This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Có một số người sẽ nói những vị tướng giỏi nhất trong chiến tranh Việt Nam là những vị tướng của Bắc Việt. Một số người sẽ nói rằng vài vị tướng Mỹ cũng rất vĩ đại.
Ðể đưa ra một góc nhìn mới về một vị Tướng ít được biết đến của QLVNCH, Tướng Ngô Quang Trưởng.
(Mỹ gọi tên Trưởng trống không, không có nghĩa là họ vô phép)
Vài tướng lĩnh và sĩ quan của Nam Việt Nam thường bị cách chức vì bất tài và tham nhũng. Có một số sự thật cho điều này nhưng cũng có một số ‘quả táo tốt’. Tướng Trưởng là một ví dụ.
Trung tá James H. Willbanks, người từng phục vụ tại Việt Nam và là giáo sư lịch sử quân sự tại Ðại học Chỉ huy và Tham mưu Quân đội Hoa Kỳ, cho biết về Tướng Trưởng: Là một người khiêm tốn, Trưởng là một người không vị kỷ. Ông đối xử công bằng với tất cả mọi người. Ông coi mọi người như nhau.
Ông cống hiến tất cả cho nghiệp lính của mình. Ông nổi tiếng là người chăm sóc binh lính. Ông thường bay qua hỏa lực nặng nề để sát cánh cùng họ trong mưa và bùn để chống lại các cuộc tấn công của kẻ thù.
Không giống như một số tướng lĩnh miền Nam Việt Nam đã giàu lên khi thăng cấp, Trưởng được coi là người hoàn toàn liêm khiết và sống một cuộc đời “tu hành và khổ hạnh”.
Theo Trung tướng Cushman, Trưởng không có một bộ quần áo nào ngon lành vào thời điểm được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn IV. Vợ của ông đã nuôi heo. Heo được nhốt sau khu sinh hoạt của ông trong Bộ chỉ huy tại Cần Thơ.
Cushman nói thêm rằng Trưởng luôn kiếm các biện pháp để nâng cao cuộc sống gia đình của binh lính. Trưởng không dung thứ cho chủ nghĩa con ông cháu cha. Ông từng được yêu cầu chuyển cháu trai của mình từ tuyến đầu sang công việc bàn giấy nhưng ông từ chối và người cháu trai sau đó đã bị tử trận.
Tướng Bruce Palmer Jr., nói: “Trưởng xứng đáng có một số phận tốt hơn so với tài điều động binh lính của ông giữa lúc Thiệu đang bối rối ra mệnh lệnh và sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam.”
Một trong những thành tích lớn lao của ông là khi được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 1. Trước ông, Sư đoàn không được nổi danh lắm! Ông về nắm Sư đoàn và trở thành một trong những người giỏi nhất của QLVNCH, Trưởng đã chọn lựa các sĩ quan cấp dưới hàng đầu của mình và đặt các Tiểu đoàn của mình vào tay những người có nhiều năm kinh nghiệm chiến trường.
Không giống như hầu hết những tướng lãnh khác, ông tránh chính trị trong việc lựa chọn các sĩ quan của mình. Ông đã cải thiện việc huấn luyện của Sư đoàn và nâng cao tinh thần của cấp dưới.
Có thể cho rằng thành tích tốt nhất của ông là lật ngược tình thế chiến trường trong cuộc tấn công Phục Sinh năm 1972.
QLVNCH do Hoàng Xuân Lãm bất tài lãnh đạo, gần như gục ngã trước sức tấn công mãnh liệt của QÐNDVN, khi ông ta thay thế Lãm. Sau đó ông phát động Chiến dịch Lam Sơn 72 mà ban đầu bị Tổng thống Thiệu và MACV của VNCH phản đối. Cuộc tấn công nhanh chóng thành công và giành lại được phần đất bị mất vào tay CSBV.
Nhưng ông cũng có một điểm yếu. Ðôi khi ông không thể chủ động độc lập và hành động khi cần thiết. Có lẽ ông đã quá trung thành với Thiệu.
Và khi QLVNCH bị CSBV tấn công vào cuối năm 1974. Thiệu ra lệnh, trước tiên hãy rời khỏi Tây Nguyên và giữ các bờ biển trên quốc lộ 1 để QLVNCH có ít lãnh thổ để dễ phòng thủ hơn. Cũng như từ bỏ Huế để bảo vệ thành phố Ðà Nẵng lớn hơn.
Ðây có vẻ là một quyết định đúng đắn, nhưng vào thời điểm CSBV đã tấn công và nếu QLVNCH rút lui, họ sẽ buộc mình phải rút lui dưới hỏa lực. Ðó là một hành động nguy hiểm ngay cả đối với những quân đội tân tiến nhất.
Kế hoạch di tản chiến thuật này hóa ra là một thảm họa. Vì cuộc rút lui của QLVNCH không chỉ bị hỏa lực mà còn bị chậm lại do lượng lớn người tị nạn làm tắc nghẽn các quốc lộ. Chỉ có Sư đoàn 22 trong Quân đoàn II cố gắng đến được các bờ biển với số lượng đáng kể, mà thôi.
Tư lệnh Quân khu 1, Trung tướng Ngô Quang Trưởng thăm Bộ chỉ huy Thủy Quân Lục Chiến – Ảnh AP / Jacques Tonnaire
Ông Trưởng không đồng ý và ông nói rằng nếu chúng ta có thể giữ được Tây Nguyên vào năm 1972, chúng ta có thể giữ được chúng bây giờ và nó sẽ cứu VNCH khỏi bị cắt làm đôi. Kế hoạch này lẽ ra đã cứu được miền Nam Việt Nam. Nhưng ông đã làm theo lệnh của Thiệu.
Tuy nhiên, Thiệu lại đưa ra nhiều mệnh lệnh khó hiểu và mâu thuẫn. Ví dụ ban đầu dự định bỏ Huế để bảo vệ thành phố Ðà Nẵng quan trọng hơn. Tuy nhiên Thiệu đã thay đổi kế hoạch và làm Trưởng sửng sốt trong cuộc họp giao ban ngày 13 tháng 3, nói rằng Huế sẽ được bảo vệ bằng mọi giá. Trưởng phải rút lui khỏi Quảng Trị, lập phòng thủ trên sông Mỹ Chánh và Huế.
Tình trạng hỗn loạn khiến dân thường hoảng sợ và bỏ chạy vào Huế hoặc Ðà Nẵng. Trưởng tự tin rằng mình có thể giữ được Huế. Sau đó, Thiệu lại ra lệnh chỉ bảo vệ Ðà Nẵng.
Sự lộn xộn và hỗn loạn khiến Sư đoàn 1 sụp đổ khi CSBV đang tiến đến Ðà Nẵng và hỗn loạn bao trùm thành phố.
Vào những thời điểm quan trọng này, nếu ông đã lờ đi những mệnh lệnh khó hiểu của Thiệu và bảo vệ vị trí của Quân đoàn I bằng sáng kiến của riêng mình thì tình hình có thể đã khác.
Ông đã làm điều này vào năm 1972 với Lam sơn 72. Ban đầu của Thiệu và MACV phản đối. Nhưng sau đó Trưởng đã làm tốt. Tất nhiên đây là một quyết định mạo hiểm vì ông có thể bị đưa ra Tòa án Quân sự mặt trận. Nhưng nếu thành công trong việc bảo vệ thì ông đã cứu được quốc gia khỏi cuộc tấn công dữ dội của CSBV.
Tuy nhiên, vì bất cứ lý do gì, ông lại chờ đợi những mệnh lệnh khó hiểu của Sài Gòn thay vì tự mình chủ động. Ðiều này khiến ông phải trả giá bằng cả quốc gia của mình và ông đã phải di tản sang Mỹ.
Ông ấy có là vị tướng giỏi nhất của cuộc chiến không? Nó phụ thuộc vào nhận thức của bạn. Ông ấy tất nhiên là một con người và có những sai sót của riêng mình.
Nhưng với tư cách là một vị Tướng, ông ấy đã làm rất tốt công việc của mình. Tuy nhiên, sự thành công của ông ấy khiến ông trở thành một trong những vị tướng giỏi nhất nếu không muốn nói là giỏi nhất của Chiến tranh Việt Nam và chắc chắn là người giỏi nhất của QLVNCH.
Có đứa bất bình loạn ngôn Three Lions thành ba con mèo đội trưởng Kane bảo chúng tôi tự hào những gì đã cống hiến trên cầu trường nhỏ tiếng bản nhạc It’s coming home
Modric của Croatia cười bọn tớ làm chủ toàn bộ cục diện nói tới bóng đá chớ quên tính quật cường bà tổng thống Kolinda Grabar-Kitarovic mặc áo ca-rô đỏ trắng đội tuyển đã ôm lấy những cầu thủ trong phòng thay đồ bầy hầy xoá khoảng cách hồn nhiên nhảy múa bravo, svim navijacima! bà mần tổng thống từ năm 2015 ngon cơm điện nước đầy đủ 50 tuổi mà bộ dạng quyền lực thu hút mắt nhìn đểu những đứa tà tâm nói được 8 ngôn ngữ kể cả Portuguese và Italian
sử ghi bác Hồ nói tới mấy thứ tiếng. quên mất tiêu dĩ nhiên giỏi tiếng Tàu y như mẹ đẻ có từng vào đặc khu ôm hôn thắm thiết các cháu ngoan vuốt râu phải cho thế giới biết nền bóng đá đẳng cấp của ta động viên giả có gì bức xúc chúng mầy bỏ phương án cực đoan nhảy cầu đi, nhớ? thằng thực dân Pháp từng phơi áo ở Điện Biên Phủ đấy đội tuyển chúng nó ô hợp mầu da quá đéo đậm đà bản sắc dân tộc cơ mà chơi chi lại Mandzukic với Perisci dù dân cá cược đặt cửa Pháp chiến thắng cao gấp đôi nhưng Croatia sẽ vô địch đúng quy trình bà quyền lực đã truyền sữa cho cầu thủ nhà và chúng bây sẽ hát khúc khải hoàn như có ma-đàm Kolinda trong ngày vui đại thắng.
Tháng Chạp năm Nhâm Ngọ 1942, chị tôi ra đời. Trời ở Huế xám xịt, gió thổi mưa bay. Khi mạ tôi mỗi tối ôm chị tôi ngủ với cái trách than (không phải hai cục gạch) đút dưới giường tre, với cái lồng ấp hao mòn lửa hồng trên tấm chiếu lát thì đâu đó, bên kia giòng Hương giang nhà thơ Nguyễn Bính thắp nến co ro viết xuống bài thơ “Xuân Tha Hương”.
Tết này chưa chắc em về được Em gửi về đây một tấm lòng Ôi, chị một em, em một chị Trời làm xa cách mấy con sông…
Thơ dài lắm, mở đầu bao tâm sự chất ngất của đứa em xa nhà gửi cho chị ở tận Hà Nội (?). Phải mười mấy năm sau chị tôi mới có được thằng em trai út sanh sau đẻ muộn, và khi hắn đủ trí khôn, chị tôi thường đọc bài thơ ấy cho nghe. Tôi biết, chị tôi yêu thơ Nguyễn Bính lắm, yêu Xuân Diệu yêu Huy Cận yêu Chế Lan Viên yêu Tế Hanh yêu Quang Dũng và… thương tôi. Chị có cuốn vở giấy mỏng màu xanh da trời chép tay gần đủ những bài chị thích của các nhà thơ tiền chiến. Không khí họ tạo dựng ra quả thơ mộng, êm ả, nhói đau một nỗi sầu khổ dịu dàng. Không riêng chị, các người con gái Huế dạo đó hầu hết ai cũng từng nắn nót lưu giữ cho riêng họ những vần thơ xiêu lạc, họ mang tâm hồn đa cảm, dễ rung động bởi một thứ gì có vẻ không thực. Trước khi chính thức đụng mặt với tình yêu gái trai họ dọn lòng để hồn đi lạc vào tâm cảm của thi nhân.
Em đi trăng gió đời sương gió Chị ở vuông tròn phận lãnh cung Chén rượu tha hương, giời: đắng lắm! Trăm hờn nghìn giận một mùa đông Chiều nay ngồi ngắm hoàng hôn xuống Nhớ chị làm sao, nhớ lạ lùng!
Lớn lên, có khi tôi phải xa nhà mang thân đi học xa. Chị ở Huế viết thư thăm hỏi: Chốn đó em có ngắm hoàng hôn không? Em có từng nhớ chị tới lạ lùng? Tôi học ban A, tôi dốt văn chương và tôi “may phước” hơn Nguyễn Bính, được ba mạ mua vé Air Vietnam cho về thăm nhà mỗi dịp Tết. Và chị, thế kỷ 20, việc chi phải vuông tròn phận lãnh cung. Thương anh chị trong nhà, tôi chất đủ một tấm lòng và đáng phàn nàn: Hắn không đủ nội lực để trải lòng viết ra. Tôi thương chị và qua chị, tôi có cảm tình với thơ Nguyễn Bính.
Tết này chưa chắc em về được Em gửi về đây một tấm lòng Vườn ai thấp thoáng hoa đào nở Chị vẫn môi son vẫn má hồng? Áo rét ai đan mà ngóng đợi Còn vài hôm nữa hết mùa đông Cột nhà hàng xóm lên câu đối Em đọc tương tư giữa giấy hồng.
Dễ thương quá. Tôi thử đặt mình vào người chị mà trời bắt phải xa mấy con sông kia, hẳn khi nhận thư người em mãi mê muội cùng văn chương chốn ấy gửi về, e phải rung động lấy khăn tay mà ngăn giòng lệ đổ. Chị đã gói riêng cho em đòn bánh tét, thương em lắm, chị đã đan cho em chiếc áo len mừng tuổi mới… vậy mà em đành lỗi hẹn sao!
Tết này chưa chắc em về được Em gửi về đây một tấm lòng Chao ơi, Tết đến em không được Trông thấy quê hương thật não nùng.
Đọc đến đây, người chị chắc sẽ mắng yêu: Em ở Huế thôi mà, xa thì có xa thật nhưng làm gì phải dụng chữ “không được trông thấy quê hương”. Thà em bị đày ra khỏi đất nước cho cam, em lưu xứ ăn nhờ ở đậu nước lạ cho cam. Cơ khổ! Giá mà chị có điều kiện thì sẽ thu xếp đi thăm em, lên tàu hoả ở ga Hàng Cỏ vào Huế mất chỉ một ngày đường thôi em ạ. Ừ chị biết ý em, gần trong gang tấc mà xa nghìn trùng? Ừ, não nùng thật!
