Nương tựa ở giữa đời

Hồ Minh Dũng

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

Năm 1972, trong một dịp vào nhà in của bộ Dân vận Chiêu hồi (ở đường Lê Thánh Tôn) để in đặc san Hỏa tuyến cho Sư đoàn 1 bộ binh, tôi hân hạnh được gặp Bùi Giáng lần đầu ở nhà anh Trần phong Giao, tổng thư ký toà soạn tạp chí Văn ở bên chân cầu Kiệụ Chúng tôi đang ngồi uống trà thì Bùi Giáng tớị Anh Giao vội vàng ra cửa đón mời vàọ Tôi đứng lên chào ông như học trò chào thầỵ

Hình ảnh Bùì Giáng ngày ấy còn đeo đẳng mãi trong ký ức của tôi cho đến bây giờ, khi hồi tưởng lại để viết đôi dòng về ông mà trong lòng vẫn còn âm ỉ buồn thương không dứt.

Trước mắt hiển hiện một con người mà những vần thơ ám ảnh tôi từ thời còn ôm sách đến trường: tóc tai bù xù, đầu từng sợi tóc bù xù ấy chẻ ra nhiều nhánh, mỗi nhánh nổi trôi nối với trời đất vô tận bên ngoàị Nét mặt ông khắc khổ, có rất nhiều vết nhăn, vết này chồng lên vết kia rất tương đắc, làm cho những vết sau cùng còn lại bị dòng nước mắt chảy xuống bào mòn trên sa mạc dạ Đôi mắt ông sâu thẳm, buồn bã, đục ngầu chất chứa những nỗi niềm không ai hiểu nổi. Chỉ đôi mắt ấy thôi, tôi thấy rõ ràng lúc đó ông đã trung niên, nhưng cái thời chăn bò trên những đồi cỏ bát ngát ở Duy Xuyên hiện ra chập chùng qúa đổi ngây thơ trên tia mắt ông nhìn ra ô cửa, mà những dãy nhà bên kia con hẻm chật chội đã chắn bít hết chân trời. Đôi mắt ông, cơ hồ như chờ đợi một cái gì đột ngột sẽ đến, một cơn chớp bể mưa nguồn chẳng hạn.

Dưới hai mắt ấy là đôi môi mỏng của ông luôn luôn mỉm cười, cùng với những sợi râu lơ thơ màu râu bắp, cũng như tóc, đọt râu ông chẻ ra nhiều nhánh, nhưng không nảo lòng mà làm cho nụ cười “mím chi” của ông tăng phần duyên dáng. Nụ cưòi ấy thì ai cũng hiểụ Cuộc bày binh bố trận, luồn lách lươn lẹo ở trần gian này chẵng qua là một trò hề rẽ tiền. Đó là việc không phải để cho con người làm! Mọi sự, qua nụ cười ấy chỉ là một áng vân cẩu lấp ló tận bên trờị Nụ cười rạng rỡ ánh bình minh ấy chỉ là nỗi thấp thỏm đợi chờ một cơn mưa bất chợt buổi chiềụ Cơn mưa rữa sạch biết bao bụi mờ.

Quần áo ông mặc đơn sơ, bụi đất dính dáp nhiều chỗ, nhìn trang phục đó ai cũng nghĩ đến một kẻ không nhà, không nơi nương tựa, đêm đêm gối tay ngủ một giấc ngon lành ở vĩa hè phố, có thể ngồi từng canh dài trong đêm tối vắng dưới gầm cầu, xó chợ uống rượu suông để tìm nguồn thơ, suy nghĩ phân minh về triết lý trong cỏi phù dụ Bên ông, đông đảo bóng dáng, nhưng không phải người mà là chuột, gían, bọ xít, chồn c”ao, ruồi muỗi thân thương. Những người bạn ấy chưa hề làm điều gì phiền lòng ông. Những đêm dài ông ngủ không manh chiếu dưới mái đền bỏ hoang, hồn lặng đắm nghe sóng nước vỗ chập chùng từ dòng sông Thu, sông Hàn mà chuột đói vẫn hân hoan ôm riết mười ngón chân của ông, sáng ra mới hay một phần da thịt mình đã nuôi sống một bầy thú đói hiền từ qua đêm. Nụ cười thanh thản ấy đã hình thành từ nhũng biến cố lãng mạn như thế.

Anh Trần phong Giao lấy chai rượu rót mời Bùi Gíang một ly lớn. Ông vui vẻ uống hết rồi lấy trong túi một bài thơ đưa cho anh Trần, giọng Quảng Nam đặc sệt không pha trộn” ” bài ni mới làm đêm hôm rồi, qua loa thôi”. Anh Trần đưa cả hai tay trân trọng đón lấy, đọc xong anh đưa cho tôi xem. Tôi xem bài thơ lục bát khoảng chừng mười mấy câu, viết nghệch ngoạc như kiến bò, trong ấy phần nhiều là những từ tôi không đủ khả năng để hiểu nổi, nhưng vẫn đinh ninh rằng bài thơ hay, rất haỵ Đó là tấm lòng thành kính và sự ngưỡng mộ của tôi đã ngã về ông từ lâu rồị Cả anh Trần cũng không dám nói gì về một bài thơ của một người tư cách mà khi mới bước chân khập khểnh vào nhà , ánh hào quang đã theo vào làm ửng lên một không khí trang nghiêm. Không phải một mình ông đến mà cả một khối tinh anh đang theo về.

Ông ngồi hút thuốc, uống rượu và không hề đã động gì đến bài thơ mình nửa, lâu sau nghe tôi nói tiếng Huế, ông quay sang hỏi tôi:

– Chú ở Huế?

– Dạ

– Ừ, Huế với Quảng…. gần.

Sau chữ Huế với Quảng, nhà thơ ngập ngừng dường như chưa tìm ra một câu gì đó cho vưa tình ý của mình, cuối cùng lại thốt ra một chữ duy nhất rất đáng tri ân: “Gần! ” Ôi một chữ ấy thôi đã thôi thúc cho cả một rừng trúc nhú chồi măng lên và ngân vang biết bao tình nghiã.

Ngồi chơi một lát, ông kiếụ Chúng tôi tiển ông ra cửạ Ông đi về phía hẻm cụt, anh Trần định gọi thì ông đã lập tức quay lui, miệng mỉm cười ngó bộ rất tâm đắc với sự lạc lối của mình. Anh Trần nói: ” Trong đời, có mấy ai như Bùi tiên sinh, chỉ hai câu thơ: Xin chào nhau giữa dặm trường, muà xuân phía trước miên trường phía sau, ông có mất cả ngàn sau người đời còn nhớ.” Anh Trần nói thêm: “Tôi qúy cái tâm của ông ấỵ”

Năm 1975, khi thành phố Huế, rồi đến Đà nẳng mất, tôi đem vợ con chạy vào Sài gòn, chăng bao lâu cả miền Nam mất luôn. Một buổi chiều trong cơn hổn loạn của cuộc bể dâu, tôi cùng người bạn lang thang trên đại lộ Lê Lợi, khi đến gần bệnh viện Đô thành, tôi gặp một người ăn mày đang đi ngược chiềụ Ông ta bận nhiều lớp áo khác nhau, cái nào cũng củ kỹ nhơ nhớp, chân đi đôi bốt đờ sô không cột dây, một tay xách lủng lẵng một chiếc mủ sắt còn mới bên ngoài có lưới ngụy trang, trên lưới giắt mấy cái lông gà màu tía, tay còn lại buông thỏng theo thân, năm ngón tay co rồi duỗi, duỗi rồi co, như không ngừng caò cấu vào lớp không khí bụi bặm của thành phố ly loạn, mà cào cấu từng nhịp rất ung dung, nhịp nhàng… Bạn tôi nói nhỏ, mầy không biết ai đó sao.

Thì ra đó chính là Bùi Giáng, Bùi Giáng sau khi Cộng sản vô đã đi ăn mày khắp cả phố phường. Ngươi ăn mày không xin ai, bàn tay chưa bao giờ ngưã rạ Bây giờ trong thiên hạ đã nói ông điên. Trước đó, cũng đã có người nói ông điên rồi, nhưng năm 1971 nhà xuất bản An Tiêm xuất bản tập tiểu luận ” Ngày tháng ngao du ” của Bùi Giáng, trong đó ông tự bạch một cách tỉnh táo về bản thân mình: “Nó điên? Nhưng điên một cách vui vẻ. Bạ đâu gọi đó là mẫu thân bát ngát của con. Người ta bảo rằng nó không điên. Có kẻ bảo rằng nó gỉa vờ điên, thì trước hết phải đặt câu hỏi: Sao gọi là điên? Nhưng mà đó là một câu hỏi chưa hề có lời giải đáp dưới gầm trời và suốt xưa nay vậỵ”

Chao ơi, một người điên mà nói được câu như thế thì tiếng chuông ngàn cân bên bờ sông Thái Thạch đuổi theo sao kịp.

Bốn năm sau và những năm sau nửa biết đâu ông điên thật (!). Hay là vì hoàn cảnh đảo điên đưa ông vào trong vòng khổ lụy cần phải làm một Cái bang thời đại, rong chơi giữa đời ngun ngút biển động, nhà thơ mà:

Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu

Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa

Hỏi tên rằng một hai ba

Đếm là diệu tướng đo là nghi tâm

Quả thật là một nhà thơ phi thường.

Có mấy ai quên hình ảnh của một người đàn ông cao tuổi, quần áo chằng chịt miếng vá nhiều màu, đối chọi nhau rất chói chang, đầu đội nón lá rách chỉ còn mấy vành, tay cầm chiếc gậy không biết làm bằng gì mà nghêng ngang đi giữa đường lớn, hai dòng xe cộ ngược xuôi ồn ào như thế mà chẵng có ai dám đụng đến ông. Có mấy ai quên được một con người bình thản đứng giữa ngả ba, ngả tư đường làm một cảnh sát lưu thông không lương, tận tụy, ân cần chỉ cho người đi theo ngón tay mình. Đi theo ngón tay, không biết sẽ về đâu, trong khi ông đã bắn tiếng:

Đường quanh ngõ quẹo lang thang

Niềm vui tao ngộ muôn vàn lạ thay và hơn thế

Đường đi mất hút thình lình

Những khuôn mặt lạ những hình ảnh quen.

Vậy là ông muốn đưa người về một chân trời khác rồi, chân trời mà ông tự xưng là “trẩm” với một vương quốc thân ái, đầy viễn ảnh son sắt xum vầy:

Nồi tôm nồi cá nồi cua

Con chim về hót giữa chuà chiền hoa

Trái dưa trái mướp trái cà

Con chim về hót lá hoa chùa chiền.

Có mấy ai quên được ông ” quẩy gánh lo đi” lúc sáng tinh sương, khởi hành từ một căn gác trống trơn ở đường Trân quang Diệu cho đến tối mịt có khi thất thểu trở về, uống một bát nước lã rồi ngủ vuì, có khi thuận đường hai ba hôm “đi buôn” đường dài, ngủ chực ở một nơi không mấy sạch sẽ nào đó, bên đình Minh Phụng, ngoài rià rào khu nghiã địa Nhị tì hay giữa những thùng nước mắm cá hôi hám bên chân cầu Bình Triệu, trong những bụi dừa nước bên bờ kênh Văn Thánh. Thậm chí còn có người thấy ông chen lấn, trèo lên những chuyến xe đò chật chội lên tận thị xã Bình Dương rồi lại trở về. Các tài xế, lơ xe nổi tiếng là tứ chiếng giang hồ đều biết ông là một nhà thơ lớn tài hoa của thời đại, không bao giờ nói nặng ông một lời, lấy ông một hàọ Có khi còn giúi vào tay ông một ổ bánh mì thịt. Ông ăn ngon lành. Đôi mắt ông tỏa tia nhìn bình an đến mọi người, đó là lời cám ơn.

Những chuyến đi như thế, lúc nào trên hai vai ông cũng có một gánh nặng, nào là quần áo củ, lon bia, chai lọ, chổi rơm, chổi chà, báo củ, vỏ trứng gà vịt, vỏ dưà, vỏ cam quýt, y như một người đi mua ve chaị Bọn trẻ con chạy theo ông lúc nào cũng có năm bảy đứạ Chúng hỏi ông làm gì , gánh gì ,đi đâủ Ông nháy mắt trả lời bằng hai câu thơ:

Mầng răng ra rứa ví dù

Mầng ri thế nọ tịt mù thế kia

Quả thật là một câu trả lời của người tỉnh táo, khôn ngoan và chịu chơi dị thường.

Không ai trên đời này hiểu được hiện tượng Bùi Giáng. Không ai trên mặt đất này hiểu được việc làm của ông. Một lần, ông không thể nín lặng mãi sự dằn xé tâm can mình mà thốt lên: ” Chán chường thi ca mà vẫn làm thơ là đạo vậy!”

Đạo của ông ngun ngút đường phượng bay qua biển trời bừng lên ánh cầu vồng muôn sắc, là tơ tằm nối một nghìn thế giới trong một đường tinh tú sáng loè, khởi đầu cho một cơn chớp bể mưa nguồn vĩnh cửu, là lớp sóng trong suốt tận đáy sông Mạch La cùng với Khuất Nguyên thốt lên câu: Đời đục hết, một mình ta trong!. Đạo của ông bàng bạc trên dòng sinh mệnh quạnh quẻ, tóm gọn một cách đại quân tử trong túi tang bồng hồ thỉ, long lanh giọt ngọc Lam Điền mà có vạn kẻ thù gươm giáo tuốt ra khỏi vỏ cũng không ngăn nổi dòng chảy sục sôi tuôn về Hiệp Phố. Đạo ông, giáo điều không gì hơn là:

Tôi về giữ mộng mù khơi

Kết thành viễn tượng cho đời chiêm bao

Thiền lâm ông là một căn gác tối tăm mà nghe đâu có một cô gái người Đức nghe danh ông, mến mộ văn thơ ông, đã tìm đến thăm, nhìn thấy cảnh tượng ông tu, trống trơn, không sách vỡ, không thức ăn, không một ly nước lã, chỉ có cái giường gỗ ọp ẹp, chăn gối bừa bộn và “giáo chủ” Buì Giáng xương bọc da, ngồi lặng câm nhìn trờị Cô gái nước ngoài ấy đã sững sờ thốt lên: “Thi sĩ lớn của tôi đây sao ???”

Điên hay không điên là vòng nguyệt quế nối liền nhân nghĩa, là nguồn mạch lai láng của cạn và đầỵ Đầu và cuối không có, chỉ có ở giữa, không hề teo tóp, xiêu xế, băng hoạị Lòng ông sáng như trăng saọ Tình ông ấm như giữa tiết nguyên tiêu.

Vậy ông là ai?

Hình trạng ông xuất hiện giữa đời như một con người quái dị, đuà bỡn, cà rỡn, ngang tàng, bất cần và haò hiệp, vô can và trong sạch, hùng cứ một phương, nguyên súy chễm chệ ngự trị trên ngai vàng chữ nghĩạ Cầm chắc cái cân thiên lý trên taỵ

Hành trang Bùi Giáng quanh quẩn trong thế giới mù mịt của một xã hội cùng đường làm cho ai cũng phải động lòng trắc ẩn. Và ông, tự biết mình hơn ai hết, mấy mươi năm về trước đã thổ lộ bằng giấy trắng mực đen rồi:

“Tôi làm thơ là chỉ một cách dìu ba đào về chân trời khác. Đi vào giữa trung tâm giông bảo một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu, chuồn chuồn mang trên đôi cánh mỏng bay đị….”

Một ngôn ngữ kiệt xuất như thế, điên hay tỉnh.

Con hẻm nhỏ bên chân cầu Kiệu, nhà thơ Bùi Giáng không hề đi thêm nửa khi biết con hẻm cụt không lối rạ Và chỉ một chữ “gần” ấy thôi, cả đời tôi không dám làm những điều trái với chữ gần là xạ……

Hồ Minh Dũng

Atlanta 4,1997

2003-08-10 15:06:10

Mặt Trời Qua Đỉnh Thiêng

Hồ Minh Dũng

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

Cuối cùng rồi cũng không ai vô công rỗi việc để ý đến đời tư ông Vĩnh Ly. Ðời ông, xét về mặt đại sự, chẳng có gì đáng nói, chỉ có một điều ông khác người là có số đào hoa. Ðường chỉ ở những đầu ngón bàn tay trái của ông có hình xoắn ốc, tận cùng trung tâm lại xòe ra một hoa thụy nhiều cánh, ở ngón tay cái có đường vân tay ấy trổ ra một nhánh, tựa như móc câu. Người thầy tướng số có thể vin vào đó mà biết được đường tình hanh thông hay trắc trở, bế tắc hay có lối thoát. Riêng cái vành tai dày và dái tai dài của ông, thêm vào đó cái chóp mũi nằm ngạo nghễ trên đỉnh nhân trung lúc nào cũng ửng đỏ, đã biết phủ tạng ông bẩm sinh đã cường tráng, yêu người, yêu đời, trái tim không ngừng chan hòa với ngoại cảnh.

Ðời, đối với ông Vĩnh Ly, thật đơn giản. Không buồn, không vui, không dài, không ngắn. Tất cả đều vừa phải. Sự thừa, thiếu là do lòng dạ con người nghĩ ra. Nước cạn mà chở thuyền lớn, núi trọc làm sao lót ổ cho đại bàng nằm, đời người như gửi thì tiếc chi thân cù mộc mà gây khó dễ cho phận cát bìm leo.

Ngay cái ngày triều đại nhà Nguyễn sập đổ không kèn không trống, ông cũng không lấy gì làm buồn. Chẳng những không chia sẻ nỗi đau tưởng chừng như trời long đất lở ấy, ông còn ra đồng thả diều, cánh diều chao liệng vô tận giữa thanh không vời vợi ấy đưa ông về một cõi khác, đơn sơ hào hiệp hơn. Mộng lòng mới chớm, biết gửi nơi đâu, ngoài một khoảng trời đầy mây và cánh đồng phiêu du mượt mà cỏ non. Cha mẹ ông đứng dưới lũy tre làng nhìn thằng con vô tích sự rong chơi. Cha cất tiếng gọi: “Con ơi, về nhà. Cả một cơ đồ đổ, mai đây tay lấm chân bùn, con vui chi mà ham chơi?” Mẹ nói: “Về đi con, gia biến quốc vong rồi, không sướng ích chi mô”. Cái ngày đại tang ấy, lãng đãng đi qua đời ông, không phải người dưng nước lã, ông cũng quấn một vành tang trên đầu, nhưng mảnh khăn ấy chít thêm một vài nụ hoa. Tạo hóa sinh ra, ông là một người tình cảm, giàu tưởng tượng, mà tưởng tượng ngay trên nỗi đau khổ của chính mình.

Ông có một người bạn vong niên, ở cùng xóm, học cùng trường, chơi thân với nhau từ lúc ấu thời. Lớn lên, không biết vì sao bạn nương thân chốn thiền lâm. Bạn xa rời trần tục lúc còn để chỏm. Những hôm trời quang theo cha vào ngồi trên bờ tịch điền ở Tây Lộc, nghe tiếng chuông chùa thánh thót nơi bạn ở vọng ra. Chao ôi, bạn gửi gắm vào đó biết bao nhiêu lời. Tu là cõi phúc tình là dây oan. Chiếc chiếu đời dọn toàn mâm phàm phu tục tĩu. Cốt lõi đời như sông sâu biển cả khó dò. Tình đời đen mà phận người mỏng, mạo hợp tâm ly. Cuối cùng, như cây lạc diệp tùng chờ cho đến mùa đông rụng lá để kiến mối đùn lấp.

Có hôm bạn đầu trọc nhẵn thín, mặc quần áo cà sa rộng thùng thình, tay nắm chặt cành mẫu đơn, ra thăm ông tận mấy mẫu ruộng riêng của nhà vua này. Ruộng đang mùa trổ đòng đòng. Bông lúa nàng hương thơm ngát. Ðã bao đời rồi, từ những hạt thóc mà cha nàng Từ Dũ đã lặn lội về phương Nam xa xôi mang ra đây để bữa ăn hoàng thượng thêm phần mặn mòi, nay vẫn còn xanh.

Từ đầu xa, bạn đã cất tiếng gọi:

“Cố tri ơi, còn nhớ bần tăng chăng?”

Quỷ thần ơi, thằng bạn mới ngày nào còn đánh bi, đánh đáo, cùng nhau bắt bướm hái hoa, cởi áo quần chạy lòng ngòng đuổi chuồn chuồn cho cắn vào rốn để biết bơi. Mới ngày nào ông đá vào đít nó, bắt nó cõng ông trên vai làm tướng quân đi hái hoa lau trên đồi tạm gọi là đồi Hoa Lư… Thế mà bây giờ, sao lạ vậy cà. Thế gian thay trắng đổi đen quả thật không sai.

“Bần tăng xin lỗi sự đường đột này nhé, cố tri còn nhớ ta không?”

“Nhớ, sao quên. Mày là thằng Trần Môn, bạn tao.”

“Phải. Môn đây, nhưng bây giờ đem thân vào chốn trầm hương kinh kệ, không nên kêu tao mày. Xưa khác, nay khác rồi.”

“Ừ, ừ, xưa khác nay khác, biết thế. Nhưng tình bạn hết rồi sao?”

Chú tiểu nhìn gió thổi ruộng lúa dấy lên từng vồng, ánh mặt trời rải xuống, hắt lên, làm rực sáng những lá thiên tuế bên vệ đường. Nói:

“Không hết. Tình còn, bần tăng mới đến đây thăm nhau.”

“Vậy thì xin mời về nhà. Ðây là chốn ruộng nương sợ không vui.”

“Bần tăng đã tu, sao dám tìm đến chỗ vui. Ra thăm cố tri, trước thỏa lòng mong ngóng. Ðức chí tôn đại từ bi trước khi ngồi dưới lá bồ đề rụng tầm tã, cũng có những bạn hiền vọc nước giỡn trăng bên bờ sông Hằng Hà. Buổi gặp nhau đây có một lời mạo muội thêm là, những con hình nhân kia sao không phân biệt đàn ông hay đàn bà?”

Ông Vĩnh Ly cười:

“Ðã gọi là bù nhìn, cần chi phải có giống. Ðó là cha tôi làm để hù chim.”

“Chim chóc cũng là kiếp sinh linh, biết đâu kiếp trước cũng là

người, sao lại nhẫn tâm hù?”

“Nếu không sẽ bị tội phạm thượng. Có khi cha tôi bị đuổi về. Bạn đã biết, tôi dòng tôn thất, việc vun đắp ngai vàng, không giống người thường.”

Ðã đến lúc chú tiểu gãi đầu, nét mặt thấp thoáng một nét buồn:

“Sợ chim ăn bớt thóc của nhà vua sao?”

“Không phải, chim muông là giống vong ân, không nên để chúng lảng vảng đến gần, có khi ỉa đái lên lúa không chừng.”

“Chuyện của đời thì bần tăng không dám xía vào. Ngặt vì, chùa bần tăng nương thân gần đây, sau giờ hương khói kinh kệ cũng ra nhìn trời nhìn đất cho lòng hội nhập tinh hoa, những hình bù nhìn cũng trong tầm nhìn, bần tăng cần phải phân biệt, để tránh hậu hoạn về sau.”

Ngày đó, ông Vĩnh Ly đã mười sáu tuổi, trong giấc mộng ban đầu đã thấy mình đứng trước đám tóc lũ con gái trong xóm kết lại thành một chiếc võng ru ông vào miền đất phiêu bồng mù mịt không lối ra. Tâm hồn bạn trong hơn ông nhiều.

Cha ông lại kết những con bù nhìn thuộc về giai cấp phong lưu. Những gì có dính dấp tới triều đại phải ngời ngời ánh hoa đăng. Cha ông dù là mang dòng máu cành vàng lá ngọc, nhưng cũng chỉ một cái đầu dính trên cổ, không thể liều cho đám hình nhân ấy mặc rách rưới như ông kẹ hay ông ăn mày mà người thường làm. Chẳng những không rách rưới mà còn phải chít khăn là áo lượt, chân đi hia, tay cầm gậy trúc bệ vệ như vị võ quan đang đứng điều quân giữa trận mạc. Bạn quyết tâm xa lánh chốn bụi hồng đưa ra điều kiện khó thay!

2

Khi hết thời, không được nối nghiệp ông cha coi tịch điền thì về làm dân. Bao nhiêu vàng bạc châu báu cha ông để lại không dễ gì ăn tiêu hết. Vĩnh Ly kéo dài cái vinh quang của tiền nhân và chia sẻ hào phóng cho những cuộc tình của mình.

Vốn dòng họ mà gia phả đã đúc bằng vàng khắc câu vạn đại dung thân, lại có học, ngoài cái chóp mũi có hơi ửng đỏ, ông không có một khuyết tật nào khác. Một mẫu đàn ông như vậy chán chi vợ.

Cố nội, ông nội, cha ông đã nhiều vợ rồi, ông còn nhiều hơn. Ðể cho bà con thân tộc dễ nhớ, ông đặt những người vợ ấy bằng những cái tên đã ăn sâu vào tiềm thức mọi người: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Rồi bắt đầu lại Tý-em, Sửu-em, vân vân… Nếu bà nào thích cái thú văn chương thì cứ việc thêm giáp, ất, bính, đinh, canh, thân, mậu, kỷ vào trước. Bà Giáp Tí, cô Bính Dần, chị hay cô Bính-Dần-em cũng thể thống như ai. Thời buổi mà thiên hạ xầm xì ngoài ngõ là ngũ kinh đã tảo địa rồi, nhưng ông Vĩnh Ly trị gia được lớp lang, đề huề như thế không phải ai cũng làm được.

Mười bốn người vợ của ông trừ bà chánh thất ra, cũng đúc mười ba thiên tình sử, trước khi người đàn bà về làm vợ, ông cũng gieo vào ở đâu đó một cuộc tình đầy, cố tạo ra những mộng ước xa xôi, những choáng váng dập dềnh, có khi nâng hình bóng kia lên ở một nơi cao vòi vọi mà kẻ tầm thường không với tới. Tình yêu đâu phải vật thể lồ lộ trước mắt, có thể rờ mó tới mà là một làn khói thấp thoáng mơ hồ chân trời góc bể. Ðàn bà, theo định nghĩa của ông: đem cái hư ảo phả lên một lớp, như son phấn và nước hoa. Như một cái đìa phủ đầy chuôm gai. Như vườn thượng uyển chằng chịt hoa cỏ, nỡ tâm nào dẫm chân lên. Tình yêu, đâu phải đứng xa là hạt kim cương, đứng gần là giọt nước mắt? Ðối với ông, ngược lại, lúc gần, mới chạm được cái ngũ sắc cầu vồng, hào quang long lanh tinh kỳ của nó. Biết bao nhiêu cuộc tình đã đến rồi ở lại luôn, trong đời ông.

Trước khi nhắm mắt lìa đời, người mẹ gọi riêng ông vào lâm sàng, trối: ”Con thấy cái gương cha con trước mắt, đa mang thêm lụy thân, mẹ cũng vì những cái rìa ấy mà lòng không yên suốt đời”. Xin lỗi vong hồn mẹ, không phải lời vàng ngọc mẹ lúc lâm chung nước đổ lá môn, nhưng trái tim mẹ sinh ra cho con đây có nhiều ngăn, nhiều hộc quá, dồn chứa mãi không vừa. Chỉ một lần ông khấn trên mộ mẹ như thế, rồi quên.

