Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Chương 2
Hà Nội Đánh Phá Uy Tín Của Sài Gòn

– “Là một người Việt Nam, tôi đã có biết qua cách xử sự của ông Henry Kissinger trước họ rồi , nên tôi nói chuyện đó cho cả người Do Thái và người Ai Cập biết là: “Hãy coi chừng phương pháp của ông ta, nguy hiểm lắm, nó không giải quyết được bài toán nào hết mà nó chỉ có né tránh vấn đề thôi”.

Chúng ta đang ở vào tháng hai năm 1975. Sự cảnh cáo nầy đáng được lưu ý lắm – vì đó là lời nói của ông Thiệu – một người không thiếu kinh nghiệm chút nào: năm 1972, ông đụng nhẹ với một ông Kissinger đang nóng lòng muốn chấm dứt cuộc chiến ở Đông Dương. Nhận xét của ông Thiệu thấy có vẻ hơi nghiêm khắc, và một phần vì mối hận của một nguyên thủ quốc gia đang bị gài vào quá nhiều khó khăn to lớn.
Nhưng sau hai năm thi hành “Ngừng Bắn” vẫn không còn một ảo tưởng nào nữa ! Trên lý thuyết, cuộc chiến lẽ ra phải được chấm dứt sau khi Hiệp Định Paris tháng giêng năm 1973 được kỳ kết, nhưng chiến cuộc không bao giờ chấm dứt. Nó vẫn được tiếp tục và thường xuyên gây ra hằng trăm người chết mỗi ngày, và trong hai năm liền như vậy phải có hơn 150.000 nạn nhân. Và chiến cuộc nầy không nghiêng phần thắng lợi chút nào về phía các đồng minh của Hoa Kỳ. Ở Cam Bốt, Khờ Me Đỏ chận sông Cửu Long, cắt đứt đường lưu thông không cho các đoàn ghe tàu tiếp tế cho thủ đô Pnom Penh, đang bị bao vây và bị bắn hỏa tiển vào hằng ngày. Thủ đô nây vẫn còn sống được là nhờ một cây cầu Không Vận của Không Lực Hoa Kỳ.
Ở Miền Nam Việt Nam, lần đầu tiên cán cân quân sự nghiêng về phía cộng sản.Một nhà ngoại giao Nam Hàn làm việc tại Sài Gòn đã nói lên một cách tức giận:
“Nền hòa bình trong danh dự của ông Nixon hả? – Nó chỉ là một sự gian lận dị thường của thế kỷ mà thôi!”
Thật vậy, đến ngày nay hình như sau bốn năm và mười tháng thương thuyết hết sức vất vả và chán chường, Hiệp Định Paris chỉ là một sự mua bán hớ, hớ quá lớn mà thôi. Nhưng ai mới thật sự có trách nhiệm về sự phá sản của Hiệp Định nầy ? Hoa thạnh Đốn hay Hà Nội?
Muốn đánh giá trách nhiệm của Hoa Kỳ và của Bắc Việt, thì phải trở lùi lại một ít về dĩ vãng, và trước hết phải thử tìm hiểu xem tại sao và bằng cách nào mà hai đối thủ đó đi đến chỗ phải ký vào Hiệp Định Paris .
Vào cuối tháng ba năm 1972, Hà Nội tung ra một cuộc tấn công dữ dội vào Miền Nam Việt Nam bằng các sư đoàn thiện chiến của họ với sự yễm trợ của một lực lượng pháo binh phi thường và 700 chiến xa với gần 3000 bộ đội xe tăng vừa được huấn luyện xong 5 tháng thực tập ở trường Thiết Giáp Odessa bên Liên Xô. Sau vài thất bại liên tiếp ở địa phương lúc bắt đầu cuộc chạm trán, và mặc dầu có những sự tiên đoán bi quan nhất, Quân lực Miền Nam vẫn không bị sụp đổ. Họ vẫn giữ vững phần lãnh thổ của họ một cách đáng khen. Khả năng tác chiến của họ được củng cố rất vững mạnh.Trong vòng 3 tháng (từ tháng 5 đến tháng 7) 84.000 tân binh đã hoàn tất thời gian thụ huấn và đã kịp thời bổ sung đày đủ cho các đơn vị bị tổn thất. Sài Gòn thu nhận quá nhiều tân binh tình nguyện cho các đơn vị tinh nhuệ – Hải Quân, Nhảy Dù và Biệt Động Quân – đến đỗi Chánh Phủ phải cho ngưng phần trưng binh. Hoa Kỳ đã cung cấp một hỏa lực yễm trợ rất hùng hậu. Được gởi đến từ Hoa Kỳ để xung vào trận chiến có các đơn vị chuyên viên Mỹ trang bị hỏa tiễn chống tăng TOWS và các trực thăng võ trang “Cobra” sát thủ rất đáng sợ của chiến xa địch. Không Lực Hoa Kỳ xử dụng các loại “bom tinh khôn” được hướng dẫn bằng “laser” hoặc bằng một hệ thống máy ảnh truyền hình được gắn thẳng vào đầu bom, nên đã đem lại một sự can thiệp hết sức chính xác và thật hữu hiệu hơn bao giờ hết.
Ngày 8 tháng 5, TT Nixon đã cho thả mìn phong tỏa tất cả các hải cảng Bắc Việt . Từ ngày 18 đến 29 tháng 12, Không Quân Chiến Lược Hoa Kỳ dội bom Hà Nội và Hải Phòng . Đến ngày thứ 9 của chiến dịch không tập ngắn ngủi nhưng rất dữ dội nầy, tất cả hệ thống phòng không Bắc Việt đều bị sụp đổ. Tất cả các vị trí “ra đa” đều bị triệt tiêu, các sự liên lạc vô tuyến điện thoại hoàn toàn bị rối loạn. Mọi sự cố gắng để bổ sung hay thay thế 1.200 hỏa tiển SAM được bắn đi trong vòng 8 ngày qua trên thực tế đều được coi như không thể thực hiện được vì số hỏa tiển dự trữ đã cạn mà các hải cảng thì đã bị khóa chặt. Đến đỗi trong hai ngày chót của cuộc không tập, không có một B.52 nào bị bắn hạ. Và giả sử như cuộc không tập không được chấm dứt ngày 29 tháng 12 thì gần như có thể các pháo đài bay của Hoa Kỳ đã san bằng Miền Bắc và có thể Bắc Việt bị hành tội thế nào cũng được.
Một chi tiết rất có ý nghĩa: Trong suốt thời gian Hoa Kỳ leo thang trừng phạt Hà NộI, về phía Mạc tư Khoa không nghe thấy có một lời chỉ trích hay một tiếng phản đối nào!
Trên trận địa, sự tấn công của Bắc Việt bị bẻ gãy. Trong 40 tỉnh thị của Miền Nam không có một nơi nào bị cộng sản Bắc Việt chiếm giữ được, trừ tỉnh Quảng Trị, mà các đơn vị nhảy dù của Miền Nam đã tái chiếm lại sau 6 tuần lễ tác chiến đẫm máu.
Vào lúc mà TT Nixon cho ngưng cuộc không tập ở Bắc Việt, không có một ai còn có thể nghi ngờ về thế thượng phong của Hoa Kỳ trên bàn hội nghị. Nhưng trên thực tế, sự phản đối của dư luận ở Hoa Kỳ càng ngày càng tăng, và áp lực của Quốc Hội Hoa Kỳ đã buộc ông Nixon phải cho ngưng ngay hành động của Không quân chiến lược, và vì thế mà ông Nixon không khai thác được lợi thế của ông ta trên bàn hội nghị. Do đó ông không thể có được một sự nhượng bộ nào của phía Bắc Việt để có thể thực sự chấm dứt được chiến cuộc. Đó là: Bắc Việt phải rút hết quân số các sư đoàn Bắc Việt đã xâm nhập và đang trú đóng ở Miền Nam.

Sự thực là hầu hết người Mỹ bị ảnh hưởng vì các chiến dịch có hệ thống của báo chí; dân chúng Mỹ bị xúc động vì các cuộc biểu tình liên tục của các phong trào phản chiến đòi hòa bình; Họ quá mệt mỏi vì chiến cuộc kéo dài quá lâu mà không chấm dứt: Họ lo âu vì không thấy được viễn ảnh của hòa bình, một nền hòa bình “công bằng và lâu bền”. Cho nên họ đều mong muốn Hoa Kỳ nhanh chân rút ra khỏi “vũng lầy Việt Nam”, đem các phi công tù binh ở Bắc Việt và tất cả binh sĩ Hoa Kỳ “còn lại ở Miền Nam” về nhà cho họ.
Hà Nội thấy rõ chuyện đó. Không cần đi sâu vào vấn đề, chỉ với một lời “hứa suông” là chấm dứt chiến tranh, và đoan chắc là các tù binh Mỹ sẽ được hồi hương, là bảo đảm Chánh trị Bộ cộng sản Bắc Việt đã nhận được mọi sự nhượng bộ tối đa của Kissenger rồi. Việc ký kết Hiệp Định Paris đã bảo đảm cho Bắc Việt một loạt lợi thế quan trọng. Thật vậy, Hà Nội đã đạt được:
(1) -một sự nghỉ ngơi tức thời, giúp cho Bắc Việt sửa chửa mọi thiệt hại lớn lao mà Không Lực Hoa Kỳ đã gây ra cho toàn bộ hệ thống giao thông và phân phối trong nội địa.
(2) – mở lại được các hải cảng, vì tất cả các ngỏ vào đều đã bị gài mìn từ 8 tháng nay, và do cuộc phong tỏa của Hạm Đội 7 mà mọi tàu bè thuộc khối cộng sản quốc tế đã bị ngăn cản không vào được hải phận Bắc Việt 1.
(3) -tất cả các lực lượng Hoa Kỳ đang ở Miền Nam Việt Nam phải rời khỏi nơi đây trong vòng sáu mươi (60) ngày và phải mang theo tất cả mọi chiến cụ.
(4) Ngoài ra, Hà Nội còn tự thấy mình được nhận thêm một phần thưởng, nhờ ở sự công nhận những “lõm da beo” rất quý báu, những lãnh địa thực sự nằm trong lãnh thổ Miền Nam nhưng không thuộc quyền kiểm soát của Miền Nam Việt Nam, bao nhiêu lõm là bao nhiêu căn cứ xuất phát cho hành động quân sự của các đơn vị Bắc Việt trong tương lai.
Trong khi đó, Chánh Phủ Sài Gòn (VNCH) không được phép đòi hỏi một điều gì cả. Chánh Phủ nầy chỉ còn biết có một việc phản kháng trong mỗi cơ hội về sự duy trì bất hợp pháp của một “lực lượng xâm lăng cộng sản 170.000 người ở Miền Nam Việt Nam”
Hoa Kỳ, thỏa mãn vì cuối cùng được nắm trong tay bản văn Hiệp Định về hòa bình “của mình”, (nguyên văn của tác giả: “son” accord de paix), rất lấy làm thích thú về sự khéo léo của ông Kissinger. Một bản Hiệp Định dù là xấu vẫn còn hơn là không có một bản Hiệp Định nào? 2
Cảm giác khoan khoái mang đến do sự ký kết “Hiệp Định Ngừng Bắn” và sự trở về như trong chiến thắng của các phi công tù binh, được hoan hô, được choàng vòng hoa và tặng quà. . ., lên cao đến độ nếu có ai đó liều lĩnh nói lên một sự dè dặt tối thiểu nào, đều sẽ thấy mọi người coi mình như một “thằng chống cộng điên khùng”.
Thế nhưng chỉ cần nhắc lại là ”Hiệp Định năm 1962 về vấn đề trung lập hóa nước Lào”, đối với Bắc Việt không có một lý do nào khác và không có một kết quả thực dụng nào khác ngoài việc bảo đảm cho họ được xử dụng đường mòn Hồ chí Minh, mà nếu không có con đường nầy thì Bắc Việt không bao giờ xâm nhập hoàn toàn tự do được các quân binh chủng của họ vào Miền Nam , để hỗ trợ cho các cuộc tấn công của bộ đội chánh quy Bắc Việt vào Miền Nam Việt Nam.
Tại Sài Gòn bài toán về quân số của việc ngừng bắn đã được đặt ra. “ Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn” được thành lập cho nhiệm vụ nầy có một quân số là 1.160 người thuộc 4 quốc gia : Hung gia Lợi, Ba Lan, Gia nã Đại và Nam Dương. Với một quân số it ỏi như thế, trên một lãnh thổ rộng bao la với những khó khăn về địa thế mà Ủy Ban phải quan sát, tất cả đều hạn chế tối đa khả năng điều tra của Ủy Ban nầy rất nhiều.
Vào năm 1954, trong lúc các cuộc thương thuyết dẫn đến sự ký kết Hiệp Định Genève, phái đoàn cộng sản Việt Nam đã đòi hỏi phải giữ lại các đơn vị “du kích quân” được đóng quân ở Miền Nam trong những nơi mà họ gọi là “khu giải phóng”. Một cuộc nghiên cứu trong lúc đó do các chuyên viên quân sự Pháp đã ước tính quân số của Ủy Hội Quốc Tế cần thiết để kiểm soát các khu đó phải lên đến 70.000 (!) dĩ nhiên còn nhỏ hơn vào năm 1973. Lúc bấy giờ đứng trước một sự khó khăn quá phức tạp như thế, ông Mendès France đã khôn khéo chọn giải pháp chia đôi nước Việt Nam. Và quân đội Pháp đã đưa (“tập kết”) hết ra Miền Bắc các cán bộ và những đơn vị cộng sản đã hoạt động trong 9 năm ở Miền Nam.
Vào năm 1973, chẳng những các thành viên quốc tế đã quá ít mà Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn còn phải theo nguyên tắc “đồng thuận” của cộng sản nữa. Do đó, trên thực tế điều nầy đã làm cho Ủy Ban không làm được việc gì cả. Những sáng kiến của hai phái đoàn Gia nã Đại và Nam Dương có thể bị phái đoàn Ba Lan và Hung gia Lợi ngăn cản bất cứ lúc nào. Không có một cuộc điều tra nào được tiến hành riêng lẻ, do những thành viên của một phái đoàn duy nhất nào đó đơn phương tiến hành. Có một số thành viên thuộc phái đoàn Gia nã Đại đã liều lĩnh đi vào khu vực cộng sản sau một biến cố nào đó, đã bị bắt ngay lập tức, nhốt, và đối xử như những tù binh thường trong nhiều ngày.
Từ đầu tháng 3, cộng sản đã cho xâm nhập chiến cụ nặng và nhiều chục ngàn người vào các vùng thuộc quyền kiểm soát của họ ở Miền Nam Việt Nam. Đây quả là một sự vi phạm trắng trợn nếu không muốn nói là quá rõ ràng và công khai Hiệp Định Paris về Ngừng Bắn 1973.
Ngày 15 tháng 3, TT Nixon trong một buổi họp báo đã tuyên bố : “chúng tôi đã nói cho Bắc Việt biết rằng chúng tôi rất đỗi quan tâm về những cuộc xâm nhập quan trọng như vậy, cũng như về các hành động vi phạm lệnh ngừng bắn mà Bắc Việt đã ký kết. . Bắc Việt không nên xem thường loại quan tâm nầy của chúng tôi.”
Một tháng sau đó, ông Nixon chuẩn bị tái oanh tạc Miền Bắc nhưng ông cho ngưng ngay lệnh đó đúng vào cái ngày mà John Dean ra làm chứng trước tiểu ban điều tra của Quốc Hội về vụ việc Watergate.
Tại Việt Nam, cộng sản với quyết tâm ngăn cản mọi công tác kiển soát trong những vùng mà họ đang xâm nhập và chiếm giữ bất hợp pháp, đã không ngần ngại bất chấp nguy hiểm đã tổ chức bắn hạ các trực thăng của Ủy Ban Quốc Tế bay đúng tầm của hỏa tiển với lý do là các trực thăng đó đã “vi phạm vùng trờI” (danh từ của cộng sản ) của họ. (đáng kể nhất là những ngay 1, 7 và 9 tháng 4/73 và ngày 7/5/1973). Sau đó họ còn nã bách kích pháo và bán róc kết vào các thị trấn nào (trong những vùng yếu điểm của họ) đã có hay có dự trù cho các toán Kiểm Soát Ngừng Bán trú đóng, như Lao Bảo, Vị Thanh, Đức Cơ, Xa Mát, Ben Hét, Tri Tôn. Các Toán Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn đã phải rút đi (hai toán Hung gia Lợi và Ba Lan bỏ đi trước nhất), trực thăng của Ủy Ban Quốc Tế vẫn còn đậu tại bãi đáp. Toán Gia nã Đại ngao ngán quá cũng phải rút đi vô điều kiện. Và Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn coi như vô hiệu, chẳng làm được gì!
Lúc bấy giờ Bắc Việt mới áp dụng chánh sách chuyển dân vào ở đầy các khu vực vắng người vừa rơi vào sự kiẻm soát của họ. Như vậy là Bắc Việt đã theo đúng chiến thuật “Đồn điền” hay là di dân chìếm đất do những người Bắc đã áp dụng trong thế kỷ XV để xâm chiếm và chế ngự nước Chàm. Chiến thuật nầy gồm có việc cho xâm nhập vào đất địch từng nhóm dân-quân nhỏ để chiếm đất và làm quen với vùng đó. Nếu người chủ đất có đòi tài sản của họ thì người chìếm đất vừa đánh vừa kêu cứu với bộ đội Bắc Việt. Nếu mọi việc êm xuôi hay các khó khăn được giải quyết xong thì một toán khác lại được đưa tới xa hơn chút nữa. Tất cả các toán xâm chiếm đất đai nầy được nối kết với nhau thành một cấu trúc tỏa rộng ra bắt rễ từ biên giới. Các toán chiếm đất nầy tiến dần tới giống như các chân bám của vòi con bạch tuộc khổng lồ. Hà Nội núp sau bình phong chánh trị của cái gọi là Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam (GRP) đã áp dụng đúng phương pháp cũ của tổ tiên họ nhằm xâm chiếm và với mục đích chuyển các vùng đất chiếm được của Miền Nam, của Cam Bót và của Vương quốc Lào thành đất Bắc Kỳ (nguyên văn của tác giả: Tonkin), cũng như các “lõm da beo” mà họ đã giành được từ sau ngày ngừng bắn.
Hà Nội cứ tiếp tục bành trướng các sào huyệt không ai nhìn nhận đó, để lúc nào cũng hợp thức hóa được sự can thiệp của các đơn vị bộ đội Bắc Việt vì đó là những nơi cung cấp tin tức và yêm trợ tiếp vận rất cần thiết cho sự tiến quân của họ trong tương lai..
Trên phuơng diện chánh trị, đối với các quan sát viên không được thông báo trước , những cộng đồng vừa mới được tạo dựng nầy sẽ giúp cho Bắc Việt trình diễn về số dân chúng đối lập “thực sự” của chế độ Sài Gòn . Nếu có bầu cử thì những cộng đồng nầy sẽ bảo đảm biết bao nhiêu là phiếu đối lập. Được tập trung dính liền với nhau và chặt chẽ bảo vệ dọc theo đường mòn Hồ chí Minh, những “đồn điền” nầy thật sự là một vùng bàn đạp được cấm sâu vào giữa miền Nam Đông Dương để từ đó các cấu trúc được mở rộng thêm ra.
Lần lần, nhờ các cuộc chuyển dân và đóng các chốt quân sự, các đại đơn vị cộng sản mới trú đóng được khắp các xóm làng. Đường sá và ruộng đồng được mở rộng thêm ra. Nền hành chánh được thiết lập sau đó. Các cán binh của Hà Nội ngụy trang thành dân chúng, được thúc đẩy lập gia đình tại chỗ với các thiếu nữ Miền Nam. Trong hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định, cũng như ở Cam Bốt, thì hình như cộng sản thành công trong kế hoạch nầy. Trong những vùng ít dân cư thì bộ đội được tái hôn với những thiếu nữ người Bắc được chuyển vào Nam theo kế hoạch nầy (khoảng 10.000). Đôi lúc thì tự nguyện nhưng thường thì bị ép buộc, (đặc biệt là các nữ y tá, bác sĩ hay giáo viên) những cô gái nầy gốc người Miền Nam nên chỉ thích lập gia đình với cán binh người Miền Nam hơn. Trên thực tế, những cô gái Miền Bắc thường lập gia đình với các chàng trai Miền Bắc vì những chàng trai nầy thuộc số đông, và đã có với họ những mối tương quan về ngôn ngữ, phong tục tập quán, và ăn uống. Một vài phần tử gọi là “cách mạng” người Nam còn được ở trong những vùng mới chiếm giữ đều đã quá tuổi 40. Một số người già từng được xử dụng trong bí mật, thường là độc thân, được giao cho trách nhiệm phụ và họ không sống chung đụng với người Miền Bắc. Sự chiếm hữu đất đai của Miền Nam cũng được tiến hành bằng cách chuyển nguyên các làng từ Miền Bắc vào. Những người Việt Nam định cư ở Lào và Cam Bốt từ nhiều thế hệ trước đã bị dời vào Miền Nam hoặc bị tập trung vào ở với những thương binh mà cộng sản Bắc Việt không thể di tản được và những tù binh chiến tranh già yếu được Chánh Phủ Sài Gòn phóng thích, để lập thành những vùng đông dân cư mới, có thể được nâng lên thành “quận lỵ”. Kế hoạch di dân bắt buộc nầy, sự thành công của hành động xâm chiếm ồ ạt và lặng lẽ nầy, đã liên hệ trực tiếp đến sự vô hiệu hóa các cơ cấu kiểm soát ngừng bắn. Điều náy giải thích rõ ràng cách thức mà Bắc Việt đã nhanh chóng và tàn bạo xử dụng để làm cho những thành viên quá tò mò của Ủy Ban Quốc Tế phải đứng xa ra khỏi vùng ảnh hưởng của họ.
Để đương đầu với chánh sách táo bạo và gây hấn nầy của Bắc Việt, để bảo đảm thi hành Hiệp Định Paris, phản ứng của Hoa Kỳ xét ra cũng không có gì lạ hết. Khi TT Nixon thử xin ngân khoản mới cho Cam Bốt, vào lúc Khờ Me Đỏ được 2 sư đoàn Bắc Việt tăng cường đang gây nhiều thiệt hại nặng nề cho phía Chánh Phủ thì Quốc Hội đã trả lời bằng cách bắt buộc Không Lực Hoa Kỳ phải chấm dứt oanh tạc vào các vị trí cộng sản bắt đầu từ ngày 15 /8/1973.
Vào tháng 11/1973, cũng Quốc Hội nầy đã bỏ phiếu chấp thuận Nghị Quyết về Quyền Lực Chiến Tranh, để ngăn cấm Tổng Thống Hoa Kỳ từ nay nếu chưa có sự chấp thuận của Quốc Hội thì không được phép xử dụng quân lực Hoa Kỳ để phòng thủ bất cứ phần đất nào của Đông Dương.
Vào mùa hè năm 1974, Tổng Thống Nixon từ chức vì vụ tai tiếng của Watergate. Lúc đó các dân biểu và nghị sĩ Quốc Hội mới xem xét kỹ các đơn xin viện trợ do Kissinger trình lên. Họ thấy quá cao nên họ cắt bớt viện trợ quân sự cho Việt Nam chỉ còn lại phân nửa.
Nhưng lúc nầy tình hình quân sự ở Miền Nam rất là trầm trọng. Tướng Cao văn Viên Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) rất lo ngại. Tướng Nguyễn khắc Bình, Giám đốc Trung Ương Tình Báo đã trình cho ông một bản phúc trình dài về tình hình dàn quân của các đơn vị cộng sản Bắc Việt ở Miền Nam. Phúc trình viết:
“Cuộc đe dọa về quân sự của địch đã hết sức là trầm trọng. Trong khi Hoa Kỳ giảm đến một nửa ngân khoản viện trợ quân sự cho Miền Nam Việt Nam, thì Liên Xô đã tăng cường gắp đôi phần chiến cụ của họ và phần viện trợ tài chánh cho Miền Bắc (1 tỷ 700 triệu mỹ kim cho năm 1974). Bắc Việt đã tiếp tục cho xâm nhập cán binh và chiến cụ từ Miền Bắc liên tục từ sau ngày ngừng bắn. Chúng tôi ước tính lên đến 80.000 cán binh, 600 chiến xa, 500 khẩu pháo và 200 khẩu phòng không, tất cả đều vượt vĩ tuyến 17 không qua các cửa khẩu do Hiệp Định Ngừng Bắn đã ấn định. Ngoài ra, trong số 30.000 tù binh vừa dân sự vừa quân sự được chúng ta trao trả theo đúng các điều khoản của Hiệp Định, thì hai phần ba (2/3) được bổ sung vào các đại đơn vị của Bắc Việt đồn trú trong Miền Nam. Số lượng chiến cụ và sự phân phối cấp phát được tăng thêm gấp bội: các đơn vị đều có phóng pháo xa 122 ly và hỏa tiển SA 7, 300 khẩu đại pháo 130 và 100 khẩu pháo 152 để tăng cường cho các đơn vị pháo binh tầm xa, và những đơn vị chiến xa T.54 . Quân số cộng sản bây giờ đã vượt quá mức quân số của họ trước cuộc tấn công năm 1972; 310.000 người trong đó có 170.000 cán binh và 60.000 cán bộ chánh trị gốc Miền Bắc. Bản đồ trận liệt của cộng sản được tái tổ chức như sau : 17 sư đoàn bộ binh với quân số đầy đủ đang đóng trong Nam (7 sư đoàn ở Vùng I từ vĩ tuyến 17 đến Đà Nẵng, 5 sư đoàn ở Vùng II, cao nguyên Trung phần, 3 sư đoàn ở Vùng III, giữa vùng Mỏ Vẹt tới Sài Gòn ,, và 2 sư đoàn ở Vùng IV trong đồng bằng sông Cữu Long và rừng U Minh. Trừ bị thì có 40.000 cán binh Bắc Việt đóng ở Cam Bốt và 50.000 đóng ở Lào)
Việc ngưng dội bom đã giúp cho Bắc Việt mở rộng và cải thiện tất cả các đường giao thông cũ của họ từ phía Nam vĩ tuyến 17 , đặc biệt là tất cả các tuyến đường dẫn về phía Đông của đường mòn Hồ chí Minh.
Tất cả các tuyến đường và lộ trình xâm nhập đêu được củng cố để có thể xử dụng được suốt 4 mùa. Công tác củng cố đã chẳng những đạt được bề dài mà cả khả năng lưu lượng của tuyến đường vớị 1500 xe cam nhông mỗi tuần, đã vượt mức cao nhất cho tới nay. Các đường liên lạc ngang cũng chưa bao giờ được bỏ qua.
Ống dẫn dầu đặt dọc theo đường mòn Hồ chí Minh được tăng lên gấp đôi và được kéo dài xuyên qua lãnh thổ phía Đông của Cam Bốt đến tận vùng “Mỏ Vẹt”, chỉ còn cách Sài Gòn có 80 cây số ngàn.
Cuối cùng 12 phi trường đã được thiết lập ở phía Nam vĩ tuyến 17, từ sau khi có lệnh ngừng bắn : 6 trong số đó có khả năng nhận những phi cơ thường và phi trường Khe Sanh được hỏa tiển SAM 2 và SAM 3 bảo vệ mạnh mẽ nhất, có thể nhận các phi cơ loại nặng và các Mig 21. Các trực thăng vận tải lớn do Liên Xô chế tạo đã được thấy lên xuống nhiều lần ở các phi trường nầy. Có nhiều chỉ dấu chính xác cho thấy một cuộc tấn công quân sự quy mô có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tất cả những sự chuẩn bị đều xem như đã hoàn tất. Những kho dự trữ và các trạm tiếp vận lương thực đã được đặt xong, các bệnh viện hậu phương đã được bố trí sẳn sàng. Chiến trường cho mỗi sư đoàn cộng sản đã được tổ chức rất cẩn thận. Các vị trí cho cá nhân, cho từng loại vũ khí, các hầm trú ẩn, các trạm cứu cấp đã được đào và nghi trang rất cẩn thận, các mốc tác xạ đã được đặt xong, cự ly xa gần và máy nhắm cũng đã được tính toán xong. Về vấn đề nầy, chúng tôi xin nói thêm là các đường tiến quân dẫn đến tất cả các thành phố ở miền Trung và miền Đông của chúng ta có lợi thế cho các đơn vị tấn công Bắc Việt là nằm trong vùng rừng rậm, và dựa vào vô số đường mòn do máy ủi đất của những người làm rừng của chúng ta dọn mở ra từ trước . Tất cả các con đường nầy thường được dùng cho xe vận tải nặng chyên chở gổ súc, là những con đường tiến quân rất thuận lợi cho các chiến xa địch. Hệ thống các con đường mòn chằng chịt nầy đến một lúc nào đó sẽ giúp cho các chiến xa cộng sản thọc sâu nhiều mũi dùi bất ngờ xuất hiện vào tận hầu hết các vòng đai ngoại ô của mọi thành phố.
Sự kiện Hoa Kỳ cắt viện trợ quân sự của chúng ta đã đưa chúng ta vào một tình thế thua sút rõ rệt. Chúng ta cần phải tiết kiệm đạn dược. Các quân xa và phi cơ của chúng ta chỉ nhận được có 50% cấp số xăng dầu so với lúc trước. Thiếu cả cơ phận thay thế, gần 30% Không Lực chúng ta bị bắt buộc phải nằm ụ tại chỗ.
Bị bắt buộc phải giữ từng tấc đất mà không được dẫm chân vào chiến tuyến ngừng bắn, binh sĩ của chúng ta phân tán quá mõng, trong khi Bắc Việt là kẻ xâm lăng, lại được tự do tập trung lực lượng bất cứ chỗ nào mà họ muốn mà không lo sợ gì về một cuộc tấn công nào trên lãnh thổ của họ. “
Bắc Việt đe dọa Miền Nam trên phương diện quân sự kèm theo áp lực về kinh tế lẫn chánh trị . Từ sau khi ký xong Hiệp Định Ngừng Bắn, nhà cầm quyền Bắc Việt đã làm đủ mọi cách để bẻ gãy nền kinh tế và tinh thần của dân chúng Miền Nam. Trước hết là họ vận động nhằm làm nản lòng đầu tư của ngoại quốc. Để làm việc nầy, họ đã mở ra “chiến dịch thảo luận” căn cứ trên 4 đề tài chính:
(1)- một nguyên tắc về pháp lý: Miền Bắc cuối cùng đã thắng Miền Nam. Sự khẳng định nầy cứ được lập đi lập lại hoài không mệt mỏi trong hai mươi năm liền cuối cùng thì đạt được ảnh hưởng.
(2) – một bằng chứng sai bét về pháp lý kèm theo một sự đe dọa: “ Hiệp Định Paris về Ngừng Bắn đã công nhận cái gọi là Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam (GRP) như là Chánh Phủ hợp pháp duy nhất chính thức của dân tộc Việt Nam, mọi Hiệp Ước ký kết với Chánh Phủ Sài Gòn đều không có giá trị, và có thể còn bị xem là một “xúc phạm” với nhân dân Việt Nam “
(3) – duy trì thật sự mối đe dọa quân sự và một không khí mất an ninh. An ninh và ổn định chánh trị luôn luôn là những yếu tố tốt nhất để thúc đẩy sự đầu tư. Làm rối loạn trật tự công cộng và an ninh nội địa, cho thấy lúc nào cũng có mối đe dọa về một cuộc xâm lăng quân sự,. . . . tất cả đều ảnh hưởng đến doanh nhân, hơn nữa Âu Châu sống trong thanh bình đã gần 30 năm rồi .
(4) – Sự đầu độc của báo chí Phương Tây theo luận điệu cộng sản, hay có lợi cho luận điệu của Hà Nội lúc nào cũng tiên đoán hay thích thú mô tả “sự sụp đổ hiển nhiên và không thể tránh được” của nền kinh tế Miền Nam Việt Nam
Lập luận cứ thế được mở rộng ra: kinh tế thì không có giá trị, chánh trị thì bắp bênh, pháp lý thì bất bình thường và theo cái nhìn lịch sử và trong tương lai thì sẽ thất bại.
Sự tuyên truyền thâm hiểm nầy hướng về thế giới bên ngoài lại được mở rộng gấp đôi ngay trong nước bằng một loạt hành động trực tiếp nhằm gây xáo trộn và làm sụp đổ sự phát triển kinh tế của Miền Nam Việt Nam
Bắn phá và tấn công đồn bót. Dùng pháo binh bắn phá, phục kích các đoàn xe . Từ một năn nay, trung bình hằng tháng, các vụ ám sát tăng từ 22 lên 48, các vụ bắt cóc từ 50 lên 120, các cuộc tấn công từ 200 tăng đến 320. Cộng sản cũng tìm cách làm giảm giá trị đồng tiền của Miền Nam Việt Nam, mức tiết kiệm của người dân bị rút xuống vì sưu cao thuế nặng của Việt Cộng và tiền chuộc nữa. (Thuế tài sản và thuế lợi tức , thuế chuyên chở, tù binh muốn được thả cũng phải đóng tiền: 100.000 cho một binh nhì.)
Hà Nội nuôi các thành phần xâm nhập bằng cách cho lưu hành tiền giả cùng với chánh sách mua bán phá giá. Cộng sản mua gom gạo ở các chợ của Chánh Phủ VNCH với giá rất cao rồi đưa về tích trữ trong vùng của họ, gây ra một sự thiêu hụt và lạm phát. Đến khi các hợp tác xã dưới quyền kiểm soát của họ bán gạo ra, thì họ bán với một giá rất thấp so vơi giá bình thường. Có đôi khi số gạo của hợp tác xã là gạo của cộng sản cướp giựt của dân chúng từ Cam Bốt.
Bây giờ thì Chánh Phủ Miền Nam đang trải qua một thời kỳ nguy kịch. Với ngân sách quân sự và kinh tế của thời bình, Chánh Phủ phải đưởng đầu với những chi phí của thời chiến. Và còn có gần 1 triệu dân tản cư lánh nạn đang chờ được giúp đở từ năm 1972.
Hành động giảm viện trợ bất thần từ phía Hoa Kỳ đã kềm hảm tức khắc mọi khuếch trương. Vật giá leo thang đến một nhịp độ tăng nhanh không thể nói được. Từ tháng giêng năm 1973, đồng bạc bị phá giá đến 8 lần. Không khí chánh trị và xã hội rất nặng nề. Một cuộc khủng khoảng trầm trọng do các lãnh tụ đối lập gây ra trong mấy tháng nay đã làm lung lay Chánh Phủ trong lúc Chánh Phủ đang cố gắng lo đối đầu với những chỉ trích từ mọi phía.
Mọi việc đã bắt đầu từ tháng 5 1974, với một bản cáo trạng chống tham nhũng của Cha Thanh, một linh mục thuộc dòng Chúa Cứu Thế, đại diện cho một giáo khu nghèo nhất vùng ngoại ô Sài Gòn . Bản cáo trạng sau đó lại được sự ủng hộ của 301 tu sĩ công giáo, nhằm tố cáo Chánh Phủ trong vấn đề buôn lậu và hối mại quyền thế của một vài tướng lãnh và tỉnh trưởng.
Vấn đề được đưa ra thảo luận ở Quốc Hội. Cả ThượngViện và Hạ viện bàn cãi rất sôi nổi và rất hứng thú, nhưng cuối cùng thì ngòi nổ cũng được tháo gở một cách khéo léo và vẫn có lợi cho Chánh Phủ, để lại cho thính giả của cuộc tranh luận một ấn tượng về sự tự do phát biểu đúng mức.
Tuy nhiên không vì thế mà có thể dập tắt được hành động của những người chống đối. Nó được tái phát trở lại, dữ dội hơn, tai tiếng hơn và có phương pháp hơn, và lần nầy thì mủi dùi chỉa ngay vào Tổng Thống Thiệu, gia đình ông, và các cộng sự viên thân cận nhất của ông.
Ngày 8 tháng 9, 1974, “Phong Trào Chống Tham Nhũng, Cứu Quốc và Kiến Tạo Hòa Bình” cho lưu hành một bản “cáo trạng số 1”, cáo trạng đầu tiên của một loạt 3 cáo trạng, phơi bày thực sự ra ánh sáng những sự lạm dụng công quỷ và những lợi tức bất hợp pháp.
Các tác giả của bản cáo trạng cho rằng sự tố cáo nầy dựa trên những chứng tích không thể chối bỏ được gồm có 6 điểm:

