Sự đời – Tự sự

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 13 Jul 2026

Pinterest photos

Lời nói trước:

Đại Sư Paramahansa Yogananda (1893-1952), bậc thầy người Ấn đến đất Mỹ, Boston từ thập niên 1920’, truyền giảng phương pháp thực hành Yoga qua phối hợp Thiền Định Mật Tông và Đức Tin Thiên Chúa Giáo, hiện thực kết hợp Đông-Tây. Những năm cuối đời (1948-1952), vị Thầy lui về ở ẩn vùng Sa Mạc Mojave, California do kinh nghiệm năm tháng du hành, thuyết giảng ở Arizona nên biết: Vùng sa mạc hấp thụ lượng lớn sức nóng mặt trời giúp cho người có được những năng lực mà những địa vực khác không có.

Là một Người Lính của một quân đội thất trận, nước mất, nhà tan, nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, bản thân cuối đời về ở nơi vắng vẻ. Không thể vắng lặng hơn.. Không có cả hơi gió, tiếng chim, bóng lá. Nên không gì hơn là tự mình nhìn mình/với mình chứ không ai khác, và không có gì khác. Từ đó, có những giòng chữ ngắn nầy, gởi những người (vốn) biết tôi là ai, như thế nào từ nhiều năm qua những giòng chữ Chân Thật – Về SỰ THẬT KHÔNG THỂ THẬT HƠN –Nhưng có lẻ quá THỰC nên không mấy ai kể ra. Không để ý. Không đáng nói đến. Cũng có ý mong kể lại Người Thật-Việc Thật mà những thế  hệ sinh trưởng sau 30 Tháng 4, 1975 nên biết tới. Thế thôi.                  

1.

Từ cảnh sống đời không định hướng

Giờ qua, ngày lại, diễn vô thường

Bất chợt mở dối một cuốn sách

Ngoài trời chiều hết mù mù sương..

2.

Xưa sống phận nghiệt, nghiệp quân nhân

Chuyên Biệt Động-Dù nay vô sở dụng

Nầy… Nhảy về đâu hở gã lính khổ

Thấy được những gì giữa khoảng Không?

3.

Theo cách lão Bùi, thức khuya với dán (1)

Bọ ẩn hóc tối, người chìm bóng đêm

Im lặng phận hèn, mi sợ ánh sáng

Ta không hơn gì, ngại ngày nối thêm…

(1) Bùi Giáng (1926-1998): Đêm thức, ngày ngủ mới nên con người

4.

Tâm không đạo giáo, chẳng tu tập

Chưa đáo sân chùa, tới nhà thờ

Cửa đóng, phòng im lòng trống vốc

Có/Không… Biền biệt chạm Hư Vô

5.

Ồ Bát Chánh Đạo, Từ Diệu Đế? (1)

Người quá não nề với Nỗi Đau

Muôn triệu lời kinh không giải nỗi

Mỗi sát-na từ vô hạn lầm than

(1): Giáo Lý căn bản của Phật Pháp

6.

Lắng nghe Pháp Thoại hằng đêm

Hóa ra Chân Lý chỉ ngần ấy thôi

Cấm Sát Sanh hẳn nhiên rồi (1)

Nhón tay, bấm nút đâu từ nơi xa

(1): Cấm sát sanh: Giới trọng của Phật Pháp

7.

Ngày ngày viết xuống lời “Thơ”

Thấm nghe từng sợi thần kinh nát nhàu

Sợ từng ý nghĩ, giòng, câu..

Hố sâu lấp mãi không đầy Nỗi Đau

8.

Ôi sự Ác vây trùng trùng gươm giáo

Phận con người đơn độc giữa bão giông

Ngẫng về trời hỏi nơi đâu Mùa Vọng (1)

Đêm tối đen..

Không có chỗ gối đầu?!

(1) Mùa Vọng trước Giáng Sinh Chúa Ky-Tô (24/12) 

9.

Vẫn biết sống nơi nầy hữu  hạn

Mà sao Khổ tận tới vô chừng

Cây diêm nhỏ chập chờn hơi lửa mỏng

Tắt rất nhanh bóng tối chụp mênh mông

Sông, khe, suối.. cuối giòng ra biển lớn

Chứa không đầy một giọt đắng thương tâm

10.

Sự Thật lớn nhất là Cái Chết

Đã giáp mặt rồi không ngại gì hết

Vậy thôi nói mấy cũng thừa

Nhìn ra thấy nắng mới từng sát-na!

11.

Sáng Chủ Nhật dậy sớm

Nhàn dật ngồi ngó mông

Lại nằm xuống ngủ nướng

Khóc thầm từ cơn mơ

12.

Nhớ ngày tới Mỹ gởi thân

Ba-mươi năm quá cũng ngần ấy thôi (1)

Bao nhiêu lâu một đời người

Nhìn lên chỉ thấy bầu trời trống trơn (2)

Hỏi lòng có được gì chăng?

Chẳng hơi sức mấy…

Sự buồn cũng không!

(1) (5/11/1993-2026)

(2) Ý từ Võ Phiến (1925-2015) vào buổi cuối đời

13.

Họ Tô thuở trước, Ta Về (1)

Tôi nay ngơ ngác cuối đời vô phương

Trước mắt còn một đoạn trường

Đường kia đã lỡ, đoạn nầy triệt chung

Buổi xưa Chúa lậm khổ cầu

Thiên thu Người chịu muôn phần Mối Đau

Đêm nay không chỗ gối đầu! (2)

(1) Ta Về, thi phẩm lớn của  Tô Thùy Yên (1938-2019)

(2)…Con Người không chỗ gối đầu!  Lc 9, 57-62

14.

Thuở xưa, tuổi trẻ đăng trình

Cuối đời, cuối cuộc…

Hỡ rồi tới đâu?

Sống sót sau trận máu xương

Hóa ra “Ở Lính” một lần chưa xong!

15.

Con người quen thói soi gương

Dài năm chầy tháng..

Nhìn vào – Trống trơn!

Kinh qua, nghiệm lại,

Vô thường!

Hình kia, ảnh nọ..

Rõ ràng – Sự Không!

16.

Bụng đầy tích chứa chất dơ

Coi chừng…

Đầu óc đặc lầy tối tăm!

 17.

 Vợ-Chồng chung sống cùng nhau

 Hai đầu đòn gánh nặng lần cưu mang

 Gắng qua sự thế, nhân gian

 Thế thì kẹt cứng, tình dần nhạt pheo

18.

Trưa qua hoang mạc Arizona

Nhớ hầm giam tối ngục tù quê xa (1)

Nóng sôi chân tóc nứt da

Qủy ma hiện cõi ta bà lửa nung

(1) Kiên giam nơi tù ngục Miền Bắc (7/9/1981-29/5/1988)

19.

Bất ngờ nghe tiếng nhạc

Từ bình nước trào sôi

Tưởng thanh âm ngoài trời

An ủi người cô quạnh

20.

Đội nào đá banh thắng (1)

Hỏi được cái gì nào?

Ngoài kia người xôn xao

Trong tôi, lòng trắng nhạt 

(1) World Cup 2026 suốt hai tháng 6-7/2026     

21.

Anh lừa bóng cực nhanh

Cậu giữ chắc khung thành

Trận banh mấy mươi phút

Người quên đời tương tranh

22.

Đời cho dăm bận ái tình

Lần nào cũng lỡ…

Tình nào cũng hư!

23.

Kể ra chưa lần thất trận ái tình

Không phải mất mạng chốn đao binh

Chỉ tận yêu người nên lậm khổ

Cùng đành thấm nhục chốn thương sinh

24.

Bước qua cửa Hỏa Ngục

Hy vọng hẳn tiêu tan (1)

Nằm miết sâu tù nhục

Hy Vọng kết Vàng ròng

(1) Dante’s Inferno

 25.

Ngồi giữa tầng tầng tối (1)

Tay, chân chập cùm gông

Trí lực dậy phơi phới

Bật ra ngoài chấn song

(1) Kiên giam nơi tù ngục Miền Bắc (7/9/1981-29/5/1988)

26.

Sống tức tiến tới chết

Mây trôi im lặng thinh

Bay vào nơi bất định

Tan loãng vùng vô minh 

27.

Nước mắt dùng để khóc

Người mặc sức dài cơn

Cho trôi hết đoạn trường

Nguồn lệ không hề cạn!

28.

Sức Con Người có hạn

Sự Ác ôi vô vàn

Cuối cùng đành úp mặt

Trên Đất bật tiếng than!

31.

Sách cho dăm chữ nhọc nhằn

Ngày, giờ trống vắng, dụng thành thanh văn

Cuối đời đụng nghĩa Vô Danh

Hóa ra Thực/Ảo chỉ ngần ấy thôi.

32.

Mỗi sáng mai thức dậy

Chớ nghe ai qua đời

Người hay tôi cận tử?

Hẵn cũng thế mà thôi!

33.

Giữa mênh mông đất trời

Bướm tìm nhau chính xác

Im lặng đôi cánh trắng

Nghe rõ mật siêu âm (1)

(1) Từ phòng giam kiên giam Trại Thanh Cẩm (1986-1988),

 nhìn ra núi, chứng thấy bướm nhận nhau bởi sắc màu của cánh 

34.

Hãy lắng nghe thạch sùng  

Cơn hứng tình kêu rộn

Dâm Lực chuyển Năng Lượng

Bùng vỡ chốn cấm phòng (*)

(1) Thạch sùng chuẩn bị lần giao hợp rất lâu, xong báo hiệu bằng tiếng kêu lớn âm vang động phòng giam   

35.

Tây Thi quặn đau bụng (1)

Cô nàng chạy đi cầu

Đố cho ai viết đúng

Dẫu chấp bút ngàn câu?! 

(1) Tây Thi, một trong Tứ Đại Mỹ Nhân của Thời Xuân Thu (771-476 TCN),

Cổ sử Trung Hoa

36.

Ở Huế mùa Xuân không có Tết (1)

Qua Hè xác bới tìm không hết

Chết lấp Gia Hội, thây ngập Bãi Dâu

Đập đầu, chôn sống, máu sẫm suối

Nhạc Trịnh kể ra được mấy câu! (2)

(1) Tổng Công Kích Mậu Thân hai đợt do Đảng CS/Hà Nội chỉ huy (1-5/1968)

(2) Chiều đi qua Bãi Dâu hát trên những xác người… (TCS, 1968) 

Phan Phi Danh

Ngày Hè ở Mỹ

Tháng 6-7/2026

Ngày 30 tháng Tư – Lần thật chết với quê hương

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 13 Jul 2026

Dẫn Nhập:

Hoá ra cảm giác nhạt nhạt trong miệng, buồn buồn đè nặng, đau đau ở trũng ngực làm đứa nhỏ có thói quen luôn rờ tay lên ngực áo như muốn gỡ đi một khối nặng vô hình dính sâu đâu trong người mà sau nầy khi khôn lớn, nó mới biết đó là vị trí gần quả tim làm chặn ngang đường thở. Cảm giác nầy vốn có từ thời thơ ấu nhưng do còn quá nhỏ nên đưá bé chưa biết gọi ra tên. Cảm ứng xa xưa ấy chính là Nỗi Đau sau nầy khôn lớn anh mới biết ra qua thân phận Người Lính trên Quê Hương Việt Nam. Nhưng không hẳn chỉ là thế, sâu xa hơn ám ảnh của thời ấu thơ, mối phiền bực ngày tuổi trẻ, còn có điều gì khác, lớn lao, kinh hoàng, khốc liệt hơn..

Một.

Đấy là Năm 1965, sau trận chiến bùng nỗ ngày 11 tháng 6, với cơn mưa u uất mùa hạ Miền Nam, nơi Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp. Mưa không đủ lớn, không dài lâu để cho người có cảm giác được tẩy rửa, cuốn trôi. Mưa âm âm, ngột ngạt làm bốc dầy thêm mùi xác chết của những đơn vị gồm Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 7  Sư đoàn 5 Bộ Binh; của Tiểu đoàn 52 Biệt Động Quân; và đơn vị đầu đời, thiết thân, thương mến, Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù với những người lính anh quen mặt từ buổi trưa cuối năm 1963 khi mang chiếc xắc marin nhà binh bước qua cổng doanh trại, vào trình diện tiểu đoàn trưởng.. Những người lính với sức chịu đựng dường như vô hạn dưới khối nặng của thùng đạn, ba-lô, nón sắc, vũ khí họ mang trên vai, vác lên lưng, để từng ngày cúi gầm mặt bước xuống vùng sình lầy mênh mông, trèo lên dốc đá núi thăm thẳm, lội xuyên rừng rậm ngút ngàn không tiếng nhỏ than van, ghìm lại hơi thở dài nặng nhọc… Nhưng ngày ấy, tất cả những người lính gần gũi thuơng mến nầy đã là những xác chết căng cứng, da tím sẫm bốc mùi xanh  xao tanh tưởi.. Những khuôn mặt, dạng người tinh anh tươi trẻ của tuần, tháng trước biến dạng thành những khối thịt ủng lầy máu sẫm, đất bùn đỏ, nhầy nhụa thêm bởi thấm mưa của bao ngày nằm nơi đụng trận, một chốn gọi là xã Đồng Xoài, Quận Đôn Luân, Tỉnh Bình Dương, nơi chỉ xa Sài Gòn khoảng năm-mươi cây số đường chim bay.

Hai.

Từ Giao Thừa Mậu Thân, bắt đầu ở Huế, ngõ Âm Hồn, lối đi ra đường Mai Thúc Loan, hướng Cửa Đông Ba. Khoảng đường u thẫm chập dầy bóng đen đêm Xuân 1968, với tình thế nguy biến tang thương hơn qua hoạt cảnh người lính xao xác chạy dọc những khu nhà đỗ nát, vừa chạy tránh đạn, vừa kéo xác đồng đội.. Anh đi ngang qua căn nhà có xác người đàn bà chết trong vị thế quỳ trước chiếc bàn thờ xiêu đỗ tung toé, hẳn đang khấn lạy, cầu xin.. Nhưng xác chết chỉ còn thân người, bởi chiếc đầu đã bị cắt lià, vất tung đâu đó. Bên cạnh, thây cô gái tóc dài lây lất, khuôn mặt chỉ còn những tảng thịt rời rã.. Nhận biết đấy là người thiếu nữ do chiếc áo dài trắng và áo len màu tím than, màu riêng biệt đặc trưng của người thiếu nữ xứ Huế. Nhưng, như một an ủi khốn cùng, ở Huế, hay quanh ngoại ô Sài Gòn, vùng Nhị Bình, Thạch Lộc, Hốc Môn, Gia Định trong dịp chiến loạn Mậu Thân 1968, người ta vẫn còn khả năng phân biệt đấy là xác chết của lính hay của dân; của dân chúng Huế hay gã bộ đội Sinh Bắc-Tử Nam, hoặc cán binh Mặt trận giải phóng.. qua áo quần, dạng tướng, đôi dép Nhật làm ở Chợ Lớn, giày botte de saut của lính cộng hòa hay loại dép râu mang theo từ Miền Bắc của bộ đội cộng sản. Suốt dọc cù lao sông Sài Gòn chảy qua Bình Phước, Bình Triệu, Thạnh Lộc, Nhị Bình, Gò Vấp.. Cả một vùng hoa mai tàn tạ trong ánh nắng lung linh mùi tử khí.

Ba.