Tết này chưa chắc em về được Em gửi về đây một tấm lòng Với lá thư này là tất cả Những lời tâm sự một đêm đông Thôn gà eo óc ngoài xa vắng Trời đất tàn canh tối mịt mùng Đêm nay em thức thi cùng nến Ai biết tình em với núi sông Mấy sông mấy núi mà xa được Lòng chị em ta vẫn một lòng
Vì thương nhớ chị, khi diễn đạt thành lời, nhà thơ gần như biến thành một cậu em còn non dại ngày nào ưa vòi vĩnh chị. Hoặc do lòng thành tác động nên, hoặc viết liền mạch không ngưng nghỉ sợ cảm xúc bỏ trốn, vì vậy có đôi câu hơi nông nỗi. Nhưng phương xa, chị đón đọc và cảm được tấm lòng đứa em nhắn nhủ, thay món quà Tết đáng trân trọng. Hai câu cuối, thế một tái bút mà phải tài hoa như em của chị mới viết được:
Chắc chị đời nào quên nhắc nhở: – Xa nhà, rượu uống có say không?
Bài thơ đóng lại ngang đó, không gì hoàn chỉnh bằng sự cài then kia. Vừa nói thay chị vừa vẽ ra một tâm cảm, thứ hình ảnh đối nghịch: Chị hỏi lạ, em đang say đây! Em vẫn nhớ lời chị nhắc, nhưng chị ơi, xa chị, xa nhà, em đành vùi quên trong men rượu cay.
Năm 1942 mà làm được bài thơ như vậy thì chẳng nên lạ vì sao đến tận hôm nay “Xuân Tha Hương” vẫn còn lắm kẻ mềm lòng khi đọc lại, nhất là vào những ngày cận Tết giữa không gian luôn ẩn hiện một điều gì khiến lòng ta dễ bồi hồi. Năm Đinh Dậu 2017 nầy, giả như Nguyễn Bính còn tại thế để hoá thân làm chàng lãng tử ăn một cái Tết xa nhà, tôi đồ rằng nhà thơ có nhớ về chị mình ở chốn xa e cũng không viết đặng một bài thơ tương tự. Đơn giản Nguyễn Bính hôm nay đã tậu giàn computer, sắm laptop, mua iPad, sắp hàng hí hửng tha về iPhone 7. Chàng không blogger thì chí ít chàng có gia nhập cộng đồng facebook, nôm na là em của chị rất lu bu. Đêm 30 chàng dùng skype lên sóng chuyện trò cùng chị, dung nhan chị vẫn thế, thân hình chị cũng chẳng đổi thay, thấy chẳng có điều gì cần tâm sự. Và do ngôn ngữ đương đại tác hại, do xã hội biến con người đi gần với vô cảm, chẳng đặng đừng nói ba câu cho phải phép rồi ngắt sóng, đứng hình, rớt mạng. Dông dài không khéo mà ăn nói bổ bã chì bấc với chị mình.
Tết này chưa chắc em về được… Về làm gì? Tiền xe gửi chị có hơn không? Cột nhà hàng xóm treo câu đối Mừng đảng mừng xuân rối tâm tư Thì bởi vậy, thấy chưa, quá não nùng! Xuân này ắt hẳn hơn xuân xưa Thế đấy chúng ăn không từ một thứ gì. Chắc chị không quên lời nhắc nhở: Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.
Giả thử Nguyễn Bính ngủ giấc dài, đột ngột thức dậy vào tháng chạp trước giao thừa Đinh Dậu, ôi thôi chị ơi sao loài người tiến bộ quá thể, xét ra em làm đứa lạc hậu mất rồi. Bây giờ người ta làm thơ lạ quá. Tân hình thức, hậu hiện đại, đa đa, siêu thực, phá thể, haiku, ý tại ngôn ngoại và ai muốn hiểu sao thì hiểu. Đâu còn đứa nào xa nhà nhớ chị mà viết kiểu tựa em tâm tình thuở nọ, chị nhỉ! Chị có thoáng tiếc nuối một thời hoàng kim? Hay chị bằng lòng với sự rắc rối thậm khó nuốt như thơ đương đại bi chừ? Mà đương đại nghĩa là gì hở chị? Em tối dạ lắm cơ!
Tết thương nhớ chị em chôn riêng ở tận đáy lòng. Tết chết dấm chết dúi nơi xa em không về đâu. Ôi chị một em em một chị thì thế than thở đâu có ngồi kề bên nhau, nhỉ? Xa mặt cách lòng thôi!
Mình mới trở về từ Tokyo mộng tưởng. Hàng chữ trên là câu nói của cô học sinh hướng dẫn du khách, cúi gập đầu: Kính chào quý vị (ở hoàng hôn này). Khi tới là vậy, khi đi thì tuyệt không ai đưa tiễn để thốt sayonara. Trời xanh, chút ẩm lạnh len lỏi vào phi trường Narita chật cứng tiếng động. Những cô gái mặc váy ngắn, khoe đùi, đi lui tới. Họ đang làm việc, bạn tin không? Ở đôi chân kia, vùng da thịt để trần, họ cho người ta “thuê” để dán lên đó những mẫu quảng cáo. Đơn cử, với một chút méo mó: “Quý vị đã ăn chưa? Ngon tuyệt. Bún bò giò heo tiệm ông Nghiêm, 1200 yen 1 tô, ở Kyoto”. Dĩ nhiên khi bạn trả tiền “thuê đất”, nhan sắc đối tượng ngó cũng đặng, chí ít cô ta có mở face book, giao thiệp rộng và chịu khó trương hình ảnh ấy lên. Dán những thương hiệu muốn người ta chú ý vào bắp đùi thiếu nữ, tiếng Nhật có chữ ấn tượng: zettairyouiki: lãnh thổ tuyệt đối. Mình sang Nhật thì nghe đâu chị Đặng Lệ Khánh đã trở về Mỹ từ… ba đời vương. Chị đi ngắm hoa đào trong khi mình chậm chân đến thì mọi thứ đã tan tác, đã tàn lạnh, đã trơ cành. Cây gục đầu câm lặng tựa hồn thơ Kokinshu: Yo no naka ni Taete sakura no nakariseba Haru no kokoro wa Nodoke karamashi Chốn đây anh đào chẳng nở hoa ôi biết bao trái tim chịu câm nín trong mùa xuân. Thử tưởng tượng được gặp chị Khánh ở tình cờ chốn ngàn dặm cách chia, ắt sẽ có với nhau mẫu đối thoại: K: Mi đi mô ri? N: Tui đi chơi, khơi khơi rứa thôi. K: Ga ni tên chi? N: Đông như ri đây, e là Shibuya. K: Mi mau đi đi. N: Mới nói chút xíu, lúc mô cũng rứa. K: Lâu ni làm thinh làm tịnh, khi mô gửi bài? N: Sắp sắp, sửa sửa, chút xíu tới liền. Nghe ra có chút hơi hám của xứ phù tang, mà chẳng cần phải vin vô Honda Yamaha Suzuki Yokohama Haruki Murakami. Mình nhắc tới trạm tàu điện Shibuya ở trên bởi lẽ mình đã từng xuống đó, để băng ra công viên nhỏ có dựng tượng đài tưởng niệm Hachiko. Một đất nước không dựng nhan nhãn tượng đài anh hùng như Việt Nam mà trang trọng đúc tượng một chú chó, vì thương nhớ chủ biền biệt, để chết đi trong mòn mỏi đợi chờ, thì rõ là tư duy của dân tộc Samurai hẳn có điều đáng để ngưỡng mộ. (Ngưỡng mộ như đã từng nghe tin tức sóng thần phủ chụp vào để sau đó biết bao ức triệu tiền giấy vương vãi cùng khắp chả có ai nhẫn tâm lượm nhặt làm của riêng). Chẳng rõ bạn đã từng xem phim do Hollywood thực hiện với nam diễn viên Richard Gere nói về chủ đề cảm động kia? Lòng bạn sẽ yếu mềm và có thể mắt bạn đang cay khi nhìn ra lòng trung thành yêu mến quấn quýt chủ của chú chó mang tên Hachiko. Con người đôi khi, lắm lúc, hẳn thua xa thú vật. Mình nghĩ tới chuyện đi thỉnh kinh đường xa diệu vợi, gian khó trắc trở của Đường Tăng; sao quanh ông chẳng có ai khác ngoài một con khỉ và một con heo đồng cam cộng khổ? Là một kẻ giang hồ như Tây ba lô chính hiệu, mình thay đổi lộ trình liên tục. Nói theo kiểu mấy ôn mệ: Cái thằng! Loay hoay như gà mắc đẻ, nhấp nha nhấp nhổm sợ nóng đít ngồi không yên một chỗ. Chớ ai khiến? Trời hành à? Thời giờ eo hẹp nên mình phải đi tứ tung bát giác, nay chỗ này mốt chỗ nọ ngày nhiếp thì chốn tê. Và để tiết kiệm mình thường vào ngụ Ryoukan. Giá xê dịch từ 9000 tới 10000 yen một ngày, tương đương 100 Gia kim. Đây là loại khách sạn kiến trúc theo lối truyền thống, kiểu nhà bạn thường thấy trong phim ảnh, Hiệp sĩ mù nghe gió kiếm chẳng hạn. Phòng nhỏ, cửa dán giấy, quỳ gối để kéo cửa tre mong manh sang bên. Ngủ trên chiếu lát tựa một vuông tapis với chăn bông xếp ngay ngắn dưới chân. Có bình nước đun sôi bằng điện, có bộ khay trà, có áo kimono treo trong góc để mặc ngủ. Có bức tranh thủy mặc vẽ lau lách với đôi chim hạc ngó mưa giăng, và triện đỏ hiển lộng đóng dưới góc. Đơn sơ, giản dị, đạm bạc nhưng toàn thể toát lên một thứ khí hậu làm mình phải đắm chìm trong một nỗi niềm gần trùng với giải thoát. Chẳng có zen diết gì ở đây cả, khung cảnh trầm mặc đó làm người mình bỗng dưng nhẹ nhàng, chỉ vậy thôi. Vào một khách sạn hiện đại e cớ sự có khác, thang máy kinh cong, mở cửa bằng tấm thẻ bọc nhựa, máy điều hòa không khí, ti vi tủ lạnh, giường nệm đèn màu… những thứ cắc cớ rối beng kia làm mình thêm oải. Chưa kể nằm ở ryoukan, đêm hôm thao thức vì bóng tối ẩn nhiều cổ tích, biết đâu mình ngó ra một dáng đi vướng víu bởi kimono chợt hiện, gương mặt trắng hơn cả vôi của một geisha với tóc búi cao và lời thì thào xa vắng: irashaimase (chào mừng đến tá túc). Ngang đây lại chợt nhớ tới một cuốn phim trên cả tuyệt vời mình xem cách đây đã 3 năm. Phim của Đức, phụ đề tiếng Anh với tựa phim “Cherry Blossoms”. Hay, ý nghĩa, cảm động. Nói tới khoảng cách tuổi tác, đám con cái đã thành đạt có những ứng xử nguội lạnh với đấng sinh thành. Nói tới tình yêu, sự hy sinh và những mong cầu hạnh phúc, dù giản dị, cũng xa tầm tay với. Phim quay ở Berlin nhưng trọng tâm câu chuyện đều diễn ra ở Tokyo và con đường dẫn tới núi Phú sĩ. Tựa như kính vạn hoa chứa nhiều góc cạnh, điểm sáng nhất, đánh động vào lòng nhất, là hình ảnh người chồng thay đổi y phục, mặc vào người chiếc áo của bà vợ bất hạnh để đi loanh quanh dưới ngọn Fuji luôn phủ tuyết trắng. Quá khứ, thằng con út của bà làm việc tận Đông kinh mỗi dịp lễ lạc thường gửi bưu thiếp về thăm mẹ, đa phần những cảnh sắc in trên thiệp đều là thắng cảnh nổi tiếng của Nhật, và người mẹ ao ước có ngày sang thăm con để tiện dịp đi ngắm núi Phú sĩ một lần cho thỏa. Bà có nói với chồng, sắp nghỉ hưu, nhưng ông gạt đi. Ông chẳng thích đi du lịch. Gọi thằng út về thăm mình thì đỡ tốn kém hơn, còn núi? Hừ, nước Đức này thiếu gì núi. Và đã là núi thì chúng thảy đều giống nhau. Vào cuối đời, ý thức rõ sự trống lạnh khi chẳng có sự hiện hữu của vợ hiền, sau nhiều đêm mất ngủ, ông quyết định đi tới xứ Phù tang đang nở rộ hoa anh đào. Ông đã mặc áo vợ vào người, đi ở xứ lạ chẳng sợ hổ ngươi, đi và thì thầm: Em ơi, giờ này em đang ở đâu? Trong tất cả những dấu hỏi về phận người, có lẽ lời ta thán kia nghe xốn lòng nhất. Theo dự kiến, ngày mai mình sẽ lặn lội đến thăm ngọn Phú sĩ, nói theo nhân vật bà mẹ đáng mến trong thước phim kia: Ngắm một lần cho thỏa. Mình trở về từ Nhật bổn, vụng về chẳng tường trình đủ đầy chuyến đi xa cho quý vị (min-na san) nghe. Mình có nhắc tới hai cuốn phim kia như một tạ lỗi, rằng nó không nói nên lời thì ta mướn DVD về xem, khi có dịp, xem có đúng như nó ra sức ngợi ca? Chị Đặng Lệ Khánh còn biết cho bà con xem ảnh hoa anh đào tuyệt sắc của xứ Phù tang có một không hai. Mình lóng cóng chỉ thưa gửi đôi điều như trên. Mai sau có ai hứng thú đè Japan mà lịch du, mình xin dong tay du lịch theo để cả gan mạo muội làm kẻ rành đường chút chút dẫn min-na san đi lòng vòng ngoạn cảnh. Bởi vì: Dẫm một mình trên lối hoa Ôi nghe chạnh bước tim đi sai lạc.
Tháng sáu, Việt Nam đã vào mùa mưa, khu rừng Sông Lũy nơi chúng tôi đang ở, cứ năm ba ngày lại bị một trận mưa lớn. Nhà ở đang được tù nhân làm dở dang, chỉ có hai căn của cán bộ quản giáo và vệ binh là đã làm xong. Riêng phần tù nhân thì đầu đội trời, chân đạp đất, một miếng ny lông nhỏ để che thân cũng không có, nói gì đến áo mưa. Mấy trăm thằng tù ướt như chuột, lạnh run người, suốt đêm ngủ ngồi chỉ mong sao cho trời mau sáng, kiếm chút ánh mặt trời mà sưởi ấm.
