Trên Phòng Tuyến Ngã Ba Dầu Giây

dongsongcu.wordpress.com

Phạm Huấn

Posted on April 25, 2024 by dongsongcu

Post by Sơn râu 26 Apr 2024

Ảnh minh hoạ/ Nguồn: Google

“6 giờ chiều ngày 13-4-1975, sau 15 phút Cộng quân bắc loa kêu gọi đầu hàng tại Ngã Ba Dầu Giây, Long Khánh, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52 Bộ binh còn khoảng 50 tay súng, cùng bố trí sau những gốc cây cao su chờ giặc đến. Tôi liếc nhìn Trung đội 3 của mình còn đúng 12 người. Những đạn đại pháo, súng cối đủ loại của Bắc quân rót vào. Tiếng lựu đạn nổ chát chúa, tiếng la thét hãi hùng, tiếng rên siết đau noun và rồi “tiếng hô sóng vỗ” của biển người. Tôi gục xuống trên xác một bạn đồng đội, người đầy máu…” Đó là một trận chiến tồi tệ. Một trận đánh bi thảm mà những người lính cuối cùng của Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52, Sư đoàn 18 Bộ binh phải chấp nhận, gánh chịu. Chiến đấu không yểm trợ, không tản thương, không hy vọng, và trong trạng thái hoang mang, hỗn loạn đến thảm não. Đứng lên một lần cuối cùng trực diện với quân thù, để rồi ngã xuống như những người khác, hay nếu có một may mắn nào đó, sẽ thoát được bàn tay tử thần ở trong họng súng của những kẻ xâm lăng, khát máu.

Đời lính, chết là chuyện thường tình. Vấn đề chỉ là bao giờ đến lượt mình? Trong chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến được coi là thảm khốc, dã man nhất của nhân loại từ 30 năm nay, đã có biết bao nhiêu những người lính của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, nếu được chết cách đây 2 năm, trước khi Hiệp định Ba Lê đầu hàng Cộng sản được ký kết, đó là một niềm hãnh diện, chết cho Đất Nước, chết cho sự tự do của những người khác.

Trong trận chiến cuối cùng năm 1975, với tôi, nếu bị chết, chỉ là một cái chết tức tưởi, oan khiên. Tôi tiếp tục cầm súng chiến đấu vì cấp chỉ huy của tôi chưa bỏ chạy, và vì không muốn thấy 12 người lính còn lại dưới quyền khinh thường. Do đó, bỗng nhiên tôi trở thành “người lính cuối cùng” của Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52, Sư doàn 18 Bộ binh! Đó cũng là điều thành thật nhất tôi muốn được nói ra, để giải thích một cách lương thiện rằng tôi không phải là một Trung đội Trưởng anh hùng. Xin hãy dành từ ngữ anh hùng để vinh danh những chiến sĩ can đảm, xứng đáng khác của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.
Đầu tháng 4, 1975, sau khi các mặt trận Quân đoàn I và Quân đoàn II lần lượt tan vỡ, chiến tuyến Long Khánh được thiết lập ngày 8-4-1975 để chận sức tiến của các Sư đoàn Cộng sản Bắc Việt trên đà đánh chiếm Sài Gòn. Chiến đoàn 52 Bộ binh được lệnh rời bỏ tuyến đầu của Quân đoàn III, vùng Núi Đốt, phía Nam Định Quán, dọc theo Quốc lộ 20, đường đi Đà Lạt, di chuyển về Ngã Ba Dầu Giây. Phòng tuyến mới của Sư đoàn 18 Bộ binh bây giờ bắt đầu từ Dầu Giây, dọc theo Quốc lộ 1, khoảng 18 cây số chiều dài, và 7 cây số chiều rộng (trên Quốc lộ 20, đoạn Ngã Ba Dầu Giây). Trước khi có lệnh co rút về phòng thủ tuyến Ngã Ba Dầu Giây, Chiến đoàn 52 với những Chi đội Thiết giáp tăng cường trong tuần lễ cuối cùng của tháng 3, 1975 lên thay thế vùng trách nhiệm của Trung đoàn 43 Bộ binh, trấn đóng phía Nam quận Định Quán, dọc theo Quốc lộ 20, “Tuyến đầu Tổ Quốc” trên đường lên Đà Lạt thơ mộng, thành phố của hoa anh đào và những chiếc “Alpha” mầu đỏ, trong những ngày cuối tháng 3, 1975, thật buồn thảm. Từng đoàn người lếch thếch, lũ lượt gồng gánh đi xuống. Ngược lên, kể cả những chiếc quân xa chạy vội vã, không có xe cộ nào vượt khỏi địa điểm đóng quân của Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52 Bộ binh. Ban đêm từ Núi Đốt, đỉnh cao nhất, phía Tây Nam Định Quán khoảng 15 cây số, có thể quan sát thấy những xe tăng và những đoàn Molotova chở quân của Bắc Việt chạy khơi khơi trên Quốc lộ 20.

Bộ Chỉ huy Hành quân Chiến đoàn 52 xin phản lực lên đánh, nhưng chỉ thấy máy bay quan sát gởi tới bay lượn một hồi rồi bay luôn. Lần không yểm cuối cùng cho tuyến Núi Đốt, Định Quán, 2 trái bom 500 cân Anh rớt trúng xuống Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 43, khiến gần 200 thương vong. Các Tiểu đoàn 2/43 và 1/52 là những Tiểu đoàn ưu tú, vũ bão nhất của Sư đoàn 18 Bộ binh. Những đơn vị đã nổi danh với những chiến thắng lẫy lừng tại Chiến khu D, và vùng Bến Cát trong năm 1974. Hai chiếc thiết giáp T-54 và PT-76 do Tiểu đoàn 1/52 “bắt sống” cách đây mấy tháng đã được lính Sư đoàn 18 chạy thẳng về Dinh Độc Lập, Sài Gòn để Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chiều chiều … thưởng lãm. Chính các đơn vị này làm cho những người lính của Sư đoàn 18 ngẩng mặt cao lên, quên đi cái mặc cảm là lính của “Sư đoàn 10 số bù” trước đây, đa số là “lính ma, lính kiểng” và được chỉ huy bởi một ông Tướng tham nhũng nhất quân đội thời đó. Và “rửa mặt” cho Tướng Lê Minh Đảo, vị Tư lệnh cuối cùng và anh hùng của Sư đoàn 18 Bộ binh, dập tắt những lời tố cáo dựng đứng của những con buôn chính trị bất lương, đã nói rằng chức vụ này được mua với giá 20 triệu đồng, qua “đường giây Bà Thiệu”! Vị Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 2/43 là một sĩ quan thuộc binh chủng Mũ Nâu trước đây. Ông nổi tiếng với lối đánh ào ạt, thần tốc trong đêm tối. Ban ngày nhẩy vào vùng địch, nhưng chỉ là đánh “nhứ” để quan sát địa thế, và ước lượng tình hình, khả năng thật sự của địch, tối đến mới là đánh thật. Và đã đánh đêm là phải thắng. Đó cũng là quy luật của đơn vị này! Hai trái bom 500 cân Anh thả lầm xuống Tiểu đoàn 2/43 là một đại bất hạnh, một thiệt hại lớn lao chung cho tất cả các đơn vị thuộc Sư đoàn 18 Bộ binh. Vị Tiểu đoàn Trưởng tài ba, anh hùng nếu còn sống, chắc chắn sẽ điên loạn; vì ông thương yêu chiến hữu, lo cho những người lính nhiều khi còn hơn cả cho bản thân ông! Chiến đoàn 52 Bộ binh về tới tuyến mới, Ngã Ba Dầu Giây tối ngày 8-4-1975, thì ngay sáng hôm sau, mặt trận Long Khánh đồng loạt bùng nổ cả 3 nơi: Xuân Lộc, Ngã Ba Dầu Giây và vùng giáp ranh tỉnh Bình Tuy. Cả hai Sư đoàn 6 và 7 Chủ lực quân, các Trung đoàn Pháo thuộc Sư đoàn 75 Pháo binh Cộng sản Bắc Việt từ An Lộc kéo về, mở những cuộc tấn kích vào các vị trí của quân ta ngay giữa ban ngày. Chiến thuật của chúng tại mỗi nơi vẫn là tiền pháo, hậu xung và phục kích chận viện. Ngày đầu tiên, 10-3-1975, áp lực nặng nề nhất là Bắc Xuân Lộc và vùng núi Chứa Chan, nằm ở phía Đông Xuân Lộc chừng 12 cây số, gần với ranh giới tỉnh Bình Tuy. Lực lượng bên ta, tại Xuân Lộc trong ngày đầu, ngoài những đơn vị Địa Phương quân của Tiểu khu Long Khánh, có Trung đoàn 43 và Trung đoàn 48 Bộ binh. Trung đoàn 48 Bộ binh đang nghỉ dưỡng quân tại Long Bình, trước đó đã được lệnh tới tăng cường cho mặt trận Xuân Lộc, và phòng tuyến phía Đông của thị trấn này.

Cuộc chuyển quân thần tốc của Trung đoàn 48 Bộ binh cùng với tinh thần chiến đấu cao độ của đơn vị này, đã làm cho địch quân không thể tràn ngập được phòng tuyến phía Đông Xuân Lộc, vùng núi Chứa Chan trong ngày đầu như chúng đã dự định. Tuyến phòng thủ của Chiến đoàn 52 Bộ binh dọc theo Quốc lô 20, khoảng 6 cây số về phía Bắc, và 2 cây số về phiá Nam từ Ngã Ba Dầu Giây. Khoảng từ Dầu Giây về Xuân Lộc trên Quốc lộ 1 chừng 10 cây số vẫn còn là một trục lộ an toàn. Bộ Chỉ huy Chiến đoàn, các Pháo đội đại bác 155 ly va 105 ly, các Chi đoàn M-41 và Thiết vận xa M-113 trấn đóng tại ấp Nguyễn Thái Học, cách Dầu Giây 3 cây số về phía Bắc. Tiểu đoàn 3/52 đóng chốt trên núi Sóc Lu và những cao điểm khác, làm thành vòng đai ngoài cùng.

Hình minh họa: Nguồn Google

Phòng tuyến của Tiểu đoàn 1/52 ở phía Nam Dầu Giây chừng hơn một cây số. Vùng đóng quân của Chiến đoàn 52 Bộ binh trong những ngày cuối, trừ Tiểu đoàn 3, có nhiệm vụ đóng tiền đồn, đóng chốt trên các đỉnh cao, phía Bắc và Đông Bắc của Dầu Giây, tất cả đều nằm trong những đồn điền cao su bát ngát. Chiều ngày 11-4-1975, Tiểu đoàn 2/52 được lệnh về tăng cường cho mặt trận Xuân Lộc.

Vị sĩ quan Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 2/52, Đại úy Út, với kinh nghiệm chiến trường, và nổi tiếng bén nhậy trong những ước tính đối với sự việc có thể xẩy ra, nên ông đã để lại dọc đường 2 Đại đội “ngủ đêm” trong vườn cao su. Trận phục kích tuyệt vời của Tiểu đoàn 2/52 đêm 11-4-1975, tiêu diệt, đốt cháy cả một đoàn xe chở quân và chở đạn của Việt cộng tại ấùp Cái Răng cách Xuân Lộc 6 cây số về phiá Tây Bắc, đã là chiến thắng cuối cùng của Chiến đoàn 52, Sư đoàn 18 Bộ binh trước khi bị tan hàng!

Những người lính bất hạnh

Đơn vị tôi thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 đóng tại ấp Nguyễn Thái Học, tuyến ngoài cùng của Chiến đoàn, mặt phía Nam Ngã Ba Dầu Giây. Một đại đội, nhưng chỉ còn khoảng 50 người, quân số chưa được một nửa theo quân số lý thuyết. Sĩ quan có đúng 2 người, một Trung úy Đại đội Trưởng, và tôi, chỉ huy Trung đội 3 với 12 tay súng.

Ngay đêm đầu tiên, sau những trận mưa pháo của Bắc quân, những đơn vị pháo binh của Sư đoàn 75 Pháo Cộng sản Bắc Việt từ An Lộc kéo về, “tuyến đầu” ở phía sau khu vực đóng quân của Chiến đoàn 52 Bộ binh đã co rút lại gần 1 cây số. Chúng tôi lui về phòng thủ sát xã Dầu Giây và Quốc lộ 1. Vẫn là những rừng cao su dầy đặc. Tôi nhìn những chiến hữu trong đơn vị, rồi nghĩ đến mình mà lòng thấy sót sa, đau đớn. Trận chiến cuối cùng này đã vượt khỏi tầm tay của mọi người. Không còn tin tưởng, hy vọng, hay tính toán gì được nữa. Bị bao vây, nguy khốn, bị thương chờ chết, bắn hết đạn, hãy tự giải quyết lấy. Những người gục xuống, đó là cách giải quyết tốt đẹp nhất cho chính họ, và cả những người còn sống. Pháo cuả địch rót vào chiến tuyến của ta giờ này qua giờ khác, ngày cũng như đêm. Những đại đội, trung đội đóng chốt, đóng tiền đồn của Tiểu đoàn 3 trên núi Sóc Lu và những cao điểm phía Bắc Dầu Giây. Khi còn sử dụng được máy móc liên lạc, họ gọi kêu cứu liên tục. Các khẩu đại bác từ Bộ Chỉ huy Hành quâïn của Chiến đoàn bắn đi yểm trợ cầm chừng. Cứ điểm nào sắp bị tràn ngập, nghe tiếng phản lực xé không gian bay tới, hay tiếng gầm thét của chiến xa ào ạt đến, đó là cứu tinh, là hy vọng, là mong ước cho sự sống được kéo dài thêm của những người lính bộ binh khốn khổ, bất hạnh. Nhưng khi đã thấy một phản lực cơ nổ trên không trung, một chiến xa bốc cháy rồi thì niềm hy vọng và cuộc sống của họ tiêu tan, dẫy chết.

Ngày thứ tư của trận chiến Xuân Lộc, Long Khánh, tuyến ngoài cùng của Chiến đoàn 52 Bộ binh tại mặt trận phía Tây Xuân Lộc, cả Tiểu đoàn 3 với quân số hơn 300 người, đóng trên các cao điểm phía Bắc Dầu Giây chừng 5 cây số, không còn liên lạc, vết tích gì nữa. Họ đã chết thật tức tưởi, phi lý và trong uất hận, đau đớn. Trước khi vào lính, tôi không biết nhiều về đời sống quân đội. Cuộc đời quân ngũ của tôi cũng thật ngắn ngủi, 2 năm, 2 tháng, 20 ngày. Và tôi chỉ phục vụ tại một đơn vị, giữ một chức vụ duy nhất là Trung đội Trưởng Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52 Bộ binh. Tôi bị động viên theo học khóa Sĩ quan Trừ bị 2-73, dù thời gian đó Hiệp định Paris đã được ký kết. Cũng trong thời gian này, tôi đã mất đi một người bạn thân nhất. Đó là Chuẩn úy Lương Đức Hậu, người bạn học từ thuở nhỏ, cùng khóa 2-73 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, và cùng một đơn vị khi ra trường.

Cái chết của Lương Đức Hậu đã làm tôi day dứt, đau đớn nhiều ngày, và hận thù những người đang lãnh đạo Đất Nước, chỉ huy cuộc chiến này. Tại sao lại bắt chúng tôi, những người không thích đời sống quân đội phải vào lính, để thay thế những người yêu võ nghiệp, có khả năng chiến đấu, và cuộc đời họ đã gắn liền với trận mạc từ nhiều năm nay? Cuối năm 1974, Tiểu đoàn của tôi toàn những sĩ quan “non choẹt” mới ra trường như tôi, giữ các chức vụ Trung đội Trưởng, Đại đội Phó, trong khi đó quân đội cho giải ngũ một số sĩ quan và hạ sĩ quan có kinh nghiệm chiến đấu, với một lý do rất mơ hồ là “lý do kỷ luậtï”, khiến họ rất căm phẫn, bất mãn.

Tôi nhớ cuối tháng 8 năm 1974, Hậu và tôi được tham dự “một trò chơi lớn”. Sau hào quang chiến thắng của Sư đoàn 18 “bắt sống” được xe tăng của Việt cộng tại Bến Cát, vị Tư lệnh Quân đoàn lúc bấy giờ muốn chúng tôi “thừa thắng xông lên”. Ông ra lệnh thẳng cho Đại tá Chiến đoàn Trưởng Chiến đoàn 52 thả Tiểu đoàn 1/52 vào giữa lòng Chiến khu D, “lùng và diệt” một Trung đoàn Việt cộng. Rừng rậm và địa thế gai góc, hiểm trở, chỉ một đêm, chúng tôi bị địch pháo, thiệt hại hơn 100 người. Lương Đức Hậu, Trung đội Trưởng Trung đội 1 chết tan xác cùng với hàng chục người lính thuộc trung đội anh, cách tôi chừng 20 thước. Hậu chết khi tuổi lính mới được vừa 1 tuổi, và tuổi đời chưa tới 20. Cũng may trận đó vị Đại tá Chiến đoàn Trưởng, dù phải nghe lệnh của ông Tướng Tư lệnh Quân đoàn, nhưng biết trước chúng tôi sẽ “ôm đầu máu”, nên đã tập trung sẵn những thiết giáp M-48 và một tiểu đoàn khác vào giải vây khi trận chiến xẩy ra. Những cảm nghĩ chân thành của tôi, có thể không đúng với những người cùng lứa tuổi, đã chọn võ nghiệp như cái nghề cao quý của mình. Nhưng tôi tin rằng đó là tâm trạng chung của một số lớn sinh viên và học sinh, đã bị ném vào các quân trường, các trung tâm huấn luyện trong những năm sau cùng của chiến tranh Việt Nam.

Tại một số quốc gia có chiến tranh, nhất là trong cuộc chiến đấu sinh tử với cộng sản để sống còn như Việt Nam Cộng Hòa, luật Tổng Động Viên là một đạo luật cần thiết va hợp lý. Tuy nhiên, đạo luật này đã không đưọc thi hành một cách công bằng như ở các quốc gia khác. Những người lãnh đạo Đất Nước, những tướng lãnh giữ những chức vụ quan trọng tại Bộ Quốc Phòng, Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Quân Huấn, Nha Động Viên, v.v… chính là những người đã dung dưỡng, bao che cho con cháu, người thân, tạo ra sự bất công nhiều nhất. Thật đau lòng khi nhìn thấy những sự thật xẩy ra trước mắt. Trước năm 1954, khi người Pháp còn chỉ huy cuộc chiến tại Đông Dương, Tướng De Lattre được bổ nhiệm làm Tổng Tư lệnh Quân đội Viễn chinh Pháp, và các lực lượng Việt-Miên-Lào năm 1950, thì đứa con trai duy nhất của ông là Trung uý Bernard De Lattre, đóng tại đền Non Nước, Ninh Bình. Khi De Lattre sang Việt Nam, phương vị của Bernard vẫn không thay đổi, tiếp tục chiến đấu ngoài mặt trận, cho đến khi chết tại đó, vào tháng 5 năm 1951. Một tấm gương khác, khi Mỹ khởi sự ném bom Bắc Việt năm 1965, con trai của Đô đốc Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, Hải quân Thiếu tá McCain, là một trong những phi công Mỹ đầu tiên bị bắn rớt tại Bắc Việt. Trong khi đó, suốt cuộc chiến 21 năm sau cùng tại Việt Nam, chắc chắn không thể tìm thấy bất cứ con một ông Tướng nào chiến đấu ngoài mặt trận. Em trai bà Thủ tướng đến tuổi đi lính, ngay lập tức được “tuyển” để đi theo xách bóp cho bà chị. Tất nhiên sự tuyển dụng này không qua một thủ tục nào, vì ông Thủ tướng còn là một đại tướng 4 sao, quyền uy coi như vô địch. Con những ông tướng khác thì cứ gần đến tuổi động viên, đã bằng cách này, cách khác, được xuất ngoại du học. Chung qui chỉ có những sinh viên, học sinh con nhà nghèo, và không thế lực, sẽ bị thi hành lệnh Tổng Động Viên một cách rất kỹ lưỡng. Ngoài ra, vì không có tiền bạc để chạy chọt, chắc chắn không bao giờ họ được phục vụ tại những “chỗ ngon, chỗ bở” ở Sài Gòn hay các tỉnh. Điều đáng buồn hơn nũa là trước khi được gọi nhập ngũ, và khi học ở các quân trường, các trung tâm huấn luyện quân sự, họ không nhận được các tài liệu, hoặc sự giải thích một cách minh bạch, hợp lý của các cán bộ trong quân đội, đối với nhiệm vụ, quyền lợi và thời gian thi hành lệnh động viên.

Với cuộc chiến ác liệt trong những năm sau cùng, nhiều khi sau một trận giao tranh, một tiểu đoàn tác chiến, với quân số hành quân khoảng 400 người, có khi bị thiệt hại 1/3 hay nhiều hơn nữa. Và trong trường hợp ấy, ít nhất 50 phần trăm sĩ quan trung đội trưởng, cấp chuẩn úy, thiếu úy bị hy sinh. Một bức hình chụp 9 người khi nhập học khóa 2/73 sĩ quan trừ bị Thủ Đức, hình như chỉ có tôi và một người nữa sống sót. Thật tình tôi đã không hiểu nổi, tại sao những người làm việc tại Nha Động Viên thời gian đó đã tiếp tục gọi nhập ngũ chúng tôi sau khi Hiệp định Ba Lê 27-1-1973 được ký kết? Tôi không muốn nói đến cái “văn kiện đầu hàng” không có một chút xíu giá trị này, vì bọn cộng sản không bao giờ tôn trọng những điều chúng cam kết, và không bao giờ chúng thay đổi chính sách sắt máu, xâm lăng miền Nam bằng võ lực, nếu chưa nhuộm đỏ được miền Nam Việt Nam. Tôi chỉ muốn nói đến sự giải kết, bỏ chạy của người Mỹ khi ký hiệp định này với cộng sản Bắc Việt. Vì vấn đề tù binh Mỹ, chắc chắn Mỹ sẽ ép Việt Nam Cộng Hòa trên nhiều lãnh vực, và tôn trọng những mật ước đối với cộng sản Bắc Việt. Sau Hiệp định Ba Lê 1973, viện trợ quân sự bị Mỹ cắt xuống rất nhiều. Do đó, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa phải giảm bớt quân số, chiến cụ, phi cơ, và đạn dược sử dụng bị hạn chế. Để đối phó với vấn đề giảm bớt quân số, những giới chức quân sự cao cấp đã hành động để có biện pháp như thế nào? Họ cho giải ngũ một số sĩ quan và hạ sĩ quan có kinh nghiệm chiến đấu, và cuộc đời họ hầu như đã gắn liền với trận mạc từ nhiều năm nay. Những người này bị cho giải ngũ, vì lý do kỷ luật, và dù họ không muốn bị giải ngũ. Trong khi đó, chúng tôi, những sĩ quan “non choẹt”, ra trường mới được mấy tháng, nếu sống sót, được “đẩy” lên làm đại đội phó, hay đại đội trưởng, dù kinh nghiệm chỉ huy và chiến đấu chưa có bao nhiêu. Sự làm việc không có kế hoạch, chương trình của những cơ quan phụ trách về động viên và giải ngũ đã gây sựï oán hận cho rất nhiều người, và hủy hoại tiềm năng của Quốc Gia, của quân đội không ít, trong 2 năm chót, trước khi chiến tranh chấm dứt.

Hình minh họa/Nguồn: Google

Ngày 8 tháng 4 năm 1975, khi trung đội của tôi lui về phòng thủ tại xã Dầu Giây, với quân số chiến đấu vỏn vẹn còn 12 người, đi nằm tiền đồn, bố trí chờ địch đến, hay tránh pháo kích, chúng tôi đều dàn hàng ngang, sau những gốc cao su. Tôi cũng không còn khe khắt bắt anh em binh sĩ đào hố cá nhân như trước kia nữa. Bởi vì, những hố đó cũng sẽ chẳng ích lợi gì khi Việt cộng tràn đến. Lúc tôi trúng mảnh pháo của địch, người đầy máu té xuống, tôi đã nghe thấy tiếng rên la trong đêm tối của Trung sĩ Hoan, người Trung đội Phó gan dạ, anh hùng. Hoan người gốc Tầu vùng Chợ Lớn, lầm lì, ít nói, nhưng can đảm và tháo vát. Trận đánh tại Bến Cát cách đây mấy tháng, khi tôi chỉ huy 2 khinh binh bò lên đánh lựu đạn vào một cái hầm có Việt cộng trú ẩn, một trái B-40 của địch “thổi” trúng, “chém” đứt đôi 2 người lính, Hạ sĩ Lê Sen và Binh nhất Hòa. Tôi thoát chết trong gang tấc, nhờ Hoan kẹp khẩu đại liên vào đùi, đứng bắn che cho tôi bò ngược trở lại. Hạ sĩ Sen và Binh nhất Hòa đều là “những người lính bất hạnh” mà tôi thương mến họ. Tôi gọi Sen là “người lính gương mẫu” và Hoà là “đứa bất hiếu”. Sen là người tằn tiện, mực thước, tiền lương hàng tháng thường dành dụm gởi về cho vợ con. Còn Hòa ăn tiêu hoang phí, rượu chè, nhiều khi bà mẹ già chờ đầu tháng lên vùng hành quân xin tiền con, Hòa không có, phải trốn mẹ, bị tôi rầy la hoài. Trận trước, Hạ sĩ Sen và Hòa đã ra đi. Hôm nay đến lượt tôi và Hoan! Hoan có người vợ trẻ mới cưới từ 2 tháng trước, định “dù” về Chợ Lớn thăm vợ, nhưng thấy trung đội chỉ còn có mình tôi là cấp chỉ huy, nên không nỡ bỏ đi. Tự nhiên tôi mong ước Hoan sẽ thoát được bàn tay tử thần đêm nay để về thăm vợ anh, dù đó là lần cuối cùng!

Tôi tỉnh dậy sáng hôm sau, một sĩ quan đã cho biết tôi được cứu sống nhờ 3 người lính thay nhau dìu về, những người lính của Trung đội 1, trung đội do cố Thiếu úy Lương Đức Hậu chỉ huy trước đây. Còn 12 quân nhân trong Trung đội 3 của tôi vĩnh viễn ra đi, không một người nào về được. Ngày 14-4-1975, phòng tuyến của Chiến đoàn 52 Bộ binh co lại thêm nữa. Đồng bào từ Đà Lạt, Lâm Đồng, Bình Tuy, Long Khánh… khắp nơi đổ tới Ngã Ba Dầu Giây để tìm đường về Sài Gòn.

Việt cộng nã pháo vào khắp các vị trí của quân ta ngay từ sáng sớm. Đồng bào chiến nạn trở thành nạn nhân sau những trận mưa pháo của địch. Tiếng kêu khóc thảm thiết. Cảnh chết chóc, hỗn loạn dài hàng cây số trên Quốc lộ 20 và Quốc lộ 1 thật khủng khiếp, đau thương. Vị Tư lệnh mặt trận, Đại tá Chiến đoàn Trưởng Chiến đoàn 52 lồng lộn như một con hổ ở trong chuồng, ra lệnh tổ chức phòng tuyến cuối cùng, không lùi thêm nữa. Nhưng cố gắng của ông và của những người lính Chiến đoàn 52 Bộ binh cũng chỉ giữ được phòng tuyến này thêm một ngày nữa, rồi tan hàng. 9 giờ đêm 15-4-1975, đại bác cộng quân bắn sập hầm chỉ huy của Đại tá Chiến đoàn Trưởng, các hệ thống truyền tin, liên lạc bị hủy diệt, ông thoát chết nhờ đang ở bên ngoài. Và lúc đó, ông mới quyết định cho mở đường máu rút lui về hướng Long Bình. Tổng cộng chỉ có 200 người thoát về được đêm 15-4-1975. Khoảng 1500 quân thuộc Chiến đoàn 52 Bộ binh bị thiệt hại, bị đánh tan tác trong 6 ngày cuối cùng tại mặt trận Dầu Giây, Long Khánh.

Phạm Huấn

Trích từ tuyển tập “NHỮNG UẤT HẬN TRONG TRẬN CHIẾN MẤT NƯỚC 1975” của Phạm Huấn
GHI CHÚ: Viết theo lời tường thuật của Thiếu Úy Phạm Văn Trung, Trung đội Trưởng Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52, Sư đoàn 18 Bộ binh.

Nguồn: https://hung-viet.org/p19a17948/tren-phong-tuyen-nga-ba-dau-giay

Đi Theo Xác Chồng

baovecovang2012.wordpress.com

Đồi Bắc, K19

Posted on April 25, 2024 by Lê Thy

Post by Sơn râu 26 Apr 2024

Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình.

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.

★

Sau khúc nhạc Hồn Tử Sĩ dạo đầu, cô ca sĩ vừa cất tiếng hát: “Ngày mai đi nhận xác chồng”  thì người đàn ông ở tuổi 82 với 13 năm cầm súng bỗng rụng rời chân tay, mặc dù đã nghe nhiều lần khi còn là lính. Dù nghe ngoài chiến trường, nghe ở hậu phương, nghe khi còn trẻ, nghe khi đã về già, nghe ở mọi thời gian và không gian thì con tim nào mà không xúc động với lời thơ của thi sĩ Lý Thị Ý do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, xúc động cho nỗi đau mất chồng của người vợ lính, sống với hình ảnh người vợ lính khóc bên xác chồng.

Thi sĩ đã tâm sự với nhà báo Đinh Quang An Thái về hoàn cảnh sáng tác bài thơ:

– Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku, thành phố nhỏ bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe Jeep, hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà, con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật, tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi buồn đau của mình.”

Không là vợ lính, chưa là vợ lính mà tác giả đã sống với hình ảnh người vợ lính khóc bên xác chồng thì còn nỗi đau nào hơn của người goá phụ đi nhận xác chồng.

Đi nhận xác chồng để đem về lo hậu sự thật là đau đớn, nhưng rồi thời gian sẽ xoa dịu vết thương lòng khi biết “anh” đã mồ yên mả đẹp, “em” còn biết anh ở nơi nào để đến thăm với bó hoa, nén nhang, còn được ngửi mùi hương mà nhớ tưởng hơi chồng.

Nhưng còn những bà mẹ, goá phụ không đi nhận mà phải đi tìm xác con, xác chồng thì không còn nỗi đau nào hơn. Trịnh Công Sơn rên xiết:

Khi đất nước tôi không còn chiến tranh.
Mẹ già lên núi tìm xương con mình!

Khi không còn chiến tranh, đồng đội đã về đoàn tụ với gia đình mà chẳng thấy bóng dáng các anh đâu, các anh đã nằm lại nơi rừng sâu, góc biển, không manh chiếu rách phủ xác, côn trùng, mối mọt đục khoét thân xác người lính mất tích nên nỗi đau người goá phụ càng thêm chồng chất ngày đêm nên phải đi tìm, nhưng biết anh nằm ở đâu mà tìm!

Khi không còn chiến tranh, đã có biết bao goá phụ TQLC đi tìm xác chồng, trong đó có các chị goá phụ HNH, chị ĐHT, chị NXP v.v… đã vượt trăm gian ngàn khổ, liều mình tìm đến chiến trường xưa, nhưng vật đổi, sao dời, biết ai mà hỏi, biết đâu mà tìm, đứng giữa chốn hoang vu, chiến trường xưa mà khóc, ngay cả đám đất, nơi anh nằm xuống cũng không biết để thắp nén nhang.

Mà dẫu có tìm đến nơi anh tử trận, biết anh nằm chung cùng đồng đội, nhưng làm sao phân biệt xương cốt để rước anh về.

Chị quả phụ Tô Thanh Chiêu cùng người anh là Tô Hạnh*, em Tô Giao đã tìm đến thôn An Dương để tìm xác chồng, xác em, xác anh, nhưng xương cốt Đại Uý Chiêu đã trộn lẫn cùng với 132 bộ hài cốt đồng đội, nên người goá phụ chỉ còn biết khóc than:

– Anh! Xưa anh chiến đấu cùng đồng đội, thì nay xin anh tiếp tục cùng đồng đội chung một nấm mồ: “Thập Loại Cô Hồn Hiển hách Chi Mộ”.

(* Từ Mỹ và Úc, Hạnh – Giao đã đôi lần về thôn An Dương thắp nhang cho Chiêu, tháng 2/2023, Hạnh chuẩn bị về thăm em Chiêu lần nữa thì bất ngờ Hạnh mất, Hạnh không về thăm em bằng máy bay mà bay theo gió!)

“Khi đất nước tôi không còn chiến tranh, mẹ già lên núi tìm xương con mình!”

Mẹ già Tô Thị Tiếp lên núi Bá Hô tìm xương con mình là Kình Ngư Vũ Văn Tuấn.

Vũ Văn Tuấn được Tiểu Đoàn Trưởng Trần Xuân Quang TĐT/TĐ4 Kình Ngư cho làm tài xế theo lời đề nghị của mẹ Tuấn, vì em ruột là Vũ Văn Hùng, tuy chưa tới tuổi đi lính, nhưng đã dùng khai sinh của Tuấn để tình nguyên vào Cọp Biển rồi Hùng tử trận. Nhưng Tuấn nói với mẹ Tiếp: “Con không thể chết 2 lần”, thế là Tuấn xin ra tác chiến.

Năm 1972, trên đỉnh Bá Hô, VC tấn công vào cánh B TĐ4 của ông Phó Nguyễn Đăng Hoà, quân ta thiệt hại và Vũ Văn Tuấn được báo cáo là mất tích!

Khi hết chiến tranh “mẹ già lên Bá Hô tìm xương con mình” nhưng bà có biết Bá Hô là nơi mô. Núi đồi nhấp nhô trùng điệp, bà hốt nắm đất Quảng Trị, tin rằng có xương cốt con mình trong đó, rồi nhớ thương con, nắm đất con đã nằm trong quan tài mẹ!

Mẹ già Kình Ngư Hữu Dũng thở dài: “Biết tìm con nơi đâu!”

Kình Ngư Nguyễn Hữu Dũng Đại Đội Tiểu Đoàn 4 cùng đỗng đội tham dự hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào. Hỏa lực của địch tàn khốc quá. Dũng bị tử thương ngày 21/3/1971, mất xác ở một ngọn đồi, mà sau nầy không ai biết ngọn đồi nằm ở toạ độ nào.

Huyền Nga – em gái Dũng viết:

“Thằng Hèn” Tô Hải trong đoàn quân của phía bên kia, đã chứng kiến và khóc lặng trước cái chết của một tiểu đoàn, của một đoàn xe, hàng trăm thây người, xác người lính Quốc Gia, xác lính bộ đội nằm lẩn lộn, chất cao như ngọn đồi, mà chẳng bên nào kịp chôn cất hoặc thắp bó hương cầu cho linh hồn họ được siêu thoát. Chiến tranh thật là tàn nhẫn!

Mẹ già đã khóc rất nhiều vì thương con trai ra đi khi chưa được 22 tuổi đời. Mẹ già đã tìm đến rừng núi Hạ Lào, “Mẹ già lên núi tìm xương con minh ” nhưng rừng núi mênh mông, mắt mờ vì mẹ giả khóc con thì còn biết tìm nơi đâu! Thôi thì đành nhờ vào thần linh, nhờ vào bói toán, nhờ nhà “ngoại cảm” v.v… nhưng không ai tìm ra được nơi nào là ngọn đồi vùi xác con nên mẹ già đành bốc nắm đất mang về.

Hoài Thanh -đồng đội Dũng, thay bạn báo mộng về cho Mẹ Già Bình Thạnh:

Hồn Gọi

Đây nắm xương tàn, đây nắm xương
Nằm trơ vất vưởng ở ven rừng
Qua bao niên tuế, vùi chôn mãi
U uất vong linh chốn tục trần

Bao nắm xương tàn, bao nắm xương
Hồn hoang đêm xuống khóc thảm thương!
Mẹ ở phương trời xa có thấu?
Hồn con thổn thức, bấy thu trường!

Sao mẹ không lên núi tìm con?
Máu xương con hòa đất tha hương
Nhưng hồn con mãi mong về mẹ
Sao mẹ không về núi tìm con?

Đồng đội Dũng khóc thay cho Mẹ Già Bình Thạnh.

Mẹ Ru Hồn

Mẹ đã bao lần lên núi non
Tìm con mù mịt, sức hao mòn,
Đôi chân rời rã, lòng tơi tả,
Nhưng mẹ không tìm đâu thấy con?

Mẹ ở chân trời, xa núi non,
Nhớ con tóc mẹ nhuốm u buồn!
Khóc con mắt mẹ khô dòng lệ!
Mẹ nhớ con nhiều, ôi hỡi con!

Thôi nhé con ngoan ngủ thật nồng
Dù trời giông bão nắng mưa chang
Lời đau mẹ vẫn ru hồn ngủ
Qua mấy Thu tàn, qua mấy Đông./.

☆

Nỗi đau đi nhận xác chồng!
Niềm sầu thương nhớ đi tìm xác chồng.

Chúng tôi xin kết thúc câu chuyện nỗi đau mất chồng của các chị goá phụ TQLC bằng câu chuyện bi thảm hơn, sau khi đã tìm được xác chồng thì người goá phụ lại “đi” theo chồng, để lại sầu thương cho đàn con dại.

“Đi” Theo Xác Chồng.

Tôi đã đọc nhiều lần bài viết
“Hoạ Vô Đơn Chí” của chị Trần Thị Huy Lễ, Trưởng Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC nói về người goá phụ “đi” theo xác chồng. Câu chuyện quá bi thương đậm nét “tâm linh”, khó tin nhưng có thật nên tôi cố đi tìm hiểu, nhưng ít ai biết. Tưởng chuyện đã đi vào quên lãng thì bất ngờ tháng 2/2023, TQLC Nguyễn Kha Lạt từ Dallas chuyển cho tôi bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” và hỏi tôi có biết gì về chuyện này không, các em mong ước được nghe rõ đầu đuôi.

Lời yêu cầu của các đồng đội làm tôi suy nghĩ, chỉ có một người có thể biết đầu đuôi. Nhưng tôi hơi e ngại, vì từ ngày tị nạn CS tại Hoa Kỳ, ông và tôi chưa liên lạc với nhau bao giờ, nay có người thúc dục, giúp tôi thêm can đảm nên tìm cách kiên lạc với ông.

Người đó là Trung Tá Hồ Quang Lịch, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ5/TQLC, đặc lệnh truyền tin của ông là Quang Dũng. Quang Dũng là tên con trai đầu lòng của ông, Quang Dũng luôn quấn quýt bên chú Trần Ba. Trần Ba là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó TĐ.5/TQLC- người Quang Dũng coi như em ruột. Trần Ba mất tích trong trận đánh tháng 4/1972.

Hiện nay (3/2023) Quang Dũng
(Tr/Tá Hồ Quang Lịch) đã 87 hiện định cư tại North Carolina, tôi liên lạc với ông bằng cell-phôn mà cứ tưởng như đang dùng máy truyền tin C25

* * *

– Cần Thơ gọi Quang Dũng nghe không trả lời?

– Quang Dũng nghe Cần Thơ 5/5, có gì nói đi.

Giọng một ông đã 87 mà nghe sang-sảng như lão Ngoan Đồng?

– Anh khoẻ không?

– Khoẻ, nhưng đang chạy chơi với thằng cháu nội – con Quang Dũng nên hơi mệt.

– Ông mà còn được chạy vui chơi với cháu nội, ngoại là một điều hạnh phúc nhất trần đời. Tôi đọc bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” của bà Huy Lễ, xin Quang Dũng cho biết một số tin tức về Thiếu Tá Trần Ba.

– Th/Tá Trần Ba tốt nhiệp Khoá 3 Nha Trang (Đồng Đế), cùng với Th/Tá Đoàn Đức Nghi, nay thì cả hai đã tử trận rồi! Nghi tử trận khi là TĐP/TĐ1, Ba tử trận khi là TĐP/TĐ5 của tôi. Có chuyện gì mà Cần Thơ lại đi cào vào vết thương của tôi?

– Bà Huy Lễ, Trưởng Phòng Xã Hội đã viết bài “Hoạ Vô Đơn Chí”, nội dung bi thảm quá, nhưng nhiều TQLC chưa biết về Th/Tá Trần Ba, xin anh cho biết thêm chi tiết.

Hồi lâu mới nghe Quang Dũng nói:

– Quang Dũng đã đọc bài viết này rồi, nội dung đúng, ngoại trừ một vài chi tiết về thời gian ngày tháng liên quan. Đây là sự thật quá đau lòng nên Quang Dũng giữ im lặng từ đó đến nay, không muốn nói với ai cả, vì mỗi khi nhắc đến, anh đều bị nghẹn họng không nói được, anh cũng không viết ra được, nay Cần Thơ hỏi thì Quang Dũng sẽ nói rõ, có những chi tiết thuộc về tâm linh, tùy lòng tin của mỗi người. Trần Ba không chỉ là cánh tay mặt, mà còn hơn thế nữa, một nửa đời người của Quang Dũng, “niềm đau nhớ đời” nên những gì xảy ra với Trần Ba nó hằn sâu trong đầu anh, nhớ từng chi tiết cho tới chết.

