Tháng 4 về_ Nhớ chuyện xưa-Nhắc người xưa.

Viết bởi Sơn râu

Lý Tống-Một thuở Kinh Kha

“Một nét dao bay ngàn thuở đẹp

Dù sai hay trúng củng là dư”

Tần Vũ Dương mang theo tấm bản đồ có giấu sẵn dao găm bên trong. (Nguồn: iFuun)

Hai câu trên được trích trong Bài thơ sông Dịch của Vũ Hoàng Chương nói về tráng sĩ Kinh Kha khi sang Tần với con dao Chuỷ thủ trong tay để hành thích bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng. Kinh Kha là ai và tại sao phải giết Tần Thuỷ Hoàng? xin đọc lại một chút điển tích xưa:

“Gió thổi vi vu, Dịch thủy lạnh. Tráng sĩ một đi không trở về”, đây là một câu thơ bắt nguồn từ điển cố Kinh Kha ám sát Tần Thủy Hoàng. Đằng sau câu thơ này lại ẩn chứa một câu chuyện vô cùng bi tráng vào 2.000 năm trước.

Tần Vũ Dương mang theo tấm bản đồ có giấu sẵn dao găm bên trong. (Nguồn: iFuun)

Kinh Kha là người nước Vệ, tổ tiên là người nước Tề, khi di cư sang Vệ, người Vệ gọi là Khánh Kha. Sau đó sang nước Yên, người nước Yên gọi là Kinh Kha.

Kinh Kha thích đọc sách, đánh kiếm, bàn chuyện kiếm thuật. Không được Vệ vương trọng dụng, Kinh Kha buồn chán mới tìm đến Hàm Đan chơi. Ở đây, ông kết bạn với một người bán thịt chó và một người tinh thông đàn trúc tên Cao Tiệm Ly.

Ngày ngày, cùng nhau chơi đàn, hoạ thơ, hát vui, cười khóc với nhau ở giữa chợ, xem như bên cạnh không có người. Tính tình cảm khái, thích đi đó đây, đến nước chư hầu nào Kinh Kha cũng tìm kết bạn với những bậc hiền nhân, trưởng giả ở đó. Khi sang tới nước Yên, nhân sĩ nước Yên là Điền Quang tiên sinh cũng mến mộ đãi ngộ chu đáo.

Lúc bấy giờ, thái tử nước Yên là Đan đang làm con tin ở Tần quốc trốn về. Thái tử Đan đã có lần làm con tin ở Triệu, mà vua Tần Doanh Chính lại sinh ra tại đó nên ngày nhỏ vẫn thường làm bạn với nhau. Đến khi Tần Doanh Chính được làm vua, thái tử Đan lại trở thành con tin ở Tần, lúc này vua Tần đối đãi với bạn không tử tế nên thái tử Đan giận trốn về, tìm cách báo thù.

Cùng lúc, tướng Tần là Phàn Ô Kỳ có tội với vua, chạy trốn sang Yên. Cúc Võ vốn là thầy học của thái tử Đan mới can, e sợ việc dung nạp Ô Kỳ sẽ là hành động khiêu chiến với vua Tần nhưng thái tử Đan cương quyết gạt đi.

Tần Thuỷ Hoàng, một trong những vị vua bị coi là mục tiêu hành thích nhiều nhất của lịch sử Trung Hoa. (Ảnh: cdpengchen)

Thấy không lay chuyển được thái tử Đan, Cúc Võ mới bàn việc mời Điền Quang đến để bàn đại sự. Thế nhưng Điền Quang lại một mực chối từ, lấy lý do tuổi cao sức yếu, mới giới thiệu Kinh Kha cho thái tử Đan. Sau khi khích lệ Kinh Kha, Điền Quang liền tự sát để tỏ rõ nghĩa khí của mình.

Tần Thuỷ Hoàng, một trong những vị vua bị coi là mục tiêu hành thích nhiều nhất của lịch sử Trung Hoa. (Ảnh: cdpengchen)

Thái tử Đan đón tiếp Kinh Kha rất nhiệt thành, nhờ Kinh Kha vì bá tánh trăm họ giúp trừ khử Tần Thủy Hoàng. Kinh Kha từ chối: “Tôi hèn kém, e không làm nổi việc ấy”.

Thái tử Đan dập đầu cố xin rằng: “Vì trọng tấm lòng có nghĩa của ngài, Đan này xin uỷ sinh mệnh vào ngài đó, xin chớ chối từ”.

Kinh Kha ban đầu còn từ chối, nhưng nghe thái tử Đan bàn đến chuyện an nguy của bá tánh mấy nước chư hầu mới quyết định nhận lời.

Kinh Kha nói: “Theo lời Thái tử, thần nguyện đi yết kiến vua Tần. Chuyến đi lần này nếu không có vật làm tin, thì e rằng không thể đến gần vua Tần được. Nay vua Tần muốn mua thủ cấp của Phàn tướng quân với giá nghìn vàng, vạn hộ dân. Nếu có được thủ cấp của Phàn tướng quân và bản đồ Đốc Cương dâng lên vua Tần, vua Tần ắt sẽ phải gặp thần, vậy thần mới có thể giúp Thái tử được”.

Thái tử Đan nói rằng việc trao bản đồ Đốc Cương thì hoàn toàn không tiếc, nhưng chuyện lấy thủ cấp của tướng quân Ô Kỳ e là không được.

Nghe thái tử Đan nói vậy, Kinh Kha bảo thái tử cứ chuẩn bị tấm bản đồ trước, còn mình sẽ lo việc thủ cấp của tướng quân Ô Kỳ. Nói rồi, Kinh Kha bèn đi một mạch tới bái kiến Phàn Ô Kỳ. Ông nói:

“Nước Tần đối đãi với tướng quân có thể gọi là thâm độc. Cha mẹ họ hàng đều bị giết, nay nghe nói họ mua cái đầu của tướng quân nghìn vàng, ấp vạn nhà. Nay tôi có một lời, có thể cứu nguy cho nước Yên, báo thù cho tướng quân. Chỉ có điều, muốn thực hiện được nhất thiết phải xin cái đầu của tướng quân để hiến vua Tần. Vua Tần thế nào cũng mừng rỡ tiếp kiến tôi. Nhân cơ hội đó tôi sẽ nhanh chóng hành thích ông ta”.

Phàn Ô Kỳ nghe vậy, mới ngửa cổ lên trời, vái lạy tổ tiên rồi tự sát. Thái tử Đan nghe vậy, đau xót ruổi ngựa đến, khóc rất thảm thương nhưng không làm khác được nên bỏ đầu Ô Kỳ vào hòm và niêm phong lại. Sau đó lại cho người đi tìm trong thiên hạ được cái chủy thủ sắc của Từ phu nhân nước Triệu, mua mất trăm lạng vàng, sai thợ tẩm thuốc độc, hễ đâm vào người, máu chảy ra như sợi tơ cũng đã đủ lấy mạng người đó.

Rốt cuộc vụ ám sát không thành, để lại một câu chuyện lịch sử bi tráng, đặt định cơ sở văn hóa lịch sử của nhân loại. (Ảnh: Novesoft.com)

Nước Yên có một võ sĩ tên Tần Vũ Dương, năm 12 tuổi đã từng sát nhân, không ai dám xem thường anh ta. Thái tử Đan liền phong Tần Vũ Dương làm phó tướng. Đến sông Dịch Thủy, mọi người bày tiệc tiễn khách. Cao Tiệm Ly gảy đàn trúc, Kinh Kha hát theo, tiếng hát chưa dứt, quân sĩ đều chảy nước mắt. Lại hát tiếp rằng: “Gió thổi vi vu, Dịch thủy lạnh. Tráng sĩ một đi không trở về!” Sau đó ông lên xe đi, không hề nhìn ngoái lại.

Trong Kinh Kha ám sát Tần Thủy Hoàng có ghi chép rằng, Kinh Kha mang theo đầu của Phàn Ô Kỳ và tấm bản đồ nước Yên, cùng với dũng sĩ Tần Vũ Dương đến gặp vua Tần.

Tần Vũ Dương mang theo tấm bản đồ có giấu sẵn dao găm bên trong, Kinh Kha bưng đầu của Phàn Ô Kỳ được đựng trong chiếc hộp. Tần Vũ Dương là dũng sĩ, nhưng trong hoàn cảnh này cũng không khỏi khiếp sợ đến biến sắc mặt.

Rốt cuộc vụ ám sát không thành, Kinh Kha và Tần Vũ Dương đều bị giết chết. Để lại một câu chuyện lịch sử bi tráng, đặt định cơ sở văn hóa lịch sử của nhân loại, câu thành ngữ “Đồ cùng chủy hiện” (Ý đồ cuối cùng đã lộ ra) cũng ra đời từ câu chuyện này.

Kinh Kha chết, vua Tần bèn cả giận ra lệnh cho Vương Tiễn đem quân đánh Yên. 5 năm sau (năm 222 trước Công nguyên) nước Tần diệt gọn nước Yên.

Tinh Hoa tổng hợp

_____________________________________________________________________________________________

Trên đây là câu chuyện theo truyền thuyết nói về Kinh Kha tay tráng sĩ thời xưa sang Tần để hành thích Tần bạo chúa, việc lớn không thành để phải vong mạng nơi viễn xứ với nhiều tình tiết hùng tráng, đau thương và gây cấn. Câu chuyện vửa kể trên có liên quan gì đến Lý Tống? thử nhìn lại xem các việc Lý Tống đã làm qua Bách Khoa Toàn Thư mở trên Net:

Trước 1975

Lý Tống sinh ngày 1 tháng 9 năm 1946 tại Thừa Thiên – Huế, Việt Nam và bắt đầu phục vụ trong Không lực Việt Nam Cộng hòa năm 1965.

Tháng 4 năm 1975, chiếc A-37 thuộc biên đội Ó Đen do ông lái bị bắn rơi; ông bị giam giữ cải tạo trong vòng 5 năm. Ông vượt ngục bằng đường bộ đến Thái Lan, đi qua Campuchia, rồi xin tị nạn chính trị tại Singapore. Ông đến Hoa Kỳ năm 1984. Sau đó theo học cao học tại Đại học New Orleans.

Những hoạt động sau năm 1975

  • Năm 1992, Lý Tống uy hiếp phi công chiếc A310 của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam bay qua Thành phố Hồ Chí Minh rồi thả truyền đơn xuống kêu gọi nhân dân Việt Nam nổi dậy chống lại chính quyền. Lý Tống nhảy dù xuống một ao rau muống. Thấy một anh dân phòng mặc đồ dân sự đi ngang, Lý Tống nói mình là Việt kiều mới về nước, muốn thăm nhà bạn nhưng không nhớ đường và đưa địa chỉ nhờ chở đến. Anh dân phòng đồng ý rồi chở Tống lại công an; Lý Tống bị cơ quan chức năng Việt Nam bắt và kết án 20 năm tù vì tội cướp máy bay. Tháng 9 năm 1998, chính quyền Việt Nam quyết định tha và trục xuất Lý Tống trong một đợt đặc xá.
  • Năm 1998, Lý Tống đã dùng máy bay, xâm nhập trái phép lãnh thổ Cuba để rải truyền đơn.
  • Ngày 1 tháng 1 năm 2000, Lý Tống dùng một chiếc máy bay nhỏ bay từ Florida sang La Habana, Cuba thả truyền đơn kêu gọi nhân dân Cuba nổi dậy. Khi bay trở về, ông bị thẩm vấn bởi Cục Di cư và Hải quan Hoa Kỳ nhưng được trắng án và tha bổng. Lý Tống bị Cục hàng không Liên bang rút giấy phép bay. Sau chuyến này, ông được những người Cuba chống Cộng coi như một “anh hùng”
  • Ngày 7 tháng 11 năm 2000, Lý Tống lại cướp một chiếc máy bay nhỏ tại Thái Lan bay sang Sài Gòn, thả hơn 50.000 tờ truyền đơn. Lúc trở về Thái Lan, ông bị bắt giữ và bị tòa án Thái Lan kết án 7 năm tù. Tòa án Thái Lan từ chối dẫn độ Lý Tống về Việt Nam với lý do ông không gây hại cho an ninh Thái Lan.

Giam giữ

  • Lý Tống là phạm nhân nhiều năm từ năm 1992 đến 1998 tại Trại giam Nam Hà, V26 Bộ Công an (Trại Ba Sao).
  • Tháng 3 năm 2006, Lý Tống bắt đầu tuyệt thực tại nhà tù ở Rayong.
  • Ngày 4 tháng 9 năm 2006, tòa án Thái Lan quyết định dẫn độ Lý Tống về Việt Nam. Quyết định này vấp phải sự phản đối của cộng đồng người Việt chống cộng tại Hoa Kỳ và Canada.
  • Ngày 26 tháng 9 năm 2006, tòa án Thái Lan chấp thuận kháng án từ Lý Tống. Quyết định cuối cùng sẽ được tòa án tối cao Thái Lan quyết định trong vòng 3 tháng.

Ra tù

Sau 7 năm ngồi tù ở Thái Lan, Lý Tống được ra tù. Tòa phúc thẩm tại Bangkok sáng ngày 3 tháng 4 năm 2007 đã tuyên bố hành động của Lý Tống mang tính chất chính trị chứ không phải là đe dọa an ninh, và dựa trên một điều luật của Thái Lan không cho dẫn độ những người đối diện cáo buộc chính trị, tòa phúc thẩm từ chối yêu cầu dẫn độ về Việt Nam của tòa sơ thẩm hồi tháng 9 năm 2006.

Chánh án Wisarut Sirisingh, người xét xử Lý Tống, đã viết trong phán quyết:

“Những gì ông Tống làm không gây ảnh hưởng về an ninh lãnh thổ Việt Nam. Thái Lan không dẫn độ những người đối diện các cáo buộc về chính trị.

Phần tiểu sử của Lý tống còn nhiều tôi chỉ tóm lược một ít ở phần đầu bạn có muốn coi rõ hơn cứ vào bộ Bách Khoa Toàn Thư mở sẽ rõ. Việc làm đầu tiên của Lý Tống năm 1992 gây tiếng vang trên khắp mọi nơi trên thế giới đặc biệt ở các nơi có cộng đồng người Việt có mặt.

Theo thiển ý của tôi Lý Tống hành động có điểm tương đồng như Kinh Kha thuở xưa, có phần còn trội hơn một bậc. Kinh Kha sang Tần với sứ mạng hành thích Tần bạo chúa, việc làm quả là đội đá vá trời vì các quy luật nghiêm nhặt nơi cung điện vua Tần không dễ mà có thể đến gần Tần Thuỷ Hoàng với vũ khi trong tay để mong được chạm đến chéo áo nói chi đến việc mưu sát. Thứ nhì có phải là tay dũng sĩ biết trước việc nếu không thành mà phải táng mạng củng không sờn chí lớn phải có gan mưu lược hơn người.

Tuy nhiên biết người biết ta, Kha tráng sĩ biết nếu đơn thân độc mã qua Tần làm việc lớn chắc chắn sẽ không đạt kết quả như mong muốn nên có đưa lời yêu cầu với Thái Tử Đan của nước Yên muốn sang Tần với một trang kiếm khách đồng chí hướng như Kinh Kha, đó là Cáp Nhiếp.

Thế nhưng muốn gặp Cáp Nhiếp phải đợi 10 ngày nửa mà với Thái tử Đan đó là khoản thời gian không cho phép nên thay vào Cáp Nhiếp là tay giang hồ Tần Vũ Dương làm sao bì cho được Cáp Nhiếp liệu có đủ bản lĩnh và thần khí khi đứng trước Tần bạo chúa hay không?

  • Mọi chuyện như định mệnh đã an bài và sắp xếp các trình tự nơi câu chuyện xưa: đãi ngộ Kinh Kha trước khi lên đường Thái Tử Đan bày yến tiệc cho vời các cung nữ vào ca múa, có một ca nhi đẹp tuyệt và điệu múa tuyệt vời làm mê mẫn Kha tráng sĩ, để phải thốt lên một câu khen cho đôi bàn tay ngà đẹp mê hồn trong buổi múa hát cho Kinh Kha thưởng lãm. Chỉ nghe qua câu nói đó mà Thái tử Đan đã cho thủ hạ cắt phăng đôi bàn tay của Ngọc Tỷ bỏ vào hộp mà dâng cho Kinh Kha, để nàng phải thác oan uổng.

“Yên thái tử

Trọng đãi ta vào bậc ân nhân

Biết làm sao gở nỗi việc sang Tần!