Hai tuần lễ sống trong cảnh màn trời chiếu đất rồi cũng qua mau, cuối cùng nhà ở cũng hoàn tất, tù nhân nằm ngủ xếp cá hộp, mỗi người có khoảng sáu tấc bề ngang, không chật mà cũng không rộng, điều sung sướng nhất của tù nhân là từ nay không còn lo cái cảnh phải ngồi bó gối suốt đêm, nghe mưa rơi mà nhớ nhà, để rồi chợt thấy sao nước mưa lại có vị mặn. Khi chỗ ở đã ổn định, tất cả tù nhân được nhận công tác mới, trồng bông vải ở nông trường Sông Lũy nằm cách xa chỗ tù nhân đang ở khoảng ba cây số. Nông trường là một khu đất hình chữ nhật khá bằng phẳng, rộng mênh mông bát ngát, diện tích có đến vài trăm mẫu như không, bề ngang của nó ước chừng non một cây số, bề dài khoảng hai cây. Tôi nghĩ trong đầu, hôm nào có dịp tôi sẽ đi đếm bước chân để đo thử. Khu đất đã được xe máy cày ủi sơ qua, cho nên vẫn còn nhiều chỗ chưa được hoàn tất. Với một số nhân lực khổng lồ, hơn ba trăm tù nhân kẻ xúc người đào, sau gần một tuần mới dọn xong cỏ rác. Khi đất đã sẵn sàng, tiếp theo là việc gieo hột bông vải. Một người tù đi trước, dùng cuốc đào một cái lỗ nhỏ, tù nhân đi sau vai mang một cái bị đựng hột giống, thả vào đó chừng hai tới ba hột bông rồi dùng chân lấp lại. Chuyện đơn giản như vậy nhưng tù nhân cũng được học tập cách trồng bông vải hết nửa ngày. Gieo hạt xong là đến chuyện đi khắp nông trường, chỗ nào bị úng thủy thì phải khai mương thoát nước. Đất hoang gặp mưa nhiều, cỏ dại mọc mạnh hơn cây bông vải, tù nhân lại vác cuốc đi dọn cỏ. Chỉ tội cho tù nhân là những cây cuốc do lò rèn của tù nhân tự chế còn vụng về, thô sơ nên lưỡi cuốc không được bén cho lắm, cuốc đổ mồ hôi mà cỏ vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Hai tuần sau đó, cây bông vải đã mọc cao hơn mặt đất chừng một gang tay. Bất ngờ có lệnh cho tù nhân tập họp để nghe quản giáo nói chuyện. Mặt của anh quản giáo đỏ kè như người say rượu, anh ta nói với giọng nói đầy giận dữ, tưởng chừng như muốn ăn tươi nuốt sống được cái đám tù nhân khó dạy này.
-Các anh là thành phần có tội với nhân dân, với Tổ quốc, thay vì đem xử bắn, Cách mạng đã cho các anh cơ hội học tập cải tạo để trở thành con người mới, con người Xã Hội Chủ Nghĩa. Nuôi các anh tốn không biết bao nhiêu là cơm gạo. Hôm nay cho các anh đi làm lao động, đóng góp công sức xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa, thì các anh lại trở thành những kẻ phá hoại.
Tù nhân ngồi im phăng phắc nghe quản giáo nói chuyện mà không hiểu tại sao ông ta lại giận quá sức như vậy. Nhìn những gương mặt ngơ ngác của tù nhân, anh quản giáo nói tiếp.
-Đã cho các anh học tập cách gieo hột giống rồi, mỗi lỗ chỉ bỏ vào hai tới ba hột, vậy mà có rất nhiều lỗ mọc lên đến năm sáu chục cây bông vải. Chúng tôi đang điều tra, tìm cho ra những kẻ phá hoại này. Bây giờ các anh phải ra nông trường. Đi kiểm soát lại những lỗ nào có quá nhiều cây, các anh phải nhổ bỏ chỉ chừa lại đúng ba cây mà thôi.
Hình minh họa
Tôi nhìn gương mặt của anh quản giáo rồi nghĩ thầm. Tưởng chuyện gì quan trọng như là tù nhân cướp súng trốn trại, bắn nhau với bộ đội, hoặc tệ lắm là chửi rủa, chống đối Cách mạng nên quản giáo tức giận cũng phải. Đàng này tù chỉ làm hao hụt một mớ hột giống bông vải, chuyện nhỏ chút xíu mà cũng um xùm. Theo lệnh quản giáo, ba trăm tù nhân đi ra nông trường, chỉ một thoáng là mọi việc đã làm đúng theo ý ông ta.
Liên tiếp mấy tuần sau đó, bất kể nắng mưa, tù nhân đi nông trường chỉ làm cỏ và rải phân. Cây bông vải được chăm sóc cẩn thận, lại thêm mưa thuận gió hòa nên lớn nhanh như thổi. Mỗi lần ra nông trường là mỗi lần thấy đổi khác, màu xanh của cây bông vải giờ đây đã phủ kín khắp vài trăm mẫu đất. Công việc đang tiến triển tốt đẹp, ngày 29 tháng 8 tù nhân lại nhận được lệnh chuyển trại. Đang giữa mùa mưa, nghe chuyện đổi chỗ ở, mọi người đều nản chí và tin rằng chuyện ở nông trường Sông Lũy đã xong, bây giờ sẽ đi đến một nông trường khác, lại tiếp tục chặt cây, đốn nứa, cắt tranh làm nhà, lại phá rừng để trồng trọt. Nội cái chuyện làm nhà để ở trong mùa mưa cũng khiến tù nhân xuống tinh thần, nói gì đến chuyện lao động sản xuất. Nhưng mà lệnh là lệnh, đám tù nhân lại lo thu dọn đồ đạt rồi tay xách nách mang, gồng gánh dẫn nhau di chuyển đến chỗ ở mới. Cho đến chiều ngày hôm ấy, tù nhân được đưa đến gần trại tù cũ ở Sông Mao, cái trại tù đặc biệt có hàng rào vỉ sắt PSP bao quanh, chúng tôi được ở trong một căn nhà tiền chế rộng mênh mông giống như Đại giảng đường của Trường Bộ Binh Thủ Đức. Căn nhà nằm bên ngoài hàng rào vỉ sắt PSP, cách biệt hoàn toàn với trại tù cũ. Tôi không biết ngày xưa Trung đoàn 44 của Sư đoàn 23 Bộ binh, dùng căn nhà tiền chế này để làm gì, rạp hát chiếu phim cho lính coi? Hơn ba trăm tù binh ở trong căn nhà tiền chế mà chỉ chiếm có gần phân nửa diện tích, phần còn lại bỏ trống không. Tối đến chúng tôi ngủ trên sàn xi măng, trên trần nhà bốn ngọn đèn nê ông sáng chói, mỗi ngọn cách nhau độ chục thước. Hơn một năm rồi, khi mặt trời lặn là chúng tôi bắt đầu sống trong bóng tối, riết rồi thành quen, hôm nay là lần đầu tiên tôi thấy lại ánh đèn nê ông, dù chỉ có bốn ngọn đèn trong một căn phòng rộng lớn, nhưng sao tôi vẫn thấy sáng choang, thấy từng vết trầy xướt trên cột nhà, từng cái lỗ thủng trên vách, từng hàng chữ nho nhỏ viết bậy trên tường. Mười giờ đêm, máy đèn ngưng chạy cả căn phòng chìm trong bóng tối, tôi nằm yên không ngủ được, băn khoăn, thắc mắc, không hiểu tại sao họ không đưa chúng tôi đến một khu rừng khác mà lại đem chúng tôi về đây để làm gì? Tôi mở mắt nhìn lên trần, nghĩ về vợ con, cha mẹ, mấy đứa em cho đến khi tiếng ngáy của anh bạn tù bên cạnh vang lên đều đều, cũng là lúc tôi chìm vào giấc ngủ. Buổi sáng tôi thức dậy khi tiếng kẻng từ trại tù cũ, cách xa khoảng vài trăm mét vang vọng đến, vì cách nhau khá xa nên tiếng kẻng chỉ vừa đủ nghe, không man rợ, không hung tợn như khi mình ngủ gần bên nó. Trưa đến một ông Việt cộng lạ mặt xuất hiện, ông ta tự giới thiệu.
-Tôi tên là Tâm, có nhiệm vụ nuôi ăn các anh, yêu cầu tất cả hãy theo tôi.
Nói xong, ông ta dẫn tù nhân đi qua một căn nhà tiền chế nhỏ và cũ kỹ hơn căn nhà mà chúng tôi đang ở. Vừa bước chân vào phòng, không ai bảo ai, mọi người đều khựng lại vài giây rồi mới tiếp tục cất bước. Trước mặt của tôi là hai dãy bàn dài, trên đó chén đũa đã sẵn sàng, cứ bốn cái chén lại có thêm một cái dĩa nhỏ đựng bốn cục kẹo và bốn điếu thuốc lá. Cách dọn bàn ăn giống hệt như ngày xưa khi tôi còn ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, KBC 4100. Cái khác biệt duy nhất là dĩa kẹo thay cho bình trà đá. Thời đó sinh viên sĩ quan chúng tôi gọi đùa với tính cách giễu cợt, KBC bốn thằng một ca rê, hay là KBC bốn thằng một mâm cũng được. Hiện tại chúng tôi là tù nhân chứ đâu phải là sinh viên sĩ quan, cả năm rồi tù nhân ngồi bệt dưới đất mà ăn cơm, có bao giờ thấy bàn ghế đâu. Hôm nay nếu ăn cơm mà ngồi vào bàn, tôi nghĩ rằng tất cả bọn tù chúng tôi đều tưởng rằng mình nằm mơ.
Ông Tâm nói với chúng tôi.
-Kể từ hôm nay, khi đến giờ ăn, các anh sẽ được thông báo qua đây để dùng cơm.
Nói xong, thấy mọi người cứ đứng yên như ông phỗng đá, ông ta thúc giục.
-Các anh cứ tự nhiên, bốn người ngồi vào một mâm, lát nữa cơm và thức ăn sẽ được mang lên.
Hình minh họa
Cai tù mà bưng cơm cho tù nhân thì bố ai mà dám tin, một vài anh tù nhè nhẹ ngồi vào bàn, rồi thì tất cả mọi người lần lượt làm theo. Thừa lúc mọi người ồn ào lo chọn chỗ, một anh bạn tù ngồi đối diện với tôi nói nhỏ với anh bạn đội nón xanh, ngồi kế bên tôi.
-Tao cá với mày, lát nữa sẽ có phái đoàn báo chí ngoại quốc từ Âu châu đến thăm viếng và phỏng vấn tụi mình.
Ông bạn đội nón xanh hỏi lại.
-Sao mày biết?
-Việt cộng làm việc gì cũng có tính toán cả rồi, sở dĩ tụi mình được đem ra đóng phim, vì hầu hết hơn ba trăm tù nhân ở đây không nhiều thì ít đều có liên quan đến gia đình Cách mạng. Nếu không liên quan thì cũng thuộc thành phần gọi là dễ dạy bảo, không chống đối. Mày thấy tao nói có đúng không?
Trước cái lối lý luận chặt chẽ, chắc như đinh đóng cột, anh bạn tù đội nón xanh gật đầu.
-Đồng ý.
Cơm được dọn lên, thức ăn gồm có một tô canh và một dĩa cá kho, tù nhân sau khi ăn chén rưỡi cơm, chút cơm dư lại được chia đều cho mọi người. Đây là một bữa ăn mà tôi cho là khá thịnh soạn và trang trọng nhất, kể từ ngày bước chân vào tù. Thịnh soạn vì tô canh rau muống nấu với tôm khô, dĩa cá kho với hai con cá mòi to bằng bàn tay thơm lừng như mời gọi, trang trọng vì có đủ bàn ghế. Cơm nước xong xuôi, tù nhân thong thả thưởng thức chút ngọt của cục kẹo, rồi ung dung hút một điếu thuốc, thả khói bay đầy phòng.
Cách chỗ tôi ngồi vài bước, một giọng nói nghe cứ như đùa vang lên.
-Tù cải tạo mà ngày nào cũng ăn uống như thế này, chắc tao phải xin học lâu thêm chút nữa.
Một anh bạn có máu khôi hài nói nhỏ.
-Sau bữa cơm ân huệ, quá sức là đầy đủ, tao đã sẵn sàng ra pháp trường.
Anh bạn có cái nón xanh ngồi kế bên tôi, hỏi người tù đối diện.
-Mày nói có phái đoàn ngoại quốc đến viếng thăm, sao giờ này chưa thấy.
Anh bạn ngồi đối diện với tôi gằn giọng.
-Mày cứ đợi đó đi, có thể chiều nay hay ngày mai không chừng.
Ba ngày trôi qua trong yến tiệc linh đình mà không có phái đoàn nào tới thăm cả, trưa ngày 1 tháng 9, chúng tôi được tập họp để nghe quản giáo nói chuyện.
Anh quản giáo với gương mặt vui vẻ, tươi cười nói.
-Ngày mai ba trăm mười bảy anh đang ở trại này sẽ được cho về đoàn tụ với gia đình. Lát nữa các anh sẽ được lãnh giấy ra trại cũng như gạo và tiền xe đi đường.
Một tù nhân giơ tay lên trời.
-Thưa anh tôi xin được hỏi.
Quản giáo chỉ anh ta.
-Hỏi gì?
-Thưa anh, lãnh giấy tờ xong, đi về liền được không?
Hình minh họa
Quản giáo cười thoải mái.
-Trong giấy tờ đề ngày 2 tháng 9, anh nào đi ra trước là phạm tội trốn trại, hình phạt như thế nào thì các anh đã biết rồi. Gắng thêm chút nữa đi, các anh đã về tới đích rồi mà.
Một tù nhân khác nói to.
-Thưa anh.
Quản giáo nói.
-Anh hỏi gì?
-Thưa anh, qua khỏi mười hai giờ khuya là đã qua ngày hai tháng chín rồi. Lúc đó, tôi đi ra khỏi trại được không?
-Theo nguyên tắc thì được, nhưng mà ban đêm lính canh thấy anh đi gần hàng rào, họ sẽ bắn ngay. Anh muốn đi thì cứ đi.
