This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Trong Chương 31 Hara viết về mối lo âu trước phương thức Skip-Bombing hay Low Level Bombing của Hoa Kỳ. Là cách ném bom xuống các chiến hạm tựa trên lực ma-sát của mặt biển. Các oanh tạc cơ B25 Mitchell bay với vận tốc chậm 320 km/g, sà thấp còn 60 thước và khi cách mục tiêu 200 thước thì thả bom. Sức va chạm với mặt nước khiến bom gài tính năng nổ chậm 5 giây sẽ tung ngược lên và “phóng” vào lườn tàu Nhật theo hướng lao của máy bay. Phía Nhật gọi “Bom nhảy”.
Đến Chương 44, Hara tìm ra cách đối phó. Hơn một lần, khu trục hạm Shigure (Mưa Phùn) đi vào huyền thoại. [Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương 44
Chúng tôi nhanh chóng tiến ra mặt biển bao la. Một ngày tràn ngập ánh nắng, đại dương lặng sóng. Cảnh sắc vui tươi, không khí như đổi mới trên chiếc tàu, chẳng khác nào một chuyến rong chơi mùa hạ. Tôi mơ màng nhớ đến những nhiệm vụ và hàng loạt hải xuất mà tôi đã thực hiện trong thời gian ở Rabaul vừa qua. Tôi cũng nhớ lại khi đặt chân đến Truk vào ngày 21 tháng 3, và qua cuộc hội kiến Ðô đốc Kondo, tôi được biết chúng tôi đang đối diện với nhiều vấn đề khó khăn. Hai trong số những vấn đề chính yếu nhứt là các pháo khẩu có trang bị radar và chiến thuật oanh tạc nhảy của đối phương.
Tôi tạm hài lòng với vấn đề đầu tiên, vì xem như tôi đã tìm được phương pháp chống trả hỏa lực có radar điều khiển trên các chiến hạm địch. Shigure là chiếc tàu không thiệt mất một thủy thủ nào. Vấn đề thứ hai là làm cách nào để đối phó với chiến thuật oanh tạc nhảy thì tôi đành bó tay. Nhiều lần chiếc Shigure chống trả với địch, nhưng không lần nào chúng tôi được nhìn thấy tận mắt chiến thuật oanh tạc nhảy này được các phi công Mỹ áp dụng.
Hoàng hôn. Chúng tôi vẫn chạy dọc theo bờ biển phía Ðông-Nam New Ireland. Phải mất nhiều giờ chúng tôi mới vượt qua đoạn hải trình 250 dặm, vì tốc độ của các hải vận hạm rất chậm chạp, chỉ đạt đến 12 hải lý. Thời tiết quang đãng. Dưới hàng vạn tinh tú chiếu lấp lánh trên bầu trời, chúng tôi tiến vào eo biển Isabel, và khi 3 chiếc tàu xoay về hướng chính Ðông để chạy đến Kavieng, phòng truyền tin báo cáo đã nghe được các công điện mã hóa được đánh đi gần đâu đây. Ðiều này chứng tỏ phi cơ địch đang hoạt động trong khu vực phụ cận chúng tôi. Như vậy là “kỳ nghỉ hè trên mặt biển” đã bị phá đám. Tôi nhớ lại lần tăng tốc độ khẩn cấp từ 12 hải lý lên 28 hải lý để tránh né một chiếc oanh tạc cơ tấn công trước đây. Hiện tại, chiếc Shigure với máy móc đã rệu rạo, không thể nào làm như vậy một lần nữa. Vả lại, lúc đó chiếc tàu chỉ tự bảo vệ lấy thân, còn bây giờ nó phải bảo vệ thêm 2 hải vận hạm.
Tôi cho tăng tốc độ lên 18 hải lý, và ra lịnh tạo một màn khói bao che 2 hải vận hạm trong lúc mọi quan sát viên đều phải dõi mắt lên trời. Hai hải vận hạm chạy chầm chậm về hướng Tây với tốc độ tối đa 16 hải lý. Tôi ra lịnh cho Shigure gia tăng tốc lực thêm nữa, và chạy theo hình chữ chi xuyên qua xuyên lại giữa 2 chiếc tàu chạy chậm như rùa bò, thoạt ẩn thoạt hiện trong màn khói dày đặc.
Một quan sát viên thình lình lớn tiếng cho biết 2 phi cơ xuất hiện ở mạn phải, hướng 50 độ. Tôi đã nhìn thấy chúng. Ðó là 2 oanh tạc cơ, đang bay thẳng đến chiếc Shigure. Tôi nghĩ chắc phi cơ địch sẽ không tấn công vào 2 tàu chuyển vận. Cả 2 chiếc phi cơ thình lình đổi hướng, đảo ngang, bay chiếc trước chiếc sau, ngược chiều với Shigure và mất hút về phía sau bánh lái. Lúc tôi còn đang tự hỏi không hiểu đối phương định làm gì, quan sát viên đã la to: “Phi cơ địch quay lại bên mạn trái!”
Bây giờ cả 2 phi cơ sà thực thấp và đâm thẳng vào hông chiếc tàu. Tôi hiểu ngay là chiến thuật oanh tạc nhảy sắp được áp dụng. Cuối cùng, tôi cũng đối mặt với vấn đề không giải đáp nổi. Trong tình cảnh khẩn cấp này, một giải pháp bỗng nhiên lóe sáng trong tâm trí tôi, tôi hét thực to: “Tất cả cao xạ chuẩn bị khai hỏa ở hướng 150 độ mạn trái!”
Và xoay qua Ðại úy Tsukihara, hoa tiêu trưởng, tôi nói: “Không chạy theo hình chữ chi. Chúng ta tiếp tục chạy thẳng.”
Kinh ngạc, Tsukihara ấp úng hỏi: “Cái gì… cái gì? Thưa Ðại tá, chúng ta không né tránh?”
“Hãy thi hành mệnh lịnh, tôi sẽ giải thích sau.”
Chiếc Shigure đã gia tăng tốc độ gần 30 hải lý. Hai phi cơ chỉ còn cách một vài trăm mét. Tôi ra lịnh khai hỏa. Một màn hỏa lực căng ra dày đặc. Các trọng liên và đại bác phòng không giăng lên trời một tấm lưới lửa. Giữa tiếng nổ đinh tai nhức óc, tôi nghe tiếng hỏi to của Tsukihara: “Chúng ta vẫn chạy thẳng?”
Giây phút hiện tại chỉ còn một trong hai lối để chọn lựa, là giết địch hoặc bị địch giết, không thể nào giải thích rõ cách chống trả cấp thời phát sinh trong trí tôi cho anh ta hiểu. Tôi chỉ đáp hai tiếng cộc lốc: “Chạy thẳng!”
Bây giờ, nhiều năm sau cuộc chống trả đáng ghi nhớ này, phương pháp oanh tạc nhảy không có gì khó giải thích: Các phi cơ địch tiến sát đến chiếc tàu, ở một khoảng cách tối thiểu, ở cao độ cực thấp rồi phóng bom. Lực ma-sát của mặt biển sẽ làm quả bom tung lên chiếc tàu. Trước đây, lối né tránh thông thường của một chiếc tàu khi bị phi cơ tấn công bằng bom là chạy theo hình chữ chi, càng ngặt càng tốt. Nhưng chạy theo hình chữ chi khiến cho tốc độ của chiếc tàu có những khoảng chậm lại, và các oanh tạc cơ sẽ canh đúng khoảng chậm này để cắt bom. Tôi đã suy nghĩ hiện thời guồng lái và tay lái của chiếc Shigure không chính xác, không chạy theo hình chữ chi chẳng những khiến cho tốc độ của tàu nhanh hơn, mà còn khiến cho sự lượng định oanh tạc của phi cơ địch trở nên khó khăn hơn. Chạy thẳng còn có một lợi ích khác là các súng cao xạ trên chiếc tàu sẽ bắn chính xác hơn.
Với hai tiếng rít đinh tai nhức óc. Hai oanh tạc cơ lướt ngang qua các pháo tháp từ mạn trái sang mạn phải. Hai quả bom rơi xuống và nhảy vọt đến, nhưng chiếc tàu đã lướt qua được khoảng 7, 8 mét nên không trúng. Lúc đó, chiếc Shigure đã chạy hết tốc lực. Bom nổ, hai cột nước tung cao, đổ ụp xuống đài chỉ huy. Chiếc Shigure rung rinh nhưng không hề hấn. Phi cơ địch xuyên qua tấm màn hỏa lực dày đặc và bay thẳng về hướng Nam.
Năm phút căng thẳng trôi qua. Phi cơ địch mất dạng hẳn. Sau đó, phòng truyền tin báo cáo: “Máy bay địch đang báo cáo thẳng qua vô tuyến. Không ngụy thoại.”
