This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Ngày 8 tháng 1 năm 1985, Trần Văn Bá đã bị hành quyết tại Việt Nam vì đã tham gia một phong trào kháng chiến chống Cộng có tên là Mặt Trận Thống Nhất các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam. Vào lúc hoàng hôn của Chiến tranh Lạnh, nhà báo Olivier Todd đã ghi nhận và kính phục người chiến binh này về nguyên nhân của một cuộc chiến đấu mà ông gọi là “cuộc kháng chiến thứ ba” của Việt Nam. Ông đã nhắc lại, hai năm sau cái chết của Ba, cuộc hành trình tuyệt vời của người sinh viên Việt Nam này, để trở về quê hương tổ chức cuộc đấu tranh vũ trang chống lại bọn độc tài áp bức.
Nếu các phân tích của Todd được xuất bản vào tháng 5 năm 1987, trước khi Bức tường Bá-linh bị sụp đổ, đã bị phủ nhận bởi các dữ kiện xẩy ra sau đó thì bài viết cũng vẫn rất đáng giá bởi vì “Linh Hồn của Trần Văn Bá” (Ngày Giổ tưởng niệm về cái chết của ông) vẫn được thực hiện ngày nay trong vùng Ba-lê và ở Bỉ quốc bởi các đồng hành trung thành củ của ông. Một “Vụ Trần Văn Bá” cũng đã nổ ngay ở trung tâm của quận thứ mười ba của Ba-lê trong năm 2008 khi một ủy ban được thiết lập để xây dựng một tấm bia tưởng niệm kháng chiến quân này tại một quảng trường yên tĩnh trong quận này. Ý tưởng này đã gây ra một phản ứng mạnh mẽ từ các tên cán bộ Việt cộng tại Pháp nhằm đánh bại việc mà chúng coi như là một sự khiêu khích. Từ khi qua đời vào tháng Giêng năm 1985, Trần Văn Bá vẫn tiếp tục ám ảnh mọi người. Có lẽ là vì thi hài của ông vẫn chưa được trao trả lại cho gia đình ông.
Nếu Trần Văn Bá đã gây nên bao nhiêu niềm quan tâm – và điều này có lẽ là nguyên nhân dấn thân của ông – thì đó chính là bi kịch lịch sử gia đình của ông mà chúng ta có thể đọc để nhớ lại trong phần tiểu sử của ông:
Ông Cậu của Ông tên Bùi Quang Chiêu đã là viên kỹ sư canh nông Việt Nam đầu tiên được đào tạo ở Ba-lê và là sáng lập viên của Đảng Lập Hiến Việt Nam vào năm 1919, mà đã bị ám sát cùng với 4 con trai và cô gái út vào năm 1945 bởi bọn cộng sản.
Ông Trần Văn Văn, thân phụ của ông, sau khi tốt nghiệp HEC ở Paris, đã dành trọn đời mình để đóng góp cho công việc hiện đại hóa về chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước. Từng là một chiến binh trong mật khu dạo thập niên 40, rồi là Bộ trưởng Kinh tế trong chính phủ độc lập đầu tiên của nước Việt Nam dưới quyền vua Bảo Đại năm 1949, rồi chống lại chế độ độc đoán của Ngô Đình Diệm, rồi sau đó chống luôn chính quyền quân sự mà đã kế nhiệm trong thập niên 60, cũng là một dân biểu Quốc hội Lập Hiến để rồi cuối cùng đã bị ám sát vào ngày 7 tháng chạp năm 1966 tại Sài Gòn trong khi đang là một ứng cử viên tổng thống cho năm 1967.
Bài viết này đã là nguồn cảm hứng cho luận án được đệ trình của chúng tôi vào năm 1997 tại Trường Đại học Paris 7 và với tên gọi rất đúng đáng là “Cuộc Kháng Chiến Thứ Ba của Việt Nam. Các Âm Mưu và Đối Kháng chống lại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1975-1995″.
Nó đã được đăng trên một tạp chí chính trị về Việt Nam bằng Pháp ngữ (nay đã đóng cửa), với gợi ý từ bài phát biểu của Olivier Todd trước Ủy ban Trần Văn Bá.
FG, ngày 9 tháng giêng năm 2013 *****
“Tôi không biết nếu có một số các bạn đã nhớ lại chăng phiên tòa bị dàn cảnh trước ở Sài Gòn, lúc bấy giờ đã bị gọi là Thành phố Hồ Chí Minh bởi bọn lãnh đạo của cái nước Cộng hòa, được gọi là ‘dân chủ’ của Việt Nam [Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam].
Ba năm trước đây, chúng đã tổ chức quay phim phiên tòa, đúng y bon cái kiểu sì-ta-lin thuần túy; các luật sư thì không hề có quyền gì cả và các bị can thì cũng vậy. Và trong số bị can đó, có một người dể nhận dạng được vì ông ta có một vết bớt màu rượu chát đỏ gần lông mày bên trái. Đó chính là Trần Văn Bá . . .
Tôi nghĩ rằng chúng ta nên cố gắng tránh thổi phồng Trần Văn Bá, dù ông đã bị kết án tử hình hay dù trong cộng đồng Việt Nam ngày nay, ông được coi không như kẻ khởi nghiệp nhưng chỉ là một gương mẫu để mà noi theo.
Bọn cộng sản Việt đã nói là cuộc chiến Đông Dương thứ nhất đã là cuộc kháng chiến thứ nhất, và cuộc kháng chiến thứ hai thì cũng chỉ là cuộc kháng chiến thứ hai mà thôi. Rõ ràng là chúng đã không tiên liệu được là sẽ đã có một cuộc kháng chiến thứ ba, mà lần này, là để chống Cộng và Bá đã là một trong những kháng chiến quân ưu tú nhất của cuộc kháng chiến này.
Ông đã đến Pháp trong thập niên 1960. Thân phụ [Trần Văn Văn] của mình đã bị sát hại. Ông là một giảng viên tại đại học Nanterre và vai trò này thì cũng không dễ dàng gì tại Nanterre vào những năm 1960 bởi vì những người Việt Quốc Gia đều bị tức khắc đối xử như là bọn phát-xít. Sau đó, ông đã là Tổng thư ký của Hiệp hội Sinh viên [Association des Étudiants AGEVP]. Ông đã là nhân vật cực kỳ thân thiện, rất để ý, luôn luôn lo lắng quan tâm vô cùng đến đất nước mình. Ông rất chống cộng nhưng cũng không quá khoan dung đối với chính quyền Sài Gòn của thời gian đó. Ông chỉ đơn giản quyết định vị trí người quốc gia yêu nước cho chính mình.
Với thời gian qua đi, ông đã suy tư nhiều, chắc không như là lúc ban đầu về tiến trình tâm linh mà người ta có thể tạm gọi là của một trí thức. Ông đã có hành vi kháng chiến đầu tiên tại Ba-lê, liền sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi những chiến xa cộng sản chiếm mất Sài Gòn. Lúc đó ông đang ở tại tòa Đại sứ Việt Nam, trong khi viên đại sứ đã không làm được gì ngoài việc phá hủy tất cả các tài liệu ở đó vì biết rằng tòa Đại sứ sẽ bị giao lại cho bọn cộng sản. Tôi nói ra điều này bởi vì khi Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 tháng 4, hàng trăm ngàn hồ sơ để lại, hoặc là do Việt Nam hoặc do người Mỹ, đã rơi vào tay của cộng sản Bắc Việt.
Bá thì trong nhiều năm qua đã tụ hợp bạn bè lại và cùng tự hỏi có thể làm được gì. Và rồi ông ta quyết định không chỉ bàn cải nữa và nhất là ông không còn muốn nghe các người Việt Nam hải ngoại cứ nói và cứ nói mãi quá nhiều , tuy là rât có thiện chí nhưng lại không chịu làm gì cụ thể cả. Ông đã quyết định phải thực sự hoạt động ngay trên đất nước mình. Ông quyết định mình phải là một trong những kháng chiến quân đầu tiên tại Việt Nam, và ông đã thật sự làm như vậy, và ông đã ra đi.
Ông đã hoạt động sâu rộng tại Việt Nam. Bằng chứng cho thấy ông đã có những mạng lưới hỗ trợ và cuộc kháng chiến này thực sự hiện hữu đã được đưa ra bởi chính bọn cộng sản khi chúng xếp cả đống vũ khí gần Quốc hội củ ở Sài Gòn và cáo buộc đó là do Bá nhập lậu về. Dù sao thì sự thật là nguyên suốt trong hai năm trường, sự kiện ông đã đi đi về về giữa Việt Nam, Thái Lan và Cam-pu-chia cũng đã chứng minh được sự thật là đã đang có một phong trào kháng chiến trong nước. Tại Việt Nam cũng như tại Pháp, kháng chiến có nghĩa là nói ít ít thôi chứ không phải là hoạt động tích cực ở ngoại quốc.
Đó quả là một quyết định đặc biệt. Bá biết rất rõ rằng có một sự khác biệt cực lớn giữa các chế độ độc tài hữu và tả khuynh. Đám sau thì không bao giờ tự sinh hũy. Chúng ta đã thấy nhiều chế độ độc tài lần lượt tự tan rã: các đại tá Hy Lạp, Tây Ban Nha của Franco, Bồ Đào Nha và hiện nay là toàn Châu Mỹ La Tinh … nhưng mãi cho tới ngày nay, chúng ta đã không bao giờ thấy một chế độ cộng sản, đã là cộng sản mà lại hết còn là cộng sản. Bá, cùng với nhiều người khác, những người hiện vẫn còn ở đó hay những người có hoạt động chung với ông, đã cùng quyết định đặt cuộc này.
Tôi nghĩ rằng sự kiện này quả là quá đặc biệt và tôi phải nói rằng, điều này là do một cái gì đó … tôi không biết phải nói thế nào …, cái tự tin hay thậm chí gần như là cái tính kiêu ngạo Việt Nam chăng? Người Việt Nam đã không hề đầu hàng. Tôi không biết sự tự tin này hay sự kiêu ngạo này là một ưu điểm hay một nhuợc điểm, nhưng dù sao, chúng vẫn có tính cách rất là bền bĩ, và tôi nghĩ rằng mọi người nên biết: họ đã không chấp nhận cộng sản, dù có lợi hay không cho tình trạng cân bằng quyền lợi chính trị trên thế giới. Đó là lý do tại sao chúng ta đã thành lập Ủy ban Trần Văn Bá …”
Oliver Todd, phát biểu được đăng lại trong Le Viêt-Nam Libre, số 93, Tháng 5 năm 1987, trang 3-4.
* Tựa đề là của Mémoires d’Indochine.
* Nhũng đoạn in ĐẬM là của người chuyển ngữ.
********
Trích từ “Témoignages de vigilance, d’amitié et de solidarité ~ Các bằng chứng về đề cao cảnh giác, về tình bạn và tình đoàn kết” phát biểu bởi Ủy ban Quốc tế Trần Văn Bá và Hiệp hội Quốc tế Nhân quyền ( Comité International Tran Van Ba et la Société Internationale pour les Droits de l’Homme ISHR) nhân ngày 27 tháng 4 năm 1987 nhằm tổ chức một buổi hòa nhạc gây quỹ để giúp thuyền nhân và để bảo vệ các nhân quyền ở Việt Nam.
Trên đường đi, đôi lúc bạn phải tạm dừng lại, nghỉ chân. Bạn nhìn quanh, phát hiện cái thưa thớt, rơi rụng dần của bầu đoàn lữ thứ, hao hụt.
Có những cuộc sum vầy tình cờ, đưa đẩy bạn ngồi kề một nhân dáng, hai ba bóng người đối diện. Những khuôn mặt, giọng cười đùa vô thưởng vô phạt, nhạt; làm bạn nhớ tới câu “Tửu phùng tri kỷ, thiên bôi thiểu. Thoại bất đầu cơ, bán cú đa”.
Đám đông nào mà chẳng vậy? Kia là rậm rật ánh sáng, nọ là bóng tối với so vai, trầm mặc tự chọn. Tôi luôn yêu mến một người anh già tuổi, ốm yếu. Ốm vì trong tay luôn nắm cốc rượu, chẳng thiết việc ăn. Yếu vì môi kia luôn ngậm điếu Winston, chẳng màng tâm sự. Hai hàm răng, chỉ còn trụ chừng năm bảy chiếc, nói giọng Hà Nội 9 nút, trầm, đục; nhưng nghe thanh tao mỗi bận anh dùng chữ Đếch. Làm cái đếch gì mà ồn thế! Chẳng phải ai cũng thốt được chữ đếch nghe vui tai bằng anh. Một người thầy vừa khó tính lại rất mực dễ chịu. Nửa xa cách nửa thân cận. Nửa khinh mạn nửa khuyên can. Có lần anh bảo: Cậu nên nhớ điều này, là nhà văn cậu nên ngồi trong bóng tối, sân khấu đèn màu là nơi dành cho Hùng Cường Mai Lệ Huyền.
Tạp chí Văn số 89, phát hành tháng 11 năm 1989 có đăng bài thơ của anh, đa số không dài, thường chỉ bốn câu, bài “Sáng Sớm”:
mắt nhắm mắt mở bước lật đật
đi một thôi đường còn gà gật
con lật con đật hai con đi
cũng sống rất an nhàn kiểu Mỹ.
Thời gian ấy tôi chăm viết. Anh gửi thư hối bài, cũng chỉ đôi dòng, chữ viết đẹp trên một vuông giấy nhỏ. Có khi hỏi: Cậu đâu biết làm thơ, nhỉ? Có khi phân trần khi nghe tôi hăm sẽ gửi sang một cái truyện dài: Tôi rất tránh chuyện phải để cho người đọc chờ cả tháng. Một ngắt rời từng đoạn là điều không nên.
Nếu anh thuận lòng, biết đâu tôi đã phóng lao, rồi phải cực lòng theo lao. Tôi đâu biết làm thơ, thơ nằm ngoài tay với. Văn Magazine như tấm gương soi, qua đó tôi thấy mặt mình rất xấu chai. Cần siêng tắm gội, chải tóc, ăn ở hợp vệ sinh mới dám bước vào vườn thơm hoa lạ (nhỡ gặp ai trong mơ, mình cũng đã chuẩn bị chút đỉnh sự tử tế). Nói đâu xa, chính anh là một rào cản. Tôi không đủ lực để tạo dựng sức mạnh, bước qua. Bài “Lẻ Một” của anh là một trong muôn ngàn lực cản:
sách một dẫy nằm trơ trên giá
cạnh người thân thế cũng trơ trơ
sách, người hai cõi cùng hư hoại
nơi một ngàn chương thiếu một tờ.
Không những nhìn thấy trước cơn hấp hối của chữ nghĩa, tháng 10 năm 1989, vào thời điểm ấy đã sớm tựu thành ở anh nỗi ám ảnh về một màu đêm tận tuyệt, nơi dừng chân thực sự của những lên đường trước, sau. Đời bày ra thức mà anh gọi là “Món Đất”:
đất tưởng còn xa trời vẫn gần
giờ đất đã gần trời xa dần
khăn bàn trải sẵn cùng thân thế
đợi chiếc khay trời món đất ăn.
Sang tới tháng 11 năm 1992, tạp chí Văn số 125 đăng một thứ gần với “Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời” (nhan tập truyện ngắn của anh), bài thơ mang tên “Nói Với Mộ Chí”:
đá kia tuổi đá đã nghìn năm
dựng trên kẻ đã về trong đất
nó sống hư huyền như nó mất
đánh dấu làm chi chỗ nó nằm.
Càng về sau anh càng thích thu bé lại, làm thơ nhiều, trong quán rượu, ngồi xe đò, trên máy bay. Thôi viết dài, đêm khuya cúi bóng trên trang giấy, đèn thắp nhìn thấy mực dầu đang xuống dần, đốm sáng lung lay. Tạm gọi là dài khi mỗi tháng chỉ viết được Sổ Tay lay out chừng bốn năm trang, kể chuyện nắng Cali mà mưa Seattle, ai vừa di dân đến ai vừa bỏ lại hành trang. Trang văn rất lành, không bình phẩm chẳng khen chê một ai (mặc xác chúng nó). Trước sau chỉ là một kẻ đưa tin, càng trung thực càng tốt. Nhưng, cốt lõi của thơ lắng đọng lời tự thán, chút yếm thế, vẽ ra viễn cảnh chừng thảng thốt, “ai tri âm đó mặn mà với ai?” Và chữ dùng, ám chút hằn học, bất ưng: “Thằng Viết Mướn”.
những trang đời viết còn dang dở
sẽ có bàn tay ấy viết giùm
ngón cái sang trang và ngón út
viết giòng vuốt mắt phút lâm chung.