Tôi được lãnh khoảng 4 kí gạo và 12 đồng, đó là thực phẩm và tiền xe cho mấy ngày đi đường về lại quê cũ. Ngồi một mình trong góc phòng, nghĩ đến chuyện ngày mai tôi sẽ được thả ra khỏi tù, rồi nhớ lại những bữa ăn huy hoàng trong mấy ngày qua, đột nhiên hình ảnh Trung úy Lợi và Sơn Fulro đói ăn thiếu mặc, hiện ra rõ mồn một trong đầu. Cảm thông được hoàn cảnh khốn khó của bạn, tôi muốn tìm cách nào để có thể chia sẻ chút thực phẩm và tiền bạc cho hai người bạn của mình. Suy nghĩ hoài, cuối cùng tôi cũng tìm được cách giúp Sơn Fulro và Lợi. Thường thì khoảng 5 giờ chiều là tù nhân đi lao động ngoài trại trở về, mới 4 giờ rưỡi tôi đã ôm 4 kí gạo đựng trong hai cái bao cát nhỏ, lấy sẵn 6 đồng để một bên túi áo đi đến gần cổng trại B trung úy rồi ngồi đợi . Cẩn thận hơn, tôi ngồi cách xa cổng khoảng hai trăm mét. Sở dĩ tôi đưa cho Sơn Fulro và Trung úy Lợi 4 kí gạo với 6 đồng, chỉ giữ lại cho mình 6 đồng vì tôi biết, khi ra khỏi trại tôi còn có thể xoay sở được. Trong khi Sơn Fulro và Trung úy Lợi còn ở lại trong trại tù, giống như bị trói tay, bịt mắt, cột chân, không cách gì kiếm được một hột gạo, nói gì đến chén cơm. Mới chừng hút xong điếu thuốc, tôi đã thấy đoàn tù trở về. Sơn Fulro không cần tìm cũng thấy vì hắn là thằng cao nhất trong hàng. Nhìn trước nhìn sau không thấy cảnh vệ, tôi nhập vô đoàn, đi chầm chậm chờ khi Sơn Fulro đến gần, tôi lẹ làng trao gạo và tiền cho hắn, rồi nói.
-Của mày và Trung úy Lợi.
Nói xong, tôi tách đoàn đi về phía căn nhà tiền chế mà không kịp nghe Sơn nói gì hết. Trong lòng vui mừng vì liều mạng làm được một công việc khá nguy hiểm và đã thành công, tôi vừa đi vừa huýt sáo bản nhạc.
Cờ bay. Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu, Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…
Tối hôm 1 tháng 9, đám tù chúng tôi đi ngủ sớm, lấy sức để ngày mai ra về. Không biết hôm nay là ngày mấy của âm lịch mà bầu trời tối mò, đầy mây đen, trăng sao lặn đâu mất, thỉnh thoảng lại có vài tia chớp xé toạc màn đêm, liền sau đó là nhiều tiếng sấm vang dội ở cuối chân trời. Khoảng ba bốn giờ sáng, một trận mưa lớn đổ xuống, kéo dài cho đến khi trời sáng tỏ mà cơn mưa vẫn chưa chịu dứt. Mấy trăm tù nhân đã sẵn sàng ra về, nhưng vì mưa quá lớn nên đành ở trong nhà để núp mưa. Họ nhìn nhau như dò hỏi, rồi lại chờ. Khi cơn mưa vừa tạm ngớt hột, một vài người đội mưa hùng dũng dứt khoát ra đi, nhiều người vì quá nóng lòng nên cũng vội vàng đi theo. Tôi và một số người chờ thêm khoảng nửa giờ nữa thì cơn mưa gần như tạnh hẳn, lúc bấy giờ bọn tôi mới ra về. Cái cổng chúng tôi đi ra không có bảo vệ canh giữ, nhưng hôm nay đã thấy ông Thiếu tá trưởng trại đứng đó tự bao giờ. Điểm đặc biệt là ông Thiếu tá này lai Tây, đó là điều duy nhất tôi biết về ông ta. Ông thiếu tá vui cười bắt tay từng người tù và nhắc đi nhắc lại chỉ một câu nói.
-Hãy quên hết những gì các anh đã học được trong trại, về trình diện địa phương, mấy ông chủ tịch xã ấp hay công an phường, nói gì thì kệ họ, nhớ vâng dạ, chớ có cãi lại nó sẽ bỏ tù các anh đó.
Hình minh họa
Tôi là thằng chót cùng bước ra khỏi trại, tai vẫn còn nghe ông Thiếu tá trưởng trại nhắc lại câu nói trên. Đó là câu nói duy nhất có giá trị, mà tôi đã học được trong hơn một năm hai tháng học tập cải tạo, ở Tổng trại 8 tù binh Sông Mao.
Tin hay không, khi tôi bước ra khỏi cổng trại tù, không thấy bóng dáng một người tù cải tạo nào cả, họ biến mất, biến sạch sẽ không để lại một chút dấu vết gì. Một mình đứng giữa trời đất bao la, tôi nhìn quanh không biết đường nào mà đi. Trước mặt tôi độ trăm thước, dưới một gốc cây được che bởi một miếng ny lông màu xanh đậm to thật to, vài người dân địa phương ngồi vây quanh một cái bàn. Khi tới gần, tôi tò mò muốn biết họ đang ăn cái gì. Cơm tấm? mì quảng? bún bò? Mỗi người một tô vừa ăn vừa húp xì xụp. Tôi biết trong túi của tôi còn 6 đồng, đó là những đồng tiền mà tôi sẽ dùng để đi xe đò về Đà Lạt. Thấy tôi, người đàn bà bán hàng mời.
-Ăn bún cá đi cậu.
Vừa nói xong, bà liền nói tiếp.
-Ủa, mà cậu là tù cải tạo mới được thả về, phải không?
Tôi nói.
-Dạ phải.
Bà bán bún nói mà như quở tôi.
-Lúc nãy, trời hãy còn mưa mà người ta đã đi mất đất rồi, tại sao giờ này cậu mới ra?
Tôi đang lúng túng chưa biết trả lời như thế nào, bà bán bún lại nói.
-Ngồi xuống ăn đi, tù ăn khỏi trả tiền.
Nói xong bà ta lanh lẹ làm một tô bún, khói còn bốc lên nghi ngút, đưa cho tôi.
-Ăn đi, ăn cho no rồi đi về, mà nhà của cậu ở đâu?
-Thưa bà, Đà Lạt.
-Khá xa đó, phải tốn hai ngày xe, từ đây đến Phan Rang ngủ lại một đêm, ngày hôm sau mới đi từ Phan Rang lên Đà Lạt.
Thấy tôi chăm chú lắng nghe với nét mặt lo âu, bà bán bún nói tiếp.
-Cậu yên tâm, lát nữa thằng con tui đem bún tới đây, tôi sẽ biểu nó chở cậu ra bến xe đò ở Chợ Lầu. Từ đây đến đó gần năm cây số chớ không ít đâu.
Tôi cảm ơn bà bán bún rồi bắt đầu ăn. Cọng bún mềm và dai, miếng cá ngọt, chả cá giòn, nước lèo béo ngậy, ớt cay, rau sống thơm, chỉ một thoáng là tôi ăn hết tô bún, bưng cái tô húp sạch không còn một giọt nước. Bụng hãy còn đói, muốn ăn thêm tô nữa nhưng ngượng trong lòng không dám hỏi. Tôi nói dối với bà bán bún.
-Ở tù nhịn ăn quen rồi, mới ăn có tô bún của dì mà đã thấy no cành hông. Cảm ơn dì.
Tôi được chở đến bến xe đò đi Phan Rang, bến xe vắng hoe như chùa bà Đanh, chỉ còn duy nhất một chiếc xe khách Renault Goelette cà tàng sắp sửa chạy, hình như chiếc xe này được nhập cảng vào Việt Nam từ thời Đệ nhất Cộng hòa. Sở dĩ tôi biết rõ hiệu xe là Renault Goelette vì ở Đà Lạt, người ta dùng loại xe này để chở khách từ chợ Đà Lạt đến Chi Lăng. Bến xe Chi Lăng nằm gần cổng Lý Thường Kiệt của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Ngày xưa, thỉnh thoảng tôi vẫn đi làm bằng loại xe đò này.
Hình minh họa
Anh lơ xe cỡ chừng mười tám tuổi, nhìn tôi từ đầu đến chân như đánh giá khách hàng, rồi hỏi với giọng cộc lốc.
-Có tiền không?
Tôi nhanh nhẹn trả lời.
-Có.
-Ngồi trên mui, chịu không?
-Chịu.
-Sáu đồng.
Tôi nghe mà muốn lùng bùng hai cái lỗ tai, rồi than thành tiếng.
-Sáu đồng, như vậy tôi đâu còn đủ tiền đi Đà Lạt.
Vừa than xong tôi nói với anh lơ xe.
-Ba đồng được không?
Anh lơ xe cười sằng sặc rồi lớn tiếng.
-Giỡn hoài cha nội, từ đây đến Phan Rang mà trả ba đồng, chỉ vừa đủ tiền đóng hụi chết cho công an, chạy với giá đó bọn tôi chỉ có nước húp cháo rùa.
Một ông khách ngồi trên xe, nghe anh lơ to tiếng bèn nói.
-Lấy ba đồng của anh ấy đi, tôi sẽ bù thêm ba đồng còn thiếu cho.
Tôi leo lên mui xe, ngồi chung với mấy con heo con cùng với bầy gà vịt bị nhốt trong mấy cái giỏ tre, rồi tự an ủi mình “Tù với heo gà vịt cũng như nhau thôi mà”, miễn sao đi tới nơi về tới chốn là được rồi. Xe chạy được một lúc bỗng nhiên ngừng lại, giọng anh lơ xe gọi tôi.
-Cái ông gì ngồi trên mui xe đó, có phải là tù cải tạo mới được thả ra sáng nay không?
Tôi nói.
-Phải.
-Vậy mà sao ông không nói, may nhờ có ông khách đây nhắc tụi tôi mới biết, xuống đây ngồi đi.
Tôi đặt chân lên cái thang bằng sắt, được hàn vào ở cuối xe bên trái, bám theo đó mà xuống. Anh lơ xe nhường cho tôi chỗ ngồi của anh ta ở cuối băng ghế, còn anh ta đứng nơi bậc cấp bằng gỗ, một tay bám lấy cái thang, một tay đập ầm ầm vào thân xe, miệng la to như cháy nhà.
-Tới luôn bác tài.
Chiếc xe từ từ lăn bánh, bò chầm chậm về phía trước. Anh lơ xe hỏi nhỏ tôi, giọng tò mò nhưng đầy thân mật.
-Cấp bậc?
-Trung úy.
-Đơn vị?
-Trường Võ Bị Đà Lạt.
Anh lơ xe xuýt xoa.
-Sĩ quan Đà Lạt, ngầu dữ há. Ở trong tù chắc trung úy chịu nhiều cực khổ cũng như đói rét phải không?
Nghe anh lơ xe hỏi, đột nhiên tôi nhớ đến người đàn bà đã cho tôi chén cơm với con cá nục. Hôm nay tôi được thả về, trong khi ông thiếu tá con rể của bà hãy còn ở tận Miền Bắc, nghìn trùng xa cách. Không biết sao, tự nhiên tôi quay nhìn về hướng Sông Mao mà nước mắt lưng tròng.
Hình minh họa
Anh lơ xe ghé miệng vào sát tai tôi, anh ta nói mà như là tâm sự với người bạn hiền.
-Sao trung úy khóc vậy?
Tôi nói.
-Ở trong tù đói liên miên, mấy tháng trước khi đi gánh tranh ở Lương Sơn, tôi được một người đàn bà cho chén cơm, chuyện đó khiến tôi chợt nhớ đến “bát cơm Phiếu mẫu”. Không biết bao giờ mới gặp lại bà ta để đền ơn, tôi khóc vì thương cho hoàn cảnh của bà.
Xe đến Phan Rang, anh lơ xe kín đáo đưa lại cho tôi ba đồng, thêm hai cái bánh ú, rồi nói.
-Húp cháo rùa thì cũng chịu thôi, nỡ lòng nào mà lấy tiền của tù cải tạo.
Tôi nghe anh lơ xe nói, mà cứ ngỡ như là nghe một tay anh hùng hảo hán Lương Sơn Bạc nào đó, đã đầu thai lầm thế kỷ, lầm luôn đất nước.
Vừa bước xuống xe tôi chạy vội đến phòng vé, mua một vé xe đi Đà Lạt vào sáng hôm sau. Xong xuôi mọi chuyện, tôi nhìn quanh tìm chỗ ngủ. Ngủ bờ, ngủ bụi, ngủ ngoài rừng, ngủ dưới mưa cả tuần lễ tôi còn chưa sợ, sá gì một chỗ ngủ nơi bến xe, giờ đây mùng mền đã có sẵn, một mái hiên nhà cũng đã tốt lắm rồi, lo làm gì cho mệt thân. Tôi ngồi xuống một cái băng ghế gỗ cũ kỹ, ọp ẹp, như muốn sụm xuống bất cứ lúc nào. Bụng đã bắt đầu xót, tôi lột cái bánh ú ăn cho đỡ đói, cái còn lại để dành ngày mai. Vừa ăn tôi vừa nhìn lên bầu trời hiu quạnh, từ xa tôi thấy một người đàn ông đang thong thả đi đến chỗ tôi ngồi. Khi ông ta đến gần, tôi mới nhận ra đó là người đàn ông đã trả cho tôi ba đồng tiền xe lúc sáng. Ông ta cười với tôi, nụ cười hiền hòa như muốn bắt chuyện.
Tôi tìm ông mãi mà không thấy, nào ngờ ông lại ngồi ở đây.
-Thưa có việc gì không?
-Chẳng có việc gì quan trọng, tôi chỉ muốn hỏi, ông có muốn nghe anh lơ xe nói gì về ông không?
Ai lại không tò mò, đương nhiên là tôi muốn nghe người khác nói gì về mình. Tôi trả lời.
-Dạ muốn lắm chứ. Anh ấy nói gì vậy?
Người đàn ông tằng hắng lấy giọng.
-Chuyện như thế này, anh lơ xe tâm sự với tôi “Bác à, tội nghiệp cho cái anh chàng trung úy ở tù vừa mới được thả về, chắc là do bị hành hạ, đánh đập, bỏ đói nên chưa đến ba mươi tuổi mà đã lẫn rồi. Tôi dám nói với bác như vậy vì lúc ngồi trên xe, tôi thấy anh trung úy cứ nhìn về hướng Sông Mao mà khóc. Anh ta nói là thương nhớ cái bà kiểu mẫu nào đó đã cho anh bát cơm”. Cuối cùng anh lơ xe nói với tôi mà như là có ý trách trung úy “Được thả về, vợ con, cha mẹ, anh em, không thương nhớ mà lại đi khóc thương một bà phiếu mẫu đã cho mình bát cơm. Người như vậy phải nói là lẫn rồi, nếu ổng không lẫn hả, tui thề sẽ bỏ nghề làm lơ xe đò cho mà coi”.