Thì ra Quang Dũng biết là sẽ khó nói, vì suốt trong câu chuyện, Quang Dũng cứ nghẹn lời, có những lúc anh ngừng lại hơi lâu khiến tôi phải “a-lô” thì mới nghe tiếng xụt-xịt. Quang Dũng tiếp tục:

– Trần Ba là một trong những sĩ quan giỏi và can đảm nhất mà anh từng chỉ huy. Trước ngày TĐ.5/TQLC đi hành quân Quảng Trị, sáng 4/4/1972, anh dẫn mấy sĩ quan ra ngã ba Cái Lơn (Dĩ An, Biên Hoà) ăn sáng, gồm có Tiểu Đoàn Phó Trần Ba, các Đại Đội Trưởng Ngô Thành Hữu, Dương Công Phó, Nguyễn Văn Quang v.v.., Ngô Thành Hữu nói nhỏ với anh: “Em có bạn là cảnh sát đi theo, xin Quang Dũng cho nhập tiệc nhá”. Anh nói với Ngô Thành Hữu cứ tự nhiên, “tứ hải giai huynh đệ” mà…

– Alo! Alo! Quang Dũng, stop, stop cho Cần Thơ hỏi.

– Hỏi đi!”

– Thời gian tháng 4/72 cả Sư Đoàn TQLC đang ở tuyến đầu, Huế Quảng Trị, sao ngày 4/4/72 anh vẫn còn ở ngã ba Cái Lơn, Biên Hoà?

– Không phải cả Sư Đoàn, mà chỉ có Lữ Đoàn 147/TQLC và 258/TQLC đang ở tuyến đầu, ngày 2/4/72 Bộ Tỗng Tham Mưu mới điều động Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn và Lữ Đoàn 369 từ Sài Gòn ra Huế. Lữ Đoàn 369 của Đại Tá Phạm Văn Chung gồm có TĐ2 của anh Nguyễn Xuân Phúc, TĐ9 của Đà Lạt Nguyễn Kim Đễ và TĐ5 của Quang Dũng lần lượt được không vận ra Huế. Quang Dũng đi chót nên ngày 5/4 mới đi.

Quang Dũng nói tiếp về bữa ăn sáng:

– Ăn được chừng 10 phút thì anh bạn Cảnh Sát của Hữu xin phép nói đôi lời. Chuyện hơi lạ, hiếm khi trong bàn ăn của đàn Cọp Biển mà có người ngoài dám xen vào lên tiếng trước, Quang Dũng tò mò nên đồng ý ngay.

Anh Cảnh Sát ấp úng thưa:

– Thưa quý anh, vì quá thương mến và kính phục các anh TQLC nên em xin đi theo anh Hữu để được làm quen, không ngờ tới đây, em thấy có chuyện cần thưa, có thể điều em nói làm các anh không vui, nhưng vì em là bạn thân của anh Ngô Thành Hữu.

Thấy anh Cảnh Sát có vẻ lo âu rào đón, Quang Dũng phất tay:

– Bạn cứ nói đại đi.

Anh Cảnh Sát ngó thẳng vào Trần Ba nói:

– Thưa anh, (tức Trần Ba) “thiên cơ bất khả lậu”, nhưng vì em vô cùng quý trọng anh, nên em nghĩ rằng phải nói ra, dù sau này em gặp điều không may. Anh (tức Trần Ba) phải hết sức thận trọng, đề phòng bất trắc, nếu không thì trong vòng 10 ngày tới anh sẽ gặp đại nạn, có thể mất mạng, em báo cho anh biết trước để đề phòng.

Quang Dũng thở dài rồi nói tiếp:

– Sau khi nghe anh Cảnh Sát nói thế, không khí bữa ăn sáng không còn ồn ào, nhưng ai đã là lính đánh giặc thì cũng đôi lần gặp những lời “tiên tri” như thế này rồi, đôi khi sai, đôi khi đúng. Dù sai hay đúng, đã là lính cầm súng ra trận thì không có quyền đề phòng gì cả, mà chỉ việc tuân lệnh cấp chỉ huy, dù nhìn thấy cái chết trước mắt. Chúng ta đã từng chứng kiến trong chiến trận như: Binh Nhất A xung phong vào mục tiêu, chưa tới nơi đã gục ngã, tức thì Hã Sĩ B tiến lên, nhưng vẫn gục ngã giữa đường, trung đội trưởng ngó vào Trung Sĩ C ngoắc tay, thế là C phóng tới, không có đề phòng con mẹ gì cả. Tuy vậy để trấn an thằng em, buổi chiều hôm ấy (4/4/72), vợ chồng Quang Dũng mời vợ chồng Trần Ba qua ăn cơm, nhà hai thằng cùng trong trại gia binh TĐ5/TQLC (cạnh suối Lồ Ồ, Dĩ An), 4 con gái của Trần Ba và thằng Quang Dũng con của anh vẫn vui đùa. Sau một hớp rượu cay, Trần Ba ghé tai anh nói nhỏ:

– Đại Bàng! Em thương vợ em quá, nếu có chuyện gì thì em sẽ đem vợ em theo.

Tôi tưởng nghe lầm, nghe không rõ lời Quang Dũng nên vội ngắt lời:

– Anh Lịch, anh còn nhớ rõ không mà nói thế…

– Mày* không tin lời tao nói phải không? Tao là thằng Hồ Quang Lịch, đã 87 tuổi rồi, mày cũng đã 82, chúng ta có thế quên chuyên hôm qua, nhưng chuyện sống chết mấy chục năm về trước thì nó hằn sâu trong đầu, trong tim, vì đó là những nỗi đau vô cùng tận. Hơn nữa Trần Ba nó đang ở trên cao, đang nghe tao nhắc lại chuyện xưa, chuyện 51 năm về trước, làm sao tao dám phịa chuyện?

* Hình như Quang Dũng phật lòng về câu hỏi của tôi nên anh “mày tao”, điều này chứng tỏ anh nói là thật lòng nên tôi vội vàng xin lỗi:

– Xin lỗi anh, vì lời tâm sự của Trần Ba làm tôi phát hoảng, xin anh nói tiếp.

– Chiều ngày 5/4/72 Tiểu Đoàn tao đáp xuống Phú Bài, GMC chở tiểu đoàn tao về chỗ Cao Bằng LĐ 369 của Đại Tá Chung để hoạt động trong khu vực Mỹ Chánh.

Ngày 6/4/72 một đơn vị Địa Phương Quân bị VC tấn công, ông Cao Bằng lệnh cho tao bảo đưa cánh B đi tiếp viện. Nhớ lời của người cảnh sát, thay vì đưa cánh B của Trần Ba đi tiếp viện theo lệnh Cao Bằng, tao dẫn 3 đại đội đi tiếp viện còn Trần Ba với 1 đại đội ở lại để làm trừ bị. Chuyện tiếp viện chẳng có gì khó, VC bỏ chạy để lại 10 xác. Chắc mày hiểu quyết định của tao đề Trần Ba ở lại làm trừ bị.

Nghe giọng Quang Dũng sôi nổi như đang điều quân rồi muốn chửi thề nên tôi cần giảm “nhiệt độ” của anh xuống bằng cách nhắc lại chuyện của tôi:

– Quang Dũng, tôi hiểu quyết định của anh đầy lý và tình, tôi cũng đã có lần làm như anh. Đại Đội Phó của tôi mới cưới vợ trước khi đi hành quân, Chính than buồn, nên khi nhảy trực thăng vào kinh Cái Thia, tôi sắp xếp cho Chính nhảy sau cùng với trung đội súng nặng, nhưng Chính vẫn lên tuyến đầu và rồi tử trận, để lại mẹ già và..

Quang Dũng ngắt lời khi tôi chưa nói hết câu, anh bảo:

– Sao giống trường hợp của tao: Ngày 7/4/72, tiểu đoàn tao nhận năm ngày tiếp tế để hành quân lục soát. Mờ sáng ngày 8/4/72 xuất phát, cánh A tao tiến chiếm những mục tiêu chính, nặng, còn cánh B của Trần Ba có đại đội của Dương Công Phó và Đỗ Trung Giao tao cho tiến theo các mục tiêu phụ (nhẹ). Nhưng tao luôn nhắc Trần Ba là phải đi thật chậm, nếu cần thì dừng quân lại ngay, không cần ngang hàng với tao.

Khoảng 8 giờ 30, cánh A tao chạm địch, cùng lúc nghe súng nổ bên cánh B, tao luôn nhớ lời anh cảnh sát nói lúc ăn sáng tại ngã ba Cái Lơn nên tao thét Trần Ba dừng lại, kiếm vị trí cố thủ để tao lo điều động cánh A sang giúp nó.

Vài phút sau, tao nghe Trần Ba báo cáo tịch thu được súng cối và đại liên, tao biết tính Trần Ba khi đụng trận nên tao thét bạch văn luôn:

– Trần Ba, tao ra lệnh cho mày dừng quân lại ngay, nghe chưa Ba?

Nhưng rồi tao không nghe Trần Ba trả lời, tao gọi cho Phó, Giao cũng không nghe, mất liên lạc với cánh B! Tao liếc nhìn đồng hồ lúc đó là 8.45 sáng ngày 8/4/1972! Mất liên lạc với cánh B, mất liên lạc với Trần Ba, người tao lạnh toát, cứng đơ, tao kêu trời:

– Chưa tới 10 ngày, mới chỉ có 4 ngày thôi mà! Trần Ba ơi!

Im lặng hồi lâu, Quang Dũng nghẹn lời, tôi biết, tôi thấy anh đang khóc! Tôi cũng đã thét lên khi nghe Th/Uý Quang báo Tr/Uý Chính chết! Tiểu Đoàn Trưởng Đồ Sơn hỏi, tôi khóc không trả lời được nên ông mắng:

– Cậu đừng làm người khác mất tinh thần”. (Hiện nay Đồ Sơn đang ở San Jose, ông còn nhớ chuyện này)

Tôi cần tôn trọng những giọt nước mắt của Quang Dũng đối với Trần Ba, không được phép hỏi thêm bất cứ điều gì lúc này, nên tôi (nói dối) xin phép tạm ngưng “vì còn phải đi đón cháu ngoại”. Nghe tôi phải đi đón cháu ngoại thì anh cũng nói:

– Ừ đi đi, tao cũng đi chơi với cháu nội, nó đang ngó tao khóc, mai gọi lại.

Thiếu Tá Trần Ba “mất tích” lúc 8 giờ 45 phút sáng ngày 8/4/1972 cùng với trung đội đi đầu! Nếu có gọi lại, tôi sẽ không hỏi Quang Dũng bất cứ chi tiết nào liên quan tới trận chiến Th/Tá Trần Ba mất tích, vì anh có giải thích thế nào tôi cũng không hiểu, đơn giản là tôi không ở trong cuộc, và không muốn cào thêm vết thương đau cũ của anh.

Từ tháng 4, tháng 5/1972, và những tháng sau đó, trận chiến khốc liệt liên tiếp xảy ra ở vùng địa đầu giới tuyến Huế, Quảng Trị. Ngoài Sư Đoàn 1 và Sư Đoàn 3BB, thượng cấp còn đưa luôn toàn bộ 2 Sư Đoàn Tổng Trừ Bị là Nhảy Dù và TQLC tham dự, cho tới khi tái chiếm được Quảng Trị ngày 16/9/1 972, xương máu đổ ra, có biết bao quân tử trận, mất tích, bị thương. Trận chiến tiếp diễn ngay cả sau khi có đình chiến ngày 28/1/1973.

Cho nên ngày hôm sau tôi gọi lại Quang Dũng, tôi chỉ cần nghe anh nói về việc tìm ra hài cốt của Th/Tá Trần Ba.

– A-lô, Cần Thơ gọi Quang Dũng!

– Quang Dũng nghe đây, tao chờ chú mày.

– Anh kể vắn tắt cho nghe việc tìm thấy hài cốt anh Trần Ba.

– Mày biết là sau cái ngày gọi là “đình chiến”, TQLC vẫn hành quân “giữ đất”, trong một lần hành quân vào vùng nơi Trấn Ba mất tích, tao nhận được lệnh từ cấp trên cho tạm dừng quân. Tao không thắc mắc dừng quân để làm gì, nhưng tao sực nhớ ra đây là toạ độ, là vùng Trần Ba mất tích nên tao vội cho Thượng Sĩ Thường Vụ tên Đông cùng anh em Đại Đội Chỉ Huy đi lùng sục trong phạm vi dừng quân. Khu vực này đã bị bom đạn cày nát, chỉ còn những bụi cây nhỏ và những bãi cỏ may. Lục tìm bụi cây, bới đất, tới chiều toán của Thượng Sĩ Đông báo cáo tìm được 12 bộ hài cốt, không còn ai nữa. Tao cho lệnh Thượng Sĩ Đông dẫn anh em về vị trí đóng quân. Một lúc sau Đông gọi máy báo cáo không hiểu tại sao Đông cứ bị vấp té hoài, không đứng dậy được, kêu tao lên cứu.

Linh tính cho tao biết có chuyện., tao gọi thầm tên Trần Ba và nói Thượng Sĩ Đông khấn vái xem sao. Thượng Sĩ Đông bèn quỳ gối vái lạy:

– Lạy Đại Bàng Trần Trần Ba, xin Đại Bàng hướng dẫn cho chúng tôi tìm được..

Thượng Sĩ Đông đứng dậy được, đi tới như có lực đẩy sau lưng, đi quanh co một hồi thì Đông trông thấy một vạt cỏ xanh, xanh hơn những chỗ khác, Đông vẹt đám cỏ xanh ra và trông thấy bộ quân phục rằn ri đã mục nát, rồi Đông hốt hoảng báo cho tao: “Tìm thấy rồi, thấy rồi Quang Dũng ơi”.

Toàn thân tao nổi gai ốc, không biết nói thế nào về cảm xúc của tao trong lúc đó. Nhớ thương thằng em cả năm nay rồi, nay tìm thấy hài cốt thì lại đau lòng, em tao chết thật rồi, không còn tia hy vọng mất tích rồi có ngày sẽ trở về!

Dưới vạt cỏ, Đông tìm thấy bộ quân phục TQLC đã mục nát, nhưng trên nắp túi áo có thêu chữ: TRAN BA. Tìm thêm được thẻ bài mang tên TRÂN BA và bộ xương.

Trần Ba đã về với đồng đội và gia đình vào tháng 4/1973 sau 1 năm “mất tích”.

Tối hôm đó, Quang Dũng cho rửa sạch hài cốt, cho binh sĩ thay nhau đứng gác bên hài cốt suốt đêm, sáng hôm sau tao xin phương tiện đưa hài cốt Trần Ba về Saigon, đồng thời lệnh hậu cứ biệt phái 1 xe Jeep cho chị Trần Ba dùng tới khi nào không cần nữa.

☆

Hoạ Vô Đơn Chí

Hậu cứ TĐ 5 báo cáo cho tao tin tức hằng ngày, và đúng như bà Huy Lễ đã viết. Hậu cứ sắp xếp quàn hài cốt Trần Ba tại chùa thì chị Trần Ba xin quàn tại nhà và chôn tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà, thay vì nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

Đại Tá LĐQ, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn đã đến tư gia viếng hài cốt, truy thăng Cố Trung Tá và gắn Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc cho Thiếu Tá Trần Ba.

Tài xế hậu cứ lái xe Jeep đưa chị Trần Ba, bố và em trai Trần Ba là Trần Lành đến nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà để lo việc xây kim tĩnh cho Cố Trung Tá Trần Ba.

Khi gần đến nghĩa trang, một xe GMC của Mỹ đi từ Biên Hoà về hướng Saigon, bất ngờ lạc tay lái, bay qua đường ngăn đôi xa lộ, đâm trực diện vào xe Jeep!

Hậu quả là Bố và chị Trần Ba tử nạn tại chỗ, tài xế và Trần Lành bị thương nặng. Quang Dũng nghẹn lời, dù anh biết như thế nhưng vẫn tự đặt câu hỏi:

– Có phải Trần Ba đã về đón vợ đi theo như đã nói trong bữa cơm chiều tại nhà Quang Dũng ngày 4/4/1972 không?

Im lặng.

Dù độc giả cũng như tôi còn muốn biết thêm nhiều chi tiết khác liên quan tới trận chiến cuối cùng của “Người Hùng Trần Ba”, nhưng sau khi nghe Quang Dũng tự đặt câu hỏi như trên thì độc giả và tôi không nên hỏi thêm bất cứ chi tiết nào khác nữa, ngoài những chi tiết mà Quang Dũng đã bộc lộ sau hơn 50 năm chôn chặt trong long.

Tôi hỏi câu chót:

– Hiện nay anh có liên lạc được với các con của Cố Trung Tá Trần Ba không?

– Hiện nay tao còn liên lạc được với một trong bốn cháu gái con Trần Ba, cháu này ở Maryland, ba cháu kia vẫn còn ở Việt Nam./.

Đồi Bắc, K19/TVBQGVN
CA 29/11/2023
(nguồn: Đa Hiệu số 127/tháng 1-2024)

Một chuyến ra khơi

baovecovang2012.wordpress.com

Nguyễn Tấn Hưng

Posted on January 26, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 25 Apr 2024

Những Ngày…

Tôi đánh thót bụng một cái, chiếc C130 lao vào không gian nặng nề. Tôi nhìn lại mọi người trong tàu, những người đã cùng tôi sốt ruột trong khi chờ đợi chuyến bay. Một trăm hành khách, mười lăm Mỹ, mười lăm Đại Hàn, còn bảy mươi là Việt Nam. Sĩ quan cũng như lính ngồi bẹp xuống sàn nhôm thành hàng. Những “‘sac marin, Air France, Boeing International” bỗng nhiên thành ghế dựa. Ánh sáng chui vào lỗ kính tròn yếu ớt. Trên trần vải nylon những đường dây điện chằng chịt. Ống thả hơi lạnh tuôn không ngớt những làn sương trắng, không làm giảm nhiệt độ trong người. Mồ hôi nhỏ giọt. Người đàn bà thả hai chân gác lên thành vali vạch vú cho con bú. Bên cạnh, người lính có lẽ là chồng mở mắt nhìn đứa con còn đỏ hỏn. Người lính Mỹ giữ sàn sau đẩy lệch cái téléphone mang vòng ngang đầu, đưa điếu thuốc vào miệng, châm lửa. Mọi người im lặng. Tiếng động cơ rì rầm ru ngủ…

*

– Chết cha, anh Tân chết rồi Sáu ơi.

Tôi vừa lẩm nhẩm đọc cái điện tín vừa cởi bỏ bộ đồ Thái Cực Đạo. Sáu tần ngần và tôi cũng ngẩn ngơ. Một người bạn thiết, một người anh. Những dòng chữ thật gọn: “Anh Tư chết tại Sa Đéc, Nguyễn thị Anh”.

– Mày xin phép về coi, sao kỳ cục vây..

Tôi vụt nhớ đến lời của thiếu tá giám đốc quân huấn: “Lúc này các anh đi phép hơi nhiều. Chỗ nào mà không bom đạn, nhà tôi cũng trong vùng chiến tranh mà tôi có về đâu”.

– Mày chớ tao, không cho phép tao cũng trốn về.

Cho đến lúc cầm giấy phép trên tay tôi vẫn còn phân vân. Ngày thi mãn khóa đã gần mình mất bài vở và lắm ngày tù tội còn ghi trong sổ phạt. Liệu mình có được như bạn bè. Không lẽ anh Tân chết thật? Mà chị Anh đánh điện tín thì bao giờ lại sai chạy. Tôi còn hi vọng, dù chỉ còn một phần ngàn đi nữa, tôi vẫn muốn anh Tân còn sống, ảnh sẽ đón tôi ở cổng nhà và nhìn tôi cười ha hả. Một đám cuới hay một bữa tiệc bù cho cái điện tín giả. Suốt cả ngày qua tôi mệt mỏi. Bài thiên văn hàng hải tôi có nghe đưọc chữ nào suốt hai giờ trong giảng đường. Từ bộ chỉ huy Vùng Hai Duyên Hải đến bộ chỉ huy 5 Tiếp Vận, từ đại úy Hảo đến người hạ sĩ, từ ụ cát có ổ súng trung liên đến ngưòi bộ binh cầm súng chào, từ HQ 07 đến US Navy, từ emergency đến leave… chạy loạn cả lên trong đầu óc, trong bước chân, trong những chuyên xe quá giang… Rồi trạm tiếp liên nhớp nhúa…

– John Smith.

– Hia.

– Clark.

– Hua.

… Rồi một tràng tiếng Đại Hàn trong máy phóng thanh. Tất cả đều nhốn nháo. Snack-bar bị đại đội Biệt Động Quân về Pleiku giành nhau mua nước ngọt, bánh mì. Nguời trung sĩ quân cảnh xô bọn lính ra xa và đóng rầm cánh cửa sổ:

– Các anh xếp thành hàng hai nghe rõ chưa.

– Trưởng toán hướng dẫn Biệt Động Quân yêu cầu gặp phòng điều hành có việc cần.

– Hành khách đi Sài Gòn nghe đọc tên lên tàu…

Ánh nắng chiều chiếu xéo vào khung của in một vệt cắt trên nền xi măng. Trời bốc lửa…

– Thiếu úy đi phép?

– Vâng, anh ở bờ hay chiến hạm?

– Dạ, tôi ở Đà Nẵng, đổi về Sài Gòn. Tới Nha Trang buồn quá tôi tắm biển hai ngày. Hôm qua chờ ở đây trọn một ngày, mấy chiếc cất cánh rồi đáp trở lại, bữa nay là bốn ngày trễ phép. Thiếu úy ở Vùng Hai?

– Không, tôi ở Trung Tâm.

– Thiếu úy có tên chưa?

– Chắc chuyến tới.

– Đến chiều lận, tôi cũng vậy, mình thuộc thành phần stand-by đi ké tụi Mỹ, mệt lắm.

– Vậy hả, anh đi thuờng không?

– Nhiều lần rồi…

Hình minh họa / Nguồn: Google

Người lính Mỹ lục đục kéo cánh cửa sổ cong lên trần. Gió tạt vào phần phật, tiếng động cơ nổ dòn hơn. Đôi người bò lại gần, nhìn xuống đất. Một vài người lính vừa chợt tỉnh, ngơ ngác đưa mắt quan sát vòng quanh rồi buông mình nằm trở lại. Tôi tiếp tục dựa đầu vào lưng thằng Mỹ, cái lưng dài và cong…

Trời Sài Gòn đầy bụi, một lớp đỏ bám trên áo và kính mát. Những con đường thành phố, những khoảng đất trông xen kẽ với những căn nhà lỗ chỗ đạn bom. Nước mưa kẻ những đường to, những vết cháy, thành lem luốc. Tôi ghé lại nhà. Chị về quê và anh cấm trại. Dưới sàn gạch, những đứa nhỏ xa lạ nằm lăn ra ngủ. Một bà già tóc bạc hết nửa nhìn tôi ngần ngại.

– Tôi lãng tai, cậu nói lớn mới nghe được.

– Cháu là em vợ anh Khai.

– Vậy hả. Nhà tôi ở khu Bình Tiên cháy rồi tản cư ra đây. Bây giờ đi Nha Trang hả?

– Không, ở ngoải mới về, bây giờ đi về nhà dưới tỉnh.

Tôi thay đồ, ra nhà sau múc vội vài lon nước xối lên người cho đỡ nóng, dở garde-manger xới một dĩa cơm, chút thịt kho tàu và mấy cọng cải ngâm dấm ăn qua loa. Tôi mặc đồ civil và xếp lại mấy giấy tờ cần thiết. Tôi tạt qua nhà Thu.

– Trời ơi, làm sao anh về được. Anh có hay tin gì ở nhà chưa?

– Rồi.

– Anh Tư chết, đụng trận.

– Chết thiệt hả?

– Trời, thiệt chứ sao.

Tôi cảm thấy buồn và khuôn mặt người yêu trở nên đáng ghét. Một chút hi vọng đã tiêu tan. Tôi tưởng tượng đến nấm mộ và những vòng khăn tang. Thật như vậy rồi.

– Ngày mai nghỉ học, em xuống thăm.

– Thôi, mất công lắm, anh về thăm mộ một chút rồi anh đi liền, bữa nay chắc đã chôn cất.

– Mở cửa mả hôm qua.

Tôi đứng đậy kiếu từ. Thu đưa tôi ra cổng… Nắng đã tắt, bến xe đò vắng, bến xe lô cũng vắng. Đường đi chắc còn kẹt, tôi đi lần về phía chợ định ngủ nhờ. Tôi không hiểu tôi đang nghĩ gì, buồn quá phải không. Như thế này là đau khổ? Thật tình tôi không muốn về. Hai anh em trai chết đi một, liệu ba má tôi nghĩ làm sao khi gặp lại tôi, người con từ phương xa trở về thăm cái chết của anh. Tôi nghĩ đến ngôi nhà, tôi nghĩ đến đám tang, bàn thờ và những nén hương. Tôi đi trong hoàng hôn và những bước chân không chủ ý.

– Gì mà chạy hớt ha, hớt hải vậy cha nội!

– Pháo kích.

– Nghe xa mà.

– Người ta chạy tán loạn kia kìa, không thấy sao…

– Bậy, cảnh sát rượt thằng nhỏ móc túi, pháo kích đâu mà ở chợ búa…

Tôi rẽ vào ngõ hẹp, nhà cất san sát chênh vênh. Những căn gác, những sợi kẽm giăng phơi đồ, những thùng tôn-nô chứa nước… Một ngày đường mình đã đi tới đâu?

*

Tôi đốt ba nén hương cắm vào lư. Mùi hoa huệ phảng phất. Tôi nhìn khung hình, vòng hoa cườm có chữ “Thành Thật Phân Ưu” Trong đĩa mica còn đựng cái huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, cái bông mai bằng thau còn mới tinh và chữ Trung Đoàn 15. Hưởng dương nhị thập thất tuế. Phục vị vọng Nguyễn văn Tân hiển linh chánh vị thần chủ. Tử ư sơ bát nhật ngũ ngoạt mậu thân niên. Tôi chớp mắt, giữ lại những giọt nước mắt trong rèm mi, chực lăn xuống má. Tôi đứng như vậy thật lâu, nghĩ rằng linh hồn anh hãy về chứng chiếu cho em…

Hình minh họa / Nguồn: Google

– Đạn AR 15 đi từ trán trở ra sau ót.

– Việt Cộng làm gì có AR.

– Sao lại không.

– Chết hồi nào đâu, bị thương nặng đưa về Cần Thơ mà.

– Mày nói, chính tao bồng ổng lên phi cơ, môi mấp máy như muốn trối điều gì, mười phút sau thì chết, máu trào ra miệng…

– Số quân 63A sáu trăm ba chục ngàn thì đúng là của ổng rồi.

– Bảy người chết, có ổng là sĩ quan thôi. Cái hòm cao lớn đó. Còn nhận được cây đàn, cái radio, đồng hồ…

– Bà đừng đốt nhang khóc lóc nhiều quá, mấy cái hòm kia bung nắp thì nguy…

– Mười ngàn mướn xe đưa ảnh từ bển về đó chú.

– Về tới nhà má biểu gỡ lá cờ, huy chương đem cất liền.

– Mấy thằng Việt Cộng hay được chận đường không cho người ta đi thăm.

– Họ cũng trốn đi, mấy người thợ làm cho ba mình ngoài xóm.

– Má thì sợ…

– Tủi lắm em ơi, người ta nói là chết bắn không cho đem vô nhà, để mái hiên hay nhà cầu. Chị nói mãi ba mới cho đem đặt ở nhà trên. Bàn thờ chị mới cho kê chứ ba má để trống trơn.

– Đem về tới nhà ba giờ chiều, mười giờ sáng hôm sau thì chôn, không có lễ nhạc, buồn lắm, bảy tám người khiêng thụt ra xe lam chở lên huyệt, chị Tư mày với cháu Thanh ngồi theo.

– Bây giờ yên mồ yên mả rồi chị cũng mừng cho nó. Ba má buồn rồi chẳng ai lo. Ba cứ nằm trong buồng thỉnh thoảng khóc thét lên: “Con ơi, anh con không còn, ba cũng… không còn”. Ba nhắc tên em.

Ban đêm tôi về quận không dám ở nhà. Dân cư chạy loạn ở đến ba bốn chục người tối nào cũng xem ti-vi náo động. Tôi không làm sao ngủ được. Cái chết của một sĩ quan uất hận đến thế sao! Tôi nghĩ đến những thằng du kích có lẽ là những thằng đã từng đá banh ngoài ruộng với anh Tân và tôi hồi nhỏ. Tôi nghĩ đến những thằng lính đồn, những thằng địa phương cùng học với tôi hồi tiểu học. Bọn nó còn giằ đình, tụi nó, một theo lính một theo cộng sản cho ba má được sống yên ổn. Chỉ có chúng tôi xa nhà từ bỏ bỏ làng ra đi. Bây giờ ngày chết trở về mọi người bỏ rơi chăng ? Có ai mà nói lý tưởng ở những miền quê thâm sâu này. Ban ngày, tôi về, những người khách đến chia buồn ai mà tôi không quen, những người đã có con chết vì mặt trận, chết vì quốc gia. Những vùng giao tiếp như vầy người dân phải chịu khổ hai mặt. Họ hỏi thăm bây giờ tôi đóng ở đâu. Tôi muốn nói tôi ở một đơn vị tác chiến hơn là ở quân trường. Tôi muốn bây giờ tôi là một chiến sĩ thực sự đang cầm súng chiến đấu. Bọn lính giữ đồn nhìn tôi trong bộ quân phục xa lạ. Những con mắt quan sát dòm ngó nhưng tôi cũng hiểu “cọp nào rừng nấy”, tôi chỉ là con số không của chiến trận trên vùng đất quê hương tôi.

– Ảnh đã lãnh lương chuẩn úy chưa? – Chưa nữa đó, còn lãnh trung sĩ, tháng này định lãnh rappelle xong, mua xe honda để những ngày về hậu cứ ảnh đi về nhà cho tiện, chưa mua xong thì ảnh đã chết rồi. Mới tuần trước đây ảnh dù về nói là đau bao tử, thấy khoai lang củ nho nhỏ thèm không đám ăn. Ảnh cũng định xin về bịnh viện Dã Chiến 3 nằm nghỉ, nhưng hồi ảnh về bên ấy buồn vui gì đó với đơn vị trưởng nên cũng đi hành quân sau khi ở xong mấy ngày tù. Đi trận rồi ảnh chết luôn. Trước đó ảnh bị thương nhẹ ở tay. Phải chi nó cụt chở về nằm bệnh viện thì đâu có chết. Ảnh còn xui tháng năm này, nếu qua khỏi thì không còn gì nữa. Tôi nói ảnh lo về văn phòng đi, tiếc mấy chục ngàn rồi thì chết mà ảnh không chịu. Bây giờ không còn thấy mặt, con Thanh như vầy mà đã mất cha rồi…

Hình minh họa / Nguồn: Google

Tôi ở lại ba ngày, đến cúng cửu. Thật trống vắng. Trưa nào tôi cũng ra ngoài quận uống bia. Tôi bắt chước má tôi, mỗi bữa ăn để sẵn chén cơm đôi đũa, Tân về ăn cơm con, và tôi nghĩ như có anh ngồi đối diện. Tôi nhớ những lần hai đứa gặp nhau vội vã, khi cả hai cùng khoác áo chiến. Tôi đi trước, anh đi sau, anh chết trước và tôi sẽ chết sau, chúng ta là những lượn sóng vỗ bờ. Tôi bỗng nhiên căm thù cộng sản. Tôi nguyện trả thù. Tôi sẽ bắn vào đầu Việt Cộng. Ngày đi ba má tôi dặn dò đủ điều. Bây giờ còn lại mình con, con rán giữ gìn. Tôi ghé lại mộ anh. Tôi chào anh lần cuối. Tôi chào lần đầu tiên với một ý nghĩ vị quốc. Tôi không hiểu linh hồn anh đang đi lên thiên đường hay xuống địa ngục.

*

Tôi trở lại quân trường và đêm nay mưa nhiều quá. Tôi thu mình trong chăn ấm cô đơn. Từ lâu, lúc anh Tân còn sống, tôi vui cho tôi bằng những mối tình, rượu chè cờ bạc. Những gì gọi là bổn phận tôi đổ dồn về anh. Anh càng lo gia đình, tôi càng tiêu pha…

– Như vậy là nó tròn chữ hiếu với tao và má mày. Không hiểu với lương trung sĩ mà mỗi tháng nó gửi tiền về nhà thì làm sao mà xài. Ba nghĩ lại ba còn khổ thêm.

Tôi cầm tiền mà má đưa cho tôi trang trải nợ nần mà không còn biết nghĩ thế nào. Thư anh cho tôi:

“… còn mày thì sao. Bao giờ ra trường, có được xuất ngoại tu nghiệp không, chắc không chớ gì. Tù nhiều quá làm sao đi được. Dịp may trong đời mày mà mày không muốn thì tao không biết mày nghĩ thế nào. Tao tiếc cho mày lắm đó. Ít hàng cho mày. Tao nói với mày như vậy, mày có buồn tao thì buồn…

Anh mày “.

Vâng, có lẽ tôi đã đánh mất dịp may trong đời tôi rồi chăng? Ở đây tôi mưu đồ cái gì, ngoài cái lon thiếu úy chớ. Tôi đã mang vào đời tôi một ý nghĩ đen tối lắm không? Okinawa và đệ thất hạm đội! Cuộc đời tôi phải chăng được quyết định không do chính tôi mà đo một nhóm người nào. Tôi bỗng nhớ anh Tân nhiều quá. Lúc nào chỉ hai đứa thôi còn đi học, một viên gạch ném trúng vào đầu tôi, máu chảy, vì thau chén ăn năm bảy ngày còn ngâm. Một mâm cháo nóng hất trọn vào người tôi vì tôi nói anh khờ với bạn bè. Ngày nào tôi vác cây củi rượt anh băng qua cây cầu dừa để lấy lại chùm mận ngon. Ngày nào tôi với anh ngồi bên lộ đá câu cá rô về làm cơm…

– Mày chiên trứng kiến nhiều sáp quá, mồi móc thả xuống nước không chìm. Mai tao làm cho mày coi.

Và tôi nhớ dáng người lom khom đi tìm tôi trong đêm diễn hành lễ Quốc Khánh 67. Mình cùng đi cho đất nước thanh bình, mình cùng đi cho đời trai… Tôi bỗng gọi tên anh, gọi tên anh thì thầm… Tôi ngửa mắt nhìn bóng đêm. Những giọt lệ lăn dài xuống thái dương.

Những ngày… phép đặc ân đã qua và nửa đời còn lại anh đành cho tôi. Tôi sẽ làm gì cho ba má tôi, cho các em tôi. Tôi sẽ biên thư về cho gia đình, cho Thu, cho Hồng, và những bức thư cuối cùng của tôi mà anh không bao giờ đọc. “Hoàn lại nơi gửi, vì đương sự đã tử trận”. Tám trang giấy học trò tôi đã viết gì trong hai giờ Hải Pháo. Sao bỗng nhiên tôi viết lại tên tám anh chị em tôi. Sao tôi viết tên anh những hai lần để đọc lại tôi phải gạch bỏ đi một nửa. Phải chăng anh đã mang đến cho tôi một điềm lạ cũng như anh báo mộng mọi người với khuôn mặt máu me.

Một chuyến ra khơi

baovecovang2012.wordpress.com

Nguyễn Tấn Hưng

Posted on January 26, 2022 by Lê Thy

Post by Sơn râu 25 Apr 2024

Thành phố và quân trường

Đệ Nhị Bắc Giải là khoá đàn anh. Huy nghĩ mình còn nhiều vòng kiềm tỏa. Kỷ luật là những bất công đều trút lên đầu khoá đàn em. Thông lệ tất cả mọi quân trường. Bây giờ biết khổ thì đã muộn rồi. Huy không thể sống hoàn toàn cho mình mà là sống phần lớn vì mọi người, sống để làm đẹp mắt và làm vừa lòng một viên thượng sĩ, một ông đại úy! Ngẫm nghĩ lại quân đội là một tổ chức đàn áp có hệ thống thì không phải là không đúng lắm. Biết thế Huy yên phận và cố tạo sự “thoải-mái-đáng-yêu” mỗi khi có dịp. Huy không còn biết trách mình hay trách ai. Hình như chính vì vậy mà Huy buông xuôi, buông xuôi trong sự học tập cũng như buông xuôi trong sự vuốt ve âu yếm. Hình như tất cả đều giả tạo, giả tạo ngay cả lời nói hùng hồn của bài diễn văn đón tiếp Huy, khi Huy vừa đặt chân vào cổng quân trường. Những con nai tơ chợt thấy sợ sệt trong khu rừng bao la huyền bí. Những khuôn mặt, những galon sáng ngời bỗng nhiên là thần tượng. Huy đã thay đổi và thay đổi thật nhiều ngay từ lúc giã từ bạn bè. Giờ, Huy là lính.

*

Một vòng Độc Lập–Trần Quí Cáp, toán tuần kỷ đã làm xong bổn phận. Huy xin phép niên trưởng đi ăn sáng và bắt đầu cuộc hành trình. Cũng như mọi khi, hơn ba tháng nay Huy vẫn lang thang như thế. Bao nhiêu bà con thân thuộc, chung vào một cái làng xa xôi miền Nam. Huy cô độc nơi xứ lạ quê người. Huy nghĩ tại sao chú bác cô dì của mình không phải là một người ở Pháp, ở Huế, ở Nhật… để có dịp mình đến thì có nơi ăn chốn ở. Và ý nghĩ thế hệ Huy là khởi điểm, là nền tảng cho đàn con cháu mai sau gây cho Huy một niềm tin “vượt thắng”. Những con đường quen thuộc, những quán giải khát quen thuộc là những nơi tạm nghỉ khi mỏi chân. Lắm khi Huy thấy “đi bờ”, đi phố theo nghĩa hải quân, là một cực hình. Nhưng không thể nào nằm trong trại đọc sách hay tán gẫu được. Dù sao không khí bụi đường cũng hấp dẫn hơn không khí trong vòng rào kẽm gai. Huy định ghé thăm mấy cô bạn gái có cái sắc diện mà bọn con trai phải bỏ ra bạc ngàn để lấy lòng nhưng thôi. Huy thấy nản lắm nếu phải tiếp tục chuỗi ngày vô vị.

Huy thấy mình nhút nhát thật nhưng ít ra còn giữ được cái gì “đứng-đắn-phương-pháp”. Ở thành phố buông bắt này không là môi trường để Huy lấy làm giang sơn. Không còn gì đế bám víu.

*

Từ nhà ông Quan giặt ủi, Huy thả lần xuống bến xe sau một giấc trưa đầy đủ. Trời đổ chiều, nắng gai gắt. Phen này có tù tội thì cũng là việc trời sắp đặt. Nghĩ vậy, Huy vào Nhã Khánh. Lúc nào cũng đông nghẹt, không còn bàn trống. Huy lại ngồi đối diện với một giai nhân mà Huy thấy là đẹp nhất, không son phấn, vẻ nữ sinh. Lâu lắm Huy mới bắt chuyện:

– Cô đi một mình hay đang chờ đợi ai?

Cô ta lắc đầu:

– Ai đâu, việc gì phải chờ đợi ở đây.

Một ý nghĩ về cô gái thoáng qua trong óc, qua giọng nói trong trẻo, làn môi xinh xinh. Huy lại hỏi:

– Xin lỗi, cô có thể cho tôi mượn xem bản nhạc. Chắc cô hát hay lắm ?

– Không, tôi mới tập.

Những dòng chữ viết tặng thật trìu mến. Huy mỉm cười… Huy trả tiền nước mặc dù cô gái từ chối đôi ba lần và cả hai đi về phía chợ, công viên Đào Phi Yến. Trời xuống Dần. Câu chuyện đến phần “đổ vỡ” vì Huy vẫn tự hào trong màu áo hải quân, trong khi cô ta vẫn ca tụng hai người anh họ không quân đang theo học bên Mỹ. Con trai vẫn thích chọc tức người đẹp vừa phải để nghe những lời gay gắt đầy vẻ yêu thương, cũng như người con gái mến cái vẻ cục mịch trong lời nói của người khác phái, Huy nghĩ vậy.

Chiều đi. Từng chiếc lá bàng rơi là đà mặt cỏ.

– Xin phép ông tôi về. Tôi nói với ba me xuống phố vài tiếng đồng hồ mà bây giờ trời hẳn tối.

