This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Mỗi ngày, mở con mắt ra, anh luôn điểm tâm bằng ly trà xanh khói bốc, thảy vào nóng sốt hai lát chanh thái mỏng từng ngâm ngập thân trong lọ mật ong. Chị thường rảo quanh một vòng trong facebook để học lóm bao bí quyết của bá tánh đưa lên, thấy lắm kẻ ngợi ca món đó nên bắt chước thực thi. Đã dùng thử, thôi táo bón, da mọng và mịn trở lại… Uống đi anh, thông đàm chẳng ho kèm theo muôn vạn lợi ích khác. Chị một tách anh một ly sương sương đối ẩm từ bình minh trời nhú cho tới đôi ba canh giờ nhàn cư vi có việc. Trong cõi facebook cũng có ông ngôn rằng: “Vợ bảo thì chớ cãi, ấy là nghệ thuật sống lâu vậy!” Nghe tới nghệ thuật, bất kể nghệ thuật gì, anh lấy làm chí thú mà chan hoà cùng nó chẳng gợn hoài nghi lăn tăn. Facebook kêu rằng “hăm kiu ca, dễ xương hít bít, thík wá”. Trà chanh ngâm với mật ong, vợ làm chồng uống đi đong nửa giờ. Bấy giờ mới lặng như tờ, hạ hồi phân giải tới rờ cà phê. Từ hồi anh bắt đầu trổ giò bể tiếng râu ria ra lún phún tới bây chừ, hình ảnh cái nồi ngồi trên cái cốc là thứ chẳng thể đoạn lìa. Đôi ba bữa hổng thấy cái nồi ngồi trên kiềng ba chân đít đen cho lửa táp um sùm trời đất thì cũng không lấy đó làm điều, bởi cơm canh so ra yếu lực chẳng gây nghiện bằng cà phê. Suy ra có những thứ cậy lớn mà chẳng thể hiếp bé được. Xa lớn đôi ba bữa được nhưng bỏ bé một hôm thấy nhớ hơn người tình chung. Bé tiết ra hắc thuỷ, nhấm nháp mê tơi kiểu bị lậm bùa. Xa xưa ở bên Tàu, thuở chưa có món cà phê, ông vua Hán Vũ Đế đã thi phú rằng: Năng tam nhật bất thực, bất năng nhất nhật vô phụ nhân. Ta thà nhịn ăn ba ngày chớ không thể thiếu đàn bà trong một hôm. Hoàng thượng mới có thứ khẩu khí vậy chứ hạng phàm phu tục tử chỉ mơ mòng sáng tối được ôm vào lòng cái nồi ngồi trên cái cốc là đã nghe ấm đời chẳng thiết chi… ba cái lăng nhăng nó quấy ta.
Cũng ở facebook người ta cảnh báo rằng uống cà phê nhiều không tốt đâu nghen, bởi khi rang chín hạt cà phê nó sản sinh ra một chất dễ gây mầm bệnh ung thư, dân bên California yêu cầu thương hiệu Starbucks phải chú thích chuyện ấy ngoài bao bì. Qua hôm sau, màn hình lại hiển thị hình ông bác sĩ xác quyết, cầm búa đinh đóng hột cà phê vào cột: Bà con cô bác nên uống nó, thứ giải khát quyến rũ nhất trần đời này chứa rất lắm chất bổ dưỡng, tim mạch cũng như trí não. 86% dân số trên hành tinh ô trọc này đều uống cà phê. Nghệ sĩ thì chưa tường nhưng những nhà làm chính trị, đầu óc họ năng nổ kích hoạt là do ngày nốc ba đọi cà phê vào tách ra ly không kể, chưa tính khuấy chung với sữa người lắm vitamin D.
Anh thưa cùng chị, nhại lời một ông nhà thơ đình đám: Facebook đích thị là ở cõi nhân gian không thể hiểu, bỏ Ngô theo Sở chửi Lưu Bị thờ Tào Tháo, vừa sờ râu Thanh xong quay qua chải tóc Minh. Cứ nghe loảng xoảng tiếng binh đao dậy trời bao kiếm quang lắm ánh đao, thật không biết đường mô mà lần! Chị la: Chất xám anh để ở đâu? Phải tự mình sàng lọc chứ! Vào chốn đó nên ung dung như thể Triệu Tử Long đơn thương cứu ấu chúa, áo bào trắng nhuộm đỏ máu những kẻ gian tà. Em bảo uống trà chanh ngâm tẩm mật ong là bởi thế, giúp mình chớ mê muội, không nên tự sướng quá đáng bởi người ta từng ra thông cáo “nay ở trong thơ nên có thép làm nhà thơ phải biết xung phong”. Mình chỉ xung phong đi nhặt công thức chanh ngâm mật ong hoặc cắt củ tỏi mang đi chèn kín trong chai rượu trắng, nôm na là bí cấp ông uống bà khen hay, giữ lửa riu riu làm nồng ấm tình vợ chồng, gia đình an ổn mới bình tâm lo việc kíu nước được.
Vì nghe chị lên lớp bài chính trị nhập môn, thuận theo thứ nghệ thuật sống êm cửa ấm nhà nên anh lây lan biết thêm món vạn vật phổ thông: Trong 50.000 con ong chỉ có duy một nữ hoàng và mỗi ngày “nàng” đẻ ra 2.000 trứng. Bổ khoẻ nằm ở việc ăn tươi nuốt sống lấy mật, chứ để nó qua khâu sàng lọc trong viện bào chế thì tinh chất nguyên khí đã hao hụt bộn phần. Điều này không khác vẻ đẹp tự nhiên có trên người một nữ nhân, đẩy cô ta vào thẩm mỹ viện là hỏng, là trông trăng trăng lặn trông sao sao mờ. Chị đã từng xăm xăm đi giao mạng rủi may nương nhờ vào dao kéo, đến khi trở về mái nhà xưa anh phải gia công đi trói xích con chó lại sợ cún yêu chồm ra sủa cắn bà đạo chích hoá trang vụng về. Chị mắng chó: Đồ có mắt như mù, đồ có mũi mà không biết đánh hơi thơm trên người tao, giá mà còn ở bên nhà thì tao biến mày thành Cầy Bảy Món. Đồ phản phúc gì đâu! Tân trang dung mạo xong chị chụp ngay cái bóng để đưa lên phây làm ảnh đại diện. Không quá ba mươi giây có thằng comment: Wow, dễ iu wá. Trẻ tới chục bó, hăm thệ tin nội! Chị cười khúc khích một mình, tối ngủ riêng vì sợ anh táy máy tay chân làm hư bột hư đường, ba ngàn đô chưa tính thuế đó tía. Em còn lạ lùng gì, anh chúa vụng về việc sờ nắn. Thương yêu cũng có năm bảy đường, đường hôm nay là ôm mền gối ra ngủ ngoài cái futon đi nghen. Anh lẳng lặng thực thi thứ nghệ thuật sống lâu, đầu lởn vởn ý muốn cả gan vượt tường lửa bỏ cơm đi tìm phở. Đúng quy trình thì phải lau sạch mồm kẻo về nhà chịu hứng cơn mưa cực đoan. Thò đũa xoắn lấy nạm gầu, vắt chanh thêm ớt thôi sầu buồn viên, gần chị đôi lúc không thiêng, xiêm y cũ quá mãi riêng lập trình, đương đại này lắm tình hình, có lê quên lựu phải rình cuộc chơi. Y như rằng chúng sinh thường than, đời không facebook nên chi nghe đời chơi vơi! Khổ thật đấy, tớ không đùa đâu nhé. Ở Việt Nam có hơn 5 triệu tín đồ phây bút lun, rất wành chán!
Ngoài chuyện khuyến khích anh uống trà xanh với chanh (không tanh) luôn khuấy muỗng lanh canh, chị còn xúi giục anh mần thơ nhanh. Mình cứ phơi áo phơi quần phơi xe phơi nhà phơi chó lên đó hoài cũng oải, đổi không khí ta làm thơ chảnh, lời mỏng mảnh, ngó cho bảnh, thêm ăn ảnh. Đầu ngày súc miệng bằng trà nóng xong tới cà phê đen nóng và cuối công đoạn là thơ rỉ rả tuôn ra từng giọt ngắn dài, miệt mài, ong bướm đều đặt cài, chả thèm dũa mài. Thơ có nóng lạnh thì hậu tính, khỏi đính chính, mất yếu tính. Em dành lấy, tính post lên thì đọc phải tin choáng: Nhà thơ (chính hiệu) Phan Hoàng, phó chủ tịch Hội Nhà Văn TP HCM (sinh năm 1967) vừa tuyên bố “Thơ trên facebook là rác rưởi”.
Con voi bèn co vòi lại, thôi trương đại. Xập xám chướng luận: Người ta cù lũ thì dương, mình thùng thì thủ, tìm thứ khác để câu like chớ món thơ e khó nhá, chả khá, sợ mất lòng tía má, hay anh thử bàn tới môn bóng đá? Anh thưa: Em ạ, nhà thơ đích thị là con ong nữ hoàng trên tổng số 50.000 thứ rác rưởi. Từng đắp chung chăn hai ta mới biết tới rệp, tướng tá anh nào phải nữ hoàng ong. Ong chúa cũng không, ong thợ cũng không nốt, do vậy anh hổng biết đẻ đâu. Người ta có tiền mua thơ cũng được, phận mình nghèo xin mua lấy hai chữ bình an. “Đêm ôm vợ thấy lòng giật thót, thương con cún nhỏ nhốt ngoài sân”. Thơ như thế có liên hệ tới rác không? Một loại rác rất dễ chế biến recycle tái sử dụng hòng cứu chuộc môi trường đang ô nhiễm nặng. Rác vần với ác cặp đôi với bác: Đêm nay bác hăm ngủ tối mai bác ngủ bù. He he he. Đơn giản vậy mà nghĩ không ra sao cà? Tranh thủ mà ngủ đi chứ, cứ đêm nào cũng thức đủ vừa năm, hèn gì ba đình có lắm người thăm. Hà nội mùa này trời lạnh căm, rét nàng bân e trốn mất tăm.
Facebook vừa nhắc là chị làm bạn với ông Trần Tài Thánh đúng ba năm, dĩ nhiên chị không khoe anh mối tình hữu hảo dài lâu trong thế giới ảo ấy. Ba năm, thời gian đủ độ chín để biến một cây sậy vô tư chuyển sang dạng biết suy tư, có thể sợ bể nồi cơm chị phán: Bổn cô nương treo gươm lên vách, thôi lăng ba vi bộ giũ áo phong sương ẩn vào đoạn trường cốc xa lánh giang hồ một thời gian. Anh có hơi bất ngờ trước “hung tin”, kiểu này không chừng tiểu muội sai vị huynh đài này cầm nhíp sửa soạn tinh thần để nhổ lông mày vốn sắc như lá liễu của người mang nick name Triệu Minh. Gạn hỏi lý do “buông đao có thể thành Phật”, chị cho hay: Tuần rồi thấy khó ở bèn đi gặp bác sĩ gia đình, cứ ngỡ là do biến đổi tâm sinh lý vì vừa qua thời gian mãn kinh, nào ngờ bác sĩ nói: Ở nhà chị hay lùng sục vào phây bút lắm, phải hôn? Phi tiêu ám khí độc dược trong đó vốn hằng hà, hết bị cháy nhà tới trộm cướp vào xin đểu, hết bị xe đụng tới bị trói vào đồn, hết gãy chân trái bó bột chân phải tới học trò bị cô bắt uống nước dơ… Do quá bức xúc mà chị sinh đổ bệnh, nghe lời tui thử chay tịnh một thời gian ắt thân tâm sẽ gặp ngay an lạc. Tạm quên câu “ta không vào địa ngục thì ai vào”, nhớ? Tin tui đi, tháng sau nếu chẳng thấy khả quan thì lúc ấy tui mới lột đồ chị ra để khám tổng quát. Thay vì dí mũi vào màn hình iPad các thứ, chị đi một bài quyền của “Dịch chân kinh” hoặc tập dợt những động tác “Suối nguồn tươi trẻ” nhằm giúp máu huyết lưu thông, đánh tan bao tồn đọng của lắm điều ám muội.
Anh nói, thế em có hỏi ổng về lợi ích việc uống trà chanh ngâm mật ong? Ờ hén, quên mất tiêu. Nhưng mà dung mạo Tài Thánh ngó rất điển trai, đỏ da thắm thịt nhờ vào món nước lợi hại ấy. Tài Thánh là ai, sao cả gan mang cái tên “chảnh và oách” đến thế? Chẳng sợ trời không tha, đất không dung. Thôi bỏ đi, mình dắt nhau tới quán phở Nhất Trí để ăn kỷ niệm ngày cai phây bút. Anh có vui hăm? He he he. Em có sẵn năm choạc bạc đây. Chị vào phòng thay áo đổi quần, anh đứng trước gương chải tém đầu tóc muối tiêu. Hơn ba năm vọc phây, nếu viết thành lời chị thốt, e văn phạm tiếng mẹ đẻ đi đong. Không cần ôm vợ cũng nghe lòng giật thót, tai hứng chật thứ ngôn ngữ kia thì đời quá chơi vơi…
Sắp tới Tết. Tết năm nay mang tên Kỷ Hợi. Tết con heo.
Heo là giống vật tạp ăn (ăn như heo). Heo là súc vật quen sống trong điều kiện dơ dáy (bẩn như heo). Heo thường được quý bà quý cô dùng, thay thế cho cụm từ “đồ dê chúa”, là hạng đờn ông cứ chực chờ ghẹo nguyệt giỡn hoa buông lời đường mật rù quến ong bướm. Phụ nữ đa phần đều ghét nhân vật Trư Bát Giới, họ cũng chẳng mặn nồng gì tới Tôn Ngộ Không. Sau “đồ con heo” có lúc họ rầy rà người yêu: Đồ con khỉ! Cứ ưa bày trò rờ rịt người ta! Họ có lí do chính đáng để cạy mặt con khỉ, Tết khỉ Mậu Thân 1968 đã biến thành phố an lành họ đang sống trở thành địa ngục. What the Hell…
Heo là tiếng Việt, phát âm nghe giống tiếng Anh “hell”. Bụt từng nói: Ta không vào địa ngục thì ai vào? Tựa như lời của Winston Churchill: “If you’re going through hell, keep going”.
Tết mà liên tưởng (một lần nữa) tới chữ địa ngục thì e lâm vào chuyện không phải. Người mình ưa dị đoan, kiêng cử. Người mình sẽ mắng: Đồ cái miệng ăn mắm ăn muối, phỉ phui đi nha! Phỉ phui là xả xui? Đời vô thường, chả biết hên xui như nào. Phải là con dân Việt mới quán triệt được thế nào là phúc hoạ khó lường.
Ngay cả thơ nhắc về dịp Tết (buộc phải đoàn viên sum vầy) cũng chứa đựng hình ảnh của chia phôi. Ví như bốn câu mở đầu bài “Xuân tha hương” xa lắc xa lơ của Nguyễn Bính:
Tết này chưa chắc em về được Em gửi về đây một tấm lòng Ôi, chị một em, em một chị Trời làm xa cách mấy con sông.
Như trích ra hai phân đoạn “Tháng Chạp buồn” của Tô Thuỳ Yên:
Tết này con vẫn chưa về được Chân mỏi còn lê nặng kiếp tù Con nghĩ mà đau muôn nỗi nhớ Chín năm lòng bạc những thiên thu. …..
Tết này anh vẫn chưa về được Lau sậy già thêm một tuổi xuân Còn nhớ thương ai miền gió cát Bao giờ mới dứt được trầm luân!
Và mới nhất, sau khi ngó ra cảnh vườn rau Lộc Hưng bị cày xới tan tành, cư dân bỗng lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, nhà thơ Nguyễn Tam Phù Sa hiện ở Sài Gòn làm bài thơ thế sự nén chặt nỗi đau vào hai câu cuối:
Cuối năm chim Việt kêu chiều Mâm thau chén đũa nồi niêu giật mình.
Những hành khất Lộc Hưng thời đại mới có còn ai nhớ thơ Huy Cận:
Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế! Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường Phố đìu hiu màu đá cũ lên sương Sương hay chính bụi phai tàn lả tả?
Nghe thì thầm tiếng Nguyễn Đức Bạt Ngàn đồng vọng:
Giờ vĩnh biệt máu trào lên tiếng nấc Là đường đi anh nổi lửa hôm sau Này gió bụi ân cần mừng tuổi Nặng linh hồn mỗi bước lưu vong.
Lưu vong là chỉ tới một bộ phận không nhỏ những kẻ trốn chạy chế độ cộng sản, đang sống liền lạc bỗng chuyển giới sang khúc ruột ngàn dặm. Nhưng lưu vong còn dành cho những người mãi ăn nằm với chốn chôn nhau cắt rốn. Họ lưu vong trên chính đất nước họ bởi lẽ vuông đất cha ông để lại cho họ đã bị nhà nước dùng vũ lực trấn lột đi. Luật pháp nhà nước bẩn như heo. Quan chức nhà nước tạp ăn như heo. Lòng lãnh tụ y như lòng lợn, mà giáo viên thì thích giở trò con heo với nữ sinh bất kể già trẻ nhớn bé vị thành niên.
“Gia tài của mẹ để lại cho con một nước Việt buồn”. Phải Trịnh Công Sơn từng nói thế không? Chữ buồn chẳng giải thích rõ một điều gì cả. Heo có biết buồn không? Chúng có cảm xúc tựa giống người? Chúng có biết phản ứng khi bị người mắng: Ngu như heo!
Tết con Heo, những mong trời đất nổi cơn gió bụi hòng làm sạch bớt cái chuồng heo tạp nhạp chốn đó. Chúng bớt ăn đi, bỏ giùm thói ăn không chừa một thứ gì cho các động vật khác nhờ. Chịu khó siêng làm vệ sinh hòng trôi bớt mùi thối khó ngửi.
Tết này không chắc ta về được Sợ qua cửa khẩu đón câu hỏi: cũng là Heo ư? Mặt nhăn như khỉ ăn ớt khi Dúi tờ 20 vào sổ thông hành.
Tết này ta về làm gì nhỉ Nhìn chúng sanh ăn ngủ vỉa hè sao đành tâm Tết sau chưa tính về được không? Chốn ấy thanh bình vẫn bị heo xơi. Rất sợ tiếng chim kêu chiều Hoang mang lắm khi nồi niêu giật mình.
Cho em nhờ tí, Tết này Không chắc đương cự êm với cơ hàn giá băng Tin đâu sét đánh ngang tai Xuống phố tàu mua heo quay nhậu lai rai, gọi là.
Tôi dẫn Cúc lang thang quanh khu phố Hòa Bình, ngắm phố phường, tận hưởng chút không khí tự do của ngày xưa còn rơi rớt lại đâu đây.
Khi tôi và Cúc về đến nhà nắng chiều cũng sắp tắt, một việc mà tôi không bao giờ ngờ tới đã xảy ra. Ông Năm bánh xèo đang ngồi chễm chệ trong phòng khách của nhà tôi, miệng phì phèo điếu thuốc lá. Không phải một mình tôi, mà tôi biết cả Cúc cũng xanh mặt. Tôi nói với mình, cho dù chuyện có nguy hiểm đến đâu, cũng phải bình tĩnh mà đối phó, không được sợ hãi. Tôi đưa mắt nhìn quanh, chỉ có một mình ông Năm, không có bất cứ tên công an nào đi theo, có nghĩa là ông đến nhà tôi không phải với ý định bắt người. Và chuyện tôi khai gian ở trại cải tạo, ông Năm vẫn chưa biết.
Lấy hết can đảm, giống như một tay võ sĩ thét lên tiếng Kiai, trước khi nhảy vào tử chiến với địch quân, tôi nói lớn với mục đích là đánh tan nỗi sợ hãi trong lòng của mình.
-Chào ông Năm, ông khỏe không?
Ông Năm tươi cười nhìn tôi.
-Chúc mừng trung úy đã được cho về.
Tôi nghe chữ trung úy từ miệng ông Năm, mà cảm thấy không được yên tâm cho lắm.
-Thưa ông Năm, xin ông đừng gọi tôi là trung úy, có được không?
Ông Năm không trả lời tôi mà nói với Cúc, giọng nói giống như ông ta là chủ nhà.
-Cô ngồi xuống đây, tôi có chuyện muốn nói với cô và cậu Quân. Mà nè, ba má chồng cô có nhà không?
Cúc nói nhỏ.
-Ba má tôi thường hay đi chùa, chắc không có ở nhà đâu. Hơn nữa , tôi và chồng tôi đi làm vườn trồng bắp sú tại Đa Thiện mới trở về, nên không biết.
Ông Năm nói.
-Tôi thấy trong nhà chỉ có một chị gái đang bồng em bé, ngoài ra chẳng có ai.
Thấy mọi chuyện có vẻ êm xuôi, tôi nói với ông Năm.
-Thưa, ông ghé nhà có chuyện gì không?
Ông Năm gật gù cái đầu với mớ tóc muối tiêu lòa xòa trên trán.
-Có chớ, chuyện khá hay nên tôi mới ghé đây, mà trong nhà có chỗ nào yên tĩnh, riêng tư để nói chuyện không? Ngồi ở đây,“tai vách mạch dừng”, không tốt.
Cúc tần ngần một chút rồi nói.
-Thưa ông, trên sân thượng êm vắng, có thể nói chuyện được.
-Thế thì tốt, nào chúng ta đi lên.
Hình minh họa
Nghe câu nói của ông Năm, tôi cứ tưởng mình đang nói chuyện với một tay cán bộ từ miền Bắc vào, chứ không phải một cán bộ nằm vùng.
Ngồi dựa ngửa vào cái ghế trên sân thượng, ông Năm hỏi Cúc.
-Nhà có cà phê không?
-Dạ có.
-Cho tôi một ly cà phê sữa nóng, ít sữa thôi.
Quay sang tôi, ông mời.
-Cậu Quân uống một ly cho vui, lâu lắm rồi kể từ ngày tôi tặng cậu tấm hình, cho đến hôm nay mới có dịp tâm sự cùng cậu.
Thực lòng mà nói, càng nói chuyện với ông Năm tôi càng sợ, không biết ông ta đang có âm mưu gì để hại mình đây. Nhưng mà chuyện hại người cũng không đúng, vì ông chỉ cần chụp cho tôi cái mũ, thằng Ngụy phản động, một tờ truyền đơn viết tay nhét vào kẹt cửa nhà tôi, với nội dung chống phá Cách mạng là ông có thể đem xử bắn tôi rồi, cần gì phải bày mưu tính kế làm gì cho mệt thân. Đàng này ông Năm nói chuyện với tôi, giống như hai người quen biết nhau lâu ngày mới gặp.
Tôi nói với Cúc.
-Tiện thể, cho anh một ly cà phê sữa luôn.
Khi Cúc đã khuất sau cánh cửa.
Ông Năm ngửa mặt nhìn trời rồi nói.
-Trong trại cải tạo, cậu Quân sống như thế nào?
-Thưa ông, mọi chuyện đều tốt đẹp.
-Cứ nói thật đi, không cần gì phải che giấu.
Tôi hơi e ngại nên rụt rè.
-Thưa ông, có hơi đói, thèm ăn.
-Chuyện ấy thì tôi biết, còn gì nữa không?
-Thưa, mọi chuyện đều bình thường.
Sau đó tôi kể thêm cho ông Năm nghe mấy ngày cuối cùng trong trại cải tạo, hơn ba trăm người sống cách ly trước khi về, được cho ăn uống đàng hoàng đầy đủ.
Ông Năm nói với tôi.