Tần Vũ Dương mang theo tấm bản đồ có giấu sẵn dao găm bên trong. (Nguồn: iFuun)
Hai câu trên được trích trong Bài thơ sông Dịch của Vũ Hoàng Chương nói về tráng sĩ Kinh Kha khi sang Tần với con dao Chuỷ thủ trong tay để hành thích bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng. Kinh Kha là ai và tại sao phải giết Tần Thuỷ Hoàng? xin đọc lại một chút điển tích xưa:
“Gió thổi vi vu, Dịch thủy lạnh. Tráng sĩ một đi không trở về”, đây là một câu thơ bắt nguồn từ điển cố Kinh Kha ám sát Tần Thủy Hoàng. Đằng sau câu thơ này lại ẩn chứa một câu chuyện vô cùng bi tráng vào 2.000 năm trước.
Tần Vũ Dương mang theo tấm bản đồ có giấu sẵn dao găm bên trong. (Nguồn: iFuun)
Kinh Kha là người nước Vệ, tổ tiên là người nước Tề, khi di cư sang Vệ, người Vệ gọi là Khánh Kha. Sau đó sang nước Yên, người nước Yên gọi là Kinh Kha.
Kinh Kha thích đọc sách, đánh kiếm, bàn chuyện kiếm thuật. Không được Vệ vương trọng dụng, Kinh Kha buồn chán mới tìm đến Hàm Đan chơi. Ở đây, ông kết bạn với một người bán thịt chó và một người tinh thông đàn trúc tên Cao Tiệm Ly.
Ngày ngày, cùng nhau chơi đàn, hoạ thơ, hát vui, cười khóc với nhau ở giữa chợ, xem như bên cạnh không có người. Tính tình cảm khái, thích đi đó đây, đến nước chư hầu nào Kinh Kha cũng tìm kết bạn với những bậc hiền nhân, trưởng giả ở đó. Khi sang tới nước Yên, nhân sĩ nước Yên là Điền Quang tiên sinh cũng mến mộ đãi ngộ chu đáo.
Lúc bấy giờ, thái tử nước Yên là Đan đang làm con tin ở Tần quốc trốn về. Thái tử Đan đã có lần làm con tin ở Triệu, mà vua Tần Doanh Chính lại sinh ra tại đó nên ngày nhỏ vẫn thường làm bạn với nhau. Đến khi Tần Doanh Chính được làm vua, thái tử Đan lại trở thành con tin ở Tần, lúc này vua Tần đối đãi với bạn không tử tế nên thái tử Đan giận trốn về, tìm cách báo thù.
Cùng lúc, tướng Tần là Phàn Ô Kỳ có tội với vua, chạy trốn sang Yên. Cúc Võ vốn là thầy học của thái tử Đan mới can, e sợ việc dung nạp Ô Kỳ sẽ là hành động khiêu chiến với vua Tần nhưng thái tử Đan cương quyết gạt đi.
Tần Thuỷ Hoàng, một trong những vị vua bị coi là mục tiêu hành thích nhiều nhất của lịch sử Trung Hoa. (Ảnh: cdpengchen)
Thấy không lay chuyển được thái tử Đan, Cúc Võ mới bàn việc mời Điền Quang đến để bàn đại sự. Thế nhưng Điền Quang lại một mực chối từ, lấy lý do tuổi cao sức yếu, mới giới thiệu Kinh Kha cho thái tử Đan. Sau khi khích lệ Kinh Kha, Điền Quang liền tự sát để tỏ rõ nghĩa khí của mình.
Tần Thuỷ Hoàng, một trong những vị vua bị coi là mục tiêu hành thích nhiều nhất của lịch sử Trung Hoa. (Ảnh: cdpengchen)
Thái tử Đan đón tiếp Kinh Kha rất nhiệt thành, nhờ Kinh Kha vì bá tánh trăm họ giúp trừ khử Tần Thủy Hoàng. Kinh Kha từ chối: “Tôi hèn kém, e không làm nổi việc ấy”.
Thái tử Đan dập đầu cố xin rằng: “Vì trọng tấm lòng có nghĩa của ngài, Đan này xin uỷ sinh mệnh vào ngài đó, xin chớ chối từ”.
Kinh Kha ban đầu còn từ chối, nhưng nghe thái tử Đan bàn đến chuyện an nguy của bá tánh mấy nước chư hầu mới quyết định nhận lời.
Kinh Kha nói: “Theo lời Thái tử, thần nguyện đi yết kiến vua Tần. Chuyến đi lần này nếu không có vật làm tin, thì e rằng không thể đến gần vua Tần được. Nay vua Tần muốn mua thủ cấp của Phàn tướng quân với giá nghìn vàng, vạn hộ dân. Nếu có được thủ cấp của Phàn tướng quân và bản đồ Đốc Cương dâng lên vua Tần, vua Tần ắt sẽ phải gặp thần, vậy thần mới có thể giúp Thái tử được”.
Thái tử Đan nói rằng việc trao bản đồ Đốc Cương thì hoàn toàn không tiếc, nhưng chuyện lấy thủ cấp của tướng quân Ô Kỳ e là không được.
Nghe thái tử Đan nói vậy, Kinh Kha bảo thái tử cứ chuẩn bị tấm bản đồ trước, còn mình sẽ lo việc thủ cấp của tướng quân Ô Kỳ. Nói rồi, Kinh Kha bèn đi một mạch tới bái kiến Phàn Ô Kỳ. Ông nói:
“Nước Tần đối đãi với tướng quân có thể gọi là thâm độc. Cha mẹ họ hàng đều bị giết, nay nghe nói họ mua cái đầu của tướng quân nghìn vàng, ấp vạn nhà. Nay tôi có một lời, có thể cứu nguy cho nước Yên, báo thù cho tướng quân. Chỉ có điều, muốn thực hiện được nhất thiết phải xin cái đầu của tướng quân để hiến vua Tần. Vua Tần thế nào cũng mừng rỡ tiếp kiến tôi. Nhân cơ hội đó tôi sẽ nhanh chóng hành thích ông ta”.
Phàn Ô Kỳ nghe vậy, mới ngửa cổ lên trời, vái lạy tổ tiên rồi tự sát. Thái tử Đan nghe vậy, đau xót ruổi ngựa đến, khóc rất thảm thương nhưng không làm khác được nên bỏ đầu Ô Kỳ vào hòm và niêm phong lại. Sau đó lại cho người đi tìm trong thiên hạ được cái chủy thủ sắc của Từ phu nhân nước Triệu, mua mất trăm lạng vàng, sai thợ tẩm thuốc độc, hễ đâm vào người, máu chảy ra như sợi tơ cũng đã đủ lấy mạng người đó.
Rốt cuộc vụ ám sát không thành, để lại một câu chuyện lịch sử bi tráng, đặt định cơ sở văn hóa lịch sử của nhân loại. (Ảnh: Novesoft.com)
Nước Yên có một võ sĩ tên Tần Vũ Dương, năm 12 tuổi đã từng sát nhân, không ai dám xem thường anh ta. Thái tử Đan liền phong Tần Vũ Dương làm phó tướng. Đến sông Dịch Thủy, mọi người bày tiệc tiễn khách. Cao Tiệm Ly gảy đàn trúc, Kinh Kha hát theo, tiếng hát chưa dứt, quân sĩ đều chảy nước mắt. Lại hát tiếp rằng: “Gió thổi vi vu, Dịch thủy lạnh. Tráng sĩ một đi không trở về!” Sau đó ông lên xe đi, không hề nhìn ngoái lại.
Trong Kinh Kha ám sát Tần Thủy Hoàng có ghi chép rằng, Kinh Kha mang theo đầu của Phàn Ô Kỳ và tấm bản đồ nước Yên, cùng với dũng sĩ Tần Vũ Dương đến gặp vua Tần.
Tần Vũ Dương mang theo tấm bản đồ có giấu sẵn dao găm bên trong, Kinh Kha bưng đầu của Phàn Ô Kỳ được đựng trong chiếc hộp. Tần Vũ Dương là dũng sĩ, nhưng trong hoàn cảnh này cũng không khỏi khiếp sợ đến biến sắc mặt.
Rốt cuộc vụ ám sát không thành, Kinh Kha và Tần Vũ Dương đều bị giết chết. Để lại một câu chuyện lịch sử bi tráng, đặt định cơ sở văn hóa lịch sử của nhân loại, câu thành ngữ “Đồ cùng chủy hiện” (Ý đồ cuối cùng đã lộ ra) cũng ra đời từ câu chuyện này.
Kinh Kha chết, vua Tần bèn cả giận ra lệnh cho Vương Tiễn đem quân đánh Yên. 5 năm sau (năm 222 trước Công nguyên) nước Tần diệt gọn nước Yên.
Trên đây là câu chuyện theo truyền thuyết nói về Kinh Kha tay tráng sĩ thời xưa sang Tần để hành thích Tần bạo chúa, việc lớn không thành để phải vong mạng nơi viễn xứ với nhiều tình tiết hùng tráng, đau thương và gây cấn. Câu chuyện vửa kể trên có liên quan gì đến Lý Tống? thử nhìn lại xem các việc Lý Tống đã làm qua Bách Khoa Toàn Thư mở trên Net:
Tháng 4 năm 1975, chiếc A-37 thuộc biên đội Ó Đen do ông lái bị bắn rơi; ông bị giam giữ cải tạo trong vòng 5 năm. Ông vượt ngục bằng đường bộ đến Thái Lan, đi qua Campuchia, rồi xin tị nạn chính trị tại Singapore. Ông đến Hoa Kỳ năm 1984. Sau đó theo học cao học tại Đại học New Orleans.
Những hoạt động sau năm 1975
Năm 1992, Lý Tống uy hiếp phi công chiếc A310 của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam bay qua Thành phố Hồ Chí Minh rồi thả truyền đơn xuống kêu gọi nhân dân Việt Nam nổi dậy chống lại chính quyền. Lý Tống nhảy dù xuống một ao rau muống. Thấy một anh dân phòng mặc đồ dân sự đi ngang, Lý Tống nói mình là Việt kiều mới về nước, muốn thăm nhà bạn nhưng không nhớ đường và đưa địa chỉ nhờ chở đến. Anh dân phòng đồng ý rồi chở Tống lại công an; Lý Tống bị cơ quan chức năng Việt Nam bắt và kết án 20 năm tù vì tội cướp máy bay. Tháng 9 năm 1998, chính quyền Việt Nam quyết định tha và trục xuất Lý Tống trong một đợt đặc xá.
Năm 1998, Lý Tống đã dùng máy bay, xâm nhập trái phép lãnh thổ Cuba để rải truyền đơn.
Ngày 1 tháng 1 năm 2000, Lý Tống dùng một chiếc máy bay nhỏ bay từ Florida sang La Habana, Cuba thả truyền đơn kêu gọi nhân dân Cuba nổi dậy. Khi bay trở về, ông bị thẩm vấn bởi Cục Di cư và Hải quan Hoa Kỳ nhưng được trắng án và tha bổng. Lý Tống bị Cục hàng không Liên bang rút giấy phép bay. Sau chuyến này, ông được những người Cuba chống Cộng coi như một “anh hùng”
Ngày 7 tháng 11 năm 2000, Lý Tống lại cướp một chiếc máy bay nhỏ tại Thái Lan bay sang Sài Gòn, thả hơn 50.000 tờ truyền đơn. Lúc trở về Thái Lan, ông bị bắt giữ và bị tòa án Thái Lan kết án 7 năm tù. Tòa án Thái Lan từ chối dẫn độ Lý Tống về Việt Nam với lý do ông không gây hại cho an ninh Thái Lan.
Ngày 24 tháng 8 năm 2008, Lý Tống thuê một chiếc máy bay huấn luyện của Đại Hàn Dân Quốc nhưng bị bắt tại sân bay Seoul khi đang định rải truyền đơn ở CHDCND Triều Tiên.
Giam giữ
Lý Tống là phạm nhân nhiều năm từ năm 1992 đến 1998 tại Trại giam Nam Hà, V26 Bộ Công an (Trại Ba Sao).
Tháng 3 năm 2006, Lý Tống bắt đầu tuyệt thực tại nhà tù ở Rayong.
Ngày 4 tháng 9 năm 2006, tòa án Thái Lan quyết định dẫn độ Lý Tống về Việt Nam. Quyết định này vấp phải sự phản đối của cộng đồng người Việt chống cộng tại Hoa Kỳ và Canada.
Ngày 26 tháng 9 năm 2006, tòa án Thái Lan chấp thuận kháng án từ Lý Tống. Quyết định cuối cùng sẽ được tòa án tối cao Thái Lan quyết định trong vòng 3 tháng.
Ra tù
Sau 7 năm ngồi tù ở Thái Lan, Lý Tống được ra tù. Tòa phúc thẩm tại Bangkok sáng ngày 3 tháng 4 năm 2007 đã tuyên bố hành động của Lý Tống mang tính chất chính trị chứ không phải là đe dọa an ninh, và dựa trên một điều luật của Thái Lan không cho dẫn độ những người đối diện cáo buộc chính trị, tòa phúc thẩm từ chối yêu cầu dẫn độ về Việt Nam của tòa sơ thẩm hồi tháng 9 năm 2006.
Chánh án Wisarut Sirisingh, người xét xử Lý Tống, đã viết trong phán quyết:
“Những gì ông Tống làm không gây ảnh hưởng về an ninh lãnh thổ Việt Nam. Thái Lan không dẫn độ những người đối diện các cáo buộc về chính trị.
Phần tiểu sử của Lý tống còn nhiều tôi chỉ tóm lược một ít ở phần đầu bạn có muốn coi rõ hơn cứ vào bộ Bách Khoa Toàn Thư mở sẽ rõ. Việc làm đầu tiên của Lý Tống năm 1992 gây tiếng vang trên khắp mọi nơi trên thế giới đặc biệt ở các nơi có cộng đồng người Việt có mặt.
Theo thiển ý của tôi Lý Tống hành động có điểm tương đồng như Kinh Kha thuở xưa, có phần còn trội hơn một bậc. Kinh Kha sang Tần với sứ mạng hành thích Tần bạo chúa, việc làm quả là đội đá vá trời vì các quy luật nghiêm nhặt nơi cung điện vua Tần không dễ mà có thể đến gần Tần Thuỷ Hoàng với vũ khi trong tay để mong được chạm đến chéo áo nói chi đến việc mưu sát. Thứ nhì có phải là tay dũng sĩ biết trước việc nếu không thành mà phải táng mạng củng không sờn chí lớn phải có gan mưu lược hơn người.
