệt, tỉnh khô man khai 19 tuổi. Cô ấy mang vẻ hồn nhiên tựa một phù thuỷ có pháp thuật cao, cô già dặn ở mặt khuất lấp khác, có thể xoá tan nỗi hoài nghi của bất kỳ ai khi muốn lượng định. Cô hiện thân của sáng tối, thánh thiện và tội lỗi. Cô đã dựng lên một kế hoạch, chi ly với mức độ thành công lên tới 75 %.. Tối nay hắn sẽ chở cô tới một nhà kho thu cất những món hàng bất hợp pháp và cả hai cùng đột nhập trộm lấy các thứ gần xem là đồ quốc cấm. Giờ này thì hắn rõ, chỉ có con cưng của ông thị trưởng mới hay biết cái nhà kho đó. Hắn vào ngồi trong xe, chưa vôi nổ máy, hắn nghĩ không chừng đây là một cạm bẫy. Người đi giao pizza luôn theo nguyên tắc căn bản, là khi trao tay thực khách đặt mua, món ăn kia vẫn đang còn nóng sốt. Hắn vứt hộp bánh sang bên ghế cạnh và hiện tại nó đang nguội dần theo rối lòng hắn mang. Hắn muốn sử dụng điện thoại nhưng chẳng biết số cái motel nọ. Hắn bấm một loạt số khác, chuông reo nhưng chẳng ai trả lời. Hắn tuyệt không biết là Beo đang ngồi sau chấn song, mà khi vào đó, dẫu tạm thời, buộc phải để phone nằm trong túi ny-lông trao cho cảnh sát giữ. Sóc mất tích gần qua ngày thứ ba, nếu gặp thám tử chuyên nghiệp, có thể họ sẽ đặt mắt tới các motel nằm nơi khuất và không chừng họ đánh hơi tới chỗ ẩn náu của Sóc.

Hắn cho xe chạy hướng đối ngược, hắn thôi không thích đi giang hồ nữa. Hắn về lại nhà, tắm rửa và xem TV.

4.
Voi là nhà văn, hắn vẫn nhận được nhuận bút từ toà soạn tờ tạp chí hắn cộng tác. Chẳng bao lăm, tượng trưng thôi. Muốn sống hắn phải làm bán thời gian trong một siêu thị, vài người ở đó thích thú khi biết nghề tay trái của hắn, đặc biệt bà Nhện, ban quản trị, coi ngó 20 nhân viên, thường giao việc “dễ thở” cho Voi. Bà nói một câu xưa như quả đất: Đời là vậy. Biết đâu công việc ở đây giúp bạn có thêm vốn sống để lao động trí óc.

Có một đôi lần, do tình cờ ở việc sắp xếp dàn trang, bài thơ của Sóc in trước bài văn của Voi. Dĩ nhiên là hắn có đặt mắt vào, và như vậy cái tên Sóc âm thầm ghi vào bộ nhớ của Voi. Tối ấy, hắn chuẩn bị đi tắm thì có tiếng chuông điện thoại kéo hắn về ngồi lại ở vuông bàn. Bất ngờ, người gọi tự giới thiệu tên Sóc, giọng cô ta thánh thót trong ống nghe. Anh Voi à, em rất thích đọc truyện anh viết, thế giới anh dựng ra trong đó thật thơ mộng, em là con gái, tất nhiên em yêu những hồn nhiên gần là hoang tưởng, mơ hồ, xa cuộc đời xô bồ này…

Voi bỏ ý định đi tắm, hắn thay bộ áo quần sạch nhất mà hắn có, ra xe nổ máy chạy về chốn có Sóc đợi. Sóc mặc chiếc váy rộng, vải in đầy những bông hoa. Cô dựa người bên máy bán nước ngọt, chữ coke sáng đèn làm tóc Sóc vàng óng. Hồi nãy Voi đã quên hỏi, cớ sao cô chọn lấy cái motel này để làm điểm hẹn. Để giờ đây nhìn thấy cô, dáng vẻ ngây thơ của cô đã tẩy trôi, đã ban cho Voi một niềm vui, len lén. Voi nhớ lại một đôi câu thơ của Sóc, không chắc lớn tuổi như Voi có thể viết được tựa thế. Nó chứa ma lực riêng của nó.

– Anh Voi có thể mời em đến một quán ăn không?

– Dĩ nhiên rồi. Sóc có quyền chọn, miễn là nó đừng ra ngoài khả năng anh có. Ý anh là,,,

– Em thích sự thành thật của anh. Lần sau đến phiên em mời lại anh.

Voi mở cửa xe cho Sóc.

– Trông em khác lạ so với tấm ảnh anh thấy đăng ở tờ tạp chí.

– Xuống sắc quá phải không? Chính em cũng ngại soi gương, một đôi khi.

Họ bước vào một quán ăn của Ý, nhỏ và trông bình dân. Voi đi theo Sóc, cô tìm được một chỗ khuất. Xa bức tường có gắn cái TV màn hình mỏng đang trực tiếp một trận đá banh, là nơi hội tụ những cặp mắt của thực khách mãi dán vào.

Khi Sóc và Voi chọn xong món ăn, có tiếng gào lên mừng vui vì đội banh Ý vừa mở tỉ số. Những chai bia va vào nhau, tiếng chân ghế xê dịch dời đổi vị trí và tự nhiên tất cả âm thanh rơi vào yên lặng. Có hai cảnh sát viên đi theo một ông mặc thường phục đang tiến nhanh vào góc quán. Cô chạy bàn nép thân sau quầy, cô vừa gọi cho cảnh sát khi đọc hết trang nhất tờ nhật báo. Voi nhìn lên, qua tấm kính rộng của quán, những ánh đèn xanh đỏ quét từng tia sáng khó chịu.

5.
– Tôi là Trung uý Cọp. Tôi chỉ hỏi cô vài câu rồi cô sẽ được về nhà. Cô tên gì?

– Sao ông có thể bắt giữ một người mà không biết tên của đối tượng?

– Được thôi. Ông thị trưởng là gì của cô?

– Bố tôi.

– Ở motel Mộng Đẹp xảy ra vụ giết người, nạn nhân là Két. Cô biết Két không?

– Biết. Học trên tôi một lớp. Nhưng tôi đã bỏ học hơn tháng nay.

– Chúng tôi có vào trường hỏi thăm, biết là cô và Két luôn bất hoà, hăm doạ nhau. Cô có thể nói rõ về chuyện ấy không?

– Tôi muốn gặp bố tôi, tôi muốn có một luật sư.

– Được thôi. Họ sẽ đến. Trong khi chờ đợi cô có muốn gặp mặt tên sát nhân không? Hắn bảo là yêu Sóc cuồng điên.

– Tôi không muốn gì cả. Mọi người đều không ai hiểu tôi. Bố tôi đâu? Ông ấy thay tôi sẽ trả lời mọi thứ.

– Cô còn vị thành niên, cô có muốn kiện hắn về chuyện xâm hại tình dục?

Sóc gục mặt xuống bàn, hai tay ôm đầu. Vai Sóc rung động, cô khởi sự khóc.

