This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Một Hạm đội Nhật có nhiều Hải đoàn. Một Hải đoàn bao gồm nhiều Phân Hải đoàn. Một Phân Hải đoàn gộp nhiều Hải đội. Khác biệt giữa một Phân Hải đoàn Khu Trục hạm với một Hải đội Khu Trục hạm là một Hải đội có 4 khu trục hạm và soái hạm của Hải đội ấy vẫn là một tàu khu trục cùng loại; trong lúc một Phân Hải đoàn Khu Trục hạm có từ một đến ba Hải đội Khu Trục hạm với soái hạm là một tuần dương hạm nhẹ. Là lý thuyết.
Hải quân Hoa Kỳ tổ chức cách khác: Fleet (Hạm đội) gộp nhiều Task Force (Hải Lực hay Lực lượng Đặc nhiệm). Mỗi Task Force có nhiều Task Group (Hải đoàn Đặc nhiệm). Mỗi Task Group có nhiều Task Unit (Hải đội Đặc nhiệm). US Navy có cách ký hiệu riêng: Nếu ghi Task Unit 62.5.3 thì đây là Hải đội 3 của Hải đoàn 5 thuộc Hải lực 2 của Đệ Lục Hạm đội (“the Third Task Unit of the Fifth Task Group of the Second Task Force of the Sixth Fleet”).
Trong trận Vella, Hải đội 4 Nhật đụng độ Task Group 331.2 gồm Task Unit 331.2.11 và Task Unit 331.2.15. Tức là Hải đội 11 của Hải đoàn 2 thuộc Lực lượng Đặc nhiệm (hay Hải Lực) 31 của Đệ Tam Hạm đội của Đô đốc Halsey. Tương tự cho Hải đội 15.
[Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương 34
Vào 3g sáng ngày 6 tháng 8, chúng tôi rời căn cứ Rabaul tiến về hướng Nam. Mặt biển lặng sóng, bầu trời nhiều mây, thỉnh thoảng những cơn mưa luồng chợt đến, và xen vào đó là ánh bình minh loáng thoáng.Lúc 14g30, chúng tôi di chuyển ngang qua đảo Boka. Một thám thính cơ địch xuất hiện, nhưng rồi mất hút trong mây. Truyền tin của tôi cho biết vừa chận bắt một công điện mã hóa. Có lẽ đây là mật điện của phi cơ địch báo cáo hướng tiến của chúng tôi. Thực ra, cuộc hành quân này không làm cho địch phải ngạc nhiên. Chúng tôi đã đi qua đây hai lần rồi.Tôi tiếp tục theo dõi soái hạm Hagikaze, để xem Ðại tá Sugiura đối phó với tình hình như thế nào. Tôi rất bực khi thấy Sugiura vẫn tiếp tục giữ nguyên lộ trình, với tốc độ như cũ, dầu rằng địch đã phát giác ra chúng tôi. Tôi nghiến chặt răng và thi hành nhiệm vụ.
Lúc 19g, chúng tôi tiến vào eo biển Bougainville, xoay hướng 140 độ và tăng gia tốc lên 30 hải lý. Hai giờ hai mươi phút sau đó, chúng tôi tiến thẳng vào mặt Ðông-Bắc của đảo Vella Lavella. Chiếc Shigure rơi về phía sau, chứng tỏ nó không đủ sức chạy mãi với tốc lực 30 hải lý. Sỹ quan hoa tiêu là Trung úy Yoshio Tsukihara báo cáo với tôi: “Ðại tá, chúng ta tuốt đằng sau chiếc Kawakaze đến 1,000m, làm thế nào gia tăng vận tốc để giữ khoảng cách 500m?”
“Không,” tôi lớn tiếng, “như thế này được rồi. Không điên khùng giữ khoảng cách 500m. Ðừng bắt máy chạy nhanh hơn nữa.”
Vella Lavella hiện ra thấp thoáng ở mạn phải chiếc Shigure, với ngọn núi lửa cao ngút bao phủ mây đen. Ở mạn trái, tôi không nhìn thấy gì cả ngoài một màu đen kịt mà từ đó địch quân có thể xuất đầu lộ diện bất cứ lúc nào. Tôi cảm thấy nao núng.
Tôi lớn tiếng ra lệnh: “Sẵn sàng tác chiến. Tất cả trọng pháo và ngư lôi nhắm về mạn trái, đặt súng ở tầm 3,000m, ngư lôi ở tầm sâu 2m, giác độ 20. Tăng cường gấp đôi các vị trí quan sát.”
Tôi nhắc lại: “Tập trung canh phòng mạn trái.”
Mười phút nặng nề trôi qua, tôi vẫn nhìn chăm chú về mạn trái xem coi có dấu hiệu hoặc chuyển động nào của địch hay không. Tầm nhìn của tôi không xa hơn 2,000m. Sự căng thẳng trên tàu chợt bị xé tan bởi tiếng nói từ phòng kiểm soát vang lên qua ống liên lạc nội bộ. Là tiếng nói của Ðại úy Doi hỏi tôi xem những ống phóng ngư lôi có nên trả về vị trí cũ hay không?
Tôi la lên: “Không.”
Và tiếp đó tôi giải thích rõ hơn: “Không di chuyển Doi, ở mạn phải nhìn rất rõ, chúng ta có thể nhìn thấy cả những lớp san hô của đảo Vella. Nhưng ở mạn trái, chúng ta không thể nhìn quá 2,000m, chúng ta không biết địch ở đâu. Hãy cứ giữ vị trí các ngư lôi hướng trái, sẵn sàng phóng bất cứ lúc nào.”
Tiếng nói của tôi chưa kịp dứt, quan sát viên Yamashita la to:
“Nhiều lượn sóng trắng! Nhiều vật đen xuất hiện! Rất nhiều tàu … đang tiến về phía chúng ta!”
Lập tức, tôi ra lệnh cho tàu xoay hẳn về phía phải, để đưa lườn song song đội hình địch, đồng thời ra lệnh phóng ngư lôi vào các mục tiêu ở mạn trái. Bây giờ thì những vệt sóng trắng đã hiện rõ trên mặt đại dương. Tôi cảm thấy bất an, liếc nhìn về phía 3 khu trục hạm dẫn đầu, cả 3 đang tiếp tục tiến về phía trước như không thấy những chiến hạm địch đang đâm thẳng đến.
“Tiên sư!”Tôi chửi thề! Chiếc Shigure của tôi vẫn còn lẽo đẽo tận mãi phía sau, cách chiếc Kawakaze đến 1,500m. Khoảng 45 giây sau khi tôi ra lịnh đổi hướng, Shigure vung sang mạn phải, ngay khi những quả ngư lôi được phóng ra và lướt nhanh trên mặt nước. Lúc đó là 21g45. Khi sắp ra lịnh phóng thêm 8 ngư lôi nữa, tôi chợt thấy nhiều quả ngư lôi đang xé nước chạy về phía chúng tôi. Quả ngư lôi gần nhứt chỉ cách tàu chúng tôi 800m. Tôi ra lịnh xoay cấp tốc về phía phải. Ngoặt nhanh! Ngay lúc đó, tôi nhìn thấy một cột lửa bốc phụt lên từ khoảng giữa khu trục hạm Arashi, và 2 cột lửa khác phựt từ khu trục hạm Kawakaze. Riêng chiếc tàu dẫn đầu Hagikaze của Sugiura ở mãi tít đằng xa và chạy cùng hàng với hai chiếc tàu phát hỏa, nên tôi không hiểu được tình trạng nó ra sao.
Lúc quay nhìn xuống mặt nước, tôi nín thở. Ba quả ngư lôi lướt thẳng đến trước mũi Shigure, lúc chiếc tàu vừa ngoặt về mạn phải. Tôi gần như muốn khuỵ xuống, phải nắm chặt vào tay vịn của đài chỉ huy. Quả ngư lôi đầu chỉ cách mũi tàu 20m, quả kế gần hơn, và quả thứ ba chắc chắn trúng chiếc tàu. Tuy nhiên, nó không trúng, hoặc nếu có trúng thì chỉ phớt nhẹ vào vỏ tàu lúc chiếc Shigure đang xoay hướng nhanh chóng. Tôi mơ hồ nghe một tiếng động nhẹ phát ra từ phía đuôi tàu, nhưng không đoán ra là tiếng động gì. Nhìn chung quanh, một lần nữa tôi phát hiện nhiều quả ngư lôi đang lướt ngang phía trước mũi chiếc Shigure, cách chừng 30m hay xa hơn chút ít, lúc tàu vừa xoay vòng tròn để tránh né một cách tuyệt vọng.
Tôi ra lịnh xoay ngược lại: “Bẻ lái sang trái, nửa vòng! Lập tức!”
Khi một khu trục hạm đang chạy với tốc lực 30 hải lý một giờ, muốn guồng lái đáp ứng với tay lái phải mất một phút. Tôi nhìn quanh đầy lo ngại. May mắn thay, tôi không còn nhìn thấy quả ngư lôi nào nữa. Lúc này tôi mới có dịp nhìn đồng hồ. Bấy giờ là 21g47. Hai phút ngắn ngủi vừa trôi qua là hai phút nghẹt thở nhứt trong đời tôi.
Quan sát viên Yamashita hân hoan thông báo là một trong số những quả ngư lôi do chúng tôi phóng đi đã nổ giữa đám tàu của địch. Ðây là loạt phóng đúng vào lúc mà toàn thể thủy thủ và sỹ quan của khu trục hạm Shigure đang lo lắng không biết lúc nào chiếc tàu thân yêu của mình bị trúng ngư lôi địch. Tuy nhiên, niềm vui này không dài lâu khi chúng tôi nhận thấy hình như không một chiến hạm nào của địch phát hỏa.
Sau đó, mọi người đoan chắc rằng sở dĩ quả ngư lôi phát nổ vì chạm phải sóng mạnh do tàu địch gây ra, bởi lẽ loại ngư lôi chạy bằng ô-xy nén rất nhạy.
Ðêm đó, địch quân đã tránh né những “lưỡi giáo dài”, loại ngư lôi tối tân của Nhựt một cách tài tình. Tôi đinh chắc thế nào một số ngư lôi mà chúng tôi phóng ra cũng trúng đích, nhưng các khu trục hạm địch đã kịp thời quay 90 độ hướng về phía Ðông đúng lúc để tránh.
(Hải đoàn Hoa Kỳ đang hoạt động gần Bougainville lúc này là Task Group 331.2 do Trung tá Frederick Moosbrugger chỉ huy, bao gồm Hải đội 12 Khu Trục hạm với các chiếc Dunlap, Craven và Maury, cùng Hải đội 15 Khu Trục hạm với các chiếc Lang, Sterrett và Stack.)
Tôi gọi phòng truyền tin hỏi xem có tin tức gì của các khu trục hạm Nhựt khác hay không. Tôi được trả lời ngay: “Arashi và Kawakaze báo đã trúng ngư lôi địch. Chưa có tin gì về khu trục hạm Hagikaze.”
Sau khi ra lịnh phải cố giữ liên lạc với các tàu bạn, tôi cho Shigure phun một màn khói để che giấu hoạt động của chúng tôi. Tôi phân vân không biết phải làm gì nữa đây. Trong lúc đó, chiếc Shigure đang chạy thẳng về hướng Tây-Bắc, rời khỏi khu vực lâm chiến. Kiểm điểm lại tình hình, tôi nhận thấy địch đã mở một cuộc phục kích chúng tôi rất thần tình, và vào lúc ấy chiếc Shigure ở vào một tình thế bất lợi thấy rõ. Tôi nhớ lại cái đêm ở Guadalcanal trước đây, một mình chiếc Amatsukaze của tôi đương đầu với cả một đoàn tàu địch, và đã đánh chìm khu trục hạm USS Barton. Bây giờ thì tình thế đã đổi khác. Ðịch quân đã đâm thẳng vào tàu tôi và không phải một mình chiếc tàu tôi chống trả địch quân. Xét đoán hướng tiến của các ngư lôi địch, tôi nhận thấy các chiến hạm địch đã khai hỏa trong sự phối hợp chặt chẽ. Hai khu trục hạm Arashi và Kawakaze bị trúng đạn đã gây sửng sốt cho tôi. Trước đây, tôi chưa bao giờ thấy chiến hạm nào của địch phóng ngư lôi tài ba như vậy. Ngẫu nhiên, tôi khám phá ra kỹ thuật phóng ngư lôi của địch đã tinh vi hơn.
Ðêm nay, Hoa Kỳ nắm trọn lợi thế. Nhưng tôi không thể nào tháo chạy, bỏ mặc các đồng đội, cho dù tôi biết không thể nào chống chọi lại với một lực lượng địch đông vượt trội. Khu trục hạm Hagikaze biệt tăm, chỉ mong rằng may ra nó vẫn còn nổi được trên mặt biển. Tôi ra lịnh chuẩn bị lại các dàn ngư lôi, và cho thủy thủ đoàn biết Shigure sẽ quay lại để đánh tiếp. Ðúng 21g51, chúng tôi quay tàu lại. Một phút sau đó, hải pháo địch đột ngột giăng phía trước chúng tôi khoảng 3 dặm. Những ánh đèn pha và đèn rọi tìm của địch rực sáng cả bầu trời. Ðịch đang pháo vào các khu trục hạm đã thấm đòn của chúng tôi.
Trong lúc chiếc Shigure tiến về phía trước, nơi đang xảy ra cuộc pháo kích, tôi gọi phòng truyền tin hỏi xem có liên lạc được với các khu trục hạm bạn hay không và đồng thời ra lịnh cho mọi người sẵn sàng tham chiến, nhưng không một tàu Nhựt nào lên tiếng. Ngay lúc đó, tôi nhận ra hướng tiến của chiếc Shigure không được chính xác. Tôi chực nhớ lại tiếng động khác lạ mà tôi đã nghe trước đó. Mãi đến 4 tháng sau, khi chiếc Shigure vào ụ nổi để sửa chữa, tôi mới hiểu nguyên do gây ra tiếng động này. Trên bánh lái của chiếc tàu có một lỗ thủng khoảng chừng 60cm: một quả ngư lôi Mỹ đã chọc thủng, nhưng không nổ, và chui xuyên qua đó.
Trên đài chỉ huy, tôi đang sống trong một trạng thái cực kỳ lo lắng. Với 250 binh sỹ bộ binh và nhiều tấn quân cụ chất nghẹt boong tàu, làm sao chiếc Shigure có thể đơn thân độc mã chống trả với một kẻ thù đông đúc còn nguyên vẹn? Tại Guadalcanal, tôi đã vấp phải 3 lỗi lầm khiến cho 43 thủy thủ thiệt mạng. Không biết tôi sẽ phạm thêm bao nhiêu lỗi lầm trong tình cảnh này? Và sẽ có bao nhiêu người thiệt mạng vì những lỗi lầm đó?
Shigure vẫn tiếp tục tiến tới khu vực chiến đấu. Hỏa lực của địch thình lình ngưng hẳn vào lúc 22g10. Khu vực chìm khuất vào bóng tối. Dường như cả ba khu trục hạm Nhựt đã biến mình vào lòng đại dương rồi. Không còn dấu tích và kẻ chiến thắng chắc chắn đang nằm chờ trong bóng tối để bất thần nhảy ra vồ lấy chiếc Shigure. Ngay sau khi cố liên lạc lần cuối cùng với các tàu bạn nhưng không được trả lời, tôi ra lịnh rút lui vào lúc 22g15. Ðây là một quyết định rất đau lòng, nhưng không có chọn lựa nào tốt hơn.
Tôi thông báo về căn cứ Rabaul rằng chúng tôi đã rút khỏi địa điểm xảy ra trận chiến và yêu cầu ở đây cho chỉ thị. Tổng Hành dinh trả lời tức khắc: “Quay về căn cứ. Yêu cầu đơn vị ở Kolombangara tìm cách cấp cứu những người còn sống sót.”
Như vậy là trận đánh đã kết thúc và địch đã chiến thắng vẻ vang. Ba khu trục hạm Nhựt bị đánh chìm, 700 thủy thủ và 820 binh sỹ bộ binh có mặt trên 3 chiếc tàu này chỉ còn sống sót 310 người, trong số đó có Ðại tá Sugiura. Hơn 30 giờ sau khi tàu chìm, ông ta trôi dạt vào bờ và đi lạc trong rừng rậm suốt một tuần lễ trước khi được toán tìm kiếm tiếp cứu. Vào ngày 20 tháng 8, tôi rất đau lòng và hổ thẹn khi thấy Sugiura trở về căn cứ Rabaul trong một thân xác gầy yếu. Những người sống sót đã thuật lại cảnh tượng khủng khiếp của trận đánh mà họ đã tham dự. Hai quả ngư lôi đã trúng vào chiếc Hagikaze, hệ thống vô tuyến của chiếc tàu này bị cắt đứt ngay lập tức. Chiếc Arashi lĩnh 3 quả ngư lôi và chiếc Kawakaze lĩnh 2 quả. Ðó là một trong những thành tích phóng ngư lôi chính xác nhứt của US Navy trong lịch sử các trận hải chiến.
Quả ngư lôi thứ tám của địch trúng vào bánh lái của khu trục hạm Shigure. Cũng nhờ vào sự may mắn chứ không thì nó cũng chịu chung số phận với 3 tàu kia. Trận chiến kể trên chứng tỏ Hải quân Hoa Kỳ đã tiến bộ rất mau lẹ trên mọi phương diện, gây kinh ngạc cho tất cả các chuyên viên Nhựt, những người từ trước đến nay tỏ ra khinh thường sự hữu hiệu của ngư lôi địch.
Không cần phải đợi mãi đến sau khi chiến tranh chấm dứt, đọc những bài viết về trận đánh này, tôi mới hiểu tại sao địch đã chiến thắng. Tất cả khu trục hạm của chúng tôi đã chui vào cái bẫy được địch khéo léo giăng ra, lợi dụng vào địa thế của dãy núi Kolombangara. Hoa Kỳ biết chúng tôi lên đường vào sáng sớm và đã theo dõi chúng tôi suốt ngày hôm ấy. Sáu khu trục hạm của họ đã rời khỏi căn cứ Tulagi lúc 9g30. Các khu trục hạm này đã được trinh sát cơ thông báo đầy đủ diễn tiến hoạt động của chúng tôi. Ðịch biết chúng tôi hướng về vịnh Vella. Từ trong vịnh họ đã thấy chúng tôi trên màn hình radar ở khoảng cách xa 10 dặm. Lúc đó chiến hạm địch bèn chia thành hai nhóm, mỗi nhóm 3 chiếc. Ba chiếc Dunlap, Craven và Maury có nhiệm vụ ra tay trước, còn 3 chiếc khác chờ đợi khi nào cần sẽ tiếp tay đồng bọn dứt điểm mục tiêu. Nhưng 3 chiếc tàu trước đã phóng ngư lôi một cách rất chính xác nên nhóm thứ nhì không cần phải hành động.
Chiến thắng của Hoa Kỳ có lẽ sẽ được trọn vẹn hơn nếu họ tiếp tục truy đuổi chiếc Shigure. Nhưng vì màn khói đen do chúng tôi tạo ra khá hữu hiệu, đến nỗi khiến cho địch quân tưởng lầm chiếc Shigure đã trúng ngư lôi và chìm rồi. Sau chiến thắng này của Hoa Kỳ, Bộ Tư Lệnh Tối Cao Nhựt không bao giờ còn dám sử dụng ngõ vịnh Vella để tiến đến căn cứ Kolombangara nữa.
Chiếc Shigure trở về căn cứ Rabaul vào đêm 7 tháng 8-1943. Lúc đó Tổng Hành dinh ở đây rất náo động. Sau chiến bại của chúng tôi tại Munda vào ngày 4, tiếp liền là sự thảm bại không ai ngờ tại vịnh Vella đã làm mọi người xúc động. Từ Munda xuyên qua eo biển Blackett nhỏ hẹp là khu vực phòng ngự chính của Nhựt bảo vệ quần đảo Solomon và căn cứ Kolombangara. Tôi có thể hiểu được tại sao các khu trục hạm của địch đụng đầu với chúng tôi ở Vella đã quyết đánh tan chúng tôi. Họ không muốn chúng tôi sử dụng hải trình này nữa, và họ đã thành công. Phó Ðô đốc Tomoshige Samejima, Tư lệnh Ðệ Bát Hạm đội đã tiếp tôi với khuôn mặt dàu dàu, nhưng ông không đá động gì đến công tác vừa qua của tôi. Ông tỏ ra hối hận đã đưa các khu trục hạm của Hải đội 4 vào bẫy, vì đã điên rồ lặp đi lặp lại một phương thức đã được sử dụng.
Lúc tôi quay trở về thì 250 lính bộ binh và quân trang của họ đã chuyển hết lên bờ. Hầu hết số binh sỹ này đều mệt lả sau 40 giờ chen chúc dưới hầm tàu. Họ la lên vui mừng khi được đặt chân lên đất liền. Họ biết vừa thoát khỏi tay tử thần trong đường tơ kẻ tóc, nên trước khi ra đi tất cả đều cung kính chào giã biệt chiếc Shigure và thủy thủ đoàn. Ðiều này khiến tôi nghĩ rằng quyết định rút lui mà tôi đã chọn là một quyết định đúng.
Tôi cho các thủy thủ được nghỉ ngơi qua hết ngày hôm sau, và cho phép họ lên bờ mỗi lần một phần ba số thủy thủ đoàn. Ðây là lần nghỉ ngơi thực sự và đầu tiên của họ. Khi nhìn thấy Trung sĩ Yamashita, quan sát viên đã phát hiện tàu địch, trong nhóm thủy thủ đầu tiên được phép lên bờ, tôi gọi anh ta vào phòng. Tôi trao anh ta chiếc đồng hồ đeo tay bằng bạc của tôi và nói: “Anh đã làm được một việc lớn. Tôi muốn anh nhận cái này. Nó không đáng giá bao nhiêu, tôi đã mua nó cách đây 20 năm tại thương xá Wanamaker ở Nữu Ước.”
Trung sĩ Yamashita từ chối: “Thưa Ðại tá, tôi không dám nhận một vật có nhiều giá trị và ý nghĩa đặc biệt đối với Ðại tá. Tôi chỉ làm nhiệm vụ của mình thôi. Nếu hành động của tôi được khen thưởng thì tôi mong rằng sự khen thưởng đó từ Bộ Tư Lệnh.”
“Nhận chiếc đồng hồ này và đừng bàn cãi gì thêm nữa, Yamashita. Bộ Tư Lệnh sẽ không bao giờ cho anh cái gì đâu. Ngay cả quả ngư lôi của chúng ta đã trúng tàu địch mà họ còn không tin, bởi lẽ việc này chỉ có anh là nhân chứng duy nhất mà thôi.”
“Thưa Ðại tá, họ không tin là sai. Tôi thấy quả ngư lôi trúng tàu địch như đã thấy nhóm tàu địch tiến đến chúng ta khi hãy còn là những vệt đen nhỏ. Trong đời tôi chưa hề biết nói láo, và tôi sẽ đấm vào mặt kẻ nào cho tôi là nói láo.”
“Lại đây, Yamashita. Bây giờ anh biết phải làm gì. Quên chuyện đó đi. Hãy lên bờ và vui chơi thỏa thích.”
Tôi nhét chiếc đồng hồ vào túi Yamashita. Anh ta hơi bối rối một chút, nhưng sau đó nở một nụ cười trên môi, và cáo từ.
Tôi buông mình xuống ghế. Một công việc khó khăn đang chờ tôi. Tôi phải viết một bản tường trình với đầy đủ chi tiết về trận hải chiến tại vịnh Vella. Tôi muốn viết một cách ngay thẳng trung thực, đồng thời tôi muốn bênh vực cho các đồng đội đã thiệt mạng. Tôi mất nhiều giờ mới viết xong bản báo cáo.
Nằm bệnh viện Hải Quân một tuần mà Đông thấy dài như một tháng. Suốt ngày thì giờ trống trải. Sáng ngủ dậy trễ. Mười giờ bác sĩ đi thăm bệnh, mười hai giờ người nhà đem cơm vào ăn. Ba giờ chiều bác sĩ đi thăm bệnh lần nữa, sáu giờ người nhà đem cơm vào ăn. Rồi ngủ, rồi dậy trễ…
Cũng trong vòng có một tuần mà Đông đã chứng kiến nhiều cái bệnh ly kỳ, nhiều cái chết cũng ly kỳ.
Ông già nằm kế bên Đông bị chai gan, vô nước biển nước biển không vô, trào trở ra xung quanh cây kim, lẫn lộn với nước vàng ướt cả nệm. Sáng ngày thằng con ông vô thăm, cứ tưởng là ông đi tiểu trong đêm, cằn nhằn đủ thứ. Hết phương cứu chữa. Qua ngày sau bác sĩ cho giấy xuất viện, bao xe đò về quê ngay, chỉ sợ chết dọc đường.
Tên trung sĩ nằm phòng kế bên chẳng biết làm ăn ác nhơn thất đức ra sao mà bị người ta kiếm thầy thư cho một bụng, cái bụng phình lên, to hơn bụng bò. Bác sĩ thì đâu có nghĩ đến chuyện bùa ngải rừng thiêng, cứ vài giờ thọc cây kim tổ bố từ sau lưng rút ra đôi ba thau nước, nước nhờn lẫn máu tươi. Cái bụng xẹp xuống rồi lại phình lên, mà có thấy anh ta ăn uống gì đâu. Ba ngày liên tiếp như vậy, ai ai cũng lắc đầu cho số phần của hắn ta. Qua ngày sau bác sĩ cấp giấy chở xác của hắn về nhà xác khám nghiệm.
Cũng trong phòng này, ông thượng sĩ già mới nhập viện ngày hôm qua, cho nằm một mình tuốt trong góc, ông ta bị lao phổi thời kỳ thứ ba. Đến mười một giờ đêm tự nhiên ông ta ho rũ rượi, rồi ho luôn ra máu, máu bắn ra làm đỏ cả mặt drap đỏ cả nền gạch bông trắng. Bác sĩ trực ký giấy cho ông ta đi vô Chợ Rẫy hay Grall gì đó ngay trong đêm. Tiếng còi hụ của xe Hồng Thập Tự làm ai cũng thức giấc…
Riêng phần Đông thì ba ngày mới vào viện, những cơn sốt trên bốn mươi độ làm Đông tưởng mình cũng sắp chết. Phổi có nước, bác sĩ bảo vậy. Cũng may là bệnh mới nhuốm, nước chưa có nhiều, chỉ cần chích thuốc cho nó kẹo lại. Péniciline một triệu làm hai mông của Đông chai cứng, khập khiễng cả tiếng đồng hồ sau mỗi khi chích. Bây giờ đỡ rồi, hi vọng sẽ được xuất viện nay mai, ở đây buồn quá.
Đông vạch tay xem đồng hồ. Một giờ trưa. Cả phòng yên lặng, người ngủ kẻ đọc sách. Đông khẽ đứng dậy đi lại cửa sổ nhìn ra phía mặt tiền, đường Cường Để. Bên kia đường, Hải Quân Công Xưởng, xưởng Ba-son, nhân viên đi ăn trưa trở vào làm việc tấp nập. Xe jeep, xe GMC, xe gắn máy đủ loại đủ cỡ ra vô cổng chánh, cổng phụ ồn ào náo nhiệt. Một cảnh sống ngoài đó và một cảnh chết trong này. Đông lắc đầu quay trở lại giường nằm nghỉ. Mắt nhắm mắt mở, mơ màng lim dim…
– Anh, có phải anh là thiếu úy Đông không?
Đông bật ngồi dậy, vận dụng tâm trí cố nhớ một hình ảnh quen quen, một vóc dáng gì giống giống cô gái đang đứng trước mắt mình nhưng hoàn toàn thất bại. Đông trả lời:
– Phải, tôi là thiếu úy Đông, xin lỗi cô tìm tôi có chuyện gì?
– Em đến thăm anh đây.
Đông vừa ngạc nhiên vừa giật mình:
– Nhưng tôi chưa được biết cô là ai? Xin lỗi cô tên gì?
– Em là Thu Thu. Chuyện dong dong dài dài lắm để rồi em sẽ kể anh nghe. Em từ Nha Trang vào thăm anh đây, bây giờ để em nghỉ một chút đã. Nói xong Thu Thu nghiêng người ngã lên giường, Đông lật đật ngồi nép sang một bên nhường chỗ. Thu Thu có vẻ mệt thật, hai tay đan vào nhau gát lên mái tóc thề, hai mắt nhắm nghiền, ngực phập phồng nằm thở. Đông ngẩn ngơ không hiểu chuyện gì. Thu Thu? Cái tên nghe lạ lạ. Đông chưa quen ai tên Thu Thu bao giờ.
Hình Mạnh Hải/Flickr
Vói tay kéo tà áo trắng lòng thòng bên giường phủ lên đùi cho người con gái, Đông suy nghĩ chưa biết phải xử trí ra sao thì Phước, anh bạn nằm giường kế bên, cười nói:
– Ê, gì vậy Đông?
Đông nhún vai trả lời:
– Ai biết gì đâu…
Cả hai im lặng một hồi thì Thu Thu tỉnh dậy, mở mắt ngơ ngác nhìn quanh. Cái tính mát-mát bốc đồng, nhưng gương mặt đẹp, dễ thương. Đông gợi chuyện:
– Nè, bây giờ chuyện gì em có thể nói cho anh nghe được chưa? Nếu cần anh giúp đỡ điều gì thì cứ nói, anh sẽ lo liệu cho. Nói đi.
Thu Thu ngập ngừng:
– Anh… đi ra ngoài phố với em được không?
Đông sửng sốt:
– Đi phố? Em có biết anh là một con bệnh mới bớt bớt không?
– Anh đi thì em mới kể chuyện cho anh nghe! Hừ…
Em là ai? Sao em xinh đẹp quá vậy? Sao em dễ dãi quá vậy? Xưa nay trâu tìm cột chớ cột nào tìm trâu! Xưa nay trai mời gái chớ gái nào rủ trai! Do dự một hồi, Đông quay qua hỏi Phước:
– Ê, Phước, mượn xe của toa một chút nghen.
Không cần suy nghĩ, Phước trả lời ngay:
– Được.
Đông quay lại Thu Thu:
– Vậy em chờ anh ở đây.
Đông lấy đồ lính vào trong phòng tắm thay đồ. Thu Thu móc ví lấy gương soi mặt, chải lại tóc. Một lúc sau Đông bước ra, Phước đưa chìa khóa:
– Chiếc honda dame màu xanh lá cây, bảng số GĐ.., đậu bên trái.
– OK.
Thu Thu cặp tay Đông đi xuống cầu thang như đôi nhân tình đang hồi thắm thiết. Mùi thơm con gái phảng phất, lâng lâng. Liêu trai, thần thoại, ly kỳ. Đông thấy sự dan díu như bắt đầu.
Xe quẹo cua vòng ra bến Bạch Đằng một đỗi, Thu Thu cất tiếng:
– Mình xuống tàu chơi đi anh!
– Đâu có được, tàu đậu ở bến Bạch Đằng 1 này là chiến hạm biệt phái cho tư lệnh, đâu có phải xuống là xuống. Hơn nữa mình đâu có quen ai ở dưới đó.
– Chớ em có quen gì anh. Anh là gì Đông? Nguyễn Nhật Đông.
Thu Thu choàng tay ôm eo Đông thật sát:
– Anh là Nguyễn Nhật Đông, em là Trần Thị Thu Thu. Đông, Thu Thu, không biết anh với em có duyên nợ gì đây?
Lưng Đông ấm ấm, nhột nhột với cử chỉ quá tự nhiên của Thu Thu. Đông trở lại vấn đề:
– Bây giờ anh muốn nghe chuyện của em. Lát nữa đã. Trước sau gì em cũng kể cho anh nghe mà…
Đông gửi xe trước lối vào Eden. Ban đầu định rủ Thu Thu vào xem ciné nhưng nghĩ mình mới quen nên đổi ý, nắm tay đắt Thu Thu băng qua Rex rồi xuống Pole Nord. Chọn bàn trống trong góc, Đông kêu một ly coca-cola rồi đưa tờ menu cho Thu Thu:
– Em uống gì kêu.
– Cho tôi một ly cà phê sữa.
Thu Thu nói gọn một câu với người bồi bàn.
Đông nghĩ thầm : Con gái gì mà vào tiệm kem, không ăn kem, không uống nước sinh tố mà lại uống cà phê sữa như đàn ông, con trai. Thu Thu tiếp thêm :
– Mình ăn cơm đi anh.
Đông làm tài khôn:
– Tiệm kem làm gì có cơm.
– Chứ sao người ta ăn đó?
Hình Mạnh Hải/Flickr
Đông lấy làm lạ gọi người bồi bàn lại hỏi:
– Bộ ở đây bây giờ cũng có bán cơm trưa nữa hả?
– Dạ đâu có. Mấy người làm ở đây họ ăn cơm trễ đó mà .
Đông nhìn Thu Thu, lắc đầu:
– Quê quá.
– Em đói bụng.
– Được rồi để anh lo. Kể chuyện của em đi.
lm lặng hồi lâu rồi Thu Thu nói luôn một mạch:
– Em có người yêu cũng hải quân như anh, nhưng anh ấy vừa mới mất mấy ngày nay. Anh biết anh Quế không? Chắc anh không biết đâu! Em buồn, em đi lang thang. Em vào đây được mấy hôm, nửa muốn biết Sài Gòn nửa để giải khuây. Em đang ở nhà bà chị và ông anh rể. Nếu tiện thì có thể em ở đây ghi tên đi học luôn. Em nửa muốn học Dược nửa muốn học Y Khoa. Anh thấy em có khùng khùng không?
À, thì ra cô nàng đang thất tình. Quế nào ? Phải Trần Chính Quế không? Ối, chuyện đã qua thì cho nó qua luôn, hãy nghĩ đến chuyện hiện tại:
– Nè, mới vô Sàigòn lần đầu mà sao em dạn dữ vậy ? Em thiệt không sợ anh bắt cóc hả ? Mà làm sao em tới bịnh viện thăm anh được?
– Em đi với ông anh rế của em mà, ảnh cũng hải quân.
Thì ra vậy. Đông hỏi:
– Rồi anh ấy đâu?
– Còn làm việc ở dưới bộ tư lệnh.
Đông hỏi thêm:
– Anh của em cấp bực gì và nhà anh ấy đang ở khu nào?