Nhà văn Mai Thảo (1927-1998) hàng tháng viết tên cùng địa chỉ tôi trên bì thư vàng, ra bưu điện mua tem, con mộc Westminster đóng lên và tờ Văn chưa một lần lỗi hẹn tới vùng băng giá.
Lý ra tôi chỉ nên nói riêng về anh, nhưng khi tìm đọc lại những số báo Văn cũ, úa màu, tôi đụng phải một bài thơ “thần sầu” của Cao Đồng Khánh (Văn số 131, tháng 5.1993). Một tiếng thơ lạ, (đôi khi chữ lót của anh lại thiếu dấu huyền) người không có tên trong tuyển tập 40 năm thơ hải ngoại và cũng đã vắng mặt dài lâu tựa Mai Thảo. Cao Đồng Khánh, tác giả của thi tập nổi tiếng “Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn” sinh năm 1941 và mất năm 2000. Sau đây là bài vừa chạm trán, “Địa Chỉ Tình Yêu”, cầm lòng không đậu buộc phải chép lại, thay tưởng nhớ người bạc mệnh:
đời tứ xứ! em ơi. thành phố tôi tróc nóc
mưa bão nào. hơn nữa. cũng không sao
có người thuỷ tận đi tìm sắc nước
conmắt màu lý lục không yên.
con mắt có đuôi vẫy gọi trí nhớ
chiếc lá cuối cùng thắm thiết ra giêng
như vết môi son thoa trên đông chí
bay ngập vào trong tiểu sử phiêu lưu.
tháng chạp bạch kim. tháng giêng tóc bạc
mùa đông lạ kỳ khuya sớm tuyết trân sa
tháng chạp gió lúc. tháng giêng nước nổi
những tháng trời gầm em ở thật xa.
mưa bát ngát phía bên trời đánh lớn
trên đường sét sáng trưng ai đó quẩn quanh
sầu cố xứ nặng nề hơn thế sự
chuyến xe đò lên xuống máy long lay.
mặt trăng sắc sảo trong sơn cùng ký ức
địa chỉ tình yêu, em. hãy nhớ tận tường
con đường máu nóng đưa vô hương lộ
có một ngôi nhà trong góc giác quan.
ở ngoài bão táp. trong lòng dông tố
hãy ghé vào đây, em. bàn ghế tận tình
em sẽ gặp em, như, một người mất tích trở lại
chải gỡ đời tư bằng gương lược liêu trai.
những tàn tích hệ luỵ trồng ngoài sân, phong cảnh
về sau thành thế núi hình mây
ngôi nhà cảm động nồng nàn sự thật
yểu điệu vô cùng thân thể trăm hương.
tháng giêng, trên ấy tuyết rơi, dưới nầy mưa lũ
ở giữa, cuộc đời, lạnh lẽo long đong
mặt trời quốc sắc trong tư phần phú quý
có một ngôi nhà trong khoé mắt em.
Trong ý nghĩ cạn xợt của tôi, bài thơ trên có thể là một biểu tượng cho hai từ: Hải Ngoại. Giạt trôi. Dông bão. Hoạn nạn. Tấp bồi. Lưu lạc. Sống thở bằng trí nhớ đã thôi còn nguyên trạng. Không thể hít vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười. Một bài kệ dài chất không thứ lớp những rạn vỡ từ con chữ khác thường, lạ lẫm. Mà tôi yêu quý.
Có người nhiễu sự đặt dấu hỏi: “Thơ đến từ đâu?” Tôi câm lặng. Có người dùng từ thậm sáo: “Tôi là con chim đến từ núi lạ ngứa cổ hót chơi”. Tôi tủi thân. Tôi vụng về. Tôi chỉ biết thổn thức khi nhớ đến hai tài năng đã về “núi lạ”. Cảm ơn anh Mai Thảo. Cảm ơn anh Cao Đồng Khánh. Mộ chừng nghe cỏ mọc xanh!
1. Ai đứng thu lu ngoài vườn đen như cột nhà cháy?
Gần tàn canh mi không ngủ được hay răng?
Nghe nói đất ni nhiều hồn oan chưa siêu thoát?
Tầm bậy nà, người như mình ma không doạ mô.
Trăng chẳng hiện vì cơn giông sắp đổ. Mưa cho rồi, trời nóng muốn điên.
Sau chái bếp có nguyên lu nước, ưa tắm táp thì đốt ngọn nến lên, khỏi mày mò.
2. Gạo hẻo gạo rằn tên nghe lạ, mạ thằng Quốc ngồi vo nước đục lờ. Đợi bác nấu cháo cho nhừ mình thời lót dạ, nồi cá bống thệ kho khô thì xong mô vô nấy từ hôm qua. Ở nhà quê sợ mấy đứa chê đạm bạc, kệ đi mà ăn lấy thảo cho bác vui. Khi hôm trở trăn bác nghe lục đục, lạ nước lạ cái ngủ không xuống phải không? Dạ tại vì chưa quen với giờ giấc, ở bên con giờ ni đang hoàng hôn. Hoà nì, mi đã thấy cái hồi hôm đứng thu lu doạ dẫm? Thưa bác, cái trang thờ nớ dành cho ai? Lập ra cho ba thằng Quốc, ban đầu cứ đinh ninh là như rứa, nhưng nói tội trời, sau ni bác thắp nhang cho cả anh hắn luôn. Cái trang thờ làm bằng gỗ tạp bạc nắng mưa, na ná như hình hài Chùa Một Cột bị thu nhỏ dãi dầu, ngó tợ chuồng bồ câu chim chóc không dám ghé lại, dù gì nơi thờ phượng cũng toát được chút uy. Ba thằng Quốc chết mờ ám chẳng rõ lý do nhưng anh trai hắn mất vì ra biển bị tàu lạ đụng chìm. Hai ngày xác trôi qua con nước khác, nghe đồn có đàn cá xanh tống tiễn đẩy đưa. Nhà neo người khi không thành cô quạnh, hàn khí đâu đó váng vất khiến hồ nghi những linh hồn dật dờ chưa định được chỗ tấp vào.
Ngọn lửa bùng đỏ nơi ba thanh củi chụm, reo vui táp đen bồ hóng cái nồi đồng sứt quai. Ngọn khói xám đòi trườn ra sân đất, màu trời thuỷ chung vẫn trần nặng tức mưa. Đất nức nẻ chẳng khác gót chân mạ thằng Quốc. Bác ở đơn thân không lo ngại chút chi hay răng? Bác già rồi mọi thứ đều nguội lạnh, mà nói cho ngay thằng Quốc lao động ngoài thị xã tuần về thăm có khi hai lần. Chao, hắn mà biết có hai người bạn cũ tới, e việc cơ quan cũng vất đó hả dạ chạy u về.
3. Dòm hai đứa bây càng khiến tao tin vô số phận. Tao bương chải nhiều phen rồi cũng đành ngoi ngóp giữa nước đọng ao tù. Thằng Hoà phát tướng mà riêng thằng Phú cứ không đổi, có đánh đập tới chết tao vẫn còn nhìn nhận ra ngay. Tụi bây ưa dành sự ngạc nhiên quá hơn ngày xưa chơi trò trốn tìm, ù mọi, đạp mạng. Năm mười mười lăm ú tim muốn rớt nước mắt ra ngoài. Lặn lội đường xa, kín tiếng tìm cho ra một địa chỉ heo hút… Mừng vui này bộn bề hơn thứ mừng vui đại thắng mùa xuân. Mà này, nếu có đãi đằng chia sẻ chuyện hợp tan tao đề nghị mình đừng phơi thây ra ngồi ngoài quán, có bạn Việt kiều ăn trắng mặt trơn dễ khiến lắm đứa dựng chuyện thêu dệt điều không hay. Đồng ý quá đi chớ. Rứa thì bọn tao góp tiền nhờ mi đi chợ, tha đồ đoàn về trước tiên là bày ra mâm cỗ cho hai đứa tao thắp nhang dưới trang thờ. “Mạ già mạ nỏ có chi, thương con thì lại bù chì cho con”. Nếu không nhờ mạ mi bao che dấu diếm, cho nương náu chỉ bày, thì ngày nớ bọn tao đã không leo lên được trên ghe. Ra đi mà luôn nhớ tới đêm xuất phát, chuyến này về quyết đền đáp chút tri ân.
Hôm qua tụi tao thấy trên vách có treo tấm ảnh người con gái. Lòng dậy hồ nghi không tiện hỏi mạ mi. Ôi, tấm ảnh! Đã bao lần tao muốn đốt bỏ mà mạ tao khăng khăng bảo vệ không được quyền rớ tay vô. Nó tên Hoa, hề hề bọn bây đâu ngờ thằng Quốc này cũng từng có vợ? Hoa bỏ tao nói đi tìm tương lai, đất phèn nước lợ chốn ni ngay cả bông hoa nở ra cũng còi cọc, lên chốn phồn hoa thử cãi mệnh trời một phen. Lạ một điều là mạ tao không một chút giận, mình đã khổ rồi thì chớ bắt người khác phải cực theo. Nuôi con gà, nhốt nó vào lồng chật thấy cũng không nỡ, mạ chẳng đành lòng nhìn nhan sắc Hoa phải chịu phai tàn.
4. Chào bác tụi con xin phép được rời đi, ở đây bác nhớ giữ gìn sức khoẻ. Tụi con có dặn thằng Quốc là chớ tham việc cơ quan mà bỏ bê mạ già, chí ít tuần phải bốn năm bữa về ngồi chung mâm. Bác cảm ơn nghe, người mình răng luôn ngắn chuyện đoàn viên? Cứ hao hụt cứ lìa xa cứ tan đàn sẩy nghé, chừ bác chỉ còn biết trời kêu thì phải dạ, mình cứ giả lơ giả điếc không nghe tiếng sấm thì mô được hè? Tháng trước bà con ăn phải cá độc liền lăn đùng ra chết cả, nhờ ăn chay bác đã qua cơn hạn một lần. Tội nghiệp! Con Hoa ở xa nghe tin có chắt chiu gửi về cho bác mấy lọ thuốc bổ, đôi lúc bác nghĩ tầm bậy là mình vô phúc chẳng có được đứa con ruột rà như Hoa. Nói mi nghe đừng giận nghe Quốc, cậu Phú cậu Hoà ni tâm lành độ lượng biết giúp kẻ khốn khó thì mi phải nên mang ơn nặng nghĩa dày. Ai phụ bạc mình thì hãy tự vấn lòng, rằng lỗi ấy do tôi gieo ra.
Cái chi nữa đây? Đã tặng nhiều thứ rồi bác không dám nhận nữa mô. Cái ni chỉ là chút đỉnh thôi mà, giá như còn ở dài ngày thì tụi con đã xắn tay lập dựng một cái trang thờ khác, đường bệ chỉnh chu cho bác trai. Bác dùng nó mà sai thằng Quốc hoặc nhờ ai đó ra công để nơi thờ phượng bớt hoang lạnh xiêu đổ. Nghe rớt nước mắt, thôi đi đi, bác không ưa ai chộ bác khóc mô tề! Ui, đã từng này tuổi rồi mà chưa khô cạn được nước mắt!
5. Trời tối, từ nhà hàng đặc sản Số Một, khi thanh toán hoá đơn, biết Phú và Hoà là Việt kiều, bà chủ quán giới thiệu “hai anh” nên quá bộ tới nhà nghỉ Phượng Hồng mà trút bụi đường dưỡng sức qua đêm. Vừa không xa, lại nữa địa điểm ấy chưa từng gây ra điều tiếng, an tâm. Có sao nói vậy người ơi!
Mưa đã trút thịnh nộ suốt lộ trình ngồi trên xe đò. Một tai nạn bất ngờ, đụng phải chiếc xe tải ngược chiều làm xẩy ra “sự cố ùn tắc”. May không ai chết, may không ở đồng không mông quạnh, may hiện trường nằm ngay đường biên thành phố. Trước khi về thăm lại chốn cũ, cả hai đã “lên lưới” thu nhập thông tin: Mức độ hiểm nghèo xẩy tới mà bạn cần nắm bắt là 57%, tính luôn chuyện ngộ độc thực phẩm hoặc bị lường gạt. May phước không trầy trụa. Chuyện nhỏ! Phú, Hoà đeo ba-lô phóc ra khỏi chiếc xe đò bị dập đầu bốc khói trước khi cảnh sát giao thông xuất hiện. Mưa rát mặt, người ướt đầm đìa như vừa lội qua được con sông rộng, lên bờ, thở dốc, gọi món Cơm Sà Bì Chưởng đi kèm bia Trung quốc xuất khẩu đưa cay. Và trả tiền. Và nghe lời chỉ bày. Và dọ dẫm bước dưới một vũ lượng rào rạt, mờ mắt.
Mang tên Phượng Hồng nhưng chốn này tuồng như không trồng cây phượng cho nên chi chủ nhân đành quét màu vôi hồng cho “ăn” chút đỉnh với môn bài. Mưa dữ thần hắt tạt, thẩm thấu nên hồng thành ra màu bã trầu, ánh điện xanh đỏ loà loẹt đọng chiếu lại hoá ra phượng nâu, bầm dập ám tối.
Bước vô. Láo liên. Xớn xác. Thăm dò. Ngó ngàng. Tra hỏi. Tại sao quý khách đi hai người mà không mướn hai phòng đơn lẻ, riêng tây?
Trước tiên, tại vì bọn tôi sợ ma. Sau nữa, bọn tôi ngủ thì ít mà trao đổi chuyện trò thì nhiều. Lấy một phòng rộng giá cả so ra ít hao hụt hơn chăng?
Cô gái chỉ trồi lên có nửa đầu vì kẹt ngồi sau cái máy vi tính hiệu Samsung màn hình khá lớn, giây nhợ rối rắm che choáng. Một bình bông bằng nhựa đặt trên quầy, chả rõ hoa rậm rạp ấy thuộc giống loài gì, chỉ biết nó nở quanh năm mà không cần gia công tưới nước. Bụi cũng chẳng chùi, nó héo theo cách của nó, đổi màu thời gian, chẳng tươi mươi nguyên trạng. Cô gái thì khác, mặt hoa da phấn. Son môi cô dùng cũng biệt lệ mọng thắm, đỏ lạ thường không giống màu cờ cũng chẳng hệt hàng chữ đỏ “Nhiệt liệt chào mừng quý khách”. Quý khách này là dân pê-đê chăng? Bóng chăng? Bẹo hình bẹo dạng chăng? “Xi-đa là bệnh ngoài da, mười năm mới chết thì ta sợ gì” chăng? Đàn ông con trai ưa ngủ chung một phòng, cổ lai hy! Việt kiều kiểu gì kỳ khôi, kêu ngủ hai phòng thì sợ tốn tiền, hơi bị lạ!