-Tôi nói như thế này thì cậu hiểu ngay, ví dụ có ba ngàn tù cải tạo, nuôi ăn mỗi ngày mất hết ba ngàn đồng, như vậy một ngày tốn một đồng cho một tù nhân. Ba trăm người sắp được thả về, ăn một ngày ba đồng, có nghĩa là hết chín trăm đồng. Số tiền còn lại là hai ngàn mốt, đem chia đều cho hai ngàn bảy trăm người. Tiền ăn của mỗi người chỉ còn lại chừng tám chục xu mỗi ngày. Người này no thì người khác phải đói, chuyện chỉ có vậy.
Hình minh họa
Cúc bưng lên một cái khay với hai ly cà phê, đặt xuống trước mặt ông Năm rồi xin phép đi xuống nhà, ông Năm khoát tay.
-Cô phải ngồi lại đây, tôi có chút chuyện muốn nói với hai người.
Cúc ngồi xuống bên cạnh tôi, dáng như chờ đợi.
Ông Năm với giọng cởi mở.
-Cậu Quân sinh ở Đà Lạt?
-Dạ phải.
-Tôi cũng vậy, nhưng tuổi của tôi hơn cậu nhiều. Tôi sinh cùng năm với nhà máy đèn Đà Lạt, nói như vậy là cậu biết rồi chứ gì?
-Dạ biết, một ngàn chín trăm hai mươi tám.
-Đúng, đó là năm vừa xây xong nhà máy đèn mới, còn cái cũ đã có từ chục năm trước rồi. Khi tôi được mười tuổi, thành phố Đà Lạt lúc bấy giờ hãy còn hoang sơ, dân cư thưa thớt, đứng một ngày mới thấy một chiếc xe hơi chạy qua, vậy mà đã có rất nhiều công trình xây cất đồ sộ vào thời đó, những công trình này kéo dài năm, bảy năm mới xong. Một Dinh tỉnh trưởng trên đỉnh đồi cao cách chợ Đà Lạt vài trăm mét, khách sạn Palace, Lycée Yersin, Nhà Thủy Tạ, Nhà thờ con gà. Chỉ riêng năm một nghìn chín trăm ba mươi tám, chợ Đà Lạt và Nhà ga xe lửa được khánh thành.
Ông Năm ngưng nói, uống một ngụm cà phê rồi hỏi Cúc.
-Quá bảy giờ rồi, khách đến nhà mà cô không mời ăn tối hay sao?
Gương mặt Cúc lộ vẻ bối rối thấy rõ.
-Thưa ông, nhà chỉ có cơm độn bắp với cá kho. Chỉ sợ ông chê nên không dám.
Ông Năm chắt lưỡi.
-Gì cũng được mà. Có ăn là tốt rồi.
Cúc đứng lên rồi nói.
-Xin ông đợi cho một chút, tôi sẽ đem cơm lên đây ngay.
Ông Năm tươi cười.
-Cô cứ từ từ, không có gì gấp.
Quay sang tôi, ông Năm tiếp.
-Cậu Quân có biết Ga xe lửa Đà Lạt, do ai xây cất không?
-Hình như do một kiến trúc sư người Pháp thì phải.
Ông Năm gật gù.
-Kể ra, cậu cũng khá rành về Đà Lạt, nhưng mà Kiến trúc sư Paul Moncet chỉ là người vẽ kiểu, nhà thầu xây dựng ga Đà Lạt là ông Võ Đình Dung. Ông này có cái ga ra và miếng đất rộng đến cả chục ngàn mét vuông, nằm giáp ba mặt đường, Phan Đình Phùng, Hải Thượng và Hai Bà Trưng, chưa kể hàng chục căn nhà ở khu phố Hòa Bình.
Ông Năm ngưng câu chuyện, thong thả mồi một điếu thuốc rồi mới nói tiếp.
-Còn ngôi chợ Đà Lạt, được gọi là chợ Cây, vì vật liệu xây cất chợ toàn bằng cây. Hình như năm một ngàn chín trăm ba mươi mốt ngôi chợ này bị cháy, năm đó tôi mới có ba tuổi nên chưa biết gì. Mấy năm sau người Pháp mới cho xây lại ngôi chợ bằng xi măng. Chợ tuy không to lớn bề thế như Ga xe lửa Đà Lạt, nhưng nó có nhiều điểm độc đáo riêng của nó. Cậu sanh đẻ ở đây, chắc cậu biết chớ.
Hình minh họa
-Thưa ông Năm, vào khoảng năm 1958, lúc đó tôi được chín, mười tuổi khi có dịp vào trong chợ, tôi thường say mê nhìn lên trần. Trên đó có hàng chục cây đà khổng lồ cong vòng hình bán nguyệt, nối từ hông trái sang hông phải, đỡ lấy mái chợ, làm cho không gian trong chợ trở nên rộng rãi thoáng mát. Thuở ấy với một trí óc non nớt, tôi không hiểu bằng cách nào, con người có thể làm được những chuyện kinh khủng như vậy.
Không quan tâm tới những gì tôi nói, ông Năm hỏi.
-Cậu có nhìn thấy cái huy hiệu hình tròn trước chợ, với đôi trai gái người Lạch và hàng chữ La Tinh không?
-Thưa ông Năm, không những thấy mà tôi còn biết được ý nghĩa của mấy chữ La Tinh đó, nó được dịch sang tiếng Việt là “Cho người này niềm vui, cho người khác sức khỏe, hay mát lạnh.”
Ông Năm hỏi gặng.
-Cậu chỉ thấy vậy thôi sao?
-Dạ chỉ biết có vậy.
-Cậu thử lấy năm chữ đầu của mấy chữ La Tinh đó ghép lại, có phải là chữ DA LAT hay không?
Quá bất ngờ và thích thú về chuyện ông Năm nói, tôi vỗ tay vào đùi cái đốp.
-Ông Năm nè, vậy mà mấy chục năm rồi tôi có mắt mà như mù, chỉ vì mãi tìm hiểu ý nghĩa của mấy chữ La Tinh mà quên mất chuyện người Pháp chơi chữ.
Nhìn tôi với đôi mắt dò xét, ông Năm nói.
-Nếu vậy tôi còn có chuyện này để hỏi. Cậu có biết tên cũ của nhà hàng Thủy Tạ là gì không?
Tôi nhanh nhẩu.
-Thưa ông, La Grenouillère.
-Tai sao là tên đó, mà không phải là một cái tên khác?
Tôi hơi ngập ngừng một chút rồi mới trả lời.
-Thưa ông Năm, hồi còn học ở trung học, Pháp văn là sinh ngữ phụ của tôi, cho nên tôi không rành tiếng Pháp cho lắm. Theo tôi được biết La Grenouillère là hồ ếch, hầm ếch hay là cái đầm ếch gì đó, mà cũng có thể Nhà Thủy Tạ giống như cái hàm ếch, cho nên người ta đặt tên là La Grenouillère.
Ông Năm lim dim đôi mắt.
-Tụi Pháp nó sâu sắc lắm, không có hời hợt như vậy đâu. Hồi xưa lâu lắm rồi, một ông thầy người Pháp của tôi kể lại rằng, vào thập niên 1860, trên sông Seine về phía tây của Paris khoảng chừng hơn mười cây số, có một cái nhà hàng nổi, một câu lạc bộ thể thao tên là La Grenouillère . Đây là nơi tụ họp của những người giàu có thuộc giai cấp trung lưu của Paris thời bấy giờ. Những người này thường đến câu lạc bộ này để chèo thuyền, bơi lội, và coi đó là thánh địa của họ. Cùng khoảng thời gian trên vào năm 1869, có hai họa sĩ lừng danh của Pháp là Claude Monet và Pierre Auguste Renoir, hai ông họa sĩ này mỗi ông vẽ một bức tranh về nhà hàng nổi La Grenouillère, những bức họa này còn lưu lại cho đến bây giờ. Sáu, bảy chục năm sau, một trong số con cháu của những người trong câu lạc bộ đó đặt chân đến Đà Lạt. Khi xây xong một nơi để chèo thuyền và bơi lội trên Hồ Xuân Hương, vì nhớ về Paris, nhớ quê hương mến yêu của cha ông họ, nay đã nghìn trùng xa cách nên mới lấy tên của nhà hàng nổi, câu lạc bộ thể thao đó, đặt tên cho nhà hàng Thủy Tạ ở Đà Lạt, và cái tên La Grenouillère ra đời từ đó.
Hình minh họa
Nghe ông Năm kể chuyện, tự nhiên tôi nổi gai ốc cùng mình, bấy lâu nay tôi cứ nghĩ ông ta là một tên Việt cộng thất học nằm vùng, chỉ biết đổ bánh xèo kiếm sống. Nào ngờ khi nghe ông phát âm chữ La Grenouillère đúng giọng Pháp, rồi đến tên của các họa sĩ mà tôi chưa hề biết, tôi đâm ra sợ ông ta hơn. Tôi đang đối diện với một nhân vật kỳ bí, ông ta có thể biết rành rẽ về tôi, trong khi tôi hoàn toàn mù tịt không biết gì về ông ta.
Thấy tôi ngồi im, ông Năm tiếp.
-Cậu ngạc nhiên lắm phải không? Tôi học Trường Lycée Yersin từ cái thuở còn sơ khai, được vài năm thì bị đuổi vì tội đánh lộn với lũ Tây con, và cái tội nặng nhất là chửi lộn với mấy ông thầy giáo người Pháp, mấy ông luôn chứ không phải một ông đâu. Thời bấy giờ mà bỏ học, chống Pháp, đứng bên lề của xã hội, tôi dễ dàng trở thành người của Việt Minh.
Cúc bưng lên một mâm cơm, đặt xuống bàn rồi nói.
-Tôi phải nấu cơm trắng cho ông ăn, ai lại mời khách cơm độn bao giờ.
Nghe Cúc nói, tôi biết vợ mình không nói thật. Vợ chồng tôi ngồi đối diện với ông Năm để trò chuyện.
Ông Năm lên tiếng.
-Lúc nãy, tôi chưa nói đến chuyện xây cất Nha địa dư, cũng như Dinh một, Dinh hai, Dinh ba. Nhà thầu xây dựng Nha địa dư là ông Nguyễn Văn Tiếng. Người dân Đà Lạt gọi ông ta là Xu Tiếng, theo tôi nghĩ, chữ xu lẽ ra phải viết là su mới đúng, vì trước đó ông là giám thị một công trường xây dựng. Chữ su bắt nguồn từ chữ Surveillant trong tiếng Pháp. Năm 1943 ông Xu Tiếng hoàn tất công trình xây cất Nha địa dư. Năm 1948 ông mở xưởng cưa Thiện Nghĩa ở gần ngã ba chùa Linh Sơn.
Vừa nói ông Năm vừa vói tay cầm cái muỗng nhựa, xới cơm vào chén.
-Cậu nghe tôi nói vắn tắt về Nha địa dư như vậy, có đúng không?
Tôi nói.
-Thưa ông Năm, những gì ông nói về hai nhà thầu khoán lừng danh của Đà Lạt là ông Võ Đình Dung người thầu xây cất Nhà ga xe lửa, và ông Nguyễn Văn Tiếng là nhà thầu xây dựng Nha địa dư, đều đúng hết, chỉ thiếu sót một chút, mà chút xíu đó lại là rất quan trọng.
Ông Năm hất hàm.
-Tôi nói thiếu cái gì?
-Thưa ông, cả hai người mà ông vừa nói đến đều giàu có, và tấm lòng nhân hậu, thương người nghèo khổ của họ thì không một người dân Đà Lạt nào mà không biết.
Ông Năm ngồi im lặng một lúc.
-Cậu có biết tại sao hôm nay, tôi lại kể cho cậu nghe về những công trình xây cất mà người Pháp để lại ở Đà Lạt không?
-Không, thưa ông.
Ông Năm lấy giọng.
-Cậu Quân và cô hãy nghe cho kỹ, những công trình vĩ đại nói trên, mỗi cái đều có một sắc thái đặc biệt của nó, và hiện tại thì tất cả đã được tiếp quản, đặt dưới sự quản lý của nhà nước. Người ta thường nói “Đất có thổ công, sông có hà bá”. Tôi là thổ công của Đà Lạt này, khó có ai rành rẽ về đất đai, nhà cửa, ở đây bằng tôi.
Hình minh họa
Đang nói chuyện, bất chợt ông Năm nhìn thẳng vào mắt Cúc rồi nói với giọng nhẹ hơn.
-Cô Cúc nè, cô có biết căn biệt thự đồ sộ của cô, với diện tích đất lên đến cả mẫu tây nằm ở đường Nguyễn Tri Phương vẫn còn nguyên không?
Cúc nói.
-Thưa ông, tôi tưởng nhà nước đã tịch thu căn nhà đó của tôi từ lâu rồi.
-Chưa đâu, và đó là lý do mà hôm nay tôi nói chuyện với cô cậu. Thay vì ký giấy tờ giao căn biệt thự nói trên cho nhà nước, tôi muốn cô và cậu ký giấy bán căn nhà đó cho tôi. Thực sự cô và cậu chỉ ký vào giấy tờ bán nhà mà thôi, còn tên người mua và ngày tháng mua bán, tôi sẽ điền vào sau.
Cúc với giọng cứng rắn.
-Nếu nhà nước muốn tịch thu thì cứ làm, nhưng biểu chúng tôi ký vào giấy tờ thì tôi không ký.
Ông Năm vẫn dịu dàng.
-Nếu cô nói vậy thì tôi cần phải hỏi chồng cô vài câu.
Đưa mắt nhìn tôi ông Năm nói, giọng nói mạnh và chắc.
-Cậu Quân à, tôi không phải là “Bí thư tỉnh ủy” như cậu đã khai trong trại cải tạo đâu.
Khi nghe ông Năm nhắc đến bốn chữ này, hình ảnh trại tù cải tạo với hàng rào vỉ sắt PSP xám xịt bao quanh, khiến tôi chết lặng đi vài giây, cùng lúc ấy tôi cảm nhận được từng giọt máu lành lạnh chạy khắp cả thân mình. Cả một thế giới trước mặt tôi bỗng dưng sụp đổ tan tành. Tôi sợ đến nỗi tưởng mình chết ngồi trên ghế.
Ông Năm nói.
-Hãy bình tĩnh, không có gì mà cậu phải sợ đến xanh cả mặt. Tôi tuy không phải là Bí thư tỉnh ủy nhưng tôi đã xác nhận, tôi là cậu của Trung úy Nguyễn Trọng Quân. Không biết cậu còn nhớ không, khi được thả về, tên của cậu nằm trong danh sách bổ túc, đó là do sự bảo lãnh của tôi. Người làm Cách mạng mà có liên hệ với sĩ quan Ngụy khác nào dây với hủi, tôi đã chịu hy sinh giúp cậu, thì phải có gì đền bù cho tôi chớ.
Quay sang nhìn Cúc, ông Năm nói.
-Người ta thường nói “Bánh ít đi, bánh quy lại”. Tôi đã tặng cô một cái bánh ít, giờ thì tôi đang đợi cái bánh quy của cô đây…
Cúc với giọng nói run run.
-Ông Năm đưa giấy tờ đây, tôi xin ký vào ngay.
-Không chỉ một mình cô đâu, phải cả hai người mới được.
Nói xong, ông Năm lấy trong xách cốp một mớ giấy tờ trao cho Cúc. Việc làm này của ông Năm, cho tôi biết ông đã sắp xếp mọi chuyện từ lâu.
Hình minh họa
Trong khi tôi và Cúc chăm chú ký vào giấy tờ mua bán nhà, ông Năm vui vẻ ăn cơm, ông nói mà miệng còn đầy cơm.
-Chỉ có cơm với cá kho, nhưng mà đây là bữa ăn có thể nói là ngon nhất mà tôi có được, kể từ sau ngày giải phóng. Cảm ơn cô cậu.
Cẩn thận xếp giấy tờ vào xách cốp, trước khi ra về, ông Năm nói mà như tâm sự với tôi và Cúc.
-Cô với cậu đều là người có chút học thức, tôi nói ít hai người phải hiểu nhiều. Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam của tôi, giống như một trái chanh đã bị vắt hết nước, giai đoạn sắp tới là họ sẽ vất chúng tôi vô thùng rác. Cúc cung tận tụy như chúng tôi còn bị bạc đãi, cậu đã có một thời từng cầm súng chống lại họ, mối huyết hải thâm thù này, đời nào họ chịu bỏ qua. Cô với cậu hãy liệu mà xa chạy cao bay, tìm con đường sống trong cái chết, biết đâu sẽ thoát nạn. Sĩ quan Ngụy như cậu, không thể nào sống chung với Cộng sản được đâu.
Về đây nghe em, về đây nghe em Về đây mặc áo the, đi guốc mộc Kể chuyện tình bằng lời ca dao Kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai Kể chuyện tình bằng hạt lúa mới Và về đây nghe lại tiếng xưa,
Để nhớ trong tiếng vỡ bờ!
(thơ A-Khuê, nhạc Trần Quang Lộc)
tác giả (Hoàng Long Hải) trước bia cụ Phạm Đăng Hưng, do vua Thành Thái dựng, Lăng Hoàng Gia, Gò Công, tháng 6/ 2016
Trước 1975, Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên có viết một cuốn sách về đất Gò Công. Ông cũng có viết thêm mấy cuốn sách về các tỉnh khác.
Sách của Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên, có nói tên chữ của xứ Gò Công là “Khổng Tước Nguyên”. “Khổng tước” là con công, còn “nguyên” là cái gò. Nôm na gọi là Gò Công.
Thật tình, sách của Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên không có gì hay, ngoài cái tên chữ “Khổng Tước Nguyên” còn lại trong trí tôi mà thôi.
Tháng 6 vừa rồi, về thăm Việt Nam, tôi lại về thăm Gò Công, đi với một người mà tôi là “người cũ”, hiểu theo câu thơ của Tản Đà là “Lạnh lẽo hơi thu chiếc lá bay, Gió đưa người cũ lại về đây!”
Tháng Sáu, dĩ nhiên không có “hơi thu lạnh lẽo” như Tản Đà nói; mà về, thì tôi tự về, nhớ “người cũ” thì tìm về, chẳng có gió nào đưa cả. Thành ra, lòng thì vui lắm, bởi vì, trước 1975, tôi phục vụ ở Gò Công một năm chẳn chòi. Mà kỷ niệm thì nhiều lắm, buồn vui, hạnh phúc và khổ đau cũng nhiều lắm. Chuyện cũ khó quên, nên tôi nói tôi “tự về” là vì vậy.
Chuyện riêng thì xin cho tôi khỏi kê khai vô đây, như kiểu làm bản tự khai hồi mới vô trại Cải Tạo vậy. Còn chuyện chung, thì xin nói ra, cho độc giả biết ít nhiều về Gò Công cho vui.
Về tính cách “hành chánh”, tôi cũng xin khỏi bàn tới, chẳng hạn như Gò Công là “đất Hoàng Gia”, nói rõ ra là “quê ngoại” vua Tự Đức, nên Gò Công không thống thuộc “Trấn Gia Định”, cũng không thuộc “Nam Kỳ Lục Tỉnh”, chỉ khi Triều Đình Huế bị Tây buộc phải giao Nam Bộ lại cho Tây cai trị, thì Gò Công không tránh khỏi cái số phận “xa lìa đất Mẹ” mà thuộc vào đất “Nam Kỳ thuộc địa” – Nam Kỳ thuộc địa có nghĩa là đất nầy của Tây, không còn dính dáng gì tới nước An Nam hay Việt Nam nữa cả.
Cái hoàn cảnh “xa lìa đất Mẹ” nầy làm cho nhiều nhà yêu nước chống Tây cho tới cùng, hy sinh cả tài sản và thân mình, để giành lại mảnh đất nầy cho Tổ Quốc.
Rồi có người tử trận, tử hình: Ông Trương Định, ông Nguyễn Trung Trực, ông Nguyễn Duy Dương… Nhiều lắm, xin kể sau.
Dĩ nhiên, cũng không ít kẻ “theo Tây”. Giấy mực công khó đâu mà viết tên những người nầy.
Trong thời gian một năm “phục vụ” ở Gò Công, tôi đi khắp cả tỉnh nầy. Tôi dám chắc có người sinh đẻ ở Gò Công, nhưng chắc chi đi “khắp tỉnh” như tôi!
Hồi ấy, “ngoài” thị xã, cũng thuộc quận Hòa Lạc, tỉnh Gò Công có bốn quận: Hòa Lạc, Hòa Tân, Hòa Bình, Hòa Đồng. Hòa nào tôi cũng có tới, và dĩ nhiên tôi cũng không lạ gì với các “đám lá tối trời”. Tuy nhiên, người “xứ lạ” như tôi, cũng ít có ai qua tới cù lao Phú Thạnh Đông. Phú Thạnh Đông là một xã, thuộc quận Hòa Bình.
Cù lao Phú Thạnh Đông nằm giữa hai “sông”cửa Tiểu và cửa Đại, nhưng mà chỗ chút mút của nó nữa kia, tôi cũng tới rồi.
Tên nghe hơi lạ: “Ấp Phào Đài”.
Chẳng lạ gì đâu, chẳng là hồi Tây cai trị, Tây dựng ở đây một cái pháo đài, có ngọn hải đăng ở trên chót vót, để ngăn ngừa “quân xâm lăng” hay hải tặc Hải Nàm. Dân Hải Nàm chuyên nghề cướp biển giỏi lắm – Nếu độc giả nào có đọc cuốn hồi ký của tôi, do nhà Văn Mới xuất bản – nhan đề là “Hương Tràm Trà Tiên”, còn có cái tên phụ là “Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng”, sẽ thấy tôi bàn không ít tới nạn hải tặc – dân Hải Nàm – bọn cướp nầy “lộng” dữ lắm, cả mấy trăm năm trước trong vịnh Thái Lan. Ai ai cũng ngán.
Bạn đọc cũng có thể biết chút ít về bọn hải tặc nầy khi đọc “Kho vàng Hòn Tre” của Sơn Nam. Hòn Tre ở ngay cửa vịnh Rạch Giá đấy, xa xôi gì đâu!
Cây hải đăng trên “Ấp Pháo Đài” cũng có mục đích chỉ đường cho ghe tàu ra vào cửa Tiểu cửa Đại của Tiền Giang.
Nói dông dài như vậy, cũng để thưa với độc giả rằng, tôi từng đi khắp Gò Công. Đã tới “Ấp Pháo Đài” rồi thì sá chi “Bãi biển Tân Thành”, “Vàm Láng” (dân địa phương gọi là “Dzàm” Láng đấy, tiếng Nam Bộ mà.
Còn như Đồng Sơn, thì lạ lắm. Lạ chẳng qua Đồng Sơn nằm trên con đường ghe thuyền từ miền Tây Nam Bộ, từ Hà Tiên, Rạch Giá chở hàng lên Saigon thì đi qua kinh Chợ Gạo, ghé Đồng Sơn trước khi lên Saigon.
Độc giả có ai thắc mắc khi tôi viết “ghé Đồng Sơn”?
Bên kia kinh Chợ Gạo, ngang Đồng Sơn là Bình Phước của tỉnh Long An: lúa gạo, cây trái, rau củ là thổ sản phong phú. Bên nầy là Gò Công, ruộng không nhiều bằng bên kia kinh Chợ Gạo, nhưng gạo Gò Công thì ngon nổi tiếng: Gạo Chợ Đào, gạo Móng Chim, gạo Nàng Hương.
Năm tôi về Gò Công, lương tiền không bao nhiêu, mà cũng chẳng có “tư lợi” chi, nên khó ghé vào ăn ở những nơi cao lương mỹ vị. Tiệm Chú Cưng ở kế bệnh viện Quân Dân Y cũ, lâu lâu tôi mới tới.
