An Lộc 1972

Bản I

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 7 Jul 2026

Tôi đang nói về An Lộc

Một thị xã không lớn

Nhưng chiến tranh đã biến nơi này

Thành những nấm mồ chung

Nơi mà buổi sáng

Con người còn đứng trên mặt đất

Và khi đêm xuống

Họ đã nằm dưới lòng đất

An Lộc địa sử ghi chiến tích

Biệt Cách Dù vị quốc vong thân

Mội tấc đất mỗi phần xương thịt

Của quân nhân và cả đồng bào

Tỉnh lỵ nhỏ chìm trong lửa đỏ

Chín ba ngày đêm khói lấp mặt trời

Quốc lộ 13 con lộ máu

Pháo đạn cày không sót một phân

Năm bảy hai mùa hè đỏ lữa

Từ Cổ thành dài đến Bình Long

Từ cao nguyên xuống tới đồng bằng

Mùa hè lữa và mùi xác rữa

Quảng Trị có kinh hoàng đại lộ

Bình Long đau quốc lộ 13

Giấy nào chứa ngàn câu kinh khổ

Chịu tai ương những phận dân thường

Năm bảy hai mùa hè đỏ lữa

Từ Cổ thành dài đến Bình Long

Năm bốn năm cây cảnh mọc lại

Nhưng vết thương long có kịp lành

Ôi một thời trên từng mét đất

Mỗi mét đường đội một khăn tang

Chiến tranh đã qua hơn nửa thế kỷ

Trong lòng đất An Lộc

Vẫn giữ lại những người ngã xuống năm xưa

An Lộc địa sử ghi chiến tích

Biệt Cách Dù vị quốc vong thân

Mùa Xuân trên góc cua tử thần

hung-viet.org

27 Tháng Giêng 2026

Donry Nguyễn

Post by Sơn râu 7 Jul 2026

Đèo Mang Yang trên QL 19, con đường nối liền Qui Nhơn với Pleiku

Ngày mai kéo súng đi trực xạ,

Hồn lính mơ thành An Dương Vương.

Nỏ thần trăm phát bay trăm ngả,

Quét sạch quân thù cứu nước non.”

-Donry Nguyễn-

Quốc lộ 19 đoạn từ đèo Mang Yang đến quận lỵ Lệ Trung dài khoảng 50 cây số, quanh co uốn khúc qua các vùng rừng núi hoang sơ, những nương rẫy của đồng bào thiểu số sống rải rác trong các buôn làng khuất sâu sau tầm mắt. Chỉ có hai khu vực dân cư nằm sát quốc lộ là thấy xuất hiện trên bản đồ quân sự. Ấp Phú Yên gần căn cứ 94, và buôn Suối Đôi gần căn cứ 93. Hai căn cứ này cùng nhiều căn cứ khác từ đèo Mang Yang trở xuống, nằm trong chuỗi liên hoàn các lực lượng bảo vệ an ninh cho lộ tuyến huyết mạch dài 167km nối liền Duyên hải và Cao nguyên Trung phần, xuất phát từ Cầu Bà Gi ở quốc lộ một và kết thúc ở thị xã Pleiku.

Góc cua Tử thần mà tôi muốn nói đến trong câu chuyện này nằm ở quãng giữa chặng đường từ đèo Mang Yang đến Lệ Trung . Quốc lộ 19 khi qua đây thì gặp một dãy núi đá chắn ngang, nó bèn bẻ sang trái một góc cua mềm mại trước khi trườn mình chạy tiếp về hướng Tây.

Núi non vùng Cao nguyên Gia Lai vốn được hình thành từ thời kỳ địa chất tiền Cambri nên hầu hết đều là núi già, độ cao thấp so với mặt bằng, sườn đồi thoai thoải. Riêng những ngọn đồi vùng này thì lại vun nhọn, trên đỉnh có nhiều đá tảng chồng chất, tạo thành những hang hóc kín đáo, ăn luồn sâu tận bên trong.

Chính địa hình này đã tạo điều kiện cho “các đồng chí của bác” ẩn núp, đặt súng máy bắn xuống những chuyến xe qua lại. Tấn công các đoàn công-voa thì các chú không dám, nên chỉ ăn hiếp các chuyến GMC đơn độc hoặc xe dân sự.

Đã có nhiều vụ bắn cháy xe đò làm chết hoặc bị thương không ít người dân vô tội. Cho nên tọa độ này đã được ghim dấu đỏ trên bản đồ của các đơn vị chung quanh và được đặt tên là Cua Tử Thần.

Cuối năm 1973, Pháo đội tôi được lệnh hành quân lên đèo Mang Yang bắn yểm trợ cho các đơn vị bạn trong khu vực.

Ban ngày chúng tôi kéo súng ra các vùng lân cận, ban đêm kéo về đỉnh đồi nằm trong căn cứ do một đại đội Địa Phương Quân trấn giữ. Đi về bất tiện, mất thời gian gióng súng, điều chỉnh phương giác xác định tọa độ, nên sau đó Trung đội tôi được tách ra đưa vào đóng luôn trong căn cứ 95, nằm dưới chân đèo. Căn cứ khá kiên cố nằm giữa bốn bề rừng không mông quạnh.

Ban ngày nắng đổ chói chang, còn ban đêm sương lam mờ mờ phủ xuống mang theo cái lạnh tê người.

Ở đây cách biệt xóm làng, muốn mua một gói thuốc cũng phải lội bộ rất xa nên hầu như chúng tôi không bước chân ra khỏi căn cứ lần nào. May mắn tôi gặp lại một người quen cùng quê, chuẩn úy Nguyễn Tỵ, anh cũng bị động viên mùa hè đỏ lửa 1972, ra trường về Tiểu khu Pleiku, phiên chế vào tiểu đoàn Địa Phương Quân đóng ở đây, hai anh em chuyện trò cũng vơi đi niềm tâm sự của đời lính xa nhà.

Hai tuần lễ sau, lại có lệnh rút lên căn cứ 93, cũng nằm sát quốc lộ 19, cách buôn Suối Đôi khoảng một cây số. Pháo đội trừ thì lại đóng tận Chi khu Lệ Trung, cách Trung đội 2 của tôi khoảng 10 km, ở xa mặt trời thì thoải mái hơn.

Trung đội tôi nằm giữa vòng đai của một tiểu đoàn Địa Phương Quân mà quân số gần một nửa là người Thượng. Những anh lính Thượng này cũng ngộ lắm, có anh chiến đấu rất ngon, nhưng có anh thì đi lính theo mùa. Mùa nắng lên nương rẫy, qua mùa mưa gió lạnh lẽo, chán uống rượu cần chua loét ở nhà, anh ta đăng lính địa phương. Vào quân trường được lãnh áo quần giày vớ đầy đủ, ăn uống no nê không phải lo lắng gì cả. Ra đơn vị được vài tháng vợ nhắn tin về làm rẫy, thế là đào ngũ, hết mùa lại đăng lính tiếp. Phần lớn mấy ảnh không có giấy khai sinh, mỗi lần xung phong đi lính thì khai đại cái tên Y bờ lăn … Y bờ lốc gì đó … đố cha ai mà biết.

Những ngày rảnh rỗi chúng tôi thường thả bộ ra buôn làng mua vài thứ lặt vặt hay ghé thăm các già làng để thắt chặt tình quân dân cá nước. Có cụ già làng vui lắm, hay mời chúng tôi leo lên căn nhà sàn rộng rãi của ông uống rượu cần, loại rượu lên men bằng cách ủ sắn bắp và một loại hạt gì đó có mùi vị ngọt ngọt chua chua. Đủ thời gian rượu tới, cắm 2,3 chiếc cần bằng trúc vào sát đáy ghè, uống tới đâu đổ nước lã vào tới đó, uống no cành bụng. Thứ rượu này tưởng là nhẹ, nhưng ực nhiều cũng say cắm đầu. Một lần ông mời chúng tôi hôm sau đến ăn đám, ông khoe sẽ cúng Dàng 18 con gà, mấy ông lính nếu không thích rượu cần thì có thể mang theo vài lít rượu trắng đến chung vui với gia đình ông.

Khi chúng tôi đến, trên sàn đã bày ra một con gà mẹ với 17 con gà con nướng cháy đen, mùi lông khét lẹt. Thấy chúng tôi ngó nhau cười, ông phân bua:

-Thì gà lớn gà nhỏ cũng là một con mà, đủ 18 con đó, tui nói có sai đâu … sao mấy ông lính cười?

– Người Kinh không ăn gà con, thấy lạ nên cười thôi.

Ông bèn sai vợ nướng cá khô cho tụi tôi nhắm mồi. Đồng bào Thượng thời đó thật thà đến ngây thơ như vậy, nên rất dễ bị việt cộng dụ dỗ nghe theo, che giấu hoặc tiếp tế cho chúng.

Những ngày cuối năm âm lịch Quý Sửu 1973 chuẩn bị đón Tết Giáp Dần 1974, trong lúc chúng tôi đang chuẩn bị “Cây Mùa Xuân” thì những tin tức rất xấu ập đến từ góc cua tử thần. Một đơn vị cộng quân chiếm lĩnh ngọn đồi, liên tục bắn xuống bất cứ chuyến xe nào qua lại. Âm mưu của bọn chúng là chặn đường tiếp tế để quân đội VNCH và đồng bào không hưởng được một mùa Xuân trọn vẹn.

Hai đại đội Địa Phương Quân dàn quân xung trận, quyết tâm triệt phá ổ phục kích, vãn hồi an ninh khu vực. Họ đánh bật được các mục tiêu chung quanh một cách dễ dàng; nhưng liên tiếp ba ngày vẫn chưa xóa sổ được ổ kháng cự cuối cùng nằm trên mỏm đá đầu ngọn núi. Địa hình trống trải, trong khi dốc núi gần như thẳng đứng khiến quân ta ở vào thế bất lợi mỗi lúc mở đợt xung phong tiến lên. Địch ẩn núp kín đáo trong hang đá chờ ngớt hỏa lực thì thò họng súng đại liên 12 ly 7 do Liên Xô sản xuất bắn xối xả như vãi đạn xuống chân đồi, khiến thương vong của bộ binh rất lớn. Lệnh từ chi khu Lệ Trung yêu cầu Pháo binh nhập cuộc. Trung đội 2 của tôi ở gần nên được điều động lên đường ngay.

Một khẩu đội ở nhà giữ nhiệm vụ phản pháo, khẩu còn lại mang theo đầy đủ cơ số đạn delay, đạn chống biển người, đạn nổ cao nổ chụp … lên xe trực chỉ chiến trường tham gia trận đánh.

Chúng tôi đến trận địa vào khoảng giữa trưa, nhìn các anh lính Địa Phương Quân đang dìu thương binh ra đường với khuôn mặt tức tối, đỏ bừng dưới cái nắng gay gắt mà thương.

Viên đại úy Địa Phương Quân, tay vịn nón sắt, tay kẹp bản đồ chạy tới trao đổi chớp nhoáng, đề nghị Pháo binh làm thế nào câu lọt một quả vào trong hang đá là xong, vòng ngoài coi như các anh đã dọn sạch rồi.

Trung đội trưởng lập tức cho banh càng súng, tất cả Pháo thủ đi theo đều mặc áo giáp, nón sắt vào vị trí sẵn sàng. Từ mặt đường nhựa nơi chúng tôi đứng cách mục tiêu một khoảng cách an toàn, không sợ Đại liên của chúng quét tới; trong khi Đại bác 105 ly có tầm bắn xa hiệu quả khoảng 11 đến 11,5 km, thì trong chừng mực này tin chắc chắn sẽ dư sức thổi bay ổ kháng cự của địch.

Nòng súng được hạ xuống nhắm thẳng vào miệng hang, khẩu lệnh vang lên sắc gọn:

-Đạn thường, nạp 5, một tràng!

-Nhận rõ!

-Chuẩn bị, bắn!

Tôi đứng ở vị trí giật cò, kéo mạnh giây cơ bẩm, tiếng nổ chát chúa vang lên, khói súng mù mịt, viên đạn 105 ly xé gió lao đi, vút một phát, chúng tôi không ai bảo ai cùng ngước mắt nhìn theo đường đạn bay. Chỉ nghe một tiếng bụp khô khốc cùng tia lửa lóe lên cách miệng hang vài mét kèm bụm khói đen …

Ai đó la lớn:

– Trật rồi!

Trung sĩ Lưỡng, người xạ bảng viên dày dạn kinh nghiệm đẩy tôi ra lao vào, kéo khối cơ bẩm ra sau, ghé sát mặt ngắm nhìn mục tiêu từ cuối nòng đại bác, ước lượng khoảng cách, miệng ra lệnh cho khẩu đội trưởng điều chỉnh độ giạt, tay anh nhúc nhích góc thăng bằng. Ngắm qua ngắm lại xong anh ra lệnh nạp đạn.

-Bắn!

-Ầm!

Phát thứ hai nổ sát mép miệng hang, bên trong đáp trả bằng một tràng đạn tức khắc như chọc giận pháo binh. Trung sĩ Lưỡng cười gằn:

-Đợi đó con ơi!

Anh ngắm nghía điều chỉnh nòng súng một lần nữa, hết sức thận trọng rồi mới cho nạp đạn:

-Bắn!

Phát thứ ba bay đi, cắm phập vào miệng hang với đường kính trên dưới một mét, tiếng nổ bục từ bên trong dội lại một âm thanh rền rĩ, đá vụn bay ra ngoài tá lả. Tiếng reo hò của những người lính Địa phương vang lên:

-Trúng rồi, Pháo binh giỏi quá!

Địa Phương Quân lập tức hô xung phong lao lên chiếm lĩnh mục tiêu, tiếng súng M16, tiếng nổ M79 bay rào rào lên núi. Từ miệng hang không còn tiếng đại liên đáp trả như trước.

Khuôn mặt mọi người giãn ra như vừa trút được gánh nặng trên vai. Trung sĩ Lưỡng cười toe toét, bắt tay mọi người trong niềm vui khó tả. Vậy là chúng tôi đã góp phần khai thông con đường huyết mạch, những chuyến xe sẽ tiếp nối cuộc hành trình mang theo nhu yếu phẩm, thuốc men … cho toàn thể đồng bào trong khu vực cao nguyên.

Chiến trường coi như giải quyết xong, mọi người chúc nhau về ăn Tết vui vẻ, chúng tôi lặng lẽ chất đạn lên xe, xếp càng súng, thu dọn vỏ đạn và thuốc bồi vương vãi. Trước khi rời vị trí trở về căn cứ, chúng tôi còn kịp nghe ông Đại úy Địa Phương Quân trao đổi nhanh với ông Trung úy Trung đội trưởng của chúng tôi:

-Dọn sạch mục tiêu rồi anh, tụi nó rút lui tự hồi nào không biết, bỏ lại hai thằng mặt mũi non choẹt, chân bị xích chặt vào cây Đại liên, chỉ có bắn hết đạn rồi chết chớ không chạy đâu được nữa, đ.m. cái bọn tàn ác ngoài sức tưởng tượng luôn!

Nghe nói, chúng tôi bàng hoàng không tin đó là sự thật, ông Trung đội trưởng của tôi chắc cũng vậy nên hỏi lại:

-Thật vậy sao Đại uý?

-Còn không thật à, mấy đứa con tôi lên lục soát, vừa báo cáo xong đây.

Chúng tôi nhìn nhau lắc đầu ngao ngán, nỗi ám ảnh theo mãi trên đường về.

Buổi chiều, khi chiếc xe GMC kéo khẩu đại bác trên đường trở về căn cứ 93, ngang buôn làng Suối Đôi, đã thấy trước sân các căn nhà người Việt đặt bàn hương án cúng tất niên.

Tôi nhìn chăm chú hình ảnh một cụ già mặc áo the đen đội khăn đóng đang đứng lâm râm khấn vái trước lư hương nghi ngút khói, bên cạnh bình bông vạn thọ và khay bánh tét, mấy đứa cháu chắp tay bên cạnh, lòng tôi tràn ngập niềm vui thanh bình, tuy tạm bợ, đã về trên buôn làng thân yêu khi bóng dáng kẻ thù đã bị đánh bật ra khỏi khúc Cua Tử Thần, chận đứng mưu đồ chia cắt Quốc lộ 19 hòng cô lập thành phố Pleiku của chúng.

Mùa Xuân rực rỡ đang về…

-Suối Đôi, Lệ Trung 1974-

Donry Nguyễn

Báo giấy

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 23/11/2017 

Post by Sơn râu 7 Jul 2026

Maitre Imprimeur là tờ báo in trên giấy láng offset 4 màu xuất bản hàng tháng phát hành ở Montréal. Số tháng 11 năm 1991 giới thiệu những cơ sở in ấn già tuổi nhất trong thành phố, một sáng giá lạnh phóng viên cùng phó nhòm xô cửa vào thương hiệu Lovell Litho khởi nghiệp từ năm 1835 lưu truyền tới 3 đời hăm hở làm bài tường thuật. Và như vậy, bất ngờ có hai anh chàng công nhân Việt Nam được đưa lên mặt báo chu du khắp tỉnh bang Québec, tờ magazine ấy ghi giá chỉ 2$ dành cho bọn tây tà trong nghề xem. Không một ai hay biết về hai chàng gốc người Huế đang cực chẳng đã lao động không vinh quang kia vốn là nhà thơ nhà văn lạc thần hồn đến bến bờ mộng lệ. Lệ đẹp hay nước mắt tràn? Diễm tuyệt chẳng thấy đôi hàng khoé cay. Khi bất bình bọn chủ gốc Ái Nhĩ Lan, giận lẫy cuộc đời lưu vong cả hai đã từng to tiếng cùng đám thợ thuyền: Một ngày đẹp trời nào đó chúng mày phải cặm cụi in sách cho bọn tớ đấy! Giựt le cho vui rứa thôi bởi hỏi giá thành một cuốn sách dày chừng 200 trang chúng cho hay tiêu tốn khoảng 15 đồng, vì là công nhân trong hãng nên khấu trừ đi 15%, vị chi là… Rõ là thiên lôi ưa hét giá trên trời, chúng ông từng in sách, giá vốn mỗi cuốn chỉ mất gần 3 đô chứ mấy!

Chúng ông ngoài tay làm hàm nhai còn kiêm luôn chức năng lao động trí óc, nên chi đối với chúng mầy thì rõ là “thoại bất đồng tâm bán cú đa”. Nước đổ đầu vịt, đàn khảy tai trâu, nửa lời cũng là nhiều, vì rứa chỉ có Huế này thủ thỉ rù rì cho Huế kia nghe. Hai con cá nước ngọt sông Hương khi không mà chịu bơi trong bể muối, mặn chát và lạnh cóng thân, không trầy vi tróc vảy cũng uổng! Muốn qua cơn hạn phải tự học lấy bí pháp phân thân. Anh để cái xác chôn chân bên máy cho bọn chúng an tâm, kỳ dư anh vác đầu óc đi ngao du tới một cõi miền êm ả khác. Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn tâm sự: Ngó thì có vẻ tối mắt tắt mũi nhưng thực ra mình làm được nhiều thơ trong lúc lao động. Tin không? Tin quá đi chứ. Nào ai xa lạ tui từng là chứng nhân sống đây nì. Có thể viết thành truyện ngắn lấy tựa là “Chuyện bây giờ mới kể”. Chẳng biết nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng “đi trên mây” ra sao chứ anh thì mãi quen đằng vân giá vũ do cái tội quyến luyến nàng thơ, xớn xác đun xe vô nơi xét thấy thuận tiện gần chỗ làm nên khi tan ca thì y như rằng mười lần hết chục đều bị dính giấy phạt. Chơi chi lạ rứa bây? Dòm trước trông sau rõ kỹ, mụ cô cái bụi cỏ um tùm che choáng cái con cu đỏ phòng cháy chữa cháy. Thà mà hắn rình sau bụi môn cho cam, chán mới gớm! Trần Quốc Toản bóp nát trái cam, riêng ôn không nỡ bóp tan giấy nhàu. Hãng xưởng nằm trong phố cổ, khúc ni kiếm nơi đậu xe thiệt khó hung! Than thì than vậy chớ hai bài thơ làm trong buổi nhiễu nhương thế sự kia đã chễm chệ dàn trang trên tạp chí Văn Học. Đã không hưởng được một xu nhuận bút mà nghiệt phải chi cả nạm tiền mãi lộ cho thành phố Mộng Lệ. Chúng có giàu sụ thì phải nên biết ơn tới những chàng thi sĩ mãi lạc thần hồn. Suy ra muốn giỡn trăng ghẹo hoa thì quả có tốn kém vậy!

“thưa em chiều đã mỏi nhừ
bàn tay khái niệm tu mi chán chường
bây giờ mình biểu tình suông
thì ma vẫn quỷ thì buồn vẫn dưng
”

Anh vẫn cho mình đi nhờ xe, thồ một đứa chẳng rành xem bảng cấm thành ra chiếc Toyota màu xám cứ bị lọt mắt xanh, cái gạt nước vẫn thỉnh thoảng kẹp vào một lời hẹn hò xài toàn chữ Đan Mạch. Tuy là nạn nhân, nhưng thứ ngôn ngữ khó nhai ấy tuyệt không ẩn hiện trong thơ anh mặc dù theo trào lưu “đương đại” có lắm kẻ rinh cả cức đái cu dái cửa mình lủng lẳng “vô tư” gọi là làm mới thi ca. Chẳng có ai quyền thế ghi giấy phạt, tại ba cái trò “bức xúc” nớ không hợp tạng anh, mà hình như người Huế nói chung vẫn biết đến chữ thể diện hay sao á? Không ba de, chẳng ba lơn, không ba trợn, chẳng đếm lộn số như Bùi Giáng: “Một hôm đếm một ra ba, một lần đếm hột mà ra bốn lù”.

Bốn lù bù lốn bốn lu? Bày vẽ chi cho mệt rứa không biết. Chị cho tụi này hai tô bún bò giò heo, lựa cái nghéo nhiều thịt chút hí, càng cay càng tốt. Thôi việc chiều đã rêm mình, tấp vô quán nhỏ mà rình bụng to. Ba vạn cũng bỏ, lâu lâu hai anh em cũng giả bộ nhớ Huế giống thiên hạ chút đỉnh. Kéo ghế rậm rật, nghe loa góc quán thở than: “Chiều nay mưa trên xứ Huế”. Về nhà có bị vợ gạn hỏi thì cứ danh chính ngôn thuận: Ai đi ăn phở hồi mô mà vu oan giá hoạ rứa hè. Có ngửi ra mùi ruốc không?

Cái hay trong thơ anh Hoàng Xuân Sơn, theo cảm nhận riêng mình, là dù cho anh dùng từ chuẩn mực gốc Bắc khéo léo tới đâu đi nữa, mình vẫn thấy thấp thoáng trong đó một diện mạo trầm mặc của chốn xưa, chút u ẩn của vùng đất chịu nhiều tai ương trầm uất. Những cảnh sắc mà phải từng sống qua cố thổ mới đâm chồi nở nụ trong chữ viết. Nhiều người đã từng có chung một nhận định, Trịnh Công Sơn phải là người Huế lời nhạc mới được rứa.

Không nhớ chính xác là bao niên “lá đổ muôn chiều” có lúc nhà thơ đã bỏ mình ở lại quay như vụ với trăm dâu đổ đầu tằm nơi nhà in xưa hơn một điệu hò Nam Ai. Từ nay lẻ bóng, thôi còn Toyota, trâu ra đồng ban sớm đành dùng phương tiện giao thông: Bus, Métro, Walk. Ưa giựt le thì bảo tớ đang chạy xe BMW mà suốt tháng năm dài chả dính một cái giấy phạt. “Thà ngồi khóc trong xe hàng hiệu còn hơn tươi cười với mỏi gối chồn chân”. Ai đã thốt nên lời dễ bắt viết kiểm điểm quá. Khóc vì nhớ một người mới là chính đáng, cười do bởi đón nhận một tin vui thì nghe êm tai hơn. Tác giả thi tập “Huế Buồn Chi” giờ đây lại sáng tác mạnh hơn khi anh đổi cảnh quang môi trường lao động: Làm việc trong cửa hàng Duty Free ở phi trường độc nhất Montréal. Vét-tông cà-vạt đường bệ sạch sẽ, thôi nói tiếng nước Huệ để chuyển tông sang Anh-Pháp ngữ. Vu-lê-vu-ăn-bún-bò-a-vếch-moả? Nông, mẹt-xì, bị ở đây ví như đầu sông Tương ngươi cuối sông, mềnh đành gặp nhau trên những trang báo giấy gói không đầy những kỷ niệm lỡ úa màu.