Đang lo làm thủ tục đúng quy trình, bàn tay gõ bàn phím chợt dừng năm ngón khi có người con gái mặc váy ngắn vừa rũ nước mưa vừa xếp dù vừa bước vô. Sao đến muộn vậy? Bộ không thấy mưa sao? Lại đụng phải thằng taxi cà chớn ưa cà khịa. Phòng số mấy vậy? Số bẩy. Hoà ngó chăm vô mặt người con gái, ngây dại, chẳng biết trời trăng tựa đứa bị chứng mộng du. Đợi cô ta vuốt tém đầu tóc, đợi phủi mưa, đợi sửa áo, đợi kéo cái váy xuống, đợi cất chiếc gương soi mặt nhỏ vào lại trong túi đeo vai rồi mới hắng giọng: Đừng vô số bảy thì tôi trả cô bao nhiêu? Nước bông thơm dằn vặt theo cái mũi nhăn mắt háy: Chết tía! Ưa chơi cha thiên hạ hay sao? Bữa nay ăn nhằm thức gì mà vừa tránh vỏ dưa lại gặp ngay vỏ dừa! Hoà chủ trương đẹp trai không bằng chai mặt: Nán lại năm mười phút cũng không được sao? Cho người ta hỏi chút chuyện lấn cấn. Không rảnh! Bộ thích làm công an lắm à? Hoà nói: Ô-kê, tuỳ hỉ. Vậy thì vui vẻ với ông số bảy mất bao lâu, nói để tui đợi. Cô nhân viên nhà nghỉ lớn tiếng: Vậy là sao? Hai anh còn giữ ý định ngủ chung hay mướn hai phòng riêng? Phú trả lời: Tuỳ thuộc vào cô ấy cả. Xin lỗi cô tên chi? Tui tên Phượng, chuyện thời gian tui cũng chưa có câu trả lời xác đáng, tuỳ thuộc vào nỗi buồn vui của cha già dịch ở số bảy. Làm chi mất công chờ đợi vậy? Tui có quen biết chi với hai anh? Hai người như kiểu xa lạ ở đâu vừa đường đột vù tới?
Hoà hỏi người ngồi sau màn hình vừa chợt đứng lên: Cô có biết thêm ai khác? Gọi người đó thế cô Phượng có được không? Phí tổn tôi chi trả. Í, chơi ngon vậy đó, một đêm vừa gió lại vừa mưa, khi không mà Phượng trở nên cháy hàng! Hình như làm việc này ai cũng mang bí danh cả, đúng không? Tôi không nghĩ Phượng là tên cúng cơm. Sao anh hai lại đâm ác khẩu thế? Người đẹp nào bị bức tử mà vội lo việc luộc hột vịt cúng cơm! Tiền Việt tôi không còn nhiều, đô-la thì khác. 100 đô, Phượng tính sao nếu huỷ cái hẹn với ông số bảy. Cô tiếp viên đá lông nheo: Đêm nay sao Phượng Hồng ngộ quá phải không cưng? Thiệt đúng là ngàn đêm một thuở! Cứ chăm Phượng mà đòi ăn tươi nuốt sống. Cưng nhắm sức chìu hai anh Việt kiều cùng lúc có đặng không? Để chị gọi cái Nụ lên tiếp ông số bẩy cho vậy.
6. Cửa phòng số 9 đóng lại. Ngọn đèn bắt giữa phòng bất chợt mở trừng, sáng kiểu mù loà. Phú nắm iPhone ở tay: Mình tự sướng một phát thì có trở ngại chi không? Chi vậy? Áo quần cứ kín bưng như này thì ô-kê. Anh mở đường đi trước rồi tới phiên anh kia hay sao? Trao tiền cho em đi. Hoà ngồi xuống mé giường, moi túi đếm đúng năm tờ giấy 20 màu xanh chung thuỷ “hình phạt khổ sai chung thân kẻ nào làm giả giấy bạc”. Dối gạt thì không lãnh án? Hai đứa tôi mời Phượng vào phòng chỉ để hỏi han trò chuyện thôi, quyết không làm việc bậy bạ như Phượng nghĩ. Đầu tiên xin Phượng làm ơn nói tên thật cho bọn tôi nghe. Đừng ngại ngùng vì ngày mai chúng tôi phải vào Sài Gòn, rồi vĩnh viễn rời xa đất nước này. Nếu cứ một mực muốn chôn sâu thì tôi cũng tôn trọng việc nan giải ấy, thất vọng chẳng cần tìm hiểu thêm. Chưa thấy có ai kỳ cục như hai anh cả, nếu tên thật của tui là Hoa thì chuyện gì sẽ xẩy ra?
Phú ngó Hoà. Hoà trông tới Phú. Cả hai ngầm hiểu, bức ảnh treo lạc loài trong căn nhà ám tối kia tuyệt chẳng mấy thay đổi, vẫn chung tình so với dung mạo của người con gái bỏ chồng dưới quê dấn liều lên tỉnh để đi khách. Căn nhà cô đoạn lìa đã chẳng có tấm ảnh chụp người đàn bà da nhiều nếp gấp, chịu đựng sự già cỗi tác hại trong câm nín; không luôn gương mặt trông có vẻ cộc cằn của thằng đàn ông tên Quốc. Cộc cằn đến trân tráo, chẳng buồn dấu diếm những hư hao, chai lỳ. Lộ bày ra sự giải thích: Khi người ta mất hết niềm vui, người ta chẳng còn gì để sợ hãi.
Hoa cất tiền đi. Nếu bọn tôi trao thêm cho Hoa một trăm nữa, nhờ Hoa dắt về thăm quê cũ thì Hoa có vui lòng không? Đừng có điên, đâu ai quen biết nhau mà đề nghị kiểu dở hơi như thế. Tui đi được chưa? Còn gì trao đổi nữa thôi? Đứng đây lâu cái muốn điên! Chỉ còn một chuyện sau cùng, tôi phải thú thật cho Hoa nghe, là tôi cũng giống như Hoa vậy, tôi không mang tên Hoà, tên thật của tôi là Quốc.
Cửa phòng mở vội, bóng người vụt thoát ra như kiểu bị ma rượt, Hoa đóng nó bằng tất cả sức mạnh mà Hoa có. Không phải bằng sự giận dữ, hình như cũng không trùng với bực mình. Tiếng động gây choáng váng, hơn cả sự tỉnh thức. Ít ra thì nó gây được nỗi tò mò. Cửa phòng số 7 mở hé, vọng ra tiếng gọi: Phượng… Phượng, vào đây với anh. Anh đợi nãy giờ. Phượng… Ở đây nè…
Phú nói cùng Hoà: Không hiểu sao, tao linh tính là Hoa sẽ trở lại, gõ cửa phòng mình, nội trong đêm nay. Hoà buông mình xuống tấm nệm mà bề mặt chưa hề gợn một vết nhăn: Tao không nghĩ vậy. Tao nghĩ tới mọi thứ đều do ma đưa lối quỷ dẫn đường cả… Ừ, thì cứ chờ xem… Hình như ngoài trời mưa vẫn chưa ngừng rơi?
Trúc Phương trong vai một người lính: “Một nửa ba năm, anh yêu tình áo giày quân nhân, đường xuôi quân ghé lại đôi lần. Bao nhiêu âu lo, có hôm đã hỏi người yêu bé bỏng hay mơ: “Anh vắng nhà hoài em có nhớ?”
Và người yêu của ông ở hậu phương đã hồi đáp: “Trả lời anh yêu: “Không gian còn, bước thời gian đi; một ngàn đêm nhớ nhiều mơ nhiều. Mưa khuya giăng tơ; gió khuya hững hờ đèn hiu hắt ngọn tương tư, đôi lúc buồn vì anh vắng nhà.”
Và người lính an ủi người yêu của mình: “Tình nước lòng trai, anh hiên ngang đối diện mặt trời. Chân qua chốn nào, thương chất lên cao; đã yêu lính trẻ ngày về ai tiếc gì.”
Và em yêu đáp lại: Ca từ đơn giản, dễ hiểu, chạm sâu vào tâm hồn người lính trận, mà sanh mạng ở trận tiền là ngàn cân treo sợi tóc, sống nay chết mai. Ai ra trận mà không bỏ lại người yêu bé bỏng ở quê nhà?
Ca sĩ Hoàng Oanh và Trung Chỉnh, cả hai đều là dân gốc Mỹ Tho, hát bài nầy trên Đài Truyền hình số 9. Bài hát nầy cũng phát nhiều lần trên Đài phát thanh Sài Gòn hồi Tết Mậu Thân năm 1968. Nhạc phẩm “Để trả lời một câu hỏi” của Trúc Phương là lời cổ võ, khích lệ tinh thần chiến đấu không nề gian khổ; chịu đựng nỗi chia ly người yêu dấu của chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng. Những người lính còn rất trẻ đó, tuân lịnh tổng động viên, đang dốc toàn lực để chống lại cuộc tổng công kích ác liệt của CS từ Miền Bắc tràn vào 44 tỉnh thành của miền Nam Việt Nam kể cả thủ đô Sài Gòn và cố đô Huế.
Nhạc sĩ Trúc Phương
Trước sức lan tỏa gây ảnh hưởng rộng khắp của nhạc phẩm “Để trả lời một câu hỏi” của nhạc sĩ Trúc Phương, người chưa hề mặc áo lính, Linh Phương bèn phản kích bằng cách viết một bài thơ cố ý lấy trùng tên “Để trả lời một câu hỏi” hù dọa thương tật, chết chóc của người lính ngoài mặt trận hầu lung lạc tinh thần chiến đấu của quân ta.
Giờ đây chiến tuyến đã được phân vạch rõ ràng:
Trúc Phương thuộc phe ta.
Linh Phương thuộc phe nó.
So với bài thơ viết về chiến tranh khác như “Một phiên cố nhân” của Trương Tịch đời Đường bên Tàu, bài thơ của Linh Phương chỉ đáng xách dép: “Đánh Nhục Chi theo quân năm trước. Toàn đạo binh bị diệt trên thành. Hán, Phiên vắng bặt tin anh. Cho dù sống chết cũng đành xa nhau. Màn trướng nát không ai thu lượm. Ngựa trở về cờ phướn rách tan. Cúng anh, nghi vẫn sống còn. Chân trời xa tắp, khóc trông quê nhà”
Advertisement
Nhưng Phạm Duy đã nhào vô hà hơi tiếp sức cho Linh Phương bằng cách phổ nhạc bài thơ “Để trả lời một câu hỏi” với cái nhãn mới là “Kỷ vật cho em”.
Phạm Duy theo Bob Dylan trong phong trào phản chiến đang rầm rộ ở Mỹ.“Em hỏi anh bao giờ trở lại? Xin trả lời mai mốt anh về. Không bằng chiến trận Plei Me. Hay Đức Cơ – Đồng Xoài – Bình Giã. Anh trở về hàng cây nghiêng ngả. Anh trở về hòm gỗ cài hoa. Anh trở về bằng chiếc băng ca. Trên trực thăng sơn màu tang trắng. Mai trở về chiều hoang trốn nắng. Poncho buồn liệm kín hồn anh. Mai trở về bờ tóc em xanh. Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt. Mai anh về em sầu thê thiết. Kỷ vật đây viên đạn đồng đen Cho em làm kỷ niệm sang sông. Đời con gái một lần dang dở. Mai anh về trên đôi nạng gỗ. Bại tướng về làm gã cụt chân. Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân. Bên người yêu tật nguyền chai đá. Thì thôi hãy nhìn nhau xa lạ. Em nhìn anh – ánh mắt chưa quen. Anh nhìn em – anh sẽ cố quên. Tình nghĩa cũ một lần trăng trối”
Ý của bài thơ phản chiến nầy là: đừng đánh nữa; hãy buông súng. Hãy “Nối vòng tay lớn” của Trịnh Công Sơn. Nghĩa là “Mẹ ơi nuôi con lớn để con làm tù binh” của Miên Đức Thắng.
“Ăn cướp tới nhà! Thôi tay tao nè; mày trói tao đi; rồi mày muốn cướp cái gì cũng được. Chỉ cần mày cho tao sống nhục! Mắt thấy không dám nhìn; miệng có không dám nói cũng được.”
Chỉ những kẻ trốn lính mới ra rả bài nầy để đâm sau lưng người chiến sĩ đang chiến đấu ở chiến trường.
Linh Phương
Chính Phạm Duy đã từng thú nhận trong hồi ký của mình: “…Bài hát trở thành một hiện tượng thời đó. Ở phòng trà, khi ca sĩ hát bài đó lên bao giờ cũng có sự náo động nơi khán thính giả. Nếu là thường dân thì phản ứng cũng vừa phải. Nhưng vì hồi đó dân nhà binh ở 4 vùng chiến thuật về Sài Gòn là đi phòng trà, và khi trong đám thính giả có một sĩ quan đi nghỉ phép hay một thương phế binh là có sự phản ứng ghê hồn nơi người nghe. Có thể nói bài này gây một không khí phản chiến.”
Chắc quý độc giả đều biết Kevin Carter, nhiếp ảnh gia đoạt giải Pulitzer1994. Ông chụp hình một đứa bé Phi Châu lòi xương sườn, đầu gục xuống vì đói, bên cạnh một con kên kên đang chờ ăn xác. Toàn thế giới phê phán thái độ dửng dưng của Carter: “Tại sao ông không làm gì giúp một đứa bé đói gần chết mà chỉ lo chụp hình để tranh giải Pulitzer? Ông có trái tim không?” Lương tâm cắn rứt, Carter tìm quên trong những cơn phê ma túy; cuối cùng ông tự sát.
Cũng y như Carter, Linh Phương và Phạm Duy cũng lợi dụng bi kịch của những người lính chiến đấu vì tự do để kiếm tiền, kiếm danh cho riêng mình. Hành vi đó thế giới phê phán. Cũng hành vi đó lại có một số nhiều người Việt tung hô? Sao kỳ vậy? Sự khác nhau là trình độ dân trí! Một bên có cái đầu và trái tim. Một bên là tâm lý bầy đàn!
Tiếng Anh có thành ngữ “Stabbing behind the back of soldiers” (Đâm sau lưng người lính) để chỉ sự phản bội. Đâm sau lưng là một hành động đê hèn được thực hiện ngay đối với những đồng đội của mình đang dốc toàn lực ra. Linh Phương đã đâm sau lưng những người lính của chúng ta. Bài thơ “Để trả lời một câu hỏi” hóa phép thành ca khúc “Kỷ vật cho em” đã góp phần không nhỏ đưa đến ngày định mệnh 30 tháng Tư!
Xưa giờ, tui luôn kính trọng các nhà văn; vì họ là người có chữ nghĩa, có tư cách. Dẫu nghèo nhưng mấy ổng, bả rất giữ thể diện. Họ ăn mặc lịch sự đàng hoàng. Pyjama là đồ ngủ; không mặc nó ra đường. Khăn rằn để đi tắm kinh, đi tắm sông. Nhưng giờ thấy mấy cái hình này, tui gai mắt quá nên: “Dạ! Thưa nhà văn Võ Đắc Danh và Nguyễn Ngọc Tư (đều là dân Cà Mau, tiếng Miên là nước đen. Khăn rằn nguyên thủy cũng là của người Miên): “Đi chụp hình quảng cáo mà tròng chiếc khăn rằn vô cần cổ chi vậy ông nội, bà nội ?”
Thì người đẹp mà Phạm Thái yêu trong Tiêu Sơn Tráng sĩ của Khái Hưng, dạy Văn trong nước, cho biết: “Bây giờ khăn choàng tắm đã trở thành ‘mốt’ rồi anh. Họ quấn nó như quấn ‘foulard’. Dân giàu như ông trùm chuyên phá rừng cưa cây, gỗ đem đi bán; lấy đất bazan của người Thượng để trồng cà phê cũng đem đi bán, dám quấn khăn rằn chung với áo vest!”
“Thưa! Tiếng Pháp tui bù trất hè; nên tui đi tra tự điển Pháp Việt. Té ra chữ “foulard” là khăn ‘phu la’, khăn quàng cổ. Con nít trong nước phải có khăn quàng đỏ xuất xứ từ quê hương của ông họ ‘Lê’ tên ‘nin’ vĩ đại (He he). Người lớn phải quàng khăn rằn để chứng tỏ tao đây là Việt Cộng (VC).
Nên tui vô phép trả lời em như vầy: “Hồi xưa lúc đi dạy ở Kế Sách, Sóc Trăng tui thấy mấy em Miên mặc “sarong” dưới mông, bên hông em choàng khăn rằn ra sông tắm! Coi quá đã.
Võ Đắc Danh
Theo tui biết: “Khăn rằn dùng làm khăn choàng tắm. Tắm xong để lau mình từ đầu tới đít cho khỏi bị ướt. Ướt là bị lác. Lác ngứa thấy mẹ!”
Còn “Ê! Nhà văn đi chụp hình đăng báo quảng cáo!” “Hổng lẽ chờ tao đi lấy cái khăn choàng tắm của con vợ tao cái đã hay sao?” Làm vậy thiên hạ nói mình khùng! Ha ha!