Mùa Hè 1972, cảnh chết trên quê hương miền Nam tăng vụt cường độ với  bất  hạnh, tang thương nhân lên gấp bội phần cho dù trí tưởng tượng về tình huống khốn cùng từ lâu đã được người Việt hằng mang nặng, chuẩn bị gánh chịu. Trên chín cây số từ La Vang, nam Quảng Trị đến Cầu Trường Phước lớp nhựa đường đã hoàn toàn chảy nhão, đun nóng sôi bởi một thứ lửa nhân tạo. Lửa được cháy lên do từ áo quần, tay nải, bao bị, gồng gánh, và tế bào thịt da của người tẫm vào lưỡi lửa của xe cộ, xăng nhớt.. Tất cả biến thái nên thành ngọn lửa bền bỉ âm ỉ. Thế nên trên quảng đường chín cây số nam Thị Xã Quảng Trị mà báo chí Miền Nam đặt nên tên đau thương Đại Lộ Kinh Hoàng hoàn toàn không còn dạng thây ma để được gọi nên là xác chết, mà chỉ là những mảnh xương cốt rời rã, lăn lóc, lẫn lộn đất, đá, cát vương vãi dưới gầm khung xe cháy nám, nơi ổ súng cong queo, sau những bụi lùm trơ trọi, những gò, đụn oan khiên mà ổ mối đùn lên gây tanh mùi máu. Trong cùng lúc, vào thời điểm đầu mùa Hè, 1972 ở An Lộc nơi Bệnh viện Tiểu Khu Bình Long cũng xẩy ra tình cảnh kinh hoàng đau thương tương tự. Vì pháo binh yểm trợ chocác sư đoàn 5, 7 bộ binh cộng sản đã học được một kinh nghiệm hữu dụng: “Ban ngày chỉ pháo xuống nhiều điểm bên trong thị xã để dân chúng tin rằng “bộ đội giải phóng” không pháo kích vô chỗ bệnh viện!” Nhưng vào ban đêm, Trường Trung Học Cộng Đồng, Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long.. nơi lớp lớp người bị thương đang lê lết trong bãi máu, giữa những người hấp hối để cầu sống sót, cầu được lúc bình yên.. Cho dẫu bình yên được chết.. Những nơi nầy biến thành những điểm tập trung của pháo binh cộng sản.. Điễn hình chỉ trong một đêm 10 tháng Tư tám ngàn quả đạn 130 ly rơi xuống xé toang đám xác người.. Người sống lẫn kẻ chết.. Tất cả đồng tung lên ngật ngật với thân thể con người chỉ còn là những mảnh vụn tơi tả lẫn với bụi, khói, mãnh thép.. 

Bốn.

Với tình cảnh sống-chết đan kín, xen kẻ cùng nhau trong suốt chặng đường dài hơn một thập niên như trên vừa kể ra.. Nên đã rất nhiều lần, trong đêm khuya bất chợt anh nghe ra tiếng gọi oan hờn từ Nghĩa Trang Quân Đội nhìn từ Đồi Mũ Đỏ,  hậu cứ của Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù trên vùng đồi Long Bình… TẤT CẢ HIỆN ĐỦ TRONG BUỔI SÁNG HÔM NAY – Ngày 30 tháng Tư Năm 1975. Sự Chết bắt đầu trùm chiếc cánh tối tăm hung hiểm lúc 6 giờ 15 chiều ngày 28 tháng 4, khi chuỗi bom dưới cánh của những chiếc A37 do viên phi công phản trắc Nguyễn Thành Trung hướng dẫn rơi xuống phi đạo Tân Sơn Nhất. Đạn phòng không bắn lên, phi cơ F5 đuổi theo muộn màng, vô vọng. Cửa ngỏ tháo chạy của Sài Gòn đóng sập lại. Cuối cùng, Tân Sơn Nhất thật sự vùng vẫy, hấp hối, chìm dần trong lửa hoả ngục khi dàn đại pháo, hỏa tiễn cộng sản từ Đồng Dù, Củ Chi, ranh giới Hậu Nghĩa, Gia Định bắt đầu đổ xuống không ngắt nhịp.. Từng trái đạn 130 ly, từng hỏa tiễn 122 ly chính xác rơi xuống..Tân Sơn Nhất vật vã, co quắp, rã chết, sụp vỡ, hấp hối trong khói đen, lửa ngọn.. Cuộc hành hình kéo dài từ 1 giờ sáng ngày 29 tiếp tục đến rạng đông. Ở căn cứ DAO, Văn phòng Tùy Viên Quân Lực Mỹ, ba ngàn người tỵ nạn chờ đợi di tản bằng C130, hoặc C141 qua Guam đưa mắt nhìn lên trời, giữa vũng lửa, đếm rõ từng viên đạn pháo rơi xuống.. Đống hành lý khổng lồ gồm quý kim, vàng, kim cương, giấy bạc Năm Trăm Trần Hưng Đạo của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam; giấy bạc đô-la của ngân khố Mỹ.. Tất cả cùng trộn lẫn với thịt da thân thể người thành một thứ pháo bông tan tác bay tung toé, hiện thực nơi trần thế cảnh địa ngục vô vàn mà nhà thơ Dante đã diễn tả qua thi ca. 

Sáng 29 tháng 4, những tướng lãnh đã ra đi, những sĩ quan cao cấp cũng rời bỏ nhiệm sở, đơn vị.. Nhưng, Trung Úy Phi Công Trang Văn Thành còn lại. Thành có danh hiệu “Thành mọi” bởi nước da ngâm đen quá độ ra chỗ đậu tàu.. Anh nỗ máy chiếc C119 Hỏa Long, đơn độc bay lên trời xanh bảo vệ, cứu viện Tân Sơn Nhất. Từ trên cao, Trung Úy Thành thấy rõ những vị trí pháo của binh đội cộng sản.. Anh nghiêng cánh, chúc mũi chiếc Hỏa Long căm phẫn trút xuống tràng đạn 7.62 ly, và tất cả hỏa lực cơ hữu của hai khẩu đại bác 20 ly gắn dưới cánh.. Lửa nháng lên dưới thân tàu, toán phòng không cộng sản phản pháo, nhưng không kịp, Thành bình tĩnh, tài giỏi lách ra khỏi vùng hỏa tập lưới đạn của giặc. Anh đáp xuống lại phi đạo thân yêu quen thuộc đang bốc khói mù bởi cuộc dội bom chiều hôm trước và cuộc pháo kích cường tập từ sau nửa đêm về sáng của ngày đau thương tang tóc nầy. Mặc, Thành một mình tự tay nạp đạn vào tàu, anh trở lại bầu trời trên phi cảng Tân Sơn Nhất – Cửa ngỏ của Miền Nam. Anh nhìn xuống những vị trí pháo cộng sản mà giờ nầy tạm ngưng hoạt động vì vừa bị anh tấn công.. Hóa ra cả một quốc gia chỉ còn được lần cứu viện bi hùng tuyệt vọng nầy. Thành chúc mũi tàu, bấm chặt hệ thống kích hỏa bên cạnh chỗ ngồi, một mình anh lấy đường nhắm.. Một mình anh.. Phải chỉ một mình anh – Trung úy Trang Văn Thành, “Thành Thiếu Sinh Quân”. Thành hạ thấp hơn để đường đạn thêm phần chính xác. Thân tàu rung mạnh.. Lửa! Lửa! Lửa cháy ngang cánh trái con tàu, ngay bình xăng, sát cạnh ghế ngồi.. Thành giật mạnh chốt thoát hiểm để bung thân ra khỏi con tàu. Tất cả kẹt cứng. Anh dùng tay đẩy cửa buồng lái phóng mình ra, chiếc dù bung mạnh.. Các múi, giây dù vướng vít rối rắm. Thành bị giữ chặt bởi chiếc dù và khung cửa. Lửa bừng bừng! Lửa ào ạt.. Người phi công chìm trong lửa, gục chết giữa không gian trên quê hương.

Năm.

Sáng 30 Tháng 4, năm 1975. Anh lục túi lấy hết giấy tờ gồm Chứng Chỉ Tại Ngũ, Thẻ Lãnh Lương, Thẻ Báo Chí, Chứng Minh Thư mang Danh Số 41 Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương… ném tất cả xuống miệng cống trước trước nhà sách Khai Trí, Đường Lê Lợi.. Coi như mình đã chết…Hình như anh vừa nói ra lời với cảm giác thanh thản của người vừa cất xong gánh nặng quá lớn. Tay anh giữ hai chiếc máy ảnh trước ngực.. Anh tự nhắc nhở: Ít ra còn có vật dụng để thực hiện một công việc, làm một nhiệm vụ. Đây là những hình ảnh không thể thiếu cho mai sau. Để tương lai còn có người biết đến, thấy ra lần tận diệt của Sàigòn. Của miền Nam. Với cách giải thích tội nghiệp cùng đường nầy, anh đi về phía Công Trường Lam Sơn, trước trụ sở Hạ Viện. Chung quanh Sàigòn vắng hoe. Trời bỗng nhiên trở mưa.. Cơn mưa ngắn, từng giọt khô nồng, u uất. Chiếc xe Molotova Trung Cộng (sau khi đi tù mới biết đấy là xe Zil) từ hướng đường Trần Hưng Đạo, chạy chậm rãi qua bùng binh chợ Bến Thành.. Những người đi đường nhìn lên, ngó mông trống trải. Xe tới trước thềm Hạ Viện, đám thiếu nữ nhẩy xuống, một người đội mũ tai bèo, chắc là người chỉ huy trung đội lính phụ nữ, từ ca-bin xe bước ra, chỉ chỏ, ban lệnh, kéo từng người vào vị trí gọi là “chiến đấu”… Các đồng chí, các đồng chí… bố trí đây nì, sẵn sàng tác chiến… Giọng người vùng miền Bắc Trung Việt khắc nghiệt, the thé. Những thiếu nữ ngồi bất động nghiêm trọng. Tất cả đều mặc áo quần mới, áo mầu xanh dương, quần đen, vải nội hoá còn nguyên dấu hồ, giây đạn đeo chéo qua thân, miết xuống những thớ thịt ở ngực, phần bụng. Băng đạn trên thân người mới tinh màu đồng đỏ au.

Từ Công Trường Lam Sơn, đầu đường Nguyễn Huệ, đám đông dần tập trung để xem mặt “bộ đội Việt cộng”. Thêm hai xe đổ quân trước rạp Rex. Lính cộng sản nhẩy xuống, chạy vội vào hàng hiên, nằm, trườn, bò, nháo nhác. Tiếng đập đục rầm rập từ những cơ sở ngoại quốc, những khối cửa sắt lay động, phá bung, những tấm kiếng tủ lớn bị đập vỡ, đồ đạt kéo lê hỗn độn, vội vàng trên mặt đường. Người mỗi lúc mỗi đông. Người dồn dập ùn ùn, la ó, chưởi thề, giành giựt. Đám đông chạy về phía Building Brink, khu Đồn Đất, nhà thương Grall, những nơi có cơ sở của Mỹ kiều, những văn phòng mà chủ nhân đã bỏ đi. Bất chợt, tất cả lắng lại để nghe rất rõ .. Có người tự tử. Có người mới bắn chết. Ai? Lính hả? Không biết, chỉ thấy mặc đồ lính mình. Ở đâu? Ở ngoãi, chỗ tượng Thủy Quân Lục Chiến.. Lời trao đổi đứt khúc, vội vã, mất hút giữa những tiếng thở dồn dập, bước chân cuống cuồng nôn nóng của đám đông đang hăm hở tiến tới những kho hàng, cơ sở đầy ắp vật dụng, thức ăn, rượu, bia. Tiếng súng nổ, đạn bay lên trời.. Và những bóng người chạy lúp xúp vào cổng Tòa Đô Chính. Anh đưa máy hình lên làm động tác quen thuộc, thuần thục hằng thực hiện trước kia nơi những chiến trường lửa đạn vây bủa. Đồng thời  anh chợt nhói đau, nói thầm.. Đây là lần cuối cùng. Đây là giờ cuối cùng với cảm giác cạn ly rượu ân huệ hành quyết trước khi bịt mắt dẫn đi bắn. Anh đi theo đám lính cộng sản với hai thanh niên cầm cờ đỏ chạy vào chiếm Tòa Đô Chánh. Thoáng rất ngắn, anh ngừng lại, liếc về phía khối tượng đài Thủy Quân Lục Chiến, nơi có Người Lính vừa chết. Buổi Sáng 30 tháng Tư, 1975. Chen giữa âm sắc xích xe tăng đổ nhào cửa Dinh Độc Lập có tiếng nổ khô nhỏ của viên đạn ghim vào, nằm sâu trong đầu Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia NGUYỄN VĂN LONG.

Sáu.

Anh lên yên, nhấn mạnh bàn đạp, động tác không chủ đích đi dọc đường Lê Văn Duyệt, qua Chợ Đũi, nơi các bạn hôm qua hằng vui vầy, sống động.. Anh đạp dài theo Lê Văn Duyệt giữa giòng âm động dồn dập của Sài Gòn đang hồi tẫm liệm với nhịp chày vồ dộng mạnh xuống trăm, ngàn quan tài. Mà quả thật có nhiều quan tài của những người vừa chết.. Đến trước cổng trại Nguyễn Trung Hiếu, hậu cứ Tiểu Đoàn 1 Dù, gặp Thiếu Tá Trần Công Hạnh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2 Dù. Anh hỏi Hạnh: “Bây giờ bạn tính sao?” Tròng mắt người bạn khô khan ráo hoảnh sau bao ngày đêm không ngủ. Hạnh nói dứt khoát, dẫu mệt nhọc, rời rã: “Tôi còn đến 500 người lính, tất cả các đại đội trưởng đang đợi lệnh tôi. Anh xem tôi có thể làm gì, đi đâu?!” Có một xác con trẻ trần truồng không biết ai ném ra từ bao giờ lên mặt đường. Một cô gái mặc áo dài trắng nữ sinh đi đến, gác chiếc xe đạp mini cạnh lề đường, bình thãn, thành thạo đưa máy ảnh lên, lấy góc cạnh thây đứa trẻ chết. Anh hỏi cô gái: Cháu chụp tấm hình nầy làm gì trong khi không dám nhìn đến thây đứa bé mà giờ nầy đã miết xuống mặt nhựa đường do đám người chạy loạn từ khu Ngã Tư Bảy Hiền dẫm lên. Cô gái nhỏ trả lời mau chóng: Chụp để làm chứng tội ác Mỹ-Ngụy trước khi bọn chúng rẫy chết! Giọng cô nhỏ đanh lại, mắt quắt lên sau lớp kính trắng. Anh thoáng kinh hãi vì chứng kiến một điều ghê rợn: “Hóa ra Sự Ác do cộng sản giáo dục có thể chụp xuống lòng người mau chóng đến thế sao?” Bấy giờ chỉ mấy mươi phút sau lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh.

Một trung đội lính Dù mà thật sự chỉ khoảng hơn một tiểu đội giữ nhiệm vụ an ninh cư xá sĩ quan Bắc Hải đặt dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, trước 1972 là Tư lệnh phó Sư đoàn Dù. Chuẩn Tướng Hậu đang trãi chiếc bản đồ trên mui xe jeep, bàn tính với những viên sĩ quan. Khi biết lệnh đầu hàng đã thi hành, ông vất tung chiếc bản đồ, gầm lên lời nguyền rũa.. Anh nói với viên thiếu úy trung đội trưởng: Tôi vừa gặp ông Hạnh ngoài cổng Tiểu Đoàn 1. Ông Hạnh không có ý kiến, bảo anh em ai về nhà nấy. Nhưng viên thiếu úy trả lời quyết liệt: “Tôi không đầu hàng, tôi với trung đội sẽ ra bến tàu tiếp tục chiến đấu..”. Thiếu úy Huỳnh Văn Thái tập họp trung đội, hô nghiêm, xếp hàng, ra lệnh di chuyển.. Trung đội lính ra khỏi cư xá theo lối cổng Đường Tô Hiến Thành, rẽ vào Nguyễn Tri Phương, đi về phía chợ Cá Trần Quốc Toản, hướng bến tàu. Nhưng những Người Lính Nhẩy Dù của Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái không ra đến bến Bạch Đằng, khi tới đến bùng binh Ngã Sáu Chợ Lớn, họ xếp thành vòng tròn, đưa súng lên trời đồng hô lớn.. Việt Nam Cộng Hoà Muôn Năm.. Con chết đây cha ơi! Và những trái lựu đạn tiếp nhau bừng bực nổ sau lời hô vĩnh quyết cùng đất nước Miền Nam.