Chuẩn úy Hiroshi Chosa, chuyên viên Anh ngữ của chúng tôi, nhảy dựng lên và nói: “Ðược rồi, để tôi xuống nghe xem mấy em bé này nói cái gì.” Anh ta rời khỏi đài chỉ huy, một hai phút sau Chosa cho biết qua ống nói: “Một phi cơ địch báo cáo các hệ thống kiểm soát bị hư hại và cho vị trí bằng mật mã. Một phi cơ khác cho biết cánh trái bị trúng đạn và đang đáp xuống mặt biển.”
Mọi người trên đài chỉ huy đều hớn hở. Tsukihara, lộ vẻ lo lắng tột độ trước đó, bây giờ nhảy nhót như trẻ con.
Chosa tiếp tục: “Căn cứ của địch hồi đáp rằng một chiếc thủy phi cơ sẽ được phái đến để giải cứu những phi công lâm nạn. Tọa độ không thể nào mò ra, vì đều được cho bằng những con số khó hiểu. Hãy chờ… À, bây giờ các phi công Mỹ nói cảm ơn và cho biết đang đáp xuống nước.”
Trên đài chỉ huy tất cả các sỹ quan và nhân viên đồng loạt vỗ tay reo hò. Tôi thở dài nhẹ nhõm. Tôi không bao giờ nghĩ phương thức chống trả oanh tạc nhảy mới mẻ của tôi lại công hiệu đến mức ấy. Chiếc Shigure giảm tốc độ và hợp đoàn với 2 dương vận hạm. Chúng tôi lại tiếp tục “cuộc dạo chơi trên mặt biển” hướng về Kavieng. Sau khi 2 chuyển vận hạm xuống hàng, không còn nhiệm vụ nào khác ở đây.
Vào sáng ngày 8 tháng 11, chúng tôi khởi hành về Truk. “Cuộc dạo chơi” lại bị phá đám một lần nữa vì máy sonar chống tàu ngầm trang bị cho chiếc tàu bỗng dưng ngưng hoạt động. Các chuyên viên kỹ thuật của chúng tôi sửa chữa suốt ngày nhưng cũng không thể nào làm cho chiếc máy hồi sinh. Theo tin tức, tàu ngầm địch thường lảng vảng trong vùng biển này, do đó máy sonar bị hư là cả một vấn đề. Làm cách nào chiếc khu trục hạm câm điếc này hy vọng bảo vệ hữu hiệu 2 hải vận hạm chạy như rùa bò suốt một hải trình 3 ngày nữa? Các tàu ngầm địch chắc chắn sẽ được tung ra tìm kiếm chúng tôi để phục thù cho 2 phi cơ bị bắn hạ.
Tôi ra lịnh cho tất cả thủy thủ phụ trách mìn chìm chuẩn bị đối phó với mọi trường hợp bất ngờ. Tôi cũng ra lịnh cho 2 hải vận hạm chạy cách xa chúng tôi 1,500m. Shigure chạy bên phải 2 chuyển vận hạm này. “Cuộc dạo chơi trên mặt biển” trở nên căng thẳng.
Suốt ngày hôm đó không có gì xảy ra. Ngày hôm sau cũng yên tĩnh. Thủy thủ của tôi mệt nhừ sau 2 ngày trực chiến. Nếu sự yên tĩnh này kéo dài thêm một ngày nữa, chúng tôi sẽ tiến vào Truk an toàn.
Suốt buổi sáng kế, tôi ra lịnh chuẩn bị các hoạt động chống tàu ngầm ráo riết hơn, vì thời tiết xấu, bầu trời đầy mây và biển gợn sóng. Lúc 11g30, tôi cho giải tỏa các hoạt động này. Ngay khi các thủy thủ nằm dài trên sàn tàu để nghỉ ngơi, tôi nhìn thấy một quả ngư lôi xé nước lướt ngang qua phía trước mũi chiếc Shigure, từ mạn phải qua mạn trái. Thay vì phản ứng cấp thời, tôi đã đứng lặng nhiều giây để nhìn theo quả ngư lôi hướng về chuyển vận hạm Tokyo Maru, bây giờ chạy hơi chếch về phía trái, cách trước mũi chiếc Shigure khoảng 700m. Tiếng nổ gây náo loạn trên chiếc Shigure và lôi tôi trở về thực tế. Tôi ra lịnh cho chiếc tàu đạt tốc độ chiến đấu 24 hải lý, các thủy thủ phụ trách mìn chìm chờ đợi, và xoay hướng tiến về phía quả ngư lôi xuất phát. Sau đó, chúng tôi thả 6 khối mìn chìm, nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy đã đạt kết quả.
Tàu ngầm địch đã bay cao xa chạy. Không có gì đáng ngạc nhiên, tôi nghĩ, với một hạm trưởng giỏi thì một quả ngư lôi cũng đủ để ghi điểm. Tôi đứng chôn chân và phẫn nộ trên đài chỉ huy. Phản ứng chậm của tôi khiến cho chiếc tàu ngầm chạy thoát. Chiếc Shigure vẫn tiếp tục chạy vòng quanh 2 hải vận hạm, nhưng chiếc tàu ngầm không quay lại để tung đòn dứt điểm. Hải vận hạm Tokyo Maru không bốc cháy, chỉ có phòng máy bị nước tràn vào thông qua lỗ thủng do quả ngư lôi gây ra. Chiếc tàu còn nổi nhưng hoàn toàn bất động. Hải vận hạm thứ hai Ontakesan Maru, kéo đồng bạn phía sau, và một lần nữa, chúng tôi hướng về Truk, với tốc độ 7 hải lý.
Trong lúc đang di chuyển, chiếc Tokyo Maru bỗng dưng gia tăng độ nghiêng nhanh chóng. Sau 8 giờ, ai cũng nhìn thấy rõ ràng là nó sắp chìm, viên hạm trưởng ra lịnh bỏ tàu. Vừa khi Shigure nhận xong 70 sỹ quan và thủy thủ, dương vận hạm 6,486 tấn này biến mất giữa những làn sóng.
Tôi buồn rầu trước sự việc xảy ra. Ðây là lần đầu tiên tôi đã để thiệt mất một tàu chuyển vận dưới trách nhiệm hộ tống của tôi. Nếu cuộc tấn công chỉ đến chậm một vài giờ, chiếc tàu dù hư hại cũng kéo về được tới Truk. Nhưng không có một thủy thủ nào thương vong, và trước đó chiếc tàu đã xuống tất cả hàng ở Kavieng, đó là sự an ủi với tôi.
Trong nhiệm vụ này, chiếc Shigure đã bắn rơi 2 oanh tạc cơ, đánh đổi một chuyển vận hạm cũ bị đánh chìm. Nếu xét trên giá trị vật chất, cán cân có phần nghiêng về chúng tôi, nhưng trong thời gian này một dương vận hạm lớn vẫn có nhiều ý nghĩa đối với Nhựt Bản hơn là việc bắn rơi 2 oanh tạc cơ địch.
Suốt nhiều ngày, càng nghĩ đến chiếc tàu ngầm tôi càng nổi nóng. Nhưng hiện thời, sau nhiều năm trôi qua, tôi phải ngả nón cúi đầu thán phục trước chiếc tàu này và viên hạm trưởng của nó. Tiến đến, phóng ngư lôi và biến mất, quả là tài tình. (Ðây là tàu ngầm USS Scamp của Hoa Kỳ, hạm trưởng là Thiếu tá Walter G. Ebert (sau này là Ðề đốc) đã báo cáo phóng 7 quả ngư lôi và một quả đã trúng chuyển vận hạm 7,000 tấn của Nhựt Bản.)
Vào khoảng trưa ngày 11 tháng 11, khu trục hạm Shigure và chuyển vận hạm Ontasekan Maru cập vào hải cảng Truk. Một vài giờ sau đó, tôi đến tuần dương hạm Atago, soái hạm của Ðệ Nhị Hạm đội, trình diện Phó Ðô đốc Takeo Kurita để báo cáo sự việc xảy ra. Tôi cũng muốn gặp Tham mưu trưởng của ông là Ðề đốc Tmiji Koyanagi. Tôi vẫn nhớ cuộc đối thoại giữa Koyanagi và tôi 8 tháng trước đây, vào tháng Ba, cũng chính trên soái hạm Atago, liên quan đến nhiều vấn đề quan trọng. Hiện tại tôi muốn trình lên ông những giải đáp của một số vấn đề này.
Soái hạm Atago từng bị hư hại trong cuộc không tập vào ngày 5 tháng 11 ở Rabaul, và hiện tại đã được tàu công xưởng Akagi hoàn tất việc sửa chữa. Hoạt động trên soái hạm rộn rịp. Các sỹ quan tham mưu đều ba chân bốn cẳng, không ai lưu ý đến sự hiện diện của tôi. Họ nói Kurita bận rộn nên không tiếp ai cả, còn Ðề đốc Koyanagi thì lại đang đứng cạnh vị tư lịnh. Cuối cùng tôi cũng làm gan gọi Koyanagi khi thấy ông đi phía trước. Chúng tôi bắt tay, và ông ta vừa cười vừa nói: “Hân hạnh được gặp lại anh, Hara.”