Ca vũ đê mê linh đình yến ẩm

Suốt ngày đêm nay còn trao tặng phẩm

Giúp cho mình tửu hứng được cao bay

Nào thử xem tặng phẩm gì đây

(mở nắp hộp) Trời hỡi, đôi cánh tay nào đó,

Mà băng tuyết ngọc ngà hoen máu đỏ?

Thôi rồi ta đã giết nàng đây;

Một ca nhi vô tội, não nùng thay!

…Yên Thái tữ đãi mình tri kỷ thực.

Muốn vật chi củng lập tức dâng ngay!

Yêu đôi tay thì chặt hẳn đôi tay…

(Tâm sự kẻ sang Tần-Vũ Hoàng Chương)

  • Lão tướng Điền Quang của nước Yên cảm khái vì chuyện lên đường sang Tần của Kinh Kha mà tự kết liễu đời mình để mong hồn thác sẽ theo Kinh Kha sang Tần làm chuyện lớn.

“Thanh gươm cùn, tay yếu hỏi dùng chi?

Âu là dưới gót kẻ ra đi

Lão đem chút hơi tàn trao gởi.

Tần bạo chúa lòng tham như hổ đói

Cậy hùng binh toan nuốt sống Yên bang

May được tướng quân động chí ngang tang

Một mũi kiếm trỏ Hàm Dương hỏi tội

Hào khí ấy cùng trăng sao chói lọi

Bước bước đi sông tiễn, núi nghiêng đầu

Lão phu đây kỳ vọng bấy nhiêu lâu,

Nguyền một thác đưa chân người kiếm khách

Hồn thiêng sẽ theo người qua bến Dịch

Bên tai người, nhắc nhỡ chí nam nhi

Với đất trời kia phải có danh gì!..”(Tâm sự kẻ sang Tần-Vũ Hoàng Chương)

  • Phàn Ô Kỳ là tướng của Tần Thuỷ Hoàng đã bỏ về với Thái Tử Đan của nước Yên, việc này đã làm Tần Thuỷ Hoàng vô cùng tức giận, hãy nghe lời tự thuật của tướng quân họ Phàn với Kinh Kha

“… Tần bạo chúa

Cơn sấm sét vẫn không nguôi thịnh nộ

Kể từ khi mạt tướng bỏ Hàm Dương

Huống nghe tin mạt tướng đã quy hàng

Yên Thái tử. Lòng y như lửa cháy

Lại quạt thêm và tưới dầu thêm vậy!

Nên chuyến này y tận khởi hùng binh

Để chiếm đất đai việc ấy đã đành

Nhưng củng để nổi căm hờn được thoả

Phạt Yên sau, bắt Ô Kỳ trước đã!”

            Hỡi kẻ sắp sang Tần!

            Phải hiểu rõ lòng ta cho xứng đáng

Chiều nay đây ta dâng ngươi tính mạng

Có phải đâu là ta đã vì ngươi

Vì Kinh Kha lưu tiếng tốt muôn đời

Củng chẳng phải ta căm hờn bạo chúa,

Mượn tay ngươi để thù riêng được thoả

Củng chẳng vì ta muốn báo ơn sâu

Của Yên triều Thái tử bấy nhiêu lâu

Đã biệt đãi một hàng thần phiêu đãng

Không, không phải! ta dâng ngươi tính mạng

Không vì ngươi mà củng chẳng vì mình,

Củng chẳng vì Yên quốc! Ta hy sinh

Chiều nay đây chỉ vì thiên hạ đó

Vì thiên hạ, đầu này ta cắt bỏ.

(Tâm sự kẻ sang Tần-Vũ Hoàng Chương)

Qua các đoạn thơ trên bạn đã thấy Kinh Kha sang tần có rất nhiều lợi điểm:

_Bản đồ của nước Yên có dấu con dao chuỷ thủ trong đó

_Hộp gỗ đựng đầu của Phàn Ô Kỳ

_Cái chết của lão tướng Điền Quang và đôi tay ngà của ca nhi Ngọc Tỷ chỉ là một trong các yếu tố thúc đẩy việc Kinh Kha sang Tần ở thế không thể quay lui, cho dù không có một kiếm thủ song hành là Cáp Nhiếp (thay vào đó là gã giang hồ Tần Vũ Dương không đáng nói tới)

* Với Lý Tống bạn thấy gì, không có tất cả các thứ trên, không có đầu của Phàn Ô Kỳ, không bản đồ nước Yên, không dao chuỷ thủ, không Cáp Nhiếp, không Tần Vũ Dương, việc làm đầu tiên năm 1992 khi anh về VN trên chuyến bay thương mại anh chỉ có một tấm lòng, đúng vậy anh chỉ có một tấm lòng, anh có thể sống sót trong chuyện uy hiếp phi hành đoàn buộc họ phải mở cửa sổ để anh rãi truyền đơn trên bầu trời thành phố Sài Gòn. Nhưng chưa chắc anh có thể sống còn khi tung người qua cửa sổ máy bay để nhảy dù xuống đất.

_Các năm sau đó nào là việc xâm nhập không phận Cuba để rãi truyền đơn. Tháng 11 năm 2000 cướp chiếc máy bay nhỏ của Thái Lan bay sang Việt Nam để thả 50,000 tờ truyền đơn, trả giá cho việc làm đó là 5 năm tù trên đất Thái… và vân vân. Đó là các quốc gia của Cộng Sản hung bạo như đất Tần, Lý Tống đã bao lần qua sông Dịch vào Tần để diệt Tần bạo chúa?

Các việc của anh làm được kẻ khen người chê quả là không ít, nhưng riêng tôi vô cùng đồng ý với nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã viết

“Một nét dao bay ngàn thuở đẹp

Dù sai hay trúng cũng là dư”

Những ai đã từng phê bình Lý Tống cho rằng những việc anh làm vì danh lợi hay không tưởng…. xin thưa rằng có mấy ai đã từng làm được như anh hãy xét đoán và phê bình vì rằng cái dũng khí Kinh Kha không có mà bàn luận chi hỡi bạn ta?!

Nay nghe tin anh hấp hối trên giường bịnh, bên bờ tử sinh, tôi chỉ biết mượn những câu cuối trong bài thơ Tâm sự kẻ sang Tần của Vũ Hoàng Chương để gởi cho anh:

“Ngày xưa khói sóng hận chơi vơi

Những kẻ thi gan với chữ Thời

Ngàn sau khói lửa tơi bời

Sông nào Dịch Thuỷ, ai người Kinh Kha.”

Để kết thúc cho bài viết này cá nhân tôi xin chúc cho anh được qua cơn nguy kịch trên giường bịnh dần lấy lại được sức khoẻ hầu làm được nhiều việc sau này cho thoả chí lớn trong công cuộc xoá bỏ chế độ CS theo ý nguyện chung của mọi người Việt trong và ngoài nước

Viết bởi Sơn Lư

Nếu Còn Một Kiếp Sau

dongsongcu.wordpress.com

Võ Thúy Lan

Posted on March 18, 2024 by dongsongcu

Post by Sơn râu 22 Mar 2024

Ảnh minh hoạ

Tôi kết hôn với anh sau ba năm quen biết và yêu thương nhau, những tưởng làm vợ lính sẽ tràn đầy bao điều mộng mơ như những bản tình ca, đọc được những lá thư viết từ chiến trường  đầy ắp những  lời nhung nhớ thiết tha. Nhưng không phải, chỉ có năm ngày ái ân mặn nồng sau ngày cưới là anh bỏ tôi lại với gia đình anh để vội vã lên Pleiku nhận đơn vị mới, một chi đoàn chiến xa M48, còn tôi ở lại với tâm trạng của một người con gái lần đầu xa nhà, xa ba má và một đám em lúc nào cũng tíu tít bên người chị cả.

Tôi có công việc ở phòng thuốc của Bệnh viện Toàn khoa Đà Nẵng, việc đi thăm chồng không phải muốn đi là được, chờ một tờ giấy phép đã khó, có khi đến nơi là hậu cứ của đơn vị thì chi đoàn của anh đã nằm trong khu vực hành quân, một địa điểm với những cái tên lạ hoắc: Chư Prong, Chư Pao, Đakrang …Đã có lần tôi lên Pleiku phải sống đơn lẻ vì đơn vị anh đang phải từng ngày lấn đất dành dân trong thời gian sắp thi hành Hiệp định Paris, một hiệp định ngừng bắn mà bên ta chịu thiệt, phải nói chuyện ngang hàng với Mặt trận Giải phóng miền Nam, chờ đến hai tuần cũng chưa gặp mặt chồng, tôi nóng lòng nên theo một chuyến tiếp tế từ hậu cứ đến Quận Phú Nhơn trên quốc lộ 14 từ Pleiku đi Ban Mê Thuột, đoàn xe toàn M48 chở xăng dầu, đạn dược và thực phẩm tiếp tế cho Chi đoàn, đến khu vực nguy hiểm, đoàn xe xích rời đường nhựa và băng rừng, chưa di chuyển được bao lâu thì chiếc xe đầu bị mìn, tiếng nổ làm tôi và các chị vợ lính khiếp vía, toán lính theo xe  đồng loạt bắn vào rừng, chưa biết có Việt cộng hay không mà lần đầu nghe tiếng súng nổ quanh mình tôi run và sợ đến muốn ngất đi, anh Trung sĩ tiếp liệu đi lại bên tôi nói:  Đại bàng sắp tới, chị đừng lo! Tôi còn đang chưa hiểu cái gì là đại bàng thì đã nghe tiếng xích xe ầm ầm chạy tới,  sáu chiếc chiến xa M48 lần lượt ngừng hai bên đường bố trí lại, chồng tôi trên xe nhảy xuống, chạy lại ôm chặt tôi, tôi ngất ngây trong cái hạnh phúc mà đã bao ngày mong đợi .

Tôi ở đây với chồng mươi ngày mà chi đoàn của anh phải hoạt động nhiều nơi, lúc phải di chuyển xuống gần Ban Mê Thuột, lúc phải vào quận Thanh An, tôi cũng hòa mình cùng anh, cùng đoàn quân, khoác áo trận, đeo súng, lên xuống chiến xa, đêm nằm võng treo tòn teng trong M113, lúc ăn cơm sấy, lúc được vào chợ Thanh An ăn tô hủ tiếu, những bạn hàng bán ở chợ nhìn một cô gái trẻ đi cùng chồng là quân nhân, chịu cực chịu khổ, không biết họ khâm phục hay họ thương cảm đây!

Lấy chồng chiến binh là những ngày chịu đựng nỗi nhung nhớ,  sự lo lắng,  là một chuỗi những rượt đuổi tung tích chồng, chàng trên Pleiku nàng ở Đà Nẵng, vì muốn sống gần chồng nàng chuyển công tác lên Pleiku thì anh ta lại về Biên Hoà. Tôi đã phải bỏ công việc ở bệnh viện Pleiku khi có con gái đầu lòng .Chiến sự ngày càng khốc liệt khi đoàn quân của giặc Bắc đã đánh nhiều nơi gần Sài gòn, trong một trận đánh giải tỏa cho một căn cứ ở quận Bến Cát, chồng tôi đã bị thương nơi tay, anh phải bó bột chín tháng rồi sau đó trở lại đơn vị vào tháng 2/75. Tôi có thêm một đứa con gái trong những ngày anh dưỡng thương ở nhà .

Cái ngày 30/4 tang tóc đã đến với toàn dân miền Nam, tôi hụt hẫng khi nghe tiếng kêu gọi toàn thể binh lính buông súng đầu hàng của ông Tổng Thống Dương Văn Minh. “Hết rồi ” tôi la lên, tôi giận ông Minh một nhưng giận ông chồng tôi mười, mấy ngày trước, khi chồng tôi chuẩn bị để lên Biên Hòa trình diện Lữ đoàn III Kỵ binh, tôi khuyên anh ở lại nhà để cùng đi ra nước ngoài trên chiếc tàu đánh cá của gia đình, anh đã nói: Anh không thể bỏ đơn vị trong lúc này!. Nói rồi anh đành đoạn ra đi, tôi tan nát cả cõi lòng .

Anh vào tù,  tôi cùng hai đứa con nhỏ lao vào cái xã hội đang hồi điên loạn, giặc Bắc tràn vào cướp sạch bằng mọi phương thức,  đổi tiền và đánh tư sản, cả miền Nam sống trong cơn sốt, “cỏ cây khóc, gió than van”, nhà nhà đều nghĩ đến chuyện vượt biên, đi tìm tự do trong cơn thét gào của biển .

Sài gòn đã đổi tên,  thành phố vốn có tên là Hòn Ngọc Viễn Đông bây giờ có tên là cái xác chết! Ông chồng tôi vào tù, mang theo tiền ăn 30 ngày đến nay ba tháng vẫn chưa có tin, tôi chạy đôn chạy đáo đi dò la tin tức, có người quen làm rẫy ở Long Khánh thấy có đám người mặc quần áo lính VNCH đang bị dẫn đi lao động, tôi bèn lên Long Khánh kiếm, kết quả như mò kim đáy biển,  chồng không thấy chỉ thấy một số chị em cũng cảnh ngộ như tôi, cũng tay xách vài món ăn cho chồng, cũng mỏi mệt như nhau, bơ phờ như nhau, chỉ còn một chút cái dáng dấp, cái sắc đẹp truyền thống của đàn bà miền Nam nói chung và của những bà vợ sĩ quan chế độ cũ nói riêng .

Tháng 6/79 lần đầu tiên tôi được tin chồng, anh đang ở một trại tù trên đất Bắc -Trại K5 Vĩnh Phú, tôi nhờ một người bà con từng tập kết mua giùm cái vé máy bay trị giá một cây vàng lúc đó để ra Hà Nội, từ đó hết xe lửa đến qua phà, đi bộ mới đến trại giam anh, một đêm thức cùng các chị em cũng đến thăm chồng, nấu nướng các món ăn để sáng hôm sau cho chồng mang vào trại ăn dần.

Tôi không thể nhận ra anh khi có một tên công an dẩn sáu người tù đi vào nhà  thăm nuôi, đến khi anh bước đến trước tôi và gọi tiếng “Em”. Tôi bật khóc khi thấy hình hài  rất khác của chồng tôi, cái gọi là khoan hồng của “Cách mạng” đã khiến chồng tôi biến thành tàn tạ như vậy sao? Lúc nãy tôi đã thấy anh chống tay lên đầu gối mới bước lên được cái tam cấp vào nhà, mười lăm phút sau, tên cán bộ buộc chúng tôi đứng lên và họ đưa những người tù vào trại .

Tôi quyết định mua thêm sữa bột và đường trở lên Vĩnh phú một lần nữa sau khi về đến Hà Nội.

Thăm nuôi chồng trong tù CS không phải là chuyện dễ dàng, đào đâu ra tiền khi phải lo thêm cho ba má và đám em tám chín đứa, từ khi Đà Nẵng chộn rộn trong việc di tản về Nam của đa số người có của, ba tôi đã nhanh chân mua được cái nhà hai tầng ở Hoà Hưng -quận 10, nhờ vậy mà ba mẹ con tôi có chỗ tá túc, tôi lo cho chồng, cho con còn phải lo cho đám em còn tuổi đi học và ba má nay đã đến tuổi nghỉ việc. Sài gòn lúc đó thiếu cái ăn,  tôi phải lặn lội xuống Long An kiếm chục ký gạo, giành giựt đâu đó miếng thịt mỡ nhiều hơn nạc,  rồi cất giấu, cột trong mình trong đùi, mặt mày lấm lem như người làm rẫy, qua mắt bọn công an kinh tế!

Miền Nam vốn là vựa lúa của vùng Đông Nam Á , sản xuất lúa gạo đứng nhất ở Á châu , Kinh tế Việt Nam vượt trội hơn Thái Lan, Tân Gia Ba, Đài Loan…bây giờ thì dân phải ăn bo bo, bột mì , khoai sắn.” Bao năm giải phóng như thế này phải không anh”?

Tôi ra Bắc thăm chồng lần nữa giữa năm 1980,  lần này dẫn theo hai con nhỏ, đứa bảy tuổi đứa lên sáu, đứa nhỏ lanh hơn, vừa thấy mặt chồng tôi liền đẩy hai đứa con đến bên anh rồi bảo : Gọi ba đi con ! Đứa nhỏ chẳng rụt rè gì buột miệng nói: Ông nội chết rồi Ba! Anh nhìn tôi như muốn hỏi, tôi nói sợ anh buồn và cũng chưa kịp nói gì hết. Tôi thấy anh buồn nhiều.