Sau nầy, anh biết thêm, trên đoạn đường anh vừa đi qua, ngõ nhỏ băng ra Chợ Ông Tạ, trong một căn nhà đã diễn nên hoạt cảnh uy nghi bi tráng của cả một gia đình quyết tử cùng vận nước. Thiếu Tá Đặng Sĩ Vĩnh thuộc Khoá 1 Nam Định, chuyên ngành tình báo đặc biệt, biệt phái ngoại ngạch qua ngành viễn thông, phụ trách đường giây quốc ngoại. Người con trai lớn của gia đình, Trung Úy Đặng Trần Vinh sĩ quan Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu.. Hai người cùng trao đổi lời đối thoại sau khi có lệnh đầu hàng.. Tùy con, riêng bố đã quyết như đã nói với con từ trước. Nếu bố đã quyết như thế, con và các cháu cũng đồng lòng. Toàn gia đình uống chậm những liều thuốc độc cực mạnh đã chuẫn bị từ trước. Cuối cùng Trung Úy Đặng Trần Vinh kết thúc bi kịch với viên đạn bắn tung phần sọ não sau khi đứng chào tấm Đại Kỳ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ với lời hô khiến sông núi cũng quặn thắt thương đau.. Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm!

Bảy.

Ở Vùng IV, đồng bằng châu thổ Sông Củu Long, chị Nguyễn Thị Thàng vợ một Nghĩa Quân Đồn Giồng Trôm, thay chồng giữ đồn đến trái lựu đạn cuối cùng. Chị kết thúc đời mình bên cạnh thây của chồng, các con, với những vũ khí, máy truyền tin đã bị phá hủy.. Không để cho Việt cộng một cái gì cả! Người chồng đã dặn chị trước khi lâm tử. Cùng lần với những danh tướng vị quốc vong thân Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn… rất nhiều người không ai biết cấp thiếu, trung úy kể cả binh sĩ, hạ sĩ quan,.. cũng không thiếu những người dân, những người dân thường đã chết cùng lần vĩnh quyết Miền Nam. Anh đi qua biên giới tử sinh nầy với mặc cảm phạm tội – Tội đã sống sót. Đấy là cảm ứng có thật từ ngày 15 tháng 3 khi theo đoàn người di tản dọc Tỉnh Lộ 7 từ Pleiku về Phú Bổn, xuống Tuy Hoà.. Khi đứng trên Đèo Hải Vân ngày 25 tháng 3, nhìn đoàn người chạy loạn từ Quảng Trị, Huế vào Đà Nẵng. Khi nghe ra tiếng hờn đau ai oán của người đàn bà chân trần, tóc rối, lật vạt áo dài ra để thấy đứa con nhỏ đã chết từ lâu trên tay. Nay sáng 30 Tháng tư, anh đi về nhà với màn nước mắt pha máu.. Máu trên áo, ở đầu ngón tay, nơi cánh mũi gây gây, nồng gắt mùi nồng lạnh do khi anh đến gần, cúi xuống chụp hình Thiếu Úy Thái và những người lính nhảy dù tự sát. Mắt người chết nhìn anh trừng trừng khốc liệt. Không hiểu anh đã về đến nhà theo lối nào, nhưng quả thật đây thật là đoạn đường dài nhất, gớm ghê nhất anh vừa đi qua với cổ đắng, miệng khô rốc, trí óc vỡ loãng trỗng không.

Hậu Từ.

Người Nhật là một dân tộc vĩ đại qua nghi lễ hiến tế, tức Sepuku (mỗ bụng tự sát) khi danh dự cá nhân, tập thể, tổ quốc bị xúc phạm. Dân tộc Việt Nam không có nghi thức uy hùng, dũng cảm ấy. Tuy nhiên, Người Việt cũng có phương thức riêng để bày tỏ Lòng Yêu Nước, cách gìn giữ phẩm giá Con Người. Người Việt xử dụng Cái Chết để chứng thực nguyện vọng kia qua cách thế im lặng và đơn giản nhưng không kém phần cao thượng. Cuối cùng, bi kịch không chỉ xẩy ra với thời điểm 30 tháng tư, 1975 mà sau đó, suốt hai thập niên 70, 80, hai triệu người Việt Nam, không phân biệt người Nam, hay người Bắc những người đã sống lâu dài dưới chế độ cộng sản Hà Nội từ 1945, từ 1954.. Tất cả đã cùng phá thân băng qua biển lớn, xuyên rừng rậm vùng Đông-Nam Á, với giá máu 600.000 người chết trên đường di tản ra khỏi nước. Hóa ra Dân Tộc Việt, những người Việt Nam bình thường đã đồng lần thực hiện một điều mà họ không hề diễn đạt nên lời: Chết vì Tự Do để bảo vệ Phẩm Giá, Quyền Làm Người. Người Việt Nam đã và  đang hiện thực điều mầu nhiệm nầy qua từng ngày vượt sống trên quê hương khổ nạn, với chính thân xác của mình.

Viết lại sau 37 năm

Kính nguyện,

Dâng lên Tổ Quốc

Và Anh Linh Người Việt đã lâm tử trong

Ngày Thật Chết Với Quê Hương.

Tháng tư, 2012

Cali, PNNam

Biệt Kích Ngô Văn Quy ‘xếp bút nghiên theo việc kiếm cung’

Posted on July 12, 2026 by dongsongcu

July 11, 2026

Modified date: July 11, 2026

Lâm Hoài Thạch/Người Việt
Post by Sơn râu 13 Jul 2026

LITTLE SAIGON, California (NV) – Cựu chiến sĩ Biệt Kích Biên Phòng Ngô Văn Quy phục vụ Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ. Sau khi quân đội Hoa Kỳ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, Ngô Văn Quy được Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) điều ông về làm việc tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân, với chức vụ quản nội trưởng của Trung Tâm Tiếp Liệu Hải Quân.

Ngô Văn Quy (trái) và vợ là ca sĩ Ánh Nguyệt trong Đại Hội Thiết Giáp Binh, 2026 tại Little Saigon. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Nhật báo Người Việt có dịp gặp ông Ngô Văn Quy tại Little Saigon, nghe ông kể lại cuộc đời binh nghiệp của mình từ 1962 cho đến tàn cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam, vào cuối Tháng Tư, 1975.

Năm 1962, lúc Ngô Văn Quy 18 tuổi đang học Đệ Nhất (Lớp 12) tại trường trung học Petrus ký Sài Gòn. Trong thời gian này, hầu như những chàng trai trẻ trong dạng tuổi từ 18 cho đến 20 phải nghĩ đến việc tòng quân giúp nước, vì đất nước đang thời chiến tranh bùng phát. Có những người trai đang lúc là học sinh hay sinh viên, xếp bút nghiên để thi hành bổn phận người trai thế hệ. Họ tình nguyện vào những quân trường như Trường Bộ Binh Thủ Đức; Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam tại Đà Lạt, để được trở thành những tân sĩ quan ưu tú của Quân Lực VNCH.

Song song đó, những thanh niên có bằng trung học thì tình nguyện vào Quân Trường Đồng Đế, để được trở thành những hạ sĩ quan của quân đội VNCH. Ngoài ra, những ai không có bằng trung học trở lên thì có những người tình nguyên vào những quân, binh chủng, như Hải Quân, Không Quân, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, Biệt Kích, các Sư Đoàn Bộ Binh, những đơn vị đặc biệt và có những người thi hành nghĩa vụ quân dịch cũng vào những đại đội, tiểu đoàn của Địa Phương Quân tại các xã, quận, tỉnh lỵ thuộc lãnh thổ của VNCH.

Ông Ngô Văn Quy kể: “Lúc đó, gia đình tôi đang cư ngụ tại cư xá Lữ Gia, gần Trường Đua Phú Thọ, Sài Gòn. Tại đây, tôi có một người bạn học cùng trường, rồi tự nhiên anh vắng mặt một thời gian. Đến khi gặp lại anh thì tôi thấy anh đang mặc bộ quân phục rằn ri trông rất oai hùng. Trên vai áo của anh gắn phù hiệu của binh chủng và đơn vị chiến đấu. Nhưng lúc đó, vì vẫn còn là lứa tuổi học sinh nên tôi chưa biết anh đi lính gì, mà trông anh rất kiêu hùng qua bộ quân phục và còn mang thêm cây súng ngắn trước ngực.”

Ngô Văn Quy (trái) và cựu SVSQ Trừ Bị Thủ Đức Nguyễn Văn Chuyên tại Little Saigon. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Ông nói thêm: “Qua sự ngưỡng mộ bộ quân phục và nét oai phong của anh, nên tôi hỏi anh ta đi lính gì? Thì anh nói là anh đã tình nguyện vào đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ, và đơn vị này cũng đang còn tuyển mộ. Vì thời điểm chiến tranh trước sau gì mình cũng phải tòng quân giúp nước, nên cơ hội này, có lẽ đến lúc cho tôi được làm tròn bổn phận của người trai trong thời đất nước chiến tranh. Không chút do dự, tôi hỏi anh bạn mình, ‘Vậy anh chỉ chỗ nào đang tuyển mộ loại lính này để tôi xin tình nguyện vào đơn vị này với’.”

Tình nguyện vào Biệt Kích Quân Hoa Kỳ

Sau đó anh này hướng dẫn cậu học trò Ngô Văn Quy đến nơi tuyển mộ lính Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ. Lúc ấy, kế bên rạp rạp chiếu phim Đại Nam trên đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn có một văn phòng nhỏ của Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ đang tuyển mộ những người muốn gia nhập vào đơn vị này, và họ đang cần những chiến sĩ Biệt Kích Mỹ. Tại nơi tuyển mộ có một trung úy Hoa Kỳ và Thiếu Úy Long, tức Long Đen thuộc đơn vị Military Assistant Viet Army (MACV).

Ông Quy kể: “Qua sự trình bày của Thiếu Úy Long về những hoạt động của những chiến sĩ Biệt Kích Mỹ khá hấp dẫn đã lôi cuốn tôi là, nhất định tôi phải tình nguyện vào lính Biệt Kích Mỹ. Qua đó, tôi đến xin đơn để gia nhập binh chủng này. Thủ tục để gia nhập đơn vị này gồm có khai sanh, thẻ học sinh và những văn bằng học vấn mà mình đang có. Sau khi nộp đơn tình nguyện, tôi phải chờ sự chấp thuận của họ, qua sự khảo hạch của các sĩ quan của đơn vị này.”

Lúc đó, cũng có hai người bạn học khác của ông Quy đến nộp đơn xin gia nhập lính Biệt Kích Mỹ, nhưng họ đều bị ban tuyển mộ không chấp thuận, vì không đủ điều kiện để trở thành một quân nhân của Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ. Ngô Văn Quy chia sẻ: “Một trong hai người bạn của tôi sau này là sinh viên sĩ quan của Trường Bộ Binh Thủ Đức, tức Trung Úy Lê Bắc Việt, người đã hy sinh ở trận Hà Lào.”

Được ban tuyển mộ chấp thuận vào đơn vị Biệt Kích Mỹ, ông Quy rất vui mừng và hứng thú, vì được thi hành nhiệm vụ của người trai của đất Việt, thực hiện lời nói của các bậc tiền nhân, “Trai thế hệ trong thời binh lửa. Khi đất nước cần phải xếp bút nghiên theo việc kiếm cung.”

Khi đầu quân vào lính Biệt Kích vào năm 1962, đúng vào thời điểm Hoa Kỳ và VNCH bắt đầu mở rộng hệ thống Trung Tâm Huấn Luyện Dã Chiến tuyệt mật. Vì ông Ngô Văn Quy là người Sài Gòn, nên được các huấn luyện viên tuyển chọn ông vào các khóa học đặc biệt của toán Thám Sát Tầm Xa (Long-Range Reconnaissance Patrol – LRRPO), và các chiến dịch đặc biệt đòi hỏi khả năng xử lý tình huống linh hoạt. Trong khi đó, những quân nhân thuộc Civilian Irregular Defense Group (CIDG – Dân Sự Chiến Đấu), phần nhiều tuyển người sắc tộc ở vùng biên giới, nên họ chỉ được học những khóa về cận chiến, thám sát và mưu sinh thoát hiểm mà thôi.

Sau đó, Ngô Văn Quy được thụ huấn sáu tháng ở trại Bear Cat chuyên huấn luyện những quân nhân thuộc binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Các huấn luyện viên là những sĩ quan trong quân đội Hoa Kỳ, và cũng có những sĩ quan của VNCH.

Ngô Văn Quy (phải) và cựu Thiếu Sinh Quân VNCH tại nhà hàng Paracel, Westminster. (Hình: Ngô Văn Quy cung cấp)

Trại Bear Cat trước năm 1962

Trại Bear Cat còn có tên gọi là trại Quyết Thắng hoặc căn cứ Long Thành, là một căn cứ quân sự có lịch sử lâu đời và đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến tranh Việt Nam, nhất là giai đoạn đầu những năm 1960 cho đến 1972.

Trước khi trở thành trung tâm huấn luyện biệt kích lớn, địa danh này vốn là một phi trướng dã chiến của quân đội Pháp. Trong Đệ Nhị Thế Chiến, quân đội Nhật Bản cũng từng chiếm đóng và sử dụng căn cứ này. Căn cứ nằm trên tuyến Quốc Lộ 15, thuộc quận Long Thành, tỉnh Biên Hòa xưa. Cái tên Bear Cat, có nghĩa là gấu mèo Châu Á. Nhưng thực chất được lấy từ chính mật danh (Call Sign) vô tuyến của Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ tại cứ điểm này.

Sự kiện năm 1962 và vai trò huấn luyện Biệt Kích

Theo Ngô Văn Quy, từ 1962, khi Mỹ bắt đầu tăng cường can thiệp quân sự và khai triển các chiến thuật “Chiến tranh đặc biệt,” quân đội Hoa Kỳ và chính quyền VNCH cần một địa điểm biệt lập, bảo mật cao để xây dựng lực lượng phản ứng nhanh. Các toán thuộc Lực Lượng Đặc biệt Hoa Kỳ (Green Berets – Mũ Xanh) phối hợp cùng Liên Đội Quan Sát số 1 là tiền thân của Lực Lượng Đặc Biệt VNCH chính thức tiếp quản, và biến Bear Cat thành một căn cứ hành quân và huấn luyện.

Ông cho biết thêm: “Trong việc huấn luyện cho Biệt Kích Quân có chương trình CIDG (Civilian Irregular Defense Group – Dân Sự Chiến Đấu). Rồi từ đó, căn cứ này trở thành một trong những cái nôi đầu tiên huấn luyện các binh sĩ Biệt Kích thuộc CIDG. Những quân nhân được đào tạo tại căn cứ này, bao gồm các quân nhân Biệt Kích chính quy và các nhóm dân quân địa phương, nhiều nhất là những người dân tộc thiểu số. Khi được đào luyện xong, họ được đưa vào các vùng biên giới và vùng sâu, nhằm thám sát, chống du kích và ngăn chặn đường tiếp vận của Việt Cộng từ Bắc vào Nam.”

Song song đó, trại Bear Cat còn huấn luyện những toán Biệt Kích Nhảy Bắc. Trong giai đoạn 1961 – 1962, Bear Cat cũng là một trong những địa điểm tuyệt mật được CIA và Phòng E (sau này là Sở Bắc thuộc Nha Kỹ Thuật) chọn để tổ chức, huấn luyện thể lực, kỹ năng sinh tồn, định vị và huấn luyện nhảy dù cho các toán biệt kích, như toán Eros, toán Castor… Những toán này được đào luyện kỹ lưỡng trước khi thực hiện các chiến dịch xâm nhập, thả dù bí mật ra miền Bắc.

Diễn biến của căn cứ Bear Cat sau 1962

Từ một trại huấn luyện biệt kích có tầm mức quy mô của Bear Cat. Sau đó liên tục mở rộng theo dòng chảy của cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam. Trong thời gian 1965 – 1970, khi quân đội Hoa Kỳ đổ bộ ồ ạt, nơi đây biến thành một căn cứ tiền phương khổng lồ với diện tích khoảng 2km x 1km, và là nơi đóng quân của các đơn vị trực thăng, pháo binh, cùng lực lượng tình nguyện Hoàng Gia Thái Lan. Trước đó, địa điểm này là Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh Hoa Kỳ. Rồi sau đó, sư đoàn này dời xuống căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho.