Bà Nguyệt Cầm là một tiểu thư đài các, cháu mấy đời của quan phụ chánh đại thần Trần Tiễn Thành, vừa đúng tuổi trăng rằm, từ phủ vương hầu, bước lên xe tứ mã kết đầy hoa tứ thời lồng lộng tía đỏ trắng vàng về làm vợ ông. Ðó là người vợ đầu tiên cha mẹ cưới cho để giữ nếp gia phong thể giá. Lòng bà Nguyệt Cầm cũng sáng như trăng sao, từ khi tóc mới chớm ngang vai, lời từ mẫu đã vẳng bên tai, đàn ông ba thiếp bảy thê, đàn bà chung thủy một bề nuôi con. Cụ đại thần nhà ta bảy mươi tuổi còn mời cả hàng trăm quan lại đương triều đến nếm chén rượu vu qui, nhìn chú rể chống gậy lòng chan hòa nghĩa khí bước chậm chạp theo sau cô dâu. Người xưa đã thế, nên khi biết chồng có mười cái hoa thụy nằm ấp ủ giữa những vân xoắn ốc của mười đầu ngón tay, bà nói: ”Thiếp không phải là hoa thải, hương thừa, chẳng qua sợi xích thằng buộc chân mà ngọc ẩn bóng cây tùng, chàng đừng vì cái lũ quạ mổ diều tha mà quên nghĩa nặng tào khang.”

Ngày ấy tâm hồn ông còn thênh thang như mây bay, tiếc chi lời thề vàng đá:

“Quân tử u hự đã đau. Nàng chỉ nói thế, lòng ta đã thấm.”

Và không bao giờ ông có mới nới cũ. Ông không bạc tình coi bà như chén cơm nguội phòng khi đói lòng.

Như đã nói trên, mười ba người vợ nối tiếp trong đời ông Vĩnh Ly đều có một trang lịch sử riêng. Người vợ thứ hai của ông, bà Ất Sửu, không ai khác hơn là cô Bùi Thị Thôi, người mà bà Nguyệt Cầm đem theo khi về nhà chồng để đỡ đần công việc và chị em có nhau lúc tối lửa tắt đèn.

Không ngờ, một ngày kia. Thôi trèo lên cây bưởi hái mấy trái cho bà chủ xơi, vừa bị kiến vàng cắn, vừa bị gai xóc. Kiến và gai lại cắn xóc vào một nơi mà ngày xưa mẹ cho lũ chuồn chuồn kim cắn vào để biết bơi qua sông rạch. Ngồi dưới gốc cây, cô khóc thút thít như bị oan ức. Phát ra lời ai oán giữa trời đất mênh mông:

“Tụi bây đoản hậu như ri, tao ghét nhất!”

“Thế thì ghét ai nhì?”

Cô giật mình ngó lui thấy ông chủ Vĩnh Ly đã đứng từ bao giờ. Chao ôi, con gái vô duyên, dám vén áo lên mà gãi rốn giữa thanh thiên bạch nhật. Chiếc rốn của đứa con gái lúc dậy thì mà Vĩnh Ly thấy được buổi chiều nắng quái hôm đó là vực thẳm. Bên dưới vực, thường là miền đất trù phú thiên nhiên ưu đãi, chỗ những loài cây nở hoa thơm mà không có ong bướm nào dám đến gần. Vực thẳm còn âm vang vọng dội lên vô vàn âm giai lẫn lộn giữa chốn thiên đàng và địa ngục. Lại còn vùng đất ở chung quanh vực thẳm ấy, bừng ửng lên một thứ ánh sáng diệu kỳ trà trộn giữa mặt trăng và mặt trời. Lần đầu tiên trong đời, cô như đứng trong giàn hỏa thiêu, khói lửa mịt mù. Ðôi mắt của ông ấy chiều nay quái đản.

“Nhìn gì cháu mà dữ thế, ông?”

“Ta muốn Thôi coi ta là kẻ được ghét thứ nhì.”

“Không, cháu không dám!”

Cô gái ở nhà quê thật thà, cha mẹ mất sớm, được nhà quan đem về nuôi, làm sao hiểu được câu nói đầy ngụ ý của ông chủ đa tình. Ông ngồi xuống cạnh cô, phân trần:

“Thôi cứ coi ta như kiến như gai thì ta vui hơn. A, Thôi ơi, biết đời nào mà ta được vinh hạnh đó hè.”

“Trời đất, răng ông lại ví von rứa được. Cháu không hiểu.”

“Thế kiến và gai làm tổn thương Thôi có nhiều không? Cho ta đếm coi bao nhiêu vết.”

“Làm chi rứa ông, bà thấy được, cháu biết nói làm răng?”

Bỗng bất ngờ ông cầm lấy tay cô gái, giọng đượm buồn, như sắp khóc:

“Bà ấy đi chợ rồi. Thôi ơi, sao chiếc rốn của em kỳ cục thế, biết đến đời nào ta mới quên. Cây bưởi này do ta vun xới, không ngờ hại em. Em bị bao nhiêu vết, vén áo lên, anh hôn bấy nhiêu lần. Em tha cho sự đột ngột này, chính ta cũng không ngờ, nói ra những lời này với em, tận đáy lòng.”

Phận hẩm hiu, tưởng chừng như số phận dắt mình vào con truông hoang vắng suốt đời, ngờ đâu Thôi có những lời đường mật ấy rót vào tai. Tiếng người sao nghe tựa như gió se sẽ lay qua cành đào, thánh thót hơn cả giọt mưa thu rơi bên hiên, đầm ấm hơn cả tiếng chim gọi nhau về tổ. Và ngọn gió chiều nay không ngừng mang hương thơm phả ngập vào mái tóc cô, má môi và cả thân hình cô không bỏ sót một chỗ nào, cơn gió chướng ấy chẳng mấy lúc trở thành bão táp đưa cô bay lên một nơi lạ lùng chưa từng biết đến, cho đến khi mở mắt ra, nhạt nhòa trong màn lệ, thì tấm thân cô đã nằm trần truồng trên những lá bưởi khô…

Ngay buổi sáng hôm sau, Thôi chạy ra chợ Bao Vinh, mua chín miếng trầu đã têm sẵn về đặt lên dĩa, mặc bộ quần áo đẹp nhất mà Nguyệt Cầm mới may cho khi theo nàng về nhà chồng, để lên mâm, mang đặt trước mặt nàng, thưa:

“Bà ơi, cháu mang tội với bà rồi!”

Nguyệt Cầm trố mắt ngạc nhiên:

“Tội với tình chi đây?”

“Cháu lấy chồng!”

“Lấy chồng? Lấy khi mô mà tao không biết? Ai?”

Thôi xúc động không nói được, vận dụng trí não một hồi lâu mới chỉ được tay trỏ lên bức hình bán thân của ông Vĩnh Ly treo trên tường. Nguyệt Cầm thở dài, nước mắt ràn rụa:

“Thôi, biết mô rứa mà chị em mình ở với nhau lâu.”

Chín tháng mười một ngày sau, Thôi đẻ. Ðứa con trưởng của Vĩnh Ly chào đời không cất tiếng khóc oe oe như những đứa khác. Cô mụ miệt vườn nở nụ cười tươi như đóa hải đường báo tin cho ông: ”Ðiềm lành đây anh, thằng bé này lớn lên coi trời như ngọn rau má.”. Ly trông thấy cô mụ trẻ trung, duyên dáng, má lại lúm đồng tiền, khóe mắt đưa tình y như nàng Tiểu Kiều đất Ðông Ngô tả trong sách Tàu, liền buông câu: ”Thế em, chần chờ chi mà không đúc cho riêng mình một khối tinh hoa như thế?” Cô mụ lượn lờ vòng quanh lưỡi câu: ”Phận em hèn, có ai thèm để ý?” Ly khôn ranh: ”Ðời con gái không nên tắm bến đục. Cái thân mượt mà của em đáng giá ngàn vàng phải ngâm mình ngọc ngà trong dòng nước trong.” Cô mụ càng tinh khôn hơn: ”Ai mà không muốn như rứa, dòng nước trong đó là anh đây phải không?”

Chẳng bao lâu sau, Vĩnh Ly hẹn cô mụ ấy ở ngã ba Ngoẹo Giàn Xay, cô đi xe kéo, chàng đi ngựa. Hai người vào quán bên đường ăn bánh bèo, uống nước chè xanh no nê, rồi cả hai lên ngựa, phóng qua những đồi núi bạt ngàn.

Con ngựa lông màu cánh cam, bờm phơn phớt tím in vó mình xuống những miền hoang vu. Con đường nó chạy gập ghềnh khúc khuỷu hơn qua những khu ruộng lúa ở Tây Lộc nhiều, sức nặng trên lưng gấp bội nhưng không làm nó chột dạ, bởi vì nó nghĩ đến một sự đền ơn, na ná như sự hoài mong tối thượng của con người, được qua tàu con ngựa cái.

Vòng quanh triền núi Ngự Bình, vô chùa Trà Am, lên Từ Hiếu, vội vàng ghé qua đền tế trời Nam Giao, để mắt lướt nhìn cảnh giang sơn cẩm tú trên đồi Vọng Cảnh, quay về rừng tràm nghi ngút hương thơm Dương Xuân, rồi cột ngựa, ngồi nghỉ chân dưới gốc thông già ngập phấn vàng bên lăng Tự Ðức. Vĩnh Ly nói:

“Em thấy không, anh đưa em đến động hoa vàng.”

Cô gái hai mươi tuổi đời chỉ bó mình quanh quẩn trong vòng sinh nặng đẻ đau, đem tấm lòng của mình trang trải cho những em bé chào đời, nay choáng ngợp trước cảnh sắc bao la, gục đầu vào ngực chàng, thổn thức:

“Anh chở em đi mô, nhồi lên nhồi xuống, mệt đừ!”

Cũng một bài bản cố hữu như ngày trước chiếm đoạt nàng Thôi, Ly nói càng thiết tha hơn:

“Thôi để anh bù lại cho em. Ơ kìa, phấn thông rơi xuống ngực em nhiều, ngứa lắm. Phấn này độc hơn phấn hoa vông đồng, không chừng hai vú em sưng vù lên.”

“Răng không phủi cho em, nhè nhẹ tay kẻo em nhột nghe.” Cô gái nói trong hơi thở.

Thế là suốt buổi chiều, và cả đêm hôm ấy, hai người sống trằn trọc bên nhau, giữa màn trời chiếu đất. Hai bà Giáp Tý và Ất Sửu không biết chồng đi đâu, đốt đuốc chia nhau đi khắp những nhà quen biết hỏi thăm không thấy. Sáng tờ mờ hôm sau mới thấy ông chồng quần áo lấm lem, mặt mày ngơ ngác cỡi ngựa về. Cuộc tình của người vợ được mang tên Bính Dần đến với ông như thế. Thử hỏi trên đời này có mấy ai được một mối tình đầy ngoạn mục như ông.

3

Một ngày đẹp trời, ông Vĩnh Ly ngồi trong căn nhà cổ kính nhìn đàn cá lia thia lượn vòng quanh trong chậu thì nghe tiếng chó sủa ngoài cổng. Ðứa bé giúp việc vào báo tin cho ông, đại đức Thích Hoài Ân đến thăm.

Vị đại đức này không ai khác hơn là người bạn vong niên Trần Môn ngày nào. Từ ngày giao trả những thửa tịch điền lại cho dân thường, ông không còn nghe được tiếng chuông, tiếng mõ trong chùa mà bạn ông đã phát nguyện chôn chặt cả một thời trai trẻ. Bao nhiêu tháng ngày chồng chất, bây giờ tóc trên đầu ông đã muối tiêu. Bạn, nếu không xuống tóc thì cũng thế thôi. Gặp nhau lần này, bạn không còn gọi xưng bần tăng, cố tri như ngày xưa, mà lại tao mày như hồi còn thơ ấu.

Ðại đức Hoài Ân mở màn:

“Cứ gọi nhau như xưa, vui hơn. Mười mấy năm nay không gặp mày, tao cũng nhớ. Thế nào, mày sống ngoài trần có gì lạ?”

“Không buồn, không vui, sàng sàng thôi. Còn mày? Rũ được bụi rác không cho dính vào thân, chắc thanh thản?”

Bạn nở nụ cười mệt mỏi:

”Con thuyền bát nhã chòng chành, mái chèo tao lỏng, sóng gió ba đào lại dữ dội, tự xét mình không tới được bến phúc. Tao đến đây, báo cho mày biết, chỉ nay mai thôi, tao sẽ ra khỏi chùa.”

“Mày nói chơi hay nói thiệt?”

“Nhờ lượng tù bi của đức Phật chí tôn, tao vái xin cho tóc trên đầu được mọc lại, sao dám đem ra làm chuyện chơi. Thấy đời mày đùm đề vợ con mà yên vui trong cảnh thư nhàn, câu tu tâm vẫn còn ý nghĩa. Thôi, đừng nhắc chi đến tu hay không tu. Ngày rằm này, tao nhờ mày đến đón tao về nhé. Tóm tắt là như thế.”

Ông Vĩnh Ly cảm kích:

“Bạn cần chuyện chi, tôi cũng chiều theo. Ở lại đây ăn với tôi bữa cơm. Con vợ Mậu Ngọ của tôi nấu cơm chay không thua gì các ni cô.”

“Chợ Bao Vinh độ này còn bán mực tươi, sứa biển không? Lâu quá tao thèm một dĩa mực xào với khóm, một chén sứa trộn dưa leo, chấm với ruốc trộn ớt tỏi.”

“Yên chí, chợ còn đông thì không thiếu món gì.”

Sau bữa ăn, Trần Môn bồn chồn hỏi bạn:

“Bóng xế chiều đã đuổi sau lưng tao, liệu khi về có ‘móng’ nào ngó ngàng không?”

Ông Vĩnh Ly soi thấu tim gan bạn, an ủi:

“Còn nước còn tát, nồi nào úp vung nấy, chớ lo toan.”

Khi tiễn đưa ra cổng, bạn còn quay lui, hỏi ông; khẩu khí lại vướng vít mùi quạnh quẽ trong chốn thiền đường:

“Cố tri còn giữ lại con bù nhìn ngày xưa hù chim trong tịch điền không? Bần tăng này vẫn thấy hình bóng chúng canh cánh bên lòng!”

“Trời đất, ngai vàng còn đổ được, lương đống triều đình còn ra tro, huống chi mấy con bù nhìn đứng bên bờ ruộng.” Ðộ ấy xa nhau, chờ mãi không thấy bạn nhắn tin đến đón về đời, ông Vĩnh Ly đích thân đến chùa hỏi, sư cụ chủ trì cho biết vị cựu đại đức tính khí thất thường, trong một đêm khuya, xách khăn gói, nương theo ánh trăng hạ tuần về thế tục rồi. Chẳng biết bạn xiêu lạc phương nào, lòng ông đau như kim châm. Dừng chân chốc lát dưới bóng thiên tuế, nhìn mấy thửa ruộng ngày xưa, lúa nàng hương đang thời trổ đòng, vô số loài chim, dường như chim én, lượn vòng chung quanh.

Midway 12/94

2003-10-12 12:09:57

Hồi Ký Dang Dỡ

Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

Phần 2

Ngày 29 Tháng Tư:

