This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Khuấy một vầng trăng lạnh! Thuyền đôi ta…ra giáp nước; Nơi cuối một dòng sông mở ra trời biển mặn! Nơi giáp nước, cuối dòng sông, chạm biển; Biển đã mang anh đi! Em vẫn đợi người về?
Nhánh sông quê vẫn ngọt ngào như thuở ấy! Biển ngoài kia vẫn mặn chát muôn đời?
Mang câu hỏi vì sao biển mặn? anh đi cuối đất cùng trời! Bao năm rồi… về lại nhánh sông quê! Em hóa đá vẫn chờ như năm cũ;
Chờ anh về để hỏi vì sao biển mặn? Anh không biết! Chỉ có mình em biết! Vì nhớ thương anh: biển mặn nhiều hơn; Biển mặn nhiều hơn vì muôn nghìn giọt lệ! Em khóc cho quê mình và em khóc tình ta!
Hồi chiến tranh Việt Nam, ở bến xe mới Cần Thơ có chỗ đèn xanh đèn đỏ chớp nháy đề là ‘Snack Bar’. Ðọc là ‘sờ nách ba’ nên tui cứ tưởng thiên hạ vô đó để ‘sờ nách nhau’ chớ? Sau nầy mới biết ‘Snack bar’ không có ‘sờ nách’ gì nhau hết ráo mà là nơi bán những thức ăn dặm thêm như bánh mì kẹp xúc xích, khoai tây chiên và nước ngọt Coca Cola hay Pepsi Cola.
Còn những chàng lính Mỹ (G.I) xa nhà, nhớ em yêu bên Cali (hổng biết đang đi nhảy đầm với thằng khốn trốn lính nào) đến để giải sầu trong giây lát thì phải đến ‘night club’ tức hộp đêm.
Còn quán nhậu bên Úc đây gọi là ‘Pub’ viết tắt chữ ‘Public House’, nơi công cộng cho bà con mình đến nhậu.
Ngoài city, bên bờ Nam sông Yarra của thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, Úc Châu, có cái quán tên là P. J. O’Brien’s của mấy thằng Irish làm chủ. Chiều Thứ Sáu, bắt đầu cuối tuần, Úc sắp hàng dài thườn thượt để chờ tới phiên mình vô nhậu. Làm tui lại nhớ những ngày ở quê nhà sau 75 xếp hàng cả ngày để mua được 100 ‘cà ram’ thịt lợn vậy!
Những quán nhậu kiểu nầy thực ra là nó có truyền thống khá lâu đời, từ hồi dân Irish, dân Anh nhậu quỵt, bị mẫu quốc đày qua đây hồi thế kỷ thứ 19 lận.
Rồi cơn sốt đào vàng ập tới vào những năm 1850 tại tiểu bang Victoria làm anh nhậu, tui nhậu, chúng ta cùng nhậu. Nhậu tràn lan như con COVID-19 hiện nay vậy.
Cách đây khá là lâu, quán nhậu ở Úc chỉ được phép mở từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều, từ Thứ Hai đến Thứ Bảy. Thế là ‘long weekend’ ngày lễ được nghỉ bù thêm một ngày, những Lưu Linh Úc chạy việt dã, (marathon) từ quán nhậu này sang quán nhậu khác uống cho đã điếu trước giờ quán đóng cửa.
Nhậu xong, thách nhau ra ngoài đánh lộn. Vì đánh lộn trong quán nhân viên bảo vệ quán rượu (gọi là bouncer), đứa nào đứa nấy to như con bò mộng, vai u thịt bắp, mồ hôi dầu, nó nắm đầu ném ra khỏi quán té u đầu đau lắm đó!
o O o
Hồi đầu những năm 1970, chỉ có đàn ông Úc mới được phép đi nhậu. Còn đàn bà Úc phải ở nhà, vò võ trông chồng say xỉn, lè nhè bò về. Thằng chả, đàn ông đi nhậu được mấy chị em mình là phụ nữ tại sao không? Cứ nói nam nữ bình quyền hoài hè!
Tháng Giêng, năm 1973, quán nhậu Manly ở Sydney từ chối phục vụ mấy em; với lý do là quán chỉ có phòng vệ sinh nam cho mấy anh đứng tè không hè. Hổng lẽ để mấy em phải ra ngoài hè?
Lời từ chối ‘cà chớn, cà cháo, cà pháo’ nầy mấy em nghe không lọt lỗ tai; nên mấy em tự xích tay chưn mình quanh quán nhậu để phản kháng. Truyền thông, báo chí, truyền hình nhào vô đưa tin ào ào.
Chánh phủ phải đầu hàng trước áp lực dữ dội ‘đòi quyền nhậu’ của chị em ta.
Ngoài ra Chánh phủ Úc còn lo lắng cho việc ăn nhậu cho những người dân Úc không phải là anh, mà cũng không phải là em, tức những người đồng tính! Cấm những người không thuộc thành phần thứ ba léo hánh đến quán nhậu nầy. Nhờ vậy giới đồng tính rất thoải mái với người cùng một giuộc. Mà không bị thằng cha nào trông thấy hai ông hun nhau, hai bà hun nhau rồi le lưỡi lắc đầu.
Cái quán nhậu ‘Blue Train’ ở ngoài city Melbourne, dành riêng cho người đồng tính. Ôi nó đắt hết biết! Ì xèo ngày lẫn đêm, lúc nào cũng vui như Tết tới.
Tranh Bảo Huân
o O o
Nói nào ngay, quán nhậu Úc là nơi tụ tập dân chơi trên chốn giang hồ, là siêu thị bán cần sa, thuốc lắc, heroin và cocain. Vậy là mấy ‘cớm chìm’ được cấp cho cái thẻ ngân hàng được chánh phủ trả tiền để thi hành công vụ. Miệng uống, tai nghe lóm tin tức mật của các băng nhóm bán xì ke, ma tuý.
Mặt khác quán nhậu của Úc, từ thế kỷ 19, cũng là cần câu cơm cho mấy chị em mình kiếm sống nuôi con khi chồng chết hay bị chồng bỏ hoặc ở tù mới được thả ra. Lúc đó, Úc đâu có chế độ an sinh xã hội trợ cấp nuôi con như bây giờ đâu.
Vậy mà mấy nhà đạo đức (họng) lại vu oan giá họa cho mấy em mình phục vụ trong quán nhậu là mấy đứa hư thân mất nết, sống buông thả, chuyên dụ khị đàn ông đến nhậu rồi moi tiền của họ.
(Tui e cái phong trào nầy do mấy bà Cố Nội, Cố Ngoại của Úc cầm đầu vì không muốn thằng chồng mình đi nhậu đó thôi!).
o O o
Ðời mà! Dẫu mồ côi cha lẫn mẹ, ta vẫn sống. Bị vợ bỏ ta vẫn sống. Nhưng sống không thể nào thiếu bạn nhậu cho được. Xưa giờ từ bên Tàu tới bên Tây rồi tới bên Ta đều là như vậy cả.
Làm đàn ông, dù ghiền rượu hay chỉ uống để xã giao, chúng ta đều có một kỷ niệm, không dễ gì quên, về quán nhậu đã đi qua đời ta.
Nên có chuyện rằng: “Một ông Mít và một ông Úc tình cờ gặp nhau ở Little Saigon, Hoa Kỳ cùng ngồi nhậu và tán phét về những quán rượu phục vụ hết sẩy, được tụi nó rất là ưa thích.
“Quán rượu này phục vụ tốt như vậy; nhưng tao vẫn thích quán rượu ở quê nhà tao hơn. Ở Cần Thơ, quê em yêu của tao, có một quán rất nhỏ. Chủ quán chịu chơi hết mình! Khi chú mầy uống bốn ly, thằng cha chủ quán sẽ không tính tiền ly thứ năm.”
“Phục vụ như vậy thì nhằm nhè gì?” ông Úc nói:
“Ở quê tao, Melbourne nè, có một quán rượu rất đã! Ngay khi mới đặt chân đến, họ sẽ mua rượu cho uống, rồi đồ nhắm nữa. Hoàn toàn miễn phí, không tốn một cắc nào hết! Uống đã điếu, ngà ngà say, họ sẽ đưa lên một căn phòng ở trên lầu để nằm phè cánh nhạn!
Ông Mít lè nhè nhướng mắt nhìn ông Úc, vẻ nghi ngờ: “Xạo vừa vừa thôi cha Nội! Làm gì có quán rượu nào phục vụ tốt như thế trên thế giới nầy chớ?”
Ông Úc thề bán mạng rằng mọi lời nó nói đều là sự thật.
“Ðiều này có thực sự xảy ra với chú mầy không?”
“Cá nhân tao thì không!” Ông Úc thừa nhận “Nhưng nó đã xảy ra với con vợ tao khá nhiều lần. Nó đi nhậu một mình về rồi nó kể cho chính tai tao nghe mà!”
Bà con mình ai cũng biết Hoa Kỳ ở Bắc bán cầu. Úc ở Nam bán cầu, hai đứa cách nhau hàng vạn dặm. Mấy em Mỹ gốc ‘Mít’ phải ục ịch bay gần 20 tiếng đồng hồ mới tới được Úc để thăm lại người xưa; để hâm nóng lại tình ta như trà thiu bấy lâu nay không nhẩm xà đà nguội ngắt.
Mùa lễ Giáng Sinh, mới đầu tháng Chạp, các đài truyền hình đều đồng ca: “We wish you a Merry Christmas and Happy Ney Year”. Còn bà con người Việt mình ly hương, dù chia đàn sẻ nghé, lạc bầy lan ra toàn thế giới như dân Do Thái, cũng đồng ca: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm!”
Người Mỹ rất có thiện tâm. Nên có chuyện rằng: Đó là năm 1935, khi tôi 10 tuổi, chúng tôi sống ở tầng một của một căn hộ không cửa ngăn trên đường 43, Brooklyn, thành phố New York. Ở đỉnh điểm của cuộc Đại suy thoái, Cha Mẹ tôi buộc phải nhận trợ cấp, ngày nay được gọi là phúc lợi xã hội. Vài ngày trước lễ Giáng Sinh, tôi nhìn ra ngoài cửa sổ nhà bếp thấy Cha tôi đang ngồi trên bệ cửa, vẻ chán nản, nước mắt lưng tròng. Người đưa thư đang đến gần tòa nhà của chúng tôi và hỏi Cha tôi có chuyện gì vậy? Tôi nghe Cha tôi nói Cha ráng tìm, nhưng việc làm không có. Tôi nghe Cha tôi nói rằng ông đã dùng hết phiếu ăn và tiền thuê nhà đã quá hạn. Cha rất sợ khi nhìn thấy những bức ảnh trên báo chụp người dân với tất cả đồ đạc của mình bị chủ nhà vứt ra đường”
Người đưa thư – nguồn kindnessblog.com
“Ike, ông cần bao nhiêu?” người đưa thư hỏi. Cha tôi nói ông cần 33 đô la để trả tiền thuê nhà. Và không chút do dự, người đưa thư lấy 50 đô la từ ví của ông ấy và đưa cho Cha tôi. Cha tôi nói: “Không biết khi nào tôi mới có thể trả lại cho ông”. Người đưa thư quàng tay qua vai Cha tôi và nói rằng: “ông có trả lại tiền hay không trả tiền cũng không sao.” Thấy tôi đang nhìn qua cửa sổ, người đưa thư nói: “Isaac, mọi chuyện sẽ không như vậy mãi đâu. Nếu bạn hoặc con trai bạn ghi nhớ ngày này thì trong tương lai sẽ có lúc ai đó cần sự giúp đỡ của bạn. Hãy giúp đỡ họ trong khả năng của bạn và kể cho họ nghe chuyện gì đã xảy ra ngày hôm nay. Đây sẽ là sự hoàn vốn lại cho tôi. Chúc Giáng Sinh vui vẻ và hạnh phúc.” Người Úc cũng thiện tâm vậy. Giúp được mình cái gì là nó giúp hè. Nhưng mượn tiền nhậu nó không cho, kêu ra ngân hàng đi cha nội!