– Ảnh trung sĩ, làm ở phòng Tâm Lý Chiến. Nhà ảnh đang thuê ở đường Nguyễn Văn Học. Cư xá của nhà máy nước Nguyễn Văn Học. Em chỉ biết có vậy, anh rành khu đó không?
Đông không trả lời câu hỏi của Thu Thu, thở dài:
– Chuyện của em cũng không có gì quan trọng. Rồi thời gian nó sẽ làm phôi pha đi. Em chưa hỏi chưa cưới, chưa mang bầu chưa có con thì chuyện gì phải lo.
Thu Thu xẳng giọng:
– Chuyện như vậy mà anh cho là không quan trọng? Anh đâu hiểu gì được em!
Đông định nói: Anh đâu phải là thần thánh, mới biết em có mấy tiếng đồng hồ, nhưng thôi. Đông im lặng. Thu Thu cũng im lặng… Đông trả tiền nước rồi đưa Thu Thu ra ngoài:
– Giận anh hả?
– Đâu có.
Thu Thu ghé lại xe bánh mì ở góc đường mua luôn hai ổ. Không cho Đông trả tiền, cầm một ổ đưa cho Đông. Đông từ chối, Thu Thu vọt miệng:
– Anh không ăn em ăn hết à, em đói bụng.
– Cứ tự nhiên.
Rồi Thu Thu vừa đi vừa ăn. Đông choàng tay ôm vai, hai đứa cặp kè đi lần về pha bùng binh. Trong phút chốc cái xa lạ, ngượng ngùng của buổi ban đầu vụt biến đi mất, nhường chỗ cho thân mật tự nhiên. Da thịt cạ vào nhau. Khuôn mặt trái soan hiền dịu, Đông tưởng tượng đến nụ hôn đầu rồi mỉm cười một mình. Nửa đường băng qua Khai Trí xem sách. Loay hoay chẳng mua được gì, sau cùng Đông hỏi:
– Thu Thu này, bây giờ em muốn anh đưa em về nhà hay là em muốn trở lại bệnh viện với anh?
– Em muốn ra chợ…, mình còn nhiều thì giờ mà.
– Nhưng anh phải trở về trước giờ bác sĩ khám!
Hình Mạnh Hải/Flickr
Thu Thu do dự:
– Ừ, thôi về cũng được. Anh cho em xuống ở bộ tư lệnh. Em cần gặp ông anh của em.
Vòng xe về bến Bạch Đằng, Đông đậu xe dựa lề rồi đưa Thu Thu vào phòng chờ đợi. Thu Thu mở ví lựa ảnh viết tặng. Đông nhìn qua chợt nói:
– Cho anh tấm lớn kia thì anh mới chịu, mấy tấm nhỏ này anh không lấy đâu.
Thu Thu thở ra, tiếc, nhưng rồi cũng chiều ý Đông:
Khi nào rảnh, em sẽ đến thăm anh. Đông hăm dọa:
– Nè, nếu không đến thăm anh thì anh sẽ tìm đến tận nhà đó…
Một cuộc chia tay không gì bận bịu. Về tới nơi cũng vừa đúng lúc bác sĩ bắt đầu đi thăm bệnh. Đông đi thẳng vào trong thay đồ, mặc lại đồ nhà thương, trở ra leo lên giường nằm nghỉ. Bác sĩ Hoàng ngó Đông lom lom. Chẳng màng. Đầu óc Đông bây giờ chỉ lảng vảng hình bóng Thu Thu. Ai ngờ Đông có một người em gái hậu phương duyên dáng như vậy! Đông nghĩ chắc mình sẽ lên cơn sốt trở lại. Bác sĩ khám xong, vừa đi khỏi thì Phước như không thể chờ đợi được nữa, hỏi dồn:
– Thế nào toa, chuyện ra sao? Coi bộ toa có số đào hoa! Con bé dễ thương quá cỡ!
Đông thành thật:
– Tự nhiên con nhỏ vào thăm moa, thế thôi…
Rồi như chợt nhớ ra điều gì, Đông tiếp:
– À, mà moa cũng quên hỏi nó tại sao nó lại thăm moa mà chẳng thăm ai khác. Như toa chẳng hạn! Không được, moa phải check lại với mấy cô y tá.
Đông nhảy xuống giường, Phước lót tót theo sau.
Cả hai đi ra phòng trực. Đông lên tiếng:
– Hồi trưa này làm sao mà mấy cô cho con bé đó vào thăm tôi?
– Con bé nào?
– Còn con bé nào nữa!
– À, cô ấy nói là cho cô ấy thăm ông sĩ quan nào ở phòng Chiến Tranh Chính Trị hoặc phòng Nhì. Phòng Chiến Tranh Chính Trị thì không có ai hết, phòng Nhì thì chỉ có mình thiếu úy thôi.
Phước cười ra tiếng:
– Phòng Nhì toa như vậy thì bỏ mẹ rồi. Đặc công cộng sản nó vô tới trong ruột, trong tim mà còn chưa hay.
– Vừa thôi! Đặc công cộng sản đâu có đứa nào coi được như vậy toa…
Rồi ngày qua ngày, Đông mỏi mắt trông chờ hình bóng Thu Thu mà than ôi, người ra đi có bao giờ trở lại? Mãi cho đến ngày xuất viện cũng vẫn biền biệt tăm hơi. Không còn chần chờ gì nữa, Đông phải ra tay nắm lấy cái phao cuối cùng. Một chiều cuối tuần, Đông xách Vespa thân hành đến nhà máy nước Nguyễn Văn Học. Một dãy cư xá lợp tôn lạnh vách ván năm căn. Hỏi thăm từng nhà, từng nhà một. Thu Thu? Thu Thu nào? Thu Thu của Đông? Sao chẳng ai biết gì hết vậy? Thôi rồi, tìm em như thể tìm chim, chim bay biển Bắc anh tìm biển Nam.
***
Đông được lệnh đổi về Bình Thủy, Cần Thơ. Bộ tư lệnh Hải Quân hành quân Sông. Đông không ngạc nhiên gì hết, Đông đã biết trước vì đã tiếp xúc với đại tá trưởng phòng. Nhân viên phòng Nhì mỗi lần thuyên chuyển cũng dễ thở hơn, có thì giờ chuẩn bị, thu xếp. Không như quân số thuộc phòng Tổng Quản Trị, như trên trời rớt xuống, đùng một cái khăn gói lên đường. Ở Sài Gòn lâu rồi cũng chán, đổi về Vùng 4 bề nào cũng đỡ hơn trở ra miền Trung. Được dịp đi thì đi, Đông còn độc thân, đâu có nhà cửa con cái thì gì phải bận tâm. Chỉ có bạn bè, nhưng rồi sẽ gặp lại, Đông tự an ủi như vậy.
Hôm nay là ngày cuối của Đông, tất cả nhân viên trong phòng được nghỉ sớm hơn một giờ, kéo nhau ra hành lang phía sau làm tiệc nhỏ tiễn Đông lên đường. Bia lon và đồ khô, có vậy thôi mà cũng vui, được dịp ăn nói cởi mở. Bia hết thì ai nấy cũng ra về. Trời lập đông, gió từ bên hãng BGI thổi qua lành lạnh. Nghĩa, người bạn cùng khóa, và Đông là hai người còn lại sau cùng cũng lững thững đi xuống cầu thang…
Hình Mạnh Hải/Flickr
– Thiếu úy, phải thiếu úy làm ở phòng Nhì?
Đông nhìn anh trung sĩ đang nhìn chầm chập vào bảng tên của mình, trả lời:
– Phải, có chuyện gì không?
– Tôi muốn nói chuyện riêng với thiếu úy một chút.
Nghĩa hiểu ý, xen vào:
– Thôi tao về trước nghe mậy. Hôm nào tụi mình gặp lại. Chúc mày đi may mắn.
Đông chờ Nghĩa xuống hết cầu thang, vẫy tay tiễn bạn, rồi mới trở lại vấn đề:
– Sao?
– Thiếu úy có biết Thu Thu không?
Thu Thu? À Thu Thu! Đông chỉ gặp Thu Thu có một lần đó rồi cả năm qua kẻ chân trời người góc biển. Sao hắn ta lại biết? Suy nghĩ giây lát, Đông nói:
– Biết chớ! Tôi biết Thu Thu lúc tôi nằm bịnh viện. Lâu quá rồi tôi cũng muốn quên. Nếu tôi đoán không lầm thì anh là anh rể của cô ấy phải không?
– Dạ phải, dì Thu có kể chuyện ghé thăm thiếu úy cho vợ chồng tụi tôi nghe.
– Hừ, tôi với cô ấy có lẽ có duyên mà không có nợ! Anh tìm tôi lúc này cũng hơi muộn rồi vì ngày mai tôi sẽ lên đường đi Cần Thơ. Dạo này anh ở đâu?
– Tụi tôi dọn về cư xá Cửu Long từ đạo đó đến nay…
Đông ngắt ngang:
– Hèn chi.
Rồi cảm thấy mình lỡ lời, tự nhiên vạch lưng cho người ta xem thẹo, lật tẩy cho người ta biết là mình đã tìm đến đó. Nhưng hắn hỏi lại:
– Thiếu úy đổi luôn về Cần Thơ à?
– Ừa.
– Dì Thu cũng đã xống Cần Thơ mấy tháng nay. Đang học lớp Cán Sự Y Tế.
– Anh nói sao? Thu Thu đang ở Cần Thơ à? Lại không hẹn mà gặp nữa rồi.. Thôi, tôi phải đi. Chúc anh ở lại nạnh giỏi.
– Cám ơn thiếu úy. Hi vọng có ngày còn gặp lại thiếu úy
Hình bóng Thu Thu lại lởn vởn theo Đông suốt con đường Sài Gòn Cần Thơ Bình Thủy. Đông thấy lòng nao nao nhung nhớ, rõ ràng là duyên kỳ ngộ. Trường Cán Sự Y Tế? Được! Rồi Đông sẽ đến hang hùm để bắt hùm con…, hùm cái, hùm dậy thì.
Tất cả sĩ quan độc thân đồn vào hai dãy BOQ, Bachelor Offcer Quarter. Là căn cứ Mỹ mới bàn giao, BOQ ở đây cũng rất là tiện nghi, máy lạnh từng phòng một vẫn còn đầy đủ. Mess Hall cũng gần và ông đầu bếp nấu đồ ăn hết sẩy. Đông gặp lại một lô bạn bè cùng khóa, chiều chiều họp mặt nhâm nhi, tán gẩu, nghe nhạc.
Căn cứ hải quân Bình Thủy và bên kia đường phi trường Trà Nóc làm thành một khu quân sự biệt lập trong vùng. Chỉ một phần nhỏ của căn cứ lấy làm Bộ tư lệnh hành quân Sông, còn bao nhiêu là Thủy xưởng. Bây giờ Đông mới thấy cái không khí làm việc ở bộ tư lệnh Sài Gòn ngột ngạt làm sao. Ơ đây ai cũng tà tà, nghĩ đến chuyện chơi nhiều hơn chuyện làm. Xa mặt trời bớt nóng.
Chỉ cần vài ngày là chỗ ăn chỗ ở coi như tạm sắp xếp xong. Không thể chờ đợi lâu hơn, Đông phải đi tìm Thu Thu. Lại một chiều cuối tuần, nhưng lần này Đông rủ Phát cùng đi vì Phát có chiếc jeep. Phát nghe chuyện biết là sẽ có màn hấp dẫn nên chịu đi theo. Đến đúng địa điểm ghi nhận trên bản đồ, Đông bảo Phát chờ ngoài cổng để một mình Đông thăm đò tình hình. Một lúc sau, Đông trở ra cũng đơn thân độc mã, Phát cười hỏi:
– Sao mậy, có gặp được em không mậy?
Hình Mạnh Hải/Flickr
Đông thở dài:
– Chả có ma nào tên Thu Thu học ở đây cả. Chẳng lẽ nó tốt nghiệp sớm! Quê thiệt. Đúng là cái tên anh rể lông bông đó cho tao đi tàu giấy một lần nữa. Ở đây thì chỉ có một cái trường đào tạo y tá này thôi, phải hôn? Bà giám thị cho coi hết danh sách. Năm thứ nhất không có, năm thứ nhì cũng không. Sao kỳ vậy ta?
Phát cắt ngang:
– Thôi, đẹp Thu Thu của mày qua một bên đi, ở đây thiếu gì em. Tao chở mày ra bến Ninh Kiều nhậu.
Đông buột miệng:
– Đi thì đi.
Cần Thơ! Mới biết nhau mà đã gặp trắc trở! Chỉ tại mình, Đông tự nhủ. Thành phố này còn nhiều điểm, nhiều điều đáng tìm hiểu, phải vui chơi cho biết đó biết đây với người ta. Bến Ninh Kiều, bến xe Mới, cầu Tham Tướng, cầu Đôi, cầu Cái Răng, những địa danh nghe lạ tai. Xe lôi, xe tàu mo nữa làm gì có ở Sài Gòn. Món nhậu nghe nói cũng khác: rùa, rắn, chim, chuột. Những xa lạ sẽ là những khám phá cho người mới tới… Đông đang nghĩ miên man thì Phát cũng chạy xe đến bến Ninh Kiều. Đông thấy dòng sông, thấy nhà hàng nổi và những dãy bàn ghế trống lỏng trống trơn bên bờ. Gió sắp Tết hiu hiu thổi…
Còn sớm, chưa mấy ai đi nhậu giờ này. Phát đề nghị:
– Ê, tao mày xáp lại hai con nhỏ ngồi đằng kia cho có bạn.
– Chắc ăn không đó mậy?
– Thì phải thử chớ làm sao biết được. Có le que vài người, ngồi riêng thấy không hợp chút nào hết.
Tiến lại gần bàn, Phát lên tiếng trước:
– Xin lỗi hai cô, hai cô có thể cho tụi này tham gia được không? Cho có bạn! Tụi tôi sợ ngồi một mình lắm.
Hai cô gái nhìn nhau một lúc, rồi một cô lên tiếng:
– Mời hai anh cứ tự nhiên.
Phát vừa kéo ghế ngồi vừa nói:
– Hên quá… Tôi là Phát, anh bạn tôi Đông. Tụi tôi đóng ở Bình Thủy.
– Khỏi cần giới thiệu cũng biết hải quân Bình Thủy rồi.
Rồi hai cô gái cười ngặt nghẽo. Đông tiếp luôn:
– Còn hai cô, nếu tôi đoán không sai thì hai cô là… cô giáo.
– Sao mấy anh đoán hay vậy.
Đông định nói là học trò vì thấy trên bàn có mấy cuôn sách, nhưng muốn nói cho hai cô lên một chút. Không ngờ lại trúng thiệt.
– Nghề nghiệp mà.. Xin 1ỗi hai cô tên gì cho dễ kêu.
– Chị đây chị Thủy, tôi tên Phương.
– Cô Phương với cô Thủy dạy ở trường nào? Có gần đây không?
– Hỏi chi kỹ vậy…
Câu nói tạt ngang làm Đông hơi cụt hứng. Đông ngồi kế bên Phương, Phát ngồi kế bên Thủy. Thấy Phương và Thủy ăn bánh “cống”, Đông và Phát cũng bắt chước kêu theo, kèm theo bia. Đông mới tới Cần Thơ, cái gì cũng xa lạ, rồi nhớ đến Thu Thu ngày nào mới đến Sài Gòn, chắc như Đông cái gì cũng xa lạ. Đồng bệnh. Nhưng mấy cô gái Tây Đô hình như dễ thông cảm hơn, dễ kết bạn hơn. Giọng nói thành thật, tự nhiên. Nói đủ thứ chuyện, vui đùa đến nỗi thời gian qua không hay… Lúc Phương và Thủy kiếu từ, Đông nhìn quanh thấy bàn nào cũng có người, chật nứt. Đèn đuốc sáng trưng. Biết Phương và Thủy từ chối không chịu cho bọn Đông và Phát đưa về nhà thiệt, Phát nói vói theo: – Nếu Thủy và Phương có rảnh thì hôm nào làm ơn lên Bình Thủy ghé thăm tụi này…
Hình Mạnh Hải/Flickr
Mấy tiếng đồng hồ mà không ghi được cái địa chỉ thì dở thiệt. Nhưng ý người đẹp không muốn cho thì cũng không làm gì khác được. Đông thấy mến Phương, thích cái kiểu cách còn trẻ con. Nhưng rồi cũng như Thu Thu, một cánh chim trời, đường ai nấy bay dễ gì gặp lại. Đông định đề nghị với Phát đi theo lén, nhưng thôi, thấy cũng đủ cho một buổi chiều. Hai đứa chen chân trở về chỗ đậu xe. Thiên hạ đông như chợ Tết. Vừa ra khỏi đám đông, Đông dậm chân tại chỗ:
– Ê Phát…, chờ tao một chút.
Mắt Đông không rời hai cô gái đi bên kia đường. Hình như quen quen, Đông cố moi móc trong trí nhớ. Bất thần Đông nhớ ra, mừng quá vỗ tay “bốp” một cái:
– Ê, đúng rồi! Thu Thu, Thu Thu chứ còn ai nữa? Phát, mày ở đây chờ tao.
Đông chạy băng qua đường chận đầu hai cô gái:
– Thu Thu. Cô có phải là Thu Thu?
– Anh Đông. Anh làm em hết hồn. Anh đi đâu đây? Anh làm gì ở đây?
Đông tíu tít:
– Thiếu chút nữa anh nhìn Thu Thu không ra. Anh mới đổi xuống đây được một tuần. Em ở dưới này bao lâu rồi? Em còn đi học không?
– Em nghỉ học lâu rồi… À, hôm nào rảnh anh đến nhà chơi. Anh biết quán cà phê Lan không? Cách vài căn có tiệm cho mướn sách, anh đi vào hẻm kế bên đó, và nhà em là căn nhà gạch thứ ba bên trái. Nhớ nghen. Em phải đi để chị của em chờ kia.
Đông nửa đùa nửa thật:
– Gì, lâu ngày mới gặp lại nhau, chưa nói được câu nào, em bỏ đi thì còn gì tình nghĩa.
– Không được. Em phải đi. Chị em khó lắm. Nói chuyện với anh như vầy cũng đủ bị rầy rồi. Hôm nào tới nhà em nha.
– Thu Thu…
Đông trông theo bóng Thu Thu cho đến 1úc khuất qua góc phố rồi lẩn thẩn trở về với Phát.
– Mày hên quá chừng. Con nhỏ trông khá đó. Tới trường không gặp mà chịu gặp giữa đường hả. Sao mày không đi theo nó?
Đông không trả lời Phát. Không ngờ mình gặp lại Thu Thu. Hơi khó nghĩ. Hình như có gì thay đổi giữa hai đứa? Mà Đông có là gì của Thu Thu đâu? Đông hiểu như vậy! Bạn chưa ra bạn, tình chẳng ra tình, làm gì mình phải bận tâm! Ù, tại sao mình không theo Thu Thu? Từ từ! Nhớ lời Thu Thu dặn dò, Đông quay qua hỏi Phát:
– Mày biết quán cà phê Lan không?
– Quán Lan ở đây thì ai mà không biết. Bộ em ở đó hả?
– Gần đó, mày chạy ngang cho tao thấy.
– Chưa gì dấu nữa rồi…
Mấy ngày sau, lẽ dĩ nhiên Đông trốn bạn đi tìm Thu Thu một mình:
– Xin lỗi, có cô Thu Thu ở nhà không anh?
Anh chàng ở trần vận quần xà lỏn, đứng tựa cửa trả lời:
– Thu Thu? Ở đây không có ai là Thu Thu hết!
– Ồ, xin lỗi nha, chắc tôi ghé lộn nhà!
Lộn làm sao được? Rõ ràng chỉ có một căn nhà gạch duy nhất phía bên trái! Lại cho mình đi tàu giấy? Có lẽ nào mới đó mà dọn về cư xá Cửu Long lẹ vậy? Nhứt quá tam, hai lần ở Gia Định một lần ở Cần Thơ là quá đủ cho tội si mê người trong mộng. Nản thiệt. Chừng nào mới biết học khôn? Chừng nào mới chịu thỏa mãn? Chưa đâu, qua tuần sau Đông ghé lại hỏi thăm lần nữa:
– Xin lỗi bà có cô Thu Thu ở nhà?
– Ở đây đâu có đứa nào tên Thu Thu! Nhà toàn là con trai cậu ơi!
Hình Mạnh Hải/Flickr
Cay đắng chưa? Mà căn nhà này tại sao lại đổi chủ liên miên? Thôi, mặc kệ. Đã xong rồi. Rõ ràng tìm em như thể tìm chim, chim bay Phong Nẫm anh tìm Phong Dinh…
Chiều ba mươi Tết. Lần đầu tiên Đông ăn Tết xa nhà. Cấm trại một trăm phần trăm, vui xuân tại chỗ. Đông cảm thấy thiếu một cái gì. Không khí gia đình? Có lẽ vậy.
– Thiếu úy, thiếu úy có người nhà tìm ngoài cổng.
Đông thắc mắc:
– Hừ, ba mươi Tết mà ai tìm vậy ta? Trai hay gái vậy anh?
– Cô này trẻ, đẹp lắm thiếu úy.
Phát xen vào:
– Thôi rồi, con Thu Thu nó tới tìm mày đặng nó giao con kia kìa!
Đông giả vờ:
– Thu Thu nào? Bậy mậy, nói vậy tụi nó cười tao!
Đông vội vã đứng đậy về phòng thay đồ.
– Ê, bộ đi luôn không trở lại sao mậy.
– Sao biết được. Nếu tao không trở lại trong vòng nửa tiếng thì tụi bây cứ tiếp tục nhậu. Khỏi chờ.
– Thằng dám mê người nhà bỏ bạn bè.
Đông chưa đoán ra ai là người đang chờ mình ngoài cổng. Trẻ, đẹp. Không lẽ Thu Thu. Thu Thu làm gì biết Đông ở đây. Mà hải quân thì chỉ có hai nơi, Vùng 4 Sông Ngòi hoặc Bình Thủy thì ai tìm chả được. Cũng hợp lý…
– Kia, anh Đông, anh còn nhớ em không?
– Chào cô Phương, dữ hôn, mấy tháng trời mới chịu đến thăm anh một lần. Mấy tháng trời nhớ thương, chớ làm sao mà quên Phương cho được.
– Buồn quá, tính lên đây rủ anh đi chợ Tết cho có bạn.
– Buồn gì, Tết thì phải vui chớ sao lại buồn.
– Anh đi với em xuống phố được không?
– Đi ngay bây giờ?
– Chớ sao. Lẹ lên, trời sắp tối rồi.
– Đi thì đi. Chờ anh thu xếp công việc đã. Anh đang trực.
Đông viết giấy nhờ Phát lo dùm “công vụ”, đưa anh gác cổng chuyển lại, rồi cả hai đón xe ra phố. Chợ ba mươi Tết vẫn còn đông nghẹt người ta, Đông theo Phương tới lui không biết bao nhiêu phố phường. Coi thì nhiều mua thì ít. Mỏi chân, Đông đề nghị Phương đi xem ciné, rạp Tây Đô cũng gần. Phương đồng ý. Tánh Phương trẻ con, thành thật. Hai đứa mới đi chơi với nhau lần thứ hai, nhưng tưởng chừng như đã quen thân từ kiếp trước. Lúc tan ciné thì đã mười một giờ rưỡi đêm. Đông lúng túng chưa biết phải đưa Phương về nhà hay về… căn cứ. Một ý nghĩ đen tối, tội lỗi. Hai đứa đi lần về phía chợ. Phương đột nhiên nói:
– Em muốn đi chơi với anh suốt đêm nay, đêm giao thừa. Em không muốn về nhà nữa.
Đông hết sức ngạc nhiên với câu nói của Phương. Đâu ngờ người con gái hiền hòa, nhã nhặn lại có quyết định lãng bạc giang hồ như vậy. Đông thử mở lời:
– Em muốn về trại với anh không?
– Giờ này thì con xe đâu mà về trại.
– Em nói sao? Không có xe về Bình Thủy hả?
Hình Mạnh Hải/Flickr
Đông đâm lo không biết rồi phải về đâu đêm nay. Những lần đi chơi trước Đông có bạn bè, có xe cộ sẵn sàng, có bao giờ Đông nghĩ đến chuyện này. Phương đề nghị:
– Hay là mình vào đây!
Đông nhìn lên bảng hiệu: Khách sạn Phong Nhã…
Đông vui hưởng một đêm giao thừa ấm cúng nhất trong đời. Sáng ngày Phương đưa Đông về quê thăm ba má Phương. Xuống cầu Cái Răng, hai đứa lấy vé đò đi ngược lên nguồn. Dòng sông càng lúc càng nhỏ lại, nhỏ lại, rồi như một con rạch. Đò không đi được nữa, trạm cuối cùng. Hai đứa tiếp tục đi bộ theo đường mòn dọc bên bờ sông độ nửa giờ nữa mới tới nhà. Đông không hiểu mình đi đã bao xa. Vườn tược trùng trùng điệp điệp. Ba má Phương lại vui vẻ chấp nhận Đông như người trong nhà. Kể cũng lạ. Đông ở lại đêm mùng hai, sáng mồng ba Phương đưa Đông ra bến đò trở lại Cần Thơ. Ba ngày Tết tàu đò cũng được trang trí rực rỡ, bông hoa cờ xí đủ màu, trông đẹp mắt. Ngồi trong tàu đò một mình, nhìn thiên hạ đi bộ dọc hai bên bờ sông, áo quần bảnh bao, lũ là lũ lượt, Đông thấy mình cô đơn. Đông muốn có Phương ở bên mình, ngay trong giờ phút này, cho cái Tết xa nhà được thêm phần trọn vẹn…
***
Vừa mới được thăng cấp trung úy thì Đông lại nửa “bị” nửa “được” thuyên chuyển đi nơi khác. Phú Quốc, bộ tư lệnh Vùng 4 Duyên Hải. Đông cũng nửa “bị” nửa “được” thăng chức cha. Phương có mang đôi ba tháng. Cô giáo gì mà khờ quá, có bầu mà cũng không biết, Đông hay mắng yêu như vậy. Đông đi trước một mình, khi nào xin được cư xá thì sẽ đem Phương theo sau. Lần này tiệc tiễn Đông lên đường có vẻ thân mật ấm cúng hơn vì được tổ chức tại nhà. Căn phố trong khu bến xe Mới mà Phương và Đông đã thuê và sống chung với nhau như vợ chồng… Phát bất thần góp ý:
– Ê, mày thấy gì không Đông? Nhìn con nhỏ xướng ngôn viên coi, tao thấy giống quá.
– U…i cha! Đúng rồi! Sao kỳ vậy ta?
Suýt chút nữa Đông kêu “Thu Thu” thành tiếng ngay trước mặt Phương. Lâu lắm rồi không gặp, hình bóng Thu Thu tưởng đã phai mờ trong tâm trí, ai dè mới thấy Thu Thu dù chỉ trên màn ảnh ti-vi, Đông cũng không khỏi không giật mình.
– Chuyện gì vậy?
Đông nhanh trí:
– Ôi, anh Phát ảnh muốn nhìn bà con đó mà.
Phương chẳng nghi ngờ gì hết. Phương chẳng biết hình bóng Thu Thu đã trở về trong tâm trí Đông. Cái hình bóng đã nhiều lần theo Đông vào giấc ngủ và ảnh hưởng đến Đông luôn cả cử chỉ, lời nói. Sáng ngày sau Đông kiếm cớ vào sở, gọi điện thoại ngay đài truyền hình Cần Thơ tả oán:
– Chiều hôm qua xem ti-vi trong phần tin tức, tôi thấy cô xướng ngôn viên quen quen, phải cô ấy tên là Trần Thị Thu Thu không anh?
Đầu kia trả lời:
– Để tôi check lại xem…
Và một lát sau:
– Đúng rồi, cô ta là một trong những thí sinh tuyển cho đài chúng tôi, nhưng chưa có kết quả.
– Anh cho tôi xin địa chỉ của cô ấy có không anh?
– Dạ không được ạ. Chúng tôi không có quyền tiết lộ những chi tiết cá nhân.
Đông thấy mình hố, hỏi một câu hỏi ngớ ngẩn. Đã quen biết Thu Thu mà lại xin địa chỉ từ một người khác thì quen biết kiểu nào? Thì ra Thu Thu vẫn ở Cần Thơ, lẩn quẩn đâu đây. Nhưng muộn rồi ngày mai Đông ra đi, sẽ không còn cơ hội.
Mưa lai rai suốt mấy ngày liền, ảnh hưởng lụt miền Trung, trời u buồn ảm đạm. Như buổi chia tay buồn ảm đạm của Đông. Rồi suốt đêm nằm trên tàu từ Rạch Giá ra Phú Quốc, Đông không nhắm mắt được tí nào. Đông nhớ Phương nhiều lắm, thỉnh thoảng lại quay ra nhớ Thu Thu. Đông trách mình như có vợ, thêm sắp có con, sao lại nghĩ vẩn vơ.
Hình Mạnh Hải/Flickr
Đông tạm trú ở BOQ, một dãy dài cất sát bờ biển, ngày đêm sóng vỗ rì rào. Chờ xin cư xá gia đình sĩ quan, cất cũng gần đây, sát bên ngoài vòng rào bộ tư lệnh. Đông hi vọng sẽ có một căn trống nay mai. Đại úy trưởng phòng thì dễ rồi, thầy trò cũ. Đông có lần đã làm sĩ quan phụ tá cho ổng hồi còn ở Sài Gòn. Đông cứ đinh ninh mình được đại ca kéo về đây vì chỗ này chỗ ăn chịu. Nhưng đại úy cho biết tất cả sắp xếp đều do ở trên. Cũng hên!
Vài tuần sau, đại úy rủ Đông làm lai rai trên sân thượng của quán Bò Vàng, đại úy đưa cho Đông một phong bì:
– Phần của anh đó.
Đông mở hé thấy nhiều quá:
– Ở đâu vậy đại ca?
– Ở đâu thì lần lần rồi anh sẽ biết. Ở ngoài này dễ làm ăn lắm. Hồi tôi mới ra tôi cũng ngỡ ngàng như anh.
Nhưng Đông chỉ nghĩ đến chuyện mình:
– Có chút “địa” dằn túi thì đỡ rồi, nhưng chừng nào đại ca mới cho tui đi phép đây? Tui phải về thăm con vợ đang mang bụng bầu của tui đại ca ơi!
– Về cái gì, mới ra chưa đầy tháng mà đòi về rồi. Tuần tới lo vụ tiếp cư ba chục ngàn dân ty nạn từ Vũng Tàu chuyển ra mà hộc xì đầu, anh đi sao được, để từ từ đã.
Trại tù Phú Quốc có lần lấy làm trại cai xì-ke bây giờ biến cải làm trại ty nạn. Một lô sĩ quan đi học các khóa tham mưu trung cấp, cao cấp được biệt phải tăng cường cho công tác này. Họp trưa, họp chiều, họp tối, họp lớn, họp nhỏ…, họp liên miên. Sĩ quan tham mưu cấp tá đang học một khóa đặc biệt: khóa trưởng trại. Bao nhiêu trại? Năm chục. Ba chục ngàn năm chục trại, mỗi trại sáu trăm. Sáu trăm đâu phải ít, chắc phải che thêm lều trong rừng. Vấn đề an ninh thì sao? Giao cho mấy tiểu đoàn đặc khu. Ăn uống thì sao? Nước, hạn chế tối đa. Thực phẩm, không thiếu, máy bay Mỹ sẽ chở ra. Nồi niêu xoong chảo, sẽ viện trợ cấp tốc từ Rạch Giá. Tiểu tiện, chưa quyết định được, tạm thời xài mấy ngàn cái giá, đào lỗ xong rồi lấp lại.
Phòng Nhì làm gì? Giải giáp quân ta, khám xét tịch thu hết súng lớn súng nhỏ. Lập biên bản giữ tiền, vàng, đồ vật quí giá của đồng bào cho tư lệnh. Mỗi đầu người chỉ được giữ tối đa một triệu tiền mặt. Tiền để nhiều trong mình dễ gây lòng tham cho người bên cạnh. Cấm không cho dân rời đảo trở về đất liền, không được làm nao núng tình thế.
Tất cả đều được dự đoán, trù tính, sẵn sàng. Sáu chiếc cargo của Mỹ, mỗi chiếc năm sáu ngàn người tới đậu lù lù ngoài khơi. Tàu há mồm LCVP, LCM, LCU mỗi chuyến ra bốc một trăm, hai trăm, ba trăm người. Có khả năng bốc mỗi ngày một chiếc. Ai nấy hốc hác, tiều tụy, thiếu sức. Lều cứu thương mọc nhanh như nấm dọc bãi ủi. Nhiều người già cả, chắc không sống nổi. Cha làm phép, sư tụng kinh cũng đã cấp thời biệt phái tới nơi hẳn hòi.
Qua chiếc thứ hai lại gặp bọn xì-ke ma-túy, cướp bóc, hãm hiếp đàn bà con gái ngay trên tàu, dân chúng oán than. Làm sao tóm cổ bọn này? Đột kích ban đêm. Xong rồi làm sao nữa? Tử hình. Phải xin lệnh Sài Gòn? Tử hình tại chỗ. Ngay giữa trưa, tên đầu xỏ bị đưa ra mé biển cạnh bãi ủi bắn làm gương trước mặt những nạn nhân. Ghê quá. Tên thứ hai, tên thứ ba… giao cho địa phương quân có toán xạ thủ đàng hoàng. Chiếc thứ ba cũng bị tình trạng như vậy. Chiếc thứ tư thì đỡ hơn…
– Anh Đông, anh Đông…
Đông quay lại, sửng sốt:
– Thu Thu, em đi đâu mà mặt mày bơ phờ, bèo nhèo như thế này. Thêm con của ai bồng theo lang thang lết thết đây?
– Đúng là trời cho em gặp anh, em mừng quá. Chuyện của em dong dong dài dài lắm, chưa tâm sự với anh được. Bây giờ mình phải làm gì?
– Lại cũng dong dong dài dài! Thôi, em đứng đây chờ anh, đừng đi theo họ. Tụi nó chở em lên trại tù thì khó lãnh ra lắm.
Hình Mạnh Hải/Flickr
– Chở lên trại tù?
– Ừa, trại tù làm trại ty nạn…
Đông chạy qua chỗ đại úy trưởng phòng:
– Đại ca cho thằng em mượn chìa khóa xe một chút. Gặp người nhà, đại ca, phải đưa về cư xá mới được.