(1) – Tậu quá nhiều bất động sản : mua một biệt thự của hãng Shell cho con trai giá là 40 triệu đồng, mua cho vợ một cơ sở thương mại cũ của Công Ty Đất Đỏ, 90 triệu đồng, và một nhà ở Thụy Sĩ.
(2) – Lợi dụng chiếm đất: Tổng Thống Thiệu sẽ làm chủ một miếng đất 3 mẫu ở Dalat , một miếng đất nữa gần Giá Rai, trên Quốc lộ 1, và khai thác ở Long Khánh nhiều trăm mẫu nữa;
(3) -Dùng công quỷ giao cho công ty Hải Long tích trử phân bón , giám đốc công ty nầy là ông Nguyễn xuân Huyến, anh em bạn rể của Tổng Thống Thiệu.
(4) -Vấn đề “Bệnh viện Vì Dân” do bà Thiệu và “Hội Phụ Nữ Việt Nam Phục Vụ Xã hộI” đứng ra xây cất. Việc xây cất bệnh viện nầy, có 100 phòng miển phí cho người nghèo là nhờ vào tiền lời của quỷ xổ số quốc gia và tiền bán số hàng do quan thuế tịch thu trong 4 năm qua. Bà Thiệu bị cáo buộc là đã “chọn lựa bênh nhân” và “điều khiển các bác sĩ”
(5) – Buôn bán ma túy: dựa trên cuốn sách của người Mỹ ”Những Chánh trị gia của bạch phiến ở Đông Nam Á” mà tác giả là ông M.W. Mac Coy, bản cáo trạng chỉ đích danh tướng Đặng văn Quang, cố vấn đặc biệt của Tổng Thống Thiệu về an ninh phòng thủ, người đích thân điều hành việc bán ma túy ra nước ngoài với sự đồng lõa của những hệ thống quốc tế dính với băng Tiều Châu của người Tàu ở Chợ Lớn.
(6) – Việc bán gạo ở miền Trung: Chánh Phủ tài trợ việc chuyên chở gạo trong vùng nầy nhằm ổn định nhu cầu của dân chúng, và cũng để giữ giá gạo ở đây không cao hơn giá gạo tại Sài Gòn. Việc tài trợ nầy lên đến 40 triệu đồng mỗi tháng. Công chức của Chánh Phủ mua gạo với giá thật thấp và bán ra cho bọn buôn lậu ở địa phương để chia với họ tiền lời và tiền trợ cấp.. Người khai thác việc chuyên chở nầy là ông Phạm Sanh, giám đốc ngân hàng Nam Việt, và người chịu trách nhiệm phân phối gạo là bà Ngô thị Huyết, dì của Tổng Thống Thiệu.
Đài phát thanh Hà Nội và báo chí của Chánh Phủ Bắc Việt cũng như sách báo thân cộng được Bắc Việt tài trợ ở Ba Lê và Âu Châu đã phổ biến rất rộng rãi bản “cáo trạng số 1” nầy.
Ở Miền Nam Việt Nam song song với hành động của đối lập, cán bộ cộng sản đã tiến hành phổ biến tràn lan khắp nông thôn dưới hình thức truyền đơn hay các tờ quảng cáo truyền tay.
Chiến dịch đánh phá uy tín nầy lúc đầu chỉ nhằm vào các thành phố lớn, lần lần được lan rộng xuống các tỉnh, là một đòn rất nặng đói với uy tín của Tổng Thống Thiệu vốn vẫn còn được lòng trong hàng ngũ quân nhân và nông dân.
Một số sự kiện được nêu lên trong bản cáo trạng cần phải được làm sáng tỏ lại. Cần có một sự giải thích thật rõ ràng và chính xác mà chỉ có đích thân Tổng Thống Thiệu mới cung cấp được. Những sự kiện khác được nêu lên không được đày đủ hoặc không đúng sự thât.
Thí dụ như việc bán gạo. Nhân vật chính chịu trách nhiệm là ông Phạm Sanh, giám đốc ngân hàng. Ông đã bị trừng phạt, đã bị câu lưu từ tháng bảy, tài sản bị tịch thu, các chương mục đều bị phong tỏa, và đang chờ ngày ra Tòa.
Vấn đề độc quyền phân bón cũng vậy. Chánh Phủ đã có phản ứng kịp thời, bằng cách cho lịnh bán hết phân bón và tái phân phối cho nông dân với “giá chánh thức”. Phía đối lập cho rằng đây là một quyết định đáng khen, nhưng đó chỉ là một nhát kiếm chém xuống nước mà thôi. Vì những đại lý bán sỉ người Tàu có mặt khắp mọi giai tần kinh tế trong nước đã thu xếp để mua lại số lớn phân bón đã bán lại đó, đến lượt họ đem về trữ lại, bảo đảm trước là họ sẽ có một số lời khả quan rồi, vì thị trường hối đoái ngoại tệ cứ tiếp tục đi lên.
Như thế thì Tổng Thống Thiệu sẽ phản ứng ra sao đây? Đối với sự cáo buộc của phe đối lập, trước hết ông đã trả lời bằng một diễn văn dài trên hệ thống truyền hình về tình hình chánh trị của đất nước và cuộc chiến đãu cho sự tự do, có đề cập đến những “lời gièm pha” được tung ra về cá nhân ông cho đó chỉ là một chuyện dàn dựng có ác ý “của cộng sản , và của những kẻ hợp tác và đồng lỏa với họ” mà thôi.
Nhưng đối với những sự kiện quá nghiêm trọng như việc buôn bán ma túy của tướng Quang, vị cố vấn của ông, và chuyện lương lẹo về đất đai và lợi tức bất chính được gán cho vợ ông, thì ông lại không có nói một tiếng nào. Quân độI, dân chúng, người dân ngoài phố đã chờ đợi ở ông một lời bác bỏ những cáo buộc nầy. Do đó khi mà ông Thiệu tỏ ra quên hẳn và khinh thường không lý tới những chuyện đó thì ông không thuyết phục được ai hết.
-“Tay của ông đã không được sạch sẽ nữa rồi!” đó là lời phê bình có chút miệt thị của một số sĩ quan trẻ đau khổ và chán chường..
Vậy ông Thiệu có thể làm được gì để phục hồi uy tín của ông đang bị lung lay trầm trọng? và tháo gở được những cáo buộc của phe đối lập? Một hành động giống lạ kỳ những gì đã dẫn đến cuộc đảo chánh tháng 11 năm 1963, và cái chết của Tổng Thống Diệm. Nguyên thủ quốc gia người công giáo nầy cũng là một người chống cộng tích cực. Nhưng dù là một con người rất thanh liêm và yêu nước trung thực, ông vẫn bị tấn công và đánh gục bằng một chiến dịch gièm pha vu khống, được tổ chức hết sức nhịp nhàng, có sự hổ trợ của một phe đối lập công giáo, tố cáo sự tham nhũng, lợi dụng quyền thế của anh em ông, của cha mẹ ông và của những người thân cận của ông. Được tiến hành âm thầm bên trong nhưng do bàn tay thiện nghệ của người Mỹ, chiến dịch đó đã đưa nước Việt Nam vào hổn loạn và làm cho cuộc chiến lại tái diễn.
Đến lượt người kế vị ông, Tổng Thống Thiệu, lại bị cáo buộc lạm dụng quyền thế và không làm tròn chức năng của mình. Vậy ông ta có bị đe dọa về một sự kết thúc tương tự hay không ? Một vài nhà phân tách thường hay liên hệ các diễn biến song song như vậy thì họ sẳn sàng tin. Dù muốn dù không thì tình hình ở Miền Nam đang sôi sục.
Sài Gòn với 4 triệu dân, thủ đô chánh trị ,hành chánh, kinh tế và quân sự, là nơi thu gọn tất cả các bài toán của Miền Nam Việt Nam với những mâu thuẫn, những mưu mô, sự phong phú và sự nghèo nàn của nó .

Một mặt, đây là một thành phố với những đường phố rộng thênh thang, ngổn ngang đủ loại xe hơi và xe gắn máy, với những công viên đẹp, với những công thự luôn được bảo trì rất cẩn thận, với những chợ búa đầy ấp lương thực, với một hải cảng tối tân có đầy đủ trang thiết bị , với một sân bay quốc tế và với những đường liên lạc viễn thông tuyệt hảo.
Mặt khác, với một vòng đai các lều tôle, lều cây, lều ván và giấy bồi, ở đó chen chúc nhau những người tỵ nạn nghèo khổ, không một việc làm, những binh sĩ đào ngũ và hằng ngàn người tàn tật.
Dính liền với thủ đô Sài Gòn là Chợ Lớn, một thành phố của 800.000 người Tàu, những chú con trời đã mọc rễ trong nước từ 3 thế kỷ nay, được tổ chức để thu lợi, là chủ ngân hàng, là trung gian mậu dịch, buôn bán đủ mọi loại kim khí, gỗ, gạo, tổ chức chuyên chở đường bộ và đường thủy, chuyên đầu cơ tích trử, cho vay, là nhà tài trợ cho các thú vui và các loại hàng lậu, cho tất cả những gì có thể mua được và tất cả những gì có thể bán được .
Ở ngay chính giữa tập hợp Việt Hoa nầy, có Dinh Độc Lập được binh sĩ Dù canh gát cẩn thận, có lưỡng viện Quốc Hội Thượng Viện và Hạ Viện, Tối Cao Pháp Viện , đài truyền thanh truyền hình và .. . một số bao chí phong phú.
Trung tâm điểm của tất cả là con đường Tự Do (Catinat cũ), với các khách sạn đồ sộ của nó, với những tiệm buôn tráng lệ, những tiệm nữ trang sáng chói, những quán rượu và phòng trà để tất cả những người chạy áp phe, các luật sư, những dân biểu, những người đối lập, những danh kỹ, những mật báo viên và những nhân viên đặc biệt.. . có nơi hội họp, trò chuyện, bàn mưu tính kế, mua bán đổi chác, trao đổi tin tức hay phao đồn “tin vịt” và những “đường dây tốt”.. . .. đến độ có một dạng tin tức song hành, dựa trên những chuyện ngồi lê đôi mách và những chuyện dèm pha có chủ ý, nhằm xuyên tạc hay đi ngược lại với các thông cáo của chánh quyền thường được gọi với một danh xưng không mấy tốt là “ra đi ô Catinat”.
Cái gọi là “radio Catinat” nầy, thường mớm cho các bài báo của hàng trăm ký giả suốt trong thời kỳ 8 năm Hoa Kỳ tham chiến ở đây, đã phần nào xuống cấp, không còn thích hợp nữa từ ngày ra đi của các thông tín viên ngoại quốc.
Bây giờ cái rađi ô nầy lại sống trở lại những giờ phút huy hoàng của nó.
Phía đối lập, bất ngờ về sự táo bạo và sự tự do trong phát biểu của mình sau khi tung ra chiến dịch đánh phá Tổng Thống Thiệu vừa rồi, đã chuyển động, tự thấy phấn khởi và tưởng mình sắp đạt được chánh quyên bởi vì họ đã tố cáo được những yếu điểm và những sự lạm quyền của Tổng Thống mà không bị một trừng phạt nào hết.
Trong những cuộc họp mật và những vận động ngoài hành lang, phe đối lập đã chọn lựa và đưa lên những lý luận, liên kết với nhau, phân phối các chức vụ trong Chánh Phủ.
Các chỉ trích càng ngày càng nhiều. Báo chí phản ảnh “tin tức chính xác” và thật khó mà phân tách được đó là giả hay thật: Tướng Nguyễn vĩnh Nghi – cháu của Tổng Thống Thiệu – đang là Tư Lệnh Vùng IV (Đồng bằng sông Cửu Long) là một người bất tài. Bà vợ của Thủ Tướng Chánh Phủ đã mua một lâu đài lớn bên Pháp với giá một triệu quan. Một vài ông tướng sẽ sẳn sàng giúp phe đối lập với binh sĩ của họ. Các cựu quan chức của cơ quan tình báo trung ương Mỹ (CIA) đã từng dính vào cuộc đảo chánh năm 1963, sẽ quay trở lại. Nhưng đề tài của cuộc nói chuyện trọng đại là chuyện “thất sủng” gần đây, mà theo đó người sẽ rớt đài sẽ là ông Hoànng đức Nhã, Tổng Trưởng Thông Tin và Chiêu Hồi, người em họ của Tổng Thống Thiệu, người được mệnh danh là “ông Tổng Thống nhỏ”.
Ba mươi hai tuổi, cao 1 thước 83, với một thể lực của một tay “anh chị” (nguyên văn: play-boy), kỹ sư, tốt nghiệp cử nhân chánh trị học, ông Hoàng đức Nhã là một người thật tiêu biểu cho đẳng cấp mới của giới kỹ thuật trẻ Việt Nam. Là một thể tháo gia, người năng nổ, làm việc không biết mệt, có phương pháp và có đủ tài liệu, nói thật trôi chảy cả tiếng Pháp và tiếng Anh, ông đã làm việc 5 năm như là thơ ký riêng cho Tổng Thống Thiệu trước khi được đề nghị vào chức vụ Bộ Trưởng. Là một kẻ thù cuồng nhiệt của cộng sản, ở cương vị mới ông đã cố gắng vận dụng tất cả phương tiện kỹ thuật mà ông sẳn có để bao che cho dân chúng và tách họ ra khỏi gọng kềm tuyên truyền của Việt Cộng. Và ông ta đã thành công.
Các địch thủ của ông trách ông đã “bịt miệng” báo chí và ông đã vượt qua thực quyền của ông để can thiệp vào quá nhiều lãnh vực. Ông Nguyễn minh Đăng, một dân biểu trẻ người Bắc đã dùng diễn đàn để tố cáo sự “lạm dụng quyền hành” của ông, qua việc đặt người “thân cận”vào các trung tâm tin tức được mở ra ở ngoại quốc, và xử dụng sai nguyên tắc công quỷ. Ông Nhã đã lạnh lùng phản bác lại bằng cách nhấn mạnh rằng tất cả những người mà ông “che chở” đêu tốt nghiệp đại học, có một trình độ học vấn tuyệt hảo; Và bằng cách trưng ra đây đủ chi tiết rất chính xác của sự chi thu ông đã chứng minh rằng những chi phí của ông đã thấp hơn ngân khoản được ấn định.
Là một người quốc gia có tánh đa nghi, ông Nhã cũng là một người cộng tác khó tính và không mấy thích nghi đối với người Mỹ. Trong giai đoạn chót của cuộc thương thuyết tại Ba Lê, ông Nhã đã đương đầu với ông Kissinger, và đã cùng Tổng Thống Thiệu thảo ra bản quyết nghị nổi tiếng “Bốn Không”. Sự giao dịch của ông với Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ cũng giữ được khoảng cách . Các cố vấn Hoa Kỳ làm việc tại Sài Gòn than phiền rằng từ sáu tháng nay ông từ chối không trả lời điện thoại cho họ. Được các nhà báo Anh quốc hỏi về thái độ đối xử “quá cực đoan” của ông ông Nhã đã trả lời với một giọng khó chịu: “Người Mỹ là đồng minh của chúng tôi, tôi rất thích xem họ như những người anh em, nhưng tôi không muốn gọi họ bằng “Cha”! (nguyên văn: Papa)
Ông đã đệ đơn xin từ chức. Cùng lúc với 3 thành viên khác của Chánh Phủ, cả ba đều thanh liêm, rất giỏi và được kính trọng. Đó là các Tổng trưởng Tài Chánh, Kinh Tế, và Nông Nghiệp, họ cũng đã xin từ chức.
Trực diện với nhóm đối lập càng ngày càng lớn mạnh đang tổ chức chống lại ông và bài xích nhóm kỹ thuật gia trẻ đang cương quyêt tách ra khỏi hàng ngũ Bộ trưởng, Tổng Thống Thiệu bắt đầu giữ sự im lặng.
Bị chạm mạnh do các sự tố cáo công khai của các đối thủ và “đào tị” của những phần tử ưu tú trong Chánh Phủ, Tổng Thống Thiệu với gương mặt luôn luôn tươi tỉnh, khó đoán được ý nghĩ và rất bí mật, ông không bao giờ hốt hoảng. Là một chánh trị gia giỏi vận dụng, lanh trí, và đáng sợ, ông kiểm điểm lại các lá bài của ông trước khi có phản ứng. “Ta còn một số con bài chủ” ông vừa cười vừa tâm sự với những cộng sự viên thân cận.
Ông lạnh lùng kiểm lại các lá bài chủ của ông.
Trước hết là vị trí của người Hoa Kỳ. Mặc dầu ông Nixon đã ra đi, và sự chống báng của Quốc Hội Mỹ, thái độ của Tổng Thống Ford vẫn còn nhiệt tình và tốt bụng. Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, ông Martin, đã tỏ ra là một bạn đồng minh còn vững chắc và cương nghị, điều mà ông Bunker không có dù là ông ta đã giúp ông lên ghế Tổng Thống.
Về phía VNCH, hệ thống quân giai, được thiết lập từ những quân nhân chuyên nghiệp, được lựa chọn cẩn thận, đã nắm chặt quân đội trong tay. Không có một nguy cơ nào về một cuộc đảo chánh. Phe đối lập được dựa phần lớn vào các linh mục và các vị dân cử công giáo, nhưng ít được khối tín đồ đi theo vì họ không thích các tín hữu can dự vào vấn đề chánh trị. Do đó đối lập không mạnh như họ vẫn tưởng. Còn các phật tử (85% dân chúng) thì họ rất dè dặt và không tham gia vào các cuộc “xuống đường”.
Sau khi đánh giá kỹ lưỡng về những khả năng hành động của mình, Tổng Thống Thiệu mới đi đến quyết định “hành động”.
Ông bắt đầu nắm chặt quân đội lại, (vì đó là cột trụ chống đở chính của chế độ), bằng cách tái phối trí lại hệ thống chỉ huy và thanh lọc hàng ngũ sĩ quan. Ông vẫn giữ lại tướng Ngô quang Trưởng trong chức vụ Tư lệnh Vùng I Chiến Thuật (Huế và Vùng Phi Quân sự), người đã bẽ gảy cuộc tấn công của cộng sản năm 1972. Ông đề nghị tướng Phạm văn Phú giữ chức vụ Tư Lệnh Vùng II (Vùng Cao Nguyên Trung Phần), ông nầy là người hùng Việt Nam trong trận Điện biên Phủ. Ông chỉ định tướng Dư quốc Đống vào chức vụ Tư Lệnh Vùng III (khu Tam Giác Sắt và Khu Mỏ Vịt), một cựu Tư Lệnh Binh Chủng Nhảy Dù, một tay chiến đấu gan lì và sừng sỏ của vùng rừng núi. Ở Vùng IV Chiến Thuật thì ông đã cho tướng Nguyễn khoa Nam thay thế tướng Nguyễn vĩnh Nghi, người cháu của ông,. Tướng Nam cũng thuộc binh chủng Nhảy Dù mà là kỷ thuật gia của chiến thuật trực thăng vận. Ba trăm sáu mươi bảy (367) sĩ quan cấp tá xét thấy không đủ khả năng hay tham nhũng được cho về hưu hay xoá tên trong danh sách cán bộ.
Sau phần quân đội là đến phần chánh trị và dư luận. Dự luật giao toàn quyền hành động cho Tổng Thống Thiệu vừa được thông qua và ban hành. Rất nhiều biện pháp được Quốc Hội thông qua, đã mở đường cho các đảng phái chánh trị được hoạt động trở lại. Sự kiểm duyệt đang đè nặng báo chí đã được tháo bỏ. Một Chánh Phủ mới được hình thành. Nhưng sau khi các biện pháp mở rộng vừa được ban hành thì Tổng Thống Thiệu lại có thái độ cứng rắn, mời phe đối lập hãy hành động trong tinh thần xây dựng và trong khuôn khổ luật pháp quốc gia , qua Quốc Hội (Thượng Viện và Hạ Viện) vào dịp bầu cử lập pháp sấp tới, qua các tòa án (bằng đơn tố cáo) và qua báo chí. Chiến dịch trong sạch hóa được tiếp tục, hàng Bộ trưởng và các công chức cao cấp làm không tròn nhiệm vụ sẽ bị điều tra và nếu có đày đủ bằng cớ chứng minh đúng theo đơn tố cáo thì họ sẽ phải được truy tố và xét xử.
Tất cả đều xong hết, ông còn xác nhận là tất cả những cuộc biểu tình được xem như hành động phá rối trật tự công cộng và sẽ bị trừng trị nghiêm khắc. Nhiệm vụ của các linh mục không phải để tấn công cảnh sát ngoài đường phố hay để lớn tiếng rao giảng bằng loa sự bất phục tùng, mà phải chăm sóc cho giáo khu và các nhà thờ của họ. Tương lai chánh trị của nước Việt Nam được bảo đảm bằng máu ngoài chiến trường chớ không nên bàn cãi trên hè phố.
Bị phản đối, vì không có người cầm đầu thực sự, nên phe đối lập thất bại không kéo dân chúng nổi dậy được. Những cuộc biểu tình lớn dự trù và được thông báo trước không thực hiện được. Linh mục Thanh đã ước muốn động viên tất cả dân chúng trong cuộc chống phá lớn nhưng cho tới giờ nầy chỉ mới có được vai cuộc quậy phá nhỏ. Cơn khủng khoảng coi như bị bóp nghẹt. Ngưòi em ruột của Thủ Tưóng, người cầm đầu cơ quan chống buôn lậu, vừa bị bắt giam.
Tổng Thống Thiệu có thể tiếp tục lo cho cái mà ông gọi là “những vấn đề của đất nước”. Và trước hết là chuẩn bị cho cuộc bầu cử Tổng Thống dự trù vào năm 1976. Ông không thay đổi quyêt định : ông sẽ ra ứng cử. Bất chấp những phúc trình bi quan dồn dập gởi tới cho ông, Ông Thiệu vẫn tự tin là có khả năng thành công vượt qua khỏi trở ngại của một nhiệm kỳ thứ ba. Mặc dầu có nhiều sự nguy hiểm trước mặt ông, ông vẫn nhất quyết nghĩ rằng ông là “người hoa tiêu có đủ điều kiện nhất để lèo lái con thuyền Việt Nam”
Vào thàng hai năm 1975, ông viết cho Tổng trưởng tài chánh rằng: “Viễn ảnh kinh tế đã cho thấy phần bất lợi đã giảm, Bằng mọi giá ta phải thu hút vốn đầu tư ngoại quốc. Tất cả nỗ lưc của ông phải được dồn hết vào việc nầy. Không cần phải quảng cáo. Hồ sơ của chúng ta đã tốt rồi. Thị trường của Miền Nam đã trên hẳn mức trung bình ở Á Châu. Với dân số 20 triệu , mà hết 9 triệu nhân công chúng ta đã hơn hẳn Úc Châu, Hong Kong, Mã lai Á, Tân gia Ba và Đài Loan rồi. Giá thuê nhân công rẻ là một cái lợi thế rất quan trọng cho các cuộc đầu tư ngoại quốc. Và một số lớn nhân công của chúng ta lại có khả năng nói tiếng Pháp và tiếng Anh. Chúng ta có sẵn 100.000 thợ chuyên môn, 10.000 thợ máy và nhân viên điều hành đã được huấn luyện để coi sóc các dụng cụ máy móc có phần phức tạp hơn là tàu bè và trực thăng nữa. Con số chuyên viên kỹ thuật có giá trị (từ tin học đến máy móc) cần thiết cho kỹ nghệ sẽ rất cao khi cuộc giải ngũ có thể xảy ra. Trang thiết bị cho ngân hàng khá nhiều và nhân viên cũng thành thạo. Đó là những luận cứ mà từ đó ông phải triển khai ra thêm. Tôi đã viết thơ cho Tổng Thống Ford để nói với Ông ta rằng một sự viện trợ đúng mức trong 3 năm là quá đủ để bảo đảm nền độc lập của chúng tôi. Chỉ 3 năm thôi, không quá một ngày nào!”
Vô ý thức ? Mộng du chánh trị hay lạc quan của lãnh đạo để kích thích các cộng sự viên kém nhiệt thành?
Trên thực tế, sự táo bạo của Tổng Thống Thiệu trong cách tính toán của ông và lòng tin cứng rắn của ông đối với tương lai của đất nước ông đều dựa vào một cuộc khám phá huyền diệu ngoài khơi bờ biển Miền Nam Việt Nam: dầu lửa.
Phải, đã có dầu lửa ở ngoài khơi Vũng Tàu và đảo Poulo Pajang. 6 mũi khoan, mũi nào cũng trúng đích! Như vậy người dân Miền Nam Việt Nam và Tổng Thống của họ có quyền mơ ước : Sáu giếng dầu mà khai thác từ năm 1977 sẽ đem lại lợi tức là một tỷ mỹ kim! Nhưng còn cần phải giữ vững được từ nay cho đến ngày đó. Vả lại 3 năm cũng không lâu lắm.
Nhưng ở đây thì coi như dài vô tận!
Bởi vì để chống lại cơ may phồn thịnh phi thường của Miền Nam, Hà Nội chỉ có một mong cầu: chiến tranh. Ngày 6 tháng giếng năm 1975: một hành động gọi là “trừng trị” đã vang dội khắp nơi: lực lượng cộng sản Miền Bắc đã công khai tiến chiếm tỉnh Phước Long giữa đồng trống, chỉ cách Sài Gòn không hơn 65 cây số ngàn về hướng Đông Bắc. Sự thụ động của Hoa Kỳ sau hành động vi phạm nghiêm trọng Hiệp Định Ba Lê về Ngừng Bắn nầy đã được Hà Nội coi như một trắc nghiệm rất có lợi cho một cuộc tấn công mới. Vào lúc đó sự từ khước của Quốc Hội Hoa Kỳ về một ngân khoản 300 triệu mỹ kim viện trợ quân sự cho Miền Nam do Tổng Thống Ford yêu cầu, được coi như một dấu hiệu chắc chắn “Mỹ sẽ không tái can thiệp vào Miền Nam Việt Nam nữa” vậy.