Tại sao kêu khăn rằn? Vì nó có sọc ngang dọc. Hồi xưa dân vùng VC hay kêu Biệt Động Quân, Thủy quân Lục chiến và Nhảy Dù là lính rằn ri. Vì quần áo trận của 3 binh chủng thiện chiến nầy hịt như da rắn, rằn ri cá.
Rồi một người đẹp khác dạy trường Đại học Sư phạm Cần Thơ nhảy vô chơi tui nguyên một bài diễn văn: “Ông này hơi quá khích cái vụ khăn choàng tắm. Nó cơ bản là khăn. Nó có 2 loại, cùng chất liệu (cotton, dệt thủ công, dệt thưa nên dễ hút nước, dễ phơi khô), loại kích thước nhỏ khoảng 4 tấc × 1m, và loại lớn hơn, bằng cái khăn tắm bây giờ. Mà khăn thì dân miền Nam xài nhiều cách. Mấy bà lớn tuổi đi chợ đội khăn rằn trên đầu, mà đội có duyên ở chỗ chừa một đầu lòng thòng một bên để khi ăn trầu chảy nước thì tiện tay kéo lên lau miệng.”
Nguyễn Ngọc Tư
“Dấu ấn thời thơ ấu của tui là hình ảnh Ngoại với cái khăn rằn đội đầu. Mà hễ khăn đã đội trên đầu rồi là không có xài vô chuyện khác như ông nói vì cái đầu để thờ ông bà.”
“Còn tên của nó là choàng tắm, là loại khăn lớn hơn dùng cho mấy mục đích tắm táp, thay đồ dã chiến hoặc là quấn làm quần thay ‘xà rông’ ai mà đội lên đầu bao giờ?”
“Mai mốt, ông có muốn ‘sặc cà rây’ thì ông ngó kỹ lại cái khăn coi nó cỡ gì, ha?”
“Hồi đó, có ông Chà ở Châu Giang bán khăn đi ngang xóm, rao nguyên một bài có ca có kệ, về công dụng của xấp khăn có lớn, có nhỏ trên tay ổng, giờ tui quên mất tiêu rồi.” “Ngoại mua cả xấp rồi phát cho mấy đứa. Dĩ nhiên là tụi tui chỉ được phát khăn tắm thôi, ngoại không cho khăn đội đầu. Nhớ ngoại!”
Lê Nguyên Vũ
Nóng mũi, tui bèn đốp lại em: “Tui đồng ý với bà khăn rằn có loại đội đầu, loại đi tắm! Khăn đội đầu che nắng nó ngắn ngủn hè. Khăn choàng tắm nó dài, nó mới che hết cái mông đít.”
“Hồi xưa bà Ngoại tui ra ruộng mang 1 chiếc khăn choàng tắm thôi. Nắng đội đầu, tắm lau mình. Đi làm ruộng chớ đâu phải đi ‘phượt’ đâu mà mua chi tới 2 cái?! Còn đi ăn đám, Ngoại đội khăn lụa của Má tui cho, coi đẹp lắm!”
Ông Nội tui dân Chà, Châu Giang Châu Đốc nè! Khăn rằn và xà rông (sarong) gốc của người Miên, không phải của người Chàm. Người Chàm mất nước chạy qua Miên. Chịu ảnh hưởng về trang phục của người Miên một phần. Bị Miên đàn áp mới chạy về mấy cái cù lao bên Châu Đốc. Người Chàm Châu Đốc bán thuốc Nam. Mấy chú Ba bán thuốc bắc cạnh tranh bất chính phao tin đồn coi chừng bị tụi nó thư?! Bà nói bậy bạ đụng chạm, tui buồn lắm nhe!”
Thì em sửng cồ lại với tui: “Ê! Tui kể chuyện Ngoại tui và kỷ niệm thời thơ ấu của tui. Cái vụ khăn lụa đội đầu ông nói là của ai chớ bà Ngoại tui thì chỉ có đội khăn rằn, sọc vuông, 2 màu đen hoặc đỏ.”
Tranh Bảo Huân
“Hồi đó, nổi tiếng khắp chợ Cần Thơ, Ngoại tui bán bánh ít; kế bên là bà bán bánh tét. Bả cũng đội khăn rằn y hịt Ngoại tui. Giờ Ngoại tui mất rồi; bà bánh tét có con bảo lãnh đi Mỹ, hổng biết có còn sống hông để mần chứng cho tui?” Đừng chụp mũ mà cũng đừng chê bai nghen, mích lòng!”
Xa quê, xa tiếng Việt, nhưng thấy không đúng là tui cãi! Chớ tui không “cá nhân” em đâu nhe! (Chữ của Bình Nguyên Lộc trong truyện dài Đò Dọc, Giải nhất Văn chương toàn quốc VNCH 1959-1960).
“Tui bắn cối 81, bả quyết ăn thua đủ bằng cối 82 ly của VC. Tui nói tới loại khăn choàng tắm VC chụp hình mà bả không hiểu?! Làm chồng bả chắc khổ lắm he?”
2 bà chơi cả ‘vú lấp miệng tui’ cho tui nghẹt thở mà chết: “Là cô giáo, chị Quỳnh Như viết khăn choàng tắm hổng có sai đâu.”
“Nói bậy nè! Chàng hảng là bung 2 cái cẳng ra cho rộng. Con gái nằm ngủ không khép đùi là bị rầy là sao nằm chàng hảng chê hê vậy? Còn choàng khăn là lấy khăn che lại. Cái banh ra; cái che lại. 2 tiếng phản nghĩa nhau nhe mấy bà Ngoại!
Nghe vậy, mấy Ngoại chém vè hết ráo. Chờ bài viết nào của tui có sơ hở 2 em sẽ nhào ra phục hận. Trẫm chờ mấy em đây! He He!
Tôi và Cúc đứng nép vào một bên cửa, tiễn đưa ông Năm bánh xèo ra về. Chờ cho đến khi thân hình khá to lớn của ông ta mất hút trong bóng đêm dày đặc, lúc bấy giờ hai đứa mới đóng cửa trở vào nhà.
Dưới ánh sáng của ngọn đèn neon, nhìn gương mặt của Cúc tươi cười hớn hở, tôi ngạc nhiên hỏi:
-Vừa bị ép buộc ký giấy tờ bán căn biệt thự nguy nga đồ sộ, tọa lạc trên một lô đất rộng cả mẫu mà không có được đồng xu hay cắc bạc nào, sao em lại vui quá như vậy.
Cúc chậm rãi hỏi tôi.
-Nếu anh phải chọn giữa chuyện Việt Cộng bắt em bỏ tù mà không cho biết đến khi nào mới thả, và chuyện họ lấy căn nhà mà mình đang ở, thì anh sẽ chọn điều nào?
Tôi hiểu Cúc muốn nói gì rồi nên đáp.
-Dĩ nhiên là phải lấy của che thân, cúng cho họ căn nhà.
Cúc ôm chặt lấy tôi.
-Em cũng vậy thôi, bỏ căn biệt thự để có anh là chuyện em phải làm.
Đang nói chuyện, Cúc chợt nhỏ giọng lại như muốn tâm sự với tôi.
Advertisement
-Anh biết không, suốt mấy ngày qua em sống trong lo âu, sợ hãi, vì tin rằng chuyện anh khai gian lý lịch trong trại cải tạo, trước sau gì cũng bị Cộng Sản phát hiện. Lúc bấy giờ họ sẽ bắt anh bỏ tù lại, lần này sẽ không có ngày về.
Tôi nhắc Cúc.
-Mới mấy ngày trước đây em khẳng định với anh là, Việt Cộng đã không cho người đi xác minh lời khai của anh trong trại tù cải tạo nên mới thả anh về. Tại sao hôm nay, em lại nói khác đi như vậy. Em có tự mâu thuẫn với mình hay không?
Cúc với nụ cười rạng rỡ trên môi.
-Trước đây em chỉ muốn anh được an lòng, nên em tự lừa dối mình mà nói với anh như vậy. Hôm nay, sau khi nghe ông Năm đồng ý đánh đổi tự do của anh để lấy căn biệt thự, em mới biết chắc một điều, tạm thời anh đã thoát khỏi cái tội man khai lý lịch. Em mừng là vì vậy.
Ngập ngừng một chút, Cúc nói tiếp.
-Anh thử nghĩ coi, sau tháng 4 năm 75, mấy chục tòa nhà cao tầng của ba ở Sài Gòn đã bị Đảng Cộng Sản Việt Nam ăn cướp giữa ban ngày. Còn căn biệt thự ở đường Công Lý, nơi mà anh với em đang ở cũng bị họ đem cả chục chiếc xe tăng, trên đó có hàng trăm bộ đội Cộng Sản trang bị súng AK, B40, tràn vô nhà mình đuổi anh và em ra khỏi nhà. Chuyện này chính anh đã chứng kiến. Mất chừng đó nhà cửa, em không một chút tiếc thương thì sá gì căn biệt thự ở Đà Lạt. Hơn nữa, năm ngoái khi anh và em về tới Đà Lạt, em vẫn đinh ninh rằng ngôi biệt thự này đã bị Cộng Sản lấy mất rồi.
Vui vì thấy vợ thương yêu và lo lắng cho mình, tôi đi tới cái tủ rượu nằm khuất sau một bức tường nơi phòng khách, chọn một chai. Ba tôi không phải là đệ tử của thần lưu linh, thế nhưng cái tủ rượu của ông phải nói là thuộc vào hạng hiếm có ở Việt Nam. Tủ được đóng bằng loại gỗ tốt, to lớn, bề thế, đứng choán cả một góc phòng, bên trong với hàng trăm chai rượu quý của những hãng sản xuất rượu nổi danh trên thế giới. Dân nghiện chỉ cần nhìn thấy cái tủ rượu của nhà tôi, sẽ nghĩ ngay ba tôi là một tay uống rượu như hũ chìm.
Hình minh họa
Sở dĩ có chuyện ngược đời như vậy, vì thực ra cái tủ rượu của nhà tôi là do bác Bảy, ông ba vợ của tôi đưa từ Sài Gòn lên. Bác Bảy muốn có riêng một tủ rượu để ở nhà ba tôi, phòng khi ông lên Đà Lạt thăm người bạn cố tri cũng là ông sui, bác có sẵn rượu để uống. Đầu dây mối nhợ là như vậy.
Đưa chai Johnnie Walker nhãn đen lên cao, tôi nói.
-Tối nay vợ chồng mình, mỗi đứa phải cưa dăm ba ly mừng ngày vui.
Cúc nhìn tôi với đôi mắt đầy vẻ ngạc nhiên.
-Chưa bao giờ em thấy anh chạm tay vào ly rượu, nói gì đến chuyện uống vài ly.
Tôi cười vui vẻ.
-Ngày xưa, lần đầu tiên đưa em về Sài Gòn gặp bác Bảy, trong bữa cơm tối, ông bắt anh phải uống rượu với ông.
Cúc chỉnh tôi.
-Anh phải gọi là ba, không còn là bác Bảy nữa đâu.
Tôi gật đầu nói lia lịa.
-Phải, phải… ba. Tối hôm đó anh uống với ba vài ly Martell, ngồi nghe ông tâm sự. Cũng nhờ uống chút rượu mạnh, máu trong người của anh hình như luân lưu mau hơn, nên anh đánh một giấc ngon lành cho đến sáng. Hôm nay, anh cảm thấy thảnh thơi, nhẹ nhõm trong lòng, nhất là thấy em sung sướng như vậy nên anh muốn uống chút rượu mừng.
Cúc gật đầu tỏ vẻ đồng ý.
-Nhà không có gì làm mồi nhậu, hay là để em vô nhà bếp rang một ít đậu phụng.
Chưa dứt lời, Cúc đã lấy chai Johnnie Walker trên tay tôi đặt vào tủ, rồi đưa cho tôi chai Martell Cordon Bleu.
-Uống thứ này đằm hơn anh à, không có bị xóc như Johnnie Walker.
Tôi tròn mắt ngó vợ.
-Thiệt không? Sao em biết? Đừng có nói mò nghe.
Cúc từ tốn giải thích.
-Chuyện có hơi dài, em sẽ cố gắng nói gọn lại cho anh nghe. Như anh đã biết, ba của em là một ông già nhà quê, thuở nhỏ vì nhà nghèo, không được học hành nên phải đi chăn trâu, chăn bò, kiếm sống. Từ bé cho đến lúc bước chân vào Sài Gòn, ba của em có biết uống rượu bao giờ đâu. Đến khi gặp ông ngoại, ba mới tập tành chuyện rượu chè. Dĩ nhiên lúc đó ông chỉ uống toàn là rượu đế Việt Nam. Sau này khi giàu có lên rồi, vì công việc thường hay đi đây đi đó, giao thiệp với nhiều người thuộc đủ mọi tầng lớp trong xã hội, lúc bấy giờ ông mới uống rượu ngoại quốc. Chuyện đời, “Phú quý sinh lễ nghĩa” ba quay sang uống những loại rượu quý hiếm. Ở đây có một chuyện trở ngại là ba đọc tiếng Việt còn vấp váp nói gì đến chuyện tiếng Anh, tiếng Tây.
Tôi cướp lời Cúc.
-Như vậy thì làm sao ba biết phân biệt được các chai rượu danh tiếng trên thế giới.
Cúc trả lời tôi.
-Em chớ còn ai nữa, lúc bấy giờ em đang học đệ nhị, đệ nhất bậc trung học. Vì muốn giúp ba nên em phải coi những cuốn sách chuyên nói về rượu, tìm tòi nghiên cứu những loại rượu ngọai quốc nào ngon, loại nào quý hiếm, em sẽ đặt mua. Em mua đủ loại rượu cho ba, từ Whiskey của Mỹ qua Whisky của Scottland, của Ireland rồi Martell của Pháp.
Đang nói Cúc đột ngột dừng ngang.
-Đố anh biết cái hầm rượu của ba ở căn nhà đường Công Lý, có bao nhiêu chai?
-Cũng cả trăm chai, như cái tủ rượu này.
Cúc cười ra vẻ thích thú.
-Nó gấp mười lần đó anh.
Tôi than.
Hình minh họa
-Như vậy, ba uống cho tới khi nào mới hết.
-Anh hơi đâu mà lo cho mệt, ba uống rượu bằng con mắt. Chính em nhìn cái hầm rượu của ba, chưa uống mà đã say rồi.
Như chợt nhớ ra điều gì, Cúc hỏi tôi.
-Ngày xưa ở Trường Võ Bị Đà Lạt, lương trung úy độc thân của anh, bao nhiêu một tháng?
Tôi trả lời Cúc.
-Hơn hai mươi lăm ngàn một chút.
-Chưa đủ để ba mua một chai rượu.
Hình như tôi đã nghe câu nói này ở đâu đó trong quá khứ. Sau một hồi suy nghĩ, tôi chợt nhớ ra rồi cười thích thú.
-Đúng là cha nào con nấy. Em có biết, ba đã từng nói với anh “Lương tháng của con, không đủ cho con Cúc mua một bộ đồ.”
Cúc hỏi tôi.
-Ba nói với anh như vậy sao?
-Đúng.
-Vậy mà em cứ tưởng ông không biết gì về em. Mà thôi để em kể tiếp cho anh nghe, trong hầm rượu của nhà có rất nhiều rượu quý nhưng ba chỉ thích Marttell Cordon Bleu. Đây là loại rượu được làm bằng nho, trồng ở vùng Cognac của Pháp, đóng trong những thùng gỗ Sồi rồi ủ ít nhất là hai, ba năm. Vì vậy loại rượu này nó thơm mùi đặc biệt của gỗ Sồi, không lẫn vào đâu được.
Tôi lắc đầu.
-Nghe em nói, anh cứ như vịt nghe sấm.
Cúc đưa tay chận miệng tôi.
-Nếu không biết, thì anh hãy cố nghe cho hết câu chuyện. Hồi đó em vẫn thường uống rượu với ba, mua rượu cho ba, nên em rất rành, loại rượu nào ngon, loại nào quý, loại nào đắt, loại nào rẻ. Còn ba gọi em là con gái rượu của ông, hiểu theo cả hai nghĩa, là con gái cưng và con gái chuyên lo việc mua rượu ngon cho ba. Giờ thì anh đã hiểu rõ, tại sao em rất sành sỏi về các loại rượu. Anh cứ yên tâm, đem rượu lên sân thượng trước đi, em phải dặn dò chị Hai coi con rồi sẽ lên sau.