6.
Voi đi gặp bà Nhện, viện cớ ốm xin được nghỉ làm trong một tuần. Voi man khai, thực sự hắn cần có thời gian để viết xong cuốn tiểu thuyết. Hắn biết Sóc được gia đình gửi vào một ngôi trường đặc biệt luôn có giám thị nghiêm ngặt. Một dưỡng trí viện, có thể gọi thế, nơi mà mỗi người ở đó sống riêng trong thế giới họ tự tạo ra. Thế giới sẽ hỗn độn khi mỗi ngày họ được phát ba viên thuốc an thần, uống xong phải le lưỡi ra để xác nhận là đã nuốt trôi. Voi nghĩ, có khi chẳng hiểu nhau mà lại hơn. Hiểu biết nhiều quá sẽ tìm đủ cách để hãm hại nhau. Voi vào internet để xem lịch trình giờ giấc thăm viếng, hắn sẽ vào thăm Sóc, hắn sẽ mang chương đầu cuốn tiểu thuyết đang viết cho Sóc xem. Để em có thứ giải trí, hắn sẽ nói vậy. Và nếu cần em sẽ đưa ý kiến, phê bình các thứ, anh vui lòng đón nhận. Bởi em, em luôn là một người đặc biệt.

Hồ Đình Nghiêm

Tôi cũng là đảng viên | Cổ thi

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted 30/10/2018 
Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Tôi cũng là đảng viên

hôm nay tôi tính khoe thẻ đảng
nhưng có người vừa ra đảng ấy, nên thôi

hôm kia đang đi dép bị đứt quai, hỡi ôi
nhìn quanh đông lố nhố khó chọn mặt gửi vàng

hôm nọ xớ rớ qua một nhà hàng
gầm đầu trước tấm bảng hoành tráng:
“cấm chó và người việt vào”
không dấu chấm than, chữ đẹp lạ thường

hôm trước có việc phải ra phường
thấy cô gái chen chân nộp đơn xin
vào tù vì quá nhục nhã

tôi bước ra đường dằn vặt với cặn bã
dẫm lên bóng mình bức xúc không hả?
nhớ tâm tư nhớ cực đoan nhớ quy trình

tôi là chó tôi là người việt?
tôi có nhục nhã không khi đang sống thở từng giờ
bố khỉ! hãy hồ hởi phấn đấu
ngày mai đã tới kỳ họp đại hội đảng rồi đấy!

Cổ thi

1.
đá trụ góc sân gió lạnh tràn
trách gươm cùn lưỡi trốn biệt tăm
rằm đi nguyệt khuyết đầu không bạc
tân trang thuốc nhuộm màu khó phai
soi mặt vào gương mờ chí lớn
bây giờ phanh áo sợ cảm hàn.

2.
nhà thuê ấp nhỏ đầy lá rụng
sân trước vườn sau của người ta
bóng gà không có lấy gì đuổi
nghe đau xao xác mộng điền viên

cố nhân lúc này như rượu hiếm
bằng hữu khó gặp cổng tường cao
cu ki phân biệt từng phận số
đất băng tình giá chí lí thay!

3.
văn hay chữ tốt ngứa mồm khen
bất bình bá tánh bèn sửa lưng
áo thụng vái nhau chúng quen thế
giữ thể diện, thọc gậy bánh xe?

ở đời trăm sự nào của chung
lỡ dại tôi nay ngậm bồ hòn
nhất bộ nhất bái lùi vào tối
mặt trời đứng ngọ đừng lay tôi.

4.
mi đi xa lập công trạng gì?
bấy chầy quên tranh thủ về thăm?
chị ơi em cu li phận mỏng
truyện chất đầy chị có đọc không?
hết chuyện chơi sao siêng bông đùa?
lập thân tối hạ thị văn chương (1)
chúng trả bao nhiêu tiền nhuận bút?
mùa lụt qua nhà bị lũ hút
sớm gửi về cho chị chút chi
em đi quét lá để nhặt tiền
ôi! chị một em, em một chị (2)
đời bày cảnh ngộ chẳng hiểu nhau!

(1) Viên Mai: “Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch, lập thân tối hạ thị văn chương”.
(2) thơ Nguyễn Bính.

Hồ Đình Nghiêm

Chóe – Nhà Hí Họa Bút Sắt Số Một Việt Nam (4.2)

Uyên Thao

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Phần 4: Người làm vườn độc thoại – cuộc đời của Chóe (Kỳ 4)

Từ trung tuần tháng 1-2003, gần như một khung trời mới luôn mở ra trước mắt Chóe. Chóe khoe với tôi là anh đã có cảm giác thực sự về tuyết, do được nắm cả nắm tuyết trong tay và đang chờ nhìn thấy cảnh tuyết rơi, vì bác sĩ bảo đảm sẽ phục hồi thị lực con mắt trái của Chóe để Chóe có thể vẽ trở lại. Bác sĩ không chỉ nói mà đã cho Chóe thấy rõ bằng thực tế. Chiều 17 tháng 1, Chóe được chích thuốc và được cho biết mũi thuốc sẽ giúp Chóe nhìn rõ một thời khoảng ngắn vào sáng hôm sau.

Sáng 18 tháng 1, Chóe thử bằng cách mở một tờ báo và mừng rỡ tới kinh ngạc khi đọc được chữ. Anh kêu lớn đã nhìn rõ chữ Pacific in trên báo, rồi gọi vợ mang giấy bút và các hộp màu cho anh.

Khoảng hơn mười phút sau đó, Chóe hoàn thành 6 bức vẽ màu, những bức vẽ cuối cùng của anh trên những trang giấy mỏng trong căn phòng nhỏ trông ra mảnh đất trống phía sau trên đường Silent Valley, Falls Church – căn nhà của Kim Việt mà vợ chồng Chóe chuyển về ngụ tạm sau mấy tuần ở nhà Ðặng Ðình Khiết.

Chóe vẽ dứt bức thứ sáu, mắt anh bắt đầu nhức và mờ dần, nhưng niềm tin sẽ được sống với cây cọ vẫn lớn lên. Anh chỉ còn chờ tới ngày 27 tháng 2 sẽ vào bệnh viện vì bác sĩ bảo anh cần một thời gian phục hồi sức khoẻ đủ cho việc giải phẫu.

Gần như Chóe không băn khoăn về bệnh nữa mà chỉ nhắc tới công việc dự tính. Anh cho biết sẽ thực hiện bộ tranh thứ tư sau ba bộ tranh đã hoàn thành là chân dung các tổng thống Mỹ, chân dung các nhân vật đoạt giải Nobel và minh họa thơ Hồ Xuân Hương.