Tui nhớ hồi năm ngoái, sau ‘shift’ làm, mấy thằng Úc chung sở rủ tui đi Pub P. J O. Brien của Irish nhậu mừng Giáng Sinh. Mãi vui tui quên hết lời em dặn dò; tui say quắc cần câu! Chỉ nhớ mang máng là về nhà tui đã gấu ó gì đó với em yêu. Chết cha! Sáng nay thức dậy ắt có chuyện lớn rồi! Khi mở mắt ra, tui khát nước như đã lạc trong sa mạc hằng thế kỷ! Kỳ diệu thay trên cái bàn, cạnh giường ngủ là một ly nước chanh đường. Tình tứ hơn là có một đóa hồng tươi thắm nằm kế bên nữa. Lọ mọ vô phòng tắm, tui thấy có sẵn một bộ quần áo ủi phẳng phiu sạch sẽ và tinh tươm. Nhìn vô gương soi, tui kinh hoàng khi thấy hai con mắt của mình bầm tím như con gấu trúc ‘Panda’ của mấy chú Ba. Ở góc gương có dán một tờ giấy viết rằng: “Anh yêu! Bữa ăn sáng của anh đã nằm trên chiếc bàn trong bếp. Trứng chiên với ‘ham’ là món anh ưa thích. Ly cà phê ‘cappuccino’ kiểu Ý rắc đầy ‘chocolate’ còn nóng hổi. Em đi chợ mua đồ về nấu cho anh một bữa canh chua cá hú mà lâu lắm anh không có dịp ăn! Hôn anh say đắm. Em yêu của anh!
Tui xuống bếp! Quả y như kinh! Thằng Cu Tí cũng đang ngồi ăn sáng! Tui hỏi: “Cu! Chuyện gì đã xảy ra vào tối đêm qua?”
Tranh Bảo Huân
“À! Tối qua 3 giờ sáng tía mới bò về! Tía say hết biết! Miệng mồm nhểu nhão nước miếng tùm lum! Tía ngã xuống sàn. Lúc đứng lên, tía đụng vào ngạch cửa làm hai con mắt của tía bầm tím!” “Rồi sao nữa Cu?” “À! khi Má lôi tía vô phòng ngủ, cố cởi quần tía ra thì con chỉ nghe tiếng tía la hét là: “Đừng! Đừng đụng tới tui! Tui đã có vợ rồi!”
Vỡ kịch do tui làm soạn giả kiêm đạo diễn kiêm kép chánh hay quá là hay, đã qua mặt bà Hoạn Thư nghe cái vù. Nhưng vốn là một người chồng yêu vợ thương con, tui sống công bằng: em bánh ít đi; tui bánh quy lại. Mùa Giáng Sinh năm nay, tui bắt chước Úc mua quà Giáng Sinh cho em. Mua món gì không biết nên tui đi hỏi con nhỏ Cyprus, dân đảo Síp, làm chung. Nó kêu tui nên mua cho vợ anh cái váy. Tui ngu, nghe lời nó nên hư bột hư đường hết ráo. Vì em Penny nầy không tâm lý để biết: “Thế giới sợ đàn bà Mỹ, vì đàn bà Mỹ nói là làm. Đàn bà Mỹ sợ đàn bà Nhật, vì đàn bà Nhật làm xong mới nói. Đàn bà Nhật lại sợ đàn bà Trung Quốc, vì đàn bà Trung Quốc không nói mà làm. Nhưng đàn bà Trung Quốc lại sợ đàn bà Việt Nam, vì đàn bà Việt Nam nói một đàng làm một nẻo.
Đem cái hộp gói giấy màu sặc sỡ có gắn nơ về, tui bắt chước như Tây quỳ xuống dâng lên. Con vợ tui háo hức mở ra coi, xong nói: “Cảm ơn, cái này thật là tuyệt!” Sau đó là một nụ cười khẩy. Suốt cả năm sau, tui không thấy nó mặc lần nào. Từ đó, tui không thèm tặng quà gì cho con vợ tui nữa. Tui chọn cách đơn giản nhưng hiệu nghiệm là móc xỉa cho em chục con bò xanh 100 đô là em cười nụ nhưng rộng tới mang tai.
Còn mấy anh mình trong nước, cứ cho em một cây vàng 3 số 9 thì em cười híp mắt, bảo đảm em nào cũng khoái, cũng mê tít thò lò. Nắm tiền, nắm vàng trong tay, em muốn sắm cái gì thì sắm. Muốn mua cái gì thì mua. Phần mình đã cày sâu cuốc bẫm mới có tiền móc xỉa (coi chừng mạt) mà còn bị nhức cả cái đầu thì ai mà chịu cho thấu chớ?
Khi sang đây, thời gian đầu tôi xin được việc làm với đồng lương khá cao: Chùi rửa, thay bao rác, quét dọn vệ sinh trong một cao ốc có bốn tầng lầu. Từ chín giờ tối tới hai giờ sáng. Địa điểm khá xa, nằm giáp ranh với ngoại ô không đèn, hơi bất tiện. Cho dù người ta có thiết lập ra tuyến đường xe buýt chạy về khu tân lập kia thì tan tầm vào lúc hai giờ sáng, chẳng có ma nào còn láng cháng đi lại trên vùng đất vắng tẻ kia. Muốn cày bừa, tiên quyết bạn phải có xe để tự lái đi. Mới chân ướt chân ráo đến nhập cư, tôi làm gì tậu được xe. Người bạn giới thiệu việc vì ở nơi trái đường đã dọ hỏi giúp tôi, may thay một ông người Miên gốc Việt làm chung chỗ hứa sẽ nai lưng đóng vai tài xế giùm, chỉ chi cho ổng một khoảng tiền nhỏ dùng để đổ xăng và đừng quên đãi cà phê bánh ngọt. Như thế, vạn sự không hẳn đều khởi đầu nan. Với tôi, có mòi thuận lợi. Chỉ duy một chuyện hơi lấn cấn trong khi lao động, đêm nào cũng vậy, khoảng một giờ sáng, đang hút bụi ở hành lang có trải tấm tapis màu đỏ bầm, máy đang êm tự nhiên gầm rú lên đồng thời tôi đón nhận hơi lạnh kỳ lạ như kiểu có cơn gió vừa vụt qua. Mọi cánh cửa đều đóng kín sau khi đã kỳ cọ lau sạch. Hàn khí chợt gây ớn xương sống nổi da gà nọ thật khó giải thích.
Cả bọn có mười lăm phút để nghỉ giải lao, thường khi thì co cụm lại từng nhóm riêng lẻ khác biệt ngôn ngữ vùng miền cho tiện việc hàn huyên. Tôi, người bạn và ông “tài xế” bày bánh trái trà nước ra, ngồi xuống ở chỗ xét thuận tiện nhất, không xa nơi mình đang dở dang công việc. Có lúc, khi một ngọn đèn tự dưng tắt đi, không dằn được lòng, tôi đã hỏi: Trong đời, quý vị đã từng có lần gặp ma chưa? Người bạn nhăn mặt như kiểu hớp nhằm ngụm nước nóng vừa chế từ bình thuỷ ra: Chưa, bộ đời hết cái để thấy rồi sao? Cho em nhờ tí! Bạn rùn vai: Ừ, nhưng mà muốn thấy cũng không dễ đâu nha, phải tuỳ duyên. Ông “tài xế” người Miên gốc Việt, hình như trước ở Châu Đốc hay Hà Tiên gì đó bắt bẻ: Tui chưa nghe ai áp đặt chữ duyên kỳ lạ như vậy cả. Khi cưới được cô gái đẹp, người ta bảo phải khéo tu mới nên duyên vợ chồng thì hợp lý. Còn nếu chẳng bị ma nhát thì xem như có phúc, nói vậy nghe thuận tai hơn. Tôi hỏi: Anh từng vô phúc chưa? Ai? Tui hả? Phúc phần gì. Tui chưa gặp ma, có thể do bởi hồi nhỏ má tui thỉnh thầy cho tui lá bùa, rồi vô lính, tui đi xăm trổ hình lá bùa đó vào bắp tay. Tránh hòn tên mũi đạn và ngăn được tà khí. Bạn tôi nói: Vậy lát nữa nhờ anh bắt thang thay giúp cái bóng đèn ấy nha, bọn tôi chẳng có bùa, hơi bị yếu bóng vía.
Về tới nhà đã ba giờ sáng, hôm nào nóng nực thì siêng vào phòng tắm bằng không thì vệ sinh qua loa rồi lăn đùng ra giường hú ba hồn bảy vía trở lui, trưa mai hẳn tính. Vì công việc nên tay chân nghe nhừ mỏi, nằm lơ mơ có cảm giác như có cái gì đè nặng xuống người. Đầu óc mụ mị chẳng biết trăng cuội, mình đang tỉnh hay đang chìm sâu vào mộng mị? Sáng, tối. Hư, thực. Bần thần, hay nghĩ vẩn vơ về những điều không tượng hình, vô căn cớ. Cảm giác bất an sau cùng đã có đáp số, ông người Miên gốc Việt đóng vai tài xế đã không tới đón tôi đi làm, điện thoại hỏi thăm người bạn, hắn cho hay ông ấy tối qua trúng gió, cảm nặng, già đầu rồi mà cứ kêu than má ơi má hỡi. Ê kíp chỉ còn mình tao phải xin lão sếp sắp đặt tăng viện nhân lực. Bùa chú đầy người có khi cũng phải nhác chơi!
Như vậy, tôi làm nhân viên vệ sinh công sở chỉ đúng một tháng. Mười ngày sau, trên tờ giấy èo uột dán trước cửa chợ Á châu, tôi đọc thấy hàng chữ cần người. Không nhanh tay lẹ mắt ắt sẽ vuột mất cơ hội. Thời cơ lại đến, khỏi sợ đói người, lần này thì làm đứa đội nắng mưa đi thu hoạch hoa màu ở một nông trại nằm chốn đồng không mông quạnh. Trái cây, rau rác, bầu bí, hành ngò, xà-lách, cà chua, cà-rốt… có gì chơi nấy. Họ chỉ định một địa điểm thuận lợi nhất để tập trung nhân công, điểm danh xong chất có thứ lớp lên chiếc xe trước đây dùng để đưa đón học sinh, hoặc na ná như xe thùng 6 bánh chuyên thồ bọn người tội phạm từ trại giam ra pháp đình luận tội. Gầm rú, dằn xóc cả tiếng đồng hồ thì thả người xuống một bình nguyên xanh mơn mởn, xanh tận chân trời. Phút đầu ai cũng lộ vẻ hân hoan vì được dầm thân trong môi trường thoáng đãng khí trời lồng lộng, chỉ có quý vị phụ nữ là mặt ủ mày chau và sĩ số họ đông gấp ba lần phái nam. Chi cũng được nhưng nắng kiểu đó thì tui ngán lắm, rồi sẽ đen như con mọi. Họ phát biểu cảm tưởng. Đã rất lâu, giờ đây tôi mới nhìn lại hình thể một chiếc nón lá hình chóp đặc thù của quê cũ. Chẳng biết có ai ép trong đó một bài thơ? Anh về xin nhớ mua quà, mang qua một vật che loà nắng mưa.