– Nè, rồi anh phải trở ra đây chớ?
– Tôi sẽ trở ra liền mà.
Đông đưa Thu Thu và đứa bé lên xe. Bọn lính ngó lom lom, chẳng hiểu chuyện gì.
Đông giải thích:
– Bây giờ anh đưa em và cháu đây về nhà thằng bạn anh ở tạm. Hai vợ chồng nó mới bỏ về miền Trung hồi hôm qua, chắc không bao giờ trở lại. Bên vợ nó bác đảng, hình như làm lớn lắm.
Đông chạy xe ào ào, cát bụi bay mù mịt. Băng qua thủy xưởng, vòng xuống bộ tư lệnh, rồi vọt ra cổng chánh. Thu Thu im lặng suốt khoảng đường gồ ghề, cong queo. Mở khóa đưa Thu Thu và đứa bé vào trong xong, Đông còn dặn dò thêm:
– Coi như nhà của mình. Muốn làm gì thì làm, đừng ngại. Nhưng nhớ đừng có đi đâu nha. Anh trở ra bãi độ một hai tiếng thì anh về.
– Em cám ơn anh nhiều lắm.
– Cứ nghỉ cho khỏe đi. Đừng bận tâm !
Đông trở lại nhiệm sở mà đầu óc ngập tràn hình bóng Thu Thu. Rõ trời bất dung nhơn đảng, đi đâu cũng gặp. Đông cứ trông cho hết chuyến càng sớm càng tốt. Cũng may chiếc thứ tư này chở ít người nên loay hoay một chút thì đến chuyến LCU chót. Xong một ngày tiếp cư. Còn hai chiếc nữa. Ngày lại bắt đầu. Đông về BOQ tắm rửa, thay đồ civil rồi mới ra thăm Thu Thu.
– Để em dọn cơm cho anh ăn.
– Anh định dẫn em đi ăn ngoài phố. Ra ngoài này anh làm ăn rất là khá giả.
– Anh chị bạn của anh chắc gấp đi dữ lắm, hình như chẳng có mang theo thứ gì, tất cả còn y nguyên. Thấy trong tủ lạnh còn đồ ăn, em làm sơ sơ khỏi phải đi đâu cho mất công…, miễn là anh đừng chê.
Đông chiều ý Thu Thu. Cơm nước xong thì trời đã tối hẳn. Thu Thu tìm chỗ giăng mùng cho đứa bé. Đông nằm võng kế bên giường. Đồ đạc của người lạ xài cảm thấy ngượng ngượng. Trước lạ sau quen, cũng tại hoàn cảnh đẩy đưa chớ ai muốn vậy.
– Chạy loạn kiểu này coi bộ thằng nhỏ thấm đòn, nằm ngủ say sưa! À,mà con ai vậy Thu?
– Con của anh Quế.
– Quế nào? Đại úy Quế, Trần Chính Quế?
Suy nghĩ một lát Đông giật mình hỏi:
– Là con của em? Sao tới bây giờ em mới nói cho anh biết?
– Thì hồi nào mới gặp anh ở Sài Gòn, ở Pôle Nord, anh nói chuyện của em đâu có gì quan trọng.
– Trời đất, anh làm sao biết được lúc đó em có mang… À, mà cách đây khoảng một tháng, anh còn thấy em trên ti-vi Cần Thơ mà sao bây giờ lại trôi nổi tới đây.
– Ủa, sao anh biết được chuyện đó? Rất tiếc là em không được trúng tuyển nên mấy ngày sau em trở về Nha Trang thăm nhà. Rồi chạy luôn.
– Còn căn nhà gạch ở gần quán Lan?
– Hai lần anh đến thăm, em đều biết. Em ở đó chớ đâu. Nhưng em nghĩ cho số phần của em, nghĩ tới anh, rồi em quyết định tốt hơn không gặp anh nữa. Trừ phi trời cho em gặp anh bất thần như vầy.
– Thiệt vậy à? Sao em ác quá vậy Thu!
– Không hiểu duyên nợ của anh và em ra sao mà giờ này em còn gặp lại anh ở đây. Anh như vị cứu tinh của mẹ con em…
Ngưng một lát, Thu Thu gợi ý:
– Anh Đông này, hay là anh vào đây nằm chung với mẹ con em đi. Bên ngoài muỗi lắm. Mình sẽ thức với nhau, trắng đêm tâm sự…
Hình Mạnh Hải/Flickr
Làm gì có chuyện trắng đêm tâm sự? Đông nghĩ tới Phương, nhớ tới lời mời gọi của người con gái trong đêm giao thừa. Rồi Đông lại nghĩ tới thân phận mình. Mới hai ba năm qua mà Đông đã thay đổi quá nhiều. Tình cảm của Đông bây giờ không còn trẻ con như xưa. Ôi, những giấc mây mưa, những yêu thương mời gọi! Một lần nữa Đông biết mình rốt cuộc rồi cũng không sao từ chối được…
***
Ngày 30 tháng 4, lúc Đông thức đậy thì trời đã gần đứng bóng. Đông mở radio thăm dò tin tức kịp thời nghe lời hiệu triệu của tướng Minh…, để tiết kiệm xương máu của chiến sĩ và đồng bào…, và lõm bõm sau đó… chuẩn bị bàn giao cho những nguời anh em phía bên kia …Tiếng còn tiếng mất trộn lẫn với tiếng rè rè lúc to lúc nhỏ của loại máy ấp chiến lược. Đông hốt hoảng:
– Sài Gòn đầu hàng? Thu Thu ơi, em và con em chuẩn bị chạy tiếp. Để anh vào bộ tư lệnh xem tình hình ra sao.
Tư lệnh họp tất cả sĩ quan ở hội trường, người lính cận vệ cho biết như vậy. Đông chạy về phòng thay đồ lính, đến nơi cũng vừa đúng lúc tư lệnh tuyên bố:
– Bây giờ chúng ta chỉ còn hai con đường, một đi hai ở. Nhưng tôi muốn các anh, kẻ ra đi người ở lại trong vòng trật tự…
Lập tức có bàn tay đưa lên cắt ngang lời nới:
– Xin tư lệnh cho biết, tư lệnh đi hay ở?
Câu hỏi này cũng gút mắc đữ, bộ thằng này là Việt Cộng nằm vùng hay sao? Ai vậy? Rể ông Bò Vàng!
– Riêng phần tôi, nếu các anh cần tôi ở lại để duy trì trật tự trong thời gian kẻ đi người ở này, tôi sẽ ở lại. Nhưng trước giờ phút cuối cùng tôi thề sẽ ra đi, dù một chiếc thuyền con giữa biển khơi tôi cũng phải đi…
– Đủ quá rồi. Chạy. Mình phải lo thân mình.
Đông chạy ra cổng thì đúng lúc Thu Thu bồng con chạy vào. Nhanh lên. Súng đã nổ lai rai bên ngoài vòng đai. Thiên hạ đổ xô vào căn cứ. Bọn Đông chạy xuống cầu tàu, xuống chiếc ghe riêng của phòng Nhì đúng như đại úy trưởng phòng đã dự trù. Dân chúng túa theo tràn ngập bộ tư lệnh trong phút chốc.
Chiến hạm nhổ neo, ghe lớn ghe nhỏ nổ máy. Chiếc tàu Mỹ chở dân ty nạn từ Vũng Tàu đổ lên đảo, bây giờ chỉ chở toán nhân viên đài Mẹ Việt Nam mới được đưa xuống hồi tối đêm qua, cũng bắt đầu xả khói ra khơi. Chạy. Ai cũng chạy. Không ngờ sự tan rã xảy ra trong chớp nhoáng.
Ghe rời cầu tách bến, trực chỉ các chiến hạm nằm cạnh hòn Thơm đang từ từ di chuyển. Đông cảm thấy mình mất mát một cái gì quá lớn lao! Rồi bỗng nhiên Đông nghĩ đến Phương, quên bẵng mẹ con Thu Thu đang ngồi bên mình, bâng quơ trách đàn anh:
– Phải chi đại ca cho đàn em về Cần Thơ thăm vợ con thì được rồi. Một chuyến ra khơi là một lần chia ly vĩnh biệt…
Đã bao lần những cuộc tình trôi đi trong đời người như những cánh lá vàng mùa thu. Người tôi yêu và người yêu tôi cách xa vạn dặm, chỉ còn là chiếc bóng không hồn. Những cánh thư đã bắt đầu ẩm mục, những trang nhật ký đã bắt đầu phai mờ. Ngần ấy còn đọng lại như dấu vết trên phiến đá mòn ngoài hoang đảo. Mái tóc nào còn xõa bờ vai, đôi môi nào còn mộng ước, ngày xưa và sẽ đến bao giờ phải không em? Một ngày qua, thêm một ngày đam mê trổi dậy. Tình thương nào cho quê hương, tình thương nào cho em. Tất cả không bao giờ Tồn tại cũng như những sớ mây hồng trên cao. Tình thương một giờ cũng đậm, nghĩa ái ân một lần cũng khó quên. Hãy chia nhau phần mình rồi ra đi biền biệt. Không ai thấu hiểu được mình cũng như chính mình. Một hạt cát giữa đại dương, một hạt cát của biển tình long lanh trong sáng như sao đêm. Rồi như buổi chiều tàn, chỉ còn một chút ngắn ngủi ngậm ngùi, tất cả rồi sẽ im lìm chìm theo bóng đêm đen…
***
Và trong giây phút ngắn ngủi ngậm ngùi này, Hùng nhìn Trầm khẽ nói:
– Lâu quá rồi em nhỉ!
Trầm mỉm cười, không đáp. Trầm bây giờ trở nên ít nói. Mấy năm trời xa cách, Trầm vẫn chưa thấy mình đã lớn. Lúc quen nhau, Trầm chưa nghĩ gì. Không hiểu tại sao Trầm cứ nghĩ sẽ có ngày còn gặp lại Hùng. Trầm cũng không thấy hình bóng một chàng trai nào có thể giữ được trong lòng, những người thầm lén yêu Trầm, muốn cưới Trầm. Bây giờ tình cờ gặp lại nhau, Trầm nghĩ, biết bao nhiêu thay đổi cho mình, cho Hùng. Tất cả như bắt đầu trở lại trong ngẩn ngơ dò xét. Trầm cố nhớ lại cái cảm tình của mình đã dành cho Hùng ngày xưa…
– Chắc anh có nhiều bạn gái lắm phải không? Trông anh bạo dạn hơn trước.
Hùng cũng đang nghĩ về Trầm. Bây giờ Trầm cũng hoàn toàn thay đổi? Trầm như một bông hoa đang thời nở rộ, tràn đầy nhựa sống, cả thể xác lẫn tâm hồn. Những gì Trầm đã gặt hái được cho một học trò từ miền quê lên tỉnh, những gì Trầm lĩnh hội được trong tuổi dậy thì. Rõ ràng Trầm khác xưa rất nhiều, từ giọng nói cho đến nụ cười. Nghĩ lại chuyện ngày xưa Hùng nói:
– Từ hồi xa nhau đến giờ, có khi nào em chịu khó để một giây một phút cho anh đâu nói gì đến nhớ. Anh viết cho em rất đều mà anh có nhận của em dòng chữ nào đâu. Nhiều lúc anh nghĩ anh chỉ viết cho anh, cho một tình yêu đơn phương. Em không thấy sự kiên nhẫn của anh…
– Tại sao anh không nghĩ là em không nhận được thư anh. Em học trường công chứ đâu phải trường tư, thư từ bị kiểm soát.
– Anh thấy với ngần ấy thư chồng chất, liên tục, mấy bà giám thị phù thủy của em cũng không thể nào làm ngơ được… Em đã nhận được thư anh?
Trầm mỉm cười, nhớ lại những lần bị ban giám đốc gọi lên phàn nàn để lãnh những bức thư đã được kiểm đuyệt. Trầm không hiểu tại sao Trầm không lần nào viết thư trả lời Hùng… Anh biết lắm lúc anh đã bấn loạn, cuồng tín trên trang giấy. Anh vẫn quí mến em như thuở nào, anh vẫn thuơng yêu em như thuở nào, một tâm hồn thùy mị trong trắng. Cái cảm giác thi vị len lỏi gậm nhấm tâm hồn anh. Anh thèm muốn những kỷ niệm êm đềm mà em và anh chung sống. Trên con đê này, ruộng đồng này, và khu vuờn ngoài kia. Buổi chiều sập tối và nhũng bước chân âm thầm. Mảnh trăng tròn lố dạng in bóng trên mặt nước bao la mà anh đã ví như mặt hồ Than Thở. Lằn ấy là lần đầu tiên anh cầm tay em mân mê rung động… Làm sao mà trả lời những lời thư như vậy?
Giờ đây cũng trên con đê này, bờ ruộng này, và khu vườn ngoài kia, Hùng nói:
– Em có còn nhớ khu vườn đó không? Bây giờ không vào đó được rồi. Lá mận chắc đã rụng đầy liếp. Lần này anh cho em nửa quả mận của anh thì em chịu ăn không?
– Lần này anh lại không có, xui quá!
Hình Mạnh Hải/Flickr
Lâu rồi Trầm không còn về thăm quê, gia đình đã đọn lên tỉnh. Trầm ước ao có ngày đưa Hùng về quê. Khoảng vườn của ba má Trầm chắc làm Hùng hài lòng.
– Nếu như ngày xưa chúng mình không giận nhau, vẫn tiếp tục rong chơi, thì bây giờ chắc em không còn là của anh nữa. Anh cũng không còn gì cho em. Em có nghĩ như vậy không?
– Em cũng nghĩ như anh. Em không hiểu sao em lại hờn anh lâu dữ như vậy. Âu cũng là duyên may, như vậy anh khỏi phải trách em nữa.
– Cho đến giờ phút này anh chưa hiểu được em. Lần cuối cùng mình gặp nhau anh vẫn xem là một kỷ niệm đẹp. Trong suốt lộ trình anh nao nức muốntìm gặp em, cho em một sự ngạc nhiên mừng rỡ. Nhưng em im lặng như không muốn có sự hiện diện của anh…
– Rồi anh ra về, biền biệt tăm hơi. Mãi đến bây giờ anh mới nhớ ra trong đời anh còn có em… Em cũng không hiểu lúc đó em làm thế nào đi nữa…
Điều mà Hùng còn hiểu được là Trầm vẫn đẹp. Trầm vẫn đẹp mãi trong lòng Hùng. Dáng điệu thướt tha, làn da trắng mịn và đôi mắt rực sáng Hùng thường bắt gặp mỗi khi thức giấc. Hùng đã sống trong sự lắng đọng đó, an ủi lấy mình… Hùng nắm tay đỡ Trầm ngồi xuống ven đê bên hàng cây cao vút. Chiều xuống, những gợn nắng hồng nhuộm tươi cỏ cây, trong sáng như sau cơn mưa rào. Dưới chân lạch nước lờ đờ trôi, đọng đậy lớp rong rêu. Gió nhẹ lao xao cành lá. Hùng choàng tay qua vai khẽ ôm Trầm sát vào người mình. Mùi tóc, mùi da thịt như lan vào Hùng trong từng lớp mỏng. Hùng cứ đinh ninh rằng ngày nào Hùng gặp lại Trầm, Hùng sẽ cưới Trầm. Liệu có được như vậy hay không?
***
Rồi trong cánh đồng mênh mông bát ngát, con kinh dài như mất hút vào khoảng không. Đứng trên sàn chiến đĩnh, Hùng có thể thấy sâu vào bờ hàng mấy cây số. Chỉ toàn là cỏ, mọc cao như lúa được mùa. Hùng thấy bóng đáng Trầm như ở cuối chân trời. Hùng tưởng tượng như mình đến đó như đến với người vợ mới cưới hơn là trở về đơn vị. Trong vùng đất xa lạ này, Hùng như tự an ủi lấy mình, đưa mắt tìm những gì quen thuộc nơi quê nhà. Không có gì, chỉ còn ngọn gió trong lành và ruộng hoang trùng trùng điệp điệp. Lúc nhìn thấy ngọn núi in hình trên nền trời tây, Hùng bùi ngùi biết minh đã đi xa… Anh đã xa em rồi… Anh thấy lòng nao nao như chợt mất vật gì quí giá không tìm thấy được ở nơi này. Anh thấy thiếu một khoảng trời, anh thấy thiếu một hơi thở giữa bao la vũ trụ… Đã bao lần những cuộc tình trôi đi trong đời người như những cánh lá vàng mùa thu… Em có buồn không khi chúng mình xa nhau. Em thấy không, anh gọi tên em, anh gọi tên em để làm mồ chôn cho những cuộc tình. Nhũng cuộc tình rồi như buổi chiều tàn, chỉ còn một chút ngắn ngủi ngậm ngùi, sẽ im lìm chìm theo bóng đêm đen. Anh chấp nhận bóng đêm làm mùa xuân của chúng mình, cho người anh yêu hai lần gặp gỡ..
Cử có ý định đi hải quân từ hồi còn nhỏ. Có lẽ vì màu áo hải quân, màu trắng, trông đẹp mắt. Con gái cũng hợp với màu này, màu nữ sinh, màu trinh nguyên trong trắng. Chiều nào ra cầu tàu, Cử thấy mấy anh thủy thủ lởn vởn trong công viên, anh nào cũng có bồ. Hào hoa, phong nhã. Với màu áo hải quân, mình có xấu trai thế mấy đi nữa cũng có người theo, có người mê mệt. Cử thấy mình như đã tìm ra chân lý. Chí làm trai nam bắc đông tây. Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể. Bốn bể, năm bể? Phỉ sức vẫy vùng? Với Cử như có nghĩa là “vòng tay này sẽ… ôm hết thiên hạ”.
Lớn lên, ý định đi hải quân của Cử cũng lớn lên theo. Vì mấy lần “đưa em sang sông” về miền Gò Cát, mấy lần Cử cảm thấy thắm thía với cảnh sông nước bồng bềnh, nhấp nhô lượn sóng. Tình cảm đó, tình cảm tuổi thơ thật đẹp, thật nên thơ. Thêm chữ “thọ” dán chần dần lên trán nữa thì đi hải quân cũng là chọn lựa lý tưởng. Cũng đâu phải dễ vô. Tú tài ban B. Thi tuyển, hai ba ngàn lấy một trăm rưỡi. Đó là một thách thức, và chính vì sự thách thức này Cử cố gắng hết sức mình để đạt cho được kết quả. Cử được toại nguyện. Ngày giã từ bạn bè, giã từ người thân lên đường nhập ngũ tòng chinh, Cử thấy mình cũng là người hùng, đôi chút. Có lẽ vì thời thế mà thôi, chứ thật ra trong thâm tâm, Cử chẳng thấy mình là Kinh Kha sang Tần hay là Lê Lai liều mình cứu chúa gì cả.
Cái tư tưởng bấp bênh, không bến bờ đó của Cử rồi cũng từ từ chìm xuống lòng đại dương qua hai năm huấn nhục, quần thảo ở quân trường. Cử trở thành một sĩ quan hải quân gương mẫu và quyết lòng phục vụ quê hương với tài năng và nhiệt tâm của mình. Sĩ quan nào mới ra trường mà không mang ý nghĩ đó. Nhưng rất tiếc thực tế nó khác, rất khác.
– Đù mẹ…, anh là sĩ quan. Tôi cấm anh không được chơi với đám hạ sĩ quan dưới tàu, anh nghe rõ chưa. Ở đây là chiến hạm, không phải như ở bờ. Tụi nó lờn mặt là có ngày nó nổi loạn. Anh hiểu chưa?
Ô hay, sao lại có việc này? Mấy câu này đâu đã ghi trong sách vở hải quân, chương nào trang nào? Áp lực của hạm trưởng lại “nặng cân” đến như vậy sao? Cử có cảm tưởng mỗi lần ông hạm nhà mình bước chân xuống tàu, tàu “khẳm”. Với cái không khí bị đè nén, ngột ngạt. Tự ái bị tổn thương. Hiểu cái gì nữa. Đủ rồi.
Cái ý tưởng bấp bênh, không bến bờ ngày nào của Cử như bị va chạm vào đáy quá mạnh cho nên nó dội lên, trồi lên, nổi lên. Cử nghĩ mình phải biết ma lanh, phải biết đối phó, phải trả đòn với ông hạm trưởng hay dở trò bắt nạt của mình. Cho ổng biết tay. Cử đâu có còn là một sinh viên sĩ quan ngơ ngác như con nai vàng nữa. Nhưng làm cách gì để đối phó với ổng đây. Phải sống theo “nghệ thuật sống trong quân đội”. Phải bày tỏ điều gì mình nghĩ, mình muốn. Đợi cấp trên hiểu mình bằng lương tâm của họ trong im lặng thầm kín thì mình đã trầy vi tróc vảy rồi. Phải nói gì đây?
Tàu ủi bãi. Bãi Sao Mai, tại vì đối điện với trường trung học Sao Mai. Nhưng, tàu về bến, em hẹn mình ra phố…, mà trúng ngay ngày mình trực thì không còn gì xui bằng. Đứng trên đài chỉ huy nhìn xuống, thấy cảnh anh em sửa soạn đi bờ, ra vào cửa đổ bộ mà bắt chán. Hạm trưởng nữa, xe jeep tới đón cũng đậu sẵn bên đường. Cử thở đài, chớp chớp cặp mắt buồn nhìn quanh. Dòng sông. Sông Hàn. Con đường dọc bờ sông. Đường Bạch Đằng… Đà Nẵng. Mới chạm mắt lần đầu mà coi bộ có điềm trắc trở… Cử định xuống ca-bin thay đồ nghỉ cho khỏe thì thấy Đô, bạn cùng khóa làm cơ khí trưởng trên tàu, đang nhấp nhô leo lên cầu thang. Cử định nói: “Bổn phận mày ở dưới hầm máy, thì ở dưới hầm máy. Leo lên đây làm gì cho thêm tối nước”. Nhưng, sợ bạn mình mất mặt với Hải, thằng hạ sĩ quan phụ tá trưởng phiên của Cử, nên Cử đổi giọng:
– Sao? Mày thấy trên này có lý không? Trời trong gió mát.
– Mày trực bữa nay hả?
Hình Mạnh Hải/Flickr
Câu hỏi như móc một cú ngay vô bảng họng. Cử nghĩ mình thương tình nó, nói đẹp làm đẹp cho nó mà nó chưa hiểu lại còn chơi trò bắt bí theo kiểu hạm trưởng nữa. Thằng này không hiền gì, Cử xì-nẹc:
– Biết mẹ nó hết rồi còn làm bộ hỏi. Mày vừa vừa thôi…
Thằng Hải bỗng nhiên xen vào:
– Thiếu úy, thiếu úy mượn thiếu úy Đô trực giùm đi. Xứ này của ổng, ổng rành quá rồi, ổng đâu cần phải đi bờ… Thiếu úy cũng biết, ông hạm nhà mình tàu cặp bến là ổng đi tuốt luốt luôn, chừng nào tàu sắp chạy ổng mới trở về, ông còn sợ gì nữa.
Thằng này thiệt là gãi đúng chỗ ngứa. Nhưng hạm trưởng đã cấm không cho chơi với đám hạ sĩ quan mà! Mà không chơi với đám hạ sĩ quan thì chơi với ai? Cử phân vân không biết thằng Hải nói thiệt hay nói giỡn, tuy nhiên cũng quay qua hỏi Đô:
– Sao mậy? Mày nghe nó nói có lý không?
– Ai biết đâu mày. Ăn thua giữa mày với ổng thôi, sợ ổng về bất tử, chớ tao bữa nay không đi bờ, tao coi tàu cho mày cũng được.
Cử quay lại Hải:
– Mà anh có rành đường đi nước bước ở đây hay không mà đòi đi.
– Cầu Vòng, Chợ Cồn, Ngã ba Cây Lang đâu đó tôi không bảo đảm chứ từ đây lên chợ Hàn thì tôi rành rồi. Tôi dẫn thiếu úy đi ăn bún bò Huế. Chỗ này không bằng bún bò Trần Bình Trọng nhưng ăn được lắm… Ơ, mà kia kìa, thiếu úy coi, ông khỏi cần ăn ông cũng thấy ngon rồi…
Tan trường. Đúng là em tan trường về, đường mua nho nhỏ…, em tan trường về anh theo…. Những tà áo nhởn nhơ đua bay trước gió như đang thách thức Cử, thúc giục Cử. Màu nữ sinh, màu trinh nguyên trong trắng. Và Đà Nẵng. Những bông hồng miền biển, một thành phố miền biển, và nỗi khao khát muốn tìm hiểu cho nhau trong lần gặp gỡ đầu tiên, cuối cùng đã lôi Cử ra khỏi tàu… Sợ gì, hạm trưởng đã vọt rồi…
Không mấy chốc hai thầy trò Cử nhập bầy với đàn áo trắng. Những bước chân như khắc dấu xuống đường, những bước chân âm thầm sẽ in bóng trong tâm tư. Những giây phút ngỡ ngàng, trong lôi cuốn, mời gọi. Sẽ là kỷ niệm, sẽ để đời, nhớ đời. Cử thấy tâm hồn mình trắng như trang giấy, một trang giấy mới mở ra, đang đợi chờ những dòng chữ từ một bàn tay mềm mại…
– Thiếu úy, tui đố thiếu úy chớ hai cô đi trước mình đây cô nào đẹp.
Thằng này nhập đề coi bộ nghe được, Cử nghĩ vậy, nhưng vẫn trách:
– Nói nho nhỏ thôi, nói lớn quá người ta nghe hết. Anh làm như anh là thần thánh, mới nhìn phía sau mà đã biết phía trước.
– Kinh nghiệm mà thiếu úy, thiếu úy không tin tôi hả? Tôi chỉ cần nhìn hai bàn tay là đủ biết rồi.
Hai bàn tay? Đôi bàn tay buông thõng tự nhiên biến đi đâu mất, chỉ còn hai mái tóc thề ngủn ngẳn ngang lưng.
– Cô này.
Hải vừa nói nhỏ vừa chỉ tay vào cô đi phía ngoài.
Cử muốn coi thử tài đoán mò của Hải đến đâu, bắt đầu bước nhanh hơn để vượt qua mặt hai cô. Hải hiểu ý, rẽ vô phía trong lề, tăng vận tốc. Cử ngạc nhiên, không phải vì thằng Hải nói trúng, mà đúng ra vì khuôn mặt của cô gái. Mới ngó ngang ngang mà đã thấy thơm mát, dịu hiền rồi… Đi trước độ một khoảng, Hải kéo Cử dừng lại, quay lại chận đường:
– Xin lỗi hai cô, hai cô có cần thiếu úy tôi đưa về không ạ?
– …..
Thôi chết rồi, người đẹp ai mà đi trả lời cái câu hỏi xán xả như vậy. Thằng này làm hư bột hư đường rồi, Cử nghĩ vậy. Phần Cử, Cử còn thấy ngượng ngượng, chưa quen với mốt tán gái dọc đường. Cử định nói một câu mở lời mà không sao tìm được ý.
Hình Mạnh Hải/Flickr
– Hai cô có bằng lòng hay không thì thiếu úy tôi cũng theo hà.
Nữa, thằng này lại cứ đổ thừa, đổ tội cho mình. Nhưng mà nó nói cũng đúng! Không bằng lòng mình cũng theo mà. Không theo mà sao bốn người đang dàn hàng ngang, chiếm gần hết nửa con lộ? Rồi có người sợ Cử bị xe đụng, đi chậm lại, chậm lại. Thằng Hải cũng đi chậm lại. Thành hai cặp. Cử cảm thấy dễ chịu hơn, nhưng hồi hộp hơn, lúng túng hơn. Bây giờ không còn thằng Hải, mình phải nói một câu gì để lấy lòng, đâu có im lặng hoài được. Cử bắt đầu:
– Tôi tên Cử, xin lỗi cô tên gì?
– …
Vừa nói xong đã thấy câu nói không hợp thời trang chút nào hết. Nhất là khi người đối tượng của mình không thèm trả lời. Làm cụt hứng. Nhưng chẳng lẽ mình lại ngưng ngang ở đây không phát biểu ý kiến nữa. Mà nói bâng quơ một mình coi cũng không được. Phải hỏi, Cử tiếp tục hỏi:
– Nhà cô có gần đây không?
– ….
Cũng không trả lời. Nhưng lần này Cử cảm thấy đỡ khổ sở hơn vì cô gái có cúi đầu, có mỉm cười tủm tỉm. Cử lấy làm hài lòng với nụ cười đó, không dám nói thêm tiếng nào nữa, sợ nó đổi màu. Cử bắt đầu im lặng… Một lúc lâu…, thật lâu. Không hiểu đám thằng Hải ra sao, không còn nghe tiếng nó lải nhải nữa. Cử quay lại ngó chừng, thằng Hải và con nhỏ đâu mất tiêu, không còn bóng dáng. Không biết quẹo vô ngõ nào, hẻm nào. Trở lại chuyện mình, Cử gợi chuyện lần nữa:
– Nè, đã gần tới nhà cô chưa? Sao xa quá vậy?
– ….
– Sao cô không nói gì hết vậy? Bộ cô ghét tôi 1ắm hả?
– ….
Lại không thấy trả lời. Cử bắt đầu thấy chán cái màn một mình độc khẩu. Phải hồi nãy Cử nói “Sao cô không nói gì hết vậy. Bộ cô câm hả?” thì có 1ý biết mấy. Vừa đỡ tức, vừa chọc cho cóc giận mặc may cóc nghiến răng… Bất chợt, Cử nghĩ mình phải nhớ những đường mình đã đi qua, phải nhớ tên đường, để lát nữa còn mò đường trở về nữa chớ. Cử nói nhỏ với mình:
– Bạch Đằng, Đồng Khánh, rạp Hùng Vương, đường Hùng Vương… xa rồi nha. Mà không thấy nói tiếng nào!
Cử đã “chai” mà coi bộ phải chịu thua thứ “lì” này. Mặt mày coi dễ thương vậy mà tâm hồn sao… chằn không thèm ăn, trăn không thèm quấn. Để rồi coi ai sẽ chịu thua. Cử sẽ theo hoài theo miết coi rồi sẽ ra sao. Mà cũng lạ, tại sao cô ta không xua đuổi mình. Không bước chậm, không bước lẹ. Cũng không tỏ vẻ gì khó chịu. Cứ để mình tỉnh bơ song bước như đôi nhân tình.
– Chợ trời? Đúng là chợ trời! Khỏi cần trả lời cũng biết chợ trời rồi. Người đẹp gì mà hà tiện lời ăn, tiếng nói quá.
– ….
Song bước như đôi nhân tình! Được như vậy mà còn không chịu hiểu cho. Còn đòi hỏi, còn muốn quá trớn. Đâu phải muốn đi cạnh người đẹp là đi đâu. Hân hạnh, hân hạnh…
– Đường Ông Ích Khiêm, đường tên gì nghe lạ…
– ….
Bữa nay đúng là xuất hành không coi giờ, trăm sự cũng tại thằng Hải hết, thằng báo đời…
Quẹo vô hẻm? À, quẹo vô thì cứ vô, sợ gì. Người đẹp không sợ, việc gì mình phải sợ.
– Bây giờ đến nhà rồi, mời anh vào chơi.
Hình Mạnh hải/Flickr
– ….
Mời anh vào chơi! Dữ hôn, đã gần hết nửa ngày rồi. Tới phiên mình, Cử không thèm trả lời cho bỏ ghét. Nãy giờ không chịu nói, bây giờ phát ngôn bừa bãi lại đưa mình vào thế kẹt. Chỗ này đâu phải là chỗ tâm tình, chỗ này đâu phải là chỗ trai gái. Chỗ này đâu nói được những lời yêu thương, mật ngọt. Nhưng cứ thử vào đi, coi cô gái này dám chơi trò cắc cớ đến mức nào…
– Dạ chào bác.
Cử trả lời người đàn bà, mặc dù Cử không hiểu bà ta nói gì, hỏi gì. Chỉ biết nói lẹ quá, nghe như nghe tiếng Tây. Thấy Cử gật đầu,ngơ ngơ ngáo ngáo nhìn cô gái như đang cầu cứu, bà chẳng buồn hỏi thêm câu nào, bỏ mặc hai đứa đi xuống nhà sau.
– Mời anh ngồi. Chờ em vào trong thay đồ một xí nhé.
Trời ơi, sao bây giờ nói năng nghe được quá, tự nhiên quá. Chưa chi đã gọi Cử bằng anh, xưng bằng em ngọt. Không bỏ công lội bộ từ bãi Sao Mai lên đến đây. Cũng may cô em nói chậm chậm, nên Cử mới hiểu. Tiếng Huế rặc mới nghe lần đầu đã thấy cay cay. Còn lại một mình, Cử đảo mắt quan sát một vòng. Nhà hình như có nhiều phòng phía bên trái và phía sau phòng khách. Ngăn cách với phòng khách bằng một hành lang? Phía bên mặt có cửa sổ trông ra một cái sân rộng tráng xi-măng. Nhà có vẻ xưa, vì phòng khách chưng bày nhiều đồ cổ… Rồi cô em trở ra, mặc một bộ đồ bộ trắng có thêu hoa to màu xanh nước biển trước ngực. Cầm theo một cái áo len có ghim sẵn hai cây đan… Cử nói thầm trong bụng “coi bộ còn con nít quá”, bèn hỏi:
– Em tên gì?
– Em là Ngọc…, chỉ Ngọc thôi.
– Ngọc. Tên đẹp đó. Vậy mà dấu hoài, tới bây giờ mới chịu nói cho anh biết.
Ngọc vừa đan áo vừa mỉm cười:
– Nếu không làm như rứa thì anh đâu có dịp mô mà đến đây.
Thì ra con nhỏ không trả lời bao nhiêu câu hỏi của mình, suốt dọc mấy con đường, là có dụng ý. Cử như con nai vàng ngơ ngác bị gài bẫy, mắc bẫy mà không hay.
– Nè, hồi nãy người đó có phải là “mạ” của em không?
– Chớ ai mô.
– Không biết bà già nói cái gì nữa. Cho anh xin lỗi nghe.
– Anh muốn em lập lại không?
– Thôi. Không cần đâu. Bảo đảm anh nghe một lần nữa là anh biết.
– Em đoán… anh lần đầu mới tới đây, phải không?