“hồng hoang rộ chín ân cần
nghe trong phủ dụ điều lân tưởng còn
mưa mù. hệ trắng đầu non
niềm vui hội tụ cỏn con xin về
”

Đi làm, mình bới theo mấy số tạp chí để đọc trên tàu điện ngầm. Tới hãng, tình cờ báo bổ nọ lọt vào mắt chủ. Ngoài bìa in tên lứa đôi không “sắc cầm hoà hợp”. Wow! Báo gì đây? Sao có tên của hai nhân công hãng ta nhỉ? Dạ thưa, nói xa nói gần chẳng bằng nói thiệt, ảnh và tui là người dầm thân trong hạnh của văn chương. Thật sao? Vinh hạnh cho bọn này quá, có ai mà dè ở sơn cùng thuỷ tận lại chứa được những hai vì sao! Từ dạo em sang ngang thì có người trông trăng trăng lặn ngó sao sao mờ, nhưng từ độ chủ táy máy để phát hiện “nhân tài tỉnh lẻ” thì chủ đổi thái độ, chủ tự động tăng lương và chủ bỏ tật làm đày làm láo. Ôi, văn chương hạ giới quả không rẻ như bèo đâu nhỉ? Dù Tây tà không đọc được chữ lạ nhưng chí ít “thực dân” cũng biểu tỏ đôi phần lễ độ. Thế ảnh giờ này mần chi? Họ hỏi nhà thơ giũ tà huy bay. Mình phách tấu, ảnh sắp viết xong cuốn hồi ký dày ngàn trang. Có nhắc nhớ chi về địa danh chốn này? Yên tâm, lòng bọn tớ hải hà như sông St-Laurent, bao dung độ lượng thứ tha tất thảy những lỗi lầm chúng sinh từng tạo nghiệp. Cuốn sách của ảnh mang tên “Cũng Cần Có Nhau” là một ví dụ. Mình muốn đọc lên vài bài thơ nhưng lại nghĩ tới chuyện nước đổ lá môn nên đành câm như thóc. Bọn chúng không cách gì thẩm thấu, chỉ mình ên ngất ngây:

“hình như em sống trong tôi
hình như em vẫn nói cười như nhiên
xui tôi viết một chương buồn
một câu độc thoại 1 tuồng hoa bay
một lần thương nhớ lắt lay
một đời lủi thủi bóng mây dương cầm
một cung đàn. giọt lệ tranh
đường muôn thu gọi khúc quành lăng nghiêm
”

Báo giấy ngoi ngóp một thời gian lây lất rồi cáo chung. Mình cũng lao động trật vuột chỗ nọ đôi ba tháng thì guốc bay. Chia tay, bọn chúng trao gửi đôi ba số báo có in hình hai nhân công tha phương lao động để giữ làm kỷ niệm, xú-vơ-nia, chúng ngôn thế. Lật ra xem, lòng luống những ngậm ngùi mê-mô-ri: Miệng đắng khi ngó ra tấm giấy phạt, miệng phỏng khi húp bát bún bò cay. Mình chẳng rõ nhà thơ Hoàng Xuân Sơn có vui không khi nhìn lại “chúng ta đã có một thời chung lưng đấu cật như thế”. Chỉ là kỷ niệm cũ thôi, anh nhé. Bá tánh lỡ xem có nói gì thì mặc họ. Mình chỉ nhớ riêng với nhau, về tháng ngày trần ai khoai củ, về một thủ phạm duy nhất đã rút đi của ta biết bao nhựa sống, đồng thời chúng ta đã toát mồ hôi khi đóng góp cho văn học hải ngoại những sáng tác thành hình trong mê muội. Đó là thứ bước tới đèo Ngang bóng xế tà. Không hoa chen lá cũng là cuộc chơi. Ngang trái rồi cũng qua đi, qua như một nửa đêm im bệnh tình.

Hồ Đình Nghiêm
Những dòng chữ xiêu là thơ của Hoàng Xuân Sơn

Trên một dòng sông

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 7 Jul 2026

Đèn treo cột đáy, nước chảy đèn rung.

Thương nhau xin chớ ngại ngùng,

sông sâu cũng lội

rậm rừng cũng băng.

(ca dao)

Hải đứng lặng nhìn ra giữa dòng sông. Nước lờ lửng chảy, vài chiếc đò dọc thiếu khách chạy tà tà và trên bến sông thì vắng bóng người. Gió chướng hiu hiu không hãm được cơn nắng át của tháng ba. Hải nhớ hồi tháng ba năm ấy. Trên chiếc xuồng tam bản mui trần, mũi cột vô hàng đáy giữa dòng sông trong đêm trời đầy sao và con nước ròng chảy xiết. Cũng tại khúc sông nầy, anh với Lệ ôm nhau khóc, nước mắt tuông theo con nước róc rách dưới dạ xuồng. Lệ nghẹn ngào hứa chờ ngày anh trở về bến đáy. “Anh sẽ dìa với em.” Đó là lời hẹn với Lệ trước ngày anh vượt biển.

Thoát một cái đã mười bốn năm dư và anh đã trở về. Những hàng đáy giữa dòng sông vẫn còn trơ trơ, đầu cột đáy có một con nhàn đứng ủ rũ như đợi chờ một tăm cá, nhưng chủ nhân của hàng đáy bây giờ là ai? Anh hỏi thăm không ai biết bến đáy nào của Lệ. Thiên nhiên đã thu hẹp, rừng cây cối lưa thưa, đứng trên bờ chẳng nhìn ra đâu là bến, chỉ thấy một dãy nhà sàn san sát dọc bờ sông. Hải phải hỏi thăm nhiều lần mới tìm được nhà anh Tài, anh của Lệ, bây giờ đã dời ra vàm sông Ông Đốc. Anh Tài đã đổi qua nghề câu mực, nhưng vẫn còn giữ nghề đóng đáy trên sông.

Trước kia nhằm mùa nước sổ mỗi khi xuồng đáy về, tôm cá đựng bằng cần xé, người ngồi lựa cá, người nấu nước luộc tôm. Ban đêm ánh đèn măng xông soi sáng một vùng, ban ngày tôm phơi ngập sân đỏ ối. Anh Tài nói:

– Bây giờ khổ lắm mày ơi, cá tôm mò đỏ con mắt mới được vài con.

Thiệt vậy, đêm hôm đổ đục về, chị Liên, vợ anh Tài bưng rổ cá tôm lộn xộn lên xốc xốc, lựa ra đếm được hơn chục con cá bống và cân được vài kí lô tôm. Thường ngày vợ chồng sai con bưng cá bưng tôm ra chợ bán, nhưng hôm nay có Hải, anh dành lại ăn.

Hải với anh Tài ngồi nhậu bia ăn tôm luộc. Anh Tài vắn tắt câu chuyện. Sau khi Hải đi, Thành Đất hỏi cưới Lệ rồi hai vợ chồng dắt nhau xuống Cái Đôi làm nghề đáy hàng khơi. Hải lặng thinh và trong lòng mênh mang niềm nhớ… Hồi sau anh Tài hỏi Hải:

– Mầy có muốn tao nhắn cô ấy về chơi hông?

Hải hớp một hớp bia, bóc con tôm lột vỏ bỏ vô miệng, nhìn ra giữa dòng sông.

– Về còn gặp lại anh cho tá túc là may lắm rồi, làm phiền cô ấy nữa không nên.

– Nhưng mà… mầy… mầy còn ở đây được bao lâu?

– Khi nào sơn, sửa xong mả của ba má tui thì tui đi.

– Mày còn về đây nữa hông?

– Tui cũng hổng biết nữa.

– Nhưng mà…

Hình như anh Tài muốn nói thêm điều gì nhưng ngại không nói, anh ngập ngừng rồi bưng ly lên cụng.

– Uống đi mầy.

– Đêm nay anh cho tui theo đóng đáy với.

– Đêm nay con Dung đóng đáy, mầy muốn thì đi theo nó.

– Ừa cũng được.

Dung là đứa con gái đầu lòng của Tài, con nhỏ hồi anh đi nó đâu hơn mười tuổi gì đó, bây giở đã thành thiếu nữ. Trong lúc cột xuồng chờ con nước ròng anh hỏi Dung:

– Cháu có bồ chưa?

Dung trả lời tỉnh bơ:

– Cháu đen thui thùi lùi như vầy ai mà thèm chú.

Hải day lại nhìn Dung, trong ánh đèn bão đủ sáng cho anh ngắm nghía thân thể đầy đặn, khoẻ mạnh, cặp ngực vun tròn nhô ra như muốn bứt tung hàng nút áo bà ba, nước da bóng màu xô-cô-la nguyên chất, mặt tròn không một vết mụn, trên môi lúc nào cũng tươi cười, cái nhan sắc ấy chỉ có ở những cô gái miền sông nước Amazon. Ngặt ở đây, cái xứ tận cùng đất nước Việt Nam, trong thì đồng, rẫy, ngoài thì biển xanh. Người ta chỉ chuộng những cô gái nước da trắng trẻo, ốm yếu chớ không biết chiêm ngưỡng một thân thể mặn mà, đầy đặn và tràn đầy sức sống.

– Mấy thằng con trai miệt nầy đui hết rồi mới hổng thấy cháu đẹp.

Nghe Hải khen cô nhỏ cúi đầu mỉm cười, ngẫm nghĩ một lát Dung ngước lên:

– Ở trong xóm mấy anh con trai kêu con là Dung đen.

– Mai mốt thằng nào kêu con như vậy, thì con cứ nói lại, các anh có mù mắt hông, tui màu xô cô la chớ hổng phải màu đen, đồ ngoại chánh hiệu đó.

– Ai nói dzậy, kì thấy mồ à.

Nước bắt đầu chảy, hai chú cháu cài đáy. Chui đáy xong, buộc xuồng vô cột đáy ở giữa dòng. Trong khi chờ đổ đục, mở cát sét lên nghe nhạc. Cô lấy bánh dừa ra lột vỏ đưa cho Hải, hai người vừa ăn vừa nói chuyện. Dung hỏi:

– Hồi đó chú với cô Tư sắp cưới nhau rồi chú đi phải hông?

Thấp thoáng dưới ánh sao trời, Hải trông gương mặt Dung giông giống Lệ. Hải nhớ cái đêm sắp xếp cho chuyến đi, cũng giữa dòng sông nầy, Lệ đã tặng cho anh của quí nhứt đời người con gái, khóc nức nở, hứa đợi chờ, vậy mà anh ra đi chưa đầy một năm thì cô ấy đã lấy chồng.

– Con biết rồi sao còn hỏi chú.

– Con muốn biết chú còn thương cô Tư con hông?

– Ngồi đây chú lại nhớ hồi chia tay với cô con.

– Cô con nhớ chú lắm, trước đây thấy Việt kiều dìa, cô cứ ngong ngóng, hỏi tại sao không thấy chú dìa, bây giờ chú dìa sao hổng đi thăm cô.

– Cô con đã có gia đình rồi, chộn rộn làm gì.

– Còn thằng Đợi chú hổng muốn gặp nó sao?

– Thằng Đợi nào?

– Ủa! Con của chú bộ chú hổng biết hả?

– Con chú!

Hải điếng hồn không nói thêm được lời nào. Nhìn lên bầu trời sao dầy đặc, cúi xuống nước ròng đương chảy xiết, anh vói tay khoát nước rửa mặt, lắc lắc cái đầu cho tỉnh. Nhớ lại những ngày sắp chia tay, ban ngày anh với Lệ ôm ấp với nhau trên chòi, tối xuống xuồng đóng đáy giữa dòng sông, làm chuyện xui xẻo trên xuồng, bất chấp phong tục cấm kỵ… Anh day qua nói với Dung:

– Chuyện trước kia chú với cô Tư cháu thương nhau chú biết, còn những chuyện xảy ra sau nầy chú hổng biết gì hết cháu à.

– Ba con sợ chú biết nhưng chú hổng muốn nhìn, ổng dặn cả nhà nếu chú hổng hỏi thì không ai được nói.

– Hồi chú đi ra tới ngoải, chú có gởi thơ dìa cho cô Tư con cả mấy chục lá, nhưng thư đi mà hổng thấy thư dìa, chú buồn hết sức vậy đó, chú tưởng ở nhà thất tán đâu đó. Sau nầy chú nghe bà chị của chú ở Úc nói cô Tư con đã có chồng rồi nên chú hổng viết thư nữa, thời gian đó chú như người khùng. Chú chỉ biết tới đó, sau nầy chuyện xảy ra cho cô con chú có biết gì đâu. Đầu đuôi ra sao con kể hết cho chú nghe đi.

– Hồi chú đi cô Tư bịnh liên miên, ói mửa, cô nằm vùi, mấy tuần sau cô mới biết mình mang bầu. Lúc đó cô như điên như dại, khóc hoài có khi ngồi một mình nói lảm nhảm như mắc nàng dưới. Ba con sợ chuyện xấu đổ ra ngoài nên sẵn dượng Thành, à chú còn nhớ dượng Thành lúc đó phụ mần đáy với ba con hông?

– Nhớ chớ, thằng Thành Đất chớ ai.

– Đúng rồi, lúc đó dưỡng cũng thương cô, ba con mới khuyên cô ưng dưỡng, cuối cùng cô Tư con đâu cách nào khác cổ đành nhắm mắt đưa tay, nhưng cổ nói thẳng cho dượng Thành biết cổ đã mang bầu với chú, chịu thì cưới không chịu thì thôi. Lúc đó dượng mê cô như điếu đổ cái gì cũng chịu, dưỡng còn nói chú với dưỡng là anh em kết nghĩa, con của chú cũng như con của dưỡng.

– Bây giờ hai người ra sao?

– Mần ăn cũng khá, cô còn sanh thêm cho dượng Thành hai đứa nữa vậy mà dưỡng vẫn thương thằng Đợi như con ruột của mình.

Thiệt vậy ngày xưa Hải và Thành là anh em kết nghĩa, tánh tình nó rất thật thà, từ ngày kết nghĩa anh em với nó cho tới ngày Hải bỏ đi, anh chưa bao giờ nghe thấy nó giận ai và chưa hề gây gổ với bất cứ người nào, nhà nghèo chăm chỉ làm ăn và hiền như cục đất, vì vậy nó mới có tên Thành Đất.

– Bây giờ chú tính làm sao?

– Theo con chú phải làm sao đây?

– Chú gặp cô Tư con đi.

– Gia đình cô ấy đương cơm lành canh ngọt con à.

– Con nghĩ dượng Thành cũng không tệ lắm đâu.

Hải chưa biết tính sao thì Dung đề nghị:

– Hổng ấy chú để con nhắn qua cô, nói chú đã về coi cổ tính sao.

– Ừ con tính sao thì tính miễn đừng làm xào xáo gia đình cô ấy là được.

Những ngày sau đó Hải để hết tâm trí cùng với anh em thằng Bình và An sửa sang, sơn phết lại hai ngôi mả của ba má anh, chuyện của Lệ anh phó mặc cho Dung và gia đình. Tuy vậy lòng anh cũng nôn nóng như lửa đốt, hổng biết sắp tới đây chuyện lành hay chuyện dữ? Đến ngày thứ ba thì hai ngôi mộ của ba má sửa sang lại coi như đã xong. Anh và hai đứa thợ đương đứng ngắm nghía hai nấm mồ nước sơn còn ướt. Chợt Dung đi ra mặt hớn hở hỏi:

– Xong chưa chú?

– Xong hết rồi, con coi coi có được hông?

– Đẹp lắm chú.

Thấy cô nhỏ hấp tấp trả lời anh bèn hỏi:

– Có chuyện gì mà trông con hớt hải dậy?

– Cô Tư mới vừa dìa.

Tuy biết trước chuyện sẽ đến nhưng trong lòng anh lo lắng bất an. Nhìn hai đứa nhỏ lom khom dọn dẹp đồ đạc định đi về, anh mượn cớ trì hoãn bằng cách mời hai đứa thợ đi ra tiệm ăn cơm. Day qua Dung Hải hỏi:

– Con đi ăn với chú hông?

– Chú hổng về liền được sao?

– Nhưng cho thợ thầy người ta ăn cơm cái đã.

Dung miễn cưỡng gật đầu:

– Vậy cũng được, nhưng mau mau nghe chú, cả nhà đương chờ chú đó.

Dung quày quả bước đi, Hải day qua hỏi:

– Hai đứa bây thấy con Dung ra sao?

Bình ngước lên nói:

– Con nhỏ đen như cột nhà cháy.

An cãi:

– Nâu chớ đen đâu mà đen, ông nói cho cố.

Hải vỗ vai An:

– Mày chấm nó chỗ nào.

– Ngực, mông hết xẩy chú.

– Chỉ có hai chỗ đó thôi hả?

Nghe anh hỏi ngặt thằng nhỏ đứng gãi đầu. Thấy thằng nhỏ bí lối, anh câu vai nó nói:

– Nhưng mầy chịu cặp ngực và cặp mông của nó hông? Tao làm mai cho.

– Con nghèo quá chú.

– Bộ nghèo rồi hổng có vợ sao? Nhưng thôi, dẹp cặp ngực và cặp mông qua một bên, mình đi ăn cái đã.

Hải kêu chủ quán dọn một bữa cơm thiệt ngon và bia lon ướp lạnh cho hai anh em Bình, An ăn, còn anh thì uống bia khan. Đầu óc cứ nghĩ đến chuyện gặp gỡ lát nữa đây, người ta nói chia ly là khổ, còn xum vầy là vui. Còn anh thì đương khổ sở cho cuộc xum vầy. Thằng Bình thấy anh cứ trầm ngâm và ngước cổ nốc bia, nó nhắc chừng:

– Theo con bữa nay chú uống ít thôi.

Hải nốc một ngụm bia, nhìn qua hỏi:

– Mầy biết chuyện gì hông?

– Chuyện của chú nổi như cồn, cả xóm mình ai hổng biết.

– Nổi như cồn à, sao tao hổng biết gì ráo.

An nói vô:

– Thôi chú dìa giải quyết chuyện gia đình đi, con nghĩ mọi chuyện trơn tru thôi, chú khỏi phải lo nghĩ nhiều quá.

– Hai đứa nghĩ dậy sao?

– Con nghĩ ai biết hoàn cảnh của chú đều nghĩ vậy hết.

– Bình, An chú phải tin dị đoan thôi, gặp hai đứa chắc chuyện gì thì cũng… bình an hết trọi.

Ba người cùng cười và đưa ly lên cụng:

– Thôi chú dìa đây, chừng nào xong chuyện chú làm mâm cơm cúng ông bà, chú sẽ mời hai đứa tới nhậu một bữa chết bỏ.

Khi Hải vừa bước tới cửa thì Thành từ trong nhà phóng ra ôm anh vừa mếu máo vừa nói:

– Anh dìa, em mừng quá.

Nổi lo âu của Hải được thay bằng niềm xúc động mênh mang, anh trấn tỉnh lại:

– Vô nhà cái đã, từ từ rồi anh em mình tâm sự sau.

Hải câu vai Thành đi vô nhà, thì Lệ cũng từ nhà dưới đi lên.

– Sao mà ai cũng khóc hết vậy nè?

Hải muốn trấn an mọi người nhưng chính ngực anh cũng đã nghẹn khi thấy một đứa con trai nép bên Tư Lệ giống anh như đúc. Anh tới ngồi xuống cạnh bên nó, vuốt tóc hỏi nhỏ:

– Con là Đợi phải không?

Nó gật đầu. Hải ôm nó vào lòng, nó mắc cỡ xô anh ra và lao nhanh xuống nhà dưới. Anh đứng lên hỏi Lệ:

– Đi đường xa em có mệt lắm hông?

Cô lắc lắc đầu mặc cho nước mắt tuông chảy lên hai gò má. Nghe tiếng ồn ào bên ngoài Hải ngó ra anh thấy trước cửa hàng xóm bu đầy nghẹt, anh lúng túng không nói được gì. Thành như hiểu ý anh nên bỏ đi xuống nhà dưới. Anh Tài từ dưới nhà đưới đi lên nói:

– Thôi mình ra nhà sau ngồi lai rai nói chuyện.

Day ra anh nói với đám người tò mò còn lấp ló phía trước:

– Hôm nay, gia đình tôi đoàn tụ và có chút chuyện riêng xin bà con thông cảm cho nhé.

Bà con từ từ giải tán. Mọi người kéo nhau đi xuống nhà dưới. Đồ ăn đồ nhậu đã được ba người đàn bà dọn đầy bộ ván. Thành kêu Lệ:

-Em với thằng Đợi qua ngồi với anh Ba, cho cha con quen nhau cái đã.

Nhờ Lệ ngồi cạnh bên nên thằng Đợi mới dám lên ngồi gần, hai đứa em nó thấy vậy cũng chen vô ngồi sau lưng má nó. Cả nhà ngồi quây quần trên bộ ván rộng. Anh Tài bưng rượu lên:

– Hôm nay mỗi người phải uống để mừng gia đình mình xum hợp. Chú Ba tui mời chú trước.

Hải bưng ly nốc cạn dằn cái cảm giác gờn gợn rùn người. Gia đình xum hợp! Vui quá xá chớ! Kể từ khi hay tin ba má anh qua đời, anh chị em tứ tán, Hải chưa bao giờ nghĩ mình còn có một gia đình trên quê hương xứ sở. Nếu ngày xưa không có chuyện chia lìa thì giờ đây bên anh là vợ, con, kia là anh chị vợ và thằng em kết nghĩa. Bây giờ mọi chuyện đã đảo ngược đâu vô đó hết rồi. Hải vuốt tóc thằng Đợi, hỏi:

– Ai đặt tên cho con?

Nó bẽn lẽn cúi đầu:

– Hổng biết.

Thành chen vào.

– Bả đặt đó chớ ai, Đợi có nghĩa là đợi anh dìa đó.

Lệ mắc cỡ mắng chồng:

– Cái thằng cha mắc dịch.

Té ra Hải cũng còn có những người chờ đợi anh nơi bến sông nầy, vậy mà từ lâu nay anh nào hay nào biết.

Anh Tài rót rượu vừa đưa từng người vừa nói:

– Bây giờ dùng món đặc sản của dượng Tư đem từ dưới Cái Đôi về cái đã.

Lệ đập vỏ càng cua, lấy thịt bỏ vô chén cho Hải. Hải bắt chuyện hỏi Thành:

– Bộ ở đây hổng có cua, vọp sao mà phải đem từ bển qua?

– Ở đây làm gì còn anh, cua em nuôi, vọp phải đặt dưới miệt Năm Căn mới có.

– Hồi đó mấy thứ nầy anh em mình xách bao xách mốc ra rừng một lát đem dìa cả đống, nhậu hổng hết chia cho bà con mặc sức mà ăn.

Anh Tài chen vô:

– Ôi người càng đông của càng hiếm con người tham lam càng nhiều, tranh dành với nhau từ rừng rú tới dòng sông, người nầy xâm phạm của người kia một chút thì chửi bới ỏm tỏi lên, đôi khi chỉ vì con cua, con vọp mà quánh lộn với nhau dập đầu chảy máu.

Họ nói chuyện đời sống một lát, cũng trở lại chuyện riêng tư của Hải. Anh nói với Lệ:

– Hổng biết thì thôi, biết rồi thì tôi phải có bổn phận.