Lập tức, tôi trình bày sơ lược với ông về cuộc đụng độ với 2 phi cơ địch gần Kavieng, và tôi tỏ ý hối tiếc vì đã để mất hải vận hạm Tokyo Maru. Koyanagi xua tay và nói: “Việc đó đúng, hoàn toàn đúng. Anh đã làm một việc phải nói là kỳ diệu. Không ai khác làm tốt hơn thế. Anh không để mất một người nào, đó là điều khiến tôi hài lòng hơn hết.”
Tiếp đó, tôi trình bày các chi tiết về kỹ thuật chống lại radar tầm hướng và phương thức đối đầu chống phương pháp oanh tạc nhảy của đối phương. Nhưng Koyanagi có vẻ không mấy chú tâm đến những điều tôi trình bày. Tâm trí ông như để tận đâu đâu. Tôi ngừng nói, tự hỏi không biết điều gì đã xảy ra. Thình lình, ý thức tình trạng đang đối thoại với người điếc của tôi, ông nói gần như ấp úng: “Ồ, xin lỗi anh… Tôi quấy thực… Ðược, để tôi giải thích nguyên do sự vô tâm của tôi cho anh. Ðịch quân lại oanh kích Rabaul, sáng hôm nay, lần này họ đã đập khá nặng tay. Ðó là lý do tại sao chúng tôi đều ba chân bốn cẳng, và…. Ðúng là sụp đổ rồi.”
Có tất cả 128 phi cơ, xuất phát từ các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ Essex, Bunker Hill, Independence, gào thét trên không phận Rabaul vào lúc 8g30. Kusaka đã sớm phát hiện cuộc không tập nên đã tung 68 chiến đấu cơ Zéro lên ngăn chặn, và phi cơ của hai phía đã gặp nhau tại mũi Saint George, nhưng phi cơ địch vẫn thoát được đến Rabaul. Kết quả cuộc không tập, khu trục hạm Suzunami bị đánh chìm, khu trục hạm Naganami và tuần dương hạm Agano bị hư hại nặng. Sau đó, hơn 100 phi cơ Nhựt cất cánh truy đuổi địch quân, và theo báo cáo, các phi cơ này đã gây hư hại cho hai hàng không mẫu hạm và một tuần dương hạm Hoa Kỳ, đổi lại 41 phi cơ Nhựt bị hạ. Hiển nhiên báo cáo kết quả của Nhựt hoàn toàn thêu dệt quá sự thực.
“Xin lỗi Hara, tôi phải trở lại vào trong phòng họp. À này, Phó Ðô đốc Kurita muốn anh hộ tống 2 tuần dương hạm Myoko và Haguro về Sasebo. Cả hai sẽ rời khỏi đây vào sáng mai. Chúc anh may mắn. Mong gặp lại anh.” Nói xong bao nhiêu đó, Koyanagi quày quả bỏ đi.
Tôi đứng lặng yên một lúc, đôi tai tôi lùng bùng. Suzanami (Phá Sóng) bị đánh chìm ở Rabaul. Sỉ nhục biết bao! Và càng đáng ngạc nhiên hơn khi tôi biết được một trong những khu trục hạm nổi danh nhứt của Hải quân Nhựt, chiếc Naganami (Trường Triều) cũng bị hư hại nặng. Naganami từng là soái hạm của Tanaka khi ông hướng dẫn Phân Hải đoàn gồm 8 khu trục hạm lâm chiến và đạt được chiến thắng vẻ vang ở Tassafaronga vào tháng 11 năm 1942. Tôi nhìn thấy tận mắt nhiều tuần dương hạm bị bom và ngư lôi địch loại ra khỏi vòng chiến trong hải cảng nhỏ bé Simpson chỉ cách đây một tuần lễ. Các chiến hạm to lớn không thể điều động trong hải cảng nhỏ hẹp này đã đành, nhưng không hiểu tại sao các khu trục hạm nhanh nhẹn lại trở thành nạn nhân của cuộc không tập một cách dễ dàng như vậy được.
Với trái tim trĩu nặng, tôi quay về soái hạm Shigure, và ra lịnh chuẩn bị khởi hành cấp tốc vào lúc 6g ngày 12 tháng 11. Chúng tôi rời khỏi Truk trong nhiệm vụ hộ tống 2 tuần dương hạm hạng nặng Myoko và Haguro. Chuyến đi Sasebo này của chúng tôi đồng lúc với quyết định triệt thoái các oanh tạc cơ và chiến đấu cơ còn lại ở Rabaul của Koga. Các phi cơ này do 3 hàng không mẫu hạm mang đến Rabaul chỉ cách 3 tuần lễ trước đây. Koga từ bỏ hẳn ý định thử sức với Hải quân Hoa Kỳ ở quần đảo Solomon. Ðiều này chứng tỏ Koga đã ý thức được các chiến thuật được hình thành “trong phòng họp” của ông đã thất bại.
The night that I can’t sleep with the splash of waves
On the deck
If you see that star
Tobacco is also bittersweet
Red sunset sinks into the waves
Where is the horizon?
Today is the South Sea route
Male sailor gull bird…
“Saraba, Rabauru-yo, mata kuru made wa…”, “Vĩnh biệt Rabaul, cho đến khi anh trở lại…” là ca khúc vang trên sóng Thái Bình Dương trong suốt thế chiến, nổi tiếng ngang với “Lili Marleen” của Lục quân Đức trên chiến trường Âu châu. Bản dịch Anh văn sau chiến tranh còn lưu trữ thanh âm buồn bã qua các ca từ tắt ngấm hy vọng. Là tâm trạng của Hara ngày rời Rabaul. [Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương 43
Vào ngày 3 tháng 11, chiếc tàu ngầm RO-104 về đến Rabaul với các thủy thủ sống sót của tuần dương hạm Sendai. Tôi đứng đón chờ những kẻ may mắn trở về. Nhìn Ðề đốc Ijuin bước lên cầu tàu không ai là không động lòng. Tôi bước ngay đến ông và cất lời xin lỗi đã không đáp ứng lời yêu cầu giúp đỡ của ông trong đêm thủy chiến vịnh Nữ hoàng. Trong sự xúc động lớn lao, ông cất tiếng: “Ðừng nói như vậy, Hara. Hành vi của tôi vừa qua đã khiến tôi xấu hổ. Ðừng bao giờ lặp lại những lời mà anh vừa nói. Anh đã hành động đúng.”
Vài ngày sau Ijuin trở về Tokyo. Sau một vài tháng nghỉ ngơi, ông quay lại Nam Thái Bình Dương và chiến đấu rất dũng cảm. Vào ngày 24 tháng 5 năm 1944, ông thiệt mạng trong khi chỉ huy hải lực hộ tống một đoàn tàu chuyển vận. Soái hạm Iki của ông bị tàu ngầm USS Raton của Hoa Kỳ phóng ngư lôi đánh chìm, ở phía Bắc Saipan.
Nếu một ai tỏ vẻ nghi ngờ khả năng chiến đấu của Ðề đốc Ijuin, lời tiên đoán của ông về việc Nhựt Bản sẽ sụp đổ sau khi để cho Bougainville rơi vào tay địch lại tỏ ra chính xác một cách lạ lùng.
Vì thời tiết, cuộc không kích Rabaul của đối phương vào ngày 2 tháng 11 chỉ gây chút ít thiệt hại, nhưng 3 ngày sau đó tai biến mới thực sự xảy ra. Người Mỹ đã xem cuộc không kích Trân Châu Cảng của Nhựt như là một thảm họa đối với họ, nhưng cuộc không tập vào ngày 5 tháng 11 của họ lại là một thảm họa to lớn hơn đối với Nhựt. Một hạm đội bao gồm đa số tuần dương hạm nặng, được giữ gìn như báu vật hơn một năm nay, bỗng tan tành chỉ trong một ngày. Làm sao một việc như vậy có thể diễn ra?
Sự thiêu hủy Rabaul ngày 5 tháng 11-1943 đã làm lu mờ trận đánh đầy bi thảm ở vịnh Empress Augusta, khiến cho không còn ai nhắc nhở đến nữa. Trận đánh bị lãng quên này lẽ ra phải dạy cho Nhựt nhiều bài học quý giá. Các sai lầm được lặp lại, và lặp lại cho đến khi trở thành tự sát.