Cử gật đầu:
– Có cặp mắt cũng tinh lắm…
Rồi như chợt nhớ tới trách nhiệm và bổn phận, Cử nói tiếp:
– Nhưng mà anh chắc phải trở về tàu ngay bây giờ thôi. Để rủi tàu chạy mất thì anh sẽ bơ vơ, không bến không bờ trên đất lạ quê xa này. Bây giờ anh lỡ đã biết người, biết nhà, lúc nào rảnh anh sẽ đến thăm.
Ngọc cảm thấy không vui, mới nói vài câu đôi môi chưa ấm đã đứng đậy đi về. Cử không dám nói là mình đang trực. Vả lại đi ăn bún bò Huế kiểu này cũng hơi lâu. Thằng Đô chắc trông. Ông hạm trưởng không chừng chắc cũng trông. Ngọc tiễn Cử ra cổng. Nhưng, như còn tiếc thời gian qua mau, không thèm nói tiếng nào đưa tay vẫy. Cử quay lưng, cắm đầu cắm cổ rảo bước. Theo những con đường cũ… Tự nhiên Cử thấy mọi thứ xung quanh mình như không còn gì quan trọng, không còn gì ý nghĩa nữa. Đà Nẵng đối với Cử như chỉ còn có mình Ngọc mà thôi. Con nhỏ thích Cử ngay từ lúc ban đầu, Cử hiểu vậy.
Hình Mạnh Hải/Flickr
Nhờ suy nghĩ vẩn vơ mà Cử thấy đường về như ngắn lại. Không mấy chốc đã thấy dòng sông. Không mấy chốc đã thấy tàu. Rồi thấy chiếc xe jeep của hạm trưởng đậu lù lù trước cửa “ramp”… Thôi chết rồi, phen này ăn bữa giỗ lỗ bữa cày. Không ổn, không ổn rồi. Cử chào đáp lễ anh thủy thủ đang đứng gác hạm kiều tại cửa đổ bộ rồi hỏi dồn:
– Hạm trưởng về nãy giờ lâu chưa?
– Dạ ổng mới về chừng năm mười phút.
Đúng là còn hên, trễ một chút xíu nữa là tiêu tán đường. Thằng Hải không biết đã về tàu hay chưa? Phải tìm thằng Đô mới biết rõ tình hình được. Nhưng tìm nó ở đâu? Xuống khu sĩ quan?
– Thiếu úy, hạm trưởng cần gặp thiếu úy gấp. Nãy giờ tôi đi kiếm thiếu úy lung tung mà không ngờ thiếu úy ở trên này.
Cử hỏi lại anh trung sĩ bí thư:
– Hạm trưởng cần gặp tôi bao lâu rồi?
– Ổng về là ổng hỏi thiếu úy liền. Tôi đã trình mấy cái công điện bữa nay cho ổng rồi. Tàu mình sắp sửa đi công tác, đi Chu Lai chở đạn.
– Anh đưa cho ổng đọc trước tôi thì bể mẹ nó rồi. Còn chuyện gì quan trọng nữa không?
– Dạ không.
Trong bụng nóng như lửa đốt, nhưng Cử cố làm ra vẻ bình tĩnh, tà tà xuống ca-rê sĩ quan. Ngạc nhiên hơn, Cử thấy ông hạm trưởng nặng cân của mình đang nói chuyện, cười đùa với mấy anh em sĩ quan đàn anh. Một chuyện hiếm có, chưa từng thấy xảy ra. Có lẽ bữa nay ổng “dê” được bà nào, nhưng mà nhìn đi nhìn lại xấp hồ sơ trên bàn, Cử vẫn còn lo âu, hồi hộp.
– Cử đó hả?
Cử vừa kéo ghế ngồi, vừa nói:
– Dạ hạm trưởng gọi tôi?
Hạm trưởng tiếp tục cười, rồi vừa cười vừa nói:
– Ừ… Tôi biệt phái anh qua HQ 617 bắt đầu từ ngày mai… Đù mẹ, hạm trưởng đau bao tử nằm nhà thương, hạm phó bỏ tàu đi cưới vợ, sĩ quan đệ tam dẫn tàu lên cạn cong chân vịt rồi đổ thừa thiếu sĩ quan đi phiên… Ngày mai tàu đi công tác, bữa nay anh khăn gói qua Tiên Sa tạm trú chờ HQ 617 về bến là vừa.
Chần chờ một chút, Cử nói:
– Dạ. Hạm trưởng có cần gì nữa không?
– Cần anh cái đếch gì nữa, anh đi tàu khác mẹ nó rồi.
Cử trở về phòng mà lòng vẫn còn ấm ức. Kỳ này hạm trưởng chơi mình sát ván rồi, thẳng cẳng rồi. Tại sao một lũ sĩ quan dưới tàu mà mình phải bị biệt phái. Xứ lạ quê người. Tiên Sa, chưa biết Tiên Sa là đâu. Chưa nói được với hạm trưởng những điều mình nghĩ, mình muốn thì đã bị đưa vào cái cảnh mình chưa dám nghĩ, chưa dám muốn rồi. Tại mình không khéo “nâng bi” chăng? Còn lâu mới “nâng bi”, coi chừng rồi có ngày ông sẽ đá cho đập “dế”, coi chừng rồi có ngày ông sẽ phản đòn… Một hồi lâu, anh thủy thủ ban văn thư mò tới, trao cho Cử một bản sao của công điện biệt phái:
– Hạm trưởng nói nếu thiếu úy thiếu tiền xài thì nói chuẩn úy Tài xuất quỹ cho thiếu úy mượn. Năm ba ngàn gì cũng được. Cử thu dọn áo quần và mấy thứ cần thiết dồn vào sac-marin. Cử cảm thấy tủi thân. Đang đi tàu chuyển vận, tàu lớn vững như hàng không mẫu hạm, chạy một hai ngày là tới bến, lại bị thảy qua PGM, tàu nhỏ như cái thúng, lắc lư bềnh bồng mà còn phải đi tuần dương năm bữa nửa tháng giữa biển khơi. Vác sac-marin xuống LCM, chiếc tàu của hải quân lấy làm tàu đò, xẹt qua xẹt lại hai bến Sao Mai – Tiên Sa mà lòng Cử bâng khuâng, buồn bã. Cứ nghĩ không biết sau này mình làm hạm trưởng thì mình sẽ hành động như thế nào? Cử cũng phải dữ dằn với đám sĩ quan trẻ tuổi hay sao? Chắc vậy, nhưng không thể nào “nhỏ mọn” như ông hạm nhà mình được… Tàu cập bến Tiên Sa. Cử từng bước, từng bước lấy sức leo lên dốc. Bộ tư lệnh Vùng Một Duyên Hải như cất mút trên đỉnh núi cao.
Hình Mạnh Hải/Flickr
– Ê Cử, sao mày lang thang đi đâu đây?
Cử mừng rỡ bắt tay thằng Bá, thằng bạn cùng khóa. Cử thấy mình như chụp được chiếc phao, thằng này bề gì sinh trưởng quê quán ở vùng này, chắc nó am hiểu tình thế hơn Cử. Cử đáp lời:
– Tao bị ông hạm tao chơi mậy. Tao đang ở HQ405, Hải vận hạm Tiền Giang, mà mày nghĩ coi ổng dám tống cổ tao qua Tuần dương đĩnh mậy. Chạy qua đây tạm trú chờ HQ 617 nè… Ủa, sao mày làm gì ở đây? Tụi mình, khóa mình đang đi tàu hết mà.
– Tao mà làm được ở đây thì sướng rồi, mà có làm được đâu. Tao đang đi phép… Chờ 617 cái con khỉ khô. Đi theo tao ra Đà Nẵng nhậu.
– Bậy bạ mậy. Chuyến này mà làm không xong, trở về, ông hạm tao dám cho tao đi “tàu ngầm” lắm mày ơi.
– Mày có điên không? Vô trung tâm hành quân check coi chừng nào 617 về, rồi vọt. Chớ nó ở luôn ngoài biển rồi mày cũng nằm đây mà chờ à. Sao bây giờ mày nhát quá vậy!
– Nhát? Nhát sao được:
– Đi thì đi. Chỗ ăn chỗ ngủ mày lo há.
– Ừ, tao dẫn mày về nhà bà cô tao ở. Chỗ này không đến nỗi tệ.
Cử nhảy lên honda với Bá, phóng đường bộ trở về Đà Nẵng. Qua ngã ba Sơn Chà, qua ngã ba Mỹ Khê, qua cầu Trịnh Minh Thế, qua bãi Sao Mai… Cử ngạc nhiên không thấy HQ-405, không thấy tàu mình đâu hết. Mới đó mà đã kéo neo, rút khỏi bãi chạy mất tiêu rồi, công tác gì mà khẩn cấp vậy. Xa tàu như xa nhà, tự nhiên Cử cảm thấy bơ vơ thật sự. Bơ vơ hơn nữa khi Cử bước vô tiệm Rồng Vàng, tiệm bán máy tàu biển, Yanmar, Kubota… Lạ nhà lạ cửa. Giới thiệu, chào hỏi qua loa rồi Cử theo Bá ra tuốt nhà sau. Mặc dù có bạn bè đó, nhưng Cử còn cảm thấy thân mình như thân ăn nhờ, ở đậu. Thay đồ tắm rửa xong thì đến giờ cơm. Bữa cơm miền Trung. Cử để ý mấy đĩa thịt phay. Những lát thịt mỏng được xếp đều đều xung quanh dĩa, tròn như cánh quạt. Đẹp mắt, ngon miệng. Xếp được như vậy phải là khéo tay, dư giả thì giờ… Ăn xong, Cử lên lầu kiếm chỗ nằm nghỉ, lấy sức. Ôn lại một ngày. Từ lúc tàu cập bến Sao Mai, từ lúc theo Ngọc lên chợ Cồn, từ lúc bấp bênh bên bán đảo Tiên Sa, và bây giờ chui vô hàm rồng Rồng Vàng. Quá đủ cho một ngày, một ngày đầu tiên, ở thành phố Đà Nẵng như không còn xa lạ này. Cử đánh một giấc ngon lành. Lúc thức dậy thì trời đã vào đêm, mười giờ đêm. Bạn bè, hàng xóm của lũ con cháu bà chủ nhà tụ lại đông như một đảng cướp. Một bàn tiệc và một sòng xì-phé. Hai món món nào cũng hợp với Cử, nhậu trước rồi đánh bài sau. Cho đến tờ mờ sáng thì năm ngàn mượn quỹ chiến hạm của Cử đi đoong. Nhờ vậy mà sòng bài mới có cơ hội “vãn”. Cả bọn kéo nhau đi ăn sáng, đi ăn bún bò Huế, rồi trở về ngủ tiếp.
Chiều hôm đó Cử lấy của Bá vài trăm bạc và chiếc honda đi thăm bồ, thăm Ngọc. Ngựa quen đường cũ, cứ những “con đường mang tên em”mà đi thì tới nhà. Vừa bước vô phòng khách gặp ngay bốn ông tướng đang chơi cờ. Cờ gì không biết, chỉ biết mấy ông thay phiên bốc mấy con cờ tướng đựng trong một túi vải nhỏ. Chí chóe không thua gì đám ăn cướp. Một ông nói lớn vào trong:
– Ngọc. Có khách.
Cử lấy làm lạ không hiểu tại sao ông này biết Cử quen với Ngọc. Ngày hôm qua Cử nhớ mình đâu có giáp mặt với ông nào đâu. Chẳng lẽ ai trai trẻ bước chân tới nhà này đều quen với Ngọc thôi sao. Cũng xong, Cử khỏi phải hỏi tới hỏi lui, “thưa bác cô Ngọc có ở nhà không…”, cho mất công. Ngọc bước ra mừng rỡ:
– Anh Cử… Em biết bữa ni thế nào anh cũng đến. Vào trong này đi anh. Cử theo Ngọc vào phòng riêng của Ngọc vì phòng khách đang bị mấy ông tướng chiếm đóng. Phòng con gái có khác, ngột ngạt mùi thơm. Màn the trướng gấm, cái gì như cũng được bọc bằng sa-teng, lụa là. Ở cửa ra vào còn có treo một tấm sáo trúc đủ màu lòng thòng, đong đưa. Một cái giường nệm cá nhân loại lớn, một bàn viết cạnh cửa sổ trông ra một khoảng vườn. Trên bàn một chồng sách, một xấp nhạc, và một cái radio. Một cây đàn móc trên vách. Hai cái ghế. Cử ngồi cái ghế dựa vào vách ngó ra cửa, Ngọc ngồi ghế ngồi học bài…
Hình Mạnh Hải/Flickr
Cử kể lại chuyện lỡ tàu của mình cho Ngọc nghe, và bây giờ đang chờ chuyến khác. Ngọc kết luận:
– Nhờ rứa anh mới trở lại thăm em, phải không? Vừa rồi em nói gì với anh, cho em xin lại. Cũng bằng thừa, anh vì hoàn cảnh đẩy đưa, chớ anh nào nghĩ gì đến em.
Hoàn cảnh đẩy đưa! Nghĩ gì đến em! Mới đó mà Ngọc đã bộc lộ những chi tiết thầm kín, đã để tình cảm đi vào chỗ sâu đậm rồi sao? Cử giải thích:
– Không. Không phải vậy. Mà tại sao em lại nghĩ như vậy chớ? Em phải biết thành phố này, Đà Nẵng này, thiếu gì chỗ đi chơi, thiếu gì nơi ngắm cảnh, mà tại sao anh phải đến đây. Tại sao anh chỉ biết có bến tàu và nhà em… Chưa chi đã không chịu hiểu mà đã trách anh.
Câu nói tâm lý đó có lẽ làm Ngọc vừa lòng. Mà thật tình Cử nào có nói dối điều gì. Cử bỗng nhiên thấy Ngọc như không là “con nít” nữa. Đăm đăm nhìn Ngọc, sâu vào khóc mắt, sâu vào đa thịt, cơ thể. Cử vói tay với lấy cây đàn, móc nhẹ mấy ngón classique.
– Em thích bản gì anh đàn cho em nghe.
Tiếng đàn của Cử chắc cũng đậm đà, dìu dặt nên Ngọc lấy xấp nhạc ra lựa bài. Rồi đừng lại ở bài Hoa Biển. Ngày xưa em anh hay hờn dỗi, giận anh khi anh chưa kịp tới. Cho anh nhiều lời cho anh bồi hồi em cúi mặt làm ngơ…. Cử đứng dậy ra phía sau Ngọc đệm đàn theo lời ca. Giọng Ngọc trầm bỗng quyến luyến theo tiếng đàn, đúng nhịp đúng canh. Như một ca sĩ điêu luyện… Rồi vì “hoàn cảnh đẩy đưa”, cặp mắt Cử chỉ phân nửa để vào nốt nhạc, phân nửa như dán vào khoảng ngực trần trong cổ áo sơ-mi của Ngọc. Tiếng ca dứt, Cử đề nghị:
– Em hát hay như vậy thì đàn cũng phải hay. Đàn cho anh nghe đi.
Cử trao đàn cho Ngọc rồi chồm qua lật tiếp xấp nhạc.
– Em đàn dở lắm mà!
– Biển Tình. Đàn cho anh nghe bản này đi. Anh sẽ ca theo em cho có bè.
Nằm nghe sóng vỗ từng lớp xa. Bọt tràn theo từng làn gió đưa. Một vầng trăng sáng với tình yêu chúng ta, vượt ngàn hải lý cũng không xa…. Cử thấy đôi tay mình như trống không, thiếu thiếu một cái gì. Và đôi ngực trần từ trên nhìn xuống. Buộc lòng phải bám víu lên vai Ngọc. Ngọc rùng mình, uốn éo. Cử bạo dạn hơn, bóp bóp đôi vai mềm. Vuốt ve làn tóc thề thướt tha. Lòn tay mân mê làn da trắng ngần sau gáy. Rồi đi lần xuống ngực. Ngọc nghẻo đầu sang một bên như muốn giữ tay Cử, không cho động đậy. Tiếp tục đàn, tiếp tục ca. Cử sực nhớ.. vội vàng rút tay ra. Bước lại đóng cửa. Khóa cửa. Khép luôn cửa sổ. Ánh sáng chỉ còn len lỏi qua song lá sách và căn phòng trở nên mờ ảo. Ngọc ngừng ca, ngước mắt như muốn hỏi Cử làm gì kỳ vậy, bị Cử đưa ngón tay trỏ lên miệng “xì” cho một cái rồi cúi xuống hôn lấy hôn để. Cử một tay ôm Ngọc, một tay với lấy cái radio bật công tắc. Tiếng nhạc dội ra che bớt tiếng xào xạc, lụp cụp trong phòng. Không ngừng được nữa, Cử bồng Ngọc lên giường. Ngọc sợ hãi, hai mắt nhắm nghiền không dám mở. Trong ánh sáng chập chờn, đồng lõa với cơn mê, Cử thấy mặt Ngọc đỏ như tôm luộc. Cử lột từng khuy áo…, để lộ bộ ngực trần, trắng trong… Rồi đến phiên Cử, vội vàng tự mình tốc áo sơ-mi.. may là Cử đang mặc đồ civil. ..
Ngọc gối đầu lên tay Cử, má áp vào ngực. Những giọt nước mắt lăn xuống áo thấm vào da Cử nóng nóng. Cử rùng mình thấy mình có tội, có trách nhiệm, có bổn phận với Ngọc, người con gái mới tròn tuổi đậy thì. Trong radio như có tiếng hát Khánh Ly dìu dặt… ta yêu nhau lần đầu, thương nhau trọn đời, giữ mãi câu thề… Cử ôm sát Ngọc vào mình. Căn phòng như tối thêm, bóng đêm như đã xuống… Rồi có người gõ cửa:
– Ngọc ạ, xuống ăn cơm con. Hai đứa bay làm chi lâu dữ rứa?
Cử giật mình không dám cựa quậy, Ngọc ngước mặt nói vọng ra:
– Mạ xuống trước đi, tí xíu nữa tụi con xuống ngay.
Tiếng bước chân xa dần xa dần. Cử đề nghị:
– Hay là hai đứa mình đi ăn tiệm đi. Xong mình đi phố… Mai anh đi rồi, núm níu với em lúc nào hay lúc nấy…
Hình Mạnh hải/Flickr
Đêm hôm đó Cử theo HQ-617 ra khơi mà lòng mãi bâng khuâng, vương vấn chuyện bến bờ. Thân hải quân “mười hai bến nước”. Lại một bến nữa, không biết đời Cử rồi sẽ tấp vào đâu. Cử châm một điếu thuốc, điếu thuốc của Ngọc, cho Ngọc. Kem đánh răng, xà bông, mì gói nữa… đầy đủ quá, Ngọc mua cho Cử, lo lắng cho Cử nhiều quá. Trên tàu lạ, không thấy ai quen, không còn ai tâm sự. Chỉ có Cử mới hiểu được Cử, nỗi yêu bến thương bờ của mình như thế nào. Tàu chạy theo trục đông bắc, vòng tới vòng lui. Thành phố đó, ngọn hải đăng đó, mờ mờ trên trời tây mà Cử mỏi mòn mong ngóng cho chuyến đi ngắn lại… Nhưng trớ trêu thay, đã ngắn lại không ngắn mà lại dài ra, dài ra như mãi mãi như không biết đến bao giờ! Vì HQ-617 có lệnh trở về Sài Gòn giám định. Trở về Sài Gòn? Ngay bây giờ? Giữa biển khơi? Thật vậy sao? Mọi người nhảy nhót reo mừng, duy một mình Cử chỉ còn biết kêu trời. Tội cho anh, tội cho em Ngọc ơi. Anh ra đi mà không lời giã biệt. Cử thấy mắt cay cay khi biết mình rời xa em gái Huế… anh chợt đến chợt đi em vẫn biết, trời chợt mua chợt nắng bởi vì đâu, anh ra đi mà không bảo gì nhau…
Rốt cuộc Cử về bến Bạch Đằng, Sài Gòn, trước HQ-405 hơn một tháng. Hơn một tháng đi phép không giấy tờ. Cử không biết có nên cám ơn hay trách hờn ông hạm trưởng hay “thù vặt” của mình đây. Khăn gói trở về tàu cũ, Cử cứ tưởng ổng sẽ đổi tánh ai dè cũng chứng nào tật ấy. Cũng chửi sĩ quan như tát nước vô mặt:
– Tui cấm anh không được buôn bán gì ở dưới tàu này hết nghe không? Chở mấy thùng thuốc lá PX đó là có ngày anh ngồi tù anh biết không? Còn tôi tôi làm gì thây kệ mẹ tôi ..
Á… thây kệ mẹ hạm trưởng là phải rồi.., mấy thùng thuốc lá PX làm sao so sánh với mấy trăm bao gạo được. Bị chửi riết rồi quen, Cử đâu màng đến mấy điều lặt vặt đó nữa. Cử chỉ mong một điều, một chuyến công tác Đà Nẵng, mà trông hoài không thấy. Gần một năm trời, mấy bận trở ra miền Trung nhưng chỉ tới Qui Nhơn là cùng. Cử chỉ còn ôm ấp lá thư duy nhất của Ngọc, lá thư gửi về HQ-405, chạy lên bộ tư lệnh Hạm Đội, chạy xuống HQ-617, rồi mới chạy trở qua HQ-405 cho Cử. Những dòng chữ thiết tha chờ đợi… và một tấm hình của Ngọc, cắt thành hình trái tim, có kết chỉ lam tim tím ngoài rìa như một mặt dây chuyền. Cử xem hình Ngọc mà lòng thêm tức tưởi.
Thêm một chuyến đi Nha Trang, lại chỉ đến Nha Trang thôi, tàu đi xa thêm một chút nữa không nổi! Dở hàng xuống, bốc hàng lên… rồi giờ khởi hành về Sài Gòn cũng đến đúng như dự trù. Hạm trưởng về tàu thì tàu sắp chạy… À, bữa nay hạm trưởng chịu chơi, dám dẫn em theo tàu. Cử nghe hình như có tiếng con gái chót chét bên phòng hạm trưởng… Tàu rời bãi và Cử trúng ngay ca đầu, ca chiều. Xuống ca chiều là tới giờ cơm, giờ cơm mà Cử ghét nhất, giờ cơm phải ăn cơm chung với hạm trưởng. Bởi vậy, Cử là người sau chót bước chân vào phòng ăn… Cử sựng lại, một phút chết điếng như trời trồng, vì người ngồi đối điện với hạm phó, chỗ đành riêng cho khách của hạm trưởng, lại là Ngọc. Ngọc của Cử. Suýt chút nữa Cử đã vẫy tay chào, đã kêu tên thành tiếng. Ngọc nhìn Cử trân trân. Cử kéo ghế ngồi im lặng nhưng trong lồng ngực trái tim như đã muốn nhảy ra ngoài. Không dám ngó về phía Ngọc, lòng phân vân cay đắng. “Đù mẹ, hạm trưởng dám cua bồ của mình thì bỏ mẹ rồi, chơi như vậy thì chơi với ai”, Cử rủa thầm. Mà tại sao Ngọc lại vô Nha Trang? Hèn chi mấy lá thư của Cử chỉ đi mây về gió… Cử chỉ của Cử và Ngọc có khéo cách mấy cũng không qua mặt nổi ông hạm trưởng già dặn tình đời, ông hướng về phía Cử oang oang tuyên bố:
– Ê, đây là cháu của hạm trưởng nghe. Mười phương tám hướng cũng phải chừa một nghe. Không có anh nào lạng quạng à… Rốt cuộc Cử thấy bữa cơm đó là bữa cơm ngon, bữa cơm mừng vui, bữa cơm mà lần đầu tiên Cử thấy hạm trưởng của mình nói chuyện nghe được. Trở về phòng riêng, đầu óc Cử quay cuồng, lẫn lộn với những ý tưởng xung khắc, dồn đập. Phải tìm cách giải bày với Ngọc để Ngọc khỏi hiểu lầm. Phải chuẩn bị một chương trình đi chơi thật hấp dẫn cho Ngọc. Và lẽ đĩ nhiên phải tiếp tục qua mặt hạm trưởng. Xa nhau một thời gian, không hiểu Ngọc có thay đổi gì không? Có giận Cử không, giận Cử là cái chắc. Lạy trời, Ngọc vẫn như xưa. Mà làm sao tìm cách nói chuyện với Ngọc. Phòng hạm trưởng đâu phải dễ ra vào. Phải rình, phải chờ hạm trưởng lên đài chỉ huy. Lòng Cử rối beng như mớ bồng bồng
Hình Mạnh Hải/Flickr
– Ê Thành, chiều mai mày đi chơi với tao được không? Khoảng hai giờ trưa. Nhớ dẫn theo con Thu nghe. Tao sẽ giới thiệu với tụi mày con bồ mới của tao. Hẹn em được rồi. Con nhỏ này đẹp không thể tả được mày à, tại vì nó không phải là dân Sài Gòn. Cháu kêu bằng chú của ông hạm trưởng tao.
– Mày đang ở đâu vậy?
– Đang ở cầu E hải quân công xưởng nè, tàu mới về bến mậy. Mai tao sẽ ghé lại nhà mày trước khi đi nha.
Hai chiếc Vespa tạt vào trường Lê Qúi Đôn. Ngọc đúng hẹn. Đúng giờ tan lớp. Giới thiệu sơ sơ rồi hai cặp đèo nhau ra Thảo Cầm Viên. Cho tới bây giờ Cử vẫn chưa nói được gì nhiều với Ngọc, nhưng hiểu Ngọc vẫn còn với mình. Trường họp gặp lại nhau cũng hơi hi hữu. Cử nháy mắt Thành một cái khi thấy Thành trân trố nhìn Ngọc ôm sát eo ếch Cử, như chưa từng thấy ai như vậy bao giờ… Ngọc và Thu cũng dễ làm thân, Cử và Thành để hai người tản bộ, theo xa xa phía sau để dễ đàng nói chuyện riêng. Hai dáng dấp in bóng bên hồ sen như hai nàng tiên nữ.
– Con nhỏ có sắc đó, nó chịu mày quá. Mày mà không “vớt” được nó là dở, ông hạm mày sẽ chê mày là cù lần Cử ơi.
– …
Cử thấy thằng bạn mình sao chậm tiến quá, nhưng mà nó làm sao nhìn thấu được nội cảnh giữa Ngọc và Cử. Cử định trả lời “đợi mày nhắc thì đã muộn rồi”. “Vớt”, tại cái tội “vớt” đó mà bây giờ chắc phải trong nhờ đục chịu. Không biết hạm trưởng mà biết chuyện này thì ổng sẽ chửi Cử đến mức nào. Chuyến này chắc khỏi phải đi “tàu ngầm”, chỉ cần đi “mò tôm” thôi. Cử bâng quơ trả lời Thành bằng những câu hỏi:
– Tao kêu ông hạm trưởng mát điện của tao bằng chú coi cũng được chớ mậy? Mày thấy sao?
Thành lõ hai mắt to ngạc nhiên nhìn Cử, ra tuồng: Nói giỡn hay nói thiệt đây!
Gió đầu xuân mơn man thổi. Một mùa xuân hội ngộ, trùng phùng.
Hải quân Đức Kriegsmarine dùng rất nhiều khinh tốc đĩnh Schnellboot (Fast boat) để canh phòng và tuần tra sát bờ biển, từ Đan Mạch xuống hết cạnh sườn duyên hải Bordeaux. Đặc điểm của loại tàu này là trang bị 4 ống phóng ngư lôi và đạt vận tốc cao 81 km/g giúp tấn công chớp nhoáng rồi chạy thoát khỏi các khu trục hạm Anh mà tốc lực tối đa không quá 65 km/g.
Từ 1942, trước nhu cầu thám thính hàng trăm đảo nhỏ ở Nam Thái Bình Dương, US Navy thành lập các Hải đội Patrol Torpedo Boat, viết tắt là PT. Là một dạng tàu tương đương với Schnellboot. Tiếng Việt dịch là Ngư lôi đĩnh.
Nổi tiếng nhất là chiếc PT-109 của Trung úy John Fitzgerald Kennedy bị khu trục hạm Nhật Amagiri đâm chìm đêm 1 rạng 2 tháng 8-1943 trong vịnh Vella. Hara vô tình làm chứng nhân ngẫu nhiên mà không hề hồ nghi viên thuyền trưởng trẻ tuổi của chiếc PT-109 sẽ trở thành Tổng thống Hoa Kỳ 18 năm sau.
Patrol Torpedo Boat tốc lực 71 km/g, dài 24m và nặng 56 tấn, nhỏ và nhẹ hơn Schnellboot của Đức nặng 100 tấn, dài 33m nhưng được sản xuất nhiều hơn. Hậu thân là Duyên tốc đĩnh PCF Patrol Craft Fast sẽ trang bị cho Hải quân VNCH. PCF là phiên bản bỏ túi dài 15m, tốc lực 46 km/g và không gắn ống phóng ngư lôi vì Bắc-Việt không có tàu chiến trong Nam. 110 chiếc PCF sẽ sang Việt Nam.
[Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương 33
Khu trục hạm Ariakê (Bình Minh) thuộc Hải đội 27 của tôi nhưng tăng phái cho Hải đội 30, đã hoàn thành nhiệm vụ tiếp tế một cách khôn khéo. Task Force 39 hùng hậu của địch, gồm 7 chiến hạm đã phục kích bên trong vịnh Kula phía Nam đảo Kolombangara nhưng không sao phát giác ra tung tích tàu Nhựt, vì hải đội này đã xuyên vịnh Vella phía Bắc.
Trên căn cứ Rabaul, nơi tiếp liệu cho tất cả các lực lượng Nhựt trú đóng trên chuỗi đảo Solomon, New Guinea là khu vực xảy ra những trận đánh khốc liệt nhứt vào mùa Hè 1943, báo động liên tục nên chiếc Shigure tuy được phép tạm nghỉ xả hơi nhưng tất cả thủy thủ luôn trong tình trạng ứng chiến suốt 6 ngày, và sau đó được lịnh cùng 3 chiến hạm khác, thuộc Hải đội 4 Khu Trục hạm, lãnh nhiệm vụ tiếp tế đảo Kolombangara lần nữa.
Chúng tôi bắt buộc phải đi xuyên qua vịnh Vella Lavella mà cách đây 10 ngày Hải đội 30 đã hải hành. Hải trình này “rất an toàn” như Tổng Hành dinh Rabaul trấn an. Tuy nhiên chúng tôi hết sức dè dặt bởi vì, theo như nhận xét của riêng tôi, việc lặp lại thường xuyên một công thức đã áp dụng thường rước lấy thảm họa. Tôi không tin rằng các tuần dương hạm và khu trục hạm địch lại phí phạm thời gian và nhiên liệu một cách vô ích tại vịnh Kula một khi tàu Nhựt không đi qua đó. Thảm kịch đã xảy đến cho hai chiếc Yugure (Hoàng Hôn) và Kiyonami (Biển Trong) là một bằng chứng khá đủ để không cho phép chúng tôi xem thường đối phương.
Ngày 1 tháng 8-1943, chúng tôi rời quân cảng Rabaul ra khơi theo đội hình hàng dọc. Chiếc Amagiri (Mây Mù) lãnh nhiệm vụ tiên phuông nên không chở theo gì cả. Ba khu trục hạm theo sau, Hagikaze (Phong Thảo), Arashi (Bão Tố) và Shigure (Mưa Thu), đều chất đầy lính và quân cụ. Tổng số lên đến 900 binh sỹ và 120 tấn tiếp liệu. Tôi cảm thấy lo âu với chuyến xuất kích lần đầu của Shigure. Thời gian tôi vắng mặt, hải vực chính giữa quần đảo Solomon là nơi nhận chìm nhiều khu trục hạm nổi tiếng của Nhựt. Ba khu trục hạm Kagero (Ảo Ảnh), Kuroshio (Hắc Ðiện) và Oyashio (Hắc Triều), từng tạo những chiến công oanh liệt cho Ðề đốc Tanaka, đã bị phi cơ địch và thủy lôi tống táng vào ngày 8 tháng 5 vừa rồi. Nagatsuki (Nguyệt Tuế), chiếc tàu đã cùng tham chiến với tôi tại biển Java, và chiếc Niizuki (Tân Nguyệt) đã vùi sâu trong hải vực này hồi tháng 7. Hatsuyuki (Tuyết Ðầu Mùa), người hùng của trận Savo vào tháng 10 năm 1942, đã nổ tan xác và chìm xuống biển cả mênh mông gần Bougainville vào ngày 17 tháng 7 mới cách đây hai tuần.
Mải suy nghĩ về những chuyện đã xảy ra mà tôi quên rằng mình đang đứng trên đài chỉ huy của chiếc Shigure. Nhìn đại dương bao la đen sẫm trước mắt, tôi tự hỏi không biết bao nhiêu chiếc, và chiếc nào trong số 4 khu trục hạm hôm nay sẽ thoát cơn sóng gió sắp xảy đến? Khi đêm xuống hẳn, tôi cảm thấy nhẹ người. Với màn đêm kín bưng này, hy vọng lợi thế sẽ nghiêng về phía chúng tôi. Biển khuya dập dềnh chập chùng với sóng vươn lên rồi hụp xuống. Cả một đại dương im lặng.
Rất lâu sau chúng tôi tiến vào eo biển Blackett. Ðoạn nằm giữa Kolombangara và 3 đảo nhỏ hơn, đến tận phía Tây-Nam của eo biển rất hẹp này, đầy rẫy đá lởm chởm và nhiều chỗ rất nông kéo dài cả cây số. Tôi ra lệnh cho tàu tắt máy khi đến điểm hẹn. Ba chiếc tàu chở đầy nghẹt hàng hóa và binh sỹ lặng lẽ lướt tới.
Hàng chục chiếc tàu nhỏ từ trong bờ chạy nhanh ra để nhận hàng và người. Công việc diễn ra chỉ trong vòng 20 phút, tất cả quân nhu và binh sỹ đều được chuyển đi. Chúng tôi nhẹ hẳn khi nhận được đèn hiệu của chiếc Hagikaze: “Quay trở về.”
Khu trục hạm Amagiri đã chạy trước dẫn đường trong khi 3 chiếc khác còn lo cho máy chạy lại. Trong vòng 5 phút, chúng tôi rời khỏi điểm đổ hàng, chạy ngược trở lại đoạn hải trình nguy hiểm đầy rẫy chướng ngại vật của eo biển Blackett. Tôi đã lưu ý đài chỉ huy và các quan sát viên của chiếc Shigure phải cẩn thận. Trong khu vực này địch đã giăng một mạng lưới tình báo rất chặt chẽ, có thể họ đã biết những hoạt động của chúng tôi. Họ có thể xuất phát tấn công tại bất cứ khoảng nào thuộc vùng đá ngầm của eo biển Blackett này.
