baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Tấn Hưng
Posted on January 26, 2022 by Lê Thy
Post by Sơn râu 25 Apr 2024

Những Ngày…
Tôi đánh thót bụng một cái, chiếc C130 lao vào không gian nặng nề. Tôi nhìn lại mọi người trong tàu, những người đã cùng tôi sốt ruột trong khi chờ đợi chuyến bay. Một trăm hành khách, mười lăm Mỹ, mười lăm Đại Hàn, còn bảy mươi là Việt Nam. Sĩ quan cũng như lính ngồi bẹp xuống sàn nhôm thành hàng. Những “‘sac marin, Air France, Boeing International” bỗng nhiên thành ghế dựa. Ánh sáng chui vào lỗ kính tròn yếu ớt. Trên trần vải nylon những đường dây điện chằng chịt. Ống thả hơi lạnh tuôn không ngớt những làn sương trắng, không làm giảm nhiệt độ trong người. Mồ hôi nhỏ giọt. Người đàn bà thả hai chân gác lên thành vali vạch vú cho con bú. Bên cạnh, người lính có lẽ là chồng mở mắt nhìn đứa con còn đỏ hỏn. Người lính Mỹ giữ sàn sau đẩy lệch cái téléphone mang vòng ngang đầu, đưa điếu thuốc vào miệng, châm lửa. Mọi người im lặng. Tiếng động cơ rì rầm ru ngủ…
*
– Chết cha, anh Tân chết rồi Sáu ơi.
Tôi vừa lẩm nhẩm đọc cái điện tín vừa cởi bỏ bộ đồ Thái Cực Đạo. Sáu tần ngần và tôi cũng ngẩn ngơ. Một người bạn thiết, một người anh. Những dòng chữ thật gọn: “Anh Tư chết tại Sa Đéc, Nguyễn thị Anh”.
– Mày xin phép về coi, sao kỳ cục vây..
Tôi vụt nhớ đến lời của thiếu tá giám đốc quân huấn: “Lúc này các anh đi phép hơi nhiều. Chỗ nào mà không bom đạn, nhà tôi cũng trong vùng chiến tranh mà tôi có về đâu”.
– Mày chớ tao, không cho phép tao cũng trốn về.
Cho đến lúc cầm giấy phép trên tay tôi vẫn còn phân vân. Ngày thi mãn khóa đã gần mình mất bài vở và lắm ngày tù tội còn ghi trong sổ phạt. Liệu mình có được như bạn bè. Không lẽ anh Tân chết thật? Mà chị Anh đánh điện tín thì bao giờ lại sai chạy. Tôi còn hi vọng, dù chỉ còn một phần ngàn đi nữa, tôi vẫn muốn anh Tân còn sống, ảnh sẽ đón tôi ở cổng nhà và nhìn tôi cười ha hả. Một đám cuới hay một bữa tiệc bù cho cái điện tín giả. Suốt cả ngày qua tôi mệt mỏi. Bài thiên văn hàng hải tôi có nghe đưọc chữ nào suốt hai giờ trong giảng đường. Từ bộ chỉ huy Vùng Hai Duyên Hải đến bộ chỉ huy 5 Tiếp Vận, từ đại úy Hảo đến người hạ sĩ, từ ụ cát có ổ súng trung liên đến ngưòi bộ binh cầm súng chào, từ HQ 07 đến US Navy, từ emergency đến leave… chạy loạn cả lên trong đầu óc, trong bước chân, trong những chuyên xe quá giang… Rồi trạm tiếp liên nhớp nhúa…
– John Smith.
– Hia.
– Clark.
– Hua.
… Rồi một tràng tiếng Đại Hàn trong máy phóng thanh. Tất cả đều nhốn nháo. Snack-bar bị đại đội Biệt Động Quân về Pleiku giành nhau mua nước ngọt, bánh mì. Nguời trung sĩ quân cảnh xô bọn lính ra xa và đóng rầm cánh cửa sổ:
– Các anh xếp thành hàng hai nghe rõ chưa.
– Trưởng toán hướng dẫn Biệt Động Quân yêu cầu gặp phòng điều hành có việc cần.
– Hành khách đi Sài Gòn nghe đọc tên lên tàu…
Ánh nắng chiều chiếu xéo vào khung của in một vệt cắt trên nền xi măng. Trời bốc lửa…
– Thiếu úy đi phép?
– Vâng, anh ở bờ hay chiến hạm?
– Dạ, tôi ở Đà Nẵng, đổi về Sài Gòn. Tới Nha Trang buồn quá tôi tắm biển hai ngày. Hôm qua chờ ở đây trọn một ngày, mấy chiếc cất cánh rồi đáp trở lại, bữa nay là bốn ngày trễ phép. Thiếu úy ở Vùng Hai?