Anh hỏi việc học hành của thằng Đợi, Lệ cho anh biết nó học hết lớp năm rồi nghỉ.

Anh day qua hỏi thằng nhỏ:

– Con muốn đi học nữa hông?

Nó lắc đầu.

– Hông, lớn rồi, đi học người ta chọc quê.

Hải thấy mình không nên xen vô chuyện gia đình của Lệ nhiều quá. Anh mới nói:

– Tùy chú Thành với Lệ tính sao cho nó cũng được, số tôi phong trần thì đành phải phong trần vậy, ở nhà có khó khăn gì thì cứ cho tui hay, khả năng của tui tới đâu tui phụ tới đó.

– Anh dìa nhìn nhận con để sau nầy nó khỏi tủi thân là được rồi. Tư Lệ vừa nói vừa lau nước mắt.

Thành chen vô:

– Ngày mai tui phải dìa bển sớm, để bả với thằng Đợi ở lợi chơi với anh vài ngày. Chừng nào anh đi thì tui qua tiễn anh.

Sáng hôm sau, trong lúc Thành sửa soạn trở về Cái Đôi vàm, trên chiếc ghe đóng đáy hàng khơi, cái máy Yanmar đầu xanh thời ông Thiệu chưa làm tổng thống đã đổi ra màu đen, Thành quây cà ì cà ạch hồi lâu mới nổ bành bành, khói đen phun ra mù mịt. Hải nói:

– Máy Yanmar đầu đen chớ đầu xanh khỉ mốc gì. Sao chú hổng thay máy khác?

Thành than:

– Chưa đủ tiền anh.

– Chừng bao nhiêu mới đủ?

– Nếu có hai cây nữa thì em đổi máy mới.

– Được rồi anh sẽ cho chú hai cây.

– Ý chết cha, em đâu có hỏi.

– Anh tự nguyện mà.

– Anh có lòng tốt giúp em, em cám ơn nhiều lắm, nhưng thong thả đi cái đã.

Thành chỉ vô cái máy nói:

– Coi cà tàng vậy đó mà chưa bao giờ nằm đường hết anh.

– Thôi chú đi đi, chúc chú mầy con nước nầy tôm cá đầy ghe.

Hải nhảy lên bờ tháo dây mũi liệng qua cho Thành. Hải vịn mũi nghe, chờ Thành khoanh dây lại rồi ra sau cầm lái, anh mới đẩy mũi ghe vạt ra lấy trớn để Thành vô số, rồ ga cho ghe chạy.

Khi cơn xúc động đã lắng xuống, mọi chuyện trở lại bình thường, Hải nghĩ, đối với Lệ và thằng Đợi anh thương lắm và tội nghiệp cho Thành Đất đã gánh gánh nặng cho anh, chắc hẳn anh phải có trách nhiệm với những người nầy. Anh định trước khi rời khỏi thị trấn ven biển anh đưa cho gia đình Thành Đất số tiền anh đã hứa, phần còn lại anh ngao du một chuyến ra Bắc.

Nào ngờ hôm sau, trời mới hừng đông, Hải đương ngủ ngon, chợt Lệ vô buồng đánh thức anh dậy:

– Anh Ba, gia đình có chút chuyện muốn bàn với anh.

Hải ngồi dậy dụi dụi mí mắt cho tỉnh ngủ rồi đứng dậy đi theo Lệ. Ở nhà dưới đèn thắp sáng chưng, vợ chồng anh Tài ngồi trên bộ ván. Giữa bộ ván một mâm trà bánh còn nguyên, hai người như có ý chờ Hải. Lệ lấy khăn và bàn chải đưa cho anh. Hải ra sàn lảng sau nhà đánh răng rửa mặt. Xong. Anh trở vô ngồi cạnh bên Lệ. Nhìn ai cũng ra vẻ khẩn trương làm anh nhột nhạt. Lệ rót nước trà cho Hải, anh hớp một hớp nước, để xuống. Anh Tài hớp một hớp trà rồi cất tiếng phá tan bầu không khí yên lặng:

– Thiệt ra thì tui mời chú xuống đây là muốn nhờ chú một chuyện.

– Chuyện gì anh? Hải hỏi.

– Ý tui là muốn nhờ chú bảo lãnh con Dung ra ngoải, chú thấy có được hông?

Nghe hỏi bất ngờ làm Hải lúng túng hồi sau anh mới tìm ra câu nói:

– Dìa đây tui hổng có ý định gì hết, bổng nhiên lòi ra thằng Đợi, bây giờ anh tính thêm chuyện nầy nữa.

Hải ngó qua Lệ:

– Theo em, em thấy sao?

Lệ không nhìn thẳng Hải mà cúi xuống ly trà, nói:

– Anh coi coi, giúp được cháu thì giúp.

– Hổng phải vậy đâu, tui thấy những cô gái ở niền quê ít học ra phố nếu không đi ở mướn thì cũng trở thành gái làm tiền. Ra nước ngoài cũng vậy thôi, nếu không có nơi nương tựa thì các cô cũng lang thang trôi nổi trong cái thế giới xô bồ xô bộn của tây phương. Còn tui thì cuộc sống bấp bênh, rày đây mai đó, không bà con thân quyến, nơi xứ lạ quê người, đem cháu sang rồi bỏ cháu bơ vơ một mình đâu có được.

Anh Tài nằng nặc:

– Hổng lẽ chú cứ lông bông hoài sao?

– Chuyện đột ngột quá anh chị cho tui thời gian suy nghĩ cái đã.

– Ừ cũng được, quan trọng là chú mầy chịu nó hay không.

Chịu nó! Hải nghĩ bụng, ông anh định chơi cha chắc.

– Thôi được, chuyện nầy tui sẽ trả lời sau.

Câu chuyện tạm ngưng lúc trời sáng bửng. Dung với thằng Đợi đi đổ đáy vừa về tới. Hải kêu thằng Đợi thay đồ và rủ má con nó ra quán ăn sáng, tiện dịp anh bàn chút chuyện. Thằng Đợi xin tiền đi chơi chớ không theo. Hải để ý, từ ngày gặp con cho tới nay, không bao giờ thằng nhỏ theo anh, ngoại trừ những lúc cần tiền mới tới hỏi xin. Mới chừng đó tuổi mà đi hết bàn bi da này qua tới quán Karaoke nọ, có bữa anh thấy nó uống bia nữa.

Trong quán phở, ăn xong Hải hỏi Lệ:

– Hình như em nuông chiều thằng Đợi có hơi quá mức.

– Anh Thành đó, mỗi khi em rầy nó là ảnh binh.

– Con cưng là con hư, nhưng nói là nói vậy chớ anh làm sao có quyền chen vào chuyện gia đình em.

Lệ cầm muỗng quậy quậy ly trà đá, mắt nhìn nước trà đương sóng sánh trong ly, cô nói:

– Anh có trách em cũng hổng sao, ngặt vì thương anh nên ai cũng chiều thằng Đợi.

– Cám ơn em và chú Thành đã lo lắng cho nó.

– Anh khách sáo làm gì, anh Thành cũng thương anh, cho tới nay ảnh còn mặc cảm có lỗi với anh đó.

– Chú ấy đã săn sóc mẹ con em trong những ngày em khổ sở, hết kiếp nầy hổng biết anh có đền ơn nổi cho chú hông đây.

Hải móc sổ địa chỉ ra đưa cho Lệ:

– Em ghi địa chỉ ở Cái Đôi cho tui.

– Bộ anh tính đi hả?

– Chưa, tui nán lợi chơi với em và thằng Đợi vài ngày.

Lệ đổi giọng:

– Còn chuyện con Dung anh tính sao?

– Theo em tui phải tính sao đây?

– Thì anh coi giúp được cho cháu thì giúp đi.

– Đơn giản như vậy sao?

– Em thấy nhiều Việt kiều dìa cưới vợ cũng đơn giản dậy thôi. Anh lớn tuổi rồi cần phải có gia đình chớ. Hơn nữa trong họ hàng ai cũng thương anh, muốn gả nó cho anh anh còn đi đi dìa dìa, chớ hông thôi anh đi biệt xứ.

Biệt xứ! Hải nhìn ra ngoài, ánh nắng đã lên cao. Người đi chợ cũng thưa dần. Đây là quê hương xứ sở của anh, kia là người thân thân thuộc, chơn tình biết mấy.

– Thôi được, để thong thả rồi tính.

Bắt đầu từ hôm đó gia đình Tài coi Hải như người nhà. Ngày Dung lo miếng ăn, tối lo giũ chiếu giăng mùng, soi muỗi cho anh. Ban đêm Hải theo Dung đóng đáy. Từ ngày có Hải đi theo, cô nhỏ vui sướng vô cùng, Dung có cảm tưởng đi đóng đáy là cuộc phiêu lưu, thám hiểm hơn là chuyện mầm ăn, cho nên cô cứ nôn nao trong lòng mỗi khi con nước lớn vừa chựng lại. Khi nước bắt đầu ròng họ chui đáy xong đâu đó. Dung mở máy cát sét rồi cô đi lại ngồi cạnh Hải. Những năm luân lạc xứ người, không khi nào Hải mơ tới đàn bà Việt Nam. Các bà ngoài ấy cao xa quá, còn anh trước mắt họ bất quá chỉ là một tên vô gia cư. Mười mấy năm qua, anh không bao giờ dám ước mơ có một mái ấm gia đình. Hôm nay về đây tuy cảnh vật và người thương đã thay đổi nhưng anh không thấy mất mát điều gì. Trước một người con gái mơn mởn như hoa mùa xuân và dòng sông bon bon nước chảy, làm anh sống lại thời mới lớn. Tim anh đập, tay anh run run ôm cô gái trẻ, lòng thầm cám ơn bà cậu của miền sông nước… Anh ngất ngây theo tiếng hát du dương truyền cảm tỏa trên mặt sông: “ … Anh ơi chim kia bay về tổ ấm, nước cũng xuôi về nguồn …”

Vậy là thời gian Hải dành cho chuyến du ngoạn ra Bắc coi như đi đứt. Chuyện đám tiệc theo Tài thì không khỏi phải rườm rà, chỉ nấu một mâm cơm làm lễ ra mắt ông bà đủ rồi. Hải kêu Dung nghỉ đóng đáy đi với anh ra thị xã mua sắm áo quần và bông đeo tai. Bữa tiệc thay cho đám cưới ngoài người trong gia đình ra, Hải chỉ mời anh em thằng Bình và thằng An tới. Hai đứa ngồi nhậu mà cứ nhìn anh cười cười như có ý chọc quê.

Sau bữa tiệc, Thành Đất chở vợ con về Cái Đôi vàm. Còn Hải lên thành phố đổi vé máy bay trở về Âu châu để lo thủ tục bảo lãnh.

Mọi chuyện xong xuôi trong vòng sáu tháng. Dung là vợ chánh thức của Hải từ khi cô nhỏ tới đất Âu châu nầy. Chờ Dung học xong khóa ngoại ngữ lấy xong bằng lái xe, hai người mới quyết định có con. Nhờ khoẻ mạnh Dung sanh rất dễ dàng, hai năm Dung sanh liên tiếp hai đứa con trai, thấy vợ cực khổ với hai đứa nhỏ Hải kêu ngưng nhưng Dung muốn có thêm đứa con gái, vậy là cô mang bầu sau đó đẻ thêm thằng con trai nữa. Anh biểu nghỉ nhưng Dung ham con gái quá, nằng nặc đòi mang bầu, nhờ trời thương đứa thứ tư cho ra con gái, có như vậy cô nhỏ mới chịu treo buồng trứng.

Từ ngày có Dung Hải xin việc làm dây chuyền trong một xưởng sửa xe. Dung may thuê vá mướn, dư ra đồng nào gởi về đồng nấy, một bên gia đình ba má Dung, một bên là cho vợ chồng Thành Đất. Bây giờ dân số trong gia đình anh tăng thì chi phí cũng tăng theo. Dung ôm bốn đứa con đâu có đi làm gì thêm. Còn lương tháng của anh trang trải nhà cửa, mua sữa và tã lót cho mấy nhỏ, ăn uống cũng phải dè sẻn mới đủ. Ấy vậy bên nhà hổng biết mần ăn ra sao mà tiền gởi về y như gió luồng nhà trống. Thư cứ gởi qua hỏi tiền lúc đầu còn nói năng tử tế, dạo sau nầy hỏi thẳng kê những món cần xài ra hàng lô hàng lốc, những con số đọc lên thấy phát chóng mặt, tối thiểu một ngàn đô, khi thì cả chục cây vàng. Có lần ở nhà nói ba Dung bịnh gần chết, kêu gởi tiền về thang thuốc, làm Dung hoảng lên. Hải phải xin ngày nghỉ ở nhà giữ con cho Dung bay về bển. Nhưng Dung về vừa tới phi trường, cô tức muốn ói máu khi thấy ông già đứng đón tỉnh bơ trước cửa phi trường. Dung ở lại một tuần, dốc túi đưa hết số tiền đem theo lo cho ba bịnh, rồi bay trở về vừa khóc vừa kể cho Hải nghe.

Đó là gia đình ông Tài chớ thật ra thì với vợ chồng Thành Đất anh có cho thì gởi thư cám ơn, không thì thôi chớ chưa bao giờ biên thư hỏi tiền. Mới đây Lệ có gởi thư qua nói, thằng Đợi xách dao rượt chém Thành Đất rồi bỏ nhà đi. Đọc thư xong Hải cảm thấy buồn buồn cũng như lần đầu nhận con mình, anh đã cảm thấy cái hạnh thằng nhỏ không được tốt rồi. Vì vậy chuyện nó đánh ba nuôi nó là do bản tánh mất dạy của nó chớ hổng phải lỗi tại Thành Đất . Anh thấy càng liên lạc bên nhà bao nhiêu càng thêm rắc rối bấy nhiêu, vì vậy anh giao hết tiền bạc cho Dung. Anh dặn:

Em làm sao thì làm miễn đừng để mấy đứa con thiếu thốn là được rồi.

Từ đó hễ ở nhà hỏi tiền thì ít nhiều gì Dung cũng gởi, gởi xong tối nằm thao thức, nén tiếng thở dài. Dung sanh ra chứng mất ngủ và kinh nguyệt cũng theo đó không đúng chu kỳ, thân thể vạm vỡ của Dung mỗi ngày một sa sút, da dùn, mặt mày rũ rượi trán có vết nhăn. Mới đây nhận thêm thư nhà Dung đem cho anh xem. Trong thư nói thằng Đợi về ở với cậu Hai, tức là ông già vợ của Hải, nó hỏi xin tiền mua chiếc Dream II và ở nhà xây thêm cầu tiêu và bồn tắm tổng cộng năm ngàn đô, xem thư xong Hải trao lại cho Dung:

– Em tính sao cũng được.

Đêm khuya Dung đánh thức Hải dậy, cô nói trong tiếng khóc:

– Anh ơi anh.

Gì vậy em?

Mình tính sao đây?

Từ lúc Dung sanh chứng mất ngủ cho tới giờ, tuy Hải không nói ra nhưng lúc nào anh cũng chú ý đời sống tinh thần của vợ. Đến nước nầy anh cần phải lên tiếng thôi.

– Em nín khóc đi.

Hải ngồi dậy lấy bình nước rót một ly đưa cho Dung.

– Em uống đi, rồi nằm xuống hít thở một lát rồi ngủ, chuyện bên nhà để bên nhà lo khi nào vợ chồng mình giàu có rồi tính. Anh sẽ viết thư nói cho ba biết hoàng cảnh của gia đình mình.

– Ba má em thì được rồi nhưng còn thằng Đợi?

– Năm nay nó đã ngoài hai mươi rồi, nó biết cầm dao rượt chém ba nuôi nó, thì nó phải đủ bản lãnh ra đời kiếm sống, em nên dồn hết tâm trí lo cho bốn đứa con của em kìa. Xe trước lật rồi, xe sau tránh, hy vọng còn vớt vát lại mấy đứa nhỏ.

Thấy vợ bớt căng thẳng anh chỉ tay lên trán Dung pha trò:

– Đẻ cho cố rồi lo.

Dung bấu mạnh vai chồng lấy đà nằm xuống phủng phịu:

– Em muốn đẻ nữa.

Hải kê gối gối đầu và kéo mền đắp cho vợ xong, anh nằm xuống cạnh bên và luồn tay xuống dưới dạ bụng mân mê:

– Muốn vậy thì em phải đi bác sĩ nối buồng trứng lại.

Đợi Dung ngủ say, Hải qua phòng sách lấy giấy viết ra viết thư cho ông Tài. Anh nói thẳng cho ông biết, cũng vì u mê mà anh và ông mắc phải một sai lầm, làm cho tôn ti trật tự trong gia đình đã đảo lộn hết, bao nhiêu đó cũng đủ cho lương tâm ray rứt suốt đời rồi. Anh khuyên ông nên dừng lại, đừng quá tham lam mà gieo khổ cho con, cho cháu sau nầy…

Hôm sau Hải đưa thư cho Dung đọc và hỏi:

– Em thấy thế nào.

Cũng được.

Dung trao thư lại cho anh đem đi gởi. Cũng từ hôm đó, tánh tình của Dung mỗi ngày một thay đổi, trong gia đình Dung lo cho chồng cho con rất là chu đáo, duy có một điều cô nhỏ càng ngày càng lạnh nhạt với anh, nhứt là chuyện chăn gối không còn mặng nồng như trước nữa. Có lần Hải thắc mắc hỏi thì Dung gượng gạo biểu, hổng có gì, rồi ôm anh thật chặt và gục đầu lên vai anh mặc cho hai dòng nước mắt tuôn chảy…

Bảy năm qua rồi ở bên nhà không thư qua nữa. Và cuộc sống tẻ nhạt của gia đình Hải vẫn tiếp tục điều trôi không biết tới bao giờ… Nhiều đêm ngồi một mình nhớ lại những chuyện đã xảy ra, anh tự hỏi: Hổng biết bên bển có còn ai đợi chờ anh như lần đầu anh rời xa bến đáy.

Dronten 02/05/04

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Mẫu chuyện nhỏ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 7 Jul 2026

Quán cà phê Nghệ Sĩ là nơi quy tụ nhiều đấng thiên tài của bộ môn nghệ thuật. Quán nổi tiếng vì pha chế cầu kỳ, và cà phê hảo hạn thơm lừng. Đặc tính của khách, đóng trụ bền và chắc. Sau đây, mẫu chuyện nhỏ, ghi từ quán cà phê Nghệ Sĩ.

Nhân vật A, ăn mặc chải chuốt, quần áo thẳng nếp, có thắt cà vạt đàng hoàng. Nhân vật B, mặt hốc hác, tóc tai bù xù (nhân dáng nghệ sĩ thời thượng). Cả hai đều hút thuốc, phun khói mù mịt như ống bô xe hơi mùa lạnh.

A: Lâu quá không gặp. Sao? Dạo này còn ở chỗ cũ?

B: Đi lâu rồi. Nhà ấy nhiều con nít ồn ào quá, chịu không nổí.

A: Tôi cũng ớn lũ con nít. Bởi thế, nhiều người biết tôi là nhà văn, muốn gã con gái, nhưng tôi không dám nhận.

B: Ớn lũ con nít thì phải rồi, nhưng con gái thơm quá đi chứ. Làm nhà văn cần con gái để gợi hứng sáng tác. Sao không nhận?

A: Thơm thì có thơm, nhưng sợ xáp vô vài năm, đổ con cái ra đấy. Bận bịu thê nhi thì hứng thú gì mà sáng tác. Cứ ở tình trạng độc thân, tạo điều kiện phất phơ la cà tán tỉnh. Tròng chiếc nhẫn cưới vô ngón tay, coi như chết đi một nửa cuộc đời. Sao? Bạn vẫn làm hãng cũ?

B: Nghỉ lâu rồi. Thằng superviser cà chớn, không khám phá được tài năng tôi. Nó đề nghị sa thải. Thằng chủ hãng gà mờ, nghe theo lời nó. Cũng may, nó cho tôi nghỉ sớm. Nếu không, tôi cũng bỏ việc. Toàn một lũ kỳ thị!

A: Kỳ thị là một hội chứng kinh niên bất trị. Thế bạn đang thất nghiệp?

B: Không! Tôi xin được việc làm khác, trong Sở Thú. Công việc cũng nhàn.

A: Được đấy. Làm gì trong Sở Thú?

B: Chả là có một con dã nhân già chết đi, chưa tìm được con khác thay thế. Người ta lột da nó, và tôi đội lốt dã nhân, nhảy nhót trong chuồng, đánh lừa thiên hạ. Bọn du khách khả ố cứ tưởng thật, xúm nhau xem và cười thích thú. Thế thôi. À này, đám nhân viên Sở Thú tinh đời lắm, mà còn phải khen tôi đội lốt dã nhân linh động hơn cả dã nhân thật.

A: Trên đời này, có nhiều người không cần đội lốt dã nhân nhưng họ cũng biểu lộ bản chất giống y như loài dã nhân. Bạn đừng tưởng chỉ mình bạn có tài.

B: Ồ, nói thế là bạn chưa tận mắt nhìn thấy lúc tôi ở trong chuồng.

A: Có gì đặc biệt?

B: Vào những lúc con dã nhân cái động đực, chính tôi phải làm tình với nó trước mắt bọn du khách. Các bà các cô ngượng đỏ mặt, che mắt. Nhưng tôi biết, qua kẻ ngón tay, họ không bỏ sót một hành động nhỏ nào của tôi.

A: Thế thì bạn chỉ có tài diễn xuất trước đám đông thôi. Chứ trong khuất lấp, không thiếu những trường hợp người làm tình với thú. Không nghe ai nói chuyện này, không có nghĩa rằng điều đó không xảy ra.

B: Bạn vẫn chứng nào tật ấy, chỉ nhìn bề trái của cuộc đời. Suy cho cùng, bên cạnh bộ mặt sần sùi của xã hội, còn có những điều tốt đẹp làm cho con người thăng hoa.

A: Xin cho một thí dụ?

B: Nghệ thuật. Chính nghệ thuật nuôi sống tâm hồn. Bạn có nghĩ rằng tôi đang làm nghệ thuật không?

A: Nếu đội lốt dã nhân là một nghệ thuật, thì bạn chính là diễn viên nghệ thuật đấy.

B: Không! Nghệ thuật đâu rẻ rúng thế. Tôi coi đấy chỉ là một nghề cơm áo như trăm nghìn nghề khác. Tôi làm thơ. Thơ là một trong những bộ môn nghệ thuật.

A: Trời đất! Thần kinh ngạc nhiên của tôi bị tê liệt từ lâu rồi. Bạn làm cho nó cảm ứng trở lại.

B: Đừng diễu dở. Không sợ người anh em chạm tự ái sao? Này nhé, trong mục nhắn tin, các ông chủ báo đều trân trọng gọi tôi là nhà thơ, hoặc thi sĩ.

A: Xin lỗi. Tôi thật không ngờ bạn làm thơ. Có thể kể cho nghe nguyên nhân nào đưa bạn vào nghệ thuật làm thơ?

B: Cũng ngẫu nhiên thôi. Nghề sinh nghiệp. Làm nghề đội lốt dã nhân, khi có bọn du khách, thì mình lượn qua lượn lại trong chuồng, chổng mông cho họ coi khu coi đít, hoặc ngồi gãi háng bắt rận. Du khách đi qua rồi, thì mình ngắm trời ngắm mây. Thế là tức cảnh sinh tình, nổi hứng làm thơ. Làm thơ cũng dễ thôi. Đếm chữ. Chấm câu. Xuống hàng. Gieo vần theo đúng luật bằng trắc là thành thơ. Nếu không muốn gò bó trong khuôn khổ chật hẹp, thì làm thơ tự do. Bây giờ, người ta còn sáng chế ra loại thơ tân kỳ lắm: thơ trình diễn. Nhiều người làm thơ loại này mà trở thành thi sĩ nổi danh, và chiếm được chỗ ngồi rất chắc trên thi đàn. Bạn nghĩ xem, nghề làm dã nhân của tôi, có thể được liệt vào trường phái loại thơ trình diễn không?