Di chuyển hơn 10 phút, chúng tôi bắt đầu cho tàu chạy 30 hải lý một giờ để lướt nhanh qua đoạn hải trình nguy hiểm, mà ngay cả trong thời bình cũng không có một chiếc tàu nào dám di chuyển ban đêm với tốc độ quá 12 hải lý một giờ, dầu mở hết đèn. Dĩ nhiên hiện thời chúng tôi di chuyển âm thầm, không đèn đuốc. Khí trời ban đêm thực oi bức, nhưng mồ hôi lạnh lại lấm tấm trên trán của mọi người. Chúng tôi đi qua Arundel, Wana-Wana và đến ngang Gizo thì bắt kịp khu trục hạm Amagiri. Chúng tôi tiếp tục di chuyển theo đội hình hàng dọc, mỗi chiếc cách nhau 600m. Mắt tôi, nhìn rất rõ trong đêm tối, chợt nhìn thấy một vật nhỏ màu đen đang di chuyển khá nhanh trên mặt biển, ở mạn trái con tàu. Vật màu đen này lướt nhanh về hướng chiếc Amagiri, đang chạy phía trước chiếc Shigure chừng 1,500m. Chưa xác định rõ vật đen đó là gì, nhưng tôi tự nói với mình “địch mò đến”, và cố trấn áp hồi hộp.
Vật đen mờ dần trong đêm tối, và biến mất hẳn. Không một tiếng nổ, không một ánh đèn, không một tiếng súng nào. Thực là kỳ quái. Ngay lúc đó, hoạt động trên Amagiri có vẻ sôi động, và từ chiếc tàu này, một tín hiệu bằng đèn được gửi đi: “Khinh tốc đĩnh địch. Ðụng chìm một chiếc.”
Súng trên hai khu trục hạm Arashi và Hagikaze bắt đầu khai hỏa. Tôi nhận thấy hàng loạt đạn như mưa tuôn ra từ tả mạn của hai chiếc tàu này. Hai tiểu đĩnh phóng ngư lôi của địch bốc cháy dữ dội, soi sáng cả quang cảnh xung quanh hai chiếc Arashi và Hagikaze. Tôi cũng ra lệnh cho chiếc Shigure khai hỏa. Toàn thể thủy thủ đoàn nãy giờ vẫn kìm súng, bắt đầu ra tay thực chính xác. Hai ngư lôi đĩnh địch bốc cháy dữ dội hơn, và dần dần biến mất trong dòng nước đen ngòm. (Thực ra, đây chỉ là hai phần của chiếc PT-109 bị Amagiri đụng và cắt rời ra). Những tiếng la hân hoan vang lên trên các khu trục hạm Nhựt, trong lúc chúng tôi tiếp tục xả hết tốc lực vượt hải trình còn lại để trở về căn cứ. Cảm thông niềm vui của mọi người, nhưng tôi không thể hòa mình cùng với họ, vì đầu óc của tôi vẫn còn lảng vảng hình ảnh của chiếc PT-109 lúc tàu tôi lướt ngang qua.
Chiếc tàu này đã làm tôi nhớ đến chiếc Terutsuki (Nguyệt Rạng) bị đánh chìm vào tháng 12 năm 1942, bởi các trái ngư lôi do hai khinh tốc đĩnh địch có trọng tải 50 tấn phóng ra. Có lẽ chúng tôi cũng chịu chung số phận với chiếc Terutsuki đêm nay, nếu địch phản ứng một vài phút sớm hơn. Chúng tôi giảm tốc độ khi ra khỏi vịnh Vella, và sau đó trở về Rabaul an toàn. Thủy thủ đoàn của tôi vẫn còn phấn kích với chiến công vừa qua, nhưng tôi thì rất dè dặt và lo ngại. Sự lo ngại thực sự đến khi tôi trình diện Tổng Hành dinh và nhận tin chính thức: “Khu trục hạm Mikazuki (Nguyệt Khuyết) thuộc Hải đội 30 và Ariakê (Bình Minh) thuộc Hải đội 27 trong lúc thi hành sứ mạng vận chuyển đến Tuluvu, New Britain, đã mắc cạn gần mũi Gloucester vào ngày 27 tháng 7, và hôm sau cả hai đã bị các oanh tạc cơ B25 oanh kích hủy diệt hoàn toàn, nhưng chỉ có 7 thủy thủ thiệt mạng.”
Tôi buồn bã quay trở về chiếc Shigure. Một lần nữa, tôi lại trở thành vị hải đội trưởng chỉ có một khu trục hạm dưới tay. Tai biến dồn dập biết bao. Không đầy một tháng, 4 chiến hạm chỉ còn lại một chiếc. Là chiếc Shigure.
Hai chiếc Mikazuki và Ariakê vụng về, đần độn đến bậc nào mà để đến nỗi phải bị mắc cạn? Các tàu chiến của tôi đã chìm trước khi tôi kịp chỉ huy! Giận dữ, mệt mỏi và mất tinh thần, đêm đó tôi đã nốc rất nhiều chai sakê, nốc cạn chai này sang chai khác vì bực tức và bất lực. Thiếu tá Yamagami đã cùng đối ẩm để chia sẻ nỗi đau cùng cực của tôi. Nhưng Yamagami chỉ lưu lại một giờ đồng hồ, và sau đó tôi độc ẩm suốt đêm.
Hai ngày sau, lúc sáng sớm ngày 4 tháng 8, Ðại tá Kaju Sugiura, chỉ huy Hải đội 4 Khu Trục hạm, đạt giấy mời Yamagami và tôi đến soái hạm của ông để dự một phiên họp. Ðó là một buổi sáng đầy nắng. Chúng tôi dùng thuyền máy chạy đến khu trục hạm Hagikaze. Bàn ghế của buổi họp đặt trên sàn tàu, phía trên căng một tấm vải nhỏ để che nắng. Hai chúng tôi đến muộn hơn hết. Các hạm trưởng và sỹ quan thuộc các khu trục hạm khác có mặt trên tàu tiếp đón chúng tôi một cách thân thiện.
Ðại tá Sugiura, huynh trưởng của tôi ở Eta-Jima và đã tốt nghiệp trường tham mưu cao cấp, sau khi chào hỏi mọi người, ông bắt đầu ngay phiên họp, ông nói: “Tôi rất vui mừng thông báo là chúng ta đã thành công mỹ mãn trong sứ mạng vận chuyển đến căn cứ Kolombangara vừa qua. Sự thành công này sở dĩ đạt được là nhờ sự cộng tác chặt chẽ của mọi người. Bộ Tư Lệnh Tối Cao Lục quân và Hải quân rất hài lòng, và nhờ tôi chuyển đến quý vị lời khen. Ðồng thời, thượng cấp ra lệnh tiếp tục công tác chuyển vận vào ngày mốt. Khu trục hạm Kawakaze sẽ thay thế khu trục hạm Amagiri bị móp ở mũi vì chạm phải ngư lôi đĩnh của địch. Tôi yêu cầu quý vị cho biết ý kiến, và điều gì cần nêu ra.”
Nhìn chung quanh bàn họp, tôi nhận thấy toàn thể các hạm trưởng dưới quyền Sugiura lắng nghe một cách bình thản. Không một ai đứng lên phát biểu ý kiến nhằm phản đối lại Ðại tá Sugiura. Trong buổi họp, tôi là người duy nhất mang cùng một cấp bậc đại tá, và cũng là một hải đội trưởng, dù chỉ một chiếc, nhưng ngang hàng với Sugiura, nên tôi đứng dậy và lên tiếng:
“Thưa Ðại tá, tôi hiểu Ðại tá muốn nói gì khi bảo rằng chúng ta cần phải tiếp tục thi hành sứ mạng của chúng ta. Ðiều đó, thưa Ðại tá, có phải Ðại tá muốn nói rằng chúng ta cần phải thi hành công tác theo cùng một hải trình mà chúng ta đã sử dụng trong chuyến vừa qua?”
Khinh tốc đĩnh PT-109 của Trung úy John F. Kennedy trang bị 4 ống phóng ngư lôi
“Ðúng vậy, Ðại tá Hara. Chúng ta cũng sẽ đi ngang qua vịnh Vella và eo biển Blackett. Chúng ta xuống hàng tại căn cứ Kolombangara vào lúc 23g30 ngày mốt, y như lần trước chúng ta đã làm.”
“Xin lỗi Ðại tá, tôi nghĩ rằng lặp lại một phương thức mà chúng ta đã áp dụng là một hành động không mấy khôn khéo. Chúng ta đã sử dụng hải trình ngang qua vịnh Vella hai lần rồi. Tôi tự hỏi chúng ta không thể tìm một hải trình khác được sao? Riêng eo biển Blackett đã là hải trình không an toàn, vì nó đầy rẫy đá ngầm và có những khoảng rất nông, đó là chưa nói đến chuyện phải qua eo biển Gizo như thế nào trước khi vào được Blackett mà không bị địch quân phát giác?”
“Ðại tá Hara, tôi đồng ý quan điểm của Ðại tá, nhưng tôi đã lỡ ban lịnh theo chỉ thị của thượng cấp. Do đó, việc thay đổi hải trình theo như Ðại tá vừa nói, sẽ đưa đến việc thay đổi toàn bộ sắp xếp liên quan đến công tác mà chúng ta đảm nhận, nhứt là về phương diện phối hợp với trên đất liền. Như Ðại tá đã rõ, hệ thống kết nối với Lục quân của chúng ta vô cùng yếu kém. Nếu eo biển Blackett nguy hiểm đối với chúng ta thì nó cũng nguy hiểm đối với địch quân. Các ngư lôi đĩnh của địch có thể chạm vào đá ngầm trước khi chúng đương đầu với chúng ta.”
Ba hạm trưởng của Ðại tá Sugiura gật đầu nhè nhẹ, tỏ ra họ đồng ý những điều mà vị chỉ huy của họ vừa phát biểu. Những phản đề của tôi rõ ràng đều bị tất cả mọi người có mặt trong buổi họp chống đối, ngoại trừ Yamagami. Tôi cảm thấy hơi choáng váng. Bên tai tôi lại văng vẳng những câu trong quyển cẩm nang giao chiến của Musashi Miyamoto: “Lặp lại một phương thức đã từng sử dụng quả là tệ hại, và còn tệ hại hơn nữa nếu lặp lại lần thứ ba… Khi đối thủ nghĩ mình đánh cao, mình đánh thấp. Khi đối thủ nghĩ thấp, mình sẽ đánh cao. Ðó là bí quyết của kiếm thuật.”
Ðại tá Sugiura không phải là người xa lạ gì với tôi. Chúng tôi biết nhau từ nhiều năm nay. Ông được thượng cấp tín nhiệm và có nhiều biệt nhãn đối với ông. Có nhiều dấu hiệu cho thấy ông sẽ được thăng cấp Ðề đốc. Một người có tương lai như vậy thì khi nào lại dám cãi lại mệnh lịnh của cấp trên đưa xuống.
Ðại tá Sugiura phá tan sự im lặng và tiếp tục lên tiếng một cách rất hòa hoãn:
“Ðại tá Hara, nếu Ðại tá bằng lòng thì tôi sẵn sàng giao nhiệm vụ tiên phuông cho chiếc Shigure. Như vậy Ðại tá sẽ được rảnh tay và khỏi phải lo lắng về vấn đề chuyển vận nặng nhọc. Nhiệm vụ này trước đây do chiếc Amagiri đảm trách và hiện được chiếc Kawakaze thay thế, nhưng thủy thủ đoàn của chiếc tàu này lại thiếu kinh nghiệm. Tôi mong rằng với tài khéo léo và kinh nghiệm sẵn có của Ðại tá, Ðại tá sẽ hoàn tất công tác một cách tốt đẹp trong nhiệm vụ dẫn đầu.”
Ðây lại là một lời đề nghị chứng tỏ sự khôn khéo của Ðại tá Sugiura. Ông ta muốn đẩy tôi, kẻ duy nhất chống đối lệnh hành quân, vào thế không thể từ chối trước một trách nhiệm quan trọng như vậy trong cuộc hành quân này. Tất cả mọi người đều nhìn về tôi chờ xem phản ứng. Tôi trả lời một cách chơn thành: “Tôi cảm ơn sự lưu tâm của Ðại tá đối với tôi, nhưng rất tiếc tôi không thể nào chấp nhận sự đề nghị của Ðại tá.”
Tất cả những người tham dự trong buổi họp đều ngạc nhiên. Các hạm trưởng có mặt đều áy náy lúc nghe tôi trả lời như vậy. Tôi tiếp tục: “Khu trục hạm Shigure, một chiếc tàu chậm chạp, cũ kỹ, nhiều tuổi nhất trong số 4 khu trục hạm tham dự cuộc hành quân này. Lốc máy 42,000 mã lực của Shigure đã đến thời kỳ phải sửa chữa, do đó tôi sợ nó không đạt nổi tốc độ 30 hải lý. Giao nhiệm vụ mở đường cho Shigure thực không thích hợp chút nào. Tôi đề nghị nên giao nhiệm vụ này cho Trung tá Koshichi Sugioka, hạm trưởng khu trục hạm Arashi. Chiếc tàu của ông còn mới, và với dàn máy 52,000 mã lực, nó có thể đạt đến tốc độ 35 hải lý dễ dàng.”
Trong lúc bầu không khí im lặng bao trùm buổi họp, Sugiura vẫn ngồi bất động và đôi mắt của ông ngó lặng chỗ khác. Cuối cùng, một cách trầm tĩnh, Sugiura phá tan bầu không khí im lặng với ý kiến nhân nhượng: “Ðược rồi, thưa toàn thể quý vị, soái hạm Hagikaze của tôi sẽ đi đầu và lãnh nhiệm vụ viễn thám. Tuy nhiên Hagikaze vẫn chia sẻ gánh nặng trong nhiệm vụ chở binh sỹ và đồ tiếp liệu. Ba chiếc Arashi (Bão Tố), Kawakaze (Phong Vịnh) và Shigure (Mưa Thu) theo sau, chiếc nọ cách chiếc kia 500m. Bằng lòng chưa, thưa Ðại tá Hara?”
Tôi bằng lòng với sự xếp đặt này, vì nhận thấy Ðại tá Sugiura chiều lòng tôi như vậy đã là quá sức. Buổi họp chuyển sang bàn cãi những chi tiết thuộc về chuyên môn.
Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ rời khỏi Rabaul vào sáng sớm để có thể đến được vùng luôn luôn nằm dưới mắt của thám thính cơ địch xuất phát từ căn cứ Russell vào lúc đêm xuống. Ðại tá Sugiura cho biết rằng tầm hoạt động của phi cơ Hoa Kỳ tại căn cứ này là 300 dặm.
Tin tức của Sugiura có lẽ đúng trước đây một tuần, nhưng chúng tôi không thể nào cứ cho rằng bây giờ máy bay địch không thể xuất phát từ một căn cứ tiền phương khác của chúng ở Rendova. Căn cứ này bắt đầu hoạt động từ tháng 7. Ngoài ra, hải đội chúng tôi còn có thể bị các tiềm thủy đĩnh địch phát giác. Tuy nhiên, điều này không thấy ai quan tâm.
Cuộc họp kéo dài 2 giờ. Tôi giữ thái độ im lặng và lo âu khi rời buổi họp về Shigure. Yamagami nói với tôi:
“Thưa Ðại tá, tôi rất lấy làm khâm phục sự can đảm của Ðại tá, qua những ý kiến mà Ðại tá đã phát biểu trong buổi họp. Nhưng tôi e rằng tất cả những sỹ quan thuộc Hải đội 4 sẽ không lưu tâm đến quan điểm của Ðại tá.”
“Ðây không phải vì can đảm mà tôi phát biểu trong buổi họp, như ý nghĩ của mọi người. Nhưng chính vì mạng sống của nhiều người mà tôi phải nói lên những điều đó. Cuộc hành quân này thực vô lý, nhưng bây giờ tôi chỉ biết làm một việc đơn giản là cầu nguyện cho chúng ta được nhiều may mắn trong sứ mạng mà cấp trên giao phó.”
Tôi luôn nghĩ đến buổi họp vừa qua với nỗi buồn sâu xa. Tôi sẽ không bao giờ đồng tình với chính sách điên rồ của giới chỉ huy tối cao. Giả sử mà quan điểm của tôi được họ lưu ý đến thì hàng ngàn mạng người sẽ được cứu sống ở cuộc hành quân đang phát động và sẽ tiếp tục phát động sau đó.
Tuy nhiên, Bộ Chỉ Huy Tối Cao của binh chủng Hải quân có khi nào lại chú ý đến quan điểm của tôi. Sau đó, tôi còn biết những lời lẽ của tôi trong cuộc họp kể trên đã bị rất nhiều sỹ quan ở Rabaul chỉ trích.
Guadalcanal cách hậu cứ New Caledonia của US Navy 1,300 km và cách hậu cứ Truk của Hải quân Nhật 2,100 km. Hải trình quá dài khiến việc tiếp liệu và quân viện của Nhật đầy khó khăn, triệt thoái là bắt buộc. Nguyên do chính của thất bại là bộ binh Nhật đã không chiếm lại được phi trường Henderson Field mà từ đây các phi đoàn Marine Fighter Attack Squadrons và Bomb Group của Cactus Air Force không ngừng tấn công chiến hạm Nhật. Ngày 18 tháng 4-1943 Phi đoàn 339 cất cánh cho một phi vụ ám sát the “killer” flight. Mục tiêu là oanh tạc cơ Mitsubishi đang chở Thủy sư Đô đốc Yamamoto bay thị sát mặt trận trên không phận Bougainville cách đó 400 dặm. Xác Yamamoto được Nhật thu nhặt ngày hôm sau. Chính là Operation Vengeance, một báo thù trừng phạt kẻ đã đánh úp Trân Châu Cảng. Không là lần đầu tiên Đồng Minh mưu sát các tướng lĩnh nổi tiếng của khối Trục. Với Operation Flipper ngày 10 tháng 11-1941, 25 biệt kích Anh đã tấn công vào bộ chỉ huy tiền phương của Rommel tại Bắc Phi nhưng thất bại. Rommel đã có nghĩa cử là cho mai táng tử tế và đến viếng mộ các biệt kích bị bắn chết.
Riêng với Hara, vừa thăng đại tá và chỉ huy một hải đội 4 khu trục hạm, những ngày này là việc huấn luyện ráo riết thủy thủ đoàn cho trận đánh sắp tới.
[Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Phần IV Đối Thủ Vượt Trội
Chương 32
Tôi quay lại chiếc Shigure với cơn đau đầu như búa bổ. Sau khi sắp xếp cho thủy thủ lên bờ, tôi rã rời bước vào cabin, và ròng rã 24 tiếng đồng hồ, không lúc nào ngừng nghĩ tìm giải đáp cho các vấn đề mới của cuộc chiến. Cuối cùng, tôi gạt sang bên tất cả, vì nhận thấy vấn đề này quá xa vời nếu so sánh với mối bận tâm trước mắt: Một thủy thủ đoàn chưa thuần thục của chiếc Shigure. Phải bắt đầu từ căn bản. Sau ngày cho thủy thủ đi phép, tôi bắt đầu huấn luyện họ liên tục trong hải vực quanh quân cảng Truk. Tôi biết ơn Phó Ðô đốc Kondo, nhận thấy ông quá cao kiến khi dành một khoảng thời gian cho tôi thực hiện việc này. Vì cũng cần ít ra khoảng 3 tháng mới khép một thủy thủ đoàn vụng về vào quy củ.
Theo kế hoạch, tháng đầu tiên tôi kiên nhẫn hướng dẫn họ các căn bản đi tàu, và nếu điều nào xét thấy họ không lĩnh hội được, tôi đích thân chứng minh và điều khiển cuộc tập dượt, nhiều khi lặp đi lặp lại hàng chục lần. Thoạt đầu họ có vẻ chán nản nhưng dần dần ham thích và hăng hái thi hành các mệnh lệnh. Họ không đến nỗi tệ như tôi tưởng. Nhưng trong suốt thời gian huấn luyện này, tôi thường hay bị ám ảnh về tình hình thực sự của chiến trận, qua các hồ sơ mà tôi đã xem trên soái hạm Atago.
Một tháng trôi qua, tôi bắt đầu cảm thấy chạm phải một sự việc không thể nào hiểu nổi. Do kinh nghiệm thu thập được trong các trận đánh của năm qua, tôi nhận thấy có nhiều hành động đã được lặp đi lặp lại với cùng một phương thức. Khi một chiến thuật được áp dụng thành công thì y như là nó sẽ được Hải quân Hoàng gia áp dụng lại, không thay đổi một chút nào, và kết quả thường là thảm họa.
Cuộc pháo kích dữ dội vào Guadalcanal vào tháng 10 năm rồi, do hai thiết giáp hạm Kongo và Haruna của Phó Ðô đốc Kurita thực hiện là một thành công lớn. Một tháng sau đó, Ðề đốc Abê được lệnh tiếp tục mô thức tấn công ấy với 2 thiết giáp hạm Hiei và Kirishima. Nhưng với lần ăn quen này, Hải quân không những không chạm được một quả đạn nào vào hòn đảo mà còn khiến thiệt mất cả 2 tàu chiến.
Với thảm họa biển Bismarck vào tháng Hai, 12 trong số 16 chiến hạm của Ðề đốc Kimura bị đánh chìm, làm tan hẳn cố gắng quân viện đến Lae và Salamaua. Kế hoạch tăng viện này rõ ràng giống hệt như kế hoạch đổ quân thành công xuống Buna trước đó. Nhưng sự lặp lại này giống như không biết suy xét, vì 6 tháng sau cuộc đổ quân lên Buna, sức mạnh không lực địch trong khu vực đã gia tăng.
Ðề đốc Tanaka đã thực hiện một loạt cuộc hành quân vận chuyển đến Guadalcanal vào hai tháng 11 và 12 năm 1942. Sau đó, một nhóm khu trục hạm khác được các sỹ quan thiếu khả năng cầm đầu, đã cố gắng lặp lại hành động của Tanaka, nhưng chỉ đưa đến các thảm bại, như cuộc thảm bại vịnh Kula ngày 5 tháng 3-1943 chẳng hạn.
Khăng khăng như vậy là ngu dốt. Qua các sự việc vừa nêu, có vẻ như Hải quân Hoàng gia cho rằng địch quân là những kẻ dễ bị đánh lừa trước trò chơi của chúng tôi. Các sự kiện trên, bắt tôi nhớ lại những dòng ghi trong cẩm nang của Musashi Miyamoto, một kiếm khách siêu việt mà tôi từng đề cập đến:
“Trong giao chiến, lặp lại một công thức đã từng sử dụng là một tệ hại, và còn tệ hại hơn nữa nếu lặp lại lần thứ ba. Khi một cố gắng thất bại, có thể cố gắng lần thứ hai nhưng nếu cố gắng này thất bại nữa, phải lập tức thay đổi phương thức và thay đổi liên tục. Khi đối thủ chờ đợi một cú chém từ trên cao, phải đánh thấp, và ngược lại. Là bí quyết của kiếm thuật.”
Lời khuyên này dường như hoàn toàn phù hợp cho tình thế hiện tại. Tôi quyết định chuyển các ý kiến của tôi lên Ðô đốc Isoroku Yamamoto. Nhưng tôi không thể nào tự tiện bước vào văn phòng của Tổng Tư lệnh và trực tiếp trình bày với ông. Do đó, vào ngày 24 tháng 4 năm 1943, tôi đến soái hạm Musashi (mang tên của Musashi Miyamoto được Nhựt Bổn xem tương đương với Tôn Tử) để giải thích các tham kiến của tôi với Tham mưu trưởng của Yamamoto là Phó Ðô đốc Matome Ugaki.
Chỉ có một chuẩn úy ở đó tiếp tôi tại cầu thang của chiếc thiết giáp hạm khổng lồ này. Ðây là một việc khác thường, không đúng nghi lễ đón tiếp một vị chỉ huy trưởng hải đội, Khi tôi cho biết muốn gặp Phó Ðô đốc Ugaki, viên chuẩn úy nhìn tôi trừng trừng, đôi mắt có vẻ đờ đẫn. Im lặng hồi lâu, hắn yêu cầu tôi theo hắn. Chúng tôi đi qua nhiều cầu thang sắt quanh co và lên xuống trong chiếc soái hạm khổng lồ. Tôi không gặp một sỹ quan nào khác, còn các thủy thủ thì hình như có vẻ ngơ ngác và chán nản.
Khi chúng tôi đến căn phòng bên ngoài đề hàng chữ “Tổng Tư lệnh”, viên chuẩn úy mở cửa và nhường lối cho tôi bước vào. Trong căn phòng vừa đủ sáng, mùi nhang đốt xông ra ngào ngạt, và chính giữa căn phòng này, trên một mặt bàn rộng lớn có trải thảm, 7 chiếc hòm được xếp thành hàng. Tôi xoay sang viên chuẩn úy dọ hỏi. Hắn cúi đầu và đáp thật nhỏ: “Ngày Chủ Nhựt vừa qua, từ Rabaul, Ðô đốc Yamamoto và bộ tham mưu của ông sử dụng 2 chiếc oanh tạc cơ để bay thị sát mặt trận phía Nam. Khi 2 chiếc phi cơ đến gần không phận Buin thì bị các chiến đấu cơ P38 của Hoa Kỳ đột kích và bắn rơi. Các khu trục cơ này chắc chắn cất cánh từ phi trường Guadalcanal. 7 chiếc hòm này đựng thi hài của Tổng Tư lệnh và 6 sỹ quan tham mưu của ông. Phó Ðô đốc Ugaki và những người khác bị thương nặng.”
Khu trục cơ Tia Chớp Lockheed P-38 Lightning bắn rơi máy bay chở Yamamoto ngày 18 tháng 4-1943
Một việc không thể nào tưởng tượng được, nhưng sự thật vẫn là sự thật. Mắt tôi đã thấy và tai tôi đã nghe. Lệ dâng đầy đôi mắt khi tôi cúi đầu cầu nguyện cho sự yên nghỉ của những người đã chết.
Tôi được thăng cấp Ðại tá vào ngày 1 tháng 5 năm 1943. Hạm trưởng của Shigure, Thiếu tá Kimio Yamagami, tổ chức buổi tiệc mừng tôi tân thăng. Sỹ quan chật ních phòng, chúc tụng tôi nồng nhiệt và thi nhau mời tôi uống sakê. Sau hai tuần rượu, Thiếu tá Yamagami lên tiếng với vẻ lưỡng lự: “Suốt 40 ngày ròng rã khổ nhọc, toàn thể thủy thủ đoàn đã luyện tập không nghỉ ngơi. Tôi thấy rằng nên cho họ xả hơi một chút. Tối nay bên tàu công xưởng Akashi có buổi chiếu phim, kính thưa Ðại tá, Ðại tá nghĩ rằng tôi có nên cho phép họ đi xem hay không?”
Từ chối đề nghị xả trại hợp lý này thực khó cho tôi, nhưng tôi giải thích: “Tôi biết chúng ta đang phải chịu đựng một thời gian gò bó. Ở trên tàu 7 ngày một tuần tuy quá nhiều nhưng rất cần thiết. Các anh đừng nghĩ rằng tôi nghiêm khắc với các anh. Tình thế đòi hỏi chúng ta không được nghỉ ngơi một phút nào cả. Tôi mong các anh hiểu cho.”
Yaganami đúng là một người trọng quân kỷ, không nói gì thêm. Nhưng Ðại úy Toshio Doi, sỹ quan ngư lôi trưởng lên tiếng: “Kính thưa Ðại tá, tôi nghĩ thủy thủ đoàn khó có thể công tác hữu hiệu nếu họ không có một phút giải trí nào. Tôi nghĩ họ cần có những giây phút thoải mái.”
Tôi đáp: “Việc cấm trại gò bó này có vẻ sai lầm thực, nhưng cũng nên biết rằng toàn thể thủy thủ của chúng ta chưa lần nào ra trận, nơi mà chỉ vấp phải một sai lầm nhỏ thôi cũng đủ gây ra sự mất còn của chiếc tàu, của thủy thủ đoàn và của chính sinh mạng các anh. Các thủy thủ sẽ nghĩ rằng tôi quá nghiêm khắc và chắc họ sẽ oán trách tôi, nhưng tôi mong rằng các anh, những sỹ quan của họ, hiểu rằng tôi phải áp dụng một cuộc sống gò bó như vậy, bởi vì thà chịu đựng sự khổ nhọc trong thời gian tập huấn còn hơn là phải thiệt mạng vì kẻ thù.”
Bầu không khí nặng nề chợt phá tan khi Ðại úy Hiroshi Kayanuma, cơ khí trưởng, lên tiếng: “Thưa quý vị, tôi đồng ý những gì mà Ðại tá Hara vừa nói. Trong những tháng vừa qua, rất nhiều khu trục hạm của chúng ta bị đánh chìm, và chính Ðại tá Hara đã chứng kiến tận mắt cảnh tượng đó. Chúng ta rất may mắn được chỉ huy bởi một người đã có nhiều kinh nghiệm quý báu. Chúng ta phải biết lợi dụng tài năng và kinh nghiệm này của Ðại tá Hara, để áp dụng cho chính bản thân mình. Ai chưa biết rõ Ðại tá Hara ở hiện tại thì tôi mong rằng trong những ngày sắp tới sẽ biết tri ân khi nhìn thấy sự lỗi lạc của ông.”
Thiếu tá Yamagami cùng với các sỹ quan nâng ly mời tôi tuần rượu chót. Sau buổi tiệc, tôi nói với Yamagami: “Tôi cảm thấy có lỗi với Thiếu tá về việc tôi đã nghiêm khắc thái quá đối với thuộc cấp của Thiếu tá. Ðúng ra, một vị chỉ huy trưởng hải đội phải trao toàn quyền điều khiển chiếc tàu cho hạm trưởng. Tôi không biết giải thích làm sao để mọi người hiểu rằng tôi buộc lòng phải nắm trong tay việc cai quản chiếc Shigure. Tôi nhìn nhận tinh thần kỷ luật của Thiếu tá và hy vọng rằng một ngày nào đó Thiếu tá sẽ hiểu.”
Thiếu tá Yamagami gật đầu một cách khiêm tốn. Giả sử Yamagami là một người ương ngạnh và bướng bỉnh thì với tư cách hạm trưởng của Shigure, sẽ gây ra cho tôi không biết bao nhiêu nỗi bực bội. May mắn thay, Yamagami đã chứng tỏ là một cộng sự viên rất đắc lực và biết tuân lệnh.
Sau 6 tuần huấn luyện khổ nhọc, Shigure được chỉ định vào công tác phòng duyên ở Truk. Công tác này bao gồm việc bảo vệ những dương vận hạm ra vào hải cảng và ngăn ngừa tàu ngầm địch len lỏi tấn công. Công tác nhẹ nhàng này không hề làm cản trở chương trình huấn luyện của tôi.
Trong lúc đó, tình hình chung của cuộc chiến không mấy sáng sủa đối với Nhựt. Sau khi triệt thoái khỏi Guadalcanal, lực lượng Nhựt rút về trú đóng tại một chuỗi đảo khác nằm ở phía Bắc quần đảo Solomon. Nhưng khả năng tấn công của địch càng lúc càng mạnh mẽ và nhanh chóng hơn khả năng phòng thủ của chúng tôi.
Ðô đốc Mineichi Koga, kế nhiệm Ðô đốc Yamamoto trong chức vụ Tổng Tư lệnh Hạm Ðội Hỗn hợp vẫn tiếp tục theo đuổi chiến lược của vị tiền nhiệm. Ông áp dụng chiến pháp tấn công lẻ tẻ, bằng cách phân tán các tuần dương hạm và khu trục hạm ra từng nhóm nhỏ. Chiến thuật “tiêu hao” này được tung ra cả ngày lẫn đêm, đã gặt hái được một số chiến thắng nhỏ, nhưng vẫn không xoay nổi dòng chủ lưu của cuộc chiến.
Cùng với việc triệt thoái ra khỏi Guadalcanal, những đơn vị tinh nhuệ của Nhựt đóng trên quần đảo Solomon rút về New Georgia. Tại đây, Nhựt có những căn cứ trên hòn đảo chính Munda và các đảo phụ cận Kolombangara. Trong khu vực này, Nhựt có khoảng chừng 10,500 quân, gần một sư đoàn. Ngày 30 tháng 6 năm 1943, Hải quân Hoa Kỳ đã chĩa một mũi dùi vào khu vực này, qua các cuộc đổ bộ lên phía Bắc hai đảo Rendova và Vangunu. Các cuộc đổ bộ này là mối đe dọa trầm trọng cho những căn cứ của Nhựt, do đó Ðô đốc Koga đã phải ra lịnh tăng cường đến mức tối đa cho các đạo quân trú phòng. Các khu trục hạm của chúng tôi được lịnh vận chuyển quân tăng cường này. Những chiến hạm vừa chở đầy người và đồ tiếp liệu, vừa phải đối đầu với địch quân vượt trội trong những trận đánh dữ dội xảy ra trong tháng 7. Tưởng rằng với sự cách biệt rõ rệt giữa tương quan hai bên, phần thất bại sẽ nghiêng về phía chúng tôi, nhưng trái lại những chiến hạm nhỏ bé nhưng can đảm này đã gặt hái nhiều thành tích lớn. Ðặc biệt nhứt là chiến công sáng chói của 5 khu trục hạm tại vịnh Kula vào đêm 12 tháng 7.
Trong cuộc quần thảo tại vịnh Kula, lực lượng Nhựt gồm có tuần dương hạm hạng nhẹ Jintsu (Thần Lực) và các khu trục hạm Yukikaze (Gió Tuyết), Hamakaze (Gió Biển), Mikazuki (Trăng Lưỡi Liềm), Ayanami (Sóng Cuộn) và Yugure (Hoàng Hôn) chống lại với một hạm đội địch gồm đến 3 tuần dương hạm, hai của Hoa Kỳ và một của Tân Tây Lan, và 10 khu trục hạm. Trận chiến bắt đầu lúc nửa đêm, khi tuần dương hạm Jintsu đáp lại nhầm tín hiệu của một tàu Hoa Kỳ và bị đánh chìm ngay lập tức bởi một hỏa lực tập trung mãnh liệt.