Đặt chai rượu và hai cái ly thủy tinh trong suốt xuống cái bàn gỗ trên sân thượng, tôi ngẩng mặt nhìn trời, trăng đêm nay đã khá tròn, chắc còn vài ngày nữa là đến rằm tháng Tám. Trong cái im vắng sâu thẳm của đêm dài, tôi rót rượu vào hai cái ly, mùi thơm của loại rượu được sản xuất tại Pháp thoảng trong không khí, xông thẳng vào mũi. Chưa uống giọt rượu nào mà tôi đã cảm thấy lòng lâng lâng nhẹ nhõm. Tôi nâng ly ực một hơi, một dòng nước lành lạnh chảy tràn qua cổ họng, theo sau là một luồng hơi ấm lan tỏa khắp người. Cùng lúc ấy, Cúc xuất hiện nơi cuối sân, tay bưng một cái tô mà tôi đoán là đậu phụng rang, tay kia xách một chai nước khoáng hiệu Perrier. Đi đến ngồi bên tôi, Cúc nói.
-Ba vẫn thường uống rượu mạnh pha với Perrier.
Tôi nói.
-Anh hoàn toàn mù tịt về rượu, em nói cách pha chế rượu với anh, khác nào đàn khảy tai trâu.
Cúc nâng chai Perrier rót vào hai ly rượu, bưng lên lắc nhẹ rồi thản nhiên uống một hơi.
Tôi nhắc chừng Cúc.
-Em uống từ từ, vừa vừa thôi, không khéo lại say bây giờ.
Cúc trấn an tôi.
-Anh đừng có lo, ngày xưa lúc chưa giận ba, thỉnh thoảng em vẫn thường cụng ly với ông, cha con mà như là bạn, cũng chén thù chén tạc, cho nên tửu lượng của em cũng thuộc hạng kha khá.
Tôi thố lộ tâm tình với Cúc. -Chuyện mà em thường uống rượu với ba, anh hoàn toàn không biết. Nếu như vậy, không chừng em uống rượu còn khá hơn anh.
Hình minh họa
Nói xong, tôi cụng ly với Cúc rồi hớp một ngụm. Chỉ một vài phút sau, hơi ấm của rượu chừng như đã luân lưu khá mau trong cơ thể. Rượu vào lời ra, tôi nói với Cúc, câu nói nghe qua tưởng như vô thưởng vô phạt. Tôi không ngờ, với Cúc câu nói lại quan trọng vô cùng.
-Không biết, giờ này ba ở đâu? Đang làm gì?
Cúc nhìn tôi với ánh mắt buồn như muốn khóc.
-Có chuyện này em muốn nói với anh, tháng ba năm bảy lăm, khi theo anh tới phi trường Cam Ly để về Sài Gòn, trên chiếc phi cơ C130 do anh Ly bạn của anh lái. Vừa về đến nhà, gặp ba chưa kịp chào hỏi ông đã giận dữ mắng cho em một trận nên thân. Sau đó ba nói với em, nguyên văn như thế này “Tại sao con đi về chỉ một mình, mà không lôi đầu cái thằng ngu đó về đây cho ba. Có cơ hội đi Mỹ với vợ lại không chịu, cứ khư khư ôm cái Trường Võ Bị đó mà làm gì. Đã vậy lại còn bày đặt nói chuyện đào ngũ với không đào ngũ.”
Cúc ngưng nói, uống một ngụm rượu.
-Em biết vì giận nên ba mới nói như vậy, chứ thật lòng ông rất thương anh. Anh có biết vì sao em dám nói như vậy không?
Tôi trả lời Cúc.
-Quả thật, anh không biết.
Cúc nhỏ giọng.
-Sau khi la em xong, ba đi tới đi lui trong phòng khách mà như là gà mắc đẻ, gương mặt đầy vẻ bực tức, miệng thì lẩm bẩm những gì em không rõ. Cuối cùng, ông nhắc điện thoại hấp ta hấp tấp quay số. Sau chừng mười phút chuyện trò ba cúp máy, quay sang nói vói em “Ba vừa điện thoại tới nhà riêng của ông Đại tá, bạn ba, ông này là Tham Mưu Trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, với ý định nhờ ông ấy can thiệp cho thằng chồng ngu dốt, đần độn của con, được đi phép về Sài Gòn một cách hợp pháp. Tiếc rằng ông ấy đã thuyên chuyển đi đơn vị khác rồi, nên không giúp gì được.” Nói xong ba đưa hai tay lên trời, nhìn em với đôi mắt đầy tuyệt vọng “Sức người có hạn, ba chỉ lo được đến đó mà thôi.”
Nghe Cúc kể lại chuyện xưa, tự dưng tôi cảm thấy xốn xang trong lòng, thương ông ba vợ của mình quá chừng, rồi buột miệng nói.
-Tội nghiệp cho ba.
Cúc ngồi xích lại gần, rồi tựa đầu lên vai của tôi, trong ánh trăng mờ mờ lành lạnh của đêm đen, bất chợt tôi cảm được từng giọt, rồi từng giọt nước mắt âm ấm của Cúc rơi nhẹ trên vai, chen lẩn với giọng nói ngập ngừng thổn thức.
-Em nhớ ba quá anh à.
Tôi ôm chặt lấy Cúc như muốn truyền chút hơi ấm cho nàng.
-Anh cũng vậy.
Nói xong tôi đưa tay tìm ly rượu.
-Anh đã vô tình chạm vào nỗi buồn của em, tụi mình uống cạn ly này đi, biết đâu nhờ hơi rượu sẽ làm giảm bớt đi cái buồn mà em đang mang nặng trong lòng.
Cúc gật đầu.
Tôi và Cúc uống cạn ly đầy rồi rót đầy ly cạn. Tôi tưởng rằng uống rượu để tiêu sầu, ai ngờ cạn ly Cognac, mối sầu đầy thêm. Xong ly thứ hai, đến ly thứ ba, nhìn lại đêm hãy còn dài, chai rượu mới vơi đi một nửa mà tôi đã thấy trời đất như quay cuồng, lảo đảo, choáng váng mặt mày. Không biết bằng cách nào, tôi đã mò về đến phòng ngủ của mình, đánh một giấc cò bay thẳng cánh cho đến khi mặt trời đã lên khá cao, tôi mới giật mình thức giấc.
Chuyện vượt biên, vượt biển đối với người Việt là chuyện đã qua vài thập niên trước. Cái kinh nghiệm đó người tị nạn (thuyền nhân và bộ nhân) đã trả bằng xương máu, nước mắt. Chuyện tưởng chỉ xảy ra cho người Việt chúng ta nhưng trong những năm gần đây lại xảy đến cho những sắc dân khác như người dân Afghanistan, Syrian, Iranian… Phóng viên Yannis Behrakis với loạt hình ghi lại được những thực trạng sống động về số phận bi thảm của những thuyền nhân này, anh đã được chọn là Guardian photos of the Year 2015, Sơn râu xin được chia sẽ cùng bạn đọc.
This year the Guardian picture desk has chosen Yannis Behrakis of Reuters as our agency photographer of the year. Here are the most astonishing moments he captured in two of the biggest stories of 2015 – the refugee crisis and the financial implosion in his home country Greece
The refugee crisis
I have been covering refugees and migrants for over 25 years, but this year has been different: migrants are arriving in my homeland. A couple of boats came every night. Everybody aboard was scared because they didn’t know how the police and locals would react. Small dinghies kept on coming, even when the weather was rough. The Turkish coast is just 4-5 km away
A Syrian refugee mother carries her child off a dinghy on the Greek island of Lesbos, after crossing the Aegean Sea from Turkey
Kos
Refugees carry their children off a dinghy on to a beach on the Greek island of Kos after crossing from Turkey. The vast majority of those arriving are Syrians
Last year, I was in Suruc on the Turkish-Syrian border documenting the thousands of Kurdish refugees fleeing the town of Kobani. This year on Lesbos, a man I met in Suruc recognised me. ‘I made it, man! I made it,’ he said
Yannis Behrakis
A Syrian refugee child covered by a thermal blanket in the port of Kos following a rescue mission in August
A crowded dinghy approaches Kos
Syrian men form a safety passage for women after a clash during a registration procedure in the national stadium
A tourist walks past an Iranian migrant collapsing next to his son and wife moments after arriving in an engineless dinghy
The least challenging part of this year was taking pictures. The biggest struggle was the emotional involvement … it was so sad to see the same thing again and again
Yannis Behrakis
It was very quiet on the island before tourist season started. I waited for two or three boats a night. I could hear the engines from the beach. In the mornings I went to the abandoned Captain Elias hotel, where most of the migrants and refugees were put up, to take more pictures
Lesbos
I started working at 6:30am and finished at 11pm or midnight. Boats kept coming through the night. Around noon they stopped for a few hours, because the sun was so strong. I would stop at 2pm, file some pictures then start again at 4pm
A Syrian refugee holds his children as he struggles to leave a dinghy on Lesbos
One day I was photographing a raft when I noticed movement in the water. I thought someone had jumped overboard. I focused using a long lens – then saw a fin. A dolphin jumped almost in front of the raft. It was a truly magical moment. It was as if the dolphin was showing the way and welcoming the people
Yannis Behrakis
A Syrian refugee mother carries her child off a dinghy
A local man helps a Syrian refugee as he swims to land, exhausted
A volunteer signals to a dinghy of Afghan migrants in Lesbos
Afghan family members embrace each other upon arrival
A refugee keeps warm by an open fire at a makeshift camp on Lesbos, 18 November
Idomeni
A Syrian refugee kisses his daughter as he walks through a rainstorm towards Greece’s border with Macedonia, in September. The village of Idomeni has been a key point on the Balkan route from Greece to the Schengen region of Europe. In November, large numbers of refugees were left stranded when Macedonian authorities began to turn away migrants not fleeing war in Syria, Iraq or Afghanistan
No one expected there to be so many of them. But most Greeks have some refugee blood, and locals realised these people only wanted to use Greece as a stepping stone to go north
Yannis Behrakis
Refugees and Macedonian police clash after a migrant were electrocuted and badly burned when he climbed on top of a train wagon, 28 November
A refugee girl cries after passing through a police cordon before crossing the Greek-Macedonian border near Idomeni, 4 December
Stranded Iranian migrants who are on hunger strike, some with their lips sewn together, sit on rail tracks at the border with Macedonia near Idomeni
Iranian migrant Hamid, 34, an electrical engineer from Sanandij, sits on the tracks in front of Macedonian riot police guarding the borderline with Greece, on 23 November. Hamid and a dozen other Iranian migrants were on hunger strike for a second day
I want to express my gratitude to all the Greek and foreign volunteers who helped in the islands and the northern border. You prove that humanity is alive!
Yannis Behrakis
Migrants and refugees beg special riot policemen of FYRO Macedonia to allow passage from Greece into FYRO Macedonia during a rainstorm
The experience
The emotional impact of covering the refugee crisis is devastating. I have suffered from insomnia and nightmares, and felt guilty many times for not being able to do more. I have refugee blood myself – and I am a father
Yannis Behrakis
Amoun, 70, a Palestinian refugee who lived in Aleppo in Syria, rests on a beach after arriving from Turkey on a dinghy with 40 others
I was on a beach in Kos waiting for the rafts to arrive … then I saw an older lady on the beach with the flicker of a smile on her face. She looked very calm and comfortable. I stayed a few metres away and shot some frames as the morning sun illuminated her face. I decided to approach and offer her a small sweet – a gesture of Greek hospitality. I kneeled before her and held out the sweet, saying good morning in Arabic. She seemed lost, but her gentle face still had a beautiful smile. She reached upwards with her hand and then I realised she was blind. I was overwhelmed by emotion. We exchanged some pleasantries in English and Arabic then she took the sweet, gave me a warm handshake with both hands and thanked me. Her family was watching, some smiling, some with tears of joy running down their faces. This was one of my best mornings of the year
Financial drama
A man talks on the phone in his office at Greece’s Ministry of Foreign Affairs as the Greek parliament is reflected on the building in Athens in March. Greece had promised its lenders to reform its state sector and implement labour reforms to make its economy more competitive, improve its tax administration and fight tax evasion and corruption, which were widely blamed for the debt crisis
Prime minister Alexis Tsipras, elected on a promise to end six years of austerity, implores a packed Syntagma square to spurn the tough aid deal from international creditors
Pro-Euro protestors wave flags during a rally at the parliament building in Athens
A pedestrian walks through empty streets by a mural in Athens in July
Riot policemen stand between anti-austerity and pro-EU protesters in front of the parliament building during a rally calling on the government to clinch a deal with its international creditors
It’s very hard working on a big story in your home country … the emotional pressure is enormous when you see your friends and family suffer Yannis Behrakis
Debt crisis
I have been covering Greece’s financial crisis non-stop since 2010. In my 28-year career as a Reuters photojournalist the idea of covering a catastrophe in my own country had always been a nightmare in my mind. I did my best to stay impartial while covering a financial and political crisis that seemed unthinkable until this year
A pensioner leans against the door of the National Bank in Athens in July
A man walks by graffitti in the Greek capital in July
Riot police stand among flames from exploded petrol bombs thrown by a small group of anti-establishment demonstrators in front of parliament in Athens in July
Day by day, month by month, year by year, the situation got worse. At the start of 2015 it became clear that Greece was entering the most difficult part of the crisis. We had two national elections, a referendum, capital controls imposed and unemployment remained the highest in the EU
Yannis Behrakis
Alexis Tsipras shares a joke with Parliament Speaker Zoe Konstantopoulou before a ruling Syriza party parliamentary group session in Athens in July, as Tsipras battled to win lawmakers’ approval for a bailout deal to keep Greece in the Euro
Forest fires
Locals watch a firefighting plane drop water over a fire near holiday homes in the village of Costa in southeastern Greece during a developing wildfire in July. Dozens were evacuated as firefighters fought the blaze
A Greek Orthodox priest covers his nose and mouth as he walks away from a forest fire near Saint George church in an Athens neighbourhood
Ghost factories
Deserted grain silos are seen in front of the snowcapped Mount Olympus near the town of Larissa in Thessaly. A 2,500km trip from Athens to northeastern Greece and back shows the remnants of a once-flourishing Greek industry, which has seen a 30% drop in production. Abandoned factories are often looted, adding to the scenes of desolation
A deserted factory that closed in the early 1990s in the Sindos industrial zone of the town of Thessaloniki in central Macedonia region, April
A flag is draped over the gate of a deserted cooking oil factory that closed in 1996 in the town of Elefsina in Sterea Hellas
A punch clock in the entrance of the factory
Photography can leave people speechless with its power and beauty. It can send a message to the audience, make people cry or laugh or both. It can make people feel guilty – or give money for a good cause. And it can make people think twice before pulling the trigger …
Tôi học Việt Văn lớp Đệ Lục với ông Lê Đình Ngân – người làng Bồ Bản, có bà con với Giáo Sư Lê Đình Cai? – Ông Lê Đình Ngân là nhà văn Đình Ngân, tác giả tập truyện ngắn “Phong Lan” – mấy năm sau, khi tôi là “mầm non văn nghệ” cho báo “Mùa Lúa Mới” ở Huế, nhớ Thầy cũ, có lần tôi lấy hiệu là Phong Lan, hoặc Phong Châu, bởi vì “cô ấy” tên là Mỹ Châu.
Khi Trường Trung Học Quảng Trị khai giảng được năm thứ hai – 1952/ 1953 thì ông Lê Đình Ngân, đang làm bên Ty Ngân Khố, tòa Hành Chánh tỉnh Quảng Trị, xin chuyển qua dạy Việt Văn ở trường trung học nầy.