– Không, tôi ở Trung Tâm.
– Thiếu úy có tên chưa?
– Chắc chuyến tới.
– Đến chiều lận, tôi cũng vậy, mình thuộc thành phần stand-by đi ké tụi Mỹ, mệt lắm.
– Vậy hả, anh đi thuờng không?
– Nhiều lần rồi…

Hình minh họa / Nguồn: Google
Người lính Mỹ lục đục kéo cánh cửa sổ cong lên trần. Gió tạt vào phần phật, tiếng động cơ nổ dòn hơn. Đôi người bò lại gần, nhìn xuống đất. Một vài người lính vừa chợt tỉnh, ngơ ngác đưa mắt quan sát vòng quanh rồi buông mình nằm trở lại. Tôi tiếp tục dựa đầu vào lưng thằng Mỹ, cái lưng dài và cong…
Trời Sài Gòn đầy bụi, một lớp đỏ bám trên áo và kính mát. Những con đường thành phố, những khoảng đất trông xen kẽ với những căn nhà lỗ chỗ đạn bom. Nước mưa kẻ những đường to, những vết cháy, thành lem luốc. Tôi ghé lại nhà. Chị về quê và anh cấm trại. Dưới sàn gạch, những đứa nhỏ xa lạ nằm lăn ra ngủ. Một bà già tóc bạc hết nửa nhìn tôi ngần ngại.
– Tôi lãng tai, cậu nói lớn mới nghe được.
– Cháu là em vợ anh Khai.
– Vậy hả. Nhà tôi ở khu Bình Tiên cháy rồi tản cư ra đây. Bây giờ đi Nha Trang hả?
– Không, ở ngoải mới về, bây giờ đi về nhà dưới tỉnh.
Tôi thay đồ, ra nhà sau múc vội vài lon nước xối lên người cho đỡ nóng, dở garde-manger xới một dĩa cơm, chút thịt kho tàu và mấy cọng cải ngâm dấm ăn qua loa. Tôi mặc đồ civil và xếp lại mấy giấy tờ cần thiết. Tôi tạt qua nhà Thu.
– Trời ơi, làm sao anh về được. Anh có hay tin gì ở nhà chưa?
– Rồi.
– Anh Tư chết, đụng trận.
– Chết thiệt hả?
– Trời, thiệt chứ sao.
Tôi cảm thấy buồn và khuôn mặt người yêu trở nên đáng ghét. Một chút hi vọng đã tiêu tan. Tôi tưởng tượng đến nấm mộ và những vòng khăn tang. Thật như vậy rồi.
– Ngày mai nghỉ học, em xuống thăm.
– Thôi, mất công lắm, anh về thăm mộ một chút rồi anh đi liền, bữa nay chắc đã chôn cất.
– Mở cửa mả hôm qua.
Tôi đứng đậy kiếu từ. Thu đưa tôi ra cổng… Nắng đã tắt, bến xe đò vắng, bến xe lô cũng vắng. Đường đi chắc còn kẹt, tôi đi lần về phía chợ định ngủ nhờ. Tôi không hiểu tôi đang nghĩ gì, buồn quá phải không. Như thế này là đau khổ? Thật tình tôi không muốn về. Hai anh em trai chết đi một, liệu ba má tôi nghĩ làm sao khi gặp lại tôi, người con từ phương xa trở về thăm cái chết của anh. Tôi nghĩ đến ngôi nhà, tôi nghĩ đến đám tang, bàn thờ và những nén hương. Tôi đi trong hoàng hôn và những bước chân không chủ ý.
– Gì mà chạy hớt ha, hớt hải vậy cha nội!
– Pháo kích.
– Nghe xa mà.
– Người ta chạy tán loạn kia kìa, không thấy sao…
– Bậy, cảnh sát rượt thằng nhỏ móc túi, pháo kích đâu mà ở chợ búa…
Tôi rẽ vào ngõ hẹp, nhà cất san sát chênh vênh. Những căn gác, những sợi kẽm giăng phơi đồ, những thùng tôn-nô chứa nước… Một ngày đường mình đã đi tới đâu?
*
Tôi đốt ba nén hương cắm vào lư. Mùi hoa huệ phảng phất. Tôi nhìn khung hình, vòng hoa cườm có chữ “Thành Thật Phân Ưu” Trong đĩa mica còn đựng cái huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, cái bông mai bằng thau còn mới tinh và chữ Trung Đoàn 15. Hưởng dương nhị thập thất tuế. Phục vị vọng Nguyễn văn Tân hiển linh chánh vị thần chủ. Tử ư sơ bát nhật ngũ ngoạt mậu thân niên. Tôi chớp mắt, giữ lại những giọt nước mắt trong rèm mi, chực lăn xuống má. Tôi đứng như vậy thật lâu, nghĩ rằng linh hồn anh hãy về chứng chiếu cho em…

Hình minh họa / Nguồn: Google
– Đạn AR 15 đi từ trán trở ra sau ót.