Trận chiến tiếp diễn, tuần dương hạm Leander của Hoa Kỳ bị chiến hạm Nhựt phóng ngư lôi loại ra khỏi vòng chiến. Hải lực Ðồng Minh vấp phải một sai lầm khi chia ra làm hai nhóm vào lúc ấy. Một trong hai nhóm đã thất bại nặng khi lâm chiến với các khu trục hạm Nhựt. 5 khu trục hạm Nhựt đã lướt sóng tung hoành giữa nhóm tàu thứ hai này của địch quân, và đã loại ra khỏi vòng chiến 2 tuần dương hạm Saint Louis và Honolulu, đồng thời đánh chìm khu trục hạm Gwinn. Trong cơn hỗn loạn của trận chiến, 2 khu trục hạm Hoa Kỳ là Woodworth và Buchanan va vào nhau. Các chiến hạm Nhựt quay mũi về căn cứ, tuy bị thiệt hại, nhưng là thiệt hại trong chiến thắng.
Ðối với Nhựt, việc mất mát tuần dương hạm Jintsu, so với sự thiệt hại mà khu trục hạm Yukikaze và các đồng đội gây ra cho 3 tuần dương hạm và 3 khu trục hạm Ðồng Minh, có vẻ đắt giá hơn nhiều.
Tại Truk cách Kula 1,800 cây số, tôi cảm thấy có chút ganh tị khi nghe chiến công của Yukikaze. Chiếc Yukikaze cùng hạ thủy một lượt với chiếc Amatsukaze của tôi hồi cuối năm 1941, nhưng nó chưa đạt được một chiến công hiển hách nào trước đó, thành tích duy nhứt là sống sót qua trận hải chiến biển Bismarck mà không hề mang một thương tích nào. Nhờ trận thủy chiến vịnh Kula, chiếc Yukikaze trở thành một trong những khu trục hạm nổi tiếng. Tôi định tâm cho chiếc Shigure của tôi ganh đua chiến công với chiếc Yukikaze khi chúng tôi được lịnh di chuyển đến Rabaul vào ngày 20 tháng 7.
Tôi sung sướng nhận được lịnh di chuyển. Từ trước đến sau, tôi chỉ là một chỉ huy trưởng hải đội trên danh nghĩa, vì tất cả các chiến hạm của tôi đều phân phối cho các hải đội khác, ngoại trừ chiếc Shigure. Hai trong số khu trục hạm của tôi là chiếc Yugure (Hoàng Hôn) và Ariake (Bình Minh) bây giờ đang ở Rabaul. Do đó khi nghĩ đến 3 chiến hạm dưới quyền sẽ gặp nhau, tự nhiên tôi thấy phấn kích. Tôi cũng biết được chiếc Yugure vừa trở về từ trận đánh vinh quang ở vịnh Kula với nhiều thành tích đáng kể. Với kinh nghiệm đã qua, chiếc tàu này sẽ là một tài sản quý giá của Hải đội 27 của tôi.
Toàn thể thủy thủ đoàn Shigure đều chia sẻ cảm giác này với tôi, và tinh thần của họ lên cao khi nghe những thành tích mà chiếc Yugure đã gặt hái được. Sự tôi luyện gian khổ trong suốt 4 tháng trời làm tất cả mọi người mệt mỏi, nhưng trước viễn tượng sắp được thử sức với địch ngoài mặt trận, nỗi mệt mỏi đã tan biến.
Chất đầy những cơ phận máy bay mà Rabaul đang rất cần, chiếc Shigure hướng về Nam với tốc độ đều đặn 18 hải lý. Tôi không thể nào tưởng tượng được rằng chỉ qua 4 tháng huấn luyện, đã làm biến đổi một thủy thủ đoàn thiếu tinh thần, làm việc rời rạc trước đây, trở thành một thủy thủ đoàn hăng say, có tinh thần đồng đội cao độ. Trong suốt thời kỳ trui rèn, tôi tiết kiệm những lời khen thưởng, nhưng họ cũng đã thi hành bổn phận một cách tốt đẹp. Kinh nghiệm thực tế đã dạy cho tôi hiểu rằng chiến trận sẽ giúp cho ta hiểu biết nhiều hơn là hàng ngàn lần thao dượt. Cho nên tôi phải hà tiện tối đa lời khen cho đến lúc nào họ thực sự thiện nghệ và can đảm trước khói lửa, và tôi cũng hy vọng nhờ vào những thử thách cam go, sự yếu kém của họ sẽ dần được điền khuyết. Bây giờ tôi thèm khát được chiến đấu. Khu trục hạm Yukikaze đã lập công, Shigure cũng sẽ lập công.
Ðoạn hải trình đến Rabaul không có gì xảy ra, và chúng tôi cập bến vào ngày 23 tháng 7. Tôi lập tức trình diện Tổng Hành dinh ở đây. Một sỹ quan tham mưu đã lặng lẽ trao tôi một bản tin. Tôi xem vội vã và chết điếng. Bản tin cho biết 2 khu trục hạm Yugure và Kiyonami đã bị đánh chìm tại phía Nam đảo Choiseul vào ngày 20. Hai chiếc tàu này nằm trong thành phần các khu trục hạm có nhiệm vụ vận chuyển đồ tiếp tế đến Kolombangara, bị gián đoạn một tuần lễ trước đó và đang được cố gắng tái lập. Toàn thể thủy thủ đoàn mất tích, gồm 228 người của chiếc Yugure và 240 người của chiếc Kiyonami. Như vậy, tính ra địch quân đã phục thù được tổn thất của họ tại vịnh Kula trong vòng có một tuần lễ.
Ngay sau khi chiếc Shigure đổ hàng xong xuôi, tôi báo cho thủy thủ đoàn biết câu chuyện đã xảy ra cho 2 chiếc khu trục hạm bất hạnh trên. Toàn thể thủy thủ lắng nghe một cách im lặng, và theo tôi ghi nhận, họ đã bắt đầu cảm thấy tất cả những gì mà họ đã phải chịu đựng trong lúc tập dượt không phải là vô ích.
Trong thủy chiến biển Bismarck lần đầu tiên US Navy áp dụng phương thức Skip-Bombing, còn gọi Low Level Bombing (tránh nhầm với Boucing bomb hoặc Bouding mine). Kỹ thuật căn bản là oanh tạc cơ B25 Mitchell bay với vận tốc chậm 320 km/g, sà thấp còn 60 thước trên mặt nước và khi cách mục tiêu 200 thước thì thả bom. Sức va chạm với mặt biển khiến bom gài tính năng nổ chậm 5 giây sẽ tung ngược lên và “phóng” vào lườn tàu Nhật theo hướng lao của máy bay. Phía Nhật gọi là “Bom nhảy”. Ngược lại, các trang truyện tranh Hoa Kỳ về chiến tranh Thái Bình Dương hoàn toàn giả tưởng, vì không có phụ nữ Mỹ hay Nhật nào trên các đảo Xích đới.
[Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương 31
Suốt quãng thời gian sôi động này, tôi nằm ru rú ở Truk. Tôi cảm thấy buồn cho Tanaka, nhưng không biết làm cách nào để giúp ông. Cũng không còn chiếc khu trục hạm mới nào để tôi chuyển sang chỉ huy, vì vậy tôi chỉ còn biết ngắm nhìn những bàn tay khéo léo đang vá lại các lỗ thủng do đạn xuyên phá của tuần dương hạm Helena đã chạm trổ trên khu trục hạm của tôi.
Sau khi tạm băng bó các vết thương, Amatsukaze rời khỏi quân cảng Truk để về Nhựt, và nơi đây hy vọng có thể sửa chữa hoàn hảo hơn.
Tôi hầu như quên hẳn cuộc chiến khi tàu chạy vào hải cảng Kurê. Bầy hải âu bay lượn trước mũi tàu như chào đón, trong lúc chúng tôi mải mê ngắm nhìn quang cảnh lặng lẽ đầy thân yêu và an bình này. Quang cảnh khác xa hải vực đẫm máu quanh quần đảo Solomon. Có thể nào lại có những nơi trái ngược hẳn nhau dưới cùng một vòm trời đến mức đó?
Sau khi đưa Amatsukaze vào ụ sửa chữa và sắp xếp mọi việc, tôi nghỉ phép một tuần lễ.
Tôi về nhà vào ngày 27 tháng 12. Sống quây quần vui vẻ với gia đình, tôi thấy sao một tuần lễ trôi qua nhanh hơn chớp mắt. Kamakura (Liêm Thương Thị) là một trong những thành phố đẹp nhứt xứ Nhựt. Thật là thích thú cho tôi khi cùng với các con thăm lại những phong cảnh ngoạn mục quen thuộc trước đây. Chúng tôi lang thang hết chỗ này đến chỗ nọ, nhất là leo lên những ngọn đồi bao quanh, hoặc đi vẩn vơ dưới ngàn tiếng thông reo trong làn gió hiu hiu. Tôi thực sống trong mơ, và may mắn cho tôi hơn nữa, những ngày nghỉ phép lại rơi vào dịp Tết Nguyên đán.
Mặc dù vui thú với gia đình, tôi không thể nào quên hẳn chiến tranh. Một hôm gia đình chúng tôi dự định thực hiện một buổi cắm trại ngoài trời, nhưng vợ tôi lại không đi được. Nàng phải đến tham dự một buổi họp gồm các bà nội trợ để thảo luận về việc đóng góp cho quân đội các vật dụng làm bếp bằng đồng và sắt. Cha con chúng tôi vẫn thực hiện buổi cắm trại và dạo chơi trên các đồi thông. Khi chúng tôi về, vợ tôi vẫn chưa có mặt ở nhà. Con gái của tôi nói: “Ba đừng có nóng ruột. Dạo này mẹ cứ phải đi họp lằng nhằng như vậy luôn. Ba nên nhớ bây giờ là thời chiến mà.”
“Thời chiến?” Tôi đã chìm đắm trong các trận chiến suốt một năm, tháng này năm trước là trận Trân Châu Cảng, tôi đã tưởng về quê là về chốn hòa bình, nhưng nơi đây chiến tranh đã chạm đến.
Chiều hôm đó, Trung tá Ko Nagasawa từ Ðông Kinh điện thoại cho tôi. Nagasawa hiện tòng sự ở Phòng Nhân viên. Hắn nói: “Ðêm mai, các bạn đồng khóa tụ tập tham dự tiệc Tân niên. Chúng tôi chọn Isogo ở Yokohama làm nơi họp mặt. Ðó là một tiệm ăn tuyệt hảo, nằm giữa Tokyo và Yokosuka. Nơi này gần nhà anh, nên chúng tôi kể như anh có mặt.”
Tối hôm sau tôi đến địa điểm. Tôi được Nagasawa và Trung tá Enpei Kanooka đón tiếp. Kanooka là tùy viên hải quân của đương kim Thủ tướng Hideki Tojo. Tôi ngạc nhiên khi thấy Kanooka đã gác chức vụ bận rộn lại để tham dự vào một cuộc họp bạn xa xôi. Ngồi kế anh ta, tôi hỏi: “Những rắc rối xảy ra ở phía Nam có làm nhiệm vụ của anh trở nên bù đầu?”
Kanooka nhăn nhó đáp: “Không, Hara, tôi hoàn toàn không bận rộn gì hết. Ðó là sự thực. Trong vòng 5 tháng qua, tướng Tojo không hỏi tôi lấy một lời. Hình như ông ta không xem các hoạt động của Hải quân vào đâu. Lúc này, nhiệm vụ của tôi là hằng đêm đến tham dự các tiệc tùng khoản đãi quốc khách. Tôi không thích nhậu nhẹt. Tôi cảm thấy bị phiền nhiễu đến chết được, và sự nhàm chán cũng đang giết lần mòn tôi. Hara, tôi thấy tửu lượng của anh có hạng lắm, xem ra anh thay thế chức vụ của tôi được.”
Giọng nói nhỏ nhẹ thường khi của Kanooka bỗng nhiên cất cao một cách đáng chú ý trong câu nói sau cùng. Trong lúc đó, Nagasawa yên lặng ngồi nghe với một gương mặt bình thản. (Không lâu sau, Kanooka nhận chức hạm trưởng tuần dương hạm Nachi. Hiển nhiên là Nagasawa, phục vụ ở Phòng Nhân viên, có nhúng tay vào.)
Hội họp đã diễn ra trong bầu không khí nghiêm trang, khác với các buổi họp mặt đầy ồn ào của chúng tôi lúc trước. Có khoảng 20 đồng khóa tụ họp đêm hôm đó, đều mang cấp bậc trung tá và thiếu tá, hầu như chỉ bàn những chuyện quanh quẩn. Khi được yêu cầu mô tả tình hình quanh Solomon, tôi nói:
“Tôi không biết những người ở đây, đã nhìn sự việc như thế nào, nhưng riêng tôi có thể nói các đảo ở Solomon là địa ngục. Cùng là những tay chuyên nghiệp cả, tôi chắc các bạn đều biết những công bố chánh thức có vẻ ghê gớm của Tổng Hành Dinh. Thực ra, chúng ta gặt hái một số chiến thắng nhưng về phương diện chiến lược, hoàn toàn thất bại. Các khu trục hạm và tiềm thủy đĩnh của chúng ta ở quần đảo Solomon hiện tại được sử dụng vào việc vận chuyển. Nhưng cũng không đạt kết quả là bao.”
Tất cả những người hiện diện đều chăm chú chờ tôi thuật lại các trận đánh mà tôi đã tham dự. Tôi thấy cần thiết phải trình bày sự thực, nhưng một số khác nhắc nhở tôi rằng đây là một buổi họp mặt để nhậu nhẹt, không nên nói đến công vụ. Do đó, thay vào câu chuyện của tôi là một vài câu pha trò chọc cười. Có người còn kể ra sự dan díu của hắn với một vũ nữ. Nhưng tất cả đều không gây được không khí vui tươi, bởi vì mọi người đều nghĩ đến viễn cảnh đen tối.
Thực sự, tôi muốn họ biết những gì mà tôi đã trải qua, các phản ứng và ý kiến riêng của tôi như thế nào. Tôi biết rằng một buổi họp mặt ăn uống như thế này không thích hợp để mang các vấn đề thời sự ra nói, nhưng ngoài dịp này thì chắc khó có dịp khác. Tôi đã thất vọng khi thấy các đồng khóa của mình chỉ toàn là một bọn yếm thế, buông xuôi với số phận. Rượu rót cũng khá nhiều, nhưng không ai say. Buổi họp mặt tan sớm. Bên ngoài đêm đầy sao. Những lời chào từ giã được thốt lên yếu ớt. “Mong gặp lại.” Câu này nằm trên đầu lưỡi mọi người, nhưng không có vẻ gì gọi là xác tín. Những kẻ hội tụ đêm đó chỉ vài người sống sót.
Tojo có thể không để tâm đến viên sỹ quan liên lạc hải quân nhỏ nhoi của ông, nhưng đối với các đại diện bề thế thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân thì ông không thể nào không để tâm được. Hàng ngày các sỹ quan cao cấp của Lục Quân và Hải Quân vẫn mở ra các phiên họp mật về chiến lược ở Tokyo. Ðể kết thúc, một loạt các phiên họp cuối cùng mở ra vào ngày 31 tháng 12 ở Hoàng Cung dưới sự chủ tọa của Thiên hoàng và đưa đến quyết định triệt thoái toàn thể Guadalcanal.
Những ngày sống hạnh phúc bên gia đình trôi qua nhanh chóng, tôi trở lại Kurê vào ngày 7 tháng Giêng. Ba ngày sau đó, tôi nhận lịnh rời khỏi chức vụ hạm trưởng Amatsukaze để nhận nhiệm vụ mới ở căn cứ Yokosuka. Nhiệm sở này chỉ cách nhà tôi một vài dặm. Tôi lại được sống êm ấm với gia đình. Nhưng không lâu sau đó tôi ngã bệnh. Theo bác sỹ, chứng bệnh của tôi là do kiệt lực. Tôi phải nằm bẹp trên giường suốt hai tuần lễ.
Thời gian này, vào ngày 25 tháng 1, tôi nhận lịnh khác, chỉ định tôi giữ chức chỉ huy Hải đội 19 Khu Trục hạm, và theo lịnh, tôi phải nhận ngay 4 chiếc tàu loại mới nhứt để ra khơi hai ngày sau. Tôi gọi điện báo cho Nagasawa biết tôi không thể nhận chức vụ vì tình trạng đau ốm hiện thời. Thông cảm, và để an ủi, Nagasawa bảo đảm rằng sẽ còn nhiều chỗ quan trọng khác một khi tôi bình phục.
Thời gian dưỡng bệnh đối với tôi dài thăm thẳm. Khi chiến đấu, tôi chưa bao giờ thấy mệt mỏi. Trên biển, chỉ một vài giờ chợp mắt là khỏe khoắn. Bây giờ, tôi mới hiểu những ngày hành quân trên biển đã làm tôi kiệt sức như thế nào, và tôi cũng hiểu tại sao dáng vẻ của Phó Ðô đốc Nagumo lại sa sút như vậy, khi tôi gặp ông ở Truk tháng 11 vừa qua.
Cuối tháng 2, tôi bình phục hẳn. Tôi gọi điện cho Nagasawa, yêu cầu được ra trận. Lời đáp có vẻ mù mờ của hắn làm tôi lo ngại. Hải quân đã quên khuấy mất tôi. Tôi gọi hàng ngày, nhưng phải đến tháng 3 Nagasawa mới báo cho biết tôi được chỉ định chỉ huy Hải đội 27 Khu Trục hạm.
Tôi kêu lên sửng sốt: “Cái gì? Sao lại Hải đội 27?”
“Ðừng có nóng, Hara, nghe tôi nói đây. Tôi biết Hải đội 27 tồi tệ, nhưng sự bổ nhiệm này chứng tỏ Hải quân đặt hết tin tưởng vào anh. Thượng cấp cảm thấy chỉ có một vị chỉ huy đầy đủ khả năng và kinh nghiệm như anh mới mong uốn nắn hải đội này thành một đơn vị tinh nhuệ.”
Phản ứng của tôi là xúc động. Thực sự, tôi không hề bối rối. Nghĩ cho cùng, khi một sỹ quan lần đầu tiên được giao chỉ huy 4 chiến hạm, hắn phải xem đó là một vinh dự, còn tàu gì không thành vấn đề. Tôi cũng không còn tiếc rẻ đã bỏ mất dịp may trong lần bổ nhiệm trước đó.
Hải đội 27 bao gồm 4 khu trục hạm già nua, mỗi chiếc 1,700 tấn, tốc độ tối đa là 30 hải lý (so với 35 hải lý và 2,500 tấn của Hải đội 19). Thủy thủ đoàn của các khu trục hạm này, xếp hạng nhì đúng nghĩa, là mục tiêu chế nhạo của các chiến hạm khác. Nhiệm vụ trước mắt đối với tôi chẳng phải ngon ăn.
Tôi trả lời Nagasawa: “Anh đừng hiểu lầm. Tôi vui lòng nhận và sẽ tận lực làm mọi cách cho Hải đội 27 trở thành đơn vị ưu tú của Ðệ Nhị Hạm đội. Ðược giữ chức vụ này, tôi lấy làm vinh hạnh. Tôi trình diện ở đâu và khi nào?”
“Tôi rất vui mừng khi nghe anh nói như vậy, Hara. Ba khu trục hạm của anh đang đậu ở Truk, còn chiếc soái hạm Shigure đang chờ anh ở Sasebo. Bao giờ anh đi được?”
“Có phương tiện lúc nào thì đi lúc đó.”
“Tốt. Anh sẽ có một chỗ trên chuyến xe lửa tốc hành rời nhà ga vào lúc 13g30 phút ngày mai.”
Tôi đến Sasebo vào ngày 9 tháng 3-1943, và lập tức leo lên soái hạm Shigure (Mưa Thu) quan sát. Thoạt nhìn thủy thủ đoàn, tôi hiểu ngay là tôi đang bước vào một công tác nặng nhọc. Tôi nhớ lại những kinh nghiệm khó khăn qua việc huấn luyện thủy thủ đoàn của chiếc Amatsukaze. Thủy thủ đoàn của Shigure giống như một bọn du côn vô kỷ luật chưa từng biết qua một chút kinh nghiệm đi biển là gì. Nhưng tôi đã nhìn sự vụng về và ngu dốt của họ với nhiều cảm giác lẫn lộn. Tôi tin là có thể huấn luyện họ trở thành thủy thủ tác chiến. Tóm lại, tôi không thấy chán nản, vì tôi nghĩ tình trạng này cũng giống như tình trạng trên chiếc Amatsukaze 6 tháng trước mà thôi.
Tôi đã từng làm việc trên nhiều khu trục hạm mới hơn, tôi nhận thấy chiếc Shigure hoàn toàn yếu kém. Chiếc tàu này già nua một cách đáng thương, và có lẽ nó không thể nào đạt tốc độ tối đa 33 hải lý. Ðó là điều tồi tệ nhứt. Tốc độ tối đa của các khu trục hạm loại mới ít lắm cũng phải 38 hải lý, và chiếc Amatsukaze dày dạn chiến trận của tôi, hiện đã hoạt động trở lại, cũng chạy được 34 hải lý.
Nhưng tôi đã gạt ngang những suy nghĩ vơ vẩn này, và hy vọng của tôi là chiếc Shigure sẽ chứng tỏ giá trị của nó trong lúc chiến đấu, cho dù nó có nhiều khuyết điểm trong lần làm quen đầu tiên này. Nhưng ngay cả cao vọng đi nữa, lúc ấy tôi cũng không bao giờ dám mơ mộng chiếc Shigure sẽ anh dũng đến mức được mang biệt danh “Kiên cố”, và với tiếng tăm vang dội, Shigure là khu trục hạm được biết đến nhiều nhất.
Sau khi hộ tống 2 cuộc hải vận, Shigure rời Sasebo đến Truk để kết hợp với 3 khu trục hạm khác dưới quyền chỉ huy của tôi. Khi tiến vào hòn đảo san hô to lớn này, tôi cảm thấy cảnh vật không có gì thay đổi. Chiếc tàu công xưởng cũ kỹ Akashi vẫn đang hoạt động rộn rịp, và vẫn đậu ngay chỗ mà 4 tháng trước đây khi chiếc Amatsukaze lếch thếch từ quần đảo Solomon “bơi” về.
Truyện tranh Trốn thoát đảo Nhật
Nhưng tôi đã lầm. Truk quả thật không thay đổi, nhưng chiến cuộc phía Nam đã thay đổi nghiêm trọng.
Tàu vừa buông neo, tôi đến trình diện Phó Ðô đốc Nobutake Kondo trên chiếc Atago, soái hạm của Ðệ Nhị Hạm đội. Bước vào cabin của ông, tôi xúc động khi nhìn thấy dáng vẻ tiều tụy của vị tư lệnh này, nhân vật luôn được giới hải quân xem tài ba đức độ. Sự xúc động của tôi ở hiện tại không kém lần tôi gặp Nagumo 5 tháng trước đây. Kondo ra dấu cho tôi ngồi xuống. Giọng nói của ông khàn khàn, nhỏ và chậm chậm như hụt hơi: “Hara, tôi hoàn toàn đồng ý với thượng cấp giao anh trách nhiệm mới này. Là một nhiệm vụ khó khăn. Anh hãy thận trọng, tôi chỉ có thể nói với anh như vậy. Hãy thận trọng nhiều chừng nào hay từng ấy.”
Chắc chắn chưa bao giờ tôi hy vọng được vị chỉ huy của mình tiếp đón như vầy. Lời lẽ của ông khiến tôi bỡ ngỡ không biết đáp lại như thế nào.
Ông tiếp tục nói, với dáng vẻ mệt nhọc: “Mặc dù anh chỉ huy hải đội, nhưng vì thiếu tàu, nên chúng tôi đã tăng phái 3 trong số 4 khu trục hạm của anh cho các hải đội khác. Có thể phải mất nhiều tháng, hải đội dưới quyền anh mới đủ cấp số.”
Ông dừng lại và thoáng nghĩ ngợi. Tôi ngồi lặng thinh một cách bồn chồn. Sau đó, ông tiếp: “Hara, dù sao đi nữa anh cũng nên kiên nhẫn. Tôi dự định lưu anh ở đây ít nhất 3 tháng, như vậy anh có thể tìm hiểu và huấn luyện các thuộc cấp của anh, và luôn tiện chính anh cũng sẽ thích ứng với tình thế biến đổi nhanh lúc này.”
Kondo là một nhân vật đáng chú ý, và đối với tôi, ông là một vị chỉ huy nhân ái. Do đó, trong các trang trước của quyển sách này tôi đã phải miễn cưỡng đưa ra sự chỉ trích khả năng chiến đấu của ông. Vì là sự thực. Tuy nhiên, qua lần tiếp xúc trực tiếp này, tôi đã kinh ngạc và choáng váng khi rời khỏi cabin của ông.
Theo đề nghị của Kondo, tôi đã nghiên cứu các hồ sơ trên soái hạm của ông, liên quan đến chiến trận trong vòng 5 tháng qua. Biến cố nổi bật nhứt là cuộc triệt thoái khỏi Guadalcanal. Ở Kamakura, trong thời gian bình phục, tôi có nghe các công bố trên đài phát thanh về một chiến thắng ngoạn mục. Bộ Tư Lệnh Tối Cao Hoàng Gia đã tránh sử dụng hai tiếng “rút lui” và thay vào đó là chữ “Xoay hướng tiến”, nhưng “xoay” như thế nào thì không thấy đề cập đến.
Theo quyết định của phiên họp cuối cùng ở Hoàng Cung vào ngày 4 tháng 1-1943, Bộ Tư Lệnh Tối Cao ban lịnh triệt thoái toàn bộ khỏi Guadalcanal, và công cuộc triệt thoái bắt đầu vào hạ tuần tháng Giêng. Các kế hoạch được thảo ra tuần tự và kín đáo, tìm mọi cách đánh lừa địch lầm tưởng Nhựt quyết bám lấy hòn đảo. Tình báo Hoa Kỳ đã từng tỏ ra hữu hiệu trong việc khám phá ra kế hoạch đánh Midway, nhưng hoàn toàn không hay biết gì về kế hoạch tháo lui khỏi Guadalcanal. Một kế hoạch được duy trì bí mật đến tận cùng như thế, đối với tôi chẳng khác nào phép lạ.
Vào ngày 30, một hải lực gồm 2 hàng không mẫu hạm, 2 thiết giáp hạm và cả chục chiến hạm khác rời khỏi Truk trực chỉ Guadalcanal. Không cần nói cũng hiểu bộ binh Nhựt trên đảo Guadalcanal đã trông chờ cuộc rút lui như thế nào. Trong tình cảnh tuyệt vọng và đáng thương hại, họ đã chiến đấu dũng mãnh cho đến ngày rời đảo. Vào các đêm 1, 4 và 7 tháng Hai, 22 khu trục hạm Nhựt đã chạy vào các bãi biển quanh hòn đảo để chở 12,198 lính bộ binh và 833 thủy binh. Thủy thủ đoàn của các khu trục hạm đã kinh hãi khi nhìn thấy nhóm quân này. Nhiều ngày liền họ đã không ăn uống gì hết, thân thể suy nhược cho đến nỗi ngay cả sự vui mừng khi được giải thoát cũng không đủ sức bộc lộ.
Cuộc di tản thành công vượt bực, chỉ có khu trục hạm Makigumo (Mây Cuộn) bị đánh chìm và 3 chiếc khác hư hại, đánh dấu kết thúc của một mặt trận kéo dài 6 tháng, với 16,800 binh sỹ Nhựt vùi thây trong rừng rậm cùng với hàng chục chiến hạm vùi sâu dưới đáy biển. Các bản phúc trình đều đưa ra kết luận: Nhựt đã bị đánh bại ở Guadalcanal.
Kế đó, tôi xoay sang tìm hiểu các cuộc hành quân khác và nhận thấy hầu hết đang sa lầy. Lục quân cố gắng đổ một sư đoàn lên Buna, nằm trên bờ biển phía đông Papua, xuyên qua rặng núi Owen Stanley để tiến đến Port Moresby. Hầu hết binh sỹ đã bỏ thây trong rừng núi. Ðịch tiến như vũ bão qua các vùng rừng rậm ở New Guinea, khiến Nhựt phải rút lui khỏi Gona, rồi Buna, Mã Ðằng và Wewak sau đó.
Tuy nhiên, thủy chiến biển Bismarck đã gây xúc động cho tôi nhiều hơn là hàng loạt các khu vực bị bỏ rơi này. Chiến bại Bismarck hầu như không thể nào tin được.
Hai phi trường chính của Nhựt là Lae và Salamaua, ở phía Ðông New Guinea, được giao cho Lục quân vào ngày 15 tháng 11. Lục quân quyết định củng cố hai phi trường này bằng cách chuyển 1 trung đoàn ở Rabaul đến. Trung đoàn này được đưa xuống 8 tàu vận tải, với 8 khu trục hạm hộ tống, khởi hành vào ngày 28 tháng 2-1943. Vị chỉ huy đoàn tàu là Ðề đốc Masatomi Kimura, đã trù tính yêu cầu không quân bao che. Nhưng trước khi việc này được thực hiện, liên tiếp hai ngày 2 và 3 tháng Ba, hơn 100 phi cơ địch ào đến tấn công. Kết quả là tất cả các hải vận hạm và phân nửa các khu trục hạm hộ tống bị đánh chìm. Hơn 3,500 lính bị chôn vùi dưới đáy biển trong trận này.
Một cuộc đại bại chưa từng thấy. Nó hoàn toàn trái hẳn cuộc triệt thoái thành công ở Guadalcanal. Bây giờ tôi có thể hiểu tại sao Phó Ðô đốc Kondo mang dáng vẻ tiều tụy khi tiếp tôi.
Ngay lúc tôi còn đương suy nghĩ xem tại sao một việc như vậy có thể xảy ra, Ðề đốc Takama bước vào phòng. Vì muốn hiểu thêm, tôi yêu cầu ông giải thích rõ hơn về đại bại khủng khiếp ở biển Bismarck. Ông nói: “Cuộc vận chuyển được thi hành với tất cả cẩn trọng đúng mức, nhưng thiếu bao che của không quân. Ở Guadalcanal, kế hoạch của chúng ta thích đáng, được giữ bí mật từ đầu đến cuối, địch không đánh hơi được. Sự thành công ngoạn mục của cuộc triệt thoái này có lẽ đã khiến cho các tướng lĩnh Lục quân nghĩ rằng họ có thể liều lĩnh mà không cần phải có sự chuẩn bị và yểm trợ đầy đủ. Ðưa đến thảm bại là Lục quân đã không cung cấp ô dù cho hải đoàn vận tải trên biển Bismarck.”
Ðề đốc Takama rời khỏi phòng tài liệu. Tôi tiếp tục đọc các hồ sơ ghi lại những biến cố quan trọng khác. Vào ngày 5 tháng 3, hai khu trục hạm Minegumo và Murasame bị đánh chìm ở vịnh Kula mà không bắn được phát súng nào. Ðịch đã sử dụng hải pháo có radar điều khiển để hạ hai tàu này.
Tôi rời khỏi soái hạm Atago với tâm tư nặng trĩu. Khi đặt chân lên bờ, tôi mới nhận thấy có biết bao thay đổi. Trong câu lạc bộ sỹ quan, tôi gặp Ðại tá Tomiji Koyanagi, Tham mưu trưởng của Phó Ðô đốc Kurita. Chúng tôi ngồi chung bàn. Thảm kịch biển Bismarck vẫn còn lảng vảng trong tâm trí nên tôi không ngần ngại hỏi ý kiến.
Koyanagi nói: “Ðề đốc Kimura thuật lại là địch đã sử dụng phương pháp oanh tạc mới để tấn công tàu chúng ta. Các oanh tạc cơ khổng lồ lướt sát ngọn sóng rồi ném bom xuống mặt nước, và bom nhảy lên đâm vào lườn các chiến hạm. Các phương thức tránh né cổ điển đều không hữu hiệu với chiến pháp ‘oanh tạc nhảy’ này. Ban đầu Kimura nghĩ rằng địch đã dùng một loại ngư lôi trang bị cho phi cơ… Hiện tại chúng ta chưa biết làm cách nào để chống lại loại ‘bom nhảy’ này.”
Hoàng hôn đã lan tràn sớm hơn mọi khi vì những đám mây nước phía trời tây. Khu bến tàu thưa thớt. Những chiếc tàu hàng cũ kỹ, đưa những cần trục rỉ sét tua tủa trên sàn. Những xác tàu chìm được kéo lên cạn, những chiếc tàu dòng, tàu LCVP nằm yên trong vịnh. Khoảng đường sắt không còn dùng bất động với những thùng to làm chỗ để hàng, để trú mưa nắng. Mấy chiếc xà-lan ken nhau thay cho cầu cập… Còn bên kia bờ, khu mới thiết lập, tàu bè ngoại quốc đủ các màu cờ đậu san sát. Những cột ống khói, những cửa kính, cửa hublot, những đường sơn sóng trước thấy rõ từ đàng xa. Những trụ sắt, những cây đà gỗ, bù-loong chứng tỏ sự vững chắc của cầu cập. Trên nền được đúc bằng xi-măng có đường viền cẩn thận. Dây cable, dây gai to cỡ buộc chằng chịt vào các trụ bíttle. Ở đó là một thế giới riêng biệt, không phải ra vào dễ dàng như ý muốn. Nhưng đó là phần đất Việt Nam…
Lam để mắt nhìn một vòng rồi quay về với thân phận. Nhân viên cuối cùng đã trở về chiến hạm. Chiếc Yabuta nổ dòn tách xa. Máy kéo neo chạy rần rật. Vòi nước rửa bùn, cát, theo dây xích tuôn xuống biển làm đục ngừ một vùng…
– Tả tiến hết.
– Tả tiến hết.
Advertisement
– Máy tả tiến hết.
Tàu bọc theo doi, trườn qua mỏm núi lướt đi. Tiếng ra lệnh của sĩ quan trưởng phiên, tiếng lập lệnh của người “thủy thủ lập lệnh”, truyền xuống phòng lái, hầm máy… qua hệ thống ống loa, tiếng thi hành lệnh dội trở lên đều đều như những cơn sóng giữa trùng khơi.
– Hai máy tiến hai.
– Lái, hai máy tiến hai.