Huy chợt nhớ:

Hình minh họa / Nguồn: Google

– Cô tên gì nhỉ?

– Ông cứ gọi tôi là Uyên Trang.

– Bao giờ tôi có thể gặp lại cô?

– Thứ bảy tuần sau.

Huy tính nhẩm ngày đi bờ:

– Được rồi, chúc Trang vui vẻ.

– Nhớ kỹ nhé, ở đây, sáu giờ rưỡi.

Huy về trại.

*

Căn nhà mướn chung với các bạn trong xóm Phường Củi giúp Huy đỡ ngột ngạt mỗi khi đi ra phố. Không hiểu tụi bạn làm cách gì để tiêu pha cho hết những ngày cuối tuần. Thành phố muôn màu, dancing, hotel, nào danh lam thắng cảnh, nào bãi cát nên thơ nhưng quá chán. Lắm khi đi bờ Huy chỉ vì việc xem ciné hay mua vài món vặt. Cho đến trưa này Huy chưa biết về đâu vì chìa khóa nhà Huy đã đánh rơi mất tiêu từ ban sáng. Huy đánh bạo trở lại nhà Cúc lần nữa nơi mà mỗi khi ghé Huy không dám ngồi đến năm phút. Nửa chừng đường Huy chợt thấy tấm bảng “làm chìa khóa”. À, đây là dịp may, vừa có chỗ nghỉ chân vừa tiện việc. Huy lấy thuốc ra hút, phân vân với giá một trăm đồng một chìa, tại vì ông thợ sẽ đi tới nhà với mình… Rồi một cặp mắt trong khung cửa sổ nhà bên nhìn Huy không chớp. Nhưng Huy không thèm để ý, Huy đang nghĩ, đang thèm được tắm và ngủ một giấc ngủ trẻ thơ. Một căn nhà nhỏ, xung quanh có tàng cây bóng mát.

– Anh Huy.

Huy giật mình, nheo mắt, không có lẽ đây là Uyên Trang mà hơn hai tháng trời một cú hẹn bất chợt chưa phai. Huy nửa mừng nửa giận, nhưng cái dáng dấp mảnh mai, cái mái tóc búp bê và làn da hồng mịn trước mặt đã làm Huy sung sướng, đã làm Huy vừa lòng sau nhiều ngày ấp ủ nhớ mong. Huy chào ông thợ và bước sang nhà. Trang mời Huy uống trà trong vẻ ngập ngừng.

– Ba má cô có ở nhà không?

– Thưa, đi vắng.

– Cô ở đây mà tôi tìm mãi không gặp.

– Anh có biết địa chỉ đâu, kể cũng lạ, không hiểu ngọn gió nào đưa anh tới. À, mà sao hôm đó anh không đến?

– Cô còn phải hỏi, nếu tôi không chờ cả giờ, cả tôi và một anh bạn…

Huy lau mấy giọt nước còn đọng trên mi tóc rồi thả mình trên lớp nệm. Một ngàn đồng một tháng cũng đáng đồng tiền, thời buổi này gạo châu củi quế không dễ gì tìm được cái nhà trọ như vầy. Huy nghĩ đến sự tình cờ, dun rủi gặp lại người mà Huy thấy thương mến ngay từ phút ban đầu. Huy muốn ngủ thật say mà đầu óc mãi vẫn vơ.

* Hơn ba tuần nay Huy bị phạt liên miên, trọng cấm, khinh cấm, khổ dịch và nhất là cấm trại dài hạn. Chung qui chỉ vì việc đi bờ. Trong khám tối, Huy không nghĩ nhiều đến hình phạt mà nghĩ còn ai có thể hiểu mình. Ngoài kia tiếng ồn ào, tiếng cười hét vang rân. Cuộc sống tập thể bề ngoài lúc nào cũng vui vẻ nhưng mỗi khi nghĩ đến niềm riêng hay những lúc đêm về có sống với riêng mình mới thắm thía nỗi cô đơn. Nhiều đêm Huy thao thức không hẳn vì người yêu mà vì một cảm xúc nào trong nỗi xa gia đình. Một hình ảnh nhỏ nhặt cũng đủ lôi mình vào lối mộng. Huy nhớ nhà, nhớ những món ăn gia đình, trái đậu bắp dầm tương mà hai năm thụ huấn nơi này Huy sẽ không bao giờ tìm gặp. Trong ánh lửa bập bùng, những khuôn mặt đăm chiêu, đang đêm khuấy hồ dán tủ thanh tra, làm Huy nhớ nhiều đến những đứa bạn lạc loài cùng sống vui sống khổ của một thời thơ ấu. Bây giờ mỗi đứa mỗi ngả. Hơn tám tháng quân trường, Huy đã nhận hai cái điện tín báo tin về những cái chết vì chiến trận. Cái giấy phép đặc ân còn ghi rõ ràng “Không thuận vì sự việc đã rồi”, Huy còn giữ làm kỷ niệm. Bây giờ Huy thấy nhớ Phương, nhớ giọng ca Uyên Trang, mỗi chiều thứ ba trên làn sóng địa phương. Những cuộc hẹn hò, những lần ciné, bát phố, những lần picnic âm thầm như hiện ra trong khói thuốc, trong ánh sáng tranh tối của phòng giam… 

Hình minh họa / Nguồn: Google

“Phuơng em, anh không muốn em vào thăm anh trong lúc này. Dù sao, nhũng ngày xa cách đủ để cho mình hiểu trọn hai chữ yêu thương… Anh muốn thì thầm cho em vừa đủ nghe, anh nhớ em hơn những gì anh viết ra đây…” “Em đang nghĩ đến tương lai của chúng mình. Những gì anh hứa với em, em không mong gì hơn. Em không yêu anh vì cái lon Thiếu úy. Em yêu anh vì lẽ sống… Một tiếng nói của em cũng đến vạn người cầu xin. Nhưng, anh, vài hàng anh rõ nỗi lòng người con gái đã thầm yêu…”

Chúa nhật, mười giờ hơn. Hôm nay Huy làm thượng khách. Một hân hạnh cho chàng. Từ lúc quen nhau Huy đã lại thăm Phương nhiều lần nhưng chưa bao giờ gặp ba má Phương. Hai thằng em trai nhỏ mến Huy theo chị nó, để đòi quà.

– Anh thay đồ ngồi chơi để em xuống làm bếp giúp má.

Huy nhìn Phương trìu mến…

Huy nhớ lại đêm qua, nhớ màu áo đỏ thắm, nhớ bản nhạc “… chiều nay ra khơi, thoáng thấy mắt em nhuốm buồn, đời anh là gió sương…” mà Phuơng trình diễn ở Hội Truờng. Không để yên được, Huy chui tọt vào trong hậu trường. Bộ đồ treillis ba tuần nằm suơng chưa giặt. Huy lặng lẽ ngồi cạnh Phương – cạnh Uyên Trang, thì thầm:

– Mấy tên đó trong ban nhạc đó hở?

– Vâng, anh ghen không, nghề nghiệp.

– Có gì, có điều là tóc tai nên cắt ngắn còn hai phân chứ không nên để u sù như vậy, rệp chết.

– Anh chỉ được cái nói giỡn.

– Này nhé, anh vừa đi tuần mấy vọng canh, tạt ngang qua đây gặp lúc em đang nhận quà tặng của chỉ huy trưởng có vẻ trịnh trọng lắm. +

– Anh quỉ, nguời ta run thấy mồ mà còn kêu.

– Lúc đó ổng có nói gì không?

– Có.

– Sao?

– Khi em nói cám on, ổng nói bộ tôi già lắm hay sao hả mà kêu bằng ông.

– Hèn chi anh thấy em cười có vẻ tình lắm.

Huy bị cái tát tai nên thân, Phương hỏi:

– À, ông ấy cấp bậc gì anh nhỉ?

– Suỵt, chết đó, đừng có hỏi kỹ.

– Thôi anh đi đi, ở đây kỳ lắm. Sáng mai lại nhà ăn cơm nhe, em có chuyện nói.

Huy phân vân:

– Nếu anh không bị gạch tên trong giấy đi bờ…

Mâm cơm dọn xong xuôi, tất cả ngồi vào bàn:

Phương nói:

– Má xơi cơm, anh Huy xơi cơm.

Huy ngạc nhiên:

– Em nói gì vậy?

– Ăn cơm người ta phải mời, anh không mời em không ăn đâu.

– Trong Nam anh hô “ăn cơm bây” mà chậm chậm đã mất phần rồi nói gì đợi mời. Bác xơi cơm, Phương xơi cơm,hai em Hoàng, Dũng xơi cơm.

Phương cười:

– Mời gì kỳ vậy, mời người lớn hơn mình thôi.

Hình minh họa / Nguồn: Google

Huy cũng cười, tiếp:

– Dạ thưa bác, còn bác trai đâu?

Má Phương gắp bỏ vào chén Huy cái đùi gà, hối hả:

– Ổng chiều mới về, cậu ăn thật tình xem như ở nhà, tôi bận đi ngay, tôi ăn trước. Phương, xong rồi dọn nghe con.

– Dạ.

Huy biết rành là ông bị cảnh sát bắt giữ ban nãy vì hút thuốc phiện, thằng bé chạy vào báo tin có vẻ khẩn khoản và bí mật. Huy cố nuốt trôi miếng gà giống hệt món gà xào trong trường mà Huy nhiều lần chán bỏ ghét.

*

Bal Đệ Nhị Bắc Giải mãn khóa, Đệ Nhị Hải Sư lên năm thứ hai. Huy có vẻ luộm thuộm khi sửa lại dây vàng, écuisson, cặp lon. Huy ngồi nơi trạm chờ hai giờ hơn. Mưa càng lúc càng to. Từng đám những chiếc áo mưa lướt qua cổng trường, từng chuyến xe lam dừng lại. Bal ngoài trời trở thành bal trong phòng ăn. Trên đường đi, nước mưa đọng vũng, kêu sột soạt theo bước chân. Đôi giày trắng lem luốc. Huy chen vào đám đông rút khăn lau nước. Thật nhiều người đẹp, Huy tìm mãi một người mà không thấy. Tiếng nhạc hòa lẫn với tiếng mưa rơi. Thỉnh thoảng Huy miễn cưỡng dìu một cô ra piste, nửa muốn về phòng hay làm chuyện gì khác, nửa không muốn bỏ dở cuộc vui.

– Bà xã mày đâu mà lang thang đây?

– Chắc cô nàng lười không vào hoặc bỏ rơi tao rồi.

– Ủa, tao mới gặp ban chiều, vào đây sớm lắm.

– Mày nói sao, cô ta mặc đồ gì nào?

– Jupe vàng, đi với một lô bạn gái.

– Mày làm gì biết nó.

– Thì cái con nhỏ có đôi môi tao muốn cắn một cái đi phố với mày tuần rồi.

– Tụi nó ngồi hướng nào?

– Gần ban nhạc.

– Mày ở đây, tao đi tìm xem. Đào mày đâu?

– Ngồi kia.

– Vui vẻ nhé…

Điệu slow càng về khuya càng rả rích. Huy gợi chuyện:

– Phương à, anh tìm em mỏi mắt.

– Chứ em cũng vậy, hỏi thăm mấy anh bạn anh, họ bảo là anh đi bờ.

– Thế anh gửi thiệp cho em làm gì.

– Thì em cũng tìm anh chứ làm sao. Anh uống bao nhiêu bia, say rồi sao mà không bước gì cả.

– Đông quá đứng một chỗ có tiện hơn không.

Huy vuốt tóc, ôm sát Phương vào lòng. Phương ngã đầu lên vai, hôn vào cổ. Huy rùng mình khẽ đẩy Phương dìu bước…

Người thưa đần, Huy đưa Phương ra ngoài. Trời mát lạnh, lất phất bụi mưa. Huy muốn tìm chỗ nói chuyện thật nhiều với Phương, nên đề nghị:

– Em đợi ở đây, anh xuống phòng lấy xe đưa em về, xe tốt lắm đó, đừng khen. Ra ngoài phố mình mới đi ăn được chứ bây giờ không nên xuống câu lạc bộ.

Phương đồng ý. Một đoạn đường khá xa, Huy thốt lên:

– Chết, xe này lại dở chứng, có lẽ hết xăng rồi em ơi.

Hình minh họa / Nguồn: Google

Huy đỗ dựa Iề. Phương nói:

– Biết vậy em không thèm đi, xe gì “quê” quá.

– Còn đùa nữa, bây giờ tính sao, đón xe dọc đường vậy.

Từng chiếc một vụt qua tóe nước mặc Huy đưa tay vẫy. Hồi lâu mới được chiếc xe honda dừng lại.

Loay hoay mãi Huy mới tìm được lon “bia” để lấy xăng.

– Cám ơn.

– Ông bà âu yếm quá.

– Thế còn đằng ấy…

– Giờ đến phần mình. Anh đưa em đi đổ xăng rồi hãy về nhà sau, không thôi lúc trở về anh hi vọng dẫn bộ cái của nợ.

– Giờ này thì còn ai bán.

– Thì phải kêu cửa chứ sao.

– Mất mặt quá, hải quân Lèo, anh lúc nào cũng bị rắc rối.

– Mai anh về Sài Gòn để em khỏi phải lúc nào cũng lo âu. Có nhớ anh không?

Đừng phố vắng tanh. Huy ngừng xe gần nhà. Cả hai nhìn nhau thật lâu, một sự tiễn biệt cho một người trở lại cố hương.

– Thôi em về…

– Phương…

Phương ngã vào vòng tay Huy. Chàng đặt lên môi nàng chiếc hôn nồng nàn tha thiết nhất.

Mười hai giờ, mình hôn nhau có trời đất biết.

Phương rời tay Huy bước đi.

– Bonne nuit.

Huy nhìn theo bóng Phương đến khuất. Mai đi rồi, Huy biết rằng mình nhớ mãi nụ hôn giã từ, và làn môi còn ấm lại giữa biển khơi.

*

Huy nhảy rào, một động tác quen thuộc thi hành trong năm phút, đổi lấy tám trọng cấm dễ dàng. Bộ treillis đã làm Huy lột xác hải qwân nhưng Huy vẫn còn ngại bộ mặt quen thuộc của mình làm sĩ quan có thể nhận dạng cách xa hàng hải lý. Huy lầm lủi trên đường . Trời sắp về đông, lành lạnh. Những đường hẻm chằng chịt của khu phố không làm Huy bỡ ngỡ. Huy xoa tay, gõ cửa, chờ đợi một sự ngạc nhiên, một sự mừng rỡ ôm chầm lấy Huy như mọi khi. Những nỗi rộn rã trong lòng đã tan biến ngay.

– Em nó mới đi ciné. Huy ngồi chơi.

Mất toi công “thám hiểm” đêm này. Sơn, người anh một cha khác mẹ với Phương hơn năm năm trời tha hương vừa trở về trường Sơ Đẳng để làm tròn hải nghiệp. Và ba của Phương. Ba người đàn ông đang nghĩ về ba nẽo. Một sự yên lặng dai dẳng, xa lạ. Rồi ba Phương bắt đầu: – Này cậu Huy, vấn đề giữa Phương và cậu từ lâu tôi định nói nhưng không có dịp. Lẽ tất nhiên cậu cũng hiểu việc trong nhà có con gái lớn. Tôi rất dễ dàng trong việc giao thiệp, bạn bè cũng như tôi rất khó trong vấn đề hôn nhân. Mới là mới, cũ là cũ. Nếu cậu nghĩ đây là chuyện qua đường, một cuộc tìm vui khi xa nhà thì cậu cứ nói thẳng, hoặc là đến nơi đến chốn thì tôi không bắt buộc. Người lớn chỉ là phần phụ thuộc mà thôi, việc chính là của hai người, cậu hãy suy nghĩ kỷ…

Hình minh họa / Nguồn: Google

– Tôi nói thật với Huy, tôi là anh của Phương nhưng ít khi được gần gia đình. Tôi không rõ cho lắm. Con gái mười hai bến nước trong nhờ đục chịu. Tôi là hải quân, tôi rõ nếp sống hải hồ. Ba má tôi nói như vậy để hiểu rằng nếu Huy đã có gia đình hoặc hứa trước nơi nào thì mình suy nghĩ sớm để khỏi lủng củng về sau. Biết rằng cấp bực của tôi thấp hơn Huy nhưng nếu cần tôi sẽ theo đến cùng…

Huy thấy nóng cả mặt không phải vì sợ sệt, vì biết mình không phải là thành phần đểu giả. Huy ngẩn người chỉ vì sự đột ngột:

– Được hai bác thương thì quí hoá cho cháu lắm rồi. Dù sao cuộc đời của cháu còn dài, cháu còn học, còn ra trường. Phương và cháu còn thì giờ tìm hiểu nhau. Việc giữa Phương và cháu nếu cháu không nghĩ tới thì cháu không bao giờ đến đây…

Ba Phương nói vọng vào trong:

– Mẹ mày có nghe Huy nó nói không?

*

Từ nhà Bích Vân, Huy và Phương lững thững trên vỉa hè. Trời sẩm tối…

– Cô bạn của em có vẻ sexy quá hở?

– ….

– Nhà của cô ta có vẻ xưa mà sao cô ta mới quá em nhỉ?

– ….

– Em làm gì vậy, không nghe anh nói hở?

– Không.

– Em kỳ thật, anh có làm điều gì để em giận đâu, giờ mình đi ăn nhé.

– Không.

– Kỳ ghê, có gì thì em nói, chứ không không mãi là thế nào.

– Anh không lịch sự gì cả.

– Lịch sự cái gì?

– Dưới phố lúc nào cũng bỏ đi, mua hàng mà không trả giá thì phải làm sao. Đến nhà người chưa đầy năm phút, ngồi lấy thuốc ra hút tỉnh bơ là như ghiền chết đi được.

– Thế cấm anh à.

– Ít ra cũng phải đợi người ta mời, bằng không thì thôi, về nhà đã, chả ra gì.

– Lạ ghê.

– Anh nói với ai vậy, anh lúc nào nói cũng không đầu không đuôi, “trông lạ ghê, kỳ ghê… ”

– Chứ nói làm sao nữa, “em của anh trông kỳ ghê à…”, nói được như vậy là may.

– Thôi, mai mốt đừng đi theo tôi nữa, làm như trí thức lắm vậy.

– Sĩ quan hải quân chứ bộ “kít” sao.

– Anh đi đâu thì đi, tôi về.

– Phương, Phương chờ anh đi với…

*

Về đến nhà trời đã tối mù.

– Hai đứa bây đi đâu mà lâu dữ vậy, nhà chờ cơm mãi.

– Dạ Phương đòi đi thăm cô bạn, nhà ăn cơm rồi hả má.

– Đã ăn đâu nào, mai mốt đi nhớ giờ ăn cơm với.

– Còn ba đâu má.

Hình minh họa / Nguồn: Google

– Ổng mới đó mà. Bữa nay con mấy giờ vào trại?

– Dạ muốn vào lúc nào cũng được, con đi không có phép.

– Vặn cho má cái đèn lớn đi Huy, từ nay đợi cuối tuần hãy ra, “dù, dù” như vầy hoài lại bị phạt vạ, còn thằng Sơn nữa, thứ bảy này không biết có được phép hay không, làm cơm rình rang rồi lại bỏ. Thôi sửa soạn ăn cơm đi, còn em đâu?

– Dạ Phương chắc ở nhà sau.

Huy cởi áo mắc lên móc, rồi ra nhà sau rửa mặt.

Tiếng thút thít làm Huy giật mình…

– Trời ơi, làm gì khóc vậy Phương. Anh có làm điều gì không phải? Ba má thấy lại rầy anh cho xem. Có gì thì nói với anh chứ sao lại khóc.

Phương thổn thức:

– Em biết phận em rồi, anh khinh em, anh là quan quyền, còn em là ca kỹ.

– Em hiểu lầm lời nói của anh, em không phải đi ca hoài như vậy được, em phải tiếp tục học thêm và chọn lấy một nghề mai sau. Danh dự của anh một phần mà của em nữa. Anh không thương em thì anh không nói như vậy. Thôi không nhắc tới nữa, giờ em muốn làm gì thì làm, lúc nào em cũng làm anh bối rối.

Huy lấy khăn thắm nước lau mặt cho Phương:

– Hở một chút lại khóc, anh biết làm sao đây. Vào ăn cơm đi để ba má đợi. Ông bả nhìn ra ổng bả lại hỏi, khổ ghê.

– Anh để mặc em.

– Thôi cho anh xin lỗi, cũng tại anh cả…

*

Rồi có lần Phương trách Huy:

– Anh hôi rượu quá đi, không biết đến bao giờ anh mới hết uống rượu, con trai gì mà say sưa, anh mà một lần nữa thì đừng nhìn mặt em.

– Lâu lâu mới gặp bạn bè, em phân nửa, bạn bè phân nửa, còn anh là số không.

– Rồi lại trúng gió như hôm nào, còn phải nói, bây giờ mà như lúc trước mười một, mười hai giờ đêm mới về thì đừng mong em chờ cửa, cứ đi ngủ đầu đường xó chợ cho biết.

– Như vậy thì ba sẽ rầy em, ba lúc nào cũng về phía anh, “thôi làm lên chi bồ…” ba nói chứ chẳng cần đến anh nữa. À, mà ban sáng mình đi thăm cô gì đó em nhỉ?

– Cô Bảy.

– Rồi má giới thiệu anh là gì.

– Là fiancé của em.

– Hồi nào, sao anh không nghe.

– Người ta nói nhỏ ở nhà sau chứ la lớn cho anh biết à.

– Cái thằng chồng Phi Luật Tân nói tiếng Mỹ không nghe được gì cả…, cũng cỡ em.

– Làm như anh giỏi đữ.

– Tạm thôi, đủ để người ta hiểu, người ta yêu. Cái Akai nghe sướng thật em nhỉ, vậy mà má đòi nghe cuộn băng vọng cổ làm anh mất hứng, nhạc ngoại quốc có phải rộn chân không.

– Anh tối ngày chỉ có biết nhảy với nhót, chẳng làm nên tích sự gì cả.

– Thế còn em, “bum”nào mà em không có mặt. Ông ăn chả bà ăn nem, chứ em vừa gì.

– Anh làm như em là ca-ve không bằng.

– Anh định nói như vậy mà em nói trước rồi.

– Thôi, không thèm nói chuyện với anh nữa.

– Ừa, để rồi coi đứa nào chịu thua, anh cũng không thèm nói.

Huy vói tay khép cánh cửa sổ, trời lạnh quá.

Huy tung chăn đắp cho cả hai lên tận cổ, vùi mặt vào mái tóc Phương giọng nhè nhè:

-Ng… u… ngủ.

Hình minh họa / Nguồn Google

Hồi lâu, Huy cất tiếng:

– Ngủ không được em ơi. Tại có em nằm gần, thôi em nằm xa xa anh một chút coi.

Phương im lặng. Huy khẽ đẩy:

– Làm bộ ngủ hả, nghe anh nói không?

– Anh này kỳ, người ta không thèm nói chuyện mà lải nhải mãi.

– Này, tuần rồi em đi công tác ở Qui Nhơn có gì vui không?

– Vui chứ sao không, có mấy ông đại úy ga-lăng hết chỗ chê.

– Sướng nhé, em lúc nào cũng để ý đến mấy chuyện vớ vẫn đó chứ không biết học hỏi gì cả. Em biết Qui Nhơn cái gì, em có biết mộ Hàn Mặc Tử không. Tây, Huê-kỳ ở đâu không biết chứ mấy thành phố ven biển là có tàu anh tới.

– Anh được có cái nước nói giỏi làm như chuyện gì cũng biết, em còn đi thăm nhiều nơi hơn anh nữa kìa mà em không thèm nói, động một chút ra mặt thầy đời.

– Chứ sao, con người hải quân là con người quốc tế mà. Anh chuyện gì cũng biết.

– Em chuyện gì cũng biết… trừ một chuyện chưa biết.

– Chuyện gì?

Huy suy nghĩ hồi lâu rồi nói nhỏ:

– Thế em muốn biết bây giờ hả, anh tưởng em còn thơ ngây.

– Thôi đi, dễ đữ à…

Huy xoay người ôm chầm lấy Phương. Mấy sợi tóc lòa xòa trước mặt, Phương bé bỏng nằm gọn trong vòng tay. Mùi thơm da thịt làm Huy bàng hoàng. Ngoài kia trời vắng vẻ, gió xào xạc cành cây. Huy nghĩ tình người đi biển có bao lần gần nhau. Bàn tay Huy rung động. Phương giả vờ say ngủ. Từng nút áo sịt mở. Huy thấy tim mình đập nhanh, không còn gì để nói. Bên phòng kia hẳn ba má Phương đang an giấc.

Một chuyến ra khơi

baovecovang2012.wordpress.com

Nguyễn Tấn Hưng

Posted on January 26, 2022 by Lê Thy

Post by So7n ra6u 25 Apr 2024

Dòng sông của Tùng

Vào mùa khô, cái nắng của những làng quê miền Nam kéo dài dai dẳng. Trẻ con trần truồng rong chơi. Bụi đóng lớp dầy trên phiến lá, trên hàng rào… Con đường mòn heo hút, mặt cát đất gồ ghề trắng bệch, thỉnh thoảng một chiếc xe bò chất đầy lúa, một người đàn bà gánh hai bó rơm to hơn người uể oải, lê thê. Quang cảnh đìu hiu vắng vẻ, không còn sức sống, không có dấu hiệu hoạt động. Mảnh đất giồng bỏ lâu không xới, cỏ mọc xen lẫn rơm rạ phủ lên mấy lớp. Cải bè đầy ngồng, hành le hoe vàng cháy. Dân trong xóm chui vào những túp lều, bóng mát sống hoà mình với thiên nhiên, thời tiết. Tất cả đều giản dị, mộc mạc như ý nghĩ, ước mơ của họ.

Một nhánh sông lẳng lặng hiền hoà, một đầu chảy ra kinh Chợ Gạo. Chỗ gặp nhau là ngã tư giáp nước, có cặp cá bống mú lâu đời đào hang thành nồi gọ ăn thông vào đất bờ hàng mấy cây số. Người ta bảo vậy! Nước xoáy cuồn cuộn và đôi khi làm chìm những chiếc ghe chở khẳm, những người không biết vái cúng đất trời. Đầu kia là ngã ba Vàm Bà Lọ. Một nhánh nhỏ chạy về miệt xóm Bến, cầu Láng Tượng. Mùa nầy, nước biển vào sâu nên mặn chát, đôi khi lờ lợ. Nước trong xanh, những con cá nước ngọt cay mắt nổi lờ đờ. Người ta làm vó bắt cua biển, những con cua thật to, vàng lườm.

Vào mùa mưa, nước trên nguồn đổ xuống, dòng sông đổi màu, nửa đục lừ lẫn cát đỏ, nửa xanh rong rêu của cỏ rác Đồng Tháp Mười. Nhưng bấy giờ thì nước ngọt, việc cày cấy bắt đầu, cỏ cây xanh tươi và đường trở nên ướt át nhầy nhụa. Dấu chân người, dấu chân trâu, vết bánh xe còn lại khi nắng lên.

Dân nơi này ai mà không rõ từng bụi bần, bập lá, cột đóng đáy cho đến chiếc xáng chìm của dòng sông. Lúc nước ròng sát, bãi bùn phơi bày những hang cá kèo, cá óc nói, người ta xách chĩa lội sình đâm ếch nhái lẩn trốn trong mái đầm, ô rô, đi mò tôm ở những bọng cây tróc gốc và trong những bụi quau, vẹt bị sạt ra ngoài khơi. Nước lên, những chiếc xuồng đi giăng câu, vớt tôm càng, những ghe chở dừa xiêm về Sài gòn, những ghe chài chở trấu bán cho dân dùng đốt lò thay củi và thỉnh thoảng một chiếc ghe chở đồ gốm, mái lu nồi… theo dòng trôi trên sông như những đám lục bình vô căn cứ.

Làng mạc qui tụ hai bên bờ cây cối um tùm, xa xa mới gặp một căn nhà và ngoài kia là đồng ruộng. Cho đến gần chân cầu, làng xóm trở nên tấp nập hơn, có nhà ngói, tiệm tạp hóa, tiệm hớt tóc… Cầu được bắc vững chắc vào thời tỉnh lỵ Mỹ Tho và quận Chợ Gạo là những chấm đen lớn trên bản đồ. Cầu Sắt, không hiểu cái tên của nó do đâu mà có. Người ta đồn rằng hồi trước có ông bác vật Lang đi qua, cầm cây gõ vào thành cầu và bảo là năm Dậu thì nó sập. Ông bác vật Lang giả câm và bị Tây nhốt vào núi Cấm. Chừng nào ngựa đá qua sông, Thủy Hoàng xuống biển thì ông mới về. Ông bảo như vậy, và đó là thiên cơ mà thiên cơ thì bất khả lậu.

Hình minh họa / Nguồn: Google

Đầu cầu trên có nhà máy xay lúa, đầu cầu dưới có trạicây. Dân quê chỉ biết cấy lúa xay ra gạo ăn, cất nhà thật to, kê tán, và nghỉ ngơi hưởng thụ. Ông thầy Năm có bùa Lỗ Ban, thường làm lễ dựng nhà cho dân có nói rằng cuộc đất này tốt lắm. Mấy gò mả đá xanh chôn trong hàm rồng là điềm lành. Trong tương lai, vùng này sẽ sản sinh một bậc kỳ tài. Mả bà Phủ khi chết được chôn đứng, nằm chơ vơ giữa đồng, trong âm thầm cổ kính còn có vẻ thiêng liêng huyền bí. Hai bên đầu cầu, dọc theo bờ sông là con đường duy nhất của làng. Con đường cũng uốn khúc theo sông, len lỏi trong vườn tược ruộng đồng xa tít. Sáng sớm mù sương, đàn bà con gái đi chợ, kẻ gồng người gánh lũ lượt. Chiều xuống, từng đàn trâu quay về, bác nông phu vai vác cày, miệng ngậm điếu thuốc vấn tay vui vẻ. Từng đàn cò trắng xếp hàng bay về tổ. Không ai nghĩ đến việc rời bỏ lũy tre làng. Đình đám, mùa màng, hội hè xảy ra đều đặn… Người lớn, trẻ con sống êm đềm, bình thản.

Hình minh họa / Nguồn: Google

Ầm,… ầm, ầm… tiếng nổ của mấy quả bích kích pháo rơi gần cầu và các loại súng thi nhau nổ không ngớt. Tiếng máy tàu lên xuống rì rầm, những loạt đại liên xé nát bầu không khí. Đạn dưới tàu, đạn huớng đồn, đạn Việt cộng bay veo véo. Tiếng la ơi ới ngoài hàng dừa, bụi chuối, trong bót… tất cả hỗn loạn gấp rút. Tùng chụp vội cái gối nhỏ chun vô “trản xê” , mò mẫm tìm chỗ ngồi. Nó run lập cập. Những ánh chóp tóe lửa trên mái nhà, cột phên, mùi thuốc súng khét lẹt… Tùng cảm thấy tiếng đạn nổ quá gần, hình như bên kia tấm ván, trên trần. Súng dưới tàu bắn lên từng nhịp theo điệu nhạc giật gân, tiếng dội ào ào trong cành cây, bập lá nước… Máy bay tới, Tùng không còn phân biệt được tiếng đạn, tiếng bom, tiếng động cơ, có lẽ nó bắn dọc theo lộ hay vòng đai ấp chiến lược… Hỏa châu thả đầy trời. Qua kẽ ván, gộp cây Tùng thấy rõ màu vàng hừng hực. Máy bay bắn như trâu rống. Tùng cúi gập người theo tiếng nổ, theo ánh lửa…

– Ba mày đâu?

– Ổng còn nằm ngoài chiếu.

– Sao không vô đây, còn đợi gì nữa, cái ông này kỳ.

– Ba ơi, vô hầm đi ba.

– Ba, ba…

Loạt đạn FM đi trọn vào nhà làm át tiếng nói mọi người. Tiếng khung kính, chai hũ rơi loảng xoảng. Tùng nói thầm, cha nó, cứ bắn vô nhà không! Tùng nằm co quắp. Trong bác Năm, ông Tám chắc không sao, nhà Tùng sát mé sông. Con Yến, thằng Tâm bây giờ chắc cũng như nó, ngủ hầm. Ban chiều, con nhỏ đã giận Tùng, không cho Tùng chơi chung cái xâu chuỗi bông vú sữa vàng vàng. Phải chi Tùng đừng nhát sâu nó! Một tiếng nổ chát chúa. Tùng nghe tiếng người hét, ngã gục. Miểng phang vào nhà rào rào trên cây xiên, đòn tay…

– Ba ơi, ba…

Một trái đạn nữa nổ ngay trên nóc. Tùng lắng nghe, có tiếng người rên rỉ.

– Bà ơi, tôi bị thương rồi, tôi bị…

Và tiếng nói nhỏ dần… Má chui ra khỏi hầm ôm xác ba vật vã:

– Trời ơi, ông sao vậy?

Chị Ba, anh Tư mếu máo:

– Ba ơi, ba có sao không ba?

Hình minh họa / Nguồn: Google

Ba hai mắt nhắm nghiền, thở thoi thóp. Một vết thương to từ quai hàm đi lên phía tai, một trên ngực xuyên qua lưng, máu đỏ cả áo.

– Con Vân lấy võng, võng ba mày đi coi!

Chị Ba dò đường trong bóng tối ra nhà sau. Má khóc và chị em Tùng cũng khóc theo. Tùng đưa tay vuốt máu trên mặt ba. Đạn vẫn nổ đều. Tùng mồi đèn bong bóng và cố gỡ cây song. Má, chị Ba mỗi người một đầu đòn. Anh Tư ôm mền, áo quần băng ra đường vội vã. Tùng không còn biết sợ.

– Thằng nhãi con, đứng lại không tao bắn bây giờ…

Lính trên cầu la lối.

– Ba tôi bị thương rồi ông ơi.

Một loạt đạn nổ thinh không. Tùng lùi lại ngơ ngác. Màu da của ba xám ngắt, Tùng nhìn lo âu. Ầm…. tiếng nổ ven lề cỏ bên đường, tóe lửa. Ngọn đèn trong tay Tùng vụt bay đi và Tùng không còn biết gì nữa...

*

Dân trong làng đã bắt đầu quen với chiến tranh. Họ cam chịu và khung trời cũng đổi thay. Không ai còn lạ về một trận đánh, một vụ công đồn hay một cái xác vô thừa nhận được lôi về công sở. Dân chúng làm việc theo tin tức chiến sự. Ban đêm không còn ai ở ngoài đường hay ngoài đồng. Con đường bờ sông bị đứt đoạn bởi những bảng “tử địa”, mô đất. Hầm chông len lỏi trong cỏ cây. Những cây cầu ván, cầu dừa bắc qua mương, cống dẫn nước vô ruộng bị phá sập. Một con đường vòng ra ruộng thật xa và gặp lại bờ sông ở một điểm không phải sát bên kia. Thỉnh thoảng người ta thấy một phòng thông tin, một cửa tam quan. Cờ giải phóng và biểu ngữ đầy đường. Dòng sông cũng thay đổi theo. Hai bên bờ giờ đây những bụi cây mái đầm, cóc kèn um tùm chằng chịt. Những chiếc xuồng gắn máy đuôi tôm, tàu binh, tàu mặt dựng chạy phành phạch suốt ngày. Chiến tranh càng lan rộng, nếp sống con người càng vội vã và những gì trầm lặng, cổ tích bị lùi dần vào quên lãng. Trẻ con không còn đến trường đều đặn. Chúng không còn thì giờ đếm ván cầu mỗi trưa đi học. Không còn các buổi chiều mưa to gió lớn, tung tăng trên đường về hái vội lá chà là, lá dúi, về nhà thay đồ ngồi vào bếp vừa hơ lửa, vừa bỏ từng chiếc lá vào lò để nghe những tiếng nổ tí tách. Bây giờ, trên lộ đá xuất hiện những đoàn xe tăng, xe mười bánh. Những người lính đút vội vào túi, vào cặp của chúng chiếc kẹo cao su, bánh hộp… Súng, đạn, nón sắt đen ngòm như nước da của họ. Sáng sáng không có bác nông phu dắt trâu ra đồng, không còn ai đi chợ, không có ngọn đuốc làm bằng cọng đu đủ, không có tiếng tù và gọi nhau đi cấy; thay vào đó, là những đoàn người từ một xứ sở xa lạ nào, tay súng vai đạn, giày đinh, áo trây-di lẳng lặng đi hàng một vào làng. Trên đầu có máy bay, dưới sông có tàu ghe gắn súng liên thanh… Người dân đã quen dần với chiến tranh rồi… Bỗng nhiên mảnh đất, dòng sông của họ trở nên quan trọng, bị giành giật. Từ ngã tư Hòa Bình vào xóm Bến qua cù lao Tân Thới là huyết lộ của Việt cộng. Bót được đóng dày thêm dọc theo lộ đá. Hai đầu cầu, đồn được xây lại cẩn thận, rộng lớn, có giăng dây thép gai, có lính Mỹ, có chòi canh. Người dân quên dần những câu ca dao, những điệu hò cấy lúa, những bài hát đưa em. Mỗi chiều họ gấp rút thu gọn công việc. Ráng mây hồng phương tây rung động theo tiếng nổ xa xa. Họ thầm cầu mong không là tiếng bom mà là tiếng trời gầm báo hiệu cơn mưa…

*

Tùng lấy cây bình linh đẩy cái thây thằng chổng ra xa cho trôi theo dòng nước, miệng lẩm bẩm:

– Ông ơi, ông, sao ông lại ghé vô chỗ này, ông đi bình yên!

Hình minh họa / Nguồn Google

Nó có cảm tưởng như vừa thả xuống một chiếc tàu xếp bằng giấy. Con Yến, con Vi, thằng Tâm đứng dựa gốc mãng cầu nhìn theo, sợ hãi. Cái xác đã mất đầu, chân tay cong queo, tái mét, quần áo tả tơi mục nát, rung rinh trong nước còn rõ ràng hai túi xếp trên ngực. Cái dây nịt thắt bụng như chia xác ra làm hai phồng to, sình thúi. Ở bắp đùi rớt ra một mảng thịt, ruồi bâu quanh vo ve, dòi bọ nhung nhúc. Ra khỏi mấy nhánh cây khô, cái xác được dòng nước cuốn đi.

– Ghê quá hả anh!

– Ừ, thôi đi về.

Tùng vin vào cây bàng, bước dè dặt trên mấy miếng ván bắt làm sàn nước đầy rong rêu. Ba hôm nay, người ta vớt được rất nhiều xác trôi sông và có lẽ còn nữa. Trận đánh lớn quá. Nghe đâu đụng độ ở cầu Xây, mấy tiểu đoàn Việt cộng mới về, thua chạy rút về miệt Rừng Lá. Hôm đó Tùng thấy lính cũng chết, xác được vô hòm, xác quàn trong chiếu để lên xe hồng thập tự. Nhưng không ghê bằng mấy chú chổng chết trôi. Tùng thấy người ta lấy băng trắng quấn bít chín cái xác hôm qua tại đầu cầu. Đàn ông qua lại cầu bị chặn lại bắt đi khiêng xác. Nguời ta xịt alchool, bột, xức dầu nhị thiên đuờng cho đỡ hôi. Cá tôm đem bán không ai mua vì nó rỉa thịt người. Đáy không đóng, lờ không đặt. Dòng sông đầy bèo cám, cỏ chỉ dơ bẩn. Nguời lớn trốn chạy để khỏi bị bắt đi khiêng xác, trẻ con thì đi coi… Tùng lấy gáo múc nước rửa mặt rồi vòng hè sau đi ra. Nó buồn lắm. Cửa nhà trên, cửa trại cây một dãy đóng bưng bít. Trong nhà, mái ngói đổ trên bàn, những vết cắt của bom đạn để lại khắp nơi. Giờ, nhà còn mỗi Tùng là lớn. Mỗi ngày Tùng rủ con Yến về nhà chơi một lần. Tối, nó dẫn mấy đứa em về nhà con Yến ngủ. Nhà con Yến có cái hầm đào sâu xuống đất, trên nóc là bồ lúa, không như cái hầm nhà Tùng làm dưới sàn cây giữa hai cây đà, chỉ tấn thêm mấy gộp gỗ vụn.

– Về đi Tùng ơi, chiều rồi!

Con Vi muốn anh Tùng của nó ngủ ở nhà. Tùng cũng muốn như vậy nhưng nó lại thích có con Yến bên cạnh.

– Ừ, thôi tối nay, tao, mày, con Phương, con Hạnh về nhà ngủ hén… Mà vậy rồi cơm đâu ăn?

– Mình ăn cơm nhà con Yến rồi mình về nhà mình mình ngủ. Sao ba má lâu về quá hả?