9 giờ sáng:
Chúng tôi qua phòng họp của Ban Liên Hợp Quân Sự không bị trúng đạn pháo, từ đó mới sử dụng được đường dây điện thoại để báo cáo đi các nơi về thiệt hại vật chất và nhân mạng đêm qua…
Đến 9 giờ sáng thì có một chiếc trực thăng Mỹ (sơn toàn trắng) đáp xuống ngay trước phòng họp để bốc chúng tôi đi. Nhưng không hiểu sao tôi lại không chịu đi. Và tôi cho trực thăng này di tản 6 sĩ quan của toán thanh tra ngừng bắn Nam Dương.
Tôi vẫn còn nhớ ơn đại tá Abbas, Phó trưởng đoàn và trưởng Phòng Tình Báo của phái đoàn Nam Dương này đã 2 lần đích thân kín đáo trao cho tôi bản đồ trận liệt ghi rõ tiến trình xâm nhập vào Miền Nam của đầy đủ 16 sư đoàn chánh quy bộ binh Bắc Việt và các sư đoàn thiết giáp và sư đoàn pháo binh nặng, vừa được cập nhật vào đầu Tháng Giêng năm 1975.
– Lần đầu ngày 3 Tháng Giêng 1975. (tôi đích thân mang tay lên trình cho Tổng Thống Thiệu ngày 4 tháng 1, với lời giải thích miệng rất đầy đủ theo đúng tin tức tình báo mà phái đoàn Nam Dương đã sưu tầm rất chính xác và rất đầy đù, (nhưng sau đó tôi đã không thi hành lệnh của Tổng Thống, chỉ vì ông bảo tôi phải mang sang cho Trung tướng Đặng văn Quang)
– Lần thứ hai ngày 1 Tháng Ba, với chú thích về mục tiêu tiến chiếm dự trù của cộng sản là Ban mê Thuột. Đây là tin tức hết sức chính xác về mục tiêu và thời điểm tấn công của Bắc Việt: tiến chiếm Ban Mê Thuột vào tháng Ba, 1975. Tôi cũng đã mang tay bản đồ và tin tức này đến trình cho Tổng Thống Thiệu, nhưng lần này thì ông bảo tôi mang sang cho đại tướng tổng tham mưu trưởng… Tôi đã y lệnh thi hành. Dĩ nhiên tôi không biết với tư cách tổng tư lệnh quân đội và tổng tham mưu trưởng hai ông đã có quyết định kịp thời về một “đường lối hành động” nào hay không..
10 giờ sáng:
Tôi liên lạc với Đại Tá Nguyệt, Hải Quân, để đưa một số sĩ quan và quân nhân các cấp, khoảng 30 người xuống tàu, di tản theo Hải Quân. Trong số này có các Đại Tá Chuân, Đại Tá Đóa… thuộc Khối Nghị Hội/Ban Liên Hợp. Số anh em sĩ quan và nhân viên còn lại của Ban Liên Hợp, chúng tôi dự trù cũng sẽ xuống luôn bến Bạch Đằng khoảng 12 giờ trưa sau khi thu xếp việc tản thương xong cho một số anh em quân nhân và nữ trợ tá xã hội tử thương và bị thương đêm qua.
11 giờ 30 sáng:
Chúng tôi nghe thấy có tiếng súng liên thanh từ dưới đất bắn lên các phi cơ đang cố gắng cất cánh khỏi phi trường.Anh em cho biết là chiếc xe jeep mui trần có gắn liên thanh 12 ly 7 của đại úy quân cảnh/phi trường đang nằm ngay giữa các phi đạo bắn lên bất cứ loại phi cơ và trực thăng nào muốn cất cánh rời khỏi phi trường. (sau ngày 30 Tháng Tư, đích thân tôi gặp đại úy quân cảnh này, mang súng lục đang đứng gác ngay tòa nhà Quốc Hội ở đường Tự Do. Thì ra đây là một tên cộng sản nằm vùng đã nhận lệnh của cộng sản từ trại Davis trong công tác ngăn chận không cho phi cơ cất cánh từ khuya ngày 29 Tháng Tư.)
Chúng tôi lên xe đi xuống Hải Quân để kịp lên tàu với Đại Tá Nguyệt. Nhưng lúc vừa đi ngang qua Bộ Tổng Tham Mưu (đúng 12 giờ trưa) thì không biết tại sao thình lình tôi lái xe Jeep của tôi rẽ trái đi vào cổng Tổng Tham Mưu. Hai xe jeep và 2 xe 4/4 trong đoàn xe của tôi dĩ nhiên phải vào luôn cổng theo xe của tôi.
Đến ngay Bộ Chỉ Huy Pháo Binh, chúng tôi ngừng xe lại và tôi vào ngay hội trường của Bộ Chỉ Huy này tìm chỗ nằm xuống đánh một giấc ngon lành không còn biết ất giáp trời trăng gì nữa, có lẽ vì quá mệt mỏi. Tất cả anh em sĩ quan theo tôi từ Tân Sơn Nhất (trong số này có Đại Tá Nguyễn ngọc Nhận, Đại Tá Lộc, pháo binh thuộc Ban Liên Hợp Quân Sự Cần Thơ, Trung Tá Chữ Nam Anh, Trung Tá Hoàng chánh văn phòng, v.v.) đều theo tôi vào hết trong hội trường vắng trống này. Đến 4 giờ chiều, thình lình tôi thức dậy và đinh ninh mình đang ngủ dưới tàu của Hải Quân nên lên tiếng hỏi:
– Tàu của chúng ta đã chạy đến đâu rồi? Đã ra khỏi sông Lòng Tảo chưa?
– Chạy đến hội trường của Bộ Chỉ Huy Pháo Binh trong Tổng Tham Mưu rồi! Trung Tá Hoàng vừa cười mai mỉa vừa trả lời.
Tôi bàng hoàng đứng ngay dậy quan sát thì rõ ràng thấy mình đang ở giữa Bộ Tổng Tham Mưu. Bèn ra lệnh:
– Anh em lên xe ngay đi để xuống Bến Bạch Đằng chắc còn kịp vì Đại Tá Nguyệt chắc chắn còn đợi tôi.
– Không kịp nữa rồi ông ơi, Bộ Tổng Tham Mưu đã khóa cổng và có lệnh không cho ai ra vô gì nữa hết, chúng tôi đã thử mấy lần muốn ra rồi mà không được.
– Vậy là chết rồi! anh thử liên lạc với ông Nguyệt thử coi? ở số này nè!
Trung Tá Hoàng cố gọi chừng 15 phút mà không nghe ai trả lời….
Thế là số mạng bắt ta phải ở lại đây rồi! (tôi chán nản nghĩ thầm như vậy khi sực nhớ lại không biết vì lý do gì mà mình tự nhiên lại rẽ vào cổng Bộ Tổng Tham Mưu lúc 12 giờ trưa nay thay vì cứ phải chạy thẳng xuống Bến Bạch Đằng để xuống tàu. Về sau này tôi mới được biết là đại tá Nguyệt chỉ vì chờ tôi không chịu nhổ neo tách bến nên phải bị anh em binh sĩ Hải Quân khiêng xuống tàu và rời bến lúc 2 giờ trưa.)
7 giờ chiều
Trung Tướng Vĩnh Lộc, quyền tổng tham mưu trưởng, cho người xuống gọi cá nhân tôi và Đại Tá Nhận lên văn phòng của ông để nhận việc. Lúc đó tôi mới biết được là ở Bộ Tổng Tham Mưu hiện giờ không còn tham mưu trưởng, không cón một số trưởng phòng quan trọng nào nữa như P1, P2, P3 và P4. Tất cả đều đã tìm phương tiện di tản hết rồi, chỉ còn sĩ quan xử lý thường vụ mà thôi. Không cần suy nghĩ tôi cũng đã thấy được tình hình chung như thế nào rồi.
Đại Tá Nhận được Trung Tướng Vĩnh Lộc ép nhận chức vụ tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham Mưu. Tôi vẫn không chịu nhận bất cứ một nhiệm vụ nào, ít nhất trong hiện tại, vì đã dự định nội nhật ngày mai là phải rời khỏi Bộ Tổng Tham Mưu để tìm phương tiện di tản.
8 giờ 30 tối:
Các trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ồ ạt đáp xuống D.A.O. (Phòng Tùy viên Quân Lực Mỹ) ở ngay phía sau lưng tòa nhà chánh của Bộ Tổng Tham Mưu để bốc người Mỹ theo đúng tiến trình hành quân di tản của Hoa Kỳ. Không có một tiếng súng nhỏ lớn hay hỏa tiễn phòng không nào của Bắc Việt từ dưới đất bắn lên, điều này cho thấy rõ là giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt đã có một mật ước nào đó rồi cho thời gian và lộ trình di tản của Hoa Kỳ.
Có tiếng loa kêu gọi từ các trực thăng lúc họ bay ngang qua không phận Bộ Tổng Tham Mưu: Ai muốn được di tản thì cứ qua bãi đáp trực thăng bên D.A.O. ngay phía sau Bộ TTM. Có một số sĩ quan và nhân viên của Ban Liên Hợp (đang ở đây với tôi) đã nghe rõ tiếng loa kêu gọi từ trực thăng và đã vượt rào kẽm gai của Bộ Tổng Tham Mưu đến bãi bốc trực thăng bên D.A.O. (khoảng 40 thước đường) trong số đó có Đại Tá Lộc, Trung Tá Hoàng và một số sĩ quan cấp úy khác. Riêng tôi thì không thích “chui rào” như họ, (có lẽ vì tự ái cá nhân hay vì số mạng không biết).
Ngày 30 Tháng Tư:
6 giờ sáng:
Do đó, sáng ra kiểm điểm lại thì chỉ còn có tôi với Trung Tá Chữ Nam Anh và một số chừng 10 binh sĩ mà thôi. Những người khác thì đã được trực thăng Mỹ di tản đêm qua rồi. Cúng tôi lên xe sẵn sàng ra cổng Bộ Tổng Tham Mưu.
7 giờ sáng:
Nhân lúc xe của Trung Tướng Vĩnh Lộc và Đại Tá Nhận ra cổng, chúng tôi tháp tùng theo xe này luôn, vì nếu không thì sẽ bị chận lại không ra khỏi đây được nữa theo tiêu lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu.
Ra khỏi Bộ Tổng Tham Mưu là chúng tôi chia tay nhau, tạm gọi là “đường ai nấy đi” vì tới giờ phút này chúng tôi hình như đã linh cảm được số phận của Miền Nam Việt Nam sẽ ra sao rồi!
Tôi lái xe về nhà người em họ ở Cư xá Đô Thành (Bàn Cờ) dự trù sẽ thay quần áo và nghỉ ngơi trước khi tìm được phương tiện di tản. Tình hình quân sự và chánh trị thì đã quá rõ ràng rồi, bây gờ chỉ còn xem con đường nào thuận tiện nhứt để thoát khỏi đây thôi. Phương tiện nào đây? Tàu hay phi cơ? Bằng tàu thì hoặc phải xuống Bến Bạch Đằng và Nhà Bè, hoặc phải ra tận Vũng Tàu hay Gò Công? Bằng phi cơ thì chỉ có ra tòa Đại Sứ Mỹ… Vậy ta phải đi một vòng xem sao rồi mới quyết định được. Đang ngồi suy tính một mình thì thằng em họ kêu cho hay là có lệnh mới rồi.. Lệnh của tổng thống và của tổng tham mưu trưởng…
11 giờ trưa
Tổng Thống Dương văn Minh tuyên bố Miền Nam Việt Nam “đơn phương ngừng bắn vô điều kiện,” một cách chơi chữ để nói lên một sự “đầu hàng Cộng sản Bắc Việt không có điều kiện (nhưng đó mới thực sự là điều kiện của Bắc Việt đã trao cho ông), và ngay sau đó Tướng Nguyễn Hữu Hạnh với tư cách là quyền tổng tham mưu trưởng QLVNCH lên tiếng trên đài truyền hình và đài phát thanh Sài Gòn, ra lệnh đơn phương ngừng bắn cho các đơn vị còn đang chiến đấu và kêu gọi quân nhân các cấp phải buông súng xuống!
Lắng tai nghe đi nghe lại những lời tuyên bố của hai Tướng Minh và Tướng Hạnh tôi vừa đau khổ vừa bùi ngùi nghe theo lời khuyên của em mình, trút bỏ bộ quân phục thân yêu của mình trong suốt gần 25 năm trong quân đội, xong mượn chiếc xe Honda của thằng em vội vàng phóng ra cửa. Tôi nghĩ bụng: Thôi thế là coi như xong hết rồi, không biết cái gì sẽ xảy ra sau chuyện đầu hàng quá nhục nhã này? Thương thuyết chăng? Chánh Phủ Liên Hiệp chăng? Chắc chắn là không rồi. Hàng ngàn chiếc xe xe tăng T.54 từ Bắc Việt vào đây tức là cộng sản Bắc Việt nhất quyết đã chọn giải pháp quân sự rồi thì làm gì còn có giải pháp chánh trị? Và đối với mộng bành trướng bá quyền của Cộng sản thì đâu có chuyện anh MTGPMN nhảy vào ngồi mát ăn bát vàng của họ được? Tôi vừa đi vừa suy nghĩ mông lung.. tự nhiên thấy mình trở lại gần Bộ Tổng Tham Mưu lúc nào không hay. Nhân tiện tôi đi vòng qua hướng Lăng Cha Cả để theo đường Trương Minh Giảng xuống Sài Gòn.
Lúc này đã quá 1 giờ trưa rồi. Đường sá vắng tanh, dân chúng rút hết vô nhà đóng kín cửa. ngoại trừ bọn hôi của còn đang lăng xăng lục lạo và khuân vác từng biệt thự do người Mỹ mướn ở, hay các nhà vô chủ, của những người dân quá sợ cộng sản đã bỏ đi hoặc di tản hay đang tìm đường di tản ra ngoại quốc.
Tuy không còn nghe tiếng đạn pháo hay rốc kết liên tục nhưng vẫn còn lác đác một vài tiếng súng cá nhân hay một vài tràng liên thanh đâu đó từ hướng trại Hoàng Hoa Thám của anh em Dù. Tôi còn nhớ lúc rời khỏi Ban Liên Hợp Quân sự ngày hôm qua, tôi còn chứng kiến được một số hành động anh dũng của anh em “Biệt Kích 81 Dù” đã bắn hạ 13 chiến xa T.54 của Bắc Việt từ Lăng Cha Cả lên hướng Củ Chi khi các đơn vị Bắc Việt tấn công vào trại Hoàng hoa Thám để tìm cách đột nhập ngang hông vào Tân Sơn Nhất. Hôm nay xác những chiếc tăng T.54 vẫn còn ngổn ngang ở vùng này, và tiếng súng cá nhân vẫn còn lẻ tẻ mặc dầu đã có lệnh đơn phương ngừng bắn của QLVNCH từ 11 giờ sáng nay.
Đường Trương Minh Giảng vắng tanh không một bóng người, không một chiếc xe nào chỉ thấy có một vài xác chết rải rác ngoài đường, gần cầu, hình như của bọn đặc công Bắc Việt.
Khắp các nẻo đường mà tôi đi qua, trong thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn và cả Gia Định, tôi quá đau lòng mà thấy cảnh không biết bao nhiêu là súng ống đạn dược đủ loại, quân phục đủ màu đủ sắc của mọi binh chủng được vứt bỏ ngổn ngang từng đống hay bừa bãi rải rác khắp các vỉa hè, các thùng rác, cống rãnh… có lẽ đây là một cách vừa thi hành vừa phản đối lệnh buông súng đầu hàng của Tướng Minh và Tướng Hạnh… còn đang ra rả kêu gọi liên tục trên đài phát thanh. Càng đau lòng hơn khi thỉnh thoảng tôi bắt gặp một số người chạy lông nhông ngoài đường, hầu hết chỉ có một quần cụt trên người, có khi trần truồng như nhộng, chắc chắn họ là quân nhân, vì họ luôn miệng chửi thề tục tĩu vang trời, chửi cả bọn chiến thắng Bắc Việt lẫn người chủ bại đang tâm khóa tay quân đội để đầu hàng cộng sản!
Bến Bạch Đằng và Nhà Bè vắng tàu nhưng không vắng người vì còn một số quá đông đang còn lóng nhóng chờ… tàu từ Tân Cảng xuống. Nhưng tôi nghĩ chắc chắn không còn chiếc nào.
Tôi vào Bình Đông (Chợ Lớn) để thử tìm đường bộ xuống Gò Công. Nhưng cảnh sát dã chiến ở chốt đầu cầu đã được lệnh khóa cổng từ 6 giờ sáng nay không cho một ai qua khỏi cầu. Trở về Phú Lâm, tôi cũng bị chốt cảnh sát đã chiến ngăn chận, như thế có nghĩa là từ 6 giờ sáng nay đã có lệnh khóa hết mọi con đường ra khỏi Đô thành, khó mà dùng đường bộ được, và cũng có nghĩa là bọn cộng sản Bắc Việt đã bao vây chặt thủ đô này rồi.
Như thế là coi như tôi không còn khả năng và phương tiện nào thoát ra khỏi thủ đô Sài Gòn nữa bằng cả 3 đường bộ, đường thủy và đường bay. Thôi thì đành phải ngồi yên để chờ xem diễn tiến sắp tới tức là ngồi chờ xem Cộng sản Bắc Việt tiến vào thủ đô mà thôi!! Nghĩ thế tôi quay xe trở về Bàn Cờ.
Trên đường về, đột nhiên tôi nghe mấy tràng đại liên ròn rã ở hướng nhà thờ Sài Gòn. Quá tò mò tôi muốn đến xem nhưng gần đến nhà thờ thì nghe tiếng chiến xa chạy rầm rập ở hướng đại lộ Thống Nhất. Tôi biết là chuyên gì đã xảy ra rồi, nhưng quá đau lòng đến độ không thể nào dám chạy đến đó để xem, tôi vội chạy về Bàn Cờ ngay.
6 giờ chiều:
Tôi có ý định lên Hạnh Thông Tây, vào thăm Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp của mình. Nhưng khi vừa qua khỏi sân Golf ở phía sau Tổng Tham mưu thì một cảnh tượng quá đau lòng làm tôi phải ngừng xe lại ngay. Từng nhóm thương bệnh binh dìu nhau đi bộ từ cổng Tổng Y Viện Cộng Hòa. Hỏi ra tôi mới biết là từ 5 giờ chiều nay, một toán quân Bắc Việt đã vào tiếp thu Quân Y Viện mà họ liệt vào hàng “chiến lợi phẩm chiến tranh.” Người sĩ quan tiếp thu ra lệnh cho tất cả đều phải ra khỏi bệnh viện, và “ngay tức khắc” không được chậm trễ, không được mang theo bất cứ thứ gì kể cả xe cộ đủ loại, vì tất cả đều là của Mỹ Ngụy, không do cá nhân mua sắm, ngoại trừ quần áo đang mặc trên mình.
Tất cả mọi người, từ các bác sĩ quân y, các nam nữ y tá, trợ tá xã hội, lao công dân chính v.v. cho đến thương bịnh binh đủ loại, không cần biết tình trạng bệnh lý, đã được chữa trị hay chưa, vết thương đã mổ hay chưa? lành hay chưa lành? v.v. Thật quá khủng khiếp cho những anh em thương binh vừa được chuyển từ mặt trận về, vừa được lên bàn mổ hay vừa được mổ mà chưa khâu xong vết mổ, còn đang nửa mê nửa tỉnh.. đều phải ôm vết thương lang thang xuất viện mà không biết phải đi về đâu? nhà ở đâu mà về? Gia đình có đâu mà về? đơn vị ở đâu mà về? Vì họ được tản thương về đây từ mặt trận.
Đây là một câu chuyện thê thảm nhất trong lịch sử chiến tranh Quốc Cộng, giữa Nam Bắc Việt Nam, giữa người Việt Nam với nhau. Ngay như trong cả 2 thế chiến, người ta cũng không có lối cư xử quá tàn bạo và nhẫn tâm vô nhân đạo như thế, huống là giữa những người Việt Nam cùng một dòng máu Lạc Hồng?
Để giúp cho những người khốn khổ này, chúng tôi và một số dân chúng quanh chùa Vạn Hạnh (Phú Nhuận) kêu gọi được một số xe tư nhân, xe tắc xi, xích lô máy, xích lô đạp.. đưa giùm một số thương bịnh binh nặng, đang trong tình trạng giải phẫu dở dang.. đến các bệnh viện Đô Thành, Nguyễn văn Học, Chợ Rẫy, Grall và một số bệnh viện tư của người Hoa ở Chợ Lớn, kể cả 2 bệnh viện tư nhỏ của hai bác sĩ Nguyễn văn Tạo, Nguyễn duy Tài ở đường Pasteur… để nhờ tạm chữa trị tiếp, chờ ngày cho họ về với gia đình…
Giờ này thật tình thời gian đã trôi qua quá lâu rồi, gần 30 năm rồi, thử hỏi dân chúng Miền Nam cũng như người Việt Nam ở hải ngoại này còn có mấy ai biết đến và nhớ đến một buổi chiều thê thảm nhất của anh em quân nhân chúng tôi, nhất là những anh em thương bịnh binh thuộc QLVNCH đang điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa đã bị xua đuổi thẳng tay một cách vô nhân đạo ra khỏi bàn mổ hay khỏi giường bịnh, do sự tiếp thu của Cục Quân Y của Quân Đội Nhân Dân BV? vào ngày 30 Tháng Tư, 1975 mà cộng sản gọi là ngày chiến thắng của họ trong chiến dịch xâm lăng Miền Nam Việt Nam có tên gọi là chiến dịch Hồ Chí Minh!!!!!
Đêm nay về Bàn Cờ nghỉ tạm, tôi không có một chút hứng thú nào khi ngồi trước một bữa cơm ngon của gia đình, tôi cũng trằn trọc suốt đêm không ngủ được chỉ mong cho trời mau sáng để được xem tận mắt cảnh “đổi đời”! Ước gì cảnh đó phải hoàn toàn khác hẳn cảnh mà tôi đã đích thân chứng kiến chiều hôm qua ở Gò Vấp!
Ngày mồng 3 Tháng Năm, 1975
Không có chuyện gì làm, tôi lang thang tản bộ quanh khu chợ Sài Gòn, và đi lần về Thư Viện Quốc Gia, trong thâm tâm chỉ muốn gặp lại một người bạn của tôi là anh Hữu, quản thủ thư viện Quốc Gia… Có đến nơi mới thấy được cảnh mà cộng sản Bắc Việt gọi là bài trừ “Văn Hóa đồi trụy”:
Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, một ủy ban gọi là “ủy ban bài trừ văn hóa đồi trụy” ra đời. Thành phần gồm một cán bộ Đảng CSVN và sinh viên học sinh chít khăn đỏ trên tay (mà người dân Sài Gòn gọi là mấy con “cọp 30”), tại Sài Gòn Chợ Lớn thì mỗi quận một tiểu ban, ở các tỉnh thì mỗi tỉnh một tiểu ban.
“Văn hóa đồi trụy” được định nghĩa là tất cả những ấn phẩm thuộc mọi lãnh vực chánh trị, kinh tế, lịch sử (nhất là lịch sử), giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn hóa, văn nghệ, phim, ảnh. v.v… đang được lưu hành và sử dụng tại Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 30 Tháng Tư, 1975 trở về trước, được in, chép hay thu vào băng nhựa, bằng tiếng Việt Nam hay bất cứ loại sinh ngữ ngoại quốc nào (trừ chữ Tàu và chữ Nga).
Mục tiêu mà các “ông cọp 30” nhắm vào trước tiên là Thư Viện Quốc Gia (national library) ở đường Gia Long. tất cả sách bìa cứng bìa mềm, gáy tím gáy vàng, dày mỏng gì cũng đều được mang ra đường xé nát và đốt hết. Tội nghiệp cho mấy bộ tự điển và Encyclopédia chữ Anh chữ Pháp (trên 100 cuốn), và rất nhiều bộ sách quý thuộc các ngành Công Pháp quốc tế, Khoa Học Kỹ Thuật, Hàng Không và cả khoa học Không Gian,v.v… mà anh Hữu đã tốn công sưu tầm trên 10 năm dài để làm giàu cho thư viện của Đất Nước, trong phút chốc bị “cọp 30” xơi tái hết!
Chúng tôi đến gần lượm từng tờ của bộ Encyclopedia lên xem mà ứa nước mắt… nhưng không dám hỏi thêm vì bị ngay một “cọp 3O” khoảng 16 tuổi tới đuổi:
“Đi đi, tiếc gì mà coi, xé bỏ hết, đốt bỏ hết, nó là tiếng nước ngoài, của thực dân, của đế quốc đồi trụy, ru ngủ đầu độc dân tộc. Ta độc lập rồi thì ta cần gì ba cái thứ này nữa!!”
Tội nghiệp! Thật là tội nghiệp!!!
(Về sau mãi cho đến 1992 lúc chúng tôi sắp rời khỏi VN, thì Thư Viện Quốc Gia này vẫn còn được cộng sản dùng làm “mặt bằng” cho mướn làm tiệc cưới và tiệc “liên hoan” của cán bộ công nhân viên các cấp).
Mục tiêu kế tiếp của bọn “cọp 30” là Thư Viện Bộ Giáo Dục, các nhà sách ở khu chợ Bến Thành và dài dài vô đến Chợ Lớn… sau đó tiểu ban đi xét từng nhà khắp đô thành Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định, ai sợ thì cứ tự mình đốt, bỏ… nếu xét gặp thì chắc chắn phải gặp khó khăn với mấy “ông cọp 30 trẻ” này.
Về văn nghệ thì tất cả các bản nhạc in hoặc thu vào băng nhựa, nếu không phải loại nhạc lai căn (lai nhạc Tàu) từ nhóm văn công miền Bắc mang vào, đều được liệt vào loại “nhạc vàng của đế quốc Mỹ và tay sai,” cấm lưu hành, xé đốt, hủy bỏ, ai lưu giữ sẽ có tội. Các kịch bản hay các vở tuồng cải lương, hát bộ v.v… cũng phải được duyệt xếp loại lại (Bà thiếu tá cách mạng đào hát Kim Cương phụ trách phần này).
Nói tóm lại Bắc Việt chủ trương hủy bỏ tất cả những gì mà họ cho là tàng tích của Mỹ Ngụy từ 75 trở về trước, để đem thay thế vào đó những gì mà miền Bắc đang có và đang áp dụng, không cần biết có hợp với dân tộc Việt Nam hay không và cũng không cần lượng xét hậu quả sẽ như thế nào (có nghĩa là thay vì đẩy Miền Bắc tiến lên để theo kịp đà phát triển của Miền Nam, họ làm mọi cách nhằm kéo lùi Miền Nam thụt lùi lại vài chục năm, sao cho trình độ văn minh tiến bộ của hai miền Nam Bắc phải ở cùng nằm ở một trình độ kém phát triển như nhau… nhằm đưa đất nước Việt Nam vào con đường xã hội chủ nghĩa đúng theo lệnh của các quan thầy Liên Xô và Trung Cộng…
Mãi cho đến cuối thập niên 80, lúc tôi ra khỏi trại tù cải tạo, lãnh đạo đảng Nguyễn văn Linh nhờ chạy theo phong trào “đổi mới” của Liên Xô, mới chịu mở mắt ra và chừng đó mới thấy được là đảng cộng sản đã kéo cả đất nước và dân tộc Việt Nam đi lùi vào thời kỳ đồ đá… từ sau ngày cướp được chánh quyền mùa thu năm 1945 và nhất là để mất đi một cơ hội và một thời gian quá dài từ sau ngày nhuộm đỏ Miền Nam Việt Nam 30 Tháng Tư, 1975.)
Ngày 4 Tháng Năm
Tôi đến nhà của Ngô Công Đức vì nghe tin anh ta mới từ bên Pháp trở về Sài Gòn qua ngả Lào, Hà Nội (mang theo chiếc xe đạp). Đến nhà anh mới được biết là người vợ của anh đã sang ngang không biết vì lý do gì, (có thể vì hành động phản chiến của anh.) Đến đây tôi may mắn được gặp lại một người bạn thân, trung tá Nguyễn văn Binh, cựu quận trưởng quận Gò Vấp, (anh rể của Ngô công Đức) may mắn có mặt tại Dinh Độc Lập từ sáng ngày 30 Tháng Tư, nhờ vậy tôi mới được biết thêm một vài chi tiết liên quan đến chuyện bộ đội Bắc Việt vào tiếp thu Dinh Độc Lập trưa ngày 30 Tháng Tư. Tôi phải ghi lại gần như nguyên văn lời của ông bạn Nguyễn Văn Binh của tôi như sau:
“Sau khi chiến xa T.54 ủi sập một bên cổng chính của Dinh Độc Lập, (theo suy đoán của anh Binh thì đây là một hành động tượng trưng cho chiến thắng quân sự cuối cùng và quyết định của cộng sản Bắc Việt) một số bộ đội tràn vào sân thượng hạ cờ VNCH xuống và treo cờ MTGPMN lên (chưa phải là cờ đỏ sao vàng của Bắc Việt), một sĩ quan Bắc Việt có bộ đội hộ tống ập vào đại sảnh, nơi mà Tổng Thống Dương văn Minh đang có mặt cùng với những người cộng sự viên thân tín nhứt trong Chánh Phủ của ông. Thấy vị sĩ quan này đeo đầy sao vàng trên cầu vai nền đỏ, vì không biết cấp bậc của quân đội nhân dân Miền Bắc, nên ông Minh tưởng rằng mình đang đứng trước một tướng lãnh cao cấp.
– Thưa quan sáu, tôi đã chờ ông từ ban sáng để trao quyền cho ông.
Sĩ quan này dùng danh từ “mầy tao” xẵng giọng hách dịch và đanh đá lên tiếng:
– Mầy dám nói là trao quyền hả? Mầy chỉ là một kẻ cướp quyền và một bù nhìn. Mầy làm gì có “quyền” nào để giao cho tao? Chúng tao lấy được quyền đó bằng khẩu súng này đây. Ngoài ra tao xác nhận với mầy là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chánh trị của một đơn vị chiến xa. Kể từ bây giờ tao cấm mầy không được ngồi xuống!
Mặt Tướng Minh co dúm lại. Ông chợt hiểu là ông không gặp được những người của MTGPMN mà là những người cộng sản Bắc Việt, dù họ treo cờ Việt Cộng trên xe. Không phải là những người Miền Nam đã vào chiếm Dinh Tổng Thống, mà đang đứng trước mặt ông là những chiếc xe tăng, những sĩ quan và bộ đội Bắc Việt và họ đã đối đãi với ông không như bạn hay đồng bào, mà như một kẻ thù thất trận!

Tổng Thống Dương Văn Minh (2) ngày 30-4-1975 ở Dinh Độc Lập. Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu (1) và nhà báo Bùi Tín (3). File photo

Tướng Minh cố gắng tự kềm chế và dịu dàng hơn ông nói tiếp:
– Chúng tôi đã có dự trù sẵn một bữa cơm để tiếp các ông. Có yến, súp măng cua…
Vị trung tá Bắc Việt ngăn ông lại và xẵng giọng:
– Bọn bây đang ở trong tình trạng bị bắt. Hãy giữ cái bếp tư sản của mầy lại đi. Chúng tao đã có cơm dã chiến của chúng tao, một nắm cơm nắm và một hộp thịt kho mặn.
Sau đó sĩ quan này ra lệnh nhốt tất cả các tổng trưởng hiện diện vào một gian phòng, sau khi đã cho lệnh khám xét rất cẩn thận và không khoan nhượng trước sự hiện diện các nhà báo ngoại quốc đang làm nhiệm vụ quay phim, chụp ảnh lia lịa cảnh tượng lịch sử này.
Sau đó ông Minh bị “bộ đội” bao quanh chĩa súng vào người ông, và vị sĩ quan cao cấp vung khẩu súng lục to đẩy ông lên một chiếc xe Jeep và phóng đi dưới hàng loạt ánh đèn chớp của máy ảnh và máy quay phim của báo chí. Ông được đưa đến đài phát thanh để ông phải lên tiếng kêu gọi lần chót với các binh sĩ còn đang tiếp tục chiến đấu. Vì chiến trận vẫn còn tiếp diễn gần như khắp nơi, ở ngoại ô, ở Chợ Lớn, chung quanh Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát, ở khu vực gần Tân Cảng, trước trung tâm truyền tin Phú Lâm,…
Đến 13 giờ, Tướng Minh được đưa trở về Dinh Tổng Thống và bị nhốt dưới tầng hầm.
Cũng vẫn theo lời của anh bạn tôi:
– Ông Nguyễn Văn Hảo đương kim tổng trưởng Tài Chánh đã có mặt tại dinh Độc Lập ngày 30 Tháng Tư, 1975 với Tướng Dương văn Minh, cùng với nội các của ông Vũ văn Mẫu và một số nhân sự phản chiến tự xưng là thành phần thứ ba (như Dương văn Ba, Hồ ngọc Cứ, Võ long Triều, v.v…). Khi ông Minh được đưa trở về đến Dinh Độc Lập thì ông Hảo lên tiếng, nói một câu “bất hủ” với sĩ quan chỉ huy Bắc Việt rằng:
– Tôi còn ở đây chờ quí vị, để trao cho quí vị một món quà, đó là trên 20 tấn vàng.
Vị sĩ quan đó đáp ngay tức khắc:
– Đó không phải là quà mà là chiến lợi phẩm của chúng tao, tao phải tịch thu, mầy hãy trao ngay cho tao đi!
Và ông Hảo đã dẫn người này đến Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam ngay chiều ngày 30 Tháng Tư, 1975, trao 3 chìa khóa hầm vàng cho đại diện Bắc Việt, để chỉ dẫn họ cách thức lấy 20 tấn vàng dằn kho của VNCH ở ngân hàng này. Sau đó ông Hảo vẫn bị đưa về nhốt chung với các vị tổng trưởng khác.”
Ở nhà của Ngô Công Đức, tôi được chứng kiến một cảnh “ngu dốt” của một toán bộ đội Bắc Việt, nói lên tình trạng quá lạc hậu đáng thương hại của người dân Miền Bắc nói chung:
Trong lúc tôi và anh Binh anh Đức ngồi ở phòng khách trò chuyện thì có một toán chừng 6 anh “bộ đội” ập vào nhà “khám xét.”
Người chỉ huy cầm trong tay cái điện thoại và hách dịch hỏi anh Đức:
– Cái “đài” này là của anh?
– Phải, của tôi
– Anh làm “chức vụ” gì lớn lắm của Mỹ Ngụy mà có cái “đài” này? anh dùng cái đài này để liên lạc với Mỹ Ngụy và với CIA phải không? Tôi phải bắt anh ngay về cơ quan để “làm việc,” mặc áo vô đi rồi theo tôi ngay. (vì lúc đó anh Đức ở trần)
– Xin lỗi anh tôi không đi đâu hết, cái này là cái điện thoại chớ không phải cái đài.
– Đồ ngoan cố, cái này là cái điện đài, tôi được lệnh bắt anh, vì trong nhà anh có một cái điện đài mà không chịu đi khai báo…
Tôi rời khỏi nhà anh Đức trưa hôm đó, lòng suy nghĩ miên man… Thật tội nghiệp cho cái anh chàng phản chiến Ngô Công Đức này, giờ này chạm mặt với thực tế có lẽ anh mới sáng mắt thấy rõ trình độ của người dân Miền Bắc và mức độ giáo dục và ảnh hưởng tuyên truyền nhồi nhét của cộng sản là thế nào đối với dân chúng…! Tội nghiệp cho cái anh bộ đội quá ngu dốt này, và cũng thật quá tội nghiệp cho người dân Miền Nam của mình trong những năm tháng sắp tới… có lẽ phải chịu sống đau khổ triền miên vì cái tình trạng ngu dốt của kẻ xăm lăng thống trị từ Miền Bắc…
Ngày 5 Tháng Năm, 1975
Tôi quyết định đến nhà anh chị Bác Sĩ Nguyễn Văn Tạo ở đường Pasteur để tạm trú và tạm lánh mặt chờ ngày 15 Tháng Sáu là ngày trình diện đi “học tập.” Ở đây có lẽ yên hơn là về Sadec (gia đình tôi) hay Cai Lậy (gia đình bên vợ tôi), dù sao ở ngay Sài Gòn chắc không bị những màn trả thù rùng rợn như ở tỉnh, như một số tin tức mà tôi được biết cho tới ngày hôm nay… (như ở ngay tĩnh Vĩnh Long, các ông cai tổng Nguyễn Văn Dần, Nguyễn Văn Xôm, Nguyễn Văn Thêm đều bị họ kết án là “có tội với nhân dân” mà không thông qua một tòa án nào, và bị hành quyết ngay khi bị bắt, bằng vũ khí thô sơ như búa, mã tấu… Riêng anh Trung úy Dù Nguyễn Văn Ngọc ở xã Long Hồ, dù đã chết từ hơn một năm trước, vẫn bị họ đào mả lên, đưa cả quan tài ra giữa chở Ngã Tư Long Hồ để cho phá nát bằng cốt mìn.)
Sáng nay tôi phải lên thăm một thiếu tá tuyên úy Phật Giáo, đang là trụ trì tại một ngôi chùa ở Hạnh Thông Tây, và là người có trách nhiệm lo mọi công tác hậu sự cho quân nhân các cấp không may bị tử thương, và hằng ngày lo chăm nom săn sóc nơi an nghĩ cuối cùng của anh em quân nhân chúng tôi là “nghĩa trang quân đội Hạnh Thông Tây” nằm ở đối diện không xa với chùa này.
Đưa tôi vào chánh điện lạy Phật xong ông dẫn tôi lên phòng riêng và khi chỉ còn có hai chúng tôi thì ông nín không nỗi nữa, bật lên khóc sướt mướt, ấp úng nói không thành lời. Sau một lúc khá lâu bình tâm trở lại ông mới nói rõ cho tôi nghe là không phải ông khóc vì chuyện “mất nước,” nhưng khóc vì động lòng từ bi trước cảnh mồ mả trong nghĩa trang quân đội mà ông có trách nhiệm săn sóc đã bị cộng sản Bắc Việt dùng xe ủi đất san bằng hết ngay chiều ngày mồng 3 Tháng Năm vừa qua.
Mặc cho sự van xin cầu khẩn của ông (trong bộ áo nâu sồng của một thượng tọa) họ vẫn san bằng hết từ nhà xác, nhà liệm xác, nhà nguyện cho đến ngôi mộ cuối cùng… Ông vừa nói vừa tức tưởi khóc:
– Không hiểu sao họ quá tàn nhẫn như vậy? Họ nói là để lấy đất mà trồng trọt để nuôi nhân dân đang đói nghèo. Đất rộng như vầy, màu mỡ như vầy mà làm nghĩa địa thì phí của trời quá. độc ác với nhân dân quá!
Thật tội nghiệp cho vị tuyên úy Phật Giáo này. Ông quá thật tình, nhìn sự việc qua lòng từ bi của một tu sĩ, nên không hiểu là hành động này phải xuất phát từ chủ trương và chánh sách của người cộng sản mà nhất là cộng sản Miền Bắc, đội quân tiền phong của Quốc tế Cộng sản Đệ Tam Nga Tầu! Dù họ là người Việt Nam nhưng tư tưởng, hành động và nhất là lương tâm của họ ngày hôm nay không còn thuộc về họ nữa. Họ phải theo đúng giáo điều Mác Lê, theo đúng lệnh của Staline, của Mao Trạch Đông là những quan thầy trực tiếp điều khiển họ trong cuộc chiên tranh bành trướng về phương Nam này.
Ông bạn tuyên úy của tôi cũng chất phác như người dân Miền Nam đã từng cho những lời “tố cộng” của chánh quyền hay của Phòng Chiến Tranh Chánh Trị là những chuyện “đặt điều” cốt để tuyên truyền tác động tinh thần của quân cán chính Miền Nam. Bây giờ chỉ mới giáp mặt với một vài hành động của họ thôi, rồi đây có lẻ từ từ rồi họ sẽ thấy được bộ mặt thật của con người cộng sản này. Nhưng từ hôm nay cho đến đó người dân Miền Nam chúng ta chắc còn sẽ phải chịu nhiều cảnh thương đau cùng cực nữa… trong tiến trình xây dựng xã hội chủ nghĩa của họ.
Tôi mời ông thiếu tá tuyên úy bạn tôi cùng lên nghĩa trang Biên Hòa để xem thử là họ đã ủi nghĩa trang quân đội ở đây chưa? Theo tin ông đã nhận được thì hình như họ cũng đã thực hiện công tác này rồi, cũng vào ngày 3 Tháng Năm.
Có đi đến nơi chúng tôi mới thấy rõ được hiện trạng. Thật là thê thảm! Trước hết là tượng hình của một binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến qua tượng đài “Thương Tiếc,” một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật rất có giá trị đặt bên vệ đường ở mặt tiền của nghĩa trang quân đội đã bị cộng sản phá nát bằng cốt mìn, và ủi sạch không còn một chút dấu vết.. Cả nghĩa trang rộng lớn cũng đã biến thành bình địa!
Trên đường về Hạnh Thông Tây cả hai chúng tôi yên lặng không trao đổi một lời nào, tôi tin chắc là cảm nghĩ của một người tu sĩ đương nhiên phải khác hẳn với cảm nghĩ của một chiến binh như tôi. Dù sao khi về đến chùa, trước khi giã từ, tôi cũng nói rõ cho Thầy tuyên úy bạn tôi thấy được cảm nghĩ của tôi:
– Hành động quá ư tàn nhẫn đến dã man này thật không đúng là hành động của bất cứ người Việt nào nhất là ở Miền Nam Việt Nam. Từ ngàn xưa đúng theo đạo lý và truyền thống của dân tộc Việt, người Việt Nam chúng ta ai cũng biết là “nghĩa tử là nghĩa tận” hay “chết là hết.” Dù giữa cá nhân anh và tôi có thù hằn nhau cách mấy nhưng khi anh hay tôi có người đã nằm xuống rồi thì coi như mối thù đó được xóa bỏ vĩnh viễn, không ai còn muốn nhắc đến nữa. Vậy ủi hết mồ mả của quân nhân các cấp thuộc QLVNCH có nghĩa là gì đây? nếu không muốn nói trước hết là nhằm “trả thù cho quân đội và nhân dân Miền Bắc”? sau đó lại “xóa sạch được vết tích của QLVNCH, người đã chết xóa trước, người còn sống xóa sau? trong chủ trương sửa lại toàn bộ lịch sử trong tương lai đối với các thế hệ trẻ sau 1975? một trang sử đấu tranh dai dẳng của Quân Dân Cán Chính Miền Nam đã hy sinh làm tiền đồn ngăn chận làn sóng xăm lăng cộng sản, trong suốt gần 30 năm từ 1945 mà họ cần phải xóa bỏ?? Tôi nghĩ chỉ có như vậy họ mới đang tâm có những hành động phi nhân đạo này. Và chắc chắn trên toàn bộ Miền Nam Việt Nam các nghĩa trang quân đội đều phải chịu chung một số phận. Dĩ nhiên rồi cũng phải đến số phận của chúng tôi… những chiến binh còn sống sót.
Nhưng ngày nào còn có một chiến binh QLVNCH còn sống sót như cá nhân tôi thì ngày đó cộng sản Bắc Việt đừng hòng sửa được một trang sử nào!…
Chúng tôi xin tạm chấm dứt mấy trang “Hồi ký dang dở” ở đây, và xin thành tâm cầu nguyện cho nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam chúng ta sớm được thoát khỏi vĩnh viễn ách độc tài đảng trị của bọn cộng sản vô thần khát máu và tàn bạo này.