Ba chồng tôi trước nay vẫn sống với gia đình anh chị hai, anh hai vốn khuynh tả,  thiên Công, anh có hai đứa con theo VC, thằng nhỏ đụng trúng lính nhảy dù nên bị giết ở Tây Ninh, thằng lớn làm du kích cho đến cuối đời trở thành thằng tửng tửng, anh hai và chồng tôi thường chống nhau, nên sau ngày mất miền Nam, tôi dẩn hai con về thăm nội, anh ấy đã tỏ thái độ và từng răn đe tôi bằng lời nói khó nghe: Mấy người không được vào nhà tôi, vợ Thiếu tá tôi cũng lấy chổi quét! Tôi hét lại: Tôi cóc cần!

Lần thăm này chồng tôi được trại cho tiếp vợ con cả ngày và đêm, chờ hai con ngủ say vợ chồng mới có dịp mặn nồng và trao nhau hơi thở, thấy việc lo cho gia đình của tôi khó khăn và gian khổ anh nói: Em về điểm phấn tô son lại; Ngạo với dân gian một nụ cười! Ý anh là muốn tôi lấy chồng khác. Vậy đó!

Tôi giận anh đã xem thường con gái nhà họ Võ, một gia tộc có truyền thống học cao, trọng khí tiết, Đức hạnh. Tôi nói với anh: Anh quên Em có ông cố là Thượng Thư Bộ Lại của triều Nguyễn rồi sao? anh quên em có ông Nội là Trưởng ty Tiểu học hồi 54 tại Quảng Ngãi rồi sao? em lấy chó thì theo chó, em lấy gà thì theo gà, em không lấy ai hết nữa!

Thấy tôi quạu, anh cười hoà, ôm chặt tôi, cho tôi nhiều nụ hôn đến ngộp thở.

Anh được trả tự do đầu năm 1985, gần mười năm ở chốn núi rừng Việt Bắc, ở Rừng Lá -Bình Tuy, sức khỏe anh sa sút nhiều, anh chưa hoà hợp được với cái xã hội Việt Nam mới, anh đã lạc lõng ở cái nơi anh được sinh ra, anh nói phải ra đi thôi và hai vợ chồng đã đến một cái chùa Phật ở Phú Nhuận để hỏi thời vận, một vị hòa thượng đã đoán quẻ xăm, ông nói chắc như đinh đóng cột rằng cả gia đình tôi sẽ ra nước ngoài sinh sống một cách chính thức bằng máy bay đàng hoàng. Một chuyện khó tin nhưng có thật!

Tôi sinh thêm thằng út vào tháng 9/89 và tháng 5/91 cả nhà tôi đã được định cư ở Mỹ sau khi bọn giặc cướp không cái nhà, chúng láo lếu nói rằng sĩ quan cấp tá không có quyền bán nhà vì đó là tài sản của nhà nước!

Vợ chồng tôi tin rằng ở một đất nước tự do như Mỹ, con cái chúng tôi sẽ thành tài,  ba đứa con của tôi đã vào trường học ngay trong tháng đầu tiên, ông chồng tôi đã lấy bằng lái xe và mua chiếc xe cũ với năm tuổi đời. Tôi có việc làm sau ba tháng học nghề, chồng tôi chưa tới 50 mà tóc đã bạc trắng, anh vốn thông minh, thi đâu đậu đó, ngoài công việc làng nhàng ở shop may, anh chịu trách nhiệm chăm sóc thằng út, tôi muốn ba đứa con của tôi phải là kẻ trí thức ở tầng lớp cao trong xã hội Mỹ .

Giờ đây sau ba mươi năm tôi có được con gái lớn là Dược sĩ , con gái nhỏ là kỹ sư khoa học điện toán,  còn thằng út tháng 6 năm sau sẽ hoàn thành chương trình nội trú bệnh viện GeorgeTown để làm một bác sĩ chuyên khoa Tai , Mũi , Họng , cháu đã được một bệnh viện lớn ở Palm Spring (California) thu nhận vào làm việc năm sau.

Nhân sinh thất thập cổ lai hy, đó là phần của tôi thôi, còn ông chồng tôi còn phải cộng thêm vài con số lẻ nữa, vậy mà ông vẫn theo ve vãn tôi. Ông thường nói: Nếu còn có một kiếp sau – Cho anh hẹn chuyện cau trầu trăm năm!

Thôi đi ông à, một kiếp đã đủ quá rồi, mười năm nuôi ông trong tù tôi đã tàn một kiếp hoa! Never see you again!

Võ Thúy Lan – Một chinh phụ 

 Bổ sung: hình đầu tiên khi tôi mới gặp anh, 75 Tết đầu tiên khi chồng đã bị đi tù ngoài Bắc, hình hai đứa con nhờ đi được HO, tụi nó ráng học để thành tài ở xứ người, làm rạng danh con của gia đình quân lực Việt Nam Cộng Hoà.

Tô Thùy Yên: Kiếng vạn hoa!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on May 29th, 2020

Post by Sơn râu 22 Mar 2024

Nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Ðinh Thành Tiên. Ông sanh ngày 20, tháng Mười, năm 1938 tại Gò Vấp. Ông từng là học sinh Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký rồi Ðại học Văn khoa Sài Gòn, ban Văn chương Pháp.

Năm 1963, 25 tuổi, ông vào Trường Bộ binh Thủ Ðức. Chức vụ cuối cùng của ông là Thiếu tá, Trưởng phòng Tâm lý chiến.

Sau năm 1975, ông bị CSVN cầm tù ba lần, gần 13 năm. Là tù nhân chính trị, năm 1993, ông và gia đình sang định cư ở Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.

Nhà thơ Tô Thùy Yên đã từ trần lúc 9 giờ 15 phút, tối Thứ Ba, ngày 21, tháng Năm, năm 2019, hưởng thọ 82 tuổi.

o O o

Tô Thùy Yên là một trong những nhà thơ mặc áo lính của chế độ VNCH. Ða phần những bài thơ của ông, là những ‘mảnh vụn’ thâu lượm được (rồi gọt giũa lại thành vàng, thành thơ) khi Tô Thùy Yên đi dài theo chiến cuộc Việt Nam!

Chẳng hạn như bài: ‘Chiều trên Phá Tam Giang’, Tô Thùy Yên đã từng cật vấn một người lính từ miền Bắc CS vào xâm lược miền Nam tự do.

“Vì sao ngươi tới đây? Hỡi gã cộng quân sốt rét, đói. Xích lời nguyền sinh Bắc, tử Nam!”

Rồi nhà thơ cũng tự vấn ngay chính thân phận của mình, khi bay trên Phá Tam Giang trước ngày quân ta vượt phòng tuyến Nam Mỹ Chánh để chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị trong tay bọn CS Bắc Việt vào mùa Hè đỏ lửa 1972.

“Vì sao ta tới đây? Lòng xót xa, thân xác mỏi mòn”

Ðể rồi người lính của cả đôi bên được gì hoặc mất những gì?

“Ví dầu ngươi bắn rụng ta. Như tiếng hét. Xé hư không bặt im. Chuyện cũng thành vô ích! Ví dầu ngươi gục. Vì bom đạn bất dung. Thi thể chẳng ai thâu. Nào có chi đáng kể!”

“Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh. Cho tổ quốc Việt Nam – một tổ quốc…?

Các việc ngươi làm. Ngươi tưởng chừng ghê gớm lắm. Các việc ta làm Ta xét thấy chẳng ra chi. Khi cùng làm những việc như nhau!”

o O o

Sau mười năm lưu đày biệt xứ từ Sài Gòn ra những vùng rừng thiêng nước độc miền Bắc, sát biên giới Việt Trung. Rồi chiến tranh biên giới 1979 nổ ra giữa Trung Cộng và CS Bắc Việt, Tô Thùy Yên lại bị lê lết từ trại tù nầy sang trại tù khác. Mười năm khủng khiếp, mười năm dưới chín tầng địa ngục; đến đá cũng ngậm ngùi thay!

(Các trại tù lao cải của CS cố ý làm cho tù nhân mất hết cảm giác và nghĩ suy của một con người bình thường, không còn đớn đau mà cũng không còn hy vọng, chỉ biết sống qua ngày như một thứ súc vật bị làm nhục. Nhưng theo W.Ernest Henley: (1849 –1903), một nhà thơ người Anh đã nói; “Thi sĩ, không ai có thể làm nhục được hắn ngoài chính hắn” “I am the master of my fate. I am the captain of my soul”. “Tôi làm chủ số phận đời tôi. Tôi làm chủ tâm hồn tôi!”)

Ðể sống sót, dũng cảm bước ra từ những chấn song của nhà tù, một mình “Ta về’ trên con đường vắng, như một biểu tượng của chiến thắng hận thù.

Và bài thơ ‘Ta về’ ra đời như thế đấy! “Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp…Mười năm mặt sạm soi khe nước. Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.”

Quân thù gian ác hành hạ vẫn không thể bẻ gãy được ông; vì: “Mười năm ta vẫn cứ là ta”

o O o

“Ta về như lá rơi về cội. Bếp lửa nhân quần ấm tối nay. Chút rượu hồng đây xin rưới xuống. Giải oan cho cuộc biển dâu này!”…Hãy kể lại mười năm chuyện cũ. Một lần kể lại để rồi thôi!”

Ông, từ Bắc xuôi Nam, trở lại quê xưa: “Nhà cũ mừng còn nguyên mái, vách. Nhện giăng, khói ám, mối xông nền. Mười năm, con đã già trông thấy. Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu.”

Người vợ như ‘Hòn Vọng phu”, mười năm hay cả ngàn năm, vẫn trông chồng xa xôi ngoài cõi Bắc:“Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng. Chờ anh như biển vẫn chờ sông. Ta gọi thời gian sau cánh cửa. Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu”

Bởi: “Ðau khổ riêng gì nơi gió cát. Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm!”

Tô Thùy Yên lại trở về với Thơ: “Ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa. Ðọc lại bài thơ thủa thiếu thời. Ai đó trong hồn ta thổn thức. Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi!”

Tô Thùy Yên tiếp tục làm thơ, không ghi tên, nhờ một người quen đem một bài thơ ra nước ngoài cho bạn bè thân quen đọc. Không ngờ những nhà văn học hải ngoại lại bình thơ của ông công khai trên báo chí.

Vậy là: năm 1991, Công an trong nước biết được, bắt giam ông thêm ba năm nữa trong Trại biệt giam 3C đường Tôn Ðức Thắng (trước 75 là đường Cường Ðể), gần sông Sài Gòn.

(Giở lại lịch sử, chúng ta đều biết rằng: năm 1989, ngày ‘Lục Tứ’ (4/6/1989), Cộng sản Trung Quốc rung rinh bên bờ sụp đổ do cuộc biểu tình rầm rộ của Sinh viên Trung quốc đòi tự do trên quảng trường Thiên An Môn, thủ đô Bắc Kinh.

Cũng chính năm 1991, Cộng Sản Liên Xô sụp đổ! Những nước Ðông Âu thoát khỏi gông cùm xiềng xích; nên Cộng Sản Việt Nam bàng hoàng run sợ, tăng cường bắt bớ, đàn áp nhân dân, hy vọng dập tắt mọi phản kháng để chế độ CS được sống còn.

Làm thơ dính chặt với cái nghiệp ‘tù đày’. Ðã mang lấy Nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa; ông phải khăn gói đi tù thêm hai lần nữa.

Và bài thơ: ‘Thức giấc trong biệt giam’ của Tô Thùy Yên ra đời như thế đấy:…Phòng biệt giam tối mốc thấp hẹp. (Ta ở đây. Hơn bảy tháng rồi)…

…Ta nhìn lên những dòng chữ trên tường. Viết bằng gạch, bằng than và hình như bằng cả máu. Những phẫn nộ, quyết tâm, nguyện cầu, ký thác, than van. Ngày tháng năm, tên họ…Của những người ở trước. Nay về đâu?

…Căn phòng này hồi trước nhốt Việt cộng. Bây giờ nhốt phản động…

Lịch sử đổi phiên người gác ngục. Lúc giày đinh, lúc dép râu!”

Quả lịch sử chỉ là những con người thay đổi lớp áo. Như bà con mình sau 75 thường nói: “Trời làm một trận lăng nhăng. Ông hoá ra thằng, thằng hoá ra ông!”

o O o

Là một sĩ quan Tâm lý chiến, chắc hẳn nhà thơ mặc áo lính Tô Thùy Yên thừa biết trong chế độ độc tài toàn trị của CS thì:

“Don’t think. If you think, then don’t speak. If you think and speak, then don’t write. If you think, speak and write, then don’t sign. If you think, speak, write and sign, then don’t be surprised!”

“Hãy đừng nghĩ. Nếu anh nghĩ, thì đừng nói. Nếu anh nghĩ và nói, thì đừng viết. Nếu anh nghĩ, nói và viết, thì đừng ký. Nếu anh nghĩ, nói, viết và ký, thì đừng ngạc nhiên”.

Biết vậy nhưng nhà thơ Tô Thùy Yên vẫn làm thơ rồi lại bị tù đày cho đến khi tới được đất nước Hoa Kỳ vào năm 1993.

o O o

Ðiều lý thú là thơ Tô Thùy Yên cũng làm các nhà phê bình văn học phía bên kia chiến tuyến rất thán phục. Rất dễ hiểu là vàng óng áng thì một thằng ‘ngu’ cũng biết được đó là vàng.

Thán phục nhưng vẫn cố chụp cho ông một cái mũ: “Tô Thùy Yên là chủ tâm sử dụng khá nhiều ngôn ngữ Nam…rặt. Chữ của ông đơn giản, mộc mạc, những hình ảnh thuần Việt quê mùa” cho đúng với đường lối của Ðảng là không được phép ca tụng quân thù.

Theo tôi, Tô Thùy Yên chẳng có chủ tâm làm thơ ngôn ngữ Nam rặt bao giờ. Lẽ dễ hiểu, ông là người Sài Gòn tất phải làm thơ bằng tiếng Mẹ đẻ, tiếng của người dân Sài Gòn.

Nhà thơ Tô Thùy Yên từng thú nhận là: “Dẫu có được sửa tới sửa lui bao nhiêu lần, khi đọc lại, tôi vẫn cảm thấy hình như chưa phải vậy. Tôi rất dễ bị ray rứt, dằn vặt chỉ vì một tứ chưa ổn, một chữ chưa đắc”.

Ông cẩn trọng và cầu toàn; dù chúng ta ai cũng biết là làm một bài thơ hay đến độ không có một khiếm khuyết nào là chuyện bất khả.

o O o

Bài thơ ‘Ta về’ là ‘chúng ta’, là cả triệu người miền Nam đã sống qua cơn mộng dữ. Thơ không chỉ cho một thời mà cho cả nhiều thời, không của một người mà của muôn người. Của muôn người thì biết bao nhiêu điều phải dàn trải nỗi đớn đau khi miền Nam lọt vào tay CS, nên Tô Thùy Yên, dẫu rất mực tài hoa, cũng phải than rằng: “Ta tiếc đời ta sao hữu hạn. Ðành không trải hết được lòng ta”.

Tô Thùy Yên như cái kiếng vạn hoa, mỗi lần đọc lại ta thấy một hình ảnh mới cũng rực rỡ không kém.

Một năm ngày ông bỏ ra đi; chúng ta lại nhớ tới Tô Thùy Yên!

ĐXT

Melbourne

Thằng Út Hợi!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on April 7th, 2021

Post by Sơn râu 22 Mar 2024

Út Hợi, tuổi con heo, lớn hơn tui tới bốn tuổi, nhưng lại là bạn chung một lớp, ngồi chung một bàn; vì nó học hơi ‘bị’ dở. Trong lúc tui còn mê bắn đạn ‘cu li’ thì Út Hợi mê rượt theo gái.

Năm 1968, Tết Mậu Thân, thi Tú tài Một, tui đậu còn Út Hợi thi rớt. Út Hợi biến mất. Bảy năm sau, năm 1975, Út Hợi như hồn ma bóng quế trở về.  Tui đi tù cải tạo còn nó làm Chánh văn phòng Huyện ủy mà Tía nó đang làm Bí Thơ.

Ðó là chuyện hồi xưa! Nhưng cách đây chừng một tháng, sau một chầu nhậu đã đời với mấy thằng cùng khóa 4/72 Thủ Ðức, tui kêu ‘Uber’ để về nhà. Tài xế là một ông già đầu đã bạc phếu nhìn tui lom lom rồi la làng:

“Mầy là thằng Thu ‘ca’ phải không?”

(Thu ‘ca’ nói lái là bí danh thời đi học của tui; chỉ có những thằng bạn chí thân mới biết). Tui vốn là một con người gia giáo, quen cái thói kính lão đắc thọ, bèn hỏi lại:

“Thưa! Cụ là thằng nào?”.