– Không được, như vậy bị ông Tám rầy…

*

Dân trong làng chết nhiều, dù nghĩa quân hay du kích cũng đều là dân làng hết. Mỗi lần nghe tin một người chết, người ta nghĩ ngay đến cuộc đời hắn và tất cả đều đáng thương. Từ thằng Ri con bác thợ mộc, thằng Học con ông trưởng Năm, thằng Quá con ông thầy chích, thằng sáu Cua… Trong một gia đình, anh đi lính, em đi giải phóng là thường. Lính không đi thì Việt cộng cũng bắt! Rồi lớp trẻ con sinh ra, lớn lên trong bom đạn, không biết nặn đất làm bánh, làm con thú để chơi nữa. Chúng học hút thuốc, học suy tư, học đánh bài con tây cúp con ách… Hai bên bờ sông không còn màu xanh. Lúa đồng mọc lẫn cỏ hoang. Vườn tược trơ trọi vì thuốc khai quang. Những ngôi nhà vắng vẻ, cây rơm cũng tàn ngọn. Ý nghĩ bỏ làng ra đi nhen nhúm trong lòng mọi người nhưng họ lưỡng lự vì hình ảnh dòng sông Tham Thu, cây Cầu Sắt, ngôi chùa Bàn Bà, mả bà Phủ… còn đậm nét trong lòng họ.

Hình min h họa / Nguồn: Google

Ánh đèn leo lét không xóa được vũng tối bao la. Nước ròng chảy mạnh, cọ vào mạn xuồng róc rách. Gió lướt trên mặt sông lạnh ngắt. Bốn bề vắng lặng, yên ngủ, chỉ còn tiếng nhà máy xay chạy đêm rì rầm. Tùng ngồi bắt mấy con trùn trong lon ra chặt khúc, Tâm móc vào lưỡi câu. Nhợ mới được nhúng sắn, săn cón. Nước chảy quá mạnh, những cục đá dằn đáy làm chúi mũi xuồng, lái nhổng lên, dạt qua dạt lại mỗi lần Tâm phăng tới một lưỡi câu. Tâm móc vào bửng xuồng và lấy chân đè xuống. Ban chiều nó phải mất cả tiếng đồng hồ mới giăng đuợc đường câu từ bên này qua bên kia bờ. Khúc sông có hang cá ngát và một gốc cây, câu sẽ được nhiều cá nhưng nước lớn, dây câu dễ bị mắc gốc lắm. Lần trước thăm được hai con cá lăng lớn. Lần này ít quá, thỉnh thoảng Tâm mói bỏ vô khoang một con cá chốt hay con cá lù đù. Luỡi nào cũng hết mồi. Dây câu tẻ nước re re. Rác rưới, lá lú mắc vô dầy đặc. Tâm vừa móc mồi vừa gỡ rác, thỉnh thoảng nắm dây câu búng “rẹt” cho trôi đi có vẻ rất rành nghề. Sáng mai về chắc ông nội Tâm thích lắm và con Yến phải khen bọn Tâm, Tùng. Ba của Tâm đi lính lâu lâu mới về thăm một lần. Nhà ông nội Tâm có cổng đẹp lắm, làm bằng xi măng, có khắc chữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ và mấy chữ “an-nam”.

– Tùng, gỡ phụ tao coi…

Cái gốc bập lá nước thật to, tàu lá còn xanh mắc cứng vào dây câu. Tùng vạch từng sóng lá cho lách qua dây. Nhũng con rạm chạy hụp xuống nước. Tùng thoáng thấy một khuôn mặt đen xì và một ánh mã tấu sáng lóe lên. Dây câu đứt phựt. Tâm đang nắm dây câu mất đà bị giựt rơi tòm xuống sông. Bụi lá trôi đi phăng phăng. Xuồng chao đi, chao lại, trôi dạt giữa dòng. Tùng chới với nhảy vội lại nắm cây dầm khuấy nhè nhẹ. Tùng quay lại nhìn bụi lá, lo sợ. Bóng đêm vẫn tràn đầy. Ánh đèn lồng chiếu xuống dòng sông lấp lánh sóng vàng nhạt.

Một lúc lâu không thấy bóng dáng Tâm, Tùng hốt hoảng. Một ý nghĩ lóe lên, Tùng bơi nhanh lại gốc bần nắm dây câu phăng đi. Từng cục đá dằn đáy, những con cá mắc câu giãy đành đạch. Tùng không thèm gỡ nũa. Bỗng nhiên, đùng… đùng… chát.. ầm… những loạt đạn đua nhau nổ ròn tan. Ánh đèn pha quét lên thật sáng và lửa đạn tiếp tục tuôn vào đồn. Bóng người thấp thoáng, ngã gục và tiếng hô xung phong vang rền. Bàn tay Tùng vừa đến mút dây câu. Một mảng áo sọc lớn còn dính vào hai luỡi câu sắc. Ầm… lửa đỏ rực cả một góc trời, bay tóe lên không. Nhịp cầu thứ hai gãy gập xuống. Những họng đại liên thay nhau nổ, hỏa châu bốc cháy và đồn cũng cháy theo. Cầu sập rồi. Tùng thấy rõ những thanh sắt cong queo và đà cây gãy vụn. Chừng nào ngựa đá qua sông, Thủy Hoàng xuống biển thì ông mới về. Tùng hoa mắt rụng rời, đua tay lên vuốt mặt. Nước sông đọng trên môi Tùng mằn mặn… Tạch… tạch… tạch… đạn rơi lõm bốm quanh xuồng. Tùng cúi mọp xuống khoang, quên hẳn Tâm, người bạn đang đắm chìm trong dòng sông hiền hòa. Xuồng âm thầm trôi theo dòng nước…

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

September 15th, 2021

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

(Kỳ 30)

Mặt trận Guadalcanal kéo dài với 9 trận thủy chiến lớn mà Nhật thắng 5: Hải chiến đảo Savo 9 tháng 8-1942, Đông Solomon 24 tháng 8, Xà trận Santa Cruz 26 tháng 10, ngoài khơi Guadalcanal 12 tháng 11, Tassafaronga 30 tháng 11-1942; Mỹ thắng 4 trận: Mũi Hy Vọng 11 tháng 10, Phục hận Guadalcanal 14 tháng 11, trận đảo Rennel 29 tháng 1 và biển Bismarck 3 tháng 3-1943. Nếu các chiến thắng của Hoa Kỳ đều có tính cách chiến lược: ngăn không cho Nhật tái chiếm Guadalcanal, triệt tiêu sức mạnh hàng không mẫu hạm và không lực Nhật, tiêu hao hạm đội chủ lực của Thiên hoàng và đặc biệt đánh bại bộ binh Nhật trên mặt đất, thì các chiến tích của Nhật thuần chiến thuật đạt được bằng ngư lôi 93 là vũ khí lợi hại và bằng khả năng dạ chiến thuần thục của thủy thủ. Các chiến thắng đó không thay đổi tình thế vì chỉ cần nhìn vào bảng so sánh tổng lượng sản xuất máy bay trong thế chiến của các quốc gia lâm trận, là thấy chung cuộc.

Tổng số máy bay Đồng Minh sản xuất là gần sáu trăm ngàn trong lúc Khối Trục vỏn vẹn hai trăm ngàn. Lính Đức và Nhật chưa biết lấy “tiếng hát át tiếng bom”. [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 30

Xa xa một chiếc xuồng máy chạy về Amatsukaze. Một kẻ tò mò lại đến nữa đây, nhưng dù sao cũng phải tiếp đón lịch sự. Tôi bước đến thành tàu khi chiếc xuồng cập vào. Người khách đã la to vui mừng khi vừa đặt chân lên cầu thang. Tôi nhận ra Trung tá Yasumi Toyama, Tham mưu trưởng Phân Hải đoàn 2 Khu Trục hạm của Ðề đốc Raizo Tanaka, hiện trú đóng ở Rabaul. Trước kia tôi thuộc phân đoàn này nên tôi chơi thân với Toyama. Hắn ta đến Truk tham dự các phiên họp mở ra trên soái hạm Yamato của Ðô đốc Yamamoto.

Vừa thấy tôi, Toyama hỏi ngay: “Anh coi bộ bịnh? Sao vậy? Bị thương à?”

“Không, không trầy một mảnh da nào hết. Nhưng tôi đang trầm cảm. Bất kỳ người nào có chiếc tàu bị dập tơi tả như thế này đều cảm thấy như tôi.”

“Không, Hara, làm sao mà anh lại cảm thấy như vậy được! Anh đã làm một việc kinh khủng. Từ xa, tôi nhìn thấy chiếc Amatsukaze có hề hấn gì đâu. Tôi biết anh là sỹ quan ngư lôi giỏi nhứt của Hải quân, nhưng tôi không ngờ tài lái tàu của anh đạt mức thượng thừa. Nếu gặp hạm trưởng khác thì chiếc tàu này tiêu rồi.”

“Tôi không đồng ý với anh, Toyama. Ðúng ra chúng tôi đã gặp may mắn. Anh xem đây, các vết đạn không đếm xuể này đã tránh né máy móc và bồn chứa nhiên liệu của chiếc tàu. Thôi, anh hãy nói cho tôi biết tình trạng của hải đoàn như thế nào đi.”

“À,” hắn kêu lên. “Hiện tại chúng tôi trở thành một đoàn tàu chuyển vận hàng hóa hơn là một hải đoàn chiến đấu. Chúng tôi chuyển hàng đến hòn đảo chết tiệt đó (tức Guadalcanal), và lịnh cấp trên ban xuống cho chúng tôi là bỏ chạy tốt hơn chiến đấu. Thực tệ, lịnh không ra gì! Lịnh này có vẻ hồ nghi khả năng chiến đấu trong bất kỳ hoàn cảnh nào của bọn khu trục hạm chúng ta. Ðồ tiếp liệu chở đến Guadalcanal cao như núi trên sàn tàu, khiến cho đạn dược của mỗi chiếc tàu đều bị cắt giảm phân nửa. Hàng hóa được xếp vào thùng kín và buộc dính chùm với nhau, tàu chở đến gần hòn đảo rồi xô đại xuống biển và quay đầu bỏ chạy. Các thùng này sẽ trôi nổi trên mặt nước, cho đến khi binh sĩ trên đảo của chúng ta bơi ra để kéo vào. Ðó là một công việc chán không thể tả. Bây giờ tôi muốn nghe anh kể lại trận đánh mà anh đã tham dự và luôn tiện tôi được học hỏi thêm kinh nghiệm của anh. Hãy kể tất cả cho tôi nghe đi.”

Ðó là một yêu cầu thông minh mà tôi được nghe lần đầu trong suốt tuần lễ qua.

Tôi hoan hỉ kể lại từng chi tiết trận đánh vừa rồi. Tôi vạch ra những lỗi lầm của chúng tôi lẫn của địch quân, và phân tích thật tỉ mỉ. Ðể kết luận, tôi nói: “Dù cho thi hành bất cứ nhiệm vụ nào, chúng ta cũng phải luôn luôn sẵn sàng tấn công. Tôi nghĩ thực sai lầm nếu xem thường việc sẵn sàng tấn công. Cẩn thận bao giờ cũng cần thiết, nhưng cẩn thận thái quá thì sẽ trở thành nhút nhát. Xin anh hãy khuyên Ðề đốc Tanaka không nên vấp phải những lỗi lầm “thái quá” này một lần nữa.

Toyama rời khỏi tàu của tôi và leo lên thủy phi cơ bay trở về Rabaul. Chuyến đến Truk vội vã, và những điều Toyama đã nói về phương cách tiếp tế khác thường của chúng tôi chứng tỏ rằng địch đã nắm ưu thế trên không phận Guadalcanal. Ngay cả khu trục hạm cũng trở thành tàu chở hàng hóa, cho thấy lực lượng Nhựt trên đảo đã thiếu thốn tiếp liệu các loại đến mức độ trầm trọng. Hai món tiếp tế mà họ kêu cứu hàng ngày chính là thực phẩm và thuốc men.

Ðề đốc Tanaka được giao phó cứu đói binh sỹ Nhựt đang sa lầy ở Guadalcanal. Trong nhiệm vụ này, hàng đêm mỗi khu trục hạm đều mang hơn 100 thùng tiếp liệu chạy cách bờ biển từ 200 đến 300 mét để thả xuống. Sau đó, binh sĩ Nhựt lớp bơi xuồng, lớp lội từ trong đảo ra kéo các thùng tiếp liệu vào bờ, và mang chôn giấu trong rừng rậm để tránh phi cơ địch phá hủy.

Tám khu trục hạm của Tanaka rời khỏi Rabaul vào ngày 27 tháng 11-1942, trực chỉ hướng Nam, đến quần đảo Shortlands. Chuyến đi phải lén lút. Nương bóng đêm ngày 29, hải đoàn lại rời khỏi Shortlands vào lúc 22g45, để đi tiếp đoạn hải trình còn lại. Bằng mọi cách, hải đoàn giả vờ di chuyển đến hòn đảo Ramos. Sau đó sáng ngày 30 tháng 11, tám khu trục hạm trong đội hình hàng dọc xoay mũi về hướng chính Nam, trực chỉ Guadalcanal. Một thám thính cơ của địch đã bắt gặp Phân Hải đoàn 2 vào lúc 8g sáng. Ðề đốc Tanaka biết rằng hoạt động lén lút của ông đã bị khám phá. Không lâu sau đó, một trạm quan sát Nhựt trên đảo Guadalcanal báo cho Tanaka biết khoảng một chục khu trục hạm địch rời khỏi mũi Lunga. Cùng lúc, các trạm quan sát khác xác nhận lực lượng địch vừa nói.

Lúc 15g, Tanaka ra huấn lịnh: “Chúng ta có thể chạm trán với địch đêm nay. Mặc dù nhiệm vụ là thả tiếp liệu, nhưng nếu cần đánh thì chúng ta sẽ quyết chiến. Nếu cuộc đụng độ xảy ra, chúng ta phải dốc tâm chiến đấu và tiêu diệt địch.”

Lúc 21g, hải đoàn tiến đến điểm hẹn ở Tassafaronga. Tất cả chiến hạm đều giảm tốc độ xuống còn 12 hải lý, chạy theo đội hình hàng dọc, với chiếc Takanami (Ngọn Sóng Cao) dẫn đầu cách 3,000m, và bên mạn trái phía sau chiếc tàu này là soái hạm Naganami (Ngọn Sóng Dài). Ðây là một đội hình có tính cách co dãn, có nhiều lợi thế hơn đội hình hàng đôi quá cẩn trọng mà Ðề đốc Abê đã áp dụng trong đêm 11 rạng ngày 12 tháng 11 trước đây. Gió thổi hướng Ðông-Bắc, tầm nhìn là 9,000m.

Hải lực Hoa Kỳ đối mặt với Tanaka được đặt dưới quyền của Ðề đốc Carleton H. Wright, đã sử dụng đội hình giống như của hai Ðề đốc Scott và Callaghan trong trận trước. Ðó là đội hình hàng dọc duy nhất với 4 khu trục hạm giữ nhiệm vụ tiền vệ, kế đó là 4 tuần dương hạm nặng, 1 tuần dương hạm nhẹ và cuối cùng là 2 khu trục hạm hậu vệ. Dẫn đầu toàn thể đội hình này là khu trục hạm Fletcher, có trang bị radar tối tân. (Hai tuần trước đây, trong cuộc bại trận của Callaghan, chiếc Fletcher nhờ chạy ở phần đuôi của đội hình nên không bị thiệt hại).

So sánh hai lực lượng, rõ ràng là phía Ðề đốc Wright vượt trội hẳn Ðề đốc Tanaka. Ngoài sự chênh lệch về quân số, các khu trục hạm của Tanaka đều chất đầy hàng tiếp liệu và do đó, đạn dược mang theo của các chiến hạm này cũng giảm còn phân nửa. Thêm vào số đạn dược bị cắt giảm, mỗi khu trục hạm của Tanaka chỉ mang theo 8 quả ngư lôi thay vì 16 quả đúng như cấp số. Khu trục hạm Nhựt chỉ có 6 pháo 127 ly là lớn nhứt trong lúc các tuần dương hạm nặng Mỹ võ trang 9 pháo 203 ly với 8 pháo 127 ly. Giống như châu chấu đá voi.

Task Force 67 của Ðề đốc Wright rời khỏi Espiritu Santo (Ðông-Nam Guadalcanal) thực sớm để đón đầu các khu trục hạm của Tanaka. Cho đến 21g cùng ngày, radar của soái hạm Minneapolis đã khám phá ra hải lực Nhựt khi còn cách 25km. Tám phút sau đó, trên màn ảnh radar của chiếc Fletcher cũng hiện lên một mục tiêu cách 7km phía trước, hơi chếch về mạn trái và khu trục hạm này đã chuẩn bị phóng ngư lôi. Nhưng, 5 phút quý báu đã trôi qua trước khi Fletcher, cũng như 2 khu trục hạm Perkins và Drayton, nhận lịnh khai hỏa. Vì vậy, 20 quả ngư lôi do các tàu này  phóng đi không có quả nào chạm đích.

Trong khi đó, Ðề đốc Tanaka bận túi bụi bên các hải đồ để định vị các tàu chiến của ông. Khi điểm “đổ hàng” của ông chỉ còn cách 5,000m, chiếc Takanami mở đường, báo cáo: “3 khu trục hạm địch ở hướng 110 độ!!”

Báo cáo xong, Takanami phóng ngay 8 quả ngư lôi vào các mục tiêu, đồng thời khai hỏa tất cả các pháo khẩu. Ðây là hành động tự ý của chiếc Takanami, không đợi lịnh của thượng cấp.

Cho đến khi 5 tuần dương hạm Hoa Kỳ đồng loạt bắn trả khu trục hạm Takanami, Ðề đốc Tanaka mới biết địch hiện diện gần sát, ông ra lệnh khẩn cấp: “Ngưng sứ mạng chánh! Tất cả chuẩn bị chiến đấu!”

Một phút sau đó, lúc 21g22, Tanaka ban lệnh khác: “Mọi chiến hạm xả hết tốc lực!”

Các xạ thủ Hoa Kỳ hình như chỉ nhắm vào chiếc Takanami để xối đạn, và kết quả, khu trục hạm này bị trúng đạn nhiều nhất. Nhiều quả pháo 203 ly trực xạ đã làm cho chiếc tàu bốc cháy dữ dội và sau đó chìm lỉm, mang theo toàn bộ thủy thủ đoàn 211 người.

Lúc Takanami bốc cháy, khói và lửa trở thành một bức màn che, Tanaka ra lệnh cho các chiến hạm còn lại của ông xoay 180 độ, để chạy song song cùng hướng với nhóm tàu của địch. Sau đó, ra lệnh gia tăng tốc độ để tiến sát vào địch quân, và soái hạm Naganami vung sang mạn trái sau khi đã phóng một loạt 8 quả ngư lôi vào tuần dương hạm Minneapolis dẫn đầu. 6 khu trục hạm khác của Nhật cũng bắt chước theo Naganami. Loạt ngư lôi Nhựt đều nhắm vào sườn tàu của địch, nên chính xác hơn lối phóng thẳng vào đằng mũi phía trước như chiếc Fletcher và các tàu Mỹ đã làm. Ðiều này không ngạc nhiên khi các ngư lôi Mỹ đều sai đích. Hơn nữa, phóng ở một góc độ khó trúng như vầy, tàu địch lại còn thiếu sự ước tính chính xác nhiều yếu tố liên quan, cho thấy địch không được huấn luyện kỹ thuật phóng ngư lôi hữu hiệu.

Trái lại, 2 trong số các ngư lôi của chiếc Naganami đã trúng ngay tuần dương hạm nặng Minneapolis, khiến soái hạm dẫn đầu này bể tan nồi súp-de, bốc cháy và hầu như đứng chựng lại. Tuần dương hạm nặng New Orleans, chạy ở hàng kế, khi né tránh va chạm với Minneapolis, đã lãnh ở mũi một quả ngư lôi của chiếc Makinami (Ngọn Sóng Cuộn). Sức nổ của nguyên một tấn chất nổ làm nổ tung hai hầm đạn của chiếc New Orleans và cắt đôi tàu này ở pháo tháp thứ nhì.

Tuần dương hạm nặng Pensacola, chạy sau chiếc New Orleans, trong khi cố tránh né đụng chạm cũng lãnh một quả ngư lôi ngay bồn chứa nhiên liệu và biến thành cây đuốc. Tuần dương hạm nhẹ Honolulu, chạy sau chiếc Pensacola, may mắn hơn đã nhanh chân xoay sang trái ngay khi chiến hạm Nhựt bắt đầu phóng ngư lôi, và khi nhìn thấy đồng bọn bốc cháy, chiếc tàu này lại xoay sang phải, chạy theo hình chữ chi về phía Tây-Bắc để tránh tầm pháo của Nhựt.

Tuần dương hạm nặng Northampton cuối cùng còn lại của địch quân, từ đầu trận đánh đã tỏ ra ít hoạt động, sau khi thấy 3 đồng đội bị bao phủ trong lửa đỏ, định quay đầu chạy theo chiếc Honolulu, nhưng khi thấy các chiến hạm Nhật xoay về hướng Tây, nó cũng xoay theo và khai hỏa với các trọng pháo 203 ly. Các quả đạn được bắn vội vã nên không có quả nào trúng đích. Chiến hạm Nhựt phóng 2 quả ngư lôi vào mạn trái của Northampton, gây 2 tiếng nổ dữ dội. Tàu địch bốc cháy và chìm cấp kỳ.

Hải đoàn của Tanaka vung về phía Tây-Bắc và xả hết tốc lực. Honolulu, tuần dương hạm duy nhất của địch không bị hư hại, đã lầm 2 khu trục hạm hậu vệ Lamson và Lardner là hai chiến hạm Nhựt nên khai hỏa bắn đuổi, bắt buộc hai chiếc tàu này phải xoay hướng và bỏ chạy.

Cách Guadalcanal khoảng 50 dặm, soái hạm Naganami chạy chầm chậm. Ðề đốc Tanaka kiểm điểm lại lực lượng của ông. Ngoài khu trục hạm Takanami bị đánh chìm, trong 7 khu trục hạm còn lại không có chiếc nào mang thương tích, cũng không có thủy thủ nào thiệt mạng. Nhựt đã gây thiệt hại nhiều cho địch mà chỉ trả giá bằng một tàu khu trục, nhưng Tanaka không cảm thấy vui vẻ. Chiếc Takanami bị đánh đắm đã khiến ông rầu rĩ và ngồi trầm ngâm trong suốt hải trình rút lui. Ông muốn trở lại khu vực để cứu những thủy thủ của chiếc tàu chìm còn sống sót và tái chiến với Task Force 67. Nhưng sau khi kiểm điểm, 4 trong số 7 khu trục hạm Nhựt không còn một quả ngư lôi nào. 3 chiếc kia, một chiếc mới chỉ phóng phân nửa, và 2 chiếc khác vì nằm ở một góc độ không thuận lợi nên không phóng được quả nào, do đó số ngư lôi mang theo vẫn còn nguyên. Tính ra, trong trận đánh vừa rồi, Nhựt đã phóng cả thảy 44 ngư lôi. Trong tình trạng đó, Tanaka nghĩ lực lượng của ông không có hy vọng thắng một khi tái chiến. Vì vậy, vào lúc 23g30, cho lệnh rút lui về Rabaul.

Quyết định này khiến Bộ Tư Lệnh Tối Cao không hài lòng, cho dù Tanaka nêu ra chiến công của ông là đã đánh chìm một thiết giáp hạm và 2 tuần dương hạm, còn gây thiệt hại nặng cho 4 tuần dương hạm khác của địch mà chỉ thiệt hại có một khu trục hạm. Nhưng thực sự, thượng cấp của Tanaka không cần biết đến những chiến công này, họ không hài lòng bởi vì Tanaka đã thất bại trong việc tiếp tế cho bộ binh Nhựt trên đảo Guadalcanal.

Sự không hài lòng này trở nên xác thực khi không lâu sau Tanaka bị điều sang Tân Gia Ba, và sau đó lại phải khăn gói sang Miến Ðiện. Qua hai lần thuyên chuyển, tài thủy chiến của ông đã bị hoang phí, nhưng nhờ vậy mà ông xa hẳn mặt trận, và sống sót.

Từ đó cho đến cuối cuộc chiến, Tanaka không còn được giao chỉ huy trên biển nữa. Mười lăm năm sau trận Tassafaronga, tôi đến thăm Tanaka tại trang trại của ông gần Yamaguchi. Khi thảo luận về trận đánh này, ông nói với tôi: “Một số chuyên viên Hoa Kỳ đã khen tài chỉ huy của tôi trong trận đánh đó. Tôi không xứng đáng nhiều mà phải nói là nhờ vào tài năng và ý chí của thuộc cấp đã giúp tôi chiến thắng.”

“Nói như vậy, không phải là tôi từ chối vinh dự mà tôi có quyền hưởng nhằm trốn tránh sự chỉ trích. Tôi chấp nhận sự chỉ trích do các sỹ quan đồng liêu đưa ra. Tôi phải chịu trách nhiệm trong việc không đưa tiếp liệu đến nơi đến chốn theo đúng kế hoạch. Ðáng lẽ tôi phải quay lại để hoàn thành sứ mạng, nhưng tôi đã rút lui. Việc này không có gì khó hiểu, bởi vì lúc ấy tôi không nắm trong tay tin tức chính xác về sức mạnh của địch. Tôi cứ đinh ninh đội hình của Ðề đốc Wright sẽ giống như đội hình của hai Ðề đốc Callaghan và Scott trong trận đụng độ với Ðề đốc Abê hai tuần lễ trước đó. Có nghĩa là đội hình của địch gồm có 4 khu trục hạm đi đầu và 4 khu trục hạm tiếp sau. Khi trận đánh xảy ra, 7 khu trục hạm Nhựt chất đầy các thùng tiếp tế, và đạn dược bị cắt giảm phân nửa, đã phải lâm chiến đánh 6 khu trục hạm và 5 tuần dương hạm địch, đó là điều tôi không bao giờ nghĩ đến. Nếu tôi biết địch chỉ còn lại một tuần dương hạm nhẹ và 4 khu trục hạm thôi… Tôi đã lấy quyết định khác.”

Ðôi mắt Tanaka đầy lệ: “Trong trận đánh đó, sở dĩ chúng ta đánh bại Ðề đốc Wright là nhờ chiếc Takanami. Nó đã lãnh tất cả trừng phạt của địch trong những phút đầu của trận đánh và đã làm mộc che cho chúng ta. Vậy mà chúng ta đã phủi tay bỏ đi, không cứu thủy thủ đoàn của chiếc tàu này.”

Tuy nhiên, Ðề đốc Tanaka chắc đã cảm thấy sự nỗ lực vượt bực của ông ở Tassafaronga, khi ông đọc qua những nhận xét khách quan sau đây của sử gia Hoa Kỳ, là Ðề đốc Samuel Eliot Morison, về trận đánh này: “Trận Tassafaronga luôn luôn gợi sự an ủi rằng chúng ta bị đánh bại bởi những kẻ tài giỏi thực sự, và Ðề đốc Tanaka tài giỏi hơn những kẻ tài giỏi. Ngoài soái hạm Naganami, các khu trục hạm lâm chiến của ông đều chất đầy kiện hàng cồng kềnh, vậy mà ông đã đánh chìm một tuần dương hạm nặng của Hoa Kỳ và loại 3 tuần dương hạm nặng khác khỏi vòng chiến trong gần một năm. Trong khi ông chỉ thiệt mất một khu trục hạm. Qua nhiều trận đánh xảy ra trong cuộc chiến, phía Hoa Kỳ và Nhựt cùng phạm nhiều lỗi lầm nhưng ở Tassafaronga, mặc dù có bối rối lúc đầu, nhưng Ðề đốc Tanaka không phạm một sai lầm nào hết.”

Trước khi bị thuyên chuyển, Tanaka còn chỉ huy nhiều chuyến tiếp tế cho Guadalcanal. Vào ngày 3 tháng 12, ông điều động một hải lực gồm 4 tuần dương hạm và 11 khu trục hạm vận tải 1,500 thùng tiếp liệu đến Guadalcanal. Công tác thành công mỹ mãn. Thời gian này, Tanaka chuẩn bị đương đầu với một trận Tassafaronga thứ hai, nhưng phía Hoa Kỳ chưa sẵn sàng. Chiến thắng phi thường của Tanaka đã khiến US Navy choáng váng và phải sắp xếp lại lực lượng. Không hề có một cuộc đụng độ nào trên mặt biển, chỉ một số phi cơ địch bay đến quấy rầy và bỏ vài trái bom gây hư hại nhẹ cho một khu trục hạm Nhựt. Nhưng các cuộc chuyển vận này gặp phải một sự thất bại đầy chua chát: Bộ binh Nhựt trên đảo chỉ vớt được vỏn vẹn 500 thùng tiếp liệu trong số 1,500 được thả xuống biển.

Bốn đêm sau đó, Tanaka quay lại hòn đảo với 11 khu trục hạm. Sự lặp đi lặp lại một phương thức trong chiến tranh trước sau gì cũng vấp một vố nặng. Chuyến đi này, 2 khu trục hạm của Tanaka bị các phi cơ Hoa Kỳ cất cánh từ phi trường Henderson hủy diệt. Cùng đêm, Tanaka đã đối đầu với một loại địch thủ mới, các ngư lôi đĩnh. Tám chiếc PT (Patrol Torpedo boats trang bị 4 ngư lôi đạt vận tốc 74 km/g) nhỏ bé và nhanh như cắt này đã quấy phá lực lượng của ông đến nỗi ông phải bãi bỏ cuộc chuyển vận và các khu trục hạm phải quay về căn cứ.

Vào đêm 11 tháng 12, Tanaka lại cố gắng lên đường một lần nữa với 9 khu trục hạm. Lần này ông đã thả 1,200 thùng tiếp liệu một cách thành công. Sau đó, phi cơ Mỹ đến tấn công, nhưng vô hiệu, và đến phiên các PT nhảy vào vòng chiến, soái hạm Teruzuki (Nguyệt Rạng) lãnh 2 quả ngư lôi và bốc cháy. Thủy thủ đoàn cố gắng cứu chiếc tàu nhưng bó tay khi ngọn lửa bắt qua hầm chứa mìn. Tanaka bị thương, ông chuyển soái kỳ cho người khác và trở về Rabaul. Tanaka rất buồn khi nghe tin 1,200 thùng tiếp liệu được ông thả xuống chỉ có 220 thùng đến tay lính Nhựt trên đảo.

Tanaka nằm trong bệnh viện Rabaul. Nơi đây, ông đã viết một thỉnh nguyện thư yêu cầu Bộ Tư Lệnh Tối Cao triệt thoái khỏi Guadalcanal. Ðáp lời yêu cầu này là lệnh bổ nhiệm ông sang Tân Gia Ba. Lời yêu cầu của Tanaka bị bác bỏ một cách thẳng tay thực sự là một sự nhầm lẫn, vì ai cũng thấy hòn đảo ấy không còn hy vọng chống giữ lâu dài hơn nữa. Các tiềm thủy đĩnh và khu trục hạm đều được trưng dụng để vận chuyển quân nhu, nhưng cho dù cả hai loại tàu này đã nỗ lực tối đa và phối hợp chặt chẽ cách mấy đi nữa, tiếp tế đến tay 20 ngàn binh sỹ trên đảo chỉ có tính cách cầm hơi.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

September 9th, 2021

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

(Kỳ 29)

Đêm khuya âm u
Ai khóc than trong sương mù?
Gió rít qua lũy tre như nghiến răng vương mối thù
Hồn ai kia đau xót chơi vơi?
Hồn quân Nam căm uất chưa nguôi.
…
Dân đau thương
Ghi nhớ ơn của bao người
Chiến đấu dâng tấm thân cho quốc gia, cho giống nòi
Nhìn gương xưa nêu cao
Lòng sôi lên cương quyết noi theo
Nước mắt rớt xuống,
Bao xót thương bên nấm mồ
Khói bốc nghi ngút bay quyện lá cờ
Chưa nguôi máu người thân yêu thác vì nước non.
…

Hồn Tử Sĩ cũng như Tiếng Gọi Công Dân tuy là của Lưu Hữu Phước nhưng đã thấm vào máu những ai sinh ra dưới lá cờ vàng. Đã biết bao thương tiếc, biết bao tiễn đưa ngậm ngùi. Hồn Tử Sĩ của Nhật Bản phải thê thiết khi từ trên một boong tàu thả xác xuống biển sâu mà xác, chỉ còn một bắp đùi. [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 29

Sau khi vượt ngang chiếc Yukikaze (Gió Tuyết), chiếc tàu của tôi chạy với tốc độ 20 hải lý như trước. Chúng tôi thoát ra khỏi eo biển nguy hiểm và chạy vào một hải vực bao la. Nỗi sợ gặp đá ngầm và san hô của chúng tôi không còn nữa, nhưng nỗi lo sợ khác lại hiện đến. Ðối với một chiến hạm què quặt chạy giữa ánh sáng ban ngày thực bất lợi, nhứt là trong một khu vực đầy dẫy tàu ngầm địch.

Trang bị sonar trên các khu trục hạm Nhựt như đã nói, không mấy hữu hiệu. Khi một khu trục hạm chạy đến tốc độ 20 hải lý hoặc cao hơn, sonar này hầu như mất hẳn sự nhạy cảm. Hiện tại sonar của Amatsukaze  hoàn toàn bất động. Tôi ra lệnh: “Matsumoto, tốt hơn là cứ mỗi giờ anh nên thay đổi toán thủy thủ bẻ lái. Chúng ta cần những cánh tay khỏe mạnh trong trường hợp cần thay hướng con tàu gấp rút. Tiềm thủy đĩnh địch có thể xuất hiện bất cứ lúc nào.”

Nhưng cũng lạ, 12 giờ trôi qua mà vẫn không xảy ra cuộc tấn công nào. Khi biết chắc rằng tàu đã vào hải vực an toàn, tôi bỗng nhiên thấy mình như kiệt lực. Kỹ thuật hải hành chính xác đã đưa chúng tôi đến một địa điểm cách phía Bắc Guadalcanal khoảng 250 dặm, nơi mà hạm đội của Phó Ðô đốc Takeo Kurita đang chuẩn bị để ra khơi vào đêm hôm đó. Khi tàu chúng tôi tiến đến gần, tôi nhìn thấy khu trục hạm Teruzuki (Lạc Nguyệt), cùng thuộc hạm đội của Ðề đốc Abê như chúng tôi. Hiệu thính viên của tôi gửi công điện yêu cầu chiếc Teruzuki cho biết tình hình.

Chúng tôi nhận ngay công điện hồi đáp: “Mừng Amatsukaze trở về. Các anh đã bị báo cáo mất tích nhưng chúng tôi vẫn hy vọng các anh trở về. Hạm đội của chúng ta chiến đấu hữu hiệu. Chỉ hai chiếc Hiei và Yudachi bị đánh chìm. Không ai nghe tin tức của chiếc Akatsuki. Xem như đã đắm. Murasame và Ikazuchi trúng nhiều pháo nhưng không hư nặng. Ngợi khen Trung tá Hara. Anh đã làm một việc đáng kinh ngạc khiến chúng tôi hãnh diện.”

Khi chúng tôi tiến sát chiếc Teruzuki, hầu hết thủy thủ đoàn của chiếc tàu này đã ra đứng cạnh lan can và vẫy tay reo hò chào mừng chúng tôi. Nhiều chiếc tàu khác cũng làm như Teruzuki. Nhưng tôi không cảm thấy vui vẻ hoàn toàn. Những lỗi lầm đã vấp phải khiến tôi trĩu nặng.

Chiếc Amatsukaze chạy vòng vào bên trong đội hình đã sắp xếp của các chiến hạm dưới quyền Phó Ðô đốc Kurita. Soái hạm của ông, tức thiết giáp hạm 37 ngàn tấn Kongo (Kim Cương), giống như một pháo đài nổi. Nhân viên truyền tin của soái hạm gửi chúng tôi một công điện: “Phó Ðô đốc Kurita gửi Trung tá Hara: “Tôi hài lòng với cuộc trở về can trường của anh, và thông báo cho anh hay tôi đã sắp xếp khu trục hạm của anh vào chuyến ra khơi hiện tại. Có mặt anh trong lần hải xuất này là niềm hãnh diện cho chúng tôi.”

Cộng điện này làm tôi kinh ngạc. Tôi gửi ngay hồi đáp: “Trung tá Hara gửi Phó Ðô đốc Kurita: Không xứng đáng nhận ban khen của Phó Ðô đốc. Chuyến về què quặt của tôi thiệt mất 43 thủy thủ, bao gồm sỹ quan pháo thuật. Chúng tôi cần phải sửa chữa. Hiện tại tôi đang phải điều khiển guồng lái bằng sức người.”

Công điện kế tiếp của soái hạm đến vài phút sau: “Phó Ðô đốc Kurita lệnh cho Hara quay về Truk lập tức, những khen tặng không thay đổi. Chúc anh thượng lộ bình an và nhiều may mắn. Mong gặp lại.”

Hình ảnh của soái hạm Kongo nhạt nhòa trong dòng lệ khi tôi đọc xong những lời ưu ái ấy. Tôi cố dằn xúc động để ra lệnh: “Matsumoto, xoay hướng phải. Chúng ta về Truk.”

Matsumoto đáp: “Tuân lệnh Trung tá. Nhưng dường như Trung tá mệt mỏi. Tại sao Trung tá không đi nghỉ? Trung tá đã hò hét 15 giờ ròng rã rồi, bây giờ tôi đã biết điều khiển con tàu theo phương pháp của Trung tá.”

“Cám ơn Matsumoto. Anh nói phải, vậy anh hãy thay tôi.” Tôi ngồi xuống, là lần đầu tiên trong 24 giờ qua, nhưng chỉ được một vài phút tôi vùng dậy khỏi ghế. Tôi đã quên khuấy một việc, “Miyoshi! Shoji! Phải cử hành lễ thủy táng cho những người chết trước khi trời tối.”

Bốn mươi ba cái xác -nhiều xác què cụt- được mang lên sàn tàu. Mỗi xác chết đều được đồng đội tắm rửa bằng nước nóng và dùng vải bọc lại. Nước, được xem là quý giá trước đây không hề hạn chế trong buổi lễ này. Những cái xác bọc vải kèm vật nặng được thả xuống biển, trong lúc các thủy thủ thổi kèn đồng tấu bài vĩnh biệt và những người khác đứng chào đưa tiễn.

Mỗi cuộc thủy táng luôn buồn thảm. Tôi đã tham dự không biết bao nhiêu buổi lễ như thế này, nhưng không lần nào buồn bã như lúc này. Toán quân nhạc chỉ có 4 kèn và hai trống tấu điệu Junkyosha no tamashi, là Hồn Tử Sĩ của chúng tôi.

Cuối cùng, khi Miyoshi và Shoji buông cái chân duy nhất còn lại của Ðại úy Shimizu, sỹ quan pháo thuật xuống biển, tôi đã khóc thành tiếng. Shimizu, một tay cứng đầu hay cãi lý, lĩnh nguyên quả 152 ly làm thân thể đứt lìa chỉ còn một chân trên boong; nhưng anh ta là một người tốt, một sỹ quan giỏi. Nếu tôi nghe theo ý kiến của Shimizu thì đã không vấp phải lỗi lầm cho đến nỗi phải trả bằng mạng sống của anh ta.

Kế đó, Miyoshi và Shoji bước đến xác của Chuẩn úy Iwata và cẩn thận nâng lên. Iwata, sỹ quan quan sát đã phát hiện tuần dương hạm Helena kịp thời khiến chiếc tàu của chúng tôi thoát khỏi bị tiêu diệt. Tôi bước xuống đài chỉ huy. Thủy thủ nhìn tôi chăm chú. Ðây là lần đầu tiên tôi rời khỏi đài chỉ huy từ khi bắt đầu cuộc hành quân. Tôi nói: “Iwata, bạn của tôi! Cái chết của bạn sẽ thức tỉnh tôi, để tôi thận trọng hơn!” Tôi cởi quân phục khoác ngoài và đắp lên xác chết. “Iwata, vĩnh biệt, anh hãy an nghỉ.” Lệ dâng đầy mắt tôi lúc đứng nghiêm và chào đồng đội quá cố. Tôi lê gót nặng nhọc lên đài chỉ huy. Nhiều thủy thủ bật khóc như trẻ con, nhiều người khác đưa tay bưng mặt. Tôi ngước nhìn vầng kim-ô to lớn đỏ ối dần khuất, thái dương chìm xuống với các thi thể. Tôi nguyện với lòng không vấp vải những lỗi lầm như vừa qua nữa. Khi lễ thủy táng chấm dứt, đêm đã xuống hoàn toàn.