Bộ tranh thứ tư của Chóe sẽ diễn tá tác dụng thực tế của tất cả những lời nói của Hồ Chí Minh luôn được đề cao như châm ngôn định hướng sống cho người dân Việt Nam, chẳng hạn Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư hay Không có gì quí hơn độc lập tự do… Anh cho biết đã nghĩ nhiều từ nhiều năm qua về tác dụng thực tế trong đời sống Việt Nam của những lời nói đó và tả với tôi là anh sẽ minh họa câu vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người bằng hình ảnh một người bị cắm ngược đầu xuống đất, đưa chân lên trời để tay chân biến thành cành lá…

Tôi nhớ lại 10 bức họa được anh mang đi dự cuộc triển lãm Phụ Nữ Nước Tôi tại Nhật Bản tháng 7 năm 1995 và những bức chân dung các bạn tù Chóe vẽ khoảng 1976-1987. Năm 1978, tôi được thấy lần đầu một bức họa đó khi một tù nhân trẻ là Lê Xuân Hải từ Chí Hòa chuyển tới K.3 ở chung đội tù với tôi. Hải đưa ra bức họa chân dung anh với cái đầu to gần hết trang giấy, hai tay hai chân như những lóng xương khô kẹp trong một chiếc cùm. Hải nói người vẽ cho anh là họa sĩ Chóe và cho biết Chóe vẽ cho rất nhiều người nhưng đa số đều xé bỏ không dám giữ.

Riêng Chóe kể lại sau khi ra khỏi trại tù, anh đã vẽ tiếp chân dung nhiều bạn tù thuộc giới văn nghệ và không chỉ vẽ bằng bút sắt trên giấy. Có nhiều bức anh vẽ là tranh màu trên lụa, nhưng anh chỉ còn giữ được một ít hình chụp. Chóe nói đã trao tất cả cho Nhã Ca vào thời gian trước năm 1990 để Nhã Ca mang theo khi xuất ngoại. Trong số hình chụp còn lại, tôi bắt gặp bức Chóe tự họa với chiếc khóa cắm xuyên qua thịt khép kín hai môi và cặp kính là một chiếc xe đạp. Bức họa khiến tôi nhớ lại chuyện Chóe khi ra khỏi tù lang thang đi bộ trên đường phố bắt ngờ gặp một người quen cũ và được tặng tức khắc một chiếc xe đạp. Chiếc xe đạp thuở ấy là ước mơ với hầu hết chúng tôi và chiếc khóa kẹp miệng đã diễn tả trọn vẹn thân phận không phải chỉ của riêng Chóe.

Những bức họa dự triển lãm tại Nhật Bản của Chóe thực sự cho thấy Chóe vẫn sống đúng với anh khi vẽ. Tôi không ngăn nổi cảm giác xót xa trước bức vẽ hình tượng mỹ nhân ngư ngồi bên bàn tiệc với đĩa thức ăn là nửa dưới thân xác mình. Chóe chẳng cần chú thích thì người coi tranh vẫn thấy rõ cái nhìn và cảm xúc của anh bắt nguồn từ cuộc sống nào của nữ giới Việt Nam, đồng thời cũng thấy khi vẽ, Chóe không còn nhớ đến việc che đậy chính mình. Tất cả những bức tranh trên khi được in lại trên báo ở Việt Nam đều kèm theo lời giải thích, chẳng hạn bức vẽ người phụ nữ Việt Nam oằn mình nhận chịu hết thẩy rác rưởi trên trái đất được giải thích là diễn tả sự trút đổ rác rưởi cho Việt Nam hoặc bức vẽ 3 người phụ nữ với những mảnh vải màu không che kín nổi thân xác được phụ đề là kiểu che đậy của nữ giới…

Tôi luôn nghe vẳng lại câu nói quen thuộc của Chóe:

– Tôi vẽ để chọc cười thôi, ai hiểu sao cũng được.

Dù Chóe nói gì thì vẫn chắc chắn anh khó tránh khỏi cay đắng khi diễn tả người phụ nữ đất nước mình bằng những hình ảnh đó và nụ cười của Chóe luôn đượm đầy nước mắt. Chóe được ban tặng một tài năng đồng thời cũng được trao gửi một tâm hồn gắn kết với mọi cảnh ngộ của kiếp người. Cho nên, vừa biết sẽ được phục hồi thị lực, Chóe đã tức khắc nghĩ đến hàng loạt cảnh sống tàn khốc vốn chỉ là hậu quả thực tế do sự thúc đẩy chạy theo những lời dẹp đẽ nhất nhưng lại chỉ là những lời bịp bợm trơ tráo nhất.

Cuối tháng 2-2003, trước khi tôi đi California, Chóe nhắc lại việc năm 1995, tuần báo Pháp L’Hebdo trong chủ đề Việt Nam 20 năm sau với bài viết Vietnam 20 ans après en six portraits đã liệt kê Chóe giữa 6 khuôn mặt tiêu biểu cho Việt Nam do đặc trưng bướng bỉnh. Anh nói như để tự nhắc nhở dứt khoát không kéo dài thêm thời gian che giấu mình nữa. Anh sẽ giống chính anh chứ không chịu phủ lấp dưới bất kỳ màu sắc nào. Anh nói chậm và nhấn mạnh từng lời với tôi:

– Anh thấy đó! Thằng em của anh có xứng đáng được coi như thế không, nếu cứ tiếp tục giả ngây giả dại không chịu đương đầu với những thứ rắn rết? Tôi đã nhẫn nhịn nhục nhã quá nhiều…

Từ nhiều năm qua, tôi luôn khó chịu trước những đòi hỏi tuân phục đặt ra cho con người. Ý nghĩ gần như thường xuyên hiện lên trong đầu tôi là nỗi ngờ vực về tính chính xác của tôi mô tả sự hiện hữu thường trực tình trạng đương đầu giữa hai đối lực Tà và Chính trong cuộc sống. Ðã nhiều lần tôi cảm nhận qua thực tế trước mắt là con người luôn bị xô vào cuộc tương tranh giữa cái Tà và cái Ngụy Chính để sự sống chỉ còn là hiện thân của đọa đày vô nghĩa. Không biết bao nhiêu màu sắc huy hoàng lộng lẫy đã xuất hiện chỉ để xóa nhòa hẳn hình dáng thực sự của con người bằng mọi cách – vuốt ve, tô điểm, áp chế, bạo hành, tàn sát…

Ước muốn đơn giản của Chóe, vì thế, không hẳn chỉ là ước muốn riêng của một cá nhân. Chẳng con chim nào muốn sống mãi trong lồng cũng như chẳng con thú nào hài lòng với chiếc cũi, kể cả khi được chăm vỗ, nuông chiều – nhất là không thể hài lòng với những trò nhảy nhót, múa may dưới áp lực roi vọt, cố biến thành một hình dạng khác hẳn với chính mình. Thực tế hiển nhiên là trước hết và mãi mãi con người chỉ có mặt để là con người, để sống đùng cuộc sống của con người chứ không phải để biến thành hình nộm cho màu sắc, dù là màu sắc của nhung lụa, gấm vóc.

Dù với biện giải nào thì con người cũng không thể vừa lòng với tâm trạng như Chóe tả bằng những vần thơ:

Suốt đời ta sợ
Sợ nắng, sợ mưa, sợ sương, sợ khói
Sợ tập vẽ cánh chim bay bằng tay trái
Làm người xem ngỡ vẽ cá ngửa bụng bơi
Ta sợ bóng đêm
Sợ mặt trời quá sáng
Sợ ma quỷ hiện hình
Hơn cả quỷ ma – sợ chân dung trừu tượng
Ta sợ vẩn, sợ vơ
Sợ nói ra nỗi sợ.