Ðáng lẽ qua trận đánh vịnh Nữ hoàng, Nhựt phải biết rằng các nỗ lực thám thính của mình đã vấp phải nhiều khiếm khuyết. Không phải chỉ phóng một vài chiếc phi cơ lên trời với các mục đích thám thính là đủ, mà cần đòi hỏi các phi công đầy đủ kinh nghiệm lái các phi cơ đó. Bộ Tư Lịnh Tối Cao chắc hẳn phải biết điều này, nhưng chỉ vì tình thế không cho phép cải thiện.
Nếu các phúc trình chi tiết liên quan đến trận hải chiến ở vịnh Empress Augusta không bị thêm thắt để đánh lừa Bộ Tư Lịnh Tối Cao, chúng tôi sẽ không bao giờ dám đổ lỗi sự sụp đổ Rabaul cho thượng cấp. Còn nhiều yếu tố lừa dối khác sau trận đánh. Chẳng hạn như tàu ngầm RO-104, trong phúc trình về công cuộc tiếp cứu những thủy thủ sống sót của chiếc Sendai đã viết: “Chúng tôi thấy nhiều thủy phi cơ và chiến hạm địch bận rộn trong các hoạt động tiếp cứu, điều này chứng tỏ một số tàu địch đã bị đánh chìm trong trận Empress Augusta.” Và một điển hình khác: Ðoàn tàu chuyển vận bị đình hoãn trước đó của chúng tôi cuối cùng đã rời khỏi Rabaul vào ngày 2 tháng 11, chỉ có 4 khu trục hạm hộ tống, và thành công trong việc đổ bộ 930 binh sỹ lên Torokina. Chỉ huy trưởng đoàn tàu chuyển vận đã báo cáo một cách vui vẻ: “Chúng tôi không hề gặp một sự chống đối nào trên mặt biển, hiển nhiên là hạm đội địch đang lo chắp vá các vết thương do lực lượng của Ðề đốc Omori gây ra.”
Tuy nhiên, sự thực là Hoa Kỳ đã chọn giăng một cái bẫy trên đất liền nhắm vào lực lượng bộ binh sau khi họ đã đổ bộ, và cái bẫy này công hiệu hoàn toàn. Nhưng đây là vấn đề riêng của Lục quân, không dính dáng gì đến Hải quân.
Cả chục điều tệ hại do Omori gây ra, đã không được sửa chữa chút nào. Do đó khi trở về Tokyo sau cuộc hành quân, Omori không cảm thấy một chút hổ thẹn nào hết, và hơn thế nữa, ông được thăng cấp Phó Ðô đốc, và được tái bổ nhiệm vào chức vụ chỉ huy trưởng Trường Ngư Lôi của Hải quân.
Ðô đốc Koga, Tổng tư lịnh Hạm đội Hỗn hợp, chấp nhận giá trị phúc trình của Omori. Koga cảm thấy đã thu hoạch được các dữ kiện mà ông kiên nhẫn đợi chờ, và cho rằng cơ hội “dứt khoát” với địch quân tại quần đảo Solomon đã đến. Do đó, dựa trên căn bản các phúc trình của Omori, vào ngày 3 tháng 11, ông ra lịnh cho 7 tuần dương hạm nặng khởi hành từ Truk tiến về hướng Nam. Cả Koga lẫn bộ tham mưu của ông không một ai ra trận trong thời gian gần đây để biết sức mạnh gia tăng của địch quân. Bởi vậy, tính tự phụ tự mãn đã mọc rễ trong họ.
Ở Rabaul, Ðô đốc Kusaka đã giật mình khi nghe kế hoạch cho các tuần dương hạm hạng nặng xuất quân của Koga, và ông đã cố gắng ngăn cản hành động này. Nhưng ông không thể nào giải thích sự nghi ngờ của ông về các chi tiết nằm trong phúc trình của Omori. Hơn nữa, chỉ một đôi lời của ông không thể nào thuyết phục được Koga. Và do đó, 7 tuần dương hạm Nhựt vẫn tiếp tục tiến về phía Nam, dưới sự dòm ngó từng bước một của các trinh sát cơ Hoa Kỳ.
Phó Ðô đốc Takeo Kurita, thay thế Kondo trong chức vụ Tư lịnh Ðệ Nhị Hạm đội, cũng là một tay tự mãn không kém gì Koga. Tính tự mãn này là do các tin tức về các cuộc không tập liên tục của địch ở Rabaul vào thời gian gần đây đến tai ông. Theo đó, không có một phi cơ địch nào oanh tạc trúng thẳng được vào một chiến hạm Nhựt. Nên biết, hơn một năm nay Kurita không ra trận lần nào, và vì vậy ngay cả chiến đấu cơ Nhựt mà ông nghĩ đến là các chiến đấu cơ của năm 41-42, tức thời gian Nhựt vượt trội Ðồng Minh cả hai mặt phi cơ và phi công. Sự khinh thường khả năng của không lực Ðồng Minh vào thời gian đó là rất đúng, nhưng hiện tại sự khinh miệt đó không còn đứng vững.
Sáng sớm ngày 5 tháng 11, hạm đội của Kurita đến vịnh Simpson, Rabaul. Tôi đã kinh ngạc khi thấy soái hạm Atago (15,500 tấn) chậm rãi buông neo trong hải cảng nhỏ hẹp mà hiện tại gần như nứt ra, vì phải chứa đựng cả 7 tuần dương hạm và khoảng 40 tàu yểm trợ khác nữa. Những chiến hạm mới đến này đã gây cho tôi sự băn khoăn và suy nghĩ.
Vào lúc 7g sáng cùng ngày, một phi cơ tuần tiễu báo cáo phát hiện một lực lượng địch gồm 5 tuần dương hạm hạng nặng, 7 khu trục hạm và 2 hải vận hạm tại vị trí cách mũi Saint George 150 dặm, hướng 140 độ. Tổng Hành Dinh Rabaul kết luận rằng các chiến hạm này có vẻ như sắp thực hiện một cuộc đổ bộ. Ðó là phản ứng đã trở thành thói quen đối với các sỹ quan tham mưu ở Rabaul trong những tháng gần đây. Không một ai tưởng tượng được rằng 2 “hải vận hạm” chính là 2 hàng không mẫu hạm Saratoga và Princeton. (Chiếc Saratoga nặng 37 ngàn tấn mang 78 máy bay và chiếc Princeton 13 ngàn tấn 45 máy bay).
Nhiều tháng nay các phi cơ Nhựt không được nhìn thấy hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ. Ngay cả trong trận đánh ở Biển San Hô vào tháng 5-1942, nhiều phi cơ đầy đủ kinh nghiệm của chúng tôi còn nhận diện sai lầm các hàng không mẫu hạm Mỹ. Nhưng mà không một ai ở Rabaul nhớ lại việc đó. Kusaka ra lịnh cho các trinh sát cơ cố gắng theo dõi động tĩnh từng bước một của đối phương. Các phi cơ này đã cố gắng, nhưng các báo cáo đều không đúng lúc, thành thử lực lượng đặc nhiệm Nhựt không thể hành động chính xác. Lúc 9g sáng, còi báo động phi cơ địch tấn công ở Rabaul vang rền. Khu trục hạm Shigure của tôi luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng nên đã tham chiến nhanh chóng, và thoát ra hải cảng nhỏ hẹp trong khi nhiều chiến hạm khác vẫn buông neo. Lúc 9g15, khi các tuần dương hạm to lớn vẫn còn loay hoay nhổ neo, phi cơ địch xuất phát từ 2 “hải vận hạm” ùa đến oanh tạc. Khoảng 50 chiến hạm Nhựt nằm phơi lưng ra làm bia cho 23 phóng pháo cơ Avenger phóng ngư lôi, 22 oanh tạc cơ Dauntless đâm bổ và 42 chiến đấu cơ Hellcat F6F đời mới của Hoa Kỳ.
Chiếc Shigure vừa thoát ra khỏi hải cảng vừa khai hỏa mọi loại súng vào các mục tiêu lướt nhanh qua. Hỏa lực của chúng tôi đã hạ 4 phi cơ địch. Thảm họa đã không xảy ra, nếu tất cả chiến hạm Nhựt đều thoát chạy được ra ngoài hải cảng như chiếc Shigure. Nhưng ngày hôm đó, ngoài chiếc Shigure, không có một chiếc tàu nào nhúc nhích. Hai khu trục hạm Samidare và Shiratsuyu không có mặt ở Rabaul, ngày trước đó cả hai đã lên đường đi Truk để sửa chữa.
Khoảng 10g, chiếc Shigure quay vào hải cảng. Cảnh tượng trước mắt làm tôi choáng váng cả giờ. Tôi nhớ lại cảnh đổ vỡ xảy ra vào tháng Giêng năm 1942, khi các phi cơ Hoa Kỳ gây hư hại cho tuần dương hạm Myoko tại vịnh Malalag. Và bây giờ, nơi đây, chỉ trong vòng 2 năm sau, chúng tôi đã vấp phải cùng một lỗi lầm. Thực đáng tủi hổ biết bao.