Tuy nhiên biết người biết ta, Kha tráng sĩ biết nếu đơn thân độc mã qua Tần làm việc lớn chắc chắn sẽ không đạt kết quả như mong muốn nên có đưa lời yêu cầu với Thái Tử Đan của nước Yên muốn sang Tần với một trang kiếm khách đồng chí hướng như Kinh Kha, đó là Cáp Nhiếp.
Thế nhưng muốn gặp Cáp Nhiếp phải đợi 10 ngày nửa mà với Thái tử Đan đó là khoản thời gian không cho phép nên thay vào Cáp Nhiếp là tay giang hồ Tần Vũ Dương làm sao bì cho được Cáp Nhiếp liệu có đủ bản lĩnh và thần khí khi đứng trước Tần bạo chúa hay không?
Mọi chuyện như định mệnh đã an bài và sắp xếp các trình tự nơi câu chuyện xưa: đãi ngộ Kinh Kha trước khi lên đường Thái Tử Đan bày yến tiệc cho vời các cung nữ vào ca múa, có một ca nhi đẹp tuyệt và điệu múa tuyệt vời làm mê mẫn Kha tráng sĩ, để phải thốt lên một câu khen cho đôi bàn tay ngà đẹp mê hồn trong buổi múa hát cho Kinh Kha thưởng lãm. Chỉ nghe qua câu nói đó mà Thái tử Đan đã cho thủ hạ cắt phăng đôi bàn tay của Ngọc Tỷ bỏ vào hộp mà dâng cho Kinh Kha, để nàng phải thác oan uổng.
“Yên thái tử
Trọng đãi ta vào bậc ân nhân
Biết làm sao gở nỗi việc sang Tần!
Ca vũ đê mê linh đình yến ẩm
Suốt ngày đêm nay còn trao tặng phẩm
Giúp cho mình tửu hứng được cao bay
Nào thử xem tặng phẩm gì đây
(mở nắp hộp) Trời hỡi, đôi cánh tay nào đó,
Mà băng tuyết ngọc ngà hoen máu đỏ?
Thôi rồi ta đã giết nàng đây;
Một ca nhi vô tội, não nùng thay!
…Yên Thái tữ đãi mình tri kỷ thực.
Muốn vật chi củng lập tức dâng ngay!
Yêu đôi tay thì chặt hẳn đôi tay…
(Tâm sự kẻ sang Tần-Vũ Hoàng Chương)
Lão tướng Điền Quang của nước Yên cảm khái vì chuyện lên đường sang Tần của Kinh Kha mà tự kết liễu đời mình để mong hồn thác sẽ theo Kinh Kha sang Tần làm chuyện lớn.
“Thanh gươm cùn, tay yếu hỏi dùng chi?
Âu là dưới gót kẻ ra đi
Lão đem chút hơi tàn trao gởi.
Tần bạo chúa lòng tham như hổ đói
Cậy hùng binh toan nuốt sống Yên bang
May được tướng quân động chí ngang tang
Một mũi kiếm trỏ Hàm Dương hỏi tội
Hào khí ấy cùng trăng sao chói lọi
Bước bước đi sông tiễn, núi nghiêng đầu
Lão phu đây kỳ vọng bấy nhiêu lâu,
Nguyền một thác đưa chân người kiếm khách
Hồn thiêng sẽ theo người qua bến Dịch
Bên tai người, nhắc nhỡ chí nam nhi
Với đất trời kia phải có danh gì!..”(Tâm sự kẻ sang Tần-Vũ Hoàng Chương)
Phàn Ô Kỳ là tướng của Tần Thuỷ Hoàng đã bỏ về với Thái Tử Đan của nước Yên, việc này đã làm Tần Thuỷ Hoàng vô cùng tức giận, hãy nghe lời tự thuật của tướng quân họ Phàn với Kinh Kha
“… Tần bạo chúa
Cơn sấm sét vẫn không nguôi thịnh nộ
Kể từ khi mạt tướng bỏ Hàm Dương
Huống nghe tin mạt tướng đã quy hàng
Yên Thái tử. Lòng y như lửa cháy
Lại quạt thêm và tưới dầu thêm vậy!
Nên chuyến này y tận khởi hùng binh
Để chiếm đất đai việc ấy đã đành
Nhưng củng để nổi căm hờn được thoả
Phạt Yên sau, bắt Ô Kỳ trước đã!”
Hỡi kẻ sắp sang Tần!
Phải hiểu rõ lòng ta cho xứng đáng
Chiều nay đây ta dâng ngươi tính mạng
Có phải đâu là ta đã vì ngươi
Vì Kinh Kha lưu tiếng tốt muôn đời
Củng chẳng phải ta căm hờn bạo chúa,
Mượn tay ngươi để thù riêng được thoả
Củng chẳng vì ta muốn báo ơn sâu
Của Yên triều Thái tử bấy nhiêu lâu
Đã biệt đãi một hàng thần phiêu đãng
Không, không phải! ta dâng ngươi tính mạng
Không vì ngươi mà củng chẳng vì mình,
Củng chẳng vì Yên quốc! Ta hy sinh
Chiều nay đây chỉ vì thiên hạ đó
Vì thiên hạ, đầu này ta cắt bỏ.
(Tâm sự kẻ sang Tần-Vũ Hoàng Chương)
Qua các đoạn thơ trên bạn đã thấy Kinh Kha sang tần có rất nhiều lợi điểm:
_Bản đồ của nước Yên có dấu con dao chuỷ thủ trong đó
_Hộp gỗ đựng đầu của Phàn Ô Kỳ
_Cái chết của lão tướng Điền Quang và đôi tay ngà của ca nhi Ngọc Tỷ chỉ là một trong các yếu tố thúc đẩy việc Kinh Kha sang Tần ở thế không thể quay lui, cho dù không có một kiếm thủ song hành là Cáp Nhiếp (thay vào đó là gã giang hồ Tần Vũ Dương không đáng nói tới)
* Với Lý Tống bạn thấy gì, không có tất cả các thứ trên, không có đầu của Phàn Ô Kỳ, không bản đồ nước Yên, không dao chuỷ thủ, không Cáp Nhiếp, không Tần Vũ Dương, việc làm đầu tiên năm 1992 khi anh về VN trên chuyến bay thương mại anh chỉ có một tấm lòng, đúng vậy anh chỉ có một tấm lòng, anh có thể sống sót trong chuyện uy hiếp phi hành đoàn buộc họ phải mở cửa sổ để anh rãi truyền đơn trên bầu trời thành phố Sài Gòn. Nhưng chưa chắc anh có thể sống còn khi tung người qua cửa sổ máy bay để nhảy dù xuống đất.
_Các năm sau đó nào là việc xâm nhập không phận Cuba để rãi truyền đơn. Tháng 11 năm 2000 cướp chiếc máy bay nhỏ của Thái Lan bay sang Việt Nam để thả 50,000 tờ truyền đơn, trả giá cho việc làm đó là 5 năm tù trên đất Thái… và vân vân. Đó là các quốc gia của Cộng Sản hung bạo như đất Tần, Lý Tống đã bao lần qua sông Dịch vào Tần để diệt Tần bạo chúa?
Các việc của anh làm được kẻ khen người chê quả là không ít, nhưng riêng tôi vô cùng đồng ý với nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã viết
“Một nét dao bay ngàn thuở đẹp
Dù sai hay trúng cũng là dư”
Những ai đã từng phê bình Lý Tống cho rằng những việc anh làm vì danh lợi hay không tưởng…. xin thưa rằng có mấy ai đã từng làm được như anh hãy xét đoán và phê bình vì rằng cái dũng khí Kinh Kha không có mà bàn luận chi hỡi bạn ta?!
Nay nghe tin anh hấp hối trên giường bịnh, bên bờ tử sinh, tôi chỉ biết mượn những câu cuối trong bài thơ Tâm sự kẻ sang Tần của Vũ Hoàng Chương để gởi cho anh:
“Ngày xưa khói sóng hận chơi vơi
Những kẻ thi gan với chữ Thời
Ngàn sau khói lửa tơi bời
Sông nào Dịch Thuỷ, ai người Kinh Kha.”
Để kết thúc cho bài viết này cá nhân tôi xin chúc cho anh được qua cơn nguy kịch trên giường bịnh dần lấy lại được sức khoẻ hầu làm được nhiều việc sau này cho thoả chí lớn trong công cuộc xoá bỏ chế độ CS theo ý nguyện chung của mọi người Việt trong và ngoài nước
Tôi kết hôn với anh sau ba năm quen biết và yêu thương nhau, những tưởng làm vợ lính sẽ tràn đầy bao điều mộng mơ như những bản tình ca, đọc được những lá thư viết từ chiến trường đầy ắp những lời nhung nhớ thiết tha. Nhưng không phải, chỉ có năm ngày ái ân mặn nồng sau ngày cưới là anh bỏ tôi lại với gia đình anh để vội vã lên Pleiku nhận đơn vị mới, một chi đoàn chiến xa M48, còn tôi ở lại với tâm trạng của một người con gái lần đầu xa nhà, xa ba má và một đám em lúc nào cũng tíu tít bên người chị cả.
Tôi có công việc ở phòng thuốc của Bệnh viện Toàn khoa Đà Nẵng, việc đi thăm chồng không phải muốn đi là được, chờ một tờ giấy phép đã khó, có khi đến nơi là hậu cứ của đơn vị thì chi đoàn của anh đã nằm trong khu vực hành quân, một địa điểm với những cái tên lạ hoắc: Chư Prong, Chư Pao, Đakrang …Đã có lần tôi lên Pleiku phải sống đơn lẻ vì đơn vị anh đang phải từng ngày lấn đất dành dân trong thời gian sắp thi hành Hiệp định Paris, một hiệp định ngừng bắn mà bên ta chịu thiệt, phải nói chuyện ngang hàng với Mặt trận Giải phóng miền Nam, chờ đến hai tuần cũng chưa gặp mặt chồng, tôi nóng lòng nên theo một chuyến tiếp tế từ hậu cứ đến Quận Phú Nhơn trên quốc lộ 14 từ Pleiku đi Ban Mê Thuột, đoàn xe toàn M48 chở xăng dầu, đạn dược và thực phẩm tiếp tế cho Chi đoàn, đến khu vực nguy hiểm, đoàn xe xích rời đường nhựa và băng rừng, chưa di chuyển được bao lâu thì chiếc xe đầu bị mìn, tiếng nổ làm tôi và các chị vợ lính khiếp vía, toán lính theo xe đồng loạt bắn vào rừng, chưa biết có Việt cộng hay không mà lần đầu nghe tiếng súng nổ quanh mình tôi run và sợ đến muốn ngất đi, anh Trung sĩ tiếp liệu đi lại bên tôi nói: Đại bàng sắp tới, chị đừng lo! Tôi còn đang chưa hiểu cái gì là đại bàng thì đã nghe tiếng xích xe ầm ầm chạy tới, sáu chiếc chiến xa M48 lần lượt ngừng hai bên đường bố trí lại, chồng tôi trên xe nhảy xuống, chạy lại ôm chặt tôi, tôi ngất ngây trong cái hạnh phúc mà đã bao ngày mong đợi .
Tôi ở đây với chồng mươi ngày mà chi đoàn của anh phải hoạt động nhiều nơi, lúc phải di chuyển xuống gần Ban Mê Thuột, lúc phải vào quận Thanh An, tôi cũng hòa mình cùng anh, cùng đoàn quân, khoác áo trận, đeo súng, lên xuống chiến xa, đêm nằm võng treo tòn teng trong M113, lúc ăn cơm sấy, lúc được vào chợ Thanh An ăn tô hủ tiếu, những bạn hàng bán ở chợ nhìn một cô gái trẻ đi cùng chồng là quân nhân, chịu cực chịu khổ, không biết họ khâm phục hay họ thương cảm đây!
Lấy chồng chiến binh là những ngày chịu đựng nỗi nhung nhớ, sự lo lắng, là một chuỗi những rượt đuổi tung tích chồng, chàng trên Pleiku nàng ở Đà Nẵng, vì muốn sống gần chồng nàng chuyển công tác lên Pleiku thì anh ta lại về Biên Hoà. Tôi đã phải bỏ công việc ở bệnh viện Pleiku khi có con gái đầu lòng .Chiến sự ngày càng khốc liệt khi đoàn quân của giặc Bắc đã đánh nhiều nơi gần Sài gòn, trong một trận đánh giải tỏa cho một căn cứ ở quận Bến Cát, chồng tôi đã bị thương nơi tay, anh phải bó bột chín tháng rồi sau đó trở lại đơn vị vào tháng 2/75. Tôi có thêm một đứa con gái trong những ngày anh dưỡng thương ở nhà .
Cái ngày 30/4 tang tóc đã đến với toàn dân miền Nam, tôi hụt hẫng khi nghe tiếng kêu gọi toàn thể binh lính buông súng đầu hàng của ông Tổng Thống Dương Văn Minh. “Hết rồi ” tôi la lên, tôi giận ông Minh một nhưng giận ông chồng tôi mười, mấy ngày trước, khi chồng tôi chuẩn bị để lên Biên Hòa trình diện Lữ đoàn III Kỵ binh, tôi khuyên anh ở lại nhà để cùng đi ra nước ngoài trên chiếc tàu đánh cá của gia đình, anh đã nói: Anh không thể bỏ đơn vị trong lúc này!. Nói rồi anh đành đoạn ra đi, tôi tan nát cả cõi lòng .
Anh vào tù, tôi cùng hai đứa con nhỏ lao vào cái xã hội đang hồi điên loạn, giặc Bắc tràn vào cướp sạch bằng mọi phương thức, đổi tiền và đánh tư sản, cả miền Nam sống trong cơn sốt, “cỏ cây khóc, gió than van”, nhà nhà đều nghĩ đến chuyện vượt biên, đi tìm tự do trong cơn thét gào của biển .
Sài gòn đã đổi tên, thành phố vốn có tên là Hòn Ngọc Viễn Đông bây giờ có tên là cái xác chết! Ông chồng tôi vào tù, mang theo tiền ăn 30 ngày đến nay ba tháng vẫn chưa có tin, tôi chạy đôn chạy đáo đi dò la tin tức, có người quen làm rẫy ở Long Khánh thấy có đám người mặc quần áo lính VNCH đang bị dẫn đi lao động, tôi bèn lên Long Khánh kiếm, kết quả như mò kim đáy biển, chồng không thấy chỉ thấy một số chị em cũng cảnh ngộ như tôi, cũng tay xách vài món ăn cho chồng, cũng mỏi mệt như nhau, bơ phờ như nhau, chỉ còn một chút cái dáng dấp, cái sắc đẹp truyền thống của đàn bà miền Nam nói chung và của những bà vợ sĩ quan chế độ cũ nói riêng .