Vậy mà người dân thường Gò Công thì tới đều đều, chứng tỏ họ không nghèo, và mấy ông “quan to” thì vừa nhiều tiền vừa muốn đến “nghía” con gái Chú Cưng thường ngồi “két”. Cô ta cười với khách một cái, tuy chưa “nghiêng nước, nghiên thùng (đúng chữ là thành đấy), thì cũng đủ cho mấy quan chết mê chết mệt.
Lương nhỏ, tôi ăn cơm tháng ở mấy quán bình dân. Bình dân nhưng xong bữa ăn cũng đả lắm. Cơm gạo thơm, ăn với cá kèo. Tuyệt! Mấy chục năm rồi, nhắc tới còn thấy ngon!
&
Nói dông dài, vậy “phong thủy” Gò Công có gì khác với xứ sở người ta?!
Dễ thấy lắm!
Nếu độc giả đồng ý với tôi, rặng Trường Sơn là cái xương sống của nước Việt Nam thì “đầu” của nó là các dãy núi hình nan quạt ở phía Bắc: Rặng Đông Triều, Rặng Hoàng Liên Sơn, v.v…
Vậy thì cái “đuôi” của nó là ở đâu?
Cái đuôi của nó là Cao Nguyên Trung Phần. Ngó xuống nữa, là những ngọn núi cuối cùng, coi như cái đuôi của rặng Trường Sơn là các núi Bà Đen (Tây Ninh), núi Bà Rá (Phước Long), núi Đồng Long (Bình Long), núi Chứa Chan (Long Khánh), núi Mây Tầu (Phước Tuy).
Những ngọn núi nầy đều “linh thiêng” cả đấy. Núi nào cũng có sự tích huyền bí, như dân Nam Bộ ưa chuyện huyền bí vậy.
Núi Bà Đen có “Sự tích Bà Đen”, có dịp sẽ kể sau. Núi Đồng Long là “chứng nhân” của “Bình Long Anh Dũng”. Núi Bà Rá là “chứng nhân” của trận đánh mở màn cho cái gọi là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Núi Chứa Chan là nơi tôi ở tù Cải Tạo.
Năm 1977, tôi bị “biên chế” về trại Xuân Lộc. Trại không xa núi Chứa Chan. Đỉnh núi bằng phẳng, ngay ngọn là một cái hồ khi nào nước cũng đầy. Hồ đó là miệng núi lửa đã tắt đâu từ cả triệu năm trước.
Hồ có nước khi nào cũng đầy nên núi mới có tên Chứa Chan.
Nhưng kể từ cuộc Nam Tiến mấy trăm năm trước, người Việt đi tìm đất sống, đã đến định cư nơi nầy. Họ có nhớ quê hương “ngoài kia” không mà đã thấy lòng không những Chứa Chan mà Chan Chứa một mối tình sầu. Từ đó mà Chan Chứa đẻ ra:
Chứa Chan! -Chán Chưa? hay lòng còn:
Chan Chứa! nên –Chưa Chán.
Nếu bạn đọc muốn biết thêm câu chuyện về núi Chứa Chan nầy, xin hãy đọc “Vết Nám”, Hồi ký Cải Tạo, cũng do tôi viết và nhà Văn Mới Xuất Bản.
Đó là những ngọn NÚI cuối cùng.
Thấp hơn núi là GÒ. Nếu đó không phải là “GÒ” Công thì còn có gò nào nữa?
Do đó, các nhà địa lý phong thủy thấy rằng: Gò Công là “điểm chót”, điểm cuối cùng của rặng Trường Sơn.
Gò Công còn bao gồm cả sông Tiền (Tiền Giang) với hai cái cửa biển đầu tiên trong 9 cửa (Cửu Long) là Cửa Tiểu, cửa Đại.
Cửa Tiểu, Cửa Đại cũng là điểm cuối cùng của sông Cửu Long, là con sông “chấm dứt” ở đó. Sông bắt nguồn từ Tây Tạng.
Cửa là Cuối song; nguồn là đầu sông, tuy rằng ở đây chẳng có chàng và nàng để hát câu“Quân tại Tương Giang đầu, Thiếp tại Tương Giang vĩ” như trong Chinh Phụ Ngâm.
Bạn đọc chắc phải đồng ý với tôi Gò Công là điễm hội tụ của hai cái cuối cùng, một của núi (Trường Sơn) và một của sông (Cửu Long).
Theo cách nhìn phong thủy, Gò Công là điểm hội tụ cuối cùng của sơn và thủy. Sơn thì có Kim (mỏ vàng, bạc, sắt, thép… ở trong núi), mộc (cây rừng) hỏa (lửa trên núi, Trường Sơn từng có hỏa diệm sơn, nên có đất đỏ, đồn điền đất đỏ như Phú Giềng), Sơn nào lại chẳng có Thổ, là đất và đá. Vậy thì Gò Công là nơi hội tụ có đủ: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, mà cái nào cũng Đại, cũng Trường, cũng Vĩ, phong phú, đa dạng, nhiều vô sô kể… Tiền rừng bạc biển là đây!
Có lẽ, dựa tên nhận định đó, độc giả không phản đối khi tôi nói rằng, Gò Công là vùng đất có nhiều cái đặc biệt, rất đặc biệt là khác.
Đó là địa linh.
Công không thuộc hang “tứ linh” (long, lân, qui, phụng), nhưng không phải là loại chim thường. Dân nhậu thì khoái thịt công, ngon hơn thịt gà, cũng thuộc loài “cầm”. Lông công được dùng trong làng hát bội. Các ông “tướng phường tuồng” (không biết ngày xưa trong đời thực người ta có làm như vậy không?!) Các ông tướng cắm lông công trên lưng, trên mũ. Trước khi múa kiếm hay long đao, hay nói tuồng, các ông vói tay vuốt cái lông công, làm “điệu bộ” (phường tuồng)
Trước khi tìm hiểu về “nhân kiệt”, chắc tôi phải nói một chút ít về “nhân văn” Gò Công. Nói “nhân văn” là nói cho to chuyện mà thôi, không phải để “hù” ai về cái công việc tìm hiểu dân tình Gò Công; nhưng dù sao, đó cũng là nếp sinh hoạt của một vùng đất mà nếu không nhìn vào bản đồ, người ta có thể nghĩ rằng xứ Gò Công nằm lọt ra ngoài biển Đông.
Hôm nhận sự vụ lệnh xong, sáng sớm ra bến xe Trương Vĩnh Ký, – hồi ấy chưa có bến xe Miền Tây -, thấy mấy chiếc xe đò chạy đường Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Rạch Giá… ra bộ xôm tụ, đông vui lắm. Chiếc xe đò thì dài, loại trên năm chục chỗ ngồi, mấy chú lơ mời gạch, gọi hàng inh ỏi. Một chiếc thì đang đón khách lên xe, chất hàng, cột hàng rộn rịp… Chiếc bên cạnh thì đã nổ máy, chờ tới phiên mình.
Tới chỗ xe đò đi Gò Công, thấy “êm” hơn. Chiếc xe đò thì nhỏ hơn, nhiều lắm thì cũng trên ba chục chỗ ngồi, khách khứa lên xuống ít hơn. Tôi lên xe tìm một chỗ, ngó quanh. Khách về Gò Công đang bỏ xách, túi lên kệ, mà hình như người nào cũng có một hay hai… ổ bánh mì.
Tôi tự hỏi, ưa ăn bánh mì là phải mua tận Saigon hay sao? Nhắm bộ Gò Công nhỏ quá nên không có lò bánh mì hay sao? Hay bánh mì Gò Công không ngon? Quả thật, khi về Gò Công ít lâu rồi, tôi đâu có thấy lò bánh mì ở chỗ nào đâu?!
Trình diện xong, lo về cho sớm vì sợ… hết xe. Té ra, xe đò Gò Công đi Saigon hay ngược lại, ngày nào tối đa là hai chuyến, khi tới mùa cherry chín, bạn hàng chở cherry lên Saigon; còn không thì mỗi ngày chỉ một chuyến, bởi vì khách Gò Công đi về Saigon, đâu có bao nhiêu!
` Đấy! Điều mà các ông nhạc sĩ gọi là “Nỗi buồn tỉnh lẻ” chính là nỗi buồn của tôi khi mới về Gò Công vậy.
Gò Công cũng “đi năm phút đã về chốn cũ” và cũng có “em (Pleiku) má đỏ môi hồng”, nhìn, hay “nghễ” một chút, cũng đỡ buồn cho một người lính xa nhà như tôi.
Khi trời chiều đã xuống, ngồi ở bến xe, vắng hoe – nơi sau nầy, khi trời tối, tôi từng thấy “mấy anh mấy chị” hẹn nhau ở đây, giữa hai chiếc xe đò đậu kế nhau, để kín đáo hôn nhau, hay làm gì nữa, ai mà thấy được, không thì sợ thiên hạ, “Người ta thấy kìa, kỳ chết.” thì một người từng đi nhiều như tôi, “trên bốn vùng chiến thuật”, “tôi thường đi đó đây…” hỏi thử có buồn không nhỉ?
Từ thời niên thiếu, bạn bè đã gọi tôi là “thằng lãng tử”, bởi vì ngay hồi còn là học sinh Đệ Thất, Đệ Lục, súng đạn đang rền rĩ, vậy mà tôi đã đi khắp Quê Ngoại Quảng Trị tôi rồi: Phía bắc thì Vĩnh Linh, Gio Linh, Bến Hải; phía đông thì Cửa Tùng, Cửa Việt; phía tây thì Nhà Thờ La Vang, và xa hơn nhà thờ La Vang nữa kia, sát chân núi Trường Sơn, là nhà thờ Phước Môn, và “Rừng thông hai mộ.” Rừng thông có ngôi mộ hai ông bà Quận Công Nguyễn Hữu Bài.
Tôi từng ngủ qua đêm ở đồn Diên Trường, một nơi ít ai biết nhưng đó chính là “Cây Đa Bến Cộ” (Cây đa bến cũ) nơi xảy ra câu chuyện tình dang dở, từng được người Huế, và cả người miền Trung kể lại qua ca dao, và sau nầy, còn được phổ nhạc nữa đấy.
Đó là bến đò Diên Trường, trên sông Diên Trường, trong trận chiến năm 1972, báo chí miền Nam gọi đó là “Đại Lộ Kinh hoàng”, với câu ca dao:
Trăm năm “diều” (nhiều) nỗi hẹn hò.
Cây đa bến cộ (cũ) con đò khác đưa!
Cây đa bến cộ (cũ) còn lưa (lại)
Con đò đã thác năm xưa tê (kia) rồi.
_____________
“Xuân đã đem mong nhớ trở về,
Lòng cô gái ở bến sông kìa!
Cô hồi tưởng lại ba năm trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề
Rồi:
Bỏ thuyền, bỏ lái, bò dòng sông
Cô lái đò kia đi lấy chồng
(Thơ Nguyễn Bính-
Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc)
Yêu đương, hẹn hò! Thế là xong.
Nhưng trong lòng tôi thì mãi không xong… Vì tôi buồn khi thấy ai bạc tình với ai! Tôi là người đa cảm mà!
“Thằng lãng tử” quê ở ngoài Trung xa xôi, bây giờ lạc bước tới Gò Công. Và rồi cuộc đời còn đưa đẩy tôi đi đâu nữa? Ba năm sau, khi miền Nam thất thủ, tôi đang “phục vụ” ở một vùng đất, từ đó, ngó ra là Hòn Phụ Tử chẳng bao xa! Trong đời lính, tôi đi “đầu trời cuối biển” rồi chớ còn chi nữa!
&
Về địa lý, Gò Công có những cái do người ta xây dựng và những cái do bàn tay Tạo Hóa.
Nếu ở Saigon, thấy một cái gì đó do Tây dựng lên, ít ai thấy lạ, suy nghĩ: Dinh Norodom, sau nầy là Dinh Độc Lập, nhà thờ Đức Bà hay Sở Thú, phố Catinat là chuyện thường.
Còn ở Gò Công, bỗng nhiên tôi thấy lạ vì ở đó có cây “Cầu Tây Ban Nha” và “Ao Trường Đua”.
Khi Tây mới xâm lăng Nam Bộ, năm 1862, có liên minh với quân Y-Pha Nho. Y Pha Nho cũng là Tây Ban Nha. Vậy thì sau khi chiếm Ba Tỉnh Miền Đông Nam Phần, bọn xâm lược Y Pha Nho có đóng ở Gò Công? Họ xây cầu để đi nên mới có tên cầu Tây Ban Nha hay bởi một lý do nào khác, không thấy ai nói tới?
Và cả nơi giải trí của họ nữa chứ: “Ao Trường Đua”.
Đây là một cái ao hình chữ nhật, gần như hình vuông. Giữa là ao, chung quanh là bốn con đường ngựa chạy đua quanh cái ao.
Năm tôi về Gò Công, 1971, cầu Tây Ban Nha gần muốn hư mà không thấy sửa chữa, còn tệ hơn “Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi”.
“Ao Trường Đua” thì còn nhưng ngựa đua thì tuyệt nhiên không thấy, cả những nhà nuôi ngựa đua cũng không còn, còn khách đánh cá ngựa, chắc đã cuốn gói về Tây.
Cảnh cũ không còn thường làm cho người ta buồn, nhưng khi những cuộc đua ngựa không còn nữa, tôi không chắc dân Gò Công có người buồn. Chiến tranh tàn khốc lan khắp tỉnh. Dân miệt quê sợ súng đạn, chạy lên thành phố, dựng nhà quanh “Ao Trường Đua”. Nhà thì cái nhỏ, cái to, cái thấp, cái cao, cái lợp tôn, cái lợp lá. Nhà nầy sát nhà kia, làm cho “Ao Trường Đua” trở thành một xóm nhà bình dân, mà vui, thân cận, hài hòa và “thương nhau” hơn. Có lẽ ở đó cũng có những cô hàng xóm, tuy ở nhà mình, nhưng cũng gởi hồn cho cánh bướm bay qua nhà bên cạnh, để có người than thầm:
Bướm ơi! Bướm hãy vào đây
Cho ta nhắn gởi câu nầy chút thôi!
&
Như đã nói, việc hình thành đất Gò Công là từ những cái lạ, là sự kết hợp giữa Trường Sơn, là ngọn núi “xương sống” của nước Việt Nam, và sông Cửu Long là con sông nổi tiếng trong “địa lý địa cầu”.
Trong viễn tượng đó, đất Gò Công có gì lạ chăng?
Thiếu nước ngọt, vì không đào được… giếng.
Không đào được chỉ là một cách nói. Đào được đấy, nhưng không tới mạch ngầm, chỉ có nước hôi bùn. Nôm na, như người dân quê Việt Nam thường nói thì Gò Công là đất không “chưn”, có nghĩa là đất Gò Công thay vì “nằm” trên một lớp đất đá thì nó lại nằm trên… bùn, mà lại bùn than, có màu đen, bùn lưu niên, hàng triệu năm, còn mùi hôi nên nước giếng không xử dụng được.
Về địa lý, Gò Công có hai phần rõ rệt: Phần phía Đông, phía biển, và phần phía Tây, giáp ranh với Long An.
Dựa trên sự quan sát về tính cách địa lý trước 1975, kể từ con đường từ thị xã Gò Công đi Bắc Cầu nổi, người ta thấy từ vùng nầy ra tới biển thì “nền của đất” chỉ là bùn, nói theo địa lý thì đó là bùn trầm tích, nên “không đào giếng được”. Tuy nhiên, bên cạnh con đường nầy, ra khỏi thị xã Gò Công khoảng hai ba cây số, phía bên trái là khu “Lăng Hoàng Gia”.
Cái “Hoàng Gia” nầy ảnh hưởng đến Gò Công nhiều là đương nhiên, nhưng cái ảnh hưởng đó ra tới Huế, cựu kinh đô và ngược lại.
Xin thông cảm, lại phải “dông dài” một chút về “Hoàng Gia” nầy. Trước hết là ông… Ba Bị.
Theo quan điểm thông tục thì “ông Ba Bị” là “ông Kẹ”, là những “ông” thường hay bắt cóc trẻ con, v.v… và v.v…
Những ngưòi già, cố cựu của Huế, giải thích “Ông Ba Bị” chính là thân phụ Bà Từ Dũ. Ông Ba Bị người Gò Công, thường lang thang các vùng quê ở miền Trung, Thừa Thiên, Quảng Trị, v.v… Sau nầy, cái danh của “Ông Ba Bị” mới lan ra nhiều nơi ở trong nước.
Sau khi Gia Long lên ngôi (1802), rồi đến đời Minh Mạng (1920-40), chiến tranh đã chấm dứt, đất nước ổn định; kinh tế, nhất là ở phía Nam phát triển. Trong nông nghiệp, nhiều giống lúa được đem thử nghiệm, gieo trồng. Giống lúa Thần Nông, là giống lúa của Xứ Chùa Tháp, được các sư huynh một dòng tu Thiên Chúa Giáo, đem về giới thiệu cho dân Long Xuyên. Đất Long Xuyên rộng, phải gieo trồng bằng “sạ”, không cấy như các nơi khác. Ruộng lớn quá, cấy làm sao nổi. Sạ nhanh hơn.
Nhìn chung, miền Nam đất rộng, phì nhiêu, trồng lúa rất thích hợp. Và cũng từ đó, trong Nam có nhiều giống lúa khác nhau: ngắn ngày, sản lượng cao, hay nhiều giống lúa ngon, lúa thơm, v.v…
Ông Phạm Đăng Hưng là người có công lớn với Nguyễn Vương khi Vương đang chống nhau với nhà Tây Sơn, khôi phục mảnh đất miền Nam. Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua, ông được chọn giữ nhiều nhiệm vụ quan trọng. Khi ông mất, 1825, thọ 60 tuổi, đời Minh Mạng, nhà vua phong tặng ông hàm Vinh Lộc Đại Phu, Trụ Quốc Hiệp Biện Đại Học Sĩ, thụy Trung Nhã. Vua Thành Thái lại truy tặng ông là Đặc Tấn Vinh Lộc Đại Phu, Thái Bảo, Cần Chánh Điện Đại Học Sĩ, tước Đức Quốc Công.
Vốn yêu nông nghiệp, ông Phạm Đăng Hưng, thân phụ Bà Từ Dũ muốn đem các giống lúa đang phổ biến ở miền Nam giới thiệu với nông dân miền Trung, nhất là vùng Trị Thiên. Ông thường tới các làng để “giới thiệu” cho nông dân những giống lúa đang thịnh hành ở trong Nam. Ông đeo bên mình ba cái bị, đựng ba thứ giống lúa khác nhau. Ai xin giống nào thì ông bốc cho một nắm, để nhân giống mà trồng.
Ông vốn dĩ tính tình hiền hòa (dân Nam Bộ mà), bình dị, làm quan nhưng cũng áo nâu, quần nâu, lang thang từ làng nầy qua làng khác, nhìn qua, cũng hơi quái dị. Vả, ai ai cũng sợ ông? Sợ là vì ông là quan to trong triều. Và vì cái sợ đó, mà Ông Ba Bị bị “đồng hóa” với ông Kẹ, để các bà mẹ dọa những đứa con nít hay khóc hay vòi.
Có thể khi còn sống, ông đã chọn một “cuộc” đất đẹp nhất ở Gò Công để làm nơi an nghĩ ngàn năm. Chỗ đó, như tôi đã nói ở trên là “Giồng Sơn Qui”, tức khu “Lăng Hoàng Gia”.
“Giồng Sơn Qui” có hình dạng một cái mai rùa. Tôi không rõ đầu của mai rùa quay về hướng nào, nhưng đó là một “cuộc” đất cao, không cao lắm, khá đẹp và có hai cái đặc biệt:
Ở Gò Công (đông) không đâu đào được giếng thì “Giồng Sơn Qui” có một cái giếng khá lớn, hình vuông, bốn mùa đều có nước, và nước rất ngọt, dùng rất tốt.
Từ cổng vào, người ta thấy có một “Nhà bia” bên phải. Đây là tấm bia bằng đá ở Núi Non Nước, Đà Nẵng. Bài văn bia do Phan Thanh Giản viết. Khi tấm bia nầy được đưa từ miền Trung vào để dựng ở mộ ông Phạm Đăng Hưng thì bị Pháp cướp mất (1860) để bọn chúng làm bia cho đại úy Barbé, bị quân của Nguyễn Trung Trực giết chết. Mãi đến năm 1999, bia nầy mới được đưa về lăng, đựng ở nhà bia bên phải.
Trong khi tấm bia cũ bị Tây cướp mất, (cướp nước, cướp dân và cướp cả bia), nên năm 1899, vua Thành Thái sai làm một tấm bia khác, với nội dung như tấm bia bị cướp và dựng nên ở “nhà Bia” bên trái.
Tháng 6 vừa qua, tôi và Vân cùng con trai Hải Bằng, trên đường đi Gò Công về, ghé vào thăm lăng, nơi tôi và Vân, 45 năm trước, từng đưa nhau đi chơi ở đây.
Trong khi người giữ lăng, giới thiệu về ngôi mộ cụ Phạm, giải thích ngay trên mộ có xây một cái tháp nhỏ, tượng trưng cho Thiên – Địa – Nhân, thì Vân chỉ cho tôi xem cái hình bát quái ngay dưới cái tháp nhỏ. Đó là việc “yểm bùa” sau khi mộ xây xong. Yểm bùa, theo cách nghĩ của người Việt Nam là để mộ không bị phá. Phá mộ để lấy vàng ngọc được chôn theo người chết hay để dòng dõi họ Phạm không còn được “truyền đời” về chức phận, quan cách, v.v…
Nhà thương hộ sinh lớn nhất Saigon, và cả Việt Nam, được đặt tên là “Bệnh Viện Từ Dũ”, đúng ra là Thái hậu Từ Dụ, tên là Phạm Thị Hằng, mẹ vua Tự Đức.
Bà là người dạy con rất nghiêm. Một số người Huế còn nhớ câu chuyện một năm gần đến ngày “đại kỵ” (kỵ vua cha, tức Thiệu Tri), vua Tự Đức đi săn chưa về. Quá lo lắng, bà liền sai quan binh đi tìm. Được nửa đường quan binh thấy vua Tự Đức đứng ở mũi thuyền đốc thúc binh lính chèo gấp vì nước lũ đang về, mà thuyền đang đi ngược sông Hương. Trời đang mưa lớn, nhà vua ướt đầm.
Về đến kinh đô, biết tội mình, vua Tự Đức để nguyên quần áo ướt, qua dinh của mẹ, nằm xuống sập, đặt lên mông một cây roi mây, chờ mẹ đánh. Làm vua rồi mà vẫn còn chờ mẹ đánh!
Bà Từ Dụ giận con, ngồi quay mặt vào tường. Sau một hồi lâu, bà xoay mặt ra, đưa tay hất cây roi mà ban rằng:
“Có một mẹ một con, con đi đâu lâu, thời mẹ ở nhà trông đợi lắm. Sao con không báo cho mẹ hay trước? Thôi tha cho. Đi chơi để quan quân cực khổ thì phải ban thưởng cho người ta.”
Vua Tự Đức khấu đầu lạy tạ lỗi: “Từ nay con không dám như vậy nữa”.
Người Huế còn biết nhiều chuyện về đức hạnh, nhân ái, mẫu mực của Bà Từ Dụ. Có lẽ vì vậy nên năm 1948, tên bà được đặt cho một bệnh viện phụ sản lớn nhất Việt Nam.