Chiếc Amatsukaze chạy vòng quanh khu vực thủy táng một lần nữa, ban quân nhạc đã giải tán nhưng trên sóng vẫn còn âm vang giai điệu Hồn Tử Sĩ. Toàn thể thủy thủ cúi đầu cầu nguyện lần cuối cùng cho những kẻ ra đi vĩnh viễn. Sau đó tàu quay mũi về hướng Bắc.

Matsumoto, nguyên là một sinh viên xuất thân từ trường Hàng Hải Thương Mại, đã thích ứng với công việc khiển guồng lái bằng tay rất mau lẹ. Chiếc tàu tiếp tục chạy với tốc độ tối thiểu, và 24 giờ sau, ngày 14 tháng 11, Amatsukaze buông neo trong quân cảng Truk, hòn đảo san hô yên tĩnh. Ở đây, tôi nghe tin tiềm thủy đĩnh I-26 của Nhựt đã phóng ngư lôi đánh chìm một tuần dương hạm chạy lẻ loi của Hoa Kỳ. Phải nhiều năm sau này tôi mới biết đó là tuần dương hạm USS Juneau, từng bị chiếc Amatsukaze phóng ngư lôi gây hư hại nặng nề trước khi bị I-26 đánh gục.

Trận đánh kết thúc, phần thắng nghiêng về phía Nhựt, nhưng chỉ là thuần túy chiến thuật. Chiến thắng chiến lược đã nghiêng về phía địch, vì lực lượng của Abê bị ngăn chặn, phải bỏ cuộc pháo kích lên các phi đạo ở Guadalcanal và không tấn công vào các hải đoàn tiếp tế cho Thủy Quân Lục Chiến địch như đã định. Mười chiến hạm Hoa Kỳ bị đánh đắm, nhưng không gây thất lợi hẳn cho địch quân, và việc này càng làm cho họ lưu tâm đến hòn đảo hơn nữa.

Ở Truk, Ðô đốc Yamamoto đã nổi giận khi nghe tin nhiệm vụ của Abê thất bại. Hiei là thiết giáp hạm đầu tiên của Nhựt chìm trong cuộc chiến. Ðiều này đã khiến cho Yamamoto nổi khùng, cho dù là trước đây ông luôn luôn được tiếng là khoan dung với thuộc cấp. Yamamoto cách chức Abê ngay trên biển, ngay cả trước khi Abê về hậu cứ.

Vào đêm 13 tháng 11, một hải đoàn gồm 3 tuần dương hạm và 4 khu trục hạm của Ðề đốc Shoji Nishimura áp sát bờ biển Guadalcanal và mở những cuộc pháo kích vào các phi trường trên đảo. Nhưng vào sáng hôm sau, phi cơ Hoa Kỳ vẫn cất cánh được từ các phi trường này. Chứng tỏ cuộc pháo kích của Nishimura vô hiệu. Các phi cơ trên đảo phối hợp với phi cơ của hàng không mẫu hạm Enterprise (vừa sửa chữa) đến xâu xé một đoàn tàu chuyển vận 11 chiếc của Nhựt, gây thiệt hại và đánh chìm đến 7 chiếc. Phi cơ địch cũng đánh chìm tuần dương hạm Kinugasa và gây hư hại nặng cho 3 khu trục hạm hộ tống.

Phó Ðô đốc Kondo, Phó Tư Lệnh Hạm đội Hỗn hợp, được lệnh thay Kurita cầm đầu cuộc hải xuất kế tiếp vào đêm 14 tháng 11. Hai tuần dương hạm 13 ngàn tấn Atago và Takao, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Kondo, thình lình được sát nhập vào hạm đội của cựu Ðề đốc Abê, hạm đội này đã thiệt mất một thiết giáp hạm Hiei và 3 khu trục hạm trong trận đánh vừa qua (tính luôn chiếc Amatsukaze của tôi). Sự lựa chọn Kondo cho nhiệm vụ, chứng tỏ Yamamoto đã sai lầm. Tôi vẫn không hiểu tại sao Yamamoto lại nghĩ quá cao về Kondo, mặc dù ông này đã có nhiều hành vi nhút nhát trong hai trận hải chiến gần đây. Lần này, lực lượng của Kondo gồm có một thiết giáp hạm, 2 tuần dương hạm nặng và 9 khu trục hạm, đối đầu với một lực lượng địch yếu hơn rõ rệt, dưới quyền của Ðề đốc Willis Augustus Lee, chỉ có 2 thiết giáp hạm và 4 khu trục hạm. Mặc dù nắm lợi thế về số đông, Kondo đã để cho địch quân đánh chìm thiết giáp hạm Kirishima và một khu trục hạm, trong khi Lee chỉ mất có 3 khu trục hạm.

Hai tuần dương hạm nặng còn lại của Kondo vẫn chưa chạm địch, nhưng ông đã ra lệnh cho cả hai rút lui, và ngay cả sự cố gắng truy đuổi địch quân ông cũng không hề nghĩ đến. Trong vòng 4 tháng, đây là lần thứ ba Kondo đã có hành vi thiếu quyết liệt. Ðô đốc Yamamoto đã nổi giận trước sự thất bại của Abê, nhưng đối với Kondo ông lại tỏ ra rộng lượng lạ lùng. Nhiều sỹ quan của Kondo đã lấy làm hổ thẹn giùm cho ông cũng như cho chính họ. Họ tránh đề cập đến trận đánh, Kondo là một mẫu người lịch sự theo phong cách Anh. Ông tỏ ra nhân ái và độ lượng với tất cả thuộc cấp, và ông cũng là một vị phó đô đốc có kiến thức uyên bác. Ðối với tôi, ông là một người tốt và tôi luôn kính nể ông. Nhưng tôi phải nói rằng Yamamoto đã vấp phải một sai lầm to tát nhất, đó là việc ông đã đánh giá quá cao khả năng của Kondo. Kondo có thể là một vị giám đốc giỏi ở hàn lâm viện, nhưng ông không thể là một vị chỉ huy thích hợp ở một đơn vị tác chiến.

Bộ Tư Lệnh Tối Cao Ðông Kinh cũng tỏ ra giận dữ. Cơn giận của các vị đô đốc đầu não đã biến thành cơn thịnh nộ khi họ nghe thêm tin thất bại của Phó Ðô đốc Kondo, tiếp liền sau thất bại của Abê. Một ủy ban gồm nhiều vị đô đốc được thành lập để điều hành một tòa án xét xử kín nội vụ. Abê và Ðại tá Nishida, hạm trưởng của thiết giáp hạm Hiei ra chấp cung. Cả hai đều không thể đưa ra lời biện hộ nào cho những lỗi lầm của họ. Tòa án phán xét cho cả hai “về hưu” vì đã có những hành vi “bất xứng”, được hưởng hưu trí, nhưng không được giữ bất cứ chức vụ nào. Riêng Kondo không bị trừng phạt. Ở Truk, khu trục hạm Amatsukaze của tôi đậu cặp kè với tàu công xưởng Akashi. Viên kỹ sư trưởng lên ngay tàu của tôi để xem xét các hư hỏng. Tôi đã cho rằng sự hư hại không có gì đáng kể và có thể hoạt động trở lại trong vòng mươi ngày là cùng

Viên kỹ sư cười to: “Trung tá Hara, hầu hết các hạm trưởng đều xem thường sự hư hại của chiếc tàu do họ chỉ huy, và khi lâm chiến, họ bắt những chiếc tàu làm những việc không thể nào làm nổi ngay cả với một chuyến đi thông thường. Tôi biết Trung tá rõ từng chi tiết của chiếc tàu này. Hãy đi một vòng xem, và hãy giải thích cho tôi xem những điểm nào gọi là còn tốt của chiếc tàu?”

Thực vậy, Amatsukaze không khác nào đứa con của tôi. Ðầu năm 1940, tôi đã xem xét tỉ mỉ chiếc tàu trước khi nó được hạ thủy, và ròng rã 6 tháng sau đó tôi đã trông coi việc trang bị cho chiếc tàu. Có thể nói đây là khu trục hạm tốt nhất vào thời đó. Chiến hạm 2,500 tấn này tôi biết từng đường tơ kẽ tóc, đúng như lời viên kỹ sư đã nói.

Viên kỹ sư chánh và tôi đã bỏ ra một ngày thanh tra các chỗ hư hại của Amatsukaze. Sự lạc quan của tôi đã tan biến ngay sau cuộc xem xét này. Trên toàn thể vỏ tàu, chúng tôi đếm được tất cả 32 lỗ thủng với đường kính rộng cả tấc. Thêm vào đó, có 5 lỗ thủng dưới một tấc do mảnh đạn gây ra. Còn các lỗ thủng nhỏ thì vô số, sau khi đếm đến con số 40, tôi đã ngưng không đếm nữa. Quả thực, chiếc tuần dương hạm Hoa Kỳ đã làm được việc. Viên kỹ sư đã nói đúng. Amatsukaze hiện giờ chỉ là một đống sắt nổi, không còn giá trị của một khu trục hạm nữa.

Sau khi đi một vòng xong, chúng tôi bước vào phòng. Tôi rơi xuống ghế, chán nản và buồn bực. Viên kỹ sư an ủi: “Tôi thành thực chúc mừng tài lái tàu tài giỏi của Trung tá. Mang được chiếc tàu này trở về, đầy đủ như vầy, Trung tá đã làm một việc giống như có phép lạ, nhưng tôi chắc phép lạ này không xảy ra lần thứ nhì đâu.”

Tôi công nhận phán xét của viên kỹ sư, nhưng trong lúc chán nản tôi chỉ ngồi yên lặng. Hắn nói tiếp: “Chắc Trung tá biết, chúng tôi không thể tập trung tất cả thời gian vào chiếc Amatsukaze. Nhiều chiếc tàu khác cũng cần phải sửa chữa. Ước chừng phải mất một tháng tôi mới sửa xong tàu của Trung tá cho đủ sức chạy về Nhựt. Ở đó sẽ có đủ phương tiện và hy vọng thêm một tháng nữa… chiếc tàu này sẽ phục hồi như cũ.”

“Tôi từng nghe địch quân có thể sửa chữa chiến hạm hư hại nặng nề nhiều hơn của họ không quá 60 ngày. Tại sao chúng ta không làm được như vậy?”

Tôi biết câu giải đáp sẽ liên quan đến khả năng công nghiệp vượt trội của Hoa Kỳ và tôi cũng hiểu ngay câu hỏi của tôi sẽ gây phiền phức như thế nào. Một khoảng im lặng nặng trĩu, cuối cùng tôi lên tiếng: “Xin hãy làm những việc ông cho là thích hợp. Tôi sẽ ở đây với chiếc tàu. Thủy thủ của tôi sẽ tiếp tay với nhân viên của ông trong việc sửa chữa, nếu xét thấy có thể.”

Viên kỹ sư lại ngỏ lời tán tụng tôi thêm một lần nữa, rồi mới chịu cáo từ. Tôi dẹp bỏ sự lo nghĩ, đứng dậy ra khỏi phòng, và đi qua đi lại trên sàn tàu. Nhìn lại những lỗ thủng không đếm xuể do đạn đại liên gây ra, tôi nghĩ cũng may mà chúng tôi chỉ thiệt hại có 43 nhân mạng.

Công việc sửa chữa chiếc tàu bắt đầu vào sáng hôm sau. Tuần lễ kế đó, tôi phải bận rộn đón một số khách viếng thăm đến từ thiết giáp hạm Yamato và một số chiến hạm khác buông neo ở quân cảng Truk.

Tôi có nhiệm vụ giải thích với họ về “phép lạ” mà chiếc Amatsukaze đã được hưởng. Ai ai cũng cho rằng chiếc tàu còn tồn tại là một việc phi thường. Nhiều khách viếng ngỏ lời khen tặng tôi, nhưng không ai hỏi ý kiến tôi làm sao để tránh nếu họ gặp một số phận như vậy trong tương lai. Và cũng không một sỹ quan nào thuộc bộ tham mưu khi đến viếng thăm chiếc tàu mang đầy thương tích của tôi ngỏ lời hỏi han hoặc yêu cầu tôi đưa ra những ghi nhận chiến thuật. Sự khiếm khuyết đáng chú ý này kéo dài một tuần lễ, khiến tôi bắt đầu nghi ngờ khả năng của những người này. Tôi đã băn khoăn lo nghĩ rằng họ – những người đã góp tay vào việc sắp xếp kế hoạch hành quân – họ không thấy cần thiết phải rút tỉa những kinh nghiệm của trận đánh vừa qua. Dĩ nhiên, điều này cho thấy họ tắc trách trong nhiệm vụ, và gây cho tôi sự âu lo về những kế hoạch mà họ sẽ đặt ra trong tương lai.

Tại Truk, tôi nhận được hai lá thơ gửi từ Nhựt. Trong một lá thơ đề ngày 13 tháng 11-1942, vợ tôi sau khi nói sơ qua về tình trạng của gia đình đã chấm dứt với câu sau đây:

“Ðêm hôm qua thằng nhỏ Mikito bỗng nhiên thức giấc và hét lớn. Thoạt đầu em nghĩ là con bị bệnh, nhưng khi gạn hỏi, thì nó nói đã mơ thấy anh đang gặp nguy hiểm. Nó còn nói anh đã nhìn nó với khuôn mặt xanh xao và sợ hãi. Em tự hỏi không biết đêm qua anh ở đâu và đang làm gì? Báo chí hàng ngày đều loan tin nhiều trận đánh dữ dội xảy ra ở phía Nam. Em lo cho anh vô cùng.”

Theo ngày ghi trên lá thơ, đêm đứa con tôi nằm mơ là đêm 12 rạng sáng ngày 13 tháng 11. Ðó là đêm tôi lâm vào tình trạng hiểm nguy thực sự. Mặt tôi xanh xao, và chắc chắn là sợ hãi, khi tàu của tôi bị chiếc tuần dương hạm địch dập pháo liên hồi. Tôi đã choáng váng khi bị chiếc Helena xối đạn đánh úp nhưng làm sao đứa bé này lại thấy được hình ảnh của cha nó?

Lá thơ thứ hai là của má tôi, lúc ấy đã 82 tuổi. Cuối thơ, má tôi viết:

“Mỗi sáng và mỗi đêm má đều quỳ trước bàn thờ để cầu nguyện tổ tiên và đức Phật từ bi phù hộ cho con. Hãy giữ lấy thân con để trở về với má.”

Ðọc thơ má, mắt tôi đầy lệ, tôi nghĩ đến gia đình của những thuộc cấp đã ra đi vĩnh viễn. Tôi bật khóc thành tiếng. Tôi phải viết thơ phân ưu gửi cho 43 gia đình của những người đã chết trước khi hồi âm cho má và vợ tôi. Tám giờ đồng hồ ròng rã trước khi tôi chấm dứt lá thơ cuối cùng. Mặt trời đã lặn khi tôi bước ra sàn tàu, trên sóng biếc giai điệu âm u của Hồn Tử Sĩ còn ngân.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

September 2nd, 2021

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

(Kỳ 28)

Hỗn chiến đêm 12 tháng 11-1942 ngoài khơi Guadalcanal (mà Edward Parker ví với một cuộc ấu đả trong một quán bar tắt hết đèn) đã xảy ra giữa hai hải lực với thành phần kết hợp rất khác nhau: Phía Nhật có 2 thiết giáp hạm nặng 37 ngàn tấn, 1 tuần dương hạm nhẹ 5,700 tấn và 11 khu trục hạm. Phía Hoa Kỳ nghênh chiến với 4 tuần dương hạm nặng 10 ngàn tấn, 5 tuần dương hạm nhẹ 6,800 tấn và 20 khu trục hạm. Chênh lệch cấp số nghiêng về phía Hoa Kỳ nhưng nếu tính một thiết giáp hạm bằng 3 tuần dương hạm nặng thì ưu thế trọng tải và trọng pháo 356 ly của 2 chiếc Hiei và Kirishima lấn át pháo 203 ly của Task Force 67 (Đề đốc Callaghan), Task Force 62 (Đề đốc Scott) và Task Force 16 (Đề đốc Kinkaid). Chiếc Helena trọng tải full load 13 ngàn tấn nhưng vì bố trí đại bác 152 ly nên vẫn xếp vào hạng tuần dương nhẹ.

Đề đốc Hiroaki Abê sai lầm khi không tận dụng tối đa hỏa lực thượng phong của chiếc Hiei và Kirishima, đã cho Kirishima tháo lui nhanh rồi để chiếc Hiei bị không kích đánh đắm sáng hôm sau. Kết quả dạ chiến: US Navy thiệt mất soái hạm nặng San Francisco, 2 tuần dương hạm nhẹ Atlanta và Juneau, 4 khu trục hạm Cushing, Laffey, Barton, Monssen bị đánh đắm, cùng tuần dương hạm nặng Portland với 2 khu trục hạm Aaron Ward và Sterett hư hại trầm trọng. Riêng chiếc Helena không chìm như Hara nghĩ mà hư hại và chỉ bị đánh đắm trong trận Tassafaronga ngay sau đó. Cả hai Đề đốc Callaghan và Scott cùng 2,000 thủy thủ Hoa Kỳ tử trận đêm ấy. Phía Nhật chìm thiết giáp hạm Hiei, 2 khu trục hạm Akatsuki và Yudachi, hư hại 3 khu trục hạm Ikazuki, Murasame và Amatsukaze. Một chiến thắng đắt giá.

Hiei, mang tên đỉnh núi Hiei phía Đông-Bắc Đông Kinh, là một thiết giáp hạm lừng danh vì là tàu mẹ của nhiều đô đốc Nhật khi khởi nghiệp như Takagi, Nakamura, Matsumura, Nakajima, Kato từng là hạm trưởng. Hiei còn là thiết giáp hạm nặng đầu tiên của Nhật bị đánh đắm trong thế chiến – đưa đến giận dữ tột bực của Thủy sư Đô đốc Yamamoto đã cách chức Đề đốc Abê ngay trên biển trước khi trận chiến kết thúc. Một tát tai.

Abê phải ra tòa án binh vì đã không chết theo tàu mà “di tản” khi chiếc Hiei chưa chìm. Giai cấp Samurai xem cái chết nhẹ tựa lông hồng không tha thứ cho hành vi sỉ nhục tinh thần Võ sĩ đạo của Abê.

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch cấp bậc của Abê là Đề đốc. Không sai, vì bản Anh văn dịch Rear Admiral và bản Pháp văn dịch Contre-Amiral. Nhưng trong các sách sử sau này viết Abê lên chức Phó Đô đốc (Vice Admiral) 11 ngày trước trận đánh rồi bị lột lon 12 ngày sau. [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 28

Trung tá Kiyoshi Kikkawa, hạm trưởng  khu trục hạm Yudachi (Dạ Phong) thuật lại đêm đó: “Khi chúng tôi đâm vào nhóm tàu địch, tôi thấy một tàu địch sấn vô tàu tôi. Không có thời gian nhắm ngư lôi, và trong lúc hai bên đang đấu súng, tôi cho chiếc Yudachi đảo mạnh về bên phải cố ý làm sai lạc hướng ngắm của địch. Sau vài phút, tôi lại thấy tuần dương hạm Juneau của Hoa Kỳ ở mạn phải, chạy song song với tàu mình, tôi ra lệnh phóng 8 quả ngư lôi nhưng không trúng. Ðịch nã trọng pháo dữ dội vào chiếc Yudachi. Tôi đáp trả ngay, nhưng chỉ với các loại súng nhỏ. Hỏa lực chênh lệch rõ ràng, tôi kể như tiêu rồi. Một khu trục hạm đấu súng với một tuần dương hạm là liều mạng! Nhưng, thật bất ngờ, chiếc Juneau bốc lửa, các trọng pháo địch đều im tiếng. Chiếc Yudachi phun khói che để thoát ra khỏi khu vực. Ngư lôi của Amatsukaze đã cứu chúng tôi.”

Khi chiếc Akatsuki (Rạng Ðông) bị đánh chìm, 2 khu trục hạm chạy phía sau chiếc này đã tiến lên tấn công 2 tuần dương hạm nặng San Francisco và Portland. Chiếc Portland đang đấu súng với 2 khu trục hạm khác của Nhựt – Inazuma (Tia Chớp) và Ikazuchi (Tia Sét) – thì Yudachi tiến đến từ phía trái. Kikkawa kể: “Hara, chúng tôi bắt chước chiến thuật của anh, phóng ngay 8 trái ngư lôi vào tuần dương hạm địch đang bận đấu với 2 khu trục hạm bạn. Portland bốc cháy, tất cả ngư lôi của tôi đều trúng đích. Nhưng vui mừng của chúng tôi chấm dứt ngay vì pháo địch rơi vãi xuống.Chúng tôi trở thành nạn nhân của chiến thuật đánh úp mà chúng tôi vừa sử dụng, và bây giờ chỉ còn mỗi mình tôi sống sót, thật đáng hổ thẹn. Chính khu trục hạm Aaron Ward lập thành tích này.”

Trong lúc đó, chiếc Amatsukaze của tôi đang di chuyển hướng Tây Bắc, tiến đến soái hạm Hiei đã bị loại khỏi vòng chiến. Quang cảnh trước mắt yên tĩnh lạ lùng, đêm không trăng sao nhưng phía xa xa những tia lửa xẹt lên như pháo bông. Chắc chắn là một cuộc đụng độ, nhưng khó biết ai là ai. Tôi không lưu ý, quyết định tìm soái hạm Hiei, với sàn tàu bị cháy sẽ dễ nhận ra. Tôi hỏi phòng truyền tin xem có công điện nào quan trọng hay không? Kiểm thính viên đáp: “Thưa không, Trung tá. Cũng không nghe tiếng của Hiei nữa. Hệ thống vô tuyến của Hiei chắc đã tê liệt rồi.”

Tôi nhìn đồng hồ, 0g13, xa về hướng Tây là một cầu lửa đỏ rực, chứng tỏ một chiếc tàu đang cháy. Là khu trục hạm Yudachi. Lúc ấy, một chiếc tàu to lớn bỗng nhiên nhô ra khỏi bóng tối, ngay phía trước chiếc Amatsukaze. Tôi hét to hoa tiêu trưởng Kijuro Matsumoto: “Xoay hết bánh lái về phía phải! Mau!” Tất cả sỹ quan trên đài chỉ huy đều chết đứng khi 2 chiếc tàu áp sát. Va chạm không thể tránh khỏi! Nhưng chiếc Amatsukaze lách sang phải, thoát nạn trong kẽ tóc.

Tôi tự hỏi tàu gì đây? Cả hai chiếc đã xáp gần đến nỗi tôi không thể nào nhìn trọn chiếc tàu lạ, nhưng rõ ràng đây là một tàu không người. Nó không có pháo tháp nào, nhưng không phải là một tàu buôn. Hình dáng chiếc tàu có vẻ quen thuộc nhưng tôi không thể nào nhận ra. Tôi biết mọi loại tàu, bây giờ trong bóng tối, tôi độ chừng đây là tàu vận tải nên không có pháo tháp. Sau đó tôi biết sai lầm, nhưng dù thế nào, chiếc tàu này chắc chắn là tàu địch. Tôi la to: “Xạ thủ! Ngư lôi! Sẵn sàng tả mạn!”

Khi sỹ quan pháo thuật Shimizu và ngư lôi trưởng Miyoshi đáp đã sẵn sàng, tôi bỗng nhiên lưỡng lự. Tôi phải rõ lai lịch chắc chắn của chiếc tàu để khỏi bắn lầm tàu bạn. Tôi ra lệnh rọi đèn. Không còn sợ lầm nữa. Ðây là một tuần dương hạm địch. Tôi ra lệnh khai hỏa mọi loại vũ khí.

Bốn quả ngư lôi được phóng ra, lao như cắt và 6 khẩu 127 ly đồng loạt khạc lửa. Tất cả đạn đều trúng đích. Tiếng nổ đinh tai nhức óc. Nhưng thật đáng kinh ngạc là tàu địch không phản ứng.

Hai mươi giây sau tôi nghe bốn tiếng động rõ rệt dưới nước. Tiếng chân vịt xoáy. Tôi nín thở, tiên đoán bốn tiếng nổ dữ dội sắp xảy ra. Nhưng 20 giây nữa trôi qua, không tiếng nổ nào hết. Và khi thấy chiếc tàu lạ vẫn đung đưa qua lại, tôi biết là mình đã quên một cách khờ khạo. Tất cả ngư lôi Nhựt đều có cơ phận an toàn, nếu phóng vào mục tiêu dưới 500m ngư lôi không nổ. Mục tiêu hiện tại không hơn 500m. Tôi tự rủa thầm “đần độn!”, trong lúc bối rối tôi đã sử dụng ngư lôi một cách hoang phí. Sai lầm này thường kéo theo sai lầm khác. Trong lúc tức giận, tôi quên ra lệnh tắt đèn rọi tìm địch. Kikkawa đã từng nói với tôi là đèn rọi thu hút cặp mắt địch. Tôi đã quên khuấy bài học này.

Tàu địch vung sang trái, dĩ nhiên là để tránh khỏi đụng vào tàu của tôi, nhưng lối di chuyển của nó có vẻ bất thường. Trong khi đó, hỏa lực của chúng tôi vẫn tiếp tục rót ngay vào mục tiêu. Chiếc tàu ma quái nghiêng qua ngả lại. Khói và lửa bắt đầu bao trùm toàn thể chiếc tàu này. Chúng tôi nhận ra đây là soái hạm San Francisco mà chúng tôi đã từng chạm mặt ngay sau khi Ðề đốc Callaghan và bộ tham mưu của ông bị các chiến hạm khác của Nhựt diệt gọn. Các pháo tháp của chiếc tàu này sở dĩ biến mất là do các đại pháo 356 ly của thiết giáp hạm Kirishima thổi bay đi.

Bất ngờ, ngay lúc đó, nhiều quả pháo rơi quanh chiếc tàu của tôi. Tôi nghĩ những kẻ đã chết trên chiếc San Francisco đang sống lại để ra tay phục hận. Vài quả trúng Atmasukaze. Sàn sắt rung chuyển. Tôi hét lớn: “Xạ thủ giữ vị trí! Hạ gục tàu ma ngay lập tức!” Tôi đã sôi máu. Súng của chúng tôi tiếp tục mưa đạn vào tàu địch nhưng đó là sai lầm thứ ba của tôi. Hiển nhiên pháo rót xuống chúng tôi không phải từ chiếc San Francisco. Một tiếng kêu xé tai đến nỗi át cả tiếng súng nổ dữ dội. Là tiếng kêu của Chuẩn úy Shigeru Iwata, đứng ở tháp quan sát ngay phía trên đài chỉ huy: “Hạm trưởng! Một tuần dương hạm khác 70 độ tả mạn đang bắn lén chúng ta!”

Tôi xoay nhìn về hướng Iwata vừa nói, quả thật, có một tuần dương hạm khác. Tôi lạnh toát cả thân thể, nhưng sau cùng vẫn la được: “Tắt đèn, ngừng bắn, phun khói!” Tôi chưa nói hết câu, loạt đạn thứ ba từ tàu địch bay đến. (Ðó là chiếc Helena của Hoa Kỳ, một tuần dương hạm 13 ngàn tấn). 2 quả 152 ly nổ gần, đẩy tôi ngã chồm về phía trước, suýt chút nữa bay ra khỏi đài chỉ huy. Tôi gượng dậy được, nhưng đầu óc tối tăm mất nhiều giây. Tôi sờ nắn khắp toàn thân, không tìm thấy thương tích nào. Nhìn quanh, tôi yên dạ khi thấy các sỹ quan của tôi đều không sao, nhưng còn những người khác?

Tôi nhìn ra ngoài. Iwata nằm sóng soài trên sàn tàu. Tôi la lên: “Iwata…!” Hắn bất động, máu đẫm ướt mặt mày. Một mảnh đạn trúng vào sọ, và Iwata chết tức khắc. Một quả đạn đã rơi ngay vào tháp quan sát của hắn. “Shimizu, Shimizu! Có sao không?” Tôi gọi qua máy liên lạc nội bộ. Không có tiếng đáp lại. Tôi lại gọi to: “Phòng truyền tin! Nghe không?” Cũng hoàn toàn im lặng.

Một quả đạn khác đã trúng ngay phòng truyền tin, tất cả nhân viên đều thiệt mạng. Chiếc Amatsukaze bắt đầu quay vòng tròn. Tôi hét: “Matsumoto, bẻ tay lái lại!”

Có tiếng đáp: “Thưa Trung tá, tay lái đã liệt rồi!”

Khói bốc lên từ dưới đài chỉ huy, hiển nhiên là từ phòng truyền tin. Ðạn địch lại bay đến. Chiếc Helena võ trang 15 khẩu 152 ly và 8 khẩu 127 ly quyết trấn nước chúng tôi. “Phản pháo đi!” Tôi kêu to.

Một pháo thủ chạy lên, máu thấm ướt một bên vai. “Thưa Trung tá, các pháo tháp của ta bị loại rồi. Hệ thống thủy lực cũng bất động.”

Một nhân viên của phòng máy chạy đến: “Cơ quan bánh lái không còn sử dụng được nữa. Hệ thống thủy lực đã hỏng.”

Tôi hỏi: “Ðại úy Shimizu có sao không? Máy móc như thế nào?”

“Ðại úy Shimizu bị hất xuống biển, …một …một chân còn trên boong. Máy móc không sao. Bồn dầu không cháy.”

Tôi nói với Ðại úy Matsumoto: “Anh xuống phòng máy kiểm soát và cứ mỗi 3 phút báo cáo cho tôi biết.”

Chiếc Amatsukaze đã xoay trọn một vòng trên mặt biển và lại bắt đầu vòng thứ hai. Pháo kích của chiếc Helena vẫn như mưa xuống quanh chúng tôi, nhưng chỉ một vài quả trúng đích. Hỏa lực địch gia tăng, nhưng thủy thủ đoàn của tôi đang bận tâm với những phần hư hại của chiếc tàu, các pháo khẩu của chúng tôi đều im tiếng, và không còn quả ngư lôi nào để phóng. Nếu tàu địch tiến sát, chúng tôi sẽ không khác nào con bò đực đứng trước lò sát sanh.

May mắn là đêm đen như mực khiến địch khó thấy. Di chuyển của Amatsukaze càng lúc càng thiếu chính xác, và toàn thể chiều dài chiếc tàu bao bọc trong màn khói che. Cuối cùng, mưa đạn cũng chấm dứt và tàu địch lảng ra xa. Nhưng chưa chắc chịu bỏ con mồi.

Matsumoto báo cáo: “Hệ thống thủy lực hoàn toàn không sử dụng được nữa. Phải dùng sức người bẻ lái. Chờ lịnh!”

“Ðược rồi, cho ngừng tàu lại để cắt đặt thủy thủ làm công việc này ngay lập tức.”

Ðại úy Miyoshi, hoa tiêu trưởng, nhăn nhó: “Ngừng ở đây, ngay trước mũi súng của địch?”

“Ðúng như vậy! Chúng ta ngừng tàu trước khi đánh nữa.” Tôi kiên quyết.

Một giọng nói vang to qua hệ thống liên lạc nội bộ, là giọng nói của Matsumoto: “Thưa Hạm trưởng, đã sửa chữa được một vài nơi hư hại.”

“Tốt, Matsumoto. Hãy ngừng tàu lại, và cắt đặt thủy thủ lo bẻ lái.”

Khi chiếc tàu từ từ đứng lại, súng của địch cũng im tiếng hẳn. Hiển nhiên là tàu địch đã bỏ đi, có lẽ nghĩ sự trừng phạt dành cho Amatsukaze như vậy là quá đủ.

Tôi không thể nhìn thấy tàu địch chạy về hướng nào, vì quanh tôi khói che dày đặc. Nhưng tôi không ngờ lúc đó chiếc Helena gặp nhiều bối rối hơn chúng tôi. 3 khu trục hạm Nhựt bất thần xuất hiện. Ðó là 3 chiếc Asagumo (Mây Sáng), Murasame (Thủy Sen) và Samidare (Mưa Hạ) – thuộc đơn vị tiền tiêu với 2 chiếc Yudachi (Dạ Phong) và Harusame (Mưa Xuân). Cũng do đội hình rắc rối của Abê mà cả 3 rớt lại phía sau trước khi trận đánh bắt đầu và di chuyển lang thang để cuối cùng nhảy vào vòng chiến khi trận đánh sắp tàn. Tuần dương hạm Helena đã sửng sốt khi thấy 3 chiến hạm Nhựt xuất hiện.

Trước khi nhận ra lai lịch 3 chiếc tàu, Helena bị đánh phủ đầu. Khu trục hạm Murasame phóng nhiều quả ngư lôi trúng đích, nhưng kỳ lạ thay, cả mấy giờ sau tuần dương hạm này mới chịu chìm.

Asagumo, đồng đội của Murasame, xoay các họng súng về phía một chiến hạm khác của địch đang tiến đến từ hướng Tây. Ðó là khu trục hạm Monssen, sở dĩ chúng tôi biết được tên là do ám hiệu bằng đèn của chiếc tàu này. Monssen tưởng 3 chiến hạm Nhựt là đồng bọn. Ám hiệu bằng đèn của Monssen không khác nào một hành động tự sát, giống như đèn rọi của chiếc Amatsukaze đã kêu gọi chiếc Helena tìm đến. Nhiều quả trọng pháo rơi ngay vào chiếc Monssen, và tiếp liền theo Agasumo dứt điểm mục tiêu bằng mấy trái ngư lôi. Một tàu địch phía sau Monssen là khu trục hạm Fletcher không còn lòng dạ nào đối đầu nên đã quay đầu bỏ chạy.

Chiếc USS Sterrett, một trong những khu trục hạm còn sống sót của địch cho rằng đã đánh đắm một khu trục hạm Nhựt trong trận đánh này bằng 2 quả ngư lôi. Nhưng thật ra đây là một thành tích tưởng tượng, khu trục hạm Akatsuki (Rạng Ðông) đã bị đánh chìm từ trước, còn chiếc Yudachi lúc đó vẫn còn đang bốc cháy cách nhiều dặm ở phía Tây. Hiển nhiên là Sterrett đã đánh chìm lầm một tàu bạn, hoặc giả nạn nhân của nó là chiếc San Francisco đã nổi trôi bềnh bồng sau khi bị hỏa lực và ngư lôi Nhựt vùi dập.

Một số giả thuyết của Hoa Kỳ cho rằng chính súng Nhựt bắn vào các chiến hạm Nhựt lúc trận chiến gần kết thúc. Sau khi phối kiểm với tất cả các đồng đội tham dự trận đánh, và xem xét các vết hư hại của một số khu trục hạm, tôi có thể đoan quyết rằng các giả thuyết trên đều không đúng. Trái lại, nhiều đồng đội của tôi đã thuật lại rằng chính các chiến hạm Hoa Kỳ đã đấu súng với nhau trong trận này. Chính chiếc San Francisco đã bắn vào chiếc Atlanta.

Sau khi guồng và bánh lái của Amatsukaze không còn sử dụng được nữa, vì hệ thống thủy lực hỏng, chúng tôi bắt đầu sử dụng nhân lực. Cũng may, máy móc của chiếc tàu còn chạy tốt, chúng tôi tăng gia tốc lên 20 hải lý. Dùng tay giữ guồng lái với một chiếc tàu 2,500 tấn là cả một vấn đề. Số thủy thủ đảm trách công việc này đã tháo mồ hôi hột. Chiếc tàu chạy như người say rượu, hết xỉa bên này lại xỉa bên kia. Sau một vài phút nhìn tình trạng, tôi biết phải làm gì. Tôi ra lệnh: “Matsumoto, tôi sẽ điều khiển. Việc này đòi hỏi kinh nghiệm. Bây giờ tôi đứng ở đài quan sát để đưa ra các lịnh cho anh chuyển xuống thủy thủ phía dưới.”

Mười thủy thủ lực lưỡng đang kềm guồng lái mình ướt đẫm mồ hôi, chứng tỏ công việc rất nặng nhọc. Nhưng công việc của tôi lúc ấy trên đài chỉ huy cũng không phải dễ dàng. Tôi luôn phải hét thật to hướng đi của chiếc tàu cho Matsumoto nghe, đến nỗi giọng khàn hẳn và mồ hôi đổ xuống mặt như tắm. Chiếc tàu vẫn còn chạy xiên xẹo, nhưng có phần giảm đi chút ít.

Lúc 3g chiều, Ðại úy Miyoshi cho biết tất cả đám cháy do địch gây ra trên tàu đều đã được dập tắt. Vài phút sau, tôi nhìn thấy soái hạm Hiei ở mạn trái.

Lửa không cháy nữa nhưng chiếc tàu hoàn toàn bất động. Không có một chiến hạm Nhựt nào hiện diện xung quanh để tiếp cứu. Nghĩ đến các đồng đội trên chiếc Hiei bất hạnh này, tôi cảm thấy đau buồn, nhưng tôi bó tay, vì chính chiếc tàu của tôi đang lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Việc duy nhất tôi phải làm là cố giữ cho chiếc Amatsukaze chạy đúng hướng chánh Bắc. Công việc này không phải dễ dàng vì hải trình xuyên qua eo biển nhỏ hẹp. Tập trung hết hơi sức, tôi hét lớn qua ống nói điều khiển chiếc tàu tiếp tục di chuyển. Khi ánh sáng đầu ngày vừa lóe lên, Thiếu úy Shoji la to: “Ba phi cơ địch đang bay đến!”

Tôi ra lệnh: “Miyoshi, nắm quyền chỉ huy cao xạ. Hãy ráng hết sức anh!”

Sỹ quan ngư lôi xuống đài chỉ huy, và không lâu sau báo cáo: “Không còn khẩu cao xạ nào xoay nòng được nữa, riêng khẩu số 4 chỉ có thể xoay theo hướng lên xuống mà thôi!”

Khẩu súng duy nhất còn sử dụng được này đã khai hỏa nhanh chóng khi các phi cơ địch bay đến gần. Máy bay Mỹ ước lượng tốc độ Amatsukaze quá cao, thành thử những quả bom thả chặn đầu đếu rơi xuống cách khá xa. Trái bom gần nhứt rơi cách 300m. Các phi cơ địch chỉ lướt qua rồi bay thẳng về hướng Guadalcanal. Có thể phi cơ địch sẽ bay đến nữa, nhưng chúng tôi chỉ còn biết chịu đựng và không còn việc gì khác hơn để làm là cố giữ cho chiếc tàu chạy thẳng về phía trước.

Hình như may mắn đã bỏ chúng tôi đi mất. Thiếu úy Shoji lại báo cáo: “Tàu địch cách 9,000m trước mặt! Ðang đâm thẳng vào chúng ta!”

“Phải làm gì, thưa Hạm trưởng?” Shimizu hốt hoảng.

Thay vì đáp lời, tôi gọi qua ống nói: “Matsumoto, một tàu không rõ của ai, nhìn thấy ở phía trước. Tăng tốc lực tối đa. Nếu là chiến hạm địch, chúng ta húc mạnh vào nó.”

Shoji chạy lo sắp xếp thủy thủ đoàn để sẵn sàng với hành động liều mạng này. Tôi lại liếc về phía tàu địch. Nó đang tiến sát chúng tôi với tốc độ hơn 30 hải lý. Sau chừng một phút nghẹt thở, tôi đã thở khì như trút được gánh nặng, và cho người chạy đi gọi Shoji. “Là khu trục hạm Nhựt…! Chiếc Yukikaze, không lầm lẫn gì nữa.”

Shoji nhảy nhót vui mừng. Còn cách khoảng 3,000m, một thủy thủ của Yukikaze vẫy tín hiệu bằng cờ, nhìn thấy rất rõ dưới ánh nắng ban mai: “Gửi Amatsukaze lời chào nồng thắm nhứt! Chúng tôi đang chạy đến để đi kèm Hiei. Các bạn có cần giúp đỡ?”

Nhân viên truyền tin lập tức chuyển lời đáp của tôi: “Cám ơn các bạn. Ðừng lo lắng cho tôi, hãy chạy về phía trước hết tốc lực. Phi cơ địch đã phát hiện ra chúng tôi, và cũng rất có thể chiếc Hiei đã bị phát hiện. Nên chuẩn bị sẵn sàng để chống trả. Chúc may mắn.”

Chúng tôi vượt ngang phía trái của chiếc Yukikaze ở khoảng cách 1,000m. Những thủy thủ đứng trên boong trao nhau lời chào hỏi. Mặc dù hai chiếc tàu đã cùng chạy trên một hải trình dài dằng dặc nhưng đây là lần đầu tiên, kể từ sáng hôm qua, cả hai mới gặp nhau.

Yukikaze (Gió Tuyết) chạy ở ngay phía trước Amatsukaze (Thiên Phong) của tôi trong đội hình phức tạp của Ðề đốc Abê, nhưng cả hai không thể nhìn thấy nhau, vì di chuyển trong mưa bão. Trong trận đánh, Yukikaze và tuần dương hạm Nagara là hai chiếc đầu tiên rút lui ra khỏi khu vực, theo lệnh của Abê. Yukikaze không bị trúng một phát đạn nào.