Soái hạm Atago với 10 đại bác 203 ly đang bùng cháy, 2 tuần dương hạm Maya và Takao bị hư hại nặng nề. Cả 3 tuần dương hạm hạng nặng này, sau một năm được giữ gìn cẩn thận, chưa đụng độ với địch quân bao giờ, đã nằm phơi mình như 3 xác chết dưới cuộc không tập. Hai tuần dương hạm hạng nặng khác Mogami và Chikuma, 2 tuần dương hạm hạng nhẹ Agano và Noshiro, cũng như 2 khu trục hạm Fujinami và Amagiri đều bị hư hại. Tôi nhắm mắt lại và tự hỏi cảnh tượng này lại có thể là sự thực được sao?
Ðó là sự thực, một sự thực hoàn toàn. Tại Tổng Hành Dinh Rabaul, như thường lệ, Kusaka nổi nóng. Ông chửi rủa hết người này đến người khác.
Trong lúc đó, các phi trường ở Rabaul lên cơn sốt, giống như một tổ ong bị chọc phá. Mọi phi cơ khả dụng đều được tung lên để truy đuổi những kẻ tấn công. Cuối cùng, khoảng 100 chiến đấu cơ và oanh tạc cơ Nhựt tìm thấy vị trí lực lượng đặc nhiệm đối phương, cách Rabaul khoảng 235 dặm, hướng 145 độ. Sau đó, các phi cơ báo cáo đã đánh chìm một hàng không mẫu hạm lớn, 2 tuần dương hạm và một khu trục hạm, cũng như gây hư hại cho một hàng không mẫu hạm hạng trung khác.
Báo cáo này hoàn toàn có tính cách thêu dệt. Khi một người đang choáng váng thì người đó khó có thể nhìn sự việc một cách bình tĩnh và khách quan. Kiểm soát lại các phúc trình đáng nghi ngờ trong cuộc chiến chỉ được thực hiện đối với một kẻ đang chiến thắng. Do đó, báo cáo tưởng tượng vừa nêu đã đi ngay vào tủ hồ sơ chính thức mà không hề được đánh giá lại. Ðô đốc Kusaka, còn sống sót sau cuộc chiến, đã giải thích: “Thực sự tôi đã ngờ vực các chi tiết nằm trong bản báo cáo, cũng như đa số các bản báo cáo khác của Nhựt Bản trong thời gian đó, khi tôi biết không quân của chúng ta khiếm khuyết các phi công giỏi. Nhưng nếu đặt vấn đề ra, hoặc yêu cầu kiểm soát lại các bản phúc trình, sẽ gây chán nản và bực bội cho những người đã cố gắng thi hành nhiệm vụ với tất cả khả năng mà họ có thể làm.”
Ngày hôm sau, 6 tháng 11, các tuần dương hạm Atago, Takao và Mogami, được 2 tuần dương hạm không bị hư hại hộ tống, rời khỏi Rabaul chạy khập khiễng trở về Truk, thực là đau buồn khi đứng nhìn theo bóng dáng của 5 tuần dương hạm này, người ta có thể xem đây là chuyến hải xuất vô dụng nhứt trong toàn thể cuộc chiến của Hải quân Nhựt Bản. Chỉ cách 3 ngày trước đó, tôi cũng đã từng đau buồn chứng kiến cảnh tuần dương hạm của Omori và 2 khu trục hạm của tôi ra đi với những vết thương trầm trọng.
Tuần dương hạm hạng nặng Maya vẫn còn ở lại cảng Rabaul, vì tất cả máy móc đều hư hại, không thể di chuyển được. Chiếc Agano, tuần dương hạm hạng nhẹ nằm gần đó cũng không khác gì đống sắt nổi. Những mất mát vô ích và sự ngu dốt của cấp chỉ huy khiến tôi tiêu tán hết nghị lực. Tôi hết lời thóa mạ, và tự hỏi Nhựt có thể làm gì nữa đây?
Trưa ngày hôm đó tôi đến Tổng Hành Dinh. Phó Ðô đốc Samejima có vẻ bồn chồn khi tiếp tôi. Ông nói: “Tôi muốn đêm nay anh thi hành một nhiệm vụ với khu trục hạm Shigure và tuần dương hạm Yubari – chiếc tuần dương hạm duy nhứt của chúng ta còn hoạt động được ở đây. Tình thế tồi tệ lắm rồi. Có lẽ chúng ta bắt buộc phải bỏ hẳn Bougainville, nhưng chúng ta phải bám vào căn cứ Buka, nằm gần Rabaul. Do đó, công việc tăng cường cho các cơ cấu phòng thủ Buka đã được quyết định.”
Quyết định này không làm cho tôi ngạc nhiên. Tôi nghiêm chào và xoay lưng, nhưng Samejima gọi giật lại: “Tôi cũng cần nói với anh, Hara, đây sẽ là nhiệm vụ cuối cùng của anh được cắt đặt dưới quyền hạn chỉ huy của tôi. Quả thực, tôi không bao giờ muốn để anh đi, đặc biệt trong lúc này, nhưng chỉ vì chiếc Shigure đã tới giai đoạn cần phải sửa chữa trên ụ nổi, và tất nhiên, trong thời gian sửa chữa anh được nghỉ ngơi.”
Buka là hòn đảo thuộc quần đảo Solomon gần với Rabaul nhứt. Shigure và Yubari tấp vào bãi của hòn đảo này trong đêm đó để đổ 700 binh sỹ thuộc Sư đoàn 17 Bộ binh và 25 tấn tiếp liệu lên bờ.
Cuộc hành quân tuy ngắn ngủi nhưng cũng gây căng thẳng tột độ trên cả hai chiến hạm. Chúng tôi không gặp ngăn trở nào của địch quân. Trở về Rabaul vào ngày hôm sau, tôi trình diện Tổng Hành Dinh và chào từ biệt Phó Ðô đốc Samejima.
Tôi lưu ý ông: “Cuộc hành quân xúc tiến rất dễ dàng. Nhưng nếu cuộc hành quân kế tiếp vẫn áp dụng giống như vậy, tôi sợ không suôn sẻ. Những chiến thuật cứ lặp đi lặp lại mãi sẽ gặp phản ứng ngược.”
Samejima gật đầu: “Tôi tán thành sự lưu ý của anh, và tôi sẽ không để cho các chiến hạm khác thi hành nhiệm vụ giống như vậy. Hara, anh đi lần này chúng tôi biết là sẽ mất anh. Hiện thời chúng tôi khiếm khuyết các sỹ quan có đầy đủ kinh nghiệm như anh. Tôi rất muốn được trông thấy anh quay trở lại đây.” Cuối cùng ông hỏi tôi có thể sắp xếp thế nào để thi hành một “nhiệm vụ ngoại lệ” hay không? Nhiệm vụ ngoại lệ này là chiếc Shigure sẽ hộ tống 2 hải vận hạm và trên đường sẽ ghé Kavieng ở cực Bắc New Ireland. Ông giải thích rằng Rabaul, sau trận không tập vào tháng 11, đã thiếu chiến hạm để thi hành các công tác, nên ngay cả chiếc Shigure cần phải sửa chữa mà còn phải lưu dụng trong cuộc hành quân đổ bộ vừa qua. Nhiệm vụ ngoại lệ xem ra dễ dàng hơn bất cứ một nhiệm vụ nào tôi đã từng thi hành trong những tháng vừa qua, do đó tôi đã chấp thuận lời yêu cầu của Samejima một cách vui vẻ.
Vào lúc 5g30 sáng ngày 7 tháng 11, khu trục hạm Shigure rời Rabaul với 2 hải vận hạm Ontakesan Maru và Tokyo Maru. Khi ngày lên hẳn, tôi đứng phía sau tàu ngắm nhìn các miệng núi lửa đang tỏa khói. Rabaul là một hòn đảo hẻo lánh và ảm đạm. Nhưng, đặt chân đến đây từ tháng 7, bây giờ bỗng chốc rời xa hòn đảo này, bỗng nhiên tôi cảm thấy xúc động sâu xa. Rabaul không có gì hấp dẫn, nhưng mỗi lần ra khơi, chúng tôi đều mong mỏi được trở về để nhìn lại nó. Bây giờ, chúng tôi ra đi, để trở về quê nhà, và rất có thể không bao giờ chúng tôi nhìn thấy lại Rabaul nữa.
Trong 3 tháng ngắn ngủi, chúng tôi đã mất hết hòn đảo này đến hòn đảo khác thuộc nhóm đảo Solomon, và đến hiện tại, Nhựt chỉ còn lại hòn đảo Buka. Hòn đảo này sẽ rơi vào tay địch không biết giờ phút nào, và sẽ đến lượt Rabaul. Không phải chỉ một mình tôi, mà tất cả mọi người đều nghĩ đến việc này.