Ngô Văn Quy (bìa trái) các cựu quân nhân và hậu duệ QLVNCH tại Little Saigon. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Sau năm 1972, quân đội Hoa Kỳ rút quân, thì căn cứ được bàn giao lại cho Quân Lực VNCH và được đổi tên thành Trại Quyết Thắng. Có thời gian sau đó, nơi đây trở thành bản doanh mới của Trường Bộ Binh Thủ Đức và Trường Thiết Giáp chuyển về từ Sài Gòn.

Lịch sử Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ

Năm 1962, tại chiến trường Việt Nam, đơn vị tiền thân đại diện cho Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ (5th Special Forces Group) là Bộ Chỉ Huy Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ tại Việt Nam (Headquarters, U.S. Army Special Forces, Vietnam – Provisional), với tính cánh lâm thời mà thôi.

Chi tiết về cơ cấu hoạt động của đơn vị này trong năm 1962, bao gồm: Những thành phần cốt lõi có Đại Tá George C. Morton cùng 72 quân nhân thuộc Liên Đoàn 5 đang đồn trú tại Fort Bragg, Hoa Kỳ đã sang Việt Nam để làm nòng cốt thành lập bộ chỉ huy của đơn vị này. Còn về cơ chế hoạt động cũng vào thời điểm này, toàn bộ quân số của Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ và các liên đoàn khác, như hai Liên Đoàn 1 và 7 sang Việt Nam chỉ theo dạng biệt phái tạm thời, với thời gian chỉ sáu tháng cho một công tác biệt phái. Họ được đặt dưới sự điều hành của Bộ Tư Lệnh Hỗ Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (Military  Assistant Viet Army – MACV).

Trong giai đoạn năm 1962, toàn bộ Liên Đoàn 5 chưa chuyển hẳn sang Việt Nam, mà họ chỉ cử một toán biệt phái, đó là bộ chỉ huy tạm thời (HQ. Detachment – Provisional) sang để quản lý và điều phối các toán tác chiến. [dt]

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/biet-kich-ngo-van-quy-xep-but-nghien-theo-viec-kiem-cung/

Những đoản văn rời

Lâm Chương

Post by Sơn râu 13 Jul 2026

Tôi là vô sản

Khi về đây, tôi dự định sẽ tìm một việc gì kiếm sống qua ngày. Nhưng mọi chuyện không dễ. Cái xã nghèo đến thê lương, thế mà lại mang tên Phú Thạnh. Nghèo đến nỗi con chó đói nằm dài mõm ngoài hiên cũng biếng sủa khi có người đi qua. Ðàn ông trai tráng không có việc, lêu bêu đầu thôn cuối xóm. Thì giờ thừa mứa, tụ năm tụ ba tán gẫu. Cuối cùng vét túi chung tiền mua vài xị rượu, nhâm nhi cho quên đời là bể khổ.

Tôi lận lưng một số tiền nhỏ làm kế sinh nhai. Số tiền sứt mẻ dần qua những cuộc rượu, việc làm chẳng thấy đâu. Bù lại, tôi có thêm nhiều người bạn mới.

Nhà Tám Nưa có giỗ. Trước mấy ngày, ông đã mời những người có mặt trên chiếu rượu. Tôi cũng được mời. Anh em bảo, Tám Nưa khỏi lo phần rượu. Mọi người sẽ đóng góp, bảo đảm uống mệt nghỉ. Về phần thức ăn, Tám Nưa cho vật con heo còi làm thịt, cắt cổ thêm vài con vịt đẹt. Xã nghèo, có người dám chơi thế là chơi ngon. Bữa giỗ xem ra rất linh đình. Khách được mời ăn giỗ cũng rất phấn khởi. Thời buổi khó khăn, người ta thường trông vào miếng ăn. Có rượu thịt là có ruồi nhặng vo ve. Tôi là một trong những con ruồi bay lượn trên những dĩa thức ăn.

Nhà chật, Tám Nưa che cái chái ngoài sân, đặt thêm bàn. Cánh đàn bà ngồi trong nhà. Cánh đàn ông ngồi ngoài sân. Mọi người hỉ hả ăn uống. Hai bàn ngoài cùng, dành đãi công an, và nhân viên chính quyền xã. Tám Nưa nói, đó là thủ tục không thể thiếu. Quy tụ đông người, phải có thần chứng giám mới yên. Tôi nghĩ, thời đốn mạt, người ta sống bằng mặt, không bằng lòng. Kẻ có quyền thì tập thói lưu manh, bóc lột. Người yếu thế thì học chước dối trá. Con người sống với nhau mà như chơi trò cút bắt. Ở đâu cũng có tiếng reo hò mừng rỡ, lẩn tiếng kêu la thảng thốt. Xã hội vừa là phường tuồng, vừa là địa ngục.

Ðang ăn, bí thư xã nói: “Nghe báo cáo có người lạ mới vào xã ta, tôi chưa biết mặt.”

Mọi người ngó vào tôi.

Tám Nưa kéo tôi qua bàn bí thư, giới thiệu: “Chú em đây tên là Lâm, đã trình diện bên phòng công an khi mới về xã.”

Bí thư nói: “Mời ngồi.”

Tôi nói: “Tôi đang ngồi bàn bên kia.”

“Thì ngồi xuống đây nói chuyện đã. Anh vẫn khỏe chứ?”

“Vâng, tôi vẫn khỏe.”

“Nhiều người cải tạo về gầy rộc đi. Anh thế là còn khá.”

“Vâng, tôi còn khá.”

“Anh đang làm gì?”

“Tôi chưa kiếm được việc.”

“Nghề nghiệp chuyên môn là gì?”

“Thợ đụng.”

“Thợ đụng là thợ gì?”

“Ðụng đâu làm đó. Việc gì cũng làm được.”

“Tốt!” Bí thư bưng cốc rượu cười khà khà dễ dãi.

Công an bàn kế bên, nói vói qua: “Ngụy các ông nhiều ma mãnh. Gớm bỏ mẹ. Sang không ra sang, hèn không ra hèn.”

Tôi nói: “Vô sản dứt khoát là hèn.”

“Anh nói gì thế?”

“Tôi nói tôi hèn.”

“Vô sản ám chỉ vào ai?”

“Vào tôi. Tôi trắng tay. Tôi là vô sản.”

“Lý luận quàng xiên hay nhỉ? Khi có đủ vây cánh thì làm con ngáo ộp. Bị chặt hết tay chân thì biến thành con lươn.”

Lời công an như một dằn mặt cảnh cáo. Tôi ngồi im.

Tám Nưa cứu nguy: “Thôi, chào hỏi thế đủ rồi. Vị trí của chú em ở đâu thì về đó.”

Tư bản bóc lột

Bữa giỗ nhà Tám Nưa cũng có cái hay cho tôi. Có người lầm tưởng tôi là kẻ sĩ. Mới đầu, người ấy nói kẻ sĩ thời nay lắm nhục nhằn hơn người xưa. Tôi quay nhìn người vừa nói câu đó, và uống cốc rượu làm quen. Người ấy nói tiếp, lấy cái thước vô hình mà đo cái nhẫn. Nhẫn càng giỏi, giá trị càng cao. Một người nhừa nhựa hơi men, hỏi sao thế? Người ấy nói, gặp sài lang hổ báo, chạy là thượng sách. Ðem cái lý của con người mà tranh biện với thú dữ, là rước họa vào thân. Thực khách ồn ào như giữa chợ. Những người ngồi nơi hai cái bàn ngoài cùng, không nghe những gì người ấy nói. Thế là trước khi ra về, tôi quen với người ấy.

Người ấy tên Trần Xuân Hạnh. Trước kia, ông làm thầy giáo. Sau cuộc đổi đời, ông xoay qua nghề đào giếng. Những đứa học trò dốt nát của ông thời cũ, nhiều thằng bỏ học vô bưng làm cách mạng. Bây giờ, chúng trở về, ngồi trên đầu thiên hạ mà chăn dân. Cũng may, chúng còn nhớ bài đức dục mà ông đã dạy, nên đối với ông, chúng còn chút e dè lễ độ. Chúng cho ông làm công tác dạy văn hóa bổ túc cho cán bộ, để có tiêu chuẩn gạo. Ðời sống ông, vì thế, cũng dễ thở hơn nhiều người khác.

Tôi phụ việc với ông Hạnh, năm ngày thì thạo việc. Quá nửa trưa, ông Hạnh bảo tôi xuống giếng thay ông. Ðáy giếng sâu tối u u. Tôi nghe tiếng rền trong lòng đất như tiếng gầm núi lửa. Ngó lên thấy một khoảng trời tròn lồng khuôn mặt ông Hạnh ngó xuống.

Tôi sợ hãi: “Cho tôi lên.”

“Chưa làm được gì, sao đòi lên?” Tiếng ông Hạnh như từ trời cao vọng xuống hang sâu.

“Tôi ngộp thở.”

Ông Hạnh nhằn: “Thế mà bảo việc gì cũng làm được.”

Tôi choàng dây buộc ngang nách, hai chân chỏi vào thành giếng theo thế bích hổ du tường. Ông Hạnh nắm đầu dây kéo lên. Khi lên mặt đất, mới biết trời vần vũ chuyển mưa, rền vang sấm sét.

Tôi nói: “Tim tôi yếu. Xuống sâu sợ gần địa ngục. Lên cao sợ đụng trời.”

Ông Hạnh hỏi: “Chỗ nào thích hợp với mày?”

“Lưng chừng ở cõi người.”

“Cõi người là địa ngục trần gian đấy.”

Nói xong, ông Hạnh chuẩn bị xuống giếng.

Tôi nói: “Thôi đi ông ơi, trời sắp mưa. Về nghỉ.”

Ông Hạnh nói: “Làm như mày, cám heo cũng không có mà ăn.”

Nói thế, nhưng ông Hạnh cũng thu dọn đồ nghề.

Trên đường về ngang qua những rẫy mía. Mía mới đặt hom, chưa kịp lên mầm. Ðất cày chưa ải mặt, cỏ đã lún phún ngoi lên. Ông Hạnh chỉ những cái giếng ông đã đào lúc trước.

Ông nói: “Vùng đất thấp, đào năm bảy thước là có nước. Vùng cao, phải đào đến mươi thước. Giếng sâu hun hút thấy mà ghê. Người chết dưới giếng, linh hồn không thoát lên được.”

Tôi nói: “Tôi nhạy cảm lắm. Xuống giếng cứ rờn rợn, sợ mình bị chết luôn ở dưới.”

“Nếu chết, tao mời thầy pháp trục vớt linh hồn mày lên.”

“Ông tin thế à?”

“Tao không tin, nhưng nhiều người tin. Cũng như người ta tin rằng kẻ chết trong tù, linh hồn không ra khỏi cổng. Vì thế, phải làm giấy phóng thích để giải thoát linh hồn. Tao còn nghe một chuyện động trời. Có người đi tham quan nước ngoài về kể, tư bản nó bóc lột đến cả người đã chết.”

“Chết rồi, còn bị bóc lột gì nữa?”

“Ấy vậy mà vẫn nói được. Người ấy bảo, tư bản Mỹ bóc lột khiếp hơn hết. Nó bắt linh hồn người chết đứng giữ cửa. Linh hồn thì vô hình nên không ai nhìn thấy, cứ thấy cánh cửa tự động mở khép khi có người ra vô.”

“Chuyện khôi hài. Ai ngu muội gì mà tin là chuyện thật.”

“Nói mãi, cũng có người tin. Như chuyện Tăng Sâm đời xưa ở bên Tàu đấy. Lần đầu có người đến nói với mẹ Tăng Sâm rằng, Tăng Sâm giết người. Bà không tin. Lần thứ hai, cũng có người nói Tăng Sâm giết người. Bà hồ nghi. Lần thứ ba, lại cũng có người nói, Tăng Sâm giết người. Bà sợ hãi, và bỏ chạy.”

Tôi chép miệng: “Khổ thật! không biết bao giờ mới thoát được cái họa tuyên truyền ngu dân.”

Ông Hạnh hỏi: “Mày nói cái gì?”

Tôi lắc đầu: “Không. Chẳng nói gì.”

Ông Hạnh nói: “Từ này về sau, mày ở trên kéo đất. Tao xuống giếng. Hồi mới gặp mày, tao tưởng mày là kẻ sĩ. Gần gũi nhau, thấy mày là thằng lừng khừng.”

Cải tạo xong rồi Ngày nào cũng phải ăn, nhưng đào giếng không phải lúc nào cũng có việc. Ðời sống đi dần vào thế bí.

Ông Hạnh dẫn tôi đến ban giám hiệu phụ trách chương trình lớp đêm, nơi ông dạy bổ túc văn hóa cho cán bộ. Ông giới thiệu tôi là thi sĩ, và xin dạy học để có tiêu chuẩn gạo.

Những khi rỗi việc, tôi hay nói chuyện thơ văn với ông Hạnh. Ông cho tôi là người có kiến thức văn chương. Nhưng, thật bất ngờ khi tôi được giới thiệu là thi sĩ. Tâng bốc lắm, chỉ tổ làm hư việc.

Người đàn ông ngồi sau chiếc bàn, môi thâm, mặt sắt, tóc hớt cua, trông không có vẻ gì là mô phạm. Ông Hạnh cho biết trước, đây là cán bộ chỉ đạo. Ông ta kéo trễ gọng kính, giương mắt nhìn tôi như quan sát một hiện tượng lạ.

“Thi sĩ à?”

Tôi nói: “Ông Hạnh nói quá lời. Tôi chỉ có chút chữ nghĩa đọc sách thánh hiền.”

Ông Hạnh nói: “Không nên khiêm tốn quá. Thành thật với nhau là hơn.”

Cán bộ nói chậm rãi rõ ràng, nhấn mạnh từng tiếng: “Cán bộ học bổ túc văn hóa, không cần học làm thơ. Chỉ cần biết bốn phép tính cộng trừ nhân chia, đọc thông công văn chỉ thị, và biết ký tên là đủ làm việc. Trong quá trình làm việc sẽ bật ra thơ. Anh đồng ý không nào?”

“Vâng, tôi đồng ý. Nhưng tôi không xin dạy làm thơ.”

“Chứ dạy về gì?”

“Về gì cũng được, ngoài chuyện dạy làm thơ.”

Cán bộ chìa bao thuốc mời ông Hạnh và tôi.

Trầm ngâm một lúc, ông nói: “Chúng tôi đang cần giáo viên, nhưng muốn nhận anh vào phải xét qua lý lịch. Anh về làm bản tự khai kèm theo hai người chứng, rồi mang tới đây. Chúng tôi sẽ họp ủy ban cứu xét. Một mình tôi không quyết định được.”

“Vâng, tôi sẽ viết bản tự khai.”

Tiêu chuẩn mười ba ký gạo hàng tháng, lấp ló ở một tương lai gần. Tình hình có vẻ lạc quan. Tôi mỉm cười ngó ông Hạnh, lòng đầy phấn khởi.

Cán bộ hỏi, sau khi phà một hơi thuốc: “Trước kia, anh làm gì nhỉ?”

Tôi nói: “Làm lính.”

“Bộ đội hả? Ðơn vị nào? Tôi cũng là bộ đội phục viên đây.”

“Tôi lính Việt Nam Cộng Hòa.”

Cán bộ chồm tới, sửng sốt: “Thế à? Sao không đi cải tạo?”

“Tôi cải tạo xong rồi.”

Cán bộ thất vọng, ngửa người ra lưng ghế: “Anh khỏi cần đến đây nạp bản tự khai. Chúng tôi không nhận đâu.”

Tôi cố vớt vát: “Tôi nghĩ cải tạo xong là tẩy não xong, có thể góp phần xây dựng xã hội mới.”

Cán bộ lắc đầu: “Cải tạo là hình thức trừng phạt thôi. Ðầu các anh đóng băng, tẩy não thế nào được!”

Quốc tặc

Thấy tôi cũng là thằng ăn tục nói phét, ông Hạnh không còn cho tôi là kẻ sĩ nữa. Ông nói tôi là người có tài, nhưng tài năng lớn quá, không có chỗ dùng. Ông nói với mọi người như thế. Nói tới nói lui mãi, tôi cũng tin mình có tài thật, dù lúc nhỏ thầy giáo xếp tôi vào loại học trò đần.