A: Tôi không nghiên cứu kỹ về loại thơ này, nên không dám khẳng định. Nhưng, nếu lấy bốn sợi lông, cắm bốn góc, được coi là một bài thơ trình diễn, thì làm dã nhân “ngồi rù gãi háng dái lăn tăn” là một bài thơ trình diễn sinh động hơn nhiều. Ngày xưa, thơ chỉ dành cho giới tao nhân mặc khách. Ngày nay, thơ bành trướng mạnh trong mọi tầng lớp quần chúng. Thơ soi rọi khắp hang cùng ngõ ngách. Thơ lột trần những mặt dọc mặt ngang. Thậm chí, người ta còn tìm thấy thơ trong sự ỉa đái. Hiện thực là ở chỗ ấy.

B: Nhà văn lý giải về thơ, nghe sướng cả người. Thế, nhà văn có nhận định gì về văn?

A: Thơ với văn như cặp song sinh. Thơ hiện đại đi vào quần chúng. Văn hiện đại từ quần chúng đi ra.

B: So sánh quái gỡ thế, bố ai hiểu được?

A: Này nhé. Thơ có khuynh hướng xúc cảm. Văn nghiêng về mô tả. Ban đầu văn ở trong quần chúng để quan sát, nhận xét. Sau đó, đi ra đứng ở vị trí khách quan, tả chân những gì đã thấy. Làm văn sĩ là pha trộn hiện thực và hư cấu. Người đọc chỉ nhìn thấy một khối đồng nhất, không phân biệt. Hiện nay, con người đã đạt đến tốc độ siêu thanh. Không còn ai muốn nhai lại một số triết lý viển vông. Có những vấn đề, ngày xưa úp mở, e dè không dám nói, thì ngày nay phơi bày toác toạc ra đấy. Làm văn sĩ phải chìu theo thị hiếu độc giả, và luôn luôn đặt câu hỏi: viết gì, viết thế nào, viết cho ai? Trả lời đúng những câu hỏi ấy là thành công. Đề tài đang được ăn khách là chuyện phòng the, tả sự việc trên giường. Một vấn đề xưa như trái đất, nhưng nóng hổi như bánh mới ra lò.

B: Bạn biết phân tích, chắc văn của bạn đang ăn khách?

A: Không đâu. Còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác. Thí dụ như phải biết gây sự chú ý của độc giả.

B: Viết văn chứ đâu phải quảng cáo?

A: Muốn làm tổng thống cũng phải quảng cáo. Này nhé, một tác phẩm ra đời, nếu chẳng ma nào thèm liếc mắt, sẽ đi vào quên lãng, mất hút luôn. Đó là nỗi buồn lớn của tác giả. Vì thế, phải có người viết bài bốc thơm, để gợi sự chú ý. Đôi khi, còn phải mướn thằng viết bài chưởi bới nữa, để lôi kéo sự tò mò. Xin nhắc bạn, một hiện tượng quảng cáo rất độc đáo đang xảy ra ở Việt Nam. Cứ y như rằng, tác phẩm nào bị nhà cầm quyền cấm phổ biệ, thì tác phẩm ấy được nhiều người tìm đọc hơn hết. Hoặc, tác giả nào bị công an văn hóa mời tới mời lui vài lần, thì thế nào tác phẩm của họ cũng bán rất chạy. Tôi nghĩ được một cách quảng cáo, hơi táo bạo nhưng chắc chắn thành công.

B: Nói nghe thử?

A: Tôi sẽ về Việt Nam, đứng giữa chợ Bến Thành, tuyên bố chống đối vung vít. Công an sẽ nắm đầu tôi, nhốt tức khắc. Thế là trúng kế. Báo chí hải ngoại bắt đầu loan tin rùm beng, la làng tranh đấu đòi thả tôi ra.

B: Rồi sao nữa?

A: Còn phải hỏi. Mọi người sẽ chú ý và tò mò đọc tác phẩm của tôi.

B: Quảng cáo kiểu ấy có phần ma giáo, nhưng đây là chuyện tương lai. Còn hiện tại, bạn viết văn có đủ kiếm sống không?

A: (thở dài) Thời kỳ văn học cực thịnh, văn thi sĩ xuất hiện nhiều như sao trên trời. Thơ văn trở thành lạm phát. Bài gởi cho báo, chỉ đăng chùa. Đăng không hết, mấy ông chủ báo vứt vào sọt rác là chuyện thường. Người ta bỏ tiền mua cuộn giấy đi cầu, nhưng công trình tim óc của mình lại vứt đi. Lắm khi muốn ứa nước mắt.

B: Thấy bạn ăn mặc bảnh bao, tưởng đời đang lên. Ai ngờ…

A: Bạn bè chẳng giấu. Đói rã ruột, nhưng phải làm ra vẻ phồn vinh giả tạo ngoại hình. Mục đích để dễ mượn tiền. Nhiều người muốn gã con gái cho tôi cũng vì lầm cái mã bề ngoài.

B: Thì cứ nhào vô. Vừa được vợ, vừa có miếng ăn hàng ngày.

A: Trên đời làm gì có của cho không. Khi họ khám phá ra mình là loài ký sinh tầm gửi, họ tống mình ra khỏi cửa ngay. Thà cứ hư hư thực thực, che thân bằng nhãn hiệu nhà văn. Thế mà còn mượn được tiền.

B: Nhà văn nói nghe thảm quá. Dù sao, tôi cũng có nghề có việc được đồng lương, lại mang thêm cái nghiệp làm thơ, lại nghệ sĩ dễ thông cảm nhau. Thôi thì chầu cà phê này, tôi trả. Sắp đến giờ Sở Thú mở cửa. Tôi phải vào.

Nhân vật B (nhà thơ) rời quán Nghệ Sĩ. Nhân vật A (nhà văn) ngồi lại, không biết để tìm hứng sáng tác, hay chờ đợi người quen, kế tiếp.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 7 Jul 2026

– “Nếu một người đồng giới có thiện ý tìm đến Chúa trời, tôi lấy tư cách gì để phán xét?”

Đức Giáo Hoàng Phanxico-(29/07/2013)

Bản tin của Nhật Báo Người Việt ngày 4/2/13 loan báo: “Sau nhiều ngày chờ đợi trong lo lắng, cuối cùng, sau buổi họp kéo dài gần hai giờ đồng hồ với ban tổ chức Diễn Hành Tết hôm Thứ Hai, Liên Hội Những Tổ Chức Người Đồng Tính Luyến Ái, Song Tính và Chuyển Giới Tính (LGBT) Mỹ gốc Việt, đối diện với thực tại là họ sẽ không được phép tham dự cuộc Diễn Hành Tết 2013, một sinh hoạt họ đã liên tục tham gia từ ba năm nay. Tổ chức Đồng Tính (LGBT) vào, thì Hội Đồng Liên Tôn sẽ rút ra!”

Trong ba năm 2010, 2011, 2012, khi cuộc Diễn Hành Tết do thành phố Westminster tổ chức, Hội đồng Liên Tôn lớn tiếng phản đối không cho phép nhóm đồng tính được tham gia và khi không thuyết phục được thành phố Westminster trục xuất nhóm đồng tính, Hội Đồng Liên Tôn đã rút ra khỏi cuộc diễn hành.

Năm ngoái (2013) Diễn Hành Tết do Cộng Đồng Người Việt Nam Cali tổ chức, nhóm LGBT (Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender Organizations) không được tham dự đã gây nhiều cuộc tranh cãi trong cộng đồng và một số tổ chức, cá nhân, dân cử và các nhà bảo trợ đã rút ra không tham dự.

Năm nay (2014) theo bà Diane Craey, nghị viên Westminster, cũng vì ngân sách thành phố thiếu hụt không thể đứng ra tổ chức Diễn Hành Tết, nên Ban Tổ Chức Diễn Hành cũng có một quyết định tương tự như năm ngoái. Bà cũng cho rằng việc những thành viên LGBT không được tham dự diễn hành đã tạo ra một nhận thức không đẹp tí nào cho thành phố. Năm nay khi trong một buổi họp của Cộng Đồng, nhiều ý kiến đã lên tiếng bênh vực Hội Đồng Tính, trong khi ông Lê Quang Dật, một “thành viên” của Hội Đồng Liên Tôn (?) thì mạnh mẽ khẳng định: “Tết là một văn hóa truyền thống, thiêng liêng của cộng đồng Việt Nam. Văn hóa đồng tính không phù hợp với văn hóa Tết.”

Trong buổi họp của Cộng Đồng ngày Chủ Nhật 10 tháng 11-2013, với tổng cộng 76 phiếu bầu, số 47 phiếu chống đã áp đảo 21 phiếu thuận, và 7 phiếu không ý kiến, loại nhóm LGBT ra khỏi cuộc diễn hành. Ở đây chúng tôi thấy chưa cần nêu ra tính cách pháp nhân của Hội Đồng Liên Tôn (đại diện cho ai, ai bầu, trên cơ sở pháp lý nào, nhất là vai trò của Ông Lê Quang Dật, tự đại diện với danh xưng “Huynh Trưởng Phật Tử” trong khi đã có một đại diện của Phật giáo trong tổ chức này.) Người ta lại chống nhóm đồng tính diễn hành trong dịp Tết vì cho đồng tính là không phù hợp với văn hóa Việt Nam, sợ người bản xứ sẽ hiểu lầm văn hóa của chúng ta khi thấy sự hiện diện của nhóm đồng tính trong cuộc diễn hành. Phải chăng não trạng “sợ hiểu lầm” này là di sản từ thời thực dân? Câu nói “Văn hóa đồng tính không phù hợp với văn hóa Tết” dùng để biện minh cho việc xua đuổi hội LGBT ra khỏi sinh hoạt của cộng đồng và đã được nhiều người bỏ phiếu đồng ý, thật ra người phát biểu không hiểu gì về văn hoá. Văn hóa liên tục thay đổi và quá trình này diễn ra rất nhanh chóng do các nguyên nhân như là việc phát minh, khám phá, nghiên cứu, phổ biến và thu nhận, trao đổi từ nền văn hóa này sang văn hóa khác. Cũng vì vậy, nên ngày nay trên phố Bolsa người Việt diễn hành không đóng khố, xâm mình, búi tóc, nhuộm răng đen đi chân đất hay mang cung tên như người Bách Việt của những thiên niên kỷ trước. Người phụ nữ Việt Nam kín đáo ngày xưa trong gia đình “kín cổng cao trường” có phải là hình ảnh người nữ tham gia công việc xã hội, chính trị ngày nay hay như những thiếu nữ thi hoa hậu, mặc đồ tắm trình diễn, hay ca hát lăn lộn trên sân khấu ngày hôm nay không? Văn hóa Việt Nam có chấp nhận cho người phụ nữ ngày nay có thể sinh con nhờ trứng của một phụ nữ khác thụ tinh trong ống nghiệm không, và bây giờ giá trị của tình mẫu tử, tình phụ tử sẽ thay đổi ra sao?

Văn hóa không thể là xác ướp nhưng là một đời sống năng động qua nhiều giai đoạn phát triển và thụt lùi.

Về phía tôn giáo, có phải những nhà truyền giáo đã đi đến tận hang cùng ngõ hẻm ở khắp nơi chưa có ánh sáng văn minh, đưa đức tin của họ đến đó và làm thay đổi hắn nền văn hóá của họ không? Dân bán khai được khuyến khích mặc quần áo, dùng xà phòng, bỏ bớt các tập tục man rợ, mà không ai nói: “Văn hóa tôi là văn hóa ở truồng!” Về chuyện đồng tính, sáng ngày 29/07/2013, Giáo Hoàng Phanxicô trên chuyến bay từ Đại hội giới trẻ Công Giáo toàn thế giới trở lại Ý, trong cuộc phỏng vấn của báo chí về chủ đề đồng tính, Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh đến lòng bác ái đối với những người có quan hệ đồng giới và đã đưa ra một nhận định mạnh mẽ và trực tiếp: – “Nếu một người đồng giới có thiện ý tìm đến Chúa trời, tôi lấy tư cách gì để phán xét ?” (Antoine-Marie Izoard -Vatican.)

Trong khi đó, các cộng đồng Phật tử phương Tây nổi tiếng vì đức khoan dung của họ và chính đức Dalai Lama cũng có các đệ tử đồng tính một cách công khai. Hiếm khi người ta nghe ai đó gõ trống khua chiêng đuổi một cộng đồng Phật tử vì họ là những người đồng tính và trong hầu hết các truyền thống đã thực hành ở phương Tây – trong đó có cộng đồng Tây Tạng, tình dục là vấn đề hiếm khi được bàn đến nếu không muốn nói rằng đó chưa phải là một vấn đề. (Theo Thích Minh Trí – Gay Marriage: What Would Buddha Do- James Shaheen, The Huffington Post.)

Hiện nay, cho đến tháng 8 năm 2013, 15 nước: Argentina, Bi, Brazil, Canada, Đan Mạch, Pháp, Iceland, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Nam Phi, Thụy Điến, Uruguay và nhiều nền luật pháp cấp dưới quốc gia (những khu vực ở Mexico và Hoa Kỳ) đã cho phép hai người cùng giới lấy nhau. Một điều luật đã được Vương quốc Anh thông qua, có hiệu lực ở Anh và xứ Wales, sẽ có hiệu lực hoàn toàn vào năm 2014. Thăm dò ở nhiều quốc gia khác nhau cho thấy sự ủng hộ hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở các chủng tộc, dân tộc, độ tuổi, tôn giáo, tổ chức chính trị và điều kiện kinh tế đều tăng lên. (Wikipedia)

Tại Hoa Kỳ ngày 26 tháng 6- 2013, Tối Cao Pháp Viện đã đưa ra phán quyết bác bỏ Đạo Luật DOMA  (Defense of Marriage Act) năm 1996 xác định hôn nhân chỉ là giữa hai người khác phái. Có nghĩa là từ nay các cặp hôn nhân đồng tính được thụ hưởng mọi quyền lợi của liên bang như những cặp vợ chồng bình thường. Trong khi đó “ghetto” cộng đồng Bolsa vẫn cuộn mình trong cái vỏ bọc lạc hậu.

Chúng ta đã nói nhiều về sự kỳ thị bất công giữ con người và con người, sự coi mình là tác phẩm hoàn mỹ của Thượng Đế và người khác thì không, đưa đến tình trạng này. Còn nói về sự cản trở nhóm đồng tính tham gia Diễn Hành trên phố Bolsa, đến từ Hội Đồng Liên Tôn Bolsa, để  kết luận chúng tôi xin trích lời góp ý của Franklin Dac Nguyen đã viết trên Blog Người Việt ngày 6 tháng 2-2013:

-“Điều đáng trách ở đây là Hội Đồng Liên Tôn. Không rõ mục đích thành lập Hội Đồng Liên Tôn để làm gì? Để xây dựng cộng đồng, để mang tình yêu thương, lòng vị tha, công bằng bác ái đến với mọi người. Hay ngược lại, để chèn ép, để trấn áp, để quay lưng lại những người cô thế. Để khai tử những người đồng tính không còn đất sống trong cộng đồng. Lẽ ra Hội Đồng Liên Tôn nên có nhiều thiện chí để nâng đỡ những người đồng tính về mặt tinh thần một cách tích cực hơn. Để cho họ luôn nghĩ rằng cộng đồng lúc nào cũng gắn bó, đoàn kết, đùm bọc tương thân tương ái lẫn nhau. Họ là những người đáng thương nhất đối với xã hội và cộng đồng. Xin đừng gieo vào lòng họ những mặc cảm tội lỗi vì đã bị Hội Đồng Liên Tôn bỏ rơi họ một cách không thương tiếc.”

*Xin đọc thêm trong

http://nguoivietblog.com/huyphuong/?p=292.

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu – Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 6 Jul 2026

Mày dậy đi thôi, đừng im lặng

Mới vài phút trước còn đùa vui

Hai thằng chia nhau một điếu thuốc

Cười khà qua làn khói trắng bay

Mày dậy đi thôi, đừng im lặng

Sao mắt nhìn tao thật buồn rầu

Một viên đạn lạc qua nón sắt

Sao mày vội bỏ bạn bè đi

Tao ước chiến trường là sân khấu

Nơi kép đào họ chết mỗi ngày

Đóng vai chết xong rồi đứng dậy

Ngày chết mấy lần vẫn sống nhăn

Mày dậy đi thôi cùng bè bạn

Nơi quán khuya tràn ly rượu cay

Nghe Thanh Tuyền ca Rừng lá thấp

Thành phố sau lưng mộng ước gì

Tao ước chiến trường là sân khấu

Nơi kép đào họ chết mỗi ngày

Đóng vai chết xong rồi đứng dậy

Ngày chết mấy lần vẫn sống nhăn

Mày còn nằm đó trong im lặng

Những vết máu khô đã tím bầm

Đôi mắt hai mươi đang say ngũ

Nhưng là giấc ngũ của ngàn thu

Mày dậy đi thôi đừng im lặng

Rừng lá u linh tiếng cú kêu

Ngoài kia hỏa châu thay nến niệm

Trong tiếng trực thăng hối hả về

Ngoài kia hỏa châu làm nến liệm

Trong tiếng trực thăng hối hả về

Lát nữa đây, trực thăng sẽ đưa mày ra khỏi nơi đây

Mày trở về và sẽ không bao giờ trở lại

Hãy ngũ giấc ngũ thật bình yên

Không còn nghe tiếng đạn pháo

xé toan giấc ngủ trong những đêm bên chiến hào

và trong cánh rừng khuya.

Bang Bang

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 30 Apr 2022

Post by Sơn râu 6 Jul 2026

Tôi vẫn đứng chỗ ấy, không dời đổi. Đan Minh muốn tôi chờ cô ở đó và tôi nghe theo. Khá xa cánh cổng Đan Minh sẽ xuất hiện vào lúc mười giờ rưỡi tối. Kín đáo, hơi khuất lấp. Tôi tự hỏi, có phải Đan Minh muốn thế không? Bản thân, tôi cũng chẳng ưa chường mặt ngoài vũng sáng. Bóng tối giam cứng tôi lại bằng sự độ lượng của tàn lá xum xuê trên đầu, buông rủ xuống và như mọi khi nó phả cho tôi chút hơi thở mát lạnh của thứ cây bề thế có tuổi thọ già bằng những trang cổ tích.
Đan Minh làm việc trong một quán bán cà phê luôn đông khách, nếu có đứa rộng lòng đòi đưa cô về, hẳn cô không khó để tìm cách từ chối: Tôi lỡ ký hợp đồng với một gã xe ôm rồi và hầu như chưa bao giờ hắn sai hẹn cả. Hắn là cái đồng hồ chạy pile chẳng hao hụt năng lượng, hắn tựa một đại diện cho thứ công ty trách nhiệm hữu hạn phục vụ đối tượng bằng phương châm “đinh đóng cột”. Rất uy tín.Người hành nghề chạy xe ôm và tôi, có riêng một điểm khác biệt. Tôi dấu che thân phận trong bóng tối trong khi bọn người kia thường lựa chỗ sáng mà quần tụ, mà chào đón, mà rước khách, mà chèo kéo. Họ am tường hầu hết những con đường nằm chằng chéo đè lên nhau vô tội vạ có trong thành phố bị cắt manh múm. Còn tôi, chỉ rành đường đi lối về với khu vực được khoanh vùng dài cỡ 7 km: Lộ trình từ quán cà phê đâm đầu tới nhà trọ. Thỉnh thoảng phá lệ được chạy xa hơn, Đan Minh vẽ đường và đó là những tối cô cao hứng đãi tôi đi ăn khuya. Một tô cháo gà hoặc một tô cháo cá. Đôi khi mưa đêm thầm lặng nghiêng hạt nhỏ chẳng làm kinh động một ai, chúng tôi tấp vào lề đường để ngồi bên gánh bún bò “tối lửa tắt đèn”. Mùi khói than vừa vùi vào đống tro tàn và chủ nhân, một mệ già cỡ 100 tuổi đã rộng lòng dùng vá cạo đáy nồi bán tới giọt nước cuối. Mười giờ bốn lăm, người sau chót bước ra khỏi quán, tôi nghĩ vậy. Và tôi đã chạy tới sát bên lưng. Hơi diêm dúa, không trẻ nhỏ, người đàn bà ngó tôi với tất cả vẻ dè chừng, phòng thủ. Xin lỗi chị, tôi chờ Đan Minh đã lâu mà chẳng thấy… Nó kêu đau bụng, nó nói chắc em ngộ độc thực phẩm, nó kêu xe ôm chở qua nhà thương lúc tám rưỡi chín giờ gì đó, lâu rồi. Người đàn bà không còn điều gì để nói thêm, bước đi như cơn gió vừa thổi ngang đã lùa sạch những gợn lòng. Để lại một lượng thông tin hơi bất ngờ khiến tôi chẳng kịp trông rõ màu áo. Hình như bà mặc một chiếc váy ngắn, trên đầu gối cả gang tay và là thứ mà Đan Minh diện khi tới quán. Tôi ngồi trên yên xe, máy vẫn nổ, xăng vừa châm đổ tới nửa bình trước đây cả tiếng. Đầu óc tôi như được chạy bằng dầu cặn, cà rịch cà tang khởi động tới năm bảy phút mới đưa tới quyết định: Phóng qua nhà thương.

Thành phố chỉ có duy một bệnh viện và họ gọi là bệnh viện trung ương. Nếu đã là trung ương thì những bệnh viện “địa phương” kia nằm ở đâu? Tôi đã ba chục tuổi đầu, tôi chẳng biết cách để giữ mình nhưng nhờ trời, bệnh hoạn là thứ tôi chưa hề đối diện. Tôi sống phây phây, như cách mà Đan Minh nhận xét và hồn nhiên tới độ chẳng nhớ chính xác địa chỉ của nhà thương lớn nằm ở nơi nao. Nhà chen lấn, mọc tuỳ tiện chắp vá hai bên đường, những cánh cửa đóng kín kia, bản thân nó giữ khu biệt từng nhà thương nhỏ. Không đúng sao? Mỗi đơn vị gia cư đều tích tụ ở bên trong địa phận, lẻ tẻ những niềm đau cá biệt mà muốn sống họ phải tự băng bó lấy vết thương. Tình yêu có khi là con dao hai lưỡi, vin vào đó để tìm lạc thú, đôi khi chính nó tước đoạt hết nhựa sống của đời người. Chật vật để hiểu ra, đi tu là cách thế anh buông con dao kia xuống khỏi tay cầm. Khi xa vật làm chấn thương gây đổ máu kia anh mới mạnh miệng hô hoán: Buông đao có thể thành Phật.

Tôi là ác quỉ, rồ dại chạy giữa đêm đen, gần sang ngày mới thì chạm trán với dãy cao ốc có cắm chữ bệnh viện trung ương bằng xi-măng nhô ra trước mặt tiền lầu một. Đèn ở đó thắp sáng, phơi bày sự ghẻ lạnh như một thứ bệnh viện tâm thần. Hoặc không, nó có khả năng xua đuổi những kẻ “tâm thần” như tôi. Tôi mang xe đi gửi. Gửi xong tôi nhắm cái bảng sáng đèn nổi rõ một dấu cọng màu đỏ chót quờ quạng bước tới. Tại sao là dấu cọng mà không là dấu trừ, hoặc chia? Tôi nghĩ chỉ riêng khu hộ sinh mới có quyền treo tấm bảng kia, bởi hai vợ chồng dìu đỡ nhau tới đó, phút giây sau họ sẽ được cọng thêm một nhân mạng, em bé ra đời khóc oe oe: đời là bể khổ. Những khu vực khác đều lảng vãng bóng dáng tử thần, sẽ chia chác, sẽ khấu trừ, sẽ chiếm đoạt từ bạn những giây mơ rễ má về cái gọi là niềm vui thân thương. Làm sao cộng hưởng được với nó?