Tôi hồi tưởng đến bạn bè, chiến hữu của tôi đã ra đi vĩnh viễn trong các trận đánh đẫm máu ở vùng biển này, và rồi còn nhiều người khác sẽ tiếp tục nối bước ra đi như vậy, mắt tôi bỗng dưng đầy lệ. Nhìn quanh, tôi thấy nhiều người khác trên chiếc Shigure cũng chia sẻ cảm nghĩ của tôi. Những thủy thủ đứng trên boong tàu đã vẫy tay từ biệt những kẻ đứng trên bờ dõi mắt trông theo. Chỗ nào đó trên boong, một giọng hát cất lên: “Saraba, Rabauru-yo, mata kuru made wa… (Vĩnh biệt Rabaul, cho đến khi anh trở lại…)”. Bài ca đầy sầu thảm này đã từng dội trên sóng nước Thái Bình Dương một thời, nhưng không một ai biết rõ xuất xứ của nó.
đôi đứa mình cùng chung con đường cát mịn, rợp bóng cây xanh, xuyên lá cành, từng đám nhũng hạt kim cương thánh thoát rơi soạt trên nhũng chiếc áo mưa tím vàng, trên những đôi hài nhỏ lấm tấm bùn xanh…
… thay cho khung trời anh đi,
một chiều mưa mây trời nặng nước, từng giọt mua len lỏi trong bâu áo chiến binh, mát lạnh cả tâm hồn.
Rồi con đò lìa bến bỏ lại bên bờ những cội đá thân cây ủ lạnh,
đưa chúng mình cùng sang sông, sóng nuớc lăn tăn, gió nhẹ thoảng đưa những bụi mưa như mưa phùn miền Bắc, vắt vẻo tiếng ri ri, làm lâm nhâm mặt nước đẹp như hồ thu trác ngọc..
…thay cho khung trời anh lênh đênh xuôi dòng đại dương,
bỏ lại bên bờ mảnh hình hài quê hương trơ trọi, gió rạt rào khơi động những triền sóng quay cuồng, mông lung, đánh tạt những hạt đá trời bay vun vút trong bầu trời mênh mông, trắng toát, vang rền tiếng ầm ầm, làm thân tàu lắc lư, chới với trong thét gào.
Rồi còn lại cung đường thênh thang đôi đứa mình cùng đi,
gần nhau cho ấm lại, hai mái đầu xanh một mảnh vải mưa, giữ mãi cho nhau niềm tin, quyến luyến cho nhau từng hơi thở.. rồi chọt chia tay, em đến trường, rồi hẳn em vút áo mưa nơi nguỡng cửa, vươn vai thở một hơi dài khoan khoái nghỉ ngơi..
… thay cho khung trời nối tiếp anh đi trong đơn lẻ lạnh lùng,
càng lúc càng xa nhà nhớ thuơng, luôn dựa boong tàu cúi nhìn mưa bay… bay, uớc mong cho mình sớm đến cổng trường, được yên nghỉ muôn đời trong lòng sâu biển cả…
Hùng, mãi đến hôm nay tao mới viết thư cho mày. Nói bận thì cũng quá đáng. Thế nhưng đời sống ở đây, ở những quốc gia Tây Phương nói chung, tao sao cảm thấy lu bu tối ngày. Shopping, clean up, con cái, xe cộ… quay mình như chong chóng. Tao chẳng cảm thấy thú vị chút nào, chỉ còn việc đi làm kiếm đủ tiền mướn nhà, tiền thực phẩm, tiền quần áo, sách vở cho con. Tao nghĩ rằng mầy bên đó cũng vậy thôi. Chán ngắt, phải không Hùng? Tụi mình giờ đây không còn những con đường thân yêu để rong chơi sau giờ nghỉ việc, không còn những quán cóc bên đường đế hàn huyên, không còn những dòng sông, bóng mát với những bờ tre, bụi trúc trong dịp nghỉ hè, không còn thấy được trường làng với hàng phượng vĩ… Nhưng dù thế nào đi nữa vẫn còn hơn là ở lại Việt Nam với Cộng Sản.
Mấy năm trong trại tẩy não và mấy năm lăn lộn với Xã Hội Chủ Nghĩa, tao đã có thừa kinh nghiệm để so sánh và căm thù Cộng Sản hơn. Ra đi, bọn mình mất thật nhiều, nhưng đổi lại được một thứ hết sức cao quý, đó là Tự Do. Không còn sống trong nhục nhã đầy nước mắt, không còn sống trong sự khủng bố của công an, không còn bị đối xử phân biệt của bọn cán bộ đê hèn dốt nát. Tao cũng muốn kể hết cho mày nghe cái thời khốn cùng của bọn mình sau 75 mà mày có cơ may thoát khỏi. Quá nhiều phũ phàng, tệ hại. Trong tù đã nhọc nhằn đau đớn như thế nào, như mày biết qua, đọc qua bài của thằng Quảng, thì ngoài xã hội với lý thuyết điên khùng của Karl Marx, đời sống còn nhọc nhằn, đau đớn hơn nữa. Rời cảnh tù nhỏ sa vào cảnh tù lớn, cảnh tù mà toàn dân Việt mình phải nhận lấy, gánh chịu. Vì vậy, tao quyết định thà chết ở biển khơi, hơn là sống nhục với bọn Việt Cộng, bọn lợi dụng thời cơ, đạp người ngã ngựa. Có dịp ở bên mày, sẽ nói cho mày nghe nhiều hơn về chuyện dài Xã Hội Chủ Nghĩa. Tao không biết đến khi nào tao mới có dịp đi một vòng ghé thăm mày được. Có hai điều trở ngại là tài chánh và ngôn ngữ. Tiền thì không đư, mà tiếng Anh thì bập bẹ. Tao đã đậu và vô làm ở Bưu Điện Úc, lương cũng tạm đủ. Còn bà xã tao thì bỏ nghề giáo sư ở trường mà chỉ làm giáo sư riêng cho hai nhóc con ở nhà thôi. Cuộc sống của vợ chồng tao bên này coi như ổn định. Hai đứa con tao học hành cũng khá giỏi. Vợ chồng mày không biết đứa thứ hai. Đó, gia tài của tụi tao chỉ có chừng đó. Vợ chồng tao bây giờ muốn tiến thân nữa cũng không được. Vì ở bên này, nếu mà tiếp tục học lên, thì lúc tốt nghiệp, ra trường xong lại càng khó kiếm việc làm. Học càng cao, càng khó. Vì kỹ nghệ Uc còn chậm tiến, chỉ có lắp ráp, không cần chuyên viên kỹ thuật mà chỉ cần thợ thôi. Rồi vì màu da sắc tóc của mình, mình cũng khó nhảy vào mấy chỗ tốt được.
Hùng mến, định chụp vài tấm ảnh để gửi tặng gia đình mày làm kỷ niệm, thế mà chưa có dịp. Để khi nào dọn về nhà mới mua, tao sẽ chụp và gửi cho mày sau nha. Tao mới vừa đặt cọc mua căn nhà gỗ chừng bốn chục tuổi ở phía nam city Sydney, khoảng chừng ba chục cây số, mượn ngân hàng xấp xỉ năm chục ngàn Úc kim, trả nợ mỗi tháng khoảng bảy trăm, kể cũng chật vật lắm. Nhưng bắt buộc phải làm vậy, vì mình nghĩ có an cư thì mới lạc nghiệp. Mấy đứa nhỏ mỗi ngày mỗi lớn, mình cũng muốn có một nơi, một chỗ cho riêng mình. Ở thuê, ở mướn cứ phải dọn nhà hoài, mệt quá. Mới hai năm ở Úc mà tao đã move ba lần rồi.
Ở Úc, có thằng Lê “lé”, Vân “già”, Trị “già”, A “say”, và Hoàng “gấu”. Nhưng A ở Melbourne và Hoàng ở Adelaide quá xa, chỉ còn Lê, Trị, Vân và tao ở Sydney. Thỉnh thoảng gặp nhau. Tụi nó qua trước tao, đã mua nhà hết rồi. Tao có đọc mấy bài của mày trong Đặc San Hải Sư. Đọc bài của mày lại nhớ mày nhìều hơn, nhất là nhớ thời tụi mình còn ở quân trường. Kỷ niệm tô điểm cuộc đời cho thêm sinh khí, thi vị thì kỷ niệm cũng gợi cho tâm hồn mình những tiếc nuối, những man mác buồn.
Mạnh Hải flickr
Nhứt là trong hoàn cảnh ly hương này, mà ngày về sao xa vời vợi. Tao cứ mơ một quang phục, mình trở về chắc là vui lắm phải không Hùng? Dịp này, tao gửi đến mày chiếc áo T-shirt Bưu Điện Úc này để gọi là nhớ mày thật nhiều.