Vì lính mới, tôi được một chị tên Sương kèm sát bày đường chỉ lối. “Lom khom dưới núi tiều vài chú”. Ừ, tiều phu thì chỉ một vài, chớ bọn tui đây e tới cả trăm không chừng, lúc nhúc, chổng mông, còng lưng, tay khoan tay nhặt, mồ hôi mồ kê ràn rụa chảy. Chẳng nói chẳng rằng, hôm sau chị Sương trao cho tôi một chiếc nón vải rộng vành. Không sao đâu mà, đội đi, tui mua ở chợ trời giá rẻ như cho, chớ ngại. Giờ giải lao, chị mời ăn củ khoai mì hấp chín với nước dừa. Ở đây không có đâu, chỉ riêng chợ Mễ mới bán nó. Chị cho hay khi đưa thêm gói mè rang. Tôi nghe họ nói ăn củ này trong lúc bụng đói sẽ dễ bị say. Bụng tôi no cũng muốn chóng mặt, dung mạo chị Sương tầm tầm nằm giữa mức xấu đẹp nhưng lòng dạ ấy thì quá mỹ lệ, ưa giúp đỡ kẻ khác. Chị ở một mình nuôi con ăn học, chị tâm sự: Cháu nó được tám tuổi rồi, sợ nó quên tiếng mẹ đẻ nên cuối tuần tui chịu khó dắt nó tới chùa, những người tốt bụng thành tâm có ngăn ra một gian sau hậu liêu để dạy tiếng Việt cho bọn nhỏ, khi chúng ê a thì ngoài sân tui phụ giúp nấu các món ăn chay để thiện nam tín nữ lót lòng. Chủ nhật mà, người vào ra đông vô số kể. Anh có từng lên chùa thắp nhang?
Nếu có thể xem là nghề thứ ba, thì do chị Sương giới thiệu, tôi được làm “ông thầy” thiện nguyện dạy các em nhỏ tập viết tập đọc chữ quốc ngữ ở sau ngôi chùa to ngất độc tôn trong vùng. Trước chỉ có lớp học vào ngày thứ bảy, sau này do đông học viên nên sinh thêm một lớp tụ bầy vào hôm chủ nhật. Và tôi phụ trách làm đứa “gõ đầu trẻ” vào ngày thảnh thơi ấy..Việc đó là hậu sự, tiên khởi chị Sương kể là tui từng chứng kiến có đôi ba cặp đã nên duyên vợ chồng nhờ gặp nhau ở ngôi chùa đó, sao anh không thử một phen, biết đâu lòng thành được chốn khói nhang chứng giám, kinh kệ độ trì. Tôi nghe, bụng thấy chút khó chịu. Đã vác thân tới chốn trang nghiêm mà sao còn mang theo một đống bụi trần thất tình lục dục chất chứa trong lòng? Đã không buông bỏ lại muốn trói buộc thêm vô. Việc tôi tự nguyện dạy dỗ các em tuổi hồn nhiên rạng ngời kia có phải là một trong muôn ngàn cách buông? Chị Sương làm “tài xế”, ông thầy ngồi bên cạnh và cô học trò tám tuổi khép nép lễ phép ngồi băng sau, chẳng mè nheo, chẳng sinh sự, không có ý kiến. Dễ thương hết biết. Má của con lòng tốt bao la như vậy thì mai này con sẽ hưởng lấy phúc lộc, hổng thèm tới chùa cũng gặp được kẻ xứng đôi, vinh hiển ấm đời.
Bức tường vôi vàng ngăn hai gian nhà, bên kia lớp học là nơi đặt di ảnh, hủ tro của các người vắn số được thân nhân mang gửi vào những mong vui vầy phần nào khi lìa xa nhân thế. Ngoài lời kinh tiếng mõ, tôi mong là tiếng đọc bài ê a “công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” của các em nhỏ sẽ làm “họ” vui tai, mĩm nụ cười độ lượng. Chị Sương có tài nấu nướng, chị mua rau quả ngoài nông trường với giá rẻ và thường mang đến chùa từng túi lớn chất đầy các loại xanh tươi. Chị mặc chiếc áo lam, mặt đỏ hồng khi gia công với củi lửa, có vẻ vui thú khi nghĩ thành quả mình làm ra sẽ giúp mọi người có bữa ăn no nê trong thanh đạm. Nhìn chị, tôi luôn mọc ra ý nghĩ về người chồng khiếm diện, anh ấy đang ở đâu? Có được một người vợ tựa thế phải dày công tu mới nên duyên chứ? Chị chưa một lần tâm sự và tôi luôn tôn trọng cái im lặng của chị. Hẳn đó là vết thương lòng, khi đã biết thế mình không nên khơi mở nó ra. Cách chị siêng năng đến chùa mỗi cuối tuần hầu như là phương thức nhằm cố vơi bớt nghiệp chướng?
Thời gian này tôi đã quen lại với giấc ngủ bình thường giống mọi người, đã đoạn tuyệt với thời khoá biểu lấy đêm làm ngày như trước đây. Có khi soi gương, đọng trong ấy phản chiếu một khuôn mặt lạ lẫm, đen đúa vì mãi một sương hai nắng. Hai bàn tay thì biến dạng thấy rõ dù có mang găng bảo vệ khi lao động. Và lao động thì mãi chẳng vinh quanh. Làm việc chỉ đủ sống. Sống chỉ để ăn, ngủ rồi vận hành theo một lập trình cũ, không biết cách hoán đổi. Miếng ăn tôi không lo toan, vì chị Sương bao giờ cũng nấu thừa ra, bới xách cho tôi. Chu đáo đến cả thức uống hoặc món tráng miệng. Ăn cho có sức mà làm việc. Chớ so đo, đồng tiền mình làm ra đều lương thiện, không có gì đáng để tủi thân. Chị thường uỷ lạo, an ủi tôi.
Ở nông trường bắt đầu phát tiếng nhỏ to ong ve xì xầm. Cộng đồng người Việt, dù chỉ một nhóm người, họ có khối chuyện để bàn tán, dị nghị, cả tin, nghi ngờ và ưa làm tài khôn. Đại để như: Bà Sương nên đi bước nữa, cũng lớn tuổi rồi đâu thể ở không. Mình chẳng nói gì nhưng nghĩ tới đứa con còn nhỏ dại, hơn ai cả nó cần một người cha… Ngay chính miệng người mẹ cũng có lần nói với tôi, con bé nó đặc biệt có cảm tình với anh, việc học tiếng Việt xem chừng nó tiến bộ làu thông, đôi lúc hỏi nhiều câu bất ngờ, không biết đường mà trả lời, cứ ấp a ấp úng!
Tôi tập thói quen đi ngủ vào lúc mười giờ, để đồng hồ báo thức vào sáu giờ sáng. Thời gian đầu không sao, gần đây thỉnh thoảng tôi bị đánh thức bằng thứ tiếng động lạ như kiểu ngoài tôi đã có ai khác cùng trú trong cái ấp hai phòng rưỡi nhỏ nhắn này. Tôi ngồi dậy, cảm nhận rõ có luồng gió lạnh vừa vụt qua, y như đêm hôm nào làm việc quét dọn trong cao ốc vắng lặng. Cái địa điểm mà sau cùng người bạn tôi cũng đã bỏ việc, hắn chỉ nói mơ hồ bằng mấy chữ “chịu đời không thấu”. Tôi mở sáng đèn đi thăm dò cửa nẻo vốn đã khoá chặt cài then. Heo may ngoài trời như biết thẩm thấu qua vách ngăn, lạnh trong người lạnh ra.
Chứng mất ngủ bắt đầu hiện tới, trùm chăn nằm đếm số, cố nhớ ra những đoạn văn thật thơ mộng thật giản dị của tiền nhân để truyền lại cho bọn trẻ luôn háo hức, luôn thân tình với người thầy bất đắc dĩ. Một con nước trôi dịu dàng ra cửa biển? Một đám mây bay nhẹ nhàng sang bên kia núi? Một cánh chim cô quạnh vụt qua trời chiều nhá nhem? Một tình yêu cao cả có thể chuyển hoá sự xấu xa? Tôi mê thiếp một hồi thì nghe tiếng réo liên tu bất tận có ở đồng hồ báo thức. Chồm người dậy tắt, con số 3:00 xanh lè ở đó cháy tỏ. Kỳ khôi chưa? Phải là số 6:00 mới đúng chứ! Một lần không nói, đêm sau cũng giở chứng y hệt. Đã có bàn tay thần bí nào nhúng vào?
Tôi bắt xe buýt đi tới chùa. Không nhằm cuối tuần, chùa vắng. Một chú sãi, hay chú tiểu đang quét lá ngoài sân bị tôi nắm chéo áo cậy nhờ, làm ơn dắt tôi vào chỗ thờ phụng người khuất mặt. Tôi nào lạ gì khi chỗ ấy nằm sát vách nơi tôi đạo mạo làm giáo viên hàng tuần. Tôi muốn chú ấy đi theo bởi bóng chiều tà vừa bao phủ khiến tôi ngán khi đơn thân phải vào nơi thâm u. Tôi muốn tự mình xác tín một chuyện. Trước đây, trong giờ tập viết, tôi đã ra đầu đề, các em hãy nắn nót tên người cha của mình trên trang giấy xem có được không, có sai lỗi chính tả thầy sẽ sửa giúp. Đứa con của chị Sương viết, chẳng sai một mảy may: Trần Văn Như Gia. Chú tiểu nhắc: Thầy nên thắp cho các vị ấy ba cây nhang. Tôi nghe lời cùng lần với dãy bóng đèn néon đồng loạt cháy sáng. Tôi cúi đầu, chẳng biết khấn nguyện điều gì. Tôi vái và tôi cắm run rẩy vào bát tro. Bức tường trước mặt tôi, nằm sau lưng bàn thờ đầy hoa trái treo đầy những tấm ảnh vàng vọt của kẻ gửi thân về cát bụi. Mất chừng năm phút, tôi đọc thấy bốn chữ Trần Văn Như Gia nằm dưới một gương mặt có vẻ nghiêm khắc, có vẻ khó tính, có vẻ cộc cằn, có vẻ không hoà thuận với cuộc sống, hoặc ít ra anh ta chẳng ưa chụp ảnh, bộc lộ cái bất bình, kháu ó.
Tôi xin chú tiểu một cuốn kinh, bất kể là loại gì, in một vài câu cũng được nhằm khấn đọc thầm, tụng chú trong canh khuya. Rồi chia tay. Rồi gửi lui lời hẹn gặp vào chủ nhật. Tôi bước tới trạm đợi chuyến buýt, thay vì về nơi cư ngụ tôi đứng bên kia đường để ngược hướng tới nhà chị Sương. Tôi sẽ nói cùng chị những hoạn nạn mà tôi đang gặp phải. Và rất khó khăn, tôi buộc lòng thưa thật, tôi sẽ kiếm việc làm khác. Tôi vắng mặt một thời gian. Và rồi tôi sẽ ngồi yên chờ nghe từ chị một cao kiến, một kế sách vẹn toàn. Bóng tối chan đầy lòng đường, chỉ có vũng sáng từ cổng chùa tạt hắt ra vuông màu vàng nhạt. Chuyến buýt sật sừ đi tới, thắng đứng lại, cửa mở. Tôi bước vào lòng xe, băng ghế cuối có bóng đen vừa ngẫng đầu lên. Ông ta mang bộ mặt lãnh cảm giống hệt người chồng chị Sương. Cuốn kinh trong tay tôi đẫm ướt.