Giống như đa phần kẻ vô ra dưới chữ thập đỏ, tôi cũng mang một bộ mặt khó đăm đăm. Bơ phờ, xanh xao, hoang mang, bức bối, chẳng còn lòng dạ nào thì cũng chung một nghĩa. Tôi bước lại gần tấm bảng “Phòng cấp cứu” để hỏi một ông mặc đồng phục bệnh viện. Bằng tất cả những diễn đạt rất mạch lạc mà tôi có, tôi trình bày nguồn cơn và ước ao được nhìn thấy kẻ ngộ độc thực phẩm kia. Những thứ nghe nao lòng nọ như không chạm phải màng nhĩ của ông ta, dửng dưng, mắt không dời đổi, vẫn đặt để trên một vuông giấy kẹp trên tấm bìa cứng. Nếu tôi là Thiên Lôi đang nắm ở tay cây búa, tôi sẽ cãi lệnh trời mà giáng cho thằng chả một búa, để xem hoạt cảnh khi người ta hốt hoảng mang nạn nhân bất lịch sự kia đi sơ cứu nó như thế nào. Một ông Thiên Lôi từ ngoài đường bước vào, xô tôi sang bên, móc túi đếm tiền rồi bỏ vào phong bì đặt nó trước mặt kẻ lãnh cảm kia. Ba mươi giây sau quyền uy của Thiên Lôi mất búa được người đời nể sợ, ưu tiên giải quyết, trả lời minh bạch những gì sứ giả của Trời muốn biết. Và vị sứ giả kia luôn mồm đù mẹ, nóng nảy như anh ruột của Trương Phi.

Tôi đứng quan sát hiện trường rõ lâu, sau rốt tôi nhìn mặt một cô y tá để đặt cược sự rủi may. Tôi cuốn lại những tờ giấy bạc sau khi móc sạch túi quần, nắm lấy tay cô dáng điệu thành khẩn: Chị làm ơn giúp em, tha lỗi em, lòng em như tơ vò. Được, về điều gì hẳn thủng thẳng nói, chuyện gì vẫn còn ở đó, hổng trốn khỏi đâu. Y tá đút tay vào túi áo. Túi may to như thể tất cả những dụng cụ y khoa có thể nhét được vào đó, không cứ là xấp tiền hèn mọn, không cứ là ống nghe thăm bệnh, không cứ là cả nạm viết xanh đỏ gắn nắp ở đó, không cứ là vật đo nhiệt kế, không cứ là cây đèn pile nhỏ chút xíu, không cứ là cặp găng cao su đã qua sử dụng, không cứ là khẩu trang bèo nhèo.

Đan Minh, nữ, ba mươi lăm tuổi, đau bụng, nghi là ngộ độc thực phẩm, bắt xe ôm tới bệnh viện khoảng chín rưỡi mười giờ. Để cẩn thận tôi moi ra được từ bót đựng giấy tờ tấm ảnh chụp khuôn mặt một thiếu nữ ngó sầu mộng chỉ trỏ cho người ta nhận diện. Anh đứng yên ở đây, chớ bước qua lằn vạch đỏ kia. Tôi sẽ đi dọ hỏi, chậm lắm là nửa giờ sẽ trở lại. Đan Minh à? Cái mặt sao trông quen quá. Người y tá biến mất sau tấm màn nhựa bị cắt thành từng vạch buông rủ. Không chắc là sau nửa giờ tôi đếm được có bao nhiêu đường xẻ trên tấm màn tan nát kia. Thay vì lấn sâu qua đường sơn đỏ vạch trên nền xi-măng lầy lội sẽ bị la ó việt vị này nọ, tôi bước ra khỏi vùng cấm địa để nhập chung bầy đàn với bọn người “tang gia bối rối” để đứng hút thuốc. Trong hoàn cảnh này, trong phút giây hoang mang cùng cực này, chẳng có bằng hữu nào sẵn lòng xoa dịu hồn mình bằng khói thuốc cả. Bia rượu và thuốc lá, trời sinh chúng ra là để cứu lấy bọn người bất hạnh đấy thôi. Giống như vai trò một người mẹ, thượng đế đã phán: Tôi chẳng thể có mặt ở khắp nơi, vì thế tôi đã tạo ra hình ảnh một mẹ hiền. Đan Minh sẽ là người mẹ dịu dàng nếu cô đồng ý thuận lòng lấy tôi làm chồng, có nghĩa là một ngày nào trong tương lai, cô nói sau bao đắn đo, hãy cấy vào trong tôi một hạt giống của bạn.

Tôi ném điếu thuốc xuống đất, bệnh viện bề thế không sắm được một cái gạt tàn mặc dù họ có gắn tấm bảng: Khu vực được phép hút thuốc. Chỗ này cũng không trồng cây để chúng làm điều hoà lượng môi sinh. Nếu có cây, người ta dễ nhìn nhận cả đống thuốc lá cụt ngắn kia là hoa lá của cây rụng xuống vương vãi cho cuộc tuần hoàn hoa nở lại tàn. Tôi đi vô sát lằn sơn đỏ chờ đợi người hảo tâm. Cô y tá đẹp người đẹp nết kia đã xuất hiện. Anh có nhầm lẫn không? Trong sổ nhập viện ở phòng cấp cứu hôm nay không lưu tên Đan Minh. Không luôn cả trường hợp ngộ độc thực phẩm. Có năm trường hợp, hai tai nạn giao thông, một uống thuốc độc quyên sinh và hai do hỗn chiến đâm chém. Nạn nhân là hai nữ và ba nam.

Cô y tá có vẻ tận tuỵ khi được cậy nhờ giúp đỡ, hẳn cô rất mát tay nếu đưa mông cho cô chích thuốc. Tôi chân thành cám ơn và tôi ước ao nếu bị xe đụng, chở vào đây cô sẽ là người đè tôi ra vạch áo xem lưng. Ở đây, thời buổi này, nếu không vào ra bệnh viện, cứ phây phây như tôi thì rõ là đồ lạc hậu. Không nhập viện thế thì Đan Minh đi đâu? Từ bao giờ, cô đã mang hạ sách ra lừa dối nhau? Đi tới chỗ gửi xe thì có đứa nhận diện, gọi giật tên tôi. Tôi không may mắn để còn mẹ hiền tới lui han hỏi, tôi trơ trọi thực sự ở thành phố này, chí thú mơ mòng để tâm duy tới Đan Minh, vậy mà ngờ đâu tôi còn một ai khác nhìn nhận ra tôi để lạc giọng thét gọi. Đèn trên đầu tôi bạc nhược soi rõ một khuôn mặt khô héo, gầy ốm, tóc rối bụi đường. Hắn làm khó bộ nhớ của tôi, như thể ổ cứng một giàn computer vừa bị vi trùng thâm nhập. Thời gian làm “tin tặc” hay con người ưa sắm riêng những mặt nạ. Đù má bao lâu rồi thằng cà chớn? Mày làm gì ở đây?
Chữ cà chớn hắn nói giúp tôi nhớ lại phần nào. Chỉ có hắn mới gọi tôi là thằng cà chớn. Ủa, Chơn cà chớn, ừ, quả là lâu thật. Hắn nắm bàn tay tôi, bắt lấy và lay lay như xua đuổi mộng mị. Mồ hôi đổ trong lòng bàn tay hắn, tuy vậy da thịt kia quá đỗi lạnh tanh. Một thây người, một tử thi đều thủ đắc lấy thứ hàn khí ấy. Bàn tay của mẹ khi tôi nắm lấy phút sau cùng trước khi để cho người ta tẩm liệm cũng lạnh lẽo như vậy. Hắn đã chứng minh cho tôi thấy, lạnh cẳng hoặc lạnh tay thì không riêng người chết mới có quyền cưu mang. Người ta rất không ăn hô nói thừa khi ta thán: Sống đây mà xem như chết rồi.

Má tao vừa gánh hàng trong chợ đi ra thì bị xe điên leo lề cán phải. Họ đã chuyển bà cụ lên phòng hồi sức. Còn mày, thằng cà chớn? Tôi đang tìm cách nguỵ tạo một tình huống để đặt điều dối gạt. Tìm chưa ra nên đánh trống lãng. Tao không biết cà chớn nhằm minh hoạ ra thành phần nào, tuy vậy tao vẫn vui khi nghe mày luôn kêu tao là thằng cà chớn. Tại sao? Vì thân thiết mới gọi nhau thế, đúng không? Hắn đặt dấu hỏi. Tôi rút tay về: Tại vì hơn mười năm nay chẳng còn ai kêu tao là đồ cà chớn. Đôi khi người ta cần sống lại những ngày tháng cũ, dù đó là kỷ niệm xấu. Đù má không cà chớn thì còn chữ gì khác? Mày yêu con Thuỷ mà làm gì trong khi nó đang cảm tình sâu đậm với tao. Xôi hỏng bỏng không, mày đẩy nó ra đứng ở ngã ba đường và nó lựa chọn bước đi ở lối thong dong nhất, không ngó ngàng tới mày cũng như tuyệt tình với riêng tao. Tụi mình có ăn học chứ vào thời buổi này e mang đao kiếm ra mà nói chuyện đạo lý. Mày vào thăm ai hay mày đã thôi nhiệm vụ? Đã thôi nhiệm vụ. Vậy được, tụi mình đi kiếm chỗ ngồi nói chuyện. Mười năm rồi sao? Ừ, tao độ chừng vậy, có khi hơn. Không tới đâu, mới quá mà, đâu như tháng trước, bữa nhiếp bữa kia.

Chỗ ngồi nói chuyện không khó kiếm, đó là quán cà phê nằm sau lưng bệnh viện. Đoạn đường chẳng mấy xa, đủ để tôi biết hắn làm công nhân viên trong nhà máy cung cấp điện lực cho thành phố và những vùng phụ cận. Nơi này mất điện nơi kia sáng đèn, sự cố nọ núp bóng dưới hai chữ “bôi trơn” và thứ dầu mỡ kia cầm chân hắn lại, chẳng muốn dời đổi. Nói cách khác, người ngợm hắn trông như kẻ chết đói thiếu cơm nhưng trong túi hắn, ra đường thủ không dưới hai chục triệu. Hắn giàu có tới độ muốn rách túi quần. Thằng cà chớn như tôi chỉ cần một phần tư tiền bạc của hắn cũng đủ ấm đời muôn niên.

Hắn gọi bia cho cả hai. Hắn nói má hắn đã già, không biết có qua khỏi vụ này không. Hắn nói thằng tài xế xe điên đã bị bắt giữ, đù má phải mà tao có mặt ở hiện trường, tao nhảy vào đánh hôi thằng cà chớn kia một trận cho hả giận. Hết nửa chai bia hắn mang chuyện cô bạn học ngày cũ ra nhắc. Tao hỏi thật, thời đó mày mần ăn với con Thuỷ chưa? Tầm bậy, chỉ cầm tay chứ không được nắm chân. Người ta con nhà lành, cầm chưa đổ mồ hôi tay thì vùng vằng quay bước. Chữ yêu là chữ thậm khó nói trong khi chữ mần ăn kia thì vĩ đại cỡ như làm một cuộc cách mạng. Vậy sao? Hắn cười. Tao hôn con Thuỷ rồi, mày tin không? Hôn cho mềm môi, hôn cho tới lúc phát hiện ra mày thầm thà thậm thụt đứng góc đường, đù má thằng cà chớn, uống hết cái này coi. Đã lâu, tôi mới được uống bia. Hắn nói sức mày bao nhiêu thì cứ dung nạp, đừng lo, tao chi trả. Thật kỳ cục, thành phố lớn lao gì cho cam mà sao ra đường không đụng mặt? Tao tưởng mày chết mất đất từ khuya rồi chứ. Mày sẽ thấy thêm một điều kỳ cục khác, là mày có ưa đi thăm con Thuỷ không, tao dẫn đi.

Tôi uống qua chai bia thứ hai, người tôi bắt đầu nóng. Tôi mạng mộc, bình địa mộc, nghe nhắc tới thuỷ mường tượng ra bao điều liên hệ tới ướt át, tới sự thẩm thấu làm người giải hạn, thôi khô khan, thôi cùn mằn, thôi sỏi đá, khiến tôi bức rức. Kỳ cục. Tôi nói nhỏ mà hắn nghe được. Thuỷ sẽ ngạc nhiên vô hạn khi thấy tao dẫn xác mày tới. Than ôi, cuộc đời này là cả một sắp đặt tréo cẳng ngỗng! Nhà triết học đặt chai bia xuống bàn. Thở than là thở than vậy chứ mặt mày vẫn tỉnh khô. Dạo đó tao có mang Thuỷ lại nhà chào má tao. Mày biết sao không thằng cà chớn? Má tao gặp mặt nó phút ban đầu là đã chịu đèn con Thuỷ ngay. Bả ra chợ sắm sửa cho nó bao nhiêu là thứ nội y, bả đơn giản nghĩ một cọng một là hai, cứ đoan chắc Thuỷ sẽ là con dâu. Coi, cái lưng ong, cái eo thon cái ngực nở cái xương chậu cái dáng đi, rồi mai này nó đẻ cho má biết bao nhiêu là cháu ngoan của nội. Giờ này má tao đơn thân nằm trong bệnh viện, giờ này con Thuỷ…

Đi. Hắn quyết định. Hắn trả tiền bia. Đời vô thường. Cơ quan tao đang phát động bài trừ tham nhũng, mai hậu có thanh tra ngoài trung ương vào xem xét tình hình, đù má tao chủ trương cứ chơi cho bỏ những ngày cơ cực. Con y tá đằng chỗ bệnh viện nói nghe thấm thía, nóng ruột mà ích gì, chuyện gì cũng còn có đó. Đù má, có nhiều chuyện rất dễ bốc hơi đấy, em ạ! Đừng đóng khung bất cứ điều gì vào chân lý này nọ mà hố to. Mày theo tao, nghe thằng cà chớn.

Những ngọn đèn đường vẫn thoi thóp, tuy đã sang ngày mới nhưng bình minh còn dùng dằng ở chốn xa chưa kịp về. Mặt trời hẳn ngủ nướng, nếu mặt trời bị tai nạn giao thông, ngày ấy hẳn tận thế. Thôi biết tới má, tới cà chớn, tới đù má, tới Thuỷ, tới người tình không chân dung: Đan Minh. Tôi không dại khai cho hắn biết, so ra làm con mèo biết dấu cứt bao giờ cũng đáng hoan nghênh. Cái bi thảm của đời này là người ta biết rõ lý lịch nhau quá. Dẫm đạp vào đời tư của từng cá nhân như bước chân vào vườn hoang để tuỳ tiện bức hái hoa, dày xéo nó với thứ luận điệu của đứa thất học. Nếu có một thứ đảng cà chớn hiện hữu e sẽ dễ thở hơn, nhỉ?

Ở bãi gửi xe có tên ăn mặc rất đỗi lịch sự. Đứa thanh niên tóc chải tém mướt rượt như vừa tắm táp xong, đôi mắt có vẻ tinh tường quan sát thằng cà chớn rồi quay qua hỏi hắn, nhân viên nhà đèn: Ngày mai chắc hẳn trời đổ mưa? Chú thợ điện đáp, chẳng đắn đo: Không, ngay giông cũng chẳng có. Đứa thanh niên vung tay giữa khoảng không, tức thì dưới tàn lá rậm chôn dấu nhiều bóng tối, cánh cửa chìm lẫn trong bức tường phía sau được mở ra. Có lẽ chất xúc tác của hai chai bia đã mang tôi nhập vào cảnh giới của xứ ngàn lẻ một đêm và tôi đồ rằng hắn vừa làm Ali-baba để đọc khẩu lệnh cho hang động thức giấc mở lối. Phải tích luỹ uy lực mới đọc đúng câu chú. Phải giang hồ lắm bận mới tường ngõ đi lối về. Công nhân viên nhà đèn, chú thợ điện dắt tôi vào nơi cố tình bị mất điện. Chú quen với sự cố tối tăm nên chú xăm xăm. Mày đừng ngờ vực chuyện gì cả, cứ xuôi tay tự nhiên như nhiên thôi cà chớn ạ. Sống mà chống đỡ với bao hoang mang toan tính phòng thủ thì còn xơ múi gì cái cuộc trần ai phù du chóng sang trang này!

Song hành với một kỹ sư về ngành điện lực có lý lịch tốt, còn ẩn nấp bên hông một ông nội ưa triết lý vụn vặt. Lý ra hắn phải là đứa béo tốt đỏ da thắm thịt, cái khô quắt gầy còm hắn có do bởi cố tật mông muội ưa bàn luận chuyện đời phải quấy sáng nắng chiều mưa. Hắn ôm cả núi tiền và hắn sợ có khi đồng bạc tan chảy thành nước, trôi sông đổ biển. Hành lang không mấy dài, thắp từng ngọn bạch lạp cách khoảng, cháy với thứ đốm sáng lung linh như biết thổn thức khi bề dài thân thể bị cạn ngắn dần với lệ trắng tuôn dòng chảy xiết xuống cái chén nhỏ làm bệ cắm.

Hắn rỉ tai nhỏ to trao đổi mật khẩu một hồi với cô gái phục sức như thời tiền sử. Ăn lông ở lỗ cũng có nét đẹp ngời sáng của nó chứ không cứ ngó ra cái đe doạ bị xẻ thịt phanh thây ăn tươi nuốt sống. Này thằng cà chớn, con Thuỷ đang ở trong phòng số 5, tao để cho mày mình ên đi gặp nó đột ngột mà thú vị hơn. Ngày trước chỉ được nắm tay thôi, nghe thảm, bây giờ thì tha hồ dày xéo nhé. Đù má mày chơi sao cho ngon lành đừng để người xưa mắng mỏ: Đồ cà chớn! Hắn trao vào tay tôi chiếc chìa khoá. Rồi vỗ vai: Vô tư tới bến.

Tôi tìm cánh cửa có gắn số 5 để đút chìa khoá vào. Đút trơn tru, đút sít sao nhưng chưa vội vặn mở. Tôi tập hít thở, tôi tập điều hoà kinh mạch và tôi cố nhớ lại gương mặt xinh đẹp của Thuỷ. Cửa mở, cửa đóng trong nhẹ nhàng cẩn trọng, như sợ tiếng động dấy lên sẽ phương hại tới nỗi đau của kẻ mang bệnh yếu tim. Đèn trong phòng thắp sáng nhưng là bóng nhỏ yếu watt, tường vôi hồng và chiếc giường trải khăn trắng có mùng buông lơi một góc giường. Không một vết nhàu trên bề mặt tấm nệm dày. Tấm nệm chẳng dấy cơn chấn động khi Thuỷ rời đít đứng lên. Thuỷ chẳng có mảnh vải che thân nên ngó Thuỷ lạ, không trùng với Thuỷ phục sẵn trong trí tôi.
Tôi xê dịch chân bước, lê lại gần, đứng yên cho Thuỷ dễ bề quan sát. Một thằng cà chớn thì có bị thời gian tẩy rửa chút gì không? Nó phong trần hay nó vẫn thuần là đứa bạn học dại khờ được cầm tay mà xém chút là xuất tinh sướng ngất.

Sao đứng như phổng đá thế? Thuỷ đã lột truồng, người Thuỷ không đáng để khuấy động chút lửa lòng trong anh? Do đâu anh tìm ra Thuỷ? Cớ gì anh lựa Thuỷ mà không là mười cô kia? Họ lấy của anh bao nhiêu tiền? Sau một loạt câu hỏi Thuỷ ngồi lại xuống giường. Cúi đầu, tóc che mặt với bờ vai run. Tôi bước lại, tìm bàn tay Thuỷ ủ vào tay tôi vụng dại. Tôi cảm nhận cái giá lạnh từ đó lan nhanh vào xúc giác mình. Lạ quá, chỉ có đôi tay của Đan Minh là ấm áp, cô lớn hơn tôi 5 tuổi và có đôi lúc tôi mang ảo giác mình được bao che, hỏi han, bảo vệ, chăm sóc ân cần tựa một người có chung liên hệ huyết thống. Bây giờ sống ở đâu, đang làm việc gì và hẳn là trốn vợ đi tìm cảm giác lạ? Tôi nói, Thuỷ cứ hỏi thêm đi. Thuỷ có quyền hỏi. Đổi lại tôi chỉ xin hỏi một câu thôi. Thuỷ rút tay lại, dùng nó để bịt miệng tôi. Thuỷ hôn anh, có được không? Tôi nhắm mắt. Ban đầu là một hương mùi thoảng qua, một vị ngọt tan nhanh trên đầu lưỡi và sau cùng, hoán đổi là vị mặn của giọt nước mắt vừa len lỏi chảy xuống trên môi.

Chúng ta nhập cuộc thôi. Đừng phí uổng tiền bạc. Nếu anh ngại Thuỷ có sẵn áo mưa đề phòng. Đừng nói năng, chớ cật vấn. Không phải là tình bạn của chúng ta đã chết từ lâu rồi sao? Tôi ôm Thuỷ vào lòng. Tôi không muốn làm người dưng, tôi không ngủ với Thuỷ và như thế giữa đôi ta, tình bạn vẫn còn đó, trước sau vẫn thế. Chiếc áo tôi đẫm ướt. Tôi mạng mộc, bình địa mộc và có cần thiết không, khi để mình bị úng thuỷ? Hãy đứng yên hứng chịu bao oan trái người ta bày tỏ trong câm lặng, đó là cách thế mà một thằng cà chớn sẽ không đủ sức với tới, làm được. Tôi chẳng hiểu hết nghĩa xấu của chữ cà chớn nhưng tôi tuyệt không thích ai gọi mình bằng chữ ấy. Thuỷ có gọi tôi là cà chớn không nếu tôi chẳng đi sâu vào người cô khi có cơ hội như hôm nay?

Anh chẳng mọc lên một ham muốn nào sao? Tôi nói có, đồng thời là sự tiếc nuối. Phải mà tôi có được chiếc điện thoại thông minh tôi sẽ xin lưu giữ hình ảnh của Thuỷ vào trong máy. Thuỷ vẫn cúi mặt, cô lắc đầu. Thường thì kẻ chụp ảnh họ luôn tìm thấy cái đẹp để nắm bắt, hiện thân của Thuỷ là cả một sự xấu xa. Anh tính đi bêu rếu Thuỷ sao? Ác đến mức khó tin. Chúng tôi nói toàn cả chuyện không đầu không đuôi, vô thưởng vô phạt mất gần tiếng đồng hồ cho khớp với thời gian mà kẻ mua hoa thôi kỳ kèo chuyện hương phấn. Tôi chào Thuỷ và nghĩ là sẽ không bao giờ gặp lại cô, ngoại trừ Thuỷ cho tôi địa chỉ nơi cô ngụ. Thuỷ im re, không phản ứng cho tới lúc tôi rời phòng. Cửa đóng lại, chia lìa hai thế giới như đã từng, như vừa thoát khỏi một cơn mộng.

Khi tôi trả lại chìa khoá cho cô gái ăn lông ở lỗ hồi nãy, cô thông báo là người bạn anh vừa rời đi vì có tin nhắn má anh ấy mất trong bệnh viện, nói thế để anh khỏi mất công đợi chờ. Cô không quên chúc tôi một ngày an lành. Tôi đón nhận lời chúc như tin rằng thành ý của người ta sẽ khiến mình nguôi ngoai muộn phiền. Tôi chạy xe về lại nhà thương trong bải hoải, má hắn mới mất và trước sau tôi không phải là thằng cà chớn. Tôi muốn sự có mặt của tôi sẽ an ủi hắn ít nhiều, để hỏi xem tôi có thể giúp được gì trong lúc tang gia bối rối.