Washington, những ngày cuối năm Quý Mùi
Dương Hiếu Nghĩa

Hồi Ký Dang Dỡ

Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

Phần 1

Sau ngày quốc hận 30 Tháng Tư, 1975, có một số anh chị em Quân Dân Cán Chính và gia đình, tuy may mắn được di tản ra nước ngoài, nhưng không có dịp “may” ở lại để chứng kiến tận mắt được những hành động ngu xuẩn, tàn ác đến man rợ của của những người cộng sản Việt Nam từ miền Bắc vào, tự xưng là để “giải phóng cho đồng bào ruột thịt đói rách ở Miền Nam,” của những người cùng uống nước sông Cửu Long nhưng tự hào được cộng sản Bắc Việt cho “tạm mang dép râu, đội nón cối” (mà không biết!), và của những con “cọp 30,” những người Miền Nam hống hách được cộng sản cho mang băng đỏ trên tay áo, thuộc hệ thống nằm vùng, và nhất thời làm tay sai cho cộng sản!!!
Có thể nói đây là một trang sử bi thảm nhất của người dân Miền Nam Việt Nam nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Những đồng bào nào được may mắn rời khỏi Việt Nam trước ngày 30 Tháng Tư, 1975, và những em cháu thuộc những gia đình này (tính đến nay cũng từ 21 tuổi trở lên, kể cả những con em của tất cả người Việt Nam được chào đời trên các nước phương Tây tự do) không bao giờ hình dung được cái ngày lịch sử đen tối này, vì cộng sản Việt Nam đã cố tình sửa lịch sử ngay từ đầu chiến dịch tiến chiếm Miền Nam để giành lấy chánh nghĩa “giải phóng dân tộc” cho đảng.
Cho đến giờ này dù chúng tôi có nói lên những sự việc thật sự đã xảy ra từ trước và sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, thì bà con nào đã rời khỏi đất nước trước ngày lịch sử đó (nhất là thế hệ sau 75) cũng không ai muốn tin và chịu tin đó là sự thật, một phần vì có người còn cho chúng tôi thuộc thành phần chống cộng, thù ghét cộng sản nên chỉ nhằm tuyên truyền chống cộng mà thôi, một phần vì bà con không ai ngờ là “cùng là người Việt Nam với nhau ai lại có tâm địa vô nhân đạo, phi đạo đức và phi dân tộc đến như thế được.
Do đó những gì chúng tôi kể lại đây không hẳn là những trang “hồi ký” của riêng cá nhân mình mà thật sự là những gì đã xảy ra tại Saigon và những vùng phụ cận trong những ngày trước và sau 30 Tháng Tư, 1975, kể lại trung thực những sự việc mà chính bản thân chúng tôi vừa là một nạn nhân, vừa là nhân chứng, những sự việc mà chính mắt chúng tôi đã thấy, chính tai chúng tôi đã nghe… để tạm gọi là “luận cổ” (nói về chuyện xưa). để những anh em bạn già sống tha phương cầu thực chúng ta có đầy đủ yếu tố mà trao đổi nhận định, và để các thế hệ con cháu chúng mình có thêm sự hiểu biết chính xác hơn về bản chất, về con người, về đường lối chủ trương và chánh sách của người cộng sản Việt Nam mà “suy kim” (suy biết được cái hiện tại). tức là để thấy được việc làm của người cộng sản trong hiện tại và trong tương lai…
Người dân Miền Nam chúng ta gọi ngày 30 Tháng Tư là “Ngày Quốc Hận” vì Nước Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta bị xóa tên khỏi bản đồ của thế giới nói chung và của thế giới tự do nói riêng, từ ngày 30 Tháng Tư, 1975, vì cộng sản Bắc Việt đã xé bỏ Hiệp Định Ba Lê 1973 mà chúng đã vừa long trọng ký kết, vừa xua quân công khai tiến chiếm Miền Nam Việt Nam. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến ngày mất nước, khách quan có, chủ quan có, xa, gần đều có v.v… chúng tôi không muốn bàn thêm ở đây, vì trong gần 30 năm qua đã có rất nhiều sách báo, hồi ký, Việt có, Mỹ có, Pháp có, tất cả đều có phân tách rất rõ ràng rồi. Chúng tôi chỉ muốn ghi lại một vài mẩu chuyện thật, vui buồn lẫn lộn của bản thân, có liên quan đến ngày quốc hận này, để gọi là đóng góp thêm một ít tài liệu vào trang lịch sử đau thương của đất nước.
Ngày 1 Tháng Hai năm 1973
Tôi và một nhóm anh em sĩ quan cấp tướng tá thuộc Khóa 5 Cao Đẳng Quốc Phòng được thuyên chuyển về Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương vừa được thành lập theo điều khoản của Hiệp Định Ngừng Bắn Ba Lê, được ký kết giữa 4 Bên ngày 27 Tháng Giêng 1973 tại Ba Lê.
Từ hơn một tháng qua, anh em học viên Cao Đẳng Quốc Phòng chúng tôi được lệnh chia nhau từng toán sửa lại từng điều khoản một, trong bản thảo của cái gọi là Hiệp Định Ngừng Bắn sắp được 4 Bên ký kết ở Ba Lê (Pháp), vì qua nghiên cứu chánh phủ không thấy có một câu nào, một đoạn văn nào trong bất cứ điều khoản nào mà không có lợi hoàn toàn cho phía Bắc Việt, ngược lại chỉ có hại hoàn toàn cho Miền Nam Việt Nam mà thôi. Cũng qua nghiên cứu anh em học viên chúng tôi đều thấy là: toàn bộ bản văn tiếng Việt của hiệp định này rõ ràng là tác phẩm của cộng sản Bắc Việt được Lê Đức Thọ trao cho Kissinger dịch ra tiếng Anh, một bản dịch “thật sát nghĩa” từ ý lẫn lời văn của tác giả Miền Bắc!
Đúng vào ngày 27 Tháng Giêng 1973 sau khi ký kết hiệp định cả chánh phủ và chúng tôi đều hết sức thất vọng vì không thấy được một dấu vết sửa chữa nhỏ nào cuối cùng được thực hiện trước khi các bên ký kết.
Tôi muốn ghi lại chi tiết này để chúng ta cùng thấy được là nước VNCH của chúng ta đã bị Đồng Minh của mình phản bội, bán đứng cho cộng sản Bắc Việt ngay từ khi họ dàn xếp được Hội Nghị Paris (có cả MTGPMN là một trong 4 Bên ở Bàn Hội Nghị) một ít lâu sau Tết Mậu Thân 1968, để rút chân ra khỏi cuộc chiến với một danh từ thật kêu là “Việt Nam Hóa Chiến Tranh.”
….
Ngày 28 Tháng Tư, 1975: 8 giờ sáng
Đại Tá Nguyễn Hồng Đài từ tư dinh của Đại Tướng Dương văn Minh điện thoại ngay cho tôi nhờ đưa một phái đoàn đại diện cho tổng thống đến gặp phái đoàn cộng sản Bắc Việt và Việt Cộng (MTGPMN) ở trại Davis. Phái đoàn gồm có Luật Sư Nguyễn Văn Huyền, phó tổng thống; Luật Sư Vũ Văn Mẫu, thủ tướng và Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, quyền tham mưu trưởng QLVNCH từ ngày 28 Tháng Tư, 1975. (một bộ hạ thân tín của Tướng Dương Văn Minh ở Bộ Tư Lệnh Hành Quân từ 1955, sau này mới được biết là đã làm tay sai cho CS từ đầu thập niên 70 và từ đó đã trở thành một Việt Cộng nằm vùng rất đắc lực của Bắc Việt.) Khối Ngoại Vụ chúng tôi cho biết là CSBV và Việt Cộng không tiếp phái đoàn, nhưng Đại Tá Đài cho tôi biết là “ông già nhấn mạnh là tôi nên cố gắng, vì cuộc gặp mặt này rất quan trọng.” Tôi đành phải đích thân gọi vào trại Davis, gặp Đại Tá Sĩ để điều đình và cuối cùng phái đoàn của Tổng Thống Minh “được đồng ý cho vào trại Davis gọi là để viếng thăm hai phái đoàn cộng sản Bắc Việt và CPLTMN” (nguyên văn lời Đại Tá Sĩ trực tiếp nói với tôi qua điện thoại).
(Xin mở một dấu ngoặc ở đây để nói rõ về anh Đại Tá Sĩ này. Tôi biết được anh Nguyễn Văn Sĩ trước học ở trường Collège Cần Thơ, có biệt danh là “Sĩ Kiến, Theo bản trận liệt mà chúng ta biết được thì anh Sĩ là tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh của MTGPMN. Chúng tôi hai đứa gặp nhau và nhìn lại nhau ở cương vị đối nghịch nhau tại bàn hội nghị Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên ở Tân Sơn Nhất. Nhờ đó mỗi khi gặp bế tắc trong bất cứ vấn đề gì ở bàn hội nghị, nhất là về trao trả tù binh thì anh Sĩ lại được Tướng Trần Văn Trà cho anh đại diện cho Cộng sản để “mật đàm với đại tá Nghĩa” nhằm tìm ra giải pháp. Đến năm 1989, sau khi ra khỏi trại tù cải tạo, nhân một dịp đi xuống Cần Thơ, tôi lại được gặp anh Sĩ vài lần ở ngay sân quần vợt Cần Thơ, và đươc biết là anh đã rời khỏi quân ngũ từ 1977, vì lý do đảng tịch, và là người Miền Nam nên anh phải “đi một xuồng” với Tướng Trà.)
Phái đoàn của Luật Sư Huyền vào trại Davis lúc 9 giờ 30 và rời khỏi trại hồi 10 giờ hơn. Tôi tò mò muốn biết kết quả của cuộc gặp gỡ này, nhưng Đại Tá Đài không cho biết vì anh không được biết hay vì anh không muốn tiết lộ, hay vì một lý do nào khác? Qua Đại Tá Sĩ thì tôi cũng không được biết gì hơn ngoài câu “như đã thỏa thuận với anh hồi nãy,” tức phải được hiểu ngầm là “chỉ có viếng thăm xã giao mà không có bàn đến các vấn đề gì khác”
Tò mò hơn, qua điện thoại với trung tá chánh văn phòng Trương Minh Đẩu, tôi được biết là Ông Dương Văn Minh đã “mò” lên tận vùng Long Khánh (không rõ chính xác ở đâu) với liên lạc viên Dương Văn Nhật để gặp Lê Đức Thọ từ mấy ngày trước, qua đường dây liên lạc đặc biệt nào đó mà anh không biết.
(Dương Văn Nhật là em ruột của Tướng Minh, tập kết ra Bắc năm 1954, về Nam với quân hàm trung tá của MTGPMN, vào ở ngay Dinh Hoa Lan tại đường Trần Quý Cáp với gia đình Tướng Minh từ lâu, dĩ nhiên trong nhiệm vụ sĩ quan liên lạc của cộng sản.)
Vẫn theo lời anh Đẩu thì sau khi phái đoàn của ông Nguyễn Văn Huyền về đến Dinh Hoa Lan, ông Minh họp Hội Đồng Chánh Phủ và cho biết là MTGPMN đã bác bỏ đề nghị của ông nhằm tìm một giải pháp chánh trị cho Miền Nam Việt Nam. Vì vậy ông đã quyết định là “chỉ còn một cách duy nhất là “đầu hàng vô điều kiện” mà thôi.
4 giờ chiều:
Tôi muốn nhắc lại ở đây một đoạn đàm thoại ngắn giữa tôi và thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ qua điện thoại mà ông gọi tôi lúc 4 giờ chiều ngày hôm nay từ tư dinh của ông ngay trong căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất.
-Anh còn ở đây chưa đi đâu sao anh Nghĩa?
-Thưa thiếu tướng chưa, vì tôi còn trách nhiệm phải lo cho gia đình các anh em quân nhân của Ban Liên Hợp đi cho xong rồi tôi mới đi. Dự trù chiều mai 29 thưa thiếu tướng.
-Gia đình anh đi chưa?
-Thưa thiếu tướng đã đi xong đêm 26 vừa rồi. Còn thiếu tướng sao giờ này còn ở đây?
-Tôi và gia đình đang sắp sửa đi đây. Anh Tiên (Chuẩn Tướng Phan Phụng Tiên) cho phi cơ đưa chúng tôi đi nhưng anh Tiên thì còn ở lại, đi sau.
Nói đến đây ông hơi ngập ngừng chừng một phút rồi mới nói tiếp:
-Phải đi chớ ở lại đây sao được anh Nghĩa? Tôi vừa mới từ nhà ông Minh về đây. Theo lời ông Minh nói với tôi lúc nãy thì chúng ta coi như đã, mất hết rồi không còn quyền gì nữa hết, anh Nghĩa, kể cả quyền làm chánh trị!…
Ông Minh đã nói thẳng cho tôi như thế, lúc này thì mình còn ở lại đây để làm gì nữa anh Nghĩa?
Nói tới đây ông sụt sùi và tôi nghe có tiếng khóc nghẹn ngào của ông qua điện thoại. Tôi nghĩ có lẽ ông vừa bực tức ông Minh vừa bực tức vì một đời ngang dọc của ông coi như bị trói cả hai tay trong lãnh vực quân sự lẫn chánh trị… và xúc động thấy mình sắp phải rời khỏi quê hương.
Không thấy tôi nói gì nữa ông nói tiếp:
-Vậy tôi đi hôm nay nghe, anh cũng nên đi luôn đi, coi chừng đi không kịp nữa đó. Anh Tiên chắc cũng đi sau tôi. Còn sấp xếp cho anh em Không quân nữa, chắc phải đưa tất cả phi cơ đi cho hết. Thôi anh ở lại đi sau nghe, chúc anh may mắn.
-Xin chúc thiếu tướng và gia đình thượng lộ bình an.
-Cám ơn anh.

Một lúc sau đó anh Phan Nhật Nam về gặp tôi ở Ban Liên Hợp xác nhận là gia đình ông Kỳ vừa bay ra Hạm Đội 7 bằng trực thăng và anh cũng nhân đó hỏi tôi đã nói gì với ông Kỳ làm cho ông khóc vậy? Tôi đáp:
-Có lẽ ông cảm động trước khi rời khỏi quê hương, và bực tức vì lời nói của ông Minh Dương chớ tôi thì không có nói gì cả?
Từ sáng sớm hôm nay, căn cứ Không Quân Biên Hòa được lệnh dời hết về Tân Sơn Nhất tất cả phi cơ các loại, từ phi cơ chiến đấu, vận tải đến trực thăng các loại, tất cả nhân viên phi hành và không phi hành đều lục tục kéo nhau về hết ở đây cho đến gần 7 giờ chiều mà vẫn chưa hết. Người nào có gia đình hay thân nhân ở vùng Sài Gòn Chợ Lớn Gia định thì được phép về nhà nhưng toàn bộ vũ khí cá nhân đều phải gởi lại hết ờ Tân Sơn Nhất. Như thế là cả Vùng 3 và Biệt Khu Thủ Đô chỉ còn có mỗi căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất mà thôi.
6 giờ chiều:
Chúng tôi vào D.A.O. đưa một toán 200 người thuộc gia đình sĩ quan và hạ sĩ quan /Ban Liên Hợp Quân sự ra phi cơ trong chương trình di tản (toán thứ 8).
Chờ cho phi cơ cất cánh xong (9 giờ) chúng tôi mới trở về lại Ban Liên Hợp, vẫn phải trực như mọi người và mọi đơn vị.
10 giờ đêm:
Từ 10 giờ đêm, Bắc Việt bắt đầu pháo kích và bắn hỏa tiễn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Ngay ban chiều vào khoảng 7 giờ, họ đã cho một loạt tác xạ điều chỉnh vào khu vực sân bay rồi: tất cả 5, 6 quả và 2 hỏa tiễn đều rơi vào khu dân cư ở xóm Trương minh Giảng và Lăng Cha Cà ở bên ngoài khu vực sân bay. Nhưng từ 10 giờ đêm trở đi thì tất cả đạn pháo nặng nhẹ từ 130 ly đến bách kích pháo 82 ly và hỏa tiễn đều rơi vào các đường bay, các ụ chứa phi cơ và các kho bom đạn cũng như Bộ chỉ huy các Không đoàn, Riêng Ban Liên Hợp chúng tôi cũng được hưởng mấy trái hỏa tiễn và đạn pháo 130 ly làm cho 3 dãy nhà bị cháy và gây tử thương vài binh sĩ, làm bị thương một số khác.
Chúng tôi và Đại Tá Ba ra ngoài đường thoát nước lộ thiên bằng xi măng trước văn phòng nằm tránh đạn. Chiếc xe của tôi đậu cách chỗ nằm của chúng tôi chừng 15 thước bị một mảnh đạn và bốc cháy mà chúng tôi không dám chữa. Từ đó, Bắc Việt pháo kích từng chập từng chập cách nhau chừng 15 phút, đủ loại, không ngừng cho đến sáng hôm sau. Hầu như không có phi cơ quan sát hay tiềm kích nào cất cánh lên được suốt đêm nay, và cũng không nghe thấy có tiếng súng phản pháo nào.
Riêng trại Davis của hai phái đoàn cộng sản, cách văn phòng chúng tôi chừng 100 thước, thì không bị một quả đạn nào, tất nhiên đây là vị trí của tiền sát viên Bắc Việt giúp điều chỉnh tác xạ suốt đêm nay thật chính xác, vì trong 2 năm ở đây họ đã nắm rõ từng vị trí trong sân bay này rồi!


Ký ức Tháng Tư của một ‘hạ sĩ quèn’ Ông Tạ

saigonnhonews.com

April 12, 2024

Bùi Dzũng/SGN

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

Ngày đó, tôi là một người lính trẻ 24 tuổi cấp bậc Hạ sĩ nhất tùng sự tại Ban Hành Chánh Trung Tâm Quản trị Trung ương, KBC 4204.

Ba tôi là Bùi Dzinh, một sĩ quan cao cấp của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa, cấp bậc cuối cùng là đại tá tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ binh. Ông đã bị Hội đồng Quân nhân Cách mạng của Trung tướng Dương Văn Minh tước đoạt binh quyền và sa thải khỏi Quân đội Việt Nam Cộng Hòa vì lý do phản đảo chánh ngày 1-11-1963 nhằm cứu Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Gia đình ba mẹ tôi cùng tất cả các con đã ở lại sau ngày 30-4-1975 là vì Ba tôi không muốn đi ra nước ngoài. Còn nhớ hồi cuối tháng 3 và đầu tháng 4, sau khi Cam Ranh rồi Phan Rang thất thủ, nhà tôi có nhận được lá thư của đại tá Lý Trọng Song, tùy viên quân sự Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Anh (em ruột mẹ tôi) từ Luân Đôn gửi về, kèm theo bản tin ngắn cắt từ một tờ báo Anh ngữ, nhận định tình hình miền Nam Việt Nam rất bi quan. Cậu ấy khuyên ba mẹ tôi nên thu xếp cho con cái ra nước ngoài.

Mẹ tôi theo đó đã sửa soạn đồ dùng cá nhân cho từng đứa con để chuẩn bị di tản như hồi Việt Cộng tấn công dịp Tết Mậu thân 1968. Lúc ấy, các em tôi, bảy đứa, dìu dắt nhau về trung tâm Sài Gòn. Ba mẹ chất đầy đủ vật dụng và bế thằng Út mới chưa đầy năm vào chiếc Renault, lái vào tá túc ở nhà cậu tôi là đại tá Song trong cư xá sĩ quan Chí Hòa; căn nhà ở hồ tắm Cộng Hòa giao cho tôi và Cường, em kế tôi giữ, với một khẩu carbine M.2 và một thùng đạn 500 viên.

Tuần cuối Tháng Tư, một người lính của Trung tướng Trần Văn Trung (Tổng cục trưởng Cục Chiến tranh Chính trị) đến nhà thăm hỏi tình hình. Ba tôi bảo không muốn đi đâu cả, rồi ông nói thêm rằng mình đã từng du học Pháp và Mỹ, biết hoàn cảnh xã hội của họ phức tạp, nên không muốn cho con ra nước ngoài. Thế rồi mọi chuyện xảy đến. Ngày ông Dương Văn Minh thay thế Tổng thống Trần Văn Hương là 28-4-1975. Có tin “Big Minh” (biệt danh của ông Minh) muốn mời Ba tôi cùng cựu Thiếu tướng Lâm Văn Phát thành lập Sư đoàn Bảo vệ Thủ đô Sài Gòn. Nhưng ba tôi không nhận lời. Ngày 29-4, trong bữa cơm chiều, tôi nhìn ra đường Phạm Hồng Thái, thấy các binh sĩ Nhảy dù đang đi bộ hàng dọc với ba lô súng đạn đầy đủ, từ dưới ngã tư Bảy Hiền về hướng ngã ba Ông Tạ trong cơn mưa nhẹ.

Tác giả Bùi Dzũng (phải) cùng những người bạn, dịp Tết Nguyên Đán Ất Mão ngày 11-2-1975 (lúc ấy bị cắm trại 100% trong doanh trại Trung Tâm Quản trị Trung ương; từ 30-4-1975 đến nay, họ chưa có dịp gặp lại nhau (ảnh tác giả cung cấp)

Thêm một lần, tôi lại hỏi:

Thưa Ba, con thấy lính Nhảy dù đang di chuyển từ dưới ngã tư Bảy Hiền ngang qua nhà mình về hướng ngã ba Ông Tạ, nghĩa địa Đô Thành để vô trung tâm Sài Gòn và có thể họ sẽ ra bến tàu (tôi đoán). Vậy mình có nên di tản gia đình đến bến Bạch Đằng ngay bây giờ không?

Ba tôi không trả lời câu hỏi, chỉ bảo: “Ăn cơm xong con cứ về đơn vị; ở nhà có ba lo”.

Tối hôm đó, 29-4-1975, tôi trở vào đơn vị là Trung tâm Quản trị Trung ương ở đường Tô Hiến Thành thuộc Quận 3, Sài Gòn; đối diện trại Đào Bá Phước của Bộ chỉ huy Binh chủng Biệt động quân, lãnh súng đạn ứng chiến cùng đồng đội. Tuy đơn vị chúng tôi trực thuộc Phòng Tổng quản trị Bộ Tổng tham mưu, nhưng trú đóng trong địa bàn của Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô Sài Gòn, nên trách nhiệm phòng thủ của chúng tôi là từ phía sau lưng giáp với nghĩa địa Đô Thành bọc vòng cư xá sĩ quan Chí Hòa, dọc theo đường Bắc Hải ra Nhà Dây thép gió, ngã ba đường Lê Văn Duyệt đối mặt với trại Nguyễn Trung Hiếu của Tiểu đoàn 1 Nhảy dù. Đoạn đường Tô Hiến Thành ra đến đường Lê Văn Duyệt ngã ba Hòa Hưng thuộc về trách nhiệm của các chiến hữu Biệt động quân còn lại ở trại Đào Bá Phước.

Đêm ấy, tôi nhận cuộc điện thoại chót trước 20 giờ của người bạn học là cô Phạm Ngọc Lan, sinh viên năm thứ ba ban Công pháp Đại học Luật khoa Sài Gòn (con Hải quân trung tá Phạm Trung Giám), từ trong cư xá sĩ quan Hải quân ở bến Bạch Đằng. Cô ấy gọi hỏi thăm tình hình. Tôi mạnh mẽ trả lời rằng mình ở lại để làm “chứng nhân lịch sử”. Khuya hôm đó, đoàn tàu Hải quân Việt Nam Cộng Hòa do Phó Đề đốc Lâm Ngươn Tánh chỉ huy đã tách bến Sài Gòn về hướng vịnh Subic, Phi Luật Tân.

Ngoài nón sắt cá nhân, mỗi người lính được phát một khẩu carbine M2 với vài kẹp đạn, ngoài ra thêm vài quả lựu đạn MK3. Nghĩ lại mà buồn, từ sau Hiệp định Paris tháng 1-1973, ngoài việc rút dần lính Mỹ thì viện trợ cho Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị Chính phủ Mỹ cắt giảm dần, từ đó vũ khí quân trang hư hỏng chỉ được “một đổi một” chứ không cấp thêm. Cho nên trong những năm cuối cùng của cuộc chiến, bên Quân nhu – Tiếp liệu thâu hồi xe cộ, áo quần, súng đạn – chẳng hạn như súng cá nhân M16, xe Jeep… để bổ sung thay thế cho các đơn vị tác chiến bị hư hỏng. Thế nên sau đó một cuốc xe Jeep phải đón ít nhất ba vị sĩ quan cao cấp chứ không mỗi người một chiếc như trước. Em của mẹ tôi, trung tá Lý Trọng Lễ, K.4 trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt đi làm bằng xe Honda 67 riêng; mỗi ngày từ hồ bơi Cộng Hòa vào Trại Trần Hưng Đạo, chứ không có tài xế đưa đón bằng xe riêng như lúc cậu làm tỉnh trưởng Khánh Hòa năm 1970-1971.