Viết thư cho mày mà buồn vui lẫn lộn. Hình mày, cá tính mày rất rõ nét trong tao. Từ lúc bước chân vào ngưỡng cửa cuộc đời cho đến nay, tao vỏn vẹn có mày là bạn thâm tình đáng ghi nhớ nhất đời và kế đến là thằng Phước. Mà bây giờ mỗi thằng mỗi nẻo xa xôi. Thật tình mà nói, tao ở đây, hạnh phúc gia đình thì có mà tình bạn thì không, luôn luôn cảm thấy “alone”. Thân chúc gia đình mày được nhiều sức khỏe.
Tao, bạn mày.
***
Winston-Salem,ngày…
Việt, nhận được thư mày lâu lắm rồi, mấy lần định viết cho mày mà viết không được. Lúc trước thì dễ lắm. Tại vì tao có nhiều thì giờ, thì giờ trong hãng. Làm nghề viết sách cho Mỹ, viết mấy cuốn manual, thì sướng lắm. Một ngày tao làm thẳng thừng thì chừng vài giờ thôi, thì giờ còn lại mình làm chuyện riêng, viết thư, đọc sách chẳng hạn. Từ ngày tao giựt thêm một cái bằng cấp nữa, nó thảy tao qua chỗ khác, không phải viết manual nữa, mà viết program. C language, lu bu lắm, làm hoài không hết. Không còn viết thư trong giờ làm việc, phải viết ở nhà, nên mày phải trông… Đã vậy không biết nó có cho tao ở đây không, xếp định đẩy tao xuống trung tâm làm cho Navy, cách đây ba chục dặm, digítal signal processing, hệ thống khám phá tàu ngầm Nga trong vịnh Mễ Tây Cơ.
Hôm Noel tao có nhận được thiệp của mày. Đọc mấy câu chúc mừng Giáng Sinh tao nói bộ mày quên hai chữ “mày tao” với tao rồi hay sao mà bây giờ xài chữ “anh tôi” nghe kỳ cục cái lỗ tai. Chẳng lẽ Bác và Đảng đã huấn luyện mày khùng đến độ đó. Cứ phân vân hoài.
Kế tao được thư này. Thư làm tao hài lòng, làm tao cảm động. Tao đang đọc lại nữa đây. Coi bộ mày viết văn hay hơn tao nữa rồi. Đối với tao, nhiều khi tao nghĩ tao thiếu ở tù Cộng Sản, cuộc đời tao như thiếu một vài nét chấm phá quan trọng. Đọc mấy bài của thằng Quảng thì thấy khổ cực đó, tủi nhục đó. Mầy có, thằng Phước có, mà chỉ có tao không có. Không có cơ hội nếm mùi tù Yên Bái, Bắc Việt. Không được ra Hải Phòng, không được về Yên Bái, không được lên Hoàng Liên Sơn… Tao thua đứt tụi mày ở điểm này rồi, không gỡ được. Thằng Phước có nói với tao, lúc nó bị đưa ra Bắc, nó bị nhốt dưới hầm tàu hôi hơn hầm sơn của tàu mình, không thấy trời mây trăng nước… Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Tao đọc đó, thấy đó nhưng chắc không hiểu sâu xa thấm thía như tụi bây, những người sống trong cuộc, được. Tao như những kẻ đứng bên lề, những người chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ. Nhưng càng khổ cực càng có nhiều kỷ niệm, mậy. Trong cái khổ có cái vui, cái hay. Kỷ niệm dù có buồn cách mấy đi nữa cũng đẹp. Tao thấy thiếu, tao thật sự muốn được ở tù như tụi mày, chia xẻ với tụi mày. Mày với Phước hãy nên hãnh diện là đã “không thể chết được” trong trại tù Cộng Sản. Cũng như hồi tụi mình mới vào quân trường, ai nói là không khổ, không cực, không buồn, không bơ vơ, không sợ hãi… Vượt qua được mình mới thấy mình kiêu hùng. Chút chút. Nhớ lại phòng Alpha 1 của mình mà vui. Ngoài bộ ba Lưu-Quan-Trương của mình còn có Điển “địa”, Long “què”, Bích Ngân, Bá “gỗ”, Chiểu “băng đồng”, và ai nữa… Mỗi thằng như có mỗi cá tính riêng biệt, có cái hay mà cũng có cái đở. Nhớ cái lần Điển kêu “… má ơi, má” lúc bị treo giò lên thành giường đôi, mà mắc cười hoài. Long thì ít nói mà lâu lâu móc Điển nhiều câu đích đáng. Bá “gỗ” thì lúc nào cũng “gồ ghề”. Tánh mày thì cũng như Lưu Bị thôi. Mày nói chuyện với mấy ông già trong bàn tiệc vẫn hay. Có tài lãnh đạo. Lưu Bị làm vua nước Thục, thì mày làm King của khóa mình là phải rồi. Tính thằng Phước thì hùng hổ đâu khác gì Trương Phi. Thành thử tao phải đóng vai trò Quan Công giữa hai đứa bây. Sau này nhớ thằng Bích Ngân muốn nhập vô bọn mình thành bộ bốn, coi nó như Triệu Tử Long… Bộ hệ nó như con gái làm sao mà làm Triệu Tử Long cho được, rồi nó xáp vô đám thằng Thanh Vân, thằng Sỹ Hậu…, đám ghiền nhảy đầm. Nhớ nhiều đêm ba đứa mình ra dãy Omega, dãy nhà sập, nằm tâm sự đến khuya rồi trùm mền ngủ luôn ngoài trời. Nhớ mấy lần ở truồng tắm giếng tối… Rồi nhớ đám cưới Lan và tao, có mầy và thằng Phước mặc tiểu lễ Hải Quân về dự.
Mạnh Hải flickr
Rất tiếc đám cưới Yên với mày cũng như Liêu với Phước, vợ chồng tao không về được.
Mà bây giờ ba đứa ba nơi. Úc, Mỹ, Việt Nam. Tội cho thằng Phước, không biết chừng nào nó mới được lãnh cái án “lưu đày biệt xứ”… Ở bên này chán ngắt thì đúng rồi. Bạn bè ở lâu thì cũng có đó nhưng cũng còn qua lại xã giao chứ đâu có nối khố, thâm tình, sống chết như thời của mình. Nhiều lúc phải “nhìn rượu ngon mà nhớ bạn hiền” thôi. Đã vậy mà phải chờ đến cuối tuần, ngày thường có mấy ai đám rong chơi. Thằng Phước tại vì lúc trước nó đi Mỹ tu nghiệp nhiều lần, nó biết đời sống bên này, nên hồi 75 nó không chịu chạy. Chớ nó đang làm Phòng 3, bước nửa bước thì đã lọt xuống tàu rồi. Còn mày thì lại càng trớ trêu hơn, đám Cát Lái chạy qua đây ráo trọi, tụi thằng Bi và mấy thằng người nhái đó, vậy mà mày còn bâng khuâng, chờ đợi cái nỗi gì..
Nghe mày nói mua được nhà tao cũng mừng cho gia đình mày. Nhớ chụp hình nguyên gia đình, nhà cửa, vườn tược… gửi qua cho tụi tao xem với. Mày nên qua đây chơi một lần thăm hết bạn bè, thăm tao. Còn nếu mày không đi được thì chắc cũng có ngày tụi tao qua bên đó để thăm tụi mày. Mình phải còn ngày, có ngày gặp lại nhau. Mười hai năm gió thoảng. Mày check với hãng Delta coi, nghe nói hãng này có bán vé máy bay cho dân ngoại quốc đi khứ hồi và khắp nước Mỹ, dĩ nhiên là stand by, trong vòng hai tuần hoặc một tháng mà chỉ khoảng bốn năm trăm đô thôi. Thằng Toàn ở Paris mới qua thăm tao lần nữa cũng cái kiểu này.
Cái T-shirt của mày cho tao có mấy chữ thấy hay. Striving for Excellence, Bưu Điện mà cũng làm dữ hả. Tao cũng chẳng có gì quí giá, gửi mày cái áo khoác có phù hiệu AT&T, American Telephone Teleghaph, hãng tao đang làm. Bên này mùa xuân thì bên mày đã vào thu. Mùa lạnh cũng sắp đến. Mặc cái áo khoác này tao hi vọng mày sẽ thấy ấm. Lạnh ngoài da nhưng ấm tâm tư. Của tao với mày.
Quả thật ngày về sao quá xa xôi, và giấc mơ có mấy lần thành sự thật. Nghĩ tới đó ai không buồn, ai không nuối tiếc… Tụi mình cần phải liên lạc thường xuyên hơn nữa mới được. Một năm một lần thư, làm sao mà vơi niềm nhớ. Tao gửi kèm cho mày lá thư của thằng Phước từ Việt Nam, thư này có nhiều điểm lạ… Đọc đi. Thư sau. Chúc gia đình mày, vợ con mày luôn được tươi trẻ, vui vẻ.