– Tiến hai. Hai máy tiến tiến hai. Phao đã lên đèn. Dấu hiệu bên cạn, bên sâu dẫn lối vào bến ngoằn ngoèo. Đài ra-đa trên đỉnh núi chạy lùi trong khoảnh khắc. Người thủy thủ đứng sau lái chiếc PGM neo gần bờ đưa pô-lô vẫy bạn. Một lối tiễn đưa. Tàu ra khơi bao giờ cũng buồn, nhất là trời chiều hôm nay, lòng người cảm thấy bâng khuâng, lưu luyến những phút giây bến bờ. Bầu trời xám xịt và gió lạnh tạt qua vùn vụt. Tàu còn đi cũng như Lam còn cô đơn. Lam thấy như vậy mặc dù ở thành phố nào Lam cũng được chiều chuộng săn đón. Đó chỉ là những gì tạm bợ. Lam cố nghĩ là mình đang vui nhưng không khi nào mãn nguyện. Hình như lúc nào Lam cũng có thái độ đi tìm và không hiểu đến bao giờ Lam mới bắt gặp. Ý nghĩ đó làm niềm suy tư của Lam trở nên nửa đường… Thành phố chỉ còn là một vừng sáng. Rặng núi tiệp màu không gian. Đêm xuống. Antenne ra-đa quay đều và đèn hải hành bật cháy. Những lưỡi sóng cao dập vào mạn mũi tàu dạt đi trông thấy. Nhân viên im lặng làm việc không phải vì nhiệm vụ vất vả, khó khăn, nhưng có lẽ không ai muốn thốt ra một lời nào thừa thãi, một câu đùa cho phí sức. Rồi tàu bắt đầu lắc mạnh. Những cánh cửa “kín nước” quên khóa, mở ra đóng vào rầm rầm theo nhịp sóng. Các móc, khoen, rõ rẽ đong đưa, lủng lẳng cọ vào thành trục tạo thành một vết mòn. Đường đây cột thuyền con, chiếc “you-you” dùng để đi bờ, rít lên kẽo kịt mỗi lần tàu nghiêng đến độ. Những lượn sóng dồn đập nâng cao mũi rồi chúi xuống đánh “binh” vào mạn lườn. Tất cả rung chuyển như muốn vỡ ra, rần tay nắm. Nước biển bị sàn mũi múc lên bay tung tóe theo làn gió mạnh thành những hạt sương muối bám vào tóc, mặt. Rít chịt. Hốc hác. Cứ như thế này một lúc cả bọn bò lăn ra cho mà coi. Người ta nhìn lính thủy với một ý nghĩ sung sướng, ăn chơi? Mỗi lần như thế Lam có ý nghĩ khác: “nếu được một lần quá giang chiến hạm chắc không ai dám bước xuống tàu lần thứ hai”. Ây vậy mà người lính biển phải sống mãi. Lam cười thầm…
Hình Mạnh Hải/Flickr
– Bên phải 5.
– Lái. Bên phải 5.
Trong tích tắc, tiếng phòng lái vọng lên:
– 5 bên phải. Tay lái 5 bên phải.
– Đọc “cấp” liên tục.
– Lái. Đọc “cấp” liên tục.
– … 120, 125, 130., 150…
– Lái thẳng như vậy.
– Lái thẳng như vậy.
– Lái thẳng, 150 độ, hai máy tiến hai.
– Lái đàng hoàng nghe.
– Nghe.
– Ai lái đó.
– Hạ sĩ Kiên đây.
Những ánh chớp bắt đầu xoẹt và tiếp theo những tiếng nổ rền trời. Cơn mưa giông sắp tới. Mọi người nhìn về phía chân trời trước mặt. Những đám mây đen đổ xuống thành hàng như trăm ngàn con rồng đang hút nước. Lam bước xuống ghế:
– Đi vào đường chưa Yên?
– Dạ xong rồi, hạm trưởng.
Lam lại bàn dở hòn đá cuội, xem nhật ký hải hành. Giờ, 19g30. Vân độ, 8. Hướng, 150 độ. Gió, đông đông bắc. Vị trí, 197 độ Poulo Gambia, 15 hải lý. Trên hải đồ, những point vị trí lệch lạc theo lộ trình. Những dấu hiệu gọi hạm trưởng được ghi đầy đủ vào những vùng nguy hiểm có nhiều đảo san hô hay vũng cạn… Rồi bỗng nhiên, kình… ào, ào, ào… Compas, bút chì, tẩy, thước crass (thước song song), ba bốn hòn đá cuội theo chiều nghiêng rơi ngổn ngang xuống mặt sàn. Người thủy thủ già ôm “Tầu hải bàn” văng xuống thềm. Lam với tay giữ chặt cầu thang… Rầm… rầm, rầm…, lon-ton, lon-ton… Đồ vật không được giữ thi nhau lăn lóc. Những giọt mưa lớn hạt rơi lộp độp trên trần đài chỉ huy, bay vào mặt rát rạt. Kình… ào, ào, ào… Đôi bàn chân như bị dở hổng lên và người chực bay đi.
– Cho ba khoảng cách.
– Ci-ai-ci (Combat Information Center).
– Nghe.
– Cho ba khoảng cách làm point coi.
– Ra-đa không có écho…
– Ra-đa không có écho, thiếu úy.
Yên hét to:
– Không có écho? Coi kìa, coi kia…, gọi phòng lái xem lái kiểu gì quay mòng mòng kỳ cục vậy.
Người “thủy thủ lập lệnh” đưa mồm vào ống loa:
– L… ái.
– Nghe.
– Đọc cấp coi.
– 170 độ.
– 170 độ, thiếu úy.
– Bên phải 10.
– Bên phải 10.
– 10 bên phải. Tay lái 10 bên phải.
– Hữu tiến hết.
– Lái. Hữu tiến hết.
– Đài chỉ huy.
– Nghe.
– Máy hữu tối đa 2000 vòng.
– Sao vậy, cơ khí đâu, điện thoại hầm máy…
Mưa lòn vào khe, hốc, ướt ngoi ngóp. Ánh đèn hải hành leo lét trong bóng đêm. Ánh sáng lân tinh của làn sóng chạy dài lấp lánh. Kình… ào, ào, ào… Người thủy thủ ôm cột hải bàn từ từ quỵ xuống. Quan sát viên buông vội ống dòm xuống ngực, dang hai tay chụp lấy thành tàu. Viên hạ sĩ vận chuyển vừa lượm dụng cụ hải hành vừa ói mửa lênh láng. Sĩ quan trưởng phiên đầu trần, mũ casquet rơi vào trong góc, áo quần bê bết.
Hình Mạnh Hải/Flickr
Lam lần tay đi lại ghế:
– Qua bên trái, phải đi chẻ sóng.
– Bên trái 10… Chắc bão tới hạm trưởng…
– Bên trái 10.
– 10 bên trái. Tay lái 10 bên trái.
– Gọi trung sĩ Khánh bắt liên lạc vùng xem sao.
– Dạ.
– Lái thẳng như vậy.
– Lái thẳng như vậy.
– Lái thẳng. 160 độ, hai máy 2000 vòng..
Gió càng lúc càng mạnh, sóng càng lúc càng cao, mưa càng lớn, tàu càng quay. Trôi dạt, không còn phương hướng. Tất cả nghiêng đổ, văng bên này, quật bên kia. Chiếc phao đào thoát bay vụt ra xa, rơi tọt xuống biển…
– Gọi phòng lái, lái cẩn thận.
– Phòng l.. ái…
Chưa nói hết câu, hắn mửa ào ào trong ống loa.
Lam thấy chới với. Sàn tàu trơn trợt, nhớp nhúa. Hãy gắng lên, bám vào vị trí. Lam thấy lẫn lộn, cột buồm, ra-đa, máy chính, máy điện, chân vịt… Lam dang hai chân cố đứng thẳng người. Lượn sóng ụp tới, phủ nước lên nửa con tàu. Áo thấm nước mưa, sát vào da, lạnh như cắt. Còn một máy, sóng tới nữa. Biển giận dữ, cuồn cuộn… Ào, ào, ào.. Tàu dựng đứng chồm lên sóng. Không còn thấy hải đăng, không còn bến bờ… Lam vào phòng riêng, thấm những giọt nước còn sót lại trong vòi vào khăn, lau mặt. Tiện nghi xuống đến mức độ tối thiểu sau cơn bão lốc. Trên là trời, dưới là nước, giữa là ta, Lam mỉm cười với lấy tờ nguyệt san, để nguyên đồ mặc, giày vớ, ngã lên giường. Chiếc quạt máy quay hết tốc độ, hơi nóng còn vất vưởng xung quanh. Lam nhắm mắt một giây nghĩ như vầy là quá hạnh phúc, rồi mở đôi tờ báo úp lên mặt.
Lam thức giấc, không biết mình đã ngủ bao lâu. Bước lên đài chỉ huy mới hay bây giờ là “hoàng hôn thiên văn”, hoàng hôn của những vì sao, cho vòm trời đầy sao của mùa đông này. Vách sắt, cửa kính lấp lánh tinh thể muối, đọng lại sau những ngày tuần dương. Ngoài khơi những tàu dầu, tàu Shell, tàu viễn dương đèn sáng như đuốc hoa. Thành phố Cấp rực rỡ. Vịnh yên như mặt hồ. Lam đưa tàu rẽ vào nguồn, dòng sông trải ra phẳng lì trong bóng đêm trông như đồng lúa xanh màu. Ra-đa chết. Không sao. Nỗi khao khát đoàn tụ gia đình của thủy thủ đoàn và của chính Lam thúc giục. Không còn gì nguy hiểm nữa. Một cơn bão rớt, một đêm lạc đường, nhìn đèn Kê-gà ra đèn Rạch-trang thì đã sao. Tóc rối bời, râu mọc dài lởm chởm. Lam quyết định, “còi nhiệm sở vận chuyển”. Tàu không neo, không, tàu đi. Tiếng còi tàu như đã đọc lên và hòa lẫn với nìềm ao ước của mọi người. Sài gòn, Sài gòn đẹp lắm…
*** Lam về Mỹ Tho. Căn nhà vừa được quét nước vôi trở nên sáng sủa. Mái ngói đỏ au. Bên hiên còn khoảng trống, che fibro-cement làm nhà xe. Chiếc Simca 1000 xinh xắn. Xung quanh có vườn hoa, những con đường nhỏ trải đá trứng, những viên gạch đỏ xếp xiên xiên thành hàng. Phía sau là giếng nước, hồ chứa. Đó, công trình đành dụm của Lam từ bao nhiêu năm nay! Lối xóm quen thuộc, họ cùng sống với Lam từ thuở Lam còn đi học trung học, với những căn nhà tồi tệ hơn cũng chính trên mảnh đất này. Con đường chưa được trải cao su, với những bóng đèn điện lu mờ. Những trụ sắt của hãng CEE khiêm tốn. Nhưng khu phố có tiếng là mát và sạch sẽ. Lam rất ưng ý với tổ ấm của mình trong những ngày về bến vui vẻ, êm đềm. Chỉ là những khoảng thời gian ngắn ngủi thôi. Trong nhà đồ đạc vén khéo. Ở phòng khách, ngoài tủ búp-phê, bộ sa-lông…, Lam cho kê thêm một bàn giấy cạnh cửa sổ…
Hình Mạnh Hải/Flickr
– Anh Lam về bây ơi.
Rồi cả bọn túa ra vây quanh, mỗi đứa nói một câu, đứa nắm tay, đứa ầm sac tay, níu kéo. Lam thấy vui vui trong niềm vui của một người anh. Việc trước tiên là Lam thay đồ, tắm rửa rồi ra nhà sau nằm võng hoặc thả lăn trên nền gạch nhà trên. Lam chẳng thích leo lên giường nệm bây giờ. Lam châm lửa, hút, và nghĩ đến những việc làm cần thiết trong những ngày ở lại đây, đi thăm bạn bè, đi phố với Hoài, Trinh. Khi vào nhiệm vụ Lam đứng đắn bao nhiêu lúc về nhà Lam trẻ con bấy nhiêu. Lam thích cười đùa.
– Này Trinh, cưng lấy xe lên đón Hoài xuống chơi nghe.
– Anh mới về là đã lo cho cô nàng rồi, phải chi ba má được vậy.
Lam cười:
– Thôi mà, nhờ một chút mà, được việc đi.
– Ừa…
Hoài và Trinh học một lớp và Lam biết Hoài từ hồi còn bé. Hồi ấy Lam không để ý, cứ xem Hoài như em gái, như Trinh. Hoài có nước da thật trắng và môi đỏ như son. Rồi Lam đi lính, dĩ vãng đi lần vào quên lãng… Nhưng, một lần nào Lam viết thư về thăm Hoài, rồi những liên hệ đặc biệt bắt đầu. Hoài viết thư hay lắm, đọc đến mê. Lam tỏ tình khi cả hai ở hai phương trời và Lam được đáp lại bằng những dòng chữ tha thiết, hứa hẹn. Lam sống trong tình yêu bằng những cánh thư hơn một năm trời, và những lần về phép sau đó hai đứa dè dặt ý tứ, cử chỉ. Lam có đôi lần đến nhà thăm Hoài, chỉ gặp má Hoài, còn ba Hoài thì lúc nào cũng đi làm xa. Hoài có người anh đã lập gia đình và ba người em gái nhỏ. Hoài hay mắc cỡ và dễ hờn… Bây giờ ai cũng biết chuyện, mọi người khen Hoài đẹp và cho Lam là có phước.
– Lâu quá không gặp, trông anh có gì khác không mà nhìn ghê vậy.
– Anh ốm và đen thêm.
– Như vậy thì không sao, tưởng đâu anh sứt tai vẹo mũi… Còn Hoài thì lúc nào cũng đẹp, hai đồng tiền dư giả này cho anh có được không?
– Anh quỉ…
– Chiều nay Hoài rảnh chứ?
– Không rảnh cũng không được.
– Anh lấy xe lên đón Hoài đi phố nhé. Lúc này Việt Cộng có về thường không. Ngại quá, nhà cửa gì ở xa tí mù. Xuống ở đây đi học có tiện hơn không.
– Tụi em đi trước à.
– Ừa, chút nữa anh sẽ lên sau. À, nhớ chừa cho anh phần trái cây nha.
Nhà Hoài nằm trên quốc lộ 4, trong một khu vườn rộng lớn. Trước nhà có cầu bắc qua con lạch nhỏ. Cổng đi vào thật đẹp có hoa thiên lý, hoa tóc tiên. Và bên trong người ta nhận ra một trang trại được khởi lập hơn là một gia đình đơn giản. Chiều chiều ra bờ lạch ngồi câu cá, tối tối fọn bàn ghế ra sân ngồi uống trà ngắm trăng. Nhưng, thời này làm lính ít ai dám về ở đêm. Chỉ còn lại những người giữ nhà, chăm nom vườn tược, những cây xoài ráp, những cây mận hồng đào, cam quít.
Chỉ có lũ nhỏ ở nhà, má Hoài có việc đã xuống chợ Mỹ Tho chưa về. Cả bọn làm cơm ăn lấy. Xong bữa cơm chìều, chỉ có Lam theo Hoài trở lên phòng khách. Biết có người theo đuôi, Hoài xoay người lại, bất chợt bị Lam ôm chặt vào lòng. Rồi Lam lơi vòng tay đẩy nhẹ Hoài áp vào tường. Đôi mắt Hoài long lanh, rực sáng. Lam nhìn làn môi còn bóng nước. Một vẻ gì quyến rũ, ru Lam vào cảm giác say sưa ngây ngất. Lam đưa tay nâng cằm rồi ngắm nhìn khuôn mặt Hoài thật lâu. Hoài chớp mắt mỉm cười:
– Anh kỳ quá… Hoài đổi ý không chịu đi phố, viện lẽ mắc coi chừng nhà, coi chừng em. Cũng được. Lam theo Hoài ra vườn hoa phía sau trò chuyện đến tối mới mò về nhà, lòng phập phồng chỉ sợ Việt Cộng về bất tử…
Hình Mạnh Hải/Flickr
Vào thời buổi này, cha mẹ lặn lội đi thăm con cái là sự thường, nhất là con trai bỗng nhiên mang tội bất hiếu. Mỗi lần về là mỗi lần ba má từ quê lên thăm Lam, thăm ngôi nhà xinh xắn. Những bữa cơm gia đình ngày xưa Lam không thấy gì đặc biệt, nhưng bây giờ rất có ý nghĩa vì có sự hiện diện của ba má của những người thân yêu. Gia đình sum họp và mọi người như bỏ tất cả những gì riêng tư cho bầu không khí chung đầm ấm. Tất cả được chiều chuộng cũng như tự chiều chuộng lấy mình. Ai cũng muốn những ngày này, những ngày có Lam, những ngày vui qua mau được vui trọn vẹn. Những cách biệt về đời sống, lối cư xử… quên đi trong khoảnh khắc. Có gì hơi giả tạo, Lam cũng biết thế. Chỉ bao giờ mình ở trong tình trạng chung sống mới rõ những niềm cảm thông sâu xa. Buổi tối, má và Lam nói chuyện thật khuya. Má dành nhiều thì giờ để nghe nhiều hơn nói. Bao nhiêu chuyện xảy ra, đã làm, đã gặp, đã hòa mình đều được Lam kể lại đầy đủ như một bản phúc trình. Kể cả những câu chuyện về bạn gái. Hơn ba mươi tuổi rồi mà Lam vẫn còn bé bỏng trước gương mặt dịu hiền của mẹ.
– Mày lớn rồi mà sống còn dở hơi quá. Ba mày hồi trẻ cũng vậy, nói mấy cũng không được.
Ba má Lam dạy con bằng cách hoàn toàn thả lỏng, để con cái tự học và nhận chịu những gì cuộc đời mang lại. Lam đã sống trong cảnh hèn hạ nhất, đau khổ nhất cũng như hạnh phúc nhất. Lam vẫn sống tự do, hành động theo ý riêng của mình…
Mấy ngày về bến thắm thoát trôi qua, lại đến ngày lên đường, ra khơi. Lam xếp đồ vào sac tay thong thả:
– Đi lần này chắc lâu lắm mới về. Ai là người trông nhiều nhất?
– Lần sau nhớ mua quà đặc biệt cho Hoài đó.
– Mua cho Hoài con bọt biển nhé, nó sẽ bò thành hàng vào chân em, quỳ lạy…, chịu không?
– Bữa nay trông anh Lam đẹp trai ghê.
– Muộn quá, tới bây giờ em mới biết sao Trinh.
Má nhìn Lam mỉm cười:
– Nhớ coi còn bỏ quên món gì nữa không?
– Hết rồi. Còn gì?
Lam véo má Hùng, thằng em út, rồi bước chân nhà xe…
***
Lam được đổi về bờ hơn hai tháng nay. Căn cứ hải quân Tân Châu. Thành phố này tuy nhỏ nhưng không kém vẻ ồn ào náo nhiệt. Điều mà Lam để ý là từ đây trở về nhà chỉ hơn hai trăm cây số, một ngày đường với chiếc Simca, Lam có thể trở về nhà bất cứ lúc nào. Công việc không lấy gì bề bộn cho lắm. Ngoài việc tuần tiễu trong những nhánh sông chằng chịt, chương trình phối họp hành quân với đơn vị bạn cướp thì giờ của Lam nhiều nhất. Lam chưa làm được việc gì quan trọng ngoài việc tu bổ căn cứ. Cổng chính được đắp thêm mấy ụ cát đặt thêm súng liên thanh phòng thủ. Và hơn tuần lễ nay Lam chỉ có đọc sách… Lam rời phòng giấy ra ngoài sân cờ ngồi hóng mát. Bên kia sông, hình quảng cáo xăng Con Sò đậm nét. Tàu buôn, ghe thuyền lên xuống như mắc cửi. Bên này chiến đĩnh cập cầu pon-toon thành dãy. Dòng nước chảy lừ đừ đục ngầu, Lam búng vèo tàn thuốc ra xa… Lam bỗng nhớ đến Hoài, băn khoăn ray rức.
– Thưa đại úy, có công điện.
– Công điện gì, khẩn, thượng khẩn.
– Dạ, thanh tra thường niên.
Hình Mạnh Hải/Flickr
Lam gật đầu bước vào văn phòng… Lam nghĩ hoài mà không sao hiểu nổi. Bao nhiêu đự định bỗng dưng dừng lại và một sự chờ đợi dai dẳng. Lam chưa muốn khám phá vội, lỡ ra sự thật đúng như vậy thì buồn nhiều. Thà là để mình còn hi vọng chút ít. Lam không thể ngờ được, đôi lúc Lam cũng quả quyết, nhưng rồi tư tưởng bị bóp méo đi như để tránh tội lỗi. Liệu mọi người có thể chấp nhận hay không và nền luân lý cổ truyền này nữa. Lam chưa tin hẳn vào những chứng cớ. Đó chỉ là những gì nhớ lại, một thời xa xưa, lúc ấy Lam chưa biết gì. Không thể qui trách nhiệm về mình. Nói chung, Lam phải dấu mọi người một chuyện: vũng tối và niềm riêng suy tư. Nhưng lúc nào Lam cũng cảm nhận những tia mắt soi mới, bắt gặp. Tình yêu giữa Hoài và Lam đang độ nồng nàn, Lam nghĩ không thể nào thiếu được. Hoài thì sao? Hoài có linh cảm chăng? Không, Hoài vô tư lắm… Vào thời đó bọn nguời lớn bấy giờ yêu nhau, họ không đòi hỏi nhiều phương tiện. Một chiếc xe đạp đi hai ba chục cây số để ngủ với tình nhân một vài đêm là chuyện thường. Không có giặc giã, miền quê Việt Nam hoa màu. Cây cầu này, ngõ vào này, ngôi nhà này không gì khác cả… Lam thành thật chưa hiểu nổi. Bọn Trinh cứ gọi Hoài là chị sáu. Lam thứ năm, đứa em kế mất, rồi đến Trinh. Hoài được lấp vào chỗ trống. Hoài làm con nuôi? Những lần về quê, Hoài vẫn bếp núc, vẫn công việc, vẫn đùa giỡn với mấy đứa em của Lam. Hoài cũng gọi ba, gọi má. Đôi lần Hoài mua quà gửi về. Không lẽ có sự trùng hợp ly kỳ vậy. Những lúc họp mặt đầy đủ, Hoài không có gì gượng ép trong vai “người con”. Nhưng với Lam, những cử chỉ, ánh mắt đã bắt đầu có gì là lạ. Hoài trách Lam rất nhiều và điều đó gây trong đầu Lam một nỗi thắc mắc to lớn. Hoài đã hiểu sự thật? Mà thế nào là sự thật? ... Tao không tin mày đã có gì dính lúu. Tao nói thế, mày biết mà dè dặt. Tao không hiểu trời xui đất khiến thế nào mà Hoài nó lại tìm về. Má mày không hiểu gì đâu. Tao nhiều đêm suy nghĩ… Bao nhiêu dự định của Lam bỗng nhiên ngừng lại. Đến lúc Lam muốn có một gia đình một tổ ấm thì khó khăn lại đến. Lam chờ đợi một sự xác nhận? Ba dành tình thương cho Hoài thật nhiều, thấy rõ. Có thế thôi. Lạ thật. Làm sao có thể quên được hình bóng Hoài… Lam lấy vài ngày nghỉ, cấp tốc về nhà. Lam đến thăm Hoài, gặp lúc Hoài đang ngủ. Dáng người thoải mái, chăn đắp nửa người, hai tay đan vào nhau chấp lên ngực. Rèm mi dài cong đều đặn. Những sợi tóc mai xõa bên tai, làn da trắng ngần. Lam nhìn thật lâu và ý nghĩ Hoài là vợ Lam làm Lam sung sướng. Như mọi lần, Lam nắm tay Hoài cúi xuống… Hoài bừng tỉnh:
– Anh Lam. Không. Đừng làm vậy…
Tiếng nói nhỏ dần như sợ mọi người nghe thấy. Lam thì thào:
– Sao vậy, Hoài.
-Em…, em…
Trở về đơn vị, mấy ngày sau Lam vẫn còn suy nghĩ về những cử chỉ khác lạ của Hoài. Lam chưa hiểu gì cả và nghĩ mình đang sống trong mơ.
***
Và khoảng một tháng sau tiếp theo đó, Lam cũng không hiểu nổi biến cố Mậu Thân và cuộc tổng công kích. Lam lại vọt về nhà. Lam vượt qua mấy trạm kiểm soát, lái xe vào thành phố. Thiết giáp và kẽm gai đầy đường. Phố không còn ai, nhà nhà đều đóng cửa. Những người lính áo quần bê bết bụi đường cầm súng đứng canh. Tiếng đạn bom nổ rất gần, phía khu nhà của Lam. Tiếng máy bay phản lực, tiếng “rocket” nổ chát chúa. Từng cuộn khói đen bốc lên cao. Lam rẽ vào nhà thằng bạn, Lân hấp tấp nói:
– Nhà mày chắc tiêu rồi, đánh lớn lắm. Tụi nó vô bốn năm tiểu đoàn. Còn giao tranh kịch liệt ở khu bến xe Mới, Bờ giếng trên, Hãng xáng.
– Không hiểu tụi Hoài, Trinh như thế nào? – Hôm qua tao có gặp Trinh. Nó bảo cả xóm bị thương, chết tùm lum. Ở trong nhà mày nữa. Cả chục thằng núp sau hồ nước. Ngoài lộ súng bắn vào như mưa. Ở lại là chết, nên nó đứng dậy đưa hai tay chạy băng ra đường. Con nít người lớn túa theo trong làn đạn. Người cuối cùng bị thương ngã quy, không biết là ai. Có thằng Việt Cộng chết nằm vắt trên cửa sổ nhà mày. Xe nồi đồng bị B 40 cháy hết một chiếc…
Hình Mạnh Hải/Flickr
– Mà mày biết tụi nó ra sao không? Bây giờ ở đâu?
– Theo anh hai lái xe Hồng Thập Tự xuống dưới nhà thương.
– Có như vậy. Thôi tao đi đây.
Lam quày xe trở ra. GMC, Jeep chạy xả ga. Lam bị những người lính chận xét dọc đường. Một lúc lâu Lam mới đến nơi. Căn phòng ngủ trực của anh hai Hồng Thập Tự bây giờ chứa đến mấy mươi người
– Anh Lam kìa..
– Ừa…
Lam nhìn Trinh, Hoài và những người quen trong khu phố. Những bộ mặt buồn thảm, những đôi mắt chưa khô, còn đỏ chạch. Dưới sàn cây ván ép, nồi niêu, chén bát ngổn ngang….
– Tiêu hết rồi chú Lam ơi. Tụi tôi còn sống đây là cũng nhờ cô Bảy.
– Bom nổ ngay trên nóc nhà mình, tường sập hết trơn, tủ ghế gãy bét ra.
– Không đứa nào có sao cả hả? Thằng Hùng đâu?
– Nó nằm ngủ kia kìa.
– Phải hôm Tết về dưới quê với ba má thì có sao đâu. Hoài có về trên nhà chưa?
– Dạ, đường đi đi không được, đang đánh nhau. Không hiểu má em thế nào nữa.
– Thôi, đừag về nghe, nguy hiểm lắm
Bên ngoài tiếng con nít khóc thét lêa. Người đàn bà quơ roi rượt thằng nhỏ chạy vào lều. Tiếng ồn ào không ngớt….
***
Lam theo tàu trở lại. Bây giờ bắt đầu bằng hai bàn tay trắng Không còn gì ngoài chiếc Simca. Bô quân phục mới may còn thơm mùi vải… Chiều tối. Lam cầm ly “cocktail” đưa lên miệng. Người cố vấn Nỹ đang nghe máy 25. Khoảng sông đen ngòm. Hai bên bờ những hàng dừa cao, những loại cây không biết tên mọc um tùm. Gió lành lạnh. Cuộc đời hải nghiệp không gì hơn bằng mang vào mình huy hiệu hạm trưởng, bánh xe nước mía với bốn chữ “TÀI-ĐỨC”, “KỶ-LUẬT”. Mà đã là hạm trưởng thì không còn trẻ nữa. Lam là một trong những người hùng của Hạm Đội. Những dòng sông, những bến bờ quê hương này đang được bảo vệ bởi bàn tay người lính thủy, những người không ngại mưa nắng, ngày đêm. Cái nóng nung nấu khối sắt đen ngòm, bốc hơi nghẹt thở. Cái lạnh thấm vào xương tủy, phải trùm áo dạ, áo lông cừu. Những vì sao, những con đom đóm làm quà.
– Đài chỉ huy. Hướng 10 giờ có écho.
– Écho 10 giờ, thiếu úy.
– Nghe. Theo đõi.
Lam kéo cao cổ áo, rời ghế ngồi bước ra thành tàu. Dòng sông đến khúc quanh. Tàu đi giữa dòng bóng đêm đày đặc. Bóng đèn “5watt” soi lộ trình trên hải đồ leo lét.
– Écho tả hạm.
– Écho tả hạm, thiếu úy.
– Nghe.
Tâm, người sĩ quan trưởng phiên, cũng bước ra ngoài bao lơn lõ mắt nhìn. Lam không thấy gì cả. Chắc là ghe buôn. Sao lại không đèn đuốc. Chỗ này là khúc nguy hiểm… Tạch, tạch…, tạch…, chát…, véo… Lửa tua tủa, xẹt vào mạn tàu…
– Ghe Việt Cộng?
– Còi nhiệm sở tác chiến!
– Còi nhiệm sở tác chiến, còi nhiệm sở tác chiến … Một loạt AK đi trọn vào đài chỉ huy. Thằng Mỹ ngã gục, đầu lõm một lỗ, máu văng tứ phía. Lam chạy nhanh lại khẩu mười hai ly bảy, lên cơ bẩm quạt. Tiếng nổ dòn hơn bao giờ hết…
Hình Mạnh Hải/Flickr
– Bên trái, rẽ bên trái, tay lái hết.
– Tay lái hết bên trái.
Những khẩu đại bác hai mươi ly, bốn mươi ly đầu nhả đạn. Tất cả sẵn sàng. Chiếc ghe chài cỡ lớn đang đâm thẳng vào chiến hạm. Tiếng đại bác bùng bùng…
– Hạm trưởng để em.
Lam buông tay ngã vào thành bao lơn. Máu chảy tuôn từ vai xuống ngực. Âm…, ầm… Ánh lửa đỏ rực, chiếc ghe chài bốc cháy. Hầm đạn nổ, lửa túá lên cao đầy khói.
– Hạm trưởng…, hạm trưởng… hotel tango, thẩm quyền một bị thương, y tá đâu mau lên, mau lên…
Lam choáng váng nhìn chiếc ghe chìm từ từ trong ngấn nước, mỉm cười rồi ngã vào đôi tay người thủy thủ…
Lam được đưa về bịnh viện ngay trong đêm đó, và chỉ vài ngày sau Lam hồi phục. Điều đáng nói là vết thương trên cánh tay không làm Lam đau nhức bằng vết thương trong tim, nhất là những giây phút cô đơn trên giường bệnh. Chỉ còn có một cánh tay có thể hoạt động. Lam đưa cánh tay trái ốm tong bóp múi cam cho nhỏ nước vào miệng, chép môi. Mùi cam thơm mát… Rồi bỗng nhiên có tiếng nói bên mình:
– Anh Lam, anh có sao không?
Lam nhìn Hoài trân trối, ngỡ mình đang mơ, lần đầu tiên lạc vào lối mộng. Hoài đặt tay lên lần vải băng mới thay còn tươm máu xúc động, rơm rớm nước mắt. Lam khẽ gọi:
– Hoài…
rồi lịm đi trong cơn mê…
***
Khung phòng rộng rãi, màu vôi xanh nhạt. Trên tường còn tấm lịch Cogido và bức ảnh khỏa thân của chủ trước. Bên này kê một chiếc giường lớn, verni thật bóng, có trụ móc màng. Cạnh cửa sổ còn bộ salông, một lọ hoa huệ bằng pha-lê. Ngoài trước là bao lơn trông xuống mặt đường. Lam về đây hơn một tuần chờ cắt băng. Bột đóng cứng, gõ nghe cong cóc. Suốt ngày Lam không biết làm gì, thì giờ trống trải. Vết thương bớt nhức nhối ở vai, ngực. Lam tập viết bằng tay trái, lật sách đọc tiểu thuyết bằng tay trái. Buổi trưa và chiều Hoài mua thức ăn về, cả hai dùng bữa. Lam múc từng muỗng cháo, hớp từng hớp sữa cảm động. Hoài đã đi làm và trời xui đất khiến lại đổi về bịnh viện này sau những ngày loạn lạc. Một trung tâm y tế toàn khoa. Hai người trông như một đôi vợ chồng trẻ. Hoài đẹp quá, Lam như chưa bao giờ thấy ai đẹp hơn nữa. Những giờ Hoài đến sở, Lam cô đơn, buồn vô hạn. Buổi sáng, buổi tối Lam thường bắt ghế ra ngoài bao lơn, ngồi hút thuốc nhìn đây điện đường, nhìn những bảng hiệu bên kia hè phố. Tất cả sụp đổ và niềm suy tư cô đọng. Đã nhiều lần Lam có ý nghĩ đánh bỏ mọi thứ và sống cho riêng mình. Nhưng, có lẽ thượng đế đã an bài. Hoài là em một phần hai dòng máu của Lam. Không thể được. Ba Lam và má Hoài có hiểu cho hai đứa không? Lam không muốn liên hệ, không muốn ràng buộc gì với những người không cùng một thế hệ. Lam không muốn gánh chịu gì cả.
Bóng tối tràn đầy. Ngọn đèn đêm trên giường tỏa ra vàng nhạt. Lam nằm nghiêng người sang trái. Hoài ngồi cạnh Lam săn sóc móng chân. Bàn tay thon dài mềm mại, trắng muốt. Lam nhìn chiếc nhẫn hồi nào Lam tặng Hoài trong một buổi chiêu tàu ra khơi:
– Bao giờ em còn đeo là ngày ấy em còn yêu anh.
Hình Mạnh Hải/Flickr
Hoài vẫn yêu Lam và Hoài sẽ đeo nó mãi mãi. Những kỷ niệm trải ra trong không gian, những vụ hè, những ngày thánh lễ, những nụ hôn thiết tha. Liệu Hoài và Lam có thể giữ mãi như thế này được không. Hoài và Lam có tội gì? Lam cố đè nén những uất ức, chất chứa trong lòng lúc nào cũng chực vùng lên. Đêm đến, hai đứa ngần ngại không dám ngủ chung giường. Hoài trải drap xuống nền gạch, và Lam có ý định đi thật xa. Những ý tưởng xung khắc đồn đập. Sự mơn trớn của tình yêu, của xác thịt cùng sự trổi dậy của lý trí Lam bất động tưởng như mình đã chết. Một ngày nào đó Hoài sẽ phải đến với một người đàn ông khác. Lam nhắm mắt không muốn nghĩ ngợi gì thêm…
– Lam anh, anh không là anh của em, em yêu anh Lam ạ.