– Việt Cộng làm gì có AR.
– Sao lại không.
– Chết hồi nào đâu, bị thương nặng đưa về Cần Thơ mà.
– Mày nói, chính tao bồng ổng lên phi cơ, môi mấp máy như muốn trối điều gì, mười phút sau thì chết, máu trào ra miệng…
– Số quân 63A sáu trăm ba chục ngàn thì đúng là của ổng rồi.
– Bảy người chết, có ổng là sĩ quan thôi. Cái hòm cao lớn đó. Còn nhận được cây đàn, cái radio, đồng hồ…
– Bà đừng đốt nhang khóc lóc nhiều quá, mấy cái hòm kia bung nắp thì nguy…
– Mười ngàn mướn xe đưa ảnh từ bển về đó chú.
– Về tới nhà má biểu gỡ lá cờ, huy chương đem cất liền.
– Mấy thằng Việt Cộng hay được chận đường không cho người ta đi thăm.
– Họ cũng trốn đi, mấy người thợ làm cho ba mình ngoài xóm.
– Má thì sợ…
– Tủi lắm em ơi, người ta nói là chết bắn không cho đem vô nhà, để mái hiên hay nhà cầu. Chị nói mãi ba mới cho đem đặt ở nhà trên. Bàn thờ chị mới cho kê chứ ba má để trống trơn.
– Đem về tới nhà ba giờ chiều, mười giờ sáng hôm sau thì chôn, không có lễ nhạc, buồn lắm, bảy tám người khiêng thụt ra xe lam chở lên huyệt, chị Tư mày với cháu Thanh ngồi theo.
– Bây giờ yên mồ yên mả rồi chị cũng mừng cho nó. Ba má buồn rồi chẳng ai lo. Ba cứ nằm trong buồng thỉnh thoảng khóc thét lên: “Con ơi, anh con không còn, ba cũng… không còn”. Ba nhắc tên em.
Ban đêm tôi về quận không dám ở nhà. Dân cư chạy loạn ở đến ba bốn chục người tối nào cũng xem ti-vi náo động. Tôi không làm sao ngủ được. Cái chết của một sĩ quan uất hận đến thế sao! Tôi nghĩ đến những thằng du kích có lẽ là những thằng đã từng đá banh ngoài ruộng với anh Tân và tôi hồi nhỏ. Tôi nghĩ đến những thằng lính đồn, những thằng địa phương cùng học với tôi hồi tiểu học. Bọn nó còn giằ đình, tụi nó, một theo lính một theo cộng sản cho ba má được sống yên ổn. Chỉ có chúng tôi xa nhà từ bỏ bỏ làng ra đi. Bây giờ ngày chết trở về mọi người bỏ rơi chăng ? Có ai mà nói lý tưởng ở những miền quê thâm sâu này. Ban ngày, tôi về, những người khách đến chia buồn ai mà tôi không quen, những người đã có con chết vì mặt trận, chết vì quốc gia. Những vùng giao tiếp như vầy người dân phải chịu khổ hai mặt. Họ hỏi thăm bây giờ tôi đóng ở đâu. Tôi muốn nói tôi ở một đơn vị tác chiến hơn là ở quân trường. Tôi muốn bây giờ tôi là một chiến sĩ thực sự đang cầm súng chiến đấu. Bọn lính giữ đồn nhìn tôi trong bộ quân phục xa lạ. Những con mắt quan sát dòm ngó nhưng tôi cũng hiểu “cọp nào rừng nấy”, tôi chỉ là con số không của chiến trận trên vùng đất quê hương tôi.