Lời cảnh cáo tôi vừa nói với Yukikaze đã đúng. Hàng chục oanh tạc cơ Hoa Kỳ đã bay đến cấu xé chiếc Hiei ngay khi mặt trời lên. Ðề đốc Abê ra lệnh tự đánh đắm tàu trước khi bỏ soái hạm để thoát sang khu trục hạm Yukikaze vừa mới đến. Lệnh phá hủy tàu này có cái giá trách nhiệm phải trả. Abê và Ðại tá Masao Nishida, Hạm trưởng của Hiei, ra tòa án binh sau đó.

Linh Mục Nguyễn Văn Vàng Chết Trong Xà Lim Ngục Tù Cộng Sản

Vũ Ánh

Chuyển đăng: Vũ Thị Bình

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

Linh Mục Nguyễn Văn Vàng qua đời tháng 4-1985 ngay trong xà lim số 6 – Trại tập trung A-20 ở Xuân Phước.

Nếu có những linh mục cam tâm làm tay sai cho Cộng Sản để được vinh thân phì gia, thì cũng có rất rất nhiều vị kiên trung trong Đức Tin thà chết chứ không làm tôi cho bọn quỷ dữ…

Ngày 29-4-1984, tôi được chuyển sang xà lim số 6 trại A-20 ở chung với Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, linh hồn của một vụ nổi dậy do ngài và người em chủ trương năm 1976. Tôi hoàn toàn không hiểu lý do của việc chuyển xà lim cá nhân này. Ðây cũng là ngày mà tôi đánh dấu 3 năm bị cùm hai chân và có giai đoạn cả hai tay trong xà lim số 5. Phải nói là tôi bị gông thì đúng hơn. Nếu quý vị được nhìn thấy những tội phạm của thời phong kiến bị gông như thế nào thì chúng tôi bị gông như thế nấy. Chỉ có khác là nhà tù Cộng sản không gông cổ mà thôi.

Linh Mục Vàng, một nhà giảng đạo lỗi lạc của dòng Chúa Cứu Thế, sau khi bị lên án chung thân khổ sai sau vụ và em ruột ngài là Linh Mục Hiệu bị xử tử, đã bị đưa lưu đầy tại trại A-20 Xuân Phước. Khi tôi đã nằm cùm trong biệt giam trong phòng số 5 được 2 năm thì một hôm Linh Mục Nguyễn Văn Vàng lúc ấy từ trại lao động bị đưa vào xà lim số 6, bên cạnh xà lim tôi bị giam.

Khi còn ở ngoài trại lao động, Ngài là đối tượng theo dõi của đám an ninh trại giam, nhất cử nhất động đều không qua mắt được một giàn ăng ten dầy đặc vây quanh vị tu sĩ công giáo này. Bọn an ninh trại nói thẳng ra rằng nếu chúng bắt gặp bất cứ tù nhân nào liên hệ với Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, sẽ cùm ngay.

Tôi là một Phật Tử, nhưng mối liên hệ với Cha Vàng khá thân thiết và chúng tôi thường đàm đạo với nhau vào mỗi ngày sau giờ cơm chiều trước khi điểm số để vào buồng giam, không chấp lệnh của trại. Có lẽ đây là lý do bọn an ninh trại đưa tôi đi “nghỉ mát” trước và 2 năm sau họ đưa Cha Vàng và một vài anh em nữa vào những chiếc hộp nhỏ ở ngay sau nhà bếp của trại A. Trại tập trung A-20 ở Xuân Phước thường được chúng tôi gọi là trại trừng giới (danh từ có từ thời Pháp thuộc để chỉ những trại có quy chế trừng trị tù nhân khắt khe.) Cục Quản Lý Trại Giam của Cộng Sản thì gọi những loại trại này là Trại Kiên Giam.

Những người xây dựng trại Xuân Phước là ai? Cái oái oăm của lịch sử mà chúng tôi gặp phải chính là ở chỗ: Trại tù này lại do chính bàn tay của những người từng được di tản tới Guam trước ngày 30-4-1975, sau đó lại biểu tình đòi trở về lại Việt Nam bằng tầu Việt Nam Thương Tín, tạo dựng lên.

Lúc chúng tôi được chuyển trại về đây thì có một số vẫn chưa được trả tự do. Chạy nạn Cộng Sản tới Guam, rồi vì những lý do riêng biệt hầu hết là vì gia đình còn kẹt lại, trong cơn hoang mang và đau khổ tột độ, tình cảm che lấp lý trí và bị kích động, họ đòi quay trở về với lý do xây dựng lại quê hương sau chiến tranh. Nhưng người Cộng Sản thừa hiểu, những người tị nạn này quay trở về chỉ vì có người còn vợ con, có người còn mẹ già không có người săn sóc, có người hoảng loạn bỏ lại vợ mới cưới, người tình đằng sau. Cho nên, Cộng Sản mở một cuộc đón tiếp để quay phim chụp hình và sau đó đẩy tất cả đàn ông vào khu rừng Xuân Phước và bị buộc phải xây dựng nhà tù này để chính quyền Cộng Sản giam giữ chính những đồng đội của mình. Tôi đã có rất nhiều dịp tiếp xúc với họ, nên hiểu được tấm lòng của họ và thấy họ đáng thương quý hơn là đáng trách. Một sĩ quan xưng là quản gia cho tướng Nguyễn Cao Kỳ tâm sự với tôi:

– “Cậu tính coi, lúc đó vì hoang mang đi gấp không kịp lôi vợ con và bà mẹ già theo… Ðến Guam, cứ nghĩ đến họ, làm sao nuốt nổi miếng cơm chứ. Tôi biết nhiều người không thể thông cảm được lý do tôi trở về, trong đó có thể có cả vợ con tôi nữa, nhưng đành chịu vậy. Cho nên dù bị đẩy vào hoàn cảnh khốn nạn như thế này, tôi vẫn thấy lương tâm yên ổn hơn” …

Tôi không có ý định nói chi tiết về vụ này mà muốn trở lại cái đêm Noel trong xà lim số 6. Xà lim là tiếng dịch theo âm Việt Nam của “cellule” (tiếng Pháp), xuất hiện trong văn chương và báo chí từ thời Pháp thuộc. Thực ra nếu tra tự điển tiếng Anh Việt hay Pháp Việt, chữ cell hay cellule đều có nghĩa là “tế bào”. Trong các trại tù của những quốc gia theo chủ nghĩa tư bản cũng như chủ nghĩa cộng sản, hoặc các quốc gia dân chủ tự do, những “tế bào” vẫn được hiểu là những phòng biệt giam cá nhân để trừng phạt những tù nhân nguy hiểm. Những phòng biệt giam cá nhân này thường được xây dựng theo một tiêu chuẩn giống nhau: Không gian nhỏ hẹp của chúng phải đáp ứng được nhu cầu trừng phạt cả thể xác lẫn tinh thần người tù. Riêng tại các trại cải tạo do người Cộng Sản dựng lên, những phòng biệt giam cá nhân được gọi bằng một nhóm từ “nhà kỷ luật”.

Trại A ở A-20 Xuân Phước có một dãy 10 phòng biệt giam cá nhân, mỗi phòng như vậy giống như một cái hộp với bề rộng 3 thước, dài 3 thước, cao 6 thước, xây dựng bằng vật liệu bê tông cốt sắt, kín mít chỉ có một lỗ tò vò nhỏ ở cánh cửa trước để cho vệ binh kiểm soát tù nhân ở bên trong. Ở phía trong mỗi xà lim cá nhân, có hai bệ nằm song song, cách nhau bằng một khoảng hẹp khoảng nửa thước. Người tù nằm trên bệ quay mặt ra phía cửa hai chân bị cùm chặt bằng một cùm sắt (trong hình), có nhiều trường hợp bị cùm cả hai chân hai tay.

Nhưng cùm như thế nào? Có phải là cùm bằng còng số 8 như ta thấy cảnh sát Mỹ còng tay phạm nhân để giải giao về sở cảnh sát không? Thưa không phải như vậy! Làm gì chúng tôi lại được ưu đãi đó. Loại còng trong những xà lim mà tôi trải qua suốt 5 năm liên tiếp tại A-20 trong rừng Xuân Phước là “cùm Omega”.

Tại sao lại gọi loại cùm này bằng cái tên của một hiệu đồng hồ rất nổi tiếng là đồng hồ Omega. Hai cái vòng sắt để khóa hai chân người có hình thù giống y chang logo của đồng hồ Omega (minh họa của Bùi Ánh.) Khi bị còng trong xà lim, người tù cải tạo bị đẩy ngồi lên bệ nằm, duỗi thẳng hai chân. Viên cán bộ an ninh trại giam sai một trật tự lấy ra một lô vòng sắt hình ký hiệu omega ra và ướm thử vào cổ chân người tù. Nếu đám an ninh trại giam không có ý định trừng phạt nặng tù nhân cải tạo thì họ ra lệnh cho trật tự lấy hai vòng omega vừa vặn với cổ chân người tù cải tạo. Ngược lại nếu họ muốn trừng phạt nặng và muốn làm nhiễm độc thối chân người tù, họ tra vào cổ chân tù cải trạo hai vòng omega nhỏ hơn vòng cổ chân rồi đóng mạnh xuống. Khi cổ chân người tù lọt vào được chiếc vòng omega, nó đã làm trầy trụa một phần hay nhiều phần cổ chân người tù. Sau đó, họ tra vào bên dưới một cây sắt dài qua những bốn lỗ tròn ở hai vòng omega, một đầu cây sắt ăn sâu vào mặt tường trong, đầu phía ngoài của thanh sắt được xỏ qua một chốt được gắn thật sâu xuống cạnh bên ngoài của bệ nằm.

Một cây sắt khác ngắn hơn, một đầu được uốn tròn, đầu kia của cây sắt này được đánh dẹp và khoan một lỗ nhỏ. Khi hai thanh sắt này được khóa chặt với nhau thì một đầu của cây sắt dọc sẽ xuyên qua một lỗ nhỏ tường phía trước, thò ra ngoài ra ngoài một đoạn. Chỉ việc tra một cái khóa vào đầu phía ngoài ấy của thanh sắt dọc là tất cả hệ thống trên sẽ tạo thành một cái cùm thật chặt khó lòng một người tù nào có thể mở khóa vì mấu chốt để tháo cùm là ổ khóa bên ngoài. Phải mở được ổ khóa bên ngoài thì mới mở được cùm.

Có bốn mức cùm dành cho một tù cải tạo khi họ bị biệt giam ở trại Xuân Phước:

Mức độ 1: Cùm một chân phải.

Mức độ 2: Cùm một chân trái.

Mức độ 3: Cùm hai chân.

Mức độ 4: Cùm hai chân hai tay.

Tôi đã trải qua mức độ 4 trong 8 tháng liên tiếp, sau đó giảm xuống mức độ ba, rồi lại tăng lên mức độ 4 trước khi giảm xuống mức độ 3, 2 rồi 1. Khi còn bị cùm mức độ 4, ngoài hai bữa ăn và ban đêm, tôi được tháo cùm 2 tay, thời gian còn lại lúc nào tôi cũng phải ngồi cong như con tôm luộc vì kiểu cùm độc ác này. Sở dĩ tôi được giảm xuống mức độ 3 rồi trở lại mức độ 4 chỉ vì một sự kiện: Sự can thiệp của Hội Ân Xá Quốc Tế để thả tôi ra. Khi hai thành viên của Hội này là bà Frederick Fuchs (người Bỉ) và ông Pierre Carreaux (cựu chiến binh người Pháp) từ Belgique bay qua Bangkok với một danh sách 14 ký giả, phóng viên bị trả thù bởi chế độ mới tại Việt Nam và đòi đến Hà Nội để được gặp mặt những người này. Chỉ có bà Fuchs là được vào Hà Nội, nhưng bà chỉ được nhận hồ sơ can thiệp và được phép thăm bà mẹ tôi tại Saigon chứ không được đến trại A-20 gặp mặt tôi. Khi bà Fuchs đòi chiếu khán ở Bangkok để vào Hà Nội trùng vào thời điểm tôi được tháo cùm hai tay và thời gian bà Fuchs rời Hà Nội trùng thời gian tôi bị trở lại mức cùm số 4.

Trước khi tôi được tháo cùm hưởng ân huệ ở mức độ 2, thì một phái đoàn do Hoàng Thanh hướng dẫn từ Hà Nội vào “thăm” A-20. Ông ta lôi một lô những người tù cải tạo đang nằm trong biệt giam tại trại A cũng như B ở A-20 ra thẩm cung. Tôi được một trong những thẩm vấn viên cho xem bản sao những lá thư can thiệp đòi thả tôi, và 13 ký giả khác trong đó có kèm theo cả những lá thư của bằng hữu và đồng nghiệp với tôi ở Pháp, trong đó có thư của ông Trần Văn Ngô tức ký giả Từ Nguyên, một cựu phóng viên của Việt Tấn Xã thuộc lớp đàn anh chúng tôi. Sau đó anh ta nói thẳng với tôi:

– “Bọn mày thấy đấy, mấy thằng Tây này kể cả mấy thằng ký giả Việt gian chạy trốn tổ quốc không thể đánh tháo chúng mày được. Khôn hồn thì chịu cải tạo để không bị chết trong cùm. Suốt đời chúng mày sẽ không ra khỏi cái thung lũng này được đâu. Ân Xá Quốc Tế hả, còn khuya bọn nó mới làm gì được chúng tao”.

Tôi không trách gì việc can thiệp này mà lại còn vui là đằng khác, bởi vì nó củng cố cho tôi một niềm tin và thấy được tấm lòng hào sảng của bạn bè đồng nghiệp ra được nước ngoài. Tôi thành thật tri ân họ. Những ngày tiếp theo, tôi bị nâng cùm ở mức độ 4 và bị cắt khẩu phần ăn xuống chỉ còn bằng một nửa so với các anh em bên ngoài, nghĩa là chỉ còn mỗi bữa ăn 150 grams. Nếu tính chi ly ra thì 150 grams thực phẩm mỗi ngày gồm khoản 5 lát khoai mì khô luộc và một muỗng cơm, tất cả chan đẫm nước muối và được phát cho nửa ca nước một ngày. Ăn mặn và uống nước ít, người rất dễ bị phù sẽ ảnh hưởng tới thận. Trong tù mà bị thận thì kể như tàn đời. Cho nên ăn lúc đó trở thành ít quan trọng hơn dù lúc đó chúng tôi đã là lũ ma đói. Cái khát triền miên đã che đi cái đói. Nếu tôi muốn ăn được khẩu phần dành cho người đang bị trừng phạt phải dùng ít nhất nửa phần nước để rửa bớt cái mặn của nước muối được chan vào cơm và khoai mì. Tôi không dám hy sinh những muỗng nước quý như vàng lúc đó để rửa phần khoai. Tôi nghĩ chỉ có cách nhịn, nhưng càng đói lả đi thì mồ hôi ra như tắm, một tình trạng hết sức nguy hiểm. Cha Vàng thấy tôi lả đi, ngài đập cửa báo cáo nhưng đám cán bộ của nhà kỷ luật im lặng, coi như không có chuyện gì xảy ra. Buổi trưa hôm đó, cha Vàng nẩy ra một ý kiến. Ngài nói:

– “Anh không thể tránh ăn mãi như thế. Nếu Chúa che chở cho mình, phù cũng không chết. Bố tự trách không nghĩ ra việc hy sinh nửa ca nước của bố cho anh. Khoai mì ít ngấm nước muối hơn. Bố sẽ hy sinh nửa phần nước để anh rửa khoai mì cho bớt mặn”.

Tôi khước từ:

– “Bố (trong tù chúng tôi đều gọi tất cả các tu sĩ của các đạo giáo là bố hết) lớn tuổi sức chịu đựng yếu rồi, nhịn khát như con không được đâu”.

Ông cười:

– “Sao biết không được, đã thử đâu mà biết không được.”

Tôi chọc ngài cho bớt căng thẳng:

– “Thế bố đã thử chưa mà khi đi giảng đạo có lúc bố nói về hạnh phúc lứa đôi”.

Cả hai chúng tôi đều cười vang. Cha Vàng nói:

– “Ê này, để bố nói cho anh nghe chuyện này. Bố dù là linh mục thì cũng là người, con tim cũng rung động như mọi người khác, nhiều lúc bố cũng muốn thử. Những lúc như thế mình phải tranh đấu với chính bản thân mình ghê lắm để đừng vượt rào đi ăn tình. Ðiều này cũng cần can đảm mới làm được. Tín đồ kính trọng người tu hành là kính trong sự can đảm ấy, kính trọng sự vượt qua để phụng sự, chứ nếu giống như thường tình thì nói gì nữa”.

Vâng thưa quý vị, giải pháp của Cha Vàng đã khiến cho một tuần, hai tuần, ba tuần qua đi nhanh và vô hiệu hóa được sự trừng phạt. Vào tuần lễ thứ tư của cuộc trừng phạt, như một phép lạ, viên cán bộ phát cơm nhà kỷ luật không phải là tên trực trại như thường lệ mà là một anh chàng lạ hoắc. Tù nhân mang cơm cho nhà kỷ luật cũng không phải là Hùng đen mà là Tuấn “sún” ở đội tù hình sự. Thông thường, khi vào phát khẩu phần cho nhà kỷ luật, viên cán bộ trực trại thường mở xà lim có tù nhân “bị gởi” (tù nhân bị ăn chế độ trừng phạt) trước. Nhưng lần này thấy các xà lim được lần lượt mở từ 1 cho đến 9 (số hên?) Xà lim 10 không có “khách”.

Ðến xà lim số 6, cha Vàng đưa hai chiếc bát nhựa và hai ca đựng nước ra trong khi viên cán bộ đích thân mở khóa tay cho tôi. Viên cán bộ này mặc đồ công an không lon lá gì cả nên không biết cấp bậc anh ta. Phát khoai xong, thấy Tuấn “sún” múc một vá nước muối, viên cán bộ nói ngay:

– “Ít muối thôi, chan đẫm vào, làm sao người ta ăn được”.

Ðến phần nước, khi thấy Tuấn “sún” múc đầy cả hai ca, tôi hiểu rằng hôm đó tên cán bộ trực trại có việc gì đó không mở trại kỷ luật được, nên nhờ bạn thay thế. Vì làm thế nên anh chàng này không còn nhớ hoặc không thèm nhớ là trong trại có tù nhân phải ăn khẩu phần dành cho chế độ trừng phạt. Phát xà lim số 9 xong, lại thấy có tiếng chìa khóa mở cửa xà lim số 6 của tôi. Tôi đinh ninh rằng họ quay lại để lấy bớt phần nước nên tôi vội vàng cầm ca nước uống hết. Nhưng không, Tuấn “sún” xách thùng nước đứng ở cửa phòng hỏi: “Có gì đựng thêm nước không”.

Tôi nói: “Có.” và đưa ca nước ra.

Tuấn “sún” đổ đầy hai ca nước, rồi lại hỏi:

– “Còn đồ đựng nước khác không?”

Cả hai chúng tôi lắc đầu. Viên cán bộ xen vào:

– “Ðổ vào thau cơm cho họ, chiều hay mai lấy ra”.

Hình phạt dành cho tôi chấm dứt vào đầu tháng 11. Tôi đoán hết lý do này đến lý do khác khiến chúng chấm dứt sự trừng phạt đối với tôi. Nhưng cha Vàng nhận định:

– “Nếu cần phải giết chúng ta, chúng đã tùng xẻo mình ngay từ lúc đầu. Ðoán làm gì cho mệt…”

Cuối tháng 11, cả hai chúng tôi đều được mở cùm cho ra đi tắm, lần đầu tiên sau 3 năm biệt giam. Khi được mở cùm, tôi đứng lên không nổi vì hai chân dường như cứng lại. Cha Vàng cũng nằm trong tình trạng ấy, nhưng ngài mới bị biệt giam hơn một năm nên còn lết được. Chúng tôi bám lấy nhau theo hướng dẫn của trật tự đi ra ngoài giếng được đào bên cạnh một ao cá ngay sau nhà kỷ luật. Thời tiết tháng 11 ở vùng tiền sơn Tuy Hòa đã lạnh lắm rồi. Tôi còn có được một cái áo lạnh tự may bằng cách phá một chiếc chăn len của một bạn tù cho từ năm 1980. Khi được cho chiếc chăn len này, tôi nghĩ ngay đến chuyện may thành chiếc áo giống như áo trấn thủ. Trò may vá trong các trại tù cũng là một thú tiêu khiển và giết thời giờ. Chúng dùng những cọng sắt để làm kim và chỉ thì bằng những sợi rút ra từ những chiếc áo hay quần may bằng bao cát. Chính ở những trò may vá này, chúng tôi học được một bài học: Cùng thì tắc biến. Trước những trò đàn áp, những mưu chước thô bạo quản thúc con người trong các nhà tù cộng sản, vẫn có rất nhiều người vượt qua được cơn khốn khó do bản năng sống còn của họ rất mạnh.

Cứ thử nghĩ một người nếu ăn bất cứ con vật gì mà họ bắt được kể cả rít núi, cỏ kiểng, ăn sống cả loại khoai mì H-34 có nhiều chất độc trên đất Hoa Kỳ này, thì chỉ có nước vào nhà thương sớm. Nhưng thời gian dưới các nhà tù Cộng Sản bệnh không có thuốc, ăn bậy bạ mà các tù nhân cải tạo ít bị hề hấn gì. Tôi nghĩ một cách chủ quan rằng chỉ có phép lạ hay bản năng tự tồn của người khi bị đẩy vào cùng quẫn mạnh, mới giúp cho một người tù sống được và có ngày trở về. Một số bạn tù của tôi sau này hay nói đến chuyện sống vì tinh thần, lúc đầu tôi chỉ coi là chuyện vui, nhưng ngẫm nghĩ lại thấy cũng có phần chí lý. Khi một người tù chấp nhận phần xấu nhất về mình, sẽ bất chấp những đòn thù. Vì một người biết chấp nhận phần xấu nhất về mình trong hoàn cảnh lưu đầy, sẽ chẳng còn gì phải suy nghĩ về hiện tại lẫn tương lai, ngày về. Lúc đó nếu Việt cộng có bắn mình một viên vào ngực, có lẽ điều đó được coi là ân huệ hơn là kéo dài cuộc sống của những người tù theo cách nửa sống, nửa chết như thế. Cho nên, người cộng sản có thể tính được nhiều trò đàn áp, hành hạ con người, nhưng không tính được điều liên quan đến bản năng và tinh thần của con người.

Khi chúng tôi ra đến bờ giếng là muốn trở lại ngay xà lim. Còn tắm táp gì trong điều kiện thời tiết này. Thấy Cha Vàng run lên bần bật vì gió lạnh. Ngài lại chỉ mặc một chiếc áo len mỏng bên trong bộ đồ tù, nên tôi cởi chiếc áo trấn thủ và nói:

– “Bố đưa chiếc áo len con, bố mặc chiếc áo của con vào ngay. Bố phong phanh thế, cảm lạnh bây giờ. Bố nhớ rằng ở đây không có thuốc, mặc chiếc áo này của con đi, bố đưa áo len cho con”.

Ông nhất định không chịu, nhưng cuối cùng tôi vẫn lột chiếc áo len của cha Vàng ra và mặc chiếc áo trấn thủ may bằng chăn len hai lớp của tôi, tôi mặc chiếc áo len của ông. Dĩ nhiên chúng tôi chẳng tắm táp gì được cả, ngồi núp vào bức tường che giếng nước để tránh gió. Cha Vàng ít run rẩy hơn. Ngài đứng dậy và vung tay cử động. Tôi làm theo ngài. Tôi có cảm tưởng cứ mỗi lần vung tay cử động theo kiểu Dịch Cân Kinh thì chúng tôi choáng váng có thể chúi về trước, nhưng đồng thời cũng cảm thấy bớt lạnh. Viên cán bộ trực trại dặn chúng tôi:

– “Các anh tắm thì tắm, không muốn thì thôi. Nếu không thì ngồi đây phơi nắng (ở Xuân Phước, mùa Ðông thường không thấy mặt trời). Cấm không được liên hệ với ai”.

Nói xong, anh ta bỏ đi.

Nói thì nói vậy, nhưng các anh em trong nhà bếp đều là anh em sĩ quan cải tạo, nên cũng tìm cách tiếp tế cho chúng tôi vài miếng cơm cháy, mấy tán đường. L.S, một người Việt gốc hoa, một tỷ phú, vua máy cày trước 30-4-1975 bị đẩy lên trại này sau khi lãnh cái án 20 năm tù sau đợt đánh tư sản mại bản lần thứ nhất, đang được cắt cử coi vườn rau cải. Ông ta từ vườn rau đi khơi khơi, không lén lút gì, đến thẳng chỗ chúng tôi, đưa một gói bánh trong đó có ít bánh bisquit lạt và ít đường tán, và thiết thực hơn là khoảng 10 viên thuốc B1. L.S nói:

– “Ngộ biếu, bánh đường ăn hết ở ngoài này đi, đừng mang vào chúng nó sẽ tịch thu. Thuốc B1 cần cho các nị lắm á. Cứ ăn từ từ, đừng có lo, nhà nước ‘no’ hết”.

Xong ông ta bỏ đi.

Nhóm người Việt gốc Hoa sống trong trại rất đầy đủ, nhưng đối với chúng tôi, lúc nào họ cũng cư xử đàng hoàng. Những tin tức từ bên ngoài được đem vào trại của họ khá chính xác. A-20 là trại trừng giới nhưng quà thăm nuôi hàng tháng của họ chất đầy chỗ nằm. Mỗi lần thăm gặp họ ở với gia đình cả ngày ở ngoài nhà thăm nuôi cũng được, nếu họ muốn. Nhưng ít khi nào họ hành động như vậy. Môi trường ở A-20 là môi trường tế nhị. Những doanh nhân này đầu óc rất thực tế: Có tiền mua tiên cũng được huống chi đám cán bộ trại giam vốn cũng đói rách. Cái giá của việc khơi khơi đến tiếp tế cho chúng tôi ít ra cũng phải trả bằng 6 tháng biệt giam, nếu bị bắt gặp. Nhưng 6 tháng biệt giam chỉ tương đương với 2 cặp lạp xưởng. Ông là người tù duy nhất ở trong trại có thể trả cái giá ấy bằng lạp xưởng hay nửa bao thuốc lá ba số 5 thay vì vào biệt giam. LS biết chắc rằng buổi tối hôm ấy, tên trật tự (bị án chung thân vì tội cướp có súng) sẽ xuống gọi LS ra cửa sổ buồng giam và xin hai cặp lạp xưởng cho cán bộ nấu xôi. Cho nên, LS đi đâu một lúc rồi ông ta trở lại với cái điếu cày, diêm và nói:

– “Thuốc lào này say lắm, cẩn thận. Ðừng mang diêm vào biệt giam”.

Hút xong thuốc lào, chờ cơn “phê” nhạt dần, tôi chợt nẩy ra ý kiến:

– “Bố ơi mình giấu 2 bi (tiếng lóng của hai điếu) để đêm Noel hút”.

Tôi quấn nhúm thuốc còn lại cho thật nhỏ vào bao nhựa đựng 10 viên B1 và nhét vào gấu quần. Cái gấu quần là chỗ hôi thối của những người tù 3 năm không được tắm, chắc không có ai muốn sờ đến nên có thể an toàn. Biệt giam là nơi cấm hết mọi thứ kể cả thuốc hút nên chúng tôi phải hành động như vậy. Và quả thật, trước khi mang chúng tôi vào lại xà lim, trật tự Hùng đen chỉ khám sơ sơ. Tôi và Cha Vàng đã thắng.

Nhưng vào đến xà lim, sau khi xỏ chân vào cùm, nghĩ lại tôi mới thấy thất vọng: lửa ở đâu mà hút. Thảo luận mãi, Cha Vàng đưa ý kiến, lấy lửa bằng phương pháp của thời kỳ đồ đá. Tôi lại chọc vị tu sĩ Công giáo rất hùng biện này:

– “Bố con mình đang ở thời kỳ đất sét mà bố nghĩ đến phương pháp của thời kỳ đồ đá”.

Cha Vàng cười:

– “Mày chỉ tầm xàm. Ðứng đắn đấy. Ðêm Noel mình sẽ hút thuốc lào, bố có cách rồi”.

Sau đó cha Vàng giảng giải cho tôi cách lấy lửa “thời kỳ đồ đá”. Vị tu sĩ nói như giảng đạo: “Này nhé, con có biết rằng nền văn minh ngày nay đến từ việc phát minh ra lửa. Lửa chế ngự đồi sống con người khi họ thoát ra thời kỳ ăn lông ở lỗ… Con người thời kỳ đồ đá đã biết dùng đá chọi vào nhau cho đến khi xẹt lửa. Những tia lửa đó rớt xuống đám lá khô dễ bắt lửa và họ thổi cháy thành ngọn lửa”.

Cha Vàng nói:

– “Chỉ cần một thanh vỏ tre và áo mục”.

Tôi hỏi Cha Vàng:

– “Áo mục thì có sẵn, nhưng thanh vỏ tre?”

Cha Vàng cười:

– “Bố giao nhiệm vụ cho mày nếu bị kêu đi thẩm cung, thế nào trước Noel chúng cũng gọi chúng ta ra tra vấn và khám xà lim, một biện pháp an ninh trước những ngày lễ trọng…”

Do kinh nghiệm, cha Vàng nói đúng. Năm ngày trước Noel, trời có nắng, những tia nắng hiếm hoi xuyên qua cửa tò vò vào phòng giam. Ngài vội lấy chiếc áo tù bằng vải thô vá chằng vá đụp, xé hai mảnh nhỏ. Ngài nói:

– “Ðây là cái áo bố đã giặt rất sạch trước khi vào đây, để làm con cúi lấy lửa khi cần. Xé nó ra phơi cho thật khô. Cuộn lại cho chặt thành một cuộn bằng ngón tay cái. Dùng móng tay đánh tơi một đầu, đánh thật tơi cho đến khi sợi vải ở đầu con cúi xuất hiện một lớp bông. Dùng miếng vỏ tre thật mỏng luồn nó vào cái khe hẹp để gắn quai dép lốp rồi kéo cho đến khi thanh tre nóng bỏng. Hơi nóng của bột tre dính trên mặt bông của con cúi, lửa sẽ ngún và thổi nhè nhẹ vết lửa sẽ loang ra, chỉ cần thổi nhẹ là lửa sẽ bật lên”.

Nghe Cha Vàng nói tôi tưởng là ngài nói chuyện thần thoại. Nhưng do vẫn nghĩ đến phép lạ, nên tôi nghe theo lời ngài. Tôi nghĩ đây là một trò vui và cũng là dịp tự thử thách mình. Ðúng như dự đoán, trước Noel 1984 ba ngày, lần lượt chúng tôi bị kêu ra ngoài thẩm cung và xà lim bị khám xét rất kỹ. Nhưng họ vẫn không phát giác ra được mấy điếu thuốc lào và thuốc B1 tôi giấu trong lai quần. Có lẽ do người hôi thối quá nên, anh cán bộ nào cũng sợ mó vào quần áo tôi. Chỉ còn thanh tre mỏng. Tôi nghĩ ra một kế nên báo cáo cán bộ cho xin một thanh tre mỏng mang vào xà lim để làm dồ cạo lưỡi. Viên cán bộ hỏi tôi:

– “Lưỡi anh làm sao?”

Tôi nói: – “Ðóng bợn ba năm rồi không được cạo, nên xin cán bộ.”

Anh ta không nghi ngờ gì cả nên gật đầu:

– “Nhưng tre ở đâu ra?”

Tôi nói ngay:

– “Ở nhà bếp chắc có”.

Anh cán bộ gọi trật tự Hùng đen:

– “Xuống nhà bếp bảo họ cho tôi một vỏ tre cạo lưỡi cho anh này”.

Tôi lại gặp may lần nữa. Mấy anh em nhà bếp tưởng làm cây cạo lưỡi cho cán bộ nên họ làm rất kỹ và tôi có một thanh cạo lưỡi bằng vỏ tre khô dài khoảng 2 gang tay.

Sau khi trở lại xà lim, tôi bắt đầu thực tập ngay. Tháo một quai dép lốp ra, tôi luồn thanh tre vào và dùng hai tay kéo cưa. Thấy nóng thật, tôi ra sức kéo mạnh. Cha Vàng vội can:

– “Kéo từ từ, thở ra hít vào đều, ít ra cũng một tiếng đồng hồ”. Tôi lại chọc cha Vàng:

– “Bố ơi, mình đang ở thời kỳ đồ đất mà kéo như thế này, chắc phải ăn 5 phần khoai mì may ra mới bù lại được. Ðồ đất dễ vỡ lắm!”

Vị linh mục cười hiền lành:

– “Thôi đừng có nói nữa, anh nói nhiều xì hơi còn sức đâu mà kéo.”

Trong khi tôi đánh vật với chiếc dép và thanh tre, thì Cha Vàng móc trong tay nải lấy hai miếng vải đã phơi khô ra và làm thành một con cúi. Ông chà một đầu con cúi xuống sàn rồi lấy móng tay út lúc đó đã dài như móng tay của mấy bà người Tàu bó chân, khẩy khẩy cả tiếng đồng hồ vào những thớ vải lúc đó đã hơi bung ra. Ðến khi thấy mệt, mồ hôi ra như tắm, tôi nói với Cha Vàng:

– “Con chịu thua rồi bố ơi, mệt quá”.

Cha Vàng khuyến khích:

– “Ðừng ngừng, tiếp tục để bố thử coi.”

Tôi tiếp tục kéo. Bột tre đã văng ra có thể nhìn thấy trên sàn. Khi Cha Vàng lựa thế đưa cúi vào thì tôi gia tăng tốc độ. Cha Vàng reo lên:

– “Hơi ngún rồi, tại chưa bén than vì anh kéo chưa đủ đô”.

Quả thật tôi cũng thấy một chút khói bốc lên. Ngày hôm sau, chúng tôi lại thử, một cuộc chạy đua tiếp sức của hai người. Ðể con cúi vải xuống sàn, tôi và Cha Vàng thay phiên nhau kéo, từ 9 giờ sáng cho đến hơn 11 giờ thì “phép lạ” đã đến. Ðầu con cúi bắt đầu ngún và có khói, có nghĩa là bột tre nóng quá độ đã khiến cho lớp bông nhẹ trên con cúi bén lửa. Một lát sau khi thấy xuất hiện những đốm hồng, Cha Vàng thổi nhẹ nhẹ, vết lửa lan ra, trang sử của mấy ngàn năm trước được lật lại. Cha Vàng tiếp tục thổi nhẹ để nuôi dưỡng ngọn lửa. Và khi đã ngủi thấy mùi khét của vải, ngài thổi hơi mạnh. Ngọn than hồng lan rộng ra hơn và cuối cùng chỉ cần một hơi nhẹ, ngọn lửa bùng lên. Vị tu sĩ nhìn con cúi vải có than hồng giống như một điếu thuốc lá mới được đốt lên, rồi cười vang:

– “Mình thắng”.

Ngài lục trong tay nải một miếng giấy châm vào cúi vải, ngọn lửa lan sang đóm giấy. Xong, cha nắm chặt tay tôi giơ lên cao như một võ sĩ được trọng tài nắm tay giơ cao sau khi đấm địch thủ đo ván.

Chúng tôi ngồi nghỉ một lát, sau đó Cha Vàng nói:

– “Chúng ta đã học xong bài học lúc bố đã ngoài 50, còn con đã 33 tuổi. Nhưng tự bố, bố thấy chúng ta xứng đáng với bài học ấy. Ðó là kiên trì đạt mục tiêu trong hoàn cảnh khó khăn nhất”.

Ðúng vào tối 24-12-1984, trước khi Cha Vàng cử hành thánh lễ nửa đêm trong xà lim số 6, chúng tôi đã hút mỗi người một điếu thuốc lào. Hút bằng một miếng giấy cuộn tròn như loa kèn và ngậm nước. Hút như thế, miệng mình chính là cái điếu, và cũng có tiếng kêu, cũng chếnh choáng say như khi hút bằng điếu cày. Chỉ có điều khác với hút thuốc lào bằng điếu cày: Sau khi hút phải nhổ nước đi. Trong hoàn cảnh tôi và Cha Vàng lúc đó thì hơi tiếc vì chúng tôi thiếu nước uống kinh niên.

Kể từ ngày sống cùng một xà lim với Cha Nguyễn Văn Vàng, tôi học được nhiều điều. Trong suốt thời gian này, ngài giảng cho tôi bộ Tân Ước. Dù tôi là một Phật tử, nhưng nghe một nhà truyền đạo Công giáo chuyên môn giảng kinh, nên bộ Tân Ước đã củng cố những lập luận sau này của tôi rất nhiều. Quan trọng hơn hết, đó chính là kỷ niệm với một tu sĩ mà tôi kính trọng.

Tháng 4-1985, Cha Vàng lâm bệnh vào lúc sức khỏe của Ngài đã quá yếu. Có lẽ Ngài đã kiệt sức, sốt cao rồi đi vào hôn mê. Tôi đập cửa kêu cấp cứu suốt ngày, nhưng lúc tên trực trại chịu mở cửa để cho một y sĩ vào khám bệnh, thì mọi việc có vẻ quá muộn. Hai viên trụ sinh không đủ khả năng làm Cha Vàng tỉnh lại. Vào đúng lúc cả hai chúng tôi đều cảm nhận được mùa Giáng Sinh đã trở lại thung lũng Xuân Phước qua tiếng chuông của một nhà thờ dường như ở cách chúng tôi xa lắm vọng về trong đêm lạnh giá và u tịch

Linh Mục Nguyễn Văn Vàng qua đời ngay trong xà lim số 6. Trước đó, dù yếu và bệnh, Ngài đã bàn với tôi là làm sao có được bánh thánh lúc ngài làm lễ nửa đêm trong Noel 1985 mà con chiên duy nhất trước Ngài lúc đó lại là một Phật tử như tôi.

Nhưng mơ ước của Ngài không thành, kể cả việc lớn trước đó là lập lực lượng võ trang để mong lật ngược lại tình thế của một đất nước vừa chìm đắm trong luồng sóng đỏ. Nhưng dù Ngài đã mất đi, trong suy nghĩ của tôi cho đến bây giờ, Linh Mục Nguyễn Văn Vàng vẫn là một ngọn lửa, âm thầm cháy như con cúi vải ngày nào bỗng bùng lên soi sáng cái không gian tăm tối của tất cả những xà lim đang hiện diện trên đất nước Việt Nam.

Vũ Ánh

Cái giá của sự can đảm

“Tôi Muốn Kể Lại Chuyện của Tôi”:

Ký giả Nguyễn Tú và Cái Giá của Sự Can Đảm George J. Veith

(Bản dịch: Phan Lê Dũng 10/4/2021)

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

Tôi lái xe vào bãi đậu xe của tòa chung cư nhỏ ở Alexandria, tiểu bang Virginia, nơi cư ngụ của ký giả Nguyễn Tú. Tòa chung cư, cũng giống bạn tôi, già nua, dày sương, dạn gió nhưng vẫn còn hoạt động. Tắt máy xe, ngồi lặng trong giây lát, tôi nghĩ về những câu hỏi muốn hỏi. Đây là lần thứ 9 trong năm cuối tôi phỏng vấn ông. Ông Tú chẳng bao giờ cho biết lý do ông cứ đồng ý gặp tôi. Có lẽ là do tính chất ký giả tiềm ẩn trong ông. Tuy không muốn bản thân ông là một phần của câu chuyện, nỗ lực tìm tòi để tìm cho được câu chuyện là một vấn đề ông xem trọng.Trong cuộc sống, ông Tú đã từng là chiến sĩ, là kẻ lang thang, là nhân viên cao cấp của chính phủ, là ký giả, và là một người tị nạn. Khi được biết về những biến cố khó thể tưởng trong đời ông, đã nhiều lần tôi xin ông viết hồi ký, nhưng ông luôn từ chối. Ông nói, “Tôi biết quá nhiều về cuộc sống của nhiều người, biết quá nhiều biến cố, và một kẻ mất nước như tôi lấy thẩm quyền gì để viết chuyện lịch sử?” Tôi thường lắc đầu, không hiểu nổi những hố sâu ngăn cách văn hóa giữa tôi và ông. Có lẽ vì là người Mỹ, tôi không thể hiểu được sự ngần ngại của ông. Ông đã chứng kiến nhiều biến cố chính trong lịch sử tiến hóa hiện đại của quốc gia ông. Để cuộc hành trình khác thường của ông cùng theo ông vào lòng đất sẽ là một sự mất mát đáng tiếc cho cả lịch sử, lẫn những người Miền Nam Việt Nam. Tôi không thể để điều đó xảy ra.