Tâm trạng ấy sẽ khiến không một ai ngạc nhiên khi Chóe có những lời tâm sự:

Em vứt đi ngọn lửa
Ta từ bỏ kiếp rơm
Ðể đời sau không còn là tro bụi.

Và, càng không ngạc nhiên truớc những dòng chữ ghi lại lời than mà cũng là tiếng gào:

Ôi! Còn gì là hạnh phúc cho bằng khi con người không bị theo dõi, không bị rình rập. Ôi! Có tự do nào bằng khi khắp cõi đời này không có những con mắt tò mò rình rập. Cõi đời mà không có những con mắt tò mò rình rập thì không ai còn bị mất cắp, mất trộm.
Thậm chí cũng chẳng ai ăn cướp của ai.
Ta tự do! Ta tự do!

Có lẽ Chóe đã thực sự tự do, vì không còn hơi thở.

Nhưng tôi không thể quên câu chuyện của Chóe trong buổi chiều đầu năm 2003 tại nhà Ðặng Ðình Khiết, nhất là khi đọc lại những bài viết của anh. Tôi như luôn bị vây bọc giữa những thân hình tiều tụy co rúm, những ánh mắt u buồn, những giọng nói uất nghẹn và luôn nghe vẳng không ngừng những lời độc thoại. Lời độc thoại của kẻ nằm chờ chết trên giường bệnh, của người tử tội chờ giây phút hành hình, của lão già bán cao đơn hoàn tán xót thương con khỉ, của người tù cô độc bên dòng suối giữa rừng sâu, của người làm vườn phải biến mình thành đui, điếc, câm, nhưng lại không đè nén nổi nỗi phẫn nộ trước thực tế cuộc đời…

Khi giới thiệu Chóe, Barry Hilton cho rằng tranh vẽ của Chóe đầy màu sắc điên loạn quái đản và một nhà báo khác, Martin Evans, cho rằng cây cọ của Chóe sắc bén hơn ngọn bút của bất kỳ nhà bình luận lỗi lạc nào. Trong truyện của Chóe luôn hiển hiện cả hai đặc trưng đó. Những lời độc thoại kỳ quái nhuốm phần điên loạn của các nhân vật luôn như vẽ ra những hình tượng thực tế của cả một thực trạng xã hội trong đó, con người không thể mong điều gì khác hơn là được trở lại làm người.

Tôi nghĩ tới nhiều lớp người đã và đang có mặt trên dải đất Việt Nam. Những người này hoặc không có tài như Chóe, hoặc không gặp gỡ cơ may như Chóe nhưng Chóe đã có chung quê hương với hết thẩy và chắc chắn hết thẩy đều mang chung một ước mơ như Chóe – ước mơ được giống chính mình, rõ hơn là ước mơ được sống đúng cuộc sống của con người.

Chóe đã được chọn lựa, được gắn kết vào cuộc sống của những người này để ghi lại các cảnh huống trớ trêu ác nghiệt của cuộc đời và nói lên tiếng nói chân thành tha thiết nhất xuất phát từ những trái tim đích thực của con người.

Nhưng Chóe thấy rõ mình chưa nói được bao nhiêu, chưa góp phần đủ tạo nổi âm vang cần có. Những câu độc thoại ấm ức của người làm vườn phẫn nộ trước các ma lực vò xé cuộc sống con người có lẽ vẫn còn tiếp tục lập lại ở thế giới bên kia.

Chóe đã thoát khỏi mọi mối đe dọa kìm bó, nhưng khó thoát khỏi vòng xoáy dằn vặt của nỗi đau về con người đang bị biến thành hạc, thành nai…

Ðiều an ủi là Chóe không cô đơn nhưng đây lại là nỗi buồn khó nguôi của một xứ sở vẫn kéo dài cảnh sống trong oan nghiệt dập vùi.

Virginia 09-2004
Uyên Thao

E. Vài bức họa chống tham nhũng 1974 trên nhật báo Sóng Thần.

Dâu bể trùng phùng

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by7 Sơn râu 1 Mar 2024

Hình minh họa

Tập 2

Phần 11
Uống thuốc liều

Nguồn tin hai tuần nữa được thăm nuôi loan truyền nhanh như chớp, tù binh bị nhốt trong Tổng trại 8 đang sống ngoắc ngoải tuyệt vọng, đột nhiên bừng tỉnh lại. Chuyện được thăm nuôi xảy ra, giống hệt như vùng đất Sông Mao khô cằn nắng cháy, bỗng đâu có được một cơn mưa rào đổ xuống. Sáu tháng dài đằng đẵng ăn uống thiếu thốn, từ tuần trước tù nhân đã phải bắt đầu ăn độn, mỗi bữa ăn tiêu chuẩn chỉ còn lưng chén cơm, áo quần của họ cũng bắt đầu tả tơi sờn rách. Thời Việt Nam Cộng Hòa, Sông Mao là hậu cứ của Trung đoàn 44 Bộ Binh, cho nên có rất nhiều công sự phòng thủ được làm bằng bao cát. Tù nhân lợi dụng lúc đi làm lao động gần những khu vực này, họ lén đào xới, đổ đất từ bao cát ra, giấu cái bao vào người đem về trại. Sau khi giặt giũ sạch sẽ, phơi khô, tù nhân dùng vải bao cát may thành quần áo để bận, thay thế cho những bộ đồ đã bị rách. Trường hợp gặp bao cát được dệt bằng sợi ny-lông dẹp, tù nhân cũng lượm về, họ chập nhiều sợi vào với nhau, thường thì khoảng sáu sợi, xe lại thành một sợi to tròn đan võng để nằm. Nhiều tù nhân khéo tay, họ đan những chiếc võng tuyệt đẹp, với ý định là khi mãn hạn tù sẽ đem về làm quà cho vợ con.

Ngay tối hôm đó trong một buổi họp tổ, khi chúng tôi đang è cổ hát bản “Tiếng đàn Ta Lư” thì quản giáo Cảnh xuất hiện. Đợi cho chúng tôi hát xong, với gương mặt vui tươi cởi mở, ông ta xác nhận, hai tuần nữa sẽ cho thăm nuôi. Và một tin tức quan trọng hơn mà mọi người chờ đợi từ bấy lâu nay là, sau kỳ thăm nuôi “Trên” sẽ tổ chức cho cả Tổng trại 8 tiến vào học tập. Chữ “Trên” ở đây có nghĩa là cấp cao hơn, còn cao cỡ nào thì chỉ có Việt Cộng biết mà thôi. Đây là một cái tin mang đến niềm vui, mang đến sung sướng, cái tin làm rúng động lòng người.

Sau khi họp tổ xong, tuy đã hơn tám giờ tối, tôi chạy qua khối Bình Thuận tìm Long công tử để báo tin mừng. Với nét mặt điềm tĩnh, Long công tử nói.

-Khối Bình Thuận cũng đã được quản giáo báo tin rồi.

Như mọi lần, hai đứa tôi kéo nhau ra sau hè của nhà bếp, ngồi đó chuyện trò, tâm sự vụn.

Long công tử với giọng buồn buồn.