Về Giồng Sơn Qui, thường gọi là Gò Rùa, tức “Lăng Hoàng Gia”, sách “Gò Công Xưa và Nay” của Chiêm Tinh Gia Huỳnh Minh có ghi lại câu:
Lệ thuỷ trình tường ngoại,
Quy khâu trúc phước cơ.
Nghĩa là:
Nước ngọt trổ điềm lành,
Gò Rùa vun đất phước!
Khu lăng mộ nầy gồm có:
-Bình Thành Bá Phạm Đăng Dinh, tổ ngoại (3 đời?) vua Tự Đức. Phạm Đăng Dinh sinh ở Quảng Ngãi vì gốc gác ở ngoài đó.
-Phước An Hầu Phạm Đăng Long. (con P. Đ Dinh, và lăng vợ Phạm Thị Tăng)
-Quốc Công Phạm Đăng Hưng. (thân phụ Bà Từ Dụ)
và lăng vợ Phạm Thị Du).
Người Việt làm nghề biển thường có tục “Thờ Cá Ông”, vì cá ông thường cứu ghe thuyền bị bão ngoài khơi! Vì vậy, dọc theo bờ biển Việt Nam, có nhiều làng biển lập đền thờ cá ông, khi “ông lụy”, có nghĩa là xác cá ông chết, tấp vào bờ, dân làng đem chôn, lập miếu thờ.
Miếu thờ ở Vàm Láng là lớn nhứt, mỗi năm cúng kỵ rất linh đình. Việc nầy có liên quan đến lịch sử. Có lần Nguyễn Ánh bị Tây Sơn đánh đuổi, chạy ra biển, lại gặp bão, nhờ cá ông cứu, đưa vào Vàm Láng. Thành ra, Vàm Láng trở thành nơi “cứu vua”. Miếu không to, giỗ không lớn thế nào được!
&
Gò Công thuộc đất “Nam Kỳ Thuộc Địa”, nên cũng không ít “dân Tây”, tức là người có “quốc tịch Pháp”.
Nhận việc xong, thấy tôi là kẻ xa nhà, Trưởng Ty Vũ Như Bách mách nước: “Phía sau ty, có ngôi nhà từ đường. Có mấy anh em đang ở tại đó. Anh sang đó, xin bà cụ chủ nhà mà ở với họ.”
Nhà nầy đâu lưng với Ty, dài ba gian hai chái – kiểu nhà xưa, lợp ngói. Sân trước rộng, trồng cây kiểng, nằm kế bên con đường từ hông chợ ra phía cầu Tây Ban Nha. Bà cụ đã già, ở với con gái và cháu ngoại ở ngôi nhà mới xây bên cạnh.
Bà dễ tính. Khi tôi xin “tạm trú” thì bà ừ liền. Con gái bà là Chị Hoa (tôi không chắc đúng tên). Chị có thằng con trai lớn, tên Khôi, con một ông đại úy. Không thấy ông đại úy đâu cả. Có lẽ ông đã “cởi ngựa truy phong” chạy mất dạng như Sở Khanh trong truyện Kiều rồi. Kế Khôi là hai đứa em gái, – đầm lai – Mỹ lai thì đúng hơn – Mắt xanh mũi lõ – chưa tới tuổi đi học. Mẹ chúng làm sở Mỹ.
Một tối, tôi lấy cái kèn Melodica của tôi ra ngồi ở hiên nhà thổi chơi cho đỡ buồn. Tôi đang “say sưa” với các bản classique, từ “Đã quên hết sầu chưa?Lời người là ý thơ…” Sérénate, đến “Thôi buồn làm chi, Nhớ tiếc làm chi, bao nhiêu sầu nhớ sẽ tan đi…” (Tristesse) và “Về đây mái tóc còn xanh xanh, Về đây khi…” (Come back Sorento) thì bà cụ đến ngồi cạnh lúc nào tôi không hay!
Tôi ngưng thổi khi bà cụ bảo:
-“Tôi còn mấy dĩa của “Tino Rossi”, khi nào xuống nhà (của cụ) tôi cho “cậu” nghe!”
(Tino Rossi là danh ca người Pháp, gốc đảo Corse, nổi tiếng khắp Âu Mỹ khoảng giữa Thế kỷ 20).
Vậy đấy! Âm nhạc là một nghệ thuật không biên giới. Những bản classique là sản phẩm của Tây Phương hồi thế kỷ 17, 18. Nó theo chân Thực dân Pháp mà qua Việt Nam hồi thế kỷ 19. Bây giờ, nó trở thành “nhịp cầu thông cảm” giữa hai người Việt Nam, một già một trẻ.
Nghĩ vậy, tôi hỏi:
-“Mấy người cùng ở tại đây, có ai chơi loại classique nầy cho cụ nghe chưa?
-“Mấy chục năm nay, từ khi Tây rút về Tây, lần nầy là lần thứ nhất, tôi nghe “cậu” chơi loại nhạc nầy.” Bà cụ trả lời.
Tôi lại hỏi:
-“Cụ không đi Saigon, nghe nhạc ở “QueenBee”, “Đêm Màu Hồng” sao?
-“Tôi có đi với con gái, nhưng ở đó không ai hát nhạc nầy.”
-“Phải! Tôi nói. Thỉnh thoảng người ta mới chơi “Nhạc Cổ Điển Tây Phương”, nhưng chỉ trong đám bạn bè thân thiết mà thôi. Mấy bài nầy chơi Piano thì hay lắm.”
-“Cậu từng nghe chưa?” Bà Cụ hỏi.
-“Dạ! Có nghe rồi, mà nghe từ một người bạn thân.” Rồi tôi kể:
-“Năm cháu học lớp Đệ Nhất, một lần tới thăm một cô bạn gái cùng lớp, tên cổ là Hoàng Thị Ngọc Trâm. Đang ngồi chơi thì cô ta bảo: “Tiếp “nhà văn” thì phải có quà đặc biệt.” – Cháu lúc đó, còn đi học nhưng đã viết chơi cho nhiều báo ở Saigon, ở Huế, kiếm “chút tiền còm nhuận bút” uống cà-phê, chớ có là “nhà văn nhà veo” gì đâu! Tuy nhiên, bạn bè ai cũng biết tôi có bài đăng báo.
Thế rồi cô bạn gái đến mở nắp cây đàn dương cầm của cô ra, và bắt đầu đánh mấy bản nhạc cổ điển. Tôi đứng sát bên, nhìn cô ta đánh đàn.
Đánh xong vài bản, cô ta ngưng lại, hỏi tôi: “Hải nghe được không?”
Tôi tinh nghịch trả lời:
-“Hải có nghe đâu! Hải chỉ nhìn!”
-“Âm nhạc mà nhìn? Nhìn cái gì?” Cô ta hỏi.
-“Nhìn bàn tay Trâm chạy trên phiếm đàn, đẹp không thể tưởng tượng được!” Tôi nói.
Trâm cười to:
-“Các bạn thấy không? “Ông” Hải nầy ga-lăng số một. Kiểu đó thì dù “ông” không yêu người ta, người ta cũng yêu “ông.”
Cả bọn cùng cười: “Có cả Trâm đấy!”
Nghe nói vậy, Trâm cũng cười luôn.
Tôi không nghĩ cô ta yêu tôi. Con gái Huế thường nhìn cao hơn. Cô nào có bằng tú tài thì phải lấy chồng kỹ sư, bác sĩ. Cô nào có bằng cao nhứt, tiến sĩ, bác sĩ thì đành chịu… ở góa.
Nghe xong câu chuyện, Bà cụ cũng cười, nói với tôi: “Chắc “cậu” đắc đào lắm”.
Tôi đùa: “Nam mô A-di-“Đà Lạt”, “bần tăng” là kẻ tu hành!
Bà cụ là con nhà điền chủ, “dân Tây”, học “trường đầm”, “văn hóa Pháp”, có lấy chồng Tây không thì tôi không biết. Chị Hoa, con gái cụ, không có nét giống Tây.
&
Không bao lâu sau, tôi rời căn nhà đó, về “Yêu Luôn”. Tiếng tôi gọi đùa tên xã Yên Luông!
Cảnh cũ, người cũ cũng đã bao lần đổi thay mất rồi!
Bà cụ thì “Quốc tịch Pháp”, con cháu bà thì đã về Mỹ. Không ở được “quê mẹ” thì đành về “quê cha” vậy!
Ở Yên Luông, lại có một “ông Tây” khác: “Ông Một Lục”.
Một hôm, xã trưởng Nguyễn Thành Thông, rủ tôi: “Tới nhà Ông Một Lục ăn giỗ đi.”
Tôi ngần ngại:
-“Ông ta không mời tôi mà!”
Xã Thông giải thích:
-“Ông ta có nhờ tôi nói lại. Nghe nói anh là giáo sư lịch sử mà. Tới nói chuyện cho vui.”
Nhà “Ông Một Lục” là nhà ngói. Nôm na là “nhà cao cửa rộng”, vườn tược rộng, cây lá hoa quả sum suê, chứng tỏ đây nhà giàu, có lẽ không phải “Ông Một Lục” đi lính Tây mà giàu. Gốc nhà “điền chủ” thì đúng hơn.
Ba người chúng tôi ngồi ở phòng khách, bộ xa-lông gỗ, màu đỏ, đẹp. Chúng tôi uống rượu vang. Sau khi chào hỏi, tôi hỏi:
-“Ông Một có biết ông Phan Tử Lăng không?
Ông Một Lục trả lời cộc lốc: “Không.”
Tôi trả lời, không trực tiếp vào người tôi hỏi:
-“Ngoài tui, đi lính Tây, loon lá lên tới adjudant (thượng sĩ) là cao nhất. Không ai được đóng loon quan một, quan hai (thiếu úy trung úy). Mãi khi Pétain đầu hàng Hitler, Tây ở Đông Dương cần sĩ quan mà người bên Tây không qua được. Bấy giờ, Tây mới cho người Việt Nam học sĩ quan ở trường quân sự Ton. Vậy mới có quan Tây người Việt. Ở Huế, nổi tiếng nhứt là “ông Quan Một” Phan Tử Lăng, lính Khố Đỏ. Ra trường ông đậu thủ khoa. Sau khi Nhựt lật đổ Pháp, ông theo Phong Trào Thanh Niên Xung Phong của bộ trưởng Phan Anh, chính phủ Trần Trọng Kim. Rồi ông theo Việt Minh. giỏi thì giỏi nhưng chỉ tới quan “tá” mà thôi. Gốc “tạch tạch sè” mà.
“Ông Một Lục” không hiểu “tạch tạch sè” là gì, tôi phải giải thích là “tiểu tư sản.”
Ông Một Lục nói:
-“Trong Nam, phải vô “dân Tây” mới được đi học làm quan (sĩ quan). Hồi Pháp-Đức bắt đầu đánh nhau, Tây bắt dân trong Nam đi lính bên Tây. Tôi cũng vậy. Lên tới quan một thì hết giặc, tôi xin về nước.”
Tiệc xong, trên đường về, xã Thông cười nói với tôi:
-“Ông nầy dâm lắm, thỉnh thoảng ông đi chơi đĩ ở…
(Tôi không nhớ địa điểm xã Thông nói, hình như trên con đường đi Hòa Lạc, phía bên nầy Cầu Đúc.”
-“Sao ông biết?” Tôi hỏi.
-“Khi nào ông thấy chiếc xe đen của ông đậu ngoài đường là ông đi “vô xóm” với “chị em” đó.
“Ông Một Lục” có chiếc xe Traction Avant, kiểu “onze legère”, tự ông lái xe lấy.
“Dân Tây” ở Gò Công thì có dòng họ “Nguyễn Hữu” ở Hoà Đồng nữa, tôi sẽ viết khi nói tới “Bà Hoàng Hậu Nam Phương.”
Mùa Hè năm 1972, người ta gọi là “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Lửa thì cháy ở Bình Long, Kontum, Trị Thiên. Gò Công thì yên lắm, không có “binh lửa” nhưng không có nước. Ngày 8 tháng Tư Âm Lịch đến rồi mà trời vẫn không mưa. Ca dao có câu:
“Mồng Tám Tháng Tư không mưa,
Chị em bán cả cày bừa mà ăn.”
Lúa thì đã cấy xuống ruộng rồi, mà ruộng thì không có nước. Trời không mưa! Hạn đấy! Ruộng nứt nẻ như hình mu rùa. Mấy cái hồ nước ngọt trong làng cạn tới đáy. Người dân thường chứa nước mưa trong mấy cái “mái” (lu, vại, nói theo cách người Trung, người Bắc), “mái” nào cũng hết nước. Nhà Tây xây, như dinh tỉnh Trường, Ty Công An, nền nhà là cái bồn chứa nước mưa. Chỉ những nhà đó mới không ca câu: “Lạy Trời mưa xuống, Lấy nước tôi uống, Lấy Ruộng tôi cày…”
Tới ngày rằm thì “Trời đổ cơn mưa” lớn. Cả tỉnh ai cũng mừng, đi đâu, ở đâu, cũng chỉ nghe dân chúng bàn tới chuyện mưa.
&
Ở quán Chú Cưng, mỗi sáng, các cụ già ở thị xã hay gần đâu đó, thường đến tụ tập nhau, uống càphê, bàn chuyện đang đánh nhau đâu đó ở ngoài Trung, trên Cao Nguyên. Từng là một thời theo Nam Bộ Kháng Chiến, nhưng vì một lý do nào đó, bỏ Việt Minh mà về, nhưng trong lòng mấy cụ, vẫn còn vấn vương một chút oai hùng của thời trai trẻ, nên khi bàn chuyện đánh nhau đâu đó, “Phe ta” thì thường “rút lui”, mất đất dần dần, như cái bánh tiêu mấy cụ đang ăn sáng, bánh bị cắn dần dần, như phía Nam mất lãnh thổ vậy. Vậy mà mãi tới 30 tháng Tư, 1975, mấy cụ già mới ăn hết cái bánh tiêu. Khi họ ăn xong, thì chính con cháu mấy cụ “đi trình diện học tập cải tạo.” Bánh thì hết, nhưng “Học Tập Cải Tạo” tới “mút mùa Lệ Thủy” mà chưa thấy về.
Cái tình trạng ngồi uống càphê, nói “dóc theo kiểu Nam Bộ” đó làm cho ông Trung Tá Tỉnh trưởng Lê Trọng Nghĩa thấy nóng ruột. Một hôm, trong một “buổi họp toàn tỉnh”, ổng tuyên bố: “Nói với mấy cụ già uống càphê sáng ở quán Chú Cưng, có ngày tôi hốt hết thì đừng trách tôi.”
Nghe dọa, mấy cụ cũng sợ đấy. Nhân khi có trận mưa to, mấy cụ bàn qua chuyện… mưa. Mưa để có nước uống uống, và để làm ruộng, không phải để “Em đến thăm anh một chiều mưa!” Đây là chuyện của tôi và Vân.
Khi tôi ở Gò Công, cũng có một lần “Đồng Khởi”.
Cái “Đồng Khởi” nầy chỉ là mượn cái danh từ của Bà Nguyễn Thị Định. Ở đây thì “toàn tỉnh” đi hành quân, đồng khởi. Lính tráng thì hành quân đâu đó, lùng sục ở các “Đám lá tối trời”, còn “Nhân Dân Tự Vệ” thì tập họp, đặt chốt canh ở các ngã ba, ngã tư đường, ở các cây cầu, các bến đò, bến xe, v.v… Ban ngày, làm gì có “mấy chả” ra tới đó mà canh gác cho mệt. Thế là người ta tụ họp nhau lại mà nhậu: Canh chua, cá lóc, cá kèo, lại kể cả cá thòi lòi, nếu thiếu mồi, và… cá hộp nhà binh.
Ông tỉnh Trưởng lại tuyên bố: “Đi “Đồng Khởi” mà Nhân Dân Tự Vệ cũng đòi cá hộp. Có cá rồi, hễ cứ thấy nhà nào có trồng me thì vô nhà đó trải chiếu ra “Đồng Khởi”, hết “ít ly” đến “y lít”.
Ở Gò Công có nhiều nhà trồng me, và cả trồng so đũa nữa. Đâu phải để nuôi dê, mà để dành cho dân nhậu đấy! Me hay bông so đũa nấu canh chua thì hết sẩy!
&
Gò Công có tới hai bà hoàng hậu. Nói cho đúng thì một bà Thái hậu (Mẹ vua) là bà Từ Dụ. Nhà Nguyễn, kể từ đời Minh Mạng, không có hoàng hậu, chỉ có chánh phi, thứ phi, v.v… Thành ra, bà Từ Dụ không phải là “hoàng hậu đời Thiệu Trị”; mãi đến khi Hồng Nhậm lên ngôi vua, hiệu Tự Đức, thì bà Từ Dụ được phong làm Thái hậu.
Bà Nguyễn Hữu Thị Lan thì “cứng” hơn. Khi vua Bảo Đại cầu hôn, bà ưng thuận nhưng với điều kiện: Phải phong bà làm hoàng hậu, tức là phá lệ nhà Nguyễn, và chỉ một vợ một chồng, không có chánh phi, thứ phi gì cả. Vua Bảo Đại chấp thuận, nhưng về sau thì ông “phạm lời hứa”, có những ba bà thứ phi.
Bà Nguyễn Hữu Thi Lan quê ở Đồng Sơn.
Trên liên tỉnh lộ Gò Công – Mỹ Tho, gần tới cầu Chợ Gạo, quẹo phải là đi vào con đường lớn, xe hơi chạy được. Chạy được một đổi, khoảng vài ba cây số, người ta thấy hai ngôi nhà lầu lớn, kiểu Tây Phương, xây cạnh nhau, có hàng rào bao quanh. Nhìn qua, người ta có cảm tưởng như khung cảnh thôn quê bên Pháp, chớ không phải Việt Nam. Đó là hai nhà lầu của dòng họ Nguyễn Hữu Hào.
Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt, đây nơi là bị chiếm, đóng đồn. Dĩ nhiên, hai bên có đánh nhau nhiều trận nên mái hư, vách loang lổ vết đạn, cửa nẻo không còn. Bây giờ bị bỏ hoang. Cô Xuân, làm thông dịch viên cho Mỹ, nói với tôi đây là nhà của Bà Tám Đào và Chín… (tôi không nghe rõ). Vì chiến tranh, hai bà nầy đã tỵ nạn bên… Tây. Họ là “dân Tây” mà!
Ông Nguyễn Hữu Hào là đại điền chủ ở Đồng Sơn, có Tây học, đậu tú tài Pháp. Đã là đại điền chủ, ông còn kinh doanh ngành trồng trà, cao su ở miền Đông Nam Bộ và có cả ngàn mẫu ruộng ở Long Mỹ, tỉnh Rạch Giá (tên cũ). Vì vậy, khi ông rể Bảo Đại phong “quận công” cho cha vợ, thì ông Nguyễn Hữu Hào lấy tước hiệu là “Long Mỹ Quận Công”.
Vợ ông, tên là Lê Thị Bính, con gái Huyện Sĩ, tức Lê Phát Đạt, cũng là một đại điền chủ ở Gia Định.
Hai ông bà Nguyễn Hữu Hào chỉ sinh được có hai con gái, người con lớn lấy chồng Tây, Didelot, làm “Khâm mạng Hoàng triều Cương thổ” (đất của nhà Nguyễn, nhưng mà Tây “quản lý”) và cô em là Mariette Jeannette Nguyễn Hữu Thị Lan, sinh ngày 4.12.1914 tại Gò Công.
Năm 1932, sau khi học ở Tây về, vua Bảo Đại ngồi lại trên ngai vàng, ngai nầy được vua cha Khải Định truyền cho năm 1925, khi Khải Định qua đời.
Vua còn trẻ, chưa vợ. Ông Đoàn Thêm, tác giả “Việc Từng Ngày” kể: Khi nhà vua ra thăm đất Hà Thành, con gái Hà Nội nô nức đón vua, mong được làm hoàng hậu. Hà Thành con gái nổi tiếng đẹp và thanh lịch. Cuối cùng, Bảo Đại chọn Nguyễn Hữu Thị Lan, cũng du học ở Pháp về. Đây là một cuộc tình duyên có sắp đặt vì âm mưu… chính trị.
Khi trở lại Việt Nam, ngồi trên ngai vàng, vua Bảo Đại muốn đem cái sở học của mình ở bên Tây, để cải cách đất nước. Ông lập một nội các mới, gồm những người trẻ, đòi Tây phải thi hành đứng đắn các hiệp định đã ký với Triều Đình Huế. Vua còn lập một “Ủy ban Cải cách” để thực hiện ý định cải cách đất nước của nhà vua.
Tây chỉ muốn Bảo Đại làm vua bù nhìn, bèn chặt hết “vây cánh”, cải tổ nội các, buộc ông Ngô Đình Diệm từ chức thượng thư. Ông Ngô Đình Diệm không từ chức cũng không được, và Tây trói tạy ông vua lại bằng một sợi giây… tình.
Nguyên khâm sứ Eugène Charles, cha nuôi Bảo Đại, đã về hưu, được gọi qua Việt Nam, lo việc cưới vợ cho Bảo Đại. Charles tổ chức một party ở Dinh Đốc Lý Đà Lạt, Bảo Đại đến dự, và Nguyễn Hữu Thị Lan đến bái yết nhà vua. Hôm đó, cô Nguyễn Hữu Thị Lan mặc một bộ đồ đen, áo dài Việt Nam, đến ra mắt vua, quỳ trước mặt vua và hôn nhẫn trên tay vua.
Một cuộc sắp đặt, làm như tình cờ, cộng thêm với một triệu đồng Đông Dương làm của hồi môn nên Bảo Đại rơi ngay vào cái bẫy “Sắc bất ba đào”.
Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách,
Sắc bất ba đào dị nịch nhân.
(Nguyễn Giản Thanh, lúc còn đi học, một hôm tan học, gặp trời mưa, bọn học trò đứng đợi mưa dưới hiên nhà. Thầy đồ ra câu đối: “Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách” (Mưa không then khóa mà giữ được khách) Giản Thanh đối lại: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” (Sắc đẹp phụ nữ, không phải sóng nổi, nhưng dễ nhận chìm người)
Bảo Dại bị “nịch nhân” tuy sắc đẹp bà Nam Phương không bằng con gái Hà Thành. Tuy nhiên, nhà vua giải thích rằng các tiên đế thường lấy vợ gốc miền Nam, nên ông cũng chọn một cô miền Nam và đặt tên là Nam Phương (Hương thơm của miền Nam). Phương là hương thơm, như “Mượn chùm “phương thảo”, hú vía thuyền quyên” trong “Bài Tựa Truyện Kiều” của Chu Mạnh Trinh vậy.
Người Pháp và các ông giáo sĩ theo Đạo Thiên Chúa La Mã, nghĩ rằng đã “gài” được Bảo Đại: Tây thì trói được Bảo Đại, còn Giáo hội Thiên Chúa La Mã thì đạt được ý đồ từ đời Bá Đa Lộc. Người nối ngôi ông Bảo Đại sẽ là người có đạo Thiên Chúa, đưa “thần quyền” vào “thế quyền” như các nước Châu Âu trước khi có những cuộc “cách mạng tư sản”.
Tháng 8 năm 1945, Bảo Dại thoái vị, giáo hội Thiên Chúa vuột mất ý đồ một ông vua theo dạo Thiên Chúa, vì ông Bảo Đại trao ngai vàng lại cho ông… Hồ Chí Minh, và bà Nam Phương Hoàng Hậu lại à người yêu nước hơn yêu chúa, mặc dù bà là người của Nam Kỳ thuộc địa, dân Tây, học trường đầm.