Tuy ông khước từ không viết hồi ký, tôi vẫn trở lại căn phòng chật chội của ông để ghi lại hết câu chuyện khó thể tưởng này đến câu chuyện khó thể tưởng khác. Căn phòng ông ở tràn ngập với từng đống báo, sách, tuần san. Một số người có thể cho rằng ông là người thích tích trữ, không chịu vứt bỏ những thứ không cần thiết, nhưng riêng ông Tú lại nghĩ rằng những đống sách, báo cao nghệu đó là những tài liệu sách vở giúp ông viết lách những mẩu tin ông vẫn viết cho nhiều tờ báo tiếng Việt ở Mỹ.

Khi ra khỏi xe, đi bộ đến cửa tòa chung cư, tôi vẫn chưa biết rằng hôm nay, ngày 19 tháng 10, năm 2009 sẽ là một ngày khác. Sau buổi nói chuyện, khi tôi chuẩn bị rời phòng ông Tú nắm tay tôi. Sau vài giây im lặng, nhìn tôi ông nói, “Tôi muốn kể lại câu chuyện của tôi.” Cuối cùng, yếu tố ký giả đã vượt qua những tính thận trọng của con người phật tử trong ông. Tôi ra về tinh thần phơi phới, chưa biết rằng đây là lần cuối tôi sẽ gặp một trong những người ly kỳ nhất trong tất cả những người tôi từng gặp. Kể lại lịch sử, như tôi đã được học, không bao giờ là chuyện đơn giản. Nguyễn Đình Tú, thường được các bạn thân ông gọi là Nguyễn Tú hoặc Tú Hai, sinh ở Hà Nội vào ngày 26 tháng 12, 1924. Ông là ký giả chiến trường được trọng vọng và là biên tập viên của báo Chính Luận, tờ báo có ảnh hướng nhất của Miền Nam Việt Nam. Chưa bao giờ lập gia đình và không có con, ông muốn có tự do, tự do hoàn toàn theo đuổi những đam mê báo chí, theo tiếng gọi của đời ông. Cha mẹ ông là người giàu có, là chủ một vi-la lớn, chủ phân nửa một con đường Hà Nội, hơn cả chục bin-đinh, và 600 mẫu ruộng ở Tuyên Quang. Ông có một người anh, nhưng mất từ ngày còn bé. Cha mẹ ông cũng qua đời khi ông còn ở tuổi thiếu niên. Thảm kịch này đã buộc ông phải học cách tự lo thân từ lúc thiếu thời.

Mẹ ông mất năm ông 13 tuổi. Là người con hết sức thương mẹ, ông quá thương cảm đến độ ốm và bỏ học cả năm. Để giúp ông vơi bớt thương cảm, bố ông đã gửi ông vào sống ở chùa. Gia đình ông là gia đình phật tử đã nhiều thế hệ. Ngày ông còn bé, bố ông thường mời một vị sư được trọng vọng đến nhà gần như hàng tuần để bàn luận về đạo Phật. Cụ cho phép ông được ngồi nghe để biết về đạo Phật. Cụ chỉ muốn ông nghe và bảo ông: “Bây giờ chưa hiểu hết, nhưng rồi sau này con sẽ hiểu.” May mắn cho ông, những bài học từ những câu chuyện này, và cuộc sống tĩnh lặng ở chùa đã giúp ông bình tâm trở lại, và ông rời chùa với tâm thức trưởng thành hơn. Đạo phật và những lời dạy của vị sư cũng đã giúp ông có được sự bình thản để chịu đựng những sự khốn khổ của 13 năm tù về sau khi cuộc chiến kết thúc.

Cha mẹ ông Tú đã cho ông một căn bản học vấn vượt trội. Khi nhìn lại, ông thấy rằng tất cả những gì ông có đều nhờ cha ông. Cụ đã uốn nắn ông và chuẩn bị để ông có thể đối diện với những thực tế khắc nghiệt của Việt Nam. Muốn ông viết chữ đẹp, cụ đã dạy ông chữ Hán, bắt ông phải học tiếng La- Tinh 6 năm, và tiếng Hy-Lạp 4 năm. Khi ở chùa, ông trở thành bạn thân của một vị sư có học vấn cao. Cha ông và vị sư đã khơi dậy khát vọng kiến thức trong ông. Sáng chủ nhật nào ông cũng đến thư viện, và là người cuối cùng rời thư viện.

Đây cũng chính là nơi đã giúp ông có những hiểu biết đầu tiên về chủ nghĩa Cộng Sản. Sự hiểu biết đó đến từ sách. Một lần, khi đến quầy trả sách trong thư viện, ông nhìn thấy một quyển sách viết về chủ nghĩa Marx. Ông xin được mượn, nhưng nhân viên thư viện không cho vì đó là sách cấm. Ông Tú năn nỉ mãi, cuối cùng người nhân viên đồng ý với điều kiện ông phải hứa không được tiết lộ chuyện này với ai, và phải đem trả sách ngay sau 1 tuần. Quyển sách có một chương viết về các thuộc địa của Pháp và bàn luận vấn đề Việt Nam. Sách viết rằng tất cả các thuộc địa Pháp nên nổi loạn và hợp tác với Nga để đánh bại chủ nghĩa đế quốc. Ông nhanh chóng nhận ra rằng làm như thế thì chỉ là thay đổi vị trí của Pháp bằng vị trí của Nga, và suốt đời ông chống đối chủ nghĩa Cộng Sản.

Căn bản học vấn của ông là một căn bản học vấn Pháp vượt trội. Năm 1939, lúc 15 tuổi, ông vào học ở một trường Pháp có tiếng nhất Đông Dương là trường Trung Học Albert-Sarraut, được thiết lập từ năm 1919. Những người Việt thượng lưu và những Pháp Kiều ở Việt Nam đều cho con theo học ở đó. Tất cả những giáo sư giảng dạy đều đến từ Ba-Lê và tốt nghiệp từ những đại học lớn ở Pháp.

Trường đặt tiêu chuẩn học vấn rất cao, và những giáo sư đã mở mang đầu óc ông về dân chủ và những lý tưởng của cuộc Cách Mạng Pháp, như những vấn đề tự do, độc lập và quan trọng nhất là nhân quyền.

Ở Albert-Sarraut, ông trở thành gần gũi với nhiều học sinh Pháp, nhưng học ở Albert-Sarraut cũng tạo ra một sự mâu thuẫn trong ông. Người Pháp đã dạy ông những quan niệm quan trọng về dân chủ và nhân quyền, đã cho ông một căn bản giáo dục vĩ đại. Nhưng Pháp muốn Việt Nam phải là một thuộc địa, việc giải phóng đất nước ông đồng nghĩa với việc ông phải đấu tranh và giết những người bạn Pháp. Ông Tú nói rằng đây là sự khác biệt giữa ông và Cộng Sản. Những ảnh hưởng thấm nhuần của cả ba nền văn hóa, từ đạo Khổng qua cha ông, từ Chủ Nghĩa Tự Do của Pháp qua những giáo sư dạy ông, và từ Phật Giáo qua những vị sư, đã khiến ông thấy được những cái tốt của Pháp, tuy vẫn muốn giải phóng đất nước ông khỏi ách thực dân.

Tin rằng chủ nghĩa cộng sản là con đường lầm lạc cho Việt Nam, ông cố tìm kiếm một triết lý khác có thể áp dụng vào việc cai trị đất nước ông. Nhiều năm sau, một số bạn ông ở miền Bắc đã nói với ông, “Anh Tú, anh đúng rồi. Khi đi theo Cộng Sản, chúng tôi đã chọn sai.” Một điều khiến ông hết sức đau buồn là có quá nhiều người trong thế hệ ông bị kẹt lại ở Hà Nội vì không thể trốn thoát. Đây là nỗi buồn ông mang theo suốt đời.

Tham gia Đại Việt và chiến đấu chống Việt Minh.

Cha ông mất năm 1943. Sau khi cụ qua đời, ông tặng luôn những ruộng vườn của gia đình cho những nông dân đang sống trên những thửa đất đó. Ông vẫn ở trong căn vi-la, nhưng tặng luôn tất cả những bin-đinh của gia đình ở Hà Nội. Ông chẳng thiết gì nữa. Tuy gia đình thân yêu giờ chẳng còn ai, nhưng vì đã quyết chí tìm cách đem lại tự do cho đất nước, ông tiếp tục việc học. Vào cuối năm 1944 ở Hà Nội, ông gia nhập Đại Việt Quốc Dân Đảng, thường được gọi là Đại Việt. Đảng Trưởng Trương Tử Anh, thường được gọi là Anh Cả Phương, là người làm lễ tuyên thệ cho ông. Tuy chỉ mới nói chuyện với Trương Tử Anh hai lần trước khi vào Sài Gòn năm 1948, nhưng vì là người đã được chính Trương Tử Anh chọn lựa, ông được những đảng viên Đại Việt ở Miền Nam đối xử trọng vọng như thể ông là một “sứ giả đặc biệt gì đó”.

Cộng sản lúc đó xem Đại Việt như một đảng đối nghịch tranh quyền. Vào mùa hè 1945, ông Tú bị cộng sản bắt ở Hà Nội. Họ buộc tội ông chống cộng, tra tấn, và kết án tử hình ông. Khi tra tấn tù nhân, người Pháp thường dùng điện 60 watts, nhưng khi tra tấn ông cộng sản đã dùng điện 120 watts. Ông bị biệt giam ở Hỏa Lò 3 tuần, rồi được đưa đi Thái Nguyên để tử hình.

Thái Nguyên là thủ phủ của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, thường được gọi là Việt Minh, một tổ chức liên hiệp của Cộng Sản và Quốc Gia được thành lập năm 1941 để đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam thoát ách thực dân Pháp. Nhưng sau nhiều tháng bị giam ở Thái Nguyên, bất thình lình Cộng Sản lại thả ông, nói rằng “Hồ sơ của anh đã được duyệt xong.” Tuy bị tra tấn, ông vẫn không khai rằng ông là một đảng viên Đại Việt. Vì không chứng minh được lời buộc tội, họ đã thả ông.

Ở Thái Nguyên, ông là người đàn ông duy nhất trong số 200 tù nhân được thả. Có khoảng hai chục nữ tù cũng bị giam ở đó. Trần Văn Giàu, một cán bộ cộng sản có tiếng, đến để giảng dạy chính trị cho tù. Ông Tú ghi nhận rằng Giàu “nói rất trôi chảy.”

Sau khi ở tù, ông về Hà Nội một thời gian ngắn sau ngày 2 tháng 9, 1945, ngày Việt Nam tuyên bố độc lập với Pháp. Một người bạn trong đảng Đại Việt khuyên ông nên rời Hà Nội, tham gia một trường võ bị mới do những người Quốc Gia thiết lập. Vào mùa thu 1945, hai đảng chống Cộng chính, đảng Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ), đã kết hợp thành một nhóm đoàn kết để tự vệ và chống trả thế càng ngày càng mạnh của cộng sản Việt Minh.

Các đảng viên Quốc Gia thiết lập Trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Chapa, một làng gần Lào Cai gần biên giới Trung Hoa. Có khoảng 300 học viên tham dự trong đó có ông Tú. Rất nhiều người đã được tuyển mộ từ Hà Nội. Đa số đều có học vấn cao và muốn đánh Pháp, nhưng họ cũng chống Cộng. Ông nói, “Họ là những người rất can đảm, và nhiều người đã nói dối bố mẹ để gia nhập.” Nơi đây ông gặp Bùi Diễm, về sau là đại sứ Miền Nam Việt Nam ở Mỹ, và họ trở thành bạn thân suốt đời.

Trường được tổ chức thành 3 đại đội, A, B, và C. Ông là người của Đại Đội A. Vào lúc đầu ông được huấn luyện bằng súng gỗ, nhưng về sau được cấp một khẩu súng thật. Chỉ có khoảng 75 người được nhận súng, vì vậy họ phải chia nhau để tập. Ông Tú được giữ súng ngày đầu, hôm sau đến phiên người khác, và cứ thế luân phiên. Họ chỉ có một ít đạn dược và chỉ có một khẩu đại pháo 75 ly của Pháp.

Những người huấn luyện họ là những cựu sĩ quan Nhật. Có một đại tá Nhật và 4 đại úy. Ông không biết họ từ đâu đến, và làm cách nào để đến đó. Họ là những sĩ quan giỏi, nhưng phải dùng thông dịch viên vì không biết tiếng Việt. Những người Nhật này lấy tên Việt Nam. Ông không biết tên thật của họ. Họ gọi vị đại tá là Cao Hùng. Cũng có một thiếu úy Việt tên Vinh đã ở trong quân đội Pháp. Vinh lo việc hành chánh trong khi những người Nhật huấn luyện.

Người Nhật cho họ hai quyển sách được dịch ra tiếng Việt. Một quyển viết về những chiến thuật của lục quân và quyển kia là quyển sổ tay hướng dẫn những điều cơ bản của một quân nhân, như cách chào và cách diễn hành. Người Nhật huấn luyện cho các học viên hệt như họ đã được huấn luyện. Các học viên được dạy những chiến thuật lục quân của các đội nhỏ, nhưng ngay từ đầu, những người huấn luyện đã nhấn mạnh chiến lược. Đây là một vấn đề khiến ông ngạc nhiên. Những cuộc huấn luyện, giữa rừng núi bao quanh, rất cam go nhưng không ai đào ngũ.

Vào mùa thu 1946, ông tốt nghiệp. Không có lễ mãn khóa hoặc gắn phù hiệu cấp bậc, mà ông cũng chẳng để ý gì đến những danh dự trường dành cho những học viên tốt nghiệp. Ông và các bạn cùng khóa đều mang nặng lý tưởng cách mạng. Vào tháng 4, trường chuẩn bị chiếm một đồn của Cộng Sản gần Yên Bái. Các sĩ quan Nhật duyệt lại kế hoạch và chấp thuận, nhưng họ không tham gia. Họ muốn người Việt phải tự làm lấy.

Ông Tú là trung đội trưởng trong cuộc tấn công. Họ chỉ có đủ khí giới và đạn dược cho một phần của đại đội tấn công. Những người còn lại ở lại phía sau để phòng thủ căn cứ. Cuộc tấn công bắt đầu vào ban đêm. Ông nhớ đã nhìn thấy phe địch bắn, và đã bắn trả. Cuộc tấn công diễn ra thật gay go. Phe ông Tú thắng nhưng một người bạn của ông bị giết. Anh ta cũng cùng học trường chung với ông, nhưng kém một năm. vì xem người bạn đó như một người em, đối với ông, đây là một sự mất mát lớn. Ông Tú bị đạn hai lần, một phát đạn đốt cháy vai và một phát vào hông phía phải. Thuốc chữa thương chỉ có nước muối dùng để lau vết thương. Người Nhật duyệt lại cuộc tấn công với người Việt để cải thiện cách huấn luyện.

Vào tháng 7 1946, khi các lực lượng Công An của Việt Minh ngăn chặn một toan tính lật đổ chính quyền ở Hà Nội của Đại Việt, cuộc chiến giữa người Quốc Gia và Cộng Sản sôi sục. Cộng sản dùng biến cố này để mở các cuộc tấn công vào những thành trì của đảng viên Quốc Gia. Nhiều nơi nhanh chóng ngã gục. Tuy ông Tú và những người võ trang trong trường ông vẫn đóng trại gần Yên Bái, vào tháng 10 năm 1946, tỉnh bị bao vây. Sau nhiều cuộc tấn công của Cộng Sản, thành phố ngã gục.

Nhiều sĩ quan Nhật bị giết, nhưng vị đại tá và hai đại úy sống sót. Nhiều năm sau, vị đại tá trở về Nhật. Ông Tú không biết chuyện gì xảy ra cho những vị sĩ quan kia.

Đơn vị của ông rút về Lào Cai, nhưng Cộng Sản tiến gần đến tỉnh. Khi địch còn cách khoảng 30 cây số, vì chỉ còn rất ít đạn dược và ít tiền để trả tiền gạo cho những người ở địa phương, họ đồng ý tan hàng. Nhiều người bạn ông chạy sang Trung Hoa, trong khi một số khác quyết định về với gia đình. Ông từ chối lời mời sang Trung Hoa để nhập bọn cùng các bạn và chọn ở lại Lào Cai xem Cộng Sản tiến vào tỉnh hành xử ra sao. Qua đó ông có thể nhận xét họ thực sự là ai. “Nếu muốn chiến đấu với ai, bạn phải tự chính mình tìm hiểu, chứ không phải nghe theo lời đồn,” ông nói. Mặc dù đã ở tù Việt Minh khi trước, ông vẫn không sợ. Ông dùng số tiền cuối cùng để mua một bữa ăn tối.

Vào tháng 11 năm 1946, Cộng Sản chiếm được Lào Cai, chấm dứt cuộc chiến nội bộ với người Quốc Gia. Cộng Sản tập họp tất cả dân chúng trong tỉnh để tuyên truyền. Ông Tú theo dõi suốt đêm và thấy rằng khi nói về Hồ Chí Minh, họ nói chẳng khác gì người Quốc Gia, không giống những người Cộng Sản. Nhưng họ cũng tuyên bố rằng “Người Tàu là đồng minh của chúng ta.” Đây là lần đầu ông được nghe điều này. Trước đó, ông chưa hề được nghe bất cứ điều gì về Mao Trạch Đông, vị lãnh tụ Cộng Sản của Trung Hoa. Cộng Sản tuyên bố hôm sau sẽ có chuyến xe lửa đến đón tất cả những ai muốn về Hà Nội. Chỉ cần đến nhà ga vào buổi sáng để lấy vé.

Sáng sau, một số bạn lính của ông ghi tên lấy vé. Ông Tú khuyên họ không nên ghi tên. Ông biết rằng nếu ghi tên ông sẽ bị bắt. Biết rằng xe lửa sẽ rất đông đảo, và khó thể kiểm soát được mọi người, ông dự định trà trộn vào theo đám đông để đi không vé. Xe lửa dừng ở Lào Cai vào lúc trưa, và ông lẻn vào trong toa không bị phát giác. Nhìn qua cửa sổ ông thấy các bạn ông đang bị bắt. Ông nói, “Tôi cảm thấy rằng hình như tôi là người sống sót duy nhất ở Lào Cai.”

Về Hà Nội và trở thành ký giả

Rời Lào Cai, ông trở lại Hà Nội. Ông đến nơi khoảng vài ngày trước khi Pháp mở cuộc tấn công vào ngày 19 tháng 12, 1946, để chiếm lại thành phố từ tay Việt Minh. Cuộc tấn công này khai màn Cuộc Chiến Đông Dương thứ nhất. Ông cảm thấy an toàn ở Hà Nội vì có những người bạn bảo vệ và nuôi dưỡng, nhưng những vết thương ở Yên Bái vẫn chưa lành hẳn nên ông vẫn trốn tránh. Khi Pháp chiếm thành phố, ông thôi không trốn tránh nữa. Tuy không có tiền và thất nghiệp, ông Tú vẫn mộng trở thành ký giả, một giấc mơ ông vẫn ấp ủ kể từ ngày mới lớn. Ngày ông còn đi học, mẹ ông đã muốn ông học ngành y để có thể giúp đỡ người nghèo. Bà không muốn ông trở thành một nhân viên chính phủ. Nhưng về sau, cha ông khuyên bà nên để con tự ý chọn lựa. Động lực chính khiến ông thích làm ký giả là những sách vở do những ký giả Pháp viết về Đệ Nhất Thế Chiến. Trong năm 1945, vì không nói được tiếng Việt, những ký giả Pháp đã mướn ông giúp họ săn tin. Bởi thế sau khi từ Lào Cai trở về Hà Nội, ông tìm được việc bằng cách viết cho các tờ báo Pháp. Thỉnh thoảng ông cũng viết cho hãng thông tấn Agence France- Presse khi hãng tin đổi tên thành Phòng Thông Tin Pháp (French Information Office) trong một thời gian ngắn vào thời gian Đệ Nhị Thế Chiến.

Ở một buổi họp đảng Đại Việt ở Hà Nội, ông gặp Bác sĩ Đặng Văn Sung, người sẽ giúp ông thành toàn giấc mộng làm báo. Ông Sung là một bác sĩ đã được chính lãnh tụ Trương Tử Anh của Đại Việt tuyển mộ. Ông đã thấy ông Tú ở một trại gần Yên Bái, và muốn hỏi thăm ông Tú về người em họ của ông. Người em họ ông Sung tình cờ lại đúng là người ông Tú đã khuyên không nên ghi tên lấy vé ở Lào Cai. Ông và ông Sung trở thành bạn thân. Vào cuối hạ năm 1947, khi tuyên bố lập một tờ báo ở Hà Nội, ông Sung mời ông Tú tham gia. Ông Tú hưởng ứng, và ông gọi thêm hai người bạn nữa cùng giúp. Cả bốn nhân viên của tờ báo cùng ở chung một nhà. Cảnh sống kham khổ, theo ông Tú nhớ, họ không có đủ gạo để ăn.

Tờ báo bán nguyệt san được gọi là tờ Thanh Niên. Ông Sung vừa là chủ nhiệm, vừa là chủ bút, vừa là chủ báo, vừa là người viết. Theo lời ông Tú, “Số đầu tiên bán sạch và gây ra một làn sóng sửng sốt trong khắp Hà Nội, nhưng vấn đề in báo quá đắt, và chúng tôi chỉ có lãi rất ít. Hơn nữa, chúng tôi phải tìm một người thợ in cho in báo chịu trước rồi nhận tiền sau.” Mặc dù khó khăn, đây là lần đầu tiên trong đời, ông Tú cảm thấy được tự do viết và suy nghĩ như ông muốn. Nhưng vào tháng 5 năm 1948, Pháp đóng cửa tờ báo.

Báo đóng cửa, ông Tú quyết định rời Hà Nội đi tìm Trương Tử Anh. Ông Anh đã mất tích vào tháng 12 năm 1946. Những người bạn làm báo với ông đồng ý với quyết định đi tìm của ông. Việc ông Anh mất tích đã gây nhiều ảnh hưởng xấu cho đảng Đại Việt. Về sau Cộng Sản tuyên bố các lực lượng công an của họ đã bắt ông Anh vào ngày 16 tháng 12, 1946 ở vùng Quảng Bá ở Hà Nội. Phải đối phó với việc Pháp sắp tấn công Hà Nội ba hôm sau, Cộng Sản hành hình Trương Tử Anh và thủ tiêu xác ông. Tuy Pháp giữ an ninh chặt chẽ và ông chỉ có ít tiền, ông Tú vẫn lẻn vào những vùng đất của Cộng Sản đi tìm vị lãnh tụ Đại Việt mất tích. Ông chưa bao giờ tìm được manh mối gì về về ông Anh. Cộng Sản đã che dấu kỹ hành động thủ tiêu của họ.

Tuy thế, ông lại gặp được nhiều đảng viên Đại Việt đang trốn tránh Việt Minh. Trong tình trạng ông Anh mất tích, họ hỏi ông, “Chúng ta phải làm gì bây giờ?”

“Trở về Hà Nội,” Ông Tú nói. “nếu không dần dần cộng sản sẽ bắt hết các anh.” Nhưng Hà Nội, họ than, đang nằm dưới sự cai trị của Pháp!

“Đúng,” ông Tú nói với họ, “nhưng người Pháp sẽ không giết các anh, và về Hà Nội không có nghĩa là về hàng.”

Tuy đang chiến đấu chống cả Cộng Sản lẫn Pháp, trong hai kẻ thù cần phải đối phó đó, ông cho rằng Cộng Sản là kẻ thù nguy hiểm hơn. Ông khuyên mọi người nên chống Cộng trước rồi hãy chống Pháp sau: “Chúng ta phải chọn kẻ địch. Không thể cùng lúc chống hai kẻ địch.” Ông tin rằng Cộng Sản là một thế lực đang lên, trong khi Pháp là một thế lực đang xuống, và Pháp sẽ chẳng bao giờ thắng cuộc. Chính vì ý kiến này mà một số bạn ông đã kết tội ông là kẻ phản bội. Đây cũng chính là những người bạn về sau hối hận đã tham gia bắt tay với Cộng Sản.

Không thể tìm được Trương Tử Anh, và trong tình cảnh Pháp ủng hộ cựu hoàng Bảo Đại như một chính phủ chống cộng, vào cuối năm 1948, ông Tú vào Nam đến Sài Gòn và ở đó cho đến năm 1953. Ở Sài Gòn, ông tham gia chính phủ Bảo Đại và làm việc trong Bộ Thanh Niên. Ông tin rằng cách hay nhất để đánh bại Cộng Sản là thuyết phục các thanh niên Việt Nam rằng chủ nghĩa Cộng Sản không phải là giải pháp cho đất nước.

Vào năm 1953, vị Thủ Hiến ở Hà Nội yêu cầu ông trở lại để giúp bình định vùng đồng bằng sông Hồng. Vị Thủ Hiến đang cần cán bộ tiếp tay trong nỗ lực này. Lúc đầu ông Tú từ chối, nhưng vị Thủ Hiến lại gửi đại biểu vào Sài Gòn để mời ông tham gia. Ông đồng ý, và bay về Hà Nội giúp thiết lập một trại huấn luyện thanh niên để bảo vệ thôn quê. Ông đã ở lại đó khoảng một năm cho đến khi hiệp định Geneva được ký vào tháng 7 1954 chia đôi Việt Nam thành hai quốc gia. Vì Cộng Sản sắp vào Hà Nội, ông đến Hải Phòng, lên một chiến thuyền Mỹ đang giúp người di cư vào Nam trở về Sài Gòn.

Làm việc ở Sài Gòn.

Không có việc làm, ông Tú bắt đầu đi khắp Miền Nam Việt Nam để quan sát đất nước. Ông đi từ sông Bến Hải, ranh giới mới giữa hai miền Nam, Bắc vào sâu trong Nam. Không có tiền, ông đi từ làng này sang làng khác, nói chuyện với dân chúng. Ông là người thích làm việc đơn độc, lắng nghe những ưu tư của người dân và sống nhờ lòng tốt của họ. Các nông dân luôn đối xử tốt và chia xẻ thức ăn của họ với ông. Họ có rất nhiều gạo và cá. Họ chỉ ông cách đặt các thuyền tam bản dọc theo con kênh, và khi thủy triều rút, họ chỉ cần xúc cá vào thuyền tam bản, không cần phải dùng lưới. Dùng cách này chỉ cần 3 tiếng họ đã bắt được rất nhiều cá.

Vào tháng 2 1957, khi Ngô Đình Diệm, vị Tổng Thống mới đến thăm người Thượng ở Ban Mê Thuột, một tỉnh ở Cao Nguyên Trung Phần, ông Tú cũng đang du lịch ở đó. Ông muốn hiểu những nỗ lực của ông Diệm trong việc hợp nhất nhóm người khác chủng tộc này vào xã hội Việt Nam. Ông đang xem những nhóm người trong đoàn tháp tùng ông Diệm hòa đồng với những người Thượng thì kẻ sát nhân do Cộng Sản gửi đến xuất hiện toan giết tổng thống. Ông Tú nghe tiếng đạn và chú ý thấy rằng ông Diệm vẫn bình tĩnh.

Ông chưa bao giờ gặp ông Diệm. Tuy khâm phục sự can đảm của ông Diệm trước lửa đạn, chẳng bao lâu sau ông Tú đã tỉnh ngộ. Ông nhìn nhận rằng ông Diệm là người được ủng hộ rộng rãi vào những năm đầu, nhưng lại cai trị chẳng khác gì một vị quan có quyền. Ông Tú chỉ trích mạnh mẽ, và đã phải gánh chịu sự phẫn nộ của ông Diệm. Một trong những sự chỉ trích đặc thù của ông là chương trình Ấp Chiến Lược, nỗ lực của ông Diệm trong việc gom nông dân, đưa họ vào những địa điểm được tăng cường để bảo vệ và giúp họ thoát khỏi Cộng Sản. Ông Tú cho rằng chương trình này sẽ thất bại.

Trong những năm trước đảo chánh 1963 lật đổ ông Diệm, ông Tú là giáo sư dạy tiếng Pháp ở Sài Gòn. Ông Nguyễn Văn Kiểu, anh Tổng Thống tương lai Nguyễn Văn Thiệu, cũng dạy ở trường đó, và là người giúp đưa ông Tú vào làm giáo sư. Một thời gian ngắn sau khi ông Tú rời Hà Nội về Sài Gòn họ gặp lại nhau. Ông Kiểu là một trong những đảng viên Đại Việt đầu tiên ở Miền Nam và đôi bên trở thành bạn thân.

Ông Tú nhớ lại rằng ông đã đến thăm gia đình ông Kiểu để gặp người anh cả, Nguyễn Văn Hiếu. Ông nhận ngay ra rằng đây là một gia đình nề nếp và hết sức gia giáo. Ông để ý thấy ông Thiệu một mực kính nể anh mình. Ông Thiệu đã vào phòng, đứng im lặng, trừ khi ông Hiếu lên tiếng trực tiếp hỏi, ông không hề nói năng gì. Ông Thiệu không dám nói chuyện với ông Tú. Ông Tú giải thích, “Đây là truyền thống của gia đình Việt Nam, nếu chưa được phép, người em không được nói chuyện với bạn của anh mình.” Ông Thiệu đứng đó khoảng 15 phút rồi đi ra. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi này khởi đầu một mối liên hệ kéo dài suốt đời của ông Tú với ông Nguyễn Văn Thiệu.

Sau cuộc đảo chánh ông Diệm tháng 11 năm 1963 và rồi cuộc chỉnh lý của Tướng Khánh vào tháng giêng 1964, Tướng Khánh mời Nguyễn Văn Kiểu làm cao ủy thanh niên. Ông Kiểu nhanh chóng chỉ định ông Tú làm tổng thư ký vì trong những năm đầu thập niên 1950, ông Tú đã làm việc trong Bộ Thanh Niên. Ông Tú tiếp tục giữ chức vụ đó cho đến tháng 2 1965, khi Bác sĩ Phan Huy Quát trở thành thủ tướng cũng trong tháng đó. Vào rồi ông từ chức Tổng Thư Ký để trở lại với cái nghề ông yêu: làm báo.

Ông Đặng Văn Sung, người bạn cũ của ông cũng rời Hà Nội trong cuộc di cư khổng lồ năm 1954, trong cuộc di cư đó nhiều đảng viên Quốc Gia đã cùng di cư từ Bắc vào Nam. Ông Sung đã về Sài Gòn và mộng mở một tờ báo, nhưng Tổng Thống Diệm luôn luôn bác bỏ đơn xin làm báo của ông. Lúc này khi ông Quát cầm quyền (ông Sung có họ hàng với ông Quát về phía vợ), ông Sung quyết định mở một tờ báo là tờ Chính Luận (Bàn Luận Chính Trị). Ông mời ông Tú cùng tham gia.

“Anh sẽ phải trả giá đắt đấy!” Ông Tú nói. “Nếu mời tôi, anh đừng bao giờ bảo tôi nên, hoặc không nên viết gì.”

Ông Sung cười, khoác vai ông Tú: “Đồng ý.”

Ông Tú làm việc với tờ Chính Luận như một ký giả chiến trường trong khoảng thời gian 1965-1975. Đây là tờ báo có ảnh hưởng nhất đối với những độc giả đứng tuổi. Trong khi Sóng Thần, nhắm vào một giới độc giả trẻ và có đầu óc cấp tiến hơn.

Rất nhiều người nghĩ rằng ông Sung là nhân viên CIA, nhưng ông Tú nói điều đó không đúng. Vì lý do gì đó, ông Sung chẳng bao giờ lên tiếng cải chính những lời kết án. Ông Tú bảo rằng ông Sung chỉ kể chuyện với ông như sau: Vào một thời điểm trong thập niên 1950, người Miền Nam và cố vấn Mỹ Edward Lansdale có đặt kế hoạch đánh sập cầu Long Biên ở Hà Nội. Vì cầu Long Biên là cây cầu duy nhất bắc ngang sông Hồng nối Hà Nội với Hải Phòng, đánh sập cầu sẽ là một cú đập khiến chính quyền Bắc Việt chới với. Khi Lansdale yêu cầu ông Phan Huy Quát giúp trong việc phá cầu, ông Quát đã chuyển việc này cho ông Sung, nhưng kế hoạch chưa bao giờ được thực hiện. Ông Sung và Lansdale thường xuyên gặp gỡ, và vì thế có những tin đồn là ông Sung nhận tiền của CIA.

Là ký giả chiến trường của tờ báo, thay vì nói chuyện với các tướng ở Sài Gòn, ông Tú quyết định dùng đa số thời gian ngoài chiến trường cùng với những đội quân Miền Nam. Thời gian làm cách mạng năm 1946 đã dạy ông rằng những câu chuyện và tin tức đáng giá nhất thường đến từ những người lính. Ông chỉ về Sài Gòn nhiều lần trong tháng để trang trải các khoản chi tiêu. Lương của ông là 20,000 đồng mỗi tháng.

Vào năm 1966, ông xin Bộ Chỉ Huy Quân Đội Mỹ cho phép ông đến thăm tất cả những tiền đồn chính của Mỹ ở xa.

“Tại sao?” một đại tá Mỹ hỏi. “Chẳng có ký giả nào của Mỹ muốn đi thăm các tiền đồn đó làm gì.”

“Bởi vì,” ông Tú trả lời, “Tôi muốn xem lính Mỹ đối phó với việc chiến đấu ra sao.”

Ông bỏ ra bốn tháng đi thăm các tiền đồn Mỹ ở xa, và cảm thấy khâm phục các đội quân Mỹ. Họ là những người trẻ, hết sức tận tụy, nhưng sau khi đến ở với họ, một chuyện xảy ra vào lúc đi tuần khiến ông thấy rằng đây không phải là loại chiến tranh họ có thể hiểu.

Một đêm ông đi theo một đơn vị Mỹ để chuẩn bị một vị trí đánh úp Cộng Sản. Khoảng 2g00 sáng, trưởng toán nói ông Tú đi nghỉ.

“Không,” Tú nói. “Tôi muốn thức xem người Mỹ làm việc thế nào.”

Một thời gian ngắn sau đó, một anh lính bắt đầu khóc to lên đòi gặp mẹ.

Vị trí đã bị lộ, ông Tú gọi toán trưởng. “Chúng ta về thôi. Chẳng thể làm gì ở đây nữa cả.” Người trưởng toán đồng ý, gọi điện xin phép được quay về.

Dần dần, ông Tú đến thăm tất cả mọi chi nhánh quân sự của Mỹ, và đã ở cả tuần trên hàng không mẫu hạm USS Ranger của hải quân.

Vào tháng 4, 1967, khi Miền Nam Việt Nam thông qua một bản hiến pháp yêu cầu có cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 9, ông Tú dành nhiều thời giờ hơn với ông Nguyễn Văn Thiệu. Ông Thiệu được đề cử làm ứng cử viên tổng thống của lá phiếu quân sự, và ông Kỳ là ứng cử viên trong cùng liên danh. Ông Tú đã cải thiện quan hệ với ông Thiệu sau khi ông Thiệu tham gia Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa (QĐVNCH) và được thăng chức đại tá vào năm 1962. Ông Tú nói, vị tổng thống tương lai đã hỏi ông về sự liên hệ giữa ông và ông Kiểu, anh ông ta. Hài lòng khi biết sự liên hệ của ông với ông Kiểu đa phần chỉ là những việc của Đại Việt, ông Thiệu đồng ý gặp lại ông. Lần kế tiếp họ gặp là vào cuối năm 1964, sau cuộc đảo chánh ông Diệm, khi ông Thiệu đã được thăng chức Thiếu Tướng.

Vào tháng 6 1965, khi ông Thiệu trở thành chủ tịch Hội Đồng các Lực Lượng Võ Trang và quốc trưởng, ông Tú xin được gặp. Họ nói chuyện với nhau 4 tiếng, và ông Tú hỏi về những hoạt động của ông Thiệu, và về sự liên hệ của ông với vị Thủ Tướng mới Nguyễn Cao Kỳ. Ông Thiệu cho rằng ông Kỳ là một người kiêu ngạo, thích khoe khoang, và không thích ông Kỳ. Nhưng ông Tú cảm thấy ông Thiệu cũng có những điểm khác lạ, và trong ông Thiệu có hai con người. Ông Tú cho rằng ông Thiệu là một người ít biểu lộ cảm xúc và thận trọng quá mức, nhưng ông tin rằng ông Thiệu là người chững chạc hơn ông Kỳ, biết rõ điều ông muốn, có tham vọng, và là người cả quyết.

Trong bầu không khí sôi sục dần của cuộc bầu cử tổng thống, ông Tú lại gặp ông Thiệu. Ông Thiệu muốn có các cuộc bầu cử, nhưng theo ông Tú, ông Thiệu đã nói về lá phiếu của chính ông và những ứng cử viên khác như “những món hàng cho người dân chọn lựa.” Đây là một cách phát biểu kỳ lạ, nhất là khi ông Thiệu cũng chẳng nói gì về dân chủ. Sau khi ông Thiệu và ông Kỳ thắng cử vào tháng 9, 1967, ông Tú dành nhiều thời giờ với vị tổng thống mới. Biết tình dè dặt, thận trọng của ông Thiệu, ông Tú khuyên tổng thống nên thường xuyên tiếp xúc với dân chúng để người dân có thể hiểu biết vị lãnh đạo của họ hơn.

Lời khuyên của ông Tú bị bác bỏ. Trong một cuộc họp với cố vấn Mỹ Ed Lansdale, ông Tú nói rằng ông Thiệu ứng xử như “một cô dâu mới. Ông vẫn thận trọng, do dự và nghi ngờ như bao giờ. Vào lúc này, ông Thiệu vẫn nghĩ về người khác bằng những cung cách quân đội, quen ra lệnh cho họ tuân theo hơn là mời họ đưa lời cố vấn cho ông.” Nhưng dần dần ông Thiệu ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với người dân.

Song song với cuộc bầu cử tổng thống là một cuộc bầu cử khác của Quốc Hội. Ông Đặng Văn Sung thắng cử và trở thành thành viên của một Thượng Viện mới được thiết lập vào năm 1967, nhưng ông vẫn giữ quyền kiểm soát tờ Chính Luận. Ông Sung và ông Thiệu thường xung đột, và đã có lần trong năm 1969, tờ báo bị Bộ Nội Vụ đóng cửa vì chỉ trích chính phủ.

Ông Tú bảo rằng “Ông Sung chưa bao giờ có những xung khắc cá nhân với ông Thiệu, và chỉ chống những chính sách của tổng thống. Ông Sung ủng hộ ông Thiệu vì cho rằng ông Thiệu là sự chọn lựa tốt nhất để đánh bại Cộng Sản. Ông Sung ủng hộ tất cả những người chống cộng, nhưng không phải vô điều kiện.” Vào lúc cuối, ông Thiệu đã chịu đựng ông Sung vì ông biết rằng ông Sung là một người Quốc Gia hết lòng.

Cuộc Tổng Tấn Công Mậu Thân vào đầu năm 1968 khiến cả Miền Nam Việt Nam lẫn Mỹ rúng động. Ông Tú bảo rằng, dựa trên những chuyến đi chiến trường, từ hai tuần trước đó, ông đã đoán trước được rằng sẽ có cuộc tấn công. Khi quân đội Bắc Việt chiếm đa số thành phố Huế, ông đã đến cố đô để tường trình cuộc chiến. Ông Tú được Thủy Quân Lục Chiến Mỹ cấp giấy tờ đặc quyền tự do di chuyển dành cho ký giả, nhưng thời tiết quá xấu, và ông phải đợi 3 ngày để có chuyến bay đến Huế. Khi đến nơi, ông bị buộc phải ở lại phía nam sông Hương 4 ngày. Trời nhiều mây, mưa, lạnh và ông chỉ có rất ít thực phẩm.

Cuối cùng, vào sáng thứ năm, ông đến được địa điểm và là một trong những ký giả đầu tiên ở đó. Ông xin phép được phỏng vấn Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng, lúc đó đang là tư lệnh Sư Đoàn I quân đội VNCH. Đơn vị của Bộ Chỉ Huy ở Huế dưới quyền Tướng Trưởng đã trụ vững trước cuộc tấn công quyết tâm của địch, và vào lúc này những lính của tướng Trưởng và Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đang cố tái chiếm thành phố. Tướng Trưởng từ chối yêu cầu của ông, nhưng sau khi quét sạch Huế, Tướng Trưởng nói với ông rằng họ có thể cùng uống cà phê. Tuy từ chối lời yêu cầu phỏng vấn của ông Tú, vị tư lệnh quân đội VNCH vẫn không ra lệnh buộc ông phải rời Huế. Tướng Trưởng vẫn để ông ở lại.