-Trước khi bị lùa vô đây, mày còn có được diễm phúc là gặp lại cha mẹ, mấy đứa em cùng với vợ, tao không có cái may mắn đó. Một ông chủ công ty nhập cảng nông ngư cơ, xuất cảng cà phê cộng thêm mấy cái biệt thự to lớn ở Sài Gòn, ba má của tao nếu không cao bay xa chạy như ba vợ của mày, chắc chắn ông bà đã bị tống cổ ra khỏi nhà, giống trường hợp của vợ mày mà thôi.

Long công tử buông tiếng thở dài.

-Cho đến hôm nay, ba má tao ở đâu, vợ con tao còn ở Ban Mê Thuột hay đã chết tức tưởi trong một xó rừng nào đó, tao không biết được.

Hình minh họa

Tôi hỏi Long công tử.

-Ba mươi tháng tư, mày đang ở đâu?

Long công tử nhắm mắt, nhíu mày.

-Ngày mười ba tháng ba, Liên đoàn Biệt Động Quân của tao đang ở Long Thành, được lệnh về phi trường Tân Sơn Nhất, sau đó là vận tải cơ C130 bốc tụi tao thả xuống phi trường Cù Hanh, Pleiku. Khi đáp xuống phi trường, một chiếc C130 trong đoàn phải hạ cánh khẩn cấp, không biết có phải vì trúng đạn phòng không của Việt Cộng hay không, may mắn là phi cơ đáp an toàn rồi sau đó mới bốc cháy.

Tôi nêu lên thắc mắc với Long công tử.

-Lúc đó mày có biết là Ban Mê Thuột đã mất vào ngày mười tháng ba rồi hay không?

-Biết cái con mẹ gì đâu, khi tụi tao xuống phi trường Cù Hanh nghe tin là Ban Mê Thuột xong rồi. Lúc bấy giờ tao cứ tưởng là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã giải tỏa Ban Mê Thuột xong xuôi, không cần tụi tao nữa. Ngay chiều hôm đó, có lệnh mới cho Đại đội 2 của tao tới trám chỗ cho một Tiểu đoàn Địa Phương Quân vừa mới rút đi. Hơn sáu năm lính, ba năm làm Đại đội trưởng Đại đội 2, của một Tiểu đoàn Biệt Động Quân, đánh nhau với Việt Cộng hằng trăm trận, chưa bao giờ tao tham dự một cuộc hành quân lạ lùng như vậy. Hành quân mà không có lệnh hành quân, chỉ với một tấm bản đồ to bằng cuốn vở, không yểm trợ, không lương thực, không có cái con mẹ gì hết. Đem một đại đội tấn vào một vùng đất hoang vu, không biết bạn ở đâu, địch ở đâu, đại đội của tao lơ ngơ lớ ngớ giữa rừng cả tuần. Mãi cho đến ngày hai mươi tháng ba, tao mới được lệnh của Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng gọi về Pleiku họp và lãnh tiếp tế.

Tôi tỏ vẻ không tin.

-Mày kể chuyện giống như đùa.

-Không có đùa đâu, sau khi dặn Thiếu úy Đại đội phó ở lại coi đại đội, tao dẫn theo một trung đội về Pleiku. Suốt mấy tiếng đồng hồ lội bộ trong rừng, khi tao tới cái buôn Thượng mà tuần trước đại đội đi qua, dân trong buôn còn đưa tay vẫy chào. Ngày hôm ấy buôn Thượng vắng hoe không một bóng người, ngay đến mấy con heo đen thui, lưng cong bụng ỏng chúi mũi xuống vũng sình tìm thức ăn cũng biến đi đâu mất. Cả buôn làng chìm trong im lặng đến kỳ lạ, chỉ còn nghe được tiếng rì rào trong gió của mấy bụi tre gai ở bên đường. Tụi tao tiếp tục di chuyển, cho đến khi mặt trời đứng bóng mới về tới Pleiku. Qua tin tức do Chuẩn úy Trung đội trưởng thu lượm được, báo cáo với tao, lúc bấy giờ tao mới biết Ban Mê Thuột đã bị Việt Cộng chiếm từ ngày mười tháng ba. Riêng thành phố Pleiku, lính và dân ở đây đã di tản mất tiêu từ ba, bốn ngày trước đó rồi. Cả một Quân đoàn với hàng trăm ngàn quân nhân, được trang bị phi cơ chiến đấu, chiến xa, trọng pháo, tất cả đều biến mất, biến khỏi Pleiku một cách khó hiểu. Tao ngẩn ngơ đứng nhìn phố núi cao nguyên mà lặng điếng trong lòng, xa thật xa tận cuối con đường mòn, chỉ một người duy nhất đang di chuyển chầm chậm, trông giống như một cái bóng ma. Tao đi trong thành phố không xe, không người, không tiếng động, chỉ thấy lá vàng khô trong bụi mù cùng với giấy rác, theo từng cơn gió nhẹ đuổi nhau chạy trên mặt đường, băng ngang qua những căn nhà cửa đóng then cài. Pleiku lúc bấy giờ là hoang địa, là một thành phố vô chủ, thành phố ma, tao đứng trước kho tiếp liệu của một đơn vị nào đó trong Quân đoàn, cửa kho mở toang hoác, vũ khí, đạn dược, quân dụng, thực phẩm, văng tung tóe khắp mọi nơi. Chiều hôm đó trong lúc mây đen vần vũ khắp trời, tao ôm cái cổng Quân đoàn khóc như một thằng điên.

Hình minh họa

Tôi hỏi mà như xúi Long công tử.

-Dân Sài Gòn như mày, đâu có gì phải quyến luyến cái thành phố “Đi dăm phút đã về chốn cũ” đó, tại sao mày không chạy đi cho rồi.

Long công tử đột nhiên nổi giận với tôi.

-Mày biểu tao chạy hả? Chạy sao được. Ban Mê Thuột mất, đem C130 chở một Liên đoàn Biệt Động Quân thả xuống Pleiku, rồi bỏ quên luôn ở đó, một mình tao chạy, trong khi lính của tao còn ở trong rừng đợi tao. Tao không thể làm như vậy được, mày cũng biết rồi, lính không có cấp chỉ huy như rắn mất đầu. Sáng hôm sau, tao dẫn đại đội xé rừng đổ xuống biển, sau hơn hai tuần băng rừng vượt núi, tụi tao tới Tuy Hòa, thành phố đã lọt vào tay Cộng Sản từ mấy ngày trước, sau đó là Nha Trang, Phan Rang. Ngày hai mươi lăm tháng tư, sau hơn một tháng vượt thoát chạy về vùng tự do, tụi tao tới được Phan Thiết, lúc này lính Cộng Sản đã đứng chật đường. Tao bị bắt, nhốt ở lao xá Phan Thiết. Nếu tao nhớ không lầm, ngày mười tháng năm, Việt Cộng chở tao cùng với hàng trăm tù binh đủ loại, đem lên giam giữ ở Cà Tót.

Long công tử quay sang nhắc tôi.

-Mày buồn ngủ chưa? Khuya rồi về đi, mai còn đi lao động.

Bầu trời Sông Mao sâu thăm thẳm, con trăng lưỡi liềm treo lơ lững giữa trời, tôi nhìn theo ánh sao đêm lấp la lấp lánh như muốn tắt ở cuối dải Ngân Hà mà thương xót cho Long công tử. Thương một thằng tù cô đơn, lạc lõng giữa đám bạn tù, cha mẹ vợ con lưu lạc phương nào, không biết sống chết ra sao, trong lòng đầy thương cảm, tôi nói với Long công tử.