Ở trong nước, mỗi năm, bộ hành, người dùng xe đạp, người cỡi xe gắn máy từ chết đến bị thương đếm không xuể, nguyên nhân do đang lưu thông chẳng may có ô tô điên từ đâu láng cháng rồ tới, tông, đụng, húc, cán không khoan nhượng. Thường dân than: Khi khổng khi không cái phủi chân lên bàn thờ đi gặp mặt ông bà; mà đảng viên thì báo cáo: nó vừa đi thăm Các-mác Lê-nin.
Chết, có trăm phương nghìn cách, kể cả khi nghĩ là an toàn leo được, ngồi vào lòng ô tô, mua vé xe đò có giường nằm bon bon trên quốc lộ Một. Xe đổ đèo xe đứt thắng, bác tài ngủ gật lạc tay lái. Đại lộ không chạy lại nhắm tiểu lộ mà cày xới bao vật ngáng đường, trầy trụa khi rơi “êm” xuống vực, “một bộ phận không nhỏ” liền khuất núi, hồn du địa phủ.
Dù tin rằng số trời đã định, tới ngang tuổi đó phải chết đi, nhưng bá tánh vẫn có lắm kẻ xem ô tô là con quái vật, tâm bất an đem lòng ngờ vực, kỵ ô tô, thấy từ xa đã cẩn tắc lo nhảy, trước khi nước tới chân.
Hài kịch rẻ tiền thường phát sóng trên truyền hình, muốn chọc cười bà con diễn viên thường dặm pha giọng Quảng Nam mà đa phần thích chơi khăm tới dân Huế bằng cách tự tung tự tác chêm thêm dấu nặng vào mỗi chữ trong lời thoại. Tự ái địa phương đem bắt bẻ thì nghe họ nói: Hổng phải sao? Người Bắc chửi đéo mẹ, Nam kêu đù má mà các anh hô đụ mạ. Hai dấu nặng sờ sờ ra đó. Nặng chết tía luôn, nói nhanh nói nhiều tui hổng hiểu đâu nghen. Đừng có ở đó mà răng ri rứa!
Oan cho người mềnh quá! Dẫn chứng có bi nhiêu thì mần răng thuyết phục hở eng? Bồ tèo ưa nghe thêm hả? Đầu niên học, thầy cô trong Nam hỏi học trò: Các em đã đủ vở chưa? Trong khi ngoài anh thì nghe sang sảng: Cạc em đạ đụ vợ chưa? Dạ thưa cô, đụ rồi.
Mặt đỏ rần. Đỏ vì tức giận một phần. Thù oán gì nhau mà ăn nói mất vẻ thanh lịch thế kia. Người Huế kêu bằng: Con nhà ai mà chơi kiểu ba de rứa bây! Thiệt là đồ mất dạy! Giả như đọc tên thành phố cổ xưa Kyoto bên Nhật thì thằng cha căng chú kiết nào lại đi phát âm là Kỵoto? Hết chữ rồi hay răng mà mang Kyoto ra ví von? Đừng nóng, vì vừa nghe “ngài” thủ tướng phán: “Huế là một Kyoto của Việt Nam, phải tận dụng vẻ đẹp chẳng nơi nào có được”. Ai nói thì nên nghe theo nhưng “lời hay ý đẹp” của bề trên thì lâu nay vẫn khiến bá tánh ma-dzê-in hoang mang trộn lẫn hoài nghi nói dzậy mà hổng phải dzậy. Noại rựa mà khung phại rựa. Ngày xưa thủ tướng có cắp sách đến trường không? Có nghe thầy hỏi “em đạ đờ vờ chưa?”
Người Huế trong nước nghe rứa có sướng hung khôn? Có tự hào khi xứ mềnh tự nhiên một sớm một chiều được “vẽ râu ông nọ cắm cằm bà kia”? Từ một rẻo đất mãi hứng chịu lắm thương đau tăm tối bầm dập nay được ví ngang với thành phố dân chủ văn minh hiện đại, đến ngay cả con cá con chim con mèo con chó bên ấy cũng được người dân coi trọng, bảo bọc nâng niu. Dân chưa lên tiếng, lãnh đạo đã lo cúi gập người xuống mà nhận lỗi lầm. Thậm chí họ sẵn lòng từ chức, tự nhận mình là kẻ bất tài, xin khoan thứ cho tài sức hạn hẹp của tôi đã chẳng đáp ứng bao kỳ vọng mà quý vị tin tưởng trao cho.
“Huế thơ Huế mộng” thì răng? Năm 1970 nhà thơ Phạm Nhuận có thơ:
Nhớ những chiều ngồi bên này sông Cây cầu thân yêu gãy xuống giữa giòng Tà áo em bay trắng màu goá bụa Như tang tóc về giữa phố người đông.
Có Trịnh Công Sơn từng “hát trên những xác người”. Chuyện chi rứa? Dạ thưa, Tết Mậu Thân 1968 vẫn còn đó là vết cắt sâu, xương chất thành núi máu chảy thành sông. Mấy mươi năm qua vẫn bặt câm một tiếng xin lỗi từ guồng máy bạo liệt tạo ra trận thảm sát chưa từng có trong lịch sử “dựng nước và giữ nước”. Chỉ có lời thở than của nạn nhân, nỗi đau vô chừng vô đỗi đến độ nó chui vào ngay cả món giải trí, vẽ nên con Nghèo trong bộ bài Tới:
Chồng em chết bữa ba mươi Tết Không biết mượn cuốc nơi mô Đưa hai tay bụm cát lấp mồ Tình sâu nổi thảm biết chừng mô hỡi trời!
Sắp tết rồi ông thủ tướng ui. Dù nghèo đói tới cỡ nào đi chăng nữa hạng thứ dân bần cùng cũng cố thu vén chắt chiu bóp họng bóp hầu để bày lên bàn thờ một mâm cơm hòng cúng dâng những người khuất mặt. Trong khi những kẻ đè đầu cỡi cổ vẫn có biệt tài tạo ra bánh vẽ, hết món này tới món kia rất mực thịnh soạn. Chỗ này thì ví ngang với Mút-cu, chỗ kia thì nào khác Cu-ba. Hà Nội thì chính hiệu là Paris. Đà Lạt nào khác chi Ba Lê thu nhỏ. Sài Gòn tợ thung lũng điện tử bên Cali, mà bây chừ Huế đích thị là Kyoto vậy. Huế có em bé 12 tuổi nghe lời dụ “em đi với chị một chút thì được 10 triệu”. Chị dắt em vô chợ Đông Ba ăn sương sa hột lựu xong giao vào tay một thằng đàn ông chở xe qua cầu Trường Tiền 6 vài 12 nhịp, vô nhà nghỉ kịp, liền lột đồ bé ra mạnh tay mạnh chân cho xong dịp phá trinh. Huế có cậu thanh niên tuổi trẻ tài cao đi xe máy vô ngân hàng sát cửa Đông Ba, với khẩu súng giả hăm he, đã cướp lấy một bao bố tiền bác Hồ nhìn thẳng trong vòng 45 giây, nhanh tới mức chàng bảo vệ chẳng kịp phản ứng. Huế có chán vạn nhân vật “đình đám” khác mãi lưu danh thiên cổ (viết ra làm chi những Nguyễn Đắc Hoàng Phủ cho tốn giấy). Hiểu một mặt khác, Kyoto tuồng vẫn còn thấp kém lắm, so bì chi được với đất Thần Kinh, đẻ ra ông Trần Vàng Sao:
mả cha cuộc đời quá vô hậu cơm không có mà ăn ngó lui ngó tới không biết thù ai những thằng có thịt ăn thì chẳng bao giờ ỉa vất.
Tui cũng rứa, tui chẳng biết thù ai mặc dù tui không là múi chanh bị vất vỏ đến độ phải chửi mả cha cuộc đời. Tui cũng người Huế nhưng Huế ba rọi, Huế trên giấy khai sinh mà khai sinh thì đã nổi trôi chìm đắm trên chuyến vượt biển một đêm tối trời ở biển Thuận An lắm hồn oan. Giờ ni tui làm dân Canadien, ở ngay trên đất Montréal sử dụng tiếng Pháp. Tiếng Pháp họ nói thì dân bên Paris qua thăm thú cũng ngẫn tò te đực mặt như ngỗng ỉa. Một thứ ngôn ngữ cổ xưa như biết thêm dấu nặng. Vô tình, vì rứa mà tui có cảm tình, họ chửi thề và tui yêu thứ ẩn ngữ khó hiểu “hậu hiện đại” kia: Tabarnak là một, Calisse là hai. Độc cô cầu bại chẳng sợ đụng hàng.
Chôn chân ở đây, tui không trông mong chi ngày hoà bình để về nhìn lại mặt Huế xưa. Mỗi khi nghe tin (toàn cả tin khó tin) bên xứ cũ vọng qua (xứ có hơn mấy chục ngàn ông bà tiến sĩ chịu cúi đầu nghe sai bảo dưới các đồng chí học lực chỉ xong bậc tiểu học) tui đều phát âm Tabarnak. Calisse.
Học vị tui cũng thường thường bậc trung, chỉ biết cày sâu cuốc bẩm trên những “mặt trận lao động chân tay”. Tuy thất học nhưng tui chưa từng bội bạc tình nghĩa mà dân bản xứ rộng lòng trao cho. Không có thứ thước đo nào để bạn mang ra nhằm đối chiếu, so sánh được. Đừng ví Montréal này là đất lạnh tình nồng, giả dụ thế. Đừng hoán đổi nó với một thiên đường hạ giới nào cả. Đừng thấy nhà sang rồi bắt quàng làm họ. Chỉ tổ làm rõ thêm sự xuẩn động, mưu hồ khẩu yếu kém mình mang.
Thành phố này cũng là nơi có nhà thơ Luân Hoán định cư. Năm mới, ông có làm lắm bài thơ nhẫm tính thời gian trước khi lìa bỏ cuộc chơi ký gửi nỗi lòng lên facebook. Trái với sự tỉnh táo đi gần tới mức yếm thế của Luân Hoán, nhà thơ Hồ Chí Bửu đùa nghịch:
Về trời đâu có quai phai (wifi) Đây có phây bút mà nhai nỗi sầu Thôi thì ta chẳng về đâu Trần gian chơi tiếp mặc dầu… hết pin.
Khi đã hết pin, lãnh đạo xứ ấy dùng chữ thậm ấn tượng: “Thanh thản cỡi ngựa sắt về trời vui thú điền viên”. Rất dễ nể, dễ dằn mặt các thi sĩ khi họ muốn cách tân thi ca. Tui người Huế lưu vong từ muôn kiếp trước, Huế ba rọi nên chi cũng cọp dê một chút thơ cho ra vẻ mình biết tí ti tiếng Pháp:
Chiều chiều dạo phố la rue Bỗng thấy đằng xa một jeunne fille Tuổi tác xuân xanh còn petite Hình dung mặt ngọc cũng jolie.