Đù má thủ tục bệnh viện này không tài nào hiểu thấu, chúng bảo tao đợi họ xét nghiệm lần cuối, ghi biên bản rồi mới vào được. Để ký nhận, để thuận lòng, để không kiện tụng, để nhận xác. Đù má tao là thằng con bất hiếu, má ngắc ngoải ở đây mà con ham ra ngoải kiếm gái. Nhưng mà tình ngay, lính mới này chơi rất đạt, rất dễ lậm để ăn quen bén mùi. Hắn bật sáng cái điện thoại di động. Tao có lén chụp ảnh em, mùi đéo chịu được. Đan Minh hiện trong màn hình, rõ mồm một. Quen nhau như lia thia quen chậu, giờ này tôi mới lần đầu ngó thấy đôi vú đẹp não nề của cô. Còn mày? Thấy Thuỷ ra sao? Người nó tuy phai nhạt hương mùi nhưng dẫu sao còn nấn ná chút tình bạn. Ngủ với con bạn học cũ, mày có hưởng được cái cảm giác lạ lùng khó ăn khó nói không?

Tôi bắt chước thằng kỹ sư điện. Đù má, tao bắn nó hai phát. Bang, bang. Em sướng em la và em khóc. Em chửi, địt mẹ anh, đồ cà chớn! Sao lừa dối nhau? Sao đành dang tay xé nát tim đau!

Hồ Đình Nghiêm

Biệt kích Delta – Hố cạn

Donald J. Taylor, Sergeant Major (Retired), U.S. Army Special Forces
Project Delta Recon Team Leader, July 1968 – July 1970

Vũ Đình Hiếu chuyển ngữ

Bộ chỉ huy B-52, hành quân Delta, dưới quyền chỉ huy của liên đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ có nhiệm vụ đưa các toán biệt kích xâm nhập khu vực địch kiểm soát để lấy tin tức. Những tin tức về đơn vị địch rất quan trọng cho các đơn vị Hoa Kỳ, VNCH soạn thảo kế hoạch hành quân, dựa trên những tin tức về quân số, hỏa lực và vị trí của đơn vị địch.

        Nói cách khác, các toán biệt kích Delta có nhiệm vụ tìm dấu vết của địch, nhận diện đơn vị, quân số, hỏa lực của địch, nhưng không cần thiết phải tấn công địch quân. Tuy nhiên, nhiệm vụ cho các toán biệt kích theo thứ tự ưu tiên: nếu có thể bắt sống tù binh đem về khai thác. Còn chuyện tấn công đơn vị địch là một điều ngu xuẫn, tự sát. Làm sao đưa một toán biệt kích sáu người đi tấn công một đơn vị cấp tiểu đoàn của địch.

        Khi xâm nhập vùng hành quân, các biệt kích phải luôn luôn nghĩ rằng, có sự hiện diện của quân địch, đâu đó trong khu vực hành quân. Thỉnh thoảng vẫn có trường hợp, toán biệt kích Delta được đưa vào vùng hành quân mà địch đã di chuyển đi nơi khác, hoặc không có bóng dáng địch hay họ chưa hề đặt chân đến khu vực này. Khi một toán biệt kích Delta xâm nhập vùng hành quân không có dấu vết của địch, trường hợp này gọi là “Hố Cạn”.

        Gặp trường hợp hiếm hoi này, toán biệt kích ra vào khu vực hành quân thoải mái, như đi nghỉ phép. Tuy nhiên cũng có những trường hợp “động ổ” như câu chuyện sau đây. Một kỷ niệm khó quên về “Hố Cạn” trong thời gian làm trưởng toán biệt kích Delta.

BOM DAISY CUTTER

        Khoảng giữa tháng Mười Một năm 1968, hành quân Delta được di chuyển từ căn cứ hành quân tiền phương (FOB) An Hòa, của TQLC/HK ngoài vùng I chiến thuật, bay thẳng về vùng 3, thiết lập căn cứ hành quân tiền phương mới bên cạnh phi đạo trại LLĐB Đồng Xoài. Không được nghỉ ngơi giữa hai cuộc hành quân, tuy nhiên chúng tôi được cấp chỉ huy an ủi, cho biết cuộc hành quân chỉ kéo dài đến khoảng 20 tháng Mười Hai. Chỉ để lại đơn vị trông nom, bảo vệ căn cứ cùng với yểm trợ, còn tất cả sẽ được đưa về Nha Trang mừng lễ Giáng Sinh, và năm mới. Nhưng thực tế, năm 1968, cuộc hành quân Delta kéo dài qua năm 1969.

        Một tuần trước lễ Giáng Sinh, chúng tôi sửa soạn về Nha Trang như cấp chỉ huy đã hứa. Bỗng được lệnh vào trung tâm hành quân (TOC) để nghe thuyết trình và nhận lệnh. Khu vực hành quân được trao cho toán biệt kích chúng tôi rộng 10×10 cây số vuông, rừng lá rậm rạp nơi phiá đông thị trấn An Lộc, tỉnh Bình Long. Tin tức tình báo cho biết có nhiều trại đóng quân cấp đại đội, tiểu đoàn của địch trong khu vực hành quân. Ngay sau đó, tôi đi bay với thiếu tá Không Quân Roscoe trên chiếc máy bay quan sát O-1 (FAC bird-dog), thám thính khu vực hành quân chọn bãi đáp (điểm xâm nhập, triệt xuất toán biệt kích).

        Bay thám thính trong một khu vực rừng rậm rạp, rộng lớn 10×10 cây số không phải là điều dễ làm. Cuối cùng hai chúng tôi đồng ý, khu vực thám sát là khu vực nằm giữa hai nhánh sông nhỏ và tiếp theo tìm điạ điểm xâm nhập. Tôi để ý đến một khoảng trống nơi góc tây bắc và hỏi thiếu tá Roscoe, sao lại có khoảng đất trống đó, và được trả lời đó là hố bom Daisy Cutter. Tôi đã đọc bài viết về loại bom BLU-82B “Daisy Cutter”, đến hôm đó mới được chứng kiến.

        Hố bom này rộng lớn hơn những hố bom mà tôi đã nhìn thấy trước đây. Quả bom tạo nên một khoảng trống, đường kính rộng khoảng 200 thước và rất tròn, phủ cát trắng nổi bật lên giữa một rừng cây lá mầu xanh thẫm. Theo tài liệu đăng trên báo Stars and Stripes, bom Daisy Cutter là một qủa bom to, nổ khi còn cách mặt đất khoảng vài bộ. Khi nổ sẽ giết hết cây cỏ, cả lớp đất mầu mỡ trên mặt đất trong vùng ảnh hưởng, tạo nên khoảng đất trống có thể đáp được bốn, năm chiếc trực thăng. Nhìn thấy rõ ràng từ trên không, hình tròn mầu trắng như có ai dùng kéo cắt ra từ một khoảng cỏ xanh, nên mới có tên “Daisy Cutter”. Tôi có thể chọn một bãi đất trống khác để xâm nhập, nhưng tính hiếu kỳ, tôi muốn đến tận chỗ để quan sát nên chọn đó làm điểm xâm nhập. Điều này sẽ làm tôi hối hận.

        Tôi hỏi thiếu tá Roscoe thêm về bom Daisy Cutter, nhưng ông ta không biết gì thêm, chỉ nói đã gặp một phi công C-130 thả loại bom này, và viên phi công trả lời rằng rất sợ khi phải bay thả bom Daisy Cutter. Quả bom được lăn ra cửa sau phi cơ, rơi xuống bằng dù dưới cao độ 6000 bộ, đủ thời gian cho chiếc C-130 bay ra khỏi khu vực thả bom. Trường hợp, nếu dù không mở, qủa bom chứa 13000 cân Anh thuốc nổ mạnh, rơi xuống nhanh hơn có thể gây nguy hiểm cho chiếc phi cơ C-130 cùng phi hành đoàn.

        Về đến căn cứ hành quân tiền phương Đồng Xoài, tôi hỏi vị sĩ quan S-2 (an ninh, tình báo tác chiến) về hố bom Daisy Cutter đó, nhưng ông ta cũng không biết, và cũng không có tin tức nào khác về một đơn vị nào đó đã đi hành quân ngang qua khu vực hố bom.

        Chiều ngày hôm sau, toán biệt kích của tôi chuẩn bị hành trang, vào trung tâm hành quân nghe thuyết trình lần cuối, rồi ra đi trước khi trời xập tối. Chiếc máy bay thám thính FAC, lên vùng trước, cho lệnh chiếc UH-1 đưa toán biệt kích vào bãi đáp “Mẹ của những bãi đáp” rộng lớn. Như thường lệ, toán biệt khi khi nhẩy ra khỏi trực thăng, chạy vào rừng tìm chỗ ẩn náu, nhưng xung quanh bãi đáp “Daisy Cutter” này không có rừng, chỉ có những khúc gỗ, thân cây đổ ngổn ngang, cao đến 50 bộ như một bức tường bằng gỗ.

        Trong những tia nắng cuối cùng của một ngày, chúng tôi nhìn xung quanh bãi cát trắng, bức tường gỗ bao quanh toán biệt kích Delta. Người nào cũng kinh ngạc, sức nổ của qủa bom đốn ngã những cây cao, rồi đẩy dạt ra xung quanh, tạo thành bức tường gỗ cao 50 bộ, với bề dầy 50 thước.

         Toán biệt kích chỉ còn cách leo ra khỏi bức tường trước khi trời tối hẳn, nếu không sẽ phải ngủ trong bãi đáp “Daisy Cutter”, điểm xâm nhập, là điều nguy hiểm không lường được. Chúng tôi đi vòng theo chu vi bãi đáp, tìm một chỗ chắc chắn, (vì là những khúc đỗ chồng lên nhau, cùng với đất cát…) để leo ra. Nhưng trời xập tối nhanh chóng và toán biệt kích phải ngủ lại bên trong hố bom Daisy Cutter.

        Sáng sớm hôm sau, chúng tôi đi tìm chỗ để leo ra, đi hết một vòng, trở về chỗ khởi điểm vẫn tìm không ra. Bức tường chỉ là những khúc gỗ chồng chất lên nhau, với sức nặng con người cùng với ba lô, súng đạn, leo lên cao sợ những khúc gỗ ở dưới bị chuyển động và bức tường sẽ xập xuống, có thể bị cây đè chết hoặc gẫy tay, gẫy chân. Vài người đã thử leo lên, được vài bước vội tụt xuống vì bức tường không chắc chắn.

        Đến giữa buổi sáng, khoảng 10 giờ, toán biệt kích vẫn còn nằm trong “lòng chảo”, chuyện leo lên bức tường gỗ rất nguy hiểm. Còn nguy hiểm hơn nếu địch quân khám phá ra vị trí toán biệt kích. Chúng tôi tiếp tục đi vòng tìm một chỗ tương đối chắc chắn, rồi người lính biệt kích đi đầu (point man, đã có nhiều kinh nghiệm) leo lên trước. Anh ta leo lên tới đầu bức tường, đảo mắt nhìn quanh rồi tụt xuống thật nhanh báo cáo, bên ngoài hố bom Daisy Cutter có một binh trạm bỏ hoang của địch, nhưng không chắc chắn địch quân đã thực sự bỏ đi hết.

        Đứng trước tình trạng, không còn cách nào khác, tôi ra lệnh cho người đi đầu leo trở lên quan sát binh trạm của địch. Nửa tiếng đồng hồ sau, anh ta ra dấu hiệu an toàn, không thấy bóng dáng địch quân, toán biệt kích Delta mới leo lên từng người một, thoát ra ngoài “lòng chảo”.

        Ra đến bên ngoài, toán biệt kích tập họp lại, di chuyển thận trọng, lục soát căn cứ đã bỏ hoang của địch. Trong căn cứ, có khoảng mười căn hầm, đều bị xập do quả bom Daisy Cutter tàn phá, nhưng chúng tôi không thể đoán được, địch có trong căn cứ lúc thả bom và có bao nhiêu tên bị chết vì qủa bom. Trong ngày hôm đó, chúng tôi thám sát binh trạm của địch và khu vực xung quanh hố bom và tìm thấy vài trạm canh phòng, tiền đồn nhỏ cho binh trạm của địch. Điều này đưa đến kết luận, quả bom Daisy Cutter được thả để tiêu diệt chỗ đóng quân của địch chứ không phải để làm bãi đáp trực thăng đổ quân. Và binh trạm giữa cánh rừng già này có thể chứa một đơn vị địch cấp tiểu đoàn.

        Những ngày kế tiếp chúng tôi di chuyển trong khu vực hành quân đã định trước, nhưng không tìm ra dấu vết hoạt động mới của địch quân. Có lẽ chúng đã quá khiếp sợ vì sức tàn phá của quả bom Daisy Cutter.

        Sau khi được trực thăng vào đón, đưa về căn cứ hành quân tiền phương. Sau phần thuyết trình, báo cáo, cả toán biệt kích kéo nhau vào căn lều uống bia. Pat Walters, toán phó tươi cười khi nghĩ lại chuyện toán biệt kích bị kẹt trong “lòng chảo”. Tất cả cùng cười, xin cám ơn Thượng Đế, cám ơn trời đất đã cho toán biệt kích chúng tôi một “hố cạn” vào cuối năm như một món quà Giáng Sinh. Nhưng tôi tự nhủ, lần sau phải “né” hố bom Daisy Cutter.

CHẤT ĐỘC DA CAM (AGENT ORANGE)

        Trong tháng Hai năm 1970, hành quân Delta di chuyển lên Phước Long, thiết lập căn cứ hành quân tiền phương nơi phi đạo trại LLĐB Bunard. Đến căn cứ hành quân ít lâu, toán biệt kích của tôi được nghe thuyết trình hành quân dò thám một khu vực mà cây cối đã bị khai quang, hủy diệt bằng chất độc da cam từ những năm 1966, 1967.

        Trước khi khu rừng bị khai quang, tỉnh Phước Long có những cánh rừng rậm rạp, bao la, bát ngát. Dưới những tàn cây rậm rạp địch quân xây nhiều căn cứ, binh trạm và hệ thống đường mòn để chuyển quân, vũ khí, đồ tiếp liệu từ Miên sang. Cũng vì vậy, nhiều cánh rừng đã bị phi cơ Hoa Kỳ rải thuốc độc Da Cam, khai quang cho phi cơ quan sát theo dõi, tìm kiếm những cuộc chuyển quân của địch. Nhưng đến bây giờ (1970), nhiều cánh rừng, cây cỏ đã phục hồi trở lại, gây khó khăn cho phi cơ quan sát. Và nhiệm vụ cho toán của tôi xem xét những con đường mòn để biết địch có xử dụng lại hay không. Nhiệm vụ có vẻ đơn giản, rõ ràng nhưng lại không thực sự… đơn giản như chúng tôi tiên đoán.

        Cũng như lần trước, sau buổi thuyết trình, tôi phải đi bay trên chiếc máy bay thám thính O-1 để thám sát khu vực hành quân, tìm bãi đáp chính, bãi đáp phụ cho toán biệt kích xâm nhập. Tôi đã từng tuần tiễu khu vực này trước đó, khoảng năm 1966, 1967, cùng với một đại đội Dân Sự Chiến Đấu.  Lúc đó khu rừng đã bị khai quang nên tôi có cảm tưởng như mình đã quen thuộc khu vực hành quân. Nhưng không dè những gì mình trông thấy trong chuyến bay hôm đó.

         Chúng tôi bay trên cao độ 2000 bộ, khu vực hành quân nơi cuối đường chân trời. Một mầu xám ảm đạm thay vì mầu xanh của lá cây. Chiếc máy bay quan sát “Bird Dog” bay vào, tôi nhận thức rằng, cả một vùng rừng núi hùng vĩ không còn, những cây gỗ tốt, chắc chắn cao 200, 250 bộ, thân cây to, với đường kính 15, 20 bộ đứng sừng sững, hiên ngang. mặc dầu đã chết ba bốn năm qua. Những cây cổ thụ đã trơ trụi hết lá, chỉ còn trơ lại những cành khô, như những bộ xương với những cánh tay dài lên bầu trời.

        Khoảng bốn năm về trước, tôi đã cùng người Thượng trong lực lượng Dân Sự Chiến Đấu làm bá chủ những khu rừng này. Gần như chúng tôi cũng là một phần của khu rừng, cũng như chim chóc, cỏ cây, và những loài động vật khác. Một đại đội DSCĐ người Thượng đi chuyển ngang qua khu rừng, gặp trái cây ăn được họ hái ăn, nhưng ăn tại chỗ chứ không đem về. Họ sống hòa hợp với thiên nhiên chứ không phá hoại. Trên thực tế, những cây cổ thụ to lớn đó được họ tôn thờ như những vị thần linh. Tôi băn khoăn, không biết những người Thượng đơn sơ, mộc mạc nghĩ sao, khi chúng ta đã hủy diệt thiên nhiên, những vị thần của họ.

        Đại đội DSCĐ người Thượng là một gia đình lớn, một gia đình nối dài của họ. Người nắm quyền đại đội trưởng cũng như ông nội, những người con trai của ông ta sẽ là những trung đội trưởng… Thường họ là những chiến sĩ can đảm, thợ săn giỏi. Người Thượng làm nhiệm vụ hướng đạo (đi đầu), tìm dấu vết rất “chuyên nghiệp”, mà không cần phải qua một khóa huấn luyện, trường, lớp nào. Họ đi rừng rất giỏi và rất trung thành với người Hoa Kỳ.

        Một kỷ niệm khó quên, tôi được chứng kiến sự can đảm của một đứa trẻ người Thượng mười ba tuổi. Tôi không nhớ tên, vác khẩu trung liên Bar nên đặt tên Barman (người xử dụng trung liên Bar). Barman vác khẩu súng, to lớn hơn người, cũng lội rừng vượt suối như mọi người. Chuyện đau lòng, đứt ruột khi phải chứng kiến, người trung đội trưởng DSCĐ cũng là cha của Barman, bế xác con đem về cho mẹ nó.

        Mỗi lần có giao tranh lớn, ngôi làng Thượng như trải qua trận “đại thiên tai”, khi chúng tôi đem xác cha, chồng, anh em, con của họ về. Những người đàn bà Thượng sẽ khóc than, kéo dài mấy ngày, cho đến khi khô cạn nước mắt. Đành rằng, trận chiến nào cũng có những mất mát và chúng ta phải chấp nhận, tuy nhiên nhìn những bà mẹ ôm xác con… thật không đành.

        Trong khu vực hành quân, trước đó cũng là căn cứ điạ của công trường (sư đoàn) 9 VC, có những căn cứ, trạm binh của các trung đoàn 271, 272, và 273. Trong chuyến bay thám thính này tôi tự hỏi, không biết họ còn đó không?

        Tôi chọn một điểm xâm nhập trong một bãi cỏ tranh, trực thăng đáp dễ dàng vì cánh rừng đã chết. Một điểm triệt xuất, nơi hướng bắc khu vực hành quân. Tôi dự trù chuyến hành quân sẽ kéo dài bốn ngày và toán biệt kích sẽ di chuyển đến bãi đáp trực thăng để triệt xuất. Khu vực hành quân xâm nhập nằm nơi phiá bắc tỉnh Phước Long, có nhiều dẫy đồi nhỏ và những con suối  con. Ngoài vấn đề chính là địch quân, còn vấn đề nước uống cũng là một điều đáng để ý. Lúc đó đang giữa mùa hè, dưới sức nóng oi bức của miền nhiệt đới, vác ba lô trèo đèo lội suối, một người lính cần uống hơn ba lít nước mỗi ngày. Không biết những giòng suối nhỏ vẫn có nước hay đã cạn trong mùa hè.

        Do đó toán biệt kích vẫn phải tìm chỗ lấy nước hàng ngày. Thiếu nước, con người kiệt sức nhanh chóng. Mỗi biệt kích quân, đem theo sáu bi đông nước và họ sẽ uống hết trong một ngày lội trong rừng. Hành quân biệt kích trong mùa hè, vấn đề quan trọng nhất là tìm nước, sau đó mới là địch quân. Chỗ lấy nước cũng là tử điạ, vì địch quân cũng phải ra suối lấy nước.

        Khi quay trở về căn cứ hành quân Bunard, tôi thuyết trình cho toán biệt kích. Toán của tôi gồm có sáu người: toán phó là trung sĩ nhất Terrence (Terry) W. Pardee, nhưng anh ta đã hết thời gian phục vụ, về Hoa Kỳ, trở lại đời sống dân sự. Trung sĩ nhất William R. (Grit) Pomeroy Jr. vừa mới bổ sung cho toán biệt kích và đây là chuyến đi đầu tiên của anh ta vào “Hố Cạn”. Grit ở với toán cho đến khi hành quân Delta kết thúc (bị giải tán) vào tháng Bẩy năm sau. Bill Pomeroy có tên gọi thân mật (nick name) là Grit vì anh đến từ Alabama, giọng nói miền nam Hoa Kỳ.

        Chuyến hành quân xâm nhập này hơi đặc biệt, ba ngày sau chúng tôi mới lên trực thăng đi xâm nhập. Bãi đáp tôi chọn rộng rãi, trực thăng có thể xà xuống còn cách mặt đất khoảng sáu bộ và toán biệt kích nhẩy ra. Chúng tôi vừa chạy vừa bò trong đám cỏ tranh cao hơn đầu người, đến một bụi cây khô lớn cách bãi đáp khoảng 100 thước. Trời sẽ tối nhanh chóng, toán biệt kích chui vào trong bụi bố trí thành một vòng tròn 360 độ, ngủ qua đêm.

        Một điều tôi để ý, khi toán biệt kích chạy từ bãi đáp trực thăng đến bụi rậm, không nghe tiếng chim hót, hay những âm thanh khác của thú vật như khỉ, côn trùng, của núi rừng. Một bầu không khí im lặng của tử thần. Bỗng dưng, một tràng súng nổ, phát ra từ một khẩu súng cách đó khoảng vài trăm phút (rõ ràng tiếng súng, không thể sai được). Toán biệt kích báo động ngay tức khắc và cố gắng giải đoán… chuyện gì xẩy ra. Chúng tôi là những “người bạn” duy nhất trong khu vực, một tên VC hay lính Bắc Việt nào đó là tác gỉa của loạt súng chỉ thiên… chỉ địa!

        Vài phút sau, thêm một loạt súng nổ và kết thúc bằng tiếng nổ lựu đạn, nhưng lần này phát ra từ hướng ngược chiều với lần trước. Chúng tôi nghĩ rằng hai toán địch ở hai nơi khác nhau đang chơi… trò gì đây! Rồi một tràng súng nổ nữa nhưng cách xa hơn. Chúng tôi suy luận rằng, địch quân nghe tiếng trực thăng, biết có thể có biệt kích xâm nhập, chúng chia ra nhiều tiểu đội nhỏ đi lùng. Thỉnh thoảng bắn báo hiệu cho nhau và thử phản ứng của toán biệt kích.

        Đêm hôm đó, địch quân dò tìm toán biệt kích suốt đêm, nằm trong bụi chúng tôi không một ai ngủ được, thỉnh thoảng cứ nghe một tràng tiếng súng tiểu liên và kết thúc bằng tiếng lựu đạn nổ. Đến sáng sớm hôm sau, toán biệt kích chuẩn bị chui ra khỏi bụi rậm, lên đường, chợt nghe tiếng răng rắc như tiếng cây kho gẫy và một tiếng rầm, tiếp theo là bụi tung lên. Ra khỏi bụi rậm, chúng tôi chứng kiến cảnh một khu rừng chết, những cây to lớn đã chết khô, bị mối ăn, thỉnh thoảng lại ngã xuống.

        Cả toán biệt kích bố trí quan sát khu rừng chết, những thân cây to lớn đổ xuống, lăn đè lên làm gẫy những cành khô, gây ra một chuỗi nổ nhỏ như tiếng súng, và đến khi lăn chạm vào một gốc cây lớn khác mới ngừng lại gây nên một tiếng lớn như lựu đạn.

        Có lẽ cả đêm qua, toán biệt kích phải nghe những âm thanh này. Địch quân cũng sợ chết vì cây đè, chẳng chẳng có đơn vị địch nào dám vào trong khu rừng này “làm ăn”. Tôi ra lệnh cho cả toán di chuyển ra khỏi khu rừng chết trở lại nơi bãi đáp trực thăng.