“Tao là thằng Út Hợi đây!”

o O o

Rồi hôm qua, trời Melbourne u ám, mưa tầm tã vì ảnh hưởng lụt bão từ tiểu bang New South Wales. Tui ngồi một mình nhổ râu, buồn; vì không có ai kêu tui đó? Bất ngờ tiếng chuông reo, tui mở cửa thì thằng Út Hợi đứng chần vần trước cửa.

“Mưa lạnh quá! Cho tao vô nhà đi!”

Nói nào ngay tình bạn học của tui với Út Hợi sau biến cố 75 giờ đã khác. Nước sông nước giếng không thể nào hòa lẫn với nhau cho được, nên lòng tui không hào hứng lắm. Nhưng không cho nó vô nhà trong thời tiết khắc nghiệt như thế nầy thì mình làm vậy cũng hơi bị ác!

Truyền thống ông bà mình để: khách đến nhà không gà thời vịt nên tui lui cui xuống bếp xào một dĩa thịt bò nghi ngút khói. Thằng Út Hợi khui chai ‘Ông già chống gậy’ ‘Johnny Walker’, rót đầy hai ly rồi nói:

“Dẫu muộn nhưng nếu ngoan cố, không xin lỗi mầy thì chết tao không nhắm mắt! Tao có hai cái lỗi lớn lắm. Một là cái vụ truyền đơn của tao bỏ trong hộc bàn hồi thời mình đi học, làm Cảnh sát Ðặc biệt cứ điều tra, kêu tới, kêu lui làm phiền nhiễu tới mầy!” Hai là cái vụ em Lìn!

“Truyền đơn không phải của tao thì tao cóc có sợ! Mà hồi xưa đi học mầy tên là Hồ Út Hợi mà sau 75, mầy lại tên là Hồ Hởi”

“Tao là con một nhưng Tía tao muốn lót chữ Út để hăm he Má tao là đẻ một thằng thôi! Phải trung kiên với Cách mạng! Không được léng phéng với ai để đẻ thêm đứa khác! Còn tên Hợi, Tía tao cho là quê mùa, dốt nát quá nên Tía tao đổi tên tao thành ‘Hồ Hởi’.

Hồ Bá Chữ là Tía tao, trong bưng ra làm Bí thơ huyện ủy. Bá chữ (trăm chữ) nhưng Tía tao chỉ biết một chữ ký tên. Tao làm Chánh văn phòng huyện ủy để đọc văn thư cho Tía tao nghe. Sau đó, ổng chỉ có việc ký tên”

Rồi Tía tao muốn tao lấy em Mười Thập, con của đồng chí Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy, là cấp trên của Tía tao.

“Tía cưới vợ cho con để nhà mình tăng ‘thu nhập’. Má mầy cũng có hai dây ‘hụi nghĩa’. Tiền bạc, mầy khỏi có lo!”

“Hụi nghĩa là cái giống gì vậy Tía?”

“Hụi nghĩa do Má mầy, bà Bí thơ huyện ủy làm chủ, hụi viên chỉ đóng mà không bao giờ được hốt, giống như hụi đã chết rồi!”

“Hụi viên nào mà ngu quá vậy?”

“Mấy tay Bí thơ xã nó không ngu như mầy tưởng đâu. Nó mua cái ghế của nó! Ai sống mà không ăn? Ai mặc áo mà cái túi may ngược chúc xuống bao giờ? Giáo dục của Mỹ ngụy làm mầy ngây thơ, trong sạch quá hèn chi không thua trận sao được?”

Tranh Bảo Huân

o O o

“À mầy còn nhớ em Lìn hông Thu? Tao khoái em Lìn lắm! Nhưng em Lìn chỉ chịu đèn mầy. Vì mầy dẻo miệng, ăn nói văn chương, câu cú đàng hoàng trong khi tao phèn thôi hết biết.

Có chức có quyền, tao muốn hớt tay trên, cưới em Lìn của mầy; nhưng Tía tao nói: “Thằng Ba Són thuộc giai cấp bóc lột… Không được!”.

“Bán thuốc Tây mà bóc lột cái giống gì?” Tao cãi lại. Tía tao đập bàn nói: “Mầy cãi thì tao chết!” Rồi Tía tao chết thiệt! Ổng ôm ngực kêu đau quá. Tao rót cho Tía tao một ly nước. Nước chưa trôi qua cổ họng thì Tía tao mắc nghẹn, mắt trợn trắng trợn dọc, kêu ằng ặc rồi đi luôn. Mặc cảm tội lỗi vì làm Tía tao đi bán muối nên tao đành cố quên Lìn để đi cưới vợ!

Sau lễ Tuyên bố (CS hổng có kêu đám cưới đâu nhe), em Mười Thập lên lớp tao là: “Cách mạng yêu là phải nhìn về chung một hướng. Nên đêm hợp cẩn giao bôi, nằm trên giường, em Mười nhìn lên trần nhà và tao cũng vậy. Yêu nhau hổng nhìn nhau mà nhìn về cùng một hướng thì còn mần ăn gì được nữa?

Lửa lòng tao đã tắt ngúm từ đêm đó. Còn em Mười thì lạnh băng như nước đá. Ðể cứu vãn hôn nhân rệu rã trên bờ sụp đổ, tao tìm mọi cách, kể cả dắt vợ tao đi chơi quần vợt để hâm nóng tình tao.

Một hôm, chơi quần vợt, đồng chí Mười Thập, vợ của tao giao bóng luôn ăn điểm, hổng hụt trái banh nào.

“Trời đất! Trước đây, anh chưa bao giờ thấy em giao bóng hay như thế!”

“Nhờ mấy anh bên Thường vụ tập huấn cho em đó!”

Về nhà vợ tao bưng ra một dĩa thịt bò ‘Kobe’.

“Ngon! Trước đây anh chưa bao giờ thấy em làm ‘beefsteak’ ngon như thế! ‘

“Nhờ mấy anh bên Thường vụ tập huấn cho em đó!’’

Ăn xong, đồng chí vợ nháy mắt và cả hai đứa tao bèn đi lên lầu. Mười phút sau, mệt quá xá, tao nằm lăn ra thở hổn hển: “Quá đã! Trước đây, chưa bao giờ thấy em nóng bỏng như thế!” Con vợ tao: ‘Nhờ mấy…” Em chưa dứt câu là tao nói: “Anh muốn ly hôn!”.

Trong lúc chờ Huyện ủy chấp thuận cho tao thôi vợ thì bất ngờ Lìn mời tao đi rước dâu tuốt ngoài cửa Ba Ðộng Vĩnh Bình. Tao gật đầu nghe cái cụp. Bà con của em dưới ghe nói toàn tiếng Tiều, tao không hiểu gì hết ráo. Thuyền lắc lư, chạm vào da thịt của em làm tao quá đã! Ra khỏi mấy cái cồn cát chìm dưới cửa sông, sóng biển đánh ầm ầm vô mấy hàng đáy. Tao nói: “Huốt Ba Ðộng rồi tài công ơi!”. Bất ngờ một khúc sắt lành lạnh ấn vào lưng tao: “Câm miệng lại! Nhúc nhích là tao bắn”.

Té ra em Lìn dụ tao theo để tụi Công an Biên phòng biết mặt tao, lúc chặn xét không làm khó dễ. Ghe nầy chỉ là ‘taxi’. Còn cá lớn, đang núp lùm chờ sẵn. Lên được thuyền rồi, tụi nó đòi đạp tao xuống biển. “Ðừng cho ảnh mò tôm tội chết! Mang Hai Hợi theo vì sợ mình còn gặp Quốc doanh đánh cá” Lìn van xin.

Bảy ngày lênh đênh trên biển, thuyền cũng tới Bidong, Mã Lai. Chừng vài tuần sau, tối tao đang ngủ, tụi nó trùm mền đánh tao lỗ mũi ăn trầu, cái đầu xỉa thuốc vì tội theo CS. Chính tay Lìn lấy khăn lau máu, nấu cháo cho tao ăn. Tao tưởng bở, tưởng Lìn yêu tao rồi đó chớ! Nào ngờ em thẳng thừng cự tuyệt: “Chăm sóc anh vì tình đồng song năm cũ. Chớ Lìn làm sao yêu một người vô thủy vô chung cho được?”

“Tui vô thủy vô chung chỗ nào? Lìn nói nghe coi!”

‘À trước 75, nhà Lìn đóng thuế hàng tháng cho VC. Anh mua thuốc Tây tuồn vô bưng. Bề (ba) của Lìn biết hết nhưng làm ngơ vì sợ Tía anh chọi lựu đạn khủng bố. Vậy mà chiếm được chánh quyền rồi, Tía anh không biết mang ơn; còn chụp mũ nhà Lìn là tư sản mại bản để tịch thu tài sản mồ hôi nước mắt mấy đời của người ta”.

Sau đó, Lìn đi Mỹ. Mỹ không nhận đảng viên CS; nên tao đành đi Úc. Mấy chục năm dâu biển, tao lại gặp lại mầy đây. “Thu ơi! Tao xin lỗi”

“Tao thì tha thứ cho mầy rồi! Nhưng hổng biết bà con xứ sở mình có tha tội cho Tía con nhà mầy không nữa?”

“Tao biết tội của Tía con tao lớn lắm mà!”.

Nốc cạn hết ly rượu đầy, thằng Út Hợi bật khóc hu hu! Nhưng lòng tui, thú thiệt với bà con, rất dửng dưng, băng giá!

DXT

Bông so đũa.

petruskyaus.net

thơ đoàn xuân thu

Thơ em gởi quê nhà chút nắng,

núi trời Tây Tạng giờ băng tan,

Cửu Long nước tràn bờ, nước nổi,

con cá linh mùa nước lang thang.

Bông so đũa nhà em đã rộ,

cá linh tràn bờ, vượt gieo neo,

đến nhà em, xin bông so đũa,

nồi canh chua con cá quê nghèo.

Em cười nói: “anh ăn bông so đũa

mắc cỡ gì đâu, sao khoái ăn hoài?”

anh lờ khờ, không hiểu lời em nói;

“bông so đũa mình ăn, có sao đâu?!”

Anh giờ biết xa bao mùa nước nổi,

để một lần con cá đã ra sông,

bao lần thèm canh chua muốn chết,

nồi canh chua… chắp chắp…nhớ trong lòng.

Lời em nói: “anh ăn bông so đũa…”

đã bao năm, giờ hiểu ý em rồi,

thì đã trể mỗi người đi mội ngã,

em có chồng, anh lấy vợ… rồi… xong.

Anh thầm trách: “sao xưa mình ngu quá?!”

cá linh tràn đồng, so đũa trắng bông;

nồi canh chua nếu chính tay em nấu,

thì ăn hoài, ăn mãi, tại sao không?

đoàn xuân thu

melbourne.

Bên này sông

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted 03/11/2017 

Post by Sơn râu 22 Mar 2024


Nhà thơ Phạm Nhuận
photo by Phạm Cao Hoàng. Maryland Sep. 10, 2013

Đập Đá qua Vỹ Dạ
Một thời thơ lót đường
Qua không kịp nhịp cầu
Ba vạn ngày mây bay
Đặt chân ngỡ ảo ảnh
Lạ lùng tưởng cố nhân.

Phạm Nhuận Tam Muội Hoả (1)
Thắp lửa câu kệ dài
Quyền năng Om A Hum
Quỷ khóc đến thần sầu
Tóc dài chuỗi tràng hạt
Nhị nguyên này nhất thể.

Ôi cuộc đời vô thường
Bất khả tư nghì đó
Sinh diệt một sát na
Sóng dồn chân bỉ ngạn.

Nhớ bài thơ. Kiếp trước?
Tả buổi rượu chân cầu
“Ta ở bên này sông
Nhớ em chiều rất hồng” (2)
Uống say tiễn hiền hữu
Chén cay ngất, mày chau
Lửa đốt Cổ thành rụi
Đạn vạch nát bầu trời
Một đi có trở lại?
Huế lở vết cắt đau
Cầu gãy đâm dòng sông
Hương thôi trong lệ thuỷ
Uất nghẹn xoá ván bài
Râu hùm những xám mặt
Đời bày ra cháo lú
Chẳng còn ai tụng chú
Ai bạc áo qua sông
Dầm thân trú giông bão
Nguyện giữ lòng thơm thảo
Vui gặp lại người cũ
Buồn rời xa thế thái
Ngươi ở lại phương trời
Ta lênh đênh sương khói (3)
Mắt trừng chừng thấu thị
Đốn ngộ thế kiết già
Lửa vây bủa quanh mình
Thoát cơn mộng phù du
Nghệ sĩ và đạo sĩ
Diệu tưởng ngăn phương trượng
Hư ảo nghịch chân như.

Xưa chiến tranh lửa đốt
Nay cháy rực thân tâm
Thơ thoát ra giới hạn
Mặc hoả hoạn trùng vây
Bằng hữu vây quanh chiếu
Cuộc lữ xem chán chường
Cạn như giọt rượu cuối
Bình không úp mặt chai.

Còn đâu chất hào khí
Một giềng mối sum vầy
Thôi buông bỏ cũng đành
Im bặt lời chia tay
Ngậm bồ hòn trong miệng
Dấn liều qua vực lửa
Tam muội hoả cháy rần.

Kiếp tôi làm ngoại đạo
Mê muội với trầm luân
Đốt trang kinh soi mặt
Văn chương tuyệt bất an
Thấy trước ngọn lửa nung
Xin chỉ chết một lần
Chiều tà vào lò thiêu
Hồi nào giờ lửa nóng
Trẻ lên ba cũng tường
Tam muội hay đèn cầy
Chảy sáp tựa nước mắt
Hờn tẩu hoả nhập ma.

Tôi ở bên này sông
Bèo giạt dưới chân cầu
Ngờ vực luật tuần hoàn
Nước trôi không trở lại
Trường lưu thuỷ một đi
Vô can thiên thượng hoả
Một linh hồn vô xứ
Lạc loài tiếng chuông rơi.

Hồ Đình Nghiêm
mùa Halloween 2017

(1) Tam muội hỏa – tên bài thơ mới nhất của Phạm Nhuận vừa đăng ở trang Phạm Cao Hoàng ngày 31.10.2017
(2), (3) Ý thơ của Phạm Nhuận ngày cũ.

Minh tinh

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 21/01/2019 
Post by Sơn râu 22 Mar 2024

Sau khi tốn tiền trả cho việc điều nghiên phong thuỷ. Huỳnh Thị Mười vét sạch tờ bạc cuối để thuê được căn nhà nằm đúng trên long mạch (?). Mười đi tắm bùn gọi là tẩy trần, tắm suối nước nóng những mong trôi chảy bao vẩn đục tù đọng trong tâm. Mỗi khi nhắm mắt chuẩn bị ngủ ngáy, Mười cắt hai lát dưa leo đắp lên, dăm bữa nửa tháng lại dùng chanh tươi thay chỗ. Sáng đầu ngày điểm tâm nước trà xanh sản xuất tại Đài Loan, ngoài có hàng chữ quảng cáo đọt ngắt tận trên núi cao cô quạnh, lá tinh khiết chỉ biết ngậm giọt sương giăng. Pha trà chớ nên hãm lâu, nước đừng sôi gắt. Bưng tách lên chưa vội uống ngay mà chậm rãi nâng sát mắt cho hơi ấm bốc vào con ngươi trân tráo soi mặt để đồng tử trôi đi ghèn làm màu mắt trông ma mị long lanh sương khói tạo ra biệt nhãn.

Huỳnh Thị Mười tuổi nay đã vừa đụng trần chạm số bốn mươi. Ngần ấy tuổi đời chưa hề biết nắm tay kẻ khác phái, da thịt trinh nguyên chẳng có luồng điện nào tiếp cận làm dựng đứng lông măng gây râm ran nổi hột một rung động tình ái. Những tên đàn ông đó đây có chung lời bình chùng vụng: Thật phí của giời! Thị sống vậy nào khác gì tiên nữ bị vướng phải một lời nguyền, đày đoạ xuống trần lắm oan nghiệt, đè nén ba đào để trôi qua cơn hạn tự mình hành hạ, ngó lơ niềm vui nỗi sướng mà tạo hoá từng gia ơn. Thị là ni cô ôm vung một ngực chật lá bồ đề sáng loà chánh quả chay tịnh, là bà sơ chỉ biết nhắm mắt hôn vào chân chúa rỉ máu trên cây thập tự nặng nề những trang kinh không ngớt mụ mị xiển dương nỗi bình an dưới thế, hiển linh ngay cả người chả thiện tâm.