-Mày cũng vậy, giữ gìn sức khỏe để mai còn đi lao động.

Cuối cùng chuyện gì đến phải đến, hôm nay là ngày thăm nuôi, tất cả tù nhân được miễn đi lao động, ở trong phòng đợi loa gọi tên. Khi nghe gọi tên mình, lúc bấy giờ người tù mới được đi ra khu thăm nuôi, nằm cách trại chừng năm trăm thước để gặp thân nhân.

Hôm nay những cái quần cụt may bằng vải bao cát, biến đi đâu mất, hầu như tất cả tù nhân đều bận bộ quần áo còn lành lặn khi gặp người thân, vì họ không muốn thân nhân của mình thấy được sự khổ cực mà họ đang gánh chịu. Bộ đồ tuy che đậy được phần nào cái thân thể ốm yếu của tù nhân, nhưng không thể nào che được nét lo âu sầu não, trên gương mặt của họ. Thôi thì giấu được chút nào hay chút ấy, có còn hơn không.

Tám giờ sáng, tôi đã diện bộ đồ tương đối còn tốt ngồi chờ. Mãi cho đến gần mười một giờ, mới nghe loa gọi tên mình, nhanh như một con sóc, tôi phóng ra cửa phòng đi đến khu thăm nuôi. Vừa đi vừa chạy mà vẫn thấy chậm, trong lòng nôn nao náo nức, không biết chỉ có một mình vợ tôi đi thăm tôi, hay còn có ba má tôi đi theo nữa.

Nhà thăm nuôi khá rộng với một dãy bàn dài, tù nhân đứng một bên, thân nhân của tù đứng một bên, cách vài mét lại có một cán bộ xen vào giữa kiểm soát. Tôi không thấy ba má tôi, chỉ có một mình Cúc đứng bên cạnh một người đàn bà lạ hoắc, tuổi độ bốn mươi. Trên bàn là hai bao ny lông to, tôi biết đó là thực phẩm mà Cúc mang vào cho tôi. Điều khiến tôi ngạc nhiên, mừng muốn khóc là Cúc mập ra với hai tay đỡ lấy cái bụng bầu. Ngày tôi đi học tập, Cúc không nói gì về chuyện nàng có thai, tôi xa vợ đã hơn sáu tháng, chắc đứa bé vào khoảng bảy tháng. Tôi thầm cảm ơn trời, hú hồn nếu để hai tháng nữa mới cho thăm nuôi, cận ngày sanh nở Cúc không thể nào đi thăm tôi được.

Trước ngày thăm nuôi, tôi có cả ngàn câu hỏi trong đầu muốn hỏi Cúc, dĩ nhiên chỉ là những câu hỏi về gia đình, không liên quan gì đến chính trị, trước mặt cán bộ tôi không dại gì nói đến chuyện chính trị. Khi gặp mặt Cúc với cái bụng bầu, tôi quên hết mọi chuyện, chỉ lo hỏi về đứa con mà vợ tôi đang mang trong bụng.

Hình minh họa

Cúc giới thiệu với tôi.

-Đây là chị Hai, anh còn nhớ không ngày xưa khi anh và em về Sài Gòn, chị Hai là người thường làm bữa ăn sáng cho mình.

Tôi lắc đầu.

-Hồi đó anh không để ý, nên không nhớ.

Cúc giải thích với tôi.

-Nhờ có chị Hai lo cho em, ba má mới cho em đi thăm anh, cũng nhờ chị em mới đem được chừng này thực phẩm cho anh. Tất cả thức ăn trong bao đã qua thủ tục kiểm soát của trại rồi.

Nói tới đây, Cúc nói nhỏ chỉ đủ cho tôi nghe.

-Chị Hai hiện là người giúp việc cho nhà mình. Tiền em giấu dưới đáy lon gô đựng ruốc kho sả.

Tôi gật đầu.

-Anh đã nghe rõ rồi.

Dứt lời tôi nói to, cốt ý cho ông cán bộ nghe.

-Ba, má, thằng Tý, con Quyên, có khỏe không? Em an tâm ở trong này anh phấn đấu học tập tốt, lao động tốt, theo đúng chủ trương đường lối của đảng và nhà nước, khi nào tiến bộ anh sẽ được trở về sum họp với gia đình.

Mới hơn sáu tháng ở tù, tôi học được một câu nói nghe sặc mùi chữ nghĩa của Việt Cộng.

Ba mươi phút thăm nuôi trôi qua thật lẹ, ông cán bộ Việt Cộng thông báo đã hết giờ thăm, lợi dụng lúc chộn rộn, khi mà mọi người đang còn ồn ào xôn xao, Cúc giúi vào tay của tôi một cuộn tiền. Hành động của Cúc, không qua được đôi mắt lanh lẹ của ông cán bộ, nhưng hình như ông ta thấy cái bụng bầu của Cúc nên cố tình quay mặt làm ngơ. Tôi vội vã nhét tiền vào túi mà sợ điếng hồn.

Kéo lê hai bao thực phẩm ra khỏi nhà thăm nuôi, tôi đứng lặng yên nhìn Cúc đi về phía cổng trại, đầu của Cúc cúi gầm, tay đỡ lấy bụng, với những bước đi nặng nề chậm chạp vì cái bầu quá lớn. Hình ảnh người vợ thương yêu của mình phải chịu nhiều đau đớn mất mát, khiến tay chân của tôi cứ như rũ rượi, rã rời. Tôi ngồi bệt xuống đất, tựa lưng vào hai cái bao thực phẩm mà thấy cay cay nơi mắt. Tôi đang ở trong tù, ngoài kia vợ tôi cũng đang ở tù, có khác chăng chỉ là cái hàng rào vỉ sắt PSP. Hai bao thực phẩm quá nhiều, nặng có đến bảy, tám chục kí lô như không, tôi phải nhờ một anh trung úy vác giùm tôi một bao về trại. Nhìn cái bao thực phẩm của anh ta, tôi ngượng ngùng không nói nên lời, thực phẩm thăm nuôi của anh, đựng trong một cái bao ny lông nhỏ xíu ước chừng năm, bảy kí. Mấy ngày đường, đi xe đò từ Bảo Lộc Đà Lạt, đến Sông Mao, mà chỉ đem cho chồng vài kí lô thực phẩm, chuyện đó nhắc cho tôi nhớ bên ngoài vợ con của sĩ quan Ngụy hẳn là phải chịu nhiều bạc đãi, khổ sở, chẳng khác gì trong tù. Nghĩ như vậy, tôi lấy tặng anh bạn mới quen gói đường khoảng một kí. Anh ta nhìn tôi với đôi mắt đầy u uẩn, giống như chất chứa cả một đại dương buồn bã.

-Cảm ơn anh bạn, nếu bạn cho tôi một điếu thuốc, hút để lãng quên đời chắc tôi sẽ vui hơn, thích hơn.

Tôi vui vẻ lục trong bao, đưa anh ta gói thuốc còn nguyên.