        Chúng tôi ngồi gần bãi đáp trực thăng suy nghĩ về lệnh hành quân. Mặt trời từ từ lên cao, chúng tôi phải thay đổi kế hoạch thám sát. Theo đúng lệnh hành quân cho toán biệt kích, chúng tôi phải dò thám những con đường mòn trong khu vực. Biết rằng đó là khu rừng chết, nhưng vẫn phải tuân lệnh. Chắc chắn địch quân đã biết rõ tình trạng của khu rừng như chúng tôi mới biết.

        Biết rằng rất nguy hiểm, có thể bị cây gẫy, rơi đè chết nếu vào bên trong tìm những con đường mòn, tôi vẫn không muốn gọi máy về căn cứ hành quân tiền phương xin triệt xuất. Tôi ra lệnh cho toán biệt kích di chuyển trên cỏ tranh, dọc theo bìa rừng. Đi như vậy không có gì che chở cho toán biệt kích, nhưng đi bên trong… cũng chết. Vả lại đám VC cũng không dại gì chui vào trong khu rừng chết, đầy rẫy cây khô, cành khô, rơi xuống lúc nào không biết.

        Toán biệt kích tiếp tục di chuyển dọc theo bìa rừng lên hướng bắc, cho đến khi gặp một giòng suối để lấy nước. Sau khi mọi người lấy đủ sáu bi đông nước, tôi xem lại bản đồ, biết rằng cách đó khoảng 100 thước, có một con đường mòn. Chúng tôi không theo những điều đã được huấn luyện trước đây, cứ chạy thẳng một mạch đến con đường mòn. Mà thực vậy, tên địch nào dám mò vào khu rừng chết này, không thấy dấu vết có người đi lại trên đường mòn. Chúng tôi chụp vài tấm ảnh, một tấm có cây cổ thụ thật to gẫy đổ trên đường, để đem về. Xong việc, đã có đủ tài liệu, bằng chứng, chúng tôi chạy ra khỏi khu rừng đến bãi cỏ tranh bên cạnh giòng suối.

        Đêm đó chúng tôi bố trí ngủ đêm tại một vị trí gần giòng suối, và cả đêm lại nghe tiếng cây gẫy đổ như đêm trước. Sáng hôm sau, tôi gọi lên chiếc máy bay quan sát FAC, yêu cầu tiếp vận về căn cứ hành quân tiền phương Bunard, chúng tôi đã xong nhiệm vụ sớm hơn dự trù và yêu cầu triệt xuất. Đó cũng là một chuyến hành quân xâm nhập vào “Hố Cạn”. Chúng tôi mong gặp VC thứ thiệt thay vì những gì đã gặp trong khu rừng chết.

THUNG LŨNG CỦA TÔI

        Trong tháng Ba 1970, hành quân Delta vẫn còn trên căn cứ hành quân tiền phương Bunard, thám sát những khu vực dọc theo giòng sông Đồng Nai. Toán biệt kích của tôi được trao cho nhiệm vụ thám sát những nhánh sông nhỏ, nơi chân những rặng núi sát vùng trách nhiệm của quân đoàn II, vùng 2 chiến thuật. Khu vực hành quân xâm nhập này nằm xa nhất của tầm bay của loại trực thăng đổ quân UH-1, và toán biệt kích do tôi chỉ huy là toán đầu tiên phải xâm nhậm, dò thám khu vực xa xôi đó.

        Những chuyến xâm nhập trước đó, toán của tôi thường được trao cho trách nhiệm dò thám những khu vực dọc theo biên giới Việt-Miên. Trong phần thuyết trình hành quân cho chuyến xâm nhập mới này, tôi được cho biết, có một đơn vị cấp lớn của địch đóng quân trong khu vực và toán biệt kích có nhiệm vụ nhận diện đơn vị này.

        Sau khi nghe thuyết trình, tôi cùng với phi công O-1 bay thám sát khu vực hành quân và tìm bãi đáp đê xâm nhập, triệt xuất. Trên đường đến mục tiêu, chúng tôi bay trên cao độ 2000 bộ. Khi đến không phận mục tiêu, từ trên cao nhìn xuống, tim tôi muốn ngừng đập. Dưới đáy thung lũng, nơi những nhánh sông nhỏ sẽ đổ vào sông Đồng nai, có bề rộng 15 cây số và cả vùng thung lũng có chiều dài khoảng 40 cây số và những vách núi dựng đứng hai bên. Khu vực thám sát quá rộng, và điều tôi để ý nhất là có nhiều đường mòn chạy từ trên những sườn núi xuống thung lũng. Cả khu vực được những cánh rừng nhiệt đới, cây cối rậm rạp che phủ. Những con đường mòn chạy từ trên xuống theo hướng bắc nam dọc theo thung lũng và ngang dọc từ đông sang tây, và có dấu hiệu địch quân xử dụng, di chuyển rất thường trên những con đường mòn.

        Kể từ lần xâm nhập vào thung lũng A Shau, tôi không thể nhầm được, những con đường mòn này phải cỡ cấp sư đoàn của địch di chuyển mới bị nén xuống như thế. Nếu ai có hỏi, sau khi chiến khu C bị khai quang, quân VC, Bắc Việt di chuyển đi đâu, thì hôm nay tôi đã tìm thấy câu trở lời. Tôi yêu cầu phi công lái chiếc máy bay thám thính O-1 bay thấp một vòng để tôi quan sát cho kỹ hơn, nhưng anh ta “lạnh cẳng”, từ chối, trả lời địch quân đầy trong thung lũng.

        Tôi chọn bãi đáp xâm nhập là một khoảng đất trống, có một con đường mòn chạy ngang qua, nơi tận cùng phiá đông rặng núi làm thành thung lũng. Tôi chọn điểm xâm nhập này để trực thăng đưa toán biệt kích vào mà không phải bay ngang qua khu vực thung lũng, an toàn hơn. Thêm nữa, chuyến xâm nhập này tôi định “vào” vùng khi tia nắng đầu tiên thay vì lúc hoàng hôn như những lần trước.

        Trở về căn cứ hành quân tiền phương Bunard, tôi thuyết trình lại cho toán viên. Sau khi kể rõ những điều mắt tôi trông thấy, cả toán biệt kích xanh mặt, không dè toán biệt kích bọn tôi lãnh nhiệm vụ xâm nhập vùng “Thung lũng Tử Thần”. Lần này chúng tôi chuẩn bị đem theo thật nhiều đạn dược, mìn Claymore và lựu đạn… để chiến đấu. Và đem theo ít lương thực hơn những chuyến đi trước. Phải lo chuyện tìm đường sống trước nhất. Trung sĩ nhất William R. “Grit” Pomeroy Jr., toán phó, nên dành thì giờ cầu nguyện, nên chúng tôi đi ngủ sớm.

        Yêu cầu ra đi trước rạng đông được chấp thuận và toán biệt kích lên đường vào buối sáng sớm hôm sau, khi trời vẫn còn tối. Chiếc trực thăng chở chúng tôi tách khỏi đội hình, khi ra khỏi căn cứ hành quân khoảng mười cây số, sau đó bay dọc theo sông Đồng Nai lên bãi đáp. Khi qua khỏi rặng núi nơi hướng đông, phi công trông thấy bãi đáp và thả xuống toán biệt kích.

        Trực thăng vừa là là xuống, tôi đã phóng ra khỏi phi cơ chạy vào bià rừng và dẫm lên ngay một bãi phân voi, ngập đến đầu gối. Cả toán biệt kích chạy đến bìa rừng, chúng tôi bố trí quan sát con đường mòn, vừa ngạc nhiên bớt lo âu. Cả bãi đáp lẫn con đường mòn đều có dấu vết của loài voi, phân của chúng vương vãi tùm lum, khắp nơi trên con đường mòn. Thì ra con đường mòn này không phải do người tạo nên, đi lại mà chủ nhân ông của con đường là một đàn voi rừng… và như vậy mấy ông Vi Xi (VC) cũng phải tránh né khu vực này, kiếm chỗ khác “làm ăn”. Cả đôi ta, địch và bạn, “tránh voi chẳng xấu mặt nào”.

        Đã có nhiều váo cáo trước đây, địch quân xử dụng voi để chở đồ tiếp vận, những chiến cụ nặng, nên chúng tôi vẫn phải cẩn thận, có địch trong khu vực. Toán biệt kích thận trọng di chuyển sâu vào trong rừng, khu vực thung lũng. Không bao lâu, chúng tôi biết rằng, không có dấu vết địch quân trong khu vực hành quân, dò thám. Và cũng không có dấu vết chứng tỏ có sự xuất hiện của loài người trước khi toán biệt kích đặt chân đến. Những đàn khỉ, vượn, chim chóc chưa từng có kinh nghiệm về loài người, chưa biết sợ, nhìn toán biệt kích dò xét. Chúng tôi nghe được tiếng động, tiếng kêu của đàn voi di chuyển đi xa chúng tôi. Những con voi đánh hơi người lạ xâm nhập vào giang sơn của chúng thật tài tình. Chúng tôi không thể đoán được đàn voi có bao nhiêu con, nhưng chắc phải nhiều lắm, mới đủ khả năng “xây dựng” những con đường mòn trong khu vực thung lũng.

        Đến buổi chiều hôm đầu tiên xâm nhập, chúng tôi mới gặp “Người của núi rừng” (Forest People). Tôi đã nghe nói về họ từ những binh sĩ Thượng và LLĐB/VN nhưng đây là lần đầu tiên mới được gặp. Một lần trước đây khi còn chỉ huy một đại đội DSCĐ hoạt động trong khu vực đông bắc tỉnh Bình Long. Lúc đó vào mùa khô, những giòng suối nhỏ đã cạn nước, chỉ có một con suối có nước, nằm sâu trong cánh rừng rậm. Để giữ an ninh, tôi chỉ cho mỗi tiểu đội một người đại diện đi xuống suối lấy nước, phần còn lại bố trí phòng thủ.

        Vài phút sau, có những tiếng la hét từ dưới suối vọng lên, rồi những người đi lấy nước, xách những bi đông không quay trở về. Tôi hỏi và được binh sĩ người Thượng trả lời “Con suối thuộc quyền sở hữu ‘Người của núi rừng’, họ không cho phép lấy nước và mình phải ra khỏi khu vực này”. Câu trả lời, tôi không hiểu nổi, nhưng các DSCĐ có vẻ rất “nể nang” họ.

        “Người của núi rừng” bỗng xuất hiện trong khu vực hành quân xâm nhập của toán biệt kích, họ ở trên cây, và xung quanh chúng tôi. Chúng tôi không nghe được sự di chuyển của họ… tự nhiên xuất hiện. Họ xuất hiện nhanh chóng, chúng tôi không biết được có bao nhiêu người. Rồi một con đực to lớn nhất nhẩy từ trên cây xuống, đến gần toán biệt kích quan sát. “Người của núi rừng” cao khoảng năm bộ (không tới 1m60), hai cánh tay dài, lông lá trông như đười ươi, khỉ đột, có lẽ cùng họ với loài khỉ đột cam (Orangutan, sống ở Indonesia). Con này nhe nanh gầm gừ như muốn nói, toán biệt kích nên cuốn gói ra khỏi giang sơn của chúng, rồi cả đàn biến mất nhanh chóng như lúc xuất hiện.

        Toán biệt kích tiếp tục di chuyển êm thấm đến ngày triệt xuất. Trong cánh rừng có nhiều thú lạ, một nơi chưa có loài người đặt chân đến. Khu vực hành quân xâm nhập của chúng tôi là một “Hố Cạn”, không có bóng dáng địch quân. Xin cảm ơn Thượng Đế một lần nữa. Toán biệt kích như lạc vào thiên thai, rất tiếc phải về sớm vì chúng tôi chỉ mang theo ít đồ ăn. “Thung lũng Tử Thần” trở thành “Thung lũng của tôi”.

        Sau khi chúng tôi quay về, hành quân Delta chấm dứt hoạt động trên căn cứ hành quân Bunard. Tất cả được đưa về Nha Trang nghỉ ngơi ít hôm trước khi được không vận ra ngoài vùng 1 chiến thuật, thiết lập căn cứ hành quân Mai Lộc.

        Toán biệt kích chúng tôi đã đem về tin tức, không có bóng dáng VC, quân đội Bắc Việt trong khu vực “Thung lũng của tôi”, và họ không phải là chủ nhân, xây dựng những con đường mòn trong khu vực.

        Năm 1975, những đoàn xe chuyển quân của quân đội Bắc Việt về hướng Saigon cũng không đi ngang qua, tàn phá “Thung lũng của tôi”. Sau này, một tờ báo ở Hoa Kỳ có bài viết cho biết tìm thấy một giống tê giác lạ trong khu vực thung lũng gần sông Đồng Nai. Tôi xem lại tấm bản đồ cũ… Và đúng ý chang, trong “Thung lũng của tôi”. Khu vực thung lũng này bây giờ có tên là Nam Cát Tiên, một khu rừng nguyên sinh, được chính quyền bảo vệ.

MỘT CHUYẾN ĐI DẠO TRONG RỪNG

        Trong tháng Tư năm 1970, hành quân Delta “dọn nhà” ra khỏi Bunard, về Nha Trang nghỉ ngơi và trong tháng Năm, di chuyển ra Quảng Trị, thiết lập căn cứ hành quân tiền phương bên ngoài trại Lực Lượng Đặc Biệt Mai Lộc. Nhiệm vụ cho hành quân Delta ngoài vùng 1 lần này, thám sát khu vực biên giới Lào-Việt, từ vùng phi quân sự về hướng nam đến căn cứ Khe Sanh.

        Trại LLĐB Mai Lộc là tiền đồn xa nhất về phiá bắc VNCH, “Địch quân có thể ném đá vào căn cứ thay cho đạn pháo kích”. Đây cũng là chuyến hành quân Delta thứ hai xử dụng căn cứ hành quân tiền phương Mai Lộc, và các toán biệt kích đều biết rằng, khu vực hành quân mới này không phải “dễ ăn”. Có rất nhiều đơn vị Bắc Việt trong khu vực hành quân, và nhiệm vụ cho các toán biệt kích Delta, đi tìm và nhận diện các đơn vị này trong mỗi chuyến hành quân xâm nhập kéo dài năm ngày. Cứ mỗi lần toán biệt kích xâm nhập vào khu vực Khe Sanh, Lang Vei đều rất có thể sẽ phải triệt xuất khẩn cấp.

        Sau khi đến Mai Lộc ít lâu, toán biệt kích của tôi được mời vào trung tâm hành quân nghe thuyết trình và nhận lệnh. Khu vực hành quân xâm nhập được giao phó cho toán biệt kích nhìn trên bản đồ trông có vẻ rất gay go. Khu vực này sát biên giới Lào-Việt, phiá nam trại LLĐB bỏ hoang Lang Vei, tây nam căn cứ cũng bỏ hoang, trại LLĐB và căn cứ Khe Sanh của TQLC/HK. Và nằm dưới con đường 616 chạy từ bên Lào qua phần đất Việt Nam.

        Đường 616 là một nhánh tẽ ra từ hệ thống đường mòn HCM trên đất Lào, để quân đội Bắc Việt chuyển quân, chiến cụ, đồ trang bị tiếp vận vào tỉnh Quảng Trị. Địch quân xử dụng con đường này rất thường xuyên, những toán biệt kích Delta xâm nhập trước đây đã báo cáo, trông thấy xe cộ của địch di chuyển trên đường 616 tại nhiều toạ độ. Toán biệt kích của tôi sẽ xâm nhập vào khu vực có hình dáng “Lưỡi câu” do giòng sông Tchépone uốn quanh rặng núi Cơ Rốc, cao hơn 1000 bộ trên đất Lào.

        Chỉ cần nhìn khu vực hành quân trên bản đồ, tôi có linh cảm “chuyện lớn” sắp xẩy ra. Toán biệt kích đã được sĩ quan ban 2 thuyết trình, nói rằng trong khu vực có sự hiện diện của nhiều đơn vị Bắc Việt, cùng với các binh trạm, kho tiếp vận. Nhiệm vụ chính cho toán biệt kích, tìm các kho tiếp vận dấu kín trong rừng già của địch và chứa những “món hàng” nào? Nhận nhiệm vụ tôi biết ngay, chuyến đi này sẽ rất nguy hiểm hay “trời thương”.

        Sau đó tôi đi bay thám sát khu vực hành quân, điểm xâm nhập, triệt xuất. Đúng như trên bản đồ hành quân, từ trên máy bay thám thính FAC nhìn xuống, khu vực xâm nhập trông như hình lưỡi câu do dòng sông Tchépone uốn cong. Ba mặt bao quanh “lưỡi câu” thuộc về nước Lào, mặt còn lại thuộc về Việt Nam và có rất nhiều hố bom, lỗ chỗ ở dưới, chứng tỏ khu vực này đã bị oanh kích nặng nề. Tôi chọn được một điểm xâm nhập là một hố bom ngay bên cạnh khu vực xâm nhập, điểm triệt xuất dưới chân ngọn núi Cơ Rốc.

        Phi công lái chiếc O-2 cũng xác nhận với tôi, khu vực xâm nhập “rất nóng” (nguy hiểm) và toán biệt kích có cơ hội chạm địch ngay tại nơi bãi đáp xâm nhập. Chúng tôi quyết định xâm nhập vào lúc trời vừa sáng và được chấp thuận. Trong lúc chờ đợi, cả toán biết kích thực tập “tao ngộ” chiến, đề phòng trường hợp chạm súng bất ngời với địch quân. Tiếp theo là kiểm soát lại ba lô hành trang cho chuyến “công tác” đặc biệt này. Và toán biệt kích lên đường vào sáng sớm ngày hôm sau, khi ánh mặt trời chưa lên cao.

        Trực thăng đưa toán biệt kích vào bãi đáp dễ dàng, khi còn cách mặt đất khoảng sáu bộ, chúng tôi nhẩy ra khỏi trực thăng chạy nhanh vào bờ rừng, gom lại và bắt đầu di chuyển. Vào bên trong chúng tôi gặp ngay một hàng rào làm bằng tre cao đến bụng, lúc đó mới biết bãi đáp trực thăng xâm nhập là một khu vườn canh tác của một đơn vị hậu cần Bắc Việt và một qủa bom 500 cân Anh, không quân Hoa Kỳ đã phá hủy khu vườn.

        Toán biệt kích đi sâu vào khoảng năm mươi thước, khám phá ra được một binh trạm cấp đại đội đã bỏ hoang của địch. Trong căn cứ bí mật có khoảng mười dẫy nhà sàn, có mái che, có thể chứa mười người, hầm trú ẩn tránh bom. Binh trạm này có lẽ được dùng làm nơi nghỉ chân cho các đơn vị Bắc Việt di chuyển ngang qua, không thấy có hệ thống phòng thủ, chiến đấu, giao thông hào. Quan sát những cây cỏ hoang, giây leo mọc lên khắp nơi, chúng tôi đoán rằng địch đã bỏ hoang căn cứ này hơn sáu tháng.

        Từ trong binh trạm này có hai đường mòn, một dẫn đến đường 616, ngã kia đi về hướng tây nam. Cũng như binh trạm, cả hai đường mòn đều đã không xử dụng từ lâu, cỏ dại đã lan lên trên đường. Toán biệt kích di chuyển song song, dọc theo con đường mòn cho đến khi ra khỏi khu vực dò thám nhưng chẳng thấy gì khác thường. Chúng tôi quay trở lại binh trạm và theo con đường mòn kia, đi về hướng tây nam. Cũng chẳng tìm thấy gì, chúng tôi hơi ngạc nhiên, không lẽ lại vào một “Hố Cạn”.

        Trên lộ trình di chuyển về hướng tây nam, chúng tôi đến một ngã rẽ, trái phải dẫn đến khu chứa hàng, những nhà kho nơi địch quân xây những sàn lớn kích thước 10×20 bộ, cao hơn mặt đất 3 bộ. Chúng tôi lục soát xung quanh, tìm thấy khoảng hai mươi kho hàng trống rỗng, có lẽ địch quân đã di chuyển đi chỗ khác. Cả ngày lục soát khu vực chỉ thấy căn cứ, kho hàng đã bỏ hoang, chúng tôi nghĩ rằng địch quân đã di chuyển đi nơi khác.

        Qua ngày hôm sau, toán biệt kích di chuyển về hướng biên giới Lào Việt để triệt xuất. Ra khỏi khu vực binh trạm bỏ hoang, chúng tôi di chuyển trong thung lũng dưới những ngọn đồi, bóng cây rậm rạp của khu rừng nhiệt đới. Tôi dự trù cứ tiếp tục di chuyển cho đến khi gặp giòng sông Tchépone cắt ngang, đó cũng là đường biên giới Việt Lào.

        Đến cuối ngày thứ hai, bốn quân nhân LLĐB/VN trong toán, tin rằng chúng tôi đã được Thượng Đế ban cho một “Hố Cạn” và bắt đầu lơ là. Tôi phải cho họ biết, mới được nửa đoạn đường, vẫn phải cẩn thận.

        Đến sáng ngày thứ tư, toán biệt kích thức dậy trong một buổi sáng yên bình, khu rừng yên tĩnh. Chúng tôi di chuyển đến bãi đáp để được triệt xuất, ngọn núi Cơ Rốc sừng sững như thách đố. Đến gần trưa, chúng tôi đến một giòng suối cắt ngang lộ trình di chuyển.

        Chợt từ phiá bên kia bờ suối, tôi trông thấy ba người lính Bắc Việt cũng đang đi xuống suối. Tôi định nổ súng nhưng chần chừ, chờ Grit vì ba địch quân nằm trong hướng bắn của anh ta. Grit đang dấu mình trong đám cỏ tranh ngay sát bờ suối. Tôi định quạt một băng, nhưng sợ có viên trúng Grit, nên kiên nhẫn nằm chờ.

        Rồi ba tên lính Bắc Việt đột nhiên quay trở lại, hình như bọn chúng đang đi săn trong giang sơn của chúng nên rất tự tin đến độ thản nhiên. Trong khi đó, trung sĩ William R. “Grit” Pomeroy Jr. “đang làm gi?”. Tôi giận điên lên… nhưng sau này tôi được biết, Grit là một người rất nặng vấn đề tín ngưỡng. Sau khi trở về Hoa Kỳ, anh ta theo học trong một trưòng “dòng”, tốt nghiệp về Thần Học, trở lại quân đội làm tuyên úy. Grit vẫn nhớ đồng đội, xin làm việc trong binh chủng LLĐB.

Trên chuyến trực thăng triệt xuất về căn cứ hành quân tiền phương Mai Lộc, chúng tôi được biết hành quân Delta sẽ chấm dứt và tất cả sẽ di chuyển về Nha Trang để được phân phối ra các đơn vị khác. Đó cũng là chuyến hành quân xâm nhập cuối cùng của tôi trong hành quân Delta.