Một lần trên chiếu rượu, ông Hạnh thắc mắc: “Chưa bao giờ xã hội ta có nhiều người uống rượu như bây giờ. Không biết tại sao?” Anh em ngó vào người có tài năng lớn không có chỗ dùng.

Tôi lên gân giải thích: “Xã hội rối rắm lung tung xèng. Tương lai mờ mịt. Con người hoang mang mất hướng đi tới, nên lấy rượu trấn an tinh thần. Các ông ngày ngày cuốc đất, ngó tới ngó lui cũng không ra khỏi mấy cái bờ ruộng. Ðời như thế thì bao giờ ngóc đầu lên được? Ðó là nói người có ruộng. Người không ruộng, đất đâu mà cuốc? Như ông Hạnh với tôi chuyên nghề đào giếng, năm thì mười họa mới có việc. Xuống đáy giếng mà tìm tương lai, có ngày cũng gặp Hà Bá. Mặt đất đã đầy những giếng sâu hố thẳm, đi loạng quạng dễ bị sa chân xuống âm phủ. Chi bằng cứ ẩn nhẫn chờ thời. Thời cơ chưa tới, lấy rượu giải khuây.”

Một ngươi nói: “Tôi chịu lối giải thích này. Nhưng, bao giờ thời cơ tới?”

Tôi lại lên gân: “Khương Thương ngồi câu sông Vị, là chờ thời. Hàn Tín lòn trôn giữa chợ, cũng là chờ thời. Còn chúng ta ư? Có khi phải chờ hết đời. Con cháu lại tiếp tục chờ nữa. Lịch sử biến thiên lúc nhanh lúc chậm. Nhanh thì năm trước năm sau đã thấy khác. Chậm thì đời này qua đời kia vẫn còn khốn khổ.”

”Thời này cũng có nhiều người phất cờ giàu to đấy chứ?”

“Vâng. Phất cờ giàu to thời này là tư bản đỏ. Nhưng cách dùng từ sai. Tư bản là bỏ vốn kinh doanh, để từ đó sinh ra lợi nhuận. Mấy ông kẹ nhà mình có kinh doanh gì đâu? Họ ăn tiền đút lót hối lộ, và dùng quyền lực chiếm đoạt tài sản thiên hạ thì không thể gọi là tư bản, dù xanh hay đỏ.”

“Như thế phải gọi là gì cho đúng nghĩa?”

“Gọi nôm na là ăn cướp. Cướp giựt lẻ tẻ đầu đường xó chợ, là cướp vặt. Cướp có hệ thống đường lối chính sách, là quốc tặc. Người dân biết mình bị cướp, mà không cưỡng vào đâu được. Thế mới kinh!”

Cuộc rượu đêm đó, xoay quanh đề tài quốc tặc. Tôi hừng chí nói năng tự do, mất sự đề cao cảnh giác. Tàn cuộc, tôi say bí tỉ.

Ðèn nhà ai nấy rạng

Cưới vợ ba năm. Vợ chồng không rõ lòng nhau. Tôi đến tuổi cần có vợ, vợ cũng đến tuổi cần có chồng. Thế là lấy nhau. Chẳng tình yêu quái gì.

Tôi là lính hành quân. Ba năm, những lần về phép đếm trên đầu ngón tay. Gặp nhau là quấn lấy nhau. Vội vã vài ngày, để rồi còn chia tay. Thì giờ đâu mà để ý những điều vớ vẩn?

Năm đầu, vợ gọi tôi bằng anh, xưng em. Tôi gọi vợ bằng em, xưng anh. Qua năm sau, vợ gọi tôi bằng anh, xưng tôi. Tôi gọi vợ bằng em, xưng tôi. Năm sau nữa, vợ gọi tôi bằng ông, xưng tôi. Tôi gọi vợ bằng bà, xưng tôi. Theo thời gian, cách gọi vợ chồng cứ thay đổi dần như thế. Và giữ nguyên hai tiếng xưng hô ”ông bà” cho đến bây giờ.

Ba năm. Một hôm, tình cờ vợ khám phá ra tôi làm thơ.

Vợ nói: “Có tờ báo đăng bài thơ của thằng cha nào trùng tên với ông.”

Vợ mở trang báo, chỉ vào bài Tình Cho Em. Lời thơ sướt mướt nhớ thương. Ðó là bài thơ tôi làm cho một con nhỏ người yêu, nhưng không chịu lấy tôi làm chồng.

Tôi nói: “Bài thơ này của tôi làm cho bà, nói lên nỗi nhớ thương trong những ngày đi xa.”

Mới đầu, vợ sung sướng ra mặt. Nhưng sau đó, vợ phá ra cười.

“Mạo nhận. Tôi không tin!”

“Không tin hả?” Tôi không nhìn trang báo, đọc thuộc lòng vanh vách bài thơ, “Bà tin tôi là tác giả chưa?”

Vợ ngẩn ra một lúc: “Người lỗ mãng như ông cũng làm được thơ. Lạ thật!”

“Có gì lạ đâu đâu. Tài làm thơ của tôi giống như chiếc mũi nhọn giấu trong túi áo. Lâu ngày, nó ló ra cho bà thấy.”

“Chẳng bao giờ nghe ông nói tiếng yêu tôi. Vậy mà làm thơ thì nước mắt chứa chan tình cảm. Thơ là giả dối!”

Vợ không hãnh diện về người chồng biết làm thơ, dù đã có lúc gần đạt được danh hiệu thi sĩ.

Cuộc thế bể dâu. Ðời tôi cũng bầm giập đau thương khốn nạn. Mũi nhọn thụt vào trong túi áo. Thơ tịt ngòi.

Ra hải ngoại, muốn học hành cho đỡ nhọc tấm thân, nhưng cái đầu không chịu. Nhồi nhét thứ gì vô, vài ngày sau nó đẩy ra khỏi trí nhớ. Thế là đi làm cu li. Cực tay chân, khỏe đầu óc.

Việc làm bấp bênh. Nay có, mai không. Thất nghiệp ở nhà. Còng lưng viết chuyện cà kê dê ngỗng, viết chuyện đời mình. Vợ đi chợ, đem về tờ báo quảng cáo địa phương, có đăng bài văn của tôi.

Vợ nói: “Ông bỏ làm thơ, tôi đã mừng. Bây giờ, lại thấy hí hoáy cả ngày. Không ngờ ông viết văn. Làm thơ, chắp tay sau đít, đi qua đi lại. Còn đỡ. Viết văn, bò càng ra mà viết. Khổ ôi là khổ.”

Tôi nói: “Trong cái khổ, có cái sướng.”

“Thất nghiệp. Ðói tới nơi, không biết lo. Ở đó mà viết chuyện bá láp. Kiếp nào mới được thành danh?”

“Từ từ, sẽ có tiếng vang.”

“Người ta viết chuyện ma quỷ. Rùng rợn, hấp dẫn. Viết về hoàn cảnh xã hội éo le gay cấn, tâm lý tình cảm lâm ly bi đát. Ðọc mê luôn. Sách in ra, bán chạy ào ào. Lại còn thu băng đọc truyện, tiền vô như nước. Truyện của ông, tôi vừa đọc vừa ngáp. Cố gắng lắm, cũng chỉ theo dõi được vài trang thì ngủ. Bữa trước, nghe ông nói điện thoại với người bạn nào đó, rằng ông đang gom tiền in sách. Ðừng làm chuyện phá sản nghen. Sách ông bán cho ma!”

Tôi rên: “Bà ơi, tôi bất hạnh đớn đau nhiều rồi. Hãy để tôi làm theo ý thích.”

Vợ nói: “Ý thích trong trách nhiệm gia đình. Tự do trong khuôn khổ luật pháp.”

Tôi giơ hai tay lên trời: “Than ôi! Trên mặt đất, ai người tri kỷ?”

Ðoản văn này, dành trả lời câu hỏi của một bạn đọc: “Theo kinh nghiệm bản thân anh, đời có tí văn nghệ văn gừng làm cho gia đình dễ lục đục, hay hưng phấn hơn?”

Lâm Chương

Về nhà trước Giáng Sinh

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 13 Jul 2026

Mấy năm trước mỗi khi trở lại bán đảo Scandinavia vào tháng mười hai dương lịch, nhứt là vào những ngày tuyết trắng ngập đường, tôi hay khoác áo dầy và choàng khăn cho ấm người rồi lên bờ đạp tuyết đi chơi. Sự trong lành của thiên nhiên và cảnh vật thật tuyệt vời, trước cửa mỗi nhà và trên những tàn cây trong phố đều có treo đèn, tôi rất thích những bóng đèn li ti màu trắng kết thành những hình con nai kéo xe, con thỏ ngồi và ngôi sao treo trên những cành cây, tuy không màu mè nhưng rất linh động giữa khí trời lạnh giá. Cảnh thanh bình của bán đảo làm cho tôi cảm thấy yên tâm và những bóng đèn đường phát ra thứ sáng đùng đục trên lớp tuyết trắng tươi làm lòng tôi thêm phần ấm áp.

Cả tháng qua tuần nào tàu cũng ghé Copenhagen, Stockholm, Oslo, Kristiansand, những thành phố rất thích hợp cho thủy thủ đổ bộ đi lang thang, nhưng thủy thủ chúng tôi đã bị Covid 19 cột chưn trên tàu. Tôi đang đứng ngoài boong nhìn lên bến cảng trong khung cảnh ướt và lạnh nhưng rực rỡ sắc màu mà nghe trong dạ bồn chồn. Chợt thuyền phó tới bên nói với tôi:

– Thuyền trưởng gọi ông.

– Chi vậy?

– Tui cũng hổng biết.Tôi phải leo cầu thang lên tầng thứ năm của mui tàu mới tới phòng lái. Thuyền trưởng đang đứng uống cà phê với hoa tiêu, thấy tôi lên ông chào và hỏi tôi uống cà phê không. Tôi không muốn mất thời gian cho cà phê nên nói lời cảm ơn và hỏi:

– Thuyền trưởng gọi tôi có chuyện gì?

Ông đưa tôi một tờ giấy có mấy hàng chữ in ra từ email của công ty gởi cho tôi, ông nói:

– Tàu tới Antwerep Bếp được về nhà.

Tôi mừng thầm trong bụng, hổng cần đọc email và hô:

– Oh, Tốt tốt…

Tiếp theo ông đưa mấy tờ đơn đặt thực phẩm cho tôi và nói:

– Ông đặt thực phẩm xong, sáng ngày mai đưa giấy tờ lại cho tôi, để tôi gởi về công ty cho kịp, nhưng ông đừng quên đặt đồ dùng cho tiệc Giáng sinh nữa nhé.

Tôi cuộn tròn mấy tờ đơn lại cho vừa cầm trong tay, đưa cuộn đơn lên gặt nhè nhẹ và nói:

– Được, tối nay tui sẽ đặt hàng, ngày mai tui sẽ đưa lại cho ông.

Tôi định day lưng, chợt thấy người hoa tiêu đứng bên, biết tàu sắp khởi hành, tôi hỏi thuyền trưởng:

– Mấy giờ tàu khởi hành?

Ông nói:

– Khoảng một tiếng nữa.

– Cảm ơn.

Tôi chào thuyền trưởng và hoa tiêu rồi day lưng đi ra ngoài. Trên tầng cao nhất của mui tàu, nhìn được cảnh mờ mờ của đồi núi, rừng thông và đèn thành phố, những ngày này cảnh đẹp trên bờ luôn thu hút tôi. Phụ tá thuyền phó và một thực tập sinh thấy tôi chú tâm ngắm cảnh, hai đứa đi tới gợi chuyện hỏi han này nọ và hỏi tôi Giáng sinh có làm món Vietnames loenpia’s, (chả giò Việt Nam) không? Tôi tôi nói:

– Nếu tao còn ở lại thì tao sẽ làm Vietnames loenpia’s cho tụi mày ăn.

Phụ thuyền phó ngạc nhiên hỏi:

– Oh, bộ Giáng sinh Bếp về hả?

– Khi nào đầu bếp mới xuống thay thì tao sẽ về.

Hai đứa đứng chấp hai tay lâm râm cầu nguyện Chúa cho tôi ở lại. Tôi cười nói:

– Tụi mày cầu nguyện Covid 19 làm cho máy bay ngưng bay và đầu bếp mới bị mắc kẹt ở nhà thì tao sẽ ở lại.

Nói là nói vậy thôi chớ lỡ mai mốt mà nghe tin người xuống thay bị sao đó hổng xuống tàu được, ngày thường cũng buồn lắm, huống hồ chi những ngày này. Lòng tôi nôn nao và cầu mong sao người đầu bếp xuống thay trên đường bay suôn sẻ để trước ngày Giáng Sinh tôi còn kịp về nhà với vợ con. Thực đơn tiệc Giáng sinh trên tàu của tôi mấy chục năm qua không thay đổi, ngoài con gà tây cho bữa ăn chính, còn những món khai vị truyền thống của Hoà Lan như Frikandel cắt khúc, bitterbal, phó mát, cá hồi hun khói, ba tê pha gan và còn có thêm món chả giò và món tôm chiên bột giòn theo phong cách Việt Nam. Tội nghiệp hai đứa nhỏ háo hức chờ đợi tới Giáng sinh để được ăn chả giò Việt Nam, nhưng khi nghe tôi nói sau chuyến này tôi về hai đứa tỏ vẻ thất vọng rồi bỏ đi.

Tàu ghé Antwerpen hồi giữa khuya. Mới sáng sớm, mọi người ăn sáng chưa xong thì người giao hàng xuống đưa danh sách thực phẩm cho tôi kiểm lại. Thời gian sau này, càng ngày chất lượng thực phẩm càng kém, cho nên chuyện kiểm hàng là công việc mà tôi ghét nhứt, nhưng cũng phải làm cho xong việc vậy thôi. Đầu tuần lễ tháng mười hai, trên tàu ngoài nhận thực phẩm hàng tháng còn có thêm kem loại đặc biệt, bánh kem, bánh mì nho và hạnh nhân, rượu nho, champagne, gà tây và vài món ngon khác cho tiệc Giáng Sinh. Thuyền phó thấy kem ngon quá nó đòi đem ra ăn liền. Tôi nói:

– Hông được.

Nó hỏi:

– Tại sao?

Tôi nhún vai nói:

– Hông được là hông được! Chấm hết!

Nghe tôi nói vậy nó bỏ đi. Gần tới bữa ăn nó trở lại nói với tôi:

– Thuyền thưởng kêu lấy loại kem đặc biệt ra ăn.

Cái thằng, đã làm tới chức thuyền phó rồi mà còn như con nít, nó muốn mượn danh thuyền trưởng hù tôi à?! Tôi có hơi bực mình nên sẵng giọng:

– Thuyền trưởng có muốn thì cứ tự nhiên xuống kho lấy ăn, ăn hết cũng hổng sao, nhưng tao thì hổng đưa.

Sau bữa ăn trưa tôi đưa kem thường cho mọi người ăn tráng miệng. Thuyền trưởng vừa bưng chén kem vừa cười cười và hỏi tôi:

– Tại sao ông không cho ăn loại kem đặc biệt?

Chỉ có chút kem mà từ sớm tới giờ cứ lặp đi lặp lại. Bực mình tôi hất mặt hỏi lại:

– Ông muốn ăn hả?

Có lẽ ông cũng nhận ra sự bực bội của tôi. Ông hỏi:

– Không, tui muốn nghe ông nói tại sao?

Tôi ngờ ngợ ông có ý gì đó, chớ thường thì những chuyện ăn uống trên tàu có gì không vừa ý thì thuyền trưởng nói riêng với đầu bếp, chớ đâu nói giữa đám đông, hổng chừng vì nạn Covid 19 làm con người ta dễ nổi quạu? Tôi nói luôn:

– Ông và thuyền phó sẽ về nhà trước Giáng Sinh, trên bờ thích cái gì các ông mua ăn cái đó. Anh em ở lại, trên tàu chỉ có những thứ rẻ tiền, kém chất lượng, chỉ có kem và bánh kem hơi đặc biệt một chút, hơn nữa giữa mùa dịch Covid 19 bến cảng nào cũng bị phong toả, lên bờ hổng được, lỡ có thiếu thì đi đâu mua, ông kêu tui đem ra ăn hết rồi tới Giáng sinh anh em trên tàu lấy gì mà ăn?Nghe tôi nói ông cười ha ha, đưa ngón tay cái ra gặt gặt và nói:

– Tốt, Bếp là người rất tốt, thuyền phó nói chơi để thử coi ông phản ứng ra sao thôi.