Lam nghĩ Hoài muốn nói như vậy. Liệu xã hội này, luân lý này có chấp nhận cho điều đó không…
Lam bỗng nhiên ôm chầm lấy Hoài, xiết chặt Hoài trong vòng tay. Con tim rộn rã. Hoài ngã người xuống giường, rồi nước mắt chực trào ra đưa tay vuốt tóc Lam:
– Lam, em yêu anh…
Rời bệnh viện, trở về tàu, Lam cúi hôn lên trán Hoài lần cuối. Cả hai cùng im lặng. Em là em gái của anh. Nhưng, anh sẽ yêu em mãi mãi cũng như anh yêu con tàu này. Đừng bao giờ bỏ tàu, “don’t give up the ship, ever”. Lam hiểu câu nói thêm một ý nghĩa nữa. Anh sẽ đi mãi mãi ngoài khơi với tình thương này còn sót lại. Bến tìm yêu chỉ là bến cạn của tâm hồn…
Thiềm châm một điếu thuốc rồi rời băng đá đi dọc theo đường sắt dọc theo bờ sông lên chợ Hàn. Tàn cây nối tiếp nhau trên cao đưa ra lộ như mặt tiền một hangar. Thiềm đưa tay vuốt những bụi mưa bám trên mí mắt rồi thọc tay vào áo. Những đám mưa thờ ơ, nhẹ nhàng của buổi sáng ở một thành phố miền Trung luôn luôn dành cho khách lạ sự ngạc nhiên thích thú. Bầu trời như chìm trong sương u buồn ảm đạm. Các cửa hàng vẫn làm việc và người đi cũng tấp nập trong yên lặng. Trước mắt Thiềm áo màu như dạ vũ. Áo đi mưa, áo blouse dài ngắn đủ kiểu đủ loại. Thỉnh thoảng một đôi giày bóng loáng, một chiếc áo dài được nhìn luộm thuộm dưới gót chân, cặp kè vượt qua mặt Thiềm. Tự nhiên Thiềm thấy vui vui. Một vài hạt nước lớn, đọng mãi trên cành rơi thành tiếng nhỏ trên vai áo. Thiềm muốn tìm lại một cảm tình nồng nàn dành cho quê hương, nhưng trí tưởng tượng của Thiềm không còn sức bén nhạy. Sự thực vậy, chỗ nào đối với Thiềm cũng lởn vởn mùi chết của chiến trận. Người ta nói tới đã nhiều rồi, người nghĩ tới cũng nhiều rồi, bao nhiêu cách trình bày cũng y hệt như Thiềm đã chứng kiến. Có khác chăng vừa chứng kiến xong thì chết, còn Thiềm vẫn sống. Bởi vậy cho nên cái không khí hòa trộn với khói súng ở thành phố vẫn chưa làm Thiềm hoàn hồn. Nhưng, giây phút này đối với Thiềm là một đặc ân. Thiềm chưa hiểu mình phải hưởng như thế nào, vui như thế nào. Phía xa kia là Ngũ Hành Sơn với chùa Non Nước, gần lại là cầu Trịnh Minh Thế dẫn về bán đảo Tiên Sa và sát bên mình mặt sông rộng thênh thang, vài chiếc thuyền con xuôi dòng. Bao nhiêu đó quen thuộc với Thiềm từ lâu. Thiềm muốn vạch cho mình một lối mới, nhưng hình như đó là lối gần nhất để trở về . Dù chỉ một thời gian rất ngắn, bằng nhiều lý do bó buộc, Thiềm thấy khó khăn hết sức, nghĩ mãi rồi cũng không còn lối thoát. Thiềm gán cho mình hai tiếng “trở về” để tự an ủi dù đó là sự phản bội với chính mình. Lúc nào Thiềm cũng cố dằn nỗi bực bội không đâu để chỉ muốn nghe một lần thật sự “trở về”, sự ấm cúng của gia đình.
Bước chân không chủ định cũng dìu Thiềm đến nơi. Trời lạnh căm căm, những chiếc lá khô dán xuống mặt đường, ướt một lượt nước mỏng phơi bày thân xác. Thiềm chùi giày vào mảnh bao trước nhà gõ cửa đứng đợi.
– Ô, anh Thiềm, anh đến chơi, vào trong đi anh, ướt hết…
***
Con đường sắp đến khúc quanh. Hai bên bờ đê là ruộng gò bỏ hoang, cỏ mọc cao lên đến ngực, trổ bông lấm tấm. Thỉnh thoảng người ta còn nhận ra vài vuông nhà nhỏ trong bóng cây cao, mái tranh đổ xuống. Chủ nhà bỏ đi, đương nhiên trở thành lô-cốt hoặc điểm kích đêm. Phía xa giáp với chân núi là làng, suốt ngày suốt tháng chỉ còn lại những cây cối trơ ngọn, những mồ mả và nền đúc bằng xi-măng. Màu xanh cũng trở nên xám ngắt, tàn lụn rồi hòa đồng với đất núi, phải nhìn thật lâu thật kỹ mới hiểu được đó là nơi trù phú thịnh vượng một thời. Thiềm quen mắt hơn, rất hài lòng vì đã tìm được vết đen lưng chừng của một ngọn dừa đứt đôi ngọt lịm giữa tàn cây. Chỉ có chỗ duy nhất của Thiềm mới nhìn thấy được. Thiềm chọn một mô đất ngay chỗ đó làm chỗ định cư cho hai mươi bốn giờ trừ hai bữa ăn và giấc ngủ tạm bợ. Dọc hai bên bờ đê, cách khoảng độ trăm bước một người không phân biệt chủng tộc, Việt Nam, Mỹ, Đại Hàn… cũng được, ngồi đó ôm súng ngó chừng xuống mặt ruộng. Một bức tranh dị thường, một trò đùa không có tiếng cười…
… Đoàn xe bị kẹt mỗi lúc một dài thêm ở hai đầu. Mười lỗ mìn làm sạt đất xuống con lạch nhỏ trông như giao thông hào. Mặt lộ chỉ còn một nửa để đi lại. Từ tờ mờ sáng Thiềm còn thấy đoạn chót, bây giờ có chút nắng, cái đuôi của đoàn xe chắc dài không kém đoàn quân dùng làm vòng đai cho con lộ…
Hình Mạnh Hải/Flickr
Những hạt sương còn đọng cao trên ngọn cỏ, trong vắt, đong đưa theo chiều gió rồi rơi tòm xuống đất hoặc tan ra nhiều hạt nhỏ phản chiếu long lanh. Thiềm đủ thì giờ ngắm nhìn, nghiên cứu thiên nhiên. Từng cục đất, con kiến, cọng cỏ non, tính chất và công dụng không biết để làm gì. Dạo trước, Thiềm gác giặc giữ đường như thế này ở miệt Lăng Cô đi ra Huế. Ban ngày còn nhìn thấy những đoàn tàu sửa chữa đường sắt. Thiềm cố ý để mắt theo dõi cho đến lúc nó chui vào đường hầm. Một nỗi vui nhỏ nhoi nào đó trong tiếng cọ sát rập rình của bánh xe mà Thiềm nhớ thuở thanh bình xa xưa. Thiềm vẫn thích đi xe lửa như muốn đi du lịch… Ban đêm nhìn đèn điện phía Cầu Hai phía xóm nhà nối tiếp, còn thấy sự sống, còn thấy nền văn minh… Rồi sau đó Thiềm lại đổi lên đóng dọc theo đèo Hải Vân. Thiềm bắt buộc ngắm mây bay là đà, bắt buộc phải hưởng cái mát lành lạnh của gió núi. Lắm khi nhìn khách trên xe ngậm “pipe” phì phà ấm cúng, Thiềm ước ao cũng được như vậy. Những cây cầu bắc ngang qua lòng suối, những quãng đường cong queo và vực thẳm, bên này Thiềm có thể hình dung tổng quát hải cảng Đà Nẵng với thương thuyền tàu chiến và bên kia một cái đầm rộng lớn với đủ thứ lờ, lưới, đăng, đó cùng ghe thuyền đánh cá nhỏ nhoi. Thiềm tiếc hoài không có nổi một máy ảnh để ghi lại một trời lang thang… Còn ở đây bây giờ tệ quá, chỉ có cỏ may và tranh khô trên gò. Cỏ may còn cho Thiềm một cọng bông ráy tai chứ tranh khô chưa biết phải làm gì. Ban đêm u buồn hơn bao giờ hết.
… Ánh nắng càng lúc càng gay gắt. Mặt trời ngang đỉnh đầu. Cái nóng hâm hấp trong người, thái dương mồ hôi chảy thành dòng. Thật lâu rồi đoàn xe không còn nhúc nhích nữa. Có chiếc buồn quá tắt máy, có chiếc để ga-răn-ti thỉnh thoảng bực tức rú lên vài cái ồn ào nhức óc nhức tai. Một vài bà bạn hàng vấn lại lá thuốc Cẩm Lệ bập bập trên môi oang oang bàn chuyện…
– Bén nhau thì bén, đuờng xé mà có tội gì.
– Từ Đà Nẽng đi Họi Ăn mấy chục cây số mà đi từ séng đến giừ, ở nhà con khọt con le.
– Này, này, ở đèng trước làm răng chú?
Thiềm quay lại nguớc nhìn, chưa tìm được ai hỏi vớ vẩn như vậy thì tiếp theo những tiếng cuời rũ rượi:
– Hén là Đại Hèn…
Một vài tiếng súng chỉ thiên, một bàn tay lông lá, to lớn dơ lên ra hiệu lùi lại, một câu nói nộ nạt không ai biết gì..
Thiềm mỉm cười, lắc đầu. Viên đất trong tay đã đổi màu, bóng loáng. Thiềm thấy mình vô tư quá trên bao nỗi lo lắng của mọi người. Thiềm không có quyền, không đóng góp được gì ở nơi này. Chỉ cần cái thẻ có hình giống người là đủ. Tội cho những người dãi dầu mưa nắng, lem luốc một chút là bị giữ lại không cần phân trần, không cần ra đấu. Rồi quen đi, như phong tục mới của xứ đồi núi. Nhục nhã rồi cũng sẽ quen, lẽ tự nhiên. Nhìn lại từ đầu đến chân cái gì không là của ngoại quốc. Bỗng nhiên Thiềm nghĩ nhiều đến quê hương, khung trời thân yêu đó ngày nào bé thơ Thiềm đã sống và lớn lên bình thản tràn đầy yêu thương. Từ một ngôi trường mái tranh vách đất, từ một gốc phượng, từ những bờ đê ruộng vườn mênh mông. Những giây phút trầm mặc không giữ được lâu trong trí não mặc dù Thiềm mong muốn. Thiềm sợ lắm sự dày vò tâm tư, sự thất lạc lý trí. Mỗi lần như thế, như luôn luôn in trong trí nhớ. Thiềm mở bi-đông đánh ực một ngụm nước . Thiềm cố nghe tiếng nước chảy trong lòng huyết quản như đã khô cằn từ lâu.
… Trời đã về chiều, ánh nắng vàng nhạt soi mói Thiềm trong con đói lả, trong bữa ăn chực sẵn trên lều. Từng chiếc xe một lừ đừ vượt qua đều đặn, tiếng máy nổ với mọi cố gắng mệt mỏi. Một khoảng thời gian đủ để một quả bom rơi xuống trong làng nay đã thành mật khu, nghĩa địa. Những cột khói dâng cao thay cho khói cơm chiều trong tiếng phản lực cơ rền rĩ như thúc giục bóng đêm. Những khuôn mặt đăm chiêu lo ngại đường xa không tới…
Thiềm vươn vai đứng dậy trông chừng toán đi kích ra thay vừa quan sát mọi người trên xe để hi vọng tình cờ bắt gặp một người, một người Thiềm đã yêu thương mật thiết.
***
Không hiểu tại sao Thiềm phải “bay” về thành phố mà chưa bao giờ Thiềm cảm thấy thích thú. Nhưng đã đi rồi thì không về nhất là về cho đúng giờ cơm. Có lẽ nào chúng bạn chê cười Thiềm không còn chỗ đi chơi, không có mục gì mới lạ! Thiềm đơn độc, mồ côi… Hai bên vỉa hè mọi thứ bày bán lặt vặt ngốn ngang. Trên trần sạp những chiếc áo mưa hai màu, những sợi dây nịt to bản lủng la, lủng lẳng. Dưới nền bù-loong, hộp quẹt, xi-ra… Người ta nghĩ ngay đến sự lậu thuế và sự tấp nập vui vẻ của chợ trời. Thiềm ngắm nhìn, trả giá nhưng không dứt khoát được gì. Cả một thành phố náo nhiệt này không còn món nào để Thiềm chọn lựa, ưng ý.
Hình Mạnh Hải/Flickr
Những đám mây đen trôi lầm lì trong cơn gió lạnh càng lúc càng nổi lớn. Khi thành phố sắp sửa lên đèn thì trời cũng bắt đầu rớt hột. Một lớp nước lẫn cát, vàng đục đặc quánh tăng vẻ nhớp nhúa cho con lộ. Mọi người lom khom dưới mái hiên, dưới mấy tấm poncho. Các gian hàng thu dọn gấp rút. Cơn mưa càng lúc càng nặng hạt, dai dẳng. Từng cặp, từng nhóm đứng sát lại chen chúc nhìn những giọt mưa làm lỗ chỗ mặt đường. Thiềm châm lửa hút, nhìn những cô gái đứng co ro bên cạnh. Hai tay buông thõng, mặt cúi xuống mơ màng. Cố lấy tinh thần để thốt lên một lời tán gẫu, nịnh đầm nhưng rồi Thiềm vẫn yên lặng. Một ý nghĩ trên đôi môi bóng mịn trên khuôn mặt ngây thơ. Giá trời bỗng nhiên tối hẳn lại, chắc Thiềm sẽ dành một chiếc hôn tha thiết nồng nàn nhất đời trong giây phút kỳ thú này. Mưa vẫn rơi nhưng đã nhẹ hạt, và mọi người lần lượt kéo nhau ra về. Đến lúc không còn đối tượng, Thiềm mới chịu khoác áo mưa lầm lũi. Thiềm nghĩ có thể Thiềm bỏ tiền ra để ngủ một đêm nhưng thôi…
– Ồ, anh Thiềm, anh đến chơi, vào trong đi anh, ướt hết…
Thiềm cũng lấy làm lạ là hình như chỉ khi nào trời mưa Thiềm mới đến căn nhà này, nghe lại câu nói này, duy chỉ lần này là ban đêm. Thiềm cố nhắc lại một vài kỷ niệm không ra gì mà ngày xưa Thiềm và Phượng đã đi chơi với nhau như không quen. Nơi xứ lạ, gặp lại người đồng hương dù ghen ghét thù hằn cũng đễ dàng thân mật. Thiềm cố lợi dụng điểm đó để bắt tình với Phượng không là gì của nhau đã đi làm sở Mỹ, đã khá giả, tiện nghi. Phượng hỏi Thiềm đã nghĩ thế nào cho Phượng, có gì khác hơn không? Hẳn nhiên Thiềm nhận thấy ở Phượng một lối sống già dặn, từng trải. Từ xưa kia Thiềm không muốn tìm hiểu ở Phượng. Nhưng bây giờ, ngay lúc này, Thiềm bắt đầu mặt dày mày dạn, thô bạo táo gan. Thiềm tỏ tình, nửa đùa nửa thật:
– Đêm nay chắc anh phải ngủ lại đây chớ anh chẳng còn biết đi đâu. Phượng thưa với má thử xem.
Phượng trầm ngâm không nói. Một thời gian dài im lặng đủ để nghe một dãy dài tiếng cắc-kè. Đầu óc Thiềm quay cuồng một âm thanh ô nhục. Thiềm nhìn lớp nhung trên tay ghế, nhìn cái ti-vi, giải rideau rồi ngượng ngùng:
– Mà thôi, phiền quá hả, anh tìm nơi khác cũng được.
Phượng đứng lên khép cánh cửa, che bớt gió.
Thiềm cảm thấy trong người nóng bừng lên, cố mỉm cười tự nhiên như để vui vẻ kiếu từ.
– Ồ, anh ngủ lại đêm này cho vui. Phượng ở nhà có một mình. Mấy em và má Phượng đã đáp phi cơ về Cần Thơ thăm bà ngoại rồi…
Thiềm ngạc nhiên không vì lời nói của Phượng mà vì tâm hồn Thiềm đã trở nên thế nào rồi. Phượng đã đỡ lời, phá bỏ cái ngột ngạt của một sự cầu xin, nài nỉ…
Rồi một ý nghĩ một cảm giác lạ thoáng qua, Thiềm nhìn Phượng từ đầu đến chân, thèm muốn, nghi ngờ…
Em trở lại thành phố này đang độ người ta sửa soạn lễ Noël đó anh. Chuyến bay cuối cùng đem em đến, trả em về nơi mà em đã lớn lên trong niềm thương ba má. Bây giờ ba má em đã mất rồi, mất vì chiến tranh đó anh, anh đã hay chưa! Em còn gì nữa đâu, còn gì cho đời mình. Em không muốn sống trong kiếp thừa thãi. Mọi người như xa lạ. Ngày xưa còn có anh để em còn yêu, còn sống. Trở lại đây em không muốn tìm lại những gì đã mất, cái gì đã nung nấu tâm hồn em hơn mấy năm nay. Nhưng con đường này, bờ cỏ len thềm, những hàng phi lao chao gió, cùng tiếng sóng rì rào, bọt nước trắng xóa.
Biển biết bưồn không anh? Bãi cát yên lặng, phẳng lờ, im lìm muôn đời với những con dã tràng nhỏ nhoi dễ mến. Đá, có gì thay đổi đâu, cũng như tâm hồn em lúc nào cũng yêu anh. Không yêu anh sao em dám hiến dâng đời mình. Hai năm trời anh theo học ở thành phố này đã cho em một thời huy hoàng. Bây giờ là vũng tối .Em muốn cất giữ nó làm một kho tàng vô giá cho mình. Anh còn nhớ hôm đó mình ngồi thật lâu, chờ đến trăng lên, muôn vì sao lấp lánh. Em nhớ tiếng nói trầm ngâm của anh kể lại đời mình trong tuổi thơ xa nhà trọ học. Nghèo khổ, số phần đã bạc đãi anh quá nhiều. Ăn bát phở đầu tiên mà không biết là bát phở nữa phải không anh. Anh làm đủ thứ việc, thợ sơn, bồi bàn, phu lục lộ… Anh bảo là không còn một sự nhục nhã nào làm anh sờn lòng. Anh thành tên ăn cắp, anh đã vào tù khi tuổi mình chưa vị thành niên và bây giờ đã là một sĩ quan hải quân. Anh tự đốt đuốc soi sáng con đường mình đi. Anh chưa biết khóc bao giờ, rất khác với em thường hay khóc. Mà sao anh mỉm cười khi thấy em khóc chớ. Anh lúc nào cũng coi mọi chuyện tầm thường hay sao? Anh không hiểu nỗi-ưu-tư-ray-rứt đến độ giết lần mòn thể xác em sao! Có lẽ dòng máu cứng rắn, lãng bạc, giang hồ của con người hải quân, con người đã chịu đựng phong ba bão táp, còn giữ lại và thấm nhuần trong huyết quản của anh. Có phải anh là hiện thân của ba anh không? Em chưa biết ba lần nào. Em chỉ biết ba trong câu chuyện đắm tàu mà anh kể em nghe…
Ông là thủy thủ thời Tây còn cai trị xứ mình. Người An-nam làm lính trong đơn vị hải quân Pháp là đầy đủ lắm rồi, đầy đủ với chức vụ giữ và phát rượu mỗi sáng cho sĩ quan và đoàn viên trên tàu. Đó, cái thùng tôn-nô chứa rượu đã cứu ông trong bảy ngày lênh đênh trong vùng biển Địa Trung Hải khi chiếc tàu Normandie chìm xuống trong đêm tối, trong sự bốc cháy, nổ tung khủng khiếp của trận hải chiến lừng đanh. Da thịt đã cháy, đã thúi vì nắng vì gió biển để trôi dạt vào một làng đánh cá miền Bồ Đào Nha. Ông đã được chữa trị và gửi về hải quân Pháp. Nước Pháp bấy giờ là cách mạng, họ hỏi ông theo De Gaulle hay chính phủ đương kim. Theo De Gaulle thì phải trở về London. À, cái thành phố có vẻ thích hợp và mới lạ. Từ một chiếc tàu buôn cũ kỹ nhất, ông đã đưa được lên bờ với sự đón tiếp nồng hậu của hải quân, kèn trống, cờ xí đầy đường, dàn chào danh dự, và những lời hoan hô cho mỗi mình ông đơn thân độc mã không người tùy tùng. Ông cảm động, ông không ngờ, và lần đầu tiên trong đời bắt tay với một sĩ quan già hải quân thiếu tá Pháp. Đó, cuộc đời hải hồ rộng rãi mênh mông của ông chỉ bằng cái chức thượng sĩ già khi trở về Việt Nam.Những vết sẹo cháy xém đủ làm ông hãnh diện lắm rồi… Bây giờ ông còn đâu, anh chỉ gặp ông lần cuối cùng trong bóng đêm ngoại ô một thành phố xa lạ. Vì anh là đứa con rơi. Anh không muốn tiếp nối con đường của ba anh đi nhưng số phận đã an bài.
Hoàng Miên anh ơi, anh có biết em nhớ anh không? Khung trời ngày xưa đâu còn bóng dáng anh. Cũng công viên, cũng con đường ven biển, cũng những gốc bàng mà những cuộc hẹn hò, những lần giận hờn anh đang diễn ra trước mắt em đây. Em không còn khóc nữa, em đã lớn rồi. Đôi khi em nghĩ làm sao em tạo lập cuộc đời khi em là đàn bà. Những thằng trung úy, đại úy, những giáo sư, con buôn, thằng Ân, thằng Bảo, thằng Miller… đã làm em nhờm tởm cuộc đời này quá rồi. Em nhớ đến anh, đến dáng người gầy nhỏ của anh. Vẻ mặt anh không thể hiện một nét nghệ sĩ mà sao cuộc đời anh sao quá đầy đủ cho một nhà thơ. Em nhớ mãi cái câu anh trả lời khi em bảo hải quân không có những cây thịt to, cao nghệu như không quân. Anh bảo hải quân coi ốm o vậy chứ “yếu” lắm. À, sức mạnh của anh là ý chí, là kiên nhẫn phải không. Những gian truân, thất lạc đã cướp mất của anh một phần thể xác nhưng đã dâng hiến cho anh những kinh nghiệm sống khôn cùng ….
Hình Mạnh Hải/flickr
Hắn là con người lì lợm thật, dám đi song bước với tôi như một cặp tình nhân đang độ yêu nhau. Cái gương mặt rắn rỏi, cái thân xác gầy gò, cái làn da tái mét của hắn như bị gió biển sóng cồn cướp mất đi hồng huyết cầu.
– Cô về nhà?
– Tôi về nhà à! Cũng nên lắm….
Đó, hải quân tán gái đó anh. Những lời nói có vẻ thô lỗ, cục mịch làm sao như bàn tay gồ ghề, như đôi môi thâm đen vì nhựa thuốc. Hải quân ngụy trang với bộ đồ trắng, bộ đồ dạ demi-saison để bọn con gái hiểu lầm. Mà có phải hiểu lầm lắm không anh? Em yêu anh cũng vì màu áo hải quân. Hắn cũng như anh chỉ thích đi bên em và yên lặng, một sự yên lặng bề ngoài. Cái đêm cuối cùng trước khi anh trở về Sài Gòn và nụ hôn ràn rụa nước mắt làm sao em quên được hở anh. Lũ đàn ông, con trai các anh tham lam quá, tham lam đến độ không chịu bỏ rơi người mình yêu khi đã hết yêu. Nhiều đêm trong căn gác trọ em đọc lại những bức thư mà anh thỉnh thoảng gửi về cho em. Bây giờ anh ở đâu? California hay Texas? Anh là người nhái hay là kỹ sư thủy đạo gì đó hở anh. Không bao giờ anh nói cho em hiểu rõ ràng một điều gì, cho đến cái tên của những cô nhân tình của anh. Em biết tất cả và lạ gì với cái tánh bướng bỉnh của anh từ khi bỏ đệ thất hạm đội trốn về Sài Gòn, ở Duyên Đoàn làm đơn xin đổi chỗ khác vì lý do không thích hợp với đơn vị trưởng, cũng như sáu tháng trời đày ải Poulo Obi.
– Nhà cô ở đuờng gì?
– Tôi cũng không biết tên… nhưng tôi có thể mò về được.
Giọng hắn trầm hơn giọng đại-hồ-cầm nhưng tôi vẫn thích thế. Cái dáng điệu cứng nhắc của hắn có cái gì ngại ngùng và đáng thương lạ. Không hiểu tại sao bọn đàn ông hay theo đàn bà nói những câu ngớ ngẩn. Cảm tình gì với những nguời một năm không gặp lấy một lần. Hắn làm tôi buồn cuời vì tôi thấy hắn còn non choẹt, nhưng cái điệu tán gái ỡm ờ của hắn chứng tỏ rằng hắn bất lịch sự lắm chứ chẳng phải chơi. Có lẽ hắn bạo dạn. Tôi cũng đồng lõa bạo dạn như hắn, đã âm thầm bước đi. Tôi cũng không muốn xua đuổi hắn ngay bây giờ..
Anh Miên à, đôi lúc em thấy bối rối lắm rồi. Ngày tháng cứ trôi đi cũng như anh còn lang thang, lênh đênh sông hồ, rồi đây những chiều Đà Lạt, Huế, Bonard làm em thấy rùng mình trong cơn buốt giá tâm hồn. Em đã mất anh rồi hay sao? Em muốn ở mãi trong vòng tay bao dung của anh. Em muốn anh ở gần em, dù cho một phút giây nhỏ nhặt nào cũng đủ làm em mãn nguyện. Hơn hai năm trời em đã không làm nên tích sự gì với chứng chỉ dự bị khoa học. Có lẽ em sẽ học luật để thấy tâm hồn em không còn cằn cỗi, để em còn thấy lý lẽ đời mình, một lý lẽ thu hình như con ốc đang nằm yên trong vỏ. Nhiều đêm bấn loạn trong trang sách, những ý nghĩ lộn xộn trôi qua trong trí óc em. Xã hội này có suy đồi lắm không và em đã trụy lạc hay chưa. Anh đã đi rồi, đi xây dựng cuộc đời, đem tình thương trang trải khắp miền đất nước quê hương. Anh phải làm cho dân Việt ngoi lên, thoát khỏi vòng nhược tiểu. Anh đã làm gì và anh biết không ở cái thành phố nên thơ trầm lặng này đã có lính Mỹ, lính Đại Hàn, lính Úc, lính Phi, lính Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Không Quân, Hải Quân… Chiến tranh là một hiện tượng phải không? Chiến tranh đã cướp mất của em những người thân yêu, đã cướp mất của anh cuộc đời nhung lụa. Anh Miên ơi, bao giờ mình mới được vui…
– Đã đến rồi đấy à?
– Vâng, đứng đợi một chút.
Hình Mạnh Hải/flickr
Tôi vòng cửa sau vào, bật đèn, mở cửa trước. Hắn bước vào ngã mũ để trên tủ búp. Salon dầy một lóp bụi, ẩm mốc, trên bàn con còn mấy miếng mứt gừng, một gạt tàn đầy ắp. Mạng nhện nũa! Hắn lấy khăn tay trịnh trọng lót ngồi trong khi tôi tìm cây chổi lông. Hắn xoa tay lấy thuốc ra hút tự nhiên và tôi ngồi yên ngắm làn khói. Hắn mỉm cười.
– Ở một mình có cô đơn lắm không?
Tôi thấy hắn như tiếc lời, lâu lâu mới nói một câu cụt ngẵn như ra lệnh. Tôi nghĩ hắn khô khan quá hay hắn suy tư chuyện gì. Đàn ông luôn luôn mang trong mình một tâm trạng đang lo, lo đại sự, đại để như làm sao giữ được nguời mình yêu. Hắn làm tôi không ưa đuợc với cái tính thật đàn ông đó… Gió tạt vào thềm và tiếng xào xạc của những hàng cây ngoài đường. Lạnh quá! Hắn đứng dây vứt tàn thuốc rồi khép cửa. Tại sao hắn không tấn công tôi! Hắn lười biếng cũng như nhũng con thằn lằn bất động, chỉ ngó mà không buồn “đớp” mấy con muỗi. Tôi không hiểu hắn ra làm sao cả và chắc hắn cũng không hiểu tôi tí gì. Rồi hắn đến ngồi cạnh tôi, nhìn tôi thật lâu, vòng tay qua lưng tôi từ tốn:
– Anh hôn em.
Tôi không kháng cự và hắn hôn thật đúng cách. Hắn làm người tôi mềm nhũn, rã rời… Tôi xoay người gối đầu trên bệ để tay, duỗi chân đẩy hắn ra cho thoải mái:
– Hãy để tôi yên một chút!
Mắt tôi nhìn lên trần nhà lem luốc, uớt sũng nước mưa…
Cái tổ uyên ương của chúng mình ngày xưa đó anh. Mấy vỏ chai whisky, mấy cái ly còn nằm trong tủ kính, chậu hoa nylon đã bạc màu, mấy khung ảnh playboys sứt rách. Ngần ấy còn đọng lại mặc dù anh Duy đã tu bổ rất nhiều. Em không hiểu anh Duy tậu ngôi nhà này làm chi mà năm khi mười họa mới về ở một lần. Anh còn nhớ anh ấy không? Bây giờ là đại úy pilot. Ảnh có vợ rồi mà chưa bao giờ làm đám cưới. Được gần hai năm thì cô nàng bỏ đi. Tội cho anh Duy chỉ biết tìm quên trong những chuyến bay. Lẽ sống của anh Duy chỉ còn là những làn bom đốt rừng, những huy chương đầy ngực. Một lần phi cơ cháy và ghi nhận là mất tích trong trận chiến mùa mưa miền Trung. Hơn tháng sau thì mò về gặp lại em cười: “Tao mà chết trong trận đó đem xác về sẽ được ân thưởng Bảo Quốc Huân Chương”. Ngày xưa anh thân với anh Duy lắm mà. Anh Duy là con một, say nghiệp sống, còn thả mình trong dòng suối đam mê. Cũng như anh đi mà không bao giờ trở lại.
Em vẫn muốn sống một mình để còn yêu anh. Nhưng em có giữ được anh đâu. Đời anh là những chuyến đi dài nối tiếp. Anh còn nghĩ rằng “hải quân lấy vợ là nuôi con hàng xóm thà để hàng xóm nuôi con mình”nữa hay không. Anh quá lắm. Anh không có vẻ đẹp trai, gầy nhom, mắt sâu, màu da đen thui, dáng lêu nghêu như người nghiện mà sao được nhiều người thương. Em vẫn thích vẫn hãnh diện vì anh.
Tại sao hải quân mười hai bến nước mười ba bến tình mới sống nổi hả anh? Căn nhà này giờ đây buồn tẻ, đâu còn vẻ ấm cúng thuở mình sống bên nhau như vợ chồng. Những đêm anh đi chơi về khuya mưa ướt cả áo. Anh lại uống rượu nữa. Anh làm em lo. Em xoa dầu cho anh. Anh ngủ thật say và lúc nào cũng nằm sấp, đầu nghẻo sang một bên… Anh Miên ơi, đó là giấc mơ của chúng mình phải không anh. Nhiều đêm em thao thức nhìn bóng đêm, em nghĩ như anh còn bên em, em khẽ gọi: “Miên ơi, anh đâu…”
Hắn dí tàn thuốc, khẽ đứng dậy sửa lại nếp áo:
– Thôi tôi đi, tôi sẽ trở lại thăm. À, tên gì nhỉ?
Rồi hắn vạch tay xem đồng hồ. Hắn cũng giống anh ngày xưa mỗi bận đi bờ.
– Mấy giờ vào trại? Tôi tên Thùy.
Hắn gật gật đầu rồi lững thững quay đi.
Hình Mạnh Hải/Flickr
Ở hắn có gì hao hao giống anh. Cái miệng như muốn nhếch mép cười khinh đời. Em bắt đầu so sánh rồi đó, một sự so sánh khách quan. Hắn sau anh năm khóa. Em có thể yêu hắn không? Tại sao hắn không ở lại đây đêm nay. Một sự mơn trớn, dễ dàng. Hắn muốn giữ kỷ luật. Là sinh viên sĩ quan mà không nhảy rào, không ở tù thì không phải là sinh viên sĩ quan đúng nghĩa phải không anh? Lại một khóa nữa. Các anh mỗi năm một lần đem sóng gió về cho thành phố này, cho những bông hoa miền duyên hải luôn luôn dành những cảm tình tha thiết nhất cho lính tàu. Từ ngày em yêu anh, những chuyến xe lam về quân trường trở nên quen thuộc. Cổng, điếm canh, phòng điều hành cũng như lối về câu lạc bộ trong những đêm dạ vũ vẫn còn là những hình ảnh thật sống trong tim em. Biết rằng kẻ nào tiếc nuối dĩ vãng vàng son, mơ ước một tương lai rực rỡ, mà không sống cho hiện tại thì rốt cuộc cũng không nên chuyện gì. Nhưng em biết làm sao hơn. Em không muốn bắt đầu lại chọ một mối tình với những đón đưa thương nhớ. Tất cả dừng chân qui tụ vào một điểm cuối cùng như celestial point kinh dị trong chuyến về Guam của anh, mênh mông trong vòm trời này như bể cả, đại dương. Em không còn lộ trình cho chiến đĩnh. Con đường tiếp nối cũng không khác gì con đường đã qua, sẽ là sóng gió bão bùng, sẽ là chịu đựng. Con đường tình yêu đã là lối mòn trong tâm tưởng của em, của anh, của tất cả mọi người.
Em cầu nguyện cho chúng mình được bình an mùa Giáng Sinh năm này. Em không mong gì những tội lỗi, đam mê, trơ trẽn của mình được rửa. Em sẽ không ở đây một ngày nào. Em đi…
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.