Căn tu tích luỹ từ đâu nào ai hay, hơi bị hoang đường để dần dà tựu thành cho riêng Mười một ngoại hiệu Cô Mười Không Bù. Canh bạc bày ra, ví như bài cào cộng ba lá lại thành số 10 thì xong om, bù, cháy túi. Chín nút mới hốt bạc. Nhưng ván bài mà Huỳnh Thị Mười khởi xướng làm cái thì tháng ngày cứ việc thu tiền của bá tánh nhẹ dạ liền tay chung, nghiêm cẩn dâng lên vượt mức quy định. Mong nhìn ra sắc diện Mười còn khó hơn gặp mặt nhà quan chuyên tồn đọng đơn trương kiện tụng, bởi cơ quan từ địa phương đến trung ương làm việc thứ Hai đến thứ Sáu trong khi muốn cậy nhờ tới Cô Mười Không Bù giải quyết giúp thì chẳng vin vào thứ nội quy ngày giờ nào sất. Nói tuỳ tiện thì không hẳn, nói do buồn vui xui khiến cũng sai. Chỉ nên vin vào nguồn cơn là Cô Mười nghe theo sự chỉ bày của người khuất mặt nào đó khiến xui. Chưa kể một tháng, vấn nạn kinh nguyệt hành khiến Mười phải bế môn mươi ngày hoặc tuần lễ, thân không sạch thì mất linh vì sự ô uế là thứ mà người cõi âm tối kị. Những đứa học bùa luyện ngãi cũng thế, chúng mà sơ ý lòn cúi băng qua dây phơi áo quần nội y đồ lót của đờn bà con gái thì sẽ bị “bà vật” ngay. Thế mới khiếp vía. Vậy mới đắc địa, ngôn từ cô đã phán ra, lời lẽ đó mang đủ uy lực. Thiên cơ bất khả lậu nhưng Cô Mười đã thế thiên hành đạo, rộng lòng vén mở, lộ hàng, bày đường chỉ lối.

Thời gian đầu khởi nghiệp, người ta chùng lén trông trước ngó sau khi đến gõ cửa Huỳnh Thị Mười chỉ nhắm tới chuyện gỡ rối tơ lòng tình duyên gia đạo, hoặc xem chuyện hùn hạp làm ăn có thành đạt; hoặc chuyến vượt biên sắp tới có êm thắm, có bị sa cơ lỡ vận chịu kiếp tù đày thiên thu giở lịch? Dần dà tiếng thơm lây lan để bây chừ đâm rậm rật, thân chủ đều là người “ngoài ta” nghe danh vang dội lặn lội vào “miền Nam luôn ở trong trái tim” dâng lễ vật lên Cô Mười những mong nhờ cô độ trì chỉ ra nắm xương tàn bị vùi dập khuất nẻo chốn rừng thiêng nước độc trong giai đoạn trường kỳ chống Mỹ “sinh Bắc tử Nam” ra đi chẳng hẹn ngày về.

Lạ, máy dò mìn cần mẫn rà soát khắp cánh đồng hoang dại đôi lúc cũng bỏ sót một vài vị thần chết đang say ngủ chờ cù lét đặng kích hoả máu đổ thịt rơi, chó đặc nhiệm có biệt tài đánh hơi hàng ma tuý dàn đội hình cả bầy ở phi cảng lắm khi cũng le lưỡi ra ngửi không xong một kiện hàng giá nửa triệu đô vừa ung dung lọt vào tay người nhận ở sân bay Nội Bài. Vậy chớ Cô Mười Không Bù mỗi khi đã xăm xăm đi vào rừng rậm hổng ke cọp beo rắn rít mai phục, cô dong tay chỉ tới đâu trúng ngay chóc chỗ đấy. Phu phen được thuê cứ thế mà đào xới liên hồi kỳ trận. Hoạt cảnh tiếp theo là nhang đốt từng bó mù trời, râm ran điệp khúc Nam mô quán thế âm bồ tát; bà con tháp tùng trải tấm ny-lông ra đặng liền tay hốt lấy hốt để một bộ xương trắng hếu thôi cách trí vùi sâu dưới ba tấc đất, lạnh tê sự biểu cảm.

Xương chất thành núi máu chảy thành sông là chuyện ngày trước, bây chừ đất nước đã im tiếng súng, bá tánh một mực cắm đầu tìm đủ mọi cách để gom tiền thành núi cho dù mồ hôi xuất hạn có chảy thành sông. Thiên hạ ra sao thì Cô Mười cũng theo nguyên bổn, cái khác biệt là Mười Không Bù không đời nào phải đổ mồ hôi trộm, thân thể mãi khô queo, thích rịn ướt cũng khó. Việc di chuyển vào rừng luôn có võng lọng chầu chực khiêng đi chỉ thiếu ngựa anh đi trước võng nàng theo sau. Đi như nhàn cư vi có việc, dời thân như làm cuộc dã ngoại, như thoải mái lên rừng đếm lá. Về lại nơi xuất phát thì lá kia biến đổi thành bạc giấy xanh, là đồng cứng, nôm na là đô la Mỹ, khúc ruột của kẻ cựu thù. Lạ, Việt Nam đồng thì chỉ được tiêu pha ngay trên cuộc đất hình chữ S thôi, sẽ ma chê quỷ hờn nếu giả bộ lấn sang khu vực bạn láng giềng tìm cách cả vú lấp miệng em; nhưng nhét được bạc của thằng Mỹ một cục sau đít thì “đồng chí” có thể chu du khắp cõi địa cầu để làm mưa làm gió, thứ thông hành mà hang cùng ngỏ hẹp nào cũng hơi bị hoan nghênh. Tóm tắt là trần gian này chưa hề lãnh cảm với thứ bùa chú kia. Câu thoại “bộ có đô la rồi ưa làm cha thiên hạ hả?” chưa hề sai trật. Cha mà nói làm gì, làm ông cố nội cũng được nữa là!

Điều mà Mười vấp sai lầm trong lúc mần ăn là sự cả tin, không dè tới giá trị của câu “hữu xạ tự nhiên hương”, do thế ong ve tha hồ vần vũ bu vào đòi chấm mút. Không dưng mà rẻo đất Mười sống thay phiên đẻ ra lắm ngài Thổ địa, mặt mày ông nào ông nấy thảy chằm dằm như kiểu suốt đời bị vợ rầy rà. Tuy xót ruột chút đỉnh nhưng Mười sẵn lòng sắm đủ 10 cái phong bì để đút lót bôi trơn cho êm cuộc lữ, nghiệt một nỗi là Thổ địa số 11 vẫn nhắm mắt làm ngơ. Ai bảo giấy bạc thơm tho? Ta đây không thích rớ tay vào cái tanh tưởi của đồng tiền. Vậy bác muốn Mười này dâng lễ vật gì ạ? Lòng ta những muốn liếm láp thử ăn tươi nuốt sống thân xác của em. Bình thường ta vẫn vui vầy với các cháu độ tuổi 13, 14; nhưng 40 mà vẫn còn trinh như em thì thật là một kho báu thu giữ nhiều quyến rũ hấp lực. Ta không tiên hạ thủ vi cường nhằm đóng mộc lên con tem lạ thì uổng phí một đời theo cách mạng lắm thay!

Đờn bà con gái mỗi khi chẳng may bị lọt vào tay của hung thần thì chỉ biết thở dài đánh sượt: Tui như con cá quằn quại trên thớt, muốn chém muốn giết tuỳ ý, muốn làm tình làm tội thì làm hối đi cho tui nhờ. Riêng Mười là ngoại lệ, chữ trinh đáng giá hơn cả ngàn vàng, bởi Mười từng khấn nguyện cùng thần linh, con sẽ giải nghệ hoặc lãnh chịu nhiều đớn đau nếu để cho thằng đàn ông quỉ tha ma bắt nào đó xâm phạm bờ cõi, cưỡng hiếp nhầy nhụa đi vào người con.

Mười sửa giọng với quan mang ám số 11: Lạ ghê nơi, năm trăm đô mà bác cũng chê ỏng chê ẹo. Vậy thì để con thưa như này, phàm làm việc gì mà đột xuất quá e sẽ mang lại cái không ra đầu ra đũa chẳng tới bến. Muốn đạt hiệu quả phải nương nhờ vào lắm phụ kiện… Ý của em muốn nhắc khéo ta? Khỏi lo xa, khi rắp tâm tới chốn vui vầy loan phụng ta đã thủ sẵn trong túi gói nhân sâm bổ thận hoàn, chỉ cần nửa canh giờ hẵng sẽ phổng phao rồng vén mây phun nước đề huề gia ơn. Mười cười: Í, ngộ hén, để con đi thắp cây nhang thế giờ giấc hành sự đồng thời tranh thủ lui nhà sau dội qua miếng nước mần vệ sinh cho mát mái chèo phục vụ dê chúa. Lời em nói thiệt hợp bụng ta, sẵn bưng ra cho ta chén trà để nuốt trôi phương thuốc gia truyền nhất dạ lục giao sanh ngũ tử.

Mười vén tấm màn nhựa vẽ cảnh chùa Một Cột ngăn chia hai địa phận, lui nhà sau cởi quần bức đúng 9 cọng lông đốt cháy cùng 2 trái bồ kết đã giòn khô, xong đem nghiền vụn trong tô, nhỏ vào đó 10 giọt mật ong, 1 thìa bột tofu rồi khuấy tan cùng 8 muỗng canh rượu đế ngâm nguyên con rắn hổ mang quán nhậu nào cũng có bán hàng đặc sản. Đi kiểu mình xà bưng ra mà xiêm y cố tình lơi lỏng việc đậy đằng chưa tiện lộ hàng. Mời ngài nhấp chén ly bôi. Ngài đón nhận: Thức gì đây cưng? Cái này sẽ giao duyên cùng thuốc ngài uống, huyệt đan điền sẽ nóng giúp ngài vận đủ mười hai thành công lực. Đã không chơi thì thôi, chơi phải không sợ mưa rơi. Đối tượng chả cần lả lơi, thuốc hiếm giúp người giỏi bơi, nhìn đời hết chơi vơi, chiếu giường tơi bời nóng lòng xơi.

Ông quan thanh liêm chả thích ăn hối lộ quyết không mờ mắt trước mãnh lực đồng tiền chiêu cạn chén thuốc đắng. Em nói đúng, thần diệu thay ta đang nghe rạo rực chuyển biến trong người, tim co thắt quá xá quà xa. Em giỏi việc liên hệ thắm thiết với người cõi âm vậy chớ em biết học thuật phân thân không? Sao dáng em thoạt gần thoạt xa sương khói rất mực. Em đứng đó mà ta đếm ra hai ba bốn, toàn cả ảo ảnh ma mị quay mòng. Đến gần cho ta ôm cái nào, để biết chắc là đang sở hữu lấy em…

Bác í lảm nhảm, khói thôi vương trên đầu cây nhang tàn rụi thì miệng bác sùi bọt mép, hộc ra một búng máu bầm đen. Trước khi đớn đau dẫy dụa trên nền đất chuẩn bị đi gặp Các-mác Lê-nin, lùng bùng con ráy hứng lời cô Mười nghe tợ gió thoảng: Hừ, rượu mời không uống lại đi uống rượu phạt!

Huyện đường xôn xao vì sự vắng mặt dài ngày khuất tất mờ ám không chịu báo cáo cơ quan của người từng hét ra lửa. Nếu chục năm sau đẻ ra một nhà ngoại cảm mới, e vị tài ba nọ sẽ xẳng xái tới gõ cửa địa bàn ngày trước có cô Mười từng thuê ngụ, chỉ tay vào vuông đất nhà bếp phán: Ảnh lạnh lùng dơ xương nằm ở dưới. Không tin hả, nói sai thì chặt đầu con này đi. Đồ một bọn người trần mắt thịt luôn cà chớn, giỏi cà lăm, ưa cà khịa, thích ăn mắm cà, chẳng ngán cà chua có bôi hoá chất, chỉ giỏi cà gật cà tàng.

Mười năm trồng cây trăm năm trồng người thì hơi bị lâu. Dù gì công an xứ này nổi tiếng thế giới về việc phá án, chỉ cần mất có bốn hôm tổ trọng án đã vói tay tới sờ gáy cô Mười. Thêm hai bữa kiên trì đấu tranh trong phòng biệt giam, thần linh đã trả Mười về lại đời thường, chữ đương đại kêu bằng thành tâm hối cải khai nhận, bắt đúng người đúng tội. Giết người cấp độ một, Mười sẽ nhập kho ngồi giở lịch 10 niên, nhưng toà bảo kẻ bị hại vốn là con cưng của chế độ ưu việt nên ta phải chồng cho sát thủ thêm một chục nữa, vị chi là đủ số hai mươi. Dị là khoan hồng lắm rùi, chớ bùn nha, hổng có la chít mịa, nhớ?

Mười lẳng lặng leo vào xe bít bùng để cho họ tha tới một trại tù khuất nẻo cô quạnh hằng hà nào đó. Cánh cửa tăm tối đầu tiên đóng lại kêu cái rầm. Xe gầm rú lắc lư quẹo trái xiêu người quẹo phải ngã chúi lệch thân. Mười rưng rức hát thầm: Khi anh hai mươi em mới sinh ra đời, ngày anh bốn mươi em cũng vừa đù má…

***

Trần Trang Trọng thoát cũi sổ lồng vào buổi trưa. Thằng này đi tù chắc vì mang tội lường gạt hay sao á mà khi hắn kể “chuyện đời cô Mười” nghe trơn tru ngọt như mía lùi, miệng lưỡi hắn có quen thói bịa đặt, có thêm mắm dặm muối không ta? Lôi cuốn lắm nha! Quán cà phê bụi giấc trưa thường vắng, vì vậy cả cô chủ lẫn em phục vụ đang quỡn cứ ngồi bó gối há miệng ra mà nghe, say sưa hơn cả ai kia tám chuyện “Con ma vú dài” hoặc “Con ma nhà họ Hứa” hoặc “Đồi thông hai mộ trinh nữ”. Uống cà phê đi anh, cho thông cần cổ, tụi này hổng lấy tiền đâu. Hút thuốc đi anh, xem như của chùa, bà con mình từng đổi lời: trầu cau mần chi, để cà phê thuốc lá làm đầu câu chuyện. Mà chiện anh kể coi bộ tới hồi mặt trời đi ngủ mới chịu hạ màn lun.

Cạn giọt cà phê cuối thì còn cục đá vụn, Trang Trọng nhai nó rau ráu rồi mồi lửa điếu thuốc thứ hai, phun khói mờ mịt che lấp biển nội quy “muốn rít tóp má tự sướng yêu cầu ra đứng ngoài hiên cho bà con thôi nhiễm độc”. Ông nội này mà kể chuyện đời xưa cho bọn nhóc tì lên giường nằm đắp chăn thì e rằng chúng thức suốt năm canh, hồi hộp quá mà, mắt trao tráo, ngủ nghê cho thét cho muồi mần chi được với tuồng tích kia. Ngay cả “Công chúa ngủ trong rừng” cũng lồm cồm bò dậy dỏng tai lên bị hoàng tử còn lâu mới phi ngựa chạy vô đánh thức cho xong duyên nợ.