 Dallas, TX

vđh

Trên bến Grega

vanchuongviet.com

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 6 Ju7l 2026

Buổi sáng tháng bảy, sáu giờ mười lăm phút, nắng đã chói chang như muốn xóa tan hơi lạnh ven sa mạc ban đêm còn đọng lại. Gió từ ngoài khơi Địa Trung Hải lồng lộng thổi vào nhưng không làm giảm sức nóng của mặt trời mỗi lúc một tăng. Trên bến Brega công nhân đã tề tựu đông đủ, họ chờ thủy thủ trên tàu xoay cần trục, tháo móc những container thì lập tức bắt tay vào việc cất hàng.  Có một nhân viên Triều Tiên lên phòng việc của thuyền trưởng lo thủ tục nhận hàng. Xong. Ông xuống từng dưới, thấy tôi ngồi mình ên trong phòng ăn, ông chào làm quen. Còn sớm chưa đến giờ làm việc nên tôi có thời giờ rảnh rỗi rót cà phê ra mời. Trong lúc uống cà phê ông kể tôi nghe, công ty Dong Ah (Đông Á) của Nam Triều Tiên, qua Libia thực hiện dự án khoan lấy nước ngọt từ phía nam chuyền ngang sa mạc vô các thành phố miền Bắc cho dân chúng xài, và đặt ống lòn dưới lòng đất theo hình xương cá dẫn nước vào những vùng đất khô cho đất thấm ướt để nhà nông dễ bề trồng trọt. Dự án lớn, kéo dài hơn chục năm, vì vậy Đông Á cần rất nhiều công nhân. Họ nhận người từ những quốc gia có mức sống thấp như: Phi Luật Tân, Thái Lan, Bangla Desh và Việt Nam.    Nghe có người Việt, tôi liền ra boong đứng ngó lên đám công nhân tạp chủng. Tôi có thể phân biệt người Bangla Desh nước da nâu, người Thái phần đông gốc Hoa nên hao hao giống người Phi Luật Tân và người Việt. Nhưng giữa đám công nhân hỗn hợp, tôi thấy có một vài người ốm, mặt xương, da đen nám, má hóp, có vài anh răng hô, nếu tôi không lầm, đây là những người Việt ở miền Bắc. Như để xác nhận, một người đàn ông độ tứ tuần tới trước mặt tôi, anh cười:
– You you Việt Lam? Tôi khôi hài nói bằng tiếng Việt:
– Hỏi vậy cũng hỏi.  Thôi, nói tiếng Việt cho chắc ăn cha nội. Ngập ngừng một lát, anh ta cất tiếng:
– Anh người Việt Lam à ?
– Dĩ nhiên, chánh hiệu con rồng vàng. Anh móc thuốc ra mời. Tuy bỏ thuốc đã lâu, nhưng tôi cũng rút một điếu gắn lên môi hút xã giao. Có lẽ anh ta ngượng trước những câu dí dỏm của tôi, nên rít hết mấy hơi thuốc, phà khói phì phèo mà vẫn chưa bắt được chuyện. Thấy vậy tôi bèn giả lả:
– Các anh mần gì ở đây?
– Bọn nầy bốc hàng cho công ty Đông Á. Có ba người nữa thấy anh nọ bắt được chuyện cũng men tới. Tôi chợt nhớ ra, nãy giờ gặp đồng hương mà cứ dí da dí dỏm quên đi phép xã giao thông thường. Tôi bèn chìa tay ra bắt từng người và tự giới thiệu tên mình. Các anh ấy cũng lần lượt giới thiệu tên họ; Ngà, Bi, Hải, Cường. Sau màn giới thiệu, tôi hỏi:
– Mấy anh ở đâu ? Anh Bi chỉ tay lên cái container để trên bến cảng:
– Tụi tôi ở trong cái công-ten-nơ kia.
– Trời đất! Bao nhiêu mạng người dồn trong một cái công-ten-nơ có bây lớn?
– Không, bọn tôi ở tạm để làm việc, chiều về trại ngủ.
– Trại ở đâu vậy?
– Ở cách đây hai chục cây số.
– Gần thành phố Benghazi hông ? Ngà chen vào:
– Được gần phố thì ngon rồi, trên sa mạc đấy.  Lúc đó, tên xếp người Triều Tiên đi tới đi lui trên kè đá, miệng ngậm tu hít thổi rét rét… Các anh lật đật từ giã tôi để ra boong làm việc. Tôi cũng trở vô bắt đầu công việc của mình.   Tên xếp người Triều Tiên xuống tàu xin bữa ăn sáng. Ăn xong, chưa chịu đi, ông ta còn đứng la cà trước cửa phòng bếp. Trong lúc tôi đương dọn rửa, thấy trên cổ hắn có đeo cái tu hít, tôi mới hỏi:
Ông mần việc bến cảng chớ có phải thể tháo gia đâu mà đeo tu hít ? Như bắt được chuyện, ông cười:
– Mầy coi, công nhân của Đông Á có nhiều quốc tịch khác nhau, ngôn ngữ bất đồng, lại thêm bến cảng ồn ào, vì vậy tao dùng tu hít cho dễ điều khiển, chớ la hét bằng miệng suốt ngày tao sẽ bị tắt tiếng liền. A, đây là mánh khóe nghề nghiệp. Tôi đưa ngón tay gõ gõ tay lên đầu khen ông một cái:
– Ông thông minh lắm ? Nghe tôi bốc. Ông hỉnh cái mũi tịt hãnh diện cười tươi.  Mười giờ sáng Ngà đi qua đi lại trước của sổ, mặt cứ ngó láo liên vô phòng ăn của thủy thủ đoàn. Thấy vậy tôi bèn đi ra chào:
– Nghỉ việc rồi hả ?
– Vâng, bọn em nghỉ giải ‘nao’.
– Giải lao với gì vậy ? Ngà chỉ tay lên kè đá, nói :
– Với nước ‘nã’ đấy anh. Ở đây chỉ có Ngà nói chữ l thành chữ n, những anh em còn lại nói giọng Bắc, nhưng không giống Ngà. Tôi ngó lên bến, các anh công nhân tụ quanh một thùng nước đá, múc nước chuyền qua từng người trong một cái ca, các anh vừa uống vừa trò chuyện vui vẻ. Thấy vậy tôi mới vô lấy cho Ngà một lon nước ngọt, anh hỏi xin thêm ba lon. Từ đó trở đi, tới giờ nghỉ Ngà không lên bờ, đã vậy còn rủ thêm Bi, Cường, Hải ở lại tàu chờ tôi cho nước ngọt để giải ‘nao’.  Bi và Cường đã ngoài bốn mươi tuổi, Ngà và Hải tuổi vừa mười chín, bốn người mần việc ngoài boong nên tôi tiếp xúc, nói chuyện được nhiều hơn các anh em làm trên bến. Khi mặt trời đứng bóng, tôi men lên cái container có gắn máy điều hòa không khí dành cho toán công nhân Việt Nam nghỉ trưa. Vừa bước vô tới cửa, tôi thấy anh em nằm ngủ la liệt. Tôi bèn day trở ra. Chợt một anh thấy tôi, lật đật ngồi dậy kêu, làm cả đội giựt mình thức giấc. Mắt nhắm mắt mở, các anh dồn chỗ và mời tôi ngồi. Thấy các anh nhiệt tình, tôi cũng không ngần ngại bước vô, ngồi phệt xuống, dựa lưng vô vách, giả lả hỏi:
– Mấy anh cơm nước chưa mà ngủ ngon quá vậy?
– Xong rồi anh. Một anh nói thêm:
– Nhưng ăn cơm cá bậy bạ thôi chớ chả có mẹ gì. Mần việc cạnh sa mạc, gió tung cát bụi đầy đầu đầy cổ, cho nên các công nhân người nào cũng trùm miếng vải trắng từ đầu phủ xuống khỏi vai, nếu không bụi cát dính vô người trộn lẫn mồ hôi, lâu ngày ăn lở da. Khi nghỉ ngơi anh em tháo nón tháo khăn xuống. Nhưng có một em nhỏ trạc mười bảy mười tám tuổi, nếu không có những vết cắt, cạo gió còn bầm trên trán, trên cổ, thì da dẻ trắng trẻo, bô trai như công tử bột. Có lẽ em từ Việt Nam mới qua nên chưa đậm nét phong sương. Thấy mặt xanh như tàu lá, vẫn để trùm nguyên khăn, nón, tôi biết ngay em bị bịnh. Tôi hỏi:
– Em tên gì ? – Dũng.
– Bịnh sao không ở nhà nghỉ ngơi ? Dũng cười buồn không đáp. Ngà trả lời thay:
– Nghỉ bị trừ tiền đấy anh.
– Bộ mấy anh hổng có bảo hiểm sức khỏe sao?
– Không anh, nhưng khi mình bệnh có bác sĩ chữa cho. Tôi day qua Dũng, hỏi:
– Sao em hổng xin đi bác sĩ?
– Em đi hôm qua rồi.
– Bộ bác sĩ cắt, cạo gió cho em đó hả? Cả đám cười rộ lên. Ngà tiếp:
– Đâu phải anh, bác sĩ cho vài viên thuốc uống. Nhưng đêm qua thấy Dũng nó sốt quá, anh em mới cạo, cắt cho đấy chứ.
– Người ta bịnh mà hổng cho nghỉ rủi đương mần việc chết rồi sao ? Giọng Bi mỉa mai:
– Thì gia đình được lãnh vài trăm đô. Tôi lảng sang câu chuyện:
– Còn chuyện giải trí trong trại của anh em, và đời sống tinh thần có thoải mái lắm không ? Các anh phân vân câu tôi vừa hỏi nên tất cả im lặng. Lát sau, một anh nói:
– Ngoài cái vi-đê-ô ra chẳng có mẹ gì hết.
– Còn chứ, Bi cay cú, tối buồn khó ngủ, cả bọn sụt cặc lẫn nhau cho đỡ buồn. Đúng là giọng của chiến sĩ từng vào sanh ra tử. Mặt bên phải anh Bi có một vết thẹo, nếu tôi đoán không lầm, vết thẹo do chiến tranh gây ra, may nhờ bộ râu quai nón che bớt phần nào, nếu không nhìn anh tưởng đến một tay dao búa, chớ hổng phải dân lương thiện. Lời nói của anh có hơi cay cú thời thế, nhưng nhờ tánh thành thật, nghĩ sao nói vậy mà tôi có cảm tình với anh ngay lúc đầu. Tôi day qua hỏi chuyện anh:
– Anh mần ở đây bao lâu rồi?
– Gần ba năm. – Chị nhà vẫn liên lạc thường xuyên hả anh?
– Vâng. – Anh được mấy cháu?
– Ba, hai giai một gái.
– Mỗi tháng anh vẫn chuyển tiền về đều đặn chớ?
– Không anh, mỗi năm tụi Đông Á chỉ ứng trước ba chục đô, còn bao nhiêu nó giữ lại, khi mình về nó đưa nốt.
– Như vậy còn chị và mấy cháu ở nhà sống ra sao?
– Vợ tôi dạy học.
– Lương giáo viên thời này sống sao nổi.
– Thì tự bán buôn thêm mà sống. Tôi ái ngại thấy mình tò mò hơi quá đà chuyện gia đình của anh. Tôi bèn khôi hài để trớ sang chuyện khác.
– Ba năm qua xứ sa mạc phơi cu khô queo, khi về nhà bà xã muốn xài dám phải ngâm nước quá. Cả đám cười rộ, anh cũng cười, nói:
– Địt mẹ, bỏ cả bốn năm cây vàng mới đi được, tưởng ngon, ngờ đâu qua đây chơi với lạc đà. Tôi ngạc nhiên:  
-Ủa, mần công mà cũng phải đóng thuế nhiều như vậy sao ? Anh Bi ừ hử như chưa tìm ra câu trả lời. Anh Cường chen vô:
Không phải đóng thuế đâu anh, đây là tiền trà nước lo giấy tờ.
– Giấy tờ gì mà mất cả hai cây vàng?
– Thì người nầy vài vé, người kia vài vé, tới khi đi được mất hơn cả chục vé đấy. Tôi thắc mắc:
– Vé là cái gì vậy?
– Mỗi vé là một trăm đô đấy anh.
– Xin lỗi, Đông Á trả cho các anh mỗi tháng được bao nhiêu?
– Từ một trăm năm chục đô đến hai trăm hai chục, ăn ở, áo quần họ bao.
– Công nhân nước khác cũng vậy sao?
– Không anh, người mình họ trả lương thấp hơn Phi Luật Tân và tụi Thái.
– Ngộ vậy, tôi nói, bốn năm cây vàng, qua đây mần cả năm chưa lấy lại vốn.
– Thì vậy. Tiếng xoay cần trục, tiếng động của các xe chở hàng ồn ào trở về. Tên xếp lùn đi tới đi lui ngoài sân, miệng ngậm tu hít thổi rét rét… Anh em lật đật đứng dậy đội khăn, đội nón. Tôi cũng phủi đít đứng lên từ giã các anh bước ra ngoài. Dưới nắng chang chang, gió lồng lộng, cát bụi bay ngợp trời. Mấy người Triều Tiên tụ lại một nơi, kẻ đứng, người ngồi trong chòi che mát. Miệng quát tháo, tay chỉ trỏ đám công nhân, trông giống như những viên tướng chỉ huy đứng phía sau ra lịnh xua quân xông trận.  Trưa hôm sau, Ngà ngoắc tôi ra boong, dẫn tới góc khuất bên hông tàu, mắt ngó láo liên, không thấy người dòm ngó, anh lận ngực áo móc ra một xấp báo giơ cho tôi. Thì ra, hôm qua tôi hỏi các anh có báo chí Việt Nam cho tôi xin đọc ké. Hôm nay Ngà đem xuống mà mặt mày lấm lét như tên ăn trộm. Cầm xấp báo trên tay, lòng ray rứt. Tôi ráng gượng cười, nói:
– Cám ơn Ngà nhé, nhưng mà nè, báo chí chớ bạch phiến, hay đồ lậu gì đâu mà em sợ.
– Nhưng phải cẩn thận chứ anh, tụi Ni-Bi kỳ lắm, mình sơ ý nó thấy được nàm khó dễ phiền phức.  Thiệt ra thì xứ Libie nầy cũng kỳ cục lắm. Trước khi tàu ghé bến, sách báo phim ảnh khiêu dâm, bia và rượu phải đem để vô một phòng, chờ quan thuế xuống kiểm xong, họ khóa phòng lại bằng cọng kẽm có bấm nút chì. Trong thời gian tàu đậu lại bến, ai coi phim con heo, uống bia rượu họ bắt được sẽ bị phạt ba ngàn mỹ kim. Tuy nhiên những nhân viên cao cấp thường xuống tàu hỏi xin thuốc thơm và rượu mạnh. Mỗi chuyến về Âu châu, thuyền trưởng chuẩn bị sẵn trong phòng rượu mạnh, thuốc thơm, dành khi trở qua tặng cho các quan, nếu không thì các ngài sẽ cho đệ tử xuống tàu lục lọi, moi móc tùm lum. Thấy tôi và Ngà đứng nói chuyện, Cường đi lại đứng cạnh bên. Lát sau anh hỏi tôi:
– Trên tàu có thịt lợn không anh ?
– Có chớ.
– Hơn cả năm rồi em chưa thấy miếng thịt lợn.
– Phải rồi, xứ nầy đạo Hồi mà. Ngà chen vô, nói:
– Bọn Ni-bi thờ nợn đấy. Tên xếp chạy lúp thúp tới lui trên kè đá, miệng thổi tu hít, tay chỉ trỏ hối thúc đám công nhân. Thấy hơi chướng mắt, tôi hỏi:
– Xếp nó sai khiến công nhân như vậy sao ? Ngà vọt miệng:
– Vậy mà nhằm nhò gì anh, thằng nào lạng quang nó đánh bỏ mẹ đấy.
– Như vậy hai anh đứng đây một hồi coi chừng có chuyện.
– Không sao, tụi em tới giờ giải  nao đấy anh. Tôi chợt nhớ ra:
– Anh Bi và Ngà chờ tui một lát. Cầm xấp báo đi vô để trong phòng. Tôi xuống mở tủ lạnh lấy hai lon nước ngọt ra cho mỗi người một lon. Nhận hai lon nước, hai anh đi tới chỗ khuất người mở ra uống. Tôi ngước mặt nhìn lên bầu trời cao thăm thẳm, nền trơi xanh ngát, trong veo nắng cứ gay gắt đổ xuống đầu những công nhân khuân vác. Trên đọt ống khói của nhà máy lọc dầu, lửa phun lên cả chục thước, khói đen cuồn cuộn làm ô nhiễm không gian.  Buổi sáng, tên xếp ăn điểm tâm xong, hắn đi lại đứng trước cửa phòng bếp, mặt nghiêm nghị,  kêu:
– Bếp ! Tôi day lại:
– Chuyện gì?
– Ông đừng đem đồ cho mấy người Việt Nam của ông nữa.
– Sao vậy ? Hắn giơ chéo hai tay ra dấu bị trói:
– Tụi Libie bắt được bỏ tù đó.
– Sao ông xuống tàu ăn uống hà rầm mà hổng ai bắt ông bỏ tù hết?
– Vì tao cao hơn tụi nó. Tôi định nói xốc hắn một câu cho bỏ cái thói tự cao tự đại, chợt tôi nhớ ra, trong những ngày sống tại đây, tôi cũng có ít nhiều kinh nghiệm đối với xứ đạo Hồi. Cảnh sát rắc rối dàn trời, chuyện bé xé ra to. Mặc dù chánh quyền nơi đây không thích Mỹ, nhưng những người tới từ các quốc gia tư bản, mỗi khi bị phạt phải tính bằng mỹ kim. Biết đâu điều hắn nói là sự thật, thì rắc rối cho anh em. Đến đây tôi không còn thành kiến với hắn ta nữa, bèn đổi giọng khôi hài:
– Ông đâu có cao ? Hắn cãi lại:
– Tao cao. Tôi bước lại đứng cạnh bên, giơ tay lên cằm gạt chéo qua đo, đầu ông vừa ngang cằm tôi. Tôi nói:
– Ông thấp hơn tôi cả tấc. Vỡ lẽ ra hắn hỉnh cái mũi xẹp cười sằng sặc trông mặt hắn giống y chang mặt con chim mèo. Tôi lại mở tủ lạnh rót cho hắn một ly nước cam và cám ơn ông đã nhắc nhở tôi một chuyện khá nguy hiểm. Hôm về Âu châu, tôi có mua bánh kẹo và gom góp một mớ áo quần định chuyến nầy qua tặng các bạn. Nhưng sau khi nghe tên xếp lưu ý, tôi đâm e ngại. Có lòng tốt trên những quốc gia kỳ khôi như vầy lắm khi mang hoạ vào thân.  Mặt trời tròn như chiếc mâm, ngoan ngoãn nằm sau một lớp màn trắng đục. Buổi chiều khô khốc, không ánh hào quang, không ráng đỏ nhưng gay gắt nóng. Tiếng động cơ của các xe tải đã ngưng bặt. Coi như ngày làm việc đã qua, công nhân đứng tụm năm tụm ba trên bến tán gẫu. Một anh người Tàu gốc Thái, đô con có bộ ngực lực sĩ, da ăn nắng xạm đen, ở trần, áo vắt lên chiếc vai trần bóng lưỡng. Đi tới truớc mặt tôi, cười vui vẻ. Đột nhiên anh cất tiếng:
– Ở đây không có l. ! Cả đám đực rựa ở trong sa mạc lâu ngày, thèm khát đàn bà, dằn không được, hễ có dịp là mở miệng nói tục một cách trơn tru. Có lẽ anh ta tập nói tiếng Việt chỉ một câu duy nhứt nên phát âm rất rõ ràng. Tôi hỏi anh nói tiếng Việt thạo không. Anh ta nhún vai lắc đầu rồi bỏ lên bến. Lúc đó Hải lại đứng cạnh bên tôi. Day qua, tôi nói:
– Vậy là xong hết một ngày.
– Vâng. Hải vừa móc thuốc mời vừa hỏi:
– Tàu anh sang Ý à?
– Ừa, tối nay tàu khởi hành.
– Ý văn minh không anh?
– Văn minh gì ? Hải ngập ngừng:
– Em…em muốn biết bên Ý giàu không đấy?
– Như vậy thì nước Ý văn minh hơn Việt Nam mình nhiều.
– Nước mình còn nói làm chi nữa. Phì phà mấy hơi thuốc, Hải tiếp:
– Bọn em muốn theo tàu qua Ý, nhưng không biết qua đó người ta có nhận mình không ? Tôi ái ngái nhìn Hải. Gần hai chục năm sống đời hồ hải, tôi đã chứng kiến nhiều vụ trốn theo tàu, nhưng mười lần may ra thoát được một. Đó là thời điểm cách đây hơn chục năm, còn bây giờ thì khó lắm. Tôi lơ đãng ngó lên bến thấy Ngà, Bi, Cường đứng trên kè đá nhìn xuống, trông mặt người nào cũng có vẻ khẩn trương. Lòng bâng khuâng không biết phải làm sao, vì câu chuyện đột ngột quá. Tôi thân mật vịn tay lên vai Hải ôn tồn:
– Hải à, chuyện nầy phiêu quá nên anh không dám ý kiến với em đâu.
– Không sao, anh cứ nói, bọn em nhờ anh đấy. Tôi lắc đầu:
– Cá nhân tui, bất quá chỉ giúp anh em cơm ngày ba bữa trong chuyến đi, nhưng tuyến của chiếc Elsa nầy, sang Ý rồi trở về Tripoli không đầy một tuần lễ. Người ta sẽ bắt em trả lại, vì trên tàu nầy ai cũng biết tụi em là người của Đông Á.
– Thế anh có cách nào giúp bọn em không ? Tôi nhìn gương mặt đen xạm vì nắng, gió sa mạc, đôi mắt em sáng đầy nghị lực và giọng nói cương quyết. Không nỡ làm ngơ, cuối  cùng tôi cũng đưa ý kiến:
– Nếu em muốn đi thì phải biết phân biệt cờ của những quốc gia trên thế giới. Tôi chỉ tay qua chiếc tàu đậu cạnh bên:
– Hải coi kìa, đó là tàu Panama, cờ sau lái là cờ quốc tịch, còn cờ trên ngọn cột hàng hải phía trước là của Libie, tức là cờ của quốc gia tàu đến. Khi đọc được cờ rồi còn phải biết tàu đó chạy tuyến nào, tốt hơn hết nên chọn những chiếc chạy không tuyến nhứt định. Hải chận:
– Thế là sao anh?
– Nghĩa là tàu ghé ở cảng nầy một lần rồi không biết chừng nào mới trở lại nữa.
– Họ có liệng mình xuống biển không anh?
– Theo luật hàng hải và lương tâm con người thì không, nhưng cũng nên cẩn thận. Trước đêm muốn trốn thì phải chuẩn bị hộp quẹt và nước. Hộp quẹt phòng khi xuống khoang người ta đóng hầm lại, lỡ bị kẹt không lối ra thì xé áo quần đốt gây khói để người trên tàu biết mà giở nắp hầm cho lên, còn nước phải đủ uống hơn một ngày. Muốn chui lên phải chờ tàu chạy ít ra cũng hai mươi bốn giờ đồng hồ, nhưng phải đợi ban ngày ban mặt, có đông đủ thủy thủ đoàn mới chui ra, như vậy có thằng gian ác muốn làm ẩu cũng không làm được. Tôi hỏi để kích động tinh thần:
– Hải dám hông ? Giọng em cả quyết, nói:       
– Dám chứ anh.
Vậy thì về bàn lại với anh em, nhưng còn chuyện nầy nữa.
– Chuyện gì anh?
– Khi xuống tàu cứ liệng bỏ hết giấy tờ, tạm thời lờ đi cái quốc tịch của mình là có hy vọng. Đôi mắt Hải sáng lên:
– Cám ơn anh, để em về bàn lại với anh em. Mấy giờ tàu anh chạy?
– Mười giờ hoa tiêu xuống. Lúc đó Hải nhìn thấy xe bus chở công nhân của Đông Á từ ngoài tung cát chạy vô, em bắt tay chào từ biệt và vội vàng đi nhanh lên bến.  Từ đó tới nay, mỗi lần chứng kiến cảnh những người từ bỏ quê hương mình, để chọn cuộc sống trốn chui trốn nhủi nơi đất lạ. Lòng tôi ray rức nhớ tới những công nhân ở bến Grega và ân hận chuyện tôi đã chỉ đường đi cho họ. Nếu thật sự họ bỏ trốn thì cả bọn sẽ đi về đâu và có được an toàn tới bến bờ không. Hay là đã bỏ mạng như những người nhập cư bất hợp pháp bỏ mạng trên đường. Tôi cầu mong cho các bạn kia đừng chui xuống những con tàu vô định, để sau khi hết hợp đồng họ còn được trở về quê hương gặp lại những người thân đang đêm ngày trông đợi.