——————————–

1Chú thích của tác giả: Hà Nội nhập cảng mỗi năm 1 triệu tấn ngũ cốc từ các nước thuộc khối cộng sản quốc tế, không kể thực phẩm khô cho cả quân đội nhân dân.
2Chú thích của người dịch: Nhưng thật sự là một bản dịch không thiếu một dấu phẩy, từ bản văn tiếng Việt mà tác giả là cộng sản Bắc Việt.

Mê Cung tại Las Vegas

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

Post on September 1st, 2023

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Người ta nói “Ở Las Vegas đèn không bao giờ tắt” để chỉ những cuộc vui chơi bài bạc thâu đêm suốt sáng tại những sòng bạc, khách sạn, những show ca nhạc thượng thặng trên thế giới. Tuy nhiên, rất ít người biết rằng, sâu trong lòng đất, cũng tưng bừng như hội với những bàn xì dách, bac ca ra, ru lết, những canh bạc VIP poker, tố một phát cả triệu đô. Dưới những đại khách sạn nguy nga tráng lệ là cả một hệ thống hầm ngầm vòng vèo như mê cung đã trở thành nơi trú ẩn cho dân bụi đời, vô gia cư. Nhiều người cũng nghe nói về đường hầm này, nhưng ít khi thấy tận mắt. Ngay cả dân địa phương cũng ngơ ngác khi ai đó hỏi về thế giới ngầm này.

Đường hầm như mê cung ở Las Vegas. Nguồn. Pinterest     

Nguồn gốc

Những đường hầm này bắt đầu như thế nào vẫn là điều bí ẩn. Một số người nói rằng đây là nơi bọn buôn lậu trốn thoát trong thời kỳ cấm đoán, nhưng trật lất. Ðầu tiên, chính phủ cho đào những đường hầm này để rút nước. Tuy nhiên họ không ngờ nó trở thành nơi lưu trú cho cộng đồng những người vô gia cư.

Ðường hầm nằm ngay dưới thành phố Las Vegas, đa số rộng rãi, gồm hằng trăm dặm chằng chịt nhằm thu và chuyển nước khi mưa ngập. Vào đây có nhiều cổng, một số cổng lớn nhất nằm gần các khu sòng bài nổi tiếng như Rio, Caesars Palace và Flamingo. Một số đường hầm chỉ cao có 4-5 feet, số khác có thể cao tới 15 feet (3 mét).

Một gia đình sống trong hầm. Nguồn. Pinterest

Cuộc sống ngầm

Hầu như các đường hầm đều tối tăm, ẩm ướt, nhưng hàng ngàn người ở Las Vegas gọi đó là “Nhà”. Những người sống như chuột cống ở nơi đây dường như đã bị nước Mỹ lãng quên. Một ít người trong số họ chỉ sống tạm, trong khi những người khác đã biến nó thành nơi “định cư” lâu dài, chính phủ cũng làm ngơ trước số lượng ngày càng đông những người vô gia cư di chuyển đến lưu trú tại các đường hầm. Chẳng bao lâu, thành phố ngầm thành hình và đã tạo nên những cộng đồng thịnh vượng.

Dân mới vô hầm. Nguồn. Reddit

Cộng đồng chui nhủi dưới đường hầm, tương phản rõ rệt với cuộc sống chớp nháy ánh đèn của Las Vegas trên mặt đất. Họ không có một giọt nước ngọt nào và nguồn điện là từ các bộ pin. Tuy nhiên, dân sống dưới hầm đã cố gắng tạo ra những trật tự trong thế giới “chuột cống”. Mỗi khu đường hầm đều có luật lệ và phong tục riêng, ngoài ra còn có các lãnh đạo không chính thức, thi hành một cách cứng rắn “Luật Hầm”.

Lối vô đường hầm. Nguồn. Pinterest.

Luật ở hầm

Vô ở hầm, không phải lúc nào cũng dễ dàng. Vì không còn chỗ trống cho cư dân mới, và ra khỏi hầm lại càng khó hơn. Mặc dù có nhiều người muốn dọn đi, nhưng họ e ngại khi phải đối diện với thế giới bên ngoài, sinh sống với chi phí cao và không an toàn như trong hầm đã khiến họ muốn sống luôn nơi đây. Những người sống trong thành phố ngầm đã tạo ra một thiên đường cho mình bằng bất cứ thứ gì lượm được, tìm được. Họ cũng có giường ngủ với lò nướng, thùng giữ lạnh, bàn ghế. Hầu hết những thứ này được lượm từ rác lề đường.

Do sự khác biệt của cuộc sống nên hầm phải có “luật pháp” riêng biệt để duy trì trật tự cho cư dân. Mỗi cộng đồng trong các đường hầm đều có các quan chức và một trưởng khu được bầu để “trị” những tay quậy phá và bất hảo.

Paul. Nguồn. FacebookSecond Chance

Trở lại “trần gian”

Paul 34 tuổi, với những hình xăm chằng chịt trên cánh tay và cổ. Anh là giám đốc điều hành “Chiếu sáng” (Shine a light), một chương trình phi lợi nhuận, hỗ trợ những “Cư dân hầm”. Mỗi năm, chương trình này giúp tư vấn về ma túy, dạy nghề và ổn định nhà ở. Paul đã ở trong hầm 3 năm, từng “chơi” ma túy khi còn là thiếu niên. Là cư dân mới nhất trong thành phố ngầm, nên giường của Paul được “bố trí” gần sát lối vô. Nhiệm vụ của Paul là báo động khi có người lạ muốn xâm nhập hay một kẻ lang thang muốn “định cư”. Paul biết rằng tất cả cư dân sống ở hầm đều tuân thủ theo “Luật hầm”, nếu vi phạm thì hậu quả sẽ rất đáng sợ. Có nghĩa là, bạn trở về sau 1 ngày kiếm ăn vất vả thấy tất cả đồ đạc của mình rách nát như cám. Ðó là tín hiệu để chuẩn bị tống cổ một cư dân vi phạm “Luật hầm”.

Paul biết nhiều người cũng muốn thoát ra khỏi hầm, trở về cuộc sống mặt đất, nên tổ chức “Chiếu sáng” (Shine a light) của người sáng lập  nhằm giúp đỡ những người muốn trở lại trần gian. Paul chỉ thay thế ông ta khi ông ấy rời bỏ Las Vegas, công việc gồm thăm viếng các khu vực khác nhau, phân phát đồ tiếp tế và giúp đỡ những “Cư dân Hầm” nào muốn tìm cơ hội trở về… dương thế.

Hướng dẫn cho người mới vô hầm. Nguồn. FacebookShine A Light

HĐV

Tình đầu

Lê Sông Văn – 1990

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Tôi còn nhớ, chị tên Yến. Chị có một mái tóc dài chấm eo. Eo chị rất nhỏ, vóc dáng mảnh mai, xinh đẹp. Chị mang dòng máu nửa Hoa nửa Việt, ở đâu tuốt Chợ Lớn, đến nhà tôi mướn một góc mặt tiền để bán bánh ngọt. Tủ bánh của chị rất hấp dẫn, các loại bánh Pháp ngon lành, được trưng bày khéo léo, thêm vào một cô chủ như chị nữa thì cửa hàng bánh ngọt này là cửa hàng hạng nhất con đường nhà tôi, một con đường tấp nập cũng vào bậc nhất Sài Gòn, ngày xưa có tên Tự Do, sau đổi thành Đồng Khởi. Cuối con đường là dòng sông Bạch Đằng. Dòng sông này cũng như con đường, bận rộn vô cùng.

Hồi chị mới đến, cả khu xóm tôi xôn xao. Các cụ cứ trầm trồ khen ngợi con nhà ai xinh như mộng, lại khéo nữa. Các chú các anh cũng háo hức không kém, sang nhà tôi thăm hỏi liên tục, và tôi trở thành quan trọng hẳn, được các ông anh chú ý hơn để hỏi tin tức của chị, hoặc chỉ hỏi xem chị đến chưa, chuẩn bị dọn hàng chưa. Các bà vợ thì tức tối thấy rõ, nói xiên nói xéo chị, và chửi bới các đức ông chồng. Còn chị, chị lúc nào cũng nhỏ nhẹ và hiền lành, tôi có cảm tưởng chị chẳng bao giờ có khả năng nổi giận, hay mắng nhiếc ai. Chị lễ phép với người lớn, lịch sự với người đồng trang lứa, và âu yếm với bọn nhỏ chúng tôi. Chị ăn mặc giản dị nhưng rất đẹp. Mái tóc dài lúc nào cũng kẹp lại bằng chiếc kẹp ba lá, đung đưa ngang eo theo từng cử động của chị. Tôi là thằng bé mới lớn, vừa 12 tuổi, ngày nào cũng nhìn chị say mê không chớp mắt. Con em gái tôi cũng thế, có lần nó kéo tay tôi thủ thỉ: anh Hai, em muốn lớn lên đẹp như chị Yến.
Lớn lên đẹp như chị Yến. Trời, đứa con gái nào mà không muốn, nhưng có được không mới là chuyện. Chị Yến đâu chỉ đẹp thôi, còn duyên dáng và đảm đang nữa, cứ trông chị làm bánh, dọn hàng, sắp từng chiếc bánh con con lên miếng giấy hoa bọc phía dưới thì đủ biết. Chị như một nàng tiên, và những chiếc bánh của chị cũng đẹp và ngon khác thường, nghe đâu chị nấu ăn và dọn bàn ăn cũng chẳng ai sánh bằng. Mỗi lần lễ lượt, chị còn cắm hoa để trưng bày trên tủ bánh ngọt của chị, bình hoa cũng đẹp giản dị và kín đáo y như chị. Chị người Việt gốc Hoa, mà sao ở chị lại toát lên một cái gì… Tây Tây, song lại cũng rất…Ta Ta…Biết nói làm sao nhỉ? Chị Yến bán bánh ngọt ở cửa nhà tôi là một cô gái đặc biệt, tôi chưa thấy một người con gái nào giống chị và bằng chị.
Tôi không biết chị bao nhiêu tuổi, nhưng tôi biết chị đang ở cái tuổi đẹp nhất của một người con gái. Chị rất thích hát. Chị không hát chỗ đông người, chỉ hát khe khẽ một mình lúc làm bánh hoặc dọn hàng. Bài hát dính liền với chị là “Mộng dưới hoa”. Vừa sắp bánh vào giấy bọc, chị vừa ngâm nga “chưa gặp em anh đã nghĩ rằng có nàng thiếu nữ đẹp như trăng…”. Tôi không đồng ý với ông nhạc sĩ này. Nếu chưa gặp chị, tôi không tài nào tưởng tượng nổi một thiếu nữ đẹp như trăng thì sẽ đẹp như thế nào, cho đến khi chị đến, cho đến khi nhà tôi, xóm tôi, và con đường này có một vầng trăng là chị. Tôi nói cho chị biết điều này, chị xoa đầu tôi cười, đặt vào tay tôi 1 cái bánh. Chị nói em còn nhỏ lắm, một ngày nào đó em sẽ biết cách tưởng tượng. Rồi chị tiếp tục công việc, và lại khe khẽ hát tiếp: “mắt xanh là bóng dừa hoang dại, âu yếm nhìn tôi không nói năng”.
Âu yếm nhìn tôi không nói năng. Trời, chính tôi đang mỗi ngày âu yếm nhìn chị không nói năng đây, mà sao chị chẳng biết. Cái eo của chị vẫn xoay chuyển như cùng thỏa thuận với mái tóc, lắc nhẹ cái đuôi chờn vờn qua lại khiến tôi thèm thuồng được túm chặt cái đuôi tóc ấy, mân mê trên tay. Mắt chị vẫn cười và long lanh sau tủ bánh ngọt. Bàn tay chị thoăn thoắt, không ngơi công việc và mỗi cử động của đôi tay ấy đều có chút gì âu yếm, nâng niu công việc đang làm. Chị rất ít nói, đôi mắt chị nói rất nhiều thay chị. Chẳng ai biết chị đang nghĩ gì, chỉ biết rằng, ở trong cái đầu nho nhỏ trên cái cổ cao thanh mảnh ấy, thì hẳn phải là một ý nghĩ rất dịu dàng. Có lần trong lúc chị dọn hàng, gió từ hướng bờ sông thổi đến rất mạnh, mấy miếng giấy trắng trong bọc bánh của chị theo gió cuốn bay lên, và tóc của chị cũng bay theo. Phút chốc ấy tôi bỗng hoảng hốt, cảm giác như chị đang bay lên, đang chới với, đang kêu cứu. Thằng bé mười hai tuổi anh hùng trong tôi vội chạy lại, giữ chặt lấy chị, dỗ dành: “Không sao đâu. Em bảo vệ chị”. Chị bật cười cám ơn tôi, rồi trêu: “Em bay trước chị thì có. Thôi được rồi, phụ chị nhặt mấy tờ giấy lại đi cu cậu.”
Cu cậu. Tôi đỏ mặt giận chị. Có bao giờ một người đàn ông bị người phụ nữ của mình gọi là cu cậu chưa nhỉ? Tôi đau khổ vô cùng. Một tuần liền tôi đi học về cửa sau, tránh không đi cửa trước gặp chị. Gia đình tôi không ai chú ý đến tôi, không ai biết lý do tôi đổi cửa ra vào. Tôi đi cửa sau hóa ra lại tiện hơn cho mọi người. Mẹ tôi bán cà phê đắt hơn, chị bán bánh đắt hơn, và con em gái tôi ngày nào cũng được ngồi trong lòng chị. Nó lăng xăng dọn hàng phụ chị, ăn bánh phụ chị, và chỉ mới 1 tuần lễ thôi tôi đã thấy nó bày đặt làm dáng, mỗi lần xếp tập vở vào cặp sách của mình, nó cũng bắt chước dáng điệu của chị, miệng còn khe khẽ hát “chưa gặp em anh đã nghĩ rằng…” Tôi nổi nóng la: “mày nhỏ, hát chi thứ nhạc ấy”. Nó nhe răng cười: “anh nhỏ thì có.
Chị Yến dạy em đấy. Nghe nè: mắt xanh là bóng dừa hoang dại. Âu yếm nhìn anh không nói năng”.
Một hôm, nó chui vào mùng tôi, thủ thỉ kể: “anh Hai, biết gì không? Hồi chiều em đi mua bột làm bánh với chị Yến. Anh Đạt chở em ở giữa, chị Yến đằng sau, đi mua bột vui lắm. Chị Yến nói bữa nào em lớn chút nữa, sẽ dạy em làm bánh”. Tôi ngồi bật dậy. Anh Đạt? Tôi nuốt nước miếng, cảm giác đắng nghét ở cổ họng. “Anh Đạt nào? Sao tao không biết?” Con em tôi nhìn tôi đắc thắng, lên giọng: “Giời ơi, cái anh đẹp trai ngồi ở quán mình mỗi ngày ấy.
Ngồi nhìn chị Yến. Mua bánh của chị Yến cho em ăn nữa nè. Anh dễ thương lắm nghe, hồi chiều chị Yến dọn hàng sớm, nói về đi mua bột, mua kem làm bánh cho kịp ngày mai. Anh Đạt xung phong chở chị Yến đi mua, rồi chị Yến xin cho em đi theo nữa đấy nhá. Bây giờ chị Yến đi đâu cũng dẫn em theo hết. Mai mốt truyền nghề cho em luôn”.
À, thì ra. Phải điều tra cho ra ngọn ngành mới được.
Người đàn ông tên Đạt thoạt nhìn tôi đã không ưa, trạc độ 30 tuổi, trông như một công tử nhà giàu, chưng diện. Thừa nước đục thả câu, trong hơn tuần lễ tôi giận không đeo bên cạnh chị, anh ta đến quán ngồi lì từ sáng đến chiều, từ lúc chị mở hàng cho đến lúc dọn hàng, mua bánh của chị cho em gái tôi và mấy đứa trẻ hàng xóm. Không biết chị đã quen anh ta từ trước hay là mới biết nhau, nhưng chị ít khi nào nói gì với anh ta. Chị giữ ý đến độ tôi cảm thấy chị thật giả dối. Nếu không thân nhau sao lại đi mua bánh, đi mua kem, rồi để anh ta ngồi lì như thế nhìn mình suốt. Tôi thất tình, lầm lì ít nói, và cộc cằn với chị. Còn chị, gần như không hề hay biết đến sự ghen tức của tôi. Chị vẫn dịu dàng, vẫn gửi tôi một cái nhìn trìu mến như mọi khi. Bây giờ chị dọn hàng sớm hơn, và khi chị bước lên xích lô thì anh ta cũng lái xe thật chậm, bám theo bên cạnh. Họ cứ như vậy cho đến 2 tháng sau thì một buổi sáng nọ tôi không thấy chị bước xuống từ xe xích lô nữa, mà từ xe máy của anh ta. Má chị phớt hồng, hai mắt long lanh tràn ngập niềm vui. Anh ta lăng xăng phụ chị dọn hàng một chút, uống cà phê, ngồi chơi với bà tôi dăm ba câu đưa đẩy trước khi cáo từ ra về. Mỗi ngày, tôi thấy chị mỗi đẹp hơn, hay cúi mặt cười một mình, lúc dọn hàng thỉnh thoảng chị ngước nhìn con đường trước mặt, trông ngóng anh ta. Giờ về là giờ hạnh phúc nhất của chị. Chị lén soi gương, đánh lại chút phấn hồng. Trước đây chẳng bao giờ chị làm như thế. Khi chiếc xe máy của anh ta đỗ kịch trước nhà tôi, chị hướng về phía anh ta với một cái nhìn đồng lõa và chứa chan âu yếm. Chiếc xe phóng đi tôi còn kịp thấy cái tia sáng long lanh trong mắt chị, và hai tay chị giữ chặt eo anh ta, tóc chị bay như một cánh diều sau lưng. Thế là hết. Chị Yến của tôi đã bay như một cánh diều theo tên đàn ông xấu xí ấy. Tôi uất ức và buồn tủi đến xỉu được. Ban đêm, tôi nằm úp mặt xuống giường, hai tay bấu chặt vào chiếc gối, lòng mong muốn giết chết tên đàn ông hỗn xược ấy, giành lại người chị xinh đẹp kia cho mình. Mà không, tôi cũng không thèm chị nữa. Tôi giận chị, tôi ghét chị, và trời ơi, tôi thấy chị đẹp đến não nề.
Ngày tháng trôi qua, thêm một tháng, hai tháng, rồi năm tháng, sáu tháng…một buổi chiều đi học về tôi thấy chị khóc lặng lẽ nơi cửa sau nhà tôi. Tôi mon men lại gần chị, cái đuôi tóc của chị cũng lặng lẽ như chị, thả yên lặng chạy dọc theo tấm lưng thon, điểm ngang chỗ cái eo nhỏ đến nỗi tôi hình dung ra nó có thể gãy bất kỳ lúc nào. Chị cứ đứng yên lặng như thế, không nhìn thấy tôi, nước mắt chảy ròng ròng trên má. Tôi cũng chưa thấy người con gái nào khóc như thế. Mẹ tôi khóc khác. Dì tôi khóc khác. Ngay cả trong phim tôi cũng chưa thấy người ta khóc như thế bao giờ. Chị đứng bất động như pho tượng, đôi mắt mở to nhưng không nhìn bất cứ một thứ gì, kể cả bức tường trước mặt, nước mắt từ đó chảy ra bất tận, ngực phập phồng nhưng không bật lên một tiếng nức nở nào. Nắng chiều còn sót lại vừa đủ làm những giọt nước mắt óng ánh trên má chị. Một nỗi buồn khôn tả xâm chiếm lấy tôi. Có cái gì không thể tưởng tượng được đang diễn ra ở đây. Có cái gì bi đát trong dáng dấp ấy. Buổi chiều bỗng tỏa ra một mùi hương tuyệt vọng. Tôi cho rằng mình cũng đang khóc. Tôi cho rằng mắt tôi cũng đang nhòa lệ theo chị. Tôi với tay nắm lấy bàn tay chị. Chị quay lại, nhìn thấy tôi và cũng nắm chặt tay tôi. Yên lặng thêm vài giây nữa, rồi chị mỉm cười, một nụ cười của sự thảm hại. Chị nói rất nhỏ: “Vào nhà thôi”.
Chị không bao giờ nhắc lại buổi chiều hôm ấy với tôi, và tôi cũng thế. Tôi không còn ghét chị nữa, lý do vì sao thì tôi cũng không hiểu nổi. Sự đau đớn bấy lâu vì chị như trôi đi cùng lúc với sự đau đớn của chị mà tôi bắt gặp trong buổi chiều ngày hôm ấy. Anh chàng Đạt vẫn lui tới, nhưng thất thường hơn. Chị im lặng hơn, chăm chú với mấy cái bánh đủ màu sắc của chị, nhưng tôi có cảm tưởng chị chỉ vờ lấy lệ, vì đôi mắt của chị không biểu lộ sự chăm chú, cũng không biểu lộ một niềm vui nào, nó lặng lẽ đến ghê hồn. Đôi mắt ấy không bao giờ biết phản bội lòng chị, dù chị có khéo giấu mọi điều đến đâu chăng nữa. Hàng mi dài của chị như rũ xuống, và cả đuôi tóc cũng lười biếng không động đậy. Bây giờ dọn hàng xong chị leo lên xích lô về nhà, không leo lên xe anh ta nữa. Anh ta vẫn chậm chậm lái xe theo chiếc xích lô của chị. Chị ngồi lọt thỏm trong xe, hai tay đặt lên đùi, gương mặt nghiêm trang, và trông chị nhỏ nhắn đến đáng thương.
Một ngày đầu năm, tôi nghe tiếng la hét và tiếng khóc lóc trước cửa nhà mình. Một cảnh tượng thật khủng khiếp. Chị Yến bám chặt lấy mẹ tôi, gương mặt xanh mét, kế bên chị là một bà đứng tuổi, tay túm chặt lấy tóc chị, miệng la lối: “Bà để tôi dạy con tôi. Đồ đĩ ngựa. Nó theo thằng đã có vợ. Cái thằng khốn nạn. Trời ơi, biết thế tôi đâu cho nó lên đây làm gì”. Rồi bà ta đổi sang tiếng Hoa, gào thét như điên loạn. Sau lưng bà ta là một đại gia đình của chị Yến thì phải, và gần như đủ mặt hàng xóm của tôi. Các bà vợ xung quanh nhà tôi nhổ nước bọt, chửi phụ họa theo bà mẹ chị Yến, và các ông chồng lặng lẽ đứng bên các bà vợ như ngầm đồng ý với họ. Đồ cướp chồng người khác. Đồ đĩ. Tôi chóng mặt vì những tiếng gào thét ấy. Chị Yến gần như mệt lả người, bấu chặt vào mẹ tôi, lắp bắp: “Cô ơi, cứu con”. Rồi tiếng hét thất thanh của mẹ tôi. Không kịp nữa, bà mẹ chị Yến đã dùng kéo cắt đứt mái tóc của chị. Đuôi tóc chị rơi xuống sàn nhà, chiếc kẹp ba lá cũng bật ra, mái tóc xổ ra một lần cuối và biến mất trên lưng chị. Chị lịm người trong tay mẹ tôi, hai má bị đánh đến bầm tím, máu từ mũi chị chảy ra xối xả. Đám đông bu quanh nhà tôi hả hê ra mặt. Cho đến lúc chị Yến té xỉu được mang vào bệnh viện thì đám đông mới giải tán, và những bà vợ gương mẫu kia nắm chặt tay các đức ông chồng, rời gót với điệu bộ vui vẻ như vừa đi xem hát bóng về.
Tôi ngồi bệt xuống đất, nhặt mái tóc của chị tung tóe dưới sàn nhà. Tôi tìm lại chiếc kẹp ba lá cho chị. Chị Yến, Yến, Yến ơi! Tôi nắm chặt chiếc kẹp tóc của chị. Em sẽ chờ cho tóc chị dài ra, chấm ngang eo, và kẹp lại cho chị!
Ngày hôm sau, gia đình chị lên dọn tủ bánh. Còn chị thì mất dạng. Tôi khổ sở mong ngóng tin tức chị. Con em gái tôi cũng buồn không kém. Người đàn ông tên Đạt biệt tăm, không trở lại uống cà phê lần nào. Mãi đến một năm sau, trước khi gia đình tôi rời Việt Nam, tôi mới vô tình đọc được vài dòng chị gửi mẹ tôi, không biết từ bao giờ. Lần đầu tiên tôi nhìn được nét chữ của chị. Nét chữ nghiêng nghiêng như sắp đổ, như cái eo của chị. Trong thư chị cho biết chị đi lấy chồng, không phải anh Đạt. Chị viết: “Con xin lỗi không gửi thiệp mời cô đi dự đám cưới. Con chẳng còn muốn gặp ai. Mẹ con đã sắp xếp mọi điều, mà dù không như thế, thì Đạt cũng có vợ rồi, đâu thể lấy con. Con thăm hai em”.
Chị vẫn còn nhớ đến tôi. Tôi thấy cay cay ở mắt. Thấy thương chị không biết để đâu.
Năm đó tôi vừa tròn mười lăm tuổi.
Và thêm mười lăm năm nữa trôi qua.
Bây giờ tôi là người đàn ông ba mươi. Tôi còn độc thân, sống ở Mỹ. Tôi không hình dung được cậu bé thất tình ngày xưa, nhưng bóng dáng của chị Yến đôi lúc vẫn thoáng hiện lên trong trí nhớ tôi. Thỉnh thoảng tôi cũng bắt gặp cái dáng dấp ấy ở một vài cô gái, và cũng đã từng cặp kè với họ, nhưng tôi vẫn luôn cảm thấy có cái gì thiếu sót nơi những nhan sắc ấy, không toàn vẹn như vẻ đẹp của chị Yến. Tôi không biết thêm một tin tức gì của chị, không biết giờ này chị lưu lạc ở đâu, còn đi mua bột, mua kem nặn mấy cái bánh Pháp hay không. Có bao giờ chị còn đứng đối diện với một bức tường, khóc lặng lẽ như buổi chiều hôm ấy. Và mái tóc của chị? Nghĩ đến đấy, tôi mong gặp lại chị biết bao! Tôi bỗng nhớ chiếc kẹp ba lá xinh xinh ngày nào.
Một lần, đi dự đám cưới một người bạn, tôi gặp lại người đàn ông tên Đạt, giờ là một người đàn ông béo phị. Cái dáng công tử con nhà giàu đã mất dạng, nhưng cái nét đáng ghét lì lợm nơi hắn vẫn nguyên vẹn không suy suyển. Tôi bần thần, không biết có nên đến hỏi tin tức của chị Yến không. Một người đàn bà trang điểm diêm dúa ngồi cạnh hắn, chắc là vợ. Tôi thầm mừng cho Yến đã không phải lấy hắn. Con em gái tôi cũng đã nhận ra, kéo tay tôi liên tục. Nó nôn nóng muốn biết tin của chị Yến cũng không kém gì tôi. Em gái tôi lớn lên cũng là một thiếu nữ rất xinh đẹp, và tóc nó cũng để dài như Yến. Dạo ấy em tôi đánh hơi được lòng tôi, có một lần nó dùng một chiếc kẹp từa tựa chiếc kẹp ba lá, kẹp mái tóc lại và đung đưa, rồi nhìn sang tôi nheo mắt cười. Nó đã đứng dậy, đi đến chào người đàn ông kia. Tôi nín thở quan sát. Hắn ta không nhận ra em tôi. Cũng phải thôi, ngày xưa em tôi bé tí. Người đàn bà bên cạnh hắn mặt hầm hầm nhìn em tôi, em tôi cười giả lả, trở lại bàn ngồi cạnh tôi. Nó làu bàu: “Ghen quá, em không dám hỏi chuyện đâu. Tí nữa anh đến hỏi nghe!”
Tôi không đến hỏi. Tôi cũng chẳng muốn hỏi lại làm gì. Sau này mẹ tôi kể lại bà vợ đến nhà của Yến đánh ghen, và kết quả là chính mẹ của chị đánh chị đến đổ máu và cắt đi mái tóc dài xinh đẹp ấy. Tôi chỉ biết thêm có chừng ấy về chị. Mỗi lần nhìn một mái tóc dài bay trong gió, tôi lại nhớ đến Yến, đến thời thơ ấu, đến một cánh diều bay lên…Tôi không thích nhớ đến mái tóc nằm dưới sàn gạch nhà tôi, nó làm lòng tôi thắt lại.
Vào một buổi chiều sau hai ba hôm tôi gặp người đàn ông tên Đạt ấy, em gái tôi chạy ào đến tôi, giọng gấp gáp:
“Em biết tin của chị Yến rồi!”
Và nó tiếp luôn: “Chết. Chết rồi. Sau đám cưới không bao lâu”.
Tôi nuốt nước miếng, lại cái cảm giác đắng nghét ở cổ họng. Chị Yến đi lấy chồng, và ở lì trong nhà, không bao giờ lên tiếng nữa. Chị cứ lặng lẽ như thế, như một chiếc bóng, không nói không cười. Ông chồng bất lực trước người vợ câm như hến, ngày càng chìm sâu vào rượu, và cuối cùng đánh chết vợ rồi vào tù ngồi. Chị Yến chết với cái thai trong bụng. Ông chồng vào tù như một người điên loạn, chửi bới cái thai trong bụng chị không tiếc lời, song chính ông ta cũng không biết rõ cái thai là của ông ta hay người đàn ông tên Đạt. Chắc là chẳng ai biết cả, bí mật đã theo chị xuống mồ.
Buổi chiều phủ xuống rất nhanh. Tôi mở cửa, không khí lạnh lẽo của mùa đông tràn vào. Tuyết phủ trắng bãi cỏ trước sân nhà. Tôi nhớ đến buổi chiều năm xưa khi Yến khóc lặng lẽ ở cửa sau nhà tôi, cái buổi chiều đánh dấu cho sự thay đổi lớn của tuổi thơ tôi, bất giác tôi nhận thấy mình đang đứng bất động, giống như Yến ngày nào. Nỗi buồn hay lây. Em gái tôi đến bên cạnh, cầm tay tôi nói khẽ: “Vào nhà thôi”. Tôi giật thót mình. Bộ Yến ở đâu đây? Tôi nghe một tiếng kêu nhỏ từ lồng ngực mình, nghẹn lại ngay cổ. Suýt tí nữa tôi gọi tên Yến. Phải chăng cái mùi hương tuyệt vọng từ buổi chiều hôm ấy đã theo tôi suốt mười lăm năm nay, khiến tôi luôn nhìn thấy một điều gì bất ổn ở cuộc sống này, khiến tôi vẫn không tìm được một chỗ êm ả cho tâm hồn mình.
Tôi vào nhà, thắp một nén hương cho chị Yến, tình đầu của tôi.
Lê Sông Văn – 1990