Tháng 6/79 lần đầu tiên tôi được tin chồng, anh đang ở một trại tù trên đất Bắc -Trại K5 Vĩnh Phú, tôi nhờ một người bà con từng tập kết mua giùm cái vé máy bay trị giá một cây vàng lúc đó để ra Hà Nội, từ đó hết xe lửa đến qua phà, đi bộ mới đến trại giam anh, một đêm thức cùng các chị em cũng đến thăm chồng, nấu nướng các món ăn để sáng hôm sau cho chồng mang vào trại ăn dần.
Tôi không thể nhận ra anh khi có một tên công an dẩn sáu người tù đi vào nhà thăm nuôi, đến khi anh bước đến trước tôi và gọi tiếng “Em”. Tôi bật khóc khi thấy hình hài rất khác của chồng tôi, cái gọi là khoan hồng của “Cách mạng” đã khiến chồng tôi biến thành tàn tạ như vậy sao? Lúc nãy tôi đã thấy anh chống tay lên đầu gối mới bước lên được cái tam cấp vào nhà, mười lăm phút sau, tên cán bộ buộc chúng tôi đứng lên và họ đưa những người tù vào trại .
Tôi quyết định mua thêm sữa bột và đường trở lên Vĩnh phú một lần nữa sau khi về đến Hà Nội.
Thăm nuôi chồng trong tù CS không phải là chuyện dễ dàng, đào đâu ra tiền khi phải lo thêm cho ba má và đám em tám chín đứa, từ khi Đà Nẵng chộn rộn trong việc di tản về Nam của đa số người có của, ba tôi đã nhanh chân mua được cái nhà hai tầng ở Hoà Hưng -quận 10, nhờ vậy mà ba mẹ con tôi có chỗ tá túc, tôi lo cho chồng, cho con còn phải lo cho đám em còn tuổi đi học và ba má nay đã đến tuổi nghỉ việc. Sài gòn lúc đó thiếu cái ăn, tôi phải lặn lội xuống Long An kiếm chục ký gạo, giành giựt đâu đó miếng thịt mỡ nhiều hơn nạc, rồi cất giấu, cột trong mình trong đùi, mặt mày lấm lem như người làm rẫy, qua mắt bọn công an kinh tế!
Miền Nam vốn là vựa lúa của vùng Đông Nam Á , sản xuất lúa gạo đứng nhất ở Á châu , Kinh tế Việt Nam vượt trội hơn Thái Lan, Tân Gia Ba, Đài Loan…bây giờ thì dân phải ăn bo bo, bột mì , khoai sắn.” Bao năm giải phóng như thế này phải không anh”?
Tôi ra Bắc thăm chồng lần nữa giữa năm 1980, lần này dẫn theo hai con nhỏ, đứa bảy tuổi đứa lên sáu, đứa nhỏ lanh hơn, vừa thấy mặt chồng tôi liền đẩy hai đứa con đến bên anh rồi bảo : Gọi ba đi con ! Đứa nhỏ chẳng rụt rè gì buột miệng nói: Ông nội chết rồi Ba! Anh nhìn tôi như muốn hỏi, tôi nói sợ anh buồn và cũng chưa kịp nói gì hết. Tôi thấy anh buồn nhiều.
Ba chồng tôi trước nay vẫn sống với gia đình anh chị hai, anh hai vốn khuynh tả, thiên Công, anh có hai đứa con theo VC, thằng nhỏ đụng trúng lính nhảy dù nên bị giết ở Tây Ninh, thằng lớn làm du kích cho đến cuối đời trở thành thằng tửng tửng, anh hai và chồng tôi thường chống nhau, nên sau ngày mất miền Nam, tôi dẩn hai con về thăm nội, anh ấy đã tỏ thái độ và từng răn đe tôi bằng lời nói khó nghe: Mấy người không được vào nhà tôi, vợ Thiếu tá tôi cũng lấy chổi quét! Tôi hét lại: Tôi cóc cần!
Lần thăm này chồng tôi được trại cho tiếp vợ con cả ngày và đêm, chờ hai con ngủ say vợ chồng mới có dịp mặn nồng và trao nhau hơi thở, thấy việc lo cho gia đình của tôi khó khăn và gian khổ anh nói: Em về điểm phấn tô son lại; Ngạo với dân gian một nụ cười! Ý anh là muốn tôi lấy chồng khác. Vậy đó!
Tôi giận anh đã xem thường con gái nhà họ Võ, một gia tộc có truyền thống học cao, trọng khí tiết, Đức hạnh. Tôi nói với anh: Anh quên Em có ông cố là Thượng Thư Bộ Lại của triều Nguyễn rồi sao? anh quên em có ông Nội là Trưởng ty Tiểu học hồi 54 tại Quảng Ngãi rồi sao? em lấy chó thì theo chó, em lấy gà thì theo gà, em không lấy ai hết nữa!
Thấy tôi quạu, anh cười hoà, ôm chặt tôi, cho tôi nhiều nụ hôn đến ngộp thở.
Anh được trả tự do đầu năm 1985, gần mười năm ở chốn núi rừng Việt Bắc, ở Rừng Lá -Bình Tuy, sức khỏe anh sa sút nhiều, anh chưa hoà hợp được với cái xã hội Việt Nam mới, anh đã lạc lõng ở cái nơi anh được sinh ra, anh nói phải ra đi thôi và hai vợ chồng đã đến một cái chùa Phật ở Phú Nhuận để hỏi thời vận, một vị hòa thượng đã đoán quẻ xăm, ông nói chắc như đinh đóng cột rằng cả gia đình tôi sẽ ra nước ngoài sinh sống một cách chính thức bằng máy bay đàng hoàng. Một chuyện khó tin nhưng có thật!
Tôi sinh thêm thằng út vào tháng 9/89 và tháng 5/91 cả nhà tôi đã được định cư ở Mỹ sau khi bọn giặc cướp không cái nhà, chúng láo lếu nói rằng sĩ quan cấp tá không có quyền bán nhà vì đó là tài sản của nhà nước!
Vợ chồng tôi tin rằng ở một đất nước tự do như Mỹ, con cái chúng tôi sẽ thành tài, ba đứa con của tôi đã vào trường học ngay trong tháng đầu tiên, ông chồng tôi đã lấy bằng lái xe và mua chiếc xe cũ với năm tuổi đời. Tôi có việc làm sau ba tháng học nghề, chồng tôi chưa tới 50 mà tóc đã bạc trắng, anh vốn thông minh, thi đâu đậu đó, ngoài công việc làng nhàng ở shop may, anh chịu trách nhiệm chăm sóc thằng út, tôi muốn ba đứa con của tôi phải là kẻ trí thức ở tầng lớp cao trong xã hội Mỹ .
Giờ đây sau ba mươi năm tôi có được con gái lớn là Dược sĩ , con gái nhỏ là kỹ sư khoa học điện toán, còn thằng út tháng 6 năm sau sẽ hoàn thành chương trình nội trú bệnh viện GeorgeTown để làm một bác sĩ chuyên khoa Tai , Mũi , Họng , cháu đã được một bệnh viện lớn ở Palm Spring (California) thu nhận vào làm việc năm sau.
Nhân sinh thất thập cổ lai hy, đó là phần của tôi thôi, còn ông chồng tôi còn phải cộng thêm vài con số lẻ nữa, vậy mà ông vẫn theo ve vãn tôi. Ông thường nói: Nếu còn có một kiếp sau – Cho anh hẹn chuyện cau trầu trăm năm!
Thôi đi ông à, một kiếp đã đủ quá rồi, mười năm nuôi ông trong tù tôi đã tàn một kiếp hoa! Never see you again!
Võ Thúy Lan – Một chinh phụ
Bổ sung: hình đầu tiên khi tôi mới gặp anh, 75 Tết đầu tiên khi chồng đã bị đi tù ngoài Bắc, hình hai đứa con nhờ đi được HO, tụi nó ráng học để thành tài ở xứ người, làm rạng danh con của gia đình quân lực Việt Nam Cộng Hoà.
Nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Ðinh Thành Tiên. Ông sanh ngày 20, tháng Mười, năm 1938 tại Gò Vấp. Ông từng là học sinh Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký rồi Ðại học Văn khoa Sài Gòn, ban Văn chương Pháp.
Năm 1963, 25 tuổi, ông vào Trường Bộ binh Thủ Ðức. Chức vụ cuối cùng của ông là Thiếu tá, Trưởng phòng Tâm lý chiến.
Sau năm 1975, ông bị CSVN cầm tù ba lần, gần 13 năm. Là tù nhân chính trị, năm 1993, ông và gia đình sang định cư ở Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.
Nhà thơ Tô Thùy Yên đã từ trần lúc 9 giờ 15 phút, tối Thứ Ba, ngày 21, tháng Năm, năm 2019, hưởng thọ 82 tuổi.
o O o
Tô Thùy Yên là một trong những nhà thơ mặc áo lính của chế độ VNCH. Ða phần những bài thơ của ông, là những ‘mảnh vụn’ thâu lượm được (rồi gọt giũa lại thành vàng, thành thơ) khi Tô Thùy Yên đi dài theo chiến cuộc Việt Nam!
Chẳng hạn như bài: ‘Chiều trên Phá Tam Giang’, Tô Thùy Yên đã từng cật vấn một người lính từ miền Bắc CS vào xâm lược miền Nam tự do.
“Vì sao ngươi tới đây? Hỡi gã cộng quân sốt rét, đói. Xích lời nguyền sinh Bắc, tử Nam!”
Rồi nhà thơ cũng tự vấn ngay chính thân phận của mình, khi bay trên Phá Tam Giang trước ngày quân ta vượt phòng tuyến Nam Mỹ Chánh để chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị trong tay bọn CS Bắc Việt vào mùa Hè đỏ lửa 1972.
“Vì sao ta tới đây? Lòng xót xa, thân xác mỏi mòn”
Ðể rồi người lính của cả đôi bên được gì hoặc mất những gì?
“Ví dầu ngươi bắn rụng ta. Như tiếng hét. Xé hư không bặt im. Chuyện cũng thành vô ích! Ví dầu ngươi gục. Vì bom đạn bất dung. Thi thể chẳng ai thâu. Nào có chi đáng kể!”
“Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh. Cho tổ quốc Việt Nam – một tổ quốc…?
Các việc ngươi làm. Ngươi tưởng chừng ghê gớm lắm. Các việc ta làm Ta xét thấy chẳng ra chi. Khi cùng làm những việc như nhau!”
o O o
Sau mười năm lưu đày biệt xứ từ Sài Gòn ra những vùng rừng thiêng nước độc miền Bắc, sát biên giới Việt Trung. Rồi chiến tranh biên giới 1979 nổ ra giữa Trung Cộng và CS Bắc Việt, Tô Thùy Yên lại bị lê lết từ trại tù nầy sang trại tù khác. Mười năm khủng khiếp, mười năm dưới chín tầng địa ngục; đến đá cũng ngậm ngùi thay!
(Các trại tù lao cải của CS cố ý làm cho tù nhân mất hết cảm giác và nghĩ suy của một con người bình thường, không còn đớn đau mà cũng không còn hy vọng, chỉ biết sống qua ngày như một thứ súc vật bị làm nhục. Nhưng theo W.Ernest Henley: (1849 –1903), một nhà thơ người Anh đã nói; “Thi sĩ, không ai có thể làm nhục được hắn ngoài chính hắn” “I am the master of my fate. I am the captain of my soul”. “Tôi làm chủ số phận đời tôi. Tôi làm chủ tâm hồn tôi!”)
Ðể sống sót, dũng cảm bước ra từ những chấn song của nhà tù, một mình “Ta về’ trên con đường vắng, như một biểu tượng của chiến thắng hận thù.
Và bài thơ ‘Ta về’ ra đời như thế đấy! “Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp…Mười năm mặt sạm soi khe nước. Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.”
Quân thù gian ác hành hạ vẫn không thể bẻ gãy được ông; vì: “Mười năm ta vẫn cứ là ta”
o O o
“Ta về như lá rơi về cội. Bếp lửa nhân quần ấm tối nay. Chút rượu hồng đây xin rưới xuống. Giải oan cho cuộc biển dâu này!”…Hãy kể lại mười năm chuyện cũ. Một lần kể lại để rồi thôi!”
Ông, từ Bắc xuôi Nam, trở lại quê xưa: “Nhà cũ mừng còn nguyên mái, vách. Nhện giăng, khói ám, mối xông nền. Mười năm, con đã già trông thấy. Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu.”
Người vợ như ‘Hòn Vọng phu”, mười năm hay cả ngàn năm, vẫn trông chồng xa xôi ngoài cõi Bắc:“Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng. Chờ anh như biển vẫn chờ sông. Ta gọi thời gian sau cánh cửa. Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu”
Bởi: “Ðau khổ riêng gì nơi gió cát. Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm!”
Tô Thùy Yên lại trở về với Thơ: “Ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa. Ðọc lại bài thơ thủa thiếu thời. Ai đó trong hồn ta thổn thức. Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi!”
Tô Thùy Yên tiếp tục làm thơ, không ghi tên, nhờ một người quen đem một bài thơ ra nước ngoài cho bạn bè thân quen đọc. Không ngờ những nhà văn học hải ngoại lại bình thơ của ông công khai trên báo chí.
Vậy là: năm 1991, Công an trong nước biết được, bắt giam ông thêm ba năm nữa trong Trại biệt giam 3C đường Tôn Ðức Thắng (trước 75 là đường Cường Ðể), gần sông Sài Gòn.
(Giở lại lịch sử, chúng ta đều biết rằng: năm 1989, ngày ‘Lục Tứ’ (4/6/1989), Cộng sản Trung Quốc rung rinh bên bờ sụp đổ do cuộc biểu tình rầm rộ của Sinh viên Trung quốc đòi tự do trên quảng trường Thiên An Môn, thủ đô Bắc Kinh.
Cũng chính năm 1991, Cộng Sản Liên Xô sụp đổ! Những nước Ðông Âu thoát khỏi gông cùm xiềng xích; nên Cộng Sản Việt Nam bàng hoàng run sợ, tăng cường bắt bớ, đàn áp nhân dân, hy vọng dập tắt mọi phản kháng để chế độ CS được sống còn.
Làm thơ dính chặt với cái nghiệp ‘tù đày’. Ðã mang lấy Nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa; ông phải khăn gói đi tù thêm hai lần nữa.