– Ảnh đã lãnh lương chuẩn úy chưa? – Chưa nữa đó, còn lãnh trung sĩ, tháng này định lãnh rappelle xong, mua xe honda để những ngày về hậu cứ ảnh đi về nhà cho tiện, chưa mua xong thì ảnh đã chết rồi. Mới tuần trước đây ảnh dù về nói là đau bao tử, thấy khoai lang củ nho nhỏ thèm không đám ăn. Ảnh cũng định xin về bịnh viện Dã Chiến 3 nằm nghỉ, nhưng hồi ảnh về bên ấy buồn vui gì đó với đơn vị trưởng nên cũng đi hành quân sau khi ở xong mấy ngày tù. Đi trận rồi ảnh chết luôn. Trước đó ảnh bị thương nhẹ ở tay. Phải chi nó cụt chở về nằm bệnh viện thì đâu có chết. Ảnh còn xui tháng năm này, nếu qua khỏi thì không còn gì nữa. Tôi nói ảnh lo về văn phòng đi, tiếc mấy chục ngàn rồi thì chết mà ảnh không chịu. Bây giờ không còn thấy mặt, con Thanh như vầy mà đã mất cha rồi…

Hình minh họa / Nguồn: Google
Tôi ở lại ba ngày, đến cúng cửu. Thật trống vắng. Trưa nào tôi cũng ra ngoài quận uống bia. Tôi bắt chước má tôi, mỗi bữa ăn để sẵn chén cơm đôi đũa, Tân về ăn cơm con, và tôi nghĩ như có anh ngồi đối diện. Tôi nhớ những lần hai đứa gặp nhau vội vã, khi cả hai cùng khoác áo chiến. Tôi đi trước, anh đi sau, anh chết trước và tôi sẽ chết sau, chúng ta là những lượn sóng vỗ bờ. Tôi bỗng nhiên căm thù cộng sản. Tôi nguyện trả thù. Tôi sẽ bắn vào đầu Việt Cộng. Ngày đi ba má tôi dặn dò đủ điều. Bây giờ còn lại mình con, con rán giữ gìn. Tôi ghé lại mộ anh. Tôi chào anh lần cuối. Tôi chào lần đầu tiên với một ý nghĩ vị quốc. Tôi không hiểu linh hồn anh đang đi lên thiên đường hay xuống địa ngục.
*
Tôi trở lại quân trường và đêm nay mưa nhiều quá. Tôi thu mình trong chăn ấm cô đơn. Từ lâu, lúc anh Tân còn sống, tôi vui cho tôi bằng những mối tình, rượu chè cờ bạc. Những gì gọi là bổn phận tôi đổ dồn về anh. Anh càng lo gia đình, tôi càng tiêu pha…
– Như vậy là nó tròn chữ hiếu với tao và má mày. Không hiểu với lương trung sĩ mà mỗi tháng nó gửi tiền về nhà thì làm sao mà xài. Ba nghĩ lại ba còn khổ thêm.
Tôi cầm tiền mà má đưa cho tôi trang trải nợ nần mà không còn biết nghĩ thế nào. Thư anh cho tôi:
“… còn mày thì sao. Bao giờ ra trường, có được xuất ngoại tu nghiệp không, chắc không chớ gì. Tù nhiều quá làm sao đi được. Dịp may trong đời mày mà mày không muốn thì tao không biết mày nghĩ thế nào. Tao tiếc cho mày lắm đó. Ít hàng cho mày. Tao nói với mày như vậy, mày có buồn tao thì buồn…
Anh mày “.
Vâng, có lẽ tôi đã đánh mất dịp may trong đời tôi rồi chăng? Ở đây tôi mưu đồ cái gì, ngoài cái lon thiếu úy chớ. Tôi đã mang vào đời tôi một ý nghĩ đen tối lắm không? Okinawa và đệ thất hạm đội! Cuộc đời tôi phải chăng được quyết định không do chính tôi mà đo một nhóm người nào. Tôi bỗng nhớ anh Tân nhiều quá. Lúc nào chỉ hai đứa thôi còn đi học, một viên gạch ném trúng vào đầu tôi, máu chảy, vì thau chén ăn năm bảy ngày còn ngâm. Một mâm cháo nóng hất trọn vào người tôi vì tôi nói anh khờ với bạn bè. Ngày nào tôi vác cây củi rượt anh băng qua cây cầu dừa để lấy lại chùm mận ngon. Ngày nào tôi với anh ngồi bên lộ đá câu cá rô về làm cơm…
– Mày chiên trứng kiến nhiều sáp quá, mồi móc thả xuống nước không chìm. Mai tao làm cho mày coi.
Và tôi nhớ dáng người lom khom đi tìm tôi trong đêm diễn hành lễ Quốc Khánh 67. Mình cùng đi cho đất nước thanh bình, mình cùng đi cho đời trai… Tôi bỗng gọi tên anh, gọi tên anh thì thầm… Tôi ngửa mắt nhìn bóng đêm. Những giọt lệ lăn dài xuống thái dương.
Những ngày… phép đặc ân đã qua và nửa đời còn lại anh đành cho tôi. Tôi sẽ làm gì cho ba má tôi, cho các em tôi. Tôi sẽ biên thư về cho gia đình, cho Thu, cho Hồng, và những bức thư cuối cùng của tôi mà anh không bao giờ đọc. “Hoàn lại nơi gửi, vì đương sự đã tử trận”. Tám trang giấy học trò tôi đã viết gì trong hai giờ Hải Pháo. Sao bỗng nhiên tôi viết lại tên tám anh chị em tôi. Sao tôi viết tên anh những hai lần để đọc lại tôi phải gạch bỏ đi một nửa. Phải chăng anh đã mang đến cho tôi một điềm lạ cũng như anh báo mộng mọi người với khuôn mặt máu me.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.