Hồi n(h)ớ Huế mềnh

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 27/12/2017 

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Cóp nhặt và ráp nối lại từng đoạn, từng câu từ ca dao, tục ngữ, hò giã gạo, hò mái nhì, hò ru em cùng phương ngữ của Huế xưa. Xin tạm vay mượn chút tư liệu và cảm ơn anh Trần Ngọc Bảo đã bỏ công sưu tập.


Thiếu nữ trong Thành nội
Dinh Cuong

Gởi thơ thì phải gởi lời
kẻo mà thơ rớt thơ rơi dọc đường.

Trồng hường bẻ lá che hường
thương nhau bất quản đỗi đường xa xuôi.

Biết đâu là cầu Ô Thước
mênh mông nguyện ước dưới nước trên trời
đêm khuya ngớt tạnh mù khơi
khúc sông quạnh vắng có người sầu riêng.

Sầu này ai giải đặng cho
ra ngồi đường vắng khóc no lại về.

Sao mai đã mọc bên tê
phân đi nói lại em về kẻo khuya
mình về răng được mà về
câu thơ chưa gởi lời thề chưa trao.

Vừa đi vừa nói lằm bằm
bữa ni mười bốn mai rằm chè xôi.

Đi qua nghiêng nón không chào
mần thinh rứa mãi biết (hồi) nào mới quen.

Sớm mơi ra ngõ gặp eng
tui mu khóc lắm dụi ghèn xót mi
chừ mờng thiệt dạ một khi
hay là tưởng mợt cầm chi bẽ bàng.

Chồng con mô có anh nào
em còn lận đận vườn đào sớm trưa
lên non chọn đá thử vàng
thử cho đúng lượng mấy ngàn cũng mua.

Hai đứa mình khi xưa tưởng đi chung một kiệt
ai hay ông trời phân biệt mỗi đứa một đàng
chậu ngã đường chậu cây úa vàng theo cây.

Thiếp gặp chàng giữa chợ bỡ ngỡ khốn chào
nghiêng vành lách nón nước mắt nhào như mưa.

Yêu nhau đứng ngái cũng mê
không yêu ăn cận ngồi kề cũng không
ra về ngó vói chơi vơi
lòng thương cảm bốn phương trời đều hay.

Em nói với anh như rìu chém đá
như rạ chém đất như mật rót vô tai
dặn lòng đừng có nghe ai
nghe ai thì chớ vãng lai ngõ này.

Đi đâu mà chẳng thấy về
hay là quần lãnh dựa kề áo nâu?
xa anh cảm thấy sầu tư
bưng chén cơm ăn, đôi đũa rớt răng chừ chẳng hay!

Xin đừng tham gió bỏ mây
tham vườn táo rụng bỏ cây nhãn lồng
nhãn lồng trong bọc ngoài bao
con ong châm còn được huống chi quả hồng đào chín cây.

Em với anh vô can vô cớ
buộc lấy chữ tình thương nhớ khôn khuây
đoái nhìn bạn cũ niềm tây
mưa lâm thâm ướt vạt áo này không khô.

Thương em nỏ biết nói chi
cho em thước lụa để khi lau buồn.

Chờ chờ đợi đợi mần chi
nơi mô bưa nút bưa khuy cứ gài
mấy lâu ni ơn tượng nghĩa dày
anh giang tay mở dây lưng rút mà em cứ hẹn chày hẹn mai.

Ngó lên độn cát, cát càng cao càng lở
ngó xuống bến đò, đò càng chở càng đông
ai nói với anh, em bán phấn buôn son?
cậm hèn chi phải, anh đem lòng phụ em.

Thiếp trông chàng như nhang trông lửa
chàng trông thiếp như đại hạn trông mưa
chán chi nơi phụng rước loan đưa
chi cho bằng tình cũ nghĩa xưa mặn nồng.

Qua cầu, cầu yếu phải nương
điệu này biết bạn không thương ta rồi
cực lòng ta lắm bạn ơi
bỏ thề trôi nổi lệ rơi hai hàng.

Trời túi quá nỏ chộ mi
con Bê nằm ngủ mần chi chừ hè?
mụ o chèo chẹc không chi
ông chú lụt lịt có khi mất chồng.

Em thốt ra chừng mô dạ anh sầu chừng nấy
cuộc chung tình chưa được mấy bao lâu
ai xê vô cắt ván tháo cầu
để lan xa huệ, huệ sầu với lan.

Khi tê em nói em thương anh
nay chừ em nói em thương ai
anh ra ngồi gốc cây sanh
ngồi gốc cây đa
ngồi gốc cây dừa
hai hàng luỵ nhỏ như mưa
khăn lau không ráo áo lau không khô
tiếc ôi là tiếc
hỏi tiếc làm răng, là tiếc làm ri:
tiếc thân anh quỳ tiếc miệng anh dạ
từ thuở mô đến chừ.

Con đừng tin lời thằng nớ
mạ liếc xéo qua là biết một khi
dơ xái, giựt giọng, hạng người
chưn đi giày, tay đi dù, khu ỉa trịn
bô lô chi trợt đó con nờ.

Hỡi em ơi, khi cái chân anh đi thì con mắt ai ngó
nay chừ em nghe ai mà xa ngõ, ngái cươi
đêm năm canh khôn tạc đặng bóng người
nhớ chăng là nhớ lời ăn tiếng nói
nhớ nụ cười người thương.

Đêm nằm nghe vạc kêu canh
nghe chuông dộng sáng nghe anh dỗ nàng
một mai trống lủng khôn hàn
dây dùi khôn đứt, bạn loan khôn tìm.

Tôi ở nhà tôi dọn dẹp đã khuya
bao nhiêu nhơn nghĩa em chia hết rồi
tới đây khốn đứng lỡ ngồi
giả như con cuốc lẻ đôi một mình.

Nghe anh đau bụng nằm dài
em lên trên phố cân vài lạng nhung
hoàng kỳ hai lượng sắc chung
tay bưng chén thuốc vén mùng chui vô.

Đôi ta thương, chắc mần ri
mạ cha mần rứa, anh thì mần răng?

Người yêu ta để trên cơi
nắp vàng đậy lại để nơi giường thờ
đêm qua ba bốn lần mơ
chiêm bao thời thấy, dậy sờ thời không.

Ngó lên côi trời, mặt trăng khi tròn khi méo
ngó về đồng nội, ngọn cỏ khi héo khi tươi
em thấy anh ít nói ít cười
ôm sầu vô dạ chín mười năm ni.

Bần dữ tiện thị nhân chi sở ố
bởi anh nghèo nên duyên số lửng lơ
cơ chi anh giàu sang như thiên hạ
bà nguyệt với ông tơ đã xây vần.

Anh em là ruột là rà
vợ chồng như áo cổi ra là rồi!

Kể từ ngày mẹ đẻ con ra
mem cơm trún sữa lớn mà chừng ni
em nghe anh mà bỏ ra đi
thất hiếu phụ mẫu tội ni ai đền?

Vì anh một ít vì em một thỉ
cho nên chi lỡ dĩ ra ri
chú bác đòi lăn sáo thả trôi
có mưu chi thì cứu trợ kẻo khổ em rồi ơi anh.

Áo lành há dễ vá vai
gái khôn răng chồng để? Còn khoe tài nỗi chi?
không ngon cũng mít mùa đông
không khôn cũng gái lật chồng mà ra.

Làm quan phải xét cho dân
mang tơi chữa lửa u nần phận ai?
chờ anh bơ tuổi em cao
bơ duyên em lợt, bơ má hồng đào em phai.

Tham giàu đã thấy giàu chưa?
vừa ăn vừa khóc như mưa tháng mười
thôi chàng nhớm gót sớm về
kẻo thế gian đồn đại thiếp lại say mê chàng.

Ra đi là sự đã liều
mưa mai nỏ biết nắng chiều nỏ hay
còn đất chân bước vung tay
còn o bán rượu còn say ân tình.

Cây vông đồng gai không vót mà nhọn
con kiến trong hang ai dọn đường đi?
nghiêng tai nói nhỏ em nì:
thương thì đừng sợ, sợ thì đừng thương.

Dầu hết tim rồi biết lấy gì khêu tỏ
hũ rượu hở nùi nên đã lạt hơi
hỡi chàng ơi nghe ai mà duyên rớt nợ rơi
kêu đất không thấu kêu trời, trời cao.

Em không nhớ khi thề riêng nơi bồn lan cội cúc
thiếp gật chàng ừ
bây chừ em nghe ai đã xiêu lòng lạc dạ
chối từ nghĩa anh.

Thương chồng nên khóc mụ gia
gẫm tôi với mụ không bà con chi
một trăm ông chú chẳng lo
chỉ lo một chút mụ o nhọn mồm.

Hỏi anh còn nhớ hay quên
em thương từ thuở vịn phên đi lần
nào ai nhắc bạn tri âm
gan khô từng chặng ruột bầm từng khi.

Ai xui em ăn ở hai lòng
nói xuôi cũng được mà ngược dòng cũng hay
nào khi mưa đập gió đè
tui như đất đẹ ai hăm he cũng không sờn.

Lui về mà ngủ kẻo khuya
xấu chum cá nỏ vào đìa thì thôi
giã gạo rồi cối cất chày treo
anh về em ở cheo veo một mình.

Cam đời mô mà cam không ngọt
Ớt đời mô mà ớt chẳng cay
sao anh nghe lời phờ phỉnh, lá lay
bỏ em bơ ngơ báo ngáo giữa chốn này anh ơi!

Tới đây hò hát năm ba chuyện cho bui
keo sơn chi đó mà sợ chùi không đi
tới đây tui chào chung chào chạ
thấy cụ là lạ tui phải chào riêng
chào rồi lại hỏi thăm liền
thầy mẹ ở nhà đã định chữ nhân duyên nơi nào?

Áo đà thay vạt vá vai
tội chi hầu mọn cho ai dày vò
ai ơi đã nói thì làm
đã đan thì lận tròn vành mới thôi.

Lên non em cũng lên theo
xuống thuyền em cũng đèo queo mạn thuyền
em thương anh thầy mẹ đón ngăn
giả như đá đằn trên cỏ biết mần răng cho đặng chừ?

Có cha có mẹ thì hơn
không cha không mẹ như đờn đứt dây
của trời trời lại lấy đi
giương hai mắt ết làm chi được trời.

Dưới gởi thơ lên trên gửi thơ xuống
đang ăn đang uống bỏ đũa xem thơ
hai hàng nước mắt dặm tờ
duyên chàng nợ thiếp ai ngờ mà xa.

Vai mang khăn gói dạo miền
hỏi thăm ai bán tư điền để mua
ruộng tư điền một mẫu tám trăm
anh mua răng nổi mà hỏi thăm cho ngầy ngà
tám trăm một mẫu cũng vừa
em thưa thầy mẹ hẹn sa mưa hạ cày.

Thương em không dám vô nhà
đi qua ngoài cửa hỏi: có gà bán không?
vá cán trúc múc nồi đồng
em khôn chi cho lắm cũng bồng con anh.

Thẳng mực tàu thì đau lòng gỗ
qua không phải con người dành dỗ chi ai
địa bàn nhắm hướng còn sai
vợ với chồng kia chưa chắc, gái với trai chắc gì?

Trời năng mưa năng gió nên chi bãi cát nọ năng bồi
quân tử cựu tới đó, ai khả hồi quân tử tân?
thôi thôi em liều mình nhảy xuống sông Ngân
thác đi cho trọn ái ân hai chàng.

Cá lẹp kẹp với rau mưng
ông ăn to miếng mụ trừng mắt lên
rủ nhau đi hái rau mưng
trèo lên trụt xuống làm sưng cái l.
ngày mai đem bán chợ Đồn
rau mưng bán hết cái l. còn sưng!

Năng cường năng nhược
năng khuất năng sanh
nó thiệt cục gân
ngồi gần con gái trân trân chẳng xìu.

Xưa kia ăn nói đế đô
chừ như con trâu lác bạ mô cũng cà.

Lòi chành té bứa đoạn ni
Ăn rồi quẹt mỏ sớm tìm chỗ ngơi.

Hồ Đình Nghiêm

Tặng vật

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 19/07/2017  

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Tiếng máy nổ di chuyển trên phạm vi không lớn, loay hoay, nấc nghẹn giữa giấc trưa. Nuốt chửng tiếng chim kêu và gửi trong gió lùa thứ mùi làm nhột mũi. Những bãi cỏ lần hồi được san bằng, sát sao như đầu của các tân binh sau khi xuống tóc. Thu vén gọn gàng cho đến hồi máy hộc lên tiếng cuối, tắt nghỉn. Khoảng lặng được tái lập, màu nắng chừng vàng hơn để bấy giờ mới nghe rõ tiếng chim hót với nhiều cung bậc du dương. Người nghe không bao giờ đánh mất chút an lành vừa hưởng được qua chuỗi âm thanh lãnh lót kia. Người ta có thể than phiền về một vuông đất nhà hàng xóm cỏ mọc phồn thịnh và có thể người ta đâm buồn lòng nhung nhớ nếu chẳng còn một loài chim nào mỏi cánh ghé thăm.

Mùa hè, những cánh cửa thường đóng kín, đôi lúc bất chợt ngó ra trên giây phơi, khuất lấp đôi ba tấm khăn trải giường trắng muốt căng phồng trong gió lặng. Mùa của những cuộc đi chơi xa, để quên vài cánh buồm dật dờ mỏi mòn trên sân cỏ đã lâu mãi đợi một cơn mưa đầy lưu lượng ghé ngang. Hoa trồng bên nhà Katy có khóm ủ mặt cúi đầu, những con sóc đi thong dong, lấn sâu hơn thông lệ và chừng như tôi chẳng còn nhìn thấy cô đã non tuần. Là người bản xứ nhưng đặc biệt Katy có mái tóc đen, dài mượt như ta thường thấy vẻ quen thuộc có trong tranh lụa. Nằm võng với suối tóc chảy dài xuống nền đất chẳng hạn. Da trắng, có hơi xanh do bởi Katy đang ốm nghén? Dạo gần đây cô di chuyển bắt đầu trì trệ, tay đỡ bụng nặng có ý tứ. Tôi không nhìn ra ai khác, kể cả một bóng đen đứng thu người sau màn cửa. Cỏ mọc đã cao và tôi tự nghĩ chắc Katy đang vào bệnh viện đi biển mồ côi một mình.

Bạn đừng trách tôi thọc mạch, chẳng qua chỗ tôi đặt giá vẽ vô tình đối mặt với một vũng râm có từ vườn nhà Katy dựng nên. Khoảng cách khá xa, nhưng khi thử nheo mắt, tôi vẫn thấy rõ dung mạo của Katy lẩn trốn thoạt biến thoạt hiện bên kia biên giới. Tôi thử vẽ chân dung cô, dĩ nhiên tấp màu với cách thơ mộng của riêng cảm nhận tôi. Nếu có một ngày Katy được đối mặt với khung bố nhỏ, chưa chắc cô nhìn ra mình đã âm thầm vào nằm trong tranh. Một chút giống, một chút ngờ ngợ, một chút hoài nghi đi kèm với một niềm kỳ vọng. Tôi không phải là kẻ vẽ truyền thần chăm chỉ gọt tỉa. Sự gò bó là điểm đầu tiên mang sự sáng tạo đi trấn nước. Hãy cố bơi lội ở một cõi miền không ranh giới, mênh mông. Hãy đừng biến mình thành những tấm khăn trải giường phơi trên dây căng gió lộng, hình ảnh một cánh buồm tù túng, sẽ chóng biến mất sau sân khi đã khô hoặc sợ ướt bởi cơn mưa chợt đổ.

Trong xóm an lành và vắng lặng này không ai biết tôi là hoạ sĩ ngoại trừ nhân viên bưu điện. Một người đàn ông khá phục phịch thường vui vẻ giao tận tay tôi những bưu kiện buộc phải ký nhận. Không nhiễu sự như ở bên nhà, ông chỉ hỏi thăm tôi có khoẻ không? Hôm nay trời quá đẹp. Wow, thật là một ngạc nhiên, lạy Chúa, đừng nói với tôi ông là hoạ sĩ nhé… Thường là vậy, giới hạn chỉ dăm câu. Duy chỉ một lần ông đòi bắt tay tôi, tấm tắc về một mảng màu vàng nằm giữa bức tranh tôi vẽ dở dang. John chúc tôi một ngày an lành, gửi lại nụ cười thân thiện rồi quày quả tiếp tục đi giao thư. Tôi không chắc là ông sẽ vui miệng đi nói cùng, rằng gã đàn ông người Việt sống khép kín ấy là một hoạ sĩ, tối ngày chỉ biết ở nhà nhàn hạ vẽ tranh.

Tôi đoán không nhầm, người hàng xóm đã trở về mang theo tiếng khóc dấm dẳng của một hài nhi. Khóc cách khoảng, chống đối vô chừng vô đỗi nhưng nhiêu đó cũng đủ làm xáo trộn thứ thời khoá biểu mà người ta tự đặt ra để cố gắng tuân thủ. Không ai cự nự bởi âm vực mang nhiều décibel ấy chẳng đủ sức phóng đi xa, ở gần như tôi thì nó rót đủ vào đôi tai nhưng may cho Katy tôi chẳng có thời khoá biểu nhất định và tiếng khóc, với tôi chỉ thuần mang ở đó một mầm sống, sự hiện hữu và lời phát biểu ấy đôi khi quan trọng giữa khung cảnh trầm mặc này.