Trong thời kỳ Việt Minh nắm chính quyên ở Huế, cũng như mọi người dân Huế, bà tham gia tích cực các phong trào dân chúng, nhất là trong các “Tuần lễ vàng”.
“Tuần lễ vàng” ở Huế do ông dược sĩ Phạm Doãn Điềm làm chủ tịch, lấy danh nghĩa là để giúp chính phủ có tiền mua súng đạn chống Tây tái xâm lăng nước ta. Bà Cựu Hoàng Hậu tham gia.
Có người kể, hôm ấy, tham gia “Tuần lễ vàng”, bà Nam Phương lấy hết nữ trang đeo vào người. Tới chỗ hành lễ, trước mặt mọi người, bà gở bỏ hết các nữ trang để đóng góp cho nhà nước. Hành động của Bà như là một gương mẫu, khuyến khích mọi người noi theo.
Học vấn mở mang trí óc con người ta đấy!
Tôi không rõ nguồn gốc ông Nguyễn Hữu Hào như thế nào, chỉ nghe nói ông là một đại điền chủ, có học, nhưng không nghe ai nói dòng dõi ông ta.
Tuy nhiên, về bà Hoàng Hậu Nam Phương, dư luận nói tới ông ngoại bà, ông Huyện Sĩ nhiều hơn.
Huyện Sĩ là một trong bốn người giàu nhứt Nam Kỳ hồi bấy giờ, theo câu tục ngữ: “Nhất Sĩ, nhì Phương, Tam Xường, Tứ Hỏa.” Đó là các ông: Huyện Sĩ, Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương, Bá Hộ Xường (tên thật là Lý Tường Quan, bố vợ tướng André Trần Văn Đôn), Hui Bon Hoa, dân chúng thường gọi là “Chú Hỏa”.
Huyện Sĩ có tên là Lê Phát Đạt, thuở nhỏ, nhà nghèo lắm, làm nghề chăn vịt. Sau vô làm bồi cho một ông “cha Tây”. Ông nầy thương tình cho đi học trường dòng ở Pénang, Mã Lai. Sau khi tốt nghiệp, ông về nước làm thông ngôn cho Tây, nhằm lúc Tây đang đánh chiếm ba tỉnh miền đông Nam Phần. Thời thế tạo “anh hung?”
Khi Tây đánh tới, dân chúng chạy trốn cả. Khi tình hình tạm ổn, Tây gọi dân chúng về, làm ăn như cũ. Bấy giờ, phần đông dân chúng không về, không nhận lại ruộng. Người ta tin tưởng ít lâu đuổi xong giặc Tây, sẽ về lại nhà cũ, khỏi đắc tội với triều đình vì theo giặc. Ruộng bỏ hoang, Tây bèn cho bán đấu giá. Huyện Sĩ tìm cách mua hết, giá chỉ bằng 1% giá thường. Mấy năm sau, Huyện Sĩ lại trúng mùa, trở nên giàu có nhất nhì thời bấy giờ.
Giàu có rồi, để “vẻ vang” với đời, ông mua chức huyện, thường gọi là “huyện hàm”.
Ông có công lớn trong việc xây dựng các nhà thờ ở Saigon và vùng phụ cận, có công lớn trong việc truyền bá đạo Thiên Chúa ở miền Nam.
Khi bà Nguyễn Hữu Thị Lan về làm hoàng hậu, bà được bên ngoại tặng cho một triệu đồng Đông Dương để làm của hồi môn. Có phái vì số tiền hồi môn lớn quá, nên người dân thường nhắc đến Huyện Sĩ chăng? Trong cuộc đời làm vua, Bảo Đại “tiêu tiền của vợ” nhiều hơn “tiêu tiền của triều đình”.
Gò Công còn có nhiều nhân vật nổi tiếng khác nữa. Sau đây tôi chỉ kể tên. Độc giả muốn biết thêm, xin đọc sách của ông Hứa Hoành:
Nhân vật nổi dậy chống Tây:
–Trương Định: Quê vợ ở Gò Công. Ông được triều đình Huế giao nhiệm vụ khai khẩn đất hoang ở đây. Trong thời gian nổi dậy chống Pháp, căn cứ của ông ở trong các “đám lá tối trời” Gia Thuận, thuộc Gò Công.
-Nhà văn tiên phong Nam Bộ, nổi tiếng khắp nước là ông Hồ Văn Trung, tự là Hồ Biểu Chánh, quê ở Bình Thành, Gò Công.
-Nhà báo Viên Hoành Hồ Văn Hiến, em ông Hồ Biểu Chánh.
-Nhà văn Lê Sum, tự Trường Mậu.
-Giám mục Nguyễn Bá Tòng.
–Huỳnh Văn Khiêm, phủ hàm Khiêm, người rất yêu thích thơ văn, hào hiệp, được coi như một Mạnh Thường Quân xứ Gò Công.
-Công tử Georges Phước, tương tự như Hắc Công Tử (Sadec) hay Bạch Công Tử (Bạc Liêu), con đốc phủ sứ Lê Công Sủng. Ông Huyện Đậu là bố vợ Công tử Georges Phước.
-Ông Huyện Huỳnh Đình Nguồn, một nhà thơ yêu nước.
-Ông Huyện Hiểu, không rõ họ, vừa giàu có vừa hào hiệp.
–Lê Quang Liêm, một công chức nổi tiếng của Tây.
-Người nổi tiếng nhất là Luật sư Vương Quang Nhường, quê ở xã Yên Luông Đông (xã của Vân), tốt nghiệp luật sư ở bên Tây, từng làm Bộ trưởng Giáo Dục thời Bảo Đại làm Quốc Trưởng, rể vua Thành Thái (mệ 16, tên Cưới – Linh ?, em vua Duy Tân), tức là “phò mã”. Ông cậu tôi, Bác sĩ Phan Văn Hy là chồng mệ 14. Vua Thành Thái có 22 công chúa, cùng có tên chữ đầu là Lương, như Lương Lang, Lương Linh,v.v …
Khi vua Thành Thái bị đày, chính ông Vương Quang Nhường vận động chính phủ Pháp cho cha vợ “qui cố hương”. Vua Thành Thái được về nước, sau đó băng hà ở Vũng Tầu nam 1953.
Ở Gò Công cũng có “Thiên Địa hội”, “phản Thanh phục Minh”, nhưng hoạt động không mạnh.
-Giáo sư Nguyễn Văn Bông, thạc sĩ Công Pháp Quốc Tế, Viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, lãnh tụ đảng Tân Đại Việt và chủ tịch Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến, quê ở Gò Tre, Gò Công. Ông bị ám sát chết ngày 10 tháng 11 năm 1971 tại Saigon.
Hiện nay, Gò Công có hai nhận vật nổi tiếng, còn sống, một là “Út Bạch Lan”. Không phải cô đào hát Út Bạch Lan mà một “đực rựa”, là anh hùng Quân Đội VNCH. Ông là đại đội trưởng Trinh Sát Dù, tốt nghiệp cùng khóa 22A trường Võ Bị Quốc Gia với “Hùng móm” (Hoàng Ngọc Hùng) là em út của tôi. Tháng 7 năm 1972, khi “Hùng móm” tử trận ở Quảng Trị, Út Bạch Lan khóc bạn: “Dambe, Charlies mày không chết, ai xui mầy về chết ở Quê Hương. Đau lắm Hùng ơi!”
Khi tôi bị chuyển về trại Cải Tạo Long Giao thì được “biên chế” vào một khối với Út Bạch Lan, nhưng Út đã trốn trại một cách thần kỳ một hôm trước đó rồi. Câu chuyện nầy tôi có kể trong hồi ký “Vết Nám” do Văn Mới xuất bản.
Thứ hai là Bà Trương Mỹ Hoa, từng là Phó Chủ Tịch Quốc Hội, bây giờ là Phó Chủ Tịch Nước. Bà quê ở Gò Công, cách ăn mặc bị người ta chê: diêm dúa, hơi quê. Bà không tập kết Bắc, hoạt động nằm vùng ở miền Nam từ 1960. Bà bị chính quyền miền Nam giam tù 11 năm (từ 1964 đến 1975), trước khi Dương Văn Minh đầu hàng thì bà được tha ra khỏi tù.
Và, có lẽ không ai không biết “Con nhạn trắng Gò Công”: Phương Dung, với “Những đồi hoa sim” làm say đắm biết bao nhiêu người.
Vài lời kết:
Xin nói hai điều:
1)-Phong cách Gò Công.
Đi khắp miền Nam, người ta sẽ thấy cách sinh hoạt, tôi gọi là “phong cách” cho văn vẽ một chút, của người dân Gò Công giống phong cách người Huế, tuy không nhiều.
Mỗi gia đình đều biết gìn giữ “nếp nhà”, trọng lễ nghĩa, coi trọng việc học của con cái, giống như những gia đình trung lưu của Huế. Nhiều người thuộc họ Phạm, dòng dõi ông Phạm Đăng Hưng, nhưng họ không khoe khoang rằng mình “con vua cháu chúa” như người Huế.
Khi tôi còn sống ở ngôi nhà từ đường như tôi kể ở đoạn trước, mỗi chiều, khi tôi ngồi thổi Mélodica chơi ở trước hiên nhà thì thấy phía nhà đối diện thấp thoáng có bóng một cô gái cũng… ngồi chơi! Không biết cô có lắng tai nghe “Tiếng đàn tôi” hay không! Sau đó, hỏi chuyện cô, tôi mới biết cô tên Phạm Thị Hồng, dòng dõi cụ Phạm Đăng Hưng. Bất chợt cô hỏi tôi: “Trong các tác phẩm Tự Lực Văn Đoàn, anh thích nhân vật nào?”
Tôi trả lời: “Dũng của Đôi Bạn”. Cô ta cười: “Đó là nhân vật tiểu thuyết hóa, Trương mới là người thực hơn chớ.” Trương là nhân vật chính trong “Bướm Trắng”. Tôi hơi giật mình, học trò lớp Đệ Nhị mà có nhận xét như thế là tinh tế lắm, khác con gái Huế đấy!”
2)-Giai cấp thống trị.
Khi Tây xâm lăng nước ta, bọn chúng đã “dựng” một tầng lớp làm tay sai cho chúng. Những người được chọn làm tay sai là những người có đạo, tức là người trung thành với Giáo hội Thiên Chúa La Mã. Trong việc xâm lăng nước ta, quyền lợi của Thực dân và quyền lợi của Giáo Hội đan chéo vào nhau. Thực dân và “những tên thực dân mặc áo thầy tu” cũng chỉ là một mà thôi. Trong viễn tượng đó, một lớp người “yêu chúa hơn yêu nước” xuất hiện. Họ cùng một lập trường phản quốc như linh mục Hoàng Quỳnh: “Thà mất nước, không thà mất Chúa”. Lê Phát Đạt hay Nguyễn Hữu Hào là ở trong trường hợp nầy.
Sau đó, Tây thực dân mở rộng việc đào tạo tay sai, hay nói một cách nhẹ nhàng hơn, những người có Tây học, để giúp người Pháp trong việc cai trị. Hàng ngũ “trí thức mới” miền Nam. Đó là trường hợp các ông Diệp Văn Cương, Bùi Quang Chiêu, v.v…
Vì ảnh hưởng văn hóa Pháp, là môi trường họ xuất thân, ý thức thế nào là Bình Đẳng, Tự Do, Bác Ái (như trên lá cờ Pháp ba màu xanh trắng đỏ) và thế nào Dân Chủ, Độc Lập, chính tầng lớp trí thức mới nầy lại hoạt động chống Tây. Đảng Lập Hiến của ông Bùi Quang Chiêu, và các vị trong nhóm “Đệ Tứ Quốc Tế” và cả Hoàng Hậu Nam Phương.
Sau hiệp định Genève 1954, ngay một số linh mục du học ở Pháp về, cũng không phải là những nhà tu hành “ngoan ngoản” với Giáo hội Thiên Chúa La Mã. Họ muốn xây dựng một Giáo hội độc lập với La Mã.
Miền Nam VN trở thành nơi tập trung và phát triển tầng lớp Tây học, phần đông thuộc giai cấp tiểu tư sản. Trong khi đó thì Cộng Sản cũng nổi lên, từ sau “Nam Kỳ Khởi Nghĩa” và Nam Bộ Kháng Chiến, thuộc thành phần vô sản.
Hàng trăm năm qua, trong hoàn cảnh đất nước phân ly “chống Tây và theo Tây”, tiếp sau đó là “chống Cộng và theo Cộng”. Chưa bao giờ dân tộc Việt Nam ly tán, tranh giành, và thù ghét nhau sâu sắc như bây giờ!
Năm 1972, trong “Mùa Hè Đỏ Lửa,” với thiệt hại lớn lao của bốn mặt trận Kontum, Bình Long, An Lộc, Quảng Trị, của cả hai bên, để vinh danh những người lính VNCH đã nằm xuống, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đã phát động một chiến dịch vinh danh và tri ân các chiến sĩ, bằng cách vẽ hình ảnh các tử sĩ và treo ở trên đường phố Sài Gòn. Tôi chỉ nhớ tên một vài vị, đều là sĩ quan, như cố Chuẩn Tướng Không Quân Nguyễn Huy Ánh, cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, cố Đại Úy Trần Thế Vinh, cố Đại Úy Nguyễn Văn Đương… Trong số anh hùng này, không thấy có một hạ sĩ quan hay binh sĩ nào.
Hồi ấy, tuần báo Diều Hâu là một tờ báo “tay trái” của Phòng Thông Tin-Báo Chí Cục Tâm Lý Chiến do Trung Tá Nguyễn Đạt Thịnh và Thiếu Tá Phạm Huấn chủ trương, và chúng tôi, nhân viên của Phòng Báo Chí lâu lâu cũng mượn đất của Diều Hâu để múa bút. Vào dịp đó, trên Diều Hâu tôi đã viết một bài ngắn, cũng lấy đề tựa “Chiến Sĩ Vô Danh,” và câu hỏi tôi đặt ra trong bài báo là phải chăng, anh hùng, tử sĩ của VNCH đều là sĩ quan mà không có một anh lính nào? Vậy thì người lính tử sĩ ở đâu?
Bài viết này không làm cho Trung Tướng Trần Văn Trung mấy hài lòng, và sau khi tờ báo phát hành, nhà văn Nguyễn Đạt Thịnh được gọi lên “trình diện” ông tổng cục trưởng. Ông Nguyễn Đạt Thịnh nổi tiếng là thẳng thắn và luôn luôn bênh vực nhân viên, mặt khác tờ báo do ông chủ trương, phần nào ông cũng có trách nhiệm, nên nội vụ được cho qua, và tác giả bài báo không phải khăn gói đi Kontum.
Người ta hay dễ dãi trong công việc, và tìm những việc dễ dãi mà làm. Tướng tá chết thì ai cũng biết, nhưng anh hùng vô danh, mặc dù là số đông mấy ai đã biết được tên tuổi.
Gần đây ở hải ngoại cũng vậy, cứ đến ngày 30 Tháng Tư mỗi năm, năm vị tướng tuẫn tiết lại được nhang khói, vinh danh. Về sau người ta thêm vào đó, Trung Tá Nguyễn Văn Long, tự sát trước tượng đài Thủy Quân Lục Chiến, rồi sau đó nữa là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng Chương Thiện, không tự sát, nhưng không chấp nhận đầu hàng, chiến đấu đến cùng, bị bắt và bị xử bắn tại sân vận động Cần Thơ ngày 14 Tháng Tám, 1975.
Cả miền Nam, vì mối nhục mất nước, có cả hàng nghìn chiến sĩ tự sát bằng cách này hay cách khác, từ một người lính quân cảnh tại Bộ Tổng Tham Mưu đến những anh em Thủy Quân Lục Chiến trên bãi biển Thuận An, hay các chiến sĩ Nhảy Dù chia nhau một quả lựu đạn tại ngã ba Ông Tạ, trên đường lui binh.
Câu hỏi ngày xưa vẫn còn nguyên: “Vậy thì người lính tử sĩ ở đâu?”
Gần đây, tại San Jose, theo cung cách xây dựng tượng đài vinh danh các anh hùng tuẫn tiết, một bức tường tưởng niệm với năm vị tướng lãnh cùng Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và Trung Tá Nguyễn Văn Long được dựng lên. Người lính Biệt Động Quân Đoàn Trọng Hiếu đã phê phán chuyện dựng bức tường này: “Việc làm dựng một bức tường tưởng niệm quân dân cán chính VNCH là một việc làm rất đáng hoan nghênh. Nhưng việc ủng hộ nội dung lại là hành động thiếu suy nghĩ đáng chê trách, vô tình biến chúng ta thành kẻ bất nhân bất nghĩa!” Và ông cũng cay đắng cho rằng: “Xin đừng phơi thây trăm họ, để chỉ vinh danh một người!”
Trên thế giới, không phải quốc gia nào hay ai có thể có khả năng làm một cuộc kiểm kê để có danh sách những người lính đã hy sinh, như người Mỹ đã làm khi xây dựng bức tường đá đen ở thủ đô Washington, DC, có tên của hơn 58,000 lính Mỹ đã chết hoặc mất tích tại chiến trường Việt Nam.
Có những người lính đã nằm lại ngoài mặt trận, không đem được về hậu phương, thân thể họ bị vùi lấp trong bom đạn, đất cát, không quan quách, không bia mộ, không ai gắn huy chương, không có nghi lễ phủ cờ đưa tiễn. Gần như không ai biết đến họ, không ai nhớ đến tên tuổi của họ, vì “họ là những anh hùng không tên tuổi,” được gọi là những “Chiến Sĩ Vô Danh.”
Nước Pháp có mộ chiến sĩ vô danh nằm dưới Khải Hoàn Môn từ ngày 11 Tháng Mười Một, 1920. Họ không có tên. Đây là ngôi mộ của một người lính Pháp vô danh chết trong trận Verdun, thời Thế Chiến 1. Cùng ở Paris, bảy chiến sĩ vô danh khác cũng được chôn cất ở Flandres, Artois, Somme, Chemin des Dames, Champagne, Verdun và Lorraine. Trên ngôi mộ ở Khải Hoàn Môn khắc dòng chữ: “Nơi đây yên nghỉ một người lính Pháp chết cho tổ quốc.” (1914-1918). Người Mỹ cũng có ngôi mộ chiến sĩ vô danh (Tomb of the Unknowns) tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington, Virginia, để chôn cất các binh sĩ Hoa Kỳ vô danh tử trận trong Thế Chiến 1, Thế Chiến 2, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam và những cuộc chiến tiếp theo sau đó!
Không ai kiểm kê được đầy đủ danh tánh những người đã tự sát hơn là đầu hàng giặc trong ngày tang tóc 30 Tháng Tư, 1975 của miền Nam Việt Nam, cũng không ai có đủ danh sách hàng triệu người đã chết cho tổ quốc, bởi vậy chúng ta cần thiết có một nấm mộ hay tượng đài cho những chiến sĩ vô danh. Chúng ta thường có thói quen ca tụng những người quen mặt biết tên!
Có khi nào bạn so sánh cái chết huy hoàng, rộn ràng của một tướng lãnh và cái chết của một người lính hòm gỗ đơn sơ với những nhánh hương lạnh lẽo trong một nghĩa trang buồn, hay những người lính không bao giờ trở về, thân xác chôn vùi đâu đó trên mảnh đất quê hương!
Chúng ta cần một bia mộ hay tượng đài cho những chiến sĩ vô danh như thế.
Theo tin báo chí trong nước, vào Tháng Ba năm nay, Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn thuộc Bộ Văn Hóa Thông Tin-Du Lịch vừa quyết định “tạm thời dừng lưu hành năm ca khúc sáng tác trước năm 1975.” Đây là những nhạc phẩm đã được cấp phép trước đó, bây giờ lại có lệnh tạm dừng phổ biến.
Trong thời buổi này người ta khó để đi tìm một định nghĩa cho nhạc vàng, đã được nhìn lệch lạc qua lăng kính chính trị, nhất là sau năm 1975, sự thừa thắng và kiêu ngạo đã làm cho người Cộng Sản có cái nhìn ác độc thiếu công bình cho nền văn học tự do trước thời kháng chiến hay sau khi đất nước chia đôi, ở miền Nam. Nhạc vàng được những nhà cầm quyền miền Bắc gán ghép cho là thứ âm nhạc bệnh hoạn, sầu não, bi luỵ thiếu “chiến đấu tính.” Có người còn hồ đồ cho đó là thứ nhạc sến. Cường điệu thêm theo cách nói của Nguyễn Hữu Liêm là “cái âm điệu tủi thân bi đát,” hay là một loại “nước dừa tang thương bằng âm nhạc.” Nhưng có lẽ chính xác hơn hết, chúng ta phải tìm đến định nghĩa của nhạc vàng của Jason Gibbs trên trang Talawas: “Âm nhạc Tây phương phi cộng sản cũng như âm nhạc thịnh hành ở đó trở thành một đối tượng quan tâm lo ngại trong chính sách văn hoá của những người cộng sản. Nhạc vàng – cái tên đặt cho loại nhạc không chính thống này – bị “gác” và cấm cho đến cuối những năm 1980…”
Sau khi đất nước chia đôi năm 1954, ở miền Bắc văn học được định nghĩa như là một công cụ cho chính trị, ca nhạc, văn sĩ được xem như là những cán bộ văn nghệ của chế độ, mệnh danh là “văn công.” Âm nhạc được mang một màu đỏ để cổ vũ tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, phục vụ chiến tranh, truyền đạt những chính sách của nhà nước, khuyến khích tình yêu lý tưởng cộng sản, cũng có cả những bài hát trữ tình, thể hiện tình yêu quê hương đất nước hoặc cổ vũ lao động, xây dựng, nhưng không rời xa việc kết nối với lãnh tụ, đảng và chính sách.
Trong suốt 30 năm “kháng chiến đã thành công,” các nhạc sĩ lãng mạn lừng lẫy một thời không di cư vào Nam được, chấp nhận lột xác, kiểm thảo về quá khứ sai lầm, lên án các tác phẩm của mình để sống còn. Sau phong trào Nhân Văn Giai Phẩm nhạc tiền chiến bị cấm hẳn. Loại nhạc được lưu hành tại miền Bắc trong thời kỳ 1954-1975, được gọi là nhạc đỏ. Suốt 30 năm, miền Bắc không có nổi một bản nhạc ca tụng tình mẹ, cho tình yêu, nếu trước đó chưa chịu chia phần cho đảng! (*)
Ở Hà Nội năm 1971, một vụ án liên quan đến “nhạc vàng” được xem là “nghiêm trọng,” đó là vụ án “Toán Xồm – Lộc Vàng,” miền Bắc kết án những người này chủ trương phổ biến “văn nghệ đồi truỵ,” dùng các bản nhạc vàng bi quan, sầu thảm, lả lướt, lãng mạn để truyền bá lôi, kéo thanh niên…” Kết quả là hai người đàn ông, một chịu bản án một người 10 năm, một 15 năm tù. Một người còn sống, một người đã chết ngoài đường phố sau khi mãn hạn tù đày.
Tại miền Bắc, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với sự lãnh đạo của đảng Lao Động Việt Nam, tân nhạc cũng như điện ảnh, có nhiệm vụ chính là cổ vũ chiến đấu. Dòng nhạc “cách mạng” chiếm vị trí độc tôn, các nhạc sĩ lãng mạn hầu như không còn sáng tác.