Trước năm 1945, ông Đình Ngân có hoạt động trong giới văn nghệ, có xuất bản truyện ngắn “Phong Lan” như nói ở trên. Cũng có lần, sau nầy, khi “làm báo” ở Huế, về Quảng Trị tôi đến thăm ông, ông có kể vài chuyện nhỏ, ông có quan hệ với Xuân Diệu, Chế Lan Viên – Chế Lan Viên cùng quê Quảng Trị với ông.
Tôi “chịu ảnh hưởng” của ông Ngân khá đậm vì năm học với ông, ông là người “khám phá” ra tôi là người có khả năng viết văn. Các bài luận văn tôi viết, ông thường đem đọc cho các lớp khác nghe, bọn học đệ ngũ hay đệ thất. Điều quan trọng hơn là những bài ông trích giảng cho học sinh: Tập “Xóm Giếng Ngày Xưa” của Tô Hoài, “Vang Bóng Một Thời” của Nguyễn Tuân, hay vài tác phẩm của Lưu Nghi, như bài “Mùa Sao”. Bấy giờ đã có sách Việt Văn của Nguyễn Xuân Hiếu và Trần Mộng Chu, nhưng tôi không thấy ông dùng sách nầy. Ông Ngân cũng là người khiêm nhường, tôi không nghe ông nói tới cuốn “100 bài tập đọc”, cuốn sách có trích đăng bài của ông, bài “Trưa hè”. Nếu tôi khen bài nầy hay thì cũng thừa.
Chính năm tôi học với ông, về Cổ Văn, tác giả chính là Trần Tế Xương. Trần Tế Xương thi hỏng mấy lần, không ra làm quan được để “cứu” gia đình ông. Nhà đông con, nghèo. Học giỏi tới đâu mà thi không đậu thì cũng không được bổ làm quan, kiếm bỗng lộc của “Nhà Nước” mà nuôi con.
Có một lần, khi giảng về Trần Tế Xương, ông Ngân bảo “tính khí” như ông Trần Tế Xương, có làm quan rồi cũng xin về, như ông Đào Tiềm ở bên Tàu. Rồi ông Ngân đọc mấy câu trong bài “Quy Khứ Lai Từ” của Đào Tiềm:
“Đi về sao chẳng về đi, Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về? Đem tâm để hình kia sai khiến Còn ngậm ngùi than vãn với ai? Ăn năn thì sự đã rồi, Từ đây còn lại, biết thôi mới là. Lối đi lạc chưa xa là mấy, Nay khôn rồi chẳng dại như xưa. Con thuyền thuận nẻo gió đưa, Gió hây hây áo thuyền lơ lửng chèo. Hỏi hành khách lối nào đi tới, Bóng mập mờ trời mới rạng đông. Miền quê nẻo trước xa trông, Chân hăm hở bước đường mong tới nhà.
Bản dịch của Từ Long, trong “Nam Phong Tạp Chí” của Phạm Quỳnh, “Thi Viện” trích lại./
“Đi về sao chẳng về đi…” Ngay câu thơ đầu của ông thầy Việt Văn đọc cho nghe, đã “ám ảnh” tôi mấy chục năm, cho tới tận bây giờ. Có lần tôi nói với ông: “Thầy từ bên Ty Ngân Khố, xin qua dạy Việt Văn, cũng là “Quy Khứ Lai Từ” rồi. Nói chi xa.” Ông Ngân chỉ người. Có lẽ ông nghĩ “anh học trò” nầy thuộc loại “tinh ranh”, biết tận “tim đen” ông.
Với ông Ngân, không phải chỉ chừng đó đâu. Ông có cậu con trai, đặt tên là “Lộng Chương”, tức là nhà thơ “Lê Đình Lộng Chương” hiện giờ. Trong tiếng Hán Việt, “Lộng” có nghĩa là chơi. Tra trong “Hán Việt Tự Điển”, Đào Duy Anh giải thích như thế nầy: Lộng: ngắm nghía, – chơi nhởn, – chơi nhạc…. “Lộng Chương”: Chơi ngọc chương, tức là sinh con trai. Kinh thi có câu: “Nãi sinh nam tử, tái lộng chi chương”, nghĩa là: sinh con trai thì cho chơi ngọc chương.
Tôi thì nghĩ, – có lẽ tôi đoán ý thầy -, chương là văn chương. Thời kỳ “cho chơi ngọc” – chương – so với thời đại ông Ngân, lùi vào dĩ vãng đã lâu rồi, đâu phải vua chúa gì mà đem ngọc cho con chơi. Chữ Chương ông Ngân dùng trong Lộng Chương là văn chương, vì thời kỳ ấy, nhà văn Phan Kế Bính giải thích: “Văn là gì? Văn là vẻ đẹp. Chương là gì? Chương là vẻ sáng. Lời của người bóng bẩy, đẹp đẻ như có vẻ đẹp, vẻ sáng nên mới gọi là văn chương.”
Với lại, đọc văn học Cổ, người ta biết điển tích “Nàng Lộng Ngọc”. Bạn đọc có thể đọc câu chuyện cổ tích nầy ở phần phụ lục. Có lẽ ông Thầy tôi không tin lắm câu chuyện huyền hoặc, nhưng ông thích câu chuyện ông Cử Hai trong “Vang Bóng Một Thời” của Nguyễn Tuân, không lấy văn chương làm một “mưu hồ khẩu”, không phải để mưu sinh, mà coi nó như một trò tiêu khiển. Nghĩ tới ông Thầy cũ và tên người con trai của ông, tôi vẫn thường nhớ tới “ông Cử Hai” trong truyện ngắn “Một cảnh thu muộn” của Nguyễn Tuân, trong “Vang Bóng Một Thời”:
“Ông Cử Hai đi dạy học, đã lấy cái việc dạy học làm như một hồ khẩu mà y như đi ngoạn cảnh hoặc đi dâng hương ở các đền chùa cổ tích. Và những lúc mỗi chân phải ngừng ở lại các thôn ổ, ông lại còn thỉnh thoảng ngừng cả cái miệng giảng sách hoặc ngừng chấm nét son lên quyển bài để đề một bức châm lên lá quạt tặng một ông bạn đồng song, để khắc chữ triện và chạm trổ một hòn đá sù sì cho thành một con thạch ấn, để dúng ngón tay trỏ vào chậu mực vẽ một bộ tứ bình thủy mặc có hình đủ bốn thứ cây cỏ tứ hũu; cúc, trúc, lan, mai, treo chơi trên vách đất quán trọ nơi ngồi dạy học.
Gần ngày tết nhất, người trưởng tràng lúc thu xong sổ đồng môn, chỉ khổ lên vì đi tìm thầy; Tết mồng ba, ông Cử Hai đã trốn khỏi nhà trọ từ hôm trước để đi ăn hàn thực và đi hội đạp thanh với các bạn sính làm thơ tức cảnh. Tết Đoan Ngũ, ông lên núi hái lá thuốc, những mong được gặp tiên; Tết Trung Thu, ông lên Chùa Thầy ngắm trăng Chợ Trời họp trên đỉnh núi Sài Sơn. Gần tết Nguyên đán, nếu chưa về nhà, thì ông ẩn ở trong một mái đình vắng nào để gọt cho hết một lắp thủy tiên. Cái hành tung của người nghệ sĩ không chịu sống cho người và hùa theo với người chung quanh ấy, thực khó mà dò hỏi. Lùng tìm cái dấu bàn chân một chính khách thất quốc lúc vượt bể ra ngoài mưu việc lớn, thực còn dễ hơn đi đuổi theo ông Cử Hai những lúc hứng giang hồ ở người ông nổi dậy. (hết trích)
Cuộc đời Thầy giáo của tôi, cũng như bài thơ “Quy khứ lai từ” làm tôi suy nghĩ đến tư tưởng và tình cảm của người châu Á, cũng như nhiều nhân vật lịch sử nước ta. Chu Văn An, đời Trần Dụ Tông, sau khi dâng “thất trảm sớ” không có kết quả, ông cáo quan về hưu, làm nghề dạy học. Ông Lương Đắc Bằng, và học trò của ông, Trạng Trình cũng cáo quan về hưu, sau khi dâng sớ đòi trị tội 18 kẻ lộng thần.
“Cáo quan về hưu…”, “tiến vi quan, thối vi dân” hay “thối vi nông” là một nét đặc biệt trong văn hóa người Việt, cũng như người Tàu. Không nhiều ham muốn, tham vọng, không để cho “vật chất ràng buộc tấm hình hài”.
Đông Tây không gặp nhau
Ô, Đông là Đông, Tây là Tây, Đông và Tây không bao giờ gặp gỡ Cho đến một khi Đất và Trời chưa về ngày phán xử Nhưng sẽ chẳng có Đông và Tây, không quê hương, bộ tộc, giống nòi Khi hai người đàn ông lực lưỡng từ đường biên mặt đối mặt không thôi.
Bài thơ Đông – Tây Rudyard Kipling
Có lẽ người Tây phương không có “truyền thống” “thối vi dân” như người Việt Nam chúng ta. Họ theo đuổi tham vọng, say sưa miệt mài với quyền lực, như thể mất quyền lực thì họ cũng mất theo, dù phải dối trá, tàn ác, phản phúc, bội phản…
Có phải giữa người Tây phương và người Á Đông khác nhau về văn hóa. Một bên là mềm, một bên là cứng, một bên tích cực, một bên tiêu cực…
Cứ coi trong lịch sử nhân loại, chúng ta biết ngay. Ví dụ như đạo Thiên Chúa, đạo Hồi là sản phẩm của “Văn minh Địa Trung Hải”. Do đâu mà người theo đạo Hồi, người theo Thiên Chúa Giáo giết nhau rất tận tình. Nếu có ai không tin tôi, xin đọc Thập Tự Chinh thì biết ngay. Lịch sử những cuộc chém giết ấy, ai đọc mà không thấy ghê.
Cũng từ trong nền văn minh ấy, mà đẻ ra chủ nghĩa Cộng Sản. Chủ nghĩa Cộng Sản giết người cũng không gớm tay. Lênin, Stalin, Hitler là những người từ trong văn minh ấy mà chui ra, họ giết người không nương tay đã đành. Có thể có người hỏi, còn như Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, cha con nhà Kim yun Ủn, từ văn minh nào ra mà họ cũng tàn ác không kém chi “cha chú” của họ, cũng gây nên cảnh chết chóc hàng triệu, hàng trăm ngàn người. Chỉ một việc “Thổ địa Cải Cách”, Tàu Cộng thực hành, Việt Nam noi theo, đến nay, thảm cảnh ấy, liệu có ai quên.?
Nói như thế là người ta quên đi một điều. Mao, Hồ, Kim… tuy là người châu Á, họ cai trị đất nước không theo văn hóa của người Á Châu mà lại theo văn hóa người Tây Phương. Thành ra, con người họ chính là nơi gặp gỡ của Đông/ Tây. Câu nói của Rudyart Kipling, nhà văn Anh sinh trưởng ở Ấn Độ, nó chỉ đúng ở thời đại của nhà văn ấy, còn như khi Mao, Hồ cầm quyền, thì nói theo cách của nhiều người, tâm hồn của Mao, Hồ đã bị nhuộm đỏ mất rồi.
Nhận xét nầy, tôi không nói vu hay nói oan cho Mao cũng như Hồ. Đã là người châu Á, nhất là người Tàu và người Việt, dù tin hay không, họ cũng phải biết tới tam giáo Phật, Nho, Lão trong văn hóa của người Châu Á, tức là cái lòng tham, cái tham vọng trong lòng họ không thể để cho nó luông tuồng mà phải biết giới hạn nó lại. Điều nầy, trong những năm dạy truyện Kiều cho học trò, tôi không thể quên mà không nói cho bọn trẻ về tâm trạng Nguyễn Du, không muốn ra làm quan mà cũng phải ra, mà trong lòng ông thì bao giờ cũng nghĩ tới “Quy khứ lai từ”.
Trần Trọng Kim nhận xét về Nguyễn Du như sau:
“Tiên-sinh là người có khí-tiết, gặp khi trong nước có biến, nhà Nguyễn Tây-sơn dấy lên, nhà Lê bại-vong, tiên-sinh đã nhiều phen lo-toan sự khôi-phục, nhưng vì sự không thành, bỏ về quê ở, lấy sự chơi-bời săn-bắn làm vui thú. Trong vùng chín-mươi-chín ngọn núi Hồng-lĩnh không có chỗ nào là chỗ tiên-sinh không đi đến. Phải thời quốc phá gia vong, tiên-sinh đã toan bỏ việc đời ra ngoài tai, đem cái thân-thế mà vui với non sông. Ấy là cái chí của tiên-sinh đã định như thế, nhưng đến khi vua Thế tổ Cao-hoàng bản Triều đã thống-nhất được giang-sơn, có ý muốn thu-phục lòng người miền Bắc, xuống chiếu trưng-triệu những nhà dòng-dõi cựu-thần nhà Lê ra lục-dụng. Tiên-sinh phải triệu ra làm quan, hai ba lần từ-chối không được.
Ý tưởng nầy, không phải là không có gì khuyết điểm. Lý thuyết – người ta còn gọi là ĐẠO – Trung Dung của Khổng Tử làm cho người ta mất đi cái ý tiến thủ, không muốn “tiến lên phía trước”, “đi tiên phong”…” để xây dựng xã hội mới, để tìm những đất mới, những báu lạ, làm cho thế giới phát triển, mở rộng như ông Christophe Colomb, hay ông Nansen…
Về tư tưởng nầy, thơ Tàu có câu:
Nhân kỵ tuấn mã, ngã kỵ lư. Tư tế tư lương, ngã bất như. Hồi đầu hựu kiến thôi xa Hán Thượng tuy bất túc, hạ hữu dư.
(Người ta cởi ngựa, ta cởi lừa, Nghĩ ra thì ta không bằng người. Nhìn lui, thấy một người Hán đang đẩy xe Trước không bằng người, nhưng phía sau ta hơn người)
Nói như thế thì “Đời là tranh đấu” gì nữa!
Nói chuyện Đông/ Tây như thế nầy, bạn bè tôi có rằng tôi bị méo mó nghề nghiệp. Chuyện Đông là Đông, Tây là Tây chỉ là chuyện trong sách vở, rộng hơn một chút là ở “ghế nhà trường,” của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, của Giáo Sư Lê Văn Siêu trong “Văn Minh Việt Nam” là cours ông dạy cho sinh biên văn khoa. Thành ra, tôi cũng ngại khi nói về vấn đề nầy.
Tuy nhiên, nếu chế độ Cộng Sản không bành trướng ra khắp Châu Á, từ Bắc Triều Tiên, tới toàn thể lục địa Trung Hoa, Bắc Việt Nam, rồi toàn bộ nước Việt Nam sai khi tổng thống Dương Văn Minh “tuyên bố đầu hàng Việt Cộng”, gây ra không biết bao nhiêu thảm ảnh cho dân chúng ở các vùng nầy, cùng cái vòng kim cô Cộng Sản mà Cộng Sản chụp lên đầu các dân tộc nầy, thì chuyện Đông là Đông, Tây là Tây thì tôi đâu có “hưỡn” mà đem ra bàn như vầy.
Dù ở dưới chế độ Cộng Sản nà, xem ra, so với Tàu, người Việt Nam cũng còn may. Có thể những thảm cảnh “Cải Cách Ruộng Đất” ở nước ta không thua gì bên Tàu, nhưng nếu nói về “Đại Nhảy Vọt”, “Cách Mạng Văn Hóa”, “Hồng Vệ Binh”, xem ra ở nước ta không có, hay là chưa xảy ra.
Chỉ nói tới “Đại Nhảy Vọt” bên Tầu, hậu quả như thế nào?
Trong khi hầu hết người dân thế giới xem thảm sát Holocaust của Adolf Hitler, Đại thanh trừng của Joseph Stalin, “Nạn đói lịch sử” (Terror Famine) của Ukraine, hay cuộc tàn sát người da đỏ ở Tân Thế Giới là những vụ giết người hàng loạt tồi tệ nhất trong lịch sử, Đại nhảy vọt của Mao dường như đã vượt trội hơn tất cả với một khoảng thời gian kỷ lục.
Đại nhảy vọt đã giết chết khoảng 45 triệu người, theo nhà sử học Frank Dikötter, tác giả cuốn “Nạn đói lớn của Mao”, người đã viết một bản cập nhật cho nghiên cứu này trên tờ “History Today” xuất bản ngày 8/8.