Ngoài tiếng khóc oe oe, có một gã đàn ông người Mễ bắt đầu mang máy cắt cỏ đến cày bừa vuông sân đã lâu thôi còn ai để tâm ngó ngàng tới. Những nụ hoa vàng mọc chen bắt đầu chấm dứt sự ký gửi bạc mệnh “hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”. Nhàu nát hết thảy để được đàng hoàng như thiên hạ, ai sao ta vậy. Qua miệng lưỡi lắm chuyện của gã thợ đụng có nước da cháy nắng, tôi được biết trong bốn bức tường kia có một người ngồi xe lăn do bị đột biến, có thể vì tiếng khóc dằn vặt của con thơ, trong tương lai gần sẽ kéo người cha lên, tự đứng trên đôi chân run rẩy nhằm chia sẻ hạnh phúc cùng vợ vừa vượt khó. Chuyện không chấm dứt ở đó, gã thổ lộ là đã từng chôn chân hai tháng trong một quán ăn người Việt với job rửa chén. Một ngón cái chỉ thiên: Phở ở đó ngon tuyệt!

Như định kỳ, không lôi thôi phải đụng tới điện thoại, mỗi thứ năm trong tuần, đúng 11 giờ người bạn sẽ chạy xe lại đón tôi ra quán phở. Chúng tôi tiêu hoang ba tiếng cho thứ sinh hoạt cần thiết đó bởi theo lời bạn nói, mình nên mở rộng tầm hiểu biết, cập nhật thêm thông tin khi đặt chân vào tiệm Phở Gà (chuyên đi bộ). Muốn trắc nghiệm sự tiến bộ khi tu tập thiền đến ngang đâu hãy thử thả người vào cái “bể khổ” kia. Không trầy vi tróc vẩy thì xem như bạn đắc đạo. Tôi biết bạn nói đùa, bạn luôn khôi hài đen. Biết đâu bạn ưa sa chân vào cõi hồng trần thu bé kia chỉ để tò mò ngóng tin cuộc sống của người vợ cũ giờ này ra sao. Bị vợ bỏ, một tên đàn ông 50 tuổi có thể bị nhà nước nghi ngờ chuyện man khai lý lịch. Tóc bạc, mặt xương xẩu, toàn bộ con người đem đặt lên bàn cân kim nhỉnh hơn lằn vạch 50 kg. Hưu trí ăn tiền già được rồi đó cha! Nhà nước sẽ nói vậy bởi luật lệ cho phép hơn 65 tuổi bạn có quyền ngồi mát ăn bát vàng.

Mỗi người một bát phở đầy mỡ màng. Bạn nói ông quên chữ cholesterol đi. Mỗi tuần chỉ một lần, nó không giết ông đâu mà sợ. Nếu quan niệm như bạn thì có người vợ bên lưng, “nàng” là một kho lương thực đầy béo tốt, bởi nàng bỏ cuộc chơi tìm bến khác neo thuyền khiến bạn mình hạc xương mai hơn cả cựu tù cải tạo vừa được phóng thích. Ăn đi ông, phở thương chứ không ai thương đâu! Bạn truyền đạt kinh nghiệm máu xương và tôi gục mặt vào tô phở lớn như một cái chậu rửa mặt. Ôi, thơm quá! Hèn chi mà nó đã có mặt ở khắp hang cùng ngõ hẹp trên cõi ta bà này. Đố vui để học gọi tên Trump chưa chắc có đứa biết nhưng chỉ cần phát âm chữ Pho thì y như rằng tất thảy đều rậm rật nhốn nháo đồng loạt đưa tay không quên phụ chú Yummy.

Bạn nói: Ông thử quan sát lượng khách vô ra thì cũng đủ hiểu mức thu nhập vượt mặt của quán, đếm tiền muốn rụng mấy ngón. Tay chủ này tôi quen, chừng nào ông kẹt tiền tiêu tôi thồ tranh ông ra đây đổi lấy chút bổi mà chêm cho ấm đít. Tôi ngồi ngậm lấy cây tăm, cuối cùng cũng buồn miệng: Tay này có am hiểu chút chi về hội hoạ? Đừng bắt tôi phải than “thà ta phụ phở còn hơn để người phụ tranh”! Bạn nói quả quyết: Khi đề xướng tôi đã có đắn đo. Bạn của bạn thì e không phải kẻ thù của ta. Tự dưng tôi thoáng nhớ Katy, về màu tóc mượt mà đen nhánh mà cô sở hữu. Có lạ không, khi hầu hết các cô phục vụ ở quán phở tóc đều cắt ngắn và tuỳ tiện nhuộm chúng với sắc vàng, xanh, đỏ. Trân tráo, dữ dội, thách đố dư luận và xem thường mỹ quan của bá tánh. Muốn “ăn” với đầu tóc như thế, tiên quyết y phục bạn diện phải tuyền một màu đen và quần jeans nên thủng rách một đôi nơi. Tiếc thay, quán phở có quy định buộc nhân viên phục vụ mặc đồng phục, thương hiệu in kèm chữ Phở luôn nhấp nhô trên ngực áo trắng quên gài hai nút của các nhi nữ khiến bạn lắm lúc phải thay đổi thị hiếu. Bạn mơ mòng, vắt chanh vào bát phở rồi nuốt nước miếng: Con nhà ai mà khéo nuôi rứa bây! Thịt thơm hơn cả tái nạm gầu vè gân sách!

Một ngày thứ năm, chuông điện thoại ré lên vào lúc 10 giờ 30. Trong ống nghe, giọng người bạn đong đủ sự bất thường: Xin lỗi tôi không đến đón ông ra quán phở được. Không riêng hôm nay mà có thể là về sau… Tôi sang tiểu bang khác, kể cũng hơi đường đột vì có người tốt bụng vừa mai mối cho tôi một bà mới mất chồng. Tôi đi thử thời vận, ông ở lại đừng trách và nhớ chúc lành cho tôi chuyến này được thuận buồm xuôi gió…

Mùa hè, mùa của những dọn nhà di dời địa chỉ. Những cái máy lạnh chạy rù rì suốt ngày và bên ngoài sắc nắng luông tuồng đổ lửa. Tôi ngồi ở garage nhìn vạch nắng mon men lấn chiếm dần, phải tới hai giờ nó mới đủ quyền uy để xua đuổi tôi nhấc mông đi. Tôi đối mặt với tấm bố dựng trên giá vẽ, thừ người. Loay hoay một đỗi mới nhìn ra có tấm bảng nhỏ được cắm cọc trên sân nhà Katy. Không đọc rõ mặt chữ nhưng tự thân miếng bìa cứng, nó biết đeo bám một điều bất thường. Tôi muốn thay đồ đi ăn một bát phở, cơ thể tuồng đang thèm dung nạp thật nhiều chất béo, nhưng làm biếng. Tôi vẫn luôn mang ý nghĩ, hãy để tôi cô đơn trầm lắng khi thao tác vẽ vời, nhưng khi ra ăn cơm hàng cháo chợ hoặc rung đùi cà phê cà pháo thì tôi cần tối thiểu là một người đồng hành. Khi ấy bún phở mới sướng miệng chóng tiêu và hương cà phê ắt sẽ pha nồng đậm vào cuộc chuyện trò, dẫu tầm phào. Câm nín thì cũng chừng mực nào thôi chứ!

Chạng vạng mát trời tôi mang bao rác ra thảy vào thùng nhựa dựng bên lề đường. Chiều tà xui khiến đúng lúc Katy đẩy xe ngang qua. Xe nhỏ nhắn, một chỗ ngồi có thắt giây an toàn và baby nằm thọt lõm run rẩy để tâm thụ hưởng niềm vui. Mở mắt thao láo, miệng mồm im re. Chào ông. Chào Katy. Xe đẩy trì hoãn dùng dằng. Tôi biết là ông từng nghe nó khóc thét giữa canh khuya. Có gì không phải xin ông niệm tình bỏ qua cho. Ồ, đâu có sao. Cô đừng áy náy, không bao giờ tôi thấy khó chịu vì một tiếng khóc. Đó là một cách bày tỏ có lý do, đôi khi muốn mà không được. Sorry, ông bảo sao ạ? Như tôi, nhiều lần muốn khóc mà nào phát tiếng! Ông khéo đùa! Thật đó, thử hình dung cả xóm này thay phiên bỏ đi chắc tôi có nước khóc. Cô sắp thay đổi chỗ ở? Đúng thế. Dọn về ở gần bên nội, như vậy người ta dễ dàng chăm sóc cho cả bố lẫn con. Khi đã rảnh tay, tôi phải lao ra trường đời kiếm tìm một công việc, cha mẹ anh ấy muốn thế.

Tôi nhìn mái tóc đen dài mềm mại của Katy. Nếu cô đội nón lá, mặc áo dài tím, không chừng mà có khối o con gái Huế đâm ghen tuông, phân bì phân lê các thứ. Từ người Katy thoang thoảng phát ra một hương mùi dịu ngọt, tôi đồ chừng một người mẹ căng mọng sữa đều sở hữu thứ hương vị quyến rũ kia. Sao hôm nay đứa nhỏ ngoan hiền đến thế? Chưa đói bụng hở con?

À, chúng tôi có một ít đồ vật khá cồng kềnh, nghĩ là không tiện mang theo, nếu ông thích thì có quyền lựa chọn mang về dùng. Ông quả là người hàng xóm đáng yêu. Ồ, xin cảm ơn. Tôi thực sự cảm động nhưng xin thú thật tôi đang ở trong cái phạm vi nhỏ như lỗ mũi, đi đứng chật vật lắm. Nghe John, người phát thư bảo ông là một hoạ sĩ? Tôi chỉ đang tìm tòi học hỏi, tôi vẽ để giết thời gian, để khỏi chìm vào chứng bệnh trầm cảm. Không chắc những người như vậy đều đón nhận hai chữ hoạ sĩ. Ông nhún nhường chăng? Tôi tò mò mong được một lần ngắm nhìn, có một thứ gì bí ẩn luôn bao quanh người ông… Da Katy trắng sáng, gương mặt toả ra chút hồn nhiên và màu vàng cam của mặt trời yếu đuối ở xa vừa đi đường viền bọc lấy khuôn mặt trái soan. Katy đẹp hơn những gì tôi tưởng tượng. Tôi chỉ tay về ô vuông nhạt nhoà của cái garage chưa đóng cửa: Nếu cô không bận rộn, tôi mời cô vào đó xem qua một vài bức đã hoàn thành.

Chiếc xe đẩy em bé quẹo hướng sau lời tôi nói, bấy giờ tôi mới nhìn ra dồi dào biết bao thực phẩm dành cho baby được nhồi nhét ở những nơi thuận tiện, vừa tầm tay với của người mẹ. Có nghĩa là mẹ đã trang bị tận răng no đủ cho con trong chuyến đi dã ngoại mà chẳng sợ con phản đối la ó. Tôi mở sáng hai bóng điện. Tôi dọn một chỗ trống trên vuông xi-măng lấm lem những vết màu đã khô. Tôi kéo một chiếc ghế nệm cho khách rồi lật ngửa những tấm úp mặt vào nhau, bày có thứ lớp mong chìu lòng cô láng giềng.

Katy lặng câm, đưa một tay lên môi, đút một hai ngón cho răng cắn nhẹ. Đẹp quá, tôi không am tường hội hoạ và tôi chỉ biết nói vậy. Sơn dầu hả ông? Ừ, sơn dầu. Nếu muốn làm chủ một bức thì người ta phải chi trả cho ông bao nhiêu? Cũng tuỳ cô ạ. Tôi từng bán cho quán ăn người đồng hương, họ mặc cả 2000 và tôi đã yếu lòng phút đó. Đứa bé vẫn câm như thóc, bận láo liên ngó tranh siêu thực. Xanh xanh đỏ đỏ trẻ nhỏ cũng ưa. Tranh tôi vẽ toàn màu tối, nó không khóc nhè, vậy là xem như tôi đã thành công! Tôi có một bức cần phải khoe Katy, tôi mang ra rồi vòng tay chờ đợi. Chúa ơi! Cô la lên, lần này thì dùng bàn tay đè vào ngực mình. Chỉ là sản phẩm của tưởng tượng. Tôi nói. Katy ngước mặt quan sát, thăm dò tôi. Vừa chú tâm, vừa ngơ ngác. Cô cắn môi: Khuôn mặt sầu mộng ấy có phải là tôi không? Tôi hy vọng thế, ông đã lột tả được vẻ hoang mang thất thần của một người sắp sinh con… Và rồi tiếng khóc cất lên. Và rồi Katy tiếc nuối quây lưng. Ở garage như có treo tấm màn vừa buông xuống.

Trước khi lá cây chịu úa màu theo chu kỳ, tiểu gia đình Katy dọn nhà đi. Cô sang chào tôi một sáng có gió heo may. Món quà ông trao tặng quá lớn, một kỷ niệm đẹp mà có lẽ suốt đời tôi luôn mang theo. Bức tranh khiến ai cũng phải trầm trồ. Tôi rất phiền muộn khi tìm chẳng ra một thứ gì hòng đáp trả, cũng như tôi biết tôi đang buồn khi phải nói lời giã từ. Ông ở lại an mạnh nhé. Katy mở rộng vòng tay ôm siết lấy thân tôi. Chúng tôi đón nghe sự bồi hồi đang cựa mình. Ngực tôi ướt, mát lạnh. Nếu có đánh rơi ra giọt nước mắt nào thì vai tôi mới là chỗ để cô gục đầu thổn thức. Vô tình tôi đã đón nhận đôi dòng sữa mẹ ngọt ngào mãi ngại ngần loang ra trên sứa vải mỏng, hoen ố.

Mất khá lâu thời gian tôi mới làm quen được nỗi trống vắng đang dựng hình khối đâu đó. Người bạn tôi đoạ đày vác thân đi tìm một nửa ở phương xa cũng bặt vô âm tín, điện thoại chẳng thèm gióng lên một hồi chuông hốt hoảng. Tôi cũng thôi để tâm chờ đợi tiếng chim hót trên cây cao bóng cả. Tôi vẫn siêng vẽ nhưng chưa ký tên vào một bức nào cả, bởi ở đó dồn cục một bố cục chông chênh. Dạo này tôi thử đơn giản hoá mọi hình khối, mọi đường nét; và như thế tranh tôi mở ra những bầu trời trống lạnh, dựng ở góc nhỏ nhoi một trạm đợi xe buýt, sợi dây điện có chiếc giày đen treo lẻ loi giữa tầng không, một ngọn đèn vàng gục đầu ở vũng nước rạn vỡ bề mặt… Và tôi ôm đầu nghĩ không thông một cái tựa bức tranh. Bế tắc. Cho đến khi John tới, đón từ tay nhân viên bưu điện một lá thư xanh. Tên người gửi: Katy. Ngoài vườn, chim chóc đồng loạt hót véo von.

Hồ Đình Nghiêm

Ra riêng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 05/05/2017  

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Má của Hoài nói: Thôi, tính toán như vậy Mạ cũng an tâm. Cầu trời cho tụi con được tai qua nạn khỏi.

Hoài cười, nụ không tròn. Cười trước một chuyện không vui, gượng giữ cho khỏi khóc. Tôi lúng túng quay mặt nhìn ra vuông sân có lắm chiếc xe đò, chật chội, không thứ lớp, la liệt những đồ đoàn, bất an những người đi kẻ tiễn. Tôi biết ngoài bến xe ấy cũng đang có nhiều diễn viên nghiệp dư bị hoá thân vào để cầm lòng không đậu trước hoạt cảnh phân lìa, thầm thì thút thít. Tạm biệt ngày nay và có thể vĩnh biệt ngày sau.

Ra xe là vừa. Cái lọ dầu con đừng cất trong xách nghe Hoài, bỏ sẵn trong bọc áo có chi mà moi cho mau.
Chúng tôi trả tiền cho bà chủ quán Đồng Khởi. Hai ba đứa nhỏ từ đâu vụt ùa tới tranh nhau giành ăn những thức thừa trên bàn. Ba tô bún chỉ sót chút cặn nguội tanh đọng cạn xợt được làm cho sạch đi.

Thiệt tội nghiệp! Má của Hoài chép miệng. Vừa đi bà vừa tháo gỡ chiếc khăn cột quanh cổ ra: Để con trùm lên đầu cho khỏi gió máy. Hoài vẫn giữ bộ mặt đăm chiêu, buồn suốt buổi: Thôi, con không lấy đâu. Mạ không biết là họ dị đoan chuyện trao khăn à?

Ấy chết! Mạ quên. Nè Quang, đừng để cho Hoài nó ngồi gần cửa hí. Tôi dạ. Bóc sẵn một trái cam, có chóng mặt buồn nôn thì đưa nó hít cái vỏ cũng đỡ dữ lắm. Tôi dạ. Còn Hoài thì làm bộ vùng vằn: Được rồi Mạ, tụi con lớn sầm đầu cả rồi, trẻ nhỏ chi nơi mà Mạ lo!

Nè, nhớ lời Mạ dặn đó nghe chưa?

Chuyện chi Mạ. Mạ dặn cả trăm thứ…

Tới nơi rồi thì kiếm cách đánh về cho Mạ cái điện tín hỉ.

Những giọt nước mắt bắt đầu ứa ra. Hai mẹ con đứng ôm nhau, lặng thinh hết nói. Ôm run bật một đỗi rồi Hoài bị đẩy ra. Chúng tôi leo lên xe, chật vật tìm ghế trống. Và rồi xe chuyển động rời bến, khói đen đặc mãi phun lên trời hẹp ngoài ô cửa. Chúng tôi không dám trông lui dáng người đàn bà cắm xiêu đổ giữa vuông sân nhiều rác thải. Trôi đi, lần xa, mất hút.

Anh kỳ ghê, cái mặt như đi đưa đám ma.

Người ta đang lo mà, ruột nát nhừ.

Cả mạ em anh cũng không nói ngọt cho bà đôi câu trấn an!

Con người anh vụng về lắm, bối rối trong thứ hoàn cảnh lìa xa như vậy. Mạ biết hết chứ không đâu. Rồi bà sẽ tha thứ.

Nè anh Quang…

Gì em?

Từ nay anh phải săn sóc em cẩn thận đó nghe.

Xe qua ổ gà, dằn xóc đến ê ẩm. Bàn tay tôi đau bởi Hoài bóp lấy thật mạnh. Xe nhập vào quốc lộ Một, cánh đồng lúa xác xơ chạy đuổi một bên cùng gió quất ngoài thành cửa trầy trụa chiếc xe đò chạy suốt liên tỉnh lộ.

Xức dầu bây giờ chưa?

Có gì đâu mà biểu người ta xức dầu?

Thì anh bắt đầu săn sóc đó.

Hoài cười với tôi, không như lần cười gượng gạo trước đó dành cho bà già.

Để coi thử được bao lâu cho biết! Chỉ được tài nói đùa với em thôi!

Nghe theo lời khuyên của mạ Hoài, tôi ngồi sát bên cửa án che bớt gió giúp Hoài. Mây không trì nặng, mây tán loạn giạt bay. Cảnh vật câm nín trong màu trời chan ít nắng. Hàng cây thưa, che không hết mặt cảnh quang đằng sau. Đó là một vùng biển mãi miết xô sóng vào bờ. Xanh thứ màu của đe doạ thẳm sâu tận chân trời. Tôi nói nhỏ cùng Hoài: Nhìn kìa, chẳng biết vùng biển trong kia ra sao? Mong là đừng cau có như vậy. Em không nhìn đâu, lâu nay chỉ mới tưởng tượng thôi mà đã hồi hộp tới mất ăn mất ngủ! Thật là “xa quê hương nhớ mẹ hiền”!

Chiếc xe đò già tuổi, hỏng hóc chỗ nào tu sửa chỗ đó, thủng nơi đâu thì vá lại với những gì có thể mang ra đậy đệm. Nhưng tiếng máy nổ ồn ào thì cứ mặc xác, một đứa mang tật ngáy lớn trong khi ngủ thì khó có thể chữa dứt. Còn phát tiếng là còn thở, im bặt cái đó mới đáng phàn nàn. Máy nổ kêu than giúp khoả lấp những lời nói mà chúng tôi trao đổi, nhưng để an tâm tôi thử để mắt quan sát những kẻ đồng hành ngồi chung xe, vây quanh. Một bà già lớn tuổi đang nhắm đôi mắt có nhiều vết nhăn thiu thỉu ngủ gà gật. Một cô gái trẻ vạch áo bày bầu sữa trắng mốc cho con bú, hài nhi miệng ướt đẫm mút mê man mắt láo liên trông lên một ông tóc muối tiêu ngồi sát đang ngó xuống hưởng thụ bằng mắt. Ông ấy cụt mất một cánh tay, tay lành lặn đang nắm cây quạt phất lia phất lịa như đuổi ruồi, như muốn phân trần một điều gì cho bà mẹ trẻ nghe.

Này Quang, thỉnh thoảng anh phải rà tay kiểm soát cái ruột tượng nghe.

Chắc như bắp, sít sao thắt lưng buộc bụng, không sao đâu.

Tội cho mạ quá, phải chịu hy sinh lắm thứ!

Lý ra em không nên lấy nhiều như vậy. Phải biết từ chối để mạ có mà phòng thân tuổi già cô quạnh.

Mạ ép đó. Nói để lỡ đổ bể tụi mình còn biết cách lộn lui. Đâu có vô tâm như anh… Mà thiệt, chỉ có mình anh là sướng thôi!

Chuyện gì nữa đây?

Đừng trách em ưa so đo tính toán. Anh không còn ai ràng buộc, lại được mạ thương tín nhiệm trao gửi lắm điều. Kể cả em, mạ cũng cho anh mang đi luôn, vô điều kiện.

Anh lột vỏ quả cam cho em hôn hít nhé?

Thật đó. Anh chẳng nhìn nhận ra những thơm thảo hay sao? Không đám hỏi, chẳng đám cưới, chỉ có với nhau bèo nhèo tờ giấy úa vàng tái sinh ghi lem nhem hàng chữ “đăng ký kết hôn”!

Phải cắt nghĩa chữ tình yêu bằng cách gì giữa thời buổi ngược ngạo này? Em không thấy là mình đang cùng nhau ngồi trên một chuyến xe, hãy xuôi tay cho nó chở mình tới những bất ngờ. Gặp phải hoạn nạn, khi đó người ta mới chứng minh được lòng sắt son.

Nhưng ít ra, ngay bây giờ, anh phải nhìn nhận là chuyện vợ chồng mình mang đủ sự khác thường, có hơi kỳ khôi!

Hoài à! Phải hiểu là mình đang mạo hiểm, tạm gạt bỏ bớt những tiểu tiết, những câu nệ hình thức. Trời ơi, bọn mình đang mang mạng sống ra để đặt xuống canh bạc mà cá cược, để sấp ngữa, để đỏ đen cho chính sinh mệnh mình.

Tình yêu? Quang à, anh dám chết, hy sinh vì em không?

Sao giờ này em còn mang mấy câu hỏi kiểu đố vui để học ra chất vấn anh? Bài thi trắc nghiệm đó thiệt khó trả lời chỉ bằng vào một cái gật hoặc lắc đầu.

Ngày đầu em ra riêng, em không có quyền thắc mắc sao?

Ăn cam cho ngọt miệng…

Không ăn.

Anh vén tóc xức dầu hai màng tang cho em nhé.

Chưa tới lúc.

Anh đưa tay cho em gối vào ngủ một giấc?

Không ngủ.

Xe bắt đầu lên đèo, nhọc mệt, gầm rú. Như người chạy băng ra bãi cát mà ở sau chợt có bàn tay níu chặt vạt áo, trì kéo. Người đàn ông cụt một tay đã thu cất cây quạt xếp, đứa nhỏ đã co thân ngủ yên trong vòng tay mẹ và chiếc áo nhăn kia đã che đậy lại một bầu vú mọng căng sữa. Người mẹ chừng nhỏ tuổi thua cả Hoài, khuôn mặt hằn đủ nét chịu đựng để dại khờ chẳng lộ cách oán than, đầy cam chịu. Cô ta ôm đứa con như xem đó là tài sản, là hiện vật quý báu nhất mà trời đãi kẻ khù khờ. Đầu tôi váng vất, nghe nặng những hình ảnh mông lung vần vụ quay. Ra riêng. Giáp mặt với đời. Tự lực cánh sinh. Trách nhiệm. Che chở. Bảo vệ. Vượt biển. Trùng khơi. Lạc lõng. Mất đất. Vô tổ quốc… Tôi nhớ tới đấng sinh thành, cha mẹ tôi có linh thiêng xin đoái hoài thương cảm, vực tôi qua bao khổ nạn đang rình rập đợi chờ. Xin giúp cho hai đứa con một lòng không đổi khi lênh đênh từ vũng ao tù nước đọng sang được chốn phồn hoa đô hội bên kia biển rộng sông dài. Tôi lơ mơ…

Đầu tiên là tiếng chửi thề lớn giọng của người đàn ông mất một cánh tay. Giọng Bắc, chữ đéo mẹ chen cài với đếch nhằm tả thực một tình huống gây khó chịu vụt hiện. Chiếc xe đã thôi chạy, đã dậm chân tại chỗ. Chộn rộn lây lan trong xe với những cái đầu luôn chao đảo ngó trước trông sau, không yên vị trí. Ngoài ô cửa đóng khung một ruộng nước mọc đầy lau sậy. Sợi dây điện chùng xuống giữa hai cột gỗ cắm xiêu vẹo bên bờ cỏ úa. Đôi ba con chim đen đúa đậu trên dây, rỉa lông xớn xác, đầy cảnh tỉnh. Lần lượt có ba người đeo súng tiểu liên bước vào lòng xe. Như đã thuộc lòng một kịch bản, họ chia nhau đi kiểm soát giấy phép đi đường của mấy chục nhân mạng đang lại thần hồn. Từ tỉnh thức qua sửng sờ, từ tuân thủ qua chết lặng lo âu. Trên trần xe vọng xuống những tiếng động mạnh. Thằng lơ xe ốm người di chuyển lắc léo như một con khỉ, thò ngược đầu xuống hỏi giật giọng, mặt đỏ ké:

Cái bao bố bự tổ chảng cột chung với chiếc xe đạp nằm trên này là của ai?

Người đàn ông cụt tay đứng lên. Tên mặc đồng phục màu vàng sửa lại khẩu súng bước lại gần nhìn vào dấu vết dị hình. Ống tay áo phất phơ trông chẳng khác một hình nộm trồng ngoài đồng nhằm để doạ chim. Hắn đưa ra câu hỏi:

Cho tôi xem giấy đăng ký về việc mang chiếc xe đi xa.

Cái gì? Người đàn ông mang cơ thể chẳng còn lành lặn trợn mắt lên, như xem tên công an là con chim ngu ngơ hót sai giọng. Lý ra ông nên bị thui chột một mắt mới đúng. Con diều hâu đứng sờ sờ ra đó!

Chiếc xe ràng kỹ trên ấy có đúng là của ông không? Có ai mang tài sản của mình rời khỏi địa phương mà không xin giấy chứng nhận được phép di dời chứ? Ông tên gì?

Đọc trong tờ giấy ấy thì rõ, đếch rườm lời!

Nhân viên cửa quyền không buồn đọc, cầm giấy tờ quay người đi. Bình thường chẳng ai có lối khiêu khích chọc giận như thế cả, cánh tay áo rỗng phất phơ run tựa gặp gió chướng. Hành khách thảy chăm mắt chú mục tới ông, ái ngại.

Bố mẹ nó, xem làm gì được ông nào!

Người mẹ bồng con ra dấu biểu ông đè nén, nguôi cơn giận. Kết quả chẳng như ý, ngược lại như kiểu châm dầu vô lửa. Mặt ông ấy đỏ bừng, tưởng tượng mưa trút đầy trời, có bước ra dầm mưa, ông cụt tay cũng không hạ hoả đâu.

Đéo mẹ chúng mày, bộ đội từng hy sinh một phần thân thể ở chiến trường Hạ Lào như ông đây nhẽ nào lại đi sợ một thằng nhóc đáng tuổi con mình à? Nực cười nhỉ!