-Cám ơn anh, đã giúp tôi mang bao thực phẩm về trại.

Việc đầu tiên tôi phải làm là múc hết thịt ruốc kho sả, cho vào cái hũ thủy tinh mà tôi có, nơi đáy lon gô được gói kỹ lưỡng trong mấy lớp ny-lông, là một xấp tiền mới và mười tấm giấy một trăm đô, kèm theo một lá thư ngắn gọn.

Hình minh họa

Anh giữ số tiền này để phòng thân, cả gia đình đều mạnh khỏe. Trước đây em quên nói với anh, cho nên anh để lại tám ngàn tiền Việt Nam Cộng Hòa dưới gối. Số tiền này chỉ là hột cát sông Hằng so với số tiền em đang có. Đừng lo lắng gì cho em, bằng mọi giá anh phải sống trở về với em và con. Thương anh, vợ của anh. Cúc.

Đọc xong thư, anh nhớ đốt bỏ ngay lập tức.

Tôi bật que diêm hút thuốc tiện thể đốt luôn bức thư, đợi cho đến khi bức thư chỉ còn lại chút tro tàn, tôi lấy khoảng một phần ba số thực phẩm mà tôi có, đem qua cho Long công tử. Phần còn lại của tôi và Trung úy Lợi.

Tôi và Long công tử ra ngồi sau hè nhà bếp, vừa ăn xôi gà vừa thưởng thức lon gô cà phê sữa nóng hổi. Chuyện hai đứa tôi mở tiệc linh đình như vậy, không có gì là lạ vì hầu như tất cả tù nhân trong trại, cũng đều đang tụ họp theo từng nhóm nhỏ ăn uống tưng bừng.

Tôi đưa cho Long công tử năm trăm đô la, thêm một trăm đồng tiền mới của Việt Cộng, đó là một món tiền khá lớn vào thời bấy giờ. Sở dĩ tôi biết giá trị của đồng tiền mới, vì Trung úy Lợi đã dùng một đồng mua được ba tán đường.

Long công tử nhìn tôi.

-Mày nhớ không, hồi còn ở Thủ Đức mày cho tao với Biên mượn năm trăm, tao vẫn chưa trả lại cho mày. Hôm nay mày cho tao năm trăm đô la nữa, như vậy là đúng một ngàn.

Biết Long công tử chỉ đùa cho vui, nên tôi nói với hắn.

-Dưới con mắt của một cậu công tử như mày, tiền nào cũng là tiền cho nên mày mới đem gà cọng với vịt như vậy.

Long công tử hỏi.

-Mày có biết giá trị của năm trăm đô la không?

Tôi thú thật với Long công tử.

-Đô la ngoài thị trường chợ đen của thời Cộng Sản tao không biết, nhưng mà nhiều hay ít không phải là chuyện đáng nói, không thể nào đem đô la cộng với tình bạn được.

Long công tử nhắc tôi.

-Bản tính của mày vốn nhút nhát, nhưng mày là thằng chí tình, chuyện đó sẽ hại mày về sau.

Tôi nói với Long công tử.

-Có chuyện này tao muốn nói với mày, cứ mỗi lần thiếu tiền, muốn ăn cướp của dân, tụi Việt Cộng lại đổi tiền. Từ ngày mà ông Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình cho đến nay, đúng ba mươi năm, mấy tháng trước là lần thứ tư Việt Cộng đổi tiền, tính trung bình cứ khoảng hơn bảy năm là dân Việt Nam lại bị Việt Cộng ăn cướp tài sản của mình một lần. Riêng cái thằng đế quốc Mỹ bị Việt Cộng gán cho cái tội danh xâm lược, bóc lột, thì từ ngày lập quốc tới giờ, trải qua gần hai trăm năm, hình như tụi nó chưa đổi tiền lần nào.

Long công tử giục tôi.

-Mày lo ăn thịt gà đi, nói chuyện đổi tiền làm gì cho mệt.

Hình minh họa

Tôi cười với Long công tử.

-Vợ tao chưa đi học tập nên biết được, giữ tiền Việt Cộng giống như cầm tờ giấy lộn, chắc cũng tại như vậy mà vợ tao mới gởi đô la cho tao.

Long công tử cầm cái đùi gà rô ti vàng ươm mỡ.

-Mày cứ giữ tiền đi, đưa cho tao làm gì.

Tôi thuyết phục Long công tử.

-Với bọn Việt Cộng gian xảo lọc lừa, họ nói mười ngày thành mười tháng hay có thể lâu hơn nữa, tụi mình có đề phòng vẫn hơn. Tao ở khối 5 Đà Lạt, mày ở khối 4 Bình Thuận, cách nhau không xa, tuy là bấy lâu nay tao với mày có thể gặp nhau đều đều nếu muốn. Nhưng mà…Mày còn nhớ hay không, ngày xưa khi còn ở quân trường, mày đã từng giải thích cho tao nghe về ý nghĩa của bốn chữ Cư An Tư Nguy trong phù hiệu của Trường Bộ Binh Thủ Đức “Sống yên ổn phải nghĩ đến lúc nguy khốn”. Biết đâu tối nay, tụi Việt Cộng bất ngờ giới nghiêm, tù của khối nào ở yên trong khối đó, áp tải mày ra giam giữ ở miền Bắc, đem tao nhốt ở Phú Quốc thì sao.

Long công tử gật gù cái đầu chỉ còn vài cọng tóc.

-Mày nói nghe cũng có lý.

Nói xong Long công tử cất tiền vào túi.

-Có tiền, có đầy đủ thực phẩm rồi, tao cần phải ăn uống tẩm bổ cho mau mạnh khỏe lại như xưa.

Tôi mừng rỡ tiếp lời hắn.

-Lâu lắm tao mới nghe mày nói một câu hay như vậy, cố gắng ăn cho nhiều vào.

Với nụ cười đầy tự tin, Long công tử ghé sát vào tai của tôi nói nhỏ, giọng nói ngang tàng của một sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt, không bao giờ chịu khuất phục trước họng súng AK.

-Khi mà sức khỏe của tao đã hoàn toàn hồi phục, hai thằng mình vượt ngục, kéo nhau vô rừng tiếp tục chiến đấu.

Tôi nhìn cái hàng rào vỉ sắt PSP xám xì xám xịt, cao đúng ba mét, với nòng súng đại liên 50 đen thui trên tháp canh, rồi nghĩ đến vợ tôi đang mang thai sắp sanh mà mồ hôi trộm tuôn ra khắp người. Tôi nhắm mắt than thầm, làm bạn với một ông sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt coi trời bằng vung, lại là bạn thân cùng sống cùng chết với hắn, quả thật không dễ chút nào. Đưa tay nâng cái lon gô, tôi ngửa cổ uống một ngụm cà phê sữa nóng mà tưởng là mình đang uống thuốc liều.

HUY VĂN TRƯƠNG

Vợ tui!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Gần đây em ngờ rằng thằng chồng của em, ‘giả’ bị mắc bệnh tâm thần, bị bệnh trầm cảm, có lẽ ‘giả’ bị bịnh Alzheimer (hay quên) luôn!
Vợ con sờ sờ ra đó mà không nhớ, chỉ nhớ con bồ xí xọn bán đậu đỏ bánh lọt trước cửa trường Trung học, từng cho thằng chả ăn chịu khi ‘giả’ mới lên 16 tuổi.
Hỏi có tức hông?