Giọng Trang Trọng vẫn rề rà: Tội phạm nam cách khu nhốt tù nữ một khoảng đất dùng làm nơi trồng trọt hoa màu sắn khoai rau rác tự biên tự diễn tự thu hoạch. Để phân lô, định vị giữa đôi đàng nam nữ thọ thọ bất tương thân, ban quản ngục “chơi” một cái hàng rào bằng dây kẽm gai kiên cố kiểu mắt cáo, nhỏ cỡ con thỏ chui qua hổng lọt. Chim sẻ thì ô kê chớ bồ câu lạng quạng phá rào đôi cánh cũng bị dính chấu vùng vẫy rụng lông mãi không thôi. Yên vị vô chốn tù đày rồi mà tiếng tăm cô Mười vẫn còn dây dưa, lắm ẻm vây quanh nguyện làm đệ tử một dạ răm rắp nghe lời cổ sai bảo. Trong tù ngay cả tù nữ thì tự hồi nào tới giờ luật bất thành văn vẫn hiện hình một đàn chị rất mực quyền uy máu lửa, rất có số má. Chị Tám Ngầu nọ vô tình mà thấy mình bị làm nhục, gai con mắt khi ngó ra cảnh chộn rộn do Mười gây ra liền ngày một ngày hai chui vào khu Mười “định cư” hạch chuyện. Vắn tắc thì Mười đã lọt vô mắt đểu của chị Tám Ngầu, biết Mười còn trinh đàn chị sinh lòng tương tư tối lửa tắt đèn bèn dùng vũ lực lột truồng bộ đồ sọc đen trắng đặc thù ra đặng hiếp dâm Mười không khoan nhượng. Mười chẳng kháng cự vì bí kíp võ công Mười có trước đây chỉ cảnh báo răn đe là chớ để đàn ông phủ người gây ô uế xác thân, đàn bà cùng chủng loại thì có sao đâu mà sợ mất linh. Tám Ngầu bú mồm Mười, Mười đê mê. Tám Ngầu bóp dú Mười, Mười rên khe khẽ. Tám Ngầu thọc tay mân mê hạ thể Mười, Mười co rúm lại sảng khoái nghe thần hồn phiêu du miền cực lạc. Tuy khung cảnh chẳng thể tạo dựng được phòng the nhưng đàn chị Tám Ngầu dõng dạc tuyên bố: Ta là chồng mà em Mười đích thị là vợ của ta vậy. Ta đợi em từ mười hai năm nay, số kiếp đã vầy nên một cặp đôi hoàn hảo dù số đo ba vòng của em coi bộ nhỉnh hơn ta đôi phần, điện nước ta chẳng đầy đủ bằng em. Từ rày trở về sau, con quỉ cái nào đụng tới em thì hẵng phải bước qua xác con Tám này. Giang hồ trao cho ta chữ ngầu đi theo làm biệt danh thì ta sẽ ngầu cho tới chết, nói thế nghe êm không cưng. Mười nhoẻn miệng cười. Ủa, ai có ngờ đâu đời con Mười này mà có khi cũng nên duyên vợ chồng như thiên hạ, hi hi hi…

Em phục vụ thôi há miệng ra, say sưa ngó Trần Trang Trọng: Vợ chồng kiểu đó coi bộ suốt kiếp hổng có mụn con nào cả, anh hí? Tiện lợi quá, đâu ai quỡn uống thuốc ngừa thai mí lị đi cột buồng trứng. Vậy chớ sinh hoạt bên kia hàng rào kẽm gai ngăn cách đã có khi nào anh trông ra dung mạo cô Mười, vợ của chị Tám?

Trọng dụi điếu thuốc: Như cơm bữa, nào riêng tui cả đám bạn tù nam từ già đến trẻ đều tìm cách lân la tới sát biên giới để rửa mắt cận cảnh.

Chim sa cá lặn không anh? Có trông sao sao mờ?

Ui. Dân mình thì ai cũng buồn nhiều hơn vui nên chi đẹp xấu cũng tuỳ người đối diện.

Trang Trọng vừa nói vừa cởi ba hột nút nơi chiếc sơ-mi in hình chim cò, hắn muốn vạch áo cho hai cô ấy xem thể hình. Ngực hắn có xăm trổ khuôn mặt một thiếu phụ tóc ngắn, mắt bồ câu mũi dọc dừa môi trái tim. Khi hắn gồng tay, cơ bắp chuyển động làm khuôn mặt kia như biết mở miệng cười bên số 10 co giãn.

Í, ngộ hén. Phải bóng cô Mười đó không? Ngó linh động phát khiếp!

Còn ai trồng khoai đất này! Mất cả tháng trời chưa tính quà cáp biếu xén cho thằng nghệ sĩ nhí ngoài đời chuyên xách động chuyện đi biểu tình nọ, hắn mới động lòng gia công vén tay tạo thành tác phẩm độc cô cầu bại này. Bọn tù chúng tui tin rằng xăm ảnh cô Mười trước trái tim mình e cuộc đời sẽ thấy ánh sáng cuối đường hầm, một ngày kia.

Thế bên ngực phải thì sao? Có ghi hàng chữ gì thế?

Ơ, tầm thường thôi. “Xa quê hương nhớ Mẹ hiền”.

Anh còn má không? Bả ở đâu? Làm gì mà phải xa quê hương?

Nếu không có gì đổi thay thì má tui về quê ngoại ở Vĩnh Long để nương thân cửa Phật. Bả cũng từng ngồi tám tháng trong trại phục hồi nhân phẩm mà nhà nước định tội: Tú bà. Chữ này nghe lạ không? Là má mì đó, là chủ chứa đó, dưới trướng má luôn có chừng tiểu đội ma nữ phục vụ tàu nhanh tàu chậm hòng làm vui vẻ cuộc đời.

Qua xong màn phỏng vấn của em phục vụ, tới phiên bà chủ quán cà phê Cô Chủ Mồ Côi:

Tui hỏi anh Trang Trọng câu này nhen, anh mang tội gì mà phải trần thân chui vô trỏng?

Chà, chuyện này dài hơn cả trường thiên tiểu thuyết lắm khúc mắc nhiều chương hồi khó gỡ rối lắm nha.

Sỡ dĩ tui hỏi việc tế nhị nhạy cảm ấy là vì muốn biết trong người anh có tồn đọng đôi phần máu lạnh? Anh từng xuống tay cho người ta vết sẹo mần kỷ niệm nhớ đời chưa? Thấy quan tài mắt anh khô hay đổ lệ?

Hề hề, chị hỏi y như công an hỏi í. Khó giả nhời ghê nơi!

Thưa thiệt là thế này nhớ, chuyện mần ăn ở đây chúng em rất chi là cơ khổ. Bị sách nhiễu trấn lột đủ điều. Mấy chú xe ôm thương tình đưa ra cao kiến, là cô chủ mồ côi nên tìm ra người bảo vệ, người chuyên đi đòi nợ giùm, chốt lại là tuyển người từng dãi nắng dầm mưa quen gió bụi bùn lầy trong giang hồ, vô ngại việc ăn cơm tù mòn tay đếm lịch, có vậy mới an tâm chống đỡ luật trường tồn trong thế giới đảo điên.

Ba mươi giây. Chiện nhỏ. Thằng Trang Trọng này rất ghét những đứa chuyên ăn hiếp kẻ thế cô, thấy người ta đàn bà con gái tay không tấc sắt rồi tìm cách gieo máu lửa. Nhưng hãy hoãn đãi năm bữa nửa tháng, có đặng không? Cho kẻ hèn này xuôi quê tìm ra má mà xuống sáu câu han hỏi. Sinh ra má là bà ngoại mà đẻ ra thằng mang tên chảnh Trang Trọng này chính là má vậy! Cho tui hát một lời: Má ơi, con dìa đây má ơi… Má đã hoàn lương mà thằng con má vẫn sân si bước tiếp. Bảnh như con cá cảnh.

Em chuyên việc rót nước dâng cà phê cho bá tánh thiếu đường chảy nước mắt, trong khi bà sếp thương hiệu “Cô Chủ Mồ Côi” lận lưng quần dây thun ra cọc tiền tơi tả cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam. Cô đếm tới số 500.000 thì trao vào tay Trang Trọng:

Cầm tạm chút bổi này mà đi đường ăn dè ăn xẻn. Cô Mười trên ngực anh có linh thiêng thì giúp anh sớm gặp được má, gặp xong thì nhớ quành trở lui cho bọn mồ côi đủ thứ này được yên tâm mần ăn.

Trần Trang Trọng đứng lên, tay run khi nhận tiền, đôi mắt hắn chừng như sắp ứa lệ. Không hẹn mà cả ba cùng nhóp nhép: Tạm biệt…

Hồ Đình Nghiêm

Lời xin lỗi

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 07/08/2018

Post by Sơn râu 22 Mar 2024

 Tôi xin lỗi cháu, nhân vật chính của bức hình trên. Ảnh đã cũ, hình như đôi ba năm về trước. Tôi lấy xuống từ một trang mạng mà hồ đồ quên chú thích ngày tháng cùng tình huống “lỡ xẩy ra” khiến cháu phải chịu đứng trước vành móng ngựa. Tôi xin lỗi vì không ghi lại tên cháu, để nhớ. Và tôi thành thật xin lỗi không biết cách để xin phép sự thuận lòng của cháu trước khi tự tiện dùng lại tấm ảnh này.

Nguyên cớ khiến tôi táy máy muốn lưu giữ bức ảnh cháu lại có thể vì cháu có nét hao hao giống người bạn gái của đứa con trai út nhà tôi. Nước da, đầu tóc hoặc một “dấu vết dị hình” nào tiềm ẩn làm tôi mãi ngờ ngợ. Phải chăng vì thế, một cách rất ư võ đoán (tôi chẳng biết coi tướng số) tôi không tin cháu có “nhân thân xấu”.

Cháu đã làm hại ai để khiến phải bị điệu ra toà? Toà án bên xứ ấy đã tuyên xử cháu chịu bao năm bó thân trong chốn lao lung, mất toi ngày xanh tuổi trẻ đầy nhựa sống. Hậu cảnh trong tấm ảnh bày rõ người hiếu kỳ coi bộ đến đông, ngồi chen chúc bên dưới. Và hình như đó là phiên xử lưu động, dựng lều bạt nằm ngoài trời mát mẻ chứ không diễn ra trong bức bối của huyện đường kín cổng cao tường? Một vụ lường gạt “tình tiền tù tội”? Một trường hợp đánh ghen, lột bỏ hết áo xống nội y tình địch giữa phố lắm người qua lại cho bỏ ghét? Xin cháu bỏ qua nếu tôi nói điều không phải. Nhưng tôi có thể xác tín một chuyện: Cháu không phải “thuộc diện” âm mưu lật đổ chế độ, kêu gào về vấn đề dân chủ hoặc dụng tâm chống đối “bọn giặc bành trướng”. Bởi với tội “tầy trời” như thế, hẳn quanh cháu đã có lắm nhân viên an ninh hoặc lố nhố mấy chú công an mặt lộ vẻ khẩn trương và sau rốt, người dân nào được phép vào ngồi đông chật hội trường thế kia. Tôi chẳng lạ cách hành xử của họ, chó sủa vu vơ nơi này mà mèo dấu cứt nơi kia. Chuyện không có gì phải ầm ĩ ? Lời cổ nhân từng than: Đừng làm náo động thiên cung bởi trời xanh luôn không có mắt!

Cháu là thợ may lao động ở một xí nghiệp xuất khẩu hàng may mặc toạ lạc ở Bình Dương mà chủ là người Trung quốc hay Hàn quốc gì đó? Hay cháu là học sinh trung học phổ thông lỡ bán dâm, đổi tình lấy điểm với các thầy quyền cao chức trọng hòng được vào đại học cho bố mẹ mát ruột? Tôi lại phải xin lỗi cháu, ở xứ đương đại nước mình mỗi ngày xẩy ra cả ngàn lẻ một tội danh khó lần ra động lực gây án. Cỡ tuổi cháu chắc chưa từng làm việc ở nhà giữ trẻ, và trông mặt mũi cháu ắt không đến nỗi “lạnh lùng” bắt bọn nhỏ uống nước ngâm giẻ trong xô dùng để lau bảng đen phấn trắng? Cháu có giỏi về lãnh vực công nghệ điện toán, lắp ráp cài đặt camera ở nhà nghỉ để quây lén cảnh mây mưa rồi đăng clip đồi truỵ ấy lên mà theo điều 326 bộ luật Hình sự họ có thể giam nhốt cháu tới 15 năm tù với tội danh tuyên truyền và phát tán văn hoá phẩm nhớp nhúa hòng bôi bẩn chế độ. Và ngày này năm xưa đâu đã xẩy ra “sự cố” 16 đĩa CD chứa dữ liệu bài thi gốc bị thiêu huỷ tại nghĩa trang ở Sơn La, nhỉ?

Nhưng nói gần nói xa không bằng nói thật, dứt khoát là cháu từng gieo gió để phải gặt bão, đúng không? Và tiên quyết là cháu không biết cách bôi trơn, chẳng linh động học thuộc để thực hành thứ văn hoá phong bì; là lá bùa rất đỗi hiệu nghiệm thế cho động thái “đi với Phật mặc cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Trông mặt cháu lộ vẻ nửa hồn nhiên vô ngại, nửa hoang mang cùng cực. Nửa tin việc mình làm là đúng, nửa hồ nghi tới nền pháp luật vẫn chưa hiểu chữ dân chủ là gì.

Đã lỡ xấu tay “đánh cắp” ảnh cháu từ trang mạng xuống nên tôi cũng được thể để cọp dê luôn mẩu chuyện này, chép lại đây vì trong đầu tôi cứ lợn cợn một ý nghĩ, rằng dung mạo cháu nào khác gì một giáo viên? Chuyện mang tên Tỷ Lệ Nghịch:

Cô giáo bảo học trò: Em hãy lấy một ví dụ về tỷ lệ nghịch.

Trò trả lời: Thưa cô, chống tham nhũng chừng nào thì tham nhũng nhiều chừng đó.

Cô nói: Ví dụ này không tính, em nên đưa ra một ví dụ khác.

Trò: Thưa cô, nhà cán bộ càng giàu thì nhà dân càng nghèo.

Cô: Ví dụ này cũng không được, em lấy ví dụ khác đi.

Trò: Thưa cô, mặt đường càng mỏng thì mặt cán bộ càng dày.

Cô xua tay: Em về chỗ đi, em càng nói càng dài thì sự nghiệp của cô càng lúc càng ngắn.

Chuyện đáng suy ngẫm, đúng không cháu? Mọi việc diễn ra ngoài xã hội, xác thực đến độ đi vào trí óc hồn nhiên của mấy em học sinh, tầng lớp mà bộ giáo dục vẫn xem là rường cột nước nhà.

Ở trên, tôi có thưa rằng khuôn mặt cháu phảng phất có nét giống người thiếu nữ làm “bồ bịch” với thằng con tôi. Cháu ơi, chúng nó vừa chia tay nhau, tôi chỉ biết ngần ấy thôi, vì ở ngoài này bố mẹ không có quyền xía mõm vào đời tư chúng nó, đó là bài công dân giáo dục lớp vỡ lòng, tôn trọng tuyệt đối về căn bản tự do dân chủ mỗi cá nhân. Người vỡ mộng không ai khác là vợ tôi, mẹ nó có nhỏ to han hỏi xa gần và thằng út cưng của bả nói ngắn gọn: Không hợp tính tình, khắc khẩu, xổ tiếng Anh thì fuck, dùng tiếng Pháp thì merde mà nói tiếng nước nhà thì, nói cháu tha lỗi, cứ địt mẹ nhau liên hồi kỳ trận. Mẹ nó cứ y như tranh việc “đạo diễn” thước phim tình lãng mạn, từng viết kịch bản: Đợi con bé ra trường đại học đâu ra đó thì dựng vợ gả chồng cho nó, lương kỹ sư thằng út nhà mình dư sức làm ấm đời vợ nó và sẽ không lâu ông sẽ có đứa cháu nội mặt sáng lạng giống tui mà bế mà bồng. Hai tài tử kháu ó chê bai vở tuồng kia, chẳng muốn làm diễn viên nhưng bà đạo diễn vẫn trì chí: Không ấy con đi với mẹ về Việt Nam một chuyến, lúc đó tha hồ chảnh để kén cá chọn canh. Thằng con sửng cồ: Tại sao mẹ cứ một hai vợ con phải là người mình? Chơi với Tây nó khoẻ trí hơn vạn lần, và nói mẹ đừng giận suốt đời con không về chốn ấy đâu, chướng tai gai mắt lắm!

Vậy đó, nhỡ cháu có cơ hội hoặc cơ duyên đọc phải bài này, xin cháu thông cảm cho cách suy nghĩ “trẻ người non dạ” của thằng con tôi. Nó sinh đẻ bên này, theo học trường ốc bên này, giao tiếp với xã hội bên này nên nó rất ư trực tánh. Mang miệng mồm ấy về bển e sẽ có lúc bị điệu ra đứng trước vành móng ngựa. Và ma đưa lối quỷ dẫn đường, có khi nó chạm mặt cháu chăng? Lạ kỳ là khi thôi còn bồ tèo, chấm dứt tình hảo hữu với nhau, bao nhiêu ảnh chụp của con bé ấy nó mang đi thiêu huỷ cả (không phải ở nghĩa trang tận Sơn La) trong khi ảnh hình cháu lại trốn êm đẹp ở đĩa cứng máy điện toán của tôi, còn thu cất hoài huỷ.

Tôi không rõ giờ này cháu đã ra tù? Đã về sinh hoạt với nhân gian và cố thích nghi những đau đớn lòng mãi còn tiếp diễn quanh chốn dung thân? Hôm qua vợ chồng chúng tôi có đi vào chợ, tình cờ thấy con bé ngày xưa ấy đẩy xe đi lơ ngơ mặt buồn tựa cháu. Vợ tôi có đến bên vỗ vai cầm lấy tay mà tám chuyện, tôi nghe được mấy chữ là vợ tôi thay mặt cậu út xin được niệm tình thứ tha nếu nó lỡ gây ra lầm lỗi. Hôm nào thuận tiện, có nghĩa là đợi ngày thằng út bận rộn việc làm, tụi mình kéo nhau đi tìm cái quán ngồi chung mâm hàn huyên cho qua ngày đoạn tháng. Nhà toàn đàn ông con trai, thực bụng bác rất mến có người như con để làm đồng minh, đàn bà con gái chung lưng có biết bao điều để tâm sự ỉ ôi. Bác sợ cô đơn, phận liễu yếu đào tơ, con hiểu cho chăng!