Dikötter đã tóm tắt Đại nhảy vọt của Mao như sau:
Mao đã nghĩ rằng ông ta có thể giúp đất nước của mình vượt qua đối thủ cạnh tranh bằng cách tập hợp dân làng trên khắp đất nước thành những công xã khổng lồ. Nhằm theo đuổi một thiên đường không tưởng, tất cả mọi thứ phải là sở hữu tập thể. Người ta bị lấy đi công việc, nhà cửa, đất đai, đồ đạc và sinh kế. Trong bếp ăn tập thể, thức ăn, được phân phối theo thìa dựa theo công tội, đã trở thành một vũ khí để buộc người dân phải theo sát từng mệnh lệnh của Đảng. Động lực làm việc bị tiêu tan, thay vào đó cưỡng chế và bạo lực đã được sử dụng để bắt những nông dân đói khát phải lao động trên những công trình thủy lợi quy hoạch kém, còn những cánh đồng lúa thì rơi vào quên lãng.
Nhưng chính sách này hóa ra lại là một thảm họa, làm chết hàng chục triệu người dân bằng nạn đói. Nhưng không chỉ nạn đói gây ra chết người vô số kể, những tài liệu mới cho thấy vài triệu người cũng đã bị tra tấn đến chết hay bị hành hình trong cùng thời gian đó. (nguồn: trithucvn.org)
Còn nữa, sau đây là trích đoạn trong Wikipedia:
Cuộc cách mạng này (Cách Mạng Văn Hóa) được Mao Trạch Đông khởi xướng và lãnh đạo từ ngày 16 tháng 5 năm 1966, với mục tiêu chính thức là “đấu tranh với giai cấp tư sản trong lĩnh vực tư tưởng và sử dụng những tư tưởng và lề thói mới của giai cấp vô sản để thay đổi diện mạo tinh thần của toàn bộ xã hội”.
…
Cuộc Cách mạng văn hóa Vô sản là “một cuộc cách mạng lớn đụng chạm đến tất cả mọi người và thiết lập một giai đoạn mới trong sự phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong nước, một giai đoạn sâu rộng hơn”. Mặc dù giai cấp tư sản đã bị lật đổ, chúng vẫn cố gắng sử dụng những tư tưởng và lề thói cũ của giai cấp bóc lột để đầu độc quần chúng nhân dân, nắm bắt tâm chí họ và cố gắng khôi phục giai đoạn tư sản. Giai cấp vô sản phải làm điều ngược lại: Đó là tranh đấu với giai cấp tư sản trong lĩnh vực tư tưởng và sử dụng những tư tưởng và lề thói mới của giai cấp vô sản để thay đổi diện mạo tinh thần của toàn bộ xã hội. Hiện tại, mục tiêu của chúng ta là đấu tranh và đè bẹp những kẻ hữu khuynh muốn phá bỏ cấu trúc thượng tầng của chủ nghĩa xã hội…
Cách mạng văn hóa ở Trung Quốc đã để lại những hậu quả nghiêm trọng không chỉ về kinh tế, xã hội mà cả về văn hóa. Trước khi Mao trạch Đông qua đời, người ta có ước tính rằng có khoảng 12 đến 20 triệu người, gồm 5,4 triệu Hồng Vệ Binh, đã trải qua lao động nặng nhọc ở nông thôn, trong đó là 1 triệu người dân Thượng Hải tức là 18% dân số của thành phố lúc đó. Số nạn nhân trong giai đoạn này có nhiều ước tính khác nhau, nhưng chắc chắn là rất lớn. Theo nhà nghiên cứu Rudolph Rummel, từ năm 1964 đến năm 1975, khoảng 7,7 triệu người Trung Quốc là nạn nhân trực tiếp hoặc gián tiếp bởi phong trào này do đói kém và xung đột dân sự. Khoảng 3 triệu người (trong đó có nhiều Đảng viên) bị kỷ luật hoặc cầm tù, 60% đảng viên bị khai trừ, nhiều người trong số họ bị trục xuất về nông thôn để lao động nặng nhọc trong thời gian diễn ra Cách mạng văn hóa. Về mặt xã hội, trong thời Cách mạng văn hóa, nhiều trường đại học ở Trung Quốc đã bị đóng cửa, dẫn đến hậu quả là cả một thế hệ người Trung Quốc không được tiếp cận với giáo dục đại học. Trong thập niên 1980, TBT/ ĐCS Trung Quốc Hồ Diệu Bang nhận xét rằng: “Khoảng 100 triệu người Trung Quốc đã chịu đau khổ trong thời kỳ này”.
Những “đại họa” nầy chưa hay không bao giờ xảy ra ở nước ta. Chủ nghĩa Cộng Sản, chính là đứa con ruột thịt của văn hóa Tây Phương đấy.
Trở lại câu chuyện “Quy khứ lai từ”, tôi thấy buồn cười cho xã hội VN ngày nay. Đã là “Hy sinh đời bố, củng cố đời con” thì “Quy khứ” gì nữa. Dù có “về” đi nữa như người xưa nói, thì cũng mang theo ít triệu đô la. Có đô la mới làm cha thiên hạ mà thật ra, cũng không cần làm “Mặt heo” như Trương Quốc Huy mai mỉa, làm Trương Muội như trong vụ Vạn Thịnh Phát.
Thành ra, thiên hạ đời nay, làm gì có chuyện Ông Chu Văn An xin chém 7 đầu nịnh thần không được nên xin từ quan hay chuyện Cụ Trạng Trình xin hạch tội 18 nịnh thần.
Ông anh cả của bà chị dâu tôi, hồi xưa thi không đậu được cái bằng “Ri-me” (Primaire Elementaire – tiểu học/ cấp 1), theo Việt Minh/ Việt Cộng, tập kết năm 1954, Sau 1975, hồi kết, làm trưởng phòng Tổ Chức, Sở Xây Dựng/ Tp, lấy được ngôi nhà của một Dân Biểu thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Năm 2000, bán ngôi nhà được 7 ngàn “cây” vàng, chia đều cho 4 đứa con.
Nếu anh ta không theo Cộng Sản, làm sao anh ta có 7 ngàn “cây” vàng? Có lẽ anh ta không biết gì về Đào Tiềm, về Chu Văn An, về Trạng Trình, nhưng rõ ràng, anh thuộc về “Văn Hóa Vô Sản”, văn hóa của Stalin, của Mao, của Hồ Chí Minh, “trung với “đảng”, hiếu với Dân”…
Những người Cộng Sản VN bây giờ, nếu có “Quy khứ lai từ”, người ấy chỉ còn cái “đả cẩu bổng” cái bang mà thôi?./
Phụ lục: Thời Xuân Thu, Tần Mục Công nước Tần có một cô con gái; lúc cô bé mới được sinh ra, có người đem dâng Tần Mục Công một viên đá ngọc bích, ông sai thợ đẽo dũa đi, thành một viên ngọc xanh biếc trông rất đẹp. Ðến hôm con gái Mục Công tròn 1 tuổi, trong cung bày bàn tiệc tổ chức ngày lễ “chọn đồ vật đoán tương lai” cho cô bé. Đây là một tập tục của người xưa, đến ngày tròn 1 tuổi, cha mẹ sẽ bày lên một cái đĩa bao gồm các đồ vật để con tự do lựa chọn theo sở thích của mình. Lúc này, người con gái nhặt ngay viên ngọc, rồi ngắm nghía mãi, bởi vậy Mục công đặt tên cho con là Lộng Ngọc. Lộng Ngọc lớn lên, nhan sắc tuyệt trần, lại sẵn tính thông minh trời ban, rất có tài thổi sáo, không cần học ai cả, mà tự thành âm điệu, hơn nữa nàng không cứng nhắc theo chỉ dạy của nhạc sỹ, mà tự thả hồn theo âm nhạc, tiếng sáo nghe rất tuyệt diệu. Mục công sai thợ làm một cái sáo bằng ngọc để cho nàng thổi. Nàng thổi cái sáo ấy, tiếng trong như tiếng chim phượng. Mục Công rất yêu quý con gái, lại lập một cái lầu cho nàng ở, đặt tên là “Phượng lâu”, trước lầu có xây một cái đài cao gọi là “Phượng đài”. Năm Lộng Ngọc mười lăm tuổi, Tần Mục công muốn kén rễ cho nàng, Lộng Ngọc nói với cha rằng: _ “Con muốn tìm người có tài thổi sáo và có thể họa xướng cùng với con, khi đó con sẵn lòng lấy người ấy làm chồng, còn không thì con cũng chẳng thiết tha gì”. Mục Công sai người đi tìm nhưng chẳng được một người nào vừa ý. Một hôm, Lộng Ngọc ở trên lầu cuốn rèm lên ngắm cảnh, thấy trời tạnh mây trong, trăng sáng như gương, nàng gọi thị nữ đốt lên một nén hương, rồi đi lấy cái sáo bằng ngọc bích, đến bên cửa sổ mà thổi. Tiếng sáo véo von vọng lên vòm trời, gió hây hây thổi, bỗng nghe như có người họa lại, khi gần khi xa. Lộng Ngọc không khỏi băng khoăn, bèn ngừng lại không thổi nữa, cố ý để nghe xem sao. Tiếng họa bỗng im đi, nhưng dư âm còn vang vọng không dứt. Lộng Ngọc bâng khuâng trước gió, như một ngưới vừa đánh mất vật gì. Chốc đã nửa đêm, trăng xế hương tàn, nàng đem ống sáo để trên đầu giường, gắng gượng đi nằm. Nàng đang thiêm thiếp, bỗng thấy về phía tây nam trên trời, cửa mở rộng ra, hào quang ngũ sắc, rực rỡ như ban ngày, có một chàng trai trẻ tuổi, mũ lông áo hạc, cưỡi con chim phượng ở trên trời xuống, đứng trước Phượng đài bảo nàng rằng: _ “Ta đây làm chủ ở núi Họa Sơn, Ngọc Hoàng thượng đế cho ta kết duyên với nàng, đến ngày trung thu này thì đôi ta gặp nhau, ấy là duyên số định sẵn như vậy!” Chàng trai trẻ tuổi ấy nói xong, lấy tay cởi bỏ ống ngọc tiêu đeo bên hông xuống, rồi đứng dựa lan can mà thổi. Con chim phượng đứng bên, cũng vươn cánh ra, vừa kêu vừa múa. Tiếng phượng cùng với tiếng ngọc tiêu xướng họa, cùng nhịp với nhau như một, theo điệu cung thương, nghe rất êm ái. Lộng Ngọc mê mẩn tâm hồn, hỏi rằng: “Ca khúc này là gì?” Chàng trai trẻ tuổi ấy nói: “Đây là khúc ‘Họa Sơn Ngâm’ đó!” Lộng Ngọc lại hỏi: “Ca khúc này có học đưọc không?” Chàng trai ấy nói: “Khi ta đã kết duyên với nàng rồi thì khó gì mà ta không dạy nàng được”. Chàng trai trẻ tuổi ấy đến gần trước mặt, cầm lấy tay của Lộng Ngọc; Nàng giật mình tỉng dậy, thì ra một giấc chiêm bao. Sáng hôm sau, Lộng Ngọc thuật lại chuyện chiêm bao cho Mục Công nghe. Mục công sai Mạnh Minh cứ theo như hình tượng người trong mộng mà đến dò tìm ở núi Họa Sơn. Người nông phu ở đấy trỏ lên núi mà bảo Mạnh Minh rằng: _ “Hôm rằm tháng bảy mới rồi, có một người lạ mặt, đến làm nhà ở trên núi này, ngày nào cũng xuống mua rượu uống, đến buổi chiều lại thổi chơi khúc ngọc tiêu, ai nghe cũng lấy làm thích lắm, không rõ là người ở đâu”. Mạnh Minh lên núi, quả nhiên thấy có một người mũ lông áo bạc, trông như một vị thần tiên. Mạnh Minh biết là không phải người thường, mới đến trước mặt vái chào, mà hỏi họ tên người ấy. Người ấy nói: _ “Tôi họ Tiêu, tên Sử, chẳng hay ngài là ai? Ðến đây có việc gì?” Mạnh Minh nói: _ “Tôi là đại thần nước này, tên gọi Mạnh Minh. Chúa công tôi có một người con gái yêu, còn đang kén chồng. Người con gái chúa công tôi, tài thổi sáo, muốn tìm một người như thế nữa mà kết duyên, nay nghe ngài am hiểu âm nhạc, vậy chúa công sai tôi đến đón!” Tiêu Sử nói: “Tôi không có tài cán gì, chỉ gọi là có biết đôi chút về nhạc điệu mà thôi, tôi đâu dám vâng mệnh”. Mạnh Minh nói: “Xin ngài cứ đi cùng tôi xuống yết kiến chúa công”. Khi về đến kinh thành, Mạnh Minh vào tâu Mục Công trước, rồi sau đưa Tiêu Sử vào. Mục Công ngồi ở trên Phượng đài, Tiêu Sử sụp lạy mà tâu rằng: “Chúng thần ở nơi dân giã chưa biết lễ nghi, có điều gì sơ suất, xin chúa công miễn thứ cho”. Mục Công thấy Tiêu Sử dung mạo thanh tú, không phải là người thường, trong lòng đã có mấy phần vui vẻ, mới cho ngồi ở bên cạnh mà nói rằng: “Ta nghe nhà ngươi có tài thổi tiêu, chắc là cũng tài thổi cả sáo nữa!” Tiêu Sử nói: “Thần chỉ biết thổi tiêu, không biết thổi sáo”. Mục công nói: “Ta định tìm một người có tài thổi sáo, nếu chỉ biết thổi tiêu thì không sánh đôi với con ta được!” Tần Mục công nói xong, bảo Mạnh Minh đưa Tiêu Sử đi ra. Lộng Ngọc sai nội thị tâu với Mục Công rằng: _ “Tiêu với sáo cũng là một loài, người ta đã có tài thổi ống tiêu thì sao chúa công không bảo dạo chơi một khúc để cho người ta được phô tài”. Mục Công lấy làm có lý, bèn bảo Tiêu Sử thổi tiêu. Tiêu Sử mới dạo một khúc thì thấy có gió mát hây hây; thổi đến khúc thứ hai thì mây che bốn mặt, đến khúc thứ ba thì có đôi hạc trắng múa lượn trên không, lại có mấy đôi khổng tước bay về, và các giống chim kêu ríu rít; một lúc lâu rồi mới tan đi. Mục Công rất lấy làm hài lòng. Bấy giờ Lộng Ngọc đứng ở trong rèm trông thấy, cũng bằng lòng mà nói rằng: “Người ấy thật xứng làm chồng ta!” Mục Công lại hỏi Tiêu Sử rằng: “Nhà ngươi biết sáo và tiêu làm ra từ đời nào không?” Mục Công nói: “Nhà ngươi hãy thử kể rõ nguồn gốc cho ta nghe”. Tiêu Sử tâu rằng: _ “Kỹ năng của thần là ở ống tiêu, vậy thần xin kể nguyên lai của ống tiêu: Ngày xưa vua Phục Hi ghép trúc làm ống tiêu, chế theo hình chim phượng, tiếng thổi cũng giống tiếng chim phượng. Thứ lớn gọi là nhã tiêu, ghép liền hai mươi ba ống, dài một thước bốn tấc, thứ nhỏ gọi là tụng tiêu, ghép liền mười sáu ống, dài hai thước một tấc. Cả hai thứ gọi chung một tiếng là tiêu quản, còn thứ không có đáy thì là đồng tiêu. Về sau vua Hoàng Ðế sai Linh Luân lấy trúc ở Côn Khê, chế làm ống địch, ống địch có bảy lỗ, cầm ngang mà thổi, cũng giống tiếng chim phượng, trông giản dị lắm! Người đời sau thấy tiêu quản nhiều ống quá, mới chỉ dùng một ống địch rồi cầm mà thổi dọc. Thứ dài gọi là tiêu, thứ ngắn gọi là địch, bởi vậy ống tiêu đời nay, không phải như ống tiêu đời xưa”. Mục Công lại hỏi: “Sao nhà ngươi thổi ống tiêu mà lại có giống chim bay đến?” Tiêu Sử nói: _ “Ống tiêu dẫu mỗi đời một khác, nhưng tiếng thổi bao