Đâu ai cười được, thảy đều nhăn nhó, kể cả đứa nhỏ ngu ngơ kia đang bàng hoàng dong cả hai tay lên biểu tỏ sự bất mãn khi bị lôi ra khỏi giấc ngủ chưa tròn. Mếu máo, ằng ặc phát tiếng khóc, xốn xang. Chỉ tội cho thằng lơ xe cứ bị quay như vụ, cột chặt cho cố xá vào những kiện hàng rồi giờ này cong lưng mà gỡ tháo múi này dây nọ. Gà vịt đồng thanh hợp xướng quang quát náo động một vùng. Những bao tải lần lượt ném chẳng thương tiếc xuống mặt đường. Ông thương binh một thời le lói chống quân xâm lược ngó thấy mà hoảng hồn. Máy bay con ma F-4 của bọn ác ôn quần trên đầu cũng chả làm rối trí như bữa nay.

Lếu láo thật! Khốn nạn thật!

Một vài tiếng xì xầm của bà con đáp lời. Mẹ kiếp, không chừng mà vô cớ chúng ta bị cột chân giữa đồng không mông quạnh thê lương này!

Mưa nhỏ hạt bắt đầu rơi nghiêng, châm chích vào mặt lộ đen rướn thân chịu trận. Gần trạm kiểm soát mọc thồi thụt những mái nhà tranh, đa số như muốn dựa hơi, núp bóng cái đồn bót kia để biến cải thành dáng vẻ một quán ăn, một tiệm bán nước. Mưa rơi như đồng loã, chẳng cần chào mời, quán nào quán nấy không dưng mà có lắm khách đồn trú nóng ruột chờ thông đường. Cả ba chiếc xe đò lần lượt thả khách xuống lai rai, đi lơ ngơ cho giãn gân cốt, bớt ê ẩm lại chui vào quán mà kéo ghế ngồi lắng nghe người nói gà kẻ nói vịt, bàn loạn về cuộc lữ mãi gặp nguy nan đón đầu.

Ủa, đi trên chuyến xe nào?

Đó, chiếc nằm ụ phía trước ấy.

Lâu mau rồi?

Khoảng một tiếng chứ mấy! Thà mà xe bị lột dên, cháy bu-gi, hư con heo dầu, hỏng xú báp cho cam! Đằng này… thiệt là oan ôi ông địa!

Bị chuyện chi vậy không biết?

Ối dà, làm sao mà biết được mấy ổng, mưa nắng thất thường, bắt sỏi đá phải thành cơm. Mẹ rượt! Không ai hiểu ngọn ngành cớ sự. Tôi leo lại lên xe để thuật cho Hoài những gì mắt thấy tai nghe. Người đàn bà ôm con xoay đầu nhìn, chừng nóng lòng muốn biết. Tôi lớn tiếng làm tài khôn: Họ làm nút chặn để bắt con buôn. Lo âu hiện ra trên da mặt tái, chồm đầu tóc rối hướng về căn nhà tường vôi nham nhở viết đầy khẩu hiệu vừa nuốt mất ông cụt tay vào vuông cửa đen ngòm.

Đến phiên anh giữ chỗ cho em đi. Hoài nói và sửa soạn đứng lên. Tôi hỏi: Cần mua thứ gì ăn không? Anh còn tiền đây. Không, em chỉ đi tiểu thôi. Tôi cởi áo khoác, phủ vào vai Hoài, mưa nhỏ nhưng đủ để làm người em ướt.

Có thể do mưa, màu trời chóng tối. Núi đồi đứng án cuối đường như giam cứng thứ không gian đang nhuộm sẫm. Một hai ngọn đèn được thắp sáng khiến mặt đường như có thoa mỡ. Đèn âm u cháy tỏ dưới từng mái tranh. Hoài trở lại với một tay cầm cái ly nhựa: Uống miếng cà phê cho tỉnh người.
Chưa uống tôi đã thấy tỉnh, thấy Hoài luôn đi guốc trong bụng tôi.

Biết không Quang? Ai đời giữa chốn khỉ ho cò gáy này lại chạm mặt đứa bạn học ngày cũ.

Ly cà phê hơi chua, hơi đắng, hơi nguội. Bạn cũ à? Ừ, cả nhà nó bị dồn đi vùng kinh tế mới nằm trong chân núi, phía bên kia đường rầy xe lửa. Hai chị em nó xin được cái giấy phép mò ra đây mở quán bán nước. Thấy lấm lem, chật vật thiệt tội nghiệp!

Tôi đưa Hoài cái ly, nhìn tới trước thấy ghế tài xế bỏ trống trong khi thằng lơ xe nắm ba cây nhang vừa thắp đỏ cắm vào cái bình nhựa nằm dưới bức ảnh Phật bà treo lắc lư ở kính chiếu hậu. Chưa phải lúc để nó hô hoán: Tới luôn bác tài!

Mình xui ghê, đi nhằm lúc họ phát động chiến dịch đắp mô dọc đường. Con bạn em nói, có một số người vừa trốn khỏi trại cải tạo. Bọn thuế vụ thì đánh hơi có đường dây buôn thuốc lá lậu từ Lào về. Quang nè, không biết có nên thử nhờ nó giúp mình? Giúp được chuyện gì chứ? Em thấy chị em nó dường như quen biết rộng, mình nhờ nó mua giúp hai chỗ trên chiếc xe nào được ưu tiên chạy trước. Thấy bạn cũ xác xơ quá, sẵn dịp trao gửi uỷ lạo cho gia đình nó một ít tiền.

Tôi bóp nhẹ tay Hoài và thoáng cảm động vì tấm lòng Hoài còn quan hoài tới những phận số kém may. Giúp được ai, một chút gì cũng là cách mình thu về được hồng ân, điều mà nhà Phật luôn dạy dỗ. Tôi buông thân, nửa nằm nửa ngồi trong lòng ghế chật thấy buồn ngủ. Lo toan suốt tuần và đã lâu rồi chưa khi nào tôi ngủ tròn giấc. Tôi nhắm mắt, trong đầu chật đầy những bãi bờ tự tưởng tượng, những địa danh xa lạ, nơi bạn bè tôi lần lượt chuyển đổi từ vượn lên thành người, từ lưng cong đến thẳng người hăm hở tiến về một tương lai ngập tràn ánh sáng. Tôi sẽ dùng mọi cách, xoay xở để đánh về một cái điện tín cho mạ Hoài an tâm, rằng sau cùng tụi con đã tới được bến bờ tự do.

Còn giả vờ ngủ nữa sao? Cây đèn pin quét ngang dọc để cuối cùng hội tụ tất cả luồng sáng vào giữa mặt tôi. Ngọn hải đăng xây bất kỳ trên eo biển nào cũng sáng chói dã man đến thế là cùng. Không có tiếng sóng gầm đập tung bọt vào đá tảng trơn láng, chỉ có tiếng ai khạc đờm, chỉ có tiếng khóc thét của trẻ con đói ăn. Chiếc ghế trống, Hoài chưa trở lại… Hoài ơi! Lồng ngực tôi nhói đau. Thảng thốt.

Thằng này chứ đâu còn đứa nào khác… Một, rồi ba bóng đen đổ ập tới. Lôi cổ nó xuống. Một họng súng chỉa sát bụng tôi. Chẳng biết viên đạn đã lên nòng chưa, bởi nếu bất cẩn sẽ gây ra một tiếng nổ chát chúa. Lòng xe đen như nhuộm mực, những hơi thở gấp rút, lách cách sắt thép va chạm nhau. Cả đời tôi chưa chạm tay vào súng ống nhưng tôi hiểu sự thị uy hiểm nghèo, nhìn phát khiếp. Tôi bị kéo đi bằng những ngón tay bấu chặt, tôi không còn nhìn nhận rõ nét cảnh vật đang thay phiên đảo lộn. Bọn họ xô tôi vào trong một căn phòng, ở đó người đàn ông cụt tay ngồi gục đầu trên ghế, câm họng thôi kể lể công trạng với thành tích chiến đấu năm xưa. Bên cạnh dáng ông án che, Hoài đang co người khóc tấm tức, tóc rối phủ với tất cả tuyệt vọng của một con mồi vừa lọt vào bẫy sập.

Một ông đứng chống nạnh thổi khói thuốc vào mặt Hoài: Mày đừng ngoan cố chối tội, con Lành đã mật báo mọi chuyện. Không thành khẩn khai báo thì chắc là muốn ngủ qua đêm ở đây với chúng ông? Hai chân tôi run, cánh tay tôi bị bẻ quặp lui sau. Hoài ngồi đó, cô quạnh như một hòn đảo mà ghe tôi chết máy không thể tiếp cận, xa xăm với sóng cao gió lớn. Hoài cất đầu lên, nhìn tôi bằng hai hố mắt đầm đìa nước mặn. Ăn năn, hối hận, ngập đầy khổ đau vừa đổ xuống. Đôi lúc em mang lòng tốt ra giúp bạn và em đón được bể khổ mà bạn đổi trao.

Một tiếng nói, gần như quát to: Thằng chồng mày đó, có phải không? Tôi bị xô từ sau lưng và tôi ngã chúi người trên một giỏ cần xé đan bằng tre. Mặt tôi bị cào xướt, rát bỏng. Đôi ba kiện hàng đã bị tháo bung, tôi cũng đang biến thân thành một thứ bao bì. Hai tên mặc sắc phục cong lưng để thò tay xuống mò mẩm khắp người tôi, cái ruột tượng mạ Hoài tin tưởng trao cho vừa bị kéo tuột ra, đau như chúng moi hết gan mề lòng cật máu me tôi xổ oà, thất thoát. Người tôi nhẹ tựa hồ là một cái xác vụt mất linh hồn. Linh hồn yếu đuối nhìn rõ một thằng người đang đưa đôi bàn tay thô bạo vào y phục Hoài, lùng sục tới những vùng kín đáo của vợ tôi.

Con Lành đưa tin thật chính xác, bọn này đang âm mưu phản quốc vượt biên. Hắn nói. Lành? Bạn học cũ của Hoài? Tại sao nó chẳng mang tên Ác? Tên Dữ? Tên Lọc Lừa? Tên Khốn Nạn? Bạn bè lớn lên cùng một vùng đất sao nỡ hại nhau như thù nghịch Bắc Nam! Bàn tay gân guốc kia vẫn hăm hở sờ mó da thịt Hoài, trên những lụa là mà tôi chưa được quyền khám phá, chưa cả một đêm tiếp cận, cuống quýt, hân hoan trao đời cho nhau. Tôi thu hết sức mạnh của một thằng chồng bất hạnh, tôi phóng tới đạp đổ con quái vật đang nhục mạ vợ chồng chúng tôi. Tôi muốn chứng minh duy chỉ một điều cho Hoài thấy, tôi sẽ bảo vệ em, dù với hai tay đang bị trói, dù với tất cả những sa cơ thất thế. Tôi chờ nghe tiếng súng nổ, hãy bắn bỏ chúng tôi đi, đừng khoan nhượng. Chúng tôi muốn chết.

Không có tiếng súng nào cả. Đất nước đã thanh bình? Vợ chồng tôi đã thua? Kẻ thắng cuộc trở ngược nòng, dùng báng súng khẩu AK-47 đánh mạnh vào đầu tôi. Mặt đất tối đen, tận tuyệt một mộ huyệt vừa khai mở. Mơ hồ trong thính giác lùng bùng vọng lên tiếng thét sắt lạnh của vợ tôi. Ở xã hội này không ai có quyền được chết một lần. Tôi chết, tôi chết, tôi chết…

Hồ Đình Nghiêm

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Hình minh họa

Tập 4

Boat people

Chương 36

Ra cầu Ái Tử, lên núi Vọng Phu

Đã hơn 9 giờ sáng rồi, lúc bấy giờ tôi mới đi qua nhà bà tổ trưởng, tay ôm cuốn sổ “nhật ký đời tôi” mà trong người hãy còn bần thần ngầy ngật vì men rượu.

Vừa thấy tôi bà tổ trưởng đã cao giọng dạy dỗ.

-Sao hôm nay cậu đi làm trễ quá vậy?

Tôi nói với bà tổ trưởng mà cứ như là cuội nói.

-Thưa bà, tối hôm qua nhà còn mấy củ khoai đã bị thiu, nghĩ đến công lao khó nhọc của nhân dân khi trồng được củ khoai, vất đi thì tiếc cho nên tôi ăn hết luôn, ăn sạch sẽ. Sau đó suốt đêm tôi bị đi tiêu chảy liên tục cả chục lần, cho đến bây giờ mới tạm bớt. Tôi qua đây xin phép bà cho nghỉ ở nhà, mai hay mốt hết bịnh tôi sẽ đi làm lại.

Bà tổ trưởng nói với giọng lạnh lùng.

-Muốn nghỉ bệnh, phải có giấy chứng nhận của phòng y tế khu phố. Cậu đem cuốn sổ sinh hoạt của cậu lên phòng y tế ở đầu đường Phan đình Phùng, xin xác nhận đau ốm rồi đem về đây, tôi sẽ cho phép cậu nghỉ dưỡng bệnh.

Tôi vâng vâng dạ dạ rồi quay người đi. Khi đi được một đoạn khá xa, biết là bà tổ trưởng không nghe gì được, lúc bấy giờ tôi mới dám buông tiếng chửi thề cho đỡ tức.

-Mẹ bố, cái thời chết giẫm.

Tôi đạp xe đến phòng y tế của Phường, trước năm 75 đây là phòng mạch tư của một bác sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Trong phòng có hai người đàn bà bận áo choàng trắng đang làm việc. Tôi lấy số thứ tự rồi ra ngồi ngoài sân chờ đợi đến phiên mình.

Hai giờ sau, tôi được kêu vào phòng để khám bịnh. Người đàn bà trẻ mà tôi đoán là bác sĩ, đưa cho tôi tấm giấy màu vàng úa, loại giấy được tái sinh không biết là lần thứ mấy. Bà ta nói.

-Ông điền tên họ, ngày sinh tháng đẻ, nghề nghiệp và địa chỉ.

Tôi vâng dạ, mau lẹ điền giấy tờ.

Người đàn bà đọc tờ giấy rồi hỏi, câu hỏi xưa như trái đất mà nhiều người đã hỏi tôi.

-Sĩ quan Ngụy còn đang học tập cải tạo ở đâu tận Miền Bắc, tại sao ông được về sớm như vậy.

Tôi ngần ngừ một chút rồi mới nói, giọng nói nửa đùa nửa thật.

-Thưa cô, có thể là tôi có bà con theo Cách mạng.

Người đàn bà nhẹ giọng.

-Tôi là y tá Ngụy, được nhà nước lưu dung cho ở lại làm việc, lát nữa ông sẽ được bác sĩ khám bịnh.

Cô y tá nhìn vào phòng trong rồi nói.

-Nghe nói bà bác sĩ học nghề băng bó vết thương cho bịnh nhân trong mật khu, sau hơn chục năm hành nghề chăm sóc thương binh ngoài mặt trận, bà được cho lên làm bác sĩ, còn phần ngoại hình của bà thì… Tôi nói trước để cho ông biết mà chuẩn bị tinh thần.

Đúng như cô y tá lưu ý, tôi không dám nói gì về bề ngoài của bà bác sĩ, vì sợ không một ai tin những gì mà tôi nói về bà ta.

Bà bác sĩ, chỉ tôi ngồi xuống cái ghế rồi hỏi.

-Đau gì?

-Thưa bác sĩ, tôi bị đau bụng tiêu chảy.

Hình minh họa

Bà bác sĩ nhăn mặt.

-Iả chảy thì nói là ỉa chảy, ở đó mà tiêu với không tiêu. Bị hồi nào?

-Thưa bác sĩ, từ tối hôm qua.

-Đi ỉa nhiều không?

-Dạ thưa hơn mười lần.

-Cứt lỏng phải không?

-Dạ phải.

Tôi trả lời mà trong lòng nghĩ thầm, tiêu chảy mà cứt đặc sao được.

Bà bác sĩ gắn dây ống nghe vào hai tai, tay cầm cái mặt nghe hình tròn úp vào ngực của tôi, sau khi di chuyển vài lần, đầu nghiêng qua nghiêng lại, bà nói.

-Bịnh nhẹ thôi, không có gì phải lo. Hôm qua ăn rau sống tưới phân bắc mà không chịu rửa cho sạch chứ gì?

-Dạ, sao bác sĩ biết?

-Tôi là bác sĩ nên phải biết. Hồi còn ở trong mật khu tôi chữa bịnh này rất thường. Nhà ông có trồng ổi không?

Tôi nghe nhưng không hiểu, tại sao bà bác sĩ lại hỏi như vậy.

-Thưa bác sĩ, không có.

-Đi tìm nhà nào có trồng cây ổi, xin một mớ lá, nấu lên rồi uống sẽ cầm được ỉa chảy.

Từ đầu đến giờ, tôi đóng kịch là một bịnh nhân bị tiêu chảy, nên giả vờ lo lắng hỏi.

-Thưa bác sĩ, có cần sắc ba chén còn tám phân hay không?

Bà bác sĩ nói.

-Cái này là thuốc Nam, thuốc gia truyền từ ông bà để lại, đâu có phải là thuốc Bắc mà phải sắc cho cạn.

-Xin bác sĩ cho tôi một cái toa, để mua thuốc chữa bịnh ỉa chảy.

-Làm gì có nhà thuốc tây mà mua, uống nước lá ổi là được rồi.

Tôi cảm ơn bà bác sĩ, rồi đưa cuốn sổ sinh hoạt hàng ngày của tôi cho bà.

-Nhờ bác sĩ ký vào đây, cho tôi được nghỉ phép vài ngày, đợi khi hết bịnh tôi sẽ đi làm việc lại.

Bà bác sĩ cầm cuốn sổ lật qua rồi lật lại, sau một hồi cố gắng rặn được vài chữ “Sổ sinh hoạt”. Bà chắt lưỡi.

-Chuyện giấy tờ đem ra ngoài, con y tá nó làm cho.

Tôi cầm cuốn sổ, cảm ơn bà bác sĩ rồi đi ra, bên tai còn nghe tiếng càu nhàu “Cái lũ Ngụy này, đứa nào cũng mắc cái bịnh cảm ơn”.

Trên đường về nhà, tôi vừa đạp xe vừa nghĩ đến chuyện phải sống suốt đời trong một xã hội, khi đau ốm đến bệnh viện được một bà bác sĩ chưa chắc đã học xong bậc tiểu học, miệng nhai trầu, tai đeo ống nghe, khám cho bịnh nhân. Cũng trong lúc đó có hàng trăm, hàng ngàn ông bác sĩ tốt nghiệp Y khoa đại học bị lùa vô những cái nhà tù tận trong rừng sâu núi thẳm gọi là trại cải tạo, sáng trưa chiều tối đốn tre, chặt củi, cuốc đất trồng khoai. Tự nhiên, tôi có cảm tưởng là mình đang bị ỉa chảy trong quần.

Liên tiếp ba ngày, tôi nằm nghỉ thoải mái ở trong nhà. Buổi sáng tôi ngồi trên sân thượng ăn sáng với vợ con, uống cà phê, nhìn đỉnh núi Lâm Viên mù mờ trong sương mà lòng thảnh thơi nhẹ nhõm. Được sống sung sướng, bỗng dưng tôi nhớ đến bạn bè, nhớ Long công tử, Nhân đầu bạc, không biết giờ này tụi nó ở đâu.

Hai giờ chiều, tôi ôm cuốn sổ sinh hoạt hàng ngày đi qua nhà bà tổ trưởng.

-Thưa bà, bịnh của tôi đã thuyên giảm khá nhiều, ngày mai tôi sẽ đi làm, còn lại buổi chiều hôm nay xin bà cho tôi được đi ciné.

Phải mất một lúc chần chờ, lưỡng lự, bà tổ trưởng mới gật đầu. Với giọng nói của một con vẹt Cách mạng 30, bà ta lên giọng dạy dỗ.

-Sĩ quan Ngụy như cậu phải coi phim “Thép đã tôi thế đấy” của Liên Xô, đang chiếu ở rạp ciné Hòa Bình. Coi để biết con người Cộng Sản “Ba veo cót sa gin” đã được tôi luyện như thế nào, lấy đó mà làm gương.

Tôi cảm ơn bà tổ trưởng đã chỉ dạy. Ở trong tù, tôi đã được cán bộ quản giáo ca ngợi về cái tên Ba veo này nhiều rồi, nghe nhiều đến độ bị iả chảy luôn.

Hình minh họa

Sau khi nói với vợ là mình sẽ đi thăm má của một người bạn, tôi thả bộ dọc theo con dốc Minh Mạng lên khu Hòa Bình. Thay vì mua vé vào coi ciné, coi phim anh “Ba veo cót sa gin” ngu xuẩn nào đó của Liên Xô, có đầu mà không có óc, một anh Việt Nam lấy thân mình chèn pháo, thì anh Liên Xô lại chui đầu vào lò lửa Cộng Sản để tôi luyện cho thành thép. Tôi quẹo qua đường Hàm Nghi, đi quá nhà thờ Tin Lành một đoạn khá xa, tìm tới căn nhà của Nhân đầu bạc, nằm phía bên trái thấp hơn mặt đường một chút.

Dễ chừng cả chục năm rồi tôi mới gặp lại má của Nhân, bà cụ già đi thấy rõ trong bộ bà ba rộng thùng thình, bạc màu thời gian. Nhìn tôi một hồi lâu, bà hỏi.

-Có phải con là thằng cục bột không?

Tôi quá mừng vì bà còn nhận ra tôi.

-Dạ thưa bác đúng, con là thằng cục bột đây.

Nói xong, tôi cầm tay bà.

-Bác có khỏe không?

-Mày nhìn bác là biết rồi, khỏe sao được khi thằng Nhân còn ở tù mãi tận đâu đâu. Nó về là bác khỏe ngay.

Tôi mau mắn hỏi bà.

-Nhân học tập cải tạo ở đâu vậy bác? Theo con biết, sĩ quan Ngụy ở mấy tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng, Phan Rang, Phan Thiết, Bình Tuy, đều bị lùa vô trại tù Sông Mao. Ở đó con tìm hoài mà không thấy Nhân, nên cứ nghĩ là nó đã đi Mỹ vào tháng tư năm bảy lăm rồi.

Má của Nhân thở dài.

-Đi đâu mà đi, được đi Mỹ đã là phước, thằng Nhân còn đang học tập cải tạo. Mà nè, ở Đà Lạt này bác chưa thấy một ông sĩ quan nào đi tù được thả về. Sao con về sớm vậy?

Tôi không biết phải trả lời như thế nào về câu hỏi của bà, chục người gặp tôi thì cả chục đều hỏi như vậy. Không muốn giải thích dài dòng về chuyện này, tôi đưa tay gãi đầu.

-Thưa bác, khó mà biết được mấy ông Việt Cộng dựa theo tiêu chuẩn nào để thả người. Theo sự suy đoán của con thì những sĩ quan được cho về sớm, đa số thuộc thành phần có bà con theo mấy ổng. Và những ông sĩ quan ngày trước khi còn là lính Việt Nam Cộng Hòa không liên quan đến ngành Chiến Tranh Chính Trị, Tình báo, Quân báo…Đại khái là như vậy. Có thể con là lính văn phòng, làm ở Trường Võ Bị Đà Lạt, nên được cho về sớm.

Tôi ngưng nói, nhìn má của Nhân một lúc rồi mới hỏi.

-Thưa bác, hôm nay con đến đây trước là thăm bác, sau đó là hỏi về tình trạng của Nhân.

Má của Nhân đầu bạc với nét mặt rầu rầu.

-Chuyện có hơi dài dòng, con vô nhà ngồi uống miếng nước, từ từ bác sẽ kể cho con nghe rõ ràng mọi chuyện.

Tôi theo chân má của Nhân đi vào nhà, nhìn dáng người ốm yếu của bà đi xiên qua xẹo lại như muốn té, tôi đỡ lấy cánh tay của bà rồi giữ chặt. Cánh tay của bà chỉ có xương là xương, tự nhiên trong lòng tôi bỗng xót xa, thương cho hoàn cảnh neo đơn của một bà mẹ già, sống một mình trong căn nhà khá là to lớn mòn mỏi đợi chờ con.

Ngồi xuống ghế sofa nơi phòng khách, chỉ chiếc ghế bên cạnh, ra dấu cho tôi ngồi xuống, má của Nhân rót cho tôi ly nước lọc rồi từ tốn nói.

-Đầu tháng tư năm ngoái, khi người dân Đà Lạt ùn ùn kéo nhau di tản về Sài Gòn, thành phố Đà Lạt như là cái thành phố ma. Bác ở lại đây, lý do khiến bác không đi là vì không bà con, không thân nhân ở Sài Gòn, hơn nữa gia tài của bác như là nhà cửa với bao nhiêu là hàng hóa, vải vóc, một đời tốn công xây dựng, bỏ đi không đành. Một tháng sau, khi mà loa phát thanh của Việt Cộng loan báo là Sài Gòn đã đầu hàng, bác rất vui mừng vì tin rằng hết chiến tranh rồi, mẹ con sẽ được đoàn tụ.

Hình minh họa

Má của Nhân đầu bạc ngưng nói, bà thong thả nhấp một hớp nước rồi than thở.

-Bác chờ đợi với hy vọng chỉ năm mười ngày nữa, sẽ gặp lại thằng Nhân con của bác. Bác chờ một tháng, hai tháng, rồi ba tháng, hy vọng gặp lại con của mình cứ như ngọn đèn dầu mỗi ngày một cạn, nhiều lúc bác tưởng như hy vọng đã tắt mất. Trong những lúc tuyệt vọng, bác tự lừa dối mình, tự an ủi mình, chắc thằng Nhân đã đi Mỹ rồi, và vì hai nước cách xa ngàn dặm lại là kẻ thù của nhau, nên nó chưa viết thư cho bác được. Bác biết rõ thằng Nhân tuy cứng đầu, nghịch ngợm, ưa phá phách nhưng nó là một đứa con có hiếu. Nếu không đi Mỹ thì nó đã về lại Đà Lạt để gặp mẹ của nó rồi. Khi mà sự chờ đợi của bác đã đến chỗ tuyệt vọng thì bác nhận được tin của thằng Nhân, do một cô gái đưa tới.

Má của Nhân làm một cử chỉ như mệt mỏi.

-Chuyện nói ra đây bác còn không tin, thì làm sao con tin cho được. Phải không? Một buổi chiều nọ, đâu khoảng giữa tháng chín năm ngoái, lúc bác đang còn ăn dở bữa cơm thì có tiếng gõ cửa. Tiếng gõ nhè nhẹ, rụt rè, gõ cửa mà như không dám gõ. Bác lớn tiếng hỏi “Ai đó?” Một giọng nói dịu dàng trả lời “Thưa bác, con” Khi cánh cửa được mở ra, trước mặt bác là một con bé mặt mày sáng sủa xinh xắn, trông thật dễ thương, trên tay cầm một bức thư “Thưa, bác có phải là mẹ của anh Nhân không? Anh Nhân nói con đưa bức thư này cho bác”.

Đang kể chuyện xưa, đôi mắt của má Nhân đầu bạc chợt sáng rực lên, bà tươi cười nói với tôi.

-Con có biết không, bác như người sắp chết đuối mà chụp được cái phao. Có thư của thằng Nhân, có nghĩa là nó còn sống. Không câu nệ, bác nắm tay con bé lôi tuốt vô nhà. Vì quá nóng lòng cho nên bác vừa đi vừa hỏi con bé về tin tức của thằng Nhân. Trái với cái hấp tấp của bác muốn biết mọi chuyện ngay lập tức, con bé rụt rè đưa bức thư. Không thể nói gì hơn, bác ngồi xuống ghế sofa.

Má của Nhân đưa tay vỗ vào thành ghế.