Lúc đó cả bàn cười rộ lên. Tôi thì cười hông nổi,  nếu mà tôi tháo mấy bọc kem đặc biệt ra cắt chia cho mọi người thì tất cả cũng đớp sạch, chớ ở đó mà nói chơi với nói thử. Nhưng tôi thấy chuyện đã yên rồi nên không tranh cãi thêm nữa làm gì.

Mùa lạnh là thời gian cho sự thoải mái, không khí trên tàu luôn ấm áp thâm tình, mỗi buổi chiều sau giờ làm việc, thủy thủ tụ nhau trong phòng uống bia trò chuyện. Nhứt là gần tới Giáng sinh những hội truyền giáo thường xuống tàu tặng kinh thánh, bánh, kẹo, chocolade rất nhiều, nhờ vậy mà trong phòng ăn kẹo, bánh lúc nào cũng đầy ắp, ăn hổng hết để đến mốc meo rồi đem liệng bỏ. Năm nay vì bị Covid 19 nhân chứng Chúa trời không xuống để rao giảng tin lành, tặng quà nữa. Giữa tháng Chạp rồi mà trên tàu vẫn chưa dựng cây Giáng sinh và trang hoàng phòng ốc, không khí trên tàu trông buồn bã và lạnh lẽo làm sao.

Có lúc tôi tự hỏi, cái ý nghĩa bữa tiệc của ngày Giáng sinh trên tàu với một vị thuyền thưởng hiền lành, đạo đức ngồi đọc vài câu trong kinh thánh xong rồi nổ rựu Champagne, rót rượu ra ly cho mọi người và nâng ly chúc mừng. Trong lúc vừa uống rượu vừa nghe thánh ca và bốc thăm chia cho nhau những gói quà Giáng sinh rất dễ thương. Thời gian mà đồng nghiệp của tôi, luôn cả những thủy thủ đạo Hồi người In Đô, còn biết lắng nghe và cảm kích tiếng chuông nhà thờ phát ra từ băng thu âm trong máy cassette giữa đêm đông lạnh lẽo. Mọi người vừa ăn uống vừa trò chuyện và nhắc nhở rằng Chúa đã ban cho chúng ta mặt trời, mặt trăng, các vì sao và trái đất với rừng núi và đại dương. Ngài cũng đã ban cho chúng ta cây lá xanh tươi, đơm hoa kết trái và những loài biết thở trên trái đất, kể cả chiến tranh, thù hận, tội lỗi con người đã gây ra. Nhưng Chúa sẽ cứu vớt con người thoát ra khỏi sự ngu ngốc và mọi tội lỗi đó. Ngài đã xuống thế gian và ban cho chúng ta chính thân thể của Ngài… Không khí ấm áp đó đã qua lâu lắm rồi. Đã nhiều năm trôi qua tất cả bạn đồng nghiệp của tôi, người về hưu, người thì chết còn tôi thì cũng sắp về vườn.Ngày nay, giữa thời đại cách mạng 4.0, trên internet con của Chúa trời cũng đưa lên nhiều âm điệu phúc âm, nhiều bài hát mừng chúa và cũng có tiếng chuông ngân. Nhưng đám trẻ ngày nay, tất cả đều im lặng hững hờ. Tiệc Giáng Sinh chỉ biết có khen chê món ăn, ngon ăn dở, so sánh từng món quà và ngồi bấm điện thoại, hổng nghe ai nhắc tới cái âm thanh ấm áp, ngọt ngào của tiếng chuông tâm linh đó nữa. Tuy tôi là một Phật tử đã già, mặc dù trời lạnh và dịch bệnh đang hoành hành, nhưng tiếng chuông vẫn ngân vang và bài hát Jingle Bells vẫn vang lên rộn rã trong tôi như nhắc cho tôi nhớ hai ngàn không trăm hai mươi năm trước có một Thánh Nhân ra đời. 

Mấy năm rồi Giáng Sinh tôi ở trên tàu, hai đứa con gái cứ than phiền hỏi sao ba hổng về Giáng sinh cho gia đình đoàn tựu. Nhưng năm nay bị Covid 19, hai đứa con gái ở ngoài, nên sợ rủi ro lây dịch cho má nó nên hai tháng qua không đứa nào về thăm. Còn tui năm nay được về ăn Giáng sinh với gia đình và trong lòng nao nao muốn dìa cho lẹ lẹ nhưng sao trong dạ thấy buồn buồn…

Mùa Giáng Sinh 2020

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 13 Jul 2026

Tôi không phải sinh ra trong một gia đình quyền quí gì, cha tôi chỉ là một nhà giáo ở tỉnh lẻ, nhưng nếp sống gia đình cũng theo thói thủ cựu kéo dài cho tới khi tôi khôn lớn. Hồi ấy tôi mới lên sáu đang học lớp Đồng Ấu trường tiểu học thị xã và cho tới giờ này tôi không bao giờ quên được những bữa cơm gia đình, nó là lúc tập họp mọi người lại, đó cũng là lúc vui và cả lúc buồn phiền vì những sinh hoạt vui buồn của gia đình luôn luôn đi vào bữa cơm, không kiêng dè gì tới tuổi ấu thơ, non trẻ của tôi. Gia đình có ba bữa ăn luôn luôn đông đủ mọi người trong gia đình. Ban sáng, có lẽ từ lúc trời rạng đông mẹ tôi đã dậy nấu một nồi cháo đậu xanh hay cháo gạo đỏ, múc ra từng chén (bát) nhỏ và bày lên tấm “phản gõ” (còn gọi là tấm phản ngựa làm bằng thứ gỗ tốt), nơi mỗi bữa ăn gia đình tôi vẫn quây quần ở đó.

Lúc tôi thức giấc, làm vệ sinh xong chuẩn bị đến trường cũng là lúc cha tôi đã ngồi vào chỗ ăn sáng. Chiếc mâm đồng có chạm trổ rồng phụng, đã cũ, hơi vênh mặt, đã bày quanh những bát cháo xếp tròn, ở giữa mâm là một chiếc dĩa lớn đựng những tảng đường đen đã được mẹ tôi chặt đều ra từ một bánh đường “đọi”(bánh đường có hình thể của một chiếc bát), hoặc có ngày sang thì chiếc dĩa đựng một ít đường cát vàng … Chung quanh mâm cháo đã có các anh chị tôi, trong khi mẹ tôi có lẽ còn loay hoay gì đó trong nhà bếp.

Trong bữa sáng, tương đối ai cũng ăn vội vã và ít chuyện trò vì mỗi người đều phải có công việc riêng phải rời nhà. Trong khi lúc ăn, chúng tôi đều phải từ tốn, không khua đũa bát hay nói chuyện ồn ào. Cháo hay cơm thì người ăn phải vét cho sạch chén, không để lại một hạt cơm dính trong chén hay một vệt cháo còn lại cho khỏi phí của trời và mang tội. Ăn xong, chúng tôi không phải bưng chén không xuống bếp, nhưng phải để cái chén dùng xong ngay ngắn trước chỗ mình ngồi và nhất là phải gác ngang đôi đũa lên miệng chén để cho mọi người biết là mình đã ăn xong, xin phép và đứng dậy. Trái lại, bữa cơm trưa và bữa cơm tối là hai bữa cơm gia đình sau khi mọi người đã trở về nhà. Thời Pháp thuộc, chợ chỉ đông một buổi, công chức, học sinh hay thợ thuyền, cũng đều chia công việc hằng ngày ra làm hai buổi, trưa trở về nhà ăn uống, ngủ trưa, mãi đến ba giờ chiều mới làm việc lại. Những bữa cơm này, chúng tôi phải đợi khi cha tôi về, đợi cho ông thay quần áo, rửa tay chân, mặt mày, ngồi vào mâm cơm, khi ông cầm đũa lên, anh em chúng tôi mới bắt đầu ăn. Vì vậy có lúc 11 giờ trưa tôi đã về tới nhà, bụng đói nhưng không bao giờ được mẹ tôi cho ăn trước, có ưu ái chăng là một cục kẹo, trái bắp hay một bó đậu nành luộc mà mẹ tôi đã mua từ buổi chợ về để làm quà cho tôi. Có khi đói và buồn ngủ tôi đã ngáy khò trên chiếc phản ngựa cho đến khi mẹ tôi gọi dậy để cho bà dọn bữa cơm trưa. Buổi tối, thường là gia đình tôi ăn cơm khi trong nhà đã lên đèn. Nếu cha tôi có tạt vào nhà một ông bạn nào đó có chút việc thì anh em chúng tôi cũng phải ráng lòng chờ, đó cũng là lòng kính trọng, là một nguyên tắc bất thành văn, chưa lúc nào gia đình tôi được ăn cơm trước, trừ trường hợp có công chuyện, cha tôi phải về nhà quá trễ và có dặn trước với mẹ tôi. Bữa cơm gia đình luôn luôn là một buổi hội họp, trò chuyện, trao đổi ý kiến. Có lúc cha tôi nói về những ông bạn cùng sở, anh tôi nói về những người bạn và tôi với những chuyện ngô nghê của tuổi nhỏ, nhưng ít khi ai lắng tai nghe kỹ và lâu một chút về những điều tôi nói. Bữa ăn cũng là lúc loan báo các thông tin qua các bức thư cha tôi nhận được ở sở, từ quê nhà, từ thân thuộc nên cũng có khi bữa ăn trĩu nặng như bầu trời trước cơn mưa giông. Tuy vậy, tôi không bao giờ oán trách những bữa cơm gia đình đã dọn quá trễ với cái bao tử mau tiêu hóa của tôi, hay cả những lời nói không mấy vui trong bữa ăn, mà ngày ấy cha tôi đã không có đủ kiên nhẫn để chờ cho xong bữa cơm. Những ngày lớn lên đi xa, điều làm tôi nhớ nhà nhất, là nhớ những khuôn mặt quen thuộc của gia đình trong bữa cơm sum họp ấy.

Những ngày lớn lên, lấy vợ sinh con, gia đình nhỏ bé của tôi cũng có những bữa cơm đoàn tụ vui cười, đó là những lúc mọi người đã gác bỏ công việc và những suy nghĩ riêng để có thể ngồi lại với nhau. Tôi đâu có biết, một ngày nọ, những bữa cơm gia đình này sẽ không còn tồn tại trong nếp sống của mình nữa. Khi vào tù, lãnh vội một phần ăn đạm bạc với miếng bánh bột mì luộc hay hai củ khoai và tí nước muối đựng trong cái chén nhôm cũ tồi tàn, kiếm một góc sân nào đó hay ngay trên sàn tre chỗ nằm của mình, nuốt cho qua bữa, tôi mới thấy xót xa nhớ tới những bữa cơm gia đình. Phải chăng những gì mất đi chúng ta mới thấy quí giá, thương tiếc. Ngày tôi trở lại nhà sau những năm tháng tù đày giữa một thành phố đổi họ thay tên, điều tôi nhận xét đầu tiên khi về đến nhà là bữa cơm gia đình từ nay đã mất dạng. Tới bữa cơm, một đứa con tôi xúc một chén, với miếng khô tìm một góc nhà lặng lẽ ngồi ăn, đứa ăn trước, đứa ăn sau, chúng ăn đủ phần, có nhường nhịn theo thói quen sau khi cha chúng vào tù, cửa nhà sa sút, nhưng tuyệt nhiên không có ngồi lại với nhau, vui đùa như ngày trước. Đứa con trai đi làm chỗ sản xuất đồ nhôm có cơm ngày hai bữa, nhường phần ăn lại em gái, đứa nhỏ đi học về, đứa lớn sau giờ học còn đi lượm than vụn ngoài bến xe, nhặt bã mía về phơi khô thổi cơm. Không còn có bữa cơm gia đình, không có giờ ăn cơm chung.

Cái mái ấm ngày xưa ấy đã bị phá nát rồi, sẽ chẳng bao giờ có lại được bữa cơm, nói cười rộn rã dưới ánh đèn ấm cúng nữa. Bữa cơm gia đình bây giờ hóa ra một cái gì biểu tượng cho một lề thói rất “tiểu tư sản”, nó không cần thiết phải tồn tại. Trong cái xã hội chạy không ra miếng ăn, có cái gì để ngồi lại trên mâm cơm với nhau. Ở trong xã hội Mỹ, thức ăn thừa mứa, vật chất quá đầy đủ nhưng trái lại thời giờ quá hạn chế, căng thẳng. Những ngày mới chân ướt chân ráo đến đây, buổi sáng lúc tôi thức giấc thì con gái đã ra khỏi nhà. Buổi tối lúc ngủ đã một giấc thì đứa con trai mới mở cánh cửa ra vào lích kích trở về. Buổi ăn trưa thường là những bữa ăn đơn giản, một miếng bánh kẹp thịt, một chén cơm đựng trong cái hộp nhựa hay một tô mì ăn liền.

Vợ chồng, giờ giấc đôi khi khác nhau. Thông tin thường để lại qua một miếng giấy găm trên tủ lạnh trong nhà bếp hay những lời dặn viết nguệch ngoạc trên cái bảng con. Họa hon lắm mới có một bữa cơm vợ chồng con cái ngồi lại đông đủ với nhau trong các dịp sinh nhật hay lễ tết. Vì vậy bây giờ tôi mới thấy ở trên đất Mỹ, một bữa cơm sum họp vào chiều Lễ Tạ Ơn, hay ngày Hiền Mẫu, Nghiêm Phụ là điều cần thiết biết bao nhiêu. Có khi ta thấy nó phiền toái, nhất là đối với lũ trẻ thích bạn bè, quen với các loại hàng quán “fast food”, gò bó chúng lại trong một bữa cơm chiều có đông đủ anh em, bố mẹ có lẽ cũng là điều hơi khó khăn cho một vài gia đình.

Đôi lúc, trong một giấc mơ nào đó, tôi thấy mình ngồi lại trong một bữa cơm chiều với tất cả người đã quá vãng trong gia đình, đây là ông bà nội, đây là bố mẹ tôi … Có cả con mèo mướp đang gừ gừ, cọ thân mình vào đùi tôi, đang xếp bằng tròn trên tấm phản ngựa. Hình ảnh đó thật là đã xa lắm rồi, không bao giờ tôi có lại được, đó chỉ là một chút rong rêu trong cái ao tiềm thức của thời thơ ấu, lúc trở trời trồi lên trên mặt nước, hiện vào những giấc mơ.

Ngày 30 tháng Tư năm 1975 qua ký ức của Hoàng Kao

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 12 Jul 2026

Xin một phút cúi đầu mặc niệm

Cho những người đi chẳng trở về

Một sớm nào sờ lên tóc bạc

Thấy cuộc đời như giấc chiêm bao

Năm mươi năm sống đời đủ lạnh

Dấu trong lòng trầm tích buồn đau

Tôi hồi đó tuổi còn ăn học

Đời quân nhân đâu tới phiên mình

Rồi một ngày bỗng nhiên cơn lốc

Cuốn phăng đời qua nẽo điêu linh

Trời tháng tư trời xanh ngập nắng

Phố ngập người ngập nỗi hoang mang

Người tản cư cùng bao người lính

Họ về đâu? Đời họ sẽ về đâu?