Ông Bùi Dzinh năm 1967 (ảnh tác giả cung cấp)

Trở lại tình hình của đơn vị. Vào khoảng quá nửa đêm 29-4, có những loạt đạn nổ từ phía ngoài nghĩa địa Đô Thành Chí Hòa (nay là công viên Lê Thị Riêng). Khi một quả B.40 phá thủng bức tường đơn vị thuộc Khối Điều hành nằm sát vòng rào nghĩa địa thì sự hốt hoảng trong đơn vị bắt đầu.

Một số quân phạm đang chờ phân phối bổ sung đi các đơn vị đã lợi dụng sự náo loạn và gây mất trật tự, bất tuân thượng lệnh; có những hành vi la ó, chửi bới, rồi chuồn khỏi doanh trại. Sau khi một số lính đào tẩu, anh em binh sĩ cơ hữu và thặng số còn lại đã tạm ổn định tinh thần, duy trì được kỷ luật, tiếp tục ghìm súng canh chừng Việt Cộng, mặc dù thỉnh thoảng vẫn còn những tiếng chửi rủa mắng mỏ văng vẳng trong đêm tối.

Tờ mờ sáng 30-4, sau khi chúng tôi nấu nước uống trà và cà phê xong, có lịnh tập hợp điểm danh quân số. Lúc đó mới biết vài sĩ quan chỉ huy đã không còn có mặt trong doanh trại nữa! Chúng tôi hoang mang chờ nhật lệnh của Trung tá Bùi Thanh Quý, chỉ huy trưởng Trung tâm Quản trị Trung ương, và trong tư thế tiếp tục ứng chiến. Mãi gần trưa, khoảng 10g, nghe radio phát thanh lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi đầu hàng. Thế là hết! Đời binh nghiệp gần bảy năm của tôi chấm dứt.

Tôi mang súng đạn trả lại kho vũ khí rồi cởi bỏ quân phục, phóng Honda chạy ra khỏi cổng doanh trại. Đến đầu ngã ba Lê Văn Duyệt-Tô Hiến Thành, gần rạp xinê Thanh Vân, thì bị kẹt đường, do lúc ấy Trung đoàn Gia Định của Việt Cộng với khăn rằn, mũ tai bèo xen lẫn nón cối và dép lốp đang đi dọc hai bên lề tiến vào trung tâm Sài Gòn, về hướng trại Lê Văn Duyệt và ngã sáu Dân Chủ. Tôi trở đầu xe chạy ngược theo đường Tô Hiến Thành, băng ngang cư xá sĩ quan Chí Hòa, rẽ ra trường đua Phú Thọ, theo đường Nguyễn Văn Thoại về đến nhà thờ Chí Hòa.

Đại tá Bùi Dzinh (phải), tháng Ba 1975 tại Đà Lạt, nhân dịp thăm con là SVSQ Khóa 31 Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (Bùi Dzũng chụp; ảnh tác giả cung cấp)

Dọc đường, em tôi là Cường, chung đơn vị với tôi, hỏi:

“Mình đi đâu bây giờ hả anh?”

“Muốn đi đâu cũng được nhưng trước tiên là phải về nhà xem tình hình gia đình ra sao vì khuya hôm qua, sau đợt pháo của Việt Cộng, đường dây điện thoại đã bị cúp! – tôi đáp ngay.

Khoảng nửa tiếng sau, hai anh em chúng tôi về đến nhà thì bất ngờ quá, ngoài gia đình tôi ra còn có cả bà nội. Thì ra cô Báu (chồng là thiếu tá Nguyễn Ngọc Cử đang chỉ huy một tiểu đoàn Địa phương quân thuộc Tiểu khu Long An) đã đưa bà lên nhà tôi lánh nạn từ tối hôm qua. Thế là tạm ổn. Ba mẹ và mọi người bình an. Nhà cửa không bị trúng đạn. Sau một lúc định thần, tôi ra xem phía trước mặt nhà về bên phải thì thấy sát cây điệp trước nhà ông Tôn và nhà Đức Khiêm số 203, cách nhà tôi ba căn, đã trúng đạn pháo kích đêm trước.

Hàng dây điện thoại khu này, do đó, bị các nhánh cây đổ cắt đứt từ khuya hôm qua. Nghe mọi người kể chuyện một xe lam tản thương từ dưới ngã tư Bảy Hiền tối qua, khi chạy đến khúc đường giữa hẻm vào cư xá Tự Do và đường vào nhà thờ Chí Hòa, bị trúng đạn pháo kích. Tôi đến gần hiện trường, thấy vài mảnh vải còn vướng mắc trên dây điện và những mảnh đạn rải rác chung quanh. Thi thể người bị nạn đã thu dọn, chỉ còn trơ lại xác chiếc xe cháy đen.

Trưa 30-4-1975, cả nhà quây quần dùng cơm trưa, chuyện trò bên cạnh chiếc radio Sony chạy pin phát thanh liên tục, lặp đi lặp lại lời kêu gọi đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh. Thỉnh thoảng chèn vào bản Nối vòng tay lớn qua tiếng hát Trịnh Công Sơn và các bản Tiến về Sài Gòn, Giải phóng miền Nam của Huỳnh Minh Siêng (tức nhạc sĩ Lưu Hữu Phước)… Xế trưa, khoảng 15g, chúng tôi nghe có tiếng ồn ào đập cửa quát tháo trước mặt nhà. Một giọng nói vang lên của người chỉ điểm: “Đó, đó! Đây là nhà tên đại tá ngụy quân”.

Tôi thấy một đám đông, người dân lẫn bộ đội, mang cờ sao vàng trên nền vải nửa xanh nửa đỏ. Dẫn đầu là một đàn ông, mặc đồ đen mang băng vải màu đỏ bên tay trái, tay phải cầm khẩu Colt 45, chĩa thẳng vào chúng tôi. Ông ta yêu cầu mở cửa sân trước nhà cho bộ đội chính qui, khoảng một chục người cầm AK47 và B40, lưng mang balô còn cắm lá cây, cùng nón cối có giấy trắng quấn vòng quanh. Nón viết những dòng chữ mà tôi còn nhớ, đại ý ghi những điều chính phủ Lâm thời Mặt trận Giải phóng miền Nam cam kết “đối xử nhân đạo và bảo vệ tài sản tính mạng nhân dân”…

Tất cả cùng xông vào đứng chật mặt tiền nhà tôi. Người mặc đồ đen cổ quấn khăn rằn có mang băng đỏ ở cánh tay, cùng một bộ đội mang cấp úy có một vạch kèm hai sao nhỏ, đi thẳng từ trước đến phía sau nhà, rồi lên hai tầng lầu. Sau một lúc quan sát, họ nói với ba tôi: Cho họ trú đóng một A (một tiểu đội) thuộc Trung đoàn Gia Định. Dĩ nhiên ba mẹ tôi phải chấp nhận cho họ ở, cùng với nhiều vũ khí và đồ đạc, lương khô, và cả củi dựng dọc hai bên tường nhà.

Tác giả Bùi Dzũng 

Họ ở chung nhà mãi đến cuối tháng 5, khi nhà chúng tôi có tang. Em trai thứ bảy là Bùi Xuân Hòa, học sinh lớp 8 trường Thánh Tâm (nay là trường Tân Bình), qua đời vì bệnh sau thời gian chữa trị ở bệnh viện Grall (Đồn Đất). Họ chuyển sang đóng nhà bên cạnh, sát vách nhà tôi. Gia chủ nhà hàng xóm này (ba má chị Oanh, Thi, Huyền, Thăng… hiện định cư ở Mỹ) đã ra đi trước ngày 30-4. Căn nhà này đã được giao cho người em chủ nhà từ bên hẻm Cây Điệp – phở Cường đến ở, nhưng chỉ vài ngày sau thì bị “Bộ đội 30” phát hiện. Họ trục xuất người em và tịch thu căn nhà làm nơi đóng quân. Thời gian sau, căn nhà mang số 213 Cách Mạng Tháng Tám này trở thành trụ sở Công an phường 3, quận Tân Bình (nay là phường 7).

Chuyện đáng nhớ về tiểu đội lính Bắc Việt trú đóng tại nhà tôi: hầu hết họ là thanh niên trẻ ở vùng thôn quê Nam Định, Thái Bình… Họ đã ở đây trọn tháng Năm. Để nấu ăn, họ chẻ củi tại chỗ. Cứ mỗi khi nghe tiếng chẻ củi, vì sợ hỏng nền nhà, mẹ tôi lại phải lấy bớt một bếp dầu hôi, mang ra cho họ dùng! Lúc rảnh rỗi, vài “chú bộ đội” đã nhặt được đâu đó vài quyển Playboy của “đế quốc Mỹ”. Họ lén lút chuyền nhau, ra nấp phía sau hè trong vườn nhà tôi, kín đáo coi các ảnh phụ nữ lõa thể. Có lần vô tình bị Cường – em trai tôi – bắt gặp. Cuối năm 1979, khi cùng mẹ tôi ra Bắc thăm nuôi cha tôi, Cường – em tôi – bất ngờ gặp lại anh Dương, một trong những bộ đội tá túc tại nhà tôi sau 30-4-1975. Hai người nhận ra nhau tại ga xe lửa Hà Nội. Dương cho biết từ sau 2-9-1975, các anh được phục viên, về lại miền Bắc, và nay để kiếm sống, Dương phải đi bán hàng rong (bán thuốc và nước chè) ở nhà ga. 46 năm rồi, tôi vẫn ngậm ngùi nghĩ về những ngày ấy: những ngày mà tôi chỉ thấy tương lai mù mịt cho bản thân, cho gia đình và nhiều gia đình Ông Tạ…

(Lyon, Pháp)

Bác Sĩ Nhảy Dù Phạm Gia Cổn và ba trận đánh Kon Tum, An Lộc, Quảng Trị

hung-viet.org

Post 19 Tháng Hai 20207

Lâm Hoài Thạch

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

WESTMINSTER, California (NV) – Với nhiệm vụ là một bác sĩ quân y của Binh Chủng Nhảy Dù Quân Lực VNCH, Bác Sĩ Phạm Gia Cổn từng sát cánh với những cuộc hành quân của các tiểu đoàn tác chiến để chăm sóc cho các thương bệnh binh tại mặt trận.

Ngoài ra, ông còn làm những công tác Dân Sự Vụ là khám bệnh hay cho thuốc đồng bào sống ở những vùng sâu, vùng xa sau khi đơn vị các chiến sĩ VNCH đã đánh đuổi địch quân và kiểm soát an ninh. Những lúc được về hậu cứ của đơn vị, Bác Sĩ Cổn còn khám bệnh cho những gia đình của binh sĩ tại khu gia binh.

Vận nước điêu linh, sau ngày “gãy súng” vào cuối Tháng Tư, 1975, những người trai thế hệ của miền Nam Việt Nam, một số phải bị giam cầm trong những trại tù Cộng Sản, một số phải lìa xa quê hương yêu dấu của mình. Hơn 45 năm trên đất khách, nhưng, những chứng tích chiến đấu bảo vệ quê hương, những hình ảnh chiến trường cận kề với bom đạn và cái chết, và với trách nhiệm của một bác sĩ quân y vẫn còn canh cánh trong lòng của một chiến sĩ Quân Y “Mũ Đỏ” Phạm Gia Cổn.

Bác Sĩ Phạm Gia Cổn tại Bức Tường Đen ở Washington, D.C., 1990. (Hình: Phạm Gia Cổn cung cấp)

Ông từng là cựu sinh viên sĩ quan Khóa 18 Quân Y Hiện Dịch, Trường Quân Y, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tốt nghiệp Đại Học Y Khoa Sài Gòn 1971 và phục vụ Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù trong ngành Quân Y. Khi đến Hoa Kỳ, ông từng là giảng sư dạy 28 năm tại đại học UCLA, chuyên ngành gây mê và trị đau nhức. Ông cũng từng là chủ tịch Hội Y Sĩ Việt Nam, Nam California.

Nghỉ hưu từ năm 2010 nhưng trong thời gian hưu trí, Bác Sĩ Cổn dành thời gian còn lại trong việc phát triển và nuôi dưỡng môn thể dục “Khí Công Hoàng Hạc,” và là vị chưởng môn của môn phái này cho đến bây giờ. Môn phái này đã được phát triển tại nhiều tiểu bang Hoa Kỳ, và trên thế giới, với mục đích “giữ gìn sức khỏe, thoải mái về tinh thần, chậm tiến trình lão hóa” cho các học viên hoàn toàn miễn phí.
Vừa về đơn vị, tham chiến mặt trận Tam Biên, Kon Tum 

Kể về cuộc đời binh nghiệp của mình, Bác Sĩ Phạm Gia Cổn cho hay, sau khi tốt nghiệp Đại Học Y Khoa Sài Gòn 1971, ông tình nguyện về phục vụ Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù và tham chiến trận đầu tiên tại vùng Tam Biên, Kon Tum vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Cộng Quân cùng tấn công đồng loạt tại ba địa điểm Kon Tum, An Lộc và Quảng Trị.

Phạm Gia Cổn (trái), sinh viên sĩ quan Khóa 18 Quân Y Hiện Dịch, tại quân trường học Nhảy Dù. (Hình: Phạm Gia Cổn cung cấp)

Ông kể: “Trong toán Quân Y của chúng tôi có một bác sĩ là tôi và khoảng 10 y tá. Mỗi đại đội, tôi phải cử một y tá để săn sóc cho những chiến sĩ bị thương. Tại địa điểm này, hằng ngày, đơn vị Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù bị địch quân pháo kích hàng trăm quả đạn pháo. Vì thế, coi như ngày nào toán Quân Y của tiểu đoàn cũng bận rộn cho việc băng bó, chăm sóc vết thương cho các anh em thương binh. Ngoài ra, nếu có anh em nào bị thương nặng quá hay tử trận, thì chúng tôi phải gọi trực thăng đến đưa những người này về hậu cứ của tiểu đoàn. Tùy theo hoàn cảnh của mỗi chiến trường, nhưng lúc nào chúng tôi cũng cố gắng tản thương càng sớm càng tốt, để tránh tình trạng vừa đụng trận lại vừa phải bảo vệ những thương binh tại chiến trường.”

“Tại Vùng Tam Biên, toán Quân Y của tôi đi theo bộ chỉ huy của Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, những đại đội của tiểu đoàn thì đóng quân rải rác cách bộ chỉ huy vài cây số, nên thường bị chạm địch, còn bộ chỉ huy thì bị ‘ăn’ pháo của địch nhiều hơn. Địch thường pháo kích vào bộ chỉ huy ban ngày, chớ ít khi chúng pháo vào ban đêm, vì sợ bị lộ điểm bắn. Mỗi ngày, bộ chỉ huy của tiểu đoàn bị chúng pháo ít nhất cũng từ một ngàn quả pháo trở lên. Những buổi sáng sớm khi đang khám bệnh cho các thương binh thì bị Việt Cộng pháo kích, thành ra, chúng tôi vừa khám bệnh và vừa nhảy xuống hầm trú ẩn. Cho đến khi chiều tà, mặt trời vừa tắt nắng thì chúng ngưng pháo,” bác sĩ cho biết thêm.

Cũng trong thời gian này, tại đồi Charlie bị địch quân pháo dữ dội nên Trúng Tá Nguyễn Đình Bảo đã tử trận trong trận này. Lúc đó Bác Sĩ Nhảy Dù Tô Phạm Liệu hành quân tại đồi Charlie, còn Bác Sĩ Cổn hành quân tại đồi thuộc căn cứ Hotel.

Những khi đụng trận lớn thì cấp Lữ Đoàn Nhảy Dù sẽ thành lập một bệnh viện dã chiến tại trung tâm hành quân chiến trường để kịp thời giải quyết quá nhiều những thương binh tại mặt trận, rồi sau đó mới di chuyển họ về những quân y viện lớn tùy theo tình trạng sức khỏe và vết thương của từng người.

Bác sĩ kể thêm: “Tôi đã từng chứng kiến những sự đau lòng là vì có những người lính đã bị thương và chờ đến lúc có trực thăng đáp xuống để được tải thương. Nhưng, hễ địch quân thấy trực thăng vừa đáp xuống thì chúng nó bắn pháo kích vào để diệt trực thăng. Vì thế, có những chiến sĩ bị thương được đưa ra gần đến trực thăng thì lại bị trúng pháo lần nữa, có khi cũng bị mất mạng và những y tá của quân y cũng bị thương. Trên chiến trường, chuyện người lính bị chết hai lần là chuyện có thật, vì khi họ đã hy sinh được quấn poncho để chờ trực thăng xuống đưa xác về, khi trực thăng đáp xuống thì lại bị địch pháo vô nữa, nên có những xác chết phải bị trúng đạn pháo thêm lần nữa, và xác của họ cũng không còn được toàn vẹn khi bị chết lần thứ hai.”

Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù tham chiến trận An Lộc 

Sau đó, Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù theo Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù được lệnh về để giải tỏa An Lộc. Lúc đó Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 là Thiếu Tá La Trinh Tường.

Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù được di tản bằng trực thăng về Biên Hòa trong những chuyến bay đêm. Đến sáng sớm hôm sau, tiểu đoàn được lệnh đóng quân tại Lai Khê chờ lệnh để vào An Lộc. Không bao lâu thì trực thăng đến bốc tiểu đoàn vào Tân Khai, rồi hành quân bằng đường bộ tiến vào An Lộc. Khi đến rừng cao su gần An Lộc, tiểu đoàn nằm ở đây một đêm.

Nguyên tắc hành quân của Nhảy Dù là một tiểu đoàn gồm bốn đại đội, được chia ra gồm hai tiểu đoàn thì với sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng (bộ chỉ huy của tiểu đoàn) và hai đại đôi với sự chỉ huy của tiểu đoàn phó, được chia ra thành hai cánh để hành quân. Toán Quân Y được đi theo cánh của bộ chỉ huy tiểu đoàn.

Trên đường tiến vào An Lộc thì các đại đội đi đầu đã đụng trận với địch quân ngay tại rừng cao su, rồi sau đó, cả tiểu đoàn đều đụng trận với địch quân với nhiều trận đánh rất ác liệt. Đang đụng trận thì Tiểu Đoàn 1 được lệnh rút quân khỏi An Lộc để về giải tỏa Quảng Trị. Tiểu đoàn vừa đánh, vừa rút quân từ từ, và đoàn Quân Y phải đi theo đơn vị cuối cùng trên đường di tản khỏi An Lộc.

Bác Sĩ Cổn kể: “Ra khỏi trận An Lộc, tiểu đoàn được đóng quân tại hai làng Sa Cam, Sa Cảnh để dưỡng quân chờ lệnh. Trong lúc toán quân y đang làm nhiệm vụ với các thương binh thì dân trong làng này lại kéo đến nơi đóng quân của tiểu đoàn để xin được khám bệnh và xin thuốc, vì dân trong làng quá nghèo, thiếu thốn mọi phương tiện về chữa trị bệnh hoạn. Trong số này, lại có một số dân đi làm ở Sài Gòn, Chợ Lớn về thăm quê lại bị kẹt trong trận chiến An Lộc cũng đến xin khám bệnh và thuốc uống. Hơn nữa, có một số dân trong làng, vì sống trong hoàn cảnh chiến tranh nên cũng có một số dân bị những đạn pháo vô tình rơi vào làng của họ và cũng có một số bị thương. Vì ‘tình quân dân như cá với nước,’ nên tôi đã ra lệnh cho toán Quân Y của Nhảy Dù phải thực hiện ngay công tác Dân Sự Vụ này.”

Ông cho biết thêm: “Trong khi làm công tác Dân Sự Vụ tại mặt trận An Lộc thì có một số dân làm việc ở Sài Gòn, Chợ Lớn đến nài nỉ với chúng tôi là xin được theo đoàn quân của Nhảy Dù để cùng về Sài Gòn. Nhưng đây không phải là nhiệm vụ của tôi giải quyết, vì công việc vừa lội bộ di chuyển vừa phải lo khám bệnh cho mấy anh em chiến sĩ nữa, nên tôi cũng không rõ là những người dân này có được về chung với tiểu đoàn hay không.”

Trên đường rút quân về Sài Gòn, Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù cũng đụng vài trận đánh lẻ tẻ với Cộng Quân, và tiểu đoàn phải lội qua suối Tàu Ô mới được đến Sài Gòn để chờ lệnh lên máy bay để về giải tỏa Quảng Trị.

Trận Quảng Trị tổn thất nặng nề 

Dưỡng quân tại Sài Gòn vài ngày thì Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù được lệnh ra Quảng Trị.

Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù đến Quảng Trị một vài ngày thì được lệnh vượt sông Mỹ Chánh đánh vào căn cứ Nancy ở phía Bắc Quảng Trị.
“Trong trận này, buổi chiều trước khi vượt sông Mỹ Chánh, Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Lê Hồng đã họp tất cả đại đội lại và có tôi trong đó, ông cho lệnh là trong đêm, Nhảy Dù sẽ vượt sông Mỹ Chánh để đánh địch quân. Sau khi họp tiểu đoàn về, ông cho tôi biết về tình hình địch, tình hình bạn như thế nào. Tiểu Đoàn Trưởng Lê Hồng nhìn tôi rồi ra lệnh. Tôi còn nhớ câu cuối cùng của ông nói với tôi là: ‘Xin bác sĩ lo giùm vấn đề thuốc men để cấp cứu và những thứ cần thiết về y tế đầy đủ, vì lệnh từ trên xuống cho biết là ước tính trong mặt trận này, sau khi vượt sông Mỹ Chánh, trong vòng 10 ngày đầu thì có thể quân ta bị tổn thất đến 2/3 tiểu đoàn.’ Lúc đó tôi cũng đã lạnh người, vì mình cứ nghĩ rằng, mình sẽ nằm trong 2/3 bị tổn thất đó.”

Khoảng 7 giờ chiều, toán Quân Y đi bằng xe GMC theo tiểu đoàn đến nằm ở một địa điểm trên Quốc Lộ 1. Đến 2 giờ sáng hôm sau thì tiểu đoàn vượt sông Mỹ Chánh đánh vào căn cứ Nancy đã bị Cộng Quân chiếm đóng. Khoảng 8 giờ sáng thì Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù chiến thắng trận đầu tiên này. Nhảy Dù có công lớn trong trận chiến này vì đã đánh tan Cộng Quân tại đây và lấy được hơn 30 Đại Liên Phòng Không 37 ly của địch quân.

Bác sĩ kể tiếp: “Xong trận này, lúc tôi ngồi ăn sáng, hút thuốc lá với tiểu đoàn trưởng và một sĩ quan Ban 3 của tiểu đoàn là Đại Úy Thái Văn Minh. Chúng tôi đang ngồi thì một sĩ quan của Đại Đội 12 đang đóng quân bên ngoài vào báo cáo là họ thấy xe tăng của địch chạy tung bụi mù mịt tiến vào nơi đóng quân của tiểu đoàn. Tuy hơn ‘lạnh cẳng’ vì lần đầu tiên tôi mới biết là sẽ đụng trận với xe tăng của địch. Nhưng tôi vẫn bình tĩnh nói với tiểu đoàn trưởng là: ‘Ban ngày, ban mặt thì sợ gì xe tăng của bọn chúng nó. Xin thiếu tá ra lệnh cho lính bao vây đánh tăng và bắt sống chúng nó. Cho đến bây giờ, không biết lúc đó tại sao tôi lại hăng đến thế.’”

Thiếu Tá Hồng cho lệnh đánh xe tăng địch liền sau đó. Nhưng khi lính đến nơi thì mới phát giác ra là đoàn xe này không phải xe tăng của địch mà là xe quân y của bộ binh VNCH đang di chuyển, vì họ chạy quá nhanh xe tung bụi mù mịt nên từ xa các chiến sĩ Nhảy Dù không nhận rõ được.

Sau đó, Tiểu Đoàn 1 được lệnh lên đánh chiếm ngọn đồi Barbara, nhưng vì ngọn đồi này Cộng Quân với lực lượng quân số quá đông nên Nhảy Dù không thể lên chiếm được trong trận đầu tiên. Và cũng y như lời của tiểu đoàn trưởng, sau trận này, Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù tổn thất từ tử thương cho đến bị thương hết 2/3. Thế nên, Tiểu Đoàn 1 phải rút ra ngoài để Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù lên thay thế đánh tiếp tục.

Lâm Hoài Thạch
Nguồn: Người Việt

‘Người con gái Việt-Mỹ’ tìm được mẹ ruột sau 45 năm lưu lạc khi mới lọt lòng

http://www.nguoi-viet.com

May 26, 2023

Đằng-Giao/Người Việt

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

GARDEN GROVE, California (NV) – Chín năm trước, vào một ngày của năm 2014, bà Alice Lê, người mang hai dòng máu Việt-Mỹ, chủ tiệm nail ở Garden Grove, tìm được người mẹ ruột ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, sau 45 năm lưu lạc khi mới lọt lòng chỉ được một ngày.

Bà Alice Lê (giữa) ôm mẹ khi cùng chồng về thăm Quy Nhơn, Tháng Tư, 2023. (Hình: Alice Lê cung cấp)

Chín năm sau, một ngày giữa Tháng Năm, 2023, bà Alice Lê kể lại chuyện tìm mẹ với báo Người Việt, như “một kết thúc có hậu” của đời mình.

Bà Alice Lê, tên thật là Lệ, nhưng khi sang Mỹ bà chọn tên Alice, nhìn bề ngoài là một phụ nữ Mỹ da trắng. Nhưng trò chuyện mới biết, bà mang tâm hồn vô cùng bao dung và vị tha, hoàn toàn theo lối Việt Nam.

“Vì từ nhỏ, tôi đã mê phim ‘Alice in Wonderland’ rồi,” bà giải thích. “Và tên Lệ nghe buồn quá.”

Khuôn mặt phúc hậu, nụ cười hồn nhiên, không một chút “hận đời,” bà Alice ôn lại câu chuyện nổi trôi đời mình trong xúc động.

Mới lọt lòng đã bị đem đi cho người khác

“Mẹ sinh ra tôi năm 1969 ở Cát Tiến, thành phố Quy Nhơn, nay thuộc tỉnh Bình Định. Năm đó mẹ tôi chỉ mới 15 tuổi và bà buộc lòng phải để người nhà đem tôi đi cho người khác lúc tôi mới ra đời có một ngày,” bà Alice kể.

Nguyên nhân của sự việc đau lòng này, theo bà Alice, là mẹ của bà sinh ra trong gia đình rất nghèo nên từ ngày còn bé phải đi ở với hết gia đình này đến gia đình khác.

Một lần tình cờ, mẹ bà gặp cha bà tại một quán nước của một người thân. Cha bà không là quân nhân mà là một kỹ sư Mỹ sang Việt Nam làm việc cho một hãng xây dựng và ở ngay cạnh quán nước này.

“Hai người quen nhau mau chóng dù mẹ tôi không biết tiếng Anh và cha tôi không biết tiếng Việt,” bà Alice nói. “Có lẽ là tình cảm có ngôn ngữ riêng.”