-Bác ngồi xuống cái ghế này nè, rồi mới từ từ đọc thư của thằng Nhân. Bức thư viết ngày hai bốn tháng sáu năm bảy lăm. Thư viết ngắn gọn, hình như được viết trong úc vội vàng. Trong thư nó hỏi thăm sức khỏe của bác, và nói rằng nó phải đi trình diện học tập mười ngày tại Sài Gòn. Nhân cũng nhắn với bác một điều quan trọng, người con gái cầm bức thư này là vợ của nó. Đọc xong bức thư, tâm trạng của bác lúc bấy giờ rối bời như mớ bòng bong. Mừng vì có được đứa con dâu, buồn vì không biết thằng con đang học tập cải tạo ở đâu. Bác nhìn lên, con bé vẫn còn đứng đó, lúc này bác mới nhớ ra là mình thật là vô ý, quên nói cho con bé ngồi.

Tôi đang chăm chú nghe má của Nhân đầu bạc nói chuyện, bất chợt có tiếng mở cửa rồi một người con gái xuất hiện với cái bị giấy trên tay.

-Má nè, con mua cho má…

Tôi nhìn người con gái với cái nhìn đầy ngạc nhiên, cô bạn cùng lớp với tôi tên Vân trên Viện Đại Học, là người con gái mà má Nhân đang nói đến. Quá vui mừng vì biết Nhân đã lấy Vân, tôi nói.

-Chào chị Vân.

Khi thấy tôi, với đôi mắt tròn xoe đầy kinh ngạc, Vân hỏi.

-Anh Quân tới đây hồi nào?

Hỏi để mà hỏi, không đợi tôi trả lời, Vân quay sang má của Nhân.

-Má cũng biết anh Quân nữa sao? Có tin tức của anh Nhân hả Má?

Má của Nhân nói với Vân.

-Cái thằng cục bột này là bạn của thằng Nhân từ hồi nhỏ, nó mới học tập cải tạo về, đến đây thăm má, tiện thể nó hỏi thăm tin tức của thằng Nhân. Ủa… mà tụi bây cũng biết nhau nữa sao?

Vân nhanh nhẩu trả lời.

-Dạ, tụi con học cùng lớp ở Viện Đại Học Đà Lạt. Đâu khoảng cuối năm bảy hai, con và anh Quân tình cờ gặp anh Nhân ở cà phê Hạnh Tâm.

Hình minh họa

Với gương mặt đầy bẽn lẽn, Vân nói với má Nhân.

-Lần đầu tiên gặp chồng con, má biết không, con thương ảnh liền.

Má của Nhân với nụ cười đầy vẻ thích thú.

-Cái thằng đó có gì mà con thương, nó chỉ được cái lông bông lêu bêu là giỏi.

Vân cười.

-Tại má không để ý, bụt chùa nhà không thiêng, nên má mới nói như vậy. Một ông trung úy Thủy Quân Lục Chiến với gương mặt dày dạn nắng mưa, lại thêm cái tính khí hào hùng, coi trời bằng vung. Bị thương nơi chân, anh Nhân không nói mình bị thương mà xắn cái ống quần rằn ri lên, chỉ vào vết thương còn quấn băng trắng rồi nói “Cổ Thành Quảng Trị”. Cái hành động đem nguyên một ngôi thành cổ đặt lên vết thương của mình, dưới mắt của con, nếu đem so với người hùng Từ Hải, thì chưa biết ai mới là anh hùng.

Má của Nhân ngắt lời Vân.

-Mày chỉ được cái mê chồng, trước mặt khách mà cứ bô bô cái miệng. Má đang nói cho thằng Quân nghe về chuyện con với chồng con ở Sài Gòn, sau đó chỉ một mình con về đây. Con hãy kể cho Quân nghe về chuyện chồng của con đi học tập như thế nào. Má đâu có biết nhiều về Sài Gòn, sợ nói không được rõ ràng.

Vân ngồi xuống bên cạnh má của Nhân, nắm tay bà rồi bắt đầu câu chuyện.

-Vào khoảng hai mươi tám tháng tư, năm bảy lăm, anh Nhân tới sạp vải của dì Yến trong chợ Bến Thành tìm em với bộ quân phục Thủy Quân Lục Chiến, súng đạn đầy người. Tụi em mới nói với nhau được vài câu thì hai người lính của anh Nhân từ ngoài chạy vào “Ông thầy, mình phải đi gấp, đại bàng cần gặp ông, xe jeep đang đợi bên ngoài”. Em chỉ kịp đưa cho anh Nhân địa chỉ của nhà dì Yến ở Sài Gòn, với lời nhắn “Em đợi anh ở nhà dì”. Ba giờ chiều ngày ba mươi tháng tư, anh Nhân tới nhà dì Yến tìm em. Trên người anh chỉ mặc có cái áo may ô màu nhà binh và một cái quần dài rằn ri của Thủy Quân Lục Chiến, tệ hơn nữa là đi chân đất, không có lấy đôi dép mà mang. Em phải lấy bộ đồ dân sự của ông dượng đưa cho anh Nhân mặc tạm.

Má của Nhân hỏi.

-Tại sao thằng Nhân phải ăn mặc như vậy?

Vân trả lời.

-Má ở Đà Lạt nên không biết đâu, đang đánh nhau bỗng dưng nghe lệnh của Tổng Thống kêu gọi trên đài phát thanh, quân nhân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa hãy buông súng đầu hàng, chờ bàn giao. Sau đó là hình ảnh thê thảm của Sài Gòn với một đạo quân rã ngũ, súng đạn quần áo lính vứt lăn lóc đầy đường, trong khi dân chúng kẻ xuôi người ngược, chạy mà không biết chạy đi đâu. Ba mươi tháng tư, Sài Gòn hổn loạn như vậy đó.

Vân quay qua nói với tôi.

-Mấy ngày sau đó, em chở anh Nhân đi đăng ký theo lệnh của chính quyền mới. Anh Nhân đi vào Trường trung học Gia Long ở đường Phan Thanh Giản, chừng một giờ sau đi ra với tấm giấy to bằng bàn tay chứng nhận đã trình diện, được cho về địa phương chờ lệnh mới. Anh Nhân không muốn về Đà Lạt, với lý luận là ở Sài Gòn xô bồ phức tạp, dầu gì cũng dễ thở hơn cái xứ Đà Lạt nhỏ bé. Lính Thủy Quân Lục Chiến như anh khó mà an thân với đám du kích địa phương, đám Việt Cộng nằm vùng. Mấy ngày sau đó, tụi em tổ chức đám cưới mà chủ hôn là dì Yến, quan khách là mấy người hàng xóm của dì.

Vân quay người ôm má của Nhân.

Hình minh họa

-Tụi con lấy nhau mà không hỏi ý kiến của má, vì tình hình lúc bấy giờ không cho phép. Ngày hai mươi bốn tháng sáu năm bảy lăm, anh Nhân theo lệnh gọi trình diện học tập mười ngày. Trước khi đi anh viết một bức thư gởi cho má, xin má tha lỗi cũng như xin má nhận con là con dâu.

Tôi hỏi Vân.

-Từ năm ngoái tới giờ, chị có nhận tin tức gì của Nhân không?

Vân suy nghĩ một lúc rồi mới trả lời.

-Tháng ba vừa rồi, em và má có đi thăm nuôi anh Nhân ở Long Khánh, trong lần thăm nuôi đó, anh Nhân cho biết là ngay đêm trình diện ở Trường nữ trung học Gia Long, anh cùng các bạn tù bị đưa lên Trảng Lớn, nhốt ở đó đâu hơn ba tháng, sau đó được chuyển trại về Long Khánh và ở trại đó cho đến khi được thăm nuôi. Sau lần em và má gặp anh Nhân ở Long Khánh cho đến bây giờ thì hoàn toàn bặt tin, không biết anh Nhân còn ở đó hay đã chuyển đi trại tù khác rồi.

Thấy không còn gì phải nói, tôi xin phép má của Nhân đầu bạc và Vân rồi ra về. Tiễn tôi ra cửa, cả hai người đứng nhìn theo mà không chịu vào nhà. Hình ảnh của hai người đàn bà, một già một trẻ tựa cửa, một trông ngóng con, một chờ đợi chồng đang học tập cải tạo không biết khi nào mới về, trông thật não lòng.

Buổi chiều mùa thu Đà Lạt mang chút gió vàng lành lạnh, mây xám giăng mờ khắp nẻo, tôi đi trong tiếng chuông thu không từ chùa Linh Sơn nương theo gió vang vọng đến bên tai. Tiếng chuông trầm trầm lắng đọng nghe sao mà rầu đến não ruột. Đột nhiên bài hát “Lối về đất mẹ” mà tôi đã được nghe một nam ca sĩ nổi danh gốc ở Quảng Trị, hát bài này nhiều lần trong quá khứ “Mẹ thương con ra cầu Ái Tử, vợ trông chồng lên núi Vọng Phu ..”. Câu hát với lối chơi chữ nghe như câu ca dao nhẹ nhàng, êm đềm, thêm giọng ca trầm ấm của ông ca sĩ nghe sao mà buồn thấm thía, thấm tận đến xương tủy.

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 29 Mar 2024

Chương Một
Một Năm Sửu Thuận Lợi

Một không khí yên lặng hết sức lạ lùng và kinh ngạc đang đè nặng trên cánh đồng rừng nầy của Miền Nam Việt Nam.
Vào lúc 8 giờ sáng ngày thứ bảy 27 tháng giêng năm 1973, cuộc chiến dài nhất thế kỷ (từ hai mươi tám năm nay) trên nguyên tắc coi như được chấm dứt.
Tôi đã chứng kiến cuộc chiến nầy một buổi chiều tháng chạp năm 1946 trên những con đường âm u của Hà Nội, những con đường đầy âm thanh vang dội của những tiếng nổ, của những loạt súng đại liên và những tiếng reo hò của những Tự Vệ Quân (dân quân của Võ nguyên Giáp) đang tấn công vào các khu vực của người Pháp.
Cũng có thể tôi đã nghe thấy được cuộc chiến nầy chấm dứt ở một nơi nào đó cách Sài Gòn khoảng 2 giờ lái xe, lúc tôi đang ẩn náu trong một lô cốt ở Đèo Chuối, trên đường đi Dà Lạt. Tôi đã cùng uống chung một lon bia với một hạ sĩ quan thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa còn rất trẻ, có thể anh nầy chưa chào đời khi cuộc chiến bùng nổ.
Cái tiền đồn nơi tôi đang có mặt bị bắn phá suốt đêm bằng hỏa tiễn và súng cối. Khẩu đại liên nặng ngay trên lô cốt đã bắn suốt mấy giờ liền.. Mùi thuốc súng nồng nặc đưa lên tận cổ họng đến tôi phải bị ho. Những tiếng nổ đã làm cho tôi điếc cả tai. Đạn pháo binh yểm trợ rơi xuống chung quanh đồn với những tiếng nổ ngắn và kinh hồn làm cho mặt đất phải rung rinh. Đến sáng thì tất cả tiếng súng mới im bặt Ngoài trờI ánh nắng ửng hồng đang lên chậm chạp trong làn sương mù. Sương ướt còn đọng trên các tàng cây to và bãi cỏ. NgườI chết cuối cùng của trận chiến cuối cùng nầy đang nằm oằn oại không còn nguyên vẹn trong một hố bom, đó là thây của một đặc công Việt Cộng. Những người Thượng mang gùi trên lưng, thân đen đúa gần như trần truồng trong mãnh vải thô sơ, đang đi xuống chợ.
Cuộc chiến ở Đông Dương đã thực sự chấm dứt hay chưa? Dù muốn đù không, trên trận tuyến mà hai bên đang đối diện nhau thì cuộc chiến dai dẳng coi như được chấm dứt mà không giải quyết được gì cả, chỉ để lại cho các chiến binh đang nằm giữ chiến tuyến của mình một hương vị chua chát của một trận chiến mà không có một chút lợi ích nào hết .Đây là một cuộc chiến duy nhất trong lịch sử mà chưa từng thấy có một chiến thắng quyết định nào, dù rằng cả hai bên của chiến tuyến bên nào cũng không ngớt lớn tiếng rêu rao là mình đã thắng trận.
Trọng lượng số bom đạn được dùng trong cuộc tranh chấp nầy đã vượt hẳn trọng lượng số bom đạn của tất cả các cuộc chiến tranh trước đây cộng gộp lại. Cuộc chiến nầy cũng được hai bên áp dụng tất cả các hình thức kỹ thuật tác chiến từ tân tiến đến cổ điển. Và cuộc chiến nầy cũng là bãi chiến trường điện tử đầu tiên . Các hỏa tiển đầu tiên có đầu đạn được hướng dẫn đã được xử dụng trong những điều kiện thật trong tác chiến. Cho tới bây giờ người ta chưa từng thấy có một sự tập trung nào quá nhiều chìến cụ có khả năng hủy diệt trong một thế đất nhỏ hẹp như thế, và ở đó đôi khi những vũ khí thô sơ nhất lại làm cho những trang thiết bị tinh vi hơn phải thất bại.
Một bên thì có những quả bom tinh khôn (laser) tự động điều chỉnh, những hỏa tiễn với đầu đạn biết tìm kiếm mục tiêu và những phi cơ vận tải khổng lồ…. Còn bên kia thì có từ những “bẫy cọp” bằng tre vót nhọn và những dòng người khuân vác đẩy xe thồ, những thùng quân vật dụng thả trôi theo dòng nước từ thượng nguồn và được vớt lên ở các lưới thép căng ở hạ lưu cách đó cả 50 cây số ngàn …. đến những đoàn xe vận tải nặng Molotova, những xe tăng lội nước, và những trạm “tên lửa” dấu kín rãi rác trong rừng bụi. Những cuộc tàn sát được bình tĩnh chọn lựa trước và được lạnh lùng lên chương trình trong máy điện toán… và những vụ giết người bằng mã tấu kèm theo hành động cắt xẻo tay chân hết sức ghê rợn … nói chung.
Cuộc chiến nầy cũng có đủ mọi hình thức kỹ thuật về mặt hạn chế tầm sát hại của vũ khí, và những hạn chế nầy có thể còn gây ra nhiều mất mát về chiến cụ và nhân mạng hơn nữa không chừng. Cuộc tranh chấp nầy được phát triển ra vừa như một cuộc nội chiến vừa là một cuộc đối đầu quốc tế, ở đó các siêu cường có chỗ để thí nghiệm các loại vũ khí và chiến cụ tối tân nhất cũng như những chiến thuật chiến lược tân tiến nhất của mình.
Tuyên Truyền và Thông Tin đã giữ một vai trò quyết định. Qua truyền hình, chiến sự đã đến được khắp nơi trên thế giới; những hình ảnh đẫm máu và rất bi thảm của cuộc chiến được chiếu đến tận những nơi yên tĩnh nhất và được bảo vệ chặt chẽ nhất, đã làm rung động cả nước Mỹ, chia rẽ dư luận Mỹ, gây sự chống đối trong giới báo chí, đã gây ra nhiều cuộc biểu tình phản chiến, chống đối đến man rợ, và gây ra một ý niệm xấu cho tất cả các nước văn minh nhất trên thế giới.
Hoa Kỳ đã nhảy vào cuộc chiến mà không có một lời tuyên chiến trước và đã tung ra một lực lượng quân sự khá quan trọng . Đùng một cái, trong lúc các phi hành gia của họ đang tản bộ trên cung trăng, họ mới khám phá ra là đã từ lâu họ bị rơi vào một cái bẫy mã tấu và đang bị sa lầy, nên họ quyết định bằng mọi giá phải cố gắng thoát ra khỏi vũng sình mà không bị mất uy tín.
Vào năm 1969, trong đợt rút quân đầu tiên, môt anh lính còn trẻ thuộc lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã mỉa mai cao giọng đề nghị một cách vô liêm sỉ:
“Tại sao chúng ta không tuyên bố một cách giản dị là chúng ta đã thắng trận rồi, và nước Việt Nam đã hoàn toàn được bình định xong, nên chúng ta đi về nhà!”
Việc đã xảy ra sau đó đã cho thấy chú lính thủy nầy đã nói một câu gần như tiên tri, bởi vì phần chánh yếu đã được làm y như thế.
Cuộc chiến ở Đông Dương là cuộc chiến đầu tiên mà các trực thăng đã có một vai trò quyết định trong tác chiến. Vào một lúc nào đó người ta đã tung ra đến 5000 chiếc trực thăng trên không phận Miền Nam Việt Nam, đưa lực lượng Bộ Binh Hoa Kỳ lên hàng thứ ba của Không Lực thế giới, sau Không Lực Hoa Kỳ và Không Lực Liên Xô.
Trong thời gian tám năm rưỡi tham chiến của Hoa Kỳ, cộng sản Việt Nam đã tung ra hai cuộc tấn công lớn mà họ tin tưởng đây là những trận chiến có tính cách quyết định. Đó là cuộc “tổng công kích Tết Mậu Thân (1968) và cuộc xăm lăng chớp nhoáng mùa xuân 1972.
Lực lượng Hoa Kỳ và QLVNCH đã khởi xướng hai cuộc phản công: tấn công qua biên giới Cam Bốt và hành quân qua lãnh thổ Lào.
Từng được coi là người đã chiến thắng trong trận chiến Điện biên Phủ, tướng Võ nguyên Giáp cũng chỉ gặt được sự thất bại hoàn toàn trong cả 3 lãnh vực mà ông ta cố gắng muốn thực hiện. Đó là: sự nổi dậy ở dân chúng của các đô thị ở Miền Nam, chiến tranh du kích, và chiến tranh quy ước.
Nhưng vớI hành động vừa dấu kín số tử thương, vừa rút nhanh đám tàn quân về để kín đào bổ sung cho các đơn vị trong các khu rừng rậm trên đất Lào và trên dãy Trường Sơn, ông ta đã khôn khéo làm cho địch quân tưởng rằng quân cộng sàn đã thắng trận.
Cả Hoa Kỳ và VNCH chỉ thu lượm có 50% chiến thắng: vì bị giới hạn trong không gian và thời gian nên các cuộc hành quân không được phép thọc sâu hay mở rộng đúng mức để khai thác tối đa các thành quả chiến thắng được .
Về phía Hoa Kỳ, trong suốt chiều dài của cuộc chiến người binh sĩ của họ chưa bao giờ được thông báo đúng mức mọi sự kiện dù là nhỏ nhất, nhưng lại thường được thông báo hết sức sai lạc về những lý do thật sự của cuộc chiến.
Trái lại, về phía cộng sản, chưa bao giờ cán binh của họ lại không được giải thích cặn kẻ lý do của cuộc chiến hay được thông báo sai lạc về mọi diễn tiến đã xảy ra.
Khi rút quân, người Mỹ vẫn đinh ninh rằng họ đã làm tròn lời cam kết “trong danh dự”. Họ đã phải chi ra hơn hai trăm tỷ mỹ kim cho cuộc chiến và mất đi 58.000 người tử trận (gồm cả khoảng 10.000 chết vì tai nạn linh tinh, từ tai nạn lưu thông đến bất cẩn trong việc xử dụng súng đạn)
Cộng sản Bắc Việt đã tàn phá hết đất nước Việt Nam của họ, đâu đâu cũng thấy nhà tan cửa nát, và họ đã mất đi trên 1 triệu người chết, mà không đạt được mục tiêu mà họ đã đề ra. Những cán binh (Việt Cộng) mà họ gài vào Miền Nam chỉ sống lẩn lút trong rừng thiêng nước độc hay trong bưng biền sình lầy, sống xa quần chúng.
Quân dân Miền Nam chiến đấu để bảo tồn sự toàn vẹn lãnh thổ của họ. Họ nhìn thấy đất nước của họ bị phân chia, và Chánh Phủ của họ được thành lập qua các cuộc bầu cử có sự kiểm soát từ bên ngoài. Họ giữ vững những thành phố hùng mạnh và thịnh vượng, kiểm soát 85% dân chúng, nhưng họ có một tổng kết cũng nặng lắm: 600.000 quân và dân chết trận, và 1 triệu ngườI tỵ nạn chánh trị . Và thật sự không thấy giải quyết được gì hết.
Những ai trong chúng ta người nào đã từng bị “dính líu” vào cuộc chiến nầy ngay từ đầu cho đến khi tàn cuộc thì sẽ giữ mãi những ấn tượng sâu sắc về những hình ảnh đau thưong khủng khiếp mà họ không bao giờ quên :
– Hình ảnh lúc khui những mồ chôn tập thể ở Hué, sau những cuộc tàn sát ghê rợn hồi Tết Mậu Thân (1968);
– Quang cảnh những đường sá hoang vắng dưới lằn lửa đạn;
– Những tù binh cộng sản nhớn nhác và đang bị đánh bom mặt mủi và đầu óc như nổ tung ra..;
– Những phi công Mỹ ngơ ngác tay đưa lên trời bị đưa đi diễu hành quanh thành phố Hà Nội dưới ánh đèn chớp của các phóng viên báo chí, mắt cụp xuống dưới những tiếng hò reo và những nắm tay giận dữ của quần chúng.
– Những xác chết của Việt Cộng sình lên to tướng vì bị liên thanh điện bắn hạ như những con mồi của thợ săn, nhưng là con người;
– Những cơn địa chấn tàn phá có tánh cách hủy diệt của các pháo đài bay B.52, những cái nhìn sợ hãi, ngạc nhiên và không thể chịu nổi của những trẻ mồ côi….
Những thị trấn xa xôi hẻo lánh như Pleime, Dak To, Khe Sanh, AnLộc… từng bị bỏ quên trong những cánh rừng đèo heo hút gió nhất, ở giữa những rừng tre hay vườn cao su bạt ngàn, nằm chơi vơi giữa các ngọn đồi đất đỏ hoang vu… đột nhiên đã trở thành nổi tiếng trong một đêm nào đó, và rồi giờ đây lại bị chìm trong quên lãng trong thời điểm mà tất cả hình như đang đến hồi kết thúc.
Đã có rất nhiều kỷ niệm và luận cứ hiện ra trong trí tôi. Tôi thực sự đã sống với quá nhiều biến cố, với khá nhiều trận chiến hay bị vây hãm, từng đi theo quá nhiều võng cáng trên mảnh đất đầy tang chế và đầy rẫy thây ma nầy. Có lẻ tôi phải viết khoảng 20 quyển sách để giải thích những gì tôi đã chứng kiến và đã tìm hiểu. Tôi có thể nói về người Nhật (tôi đã chiến đấu chống Nhật), về các trận chiến ở Hà Nội, Lạng Sơn, hay ở Huế, về những phụ nữ người Pháp bị hãm hiếp, bị nhục hình hay bị chế dầu và thiêu sống trên vỉa hè của cư xá Jauréguiberry ….. Để làm gì? Tât cả đều đã thuộc về dĩ vãng xa xôi quá rồi. Trong lúc đang có nhiều người chết và nhiều tấn thảm kịch rất gần đây…
Tôi nghĩ đến 3 người bạn của tôi, ba người chuyên viên quay phim:
– Larry Burrows, một người Anh trầm tĩnh đến lạnh lùng, thẳng tánh và gan lì, thích chạy như bay đến trước các trái bom rồi nằm ngửa ra để được nhìn thấy nó rơi xuống và chụp ảnh khi bom nổ.
– Huer, một người Pháp không bao giờ biết mệt mỏi là gì, bình tĩnh và bướng bỉnh, từng được giải thưởng Capa.
– Shimamoto, một người Nhật, mềm dẻo nhưng gân guốc, đa nghi và tự hào như một võ sĩ đạo.
Chiếc trực thăng chở họ bị đâm vào núi, cháy ở vài trăm thước cách cánh quân mà tôi đang đi theo, trên đất Lào. Không có một ai đến tìm được họ và xác họ được chôn vùi trong chiếc quan tài bằng sắt bẹp dúm dưới cành lá sum sê của cánh rừng bát ngát thích ăn thịt người!.
Tôi nghĩ tới cuộc bắn giết ở Mỹ Lai với những bức ảnh ghê rợn của nó: 40 phụ nữ và trẻ em bị hành quyết, thân xác đầy vết đạn nằm ngổn ngang chết chung với nhau. Hoa Kỳ đã cho thụ lý hồ sơ và truy tố ra tòa án binh trung úy Calley, một sĩ quan xấu xí tráng vồ và ngoan cố.
Nhưng có ai bị khởi tố về một vụ tàn sát tập thể cả một làng người Thượng ở Dakson đâu? Tôi đã đi xuyên qua làng nầy, một tiểu đoàn Việt Cộng đã tàn sát và tàn phá cả một ngôi làng bởi vì dân chúng trong làng nầy không ai chịu theo cộng sản, chân tôi bước đi qua những đống tro tàn còn ấm , ngập đến tận mắt cá , tro của các nhà tranh mà cộng sản đã đốt sạch bằng súng phun lửa của họ. 250 thi hài của đồng bào Thượng nằm rải rác khắp mọi nơi trên mặt đất, còn âm ỉ cháy nóng, trong đó có 103 trẻ em. Thật là một cảnh tượng ghê rợn, tàn ác, không thể chịu nổi, cảnh các tử thi sình lên rồi bị nướng phồng lên dưới ánh nắng mặt trời, tương tự như những con heo quay có đầu người.
Có những ai trong chúng ta lúc có mặt ở quanh vĩ tuyến 17 vào mùa xuân năm 1972, mà có thể loại bỏ được khỏi trí nhớ những hình ảnh của cơn ác mộng trên con lộ Quảng Trị ? Pháo binh của Cộng sản Bắc Việt đã tập trung hỏa lực vào hàng hàng lớp lớp người dân tỵ nạn đang chạy loạn về Hué : những trái đạn đã cày lên đám đông dân chúng kinh hoàng rất có phương pháp, đánh nát và lật qua lật lại các sọ người và các thi thể đàn bà và trẻ con, như các cục đất vậy. Đã có đến 20.000 người chết trên một khoảng đường tráng nhựa chỉ dài có 40 cây số ngàn: Mặt đuờng không còn màu đen của nhựa nữa mà được trét lên một lớp máu đỏ đã đen sạm vì máu đã khô lại…. 1
Từ Đèo Chuối, tôi đi lần xuống một làng lớn ở Gia Kiệm. Ở đây dân tỵ nạn người Bắc đang rong chơi ngoài đường. Trong một quán cà phê nhỏ, ngồi bên tô phở nóng, những người thợ rừng đang vừa ăn vừa nghe xướng ngôn viên của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ ca tụng sự “ngừng bắn” với một niềm vui lây của một bình luận gia trận đấu bóng chày.
Tại Tân sơn Nhứt, các phi công trực thăng và phi cơ săn giặc Phantoms trong bộ đồ bay kỵ lửa, vứt cao các mũ lên trời, vui vẻ vỗ lưng nhau, chuyền tay nhau một chai cognac và cứ thế uống cạn hết chai vừa cười vừa hét vang : “hết rồi, anh em ơi ! chúng ta sẽ được về nhà rồi “
Ngay tại Sài Gòn khi đồng hồ vừa gõ 8 tiếng, tất cả moi hoạt động đều ngừng lại, lưu thông dừng hẳn lại, mọi người đứng yên lặng trong khi các binh sĩ đứng nghiêm, Miền Nam Việt Nam dành một phút mặc niệm cho một số lớn chiến sĩ đã bỏ mình trong chiến cuộc. Sau phút mặc niệm, các chuông nhà thờ đổ liên hồi trên khắp thủ đô Miền Nam Việt Nam. Cùng một lúc đó có tiếng vọng xa xăm của sự biểu lộ ồn ào nầy, các thành phố lớn của Hoa Kỳ cũng đã sống trong những phát súng mừng ròn rã, và theo một bản tin của thông tấn xã Tass thì Hà Nội mừng rở treo cờ trong một bầu không khí hoan lạc. Và Tổng Thống Nixon trong một thông điệp gởi cho quốc dân đã mở đầu bằng những chữ nói lên dư luận chung của tất cả mọi người có thiện chí : Một kỷ nguyên hòa bình mới đang bắt đầu cho nhân loại “
Một người thợ rừng bước đến gần chiếc máy truyền thanh, đặt trên một cái kệ, vừa đưa tay vặn tắt chiếc máy vừa lầm bầm khó chịu:
” Ông Nixon cứ đến đây rồi hẳn nói !, Con đường từ Sài Gòn lên đây đã bị cắt đứt gần ba chục cây số, và có trên mười xe vận tải đã bị giật mìn.”
Tôi phải chờ 48 tiếng đồng hồ mới về đến được thủ đô Sài Gòn của Miền Nam Việt Nam . Quốc lộ đã được mở lại sau nhiều trận đánh nhau ác liệt, dọc theo đường còn rải rác tử thi và xác xe cháy mà xe ủi đang dọn dẹp.
Ở Sài Gòn hàng trăm phụ nữ trầm lặng và nghiêm trang tay bưng lễ vật như một đám rước đi vào chùa Vĩnh Nghiêm đầy hoa và cờ xí ở ngay trung tâm thành phố. Trong nhà thờ Chánh Tòa tường gạch đỏ thẳm, hàng ngàn tín đồ công giáo chen chúc nhau quỳ dự thánh lễ lớn.
Các Phật tử và tín đồ Công giáo theo lời kêu gọi của các Sư và các Cha sở của mình, đã tổ chức một ngày cầu nguyện cho hòa bình, mà theo bản văn của lời kêu gọi là một “nền hòa bình không phải của Nga Sô Viết, cũng không phải của Trung Cộng hay của Hoa Kỳ mà là một nền hòa bình của Việt Nam. một nền hòa bình cho những người tự do, công bằng và trong tình anh em, hòa giải giữa dân tộc với nhau, vừa tìm lại được trên đất nước của minh “
Trước thềm năm mới (âm lịch), một năm Sửu thuận lợi, đó là một lời chúc tốt đẹp nhất…. Nhưng than ôi, những lời chúc tụng luôn luôn không bao giờ được thỏa mãn. Các trận đánh xảy ra gần như khắp mọI nơi. Tại Tây Ninh, thánh địa của đạo Cao Đài, sau 30 giờ tấn kích,một trung đoàn quân Bắc Việt đã rút lui để lại 300 xác chết ở vùng ngoại ô của thị xã. Tại Sa Huỳnh, một hải cảng đánh cá nhỏ dưới chân dãy Trường Sơn, có sự đụng độ ác liệt của hai sư đoàn Miền Nam Việt Nam; tại Đồng bằng sông Cửu Long, ở ven Đồng Tháp Mười và ở rừng U minh; trên Cao Nguyên Trung Phần, chung quanh đồn Ben Het của Biệt động quân
Ba trăm ba mươi bốn (334) trận tấn công của cộng sản vào lãnh thổ của Miền Nam Việt Nam được ghi nhận ngay trong 2 ngày sau khi Hiệp Định Ngừng Bắn Paris ngày 27/1/ 1973 được chính thức công bố….
Nền hòa bình ở Việt Nam vẫn chỉ còn là một ảo vọng!