Kể chuyện “đời tư thầm kín” này ra chỉ nên xem là một nhập đề liên khởi: Cháu có vui lòng đón nhận lời chúc lành của tôi (lạ nước lạ cái) không? Mong cháu ở phương đó, cho dù nhân thân có xấu tới mức nào đi chăng nữa cũng sớm được tai qua nạn khỏi. Bởi cứ thấy chế độ đó bắt người (nhất là con gái chân yếu tay mềm như cháu) lòng tôi đâm buồn bực không nguôi. Xin thanh minh lần cuối là giữa song phương, chúng ta chả có quan hệ nào cả; kẻo lịch đi tù của cháu bị kéo dài vô thời hạn khi cán bộ ngâm cứu rồi hô hoán lên là cháu có nhận tiền với thế lực thù nghịch ở bên ngoài, xúi bẫy làm chuyện rồ dại hòng bôi nhọ vào đất nước “đáng sống nhất hành tinh”. Than ôi, muôn đời chân vẫn mềm mà đá vẫn cứng! Cháu nên mềm lòng mà nhận lời xin lỗi yếu xìu của đứa ở nơi bơ thừa sữa cặn này nhé. Một lần rồi thôi. Mong cháu nguôi ngoai.

Hồ Đình Nghiêm

Nhà tù hình chữ S

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 22 Mar 2024

Hình minh họa

Tập 3

Phần 7
Nông trường bông vải Sông Lũy

Tôi ngủ một giấc ngon lành cho đến 9 giờ sáng. Tối hôm qua, nhờ ăn tô cơm trên đầy hơn dưới nên đến giờ này tôi vẫn chưa thấy đói. Mãi cho đến gần 10 giờ, gã bộ đội mới đến, ông ta đặt cái điếu cày lên bàn rồi đưa cho tôi hai cái bao cát còn khá tốt. Với tù nhân, bao cát là một tài sản quý hiếm, gã bộ đội cho tôi một lần hai cái bao cát, quả là một chuyện lạ. Bấy lâu nay tôi mong có một cái bao như vậy để cho Sơn Fulro may quần đùi bận đi lao động, nếu chốc nữa Sơn Fulro nhận được hai cái bao này chắc nó mừng lắm. Một cái quần may bằng vải bao cát, có tệ lắm cũng dùng được một năm mới rách. Qua hành động này, tôi vội vàng xét đoán, nhìn gương mặt của gã bộ đội tuy có vẻ dữ dằn thật nhưng biết đâu hắn là một người đầy lòng nhân hậu. Chưa kịp mừng, tôi đã nghe gã bộ đội nói.

-Cái xách tay của anh, tôi phải giữ lại để làm vật chứng trình lên trên, anh tạm dùng mấy cái bao cát này để đựng vật dụng cá nhân.

Tôi chợt hiểu thâm ý của gã bộ đội, vui vẻ nhận lấy cái bao với lý do thật giản dị “Của đi thay người”, tiền bạc và những vật dụng quý giá tôi còn không tiếc, thì sá gì cái xách tay rẻ tiền này.

Gã bộ đội nhìn tôi rồi nói, giọng nói nghe thật êm tai.

-Anh xếp mùng mền cho vào bao, tôi sẽ điều người đưa anh về lại trại.

Dứt lời gã đi ra cửa, vừa đi vừa nói to.

-Cái anh gì đó, nhớ phấn đấu học tập tốt, lao động tốt, nghe chưa?

Tôi về đến trại đúng vào giờ ăn trưa, nếu về trễ chút nữa chắc tôi phải nhịn đói. Tôi nhìn lại chỗ nằm của mình mà lòng buồn rười rượi, cái bao ny lông đựng chút thực phẩm khô của tôi không còn nữa. Hôm qua tôi cứ nghĩ là gã bộ đội chỉ khám xét cái xách tay của tôi thôi, không ngờ có chút thực phẩm vụn vặt như đường với đậu mà tôi dè sẻn dành dụm chỉ còn khoảng năm bảy kí lô cũng bị tước đoạt luôn. Nhìn lại, gia tài vốn liếng của tôi bây giờ chỉ còn có một cái mùng, một cái mền, mà lòng phân vân tự hỏi, không biết mình đã đi xuống ở tầng thứ mấy của địa ngục.

Trung úy Lợi đến bên tôi hỏi nhỏ.

-Mày làm gì mà đứng ngẩn ngơ như ốc mượn hồn vậy? Hôm qua nghe mày bị dẫn lên Ban chỉ huy trại, mấy đứa tao lo gần chết, không biết có chuyện gì không.

Tôi cười.

-Có chớ, mày còn nhớ Long công tử không?

-Tại sao không, nó trốn trại nên mày bị liên lụy chứ gì?

Tôi mừng quá sức hỏi dồn.

-Nó trốn trại bằng cách nào? Có thoát không?

Trung úy Lợi ngập ngừng.

-Tao chỉ nghe tin đồn từ khối Bình Thuận là lợi dụng lúc đi lao động ở bên ngoài, Long công tử trốn mất, đến chiều khi điểm danh vào trại mới biết thiếu hắn. Hơn hai ngày mà không bắt lại được, chắc giờ này Long công tử đã ở Sài Gòn rồi.

Tôi hỏi Lợi.

-Sao mày biết hắn ở Sài Gòn?

-Tao đoán như vậy vì tất cả sĩ quan bên khối Bình Thuận đều là dân Phan Thiết, chỉ có một mình Long công tử là người Sài Gòn nên hắn có biệt danh là Long Sài Gòn. Nó không về Sài Gòn thì đi đâu? Mà nè sao mặt của mày bầm tím vậy?

Tôi vạch áo chỉ thêm vào những vết bầm trên người rồi nói với Lợi.

-Mẹ nó… hôm qua mấy thằng Việt cộng dợt tao một trận nên thân, thừa sống thiếu chết, nhưng mà số tao còn hên, tiền hung hậu kiết nên mọi chuyện đều tốt đẹp, chỉ có ê ẩm, bầm giập trong người chút đỉnh.

Trung úy Lợi nói với tôi.

-Từ ngày vào trại tới hôm nay, tao chưa bao giờ thấy Việt cộng đánh tù, tại sao tụi nó đánh mày?

Tôi trả lời Lợi.

-Trước mặt mọi người thì như vậy, nhưng khi vô phòng hỏi cung, chỉ có tù và cai tù, tụi nó đánh tù không đẹp không ăn tiền. Nếu có dịp được gọi đi làm việc, mày sẽ được thưởng thức mấy món ăn chơi này.

Sau trận đòn ở Bộ chỉ huy trại, thời vàng son của tôi thật sự chấm dứt. Tôi trở thành con người khác, con người chuyên chính vô sản, không một xu dính túi, không một cục đường để khi đói ăn cho đỡ thèm. Tôi và Lợi đói mờ mắt, ngày ngày hai thằng lê tấm thân ốm đói đi lao động.

Được chừng hơn một tuần lễ, đâu khoảng gần giữa tháng 6, sau bữa cơm chiều, tất cả tù nhân trại B trung úy, được lệnh tập họp tại hội trường để nghe biên chế. Hình như Việt cộng dùng từ ngữ này với ý nghĩa là, sắp xếp lại thành phần nhân sự hay là chuyển trại, tôi không hiểu rõ. Một danh sách tù nhân cải tạo dài lê thê, được một anh quản giáo đứng trên bục gỗ đọc thật to và rõ ràng.

-Ba trăm người có tên sau đây, ngày mai sẽ không đi lao động, ở tại trại để nghe lệnh mới.

Gần bảy trăm ông trung úy ngụy ngồi dưới đất, im phăng phắc lắng nghe. Danh sách đã đọc được vài chục người, trong đó chỉ toàn là khối trưởng, tổ trưởng, những người có thân nhân làm Cách mạng. Mọi người đều ngầm hiểu rằng, số phận của mình, đi hay ở, thả hay nhốt đều nằm trong lần thay đổi này. Căn cứ theo đó, ba trăm người có tên trong danh sách này, tương lai sẽ sáng sủa hơn những người khác. Tôi nghe đọc tên mà nhớ lại chuyện đọc kết quả của những kỳ thi Tú tài I và II ngày xưa. Hồi đó tên của những thí sinh trúng tuyển, sẽ được đọc trên đài phát thanh Đà Lạt. Chuyện hồi hộp là số báo danh của mình, được đọc trước tên theo số thứ tự từ nhỏ đến lớn. Ví dụ như: Số Báo danh 273, Trần văn A Thứ. Số Báo danh 274, Nguyễn văn B Bình thứ. Và tiếp theo đó nếu xướng ngôn viên đọc Số Báo danh 278, Đinh văn C Bình thứ, thì có nghĩa là ba thí sinh mang số báo danh 275, 276, 277 rớt. Hôm nay, tôi ngồi cả nửa giờ để nghe danh sách biên chế, phải hết sức chú tâm, không được xao lảng bởi vì tên của mình có thể được đọc bất cứ lúc nào, không theo một quy luật gì hết. Cho đến khi anh quản giáo đọc xong bảng danh sách biên chế, tên tôi vẫn còn ở tận đâu dưới địa ngục. Buổi tối tôi đi ngủ mang theo trong lòng một nỗi buồn nhè nhẹ và tin rằng mấy trăm người không có tên chuyển trại cũng sẽ mang tâm trạng giống tôi. Ngày mai bảy trăm trung úy sẽ còn lại khoảng bốn trăm ở trong trại này. Tôi nằm trằn trọc, trăn trở với cảnh kẻ ở người đi cho đến khuya mới chợp mắt được.

Hình minh họa

Tôi thức dậy, khi nghe tiếng kẻng báo thức vang lên gần căn nhà của khối trưởng. Lúc chúng tôi đang sẵn sàng chuẩn bị tập thể dục tập thể mười lăm phút, thì nghe anh khối phó yêu cầu mọi người im lặng để nghe bản bổ xung biên chế. Giọng của khối phó vang vang trong bầu không khí tĩnh lặng của buổi sáng.

-Mười bảy anh có tên sau đây, lát nữa sẽ không đi lao động, nhập chung với ba trăm người có tên trong danh sách ngày hôm qua, chuẩn bị chuyển trại. Số một Trần văn Danh, số hai Nguyễn trọng Quân…

Đang lơ mơ, bất chợt nghe tên mình được đọc trong danh sách chuyển trại bổ túc, tôi lặng người đi vì sung sướng, chuyện mà tôi hoàn toàn không ngờ đã xảy ra, giống như một phép lạ. Tai của tôi ù đi không còn nghe tên của mười lăm người còn lại. Cùng lúc ấy một chút nghi ngờ thoáng qua trong đầu, khiến tôi suy nghĩ thật nhiều về danh sách bổ túc này. Tôi tự hỏi, có phải trong bản tự khai sau cùng của tôi nộp cho gã bộ đội ở Ban chỉ huy trại, thân nhân Cách mạng của tôi là ông Năm bánh xèo, có cái tên là Trần Chiến Bí thư tỉnh ủy Đà Lạt, đã được mấy ông trên Ban chỉ huy điều chỉnh xong, cho nên tôi được chuyển trại trong danh sách bổ túc. Nếu đúng như vậy, cái tội khai gian của tôi không chóng thì chày cũng sẽ lộ, khi mà Việt cộng cho người lên Đà Lạt xác minh ông cậu Việt cộng Trần Chiến của tôi. Trời Sông Mao buổi sáng mát lạnh, vậy mà mồ hôi trên trán của tôi đã tuôn ra mỗi lúc một nhiều. Tôi than thầm, tiền của Việt cộng vốn đã không có giá trị, không hiểu tại sao tôi lại ngu xuẩn đến độ tin dùng, mà lại dùng tiền giả mới khốn nạn cho đời mình.

Khi mọi người đã đi lao động, ba trăm mười bảy người được chuyển trại, lúc bấy giờ mới khăn gói lên đường. Tôi nhìn vài người bạn tù đang tay xách, nách mang giống như cảnh mấy chú Ba mua ve chai của vài chục năm về trước, với gánh ve chai chất đầy vật dụng phế thải, rảo bước khắp phố phường tìm mua phế liệu. Hôm nay bọn tù cải tạo chúng tôi, khi chuyển đến chỗ ở mới cũng gồng gánh như mấy chú Ba nhưng lại mang theo những vật dụng còn tệ hơn đồ phế thải, dăm ba miếng vải rách, cái bao cát lủng nhiều lỗ cột túm một đầu, không biết đựng những gì bên trong, cái lon gô nho nhỏ móp méo cháy đen vì khói, thùng đựng nước làm bằng tôn lợp nhà rỉ sét. Tài sản của tôi còn thê thảm hơn nhiều, sau vụ bị điều tra và đổi chát với gã bộ đội trên Bộ chỉ huy, bây giờ tôi chỉ còn lại một cái mùng, một cái mền đựng trong hai bao cát cột dính lại với nhau bằng một sợi dây.Tôi vắt hai cái bao lên vai, theo đám tù nhân đi ra cổng trại. Ngoảnh mặt nhìn lại trại tù, nơi tôi đã ở gần một năm mà thương cho Trung úy Lợi và Sơn Fulro, cả hai đều không được chuyển trại lần này. Chúng tôi được đưa đến một khu rừng thưa, nằm gần Sông Lũy cách trại tù Sông Mao khoảng chừng 10 cây số, nơi đây không nhà, không cửa, không dân cư, không đường sá, hoang vu vắng lặng. Bị đưa đến một nơi hoang dã nhưng không một ai thắc mắc, bởi vì mọi người đều hiểu rõ thân phận tù đày của mình. Một anh bạn tù là dân Phan Thiết, đứng nhìn quanh một hồi rồi nói.

-Ở đằng xa kia là Lương Sơn.

Tôi nghe để mà nghe nhưng hoàn toàn mù tịt không biết mình đang ở đâu. Cán bộ quản giáo chia chúng tôi ra làm ba khối: khối một lo chuyện đốn cây, khối hai lo việc dựng nhà , khối ba cắt và gánh tranh lợp mái nhà. Nguyên cả buổi chiều hôm ấy, chúng tôi được khối trưởng và tổ trưởng phân chia công tác cho hai tuần sắp tới. Tối đến mọi người ngủ ngay tại chỗ, trong cảnh màn trời, chiếu đất. Một vài người gom một ít lá khô, lót xuống đất làm chiếu nằm cho đỡ lạnh. Giữa khuya tôi chợt tỉnh giấc, con trăng mười sáu tròn như một cái dĩa, chiếu ánh sáng vàng nhạt xuyên qua kẽ lá, cả một khu rừng chìm trong không gian lung linh mờ ảo, khiến tôi có cảm tưởng như mình đang sống trong mộng. Bọn tù chúng tôi thường gọi những ông Việt cộng canh gác tù là bộ đội, cảnh vệ, bảo vệ hay vệ binh, thứ gì cũng được, không một ai thắc mắc, miễn sao khi nói lên mọi người đều biết đó là lính Việt cộng canh giữ tù. Hơn ba trăm tù nhân nằm la liệt giữa rừng, nhìn quanh tôi, không một cọng kẽm gai làm hàng rào, không một người lính canh. không khối trưởng, không tổ trưởng điểm danh, không ai thắc mắc đến mình, đây là cơ hội tốt nhất cho bất cứ tù nhân nào muốn trốn trại. Biết như  vậy nhưng không một ai dại dột trốn trại vào lúc này, vì mọi người đều biết rằng mình là thành phần tốt, đã được chọn lựa, sàng lọc kỹ càng, và ngày về không còn bao xa.