Khà khà. Lỡ mang tội đạo thơ của ai kia thì e cũng dễ thứ tha lỗi lầm. Còn hơn bạn mắng tui: Thằng người Huệ kia, tao biết gia đình dòng họ ba đời nhà mày chính chuyên vô sản nổi tiếng ở thành phố Kỵoto. Cớ sao mày không chịu nói tiếng Nhật: Tao đi ga ni, mi đi ga mô… Tabarnak!
Đúng như lời quản giáo Thành nói với tôi và Sơn Fulro ở hội trường. Ba ngày sau, toàn trại B trung úy được tập họp theo từng khối để nghe thông báo quan trọng. Anh quản giáo với vẻ mặt nghiêm nghị nói.
-Tôi xin báo cáo với các anh một tin đầy hồ hởi phấn khởi, về lịch trình học tập trong hơn hai tháng sắp tới.
Đây là một tin vui khiến mọi người nghe qua đều hớn hở ra mặt, vì nghĩ rằng có học thì sẽ có thả về. Những chữ mới của Việt cộng, như hồ hởi phấn khởi, bọn tù chúng tôi lúc mới nghe lần đầu đều bị dị ứng như phong ngứa nổi lên khắp người. Một anh bạn tính tình xuề xòa nói nhỏ với bạn bè.
-Nghe riết rồi cũng quen thôi mà. Bọn mình đang ở trong rọ, đi với ma thì cứ hồ hởi phấn khởi mặc cái áo giấy. Đợi khi có cơ hội mình cởi bỏ, vứt đi mấy hồi.
Buổi học đầu tiên được tổ chức thật là hoành tráng, hội trường với biểu ngữ do Sơn Fulro và tôi làm được treo cùng khắp, khoảng bảy trăm tù trung úy Ngụy xếp hàng ngay ngắn trong hội trường, khối nào theo khối nấy. Tất cả đều đứng im phăng phắc để chào đón phái đoàn mà tôi đoán là ban giảng huấn.
Sau khi giới thiệu tên của mấy giảng viên và quản giáo. Chỗ này tôi muốn giải thích thêm một chút, tên và việc làm của mấy ông Việt cộng nghe cứ từa tựa như chuyện Phong thần của Tàu. Không Bế văn Đàn lấy thân làm giá súng, thì cũng Phan đình Giót đem thân mình lấp lỗ châu mai, không Lê văn Tám làm ngọn đuốc sống đốt cây xăng của Pháp, thì cũng như Nguyễn thành Trung, ông này làm gì tôi không biết. Những việc làm của họ cũng như những cái tên như vậy, bọn Ngụy chúng tôi nghe xong cứ coi như nghe chú cuội kể chuyện.
Trên bục gỗ một ông Việt cộng tựa như là có cấp bậc cao nhất trong ban giảng huấn, tách khỏi hàng tiến về phía trước, trịnh trọng nói.
-Hôm nay các anh thực sự bắt đầu bước vào học tập để trở thành con người mới, con người Xã Hội Chủ Nghĩa. Chương trình học gồm có mười bài, mỗi bài sẽ học trong một tuần, bài thứ nhất “Đế quốc Mỹ xâm lược, tên sen đầm quốc tế”, và những tuần lễ kế tiếp sẽ có thêm chín bài nữa. Mỗi bài học các anh sẽ được nghe giảng ở hội trường một ngày, sau đó có hai ngày ở tại tổ viết bài thu hoạch và tự kiểm điểm liên hệ tội lỗi của mình với bài học, ba ngày cuối là tuần tự từng cá nhân đọc bản kiểm điểm của mình trước tổ. Mọi người trong tổ có bổn phận giúp cho người đọc thấu hiểu rõ ràng tội lỗi của mình. Các anh cũng có bổn phận phải vạch rõ những sai trái của bạn mình trong thời gian làm lính Ngụy, đã theo lệnh của đế quốc Mỹ chống lại nhân dân, phản bội Tổ quốc.
Tôi cùng những ông trung úy Ngụy ngồi trong hội trường, nghe ông cán bộ Việt cộng nói việc chúng tôi cầm súng chống lại đảng Cộng sản cướp nước là “Phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân” nghe cứ ngang như cua. Với tôi, chuyện hai thằng ăn cướp đánh nhau, được làm vua thua phải ở tù điều đó hoàn toàn đúng, thế nhưng chúng tôi là quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu để bảo vệ quê hương, chống lại cái đảng cướp tên là Cộng sản, câu nói trên không thể áp dụng cho chúng tôi được. Đảng Cộng sản chụp cho chúng tôi cái mũ phản quốc thì đó là hành động của kẻ vừa đánh trống vừa ăn cướp. Biết như vậy nhưng chúng tôi không thể phản đối, vì họng súng AK lúc nào cũng chỉa thẳng vào đầu của chúng tôi. Bao lâu, người dân còn oằn mình mang gông vào cổ thì chuyện bóp méo sự thật, bẽ cong chân lý, vẫn còn trơ ra đó.
Hình minh họa
5 giờ chiều, một ngày nghe giảng ở hội trường chấm dứt, bọn tù chúng tôi lục đục kéo nhau về.
Sang đến ngày học tập thứ hai và thứ ba, chúng tôi được tự do ngồi ngay tại phòng ngủ của mình, khai lại lý lịch ba đời cùng mọi tội lỗi từ lúc bắt đầu cầm súng của đế quốc Mỹ chống phá Cách mạng, cho đến ngày 30 tháng 4. Bọn tù nhân chúng tôi được Cách mạng phát giấy bút và mực cửu long, ngòi bút là ngòi lá tre hay ngòi bắp chuối, mà cách đây khoảng hai chục năm tụi tôi dùng khi còn học lớp năm hoặc lớp tư ở bậc tiểu học. Những ngòi bút ấy tưởng đã biến mất hoặc nằm trong viện bảo tàng, bây giờ không biết tại sao Cách mạng vẫn còn dùng và cấp phát cho chúng tôi. Tôi lặng người nhìn cái ngòi bút lá tre mà lòng đầy thương cảm, nhớ lại cái thuở xa xưa, nhớ ngày đầu tiên cắp sách đến trường rồi bất giác đọc “Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều” chưa kịp đọc tiếp thì đã nghe nhiều người trong tổ nối theo “và trên không có những đám mây bàng bạc…” Vì mơ màng như vậy nên khi Việt cộng cho hai ngày để khai lý lịch và tội lỗi, mới nghe qua tưởng là dễ dàng, ngon ăn, thế nhưng khi bắt đầu viết mới thấy khó khăn
Những năm mà chiến tranh Việt Nam leo thang đến tột đỉnh, mùa hè đỏ lửa năm 1972 với những trận đánh hủy diệt kinh hoàng ở An Lộc, Bình Long, Pleiku, Kontum rồi cổ thành Quảng Trị. Với bảy năm lính, tôi chỉ ở một đơn vị và may mắn là lính văn phòng chưa một lần cầm súng bắn nhau với Việt cộng. Cái may mắn này giúp tôi an tâm rất nhiều. Trong khi tôi ung dung nhàn nhã khai báo tội lỗi, thì mấy ông bạn cùng tổ của tôi ở những đơn vị tác chiến phải ngồi cắn bút nhớ lại những chi tiết vụn vặt, nhỏ nhặt, từ ngày vào lính cho đến khi vào tù, đã phục vụ bao nhiêu đơn vị, đụng trận với Việt cộng bao nhiêu lần, tại đâu, có bao nhiêu Việt cộng chết và bị thương.Tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ họ phải ghi vào bản kiểm điểm, và coi đó là phần tội lỗi của mình, khi đã xong phần viết, tiếp đến ba ngày cuối cùng mỗi người có nửa giờ đứng đọc bản thu hoạch của mình trước tổ, và nửa giờ để mọi người góp ý, xây dựng, bổ túc phần thiếu sót dưới sự kiểm soát của quản giáo.
Người đầu tiên đọc kiểm điểm là một trung úy đại đội trưởng thuộc sư đoàn 23, anh ta cầm tờ giấy từ tốn đọc to phần lý lịch, rồi bài học đế quốc Mỹ xâm lược, sau cùng là phần liên hệ tội lỗi của mình. Anh ta đọc kiểm điểm và được mọi người trong tổ giúp đỡ, bài của anh được toàn tổ thông qua với sự đồng ý của quản giáo. Lý do bài viết nhận tội, anh đã khai rõ đụng trận với chiến sĩ Cách mạng mấy chục lần, cùng con số thương vong của cán binh Cộng sản trong những trận ấy.
Người kế tiếp là tôi, sở dĩ tôi được đọc thứ hai, là vì căn cứ theo chỗ ngủ xếp cá hộp trên những tấm vỉ sắt PSP, tính từ cửa trước đi vào. Tờ kiểm điểm của tôi khá đơn giản so với anh bạn đọc trước, trong phần liên hệ tội lỗi tôi ghi ngắn gọn. “Từ ngày ra trường tháng 3 năm 1969, cho đến 30 tháng 4 năm 1975, đơn vị của tôi là Trường Võ Bị Đà Lạt, vì là lính văn phòng nên tôi chưa bao giờ bắn một viên đạn, ngoại trừ khi tập bắn ở Quân trường Quang Trung và Trường Bộ Binh Thủ Đức. Chuyện bắn giết chiến sĩ Cách mạng, tôi không có tham dự thậm chí chưa bao giờ thấy mặt chiến sĩ Cách mạng luôn.” Đọc xong tôi đứng chờ đợi phần giúp đỡ của toàn tổ. Trong lòng tôi tin tưởng mình hoàn toàn vô tội, và bài kiểm điểm sẽ được mọi người đồng ý cho qua vì chuyện quá rõ ràng. Đúng như tôi dự đoán, mọi người trong tổ đều đồng ý cho thông qua. Tôi chưa kịp mừng thì quản giáo đã vội lên tiếng.
-Anh Nguyễn trọng Quân chưa thông suốt chủ trương và đường lối của Đảng và nhà nước ta. Một ngày đi lính cho Ngụy, là đã mang tội với nhân dân với Cách mạng rồi. Anh Quân ở trong quân đội Ngụy bảy năm, mang hàm trung úy, lãnh không biết bao nhiêu là bổng lộc của Ngụy quyền. Anh có biết tiền mà bọn Ngụy phát cho anh, ở đâu mà có không? Đó là tiền mà bọn lãnh đạo của Ngụy đã bán đất đai của ông cha để lại cho đế quốc Mỹ, ăn cướp tiền thuế của nhân dân, đem chia cho Ngụy quân các anh.
Tôi nghe quản giáo nói mà chết điếng trong lòng, dù biết rằng, những lời nói của ông ta chỉ là những lời xảo ngôn, thế nhưng bên cạnh những lời nói đó có kèm theo cái án học tập cải tạo mút mùa. Nếu muốn sống để trở về, tôi phải im lặng chấp nhận cái chân lý của kẻ thắng trận.
Hình minh họa
Thấy tôi đứng im lặng, quản giáo nói tiếp.