Đêm đêm, em thường ra bàn thiên trước nhà đốt nhang để cầu Trời, khẩn Phật cho em thêm sức mạnh như người Nhện (Spider woman!) để có thể tiếp tục chịu đựng người chồng “quái đản” này cho tới khi em tìm được lối đào sanh.
Chắc là kiếp trước em mắc nợ thằng chả nhiều quá, nên kiếp này phải trả cả vốn lẫn lời. Trốn nợ kiếp này, kiếp sau phải trả tiếp, không thể giựt nợ đời như giựt hụi được đâu!
Em đã viết di chúc (sợ tiền em bỏ lại, ‘giả’ sẽ đem nuôi đứa khác), và căn dặn con em rằng:
“Nếu Me đi bán muối, hãy thiêu, (Me không sợ nóng), tro lén đem ra dòng sông Maribyrnong rải xuống! Đừng để tụi Bảo vệ Môi trường nó bắt gặp, nó phạt tiền, tội làm ô nhiễm nước sông!”
“Để hương hồn Me hạc nội mây ngàn! Nhứt định không được chôn vào cái huyệt mà Bố tụi bây đã ‘ó đơ’ (order) sẵn hai cái song song, nằm chình ình trong nghĩa địa!”
“Em rất sợ nằm gần “ông chủ nợ” của đời em lắm rồi!”

***

Đưa cho tui đọc cái bài ‘tố khổ’ bố thằng cu của em yêu tức vợ của thằng chả xong, anh bạn văn kiêm bạn nhậu bèn hỏi tui rằng:
“Nếu anh là tui, anh sẽ cư xử ra sao?”
“Cư xử với con vợ nhà tức em yêu ra sao hả? Gượm đã anh hãy vảnh cái lỗ tai trâu lên mà nghe tui kể như vậy nè:”
Hôm mùng 7, tháng Tư, năm 2016, Hải quân Mỹ vừa cho bà con cô bác mình coi một tấm hình cho thấy hai ông thần nào đó, mặc áo cứu sinh màu vàng cam, quơ tay vẫy rối rít, khi chiếc phi cơ tuần tra biển P-8 A bay ngang qua một hòn đảo hoang vắng không người, tên Fanatik ở Thái Bình Dương. Một chiếc tàu được phái tới giải cứu được hai ông thần, đưa về chốn an toàn sau ba ngày mất tích.
Sỡ dĩ chiếc máy bay nầy bay là là xuống thấp vì thấy trên bãi cát có chữ ‘Help’ to tổ bố ghép bằng những cành lá cọ.
Hỏi nguyên nhân tại làm sao ra đến nông nỗi nầy, thì hai ông thần nầy nói:
“Giận vợ nên rủ nhau xuống thuyền dông ra biển, tính một đi không trở lại, nhứt quyết ra hoang đảo để làm Robinson Crusoe!’’
Hai ngày đầu thì cũng vui, cũng thoải mái hết sức vì không còn nghe tiếng ‘chét chét’ của con vợ nhà; nhưng tới ngày thứ ba thì buồn miệng vì thèm ‘beer’ quá xá.
Hai đứa ngồi gác chưn lên trán ngẫm nghĩ, thấy mình làm vậy thiệt là nông nổi, bồng bột nhứt thời như con nít, đâm ra cực kỳ hối hận nên mới kêu cứu đó chớ.
May phước là máy bay Hải quân Mỹ tuần tra, nó thấy; bằng không con vợ tui sẽ mồ côi ‘chồng’!

Một trong hai ông thần bị hâm hâm, tự ên trốn vơ ra hoang đảo để hạc nội mây ngàn, lại là anh bạn văn của người viết mới chết chứ! Chơi với thằng hâm ắt có lúc mình sẽ bị khùng!
Gặp lại ảnh, tui bèn phỏng vấn chớp nhoáng rằng:
“Sao người bỏ em cho đành lòng?”
Ảnh bèn móc túi ra cho tui coi bức tuyệt tình ca của con vợ ảnh viết để đấu tố bố thằng cu như vầy:
“Em đã có một thời gian dài đăng đẳng theo một ông, đi cạnh đời em mà em phải gọi là chồng. Lúc vui em gọi là ông xã; lúc buồn bã thì gọi là thằng chả hay ‘giả’ để em vui!
Em đã chọn, lỗi tại em mọi đàng, không đổ thừa ai hết vì có đổ thừa cũng không có được.
Ngày ấy, cây si anh trồng ngay lối đi…. Thằng chả chơi mánh, dùng cái sách của ‘Pavlov’ đó mà! Tình yêu là thói quen thôi. Bữa nào vắng thằng chả cũng hơi nhơ nhớ chớ!”

***

Kết luận tình yêu là một ‘thói quen’; rồi đưa tới tình nghĩa vợ chồng cũng vì ‘quen thói’. Chớ thú thật “What’s love?’ Thế gian tình là gì?
“Actually I don’t know”. Tui hổng biết!
Nếu tui hết yêu em; và em cũng hết yêu tui rồi thì tui cũng sẽ trốn ra hoang đảo để tầm trú như mấy thằng Úc nầy mà thôi!
Con vợ chằn ăn và cà chớn lửa như vậy nếu còn ở thì ai mà chịu cho nổi hỡi Trời!
Chỉ có cái khác, mấy thằng Úc nầy không biết lo xa lúc giong thuyền ra hoang đảo, tui sẽ chở theo rất nhiều ‘beer’ VB (Vợ Bỏ) ”

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Cay đắng!

petruskyaus.net

Thơ đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 1 Mar 2024

Nhỏ đưa anh, mặt mày ủ dột;
Mỹ Tho buồn, rớt hột, lâm râm…
xe lô Minh Chánh, vừa lăn bánh,
nhỏ lấy mù soa, chấm chéo khăn!

Chấm chéo khăn, sao ngăn dòng lệ?
“xa anh rồi chẳng… dễ gì quên!”
nhỏ xa anh, ngọn đèn vàng võ,
biếng châm dầu, lu, tỏ, thâu đêm?!”

Thâu đêm, nhỏ mươi lần căn dặn:
“Sài Gòn! đèn ngọn đỏ, ngọn xanh,
học hành nha, đừng mê bóng sắc;
bướm ong gì! nhỏ vẫn chờ anh?!”

“Chờ anh…” rồi phụ anh đi biệt!
cách mặt xa lòng, mới bốn năm;
lặng lẽ, nhỏ ôm cầm thuyền khác;
“ vẫn chờ anh…” rốt cuộc, anh lầm!!”

Tình ta đâu phải tuồng cải lương!
“sao vai nhỏ – đào thương – rất đạt?
đã vong phụ, lại còn vớt vát:
tiếng ru buồn, ai hát bên song!”

Ngày đi lúa chửa đơm bông;
ngày về em đã con bồng, con mang *
chữ tình một dở hai dang:
duyên ta thời có, nợ mang mang sầu.

*CA DAO

đoàn xuân thu

melbourne