Khi cô bé 15 tuổi mang thai, cô không mảy may hay biết và cũng không ai biết gì cả. Vì vậy, người anh trai vô tình gả cô cho một người đàn ông khác.

Bé Lệ thời thơ ấu luôn quấn quít bên má Sáu Lê. (Hình: Alice Lê cung cấp)

“Họa trung hữu phúc”

Đến khi sự việc vỡ lở, người chồng mới cưới đành nuốt giận đem vợ đi sinh.

Trong khi chờ đợi, gia đình người chồng có việc nên anh phải về gấp.

Khi đứa bé ra đời, mọi người thấy bé “lai” quá nên xúi người mẹ 15 tuổi đem cho trước khi người chồng quay lại vì anh sẽ giận dữ hơn nếu biết cô sinh “con lai.”

Còn quá hoang mang và mệt mỏi, người mẹ quá trẻ này buông xuôi cứ để ai muốn làm gì thì làm.

Cô Hai, em gái của người chồng, bế bé gái mới sinh một ngày lên thị xã Quy Nhơn cho một người tên là cô Năm.

Cô Năm thấy đứa bé sơ sinh quá kháu khỉnh, dễ thương nhưng lại nuôi không được nên đem cho cô Sáu Lê, một người đã lập gia đình và có hai con.

“Tôi gọi người đẻ ra tôi là ‘mẹ’ và má Sáu Lê là ‘má,’” bà Alice phân biệt.

Mái ấm thời thơ ấu

Có lẽ do duyên số mà cô Sáu Lê, đem lòng quyến luyến đứa bé dù chồng cô hết mực cản ngăn.

Bà Alice nói: “Tôi nghe kể là ba tôi không muốn má tôi nhận tôi vì sợ má tôi cực. Ông nói, ‘Nhà có hai mặt con mà bà còn nhận thêm con nuôi làm cái gì.’ Nhưng má tôi cương quyết nuôi tôi.”

Thế là bé Lệ sống với ba má và anh chị.

Kể từ ngày đó, số phận cô Sáu Lê và bé Lệ quyện chặt vào nhau.

“Gia đình tôi thương nhau lắm và cả đời tôi, không ai chọc ghẹo hay bêu rếu tôi hết. Ai cũng coi tôi như người nhà và tới khi hơn 10 tuổi, tôi vẫn nghĩ tôi là con ruột trong gia đình,” bà Alice hồi tưởng.

Thỉnh thoảng, trẻ con lối xóm gọi bé Lệ là ‘Mỹ lai.”

Trong trí óc non nớt, bé Lệ chỉ mơ hồ hiểu rằng Mỹ là người da trắng đến đánh người Việt nhưng cô không hiểu vì sao người ta lại gọi mình như vây.

Cô chỉ biết “Mỹ lai” là một cái gì không hay.

“Tôi rất ghét những người gọi tôi như vậy thôi. Trong đầu tôi, tôi là con ruột của ba má, là em ruột của anh Tâm, chị Vân tôi,” bà Alice kể.

Cuộc đời cứ tưởng vậy sẽ bình lặng trôi đi.

Bé Lệ (trái) được đối xử như người ruột thịt trong gia đình má Sáu Lê. (Hình: Alice Lê cung cấp)

Vào Sài Gòn…

Nhưng biến cố 30 Tháng Tư, 1975 đã khiến gia đình có một đứa con “lai Mỹ” như cô không thể bình yên mà sống ở Quy Nhơn.

Công an phường khóm thường lùng sục tìm kiếm những đứa con lai.

Bà Alice nói: “Mấy lần, má tôi đã bỏ tôi vô trong cái bể hứng nước mưa, lấy tôn cũ che kín rồi biểu tôi phải đứng im trong đó vì Việt Cộng đi lùng soát. Má nói, ‘Đứng im trong này. Nó mà bắt là mày chết đó con. Tôi phải đứng trong cái bể tối thui từ sáng tới tối luôn. Lúc đó tôi rất sợ và không biết vì sao mình phải trốn như vậy.”

Nước ngập tới đầu gối, bé Lệ lúc đứng, lúc ngồi trong bể nước cho đến khi má cô cho ra.

Bà kể: “Tới giờ thì má đưa cơm cho tôi ăn. Tôi sợ lắm nhưng chỉ ở trong bể đợi má tôi thôi.”

Năm 1978, cô Sáu Lê gởi hai con ruột là Tâm và Vân cho bà ngoại rồi cùng chồng đưa bé Lệ, lúc đó 9 tuổi, vô Sài Gòn.

“Như đã nói, từ ngày nuôi tôi, má tôi không hề rời tôi nửa bước,” bà Alice nhấn mạnh.

Ba cô định vượt biên rồi bảo lãnh cho mọi người nhưng lại bị bắt tù cả năm. Tất cả vốn liếng đem vô từ Quy Nhơn chỉ còn vừa đủ để mua một rẻo đất ở Thanh Đa sống lây lất chờ thời.

Qua Mỹ, miền đất mới

Năm 1990, gia đình cùng cô Lệ, khi đó 21 tuổi, được qua Mỹ theo diện con lai.

Đến Manila, Philippines, trại chuyển tiếp trước khi sang Mỹ, lần đầu tiên trong đời cô Lệ mới gặp nhiều người lai Mỹ như mình.

“Tôi không bao giờ quên được thời gian ở Manila. Cực lắm. Nhưng cũng có nhiều niềm vui và kỷ niệm khó quên.”

“Sau bảy tháng 10 ngày, chúng tôi được ‘sponsor’ (bảo lãnh) qua tiểu bang South Dakota. Sống ở đó được hai tháng, vì lạnh quá, ba má tôi quyết định về California theo lời khuyên một người bạn ba tôi,” bà Alice nói.

Tại California, trong một tiệc cưới, bà gặp một người mà sau này bà lấy làm chồng.

Bà kể: “Lần đó tôi định không đi dự tiệc vì không có quần áo. Nhưng anh người quen rất sốt sắng, mượn quần áo của em anh cho tôi mặc. Thấy anh thật lòng như vậy, tôi mới đi.”

“Anh là một người đàn ông dễ mến, nhưng lại ở Canada nên ban đầu chuyện tưởng không đi đến đâu.”

Trong thời gian đầu cư ngụ ở vùng Little Saigon, bà Alice làm ở quán cà phê.

“Tôi làm ở cà phê Tao Nhân một thời gian và được chị chủ giúp đỡ rất nhiều,” bà kể. “Chị cho tôi làm sớm để bấm giờ cho có đủ tiền và có thời gian đi học nghề nail.”

Năm 1992, bà bằng lòng qua Canada lấy chồng.

Bà kể: “Anh ấy người Việt Nam và rất đàng hoàng, ăn ở có trước có sau. Tôi sanh đứa con đầu lòng ở bên đó.”

Cô Alice Lê (trái) và ba má nuôi ngày mới sang định cư tại California. (Hình: Alice Lê cung cấp)

Tình thương và trách nhiệm

Nhưng một lần về Little Saigon thăm ba má, bà Alice muốn ở lại vì thấy hoàn cảnh của song thân quá đáng thương.

Hai ông bà phải làm ở “shop may” kiếm sống. Ở tuổi lỡ cỡ không trẻ, không già, họ chỉ biết ủi đồ, cắt chỉ mà thôi.

Vì không đủ ăn nên hai người phải kiếm thêm tiền bằng cách khác.

“Thấy ba má tôi phải lụi cụi đi lượm vỏ chai và báo cũ đi bán, tôi không đành lòng quay lại Canada. Tôi cũng phụ họ lượm ve chai kiếm sống,” bà kể. “Tôi gọi điện thoại báo chồng tôi và ở đây luôn.”

Nhưng người cha không bằng lòng cho bà Alice ở lại Mỹ.

Bà kể: “Ba tôi nói mình xin phép người ta qua đây thăm ba má mà ở lại luôn là nói láo. Mình làm vậy thì người ta nói ba má không biết dạy con.”

Nghe lời ba, bà Alice quay lại Canada với chồng nhưng lúc nào cũng canh cánh nghĩ tới ba má. Thấy bà quá nặng lòng đối với cha mẹ, chồng bà quyết định đưa vợ qua Mỹ sống.

Từ nhỏ, bà Alice được uốn nắn theo quan niệm nhân, nghĩa, trí, lễ, tín theo truyền thống Đông phương nên suy nghĩ và cách cư xử của bà mang đậm nét Việt Nam.

“Hồi tôi còn nhỏ, má tôi không rời tôi nửa bước thì khi lớn lên, tôi lúc nào cũng gắn bó với bà,” bà Alice nói.

Bà kể: “Tôi hay bồng má đi tắm và có lần má đi tiêu trên tay tôi. Lần đó má tát nhẹ lên mặt tôi và hỏi, ‘Sao mày không sợ dơ hả con?’ Tôi cười, ‘Hồi xưa má lo cho con thì má có sợ dơ không? Con là con của má mà.’”

Thấy Alice hay ôm hôn mình chùn chụt, bà Sáu Lê cứ sợ con ruột ghen với em. Nhưng bà Alice không thể thay đổi cách thể hiện tình thương của mình đối với má được. Năm 1998, Alice có bằng nail và trải qua biết bao khó nhọc, mấy năm sau, bà mới mở tiệm tại Garden Grove.

Bà Alice (phải) đến thăm thân nhân ở Quy Nhơn. (Hình: Alice Lê cung cấp)

Tìm về quê mẹ

Khi công việc làm ăn ổn định, cũng là lúc bà Alice dốc lòng đi tìm người mẹ ruột.

“Từ năm 2004 tôi nhờ hết người này đến người kia ở Quy Nhơn tìm kiếm mẹ tôi.”

Bà kể: “Mấu chốt đầu tiên là tôi liên lạc với cô Năm là người nhận tôi rồi đem tôi cho má Sáu Lê. Cô Năm cần gì là tôi giúp liền, tốn bao nhiêu tiền bạc, vậy mà tới năm 2014 tôi mới gặp được mẹ tôi qua sự giúp đỡ của chị Khanh, một người chị bạn dì của tôi.”

Bà tiếp: “Tôi được biết sau khi cho tôi, mẹ tôi đã nhiều lần lặn lội đi tìm tôi mà không được.”

“Tôi không hề oán hận mẹ tôi. Bà gặp hoàn cảnh khó khăn khi còn quá trẻ nên phải như vậy thôi. Bà còn biết làm gì hơn,” bà Alice cho hay. “Tôi vui là mẹ tôi là người rất hiền lành. Hiền lắm.”

Từ ngày liên lạc được với mẹ ruột, bà Alice xây nhà khang trang cho mẹ và thăm hỏi mẹ thường xuyên.

Lần gần đây nhất bà Alice gặp lại mẹ là Tháng Tư, 2023.

Bà Alice chưa có dịp nằm với mẹ ruột một đêm để nghe hết tâm sự của bà, năm nay gần 70 tuổi.

“Tôi không dám nghe tâm sự của mẹ vì sợ chồng bà nổi cơn ghen tức rồi hành hạ bà,” bà Alice nói.

Đó cũng là lý do mà bà Alice không tiện kể tên mẹ ruột của mình. “Kệ, chuyện qua rồi…”

Thương mẹ thì thương lắm nhưng bà Alice vẫn không quên má mình.

Bà Sáu Lê qua đời năm 2020 trước đại dịch COVID-19 và an nghỉ tại nghĩa trang Westminster Memorial Park, vùng Little Saigon.

Ông chồng của bà Sáu Lê qua đời năm 2006 tại Quy Nhơn, Việt Nam. Hai người con của bà Sáu Lê, con trai ở Mỹ, còn con gái ở Việt Nam.

Cô bé Lệ ngày xưa hiện đang sống tại thành phố Anaheim Hills, với chồng là ông Nguyễn Thanh Đạm và hai con gái là Thanh Anh Nguyễn và Ngọc Quyên Nguyễn.

“Đứa út của tôi sắp lấy chồng rồi,” bà Alice hạnh phúc nói. “Chồng sắp cưới của nó người Mỹ mà rất Việt Nam, tự động tới tiệm tôi xin phép tôi trước rồi tìm chồng tôi xin phép được lấy con gái tôi.”

Cả cuộc đời, bà Alice luôn sống theo quan niệm của người Việt đúc kết từ xa xưa.

Bà nói: “Tôi tin rằng mình cứ sống tử tế với mọi người thì chuyện tốt sẽ tự nhiên tới với mình. Cứ rộng rãi. Của cho đi không bao giờ mất!” (Đằng-Giao) [kn]

—–
Liên lạc tác giả: ngo.giao@nguoi-viet.com

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

August 26th, 2021

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

(Kỳ 27)

Đêm 12 rạng 13 tháng 11-1942 đi vào lịch sử như một trận đấu hỗn loạn ngay trước bờ biển Guadalcanal. Vì cả hai phía Mỹ-Nhật đều vỡ nát đội hình và mạnh ai nấy bắn trong tầm vài ngàn thước. Ở khoảng cách này, với các chiến hạm nhiều ngàn tấn là một cận chiến tương đương với xáp lá cà của bộ binh. Trung tá Hara lập chiến công đánh đắm hai tàu Mỹ và gây hư hại nặng cho soái hạm San Francisco. Theo Craig Symonds trong tập WWII at Sea: A Global History, nguyên nhân thua trận của Task Force 67 là vì Đề đốc Daniel J. Callaghan đã không tin vào radar là một khí tài hãy còn quá mới đối với ông, nên đã không ra lệnh khai hỏa mặc dù radar Mỹ phát hiện ra hạm đội Nhật trước tiên. Sau đó là kỹ năng đánh đêm vượt trội của thủy thủ Nhật. Cả hai Đề đốc Norman Scott và Callaghan trả giá bằng chính mạng sống của họ, cùng tử thương trong đêm mà Symonds ví với “một trận ấu đả trong một quán bar tắt hết đèn đuốc…” [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 27

Mưa bão chấm dứt lúc 22g40, hơn 30 phút kể từ khi chúng tôi bắt đầu xoay hướng. Ðề đốc Abê lại ra lệnh xoay thêm 180 độ nữa, tức xoay mũi các chiến hạm trở lại phía đảo Guadalcanal. Tôi độ chừng Abê bây giờ sẽ lập một đội hình duy nhất. Ðội hình phức tạp chỉ thuận lợi để chống lại các cuộc tấn công của các ngư lôi đĩnh nhỏ, nhưng nếu đụng độ quy mô, chúng tôi sẽ lâm vào rối loạn ngay.

Abê, với tính cẩn thận cố hữu, cương quyết giữ đội hình cũ. Lần đầu tiên tôi nghi ngờ sự khôn khéo của ông. Lúc chiến đấu mà nghi ngờ khả năng của thượng cấp là không tốt. Nhưng tôi không thể nào cho rằng việc giữ đội hình cũ là thích hợp một khi soái hạm Hiei đã dùng tần số vô tuyến trung bình để liên lạc. Ðịch chắc chắn đã xác định được tọa độ của chúng tôi và sẵn sàng đánh.

“Ðảo nhỏ! 60 độ! Tả mạn!” Tiếng la của một quan sát viên chấm dứt dòng tư tưởng của tôi. Sau đó, nhiều tiếng la cùng lúc: “Núi cao án trước mặt!”

Tôi day ngay sang trái, nhìn thấy dáng đen sậm của đảo Savo thấp thoáng trong bóng đêm. Phía trước tàu của tôi là dãy núi Guadalcanal cao chớn chở, đỉnh lẩn khuất trong mây. Tôi linh tính cuộc đụng độ sắp xảy ra. Hít một hơi dài không khí kích thích của đêm, tôi ra lệnh: “Chuẩn bị trọng pháo và ngư lôi hữu mạn. Tầm 3,000m. Góc phóng 15 độ.”

Im lặng trở lại trên sàn tàu sau khi mọi người vào vị trí chiến đấu. Trên soái hạm, Abê đang cắm cúi với các báo cáo. Thủy phi cơ quan sát cất cánh từ Bougainville cho biết mưa vừa dứt ở Guadalcanal và không còn thấy một chiến hạm địch nào gần đảo Lunga. Năm mươi phút sau khi chúng tôi xoay hướng lần thứ hai, hạm đội chỉ còn cách bờ biển Guadalcanal 12 dặm. Abê vẫn chưa quyết định, chỉ ra một lệnh do dự: “Hiei và Kirishima chuẩn bị loại đạn số 3 cho các pháo khẩu chính.” Ðây là loại đạn lửa, nặng một tấn, mang khối lượng chất nổ mạnh bằng nhiều mươi trái bom.

23g42, khu trục hạm Yudachi báo cáo: “Nhìn thấy địch!”

Abê hét: “Phía nào, bao xa? Vị trí Yudachi?”

Abê dứt cơn thịnh nộ khi quan sát viên của Hiei đứng trên tháp cao la to: “Bốn điểm đen phía trước!  Giống các chiến hạm… 5 độ hữu mạn, cách 8,000m! …không chắc… nhìn không rõ.”

Abê xụ mặt: “Yudachi đang chếch phía phải chúng ta 10,000m. Hỏi lại quan sát viên điểm đen bao xa.”

Trung tá Masakane Suzuki, Tham mưu trưởng của Abê bước ra và lớn tiếng: “Có đúng 8,000m không? Phải xác định!”

“Có lẽ 9,000m …thưa Trung tá.”

Chúng tôi nghe các lịnh lạc qua máy chuyển âm. Giọng Ðề đốc Abê đứt quãng: “Lệnh cho Hiei và Kirishima thay tất cả đạn lửa bằng đạn xuyên phá và xoay hết pháo khẩu về phía trước.” Abê lặng trên ghế, đầy phân vân. Ðáng lẽ ông phải lệnh cho 2 thiết giáp hạm xoay mũi lùi về phía sau trong lúc thay đạn khác, nhưng ông cân nhắc, và cuối cùng không đưa ra lệnh này.

Trên sàn của 2 thiết giáp hạm bỗng hoang vắng. Hầu hết mọi người đều phải bỏ vị trí để tiếp tay mang loại đạn xuyên phá từ dưới hầm sâu lên thay thế đạn lửa. Trong lúc đó loại đạn lửa vĩ đại vẫn còn chất đống như núi trên sàn tàu. Tình thế này, ở tầm 9,000m, hai chiếc Hiei và Kirishima sẽ bị bắn trúng dễ dàng và thành hộp diêm khổng lồ.

Các sỹ quan truyền tin của Hiei bận rộn liên tục. Tần số ngắn và trung bình được tận dụng để loan báo diễn tiến của địch. Vấn đề an ninh truyền tin không còn được lưu ý nữa. Các quan sát viên của tôi vẫn chưa nhìn thấy một tàu nào của địch nên tỏ vẻ sốt ruột. Tôi quát lớn: “Không thấy thì có sao? Chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ, chỉ chờ địch đến cách dưới 3,000m là ra tay.”

Một việc lạ lùng là đã 8 phút trôi qua nhưng địch không bắn một quả đạn nào. Tốc độ di chuyển của hai hạm đội Mỹ-Nhựt là 40 hải lý, như vậy có nghĩa là cứ mỗi một phút tiến gần nhau 1,200m. Khác biệt làm sao so với thủy chiến Java, cả hai phía đã khai hỏa ngay khi còn cách xa 25,000m.

Trên hai chiếc Hiei và Kirishima, mọi người đã trở lại vị trí. Ðạn lửa đã được cất đi và các pháo khẩu nạp đạn xuyên phá.

Tại sao địch cho chúng tôi 8 phút để hoàn tất việc thay đạn? Không làm sao giải thích, cho dù tôi đã đọc nhiều tài liệu sau chiến tranh. Không còn ai đủ thẩm quyền để dọ hỏi, bởi vì hầu hết sỹ quan cao cấp Mỹ tham dự trận đánh đều thiệt mạng. Những giả thuyết tôi đọc qua đều căn cứ trên từng câu chuyện rời rạc, trái ngược nhau, do những kẻ sống sót kể lại. Tuy nhiên, theo tìm hiểu riêng của tôi, địch sở dĩ không khai hỏa trong suốt 8 phút khủng hoảng của chúng tôi là do thế trận đã dàn ra không thích hợp, và thêm vấn đề chỉ huy phức tạp của họ.

23g41, khi khu trục hạm Yudachi báo cáo phát hiện địch, tàu địch đang tiến đến trong đội hình hàng dọc duy nhất, nhằm chống lại đội hình phân tán của chúng tôi. Với đội hình như vậy, chỉ có một chiếc tàu dẫn đầu của địch mới có thể khai hỏa được mà thôi. Nhưng điều khó giải thích là tại sao những chiếc tàu khác không rẽ sang phải để xoay tất cả các họng súng của họ về hướng chúng tôi? Tại sao họ không chọn phương thế khác, chẳng hạn như tiến từ bờ biển ra để đánh vào hữu mạn chúng tôi? Những câu hỏi  này vẫn luôn ám ảnh tôi.

Trong trận đánh này còn nhiều bất thường khác. Một trong những điều này là hoạt động của khu trục hạm Yudachi, hạm trưởng là Trung tá Kiyoshi Kikkawa, một bạn thiết của tôi. Sau trận đánh, Kikkawa đã giải thích: “Lỗi lầm của tôi là quá cẩn thận. Tôi từng tham dự trận đánh ở biển Bali trước đó. Trong trận này, khu trục hạm Mitsushio của tôi bị trúng ngư lôi vào cạnh sườn và thiệt hại khá nặng, giữa lúc tôi đang điều khiển hỏa lực của chiếc tàu ngắm vào mục tiêu ở hướng khác. Là bài học đắt giá cho tôi.”

“Ngày 12 tháng 11 tại Guadalcanal, chiếc Yudachi của tôi cùng với chiếc Harusame đang đi tìm 3 khu trục hạm khác cùng nhóm thất lạc. Trong cuộc tìm kiếm này, chúng tôi không ngờ rằng đội hình phức tạp trước đây đã xoay hai lần 180 độ khiến cho 3 chiếc tàu cùng nhóm với chúng tôi đã tụt lại phía sau, thay vì ở vị trí tiền đội như khởi thủy.”

“Tôi kinh ngạc khi nhìn thấy một khu trục hạm địch từ bóng tối nhô ra thình lình, và sắp đánh vào cạnh sườn chiếc Yudachi. Thảm họa Bali chợt hiện lên. Tôi không chống trả kịp thời, vì hỏa lực không nằm trong tình trạng sẵn sàng. Tôi quyết định quay tàu bỏ chạy và thông báo về soái hạm, nhưng không thể nào định vị tàu địch, bởi vì tôi không biết chính tàu tôi hiện đang ở đâu.”

“Tôi chạy vài phút thì địch khai hỏa. Tôi lâm vào tình cảnh bối rối và hổ thẹn, vì lúc đó thủy thủ đoàn đã giận sôi lên, lý do là tôi không cho họ thử sức với địch. Tôi quyết định quày tàu và hướng thẳng tới đoàn tàu địch. Từ lúc đó, Yudachi tử chiến cho tới lúc bị đánh chìm.”

“Trong thời gian Yudachi đơn độc đối đầu với địch, chiếc Harusame cùng đi chung đã trở về kết hợp với tuần dương hạm Nagara.” Kikkawa tiếp, “Hiển nhiên là chiếc tàu này lạc dấu chúng tôi trong đêm tối, vì lúc đó chiếc Yudachi đã chạy với tốc lực tối đa 35 hải lý.”

Không chỉ có các đơn vị tiền phương tan vỡ đội hình mà cả thành phần chính cũng không tránh khỏi. Bảy tiếng đồng hồ chạy như đui mù, và qua hai lần xoay hướng 180 độ, cho dù đội hình nào đi nữa cũng phải tan vỡ huống chi là đội hình phức tạp của Abê.

23g50, soái hạm Hiei sử dụng đèn rọi và nhận thấy tuần dương hạm Nagara chạy cách phía trước không đầy 2,000m. Chiếc tuần dương hạm này tiếp tục chạy khoảng 5,000m nữa rồi đổi hướng sang trái để chạy phía trước khu trục hạm Yukikaze và kế đó khoảng 2,000m là chiếc Amatsukaze của tôi. Khi đèn rọi của soái hạm Hiei phát hiện tuần dương hạm Atlanta của Hoa Kỳ, cách xa chừng 5,000m, tàu địch lập tức khai hỏa, nhưng vì nhắm vội vã nên tất cả 12 quả đạn 127 ly rớt nổ cách soái hạm Hiei đến 2,000m.

Ba mươi giây sau khi vung về tả mạn, soái hạm Hiei khai hỏa một lượt tám khẩu 356 ly. Với mục tiêu ở tầm 5,000m, loại đại pháo này bắn không thể trật. Tất cả các quả đạn một tấn bắn ra đều trúng chiếc Atlanta. Ðề đốc Hoa Kỳ Norman Scott với các sỹ quan đứng trên đài chỉ huy chết ngay tức khắc. Như vậy là Abê đã phục thù cho Ðề đốc Goto, là cố tri của ông. Ðây là một trong những cuộc pháo kích – hạm đối hạm – chính xác nhất trong toàn thể mặt trận Thái Bình Dương.

Nhưng Hiei trả giá cao cho việc dùng đèn rọi của mình. 4 khu trục hạm Mỹ chạy phía trước tuần dương hạm Atlanta đã tập trung hỏa lực vào soái hạm Nhựt ở khoảng cách từ vài trăm đến 2,000m. Khu trục hạm Cushing dẫn đầu đã rót nhiều loạt hải pháo và mưa đại liên lên đài chỉ huy của Abê. Tuy nhiên, pháo thủ địch quá tệ khiến tất cả đạn của họ đều vung vẩy chung quanh chiếc Amatsukaze của tôi. Quang cảnh lặp đi lặp lại nhiều lần, và tôi như kẻ đứng trước tấm màn lửa. Cũng may, không viên đạn nào trúng tàu của tôi.

Tiếp theo đó, khu trục hạm Cushing đã phóng 6 quả ngư lôi vào soái hạm Hiei, nhưng không quả nào trúng đích. Tôi hét lớn: “Xả hết tốc lực! Xoay về trái, rời địa ngục lập tức!”

Chiếc Amatsuzake nhanh chóng tách rời khỏi soái hạm Hiei, kế đó là khu trục hạm Yukikaze, và cả hai chạy vượt qua tuần dương hạm Nagara. Tôi nhìn thấy một số chiến hạm địch như hồn ma bóng quế chập chờn dọc theo bờ biển Guadalcanal ở phía phải. Tôi ra lệnh: “Xoay hẳn về hữu mạn! Tốc độ chiến đấu!”

Tôi quyết định tung một cú chớp nhoáng vào địch quân trước khi tiến đến khu vực giao tranh. Nhưng hình bóng chập chờn của các chiến hạm địch biến mất. Tôi mở bét mắt nhìn đăm đăm phía trước mặt. 3 khu trục hạm Nhựt thình lình từ cạnh sườn phía phải của soái hạm Hiei chạy ra án ngang tầm súng của tôi.

Ý định của tôi hết hy vọng tiếp tục, tôi quay nhìn chiếc Hiei. Nó đang bốc cháy. Khu trục hạm USS Laffey của Hoa Kỳ đã lập thành tích này. 3 khu trục hạm của chúng tôi chạy về phía trái, hiển nhiên là để bao che mặt sau của chiếc Hiei. Ðó là 3 khu trục hạm Akatsuki, Inazuma và Ikazuchi, mới hơn những chiếc tàu khác và nhanh hơn chiếc Amatsuzake của tôi. Tôi cho tàu chạy theo sau 3 chiếc tàu bạn này. Bất ngờ 2 trái chiếu sáng vượt lên không và tỏa rộng phía trước. Sau đó, tôi biết được 2 quả pháo sáng đó do tuần dương hạm Nagara của Ðề đốc Kimura phóng lên.