Với đường lối cộng sản, ảnh hưởng âm nhạc của Trung Quốc và Nga ngày càng sâu đậm theo tỷ số ngày càng cao của các nhà soạn nhạc được gởi đi du học ở các nước cộng sản. Sau Tháng Tư, 1975, dân miền Nam, lần đầu tiên được nghe loại nhạc mang âm hưởng Trung Quốc, líu lo, được các giọng tenor và soprano hát như “Cô Gái Vót Chông,” “Bóng Cây Kơ-Nia,” “Tiếng Đàn Ta Lư…” Ở miền Bắc người ta đã nghe thấy hàng chục bản nhạc ca tụng lãnh tụ Hồ Chí Minh và “đảng Cộng Sản quang vinh” ra rả trên đài phát thanh và truyền hình suốt ngày. Các nhạc sĩ mẫn cán dưới thời lãnh tụ Tố Hữu ra sức bình sinh, viết một hai bài dâng bác và đảng để biểu diễn lòng trung thành tuyệt đối, được lòng tin cậy của đảng, lại có thêm chút tem phiếu! Nếu Tố Hữu có 50 bài thơ viết về bác và đảng thì đàn em cũng phải có một hai bản nhạc ca tụng lãnh tụ và “đảng quang vinh.” Đó là “Việt Bắc nhớ Bác Hồ” (Phạm Tuyên), “Hồ Chí Minh Đẹp Nhất Tên Người ” (Trần Kiết Tường), “Đôi Dép Bác ” (Văn An), ” Nhớ Ơn Hồ Chí Minh” (Tô Vũ), “Lời Ca Dâng Bác ” (Trọng Loan), “Trồng Cây Lại Nhớ Đến Người” (Đỗ Nhuận), v.v… hay “Chào Mừng Đảng Lao Động Việt Nam” (Đỗ Minh), “Dưới Cờ Đảng Vẻ Vang” (Lưu Hữu Phước), “Vững Bước Dưới Cờ Đảng” (Phạm Đình Sáu), “Tiến Bước Dưới Cờ Đảng” (Văn Ký), “Dâng Đảng Quang Vinh” (La Thăng), “Từ Khi Có Đảng” (Nguyễn Xuân Khoát)…
Trong không khí ấy, người dân miền Bắc, nhất là lớp tuổi đi theo kháng chiến khi đã có trí khôn, bắt đầu tiếc nuối thời tiền chiến mơ mộng và thèm khát nói lên tiếng nói chân thật của trái tim. Người dân miền Bắc, qua những chiến lợi phẩm mà con cháu họ mang về từ miền Nam với những cuốn băng và cái máy cassette của “bọn đế quốc,” những bản nhạc, mới nghe qua, khá lạ lùng về lời ca, nhạc điệu, nhưng thật sự là gần gũi làm rung động tâm hồn của họ. Đó chính là loại nhạc vàng vẫn thường nghe nhà nước tuyên truyền là bệnh hoạn và vô cùng độc hại!
Người ta kể chuyện sau khi vào thăm Sài Gòn sau năm 1975, món quà quý nhất mà nhà thơ Huy Cận mang về Bắc là băng nhạc cassette thu thanh băng nhạc “Ngậm Ngùi” thơ của ông, do Phạm Duy phổ nhạc, với tiếng hát của nhiều ca sĩ miền Nam. “Ngậm Ngùi” là bài thơ trước chiến tranh, mà chế độ miền Bắc đã khai tử, người lớn không ai còn nhớ, và trẻ con chưa hề biết! Cũng không phải ngẫu nhiên mà những năm gần đây, nhiều ca sĩ hải ngoại đã thay phiên nhau về nước hát nhạc vàng, và đã được người trong nước đón nhận khá nồng nhiệt. Chương trình của những ca sĩ hải ngoại như Tuấn Vũ, Thanh Tuyền, Giao Linh, Khánh Hà, Phi Nhung, Hương Lan, Ý Lan… tổ chức với mật độ dày đặc và thường xuyên hơn ở Hà Nội và Sài Gòn. Thái độ thích nghe loại nhạc này của trong nước thu hút nhiều ca sĩ hải ngoại về hát. Nhiều công ty ca nhạc trong nước cũng phấn khởi với những chương trình ca nhạc bán hết vé của các ca sĩ hải ngoại. Đó là nỗi khao khát được nghe loại nhạc vàng “bệnh hoạn” “độc địa” của một thời để giải toả cái khộng khí u uất giam cầm của những loại nhạc ca tụng lãnh tụ và đảng.
Có bao nhiêu bài hát được ca sĩ hải ngoại về hát ở trên sân khấu trong nước, đã được “cho phép” hay “bị cấm,” khó ai có thể kiểm chứng được, nó tuỳ lúc, tuỳ thời, tuỳ người và tuỳ…tiện. Vì “tuỳ tiện” nên nhiều ca khúc bị cấm mà người ta không hiểu vì sao bị cấm. Mỗi lần mùa Xuân tới, bản “Ly Rượu Mừng” dân chúng hát nát ra mấy chục năm nay để thay cho loại nhạc “mừng Xuân, mừng Đảng,” mà cho tới nay chính phủ mới cho phép dùng. Nhưng hãy coi chừng, một ngày kia, chính quyền nhức đầu sổ mũi lại cấm hát thì biết thếnào mà lần! Để ăn chắc, mỗi lần đang hát thì bị công an lên sân khấu lập biên bản, từ nay cứ làm đơn xin duyệt, mỗi lần xin duyệt tốn thêm chút cà phê, thuốc lá; nhưng đã có cái khuôn dấu rồi, vẫn chưa ăn chắc, vì chính quyền, tổ chức, vốn ba đầu sáu tay, rừng nào cọp nấy! Cũng có cô ca sĩ và bài hát được xử dụng ở Hà Nội những không được trình diễn ở Huế.
Chính quyền Cộng Sản lại là những anh nhát gan, sợ ma. Thôi thì vì trào lưu thanh niên trong nước muốn mặc quân phục VNCH, hát nhạc thời chiến trước năm 1975, thì ta cấm hẳn nhạc lính đi, nhưng vì sao cứ nói đến mùa Thu là ngại người ta nhớ đến ngày cướp chính quyền. Mùa thu chết của Phạm Duy lấy ý từ bài thơ của nhà thơ Pháp Apollinaire (1880-1918) thì theo Nguyễn Lưu, bài này là “đỉnh cao chống Cộng của Phạm Duy, với một bút pháp sâu cay, đểu giả…”
Ngay như những công dân chính thức CHXHCN Việt Nam là Phạm Duy và Trịnh Công Sơn, người đã được nhà nước Cộng Sản vinh danh, đặt tên đường, một số nhạc của họ giờ này vẫn chưa được phép phổ biến, nghĩa là đang còn bị xếp loại cấm hát. Theo BBC, mặc dầu Phạm Duy đã trở về Việt Nam định cư từ năm 2005, tuy nhiên, cho tới nay, mới khoảng 1/10 số bài hát của ông được phép biểu diễn ở trong nước. Với Trịnh Công Sơn, bài “Nhớ Mùa Thu Hà Nội,” cũng bị cấm hai năm, những người Cộng Sản “chẻ sợi tóc làm tư” để tìm những gì mà họ cho là ẩn ý trong từng lời hát!
Nhạc vàng đi ngược lại đường lối, chủ trương của đảng, ru ngủ làm mất sức sản xuất, lao động và học tập của dân chúng, hay là chỉ vì nó dễ ghét, vì lòng ganh tỵ vì được quá nhiều người thích.
Lấy kính hiển vi soi rọi vào năm bài hát vừa bị cấm hay mới bị cấm trở lại, thấy cũng không có lính, không có cờ, không có mùa Thu mà vẫn bị cấm, nên trên facebook có người mới hát nhại rằng: “Có đường không cho đi, cấm đi người vẫn đi, hỏi tại sao cấm đi?”
Chuyện buồn cười hơn là cả một bài hát vớ vẩn, “Đừng Gọi Anh Bằng Chú” của Diên An, cũng bị lên danh sách cấm. Thì ra đây là chuyện thù vặt, bài này nguyên là của nhạc sĩ Anh Thy, một quân nhân hải quân VNCH, tác giả những bài hát lính như “Hải Quân Việt Nam,” “Hải Đăng,” “Hoa Biển,” “Lính Mà Em,” “Tâm Tình Người Lính Thuỷ…” Có lẽ vì gặp khó khăn với chế độ trong nước, nên ca khúc này được đổi tên tác giả là Diên An. Cái tồi của trong nước là không dám nói thẳng vì Anh Thy là lính VNCH nên bản nhạc phải cấm. Anh đã là lính VNCH thì dù anh có viết những bài không dính líu gì đến lính, tôi vẫn cấm anh! Đó là đường lối chủ trương “hoà hợp hoà giải minh bạch” của đảng! Có những thứ đã chết mà người ta tôn vinh, xây lăng cho nó, nó vẫn chết, nhưng có những thứ người ta muốn chôn vùi, huỷ hoại, nó vẫn đội mồ sống dậy.
Con gà này được tôi ghi hình sáng nay. Nó sẽ nằm trong bộ nhớ của chiếc điện thoại thông minh. Gần Tết, trời âm u, lạnh. Nó ngoan ngoãn cho tôi ôm vào lòng.
Tôi đi ra đường bắt xe ôm. Cuối năm âm lịch mọi người vui chuyện chặt chém, tha hồ hét giá. Không trông rõ mặt, chỉ nghe được giọng nói của anh xe thồ: Vui Xuân đi mà, hào sảng chút xíu cho em út nhờ.
Cái lưng áo căng phồng gió, con gà chen vào giữa xong đến tôi ngồi đằng sau. Xe chạy qua đường Lê Lợi, gà ngoái đầu nhìn về bia Quốc Học cục tác tiếng nhỏ. Họ đang thi công làm mới, cạo sạch sẽ bao di tích văn hoá tự ngàn xưa. Vì quyền lực, họ đã từng hạ chôn ngôi trường Đồng Khánh. Làm người có ăn học ở Huế rất khổ cực. Răng bì được gà? Gà mái còn biết xoè cánh che chắn bảo vệ con, gà trống còn biết gáy. Và chúng luôn nằm trên bàn thờ cho người được chu toàn tươm tất buổi kỵ giỗ. Xe thả tôi xuống trước căn hộ mới màu vôi, cờ xí đỏ rực tuồng chuẩn bị nghênh xuân còn đảng còn mình. Mắt con gà chớp lia chớp lịa khi tôi mang nó đi qua cánh cổng hẹp. Anh tôi làm ở tổ hợp chuyên hạ heo bò, cao tay nghề trong lò sát sinh cho biết: Mình quen miệng cứ nói ngu như bò là sai, bò thông minh lắm nghe, nó biết sắp tới số nên hai mắt nó đẫm lệ. Mỗi ngày tao ngó bò khóc cả mấy chục bận. Anh kết luận: Tao mới là đứa ngu như bò!
Vì có hẹn trước nên gia chủ chưa xuất hành. Ông bảo một cậu thanh niên ôm con gà lui nhốt chuồng sau. Ông ngồi trên chiếc ghế gỗ láng bóng có chạm trổ hình long phụng và tôi đứng co thân không xa bực thềm. Không nhiều thời gian đâu nhé, hôm nay tôi còn phải tiếp lắm phái đoàn. Mẹ nó chứ, cuối năm cơ quan nào cũng có khối việc cần phải thanh lý. Tôi trao cho ông cái phong bì. Tôi từng bợn lòng: Tại sao xứ mình không ai nghĩ tới việc thay đổi kích cỡ cái bao lì xì màu đỏ quen mắt kia? Nhỏ quá mà, gánh sao nỗi nhũng chuyện hệ trọng khẩn thiết. Không xứng tầm thời đại khi mang ra mừng tuổi.
Được rồi, cứ yên tâm, tôi sẽ ưu tiên giải quyết những vướng mắc. Nhân dịp xuân về đã có lắm kẻ được đoàn tụ cùng gia đình theo chính sách khoan hồng. Sang năm mới cậu ấy sẽ chóng về thôi. Vậy đi nhé. Tôi mát tay như nào thì ai cũng đều tường, chuyện gỡ tội cứu người chưa từng bị mang điều tiếng, nôm na là vui xuân không quên nhiệm vụ.
Đôi chân tôi tự nhiên nghe mỏi, tuy vậy tôi quyết định lội bộ thay vì tốn tiền bắt xe ôm. Túi quần tôi còn dấu tận đáy hơn 80K, tôi cần ăn thứ gì giá bèo để lót lòng, cần uống ly cà phê, cần đốt cháy ba điếu thuốc. Anh tôi bị bắt đã gần năm, anh đúng là ngu như bò, bày đặt xuống đường biểu tình bọn Trung quốc xâm lược. Căn nhà của ba mạ để lại cho hai anh em đã bán, chiếc xe gắn máy của tôi đã mang đi luộc từ hai ngày trước, thậm chí cả phận gà nhỏ mọn ưa bới đất vườn hoang cũng bị lôi cổ trao tay cho người ta có thứ đánh chén liên hoan mừng xuân. Người ta sẵn lòng ăn không từ một thứ gì và tôi sẵn lòng làm đủ thứ hòng cứu chuộc lỗi lầm anh mang.
Tôi thua con bò. Tôi sắp chết mà hai mắt không chảy được một giọt mặn. Gió từ sông Hương thổi lên muốn cắt mặt. Tết nay tôi chẳng biết đào đâu ra tiền để làm một mâm cỗ đạm bạc dành cúng ba mạ tôi. Hai oan hồn vô phước chết trong mùa xuân con khỉ xa xưa. Co ro dáng bộ hành lầm lũi đi, xiêu lạc hồn ma bóng quế.
Hoạt cảnh ở bệnh viện Trung Ương bao giờ cũng chộn rộn, lắm người thất thần vào ra. Tái mặt bước vô thăm thú, mang diện mạo xanh xao khi lộn lui với đời thường. Sau chợ búa, đây là địa điểm có thể sắp lên hạng hai về mục thu hút rậm rật bà con cô bác giỏi chân thăm viếng. Vào chợ để mua nhu yếu phẩm mang về nấu nướng hòng làm êm cho vấn nạn miệng mồm, ăn ít hoặc đầy bụng đều sinh khó ở rêm mình, ngộ độc thực phẩm lại xấc bấc vác mạng qua nhà thương khẩn cầu mong gặp lương y như từ mẫu, cứ hằng tin bấy chầy mình ăn lành ở hiền khù khờ ông trời độ. Chợ và bệnh viện do vậy tứ thời bát tiết không đời nào vắng như chùa bà Đanh. Nếu có vướng chút hoài nghi thì chỉ lợn cợn một dấu hỏi: Sao lóng rày chúng sinh ưa nhập viện đông thế? Tuỳ vào nguyên cớ, đã vào đây thì buộc phải học thuộc chữ nhẫn. Đứa ruột để ngoài bụng thập tử nhất sinh cũng ôm vết thương lòng mà dòm kim đồng hồ thong thả xê dịch. Kẻ giàu sụ “có tiền mua tiên cũng được” thì sự đợi chờ đôi khi chỉ tính có ba mươi giây. Thằng trung lưu sau khi kỉnh phong bì bôi trơn, cái sự cố chờ đến phiên mất chừng hơn tiếng, chuyện nhỏ. Hạng mạt máu tuy áo quần lành lặn nhưng bốn túi đều bị thủng thì chấp nhận số kiếp. Đâu có gì phải quan hoài, ra quán uống cà phê cũng mất tiêu cả ngày trời tùng tam tụ tứ, ngày qua rất vội sốt ruột mà được ích gì? Để tiêu khiển, giúp thoát cảnh đắng miệng, cuồng chân và bó tay nên rời chỗ ngồi mà thơ thẩn đi nhìn chuyện lạ đó đây. Đi một ngày đàng học một sàng khôn là bởi thế. Mới được mở mắt, ủa té ra được làm người thì phải hứng đỡ muôn vàn khổ luỵ, đời bày cả ngàn lẻ một bệnh tình cắc cớ. Chúng sinh than: Bà nọ dính ung thư tử cung, xét nghiệm mới rõ nguồn cơn là bởi chồng bả giờ này ảnh chưa chịu cai thuốc lá. Bác sĩ bảo đừng coi thường, vợ không hút thuốc đứng gần chồng nghiện ắt bị khói huyền bay vào thân làm di hại nghiêm trọng, chết một cửa tử, hết đẻ đái. Kết luận: Đời là bể khổ. Khổ ở chỗ chưa ngộ ra do đâu bác sĩ lại phán lời như đinh đóng cột tựa thế. Em bị khô buồng trứng tại vì chồng em thích ăn trứng cá? Dám lắm à nghen, bị quả báo? Có chị khác đẻ một lúc tới ba em bé do bởi tật cưng chồng cứ bắt ảnh xơi nhân sâm Hàn quốc, lựa củ sâm nào đầy đủ tứ chi y như hài nhi vậy mới đúng là chính hãng made in Korea. Chồng vào khu hộ sản thăm: Hú hồn, anh mà hám ăn của lạ thì hổng chừng em đẻ ra một hơi tới ngũ long công chúa! Mặt chảy dài vò đầu bức tóc lăn tăn hoài nghi: Tổ tiên mình ăn thức chi mà đẻ tới trăm cái trứng lận? Thời ấy nào có condom và nhà nước chưa dạy chuyện kế hoạch hoá gia đình nhỉ? Căng thật! Lại đẻ ra công án: Trứng có trước hay người có trước? Trứng nọ có giống như hột dịt lộn không? Soi vào đèn dầu để biết non già, bày dĩa muối tiêu rồi tay ngắt cả nạm rau răm. Nhai rau ráu cả lông cả lá, nước ngọt lừ. Nó bổ khoẻ, nó bắt mồi tới mức nào mà có nhiều bà mẹ đã chửi đứa con bất hiếu: Đồ báo đời! Biết vậy hồi đó tao đẻ ra cái hột vịt lộn mà nhai cho sướng miệng!
Đi một vòng thế nào cũng gặp mặt người quen. Mà người nầy thì dễ đụng mặt lắm bị cô ta là y tá. Áo khoác ngoài may hai túi thật lớn nhằm chứa đủ đồ nghề lủ khủ của kẻ hành nghề y khoa. Y tá tên Hồng rất mát tay, mỗi bận đưa tay cho cô ấy lấy máu, chưa khi nào cái ống tiêm đi chệch sợi gân, máu trào vào bịch nhựa ngó xâm xoàng. Ngoài cao tay nghề Hồng còn dịu dàng khi khuyên lơn thân chủ: Lâu lâu một lần nếu muốn tính đường dài, chứ một tháng anh vào đây bán máu những ba lần thì có khi tôi gián tiếp mang tội sát nhân. Này, cho đằng ấy quả cam bồi dưỡng, soi mặt vào gương đi, mặt choắt bằng trái chanh, xanh xao vỏ vàng ra đường gió thổi dám bay. Vật giá thức gì cũng leo thang vùn vụt riêng tiền bán máu vẫn dậm chân tại chỗ, mấy năm rồi bổn cũ soạn lại khiến khổ chủ đút túi chỉ một nạm giấy nhàu lỏng le, hai tờ mặt ảnh nhìn nghiêng thêm bốn tờ bác ấy nhìn thẳng mặt tỉnh như ruồi gom lại vị chi là đủ trả tiền bát phở, ly cà phê đá và vài điếu thuốc lẻ, ấm đời đúng hai hôm.
Chào cô Hồng, dạo này cô ra sao? Nữa, lại chẳng nghe lời, cứ ngựa quen đường cũ. Vào bán máu nữa à? Không ạ, tôi bán thứ khác. Thứ gì? Nhà thương chứ đâu phải chợ trời cha nội, cứ quen thói bán buôn! Bán thận hay bán nội tạng? Í, không dám đâu. Tôi dùng sai chữ rồi, đi hiến chứ không đi bán ạ. Hiến gì thế? Có phải đằng ấy muốn hiến tinh trùng? Sao lại đỏ mặt lên. Bán máu nhiều thế mà còn đủ hồng huyết cầu để ửng lên sắc đỏ là tốt đấy! Đã điền đơn chưa? Chỗ ấy tương đối vắng, người ta giải quyết mau, trở lại đi kẻo đến phiên lại bị hụt mất. Cảm ơn cô Hồng nhé. Về chuyện gì? Vào tới chốn này may mà còn nhìn ra cô, chứ trơ trọi thân mình, chẳng ai quen biết dễ đâm ra tủi thân. Thôi đi bố, đã xông xáo đi cho tinh trùng mà lại tủi thân. Cô Hồng à, tớ hỏi ngu tí, đàn bà có cả buồng trứng trong bụng không rõ họ nhín chút ít mang đi cho? Hồng chỉ tay lên trời: Ở lầu ba có phòng khám bệnh tâm thần đấy. Giời ạ, người điên ở đâu ra mà lắm thế! Bán máu nhiều sinh dễ bị chập điện chăng?
Điện. Ai là Điện? Anh tên Điện đâu?
Tiếng gọi làm đứa ngồi ngủ gà ngủ gật trên ghế chia tay với ma đè, vụt đứng lên nhìn về nơi phát xuất hiệu lệnh. Người đàn bà trông thật béo tốt hồng hào tay nắm tờ giấy: Theo tôi. Bà dắt Điện đi qua hai lần cửa rồi đứng lại ở cánh cửa thứ ba đang đóng kín, ngoài ghim miếng giấy “Vô phận sự, miễn vào”.
Anh đến đây lần đầu, có phải không?
Đúng vậy. Lần đầu.
Do đâu mà biết ở bệnh viện ta mới mở phòng thâu nhận tinh trùng?
Nghe bạn bè kháo ở quán cà phê.
Sức khoẻ thế nào?
Trên cả tuyệt vời. Chục năm nay nào có hay biết chuyện cảm mạo nhức đầu sổ mũi. Ăn được ngủ được là tiên…
Chớ dông dài. Vậy đã tường cách thức chưa?
Xin cô làm ơn chỉ bày cho thêm thông thoáng ạ.
Được. Sau cánh cửa nầy là căn buồng hẹp. Trước thì người ta bày lắm tạp chí nhưng kết quả chẳng mấy khả quan, mất thời gian nên giờ đây anh sẽ thấy một cái màn hình mỏng treo trên vách. Có hai cái nút ghi số 1 là phim của Trung Quốc, số 2 là của Liên Xô. Có hủ nhựa để chứa tinh trùng, đồng thời tôi vừa kiểm tra xong là cuộn giấy vệ sinh vẫn còn nhiều. Quy định thời gian là nửa giờ. Có gì thắc mắc?
Không có phim của nước nhà?
Có đấy, nhưng bọn đàn ông đi hiến tinh trùng phản ảnh rằng chúng không đạt chỉ tiêu, nguội ngơ nguội ngắt. Thôi vào đi, sau anh còn khối thằng đợi đến phiên.
Điện “có phận sự” mới mở cửa phòng. Diện tích chỉ nhỉnh hơn xà lim chút tẹo. Thay vì những chấn song sắt, bức tường đối mặt được lắp ráp cái màn hình sẵn sàng phục vụ những thước phim đồi truỵ dâm ô vượt chỉ tiêu. Chúng kháo nhau, phim Trung Quốc có con bé đẹp như tài tử Củng Lợi nhưng vòng số một thấy não nề. Liên Xô thì thuở nào giờ vẫn rất bảnh, đồng hồ còn tốt hơn cả Thuỵ Sĩ cơ mà và em tài tử trong đó cứ ngỡ như tay vợt banh nỉ nổi tiếng Maria Sharapova giao hoà với Anna Kournikova đang diễn sâu trên giường thay vì trên sân tennis.