-Tội lỗi của anh là đã tiếp tay với bọn lãnh đạo của Ngụy đánh phá Cách mạng, cản bước tiến xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa của Việt Nam, bọn Ngụy các anh đã kéo nước Việt Nam đi thụt lùi hàng thế kỷ. Và còn nhiều tội lỗi nữa mà anh phải tự suy nghĩ. Phải tự nhận biết những sai lầm của mình mới mong học tập tiến bộ được. Tội của Ngụy quân các anh cho dù có lấy trúc ở Nam Sơn cũng ghi không hết tội, lấy nước biển Đông Hải rửa cũng không sạch mùi. Tối nay sau giờ họp tổ, anh ra nhà sau viết lại bản thu hoạch, phải thành khẩn khai báo mọi tội lỗi của mình cho đến khi đạt yêu cầu của Cách mạng đề ra mới thôi. Bản thu hoạch của anh sẽ được đọc sau cùng.
Dứt lời, ông quản giáo nhìn anh tổ trưởng rồi ra lệnh.
-Anh có thể cho tiếp tục buổi sinh hoạt.
Tôi ngồi nghe những anh bạn kế tiếp đọc bản kiểm điểm mà lòng đầy lo âu, không biết phải nhận tội như thế nào mới gọi là đạt yêu cầu. Theo lời quản giáo thì một ngày bận áo lính Ngụy, là đã mang tội với Tổ quốc rồi. Thôi thì cố gắng nghe những anh bạn được thông qua, mình ráng cóp cho giống họ là được. Suốt mười tuần lễ học tập, mỗi bài có một sức ép khác nhau, đè nặng lên đầu tù nhân. Sức ép ngày một tăng, cho đến khi tù nhân có cảm tưởng rằng mình đã thật sự gây nên tội lỗi với nhân dân, với Tổ quốc. Thấy được lỗi lầm rồi ghi vào bản tự khai, đó là mục đích yêu cầu mà tù nhân phải nhớ rõ.
Mười tuần lễ học tập rồi cũng qua đi, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm. Bây giờ là khoảng đầu tháng sáu của năm 1976, còn vài tuần lễ nữa là tôi đã ở tù được một năm. Sau đợt học tập, cuộc sống của tù nhân bắt đầu trở lại với những sinh hoạt bình thường, sáng vác cuốc đi tối vác về, cuốc nhiều hay ít, trưa đến cũng chỉ chén rưỡi cơm mà thôi.
Khi lao động ở bên ngoài trại, thường thì mỗi khối có bốn vệ binh đi theo canh gác, những người vệ binh này luôn giữ khoảng cách an toàn rất xa, không để cho tù nhân dễ dàng cướp súng, nhưng lại rất gần trong tầm của súng AK. Buổi trưa, khi tôi đang ngồi thưởng thức nắm cơm nguội, từ xa hai anh vệ binh đi về phía chúng tôi, họ hỏi hết người này đến người nọ rồi theo hướng chỉ dẫn của một anh bạn tù, cả hai đi thẳng đến trước mặt tôi. Một trong hai người nhìn vào tờ giấy đang cầm trên tay rồi hỏi.
-Anh là Nguyễn trọng Quân phải không?
Tôi linh cảm có chuyện không hay, nhưng không kịp có thì giờ suy nghĩ, vội vàng trả lời.
-Phải.
Anh vệ binh đưa tay ra dấu.
-Anh theo chúng tôi.
Tôi nhét vội chút cơm còn lại vô miệng, vừa nhai vừa đứng lên đi theo hai anh vệ binh. Họ dẫn tôi đi quanh co, tạt ngang, chẻ dọc, cuối cùng hướng về doanh trại của bộ đội, bên ngoài của trại tù, tôi hoàn toàn không biết gì huống chi đi vào doanh trại của họ. Từ đây thêm khoảng 5 phút lội bộ, chúng tôi đến một khu nhà nằm cách khá xa doanh trại, hai người vệ binh dẫn tôi vào một căn nhà gỗ mái lợp tôn trông cũng khá khang trang, rồi đóng cửa lại. Vừa mới ở ngoài nắng, bị đưa vào một nơi không có ánh sáng, mắt của tôi chưa quen với bóng tối, phải chừng vài phút sau tôi mới tạm thấy rõ mọi nơi. Căn phòng trống rỗng chỉ có một cái bàn và hai cái ghế, nơi góc phòng có một cái chõng tre, giữa phòng hai ông bộ đội đang ngồi hút thuốc lào. Một ông nhìn tôi rồi hỏi với giọng chắc nịch đầy uy quyền.
Hình minh họa
-Nguyễn trọng Quân phải không?
Tôi hơi chột dạ vội vàng trả lời.
-Thưa phải.
Giọng nói của ông ta gắt lên.
-Mày quen thế nào với thằng Long?
Tôi nghĩ ngay đến Long công tử, và tin rằng bạn mình đã trốn trại nên nói.
-Thưa, anh muốn nói đến Long công tử, phải không?
Tôi vừa dứt lời thì ba, bốn cái đấm liên tục nện vào đầu, mặt, mũi của tôi rồi thì đá đạp liên hồi, tôi té lăn quay, nằm dài dưới đất, tiếp theo là vài cái giậm mạnh lên mình, tôi mơ hồ nghe tiếng chửi thề.
-Mẹ bố mày, tao đâu có hỏi thằng công tử nào đâu mà mày nói công với tử.
Dứt lời, hắn tiếp thêm mấy cú đá vô ba sườn của tôi như muốn trút tất cả giận dữ lên người tôi. Nắm cơm tôi vừa ăn lúc nãy ộc ra khỏi miệng, tạo thành một vũng nhỏ bầy nhầy trên mặt đất, với những hạt cơm chưa được tiêu hóa trộn lẩn với chút nước sền sệt màu vàng, một mùi chua lợm giọng bốc lên. Sức chịu đựng của tôi đến đây là hết, tôi sợ đến vãi đái trong quần, nên tìm cách nói thế nào cho họ đừng đánh. Chút lý trí mù mờ trong đầu nói với tôi, chỉ có một cách là nói láo. Trước khi ngất đi hình ảnh ông bán bánh xèo vụt hiện về trong đầu, tôi cố sức thều thào nói.
-Đừng đánh nữa, tôi là con cháu gia đình Cách mạng. Cậu của tôi hiện là…
Tôi hơi ngập ngừng vì không biết chức vụ của ông Năm bánh xèo, cuối cùng tôi nói đại.
-Bí thư tỉnh ủy Đà Lạt.
Dứt lời tôi mê đi không còn biết gì nữa. Không biết tôi đã thiếp đi bao lâu, khi tỉnh dậy, mọi người đã đi đâu hết rồi, chỉ còn một người bộ đội đang ngồi bó gối nơi ghế, tay ôm lấy chân, tay gõ nhẹ lên mặt bàn, miệng hát nho nhỏ “Cùng mắc võng trên rừng Trường sơn”.
Thấy tôi cựa quậy, mở mắt nhìn, ông ta hỏi.
-Lúc nãy mày nói cái gì?
Tôi cố nhớ lại tất cả diễn tiến trước khi bị bất tỉnh. Phải rồi nếu muốn không bị đánh, phải nói láo, trót phóng lao thì phải theo lao, tôi mạnh dạn nói.
-Thưa anh, cậu tôi hiện là Bí thư tỉnh ủy Đà Lạt.
Gã bộ đội đổi thái độ, hỏi lại với giọng bớt vẻ cộc cằn.
-Anh nói gì? Cậu anh là bí thư tỉnh ủy?
-Thưa phải.
-Tên ông ấy là gì?
-Thưa anh, tên là Trần Chiến.
Gã bộ đội nhìn vào tờ giấy để trên bàn.
-Anh khai láo với tôi, phải không? Có thân nhân theo Cách mạng, tại sao trước đây anh không khai trong tờ khai lý lịch.
Lúc bấy giờ tự nhiên đầu óc tôi sáng suốt một cách lạ lùng, tôi thản nhiên nói.
Hình minh họa
-Thưa anh, tôi là trung úy Ngụy quân, tôi sợ rằng khai ra sẽ liên lụy đến sự nghiệp Cách mạng của cậu tôi.
Cuộc đối thoại bây giờ đã trở nên nhẹ nhàng, gã bộ đội nói, giọng nói nhỏ lại.
-Anh quen thế nào với trung úy Long, người Sài Gòn ở khối Bình Thuận.
Tôi trả lời anh ta.
-Thưa anh, tụi tôi là bạn cùng chung một khóa sĩ quan ở Trường Bộ BinhThủ Đức.
-Một khóa có nhiều người, tại sao anh lại quen với hắn?
-Tại vì, chúng tôi cùng chung một trung đội, giường ngủ của tôi và Long kế nhau.
Gã bộ đội đưa tay gãi cằm, mắt nhìn lên trời.
-Thân nhỉ, thế thì anh có biết nhà hắn ở Khánh Hội không?
Tới đây tôi đã đoán ra mọi chuyện. Long công tử đã trốn trại thành công, cho nên gã cán bộ Việt cộng muốn khai thác thêm nơi tôi về tin tức của Long công tử. Trong lòng mừng cho bạn, tôi nói.
-Tôi chỉ quen Long ở quân trường, không biết nhà của nó ở đâu. Tôi chỉ nhớ, ngày xưa Long có nói với tôi là nhà nó ở Khánh Hội.
Gã bộ đội nói.
-Chuyện tên Long, tôi tạm tin lời anh, còn chuyện cậu của anh là bí thư tỉnh ủy, tôi sẽ cho người lên Đà Lạt xác minh lại, hiện tại anh có gì chứng minh cho lời khai của mình không?
Tôi nói không suy nghĩ.
-Tôi có tấm hình mà tôi chụp chung với ông cậu của tôi, để trong xách tay ở bên trại.
Vừa nghe tôi nó xong, gã bộ đội đứng lên rồi nói.
-Được rồi anh nghỉ đi.
Dứt lời, gã biến mất sau cánh cửa gỗ duy nhất trong phòng. Còn lại một mình, lúc này tôi mới thấy đau nhức cả thân mình, toàn thân của tôi chỗ nào cũng ê ẩm, đụng tới đâu, đau tới đó. Tôi đưa tay sờ nắn khắp mọi nơi với hy vọng là không bị gãy xương, chuyện gì chứ gãy xương ở trong tù thì chỉ có chết. Sau một hồi xoa bóp, cử động chân tay, tất cả đều hoạt động bình thường. Trong lòng mừng thầm, tôi nhắm mắt rồi ngủ quên luôn.
Mãi cho đến khi tôi thức giấc, ngọn đèn điện vàng hoe treo giữa phòng đã bật sáng tự lúc nào, tỏa chút ánh sáng mù mờ yếu ớt lên khắp căn phòng.Tôi biết bây giờ là từ khoảng 7 giờ cho tới 10 giờ đêm, vì đây là giờ mà máy phát điện riêng của trại tù Sông Mao chạy. Trong cái im vắng của đêm đen, tôi chợt nghe vài tiếng động vang lên, rồi cánh cửa của căn phòng bỗng mở rộng, gã bộ đội bước vào, một tay cầm đèn pin, tay kia nắm cái xách tay của tôi, hắn thong thả để xuống bàn rồi nói.
-Cái xách tay này của anh, phải không?
Tôi gật đầu.
-Thưa phải.
Gã bộ đội lục trong xách, lấy ra tấm hình mà tôi chụp chung với ông bánh xèo đưa lên. Gã nhìn tấm hình rồi nói.
Hình minh họa
-Tấm hình màu này cậu cháu nhà anh chụp ở đâu mà đẹp thế, nhất là anh mặc bộ đồ vàng của Ngụy, trông cứ như là ông tướng.
Vì muốn lấy lòng gã bộ đội, tôi tiếp lời.