Và ở nơi phố thành tôi sống

Yên bình xưa thôi đã không còn

Tiếng phi cơ gầm trong tuyệt vọng

Từng cánh bay, bay mãi không về

Trường tôi học thành nơi tạm trú

Từng đoàn dân lũ lượt kéo về

Trong mắt người nỗi buồn u uất

Trước sân trường ngập xác phượng rơi

Tháng tư ấy trong làng xóm nhỏ

Từng bạn bè lần lượt ra đi

Không còn ai cùng tôi đi học

Và lớp trường vắng tiếng thầy cô

Tháng tư ấy có vành tang trắng

Trong xóm tôi người lính không về

Người mẹ già chiều chiều lặng lẽ

Trước cổng nhà lau mắt chờ con

Tôi thấy có một người góa phụ

Ru con thơ trong mỗi đêm về

Lời ru buồn tan vào bóng tối

Dưới bầu trời mắt hỏa châu soi

Năm mốt năm đã là dĩ vãng

Sao vết thương da thịt chưa liền

Ba mươi năm cha về thiên cổ

Tôi vẫn chờ hoài cánh chim bay

Bắt nóng xứ lạnh

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 31/01/2019 

Post by Sơn râu 12 Jul 2026

Theo lời bày vẽ, từ quận nhất tìm về Phú Nhuận cứ đâm xe ra Cách mạng tháng 8, quẹo Nguyễn Thị Minh Khai gặp Pasteur, chui vô hẻm sát bên tiệm phở Ngân xong gặp Huỳnh Tịnh Của, quẹo phải đụng Lý Chính Thắng… chỗ ông Paul Khamvanongsa thuê nằm gần cầu Kiệu. Mô tả thêm: Tầng lầu hai, ba cánh cửa gỗ đều sơn xanh, ngoài ban-công có giàn hoa leo, đôi lúc treo ở đó cái lồng chim, thỉnh thoảng giọng nó hót gửi được tiếng vui tai xuống dưới con hẻm chật.

Paul Khamvanongsa là người Lào, thông thạo tiếng Pháp và giỏi đàm thoại tiếng Việt. Ông thuê nhà ở đó đã được ba tháng. Tôi tìm đến ông là để dọ hỏi về tin tức má. Má tôi sang Lào đã gần năm, chẳng biết bà kiếm ra công ăn việc làm như thế nào. Lòng tôi nóng, đêm ngủ đón gặp những hình ảnh xấu xa. Má sợ chuyện gì mà chẳng hề viết về cho tôi một lá thư? Câm lặng mãi là chuyện không nên, do vậy bà tìm tới một nhịp cầu dọ dẫm bắn tiếng.

Paul là đầu cầu giúp thông thương, là con chim bay được qua biên giới để chuyển hộ tin tức cho má con tôi vơi bớt bao ngờ vực thấp thỏm hoang mang. Trái ngược với hình ảnh trong ca dao là má chưa gả chồng cho tôi thì bả đã đi xa, chim kêu vượn hú còn biết tới nhà con không?

Paul cao hơn tôi cả cái đầu, da rám nắng, rắn chắc. Ông với lấy chiếc áo thun tròng vào thân sau khi mở hé cánh cửa. Áo in hình con voi xám mốc hoen ố trước ngực. Tôi đoán chừng Paul lớn hơn tôi cả chục tuổi. Ông luôn gọi má tôi bằng chị. Ông nhận xét, mới đầu nhìn qua, biết ngay em là con của chị ấy, hai người giống nhau quá.

Hình như người Lào thích ăn xôi? Tôi đã ghé chợ Tân Định mua hai dĩa xôi, một nấu cùng lạp xưởng với nấm mèo, một còn lại là xôi ba màu nấu với nước dừa. Tôi mang đặt giữa bàn, hỏi: Ông đã ăn gì chưa? Paul nói chưa, tôi có ý đợi Lan tới để cả hai cùng đi ăn hủ tiếu. Tôi nhớ là má của em vẫn thích ăn hủ tiếu. Bên Phonsavan ở Luang Prabang có tiệm chuyên bán hủ tiếu Nam Vang.

Paul đi vào phòng bên thay đổi áo quần, lục đục một chốc khi trở lại với đầu tóc ướt, thẳng thớm những đường răng lược chải tém lui sau. Ông mang một vẻ tự tin, như thể biết chắc là tôi sẽ thuận lòng để ông dắt ra hàng quán. Hủ tiếu thì muôn đời vẫn hấp dẫn hơn xôi. Ông chả vội loan tin, ông nén cái bí mật đó nhằm thế một hấp lực quyến dụ. Khúc cà-rốt chờn vờn để tôi hoá thân làm con lừa ngóng tới, đi theo. Má tôi từng quả quyết, rằng người Lào họ thật thà hơn người mình. Tôi vào mạng lưới thông tin của internet dẫn dắt, biết được hiện nay Lào vượt trội bỏ xa “thằng” Việt Nam nhiều lãnh vực kể cả hệ thống giáo dục. Không cứ là Lào, xứ Campuchia cũng đang qua mặt anh láng giềng chẳng thèm bóp còi. Người Việt giờ này chỉ vin vào mỗi thứ bóng đá để tự hào, sau khi cất cao đầu về mục sản xuất gái đẹp, hoa hậu top 5 các thứ. Đâu có ai tự hào khi mất biển mất đất? Mình đừng hãnh diện, đi bão, cởi truồng vì thứ ấy, nhớ? Gái thì ba vòng rất chuẩn mà chữ S thì ngày mỗi thu bé lại, hết điện nước đầy đủ.

Chúng tôi đang trên đường đi tới quán ăn của người Miên. Ông Paul muốn thế chứ thực chất ở Sài Gòn thiếu cha gì món ăn ngon hơn, đậm đà bản sắc dân tộc. Tôi ghét mấy đứa Việt kiều khi vào quán, trước khi ăn đã xơi cả nạm thuốc trị tiêu chảy, ngừa ngộ độc thực phẩm, không mó tay tới rau xanh. Chúng chê quê hương mình sao quá bẩn. Tôi chưa có cơ hội được đi đây đi đó, nghĩ là tầm hiểu biết của mình chỉ tròn như miệng giếng. Sạch cỡ nào? Vệ sinh ra sao tôi nào hay! Chúng tôi quen sống với thứ triết lý: Ôi dà, hơi đâu, trâu bò mấy sạch!

Paul gọi hủ tiếu khô, tôi chọn nước. Trong mâm cơm ngày xưa bao giờ má cũng nấu một món canh, không thể thiếu. Hình như người nào mạng thuỷ đều ướt át, nhạy cảm dễ mềm lòng? Tôi ngồi vòng tay quan sát khuôn mặt kẻ đối diện.

Paul nói: Tôi biết Lan sốt ruột nhưng cứ ăn xong bữa rồi hẳn hay, chuyện gì cũng còn có đó. Ở bên kia, giờ này thời tiết chắc không đến nỗi nực nội như chốn đây.

Paul moi trong túi áo ra tấm ảnh: Lan nhìn ra ai không?

Má, tôi suýt buột miệng khi nhìn xuống người đàn bà bối tóc cao khoác vào thân chiếc áo đặc thù của phụ nữ Lào. Mượn đầu heo nấu cháo. Lạ chưa. Má tôi mà mặc áo dài, bà đã không trẻ đẹp tựa thế. Ui, ở đây mà quặn lòng nhớ má xa quê hương. Tôi không biết tiếng Lào, và tiếng Miên tôi biết duy chỉ một câu: Ăn xà lon bon tê? Có thương tui không?

Chị Mai có gửi về cho Lan năm trăm đô, chốc nữa tôi sẽ giao. Không viết thư, chỉ nhắn miệng là mọi việc vẫn ổn. Tấm ảnh Lan vừa xem chứng minh rõ về sự ổn kia.

Mai là tên má tôi. Đẻ ra tôi mang tên Lan, sau này tôi có chồng sinh con gái cháu được gọi là Cúc. Nếu theo đúng hàng chữ trên tấm pa-nô dựng ngoài xa lộ, đường về Vũng Tàu: “Mỗi gia đình hai con vợ chồng hạnh phúc” thì đứa sau ắt sẽ mang tên Trúc. Mai Lan Cúc Trúc là bốn giống cây thuộc hàng tứ quý? Hy vọng vẫn là hy vọng, đặt điều vẫn là đặt điều; bây giờ muốn cầm cự với cuộc đời, gia đình buộc phải có người mang thân đi gieo trồng, cắm dùi ở phương xa. Mai đi Lan ở lại nhà, húp tô hủ tiếu thiệt là đắng cay, má làm gì chẳng cho hay, ngồi nghe người thuật nhạn bay cuối trời.

Lan hiện đang làm việc chi?

Làm đủ thứ. Vừa xin được chân thợ may trong một xí nghiệp nằm tuốt Bình Dương. Muốn sang Lào thăm má có dễ không?

Cũng chẳng khó gì. Đợi tôi về thăm dò tình hình bên đó ra sao, quan trọng là ở chị Mai, biết chị ấy có thuận lòng? Chị nói gặp khó khăn thì cho chị hay chứ đừng lặn lội đi thăm làm chi cho tốn kém.

Quan hệ giữa hai người ra sao, có thể cho tôi biết không?

Ờ, chỉ trao đổi tiếp xúc do công việc thôi, chuyện tình cảm thì không xảy ra, chị Mai vẫn ở vậy. Thế nào có lúc chị ấy cũng về thăm Lan. Đừng nghĩ bậy. Trong phong bì này là năm tờ giấy 100 tiền Mỹ, tấm ảnh đó trao cho Lan giữ. Trước khi chia tay mình nên nhờ ai đó chụp giùm một tấm ảnh, tôi sẽ khoe chị Mai, làm chứng cớ là đã gặp Lan.

Tôi đang ở thời gian chọn lựa, nhẫn nha, chẳng nóng vội. Có ba chàng mặt mày cũng không đến nỗi nào sẵn lòng chìu chuộng làm vui lòng tôi. Dĩ nhiên cả ba anh này đều người Sài Gòn cả, tôi vốn chẳng mấy ưa dân tứ xứ vừa nhập cư. Huế Hà Nội thì em chã em chã.

Khi kiếm ra việc làm ở Bình Dương, tôi buộc phải làm màn sàng lọc cuối. Một người tên Trung xẳng xái: Có sao đâu, nơi kia có nhà tía má anh. Địa lợi, nhân hoà đã thủ đắc, giờ chỉ mong vào thiên thời thì ngon ăn cho Lan.

Trung tháp tùng theo tôi về Bình Dương, săn lùng giúp tôi một nhà trọ xét thấy an toàn cho thân gái dặm trường trú ngụ. Chỗ này nằm gần nhà ông bà già của Trung, gặp khó khăn Lan cứ chạy qua chạy lợi, có sao đâu. Theo quy định, mỗi cuối tuần từ Sài Gòn, Trung sẽ chạy xe máy về thăm tôi vào trưa chủ nhật, kéo nhau đi ăn và cũng có thể hôn hít bậy bạ cho vơi nỗi nhớ xa mặt cách lòng. Trung kiếm đâu ra cái khung để lồng bức ảnh má tôi vào, treo ngay ngắn trên đầu nằm. Tôi có kể cho Trung biết là má hiện ở bên Lào, Trung đơm mộng ước có ngày hai đứa nắm tay nhau đột ngột qua thăm má. Ôi, cảnh đoàn viên sao mà lắm cảm động. Ai đây? Chồng mày sao Lan? Ừa, đẻ hối cho má một mụn cháu để ẵm để bồng để à ơi thương ai nên phải đi đêm, nhớ ai nên quyết mần thêm keo này. Một liều ba bảy khéo bày, chơi cho tới bến đoạ đày nhân sinh.

Chủ nhật ấy Trung không về thăm, dù không thích, miễn cưỡng tôi quyết định đi tới gõ cửa nhà tía má Trung. Họ đón tôi với bộ mặt khác thường, Trung bị tai nạn xe máy trên cao tốc rồi ư? Má Trung nói: Cháu chưa hay tin gì sao? Ra cà phê net mà xem tin hôm qua phiên toà xử tội, triệt phá một đường dây vận chuyển ma tuý tinh vi tuồn về từ Lào phân phối khắp nước.

Đầu tiên là Paul Khamvanongsa, kế đến một gã trung niên mang tên Trần Văn Lương, tiếp theo trên băng ghế gỗ là bị can Nguyễn Thị Hoa Mai, là má tôi mặc áo bà ba cổ cột khăn rằng đen trắng. Cả ba ngồi cứng thân trên ghế, cổ tay có còng số 8 làm vật trang sức chớp nháy. Hai tội phạm nam ngậm miệng, quai hàm bạnh ra; riêng người đàn bà thì khản giọng: Oan cho tôi quá. Ma tuý là thứ gì cả đời tôi nào hay biết. Lan ơi, xui cho má số đen đủi ở lần lặn lội đường xa về thăm con. Má mua làm quà hai đòn bánh tét hai cái bánh chưng… có ai mà dè…

Tôi bỏ công ăn việc làm, bắt nóng một chiếc xe ôm hối hả biểu chạy lẹ về Sài Gòn. Tôi không tin vào phiên toà sơ khởi ấy, quá khứ luật pháp xứ này đã diễn ra biết bao oan khuất với thứ luận điệu “thà bắt nhầm hơn bỏ sót” mà họ thường rêu rao. Năm trăm đô má cho tôi chỉ mới hư hao có phân nửa. Tôi sẽ cầm cự sống thở cho đến hồi được gặp mặt má, tôi sẽ nói to: Con tin là má bị người ta gài bẫy, bắt oan.

Tôi sẽ viết một lá đơn xin được đi tù, yêu cầu giam chung khu vực với má. Nếu đơn không được chấp nhận tôi sẽ tìm cách vượt biên sang Lào, phản bội tổ quốc để hít thở bầu trời tự do. Cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam. Độc lập tự do hạnh phúc. Đơn Xin Được Vào Ngục Tù. Tôi tên Hồ Thị Lây Lan, 23 tuổi… Mực nhoè hoen dòng chữ chẳng ngay hàng. Mày vừa khóc sao Lan?

Hồ Đình Nghiêm

Bức thơ mùa Giáng Sinh!

Đoàn Xuân Thu chuyển ngữ – Melbourne
Post by Sơn râu 12 Jul 2026

Có môt ông làm ở Sở Bưu Điện. Nhiệm vụ của ông là: tìm cách giải quyết những bức thơ mà địa chỉ người nhận do người gởi đi ghi, viết tháu… rất khó đọc!

Một ngày, có một bức thơ viết tay, với hàng chữ run rẩy, gởi cho Đức Chúa Trời. Ông nghĩ: mình nên mở nó ra, xem bức thơ nói cái gì?

santa-claus-8Bức thơ viết rằng:
Kính thưa Đức Chúa Trời!

Con là góa phụ, 83 tuổi, và sống nhờ tiền trợ cấp an sinh xã hội rất là còm cõi. Hôm qua người ta đã ăn cắp mất cái ví tiền của con rồi! Trong ví, chỉ vỏn vẹn 100 đô la, là số tiền còn lại của con từ nay cho đến kỳ trợ cấp an sinh lần tới!

Thứ Ba tuần tới là ngày Chúa Giáng Sinh, và con đã mời hai người bạn thân đến ăn tối! Không tiền, con không làm cách chi mua được thực phẩm. Mà con không còn ai là thân bằng quyến thuộc để mà nhờ vả được, và Ngài là niềm hy vọng duy nhứt còn lại của con!

Xin Đức Chúa Trời hãy giúp con với!

Thành kính.

Edna.

Người nhân viên Bưu Điện rất xúc động. Ông đưa bức thơ cho những người đồng nghiệp khác xem. Mỗi người vét bóp, tìm được vài đô la, và khi góp hết một vòng, số tiền quyên góp lên được 96 đô!

Ông bèn bỏ số tiền đó vào một phong bì và gởi lại cho bà cụ rất đáng thương kia!

Suốt ngày hôm đó, những người nhân viên Sở Bưu Điện cảm thấy lòng mình ấm áp khi nghĩ tới Edna, nghĩ tới nghĩa cử của mình đã giúp Edna chia sẻ bữa ăn tối Giáng Sinh cùng hai người bạn của bà!

Giáng Sinh đến rồi đi!

Vài ngày sau, một bức thơ cũng do Edna viết, gởi Đức Chúa Trời.

Tất cả các nhân viên Sở Bưu Điện, đã tham gia vào cuộc quyên góp, tụ tập lại và bức thơ được mở ra, đọc lớn lên cho ai nấy đều nghe.

Kính thưa Đức Chúa Trời!