Và bài thơ: ‘Thức giấc trong biệt giam’ của Tô Thùy Yên ra đời như thế đấy:…Phòng biệt giam tối mốc thấp hẹp. (Ta ở đây. Hơn bảy tháng rồi)…
…Ta nhìn lên những dòng chữ trên tường. Viết bằng gạch, bằng than và hình như bằng cả máu. Những phẫn nộ, quyết tâm, nguyện cầu, ký thác, than van. Ngày tháng năm, tên họ…Của những người ở trước. Nay về đâu?
…Căn phòng này hồi trước nhốt Việt cộng. Bây giờ nhốt phản động…
Lịch sử đổi phiên người gác ngục. Lúc giày đinh, lúc dép râu!”
Quả lịch sử chỉ là những con người thay đổi lớp áo. Như bà con mình sau 75 thường nói: “Trời làm một trận lăng nhăng. Ông hoá ra thằng, thằng hoá ra ông!”
o O o
Là một sĩ quan Tâm lý chiến, chắc hẳn nhà thơ mặc áo lính Tô Thùy Yên thừa biết trong chế độ độc tài toàn trị của CS thì:
“Don’t think. If you think, then don’t speak. If you think and speak, then don’t write. If you think, speak and write, then don’t sign. If you think, speak, write and sign, then don’t be surprised!”
“Hãy đừng nghĩ. Nếu anh nghĩ, thì đừng nói. Nếu anh nghĩ và nói, thì đừng viết. Nếu anh nghĩ, nói và viết, thì đừng ký. Nếu anh nghĩ, nói, viết và ký, thì đừng ngạc nhiên”.
Biết vậy nhưng nhà thơ Tô Thùy Yên vẫn làm thơ rồi lại bị tù đày cho đến khi tới được đất nước Hoa Kỳ vào năm 1993.
o O o
Ðiều lý thú là thơ Tô Thùy Yên cũng làm các nhà phê bình văn học phía bên kia chiến tuyến rất thán phục. Rất dễ hiểu là vàng óng áng thì một thằng ‘ngu’ cũng biết được đó là vàng.
Thán phục nhưng vẫn cố chụp cho ông một cái mũ: “Tô Thùy Yên là chủ tâm sử dụng khá nhiều ngôn ngữ Nam…rặt. Chữ của ông đơn giản, mộc mạc, những hình ảnh thuần Việt quê mùa” cho đúng với đường lối của Ðảng là không được phép ca tụng quân thù.
Theo tôi, Tô Thùy Yên chẳng có chủ tâm làm thơ ngôn ngữ Nam rặt bao giờ. Lẽ dễ hiểu, ông là người Sài Gòn tất phải làm thơ bằng tiếng Mẹ đẻ, tiếng của người dân Sài Gòn.
Nhà thơ Tô Thùy Yên từng thú nhận là: “Dẫu có được sửa tới sửa lui bao nhiêu lần, khi đọc lại, tôi vẫn cảm thấy hình như chưa phải vậy. Tôi rất dễ bị ray rứt, dằn vặt chỉ vì một tứ chưa ổn, một chữ chưa đắc”.
Ông cẩn trọng và cầu toàn; dù chúng ta ai cũng biết là làm một bài thơ hay đến độ không có một khiếm khuyết nào là chuyện bất khả.
o O o
Bài thơ ‘Ta về’ là ‘chúng ta’, là cả triệu người miền Nam đã sống qua cơn mộng dữ. Thơ không chỉ cho một thời mà cho cả nhiều thời, không của một người mà của muôn người. Của muôn người thì biết bao nhiêu điều phải dàn trải nỗi đớn đau khi miền Nam lọt vào tay CS, nên Tô Thùy Yên, dẫu rất mực tài hoa, cũng phải than rằng: “Ta tiếc đời ta sao hữu hạn. Ðành không trải hết được lòng ta”.
Tô Thùy Yên như cái kiếng vạn hoa, mỗi lần đọc lại ta thấy một hình ảnh mới cũng rực rỡ không kém.
Một năm ngày ông bỏ ra đi; chúng ta lại nhớ tới Tô Thùy Yên!
Út Hợi, tuổi con heo, lớn hơn tui tới bốn tuổi, nhưng lại là bạn chung một lớp, ngồi chung một bàn; vì nó học hơi ‘bị’ dở. Trong lúc tui còn mê bắn đạn ‘cu li’ thì Út Hợi mê rượt theo gái.
Năm 1968, Tết Mậu Thân, thi Tú tài Một, tui đậu còn Út Hợi thi rớt. Út Hợi biến mất. Bảy năm sau, năm 1975, Út Hợi như hồn ma bóng quế trở về. Tui đi tù cải tạo còn nó làm Chánh văn phòng Huyện ủy mà Tía nó đang làm Bí Thơ.
Ðó là chuyện hồi xưa! Nhưng cách đây chừng một tháng, sau một chầu nhậu đã đời với mấy thằng cùng khóa 4/72 Thủ Ðức, tui kêu ‘Uber’ để về nhà. Tài xế là một ông già đầu đã bạc phếu nhìn tui lom lom rồi la làng:
“Mầy là thằng Thu ‘ca’ phải không?”
(Thu ‘ca’ nói lái là bí danh thời đi học của tui; chỉ có những thằng bạn chí thân mới biết). Tui vốn là một con người gia giáo, quen cái thói kính lão đắc thọ, bèn hỏi lại:
“Thưa! Cụ là thằng nào?”.
“Tao là thằng Út Hợi đây!”
o O o
Rồi hôm qua, trời Melbourne u ám, mưa tầm tã vì ảnh hưởng lụt bão từ tiểu bang New South Wales. Tui ngồi một mình nhổ râu, buồn; vì không có ai kêu tui đó? Bất ngờ tiếng chuông reo, tui mở cửa thì thằng Út Hợi đứng chần vần trước cửa.
“Mưa lạnh quá! Cho tao vô nhà đi!”
Nói nào ngay tình bạn học của tui với Út Hợi sau biến cố 75 giờ đã khác. Nước sông nước giếng không thể nào hòa lẫn với nhau cho được, nên lòng tui không hào hứng lắm. Nhưng không cho nó vô nhà trong thời tiết khắc nghiệt như thế nầy thì mình làm vậy cũng hơi bị ác!
Truyền thống ông bà mình để: khách đến nhà không gà thời vịt nên tui lui cui xuống bếp xào một dĩa thịt bò nghi ngút khói. Thằng Út Hợi khui chai ‘Ông già chống gậy’ ‘Johnny Walker’, rót đầy hai ly rồi nói:
“Dẫu muộn nhưng nếu ngoan cố, không xin lỗi mầy thì chết tao không nhắm mắt! Tao có hai cái lỗi lớn lắm. Một là cái vụ truyền đơn của tao bỏ trong hộc bàn hồi thời mình đi học, làm Cảnh sát Ðặc biệt cứ điều tra, kêu tới, kêu lui làm phiền nhiễu tới mầy!” Hai là cái vụ em Lìn!
“Truyền đơn không phải của tao thì tao cóc có sợ! Mà hồi xưa đi học mầy tên là Hồ Út Hợi mà sau 75, mầy lại tên là Hồ Hởi”
“Tao là con một nhưng Tía tao muốn lót chữ Út để hăm he Má tao là đẻ một thằng thôi! Phải trung kiên với Cách mạng! Không được léng phéng với ai để đẻ thêm đứa khác! Còn tên Hợi, Tía tao cho là quê mùa, dốt nát quá nên Tía tao đổi tên tao thành ‘Hồ Hởi’.
Hồ Bá Chữ là Tía tao, trong bưng ra làm Bí thơ huyện ủy. Bá chữ (trăm chữ) nhưng Tía tao chỉ biết một chữ ký tên. Tao làm Chánh văn phòng huyện ủy để đọc văn thư cho Tía tao nghe. Sau đó, ổng chỉ có việc ký tên”
Rồi Tía tao muốn tao lấy em Mười Thập, con của đồng chí Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy, là cấp trên của Tía tao.
“Tía cưới vợ cho con để nhà mình tăng ‘thu nhập’. Má mầy cũng có hai dây ‘hụi nghĩa’. Tiền bạc, mầy khỏi có lo!”
“Hụi nghĩa là cái giống gì vậy Tía?”
“Hụi nghĩa do Má mầy, bà Bí thơ huyện ủy làm chủ, hụi viên chỉ đóng mà không bao giờ được hốt, giống như hụi đã chết rồi!”
“Hụi viên nào mà ngu quá vậy?”
“Mấy tay Bí thơ xã nó không ngu như mầy tưởng đâu. Nó mua cái ghế của nó! Ai sống mà không ăn? Ai mặc áo mà cái túi may ngược chúc xuống bao giờ? Giáo dục của Mỹ ngụy làm mầy ngây thơ, trong sạch quá hèn chi không thua trận sao được?”
Tranh Bảo Huân
o O o
“À mầy còn nhớ em Lìn hông Thu? Tao khoái em Lìn lắm! Nhưng em Lìn chỉ chịu đèn mầy. Vì mầy dẻo miệng, ăn nói văn chương, câu cú đàng hoàng trong khi tao phèn thôi hết biết.
Có chức có quyền, tao muốn hớt tay trên, cưới em Lìn của mầy; nhưng Tía tao nói: “Thằng Ba Són thuộc giai cấp bóc lột… Không được!”.
“Bán thuốc Tây mà bóc lột cái giống gì?” Tao cãi lại. Tía tao đập bàn nói: “Mầy cãi thì tao chết!” Rồi Tía tao chết thiệt! Ổng ôm ngực kêu đau quá. Tao rót cho Tía tao một ly nước. Nước chưa trôi qua cổ họng thì Tía tao mắc nghẹn, mắt trợn trắng trợn dọc, kêu ằng ặc rồi đi luôn. Mặc cảm tội lỗi vì làm Tía tao đi bán muối nên tao đành cố quên Lìn để đi cưới vợ!
Sau lễ Tuyên bố (CS hổng có kêu đám cưới đâu nhe), em Mười Thập lên lớp tao là: “Cách mạng yêu là phải nhìn về chung một hướng. Nên đêm hợp cẩn giao bôi, nằm trên giường, em Mười nhìn lên trần nhà và tao cũng vậy. Yêu nhau hổng nhìn nhau mà nhìn về cùng một hướng thì còn mần ăn gì được nữa?
Lửa lòng tao đã tắt ngúm từ đêm đó. Còn em Mười thì lạnh băng như nước đá. Ðể cứu vãn hôn nhân rệu rã trên bờ sụp đổ, tao tìm mọi cách, kể cả dắt vợ tao đi chơi quần vợt để hâm nóng tình tao.
Một hôm, chơi quần vợt, đồng chí Mười Thập, vợ của tao giao bóng luôn ăn điểm, hổng hụt trái banh nào.
“Trời đất! Trước đây, anh chưa bao giờ thấy em giao bóng hay như thế!”
“Nhờ mấy anh bên Thường vụ tập huấn cho em đó!”
Về nhà vợ tao bưng ra một dĩa thịt bò ‘Kobe’.
“Ngon! Trước đây anh chưa bao giờ thấy em làm ‘beefsteak’ ngon như thế! ‘
“Nhờ mấy anh bên Thường vụ tập huấn cho em đó!’’
Ăn xong, đồng chí vợ nháy mắt và cả hai đứa tao bèn đi lên lầu. Mười phút sau, mệt quá xá, tao nằm lăn ra thở hổn hển: “Quá đã! Trước đây, chưa bao giờ thấy em nóng bỏng như thế!” Con vợ tao: ‘Nhờ mấy…” Em chưa dứt câu là tao nói: “Anh muốn ly hôn!”.
Trong lúc chờ Huyện ủy chấp thuận cho tao thôi vợ thì bất ngờ Lìn mời tao đi rước dâu tuốt ngoài cửa Ba Ðộng Vĩnh Bình. Tao gật đầu nghe cái cụp. Bà con của em dưới ghe nói toàn tiếng Tiều, tao không hiểu gì hết ráo. Thuyền lắc lư, chạm vào da thịt của em làm tao quá đã! Ra khỏi mấy cái cồn cát chìm dưới cửa sông, sóng biển đánh ầm ầm vô mấy hàng đáy. Tao nói: “Huốt Ba Ðộng rồi tài công ơi!”. Bất ngờ một khúc sắt lành lạnh ấn vào lưng tao: “Câm miệng lại! Nhúc nhích là tao bắn”.
Té ra em Lìn dụ tao theo để tụi Công an Biên phòng biết mặt tao, lúc chặn xét không làm khó dễ. Ghe nầy chỉ là ‘taxi’. Còn cá lớn, đang núp lùm chờ sẵn. Lên được thuyền rồi, tụi nó đòi đạp tao xuống biển. “Ðừng cho ảnh mò tôm tội chết! Mang Hai Hợi theo vì sợ mình còn gặp Quốc doanh đánh cá” Lìn van xin.
Bảy ngày lênh đênh trên biển, thuyền cũng tới Bidong, Mã Lai. Chừng vài tuần sau, tối tao đang ngủ, tụi nó trùm mền đánh tao lỗ mũi ăn trầu, cái đầu xỉa thuốc vì tội theo CS. Chính tay Lìn lấy khăn lau máu, nấu cháo cho tao ăn. Tao tưởng bở, tưởng Lìn yêu tao rồi đó chớ! Nào ngờ em thẳng thừng cự tuyệt: “Chăm sóc anh vì tình đồng song năm cũ. Chớ Lìn làm sao yêu một người vô thủy vô chung cho được?”
“Tui vô thủy vô chung chỗ nào? Lìn nói nghe coi!”
‘À trước 75, nhà Lìn đóng thuế hàng tháng cho VC. Anh mua thuốc Tây tuồn vô bưng. Bề (ba) của Lìn biết hết nhưng làm ngơ vì sợ Tía anh chọi lựu đạn khủng bố. Vậy mà chiếm được chánh quyền rồi, Tía anh không biết mang ơn; còn chụp mũ nhà Lìn là tư sản mại bản để tịch thu tài sản mồ hôi nước mắt mấy đời của người ta”.
Sau đó, Lìn đi Mỹ. Mỹ không nhận đảng viên CS; nên tao đành đi Úc. Mấy chục năm dâu biển, tao lại gặp lại mầy đây. “Thu ơi! Tao xin lỗi”
“Tao thì tha thứ cho mầy rồi! Nhưng hổng biết bà con xứ sở mình có tha tội cho Tía con nhà mầy không nữa?”
“Tao biết tội của Tía con tao lớn lắm mà!”.
Nốc cạn hết ly rượu đầy, thằng Út Hợi bật khóc hu hu! Nhưng lòng tui, thú thiệt với bà con, rất dửng dưng, băng giá!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.