-Thưa anh, tướng cướp thì có.
Gã bộ đội lật ra mặt sau tấm hình, lẩm bẩm đọc.
-Trần Chiến.
Quay nhìn tôi, ông ta hất hàm.
-Cậu của anh tên là Trần Chiến?
-Dạ phải.
Nói xong tôi mới nhớ lại tấm hình được tôi kẹp vào giữa xấp tiền đô la và tiền mới, thêm cái “đồng hồ hai cửa sổ”, tất cả được gói gọn trong một bao ni lông, nhét ở đáy của túi xách. Gã bộ đội ngồi chống tay lên cằm, vẻ mặt đăm chiêu tư lự.
-Theo tin tức tình báo mà chúng tôi được biết, trước khi bọn Mỹ Ngụy tháo chạy, tình báo CIA của Mỹ có gài lại một số mật báo viên, bọn người phản quốc này làm việc cho CIA được trả lương bằng tiền mới của nhà nước ta, thậm chí còn có cả đô la nữa. Chúng tôi đang điều tra trong trại tù này, nếu tìm ra bọn tình báo làm cho đế quốc Mỹ, hắn sẽ bị Cách mạng thẳng tay trừng trị, khó lòng mà thoát khỏi cái án tử hình.
Nghe gã bộ đội nói tôi chợt hiểu ra, và một nỗi lo sợ bỗng đâu ập đến, càng nghe gã nói mồ hôi của tôi càng đổ ra mỗi lúc một nhiều. Cái án tử hình khiến tôi cảm thấy lạnh cả người. Trên đời không có cái ngu nào giống cái ngu nào. Ngay từ đầu, nếu tôi nói có liên hệ với Long thì mọi chuyện đã êm xuôi.Vì khi Long công tử trốn trại, tôi chỉ bị nhốt conex vài tuần, còn nếu nặng lắm cũng chỉ vài tháng. Khi khai láo là tôi có ông cậu là bí thư tỉnh ủy, tôi quên mất số tiền năm trăm đô la cùng với mấy trăm tiền mới, để chung với tấm hình. Giờ đây số tiền đó là chứng cớ để buộc tội tôi có làm việc cho CIA. Thú thật tôi chỉ muốn van xin gã bộ đội cho tôi khai báo lại cho đúng. Nhưng mà nghĩ cho cùng, nếu khai đúng nguồn gốc của số tiền đô la lại liên hệ tới vợ tôi ở Đà Lạt. Khi nhớ đến vợ, bỗng dưng hai hàng nước mắt của tôi đua nhau lăn dài trên má. Thấy tôi khóc, gã bộ đội đẩy nhẹ cái xách tay về phía tôi. Ông ta nói với giọng nói chắc nịch.
-Anh hãy nghe cho kỹ, tôi đã kiểm soát trong xách tay của anh, chỉ thấy một cái mùng, một cái mền vải mỏng nhẹ và một tấm hình, ngoài những thứ đó ra, không có gì khác, không tiền, không đô la, không đồng hồ. Đúng không?
Nghe gã bộ đội nói mà tôi mừng như vừa chết đi sống lại, người cứ nhẹ như đang đi trên mây. Bị tuyên án tử hình rồi lại được cho trắng án, còn gì mừng hơn. Phải rồi, tôi không có gì cả, không có gì hết cả.
Tôi nói to.
-Thưa cán bộ, trong xách tay của tôi chỉ có một cái mền, một cái mùng, ngoài những thứ đó ra không có gì khác.
Gã bộ đội đưa cho tôi một xấp giấy, với giọng nói hết sức là hiền từ.
-Anh ngồi viết bản tự khai, nhớ viết cho đúng những gì anh vừa nói, vì đây là bằng chứng xác nhận là anh vô tội. Khi xong, anh ký vào và đưa cho tôi.
Tôi run tay nhận xấp giấy với cây bút và bắt đầu viết, gã bộ đội mở cửa đi ra ngoài. Nửa giờ sau, khi tôi viết xong bản tự khai, gã bộ đội cũng trở lại với một tô cơm đầy vun có ngọn. Sau khi đọc xong tờ tự khai của tôi, một nụ cười tươi tắn nở trên môi gã bộ đội.
-Anh đói lắm rồi phải không? Ăn cơm đi, trong cơm có cả cá kho nữa đấy, tối nay anh ngủ tại đây trên cái chõng tre ở góc phòng, ngày mai tôi sẽ cho người đưa anh về trại.
Gần một năm rồi, hôm nay tôi mới được thoải mái ăn một tô cơm đầy vun như ngọn núi. Tôi ăn cơm nhưng mắt liếc nhìn gã bộ đội với gương mặt sáng rỡ, tươi rói, giống hệt như cái lão phú ông trong chuyện thằng bờm, với cái triết lý hiện thực chủ nghĩa mà lòng đầy sung sướng. Đang ở tù mới thoát khỏi án tử hình, lại được ung dung ngồi thưởng thức một tô cơm to bự với cá kho thì còn gì hạnh phúc hơn. Thì ra cái triết lý đơn sơ giản dị như vậy, cho đến hôm nay tôi mới thấm nhuần. Tôi và một miếng cơm đầy miệng, gắp thêm miếng cá nho nhỏ, rồi chầm chậm nhai, vừa nhai vừa thưởng thức vị ngọt của cơm trắng trộn với chút mằn mặn của cá kho, thêm mùi thơm của nước mắm, của cá, mà cả năm rồi tôi chưa được ngửi. Hạnh phúc là đây, cần gì phải đi tìm ở đâu xa xôi cho mệt. Tôi nhìn gã bộ đội một lần nữa, rồi nghĩ đến câu cuối của bài đồng dao mà trẻ con vẫn thường hay hát khi chơi đùa trên hè phố “Phú ông xin đổi nắm xôi, bờm cười”. Người đời vẫn thường hay thắc mắc về tiếng cười của thằng bờm. Riêng tôi, tôi tin rằng đó là nụ cười vui vẻ chấp thuận, chứ không phải cái cười chê õng chê eo vì một sự trao đổi bất tương xứng.
Anh Do takes you behind the scenes of Brush with Fame, revealing there were some interesting reactions as he put paint to canvas in season three.
Anh Do returns in season three of the TV series Anh’s Brush with Fame.
ANH Do strive to capture the spirit of his subjects when he puts paint to canvas.
But the painter and comedian weren’t sure what to make of actress Sigrid Thornton’s reaction when he revealed his interpretation of her in season three of Anh’s Brush with Fame.
“Sigrid just burst out laughing hysterically,” he says.
“I thought ‘Wow, well that’s interesting. I’ve never had that’. It was really loud as if I’d just told her the best joke. She laughed more than any reaction I’ve got from my stand-up shows. It was just her natural, spontaneous reaction to seeing a massive 1.5-metre portrait of herself. She genuinely liked it.”
Everyone says they like the finished result, but things don’t always go to plan in the studio.
“I reckon I can sort of tell when they don’t like it,” he says.
“In one of the earlier seasons, half way into the painting I got into trouble. It wasn’t working out, but luckily I had a half-finished study I did the day before when I was practising. I pulled that out and finished it.
“I had a guest in season one, I won’t say who it was, who was just dead still. I thought ‘Man this guy is so stiff’ and then I realised he thought he had to be still. I actually have a whole range of photos and sketches on the table behind me that I refer to throughout the process.”
Anh Do is an Archibald Prize-winning painter as well as a comedian, actor and author.
The portrait and the interview that happens during the process are condensed into a half-hour episode.
“We go for three hours, sometimes four,” he says. “There are stops and starts, but I finish every painting on the day.
“In a way I’ve trained myself to do this by just painting friends and family. Say I paint a portrait of my brother, I’m having a yarn to him anyway.”
Do pitched the series to the ABC – he likes the fact that there are no ads – and has input into the guests who sit for him.
“I have a guideline: either I love and admire the person or I find the person fascinating,” he says. “Your most recent reality TV star is a lot more famous than some of the people I have on, who might be Australians of the Year. This series I was able to paint people who I really admire.”
When I ask why he didn’t attend the recent Logie Awards, in which the show was nominated for Most Popular Entertainment Program, Do says he doesn’t do red carpets.
“I’m actually a bit more introverted than people expect,” he says.
“I’ve always been more of a listening than a talker anyway, you know? That allows me to do this show and just paint away and listen to my guests and allow them to tell their story.”
Anh Do paints Terri Irwin’s portrait in season three of Anh’s Brush with Fame.
Season three features Thornton, Terri Irwin, Gill Hicks, Adam Goodes, Carrie Bickmore, Munjed Al Muderis, John Williamson, Lauren Jackson and Dr Karl – who presented a particular challenge for Do.
“I didn’t know this, but Dr Karl has a medical condition where he has trouble recognising faces,” he says.
“For example, he was at the airport and a guy said hi to him and he pretended to know him. Then he asked his wife ‘Who’s that guy?’ and she said ‘He’s our neighbour we’ve known for years’.
“My fear was I was going to show him a painting and I didn’t know what was that whole processing was going to be like.”
Anh Do has confirmed he does paint the stunning celebrity portraits seen on his interview series, Anh’s Brush with Fame.
Responding to questioning from The Sydney Morning Herald on Friday, the comedian turned award-winning artist confirmed: ‘It’s all my own work’.
He went on to reveal that he prepares ‘studies’ ahead of the interview, which are created from closely-studied photos of his subjects.
His! Anh Do (pictured) has confirmed he does paint the stunning celebrity portraits seen on his interview series, Anh’s Brush with Fame. Responding to questioning from The Sydney Morning Herald on Friday, the comedian turned award-winning artist confirmed: ‘It’s all my own work’
Those studies may be used for the final work when he’s having an ‘off day’ and doesn’t complete a work he is happy with during the duration of the interview.
The 44-year-old does have ‘help’ however from his teacher, New Zealand-born artist Paul Ryan, who is an accomplished portrait artist and 13-time Archibald finalist.
Ready ahead: He went on to reveal that he prepares ‘studies’ ahead of the interview, which are created from closely-studied photos of his subjects. Pictured with Marcia Hines
Teacher: The 44-year-old does have ‘help’ however from his teacher, New Zealand-born artist Paul Ryan (pictured), who is an accomplished portrait artist and 13-time Archibald finalist. Paul confirmed that he assists in the early stages of the work being created
‘Yes it’s true, but Anh is a bit cagey about revealing how it all comes together, he doesn’t like me talking about it,’ Paul told the paper.
‘And he turned me down when I asked for a consultant’s credit on the show, even though every other bugger involved gets one,’ he added.
The publication says Anh has ‘played down’ Paul’s contribution, and says he just seeks ‘advice’ from the fellow artist.
‘I think he may be taking a bit too much credit,’ Anh said.
Assisted: ‘Yes it’s true, but Anh is a bit cagey about revealing how it all comes together, he doesn’t like me talking about it,’ Paul told the paper. Anh is pictured with Tara Moss
Talent: The publication says Anh has ‘played down’ Paul’s contribution, and says he just seeks ‘advice’ from the fellow artist. ‘I think he may be taking a bit too much credit,’ Anh said. Pictured is Anh’s portrait of Guy Sebastian
Anh has painted a whole host of celebrities – this season, he completed interviews with model Tara Moss, singer Guy Sebastian, TV vet Doctor Harry Cooper and singer Marcia Hines, among others.
As the celebrities sit for an in-depth and emotional chat with the comedian, he creates a portrait of them, which they take home afterwards.