Không thể nào diễn tả hết lòng biết ơn của con trước hành động ban phước của Ngài.

Với món quà tặng đầy lòng yêu thương của Ngài, con đã đãi cho hai người bạn của con, một bữa ăn tối Giáng Sinh thiệt là thịnh soạn. Chúng con đã trải qua một ngày rất hạnh phúc và con đã nói với hai bạn con rằng: đây là một món quà Giáng Sinh tuyệt vời từ tay Thiên Chúa đã ban tặng cho con.

Tiện đây, con cũng xin báo với Ngài rằng: Con bị mất hết 4 đô la!

Con nghi chắc là do bàn tay “nhám nhúa” của mấy “thằng” làm ở Sở Bưu Điện “chôm chỉa” của con  mất rồi!

Đoàn Xuân Thu – Melbourne
chuyển ngữ

Người chết hiện về bằng xương bằng thịt

dutule.com

Lâm Chương

11 Tháng Hai 2022

Post by Sơn râu 12 Jul 2026

Tôi thường nghĩ về thế giới siêu hình, và luôn đặt câu hỏi: có hay không? Câu hỏi ấy lớn dần lên theo số tuổi đời. Con người càng ngày càng đi gần về phía hố huyệt bi thảm sau cùng, cho nên vấn đề “có” hay “không” thế giới bên kia là mối bận tâm của nhiều người. Và vấn đề này, không sao giải quyết dứt khoát giữa khoa học và tâm linh. Các tôn giáo đều cho rằng ngoài thân xác, con người còn có linh hồn. Chỉ có tin, hay không tin mà thôi. Đem khoa học thực nghiêm ra chứng minh, cũng khó.

Bản thân tôi đã chứng kiến nhiều sự việc không thể giải thích. Xin kể lại một cách bình thường, không có ý biện luận hay bài bác. Giữa thời đại khoa học cực thịnh, nói về cõi giới siêu hình thần linh ma quỷ, dễ làm nhiều người dè bỉu chê cười. Nhưng thâm tâm tôi, ngờ rằng còn có một điều gì đó không ổn khi ta hoàn toàn phủ nhận một cõi giới mơ hồ, với những hiện tượng mà khoa học cố tình làm ngơ.

Sao Nhót là người bà con bên họ ngoại của tôi. Năm mười bảy tuổi, nó bỏ nhà theo du kích, hoạt động lén lút ở địa phương và các vùng lân cận Tây Ninh. Thỉnh thoảng, có người gặp nó ở những nơi hẻo lánh. Vài năm sau, không còn ai thấy nó nữa. Một số người quen, tiết lộ rằng nó đã rời khỏi nơi đây, gia nhập vào Quân Chủ Lực Miền Việt Cộng. Thời gian trôi qua, chiến cuộc càng khốc liệt hơn, gia đình cũng bặt tin nó luôn. Má nó bí mật liên lạc với người trong mật khu, người ta nói nó đã chết trong một trận bom B52. Và tin này, cũng chẳng lấy gì làm xác tín. Có người bày vẽ, nên nhờ thầy “bắt hồn”. Nếu nó còn sống, thần linh sẽ cho biết. Nếu nó chết, thần sẽ dẫn hồn về nhập cốt để nói chuyện với thân nhân.

Má Sao Nhót nghe lời, tìm đến một bà cốt, nói rõ mục đích của mình. Bà cốt này tu trong một cái am, chuyên nghề đồng cốt, được sự tin tưởng của nhiều người. Không khí trong am có vẻ u trầm nhang khói. Ánh sáng bên ngoài chiếu rọi một cách yếu ớt qua những cửa sổ luôn luôn có màn che. Chính giữa có một bàn thờ lớn. Hai bên có hai bàn thờ nhỏ hơn. Tất cả đều che lại bằng những tấm màn màu đỏ. Khi bà cốt vén tấm màn lên, trên bàn thờ hiện ra những bức tượng sơn đỏ. Có tượng mặt mày dữ tợn. Có tượng mặt mày hiền lành. Khách đến am, tự nhiên cảm thấy có một vẻ gì linh thiêng huyền bí, và tỏ lòng kính ngưỡng bằng những cử chỉ hết sực nhẹ nhàng, tránh gây tiếng động. Nói chuyện với nhau cũng bằng những lời thầm thì. Không ai dám nói lớn tiếng trong am. Khi nhang đèn được thắp lên, ánh sáng từ những ngọn đèn cầy, và những cây đèn dầu nhỏ hắt ra, làm bớt đi vẻ âm u lúc đầu, nhưng cũng làm tăng thêm lòng tin vào sự linh thiêng của thần thánh.
Bà cốt đứng chắp tay khấn vái lầm thầm trước bàn thờ. Thỉnh thoảng bà đưa tay cầm dùi gõ ba tiếng vào cái chuông nhỏ trên bàn thờ. Rồi bà bảo má Sao Nhót cũng khấn và xin với thần linh giúp đỡ. Sau đó, bà cốt ngồi xếp bằng giữa tấm chiếu trải trước bàn thờ, đầu và mặt che phủ bằng miếng vải đỏ. Những người thân của má Sao Nhót, ngồi chung quanh. Khoảng mười lăm phút sau, đầu bà cốt lắc lư, đồng thời hơi thở cũng dồn dập khác thường. Mọi người im lặng hồi hộp chờ đợi.

Bỗng, bà cốt nói: “Má ơi, con là Sao. Con về đây thăm má.” Giọng nữ của bà cốt bỗng chuyển thành giọng nam. Rõ ràng đây là giọng nói của Sao Nhót.
Mọi người nửa tin nửa ngờ. Má Sao Nhót trong lúc bất chợt, không biết phản ứng ra sao, chỉ ngồi im.
Có người giục: “Hỏi đi.”
“Con có khoẻ không?” Má Sao Nhót luýnh quýnh hỏi.
Mọi người bật cười vì câu hỏi ngớ ngẩn.
Sao Nhót, qua xác của bà cốt, nói: “Con đâu còn xác người nữa, mà má hỏi khoẻ hay không.”
Dì của Sao Nhót tiếp lời: “Con có phải là Sao thật không?”
“Con không biết nói thế nào để dì tin. Má con có thể đặt câu hỏi để kiểm chứng.”
“Hồi trước con biết tuổi của ba má, bây giờ con nói đi?”

“Ba tuổi Sửu 61. Má nhỏ hơn bốn tuổi, má tuổi Tỵ 57.”
“Con hãy nói chuyện về con ngày trước và chuyện gia đình, để má tin chắc là hồn của con.”
“Lúc nhỏ con bị tai nạn suýt chết. Một lần con bị té giếng, may nhờ có người hàng xóm trông thấy, vớt lên, cứu tỉnh bằng cách trút ngược đầu xuống đất cho nước tháo ra. Một lần con đi coi diễn kịch ngoài trời, bị người ta đặt mìn phá hoại, có nhiều người chết, nhưng con chỉ bị thương ở chân. Vết thương này làm con thành tật, đi cà nhắc.” Nói đến đây, bà cốt đứng dậy, đi qua đi lại trong am bằng những bước khập khểnh, chân thấp chân cao, kiểu đi của Sao Nhót.
Má Sao Nhót kêu lên: “Trời ơi, đúng là con tôi.” Và bà khóc, muốn chồm lên ôm bà cốt. Những người chung quanh kéo bà lại.
Bà cốt ngồi xuống chỗ cũ, nói tiếp: “Những năm trộm cướp nhiều, ba má thường giấu tiền trong áo gối, vàng thì chôn dưới giường ngủ của má…”
Má Sao Nhót vừa khóc vừa đưa tay chặn lời bà cốt: “Thôi, con ơi, bấy nhiêu đủ rồi.” Hình như bà sợ hồn của đứa con còn tiết lộ thêm những điều bí mật khác của gia đình. “Má tin chắc đây là hồn của con. Con hãy cho má biết tại sao con chết?”
Hồn Sao Nhót nghẹn ngào bi thiết: “Những năm trong mật khu, con khổ lắm, thiếu thốn mọi thứ. Phải di chuyển luôn để tránh bom đạn và Mỹ Nguỵ càn quét, không thể liên lạc với gia đình.”

Dì Sao Nhót nói: “Làm cách mạng phải hi sinh gian khổ. Chuyện ấy, gia đình hiểu rồi. Con hãy cho má của con biết tại sao con chết?”
“Con bị sốt rét. Thuốc men không đủ điều trị, lại không được nằm yên nghỉ ngơi. Người ta khiêng con trong chiếc võng, chạy từ nơi này đến nơi khác. Sau cùng người ta bỏ con lại giữa rừng, trong một cuộc chạy tránh càn quét. Người ta nói sẽ trở lại đón con, nhưng không có ai trở lại cả.”
“Rồi con thế nào?”
“Rồi con chết một mình trên chiếc võng treo giữa rừng.”
Má Sao Nhót khóc than vật vã: “Trời đất quỷ thần ơi, người ta nở lòng nào bỏ con tôi chết thảm. Bao nhiêu năm nay má thương nhớ đau khổ vì con…”
Mọi người chung quanh vỗ về an ủi: “Thôi, dù sao nó cũng chết rồi. Chị nên bình tĩnh, dành thì giờ nói chuyện với con.”
“Trước đây, má được tin con chết vì bom B52. Bây giờ, con nói con chết vì bệnh sốt rét. Tại sao lại có chuyện khác nhau?”
“Người cho tin không biết rõ trường hợp của con. Người ta chỉ trả lời cho qua chuyện, để gia đình đừng tới lui tìm hiểu, làm lộ tung tích bí mật của những người khác.”
“Má tin là con đã mất vì sốt rét. Bây giờ, con có muốn nhắn lại với ai điều gì, hoặc yêu cầu má làm điều gì cho con hay không?”
Hồn Sao Nhót nói giọng sầu thảm: “Thôi, má ơi, chết là hết. Con không muốn gửi gấm cho ai lời gì làm bận lòng người còn sống. Con chỉ yêu cầu má một điều. Hồn con lang thang vất vưỡng đói khát, má lập cho con một cái bàn thờ, và hằng bữa, xin má cúng cho con một chén cơm.”
“Má sẽ làm theo lời con. Và con cũng nên phù hộ cho gia đình mình được bình yên.”
“Âm dương cách biệt. Con nhìn thấy mọi chuyện xảy ra trong gia đình, nhưng không có cách nào con làm thay đổi được những việc trên thế gian. Tất cả những tốt xấu, may rủi đều do âm đức của con người, xin má hiểu như thế. Con mượn xác để nói chuyện với má cũng lâu rồi. Xác đã mệt, con phải trả xác lại. Xin từ giả má và mọi người. Con đi!”

Bà cốt lắc lư cái đầu, thở hắt ra, rũ người mệt mỏi.

Má Sao Nhót đưa tay lên, chới với: “Hãy khoan! Má còn muốn hỏi thêm. Con chết ngày tháng nào, xác bỏ tại đâu? Con cho má biết, để má lấy về chôn cất, và hàng năm làm giỗ kỵ cho con”

Bà cốt không còn trả lời. Hồn Sao Nhót đã thăng.

Trước khi ra về, ngoài mâm hoa qua cúng trên bàn thờ, má Sao Nhót gởi lại một số tiền công cho bà cốt, nhưng bà không nhận tiền. Bà nói bà chỉ làm phước, và giúp đỡ mọi người theo ý của đấng thiêng liêng.

Cuối tháng Tư, năm 1975. Những kẻ từ rừng núi tràn về làng mạc, thành phố. Họ hân hoan rộn rã. Cờ đỏ bay phất phới khắp nơi. Bao người ra đi ngày nào, bây giờ trở lại đoàn tụ với gia đình. Tiệc lớn tiệc nhỏ bày ra, đón mừng thân nhân. Trong khi người ta say sưa kể lại những thành tích anh hùng và những thắng lợi thần kỳ của kháng chiến, má của Sao Nhót ngồi rầu rĩ trước cửa nhà. Bà nhớ con, nếu nó còn sống, thì gia đình bà cũng vang rộn tiếng cười trên bàn tiệc. Và nhất là những người láng giềng sẽ tới lui tấp nập chúc mừng, bà cũng hưởng lây được chút hãnh diện của con sau cuộc đổi đời. Mất con, bà đã buồn, nỗi buồn ấy tưởng đã nguôi ngoai theo ngày tháng. Giờ đây, nhìn thấy những đứa bạn cùng ra đi với con bà ngày trước, trở về trong vinh quang, bà càng tủi thân, càng buồn nhiều hơn nữa…

Hai tháng sau. Một người bộ đội, mang quân hàm thượng úy, bước khập khểnh chân thấp chân cao, đi về đứng trước hiên nhà má Sao Nhót. Anh ta cởi bỏ chiếc ba lô xuống thềm, tay che lửa, bật quẹt, khum đầu đốt điếu thuốc.

Má Sao Nhót ra trước nhà, thấy người bộ đội. Bà đứng ngó sửng. Khi anh ta vừa ngẩng đầu lên, bà dội ngược lại, hoảng hốt: “Trời đất! Nam Mô A Di Đà Phật. Sao ơi, con sống khôn thác thiêng, đừng hiện hồn về nhát má tội nghiệp.”

Người bộ đội cười: “Má không nhận ra con sao?”

Nghe thế, bà lấy lại bình tĩnh: “Má nhận ra con, nhưng con đã chết rồi. Má đã lập bàn thờ.”

“Ai nói với má là con chết?”

“Người trong mật khu nói con đã chết. Má tới am nhờ đồng cốt gọi hồn, và hồn con đã về nói chuyện với má.”

Người bộ đội ấy chính là Sao Nhót, anh ta cười lớn: “Ối, cái loại đồng bóng bày trò mê tín dị đoan, lừa gạt người ta. Má tin làm gì!”

Sao Nhót vừa nói dứt lời, bà nhào đến ôm người con bằng xương bằng thịt. Và bà khóc còn nhiều hơn ngày nghe tin con chết.

Tôi kể lại chuyện này cho thầy tôi nghe, đồng thời cũng nêu lên những thắc mắc:

– Tại sao bà cốt từ giọng nói của người đàn bà, có thể chuyển thành giọng của đàn ông, mà lại giả đúng giọng của Sao Nhót?

– Bà cốt xa lạ với gia đình của Sao Nhót. Tại sao bà biết được những tai nạn lúc ấu thời của Sao Nhót?

– Có những bí mật của gia đình, chỉ người trong nhà mới biết. Tại sao bà cốt biết được chỗ giấu tiền và vàng của má Sao Nhót?

Thầy tôi nói, thầy tin rằng có hai thế giới hữu hình và vô hình, sống đồng thời trong một không gian mà không hề ngăn ngại lẫn nhau. Trong thế giới vô hình có những chúng sinh, người đời thường gọi là thần linh, ma quỷ.

Sách nhà Phật có nói, chúng sinh ở cõi giới này, đương nhiên có được:

– Thần túc thông (nghĩ đến nơi nào, thì đến được nơi ấy ngay, không cần phải di chuyển để vượt qua không gian và thời gian).

– Tha tâm thông (biết được ý nghĩ của người khác).

Đồng cốt, cũng có người lợi dụng sự mê tín để lừa mị người khác, kiếm ăn. Cũng có người là đồng cốt thật. Trường hợp của Sao Nhót, bà cốt “lên” thật, nhưng không phải hồn của Sao Nhót. Theo lời thầy tôi giải thích, tại địa phương của gia đình Sao Nhót, có con ma, nó biết ý định của má Sao Nhót. Nó đi theo đến am của bà cốt, và giả hồn của Sao Nhót, nhập cốt để đánh lừa hưởng chút hương hoa dâng cúng, hoặc dối gạt người đời, lấy sự đùa giỡn làm vui. Nó giả đúng giọng của Sao Nhót và kể những tai nạn, vì nó biết rõ Sao Nhót từ lúc ấu thơ cho đến lúc trưởng thành. Nó biết những bí mật gia đình Sao Nhót, vì nó nhìn thấy được những hành vi, đọc được ý nghĩ của người đời.

Có lẽ, ngoài cách lý giải của thầy tôi, không có câu trả lời nào đáp ứng thoả đáng được những câu hỏi nêu trên.