Tóc đen thì quen mắt ngó cho nên Điện nhấn nút số 2. Tóc vàng sợi nhỏ mới sướng rên mé đìu hiu chứ lỵ! Điện cởi giây thắt lưng cho cái quần rơi xuống dưới ống chân, mở nắp hủ nhựa đặt ở tư thế sẵn sàng. Người ta đã cài đặt sẵn thứ lập trình thành ra chẳng thể điều chỉnh âm thanh khuyếch đại. Nghe chúng rên e chẳng đã tai bằng lời thoại thật dâm ô, đó là lý do Điện thích xem phim nước nhà. Ui, sướng quá mạng, chơi em liền đi anh, đừng mau nóng chóng nguội nghen, đừng tuột xích giữa đường hén. Ui, mạnh nữa đi cưng…
Ngoài phòng có tiếng gõ cửa ngay sau khi đoạn phim ngưng chiếu, màn hình đen thui. Bà y tá phốp pháp xuất hiện đảo mắt thăm chừng, hai tay bà đã mang găng cao su. Sao lại thế? Bà hỏi khi trông thấy cái hủ nhựa còn trinh nguyên. Anh quan hệ, anh làm chuyện đó đã bao lâu rồi? Trên bảo dưới không nghe à?
Điện không trả lời, đưa tay chỉ vào vuông giấy có bọc nhựa đóng đinh sát bên màn hình. Giấy đỏ, chữ vàng: “Muốn hiến tinh trùng phải trung thành với Đảng”.
Điện bước ngang qua băng ghế đợi, có thằng tướng tá bặm trợn kiểu người quen lăn lộn ngoài giang hồ hỏi thăm: Mát mắt không đại ca, có dễ khóc ngoài biên ải không anh hai? Hắn cười hềnh hệch: Giải trí kiểu này thì nên xem là danh chính ngôn thuận nhỉ? Nhà nước cần đầu tư nhiều phim con heo vào mới dân giầu nước mạnh được…
Ông nội em tuy con nhà võ nhưng không biết món Cửu Chỉ Thần Công. Bà nội em cho hay: Sở dĩ đếm lui đếm tới trên hai bàn tay của ông chỉ có chín ngón là tại vì thời trai trẻ ông mắc phải lỗi lầm với đại ca, tự cắt rời ngón út gói vuông vắn trong khăn trắng để thế một lá thư ăn năn, xin tha thứ, xin xoá bỏ giùm những vụng dại nhỡ mang.
Họ ngồi trong một quán ăn. Họ tính đi lên chùa nhờ vị sư già thông hiểu thuật tử vi tướng số định giúp cho họ ngày lành tháng tốt để an tâm in thiệp cưới tựu thành cơn mộng uyên ương liền cánh. Chỉ ngốn mới một phần ba đoạn đường thì trời đổ mưa, thứ mưa giông tuỳ tiện rơi mà chẳng cần đưa biểu hiện nhằm thông báo trước. Mây đen vụt qua, thoáng chốc trên cao biết bao thùng nước đồng loạt dội xuống, thịnh nộ, hung hãn, vuốt mặt không kịp. Họ tạt vào quán vắng trú mưa. Mái tôn thấp nghe vũ lượng rầm rộ trong khi giữa trủng ngực người con gái, sự ướt át phập phồng từ tốn bốc hơi, khô dần sứa vải ép sát thịt da. Khi đợi thức ăn mang ra, người con gái có kể qua một chút gia phả giòng họ mình cho tình nhân nghe. Dù gì thì cô được sinh đẻ và lớn lên ở Quy Nhơn, vùng đất mà người tình cô thắc mắc: Chả rõ con gái bây chừ có còn biết “cầm đao nhảy ngựa múa roi đi quyền”?
Lạ lắm nghe. Người con gái nối lại mạch chuyện ngắt rời. Đến khi ba em vào tuổi mười tám ông cũng chịu thương tật ở tay. Má em nói: Ba mày sợ cầm súng ra chiến trường nên ổng “tự xử” rồi nguỵ tạo rằng do bất cẩn, chỉ là tai nạn nghề nghiệp. Ông giở hạ sách chơi đòn hy sinh để trốn lính.
Tình nhân đưa tay qua rờ rịt những ngón bút tháp của người yêu. Anh giả bộ làm con nít ngu ngơ học việc đếm số: Một hai ba bốn năm. Anh vuốt ve cho tới hồi giải xong bài toán cọng, chấm dứt bằng số mười. Điều mà anh hân hoan chẳng phải bởi sự toàn vẹn có ở đôi tay ngọc ngà kia, anh tự hào vì ngón số chín nuột nà của cô có tròng vào chiếc nhẫn vàng hai chỉ. Nó tựa thứ giấy chứng minh ngầm thông báo hoa đà có chủ, thằng nào ngó thấy hẵng phải e dè đôi phần bỏ thói ghẹo nguyệt giỡn hoa.
Nhẫn này của má em cho, cho thêm sợi dây chuyền và đôi bông tai nhằm chưng diện trong ngày trọng đại. Má em nói vàng Kim Thành lúc xưa tốt hơn vàng bi chừ. Hơn hai lượng “đánh” ra được ba món đủ bộ sậu. Nhà em đâu có tài sản gì ghê gớm vậy chứ cũng nằm trong diện tư sản bị uýnh tối tăm mặt mũi một dạo xấc bấc xang bang.
Họ ăn hủ tiếu Mỹ Tho uống cà phê sữa nóng chẳng rõ gốc gác. Cứ lần khân trong quán rỉ rả cho tới hồi mưa dứt hạt. Người con gái mở khăn mù-soa, không phải dùng nó lau miệng mà để lôi ra mấy tờ giấy bạc nhắm chi trả thức dằn bụng cho cả hai. Chiếc xe gắn máy Honda chính hãng và chính chủ dựng ngoài bậc thềm cũng do cô đứng tên, người tình giữ chìa khoá và anh ta chỉ có một việc là đóng tròn vai người lái xe ôm. Anh ấy luôn dẻo miệng “mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua”. Tuy việc trèo đèo vượt suối nọ đâu có hóc hiểm giống thuở xa xưa. Phẻ re, nào cam go gì, nhưng nghe ảnh ví von, cái bụng cũng thấy thinh thích. Ôm thật sát sao rồi thích thú hô hoán: Tới luôn bác tài.
Cha cô từng “lời thật mất lòng”: Tao chẳng hiểu nó có cái quái gì để mày đâm phải lòng. Mày tuy không chim sa cá lặn nhưng nào phải hạng đui què mẻ sứt cho cam. Gấp gáp làm chi, cứ thong thả ắt sẽ gặp chán khối thằng ngon cơm hơn nó! Cô dằn lòng, suýt vọt miệng: Ảnh biết làm thơ đó tía!
Má cô xem chừng trong héo ngoài tươi: Hồi đó má cũng dại khờ y vậy mới lấy ông chín ngón làm chồng, cuống quýt đẻ ra mày. Ai có ngờ đâu, mày chính là phó bản của má, như hai giọt nước. Giọt nước cuối làm tràn ly, đã lỡ trao thân cho nó, đã lỡ mang bầu chịu tiếng thì thôi đành lấy mẹ nó cho xong, tần ngần để bụng phình to đâm xốn con mắt chúng sanh ưa ngứa miệng tán hươu tán vượn này nọ. Mày lớn bộn bề chớ đâu còn ngây thơ gì nữa, mày dư sức qua cầu chuyện suy tính thiệt hơn. Mai này tụi bây có cạp đất thì chớ trách cha mắng mẹ. Ở ngoài đời lắm khi quân sư cũng bó tay thất nghiệp đâu biết cách bày binh bố trận. Quân sư như tao đây thiệt mất linh! Còn trông mong chi mà hưỡn đãi!
Việc gì tới rồi cũng phải tới. Không lâu sau bữa ra mắt quan viên hai họ được đăng ký tổ chức trong một cái sạp thuê giữa vuông đất trống có che chắn những tấm ny-lông xanh đỏ y như một gánh cải lương đang lưu diễn, nương nhờ cắm dùi, hai nhân vật chính liền xuống sáu câu lâm li tượng hình bằng một hài nhi chào đời tắp lự, ngôn ngữ đời thường kêu bằng “ăn cơm trước kẻng”. Hài nhi có biệt tài cất tiếng khóc rất to, dài hơi, nấc cục, mặt tím tái, tay chân run rẩy quờ quạng cào cấu vào hư không. Ông nội bây bi bình phẩm: Thằng này lớn lên e đi hát karaoke cho mấy cái đám cưới thuê bao mà chẳng cần nắm micro, bi đát hơn anh ca sĩ nghiệp dư hôm nào lên bục diễn bài Tâm sự loài chim đa đa. Coi cái bản mặt kìa, lạ hoắc lạ hươ giống như người ngoài hành tinh!
Làm mẹ buộc phải bênh con, cô ôm giọt máu biết ngu ngoe động đậy vào lòng vạch áo lên nhét đầu vú cho miệng nó chút chít bú, mút, măm: Ba nói khó nghe quá, siêu sao bóng đá đẳng cấp như Ronaldo, CR 7 cũng được dân mình ví là người ngoài hành tinh vậy. Và Rô nan đồ thì đẹp trai phát khiếp!
Vậy chớ ông già nó đi đâu hổm rày tao hổng thấy? Dạ, ảnh kêu đi buôn nhằm đắp đổi thêm sở hụi có đồng ra đồng vào. Nội thôi nhìn vào mặt cháu: Tao ù tai khi dân tình tám chiện là hắn biết làm thơ? Vậy thì hắn có nghe ngoài Hà Nội từng bày trò thả thơ lên trời đậm đà bản sắc hai câu này chưa: “Đêm ôm vợ thấy lòng giật thót, thương con thuyền đầu bãi đứng bơ vơ”. Để tao xem mày bơ vơ tới hồi nào mới chấm dứt. Con rể kiểu gì kỳ cục quá mạng! Mày rầy la nó một bận thử xem nó có biết giật thót không?
oOo
Người đàn ông ăn chưa hết tô thì ngoài quán Phở Quát có ba cậu thanh niên chống xe máy bước vô, mang theo tất cả vẻ bặm trợn. Chỉ ngó qua đã ngửi thấy tình hình coi mòi không êm, lạnh cẳng. Tuy thương hiệu là phở quát nhưng sự xuất hiện đường đột của ba đấng coi trời bằng vung nọ đã khiến không khí trong quán quánh lại, lặng ngắt, có thể nghe ra tiếng đập cánh của đám ruồi xanh đang bay chập chờn, vô ngại, hơi bị vô tư. Chốn này, ruồi chê rác, ruồi thích giỡn mặt người.
Phải thằng này không đại ca? Một đứa chỉ mặt ông thực khách ngồi mình ên. Tái nạm gầu, sợi phở lòng thòng, ngò gai húng quế vẫn nằm giữa hai hàm răng, chưa đay nghiến, nguyên trạng. Nhai gì được, chỉ mong nuốt trôi “sự cố” ngồm ngoàm. Một đứa khác nói: Thưa ngài, có phải ngài là nhà thơ mang bút hiệu A Còng không ạ? Người bị điểm danh thôi phồng má trợn mắt, bỏ đũa xuống, láo liên thăm dò đối tượng lẫn ngoại cảnh. Cảnh này xa quê cũ những năm tiếng đường chim bay, nắng không có vậy mà chạy trời cứ không khỏi. Nếu ta làm thơ nổi danh như cồn thì kẻ sính thơ đã không hỏi kiểu mấy dạy tựa thế. Hết phở quát đến hỏi quát ư? Tình ý gì, chỉ toàn cả răn đe doạ dẫm!
Đứa được cả hai gọi là đại ca dáng vẻ rất mực bình thường, trông sáng lạng như sinh viên là đằng khác, chỉ bất thường ở chỗ da thịt đều xăm trổ đầy đặc chẳng chừa một phân ly, dị hợm, chả dám đặt mắt nhìn đểu. Mặt hắn nom hiền từ đến lạ, một sự hiền dễ gây ngộ nhận chết người. Hắn có nét phảng phất giống ai đó, tạm thời chưa rảnh trí để nhớ ra. Thuỷ chung từ khi bước vào nơi xa gió bụi, hắn vẫn đứng vòng tay. Và hắn lên tiếng khi xét thấy đã đến lúc: Tôi mà như ông thì việc đầu tiên là đem luộc chiếc xe kia trước, phi tang. Hắn nói thong thả với chất giọng đậm đặc của con dân Bình Định : Ngoại hình, kiểu dáng, màu sơn, bảng số xe ấy là riêng chị tôi đứng tên sở hữu lấy. Chị tôi ngất lên xỉu xuống khi nghe má kêu trời không thấu, bị cạy tủ lấy đi tám lạng vàng, năm trăm đô la, chín mươi chín triệu đồng, máy tính bảng và cái di động iPhone 7. Sao, phở ở đây có ngon miệng không? Cớ mần răng chẳng kêu thêm bia cho hào sảng việc phung phá?
Thực khách miệng láng lườm cả mỡ gióng được câu hỏi: Anh là ai? Từ khi quen với Thị Bình, từ lúc lập gia đình, từ hồi ở rể tôi nào có nghe ai kể là vợ tôi có cậu em trai…
Đại ca cười trong cổ: Ở đời thường người ta luôn tốt khoe xấu che, thằng Cẩu này lưu lạc giang hồ từ nhỏ, nhân thân xấu xa rất mực, hắn quen sinh hoạt đầu đường xó chợ hoặc vào đồn ra khám như cơm bữa nên mọi người, dù cật ruột chẳng ai dại dây tới hủi, nhắc đến thêm hổ thẹn những muốn đoạn lìa lánh xa.
Một tên đàn em lộ vẻ bất bình: Vậy chứ đến hồi gặp hoạn nạn, chẳng nhờ đến bọn hủi như chúng mình thì lấy đâu mà dò ra thằng cùi tâm địa xấu xa ấy. Xử nó lẹ đi anh Cẩu à. Cho nó biết giang hồ vẫn còn một thứ gọi là công đạo.
Điện thoại trong túi quần nhà thơ A Còng chợt réo kêu từng hồi. Đại ca Cẩu biểu: Hãy trả lời kẻo người ta đợi người ta chờ người ta mong… Diện mạo hắn trông hiền từ là thế mà sao khi nói, lời lẽ chừng mang nhiều uy lực. Trên ra chỉ thị, dưới e nên chấp hành nghe theo. A lô. Ừ, thì anh cũng định gọi cho em… Anh ngồi ở phở quát, nhưng em đừng lại, giải quyết việc này xong anh sẽ đến nhà nghỉ đón em…
Đại ca tính sao? Bọn mình hành động thường theo phương án đánh nhanh rút gọn. Để em xin nó chút huyết nhé? Có máu chảy ra cũng giống như một món ăn chơi trước khi nhập tiệc chính, nôm na là khai vị.
Cái rõ ràng không tốt do phở mang lại cho đứa xơi phải là mồ hôi mồ kê tự dưng tuôn ra hột nhỏ hột to, chảy thành dòng. Nhưng điểm nổi bật là khi ăn phở, dù chưa xong, nó giúp người húp đâm sáng dạ. Những đứa chán cơm thèm phở thường lương lẹo giỏi đặt điều nguỵ biện chối bay chối biến là một ví dụ. Không kịp xỉa răng A Còng liền uốn lưỡi: Nếu anh Cẩu đúng là em của chị Bình thì rõ là mình như người cùng một nhà. Tôi là người luôn phục thiện và ai trong chúng ta mà không từng mang phải lỗi lầm. Khi đã lâm vào trường hợp hết đối thoại thì khi ấy có thượng thủ tay hạ cẳng chân cũng chưa muộn, đan tâm nào mà nỡ lòng xin tí huyết?
Tốt, vào trả tiền cho chủ quán lẹ lên không thì bị quát đấy. Xong thì chúng ta về nhà nghỉ nơi có con bò lạc đang nóng lòng. Hiện kim tài sản của má tôi anh lỡ phung phí tới ngang đâu? Thằng Cẩu này sẵn lòng chừa cho anh một con đường nhắm tới chiêu hồi. Muốn thế buộc lòng tôi phải tiện đi một ngón tay của anh làm bằng cớ mang về trình má tôi. Ông nội cũng như tía tôi nào có ai lành lặn đâu, chớ vội ú tim thót ruột. Đồng hội cùng thuyền thì e dễ thông cảm cho nhau.
Khi thông cảm người ta thường xí xoá “chín bỏ làm mười”. Anh Cẩu hết cách chơi rồi sao?
Cách mà Cẩu này muốn là nhằm đổi ngược lề thói cũ: Mười bỏ làm chín. Tại mười sinh sự, tại mười gieo rắc thương đau cho kẻ khác đấy thôi. Cẩu mà có máu lạnh thì sẽ ngôn: Mười bỏ làm tám. Nên mừng vui vì hoạn nạn ấy quá nhỏ nhoi. Nhà nghỉ ở đâu?
Bữa ăn sáng của chúng tôi chấm đứt, khi mặt trời đã lên cao. Cúc nói.
-Bây giờ em sẽ đưa anh đi trình diện bà tổ trưởng dân phố.
Tôi cười đùa.
-Em dùng chữ làm anh nhớ lại chuyện ngày xưa, khi mới tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức, sau đó về trình diện Trung tá trưởng phòng nhân viên Trường Võ Bị Đà Lạt.
Cúc chậm rãi nói.
-Giải phóng rồi, hiện tại giai cấp nông dân, công nhân, đang làm chủ đất nước. Tin em đi, ông Trung tá Ngụy Trưởng phòng của anh, cho dù trước kia có tốt nghiệp Cao học hay Tiến sĩ ở Hoa Kỳ, hôm nay nếu học tập tốt, được thả về sớm, cũng phải chịu sự giám sát của bà tổ trưởng dân phố, phải trình diện bà ta như thường.
Nhà bà tổ trưởng cách nhà tôi có mấy căn, mới đi ba bước đã tới. Bà tổ trưởng đang ngồi vo gạo, khi thấy tôi và Cúc, bà nói.
-Cô cậu ngồi chơi, chờ tôi bắt nồi cơm lên bếp, chỉ chút xíu thôi.
Nói xong bà ngoắt một đứa bé, hình như là con của bà tới gần, nói nhỏ vào tai nó. Đứa bé gật đầu rồi quay lưng đi.
Một chút xíu của bà tổ trưởng, vậy mà cũng hơn mười lăm phút dài cổ chờ đợi của tôi. Hình như muốn chứng tỏ mình là nhân vật quan trọng, nên bà tổ trưởng cứ nhẫn nha vo gạo, từ tốn chẻ một đống củi đủ dùng cho vài ngày, nhen bếp lửa, chậm rãi bắt nồi cơm lên. Xong xuôi mọi việc bà mới quay sang nói chuyện với chúng tôi. Cũng cùng lúc ấy hai người đàn bà lạ mặt bước vào. Thấy họ, bà tổ trưởng vội giới thiệu với tôi.
-Đây là bà tổ phó và bà tổ phó an ninh.
Theo sự giải thích của bà tổ trưởng, tôi biết thêm về nhiệm vụ và trách nhiệm của từng người. Công việc của bà tổ phó an ninh coi vậy mà quan trọng nhất, bà ta phải tốn nhiều công sức truy tìm và phát hiện những phần tử phản động, chống đối Cách mạng, còn chưa ra đầu thú. Sĩ quan Ngụy như tôi, sau khi được trả tự do về lại địa phương, sẽ do bà tổ phó an ninh quản lý. Đến đây, bà tổ phó an ninh mới lên tiếng với tôi.
-Trong thời gian quản chế tại địa phương, cậu phải tuân hành theo tất cả những điều lệ mà ở trên đưa xuống. Cậu phải có một cuốn tập khoảng một trăm trang để ghi chép những công việc làm từng ngày, mỗi buổi sáng vào lúc bảy giờ, đem tập vở qua nhà tổ trưởng xin chữ ký đi làm lao động. Khi đến nơi làm, phải xin chữ ký của tổ trưởng nơi đó, lúc về phải có chữ ký cho phép về. Khi đến nhà phải đem sổ qua tổ trưởng ký xác nhận đã trở về. Nói một cách gọn gàng dễ hiểu, là một ngày cậu cần ký vào sổ bốn lần. Một tuần, cậu phải viết bản tự khai, nói rõ ràng là đã làm gì trong tuần, cuối tuần đọc bản kiểm điểm trước tổ dân phố, sau đó đem nộp cho công an khu vực. Một tháng một lần, trình diện và đọc bản kiểm điểm với công an khu vực.
Cuối cùng bà tổ phó an ninh hỏi tôi, giọng nói như là mẹ dạy con.
Hình minh họa
-Cậu đã nhớ rõ chưa?
Tôi lật đật đáp.
-Thưa bà rõ.
Sau khi đã lên lớp, dạy dỗ tôi đủ mọi điều, cả ba bà sếp đều hứa là sẽ hết lòng giúp đỡ tôi trong thời gian quản chế.
Dĩ nhiên tôi phải cảm ơn tấm lòng tốt của ba người, xin hứa sẽ thi hành đúng mọi lời chỉ dạy.
Xong chuyện ra mắt bộ ba tam đầu chế, Cúc dẫn tôi đi trình diện công an khu vực ở phường. Gã công an khu vực của tôi, mặt mày non choẹt, trong bộ quân phục màu vàng pha chút hồng nhạt, dạy cho tôi một mớ luật lệ mà tôi phải tuân thủ trong thời gian bị quản chế. Sau nhiều lần vặn hỏi, biết tôi đã thông suốt mọi chuyện, gã công an khu vực nói.
-Còn nữa, ngoài việc phải chấp hành tốt mọi quy định khi bị quản chế, anh còn có bổn phận phải báo cáo với chính quyền Cách mạng, khi biết được những ai còn lẩn trốn, chưa chịu trình diện học tập, hoặc những tổ chức phản động của Ngụy còn cài lại. Nhớ chưa?
Tôi lẹ lẹ nói.
-Nhớ.
Hình như thấy tôi thuộc dạng dễ dạy, gã công an khu vực bèn phán một câu đầy ân huệ.
-Buổi làm việc hôm nay đến đây đã tạm đủ, cho phép anh về nhà nghỉ ngơi.
Bước chân ra khỏi phường, tôi biết rằng mình đã hoàn tất mọi thủ tục của một sĩ quan Ngụy bị quản chế, sau khi học tập cải tạo được thả về.
Trong lòng nhẹ nhàng, thoải mái, tôi cười với Cúc.
-Quán cà phê của chị Huệ ở đường Phan Bội Châu, có còn không em?
-Vẫn còn, mà anh hỏi làm gì vậy?
-Tụi mình tới đó làm một ly cà phê để nhớ lại những ngày xưa yêu dấu, nhớ ngày đầu tiên anh dẫn đào đi cà phê.
Cúc cười với vẻ mặt tràn đầy sung sướng.
-Kể ra ngày xưa em cũng khá là dễ tính, vô quán cà phê với kép mà ngồi ghế đẩu, uống cà phê trong cái ly xây chừng, gặm bánh mì. Thực lòng mà nói, với khung cảnh quá bình dân của quán tuy có hơi xa lạ với em, nhưng mà… nhưng mà… em nhớ hoài.
Khi thấy tôi chị Huệ cười, vẫn là nụ cười của ngày xưa đầy vui vẻ, thân thiện.
-Trung úy mới học tập về. Ủa mà sao về sớm dữ vậy. Chưa thấy ai được thả hết mà.
Tôi than với chị Huệ.
-Bộ chị muốn em ở tù mút chỉ cần câu máy hay sao. Mà nè, chị đừng có gọi em là trung úy, tụi nó bỏ tù em nữa bây giờ.