Anh has admitted the works are not always completed in the time it takes to conduct the interview, and that sometimes they are tweaked afterwards.
Guy Sebastian stands beside his portrait with Anh Do
Amazing: Anh has painted a whole host of celebrities – this season, he completed interviews with model Tara Moss, singer Guy Sebastian, TV vet Doctor Harry Cooper (left) and singer Marcia Hines, among others
Làm Tổng thống Mỹ, chuyện đương nhiên là nổi tiếng toàn thế giới. Còn làm Vợ, Mèo cụt đuôi (nếu có) và ngay cả thú cưng của Tổng thống, hôm qua còn vô danh tiểu tốt thì bữa nay tiếng tăm đã nổi như cồn. Báo chí nhào theo săn tin. Ðứa thì xem Tổng thống có mấy đời vợ, có mấy con Mèo (cụt đuôi) làm thú cưng hay không?
Thấy rằng: Tổng thống Bill Clinton tài hoa (vì biết thổi kèn) và đào hoa vì có nuôi một con Mèo cụt đuôi tên là Monica (Lewinsky).
Ðương kim Ðệ nhứt Phu nhân nước Mỹ, Jill Biden, cũng rất thích nuôi mèo. (Bà Tiến sĩ Jill thích nuôi mèo thì cứ vô tư. Còn nếu ông Joe thích nuôi mèo cụt đuôi như Bill (Clinton) thì chiến tranh ắt sẽ nổ ra dữ dội ngay trong Tòa Bạch Ốc.)
May mắn thay, Tổng thống Joe Biden không thích nuôi mèo mà ông lại thích nuôi chó. Cho dù con chó nghe tin ông Chủ mình vừa trèo được lên đầu thiên hạ, nó mừng quá, ủi vô người làm Tân Tổng Thống phải rạn xương chân, đi cà nhắc khi tuyên thệ nhậm chức Tổng thống thứ 46 của nước ‘Cờ Hoa’.
(Cựu Tổng thống Donald Trump chỉ khoái nuôi ‘Mèo cụt đuôi’, nên không có con thú cưng nào khác trong suốt 4 năm Trump sống trong Tòa Bạch Ốc.)
o O o
Ðêm cuối năm đời lưu lạc, chỉ còn vài hôm nữa là Tết tới, bên ly rượu đỏ, tui suy ngẫm lung lắm về phận chó, phận người.
Nhớ năm 75, Cộng sản Bắc Việt chiếm được miền Nam tự do của chúng ta. Tuổi xuân tui đang phơi phới vào tương lai tới tới; bất ngờ bị chới với, bị gài số de! Ðời tui chợt đen thui như mõm chó, như chó chui gầm chạn.
Phận người thất trận, tui cư xử với đời như: Hổ xuống đồng bằng gặp chó ghẻ cũng phải chào cái bọn chó chết hồi xưa sợ chết, chuyên môn trốn quân dịch, giờ được thời như chó ngáp phải ruồi, mặt vênh, mày váo, bố láo bố lếu: Chủ nghĩa ‘Mác với Dao’, cúc cung ca tụng cái chế độ cái lưỡi dài hơn cái tay, chuyên treo đầu dê, bán thịt chó!
Dẫu vậy tui nào có được yên thân! Lúc tui đang ngáy khò khò, nước dãi đầy mồm, tui đang ngủ ‘lậu’ ngay với con vợ của mình. Bọn ‘cẩu trệ’ Công an Phường bắt tui về trụ sở nhốt chơi để trả hận thù đế quốc Mỹ.
(Thiệt là bọn chó chỉ biết ăn cơm chủ nào sủa cho chủ ấy, chuyên đi cắn người áo rách!) Nhốt thì tui hiến máu cho muỗi. Sáng vợ tui tới lãnh thì tui lại về ngủ bù để chờ bị nhốt lần sau.
Ðôi khi tức quá, tui chỉ còn biết ‘quèo chó, đá mèo’. Hoặc sau khi quất hết chừng một xị rượu đế giải sầu nô lệ, tui chỉ còn biết chửi đổng: “Ðồ chó đểu! Ðồ chó chết! Ðồ chó má! Ðồ chó đẻ… bốn con”.
Tranh Bảo Huân
o O o
Chán thói đời đen bạc, tui chỉ biết chơi với con chó Mực của tui. Vì chữ cũng có câu rằng: “Khuyển mã chi tình! Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo”.
‘Tối qua tui nhậu li bì. Chút tiền của vợ bay đi ít nhiều. Con vợ chẳng nói một điều. Chỉ con chó Mực vẫy liều cái đuôi!”
Càng chơi với chó (mà không sợ chó liếm mặt), tui càng trân trọng loài chó nhiều hơn. Tui căm ghét cái thói ăn thịt chó của dân Trung Cộng. Chó nước Tàu đã anh dũng hy sinh cả xương, thịt, lòng, dồi của mình để cứu người dân Tàu khỏi chết đói hằng hà sa số vì chánh sách Ðại nhảy vọt khật khùng của Mao Xếnh Xáng vào những năm 60.
Bắt chước rập khuôn đàn anh Trung Cộng, đàn em CS Bắc Việt cũng: “Con chó khóc đứng, khóc ngồi. Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng!”
Nghe nói hồi chiến tranh, ở miền Bắc Cộng sản, chú rể cô dâu làm đám tuyên bố (tức đám cưới), nghèo mạt rệp nên không có vật bò, mần heo gì ráo trọi. Trên mâm đãi khách tới mừng trên cũng chó; dưới cũng chó; toàn là chó.
Thói ăn uống tàn ác nầy còn giữ mãi tới bây giờ dưới chiêu bài ngụy biện: văn hóa ẩm thực. Một năm, những sát thủ máu lạnh nầy giết tới 5 triệu con chó để làm dồi, rựa mận, xào lăng, xáo măng, hấp và nướng…
Mà kinh khủng nhứt là món tiết canh chó. Miệng mồm đứa nào đứa nấy từ Bí thư chi bộ, tới trưởng Công an xã miệng nhồm nhoàm dính máu me như ác quỷ Dracula hút máu người trong phim kinh dị.
o O o
Nhưng ở các nước Phương Tây như Mỹ như Úc, ăn thịt chó là đi vô ‘hộp’ vì tội tàn ác với súc vật. Xử như vậy là quá phải vì chó đã giúp người đi săn, đi chăn cừu, kéo xe trượt tuyết vùng Bắc Cực. Chó cũng dẫn đường cho người khiếm thị hoặc làm bầu bạn cho những ai bị khủng hoảng tâm thần do vợ bỏ.
Ngoài chó dân sự ra, còn chó quân đội gọi là ‘Quân khuyển’. Chó Cảnh sát thì gọi là ‘Cảnh khuyển’.
Quân khuyển, Cảnh khuyển cũng lập được nhiều chiến công lừng lẫy và được thưởng huy chương.
Tại chiến trường Afghanistan, một tên khủng bố Taliban, quấn đầy bom xông vào, toan một mạng đổi nhiều mạng, giết thật nhiều lính Mỹ. Nhưng ba con chó Sasha, Rufus và Target đã chặn tên khủng bố nầy lại; không cho nó tới gần đám binh sĩ Mỹ đang ngồi tán dóc. Bom nổ tung. Sasha bị thương nặng, hy sinh tại mặt trận. Nó được chôn cất với lễ nghi quân cách đàng hoàng như một người chiến sĩ trận vong. Riêng Rufus và Target thành thương binh loại 2/4 đã được Chris Duke đưa đến Mỹ.
o O o
Còn Cảnh khuyển, giỏi nhứt là loại chó ‘Leonberger’ (Béc-giê Ðức), chuyên tìm kiếm ma túy và chất nổ, tìm kiếm người bị mất tích…
Nên có chuyện rằng: Một ông dắt theo một con chó Berger lên ngồi cạnh cửa sổ máy bay. Ông khách, ngồi bên cạnh, hơi bực bội nhìn chú chó, rồi tự hỏi tại sao nó lại được phép lên máy bay vậy cà?
“Tui là Ðặc Vụ Liên bang Hoa Kỳ. Còn đây là đồng đội của tui! Nó tên là Sniffer. (Sniff là ngửi, là hửi, là khịt khịt đánh hơi để tìm tội phạm). Thằng ‘Thính mũi’ nầy là con giỏi nhất trong biệt đội Cảnh Khuyển chuyên bài trừ ma túy của Liên bang Hoa Kỳ đó nhe ông bạn! Một khi chúng ta bay lên không trung rồi, tui sẽ ra lịnh cho đồng đội ‘Sniffer’ của tui làm việc thì bạn sẽ thấy tui không hề bố láo, bố lếu.”
Khi máy bay chạy hết tốc lực tới cuối phi đạo rồi cất cánh bay lên bình phi, tay Ðặc vụ búng tay nghe cái chóc, Sniffer bèn nhảy ra khỏi ghế ngồi, đi dọc theo lối đi chính giữa. Cuối cùng rất có chủ đích, nó ngồi bên cạnh một người phụ nữ trong vài giây. Sau đó Sniffer quay trở lại chỗ ngồi của mình và đặt một chân vào đùi của tay Ðặc vụ.
“Good boy!” Tay Ðặc vụ quay sang người đàn ông và nói: “Con ghệ đó, có cần sa. Tui ghi lại số ghế và An ninh phi trường sẽ bắt giữ nó khi chúng ta vừa hạ cánh.”
Ông khách buột miệng tán thưởng: “Hay quá xá!”
Xong, tay Ðặc vụ lại búng tay nghe ‘chóc chóc’ tới hai lần. Sniffer đến ngồi cạnh một ông hành khách trong máy bay độ vài giây. Rồi Sniffer quay trở lại chỗ ngồi và lần này, nó đặt cả hai bàn chân lên đùi của tay Ðặc vụ.
“Tay đó đang mang theo ‘cocaine’, tui cũng ghi lại số ghế của nó để báo cho Cảnh sát phi trường”
“Thiệt là trên cả tuyệt vời! Tui bắt đầu khâm phục và thích người đồng đội Cảnh Khuyển của ông rồi đó nhe!”
Ðời mà! Ai cũng khoái được khen cho dù là khen nịnh! Nên tay Ðặc vụ ra lịnh với Sniffer: “Hãy đi ngửi một lần nữa! Rồi thầy trò mình sẽ được chiêu đãi viên Hàng không dọn cho bữa sáng”.
Sniffer hình như hiểu tiếng Mỹ. Nghe tới ‘táp táp. xực xực’, nó biết rằng mình sắp được ăn, vì sáng giờ chưa có gì bỏ bụng nên đói lắm rồi!
Sinffer xăng xái đi lên và xuống lối đi một lúc, ngồi xuống một lúc, khịt khít cái lỗ mũi đen thùi lùi của mình. Sau đó, nó quay lại chỗ ngồi của tay Ðặc Vụ rồi bất ngờ ‘tè’ vung vãi khắp nơi; không thể nào kiểm soát được.
Người khách rất kinh ngạc vì hành vi ‘té đái’ nầy! Tại làm sao một con chó, một Cảnh khuyển, xuất chúng, tài ba được dày công huấn luyện lại hành động dơ dáy ở một nơi ‘cấm đái’ như vậy chớ?”
“Chuyện gì đang xảy ra?”
Tay Ðặc vụ lắp bắp trả lời: “Ðồng đội ‘Sniffer’ của tui vừa phát hiện ra được một quả bom!”
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.