giờ cũng vẫn giống tiếng chim phượng. Chim phượng là dẫn đầu các giống chim, bởi vậy các giống chim nghe tiếng phượng, đều kéo nhau đến cả. Ngày xưa vua Thuấn chế ra khúc “Tiêu Thiều” mà chim phượng còn hay bay đến, huống chi là các giống chim khác!” Tiêu Sử ứng đối trôi như nước chảy, tiếng nói lại sang sảng. Mục Công càng thấy bằng lòng lắm, bảo Tiêu Sử rằng: _ “Ta có một người con gái, tên gọi Lộng Ngọc, cũng có biết âm nhạc, không muốn gã cho người ngu ngốc, vậy xin cùng với nhà ngươi kết duyên”. Tiêu Sử nghe nói, nghiêm nét mặt lại, rồi sụp lạy hai lạy mà từ chối rằng: _ “Thần vốn là người thôn giã, có đâu dám sánh với bậc tôn quý!” Mục Công nói: _ “Con gái ta vốn có lời thề nguyện, có chọn được người nào tài thổi sáo thì mới lấy làm chồng. Nay nhà ngươi mới thổi tiêu mà lại cảm động được đến trời đất và muôn vật, như vậy thì lại hơn người thổi sáo nhiều lắm. Vả lại con gái ta khi trước đã có điềm mộng, ngày nay lại chính là tiết trung thu rằm tháng tám, duyên trời định sẵn, nhà ngươi chớ nên chối từ”. Tiêu Sử lạy tạ. Mục Công sai quan thái sử chọn ngày để làm lễ cưới. Quan thái sử nói: “Hôm nay là ngày trung thu, trăng vừa tròn bóng, xin chúa công cho làm lễ cưới, để hợp cái nghĩa ân ái vẹn tròn”. Tần Mục Công truyền cho Tiêu Sử tắm gội, thay mũ áo mới, rồi sai người đưa đến Phượng lâu, để cùng với Lộng Ngọc kết duyên. Ngày hôm sau, Tần Mục Công phong cho Tiêu Sử làm trung đại phu. Tiêu Sử dẫu làm trung đại phu, nhưng không dự gì đến quyền chính cả, ngày nào cũng vui chơi ở chốn Phượng lâu, lại không ăn cơm, chỉ thỉnh thoảng uống mấy chén rượu mà thôi. Lộng Ngọc học được thần thái của Tiêu Sử, cũng không ăn cơm. Tiêu Sử lại dạy nàng thổi ống tiêu. Vợ chồng ở với nhau chừng được nửa năm thì một đêm, bóng trăng vằng vặc, hai vợ chồng đem ống tiêu ra thổi, bỗng thấy một con phượng xuống đậu ở bên tả, và một con rồng xuống phục ở bên hữu. Tiêu Sử bảo Lộng Ngọc rằng: _ “Ta vốn là người tiên trên trời, Ngọc Hoàng thượng đế thấy sử sách ở trần gian, nhiều chỗ tán loạn, vậy nên giáng sinh ta xuống làm họ Tiêu nhà Chu để sửa sang lại. Người nhà Chu thấy ta có công về sử sách, mới gọi là Tiêu Sử, đến nay đã hơn trăm năm rồi. Ngọc Hoàng thượng đế cho ta làm chủ ở núi Họa Sơn. Vì ta cùng nàng có tiền duyên với nhau, nhưng không nên ở mãi chốn trần gian này. Nay rồng cùng phượng đã đến đón ở đây, chúng ta nên cùng đi”. Lộng Ngọc toan vào từ biệt với cha. Tiêu Sử can rằng: “Không nên ! Ðã là thần tiên thì chớ nên quyến luyến chút tình riêng!” Bấy giờ Tiêu Sử cưỡi con rồng, Lộng Ngọc cưỡi con Phượng cùng bay lên trời. Ngày hôm sau, nội thị vào báo với Mục Công. Mục Công thở dài mà than rằng: _ “Giả sử bây giờ rồng phượng đến đón ta thì ta cũng chẳng thiết gì ngôi vị nữa !” Mục công liền sai người đến núi Họa Sơn để tìm, nhưng chẳng thấy Tiêu Sử đâu cả, mới truyền lập đền thờ, gọi là đền Tiêu Nữ. Mục công bấy giờ chán việc chiến tranh, giao hết quốc chính cho Mạnh Minh, rồi ngày nào cũng ham mê đường tu luyện. Chẳng bao lâu, công tôn chỉ cũng mất, Mạnh Minh tiến dẫn ba con Tử Xa Thị là Yêm Tức, Trọng Hàng và Kiểm Hồ, Mục Công đều cho làm quan đại phu. Một hôm, Mục công ngồi ở trên Phượng đài, ngắm cảnh trăng sáng, lại nhớ đến Lộng Ngọc, bỗng chợp mắt ngủ đi, trông thấy Tiêu Sử và Lộng Ngọc đem một con phượng đến đón. Mục Công cưỡi phượng lên chơi cung trăng, khí lạnh buốt vào tận xương. Ðến lúc tỉnh dậy, liền bị bệnh cảm hàn, sau mấy ngày thì tạ thế. Ai cũng cho là Tần Mục Công đã đắc đạo thành tiên.
Đi về sao chẳng về đi, Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về? Đem tâm để hình kia sai khiến Còn ngậm ngùi than vãn với ai? Ăn năn thì sự đã rồi, Gió hây hây áo thuyền lơ lửng chèo. Hỏi hành khách lối nào đi tới, Bóng mập mờ trời mới rạng đông. Miền quê nẻo trước xa trông, Chân hăm hở bước đường mong tới nhà. Chạy đón chủ năm ba đầy tớ, Đứng chờ ông mấy đứa trẻ con; Rậm rì bao xóm con con, Mấy cây tùng cúc hãy còn như xưa. Tay dắt trẻ vào nhà mừng rỡ, Rượu đâu đà sẵn chứa đầy vò; Thoạt ngồi tay đã nghiêng hồ, Cười nom sân trước thấp tho mấy cành. …..
Không chỉ người Mẹ luôn là biểu tượng vĩ đại nhất của con người, trong thế giới động vật giống cái cũng nuôi nấng và chăm sóc con cái thể hiện thiên tính làm mẹ không thua gì con người ngay cả các loài hoang dã như trâu rừng, sư tử, voi… cả loài cá heo dưới nước.
Một nghiên cứu mới, rất ngạc nhiên cho thấy điều giống nhau giữa con người và cá heo về bộ sinh dục.
– Ha! Ha.
Bà vợ từ phòng bên.
– Rồi! Buồn quá cười chớ gì?
– He! He! Em giống cá heo.
– …!
Mặt vợ lạnh hơn băng.
– Tui không giỡn với anh! Cá hay heo?
– Con-cá-heo!…
Vợ đứng sau lưng, tôi chỉ bài đang dịch.
– Nè!
– Ðể tui coi! Tui mà giống cá heo à?
Cá heo quý hiếm màu hồng. Nguồn. R-U-LOST
Cũng như con người, cá heo cái có khoái cảm tình dục qua âm hạch, bộ phận sinh dục của mình, theo báo cáo của chương trình nghiên cứu mới tại Current Biology.
Tác giả nghiên cứu là Patricia Brennan, một nhà sinh vật học tiến hóa, tại đại học Mount Holyoke, đã xét nghiệm tất cả các âm hạch của cá heo đã trưởng thành, sắp lớn, còn nhỏ, cá heo đã chết tự nhiên, dưới ống kính hiển vi và sử dụng cả CT scans (kiểm tra từng lớp của cơ thể). Bà đã tìm thấy nhiều dấu hiệu cho thấy âm hạch cá heo hoạt động rất rõ ràng.
Những lớp mô trong âm hạch của cá heo không có các ngăn chứa hơi như con người. Ở con người máu dồn vô các túi này khi bị kích thích làm cho âm vật và âm hạch cương lên. Trong đoạn video ngắn, Brennan cho biết trường hợp kích dục của cá heo cũng giống như vậy.
Brennan cũng tìm thấy 4 cụm thần kinh lớn nối với các đầu dây thần kinh nhạy cảm dưới da âm hạch của người. Lớp da này mỏng hơn 3 lần so với lớp da chung quanh vùng âm hộ của cá heo, và sẽ làm cho vùng này trở nên có độ kích thích cao hơn.
Từ lâu thì những nhà nghiên cứu đã tìm thấy một cấu trúc sinh dục là những đầu dây thần kinh nằm dưới lớp da của bộ phận sinh dục và đầu vú con người. Những bộ phận này cộng hưởng vào khoái cảm tình dục của con người, và các nghiên cứu đã cho biết “Tất cả các kích thích sinh dục của cá heo cũng tương tự.”
“Rất nhiều người cho rằng, con người là loài duy nhất có quan hệ tình dục để gây khoái cảm”. Justa Heinen-Kay, một nhà nghiên cứu của đại học Minnesota thông tin cho Sabrina Imbler của báo New York Times, qua email rằng “Những nghiên cứu về cá heo đã làm đảo lộn quan điểm đó”
Theo báo Times, kết quả tìm thấy của cuộc nghiên cứu không gây ngạc nhiên lắm cho các chuyên gia về cá heo. Cá heo mũi chai là sinh vật có dục tính cao. Chúng làm tình suốt năm, ngay cả trong thời kỳ không thể thụ thai. Những vụ làm tình giúp duy trì những “quan hệ trong xã hội” cá heo, bài nghiên cứu đã cho biết như vậy. Chúng cũng có quan hệ tình dục đồng tính.
Brennan đã cho biết trong đoạn video, về lý thuyết, sự giao hợp mang lại nhiều khoái cảm cho giống cái, vì điều này sẽ đưa tới sự gia tăng giao cấu và sinh sản của chúng.
Brennan nói thêm, “Những khoái cảm tình dục tự nhiên của phụ nữ vẫn chưa được nghiên cứu kỹ càng và các nhà khoa học đã không mô tả rõ ràng âm vật của con người cho đến năm 1990”. Ngay cả những nghiên cứu y học về con người và cả chương trình giảng dạy của Y khoa, giải phẫu âm vật vẫn bị bỏ sót. Theo tờ Guardian. “Sự lơ là trong nghiên cứu tình dục của phụ nữ đã để lại cho chúng ta một bức tranh không hoàn chỉnh của tình dục tự nhiên”. Brennan tiếp tục, “Nghiên cứu và hiểu các hoạt động tình dục trong tự nhiên là phần căn bản của sự hiểu biết về tình dục của các động vật sẽ giúp tạo ra những tác động di truyền cần thiết trong tương lai”.
Brennan cho biết thêm, “Mỗi khi mổ âm đạo của cá heo, chúng tôi đều thấy âm hạch lớn này, và chúng tôi tò mò rằng đã có ai khám phá hết các chi tiết, coi thử nó có giống âm hạch của con người hay không”, và bà giải thích “Chúng tôi biết rằng, cá heo làm tình không chỉ để sinh sản, mà còn để tăng khoái cảm và gìn giữ những thân tình xã hội, cho nên âm vật hoạt động rất hữu hiệu.”
Ðể chứng minh rằng bộ phận sinh dục của cá heo không chỉ để sinh sản, Brennan và nhóm nghiên cứu của bà kiểm tra giải phẫu 11 con cá heo đã chết trên bờ biển Mỹ.
Họ tìm thấy âm hộ của cá heo rất giống của con người, nhưng hệ thống xương chậu lại rất khác biệt. Các nhà khoa học cho biết: “Cơ quan sinh dục của cá heo mái được bọc trong một lớp da mỏng, khi cá trưởng thành, lớp da này trở thành nhăn nheo, làm cho âm hộ dễ kích thích, các thần kinh trong âm vật cũng khá ngạc nhiên, nó nở lớn ra”. Lý thuyết khoái cảm sinh dục của cá heo từ Brennan đã được ủng hộ vì thật ra âm hộ của cá heo nằm ngay vị trí dễ bị kích thích, hơn nữa, cá heo làm tình suốt năm.
Chân dung cá heo. Nguồn. hddesktopwallpapers.in
Có 40 loài được gọi là cá heo
Cá heo có cỡ nhỏ khoảng 1.7m, nặng 50 ký. Ðôi khi cá heo dài tới 9.1m. Một số cá heo có con đực to hơn con cái. Tuy không linh hoạt như hải cẩu, cá heo có thể bơi ở tốc độ 28 km/giờ với khoảng cách gần. Cá heo dùng hàm răng nhọn hình nón để táp những con mồi với tốc độ nhanh, cá heo có hệ thống thính giác phát triển rất cao, có thể nghe dưới nước và trên không, cho nên cá heo có khả năng thoát hiểm dễ dàng nếu bị mù. Nhiều loại cá heo có khả năng lặn rất sâu.
Cá heo có lớp mỡ dưới da để giữ ấm trong vùng nước lạnh. Cá heo có khắp nơi, nhưng thường thì chúng thích vùng nước ấm hơn là lạnh, nhưng có loài cá heo như cá heo voi, giống này thích vùng nước lạnh hơn. Thực phẩm của cá heo phần lớn là cá và mực. Cá con thường được sinh ra trong những tháng mùa Xuân và Hè và cũng giống như con người, cá mẹ lo hết về chuyện nuôi nấng con cái.
– Thấy chưa? Em giống con cá heo.
Cô khoanh tay.
– Tui là cá vàng đầu bự, là cá Koi, là cá rồng SANG TRỌNG! làm sao là cá heo! Hử?
1. giá mà em chửa lấy chồng thì anh đâu phải tồng ngồng như ri giả như em đừng bỏ đi anh mô hớt hãi bữa ni thèm lờ.
2. quán đặc sản dán giấy tờ xơi phở đẳng cấp chớ chờ giá nghen vui chân ra chợ mà ghen mấy ông tài xế đã chèn chật xe nói hoài mà chẳng chịu nghe qua trạm thu giá im re lộ trình giá cháy hàng bất thình lình bôi trơn kiểu ấy thì mình vẫn hao thị trường thiếu giá lao xao không chừng rau muốn(g) thu vào bot kia.
3. trời đổ mưa làm người bức xúc phải đưa đầu trần hòng trôi cơn hạn chạy tới tiệm “hớt tóc không tông-đơ” ba nàng dựa cửa thông thoáng khó bề ngó lơ nhưng nghiệt cái bên “hớt tóc chẳng dao kéo” thì lắm gái tơ vô tư thư giãn đi cưng mặt chảnh đẹp giai chết khiếp ăn chơi không sợ mưa rơi, mình thù tiếp hớt tóc chẳng cần đồ nghề cũng tới bến mờ báo đài xác nhận an toàn thực phẩm trung quốc thì chỗ em hành nghề răng ri rứa cũng một duột y trang chống lưng bọn này có mấy ảnh công an khu vực còn tía em tổ trưởng dân phố làm ô dù có ai lạ lùng gì bà chủ tịch hội phụ nữ đích thị là má con hoàng yến đó thôi, chắc khứu có chết thằng tây nào đâu mà sợ thằng tàu thì răng sẽ lạnh khi hở môi dị đi nghen dú nè bóp thử đi xem như hàng khuyến mãi đưa vò đầu thử coi có cứng hôn.
4. showbiz là nơi đẻ nhiều chữ “giá mà” một độc giả review sách vừa phát hành vote chỉ 1 sao. lý do nó chứa quá nhiều từ ngữ nhạy cảm dung tục mất phẩm giá tác giả trẻ nguyễn hằng my cùng chồng ra mặt hăm doạ sẽ đánh đứa không biết thưởng thức độc giả khác đổ dầu vào lửa hành văn như kiểu hành kinh em được một sao kiểu mưa trên mầu cờ đỏ là ngon cơm quá rồi ở đó mà sôi máu đánh đấm đòi giải phóng tâm tình độc giả bốn phương giá mà…
5. giá mà việt nam đương đại có được một ông lỗ tấn: “khi tôi trầm mặc tôi thấy mình dư dả đến khi tôi mở miệng tôi nhận ra mình trống không”.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.