Hình minh họa

Ngày đầu tiên đi gánh tranh, bảy giờ sáng gần một trăm tù nhân do hai vệ binh canh gác dẫn đường. Mỗi tù nhân tự mình đốn một khúc cây rừng to bằng cổ tay, hai đầu được vót nhọn dài hơn một sải tay, dùng làm đòn gánh. Chúng tôi di chuyển trong khu rừng thưa độ hơn bốn cây số, dọc theo con Sông Lũy với đội hình hàng một, người này cách người kia từ năm tới mười mét. Đến một khúc sông cạn, mực nước chỉ tới thắt lưng, đáy sông chỉ toàn cát và cát, chúng tôi vượt qua sông, đi thêm một đoạn khoảng một cây số là đến Quốc lộ 1. Từ đây chúng tôi rẽ phải, đi cặp theo lề quốc lộ một đoạn chừng ba cây số hướng về phía thành phố Phan Thiết. Sau đó băng ngang quốc lộ, rồi theo con đường mòn nhỏ, đi thêm khoảng sáu cây số nữa đến một cái trảng trống. Trước mắt tôi nguyên cả một ngọn đồi cỏ tranh xanh mướt hiện ra. Những thảm cỏ tranh theo từng cơn gió nhẹ nghiêng qua rồi ngả lại, giống như chúng đang rượt bắt đùa giỡn với nhau. Tôi biết mình đã tới nơi sau khi vượt qua một chặng đường dài ước chừng mười lăm cây số. Một anh bạn nhìn đồng hồ đeo tay rồi nói “Lội bộ bốn tiếng đồng hồ rồi đó quý vị”. Cỏ tranh đã sẵn sàng do nhóm cắt tranh đến đây từ hôm qua, chúng tôi chỉ có việc cột lại thành bó. Mỗi bó tranh to khoảng một vòng tay ôm, xỏ cây đòn qua hai bó tranh rồi gánh về. Cũng may là gánh tranh không nặng lắm, vừa sức với đám tù ốm đói, cho nên chúng tôi không một ai kêu ca phàn nàn gì cả, trên đoạn đường dài mười lăm cây số trở về trại. Những ngày kế tiếp, hình như dân chúng biết tù cải tạo hay đi gánh tranh, ngang qua đoạn đường trên Quốc lộ 1. Thỉnh thoảng bọn tù chúng tôi lại nhặt được khi thì xâu bánh ú, lúc thì nải chuối sứ, cục đường, củ khoai, trái bắp từ trên  những chiếc xe đò chạy từ Phan Rang ra Phan Thiết, Sài Gòn liệng xuống. Tuy không nhiều nhưng những món thực phẩm phụ trội trời cho được tù nhân chia nhau, người củ khoai, kẻ trái bắp. Chút thực phẩm dôi ra như vậy, tính thêm cho phần ăn hôm đó của tù, đã vượt chỉ tiêu, quá tiêu chuẩn rồi. Sau một năm ăn uống thiếu thốn, bao tử của người tù đã tự động điều chỉnh, thu nhỏ lại để thích ứng với hoàn cảnh, nếu tù nhân bất ngờ ăn quá nhiều thực phẩm cho một bữa ăn, họ có thể bị trúng thực hay bội thực. Một anh bạn tù, sau hai ngày gánh tranh đi trên con đường xuyên Việt này, khi thì lượm được củ khoai, lúc thì trái chuối do dân chúng từ xe đò ném xuống bèn nảy ra quyết định đổi tên Quốc lộ 1, với lý luận rất đơn giản, anh ta nói .

-Các bạn thử tưởng tượng cái cảnh một tù nhân di chuyển hàng chục cây số, mỏi mệt khờ người, đói rã ruột vớ được trái chuối thơm lừng, chỉ mới ngửi mùi thôi đã thấy sung sướng tràn đầy hạnh phúc. Quý vị còn chần chờ gì nữa mà không gọi con đường này là “Quốc lộ huy hoàng”.

Riêng cá nhân tôi, một lần tôi lượm được cái bánh ú, lần khác được ổ bánh mì nhỏ, dài cỡ gang tay, tuy có hơi mềm nhưng khi ăn thì vừa thơm vừa ngọt, có thể tại cả năm rồi mới được ăn khúc bánh mì đúng nghĩa nên tôi mới có cảm giác như vậy. Nội quy của trại là cấm tù nhân liên hệ với dân chúng, nhưng bọn tôi cả trăm người đi gánh tranh mà chỉ có hai cảnh vệ đi canh giữ, chúng tôi biết chẳng có anh cảnh vệ nào đi theo 30 cây số để giữ chúng tôi. Không chừng họ đã tìm một gốc cây hoặc vào nhà dân ngủ một giấc, chờ đến chiều theo chúng tôi về trại. Họ cũng biết rằng, chúng tôi là những tù nhân sắp được thả về nên không một ai muốn trốn trại cả, dại gì mà trốn, trong khi chỉ cần đợi một thời gian ngắn nữa sẽ được cầm giấy phóng thích mà ra về. Trong hai tuần lễ đi gánh tranh, có một chuyện mà tôi nhớ mãi không bao giờ quên, là khi tôi và hai người bạn tù băng qua “Quốc lộ huy hoàng” theo con đường mòn đi đến đồi tranh, lúc bấy giờ mặt trời đã lên khá cao, chiếu ánh sáng gay gắt xuống đỉnh đầu, mồ hôi đã bắt đầu thấm ướt áo. Từ xa chúng tôi thấy một căn nhà gạch sạch sẽ, khang trang, nằm bên tay phải của đường mòn, cả ba bàn với nhau vào xin ly nước lạnh. Một bé gái khoảng chừng 8 tuổi, dẫn chúng tôi ra sau nhà, chỉ vào cái lu nước trong góc bếp. Khi cả ba đứa đang bu quanh cái lu để uống nước, bất ngờ có giọng nói của một người đàn bà vang lên.

-Các ông ở đâu đến? Tại sao ngang nhiên vào nhà tôi uống nước?

Không ai bảo ai cả ba cùng quay lại, trước mặt chúng tôi là một người đàn bà, ước chừng trên năm mươi tuổi một chút với mái tóc muối tiêu, trong bộ bà ba nâu đã bạc màu. Nhìn đôi mắt đầy ngạc nhiên của bà, tôi vội trả lời.

Hình minh họa

-Thưa bác, tụi con có xin phép cô bé này và được dẫn ra đây để uống nước.

Có thể người đàn bà thấy tụi tôi ăn mặc không giống ai, dơ dáy bẩn thỉu lại thêm chuyện mỗi người vác theo một cây gậy vót nhọn, cho nên bà ta hỏi chúng tôi với một giọng nói như là đe dọa.

-Các ông là ai? Đi đâu mà mang theo gậy gộc như thế này? Tôi kêu công an bây giờ.

Qua cách hỏi, tôi biết là bọn tôi sẽ bị rắc rối to nếu ăn nói không được rõ ràng. Tôi nhỏ giọng.

-Thưa bác, tụi con là tù cải tạo ở Sông Mao, đi gánh tranh về làm nhà, vì khát quá nên vào đây xin nước uống. Tụi con có làm điều gì không phải, xin bác tha tội cho.

Ánh mắt người đàn bà bỗng dịu lại.

-Tù cải tạo?

-Dạ phải.

-Vậy mà tôi cứ nghĩ là các ông muốn vào cướp nhà tôi. Nếu cướp vào đây thì họ đã chọn lầm chỗ vì đồ đạc trong nhà tôi đã bán sạch sẽ rồi. Các ông thử nhìn xem, bàn ghế, giường tủ, có còn cái nào đâu.

Người đàn bà miệng nói, tay ngoắt con bé lại.

-Trong nhà chỉ có tôi và nó, “Cháu bà nội, tội bà ngoại” ba nó cũng đang cải tạo ở ngoài Bắc, mai mốt thằng rể của tôi được tha, nó lại dẫn con bé về nội. Nói thì nói vậy chớ tôi ngờ rằng, đã ra tới Bắc thì làm gì có đường về, phải không các anh?

Nói xong bà nhìn chúng tôi.

-Như mấy anh đây còn có hy vọng.

Tôi để ý thấy người đàn bà đã đổi cách xưng hô, bà không gọi chúng tôi bằng ông mà gọi chúng tôi bằng anh, nghe bớt xa lạ đi nhiều. Thấy tình hình đã êm xuôi vì gặp được phe mình, tôi bạo dạn hỏi.

-Thưa bác, anh con rể của bác mang cấp bậc gì mà phải ra Bắc.

-Tôi nhớ, in hình như là thiếu tá thì phải.

-Bác có ra thăm nuôi anh ấy chưa?

-Tôi chỉ nghe nói là nó bị đưa ra Bắc, còn chuyện ở trại tù nào thì tôi cũng không biết, nói  gì đến chuyện thăm nuôi.

Tôi nhìn con bé có gương mặt buồn buồn, rồi hỏi.

-Thưa bác, mẹ của cháu đâu rồi?

-Con gái tôi đã mất cũng được nửa năm rồi, tội nghiệp cháu tôi, mới có mấy tuổi đã mồ côi mẹ, còn cha thì có cũng như không, ông bà nội thì già yếu ở mãi tận đâu ngoài Quảng Trị, mất liên lạc từ tháng 4 năm 75, chỉ có tôi là ngoại của nó nên phải đem cháu về đây nuôi thôi.

Nói đến đây người đàn bà đi lại góc bếp, bưng một cái nồi đến đặt trước mặt chúng tôi.

-Nhà chẳng có gì, còn chút cơm nguội, các anh có đói thì cứ tự nhiên ăn.

Anh bạn tôi mở nắp vung, nhìn vào bên trong rồi đề nghị.

-Không còn nhiều cơm lắm đâu, mỗi đứa được chỉ non một chén, lúc này hãy còn sớm, tụi mình chia làm ba phần, bỏ vào lon gô cơm trưa riêng của mỗi đứa, sau đó ai muốn ăn lúc nào thì tùy ý.

Hình minh họa

Từ nãy đến giờ con bé không nói gì chỉ đưa mắt nhìn chúng tôi, bất chợt nó lên tiếng.

-Sao bà ngoại đem phần cơm của mình cho mấy ổng vậy? Chiều nay mình lấy gì ăn?

Người đàn bà vuốt tóc con bé, nhỏ nhẹ nói.

-Bà sẽ nấu cơm mới cho con ăn.

Sau khi nhận phần cơm của mình xong. Tôi nhìn những hột cơm còn sót lại bám quanh nồi, tiếc của trời, tôi nhấc cái nồi cơm lên, nói với người đàn bà.

-Thưa bác, để con rửa nồi cho.

Người đàn bà nói.

-Không cần đâu, anh cứ để đó, lát nữa tôi sẽ rửa sau.

Đến đây, tôi đành phải nói với bà.

-Thưa thật với bác, khi rửa nồi, con sẽ chắt nước, lóng cặn, có thêm được muỗng cơm.

Người đàn bà nhìn tôi múc nước rửa nồi, bà đưa tay lên giụi mắt.

-Đói lắm hả con?

Nói xong bà đi lại góc bếp, bưng đến một cái nồi nhỏ. Bà gắp cho mỗi đứa một con cá nục kho to bằng hai ngón tay, cho vào từng lon gô rồi nói.

-Phần còn lại của bà cháu tôi.

Sau khi nói lời cảm ơn và cúi chào người đàn bà, cả ba đứa rút lui mà lòng đầy vui mừng hớn hở, biết rằng sẽ có được một bữa cơm trưa chắc chắn là no nê và ngon miệng. Khi đã ra đến cổng tôi ngoái đầu nhìn lại, người đàn bà đứng trước nhà, tay vịn vào khung cửa, khiến tôi nhớ lại, ngày xưa khi tiễn tôi lên đường nhập ngũ, má tôi cũng đã làm y như vậy.

Cây cồi Kauai

baotreonline.com

Ian Bùi

July 6th, 2023

Post by Sơn râu 21 Mar 2024

Kauai nổi tiếng có những con đường người dân gọi là “tree tunnel” – đường hầm bằng cây. Là một hòn đảo nhỏ, hầu hết các con đường ở đây chỉ có một làn đường mỗi bên, và vận tốc tối đa thường chỉ khoảng 25-35mph. Và vì địa hình toàn đồi núi nên đường ở đây rất ngoằn ngoèo; năm thì mười hoạ mới có những đoạn thẳng tắp như trong hình mà ta có thể tống ga lên tới… 50mph!

Ảnh: IANBUI/TRẺ       

Một trong những cái thú ở Kauai là đi bộ trong rừng, tiếng Anh là hiking, mà ta có thể tạm dịch là cước du. Kauai có vô số những con đường mòn cho ta chọn. Rừng Kauai rậm rạp, nhiều cây cao to, bán kính cỡ vài mét là chuyện thường, với những bộ rễ khổng lồ trông rất đẹp mắt. Nhưng trước khi vào rừng nhớ mang theo thuốc chống bọ và dầu chống ngứa nhé!

Ảnh: IANBUI/TRẺ

Hiking là một trong những sinh hoạt thể thao giải trí mà ai đến đây cũng phải thử. Tuy nhiên, ta cần biết lượng sức mình và chọn những đường mòn không quá nguy hiểm. Mùa hè mưa thường xuyên nên đất ở đây trơn trợt, dễ sẩy chân. Không biết mỗi năm có bao nhiêu du khách đến Kauai bị thương vì trợt té, nhưng chắc chắn con số đó không phải ít. Trong ảnh là một triền dốc gần như thẳng đứng, phía trên cùng là một gia đình có con nhỏ đang cố gắng trèo xuống. Dân phố thị có khác!

Ảnh: IANBUI/TRẺ

Cây bồ-đề này được trồng trong vườn nhà nhạc sĩ Todd Rundgren. Vợ của Todd là Michele kể cách đây hai mươi mấy năm bà tình cờ viếng thăm một ngôi chùa ở vùng San Francisco. Vị sư trụ trì tặng cho bà một nhánh và bảo rằng nó đến từ cây bồ-đề ở Ấn-Độ nơi Đức Phật ngồi thiền định và giác ngộ. Tuy không biết bà sống ở Kauai nhưng vị sư nói ông tin rằng nó sẽ rất hạp với hai vợ chồng bà. Đúng là câu chuyện nhân duyên. Todd, như nhiều người biết, từng chơi nhạc gây quỹ cho thuyền nhân Việt Nam hồi năm 1979.

Ảnh: IANBUI/TRẺ

Rainbow Eucalyptus là một loại cây khuynh diệp. Đến mùa hè cây thay lớp vỏ bên ngoài, để lộ ra lớp vỏ mới nhiều màu trông rất đẹp mắt. Giống cây này cao to, được trồng để giữ cho đất khỏi bị sạt lở. Nó có nguồn gốc từ đảo Mindanao ở Phi Luật Tân, được mang đến khi người Phi sang đây để làm việc trong các đồn điền mía vài thế kỷ trước. Kauai có một cộng đồng người Phi khá lớn. Ngày nay họ chủ yếu làm trong các vườn cây trái; phụ nữ Phi làm công việc dọn dẹp tại các khu resort và khách sạn rất nhiều.

Ảnh: IANBUI/TRẺ

Kauai có khí hậu ôn hoà, không quá nóng, mưa nhiều. Đất ở đây có màu đỏ đặc trưng, rất tốt để trồng cà-phê. Kona Coffee là một trong những đặc sản nổi tiếng của Kauai. Dân ghiền cà-phê mà đến đây bảo đảm sẽ rất ưng bụng vì ngày nào cũng có cà-phê ngon để thưởng thức. Kauai Coffee Company là một trong những vườn cà phê xưa và lớn nhất thế giới, mỗi ngày họ sản xuất cả vài chục ngàn ký cà-phê nguyên chất. Vừa để bán cho các thương hiệu khác khắp nơi, vừa để rang lấy dùng cho thương hiệu của mình.

Ảnh: IANBUI/TRẺ

Vào mùa Hè, hầu như ngày nào cũng có chợ phiên mọc lên tại các khu làng để bán rau quả, trái cây. Thậm chí dọc bên đường thỉnh thoảng lại thấy một chiếc sạp đơn lẻ đề bảng bán cây nhà lá vườn. Người Việt đến đây chắc chắn sẽ thích những loại trái như nhãn, đu đủ, xoài, mãng cầu v.v. Kauai còn có một loại trái cây tên Rolinia, cùng một họ với mãng cầu (Soursop) nhưng vỏ hơi gai hơn và thịt không chua bằng. Trong các bữa ăn sáng tại đây không bao giờ thiếu những thứ như khóm, dưa hấu, đu đủ và trái vải.

Ảnh: IANBUI/TRẺ

Lạ một chỗ là dân Kauai lại không thích ăn mận. Những cây mận trên đảo rất to lớn, cao cả chục thước. Đến mùa chúng trổ trái rụng đầy trên mặt đất không ai thèm lượm. Đi ngang những cây này mà không để ý có khi bị mận rơi trúng đầu! Khác với mận Việt Nam, mận ở đây hơi có vị chát, thịt không ngọt và thơm bằng. Có lẽ di dân ngày xưa mang mận qua đây trồng thử nhưng vì thổ nhưỡng không hạp nên nó không phát triển thành kỹ nghệ như những loại trái khác. Dẫu sao chăng nữa, nhìn những cành mận trĩu nặng trái vẫn thấy vui mắt lắm.

Ảnh: IANBUI/TRẺ