Tôi quay sang Cúc, miệng nói với chị Huệ.
Hình minh họa
-Đây là vợ em, chị nhớ Cúc không?
Chị Huệ lắc đầu, nói mà như ghẹo Cúc.
-Mấy cô khác thì tôi nhớ.
Tôi nói với chị Huệ.
-Em được thả về mới có ba ngày, người đầu tiên mà em đến thăm là chị, nói như vậy để chị biết là em quý chị như thế nào.
Vừa dứt lời, không để cho chị Huệ nói lên ý kiến của chị, tôi vội tiếp.
-Cho em hai ly cà phê sữa nóng, thêm một cái hộp quẹt.
-Hút thuốc hả?
-Dạ không, để chị đốt nhà em luôn cho tiện đó mà.
Quán của chị Huệ bàn ghế thấp lè tè, ghế đẩu nhỏ xíu, cà phê túi vải. Quán cà phê bình dân đến mức khó có cái quán nào bình dân hơn. Tôi hỏi chị Huệ.
-Sao vắng khách quá vậy chị?
-Trưa rồi nên ít người uống cà phê, hơn nữa…thời buổi khó khăn, kiếm được đồng tiền cũng hơi khó.
Tôi và Cúc chọn một cái bàn bên ngoài quán, nhìn ra đường Phan Bội Châu. Đường phố vắng hoe, người đâu không thấy, chỉ thấy dăm ba chiếc lá vàng khô không biết từ đâu lạc lõng tới đây. Mấy chiếc lá theo từng cơn gió nhẹ, đuổi nhau chạy trên lề đường phát ra tiếng kêu xào xạc nho nhỏ, tựa như tiếng thở dài buồn bã của buổi trưa hè Đà Lạt. Tôi ngồi đó mà lòng chừng như trống rỗng, đưa mắt nhìn về hướng khu Hòa Bình. Một người đàn bà quần áo lam lũ đang đi về phía chúng tôi, theo sau là người đàn ông áo vá vai, quần sờn rách, chân mang dép râu, vai gánh hai cái bao may bằng vải xám, cột túm miệng.
Tôi nói với Cúc.
-Giải phóng rồi vợ lên làm chủ, anh chồng coi bộ hơi mệt.
Cúc nhìn họ một lúc rồi nói.
-Không phải là vợ chồng đâu, ông đi sau là người gánh thuê. Mấy tháng gần đây, em biết dưới chợ có một chỗ xay bắp thành bột, những người gánh thuê thường đứng ở đó, họ gánh bột bắp về nhà cho những ai mướn họ.
Tôi thắc mắc hỏi Cúc.
-Nếu không có xăng để chạy Honda thì dùng xe đạp để thồ cũng được vậy, tại sao phải gánh.
Cúc nói mà như than giùm cho họ.
-Anh tưởng xe đạp rẻ lắm sao, thời buổi này người dân cơm không có ăn, áo không có mặc, lấy tiền đâu ra mà mua xe đạp.
Khi hai người nọ đi qua trước quán, tôi nhìn người đàn ông đang còng lưng gánh hai cái bị, trong đó có thể là bột bắp. Nhìn gương mặt thông thái của ông ta với cặp kính cận, thêm thân hình dong dỏng cao, một tia chớp chợt lóe sáng trong đầu của tôi. Bỗng dưng tôi cảm thấy xốn xang trong lòng, cả một quá khứ xa xưa tưởng chừng đã chìm sâu vào dĩ vãng, nay đột nhiên lũ lượt kéo về. Đúng là thầy Hạnh của tôi rồi. Năm tôi học đệ lục, thầy dạy Anh văn cho lớp tôi. Năm tôi học đệ nhất ông là thầy dạy Anh văn của tôi thêm một năm nữa. Cuối năm đó, tôi đậu tú tài hai, tuy đã đậu phần thi viết nhưng vẫn còn một cửa ải chót cùng phải vượt qua, đó là phần thi vấn đáp môn Anh văn.
Hình minh họa
Thầy Hạnh là giáo sư trực tiếp khảo bài tôi. Sau chừng dăm ba phút đọc một đoạn văn mà thầy chỉ định trong sách, tiếp theo đó là phần hạch hỏi bằng tiếng Anh, cuối cùng thầy nhỏ giọng chỉ đủ cho tôi nghe hai chữ “Very good”. Hai chữ này gián tiếp nói cho tôi biết là mình đã đậu. Và đó là lần cuối cùng tôi gặp thầy.
-Anh làm gì mà ngồi thừ người ra vậy?
Giọng nói của Cúc kéo tôi về với thực tại. Tôi nói với Cúc, giọng không được vui.
-Em biết người đàn ông gánh thuê đó là ai không?
-Ai vậy anh?
-Thầy dạy Anh văn của anh, thời anh còn học Trung học Trần Hưng Đạo. Ông đã từng du học ở Anh mấy năm, không biết tại sao lại ra nông nỗi này.
Cúc nói.
-Anh ở tù hơn một năm, trong thời gian đó có nhiều đổi thay ở bên ngoài mà anh không biết. Bây giờ ở Việt Nam người ta học tiếng Liên Xô, tiếng Tàu, Anh ngữ là ngôn ngữ chết. Những bậc trí thức khoa bảng đã từng du học bên Anh, bên Mỹ, đều bị liệt vào thành phần do CIA Mỹ gài lại. Thân phận của họ cũng giống như sĩ quan Ngụy, còn được nhà nước cho đi gánh thuê, vác mướn như thầy của anh, là may mắn lắm rồi.
Cúc nhìn quanh rồi nhắc tôi.
-Uống cà phê đi anh, mình còn phải đi về. Em biết anh muốn gì rồi, mai em sẽ có cách giúp cho thầy của anh.
Tôi hơi ngạc nhiên.
-Anh có cảm tưởng là em đi guốc trong bụng anh.
Cúc mỉm cười.
-Nhìn gương mặt buồn buồn của anh khi nói về ông thầy là em biết rồi.
-Anh muốn giúp thầy anh chút tiền.
-Đừng có hành động điên rồ, ông ấy dám đem thân làm thuê, gánh mướn, thì ông cũng dám cho anh vài cái bạt tai. Anh không nhớ câu “Sĩ khả lục, bất khả nhục” hay sao.
Cúc trả tiền cà phê rồi nắm tay tôi kéo đi.
-Ngày mai tụi mình xuống chợ, chỗ máy xay bắp gặp thầy. Anh cứ yên tâm, chỉ cần nói cho em biết thầy của anh tên gì, mọi chuyện còn lại để em lo.
Tôi bưng ly cà phê nốc một hơi. Mới ở tù ra, cà phê sữa túi vải vẫn còn thơm lừng, ngọt lịm.
Trước khi rời khỏi quán, tôi nói to với chị Huệ, tiếng nói xuất phát tự đáy lòng.
-Cà phê ngon quá sá.
Một ngày sống trong xã hội dân sự, trôi qua trong an lành.
Hình minh họa
Buổi sáng, tôi và Cúc ở nhà ăn sáng cho đến gần tám giờ mới xong, sau đó tôi đi qua nhà bà tổ trưởng đưa cuốn sổ “nhật ký đời tôi” dày một trăm trang cho bà tổ trưởng, xin phép bà cho đi làm lao động. Khi có chữ ký rồi, tôi và Cúc dẫn chiếc xe đạp của thằng Tý ra khỏi nhà. Hôm nay tôi chở vợ đi làm vườn ở ngoài Đa Thiện. Trước khi đi, với tính lo xa, tôi hỏi Cúc.
-Để con ở nhà với chị Hai có sao không? Anh thực lòng không an tâm chút nào.
Cúc trấn an tôi.
-Anh đừng quá lo lắng, chị Hai là người rất cẩn thận, chị chăm sóc con bé còn tốt hơn em nữa. Hôm nay mình chỉ ra thăm vườn để cho anh biết mặt ông tổ trưởng và tổ phó an ninh là sếp mới của anh, nơi anh làm lao động. Còn tất cả mọi chuyện ngoài vườn đã có người lo hết rồi. Mai mốt anh ra vườn, chỉ cốt để lấy chữ ký của hai ông sếp mà thôi.
Tôi đạp xe chở Cúc dọc theo đường Phan Đình Phùng, đến ngã ba chùa, chúng tôi đẩy xe lên con dốc dài và cao cho đến tận cổng trường Bùi Thị Xuân. Bắt đầu từ đây là xuống dốc cho đến ngã năm Viện đại học. Xe đang chạy ngon trớn, bất ngờ Cúc vỗ nhẹ vào lưng tôi.
-Tụi mình đi làm vườn chớ không phải đi học đâu, anh nhớ rẽ trái theo hướng Đa Thiện, rồi chạy thêm khoảng hơn một cây số, bên phải có con đường đất, xuống dốc khoảng một cây số nữa là tới vườn của mình.
Tôi đứng nhìn mảnh vườn mà lòng ngao ngán, cỏ dại mọc đầy lối đi giữa hai luống rau, có nơi cỏ còn tốt hơn cây bắp sú. Gì chớ chuyện làm cỏ là nghề của tù cải tạo, với hơn một năm kinh nghiệm trong nghề, tôi hăng hái nói với Cúc.
-Kể từ ngày mai, anh sẽ bắt đầu dọn sạch cỏ trong vườn.
Cúc nhỏ nhẹ nói với tôi.
-Anh à, mục đích của mình là trốn chạy, mục tiêu của mình nằm bên kia bờ Thái Bình Dương. Mảnh vườn này chỉ là tấm bình phong che chở cho gia đình mình trong cơn bão dữ mà thôi. Cỏ dại nhiều hay ít không thành vấn đề.
-Em nói đúng, nhưng mà đã ra đến đây rồi thì em cũng để cho anh lăn lóc bụi đời với cây cỏ cho có vẻ nông dân chút xíu.
-Theo em nghĩ thì anh nên tìm một anh thợ máy, chuyên về động cơ nổ để học nghề. Nay mai giữa trùng dương bao la bát ngát, con tàu chở mình có bị trục trặc về máy móc, mình còn biết đường mà xoay xở.
Tôi đồng ý với Cúc, không nói thêm gì nữa.
Cúc dẫn tôi tới nhà của ông tổ phó an ninh để xin chữ ký vào sổ nhật ký của tôi. Vừa gặp ông ta, Cúc vội nói.
-Ngày mai, nhờ ông làm bớt cỏ trong vườn giúp tôi, tiền đổi công, vần công bao nhiêu cứ cho tôi biết, tôi sẽ trả đầy đủ.
Nghe Cúc nói chuyện, tôi cười thầm trong bụng, đã gọi là đổi công mà trả bằng tiền, thì ra trong Xã Hội Chủ Nghĩa người ta luồn lách, tránh chữ làm thuê, cuốc mướn.
Ông tổ phó an ninh tươi cười nói với Cúc.
-Cô khỏi lo, tôi sẽ dọn cỏ sạch sẽ.
Cúc chỉ tôi rồi nói.
-Xin giới thiệu với ông tổ phó an ninh, đây là chồng của tôi học tập cải tạo vừa được nhà nước cho về, hiện còn đang bị quản chế. Sau này, mọi thứ giấy tờ chứng thực của chồng tôi khi đi làm vườn ở đây, xin ông tổ phó giúp đỡ cho.
Hình minh họa
-Cô yên chí, có qua có lại, tôi sẽ hết lòng giúp cô.
Thấy ông tổ phó cũng thuộc hạng dễ tính, tôi lên tiếng.
-Thưa ông tổ phó, ở Đa Thiện ông có biết trung úy Ngụy tên Hoàng, đi học tập cải tạo và được nhà nước khoan hồng cho về cách đây mấy tháng trước không?
-Có phải cái ông bị cắt cổ, thọc cái ống nhựa vô để thở, đúng không?
Tôi mừng rỡ.
-Dạ đúng rồi.
Giống như bị chạm trúng chỗ ngứa, ông tổ phó an ninh xổ ra một tràng.
-Kể ra mấy tay bác sĩ Ngụy cũng giỏi thiệt, ở trong tù không có dụng cụ, không thuốc men, mà dám làm chuyện động trời như vậy, tôi cũng xin cúi đầu bái phục. Mà cậu hỏi ông Hoàng làm gì?
Sợ ông tổ phó an ninh nghi ngờ, hai tên tù Ngụy khi được thả về là tìm cách liên lạc móc nối với nhau để chống đối Cách mạng, tôi mau lẹ phân trần.
-Thưa ông, ngày xưa tôi học ngang lớp với anh Hoàng ở trường trung học Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Tôi chỉ muốn thăm anh ấy thôi.
-Vậy hả, tôi là tổ phó an ninh, tất cả dân ở Đa Thiện này, từ làng trên cho tới xóm dưới, đều như nằm trong lòng tay của tôi. Muốn tới nhà anh Hoàng phải không? Cậu trở ngược ra đường cái, quẹo phải đi thêm một đỗi nữa tới con đường đất. Hỏi nhà anh Hoàng thì ai cũng biết.
Gặp lại anh Hoàng mà lòng không được vui, tôi biết mặc dù được gia đình chăm sóc đầy đủ suốt mấy tháng trường, nhưng sắc diện của anh vẫn vậy, vẫn ốm như ngày còn ở trong tù. Cái khác biệt duy nhất là vết mổ nơi cổ nay đã liền da, một vết sẹo không được đẹp cho mấy nằm ngay nơi cổ.
Tôi hỏi anh Hoàng.
-Khỏe không bạn?
Anh nhìn tôi với đôi mắt buồn bã, rồi quay người vào trong nhà. Anh dùng tay phải làm dấu hiệu như đang viết, thì ra anh Hoàng đã bị câm và cũng có thể điếc, sau lần giải phẩu cổ ở trong tù và không được chuyển đến bịnh viện cứu chữa. Vợ anh Hoàng, tôi đoán vậy, đem đến cho anh một tờ giấy và cây bút. Sau một hồi hí hoáy viết, anh Hoàng trao tờ giấy cho tôi. Nhìn nét chữ nguệch ngoạc không được ngay hàng thẳng lối. Tôi biết, anh bạn tôi tệ lắm cũng có hai cái bằng tú tài, không thể nào lại viết chữ như gà bươi, quạ mổ, trừ trường hợp anh bị khủng hoảng tâm lý, gây chấn động đến tinh thần. Sau và phút bút đàm với anh Hoàng, tôi cáo biệt ra về, không quên viết xuống tờ giấy mấy chữ sáo rỗng “Chúc bạn và gia đình luôn mạnh khỏe”. Tôi nói sáo rỗng vì biết rằng anh sẽ không còn sống được bao lâu nữa mà vẫn viết “chúc anh mạnh khỏe”. Thực vậy, chỉ vài tháng sau đó, tôi nhận được tin anh Hoàng đã từ giã cõi đời. Tôi biết anh ra đi trong sự đau đớn xót thương vô bờ bến của vợ con.
Trên đường về, khi Cúc đang dẫn chiếc xe đạp lên dốc, tôi lấy tờ bút đàm với anh Hoàng ra, xé bỏ những câu thăm hỏi, chuyện trò. Riêng có một hàng chữ tôi bắt buộc phải nuốt luôn vào bụng, bởi vì với hàng chữ này, tôi và anh Hoàng sẽ bị bắt vô tù cải tạo lại, thậm chí còn có thể xử bắn vì cái tội chống phá Cách mạng. Cúc thấy tôi nuốt mảnh giấy bèn hỏi.
Hình minh họa
-Tại sao anh phải nuốt tờ giấy vậy?
Tôi vói tay dẫn xe cho Cúc.
-Em muốn biết phải không? Nghe xong đừng có sợ, mấy chữ mà anh nuốt vào bụng là “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm”. Chuyện gì khác thì anh không rõ nhưng anh biết chắc một điều, anh Hoàng là một người can đảm có thừa, cương nghị và cứng rắn như một thỏi sắt.
-Tại sao anh nói vậy?
-Em nghĩ như thế nào, nếu tấm giấy đó lọt vào tay mấy tên Công An Cộng sản
Cúc với vẻ mặt lo âu.
-Anh đừng nói với em những chuyện như vậy nữa, em sợ lắm. Bây giờ mình có chuyện khác quan trọng không kém, cần phải làm.
-Chuyện gì vậy em?
-Gần một giờ rồi, anh chở em xuống chợ ăn trưa, lâu lâu mình ăn cơm bình dân một bữa, được không?
Tôi gật đầu.
-Được quá đi chớ, gì chớ chở vợ đi ăn thì anh đồng ý cả hai tay.
Tôi và Cúc mỗi người ngồi trên một cái đòn bé tí xíu, bên cạnh gánh cơm bên hông chợ.
Cúc nói với tôi.
-Sau giải phóng, nhiều gánh hàng rong xuất hiện khắp nơi, nhất là ở quanh chợ, mình ăn cơm nghe anh.
Tôi nói nhỏ vào tai Cúc mà trong lòng đầy hãnh diện.
-Em nên nhớ hơn một năm trường ở trong tù, mỗi bữa ăn của anh chỉ là một chén rưỡi cơm, ăn với muối. Giờ đây nếu được ăn cơm chan nước mắm đã là hạnh phúc lắm rồi.
Chị bán cơm đưa cho Cúc và tôi mỗi người một dĩa cơm tấm. Mới nhìn dĩa cơm tôi đã nuốt nước miếng ừng ực, cơm trắng với bốn năm lát dưa leo rải đều trên mặt, một ít bì xắt sợi nhỏ, thêm một miếng thịt heo nướng cỡ hai ngón tay, đặc biệt là chén nước mắm ngọt với những miếng ớt mong mỏng, đỏ tươi. Tôi ăn cơm mà không thấy ngon, vì đầu óc cứ lởn vởn hình ảnh mấy người bạn tù ốm đói. Cơm nước xong xuôi, sau khi trả tiền Cúc chỉ cho tôi người đàn ông với cặp kính cận trên mặt, đang đứng lớ ngớ bên kia đường, trước chỗ máy xay bắp.
-Phải thầy của anh đó không?
Tôi gật đầu.
Cúc hỏi.
-Thầy tên gì?
-Hạnh.
Cúc dặn tôi.
-Anh đi theo em, nhớ đừng nói gì hết.
Tôi lại gật đầu.
Cúc dẫn xe đạp, đi đến bên người đàn ông.
Hình minh họa
-Thưa thầy, có phải thầy là thầy Hạnh, ngày xưa dạy Anh văn ở trường Trung học Trần Hưng Đạo không?
Vẻ lúng túng hiện rõ trên khuôn mặt già nua, khắc khổ, sau một thoáng do dự, thầy nói.
-Dạ phải, tại sao cô biết tên tôi?
Cúc nói liền.
-Có một anh học trò cũ của thầy, nhờ con trao lại cho thầy chiếc xe đạp này, tuy nó hơi cũ, trầy xước tróc sơn nhưng đây là chiếc xe hiệu Peugeot của Pháp. Nó bền chắc và đắt giá gấp chục lần chiếc xe đạp sản xuất trong nước. Nếu thầy dùng chiếc xe này mà thồ hàng trăm kí gạo, con bảo đảm với thầy muôn đời không sợ hư.
Thầy Hạnh nhìn chiếc xe đạp với cặp mắt sáng rỡ sau cặp kính cận. Đưa tay sờ nắn cái tay lái, lắc qua, lắc lại, một lúc sau thầy nói.
-Tôi biết đây là một chiếc xe đạp tốt, tôi thích nó lắm, nhưng mà, thưa cô… tôi không dám nhận đâu.
Cúc hỏi với giọng đầy vẻ ngạc nhiên.
-Thầy có thể nói cho con biết, nguyên nhân tại sao thầy lại không nhận chiếc xe.
Thầy Hạnh vẫn với giọng nói điềm đạm.
-Chiếc xe quý giá như thế này mà đem cho tôi, cậu học trò của tôi lấy gì mà đi. Hơn nữa, nếu muốn cho tôi, cậu ấy phải có mặt để nhận lời cảm ơn của tôi chứ. Không có cậu học trò, chủ nhân của chiếc xe, tôi không nhận đâu.
Tôi đã đứng yên khá lâu, nghe đầy đủ những lời đối thoại giữa Cúc và thầy Hạnh. Biết không thể nào trốn được nữa, tôi bước lên.
-Thưa thầy con là Quân, học trò của thầy từ lúc con còn học đệ lục. Năm con thi tú tài hai, thầy là người trực tiếp khảo hạch thí sinh về phần thi vấn đáp môn Anh văn. Hôm qua, tình cờ thấy thầy gánh hai cái bị bột khá nặng, sẵn nhà còn dư chiếc xe đạp, vợ chồng con bàn với nhau đem tặng thầy. Hy vọng chiếc xe này sẽ giúp thầy bớt phần nào gian nan, khổ cực.
Thầy Hạnh nói.
-Từ đầu tôi đã ngờ cậu chính là người muốn cho tôi chiếc xe, nhưng tại sau cậu lại giấu mặt.
-Thưa thầy, con nói nếu có gì không phải xin thầy tha thứ. Con sợ thầy mắc cỡ với học trò cũ, khi phải đi làm những việc thấp hèn, nặng nhọc bằng tay chân để mưu sinh.
Thầy Hạnh cười, nụ cười đầy kiêu hãnh.
-Tôi có thừa can đảm đem thân làm thuê gánh mướn, kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình, mà không một chút hổ thẹn với lương tâm. Miễn sao đồng tiền mà tôi kiếm được phải trong sạch là tôi làm. Cậu còn thắc mắc gì về chuyện này nữa không?
Tôi đưa chiếc xe đạp cho thầy Hạnh.
-Thưa thầy con đã hiểu rõ lòng của thầy, bây giờ chắc thầy chịu nhận chiếc xe này rồi phải không?
Thầy Hạnh không nói gì, chỉ gật đầu.
Hình minh họa
Cúc lấy tờ hóa đơn mua xe đạp trong xách tay, trao cho thầy.
-Đây là giấy tờ xe, xin thầy giữ lấy.
Tôi và Cúc chào thầy rồi ra về. Trên đường đi tôi nắm tay Cúc mà lòng sung sướng, nghĩ về chị Huệ, một người bán cà phê túi vải tuy nghèo nhưng hiền từ, thật thà, một ông trung úy Ngụy tên Hoàng cho đến lúc sắp chết vẫn cố viết xuống giấy mấy chữ “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm”, một ông thầy dạy Anh văn, từng du học bên Anh, đã hiên ngang gánh thuê vác mướn để kiếm tiền mưu sinh. Những người này đã đại diện cho một nền Văn hóa Nhân bản của Việt Nam Cộng Hòa. Tháng 4 năm 1975, Cộng sản cướp được miền Nam. Với sự suy nghĩ thiển cận của những người quen sống ở trên cây, lấy cuộc sống hái lượm làm nền tảng, chỉ thấy được giá trị của cuộc sống vật chất như đất đai, nhà cửa, xe cộ, nên họ chỉ lo chở về miền Bắc nào là xe hơi, Honda hai bánh, ti vi, tủ lạnh, quạt máy, mà quên đi khía cạnh tinh thần, quên mất cái gia tài đồ sộ và quý giá nhất của Việt Nam Cộng Hòa là nền Văn hóa Nhân bản. Việc làm này không chóng thì chầy sẽ đưa Đảng Cộng sản Việt Nam và bè lũ tay sai của họ đến chỗ diệt vong.
Con người đã có mặt trên trái đất hàng triệu năm, dân tộc Việt Nam với bề dày của bốn ngàn năm văn hiến, so với một trăm năm hay hơn thế nữa dưới ách đô hộ của Cộng sản, thì khoảng thời gian này chỉ là một giấc ngủ đầy ác mộng mà thôi.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.