Năm hoặc sáu chiến hạm địch chạy theo đội hình hàng dọc lộ hẳn trên đại dương. Chiếc tàu địch gần nhất, chạy song song với chiếc tàu của tôi, cách 5,000m. Tim tôi đập rộn. Ðây là dịp may để chứng minh lý thuyết phóng ngư lôi của tôi. Mặc dù được Hải quân Hoàng gia chấp nhận, nhưng lý thuyết này vẫn chưa chứng minh cụ thể với một mục tiêu thực sự.

Ðại úy Masatoshi Miyoshi, sỹ quan ngư lôi trưởng của tôi, không còn kiên nhẫn được nữa: “Cho mấy con cá thoát ra, thưa Trung tá.”

“Chuẩn bị đi,” tôi đáp và ra lệnh: “Mục tiêu di động hữu mạn 30 độ. Giác độ phóng 15 độ. Xoay tàu phía phải. Áp sát bằng đường lượn cong.”

Lệnh của tôi lập tức được thi hành. Cả hai chiếc tàu, địch và của tôi cùng tiến đến có vận tốc chung lên đến 69 hải lý, nên khoảng cách thâu hẹp trong nháy mắt. Ðại úy Miyoshi liếc nhìn tôi lo ngại, tôi tảng lờ đi. Ðiều lấy làm lạ là địch không khai hỏa. Nhưng nếu họ có khai hỏa đi chăng nữa thì cũng không thể nào trúng được chiếc tàu đang chạy theo hình vòng cung của tôi, cho dù khoảng cách giữa đôi bên chỉ 3,000m. “Ngư lôi! Sẵn sàng! … Phóng!” Tôi hét lên.

8 con cá lớn vọt ra, lao trầm ngay xuống nước và nhanh như cắt lướt đến mục tiêu. Tôi hồi hộp theo dõi. Lúc đó là 23g54 phút. Trên đài chỉ huy từng luồng gió quất phần phật mạnh như những cái tát, và tàu chạy mau tung đầy bọt sóng lên mình chúng tôi. Khi chiếc tàu xoay về phía trái và giảm tốc độ, 2 quả pháo sáng nữa được bắn lên trời, soi rõ hình dáng 4 khu trục hạm đang chạy hàng dọc của địch. Khoảng cách giữa tàu chúng tôi với tàu địch chừng vài trăm mét. Ngay lúc ấy, khu trục hạm Yudachi xuất hiện, các họng súng đều rực lửa, đâm ngang vào phần trước của đoàn tàu Hoa Kỳ. Chiếc tàu địch, bị Yudachi chạy đâm thẳng vào là chiếc USS Aaron Ward, đã xoay như chớp để tránh né.

Chiếc tàu thứ hai, USS Barton, giảm ngay tốc độ vị sợ đụng chiếc Aaron Ward. Ngay lúc đó, hai phút sau khi các ngư lôi của tôi phóng ra, hai cột lửa lớn tung phụt lên trên không. Giống hai cột thu lôi lóe rực với hai tiếng nổ rền làm rung chuyển mặt biển. Chiếc Barton trúng ngư lôi! Diễn biến nhanh đến nỗi mắt tôi nhìn thấy nhưng vẫn hồ nghi. Chiếc Barton bị cắt ra làm đôi, biến dạng vào làn nước trong chớp mắt.

Tôi thở phào. Một cuộc hủy diệt thật ngoạn mục. Thủy thủ đoàn của tôi reo hò ầm ĩ. Nhưng tôi không để ý đến. Mục tiêu bị hạ đối với tôi là chuyện hiển nhiên. Cảm giác của riêng tôi là sự hài lòng hơn là vui mừng ồn ào. Ðây là lần đầu tiên lý thuyết phóng ngư lôi của tôi được áp dụng ngay trong cuộc chiến, và bây giờ không còn một chút ngờ vực nào về sự chính xác nữa.

Các trái sáng rơi thấp dần rồi tắt hẳn. Trong màn đêm vừa phủ lại, chiếc Amatsukaze chấm dứt hình vòng cung và xoay mũi chạy trở về hướng Tây. Tôi nhìn thấy chiếc Hiei chập chờn lửa. Tàu của tôi tiến thẳng đến. Một vài phút sau, tôi phát hiện những tia sáng thoạt ẩn thoạt hiện trong đêm tối, ở mạn trái của chiếc tàu là do ánh lửa phản chiếu vào một thân tàu sơn bóng với bốn cột. Nhứt định là tàu địch, có thể là một tuần dương hạm. Tôi ra lệnh: “Ngư lôi sẵn sàng! 70 độ tả mạn!”

“Ngư lôi sẵn sàng! Thưa Trung tá!” Ðại úy Miyoshi đáp, như một anh học trò trả lời với thầy giáo, trong giọng nói không còn dấu hiệu nào cho thấy anh ta mất tin tưởng như trước đó. “Xong rồi thì chờ đó. Mục tiêu đang di động phía trước. Dễ ăn… hơn mục tiêu vừa rồi. Miyoshi, lần này chỉ cần 4 trái thôi, 8 trái sẽ phí đi.”

Tôi nhìn mục tiêu đang lướt tới, chiếc Amatsukaze đánh đường cong theo đúng lý thuyết của tôi. Khi đỉnh vòng cong hyperbole vừa chạm, tôi la lớn: “Chú ý! Ngư lôi… Phóng!”

Trong khoảng lặng như tờ, của mặt sóng nhấp nhô, 4 con cá thoát ra khỏi ống vào lúc 23g59, chúng lao tụt xuống biển rồi xé nước như tên bắn. Ðêm tối khiến sau vài mươi thước tôi không còn trông thấy gì nữa. Ba phút, lâu bằng thế kỷ, rồi bốn mươi giây sau.. một cột lửa đỏ ối vĩ đại từ mục tiêu phụt lên trên nền biển. Cả một khoảng trời đỏ lựng. Nạn nhân là tuần dương hạm USS Juneau hiện đại của Hoa Kỳ, hạ thủy tháng 10-1941 ngay trước chiến tranh, nặng 8,470 tấn và trang bị 8 ụ pháo 127 ly nòng đôi, từng đấu súng với chiếc Yudachi. Thủy thủ đoàn của tôi cất tiếng reo vang dậy. “Hoan hô hạm trưởng!” Họ hò reo khắp tàu. Nhưng tôi không kịp mãn nguyện, Ðại úy Shimizu, sỹ quan pháo thuật, muốn pháo nhồi lên mục tiêu để dứt điểm luôn. Tôi nói: “Thôi, Shimizu, hãy để cho chiếc Yudachi làm việc này. Ðừng bồn chồn. Chúng ta còn nhiều mục tiêu khác nữa. Pháo của chúng ta lên tiếng chẳng khác nào chỉ điểm vị trí của chúng ta cho địch.”

Amatsukaze chạy thẳng về phía trước. Trong lúc đó, các cuộc quần thảo dữ dội đang tiếp diễn tại những nơi khác. Ðêm tối nhưng lửa phựt lên từng lúc và tiếng đại bác rầm rầm như sấm sét không dứt. Sau này, hạm phó của Hiei, Trung tá Hideo Sekino có kể lại với tôi các chi tiết liên quan đến cuộc chiến đấu của soái hạm này. Theo đó, khu trục hạm Cushing sau khi tấn công Hiei, đã nhận lãnh hỏa lực phục thù của khu trục hạm Terutsuki. Chiếc Terutsuki tiến lên từ mạn trái của chiếc Hiei, rọi đèn pha thẳng vào chiếc Cushing, và dứt điểm mục tiêu bằng một loạt pháo trực xạ.

Khu trục hạm thứ nhì của Hoa Kỳ là chiếc Laffey (1,620 tấn, 4 pháo 130 ly) hầu như xáp lá cà với soái hạm Hiei. Hai chiếc tàu chạm nhau và ngay khi tách ra, chiếc Laffey đã rót một loạt đại liên vào cột chính của chiếc Hiei, gần đài chỉ huy. Ðại tá Suzuki hạm trưởng Hiei chết tức khắc và nhiều người khác bị thương, trong đó có Ðề đốc Abê. Các khẩu đại pháo 356 ly của thiết giáp hạm Hiei và ngư lôi của khu trục hạm Terutsuki đẩy chiếc Laffey ra xa, rồi nhận chìm ngay trong vài phút.

Khu trục hạm USS Sterett, chạy kế chiếc Laffey, phóng một loạt ngư lôi vào soái hạm Hiei, nhưng không trúng, và khu trục hạm USS O’Bannon tiếp liền ngay sau đó, rót một loạt pháo 127 ly vào Hiei, nhiều trái trúng đích. Hệ thống liên lạc trên soái hạm bị cắt đứt hẳn, và chiếc tàu bắt đầu rời khỏi khu vực. Lúc đó, vào khoảng nửa đêm, trận chiến trở thành loạn đấu. Khu trục hạm Akatsuki từ trước vẫn cách 2,000m mạn phải của Hiei, sau khi soái hạm rút lui, đã lướt tới và giáng cho tuần dương hạm Atlanta nhiều trái ngư lôi. Chiếc Akatsuki lại xoay ngang đấu súng với soái hạm San Francisco và một khu trục hạm khác của Hoa Kỳ. Kết quả, khu trục hạm Nhựt bị cả hai hỏa lực tập trung chôn vùi xuống đáy biển toàn thể thủy thủ đoàn. Chiếc USS San Francisco vẫn còn đang bắn bồi thêm vào mục tiêu thì thiết giáp hạm Kirishima xông tới với 8 đại bác 356 ly hạ gục ngay soái hạm này. Sau đó, chiếc Kirishima tuân lệnh của Abê đã vội vã rời khỏi khu vực.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

August 19th, 2021

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

(Kỳ 26)

Sau trận Santa Cruz, The Pacific Fleet’s Carrier Task Forces của Nimitz không còn một hàng không mẫu hạm nào khả dụng. Chiếc Lexington chìm ở biển San Hô, chiếc Yorktown chìm ở Midway, chiếc Wasp chìm ở Solomon, chiếc Hornet vừa chìm ở Santa Cruz, hai chiếc Saratoga và Enterprise hư hại nặng còn đang sửa. Riêng chiếc Ranger tăng phái cho British Home Fleet chưa hoàn trả. Tình cảnh không sáng sủa và cấp bách vì Nhật sắp tấn công. Cấp trên của Nimitz là Đô đốc Ernest King quyết định cải tổ Hải lực Nam Thái Bình Dương (South Pacific Area):

  1. Cách chức Phó Đô đốc Robert Lee Ghormley vì quá bi quan và không bao rời đại bản doanh ở New Caledonia; không thể chỉ huy hải chiến từ trên đất liền!
  2. Cách chức Phó Đô đốc Frank Jack Fletcher đang chỉ huy các mẫu hạm vì thiếu nanh vuốt! Đánh nhau với Nhật phải hiếu chiến hơn quân Nhật, là nhãn quan của King. Cách chức Đề đốc George D. Murray đang chỉ huy Task Force 17 vì đã để chìm USS Wasp.
  3. Trang bị radar cho tất cả thuyền chiến và đưa vào sử dụng radar dò tìm mục tiêu cho hải pháo.
  4. Đổ thêm Sư đoàn 25 Bộ binh Tia Sét Nhiệt Đới “Tropic Lightning” lên đảo Guadalcanal.

Nimitz đề bạt Đô đốc William Halsey thay thế Ghormley và Đề đốc Daniel J. Callaghan tạm thời chỉ huy Task Force. Nếu việc bổ nhiệm Halsey, biệt danh “Bò đực” (Bull) là một quyết định đúng, thì Callaghan là một chọn sai.

Callaghan giữ chức Đề đốc Hậu cứ (Rear Admiral) cho Ghormley cho đến khi Ghormley bị cách chức. Chưa từng chỉ huy hải đoàn kể từ khi Nhật đánh Trân Châu Cảng, Callaghan thiếu kinh nghiệm chiến trường. Quan trọng hơn nữa là Callaghan không theo kịp tiến bộ kỹ thuật nên không tin vào tính chính xác của radar. Trong trận đánh sắp mở màn Callaghan cũng không cho dùng radar điều chỉnh mục tiêu cho trọng pháo. Nhận Medal of Honor vì tử trận, Callaghan thoát cơn thịnh nộ của King.

[Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 26

Dư âm trận Santa Cruz không kéo dài lâu. Mạng lịnh chờ đợi Ðô đốc Nagumo ở Truk. Ngày 2 tháng 11, ông rời khỏi chức vụ Tư lệnh Ðệ Tam Hạm đội, tức Lực lượng Ðặc nhiệm, và về Nhựt đảm trách chức vụ mới, chỉ huy căn cứ hải quân Sasebo. Nghe tin thuyên chuyển này, tôi đã đến gặp ông nhưng không biết nên ngỏ lời chia vui hay chia buồn. Trong Hải quân, tòng sự trên đất liền ít xem là vinh quang. Trước mặt tôi, Nagumo là một ông già tiều tụy. Sáu tháng qua làm ông già thêm 20 tuổi. Thấy tôi, ông thoáng cười: “Hân hạnh gặp lại anh, Hara. Những việc anh làm khiến tôi kiêu hãnh.”

Tôi đỏ mặt vì lời khen này rồi sau vài giây yên lặng đầy bối rối, tôi lên tiếng: “Thưa Ðô đốc, tôi thấy Ðô đốc dường như không khỏe?”

“Ồ! Bệnh cúm sơ sài thôi mà.” Ông mau mắn đáp. “Trở về quê nhà ít hôm sẽ khỏi ngay, và tôi sẽ sớm trở lại đây chiến đấu với anh.” “Dạ đúng, thưa Ðô đốc, khí hậu ở Sasebo sẽ khiến Ðô đốc mau bình phục. Ðô đốc xứng đáng được nghỉ ngơi một thời gian vì Ðô đốc đã liên tục một năm ngoài mặt trận rồi. So với trách nhiệm của Ðô đốc, nhiệm vụ của tôi không khác nào ngao du nhàn nhã.”

“Từ đây anh không còn nhàn nhã nữa đâu! Ngoại trừ chiếc Junyo, tất cả hàng không mẫu hạm sẽ về Nhựt để tu bổ. Trong các trận đánh vừa qua, chúng ta đã thiệt mất một số phi công giỏi, các phi công mới phải còn lâu mới thích ứng với sứ mạng.”

“Xin lỗi Ðô đốc, như vậy là các hàng không mẫu hạm Shokaku, Zuikaku, Zuiho và Hiyo, tất cả sẽ vượt 2,500 dặm để trở về quê hương và chỉ còn lại một mình chiếc Junyo che trên không cho chúng tôi hay sao?”

“Phải, Hara! Các chiến hạm của chúng ta chỉ hư hại nhỏ trong trận Santa Cruz, nhưng chúng ta đã mất nhiều phi công kinh nghiệm và những chỉ huy tài giỏi về ngành bay. Ðối với chúng ta, trận đánh vừa qua là chiến thắng trên phương diện chiến thuật nhưng trên phương diện chiến lược là một thất bại to tát. Như anh đã biết, tôi đặc biệt nghiên cứu tiềm năng của Hoa Kỳ, đoán biết khả năng kỹ nghệ của địch vượt bực; vì vậy trong mọi trận đánh chúng ta phải hạ gục họ ngay mà không để cho bị thiệt hại. Nhưng không may, trong trận vừa rồi, chúng ta không làm được.”

Người thay thế Nagumo là Phó Ðô đốc Jisaburo Ozawa, là sỹ quan cao lớn nhứt của Nhựt, vì Ozawa cao 6’7” gần 2 mét; cao hơn nhiều so với một người Nhựt trung bình. Ozawa còn được xem là xấu trai nhất Hải quân. Ông được biết đến nhờ danh tiếng đã có nhiều ý tưởng sáng tạo trong chiến thuật sử dụng tàu sân bay, tuy tài năng thực thụ của ông thì không ai biết ra sao.

Tin tức của việc thuyên chuyển này gây xôn xao. Chúng tôi biết sức khỏe của Nagumo yếu kém, không còn thích hợp cho vị trí chỉ huy tác chiến. Mọi người hy vọng vị tân tư lệnh sẽ tạo ra “phép lạ” và dẫn chúng tôi đến chiến thắng. Kế đó, tôi đến viếng thăm Kakuta để chúc mừng ông vừa tân thăng. Vị tân Phó Ðô đốc này luôn luôn hăng hái, nhưng xem ra ông có vẻ nao núng khi chúng tôi thảo luận về việc Ðệ Nhị Hạm đội của ông chỉ còn lại một hàng không mẫu hạm duy nhất hoạt động ở Tây Nam Thái Bình Dương.

Tôi cũng tạt qua Tổng Hành dinh của Ðô đốc Yamamoto và nhận thấy không khí ở đấy có vẻ căng thẳng. Từ khi Sư đoàn 2 Sendai thảm bại trên đảo Guadalcanal, Lục quân yêu cầu Ðô đốc Yamamoto cung cấp phương tiện vận chuyển thêm một sư đoàn khác. Ông chỉ biết làm theo các yêu cầu này mà không quyền bàn thảo.

Yamamoto biết tất cả các hải đoàn của ông đều quá mỏi mệt sau trận Santa Cruz nhưng ông bắt buộc phải đưa các hợp đoàn này ra đại dương một lần nữa, và lần này, hầu như không được bao che trên không. Yamamoto đã có lý khi cho rằng trong trận Santa Cruz địch mất mát bao nhiêu thì ông cũng kiệt quệ bấy nhiêu. Khoảng đầu tháng 11 hình như nhận xét này có vẻ không mấy đúng khi 20 khu trục hạm Nhựt thành công trong việc đổ bộ toàn thể Sư đoàn 38 Bộ binh vào những ngày 2, 7, 8 và 10 mà không gặp bất kỳ ngăn trở nào của địch. Sư đoàn 38 danh hiệu Numa Heidan,  (the Swamp Division), là sư đoàn chuyên đánh rừng rậm sình lầy, chính sư đoàn này đã chiếm Hương Cảng và Nam Dương vào đầu cuộc chiến. Trong 4 tháng liên tiếp, các trận đánh ác liệt sẽ diễn ra dọc sông Matanikau giữa Sư đoàn 38 của Chuẩn tướng Takeo Itô với Trung đoàn 1 Biệt Kích Thủy TQLC (1st Marine Raider Regiment) và Trung đoàn 164 Bộ binh Mỹ. Ðể vinh danh, một hàng không mẫu hạm nhẹ của US Navy về sau mang tên USS Matanikau.

Nhưng đó là chuyện sắp tới, còn vào lúc này mặt trận lên xuống như con sóng. US Navy, giống như trước đây, chờ đúng lúc để ra tay và một loạt chạm trán đẫm máu đã xảy ra trong hải phận Guadalcanal vào những ngày 12 đến 15 tháng 11-1942.

Tôi tham dự ngay trận đầu tiên của loạt hải chiến này, và nhận thấy tiên đoán của Nagumo hoàn toàn đúng. Ðây là trận đánh dữ dội hơn bất kỳ trận nào tôi đã biết qua. Chiếc Amatsukaze của tôi đã phóng ngư lôi đánh chìm tuần dương hạm Juneau và khu trục hạm Barton, đồng thời gây hư hại nặng nề cho soái hạm San Francisco của Ðề đốc Daniel Judson Callaghan, làm ông tử thương trong trận đánh. Hai quả đại pháo của tuần dương hạm Helena đã đốn ngã 43 thủy thủ của tôi, trong lúc tôi đang đâu lưng với họ mà tôi không sây sát gì. Tôi sống sót chỉ nhờ vào một may mắn thiêng liêng.

Ðây là một trong những hải chiến kỳ dị nhất của lịch sử hiện đại, hầu như là một cuộc loạn đả giữa 14 chiến hạm Nhựt và 13 chiến hạm Hoa Kỳ. Không hàng lối, mạnh ai nấy bắn. Qua thư hùng, Nhựt mất một thiết giáp hạm và hai khu trục hạm, phía Hoa Kỳ chỉ còn đúng 3 khu trục hạm và một tuần dương hạm không mấy nguyên vẹn. Khá nhiều sỹ quan cao cấp Mỹ thiệt mạng. Có thể nói đây là một trong những cuộc bại trận tồi tệ nhứt của US Navy. Tuy nhiên, Nhựt cũng không hài lòng trọn vẹn với những chiến tích đạt được. Vị tư lệnh Nhựt, Ðề đốc Hiroaki Abê chỉ huy trận đánh này, bị đưa ra tòa án binh và bị cách chức.

Giống như một cuộn chỉ rối, người ta không thể nào biết hết các chi tiết thực sự. Nên tôi cố gắng ghi lại một cách vô tư, xác thực và đầy đủ bao nhiêu hay bấy nhiêu. Ðề đốc Hiroaki Abê, một chuyên viên khu trục hạm, và là một tay kinh nghiệm tác chiến, đã chỉ huy 14 chiến hạm Nhựt tham dự vào thủy chiến này. Ông nổi tiếng là người cẩn trọng, vì vậy mà ông thường bị chỉ trích là rụt rè, nhút nhát. Trong trận Santa Cruz vừa rồi, Abê chỉ huy hải đoàn tiên phong đã kháng cự hữu hiệu các cuộc không kích của Hoa Kỳ, kể cả pháo đài bay B17 cất cánh từ đảo Espiritu Santo cách Santa Cruz 340 cây số. Nhưng khi địch rút lui, ông đã không truy đuổi đến cùng.

Abê không đã mấy kích động khi nhận lệnh của Yamamoto cầm đầu hạm đội mở các cuộc pháo kích dọn đường lên Guadalcanal, như Phó Ðô đốc Kurita đã làm một tháng trước đó. Abê không tin là Mỹ ngu dại đến nỗi cho Nhựt áp dụng lại cùng một phương thức.

Sức khỏe Abê sa sút, nhất là sau trận đánh đảo Savo vào ngày 11 tháng 10, đưa đến cái chết của cố tri của ông, là Ðề đốc Aritomo Goto. Task Force 64 của Ðề đốc Norman Scott trang bị radar đã nhìn thấy Goto và đánh tập hậu. Trước khi trút hơi thở cuối cùng trên boong tuần dương hạm Furutaka, Goto trối trăng cho biết ông bị hỏa lực bạn bắn nhầm, và cho rằng hành động can đảm của ông là ngu si. Goto thều thào: “Bakayaro! Bakayaro! “.!”, Lũ ngu! Lũ ngu!” khi ra đi.

Ðó là một cái chết thảm thiết. Abê buồn bã khi

nghe chuyện, và ông quyết định không giẫm lên vết chân của Goto. Abê có lý khi cho rằng cuộc đổ bộ êm thắm của Sư đoàn 38 Bộ binh chỉ là một sự êm thắm giả tạo. Tình hình này giống như trước khi xảy ra trận Santa Cruz. Giông tố ập phía sau đám mây, nên tâm trạng Abê là đón chờ những gì tồi tệ nhứt.

Vào ngày 9 tháng 11-1942, chiếc Amatsukaze của tôi nằm trong một nhóm 8 khu trục hạm cùng với tuần dương hạm nhẹ Nagara rời khỏi Truk, và sáng sớm ngày 12 chúng tôi kết hợp với 2 thiết giáp hạm và thêm 3 khu trục hạm của Ðề đốc Abê gần đảo Shortland. Lúc 8:30 cùng ngày, khi còn cách phía Bắc mục tiêu 300 dặm, chúng tôi bị một pháo đài bay B17 phát hiện. Hàng không mẫu hạm Junyo của Phó Ðô đốc Kakuta liền tung phi cơ bắn hạ, nhưng chiếc B17 đã lẩn mất dạng mà không hề thả một trái bom. Chắc chắn chiếc B17 đã thu thập đầy đủ những gì cần biết về hoạt động của chúng tôi. Cuộc tiếp xúc quá sớm này càng khiến cho tính thận trọng cố hữu của Abê gia tăng, và nhất là ông vừa nhận những báo cáo về nỗ lực tăng viện của địch trong hai ngày 11, 12 tháng 11.

Lúc 1:30 trưa, bỗng nhiên Abê ra lệnh thay đổi hẳn đội hình. Ban đầu chúng tôi hải hành hàng dọc, giờ chuyển sang đội hình xen kẽ: Năm khu trục hạm trải rộng ra thành hình vòng cung, chạy cách phía trước tuần dương hạm Nagara 8,000m. Kể từ chiếc Nagara, 6 khu trục hạm khác rải thành hai hình cánh quạt, mỗi chiếc cách nhau 2,000m. Hai thiết giáp hạm Hiei và Kirishima chạy sau chiếc Nagara, mỗi chiếc cách nhau 2,000m. Ðội hình vững chãi này hoàn tất vào lúc 14g, khi chúng tôi chỉ còn cách Guadalcanal 200 dặm. Tôi nghĩ, mục đích của đội hình là nhằm ngăn ngừa tiềm thủy đĩnh hoặc phi cơ địch tấn công bất ngờ. Tôi không bao giờ tưởng tượng Abê, vì sự quá cẩn trọng này mà phải lâm vào cảnh bối rối trong suốt cuộc hành quân. Còn bối rối hơn bị địch tấn công bất thần.

Chúng tôi vẫn tiến về phía Nam với tốc độ 20 hải lý, soái hạm Hiei cho một trinh sát cơ cất cánh. Một giờ trôi qua, phi cơ của chúng tôi không gửi báo cáo về mà cũng không có một chiếc phi cơ địch nào xuất hiện. Thời tiết thình lình u ám. Những đám mây dày tụ đến nhanh chóng và một cơn mưa dữ dằn trút xuống, che mờ vạn vật cho đến nỗi không nhìn thấy cả những chiếc tàu chạy gần nhất. Trên chiếc Amatsukaze, tôi bồn chồn mong đợi lệnh cho các chiến hạm chạy chậm lại, và thay một đội hình ít phức tạp hơn. Nhưng không có lệnh nào ban ra.

Ðối với Abê, cơn mưa bão hiện tại là một thiên ân. Ông biết rằng ẩn trong cơn bão này, phân hạm đội của ông không còn sợ các cuộc tấn công của địch từ ba phía trên không, trên mặt và dưới biển. Khi các sỹ quan xin cho các chiến hạm giảm tốc độ, ông đã gạt đi: “Phải duy trì vận tốc để đến mục tiêu đúng lúc!”

Mưa bão trên các vùng biển nhiệt đới thường giới hạn trong một khu vực nhỏ và hiếm khi kéo dài hơn vài giờ. Nhưng cơn mưa bão này đã làm chúng tôi kinh ngạc, vì kéo dài triền miên. Chúng tôi tiếp tục với vận tốc 18 hải lý. Hai giờ trôi qua, mưa vẫn đổ xuống như thác.

Mặc dù nước mưa thấm ướt, thân thể và mặt mày chúng tôi vẫn rướm mồ hôi. Vì ngột ngạt. Trong thời bình, không có vị tư lệnh nào dám cho các chiến hạm chạy xuyên qua mưa bão mù mịt, với tốc độ cao và trong một đội hình phức tạp, bởi lẽ thời gian này chưa có dụng cụ nào giúp di chuyển an toàn trong tình trạng như vậy. Nhưng chúng tôi đã hải hành suốt 7 tiếng đồng hồ trong tình trạng đui mù này mà không xảy ra tai nạn nào. Ðiều đó chứng tỏ tài đi biển của thủy thủ Nhựt, cũng như vào sự lão luyện cao độ đã tránh được tình trạng bắn lầm giữa các chiến hạm chúng tôi, trong trận đánh hỗn loạn sắp tới. Một số tin của Hoa Kỳ liên quan đến trận đánh đã cho rằng chiến hạm Nhựt khai hỏa vào nhau, điều này hoàn toàn sai.