1Chú thích của người dịch: Đó là đoạn Quốc Lộ 1 được mang tên là: Đại lộ kinh hoàng.

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

(Vietnam, Qu’As Tu Fait De Tes Fils?)

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 29 Mar 2024

MỤC LỤC [−]

1. Một Năm Sửu Thuận Lợi

2. Hà Nội Đánh Phá Uy Tín Của Sài Gòn

3. Chiến Dịch Hồ Chí Minh

4. Tổng Thống Thiệu Cố Gắng

5. Các Tướng Lãnh Tức Giận

6. Dinh Tổng Thống Bị Dội Bom

7. Linh Mục Thanh: Đội Quân Thanh Lọc

8. Đừng Bao Giờ Tin Tưởng Hoa Kỳ

9. Chiến Trận Đẫm Máu

10. Chúng Tôi Không Hèn Nhát

11. Với Đoàn Người Chạy Loạn

12. Với Người Pháp Lớn Tuổi Ở Sai Gon

13. Quốc Hội Hoa Kỳ Bàn Cãi Về Ngân Khoản

14. “Phnom Penh Thất Thủ”

15. Thời Kỳ Của Những Trái Bom “Thí Nghiệm”

16. Tổng Thống Thiệu Từ Chức

17. Đến Lượt Đại Sứ M. Mérillon Lên Sân Khấu

18. Ngọn Đồi Cuối Cùng

19. Tướng Dương Văn Minh Xuất Hiện

20. Những Trò Chơi Vô Vị Cuối Cùng

21. Ông Dương Văn Minh Là Ai?

22. Một Buổi Lễ Trao Quyền Đầy Sóng Gió

23. Sự Rẫy Chết Của Một Thành Phố

24. “Bộ Đội” Tràn Vào Thủ Đô

25. Sự Hiện Diện Của Người Pháp?

26. Thật Chua Chát Thay Cho

27. 30 Năm Chiến Tranh

Vài Dòng Cảm Nghĩ

Đọc tác phẩm nguyên thủy cuốn sách “VIETNAM, QU’AS TU FAIT DE TES FILS?” của PIERRE DARCOURT, nhân chứng những ngày cuối cùng của Miền Nam Việt Nam bị bức tử. Là một ký giả, ông không phải viết với khối óc, với mắt thấy tai nghe như những nhà báo ngoại quốc khác, mà ông viết với hơi thở, mạch tim, nước mắt của một Miền Nam Việt Nam bị bỏ quên!

Họ là ai? Ông bạn đồng minh Hoa Kỳ và 12 nước đã ký vào Hiệp Định Ba Lê ngày 27 tháng giêng năm 1973, trong đó có cả Liên Hiệp Quốc. Họ giả đui giả điếc trước một nửa dân tộc chìm trong máu và nước mắt, chết chóc, tù đày, đói khát triền miên gần 30 năm qua! Ai nhỏ cho một giọt nước mắt đây? Họ về hùa với quân xâm lăng cướp nước cộng sản Bắc Việt, ngậm miệng bang giao và có một chỗ ngồi tại Liên Hiệp Quốc.

Xin cám ơn ông Pierre Darcourt còn nghĩ đến người dân Miền Nam chúng tôi! Quyển sách của ông chẳng những là cái tát tai lịch sử vào mặt lũ Việt Cộng, mà còn là cái tát tai in dấu hằn lịch sử trên mặt 13 nước đã hạ bút ký vào Hiệp Định Ba Lê mà bọn cộng sản Bắc Việt đã vứt vào thùng rác ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Anh Dương Hiếu Nghĩa có nhã ý chuyển ngữ sang tiếng Việt, đó là điểm đáng khen. Vẫn biết dịch thuật là chuyện khó, người Pháp thường bảo “Traduire c’est trahir” (Dịch tức là phản lại), may thay anh Nghĩa đã không phản lại mà còn dịch một cách mạch lạc, gọn ghẽ, từ rất chuẩn, ý rất trôi:

“MẸ VIỆT NAM ƠI! DÂN TA CÓ TỘI TÌNH GÌ?”. Một tiếng than ngắn mà đau? Phải chăng tiếng than của Quân Cán Chính Miền Nam bị đày đọa bỏ xác tại các trại tù cộng sản? Hay tiếng than của các nữ thuyền nhân bị bọn hải tặc hãm hiếp ngoài biển khơi? Tiếng than bất tận gần 30 năm qua và còn kéo dài đến bao giờ? Bản tiếng Việt nầy là chứng tích tội ác cộng sản cho những thế hệ trẻ ở quê nhà. Mong có một bản tiếng Anh cho con cháu chúng ta ở hải ngoại, và gửi cho 13 nước đã từng ký kết vào Hiệp Định với câu “Lương Tâm của quý quốc còn hay mất? “Vài dòng cảm nghĩ xin những ai chạy trước ngày 30-4-75 nên đọc để nhỏ một giọt nước mắt thương cảm. Và những ai đi sau cũng nên đọc để nhớ lại những hình ảnh đau thương phai nhòa trong năm tháng, hãy nhìn lại vết thương còn rịn máu vì mối thù cộng sản còn đó, quên là có tội với những người đã nằm xuống vì hai chữ TỰ DO!

Houston, cuối Xuân 2004

DUY XUYÊN

LỜI GIỚI THIỆU CỦA NHÀ XUẤT BẢN ALBATROS

Sau 30 năm đấu tranh và chinh chiến, cuộc chiến Việt Nam vừa chấm dứt: Cộng Sản Miền Bắc đã chiếm được Miền Nam Việt Nam. Sau Pháp, Hoa Kỳ cũng đã rút ra khỏi Miền Nam Việt Nam. Những người sắt máu thuộc Bộ Chánh trị của Hà Nội đã là kẻ chiến thắng.

Pierre Darcourt mở lại hồ sơ về chuyện mất Sài Gòn và Miền Nam Việt Nam. Với quyển sách nầy Anh thuật lại trận đánh cuối cùng mà anh đã sống ngày này sang ngày khác trên trận địa, và tường thuật lại rất trung thực bầu không khí của những mưu mô, những áp lực, những trò chánh trị muôn hình vạn trạng đã được gây ra để gia tăng tốc độ sụp đổ của Miền Nam.

Anh mô tả những nổi đau khổ và những sự thiếu thốn của những người tỵ nạn tìm đường chạy ra biển; sự kháng cự cuối cùng của đội quân thiện chiến của Miền Nam Việt Nam trước làn sóng xăm lăng của quân Bắc Việt ở Xuân Lộc… Trảng Bôm… Biên Hòa; sự ra đi của người Mỹ; sự xuất hiện của tướng Dương văn Minh với vai trò phù du của ông; cảnh các “bộ đội” của Miền Bắc tiến vào thủ đô Sài Gòn mà họ đổi tên lại là tthành phố Hồ chí Minh; hoàn cảnh đau thương khổ sở của dân chúng; sự xét lại vấn đề tự do của các tôn giáo; và tấn thảm kịch xót xa của những người công giáo luôn gắn bó với niềm tin của họ; và những phản ứng sau cùng của những người lính chiến không bao giờ muốn hạ súng xuống…

Qua tựa đề của quyển sách “Mẹ Việt Nam ơi, dân ta có tội tình gì?” Anh chỉ nêu lên một câu hỏi duy nhất nhưng rất là chính xác. Ba triệu người đã chết cho một chiến thắng quân sự, một chiến thắng không giải quyết được gì cả mà nó lại còn đưa đến một thất bại về chánh trị lẫn nhân tâm. Khởi xướng và lãnh đạo một cuộc chiến 30 năm dài nói là để thống nhất đất nước, mà cuối cùng chỉ thấy một đất nước rách nát và tan thương hơn bao giờ hết!

Pierre Darcourt là một nhà báo, một phóng viên có tầm vóc, là thông tín viên liên tiếp cho nhiều tờ báo Pháp và ngoại quốc như l’Express, l’Aurore, Sud Ouest, Jiji Press v.v..

Năm nay Anh 49 tuổi (1975), chào đời tại Sài Gòn, tốt nghiệp cao đẳng Luật Khoa và Lịch Sử ở trường Đại Học Hà Nội. Với những tác phẩm nghiên cứu và phóng sự của mình, anh được xếp vào một trong những chuyên viên giỏi nhất hiện nay về những vấn đề Á Châu. Anh là Tổng thơ ký của Viện Nga- Hoa.

Là một người từng chịu trách nhiệm một toán vũ trang kháng chiến, hoạt động phía sau chiến tuyến của Nhật, anh trở thành một Biệt Kích Dù từ năm 1945 đến 1954, trốn khỏi một trại cải tạo Việt Minh, hai lần bị thương, Pierre Darcourt là một trong những nhà báo rất hiếm đã được sống từ lúc khởi đầu cho đến hồi kết cuộc của một cuộc chiến dài nhất thế kỷ’, qua tất cả các giai đoạn lịch sử của nó.

Nhà xuất bản Albatros 14, đường l’Armorique – Paris 15 ème

Điện thoại: 306. 20.27

THAY LỜI TỰA

Vào năm 1994, nhơn dịp sang South Adelaide (Úc Châu), tôi mới có cơ hội lên tận thủ đô Canberra, để gặp lại anh Lê văn Thành, người đã từng là Tùy Viên Quân Sự của Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Úc Châu trước 1975. Anh Thành là người bạn đồng khóa, cùng một Trung Đội, và cùng nằm chung một phòng với tôi ở trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt (tên cũ), khóa 5 Hoàng Diệu 1950-1951. Anh đã trao cho tôi quyển “VietNam, Qu’as tu fait de tes fils” và bảo tôi phải dịch cuốn sách nầy vì theo nhận xét của anh thì “nó hay quá, Sáu Nhỏ ơi”!

Chỉ đơn giản có mấy lời tâm tình của người bạn như thế thôi, mà tôi đã say mê đọc cuốn sách này trong suốt hai tuần lễ và khi trở về đến Hoa Kỳ, tôi quyết định phải dịch ngay nó sang tiếng Việt đúng như anh bạn Thành của tôi đã mong muốn vì quả thật cuốn sách nầy đã chẳng những “quá hay” mà nó còn “quá quý” nữa.

Quá hay, vì tuy đã từng là sĩ quan tác chiến trong binh chủng Nhảy Dù của quân Đội Liên Hiệp Pháp thời 1945-1954 ở Việt Nam, nhờ đó tác giả có đầy đủ khả năng và kinh nghiệm trong nhiệm vụ phóng viên chiến trường, nhưng không vì thế mà mất đi tánh cách hoàn toàn khách quan trong vai một nhân chứng lịch sử, rất sáng suốt và vô tư đối với tất cả mọi diễn biến ngoại giao, chánh trị, và quân sự của cộng sản Bắc Việt trong suốt chiều dài của cuộc chiến ở Việt Nam từ trước biến cố 1945 cho đến ngày bộ đội cộng sản Miền Bắc tràn vào thủ đô Sài Gòn trong chiến dịch Hồ chí Minh, hoàn tất kế hoạch xâm chiếm Miền Nam Việt Nam bằng võ lực ngày 30/4/1975, theo lệnh của các quan thầy Liên Xô và Trung Cộng.

Quá hay, vì trong từng chương, từng trang, từng mục, từng đoạn, từng hàng của quyển sách, tác giả đã mô tả và tường thuật thật chính xác thật sống động và thật đầy đủ tất cả những gì đã xảy ra trên từng giai đoạn vận động ngoại giao, cũng như trên từng giai đoạn xâm nhập vào Miền Nam và từng bước đường hành quân xâm lược của bộ đội cộng sản Bắc Việt, theo đúng ý đồ và sách lược của Cộng Sản Quốc Tế mà cộng sản Việt Nam chỉ là một đội quân tiền phong tay sai của họ không hơn không kém..

Quá hay vì tác giả đã phân tích và đánh giá rất đứng đắn và thật vô tư giá trị và tinh thần của Quân Cán Chính Miền Nam Việt Nam, trong nhiệm vụ chống cộng, tự vệ để cứu nước và giữ nước, nhất là đã theo dõi sát sao từng ngày, từng giờ mọi diễn biến trên chiến trường cũng như trên chính trường trong những ngày dầu sôi lửa bỏng của tháng Tư năm 1975.

Quá hay, vì tác giả đã tận mắt thấy được, sờ được, thông cảm được, và nói lên được cho cả thế giới biết hoàn cảnh bi đát và tâm trạng thống khổ của hàng triệu người dân lành vô tội đang trốn chạy quân xâm lược, vô tình làm bia cho bộ đội chánh quy cộng sản đang cố ý tàn sát họ không nương tay bằng đủ mọi loại vũ khí tối tân của Liên Xô, Trung Cộng và khối cộng sản, bất chấp tình “đồng bào ruột thịt” mà họ thường lớn tiếng rêu rao, thẳng tay tàn sát người dân Miền Nam Việt Nam trên khắp mọi nẽo đường của đất nước, từ Đại lộ Kinh Hoàng ở Quảng Trị Thừa Thiên cho đến Tỉnh Lộ 7 của tử thần từ Kontum, Pleiku (Cao nguyên) đến Qui Nhơn, Nha Trang,…

Rất quý, vì đây là một tài liệu lịch sử rất chính xác và khách quan từ một ký giả ngoại quốc, mà sau nầy cộng sản Việt Nam không thể bẻ cong lịch sử được để hòng chạy khỏi tội với dân tộc Việt Nam , vì tài liệu nầy đã nói lên rõ ràng về sự kiện Cộng sản Bắc Việt đã ngang nhiên xé bỏ “Hiệp Định Ba Lê 1973 Về Ngừng Bắn Và Lập Lại Hòa Bình Ở Việt Nam” mà họ vừa ký kết chưa ráo mực, để bình tĩnh xua quân đội chánh quy của họ công khai xâm chiếm Miền Nam Việt Nam theo lệnh của Quốc Tế Đệ Tam Cộng Sản, để tàn sát dã man , không gớm tay đồng bào “ruột thịt” của mình.

Rất Quý, vì quyển sách nầy là một chứng tích lịch sử đã hùng hồn minh xác thật rõ ràng với thế giới (và nhất là đối với 13 quốc gia đã long trọng đặt bút ký vào Hiệp Định Ba Lê 1973) rằng “Chính Cộng sản Bắc Việt mới thật sự là kẻ xăm lăng. Và Miền Nam Việt Nam chỉ là một nạn nhân phải ở trong thế phải chiến đấu để tự vệ mà thôi “

Do vậy, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với đồng bào Việt Nam đang tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại: quyển “Mẹ Việt Nam Ơi! Dân Ta Có Tội Tình Gì? được chúng tôi chuyển ngữ từ quyển sách tiếng Pháp:”Việt Nam, Qu’as tu fait de tes fils” của tác giả Pierre Darcourt, để chúng ta cùng nhìn rõ được bộ mặt thật gian manh, tàn ác, và trơ trẻn của bọn cộng sản xâm lược Miền Bắc khi các mặt nạ của họ mang sáo ngữ “giải phóng đất nước”, “giải phóng dân tộc” hay “chống Mỹ cứu nước” hoặc “giải phóng đồng bào “ruột thịt” của chúng ta ở Miền Nam đang sống đói khổ dưới sự bốc lột tàn tệ của Mỹ Ngụy” đều bị rơi xuống hết sau ngày 30 tháng Tư, năm 1975!

Dương Hiếu Nghĩa

“Rằng ta có ngựa truy phong…”

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 24 Sep 2016 

Lại viết “tào lao”: Chính trị và luân lý!

Thường trong một tác phẩm nghệ thuật như tiểu thuyết, phim ảnh, … có hai thành phần nhân vật khác nhau; nói theo chữ nghĩa thì đó là những nhân vật chính diện hay phản diện. Nôm na là những người tốt hay xấu.

Ví dụ như trong Kiều: Kim Trọng, Thúy Vân, Tam Hợp Đạo Cô… là những nhân vật chính diện. Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh…  là những nhân vật phản diện.

Bên cạnh đó, có những nhân vật, cho đến nay, những nhà phê bình còn tranh cãi nhau. Cô Kiều là người xấu hay tốt? Phần nhiều ngưòi ta cho là tốt, nhưng Nguyễn Công Trứ lại “phán” ngay một câu:

“Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm,

Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai?”

Từ Hải cũng vậy! Y là “tướng cướp”. Tướng cướp thì có bao giờ tốt đâu! Nhưng Từ Hải là “thần tượng” của biết bao nhiêu người. Trước đây, cũng không ít nhà phê bình văn học, cho rằng Từ chính là “thần tượng” của Nguyễn Du.

Sở Khanh là con người xấu thiệt. Y khoe khoang với Kiều rất nhiều chuyện. Ví dụ như y bảo:

“Nàng đà biết đến ta chăng!

Bể trầm luân cố lấp bằng mới thôi.”

“Lấp bằng bể trầm “? Phật Thánh còn chưa làm được huống gì người, mà lại một người như Sở Khanh!

Không chỉ khoác lác chừng ấy, có khi y còn tự xưng y là “anh hùng”:

Thuyền quyên ví biết anh hùng,

Ra tay tháo củi sổ lồng như chơi!

“Tháo củi sổ lồng”, có nghĩa là “giải phóng” khỏi những ràng buộc, áp chế hiện có! Nhân loại, dù ở đâu, mà không chịu sự trói buộc, đàn áp? Ngay ở nước Mỹ, dân chủ Mỹ là như thế, có ai được “hoàn toàn giải phóng”?

Rằng ta có ngựa truy phong

Có tên dưới trướng, vốn dòng kiện nhi!

            Nói rõ ra là Sở Khanh có đủ tài trí – vì y vốn dòng kiện nhi – và có phương tiện – ngựa truy phong – để đưa Kiều đi trốn!

        Thật ra, Sở Khanh chỉ là một tên đểu cáng, chuyên lừa phỉnh đàn bà con gái. Kiều không chịu tiếp khách làng chơi, Tú Bà bèn lập mưu với Sở Khanh, để Kiều phải “mắc lận”, mà chịu làm đĩ!

Thôi đà mắc lận thì thôi

Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh

            Dù ở cuối bảng (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) “tín” là nhân cách của con người. Giữ chữ “tín” – lòng tin – cũng có nghĩa là chung thủy, như Từ Hải vậy. Trước 1975, người Tầu – ở Chợ Lớn chẳng hạn – buôn bán làm ăn với nhau, rất trọng chữ “tín”, việc hùn hạp buôn bán, nhiều khi không cần giấy tờ để làm cam kết. Sau 1985, Việt Cộng cũng “mở cửa, đổi mới”, bắt chước Tư Bản, Saigon bỗng rộ lên không biết bao nhiêu là “Trung tâm Tín dụng”, mà thực sự chỉ là những “hiệu cầm đồ”. Có người, khi qua tới Mỹ, hiểu ngay rằng đây là “chế độ credit” trong lãnh vực ngân hàng ở Mỹ. Người ta phải tạo cho mình một “credit”, từ đó, có thể vay tiền mua nhà, mua xe, vay tiền buôn bán làm ăn, mà không cần thế chấp như dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam hiện nay.

            Cũng vì cái “credit” đó, những khi tới mùa tranh cử ở Mỹ, “thiên hạ” mặc sức mà hứa. Hứa để được phiếu, sau đó, nhiều khi có muốn cũng không giữ được lời hứa. Ông “tổng thống Bush cha”, khi tranh cử, hứa không tăng thuế. Đến khi nhậm chứcc rồi, không tăng thuế thì… không được, đành phải… nuốt lời hứa. Chính vì việc đó nên tới khi tranh cử nhiệm kỳ thứ hai, “tổng thống Bush cha” bị “anh chàng Bill Clinton trẻ tuổi”, biết “đánh trống thổi kèn” đánh bại. Đó là một cái gương, một kinh nghiệm cho ai hay hứa lèo.

Sở Khanh cũng là một tay hứa lèo. Nguyễn Du mô tả y:

Đem người thẩy xuống giếng khơi

Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay!               

           Không biết có ông tổng thống Mỹ nào hứa cuội để có thể thẩy dân Mỹ “xuống giếng khơi”.

            Trong ý nghĩa đó, người ta sửa lại câu nói của người xưa: “Quân tử nhất ngôn”. Từ Hải chính là con người “Quân tử nhất ngôn”:

 “Một lời đã biết đến ta,

Trăm chung, nghìn tứ cũng là có nhau.”

Từ Hải chết rồi, nên “quân tử” của Từ cũng chết theo:

 “Quân tử nhất ngôn là quân tử dại, Quân tử nói đi nói lại là quân tử khôn.”

            Cách nói nầy làm người ta nhớ đến hai câu thơ của Trạng Trình:

“Khôn nơi cờ bạc là khôn dại,

Dại chốn văn chương ấy dại khôn.”

            Đời bây giờ là đời của ma quỷ, khôn dại không lường được. Điều người ta nghĩ là khôn, thì chính là dại; và ngược lại. Người đời ai ai cũng thường tự cho là mình khôn:

 “Thế sự đua nhau, nói dại khôn,

Biết ai là dại biết ai khôn.”

Câu nầy cũng là của cụ Trạng đấy.

&

            Trong quá trình lịch sử chống Pháp giành độc lập trước 1945, người ta thường kính trọng những người “làm cách mạng” bởi vì làm cách mạng là hy sinh, là vì dân, vì nước. Ai có thể phủ nhận cái “dại” của Nguyễn Thái Học, Ký Con, Cô Giang, cô Bắc, vua Duy Tân, Trần Cao Vân, Thái Phiên và Nguyễn Tường Tam, Hoàng Đạo, Trương Tử Anh…

            Người làm chính trị, có ai là người vì dân tộc, vì tổ quốc?

            Những người làm chính trị thường hứa hẹn thật nhiều, hứa càng nhiều càng tốt, khoác lác càng nhiều càng dễ hốt phiếu. Cuối cùng, cũng chỉ là hứa cuội thôi. Khi tranh cử thì hứa. Trúng cử rồi thì quên.

            Ở tất cả các nước trên thế giới, những người làm chính trị đều như thế cả, không mấy ai khác đi. Cũng như tập đoàn cai trị ở trong nước. Cách mạng cái cóc khô gì nữa, chỉ là một tập đoàn cố nắm chính quyền, để bảo vệ quyền lợi của nhau, cho nhau mà thôi.

            Trong viễn tượng đó, lập trường những người làm chính trị đổi nhanh như chong chóng, miễn sao giành được cái ghế, còn như chẳng cần giữ thể thể diện, liêm sĩ là gì!

            Với nước Mỹ, Wasington, Jefferson, John Adam là những nhà cách mạng phải ra làm chính trị (giữ chức tổng thống). Không rõ ông Washington hồi đó có suy nghĩ hay kinh nghiệm gì giữa người làm cách mạng và chính trị mà khi 13 tiểu bang đầu tiên có mâu thuẫn nhau, để giải quyết những tranh chấp đó, người Mỹ thấy cần có môt chính phủ liên bang, phải mấy lần mời mọc, ông Washington mới chịu nhận làm tổng thống, tổng thống đầu tiên của nước Mỹ.

            Có cái khác nhau đến trái ngược giữa người làm cách mạng và người làm chính trị, thành ra, thông thường, người dân tôn trọng người làm cách mạng mà coi thường người làm chính trị.

            Nói, hứa, khuyến dụ, tuyên truyền, vận động… rồi không giữ lời làm cho người ta đánh giá người làm chính trị thiếu đạo đức, luân lý, thiếu liêm sĩ. Đôi khi người ta cũng cho rằng chính trị là vô luân”. Điều đó có đúng không?

            Nhiều người làm chính trị, nuốt lời hứa đến trơ trẻn, xem ra họ còn tệ hơn Sở Khanh.

            Khi Sở Khanh chạy tội, nói rằng y không quyến rủ cô Kiều, Kiều bèn đưa ngay chứng cớ:

Còn tờ tích việt ở tay

Rõ ràng mặt ấy, măt nầy chớ ai!

Sở Khanh cũng còn chút liêm sĩ, thấy mình dơ dáy, bèn lủi mất: “Dơ tuồng, nghỉ mới kiếm đường tháo lui.”

            Nhắm bộ Sở Khanh không hơn những người làm chính trị hứa nhăng, hứa cuội hay sao?!

            Bài nầy không nhắm đả kích cá nhân Trumps, cũng như bài trước, cũng không nhắm bênh vực cho bà Hill, và cũng không khuyến khích, vận động cho ai cả; chỉ là thấy chuyện đời bây giờ, bên Mỹ mà so sánh với các nhân vật xưa cũ trong truyện Kiều để viết tào lao vài hàng làm vui thiên hạ. Chỉ chừng đó mà thôi!

hoànglonghải