Ông Tú viết một loạt các mục về trận chiến ở Huế. Trước loạt bài này, ông vẫn không hài lòng với những bài ông viết, nhưng những bài báo về Huế của ông khiến toàn quốc chú ý và biến ông thành một trong những ký giả có tiếng nhất. Năm 1969, ông Tú trở về Huế và lại yêu cầu phỏng vấn Tướng Trưởng. Lần này Tướng Trưởng nhận lời. Trong số tất cả những sĩ quan cao cấp ông phỏng vấn, ông Tú thích Tướng Trưởng nhất.

Tuy vẫn tiếp tục tường trình về cuộc chiến, ông cũng du lịch đến Mỹ và Pháp. Ở Mỹ, ông nhìn cuộc họp Đại Hội Đảng của đảng Dân Chủ ở Chicago chuyển thành những cuộc chiến giữa những người chống đối và cảnh sát. Sau đó ông sang Pháp và tường trình về những khai diễn ban đầu của cuộc điều đình Hiệp Định Ba-Lê. Ông cũng làm việc bán phần cho ký giả Robert Shaplen của tờ New Yorker và giúp những ký giả ngoại quốc khác ở Việt Nam.

Những năm cuối của cuộc chiến

Cuộc bầu cử tổng thống 1971 cho ông thêm trực giác về Tổng Thống Thiệu. Theo cái nhìn của ông thì ông Thiệu thắng cử nhờ may mắn. Ông tin rằng đối thủ chính của Thiệu, Tướng Dương Văn Minh, đã tự hủy mình. Những nước cờ sai của Tướng Minh và những lời cố vấn kém cỏi của những thuộc cấp quanh Tướng Minh đã phá hủy cuộc vận động tranh cử của ông.Sau cuộc bầu cử, ông Thiệu toan tính thay thế thủ tướng Trần Thiện Khiêm bằng một thường dân là vị giáo sư nổi tiếng Nguyễn Văn Bông. Ông Tú tin rằng tổng thống rất biết Tướng Khiêm đã từng là thượng cấp quân sự của ông, và ông muốn ra khỏi cái bóng của Tướng Khiêm. Tuy trong hệ thống cấp bậc của xã hội, ông là Tổng Thống, ông Thiệu vẫn cảm thấy rằng ông Khiêm có cấp bậc cao hơn. Lúc ông Khiêm là đại úy, ông Thiệu chỉ là thiếu úy, và ông Khiêm đã tốt nghiệp trường võ bị trước ông Thiệu. Vào tháng 11, 1971, khi cộng sản giết giáo sư Bông, ông Thiệu bị buộc phải giữ lại ông Khiêm, nhưng toan tính thay thế Thủ Tướng đã tạo ra một vết rạn giữa hai người. Tuy tin rằng ông Thiệu xem ông Khiêm như một người anh, ông Tú cho rằng hai người không ưa nhau, mặc dầu họ giống nhau ở rất nhiều điểm. Ông Khiêm lúc nào cũng giữ vai trò kín đáo, nhưng còn thận trọng hơn, và có tham vọng cao hơn ông Thiệu.

Khi cuộc tấn công Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 bùng ra, ông Tú đang đến Quân Đoàn I để tường trình các trận đánh. Ông đã đến để quan sát lính Thủy Quân Lục Chiến và lính Dù. Ông nhớ lại một chuyện ông kể như chuyện đùa về chuyện Lính Thủy Quân Lục Chiến bắt được một số địch làm tù binh. Vì vị lữ đoàn trưởng không có đội lính nào để canh gác tù, ông Tú nói với vị đại tá Thủy Quân Lục Chiến rằng ông sẽ người canh tù. Vị đại tá bảo các tù binh rằng nếu họ không kể lại tất cả mọi chuyện họ biết thì ông Tú sẽ cho cả bọn đi “mò tôm”. Tuy vị đại tá chỉ hù, ông Tú đã đem bia cho họ và chuyện đó đã khiến các tù binh nói năng cởi mở hơn.

Sau khi đến ở với Thủy Quân Lục Chiến ở mé đông Quốc Lộ 1, ông quyết định sang mé tây Quốc Lộ 1 đến thăm lính Dù. Vì muốn tường trình cuộc tấn công tái chiếm Cổ thành Quảng Trị ở Quảng Trị và không có phương tiện di chuyển, ông phải đi bộ.

Vào ngày 13 tháng 9, 1972, ông đến vùng lính Dù đóng quân. Tuy biết ông, Quân Cảnh vẫn bắt ông phải dừng, không cho ông tiến sâu thêm vào tuyến đầu của lính Dù. Ông sắp sửa chấp nhận lệnh dừng của họ thì có một trung tá Thủy Quân Lục Chiến lái xe Jeep đến. Ông ta đang đưa một bác sĩ đã được chỉ định ở với Sư Đoàn Dù về đơn vị của ông.

Vị sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến nhận ra ông Tú, và nói rằng ông có thể đi theo họ. Ông Tú nhảy vào xe jeep phía sau tài xế. Bỗng dưng ông linh cảm có điều gì bất tường sắp xảy ra. Tuy trước đây ông Tú chưa bao giờ đội nón sắt, vị lữ đoàn trưởng bắt ông phải đeo. Mặc dù linh cảm có điều bất ổn, nhưng vì xung quanh chỗ họ hoàn toàn tĩnh lặng, khi nhảy vào xe Jeep ông Tú đã tháo bỏ nón sắt.

Họ đang trên đường thì một trái pháo của địch rớt ngay gần đó. Vị trung tá bảo tài xế lái nhanh hơn. Một trái pháo nổ gần họ. Ông Tú cảm thấy ngực có gì ươn ướt. Ông nhìn xuống và thấy máu của chính mình. Miểng đạn từ trái pháo đã giết chết tài xế, nhưng ông Tú may mắn: một miểng đạn khác chỉ vút qua đầu ông, nhưng đã cắt mặt ông, và cắt luôn tròng mắt phải ông.

Họ đem ông về bệnh viện quân sự ở Huế, nơi một bác sĩ bảo rằng ông có thể khâu lại vết thương, nhưng vết thương sẽ có thẹo. Vị bác sĩ này bảo ông có một người bạn được huấn luyện giải phẫu thẩm mỹ ở Mỹ vừa trở lại và người bạn đó có thể khâu lại vết thương không để lại vết thẹo. Người bạn đó ở hơi xa và ông Tú đã mất rất nhiều máu.

Ông Tú nói đưa ông đến chỗ vị bác sĩ kia, rồi ngất đi. Khi tỉnh lại, ông thấy rằng tuy vị bác sĩ giải phẫu đã sửa lại mặt ông gần như hoàn chỉnh, ông đã mất mắt phải.

Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, lúc này là tư lệnh quân đoàn I, cùng với cố vấn Mỹ đến thăm ông. Vị tướng Mỹ nói ông có thể cho máy bay chở ông Tú về bệnh viện Đà Nẵng, nhưng ông Tú từ chối. Ông muốn ở lại với các đội quân.

Tuy đã nhiều năm tường trình về lính miền Nam Việt Nam ngoài chiến trường, bài báo nổi tiếng nhất của ông Tú là một bài báo thương tâm nhất, và cũng là bài viết cuối cùng của ông. Đầu tháng 2, 1975, ông đến Pleiku, thủ phủ của phần bắc Cao Nguyên Trung Phần, để phỏng vấn Thiếu Tướng Phạm Văn Phú. Ông đã biết tướng Phú từ khi tướng Phú thay tướng Trưởng làm tư lệnh Quân Đoàn I QĐVNCH. Lúc này tướng Phú đang chỉ huy Quân Đoàn II, một vùng quân sự bao gồm toàn thể phần giữa của Nam Việt Nam. Tướng Phú cho phép ông Tú đi thăm chiến trường, quan sát sự phòng thủ Pleiku. Như thường lệ, ông đến thăm các lính ngoài tiền tuyến để nghe ý kiến của họ. Vào giữa tháng 2, khi ông trở lại Pleiku, tướng Phú mời ông ăn tối. Trong bữa tối đó, tướng Phú xin ông cho ý kiến về những kế hoạch của Cộng Sản. Ông Tú nói quân của tướng Phú trải mỏng quá, và Pleiku không phải là mục tiêu của Cộng Sản. Mục tiêu của họ là Ban Mê Thuột, thủ phủ của phân nửa miền Nam của Cao Nguyên Trung Phần. Dựa trên Cuộc Chiến Đông Dương Thứ Nhất, khi cộng sản chiếm được Ban Mê Thuột, Pháp đã phải vất vả mới chiếm lại được, ông Tú tin rằng Cộng Sản sẽ lập lại lịch sử.

Tướng Phú lịch sự, không phản ứng, có nghĩa là vị tướng không đồng ý. Ông Tú chẳng hiểu tại sao tướng Phú lại quá chú tâm vào Pleiku, nhưng ông tin rằng tướng Phú nghĩ Cộng Sản sẽ tấn công bộ chỉ huy của ông. Lại thêm một lần nữa, ông Tú tiên đoán đúng những kế hoạch của Cộng Sản. Cộng sản tấn công và chiếm Ban Mê Thuột. Vào ngày 13 tháng 3, 1975, Tổng Thống Thiệu ra lệnh cho tướng Phú phải tái chiếm Ban Mê Thuột. Để mở cuộc tấn công, tướng Phú phải dùng các đội quân đang bảo vệ Pleiku. Tuy nhiên, tướng Phú phải đối phó với một vấn đề lớn. Đường 14, con đường duy nhất giữa Pleiku và Ban Mê Thuột đã bị các đội quân của địch án ngữ.

Tướng Phú quyết định dùng một con đường xấu, chỉ được bảo trì rất tồi gọi là đường 7B để chuyển quân. Đường 7B chạy theo mé đông từ đường 14 qua tỉnh Cheo Reo ngái ngủ, thủ phủ của tỉnh Phú Bổn và rồi bắt đến Tuy Hòa theo bờ biển. Từ đó, Tướng Phú sẽ gửi các đơn vị về hướng tây trên đường 21 để tấn công Ban Mê Thuột.

Vào ngày 16 tháng 3, khi các đội quân của tướng Phú bắt đầu rút lui, ông Tú vẫn còn ở Pleiku. Ông là ký giả duy nhất ở Pleiku lúc đó. Vào hôm trước, khi những máy bay của không quân bắt đầu chuyển vị trí về hướng Nha Trang, ông đã có cơ hội rời theo, nhưng ông quyết định ở lại, đi theo các đơn vị trên đường số 7B. “Là chứng nhân là vị trí tốt nhất đối với ký giả,” ông nói. Cũng giống như quyết định của ông ở Lào Cai khi trước, đây là một quyết định đã khiến ông suýt chết.

Thấy các đơn vị quân đội bất thần rời Pleiku vào ngày 16 tháng 3, dân chúng hoảng hốt, sợ bị bỏ lại phía sau. Hàng ngàn thường dân bắt đầu một chuyến đi ác mộng bắt đầu từ Pleiku. Con đường đầy những cụ già, phụ nữ, và trẻ em hoặc đi bộ hoặc bị thồn vào những chiếc xe đầy nghẽn tài sản của họ.

Đêm đó, vào khoảng 10g30 tối, ông Tú đi theo chuyến vượt thoát. Vai đeo ba lô, ông đi bộ suốt đêm đến Cheo Reo, cách Pleiku khoảng 32 cây số. Một phần hàng quân của tướng Phú đã vượt qua Cheo Reo và đến sông Ba, nhưng họ phải dựng một chiếc cầu qua con sông rộng để tiếp tục đến Tuy Hòa. Những lính còn lại của tướng Phú và nhiều thường dân vẫn còn ở Cheo Reo khi các toán quân Cộng Sản chặn đường 7B ở gần tỉnh. Trận chiến dữ dội bùng ra khi quân VNCH toan tính phá hủy sự án ngữ của Cộng Sản. Địch pháo vào thành phố, giết hàng trăm người. Ông Tú nhìn bất lực khi pháo rớt đúng vào một xe buýt đang chật cứng người.

Ông nhớ lại, “Nhiều người chết, nhiều người lắm và mùi thịt cháy khét tràn ngập bầu không khí.” Số người chết khiến ông nhớ lại những biến cố ở Quốc Lộ 1, phía bắc thành phố Huế năm 1972 khi Cộng Sản pháo vào hàng thường dân đang rút lui. Vào tháng 7 1972, hai ký giả báo Sóng Thần đã phát hiện hàng trăm xác người hôi thối rải rác trên mặt đất nơi họ đã bị giết nhiều tháng trước đó. Một trong hai ký giả là ký giả Ngy Thanh đã viết một mục báo về cảnh tượng khủng khiếp đó. Ông gọi vùng đó là “Xa Lộ Kinh Hoàng.”

Bị kẹt ở Cheo Reo, với đại pháo Việt Cộng rớt như mưa vào họ, những thường dân và binh lính Miền Nam xông vào tỉnh cướp bóc tìm thực phẩm, nước và thuốc men. Dân trong tỉnh phản công và thành phố sụp đổ trong hỗn loạn. Ông Tú bị kẹt trong tai họa này, nhưng ông đã tìm cách để gọi được điện về Sài Gòn. Ông Đặng văn Sung đã thuyết phục Không Quân Việt Nam gửi một máy bay đến đón ông Tú ở một sườn núi, nhưng ông Tú từ chối, không muốn về Sài Gòn tìm an toàn. Thay vì vậy, ông yêu cầu được thả xuống cầu ở sông Ba.

Khi đến nơi ông thấy thêm nhiều thảm kịch. Lính bị thương nằm rên rỉ trên mặt đất, dân chúng đói khát đi ăn mày xin thực phẩm. Ông Tú đặc biệt thương tâm khi thấy những đứa bé bị bỏ rơi to tiếng kêu khóc, đi lang thang giữa những xe cộ của quân đội và thường dân chất đống ở sông. Khi các kỹ sư quân đội VNCH toan tính xây một chiếc cầu nổi ngang sông, ông ở đó đêm đó với đại tá Cao Văn Uy, tư lệnh Nhóm Biệt Kích 6 đang canh gác đầu cầu. Hôm sau, ông nhảy lên trực thăng, nghĩ rằng sẽ bay về Tuy Hòa, nhưng thực ra máy bay lại bay về Cheo Reo để cứu một tướng VNCH. Sau khi đón vị tướng, họ đáp xuống Tuy Hòa. Ông Tú ở lại một đêm ở nhà tỉnh trưởng. Hôm sau ông bay về Nha Trang. Ngày 31 tháng 3, ông quá giang một máy bay về Sài Gòn.

Khi về Sài Gòn ông được cho biết rằng dân chúng ở thủ đô vừa phẫn nộ, vừa mất tinh thần về những chuyện đã xảy ra ở đường 7B. Ông cũng biết rằng Tổng Thống Thiệu đã hạ lệnh bắt ông khi ông ở Tuy Hòa vì những mục báo ông viết về cuộc rút lui, nhưng lính không chịu thi hành mệnh lệnh đó.

Chính Luận cho in 4 mục báo khác nhau của ông Tú về tai họa đường số 7B, nhưng vào ngày 31 tháng 3, 1975, tờ Newsweek đưa bài báo của ông lên trang bìa. Ông Tú đặt tên cho những chuyện thương tâm ông mục kích là “Đoàn Công Voa Nước Mắt,” và cũng giống như cái tên “Đại Lộ Kinh Hoàng”, cái tên “Đoàn Công Voa Nước Mắt” đã trở thành chết tên.

Trong khi rút lui khỏi Pleiku, tất cả những suy nghĩ của ông chỉ là làm sao để đưa câu chuyện ra ngoài. Ông nói “Tất cả những điều tôi trăn trở chỉ có thế. Cuộc triệt thoái cao nguyên là bài báo nổi tiếng nhất của tôi, nhưng quả là một cảnh tượng mục kích kinh hoàng.”

Tù tội

Sự tàn phá hàng quân của Tướng Phú trên đường 7B bỏ ngỏ sự phòng thủ của Miền Nam Việt Nam, khiến hoảng hốt lan ra trong Quân Đoàn I, và rồi Quân Đoàn nhanh chóng ngã gục trước các lực lượng địch. Vào cuối tháng 4 1975, khi các đơn vị Cộng Sản mở cuộc tấn công vào Sài Gòn, tòa đại sứ Mỹ ngỏ ý muốn giúp ông Tú di tản. Ông Đặng Văn Sung khuyên ông Tú trốn, nhưng cũng như ở Lào Cai và nhiều nơi khác, ông từ chối. Tuy biết rằng sẽ bị bắt, và sẽ bị cầm tù hoặc hành hình, ông vẫn từ chối không chạy. Ông Tú không muốn trốn thoát, bỏ lại những ký giả Miền Nam Việt Nam khác ở lại. Trong trại tù, ông nói với ký giả Vũ Ánh, “Làm sao tôi đi được? Văn phòng tòa báo còn đầy người kẹt lại, và tôi đi như thế là hèn nhát.”

Là ký giả, ông cũng muốn là nhân chứng mục kích xe tăng Cộng Sản tiến vào Sài Gòn. Ông biết đây là nỗ lực cuối cùng của ông như ký giả của tờ Chính Luận. Ông sẽ phải trả giá vô cùng đắt cho sự can đảm này.

Miền Nam đầu hàng vào 30 tháng 4, và hôm sau, ông Tú bảo ông Đặng Văn Sung đóng cửa tờ báo. Ông nói, “Thà là chúng mình làm còn hơn để Cộng Sản làm.”

Vì phòng của ông ở khách sạn Eden đang có bạn ông ở, ông Tú đến chỗ ở của một người bạn khác là cựu đại sứ Bùi Diễm, đã rời Sài Gòn một tuần trước khi Sài Gòn sụp đổ. Ông Diễm đã nói rằng ông Tú có thể xử dụng chỗ ở của ông. Ông Tú mời một vài ký giả Việt Nam cùng đến đó. Thay vì đồng ý với quyết định ở lại của ông, nhiều ký giả đã cho rằng quyết định không bỏ trốn của ông là dại dột. Ông Tú cũng mời nhiều ký giả Pháp đến. Một trong những ký giả dó là Jean Louis Arnaud, ký giả địa phương cho hãng thông tấn Agence France-Presse. Ông Tú hứa sẽ đưa cho Arnaud nhiều tập bản thảo ông đã viết về cuộc chiến, nhưng trước khi có dịp đưa những tập bản thảo đó cho Arnaud, ông đã bị bắt. Cộng sản tịch thu tất cả những gì ông có, kể cả những tập bản thảo. Ông bị bắt vào ngày 7 tháng 5, và tin rằng ông đã bị một ký giả Việt Nam đồng nghiệp chỉ điểm. Họ giải ông đến bộ chỉ huy Cảnh Sát Sài Gòn, kết án ông phản quốc, và đưa ông vào một phòng chờ thẩm vấn.

Có hai người lính gác trong phòng. Người cán bộ thẩm vấn ông là một cán bộ cấp trung, đã cố tình khiến ông bối rối bằng cách để ông ngồi trên một chiếc ghế cập kênh, chân thấp, chân cao.

Vì không biết ông là ai, người thẩm vấn đã hỏi ông về gia đình và công việc của ông. Ông Tú nói, “Tôi là ký giả.”

Người cán bộ nghi ngay rằng ông là gián điệp CIA. Cộng sản tin rằng ký giả Việt Nam làm việc cho CIA. Anh ta hỏi ông Tú đã dùng những bút hiệu nào?

Ông nói lúc nào ông cũng dùng tên thật, không bao giờ dùng bút hiệu nào khác. Ông viết những gì?

Ông Tú nói, “Tôi viết bài chống các anh.”

Tên tờ báo của anh là gì?

Vì người cán bộ rõ ràng không biết ông, ông Tú bảo anh ta đến tòa báo Chính Luận để kiếm tất cả các bài viết của ông.

Tại sao anh không trốn?

“Vì tôi muốn xem các anh vào thành phố thế nào.”

Người cán bộ phẫn nộ và hỏi phải chăng ông Tú đang mỉa mai anh ta?

Ông nói không, tất cả những điều tôi nói đều là sự thật.

Một người lính dùng báng súng đánh ông. Cú đầu tiên khiến ông gãy răng. Cú thứ hai đánh nứt xương sườn. Vết nứt không bao giờ lành và ông phải chịu đau ngực suốt đời.

Khi đến Mỹ, ông đã nhiều lần đến văn phòng bác sĩ để tìm nguyên nhân. Vào tháng 4 năm 2009, sau nhiều cuộc xét nghiệm, một bức ảnh quang tuyến X cho thấy xương sườn ông vẫn nứt. Bác sĩ có thể thấy vết nứt lúc này vì ông đã quá gầy, gần như chẳng còn bắp thịt.

Người cán bộ tiếp tục thẩm vấn ông trong nhiều ngày. Anh ta không tin ông đã gặp các viên chức cao cấp của chính phủ.

Ông nói với anh ta, “Tôi biết rất nhiều nhân viên cao cấp, bởi vì tôi đến các cuộc họp báo.” Người cán bộ không tin, nên ông Tú giải thích, “Chúng tôi sống trong một xã hội mở, anh sống trong một xã hội khép kín.”

Người cán bộ nói rằng nếu đã gặp những nhân viên cao cấp như thế, ông Tú hẳn phải là một ký giả đặc biệt, và cố tình ép ông phải thú tội là gián điệp cho CIA. “Không,” ông Tú nói. “Ký giả nào cũng có thể gặp các nhân viên cao cấp của chính phủ.”

Người thẩm vấn vẫn cho rằng ông đang nói dối, nhưng khi viết bản báo cáo cho cấp trên, cấp trên của anh đã mắng anh tại sao không chứng thực những lời khai của ông Tú. Người cán bộ quay lại nói với ông Tú rằng ông đã làm tôi mất mặt với cấp trên, nhưng tôi xin chúc mừng ông đã khai đúng sự thực.

Ông Tú đã quyết định không bao giờ nói dối. Ông nói với tôi, bằng cách này ông sẽ không phải nhớ đã nói dối những gì. Vì không phải là quân nhân, ông đã dùng đầu óc để chiến đấu với họ và khí giới hay nhất là sự thực.

Chẳng hạn, họ hỏi ông, “Tại sao ông không lập gia đình?”

Khi ông trả lời vì ông không muốn lập gia đình, họ không tin và cứ tiếp tục hỏi đi hỏi lại câu hỏi đó.

Cuối cùng ông nói, “Hồ Chí Minh cũng có lập gia đình bao giờ đâu.” “À,” ông nói với tôi, “câu này khiến họ hết sức phẫn nộ. Họ quát lên rằng tôi không được nói như thế, và họ dọa tôi. Tôi chỉ trả lời đơn giản rằng đó là sự thật và các anh có thể xem lại. Sau đó họ đổi đề tài.”

Ông bị giam giữ ở một phòng tù ở sở cảnh sát Sài Gòn hai tháng và rồi chuyển đến một nhà tù nhỏ ở Sài Gòn. Vì muốn buộc ông phải khai là gián điệp, cộng sản tra tấn và đánh ông liên tục. Trong cuộc thẩm vấn cuối, ông bị 4 người khác nhau tra hỏi. Người cuối cùng là người sâu sắc nhất. Tuy ông ta không đeo phù hiệu cấp bậc gì, nhưng ông Tú có thể đoán qua phong cách và ngôn ngữ rằng ông là một nhân viên cao cấp.

Vì không chịu khai là đã làm việc với CIA, vào tháng 12 1975, ông bị gửi vào khám Chí Hòa, khám chính của thành phố. Tuy biết ông là ký giả, Cộng sản vẫn giam ông chung với các phạm nhân hình sự, trộm cướp, giết người. Vào lúc đầu, cuộc sống vất vả nhưng khi vô tình cách hành xử của ông hợp với đạo nghĩa giang hồ, họ đã đối xử với ông rất tử tế. Có lần ông bật lửa châm điếu thuốc cho một người tù. Thái độ thân tình của ông khiến anh ta cảm động. Anh nói trong đời anh từ trước đến nay chưa ai làm điều đó. Từ đó trở đi, anh ta bảo vệ ông và mang những phần cơm của ông đến cho ông.

Sau khi chịu đựng thêm một trận đòn nữa của Cộng Sản ở khám Chí Hòa, phân nửa phía phải người ông tê liệt, nhưng không có thuốc để chữa trị. Một hôm có một người tù khuyên ông nên hút thuốc lào. Anh ta bảo rằng thuốc sẽ khiến máu luân lưu và giúp ông chữa trị bệnh tê liệt. Ông Tú kể, “Thuốc lào trong tù rất hiếm, và nếu chỉ có một lượng nhỏ thuốc lào cũng đã được xem là giàu. Chỉ một dúm thuốc lào tí hon cũng đã được xem tương đương với cả khẩu phần gạo của tù.” Tuy thế, những người tù cố nhặt nhạnh cho đủ lượng thuốc và mượn cái ống điếu của một ông cha để giúp ông trị bệnh.

Sau đó khoảng 10 người tù quây quanh xem ông hút thuốc. Ông hết sức ngạc nhiên khi thấy họ tỏ vẻ hết sức kính nể. Và lạ lùng thay khi say thuốc lào, chân phải đã liệt của ông bỗng co, giật trước những tiếng trầm trồ của những người tù “Chân bố giật rồi! Chân bố giật rồi!” Thuốc lào đã chữa khỏi bệnh tê liệt cho ông, nhưng phần người bên phải của ông vẫn yếu suốt đời.

Năm 1982, ông chuyển về trại cải tạo Xuân Phước, một căn cứ cũ của Cộng Sản sâu trong rừng ở Tuy Hòa. Đó là những năm khốn khổ nhất. Đây là trại khổ sai, và thực phẩm rất hiếm. Trại trưởng tù không muốn nhận ông vào trại vì vết thương sương sườn và phân nửa người ông phía phải rất yếu. Một người tù đã làm một cái giá vịn cho ông để ông có thể tự làm việc ngoài vườn. Uyên Thao, chủ bút báo Sóng Thần nhớ lại ông Tú thường lén nhét rau hoặc các loại lá ăn được vào dưới áo ông để giúp các bạn tù khác.

Nhưng ông thường bị bắt và bị biệt giam. Ông vừa cười, vừa kể, “Thực sự thì tôi lại thích biệt giam vì được yên tĩnh, chỉ có cái là anh phải bị cùm. Bởi thế nên mới khó chịu. Nhưng nếu được tự do, không bị cùm, chẳng hóa ra anh tự nhiên lại có phòng ngủ riêng sao?”

Tuy ông Tú chống Cộng, một số người Quốc Gia trong trại vẫn phẫn nộ với ông vì ông không ghét những người cai tù. “Nếu ghét họ,” ông nói với tôi. “Điều đó sẽ làm mình mù quáng. Muốn đánh bại họ, anh cần phải có một mức độ kỷ luật và có cái nhìn rộng lớn hơn về đời.”

Năm 1985, ông bị chuyển sang một trại khác gần Xuân Lộc, một tỉnh nằm ngoài Sài Gòn. Trại này dễ chịu hơn nhiều, và họ được nhiều cơm hơn. Vào ngày 14 tháng 2, 1988, sau 13 năm tù, ông được thả. Khi vào tù ông 51 tuổi, khi ra ông 64.

“Tù tội làm tôi già quá,” ông nói. “khi họ thả tôi, trông tôi như một ông già lọm khọm.” Đầu bạc trắng, sức lực yếu đuối, ông đã phải chịu đựng “tra tấn, khổ sai, sỉ nhục, bỏ đói và luôn phải nghe những bài giảng về chủ nghĩa Cộng Sản.” Nhiều bạn tù của ông đã chết vì những bệnh hoạn lúc nào cũng đầy dẫy trong trại.

Ông trở về Sài Gòn và may mắn được một gia đình thuê ông dạy kèm con em của họ. Những con em này bị cấm không cho đi học vì cha chúng đã làm việc cho chế độ cũ. Gia đình thuê ông đưa tiền ông, nhưng ông không lấy. Ông nói, ông chỉ cần thực phẩm.

Mỗi tuần, nhiều cán bộ công an địa phương đến nơi ông cư ngụ để bàn luận những hoạt động của ông. Khi một công an biết được có người thuê ông, họ đã thuyết phục gia đình đó đuổi ông bằng cách nói rằng ông là tù mới được thả. Sau đó ông bị quản cố.

Sau một năm quản cố, cán bộ công an hỏi ông muốn đi Mỹ hay ở lại Việt Nam. Ông muốn ở lại, nhưng vì đã mất tất cả, ông biết ông phải đi. Ông nói với cán bộ công an “nếu các anh không cho tôi làm việc thì tôi chẳng còn sự chọn lựa nào ngoài cách đi đến một quốc gia cho phép tôi sống tự do.”

Ông Tú sắp bắt đầu một cuộc mạo hiểm cuối cùng.

Trốn thoát sang Mỹ

Lúc này đã quyết định rời Việt Nam, ông cần một kế hoạch trốn thoát. Vào tháng 7 1989, ông đi về hướng bắc, đến Hải Phòng, nơi một người bạn cho ông một ít vàng để mua chỗ trên một chiếc tàu sắp đi Hồng Kông. Tuy chưa bao giờ bàn luận về chuyến đi, chuyến đào thoát của ông có lẽ là do sự giúp đỡ của người cán bộ công an. Nếu nhìn vào tình trạng duyệt xét đi lại khó khăn bên trong Việt Nam, và vì ông đang bị công an địa phương chú ý, việc ông có thể từ Sài Gòn trốn ra Hải Phòng là việc rất khó nếu không có sự chấp thuận.

Hơn nữa, vào năm 1989, những cuộc vượt thoát khổng lồ của “thuyền nhân” Việt Nam đã phát động từ nhiều năm, và nhiều cán bộ Cộng Sản đã lợi dụng nhận hối lộ để cấp giấy tờ cho những người vượt biển. Cộng sản đã nhận ra rằng họ có thể diệt trừ kẻ thù bằng cách giúp đỡ những người chống cộng vượt thoát. Đặc biệt là trong số những kẻ vượt thoát trên tàu có những kẻ tội phạm, rõ ràng là Cộng Sản muốn quét sạch những thành phần họ không muốn chấp nhận. Trong số đó có ông Tú.

Vào ngày 25 tháng 9, 1989, ông cùng với 98 người khác lên một chiếc tàu gỗ nhỏ rời Hải Phòng trước lúc rạng đông. Trong ba tuần sau đó, những người trên tàu phải chịu đựng hai cơn bão dữ dội, mỗi cơn kéo dài 4 ngày và thuyền tròng trành trên biển như chiếc lá giữa những ngọn sóng.” Tuy thời tiết nguy hiểm, thuyền bị thủng và chỉ đáp ứng đủ những điều kiện tối thiểu nhất để ra khơi, nhóm thủy thủ đoàn còn đáng sợ hơn. Về sau ông Tú viết rằng thủy thủ đoàn đa số là “những kẻ sát nhân, nghiện ngập, trộm cắp, trên thân thể đầy những vết sâm ghê gớm.” Bọn côn đồ trên tàu đối xử hung hãn với mọi người, buộc họ phải đưa hết tất cả vàng, nữ trang, và thực phẩm họ đã mang theo. Thủy thủ đoàn lột quần áo những người trên tàu để lục soát và mò mẫm cả những chỗ kín. Họ đánh đập những người không chịu để bị lục soát. Tuy thế, bọn côn đồ lại không đụng gì đến ông, “không phải vì tôi là một ông già, mà vì tôi biết nói tiếng Anh và có thể làm người thông dịch cho họ.”

Tàu đến Hồng Kông vào ngày 14 tháng 10, 1989. Chính quyền địa phương cung cấp thực phẩm, thuốc men và chỗ ở, nhưng ông Tú và nhiều người Việt Nam tị nạn khác bị quản thúc phải ở trong trại. Tuy vào lúc đầu, họ được đối xử tử tế, con số lớn những người vượt thoát đã gây căng thẳng cho tài nguyên của Hồng Kông. Một thời gian ngắn trước khi ông Tú đến, chính quyền Hồng Kông đã quyết định áp dụng chính sách cưỡng bức hồi hương, trừ phi họ có bằng chứng họ là những người tị nạn chính trị chứ không phải kinh tế. Vì không hề có giấy tờ chứng minh rằng ông đã bị giam cầm 13 năm, ông Tú có nguy cơ lớn sẽ bị trả về Việt Nam.

Cố gắng tránh để khỏi bị trả về, ông Tú đã viết thư cho nhiều tổ chức báo chí, xin họ giúp đỡ. Những lá thư đó hữu hiệu vì nhiều ký giả Mỹ, Pháp có ảnh hưởng đã kêu gọi chính phủ Mỹ chấp thuận tình trạng của ông như một người tị nạn chính trị. Khi các ký giả Hồng Kông biết về sự khốn khó của ông, ảnh ông được đưa lên bìa một tờ tờ báo địa phương là tờ Correspondent. Vào đầu tháng 12 1989, sau khi tòa lãnh sự Mỹ ở Hồng Kông thông báo với chính quyền Hồng Kông rằng Mỹ sẽ nhận ông qua diện tị nạn chính trị, chính quyền Hồng Kông chấp thuận cho ông Tú ở lại.

“Tôi hết sức may mắn,” ông nói. “Tôi đã giúp nhiều ký giả ở Việt Nam, và rồi họ lại giúp tôi. Tôi thực sự biết ơn.”

Sau một chuyến bay vất vả, ông đến Mỹ ngày 16 tháng 2, 1990. Ông ở với một người bạn ở tiểu bang Virginia, và sau đó dời về ở một căn apartment tí hon, nơi ông đã sống trọn đời. Một trong những chuyến thăm của ông là thăm Bức Tường Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Việt Nam ở Washington, D.C. Ông nói với tôi, ông đã khóc khi nhìn thấy 58,000 cái tên. Tuy cảm thấy rất thương những người lính Mỹ đã chiến đấu và hy sinh, ông tin tưởng mạnh mẽ rằng đáng lẽ những người chiến đấu phải là thanh niên Việt Nam. Ông muốn người Mỹ huấn luyện và viện trợ giúp người Việt Nam, nhưng không muốn người Mỹ chiến đấu cho họ. Điều đó sẽ tẩy sạch những tuyên truyền của Cộng Sản rằng Miền Nam Việt Nam là một thuộc địa của Mỹ. Ông đúc kết những suy nghĩ của ông bằng cách phát biểu rằng “sự nhúng tay sâu rộng của Mỹ vào cuộc chiến khiến chúng tôi đau khổ trong tâm vì các anh không tin chúng tôi, nhưng người Việt chúng tôi cũng chưa hề bảo người Mỹ rằng họ không đồng ý với sự can thiệp của Mỹ.”

Ông Tú đã quyết định tiếp tục sự nghiệp như một ký giả. Vào năm 1990, cựu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra mặt nói chuyện. Kể từ khi mất Việt Nam, đây là lần đầu tiên ông Thiệu xuất hiện trước công chúng. Ông Tú đến nghe ông Thiệu nói chuyện ở Virginia. Sau khi ông Thiệu ngừng diễn thuyết, các cựu chiến binh VNCH đã đưa ra những câu hỏi hóc búa về cuộc chiến và vì sao họ đã thua năm 1975.

Theo lời ông Tú, ông Thiệu đã mất bình tĩnh cao giọng, “Nếu không có ai nhận lãnh trách nhiệm, thì tôi xin nhận.” Ông Tú bảo tôi, “Câu nói đó đã nói lên tất cả những gì trong tâm ông Thiệu. Ông Thiệu là tổng tư lệnh. Đó là trách nhiệm của ông, nhưng ông lại chối bỏ trách nhiệm đó.”

Khi cúp điện, tất cả đều ra ngoài. Ông Tú đang viết thì thấy một cái bóng che vào ông. Rồi ông thấy hình như có người vỗ nhẹ vai ông. Nhìn lên, ông thấy ông Thiệu. Tuy đã rất nhiều năm tháng trôi qua, vị cựu tổng thống vẫn nhận ra ông.

Ông Thiệu bắt tay ông Tú và hỏi ông Tú đang làm gì.

“Tường trình về ông!” Ông Tú nói. Ông Thiệu mỉm cười.

Một ký giả Mỹ trong cuộc chiến cũng đến nghe diễn thuyết. Ông nhận ra ông Tú, và vì ông không nói được tiếng Việt, ông Tú đã dịch lại cho ông. Người ký giả muốn trả tiền cho ông, nhưng ông Tú từ chối. Ông đã nhiều lần được những ký giả Mỹ trả tiền cho sự giúp đỡ của ông, nhưng ông không bao giờ lấy tiền của ai. Tuy nghèo, ông Tú vẫn là một người tử tế và hữu ích.

Từ năm 1990 cho đến khi ông qua đời, ông Tú vẫn viết các mục báo cho các tờ báo Việt Nam ở Mỹ và Úc. Ông bàn luận mọi đề tài, từ chính trị đến kinh tế, nhưng không lúc nào tiền nhuận bút của ông đủ để ông có thể trả tiền mướn phòng hoặc ăn uống đầy đủ. Tuy thế, ông Tú chẳng bao giờ để ý đến tiền bạc hoặc phần thưởng. Trước lúc ông qua đời, ông Bùi Diễm có hỏi ông về việc lo liệu đám tang. Ông Tú nói ông Diễm không cần lo vì ông đã trả tiền trước cho nhà quàn. Khi giám đốc nhà quàn hỏi ông có muốn thông báo cho ai biết khi qua đời không, ông Tú đã trả lời không. Ông sẽ chết chẳng khác gì khi sống: đơn độc.

Vào tháng 10 2009, chúng tôi có nói chuyện qua điện thoại nhiều lần sau khi ông nói với tôi rằng ông sẽ viết hồi ký. “Vâng,” ông nói, “tôi đang viết một số điều cho anh.” Thế thì hay quá, khi nào thì tôi được đọc? “Chưa, tôi vẫn còn đang làm việc.” Tôi không thúc ông, tôi muốn để ông làm theo ý ông. Và rồi tôi được nghe một tin rúng động. Một người bạn gọi báo cho tôi biết ông Tú đã qua đời vào ngày 11 tháng 7, 2010. Ông đã qua đời nhiều ngày rồi và người ta đang dọn đồ ở phòng ông ra. Có ai tìm thấy bản thảo của ông không? Không, chẳng có gì cả. Tôi năn nỉ người bạn tìm lại, nhưng đã quá trễ. Bất kể những tài liệu ông Tú đang viết là gì, những tài liệu đó đã bị vứt bỏ, lại thêm một sự mất mát nữa đối với thư viện dữ kiện của lịch sử.

Kể từ khi ông qua đời, tôi đã xuất bản hai quyển sách về Việt Nam Cộng Hòa, toan tính kể lại câu chuyện về “quốc gia đã mất” của ông. Nhưng sâu trong tâm khảm tôi, khát vọng kể lại câu chuyện đời ông vẫn hừng hực. Tôi muốn kể cho thế giới biết về một người đáng trọng đã tận tụy cống hiến đời mình để tường trình những câu chuyện của dân tộc mình.

Cuối cùng, đã đến thời điểm đó. Đây là chút tưởng nhớ của cá nhân tôi đối với ký giả Nguyễn Đình Tú, câu chuyện của một người khiêm tốn, lặng lẽ, một người Quốc Gia đã chiến đấu bằng cả tâm hồn lẫn thể xác cho một nước Việt Nam tự do. Tôi hân hạnh được ông Tú cho phỏng vấn 9 lần, nhưng chỉ có ông mới thực sự có thể kể lại những huyền thoại của cuộc sống đầy biến cố của cuộc đời ông. Tôi đã cố gắng kiểm chứng các câu chuyện của ông, nhưng nếu có chi tiết lịch sử nào sai lầm, tôi xin một mình nhận trách nhiệm.

Tuy thế, đây cũng là câu chuyện của các bạn, về các bạn, những con em của nước Việt Nam, sống ở một nơi xa mồ mả gia tiên. Tôi hy vọng rằng bài viết này sẽ khuyến khích những người khác viết về những câu chuyện của họ. Cũng giống như ông Tú, nhiều người vẫn còn những cay đắng, chua xót sâu xa vì mất đất nước, nhưng lịch sử cần câu chuyện của các bạn. Rủi thay, ông Tú không bao giờ viết hồi ký, và khi ông qua đời, người Việt mất thêm một người trọng tuổi đáng kính: họ mất đi một miểng lịch sử của họ. Nhưng khi phải sống một cuộc sống cam khổ và trả một cái giá đắt cho các quyết định của ông, ông Tú không bao giờ nhìn lại. Những sự chọn lựa của ông là những sự chọn lựa dành cho ông và nhằm giúp ích cho dân tộc ông. Đó là cái giá của sự can đảm.

Những ai muốn đọc thêm về George Veith về sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam, xin xem trang mạng www.thangtuden.info, vào amazon hoặc những tiệm sách địa phương để mua Black April: The Fall of South Vietnam, 1973- 1975, hoặc Drawn Swords in a Distant Land: South Vietnamés Shattered Dreams. Quý vị nào muốn mua bản ebook của bài viết này bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt, xin vào địa chỉ mạng phía dưới của Amazon.