Trên đài chỉ huy của thiết giáp hạm Hiei, Abê có vẻ khoan khoái. Ông nói với các sỹ quan ướt như chuột lột đang đứng xung quanh: “Cơn bão này di chuyển cùng tốc độ và cùng hướng với chúng ta. Là trời giúp!”

Báo cáo đầu tiên của thám thính cơ: “Phát hiện hơn chục chiến hạm địch gần đảo Lunga.”

Abê cười: “Nếu thiên địa song song với chúng ta như lúc này, sẽ khỏi bận rộn với chúng.”

Hạm đội tiếp tục tiến. Nhiều giờ nữa trôi qua, nhưng mưa bão không dừng mà có phần dữ hơn. Trong suốt binh nghiệp tôi chưa từng thấy cơn mưa nào mạnh như vậy. Nó dần chúng tôi mệt nhừ. Các sỹ quan của tôi đều bực bội. Thiếu úy Shoji kêu: “Hết chịu nổi! Mưa giết người.. Không chết thì điên.. Ðánh Mỹ còn sướng hơn…”

Lúc 22g, chúng tôi đến gần mục tiêu, với điều kiện là đã hải hành chính xác. Trên soái hạm Hiei, Ðề đốc Abê đang cắm cúi trên hải đồ. Từng là một chuyên viên khu trục hạm, ông biết rõ khả năng của từng hạm trưởng một, và ông cũng biết rõ Ðề đốc Kimura ở trên chiếc Nagara là một trong những chuyên viên hàng hải ưu tú nhứt. Ðồn quan sát Lục quân ở Guadalcanal gửi công điện: “Hiện giờ thời tiết rất xấu.” Thám thính cơ của Hiei, sau báo cáo ở Lunga, đã bay thẳng về Bougainville vì không thể đáp xuống tàu mẹ đang chạy trong mưa bão. Ðề đốc Abê biết rằng một cuộc pháo kích của các tàu chiến không thể chính xác trong tình huống này, ông quyết định thoát khỏi cơn bão ở mạn phía Nam. Hiei truyền lịnh qua siêu tần số: “Tất cả các chiến hạm sẵn sàng để đổi hướng 180 độ cùng một lúc.” Như vậy có nghĩa là chúng tôi quay lưng lại mục tiêu.

Tôi đáp lập tức: “Amatsukaze gửi Hiei, sẵn sàng đổi hướng 180 độ.” Thông thường lịnh thi hành theo sau 30 giây, như vậy mới chuẩn bị kịp để tránh va chạm. Tôi bồn chồn nhìn đồng hồ. Một phút trôi qua. Lịnh đổi hướng vẫn chưa đến. Một phút ba mươi giây, vẫn im lặng. Tôi chạy vào phòng truyền tin hỏi: “Có lịnh chưa?”

“Chưa, thưa Trung tá. Hai khu trục hạm đi đầu Yudachi (Cuồng Phong Ðêm) và Harusame (Mưa Xuân) cũng chưa nhận lịnh.”

Ba phút trôi qua, phòng truyền tin báo: “Thưa Trung tá, Hiei đang dùng tần số trung bình để liên lạc với Yudachi và Harusame.”

Tôi kêu lên: “Sao lại có chuyện đó? Hiei điên rồi à?”

Bởi vì sử dụng tần số trung bình là bị địch chặn bắt dễ dàng. Như vậy lợi thế của chúng tôi nhờ cơn mưa bão đã bị Hiei phá tan rồi.

22g, hiệu thính viên báo cáo: “Lịnh đổi hướng 180 độ cho tất cả chiến hạm!”

Tôi ra lịnh: “Xoay 180 độ!” Khu trục hạm của tôi thi hành một cách gọn gàng. Tôi nhìn quanh một vòng, chỉ sợ các tàu đụng nhau. Không gì xảy ra. Sự đổi hướng kỳ dị trong một đội hình phức tạp như vầy mà êm thấm mới là chuyện lạ.

Lịnh kế của soái hạm Hiei: “Tốc độ giảm xuống 12 hải lý.” Abê không bao giờ làm việc cầu may. Qua nhiều năm kinh nghiệm, ông biết đội hình trước đó, chạy như đui mù, sẽ không còn giữ đúng nữa. Abê cho xoay 180 độ là hữu lý. Vì đội hình hiện giờ chắc chắn đã phân tán. Tôi đã nhìn thấy, ngay cả trước khi có lịnh giảm tốc độ, đội hình vòng cung của 5 khu trục hạm chạy phía trước tuần dương hạm Nagara 8,000m, đã phải xoay hẳn một vòng tròn 360 độ thay vì 180 độ, để quay lưng về phía Guadalcanal. Vì vậy, 5 chiếc tàu này bị vỡ làm hai nhóm, một nhóm 2 chiếc và một nhóm 3 chiếc. Và do đó, đội hình của toàn thể hạm đội dãn ra thêm nữa. Yếu tố bất ngờ này lại có một giá trị quan yếu đối với trận đánh sắp xảy ra. Chính định mệnh đã bài trí.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

August 12th, 2021

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

(Kỳ 25)

Sau thế chiến, các kiến trúc sư hàng hải phân tích nguyên nhân khiến các hàng không mẫu hạm Nhật dễ phát hỏa và tê liệt sau khi trúng bom: chính vì cấu trúc kín (closed structure) so với cấu trúc mở (open space) của Hoa Kỳ. Các tàu sân bay Nhật biến cải từ các thiết giáp hạm và tuần dương nặng nên bên dưới phi đạo (primary deck) thường là một vỏ tàu bọc kín, không có “sân thượng thứ nhì” (second deck of the ship). Bít bùng, nên ngay khi bom đánh thủng sàn phi đạo rồi phát nổ ở tầng dưới nơi chứa phi cơ với bom và xăng, áp suất trở nên khủng khiếp. Bít bùng, nên một khi phát hỏa, thủy thủ đoàn Nhật chết ngạt lập tức. Ngược lại trên các mẫu hạm Hoa Kỳ, tầng nhì không có vách, gió lộng tứ phía vào “parking máy bay” làm giảm sức nổ, đem không khí cho đội cứu hỏa.

Sai lầm thứ nhì là Nhật không dùng cốt sắt mà dùng cốt tre lót sàn phi đạo. Dưới lớp sắt mỏng là các đà ngang bằng gỗ và những cột tre xếp dọc. Kỹ sư Nhật đã tin vào độ đàn hồi của tre, như kỹ sư Việt tin vào cốt tre khi xây cầu lúc này.

Khi máy bay đáp xuống, sức đàn hồi của tre chịu được sức nặng của máy bay, vừa giúp giảm trọng tải chiếc tàu để có thể mang thêm nhiều dầu, nhiều máy bay và thiết bị. Nhưng không phải chỉ có máy bay đáp xuống mà là bom của US NAVY. Là lý do vì sao USS Enterprise với USS Saratoga và USS Essex tuy trúng bom nhiều lần và bị các kamikaze chúi xuống nhiều lần vẫn không chìm, trong lúc các hàng không mẫu hạm Nhật, trừ hai chiếc Shokaku và Zuikaku là cốt sắt, những chiếc cốt tre khác giống “giàn hỏa Tây Sơn Tự”. Erreur de conception, Design error hay Lỗi thiết kế, là tên gọi của sai lầm này. (Xem thêm Les Faiblesses des Porte-Avions Japonais trong số đặc biệt của tập san Champs de Bataille chuyên đề Không Hải đoàn Nhật 1939-1945, phát hành tháng 1-2012).

Tuy nhiên thủy chiến Santa Cruz vẫn là chiến thắng chiến thuật của Nhật Bản, như bảng tổng kết thiệt hại ghi nhận:

Nhưng là một chiến thắng không ngày mai và không thực sự nhờ vào thế trận mãng xà như Hara nghĩ, mà nhờ vào tài ba của lớp phi công huấn luyện trước chiến tranh mà lớp thay thế không đủ kinh nghiệm để bổ khuyết.

[Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 25

Trong lúc đó, trên hàng không mẫu hạm Junyo, ở vị trí đuôi của con rắn trong thế xà trận Ðề đốc Kakuta đã tỏ vẻ tức tối khi biết địch quân còn cách ông đến 330 dặm. Ông ra lịnh cho các chiến hạm xả hết tốc lực hướng Ðông Nam. Chiếc Junyo, một hàng không mẫu hạm biến cải đã chạy với tốc độ 26 hải lý thay vì 20 hải lý như thường khi, bứt xa 3 khu trục hạm hộ tống chạy phía sau. Ðây là lần đầu tiên các thủy thủ khu trục hạm nhìn thấy soái hạm chậm chạp này rời bỏ họ khá xa như vậy, cho đến cả tiếng đồng hồ sau họ mới đuổi theo kịp. Mục tiêu cách 330 dặm không phải quá xa. Kakuta có thể tung phi cơ của chiếc Junyo rồi cho các phi cơ này đáp xuống hai chiếc Shokaku và Zuikaku của Nagumo. Nhưng ông muốn mặt đối mặt với địch. Kakuta muốn áp sát hơn nữa để có thể thâu hồi máy bay để phóng nhiều đợt tấn công. Lúc 7 giờ 14 phút, Kakuta tung 29 phi cơ làm 3 đợt oanh kích.

Ðiểm tâm của tôi khiêm tốn hơn thường lệ. Vài miếng bánh với nước lọc. Tôi vừa nuốt xong thì một oanh tạc cơ Aichi quay về đáp xuống chiếc Shokaku. Thủy thủ đẩy lập tức chiếc Aichi sang bên để 6 chiếc Zéro cất cánh. Ngay sau đó, một phi đội trưởng của chúng tôi báo cáo: “Nhìn thấy mẫu hạm địch! Tất cả máy bay đều nhào xuống!” 40 oanh tạc cơ Aichi và các phi cơ phóng ngư lôi Nakajima đã tập trung vào hàng không mẫu hạm Hornet của Hoa Kỳ, trận oanh kích kéo dài 10 phút. Nhiều trái bom đã trúng thẳng mục tiêu.

Tôi tạm quên các tin tức đầy phấn kích này, khi một oanh tạc cơ khác quay trở về và cố đáp xuống chiếc Shokaku, nhưng vì hỏng máy nên chiếc phi cơ phải đáp xuống biển. Khu trục hạm Amatsukaze chạy đến vớt phi công. Trong khi công việc đang xúc tiến, phi cơ địch ào đến. Báo động toàn thể! Tất cả mọi người xoay sang chiến đấu. Trong tiếng còi hụ đinh tai, tôi liếc thấy trên một chục oanh tạc cơ đâm bổ của địch vừa thoát ra khỏi mây, bay thấp ở độ cao 2,000 thước. Tôi tiếp tục cứu phi công lâm nạn, vì tin rằng phi cơ địch sẽ chọn mẫu hạm Shokaku để tấn công hơn là chiếc tàu bé nhỏ của tôi. Thêm nhiều máy bay phóng ngư lôi Hoa Kỳ xuất hiện. (Ðây là phi đội xuất phát từ tàu USS Enterprise: 15 chiếc Dauntless và 6 Avenger). Tôi ra lệnh tiếp cứu gấp rút. “Nhanh lên!” Tôi thét đến khan cuống họng. Tàu chòng chành vì phải thả xuồng rồi trục xuồng trở lên trong lúc sóng vập vào hai bên hông. Liên tiếp tiếng súng phòng không khô ran báo hiệu máy bay địch đã ập tới. Khi chiếc Amatsukaze quay lại, với 2 phi công được vớt, tất cả các chiến hạm khác của Nhựt đều đang khai hỏa vào 2 nhóm phi cơ địch đang lao đến. Cùng lúc thêm 6 chiến đấu cơ của chúng tôi lập tức cất cánh. Amatsukaze nhảy ngay vào vòng chiến. Hành động phản công nhanh nhẹn của Nhựt khác xa biết bao hai tháng trước đây khi hàng không mẫu hạm Ryujo chịu đựng cuộc không tập. “Ðạn nổ cao! Khai hỏa tự do!” Tôi quát. Mắt không rời ống nhòm. Các họng súng của Amatsukaze hươi lên và khạc lửa. Từng tràng giòn giã. Các đốm đen nhanh chóng vây lấy máy bay địch. Tôi quyết định không cho tàu chạy hình chữ chi mà chạy đường thẳng vì tuy làm thành mục tiêu thẳng tắp cho máy bay Mỹ nhưng cũng giúp xạ thủ cao xạ dễ nhắm hơn.

Ðột ngột hai phi cơ phóng ngư lôi Avenger Mỹ trúng đạn của chiến đấu cơ Nhựt, vụt bốc khói và nổ tung. Một chiến đấu cơ của chúng tôi đâm thẳng vào một oanh tạc cơ địch gây ra một tiếng nổ kinh hồn rồi cả hai tan ra từng mảnh. Hai oanh tạc cơ khác của địch trúng đạn cao xạ, đứt lìa cánh và đâm sầm xuống biển. Tôi tin là cao xạ của chiếc Amatsukaze nhưng tôi không chắc lắm vì tất cả tàu Nhựt cùng khai hỏa đồng loạt. Chuỗi tiếng nổ tiếp tục rền vang đến khó phân định được gì nữa. Một việc lạ lùng là chúng tôi không nhìn thấy một chiến đấu cơ nào của địch. Tôi tự hỏi tại sao địch lại không cho phi cơ hộ tống bay theo?

Số máy bay Mỹ giảm xuống nhanh. Hỏa lực phòng không bắn rát rạt của chiến hạm Nhựt tạo một tường lửa dầy đặc.

Ngoài 28 pháo cao xạ 25 ly với 4 đại liên 13 ly nòng đôi của Amatsukaze của tôi, mỗi hàng không mẫu hạm Nhựt võ trang 36 khẩu phòng không tự động 25 ly với 16 trọng liên 12 ly 7. Chưa kể các hộ tống hạm khác. Tất cả túa lên không một tấm lưới sắt vạch chéo kín mít. Xem như chúng tôi đẩy lui cuộc tấn công với sự thiệt hại ít ỏi. Amatsukaze chạy trở lại theo hình chữ chi với vận tốc 33 hải lý chiến đấu. Tôi quyết định quay lại đường chữ chi vì giúp giảm tốc độ để có thể luôn song song dòm chừng Shokaku, vì soái hạm cần được bảo vệ tối đa.

Bất thình lình tôi nhìn thấy 2 oanh tạc cơ Dauntless chui xuyên qua màn hỏa lực của chiếc Shokaku và đâm thẳng xuống chiếc tàu này từ một độ cao khoảng 7 ngàn  thước, nhưng cuối cùng nó bỗng bay vượt lên và biến mất trong mây. Cùng lúc hai hoặc bốn vệt sáng trắng giống như các làn chớp, rớt xuống khoảng giữa soái hạm. Hai vạch sáng đầu như hai tia chớp, còn hai vạch sau như hai lưỡi lam dài cắt trúng nơi gần đài chỉ huy và bùng cháy tức khắc. Lửa nháng lên rồi khói lan ra tứ phía, bao phủ toàn thể sân tàu. Ở giây phút cuối của cuộc tấn công, soái hạm Nhựt lĩnh 4 trái bom. Khói mù mịt nhưng tôi không có thời giờ quan sát, máy bay địch vẫn ào đến. Lần này ngay trên chiếc tàu của tôi. Tôi hét: “Ngặt 45 độ!” Một cột nước dâng lên ngay chỗ chiếc Amatsukaze vừa rời đi. Sóng tạt  ràn rạt. Dập lên kính của đài chỉ huy muốn vỡ. Cao xạ tóe lửa bắn đuổi theo nhưng máy bay Mỹ đã biến mất.

Sóng biển ướt sũng khắp nơi, tôi vuốt nước trên mặt bằng bàn tay mặt và day lại, Shokaku đã xoay hướng, vẫn chạy với tốc độ 30 hải lý, hiển nhiên máy móc nó không hề hấn gì và bắt đầu rút lui với hai khu trục hạm hộ tống. Khói đen trên Shokaku đang loãng dần, cho thấy nỗ lực cứu hộ của thủy thủ đoàn. Trước khi rời khu vực, Nagumo chỉ thị cho tôi bảo vệ Zuikaku, hàng không mẫu hạm duy nhứt còn hoạt động của ông. (Chiếc Junyo thuộc hải lực đoạn hậu không dưới quyền Nagumo).

Tôi vẫn còn kinh ngạc, không hiểu tại sao Shokaku, với các phi công tài ba và thủy thủ kinh nghiệm, lại tỏ ra yếu kém như vậy? Việc chiếc Ryujo bị đánh đắm không làm tôi ngạc nhiên mấy, vì nó ít kinh nghiệm, nhưng chiếc Shokaku từng đánh 3 trận Trân Châu Cảng, Ấn Ðộ Dương, Biển San Hô, bị loại khỏi vòng chiến thực sự gây xúc động cho tôi.

Tuy nhiên, tôi không có thời giờ để nghĩ vẩn vơ. Làn sóng tấn công của phi cơ địch đã chấm dứt, nhưng các làn sóng khác sẽ ào đến không biết lúc nào. Hơn nữa, hàng không mẫu hạm duy nhứt còn lại là chiếc Zuikaku phải nhận tất cả các phi cơ của 3 hàng không mẫu hạm đang quay về. Dĩ nhiên, có một số phi cơ bắt buộc phải đáp xuống biển vì một mình chiếc Zuikaku không đủ chỗ chứa. Zuikaku chỉ có thể chứa tối đa 84 máy bay.

Khu trục hạm Amatsukaze xả hết tốc lực chạy lại gần chiếc Zuikaku.

Một giờ trôi qua, không thấy cuộc tấn công nào mới của địch. Các phi cơ của Zuikaku trở về từng nhóm nhỏ. Theo báo cáo của các phi công, chúng tôi mới biết tại sao oanh tạc cơ địch không có chiến đấu cơ bay theo hộ tống. Phi xuất đầu tiên của Nhựt bao gồm 40 oanh tạc cơ và 27 chiến đấu cơ đã đụng đầu với nhóm phi cơ tấn công thứ nhứt của địch trên không. Một sự đụng độ ít thấy xảy ra trước đây. Phân nửa con số phi cơ Nhựt mở ngay một cuộc không chiến dữ dội với phi cơ địch trên Thái Bình Dương. 8 chiến đấu cơ địch bị bắn rơi, nhưng chúng đã cầm chân được các phi cơ Nhựt để cho oanh tạc cơ thoát đi và tấn công loại soái hạm Shokaku ra khỏi vòng chiến. Ðồng thời, nửa nhóm phi cơ Nhựt còn lại vẫn tiếp tục bay đến tấn công mục tiêu là hàng không mẫu hạm Hornet của Hoa Kỳ. Nhưng lực lượng tấn kích đã giảm đi sức mạnh nên gặp nhiều khó khăn. Kết quả 7 oanh tạc cơ Nhựt bị bắn hạ nhưng cũng gây thiệt hại nặng cho chiếc Hornet. Ðịch quân đã phải bỏ rơi hàng không mẫu hạm này sau đó. Như vậy, nhóm 21 oanh tạc cơ và 8 chiến đấu cơ của hàng không mẫu hạm Hornet đã tấn công đơn vị tiền phương của chúng tôi, còn nhóm phi cơ ít hơn của hàng không mẫu hạm Enterprise tấn công soái hạm Shokaku. Tại sao nhóm phi cơ lớn hơn lại chọn mục tiêu là các tuần dương hạm đi đầu thay vì hai hàng không mẫu hạm của chúng tôi, cho đến bây giờ tôi cũng không thể đoán ra. Các tuần dương hạm tiền tiêu lúc đó đang chạy cách 120 dặm phía trước chúng tôi, thay vì 60 dặm phía sau như trước đây. Việc này là do hai lần đổi hướng của Nagumo. Trong cuộc oanh kích chỉ có tuần dương hạm Chikuma bị tổn hại do 7 trái bom gây ra, và được hai khu trục hạm hộ tống về Truk. Cuộc oanh kích của các phi cơ địch thất bại đã làm cho thế cờ lật ngược. Trong khi thủy thủ đoàn chiếc Hornet phải bỏ tàu, chiếc Enterprise bị các đợt phi cơ mới tung lên của Nhựt tấn công vũ bão làm Ðề đốc Kinkaid phải ra lịnh cho hạm đội của ông rút lui. Là một chiến thắng! Nhưng chúng tôi không hiểu ngay tình thế, Nhựt vẫn còn 2 hàng không mẫu hạm nguyên vẹn trong lúc Hoa Kỳ chỉ còn một chiếc Enterprise đã hư hại. Chính vì thảm bại Midway hãy còn trong ký ức nên Nagumo đã không nắm lấy cơ hội.

Sau cuộc tấn công, 5 khu trục hạm, bao gồm chiếc của tôi, chạy quanh hàng không mẫu hạm Zuikaku để tiếp cứu các phi công đáp xuống biển. Amatsukaze vớt được 2 phi công oanh tạc cơ. Một trong hai phi công nói với tôi: “Bình xăng ăn đạn, nhờ phép màu mới không phát cháy.” Kế đó, một phóng pháo cơ ngư lôi hạ cánh xuống sàn Zuikaku nhưng không thể ngừng lại được nên đã chạy vượt ra khỏi phi đạo và chúc đầu xuống biển. Chiếc tàu của tôi chạy nhanh đến giải cứu nhưng không kịp, cả phi công và phi cơ đều chìm sâu dưới đáy đại dương.

Một chiến đấu cơ khác đáp xuống biển, song song với Amatsukaze. Tôi ra lịnh xả hết tốc lực chạy đến và ngừng lại để giải thoát phi công trước khi chiếc phi cơ chìm xuống. Phi công này bị thương nặng, khi chúng tôi mang lên tàu, hắn chỉ kêu được một tiếng “Mẹ..” nho nhỏ, rồi trút hơi thở cuối cùng. Hôm đó, tàu tôi cứu được 13 phi công, 3 người khác chết lúc mang lên tàu.

Hai hàng không mẫu hạm còn lại tiếp tục hoạt động. Trước trưa ngày hôm đó, chiếc Junyo đã tung ra một làn sóng tấn công nữa với 15 phi cơ vào lúc 11 giờ 6 phút. Năm phút sau, Zuikaku lại cho cất cánh thêm 13 phi cơ nữa. Chiếc Junyo của Ðề đốc Kakuta vẫn giữ hướng đâm thẳng về phía địch và cho cất cánh các phi cơ còn lại sau tiếp xăng.

Nhưng không phải mọi vị tư lịnh Nhựt đều “dữ dội” như Kakuta. Phó Ðô đốc Nobutake Kondo, Phó Tổng Tư lịnh Hạm đội Hỗn hợp nắm trong tay một lực lượng bao gồm hai thiết giáp hạm hạng nặng Kongo và Haruna, với hàng chục khu trục hạm và tuần dương hạm bao quanh, một lực lượng có thể đè bẹp địch quân dễ dàng vậy mà ông ta lại nhút nhát không đưa ra một hành động ngoạn mục nào.

Một kẻ rụt rè khác là Ðề đốc Koki Abê, chỉ huy một đơn vị tiên phong gồm 2 thiết giáp hạm và 5 khu trục hạm, đã chân trước chân sau rời ngay khu vực chiến đấu với soái hạm Chikuma và 2 khu trục hạm hộ tống. Ông này quả là một người quá cẩn thận, dư cẩn trọng và ít nhuệ khí.

Vào buổi trưa, khi mạng lịnh đưa đến từ Truk bắt chúng tôi săn đuổi và tiêu diệt địch đang tháo chạy, thì đã quá trễ. Dù cho các chiến hạm của Kondo xả hết tốc lực cũng không thể nào nuốt trôi khoảng cách 300 dặm giữa ông và địch quân.

Trong đêm, hai khu trục hạm Makigumo và Akigumo bắt gặp hàng không mẫu hạm Hornet (thủy thủ đoàn Mỹ đã di tản khỏi tàu khi bốc cháy). Tuần dương hạm Northampton đang kéo chiếc Hornet với 2 khu trục hạm Russell và Hugues đã quay đầu bỏ chạy. 2 khu trục hạm Nhựt thiêu rụi “mục tiêu” với 4 trái ngư lôi.

Trên khu trục hạm Arashi, Nagumo trở lại khu vực vào sáng sớm ngày 27 tháng 10. Lửa bốc cháy trên hàng không mẫu hạm Shokaku đã được dập tắt ngay trưa hôm đó. Nagumo chuyển soái kỳ của ông từ chiếc Arashi sang chiếc Zuikaku. Nhiều phi cơ của hàng không mẫu hạm Zuikaku và Junyo cất cánh tìm tung tích địch tháo lui, nhưng không thấy bóng dáng nào trong vòng bán kính 300 dặm. Lúc 6 giờ 30 ngày 27 tháng 10, Nagumo ra lịnh chấm dứt hành quân. Tất cả chiến hạm hội tụ trong ngày, và sau đó quay mũi về Truk.

Tổng kết trận đánh vừa qua, được mệnh danh là xà trận Santa Cruz, phía Nhựt hư hại 5 chiến hạm mọi loại, trong đó có hàng không mẫu hạm Shokaku và mất 120 phi cơ. Phía Hoa Kỳ chìm hàng không mẫu hạm Hornet và hư hại 7 chiến hạm mọi loại và mất 81 phi cơ.

Vì vậy, nếu so sánh con số, có thể nói Nhựt đã chiến thắng. Ðịch đã bước vào trận đánh với các lợi thế tâm lý và chiến thuật, nhưng đã phải trả một giá khá cao. Ðịch chọn chiến trường với thời gian và không gian do họ chọn lựa. Nhưng họ đã phải kinh ngạc. Họ không ngờ đầu và đuôi “con rắn Nhựt Bổn” đã biết ứng biến rất mềm dẻo, trái ngược hẳn với trận Midway.

Qua so sánh thiệt hại, Nhựt xem như đã chiến thắng nhưng Hoa Kỳ thực sự thắng về mặt chiến lược. Vì khi trận đánh này kết thúc, tuy huy động 5 hàng không mẫu hạm để tổng phản công, Nhựt không chiếm lại được đảo Guadalcanal, cũng không quét sạch tàu Mỹ khỏi biển Solomon; Hoa Kỳ mua thêm thời gian cho phép họ tăng cường và chuẩn bị bước kế tiếp. Chiến thắng chiến lược của địch phải quy trách nhiệm cho hạm đội chánh của Yamamoto, dưới quyền chỉ huy của Phó Ðô đốc Kondo, đã thiếu tinh thần quyết chiến. Nếu hạm đội của Kondo, ở vị trí lưng rắn, đã tận lực như đầu và đuôi rắn đã mổ, cả hai Task Force 16 của Ðề đốc Kinkaid và Task Force 17 của Ðề đốc Murray có thể bị tiêu diệt hoàn toàn. Ở Học viện Etajima, chúng tôi được giảng dạy khi hành binh phải nghĩ đến hủy diệt – Zetsumetsu, “絶滅” (Extermination) – là chức năng của mọi sỹ quan khi đối mặt kẻ thù. Phó Ðô đốc Kondo đã quên mất bài học này. Câu hỏi khác, mà mãi về sau tôi vẫn còn thắc mắc: Là vì sao Yamamoto cứ yên vị trong Tổng Hành Dinh mà không chỉ huy trực tiếp chiến thuyền? Ðại Ðô đốc Togo, tiền nhiệm của Yamamoto, đã đứng trên boong thiết giáp hạm Mikasa trực tiếp điều động và ra lệnh khi đánh đắm hạm đội Nga ở eo biển Ðối Mã-Tsushima. Ðại Ðô đốc Togo, nếu còn sống, sẽ làm gì lúc này?

Quay về Truk, ca khúc khải hoàn của chúng tôi chứa nhiều bóng tối.