Bạn của mày.
***
Sài Gòn, ngày..
Trưa hôm qua tao đang ngồi làm sơn mài thì có thư của mày tới. Thấy vui vui vì tao có ý trông thư mày đó Hùng. Chi vậy, đố mày biết? Chút nữa tao mới nói.
Bên ấy chắc mày muốn biết và cố hình dung về cuộc sống bên đây giờ thế nào, có đúng không? Đời sống vật chất thì khổ đó, làm hoài suốt ngày vẫn chưa đủ sống. Lương công nhân viên tính theo tiền “noir” thì một tháng được một, hai đô la Mỹ thôi. Thế đấy mày. Vậy mà vẫn sống. Nhờ làm ăn thêm, buôn bán thêm. Mới đây nhà nước cho đăng ký làm nghề thủ công nghiệp tự do cá thể, nên mới đỡ hơn một chút. Vợ chồng tao đăng ký làm sơn mài. Lúc trước tao đi bán sơn mài, cũng hai ba năm, học lóm được nghề rồi bắt tay vào làm luôn. Mới vào nghề cho nên hàng cũng chưa được đẹp, bán không chạy lắm, nên chật vật. Mày xem lúc trước đa số dân Sài Gòn, kể cả công nhân viên, sống được là nhờ buôn bán. Mà buôn bán là “phi sản xuất”, thì lấy đâu mà sống. Nói cho cùng, sống được là nhờ hàng ở ngoài ngoại quốc gửi về. Tao nghĩ nếu không có quà từ nước ngoài thì Sài Gòn nói riêng, miền Nam nói chung chắc là bi đát lắm. Lúc tao về là đỡ rồi chứ vợ tao kể năm 78-79 dân mình sắp chết đói. Làm sơn mài cũng có cái thú đam mê của nó. Đối với tao thì còn thêm tự ái nữa. Người ta làm được thì tao phải làm cho được. Sáng, sáu giờ thức đậy chưa đánh răng tao đã mài…, mài mài, mài đến trưa vẫn còn mài. Nửa đêm thức giấc đi tiểu tao cũng ghé thăm mấy tấm tao mới sơn đã khô chưa. Nghề này chính thằng Bích Ngân, thằng Tiểu, và cả ông Lê coi khóa mình ngày xưa cũng bảo là tao ngu, chọn chi cái nghề vất vả như vậy. Nhưng tại tao thấy thích. Lời tính ra rất ít so với công của mình bỏ ra. Chờ ngày qua bên Mỹ, hi vọng tao làm hơn lương mấy đứa làm năm cọc ba đồng mậy.
Mạnh Hải flickr
Bán buôn thì có các gian hàng nhà nước, hoàn toàn do nhà nước đảm trách, hoặc hợp tác kinh doanh, một nửa của nhà nước một nửa của tư nhân. Hàng phần lớn được mua tự do, ngoại trừ một số ít mua phải có phiếu, nếu không muốn mua giá chợ đen gấp rưỡi, gấp hai giá chính thức. Làm việc thì cũng ngày tám tiếng, chúa nhật nghỉ. Chiếu phim thì có phim Ba Lan, Tiệp, Đức còn coi được, hầu hết phim Liên Xô dở ẹt. Chiếu video thì là phim tư bản, phần đông là phim thần thoại ca vũ nhạc, không mang màu sắc chính trị, xem cũng vui. Ăn uống cũng đủ thứ, làm thì ít tiền đó nhưng nhà hàng thì mở ra khắp nơi. Bia bock, bia 33, bia lon… Một lon bia ngoại quốc giá bằng một tháng lương công nhân viên, vậy mà cũng có hạng người uống một lần cả két. Còn tao thì từ lúc ra tù đến giờ, có một lần uống được một lon “ham”. Để nhớ hương vị xưa, chớ cũng chả thiết vì mắc quá. Có tiền thì muốn ăn thứ gì cũng có. Bọn tụi mình thì chỉ còn món nghêu, món bình đân. Một đĩa nghêu có hai mươi đồng, mà một chai bia đến một trăm đồng. Nhưng mình có đế, cây lý, rượu thuốc. Mấy thứ này thì cấm bán, nên có uống cũng phải uống lén, rượu đổ vô bình trà rồi uống như uống nước trà. Cũng vui.
Thế đấy mày… Còn bây giờ thì tao có việc tao muốn nói với mày đây Hùng! Run chưa mậy! Rét chứ Hùng? Hùng “rét” mà không rét sao được. Đ.M. tao có thằng bạn thân nhất HQ, học ra tiến sĩ mà chẳng giúp gì được tao cả. Tao nghe mày nói gửi thư cho mày ở trong sở, để nói chuyện riêng được, tao mừng. Tao sợ bà xã mày biết, tao quê. Mày xem gửi gì được thì gửi về tao một thùng coi. Cứ đề tên bà già vợ tao cho tiện. Một là để tao được yên ủi phần nào Hùng ơi, hai là tao đỡ kẹt. Hùn hạp làm ăn gần một năm nay bị thua lỗ liên miên, cuối cùng nhảy qua làm sơn mài cũng kẹt cứng. Mày nhớ nhé, làm liền đi. SOS, tao sắp chết. Mày cũng đừng cho bà xã mày biết nữa, quê lắm.
Thằng Hội “tà” gặp mày không vui như xưa là tại vì tánh nó xưa nay vẫn vậy, vẫn “tà tà” không niềm không nở, thêm nữa là nó mặc cảm lớn với mày đó. Tao đây còn có mặc cảm với mày huống chi là nó. Mày làm trưởng ban nhạc à? Tao đổi qua classique, êm dịu hơn. Còn vấn đề chạy bộ, giữ gìn sức khỏe của mày cũng tốt, tao thì mỗi ngày đạp xe đạp năm mười cây số , có khi lên tới ba chục cây, là đủ rồi. Thể thao thì tao còn sức đó, vẫn như Trương Phi mày à, nhưng chẳng thiết chơi món nào. Có cái rượu thì uống hoài nó cũng hư người. Ngừng nghe Hùng. Bạn mày.
TB: Việc quan trọng của tao, tao đã nói với mày rồi, bây giờ tao nói tiếp chuyện chơi. Đọc thư mày nói bên ấy đàn bà là số một, con nít thứ hai, con chó thứ ba, rồi mới tới lũ mình…, bà xã tao lại thêm một lần trách tao, nói là tao ích kỷ, sợ mình không còn là số một nữa nên không dám dẫn vợ vượt biên như tụi thằng Việt, thằng Hoàng…, bây giờ tấp vô Úc rồi.. Mà thấy ra ở Việt Nam sướng hơn nhiều mày à. Trai thiếu gái thừa, thì cái việc có vợ rồi còn đèo bồng thêm nữa cũng không thiếu gì. Nhà nước còn cho phép công nhân viên trên ba mươi tuổi, muốn có con với ai thì đăng ký ở với người đó. Không phải thụ tinh nhân tạo đâu. Khi sanh con ra người cha khỏi phải phụ cấp đứa trẻ, mà người vợ cũng không được phép ghen tương nữa mày à. Sướng không? Nhưng chẳng có ai chịu đăng ký với tao cả. Thỉnh thoảng tao ghé con Vàng, giờ đã có chồng hai con, nó có nhắc đến mày và nói về con Hà của mày… “Vòng tay ôm hết thiên hạ” của mày đâu? Sao, bây giờ kêu là mòn mỏi à? Chán chưa? Tao thì bắt chước thằng Nghĩa, là cũng có “đào nhí” nữa mậy. Hai mươi tuổi thôi. Chiều chuộng đủ thứ, cũng mệt. Nghe thèm chưa Hùng? Tao biết mày khoái cái mục này lắm. Khi xưa khoái đủ thứ, khoái luôn cả con Ngọc cháu ông hạm trưởng. Đẹp cái gì đâu hả mậy? “Đẹp đến cục cứt… cũng đẹp”! Chán mày quá! Câu nói đó đi vào lịch sử được!
Đêm đã khuya, tiệc đã gần tàn. Hoàng nghĩ mình đãi bữa này cũng không đến nỗi tệ lắm. Bạn bè có mặt đầy đủ. Mình không quí người ta ai quí mình, mình không đến với người ta ai đến với mình. Cũng có lý. Ở cái thành phố nặng mùi thuốc lá này, Winston-Salem, North Carolina, số gia đình Tar-Heel gốc Giao Chỉ của mình cũng không có mấy. Đếm đầu ngón tay. Số ít nhưng tình nhiều. Chiều thứ sáu mà không có điện thoại của bạn bè thấy như thiếu một cái gì. Mình muốn quên hãng xưởng, quên làm lụng để thấy weekend còn dài. Chiều thứ bảy vẫn là những mục tiêu lón. Và chiều chúa nhật là những gì còn sót lại, những gì khẩn cấp cần thiết, vì thứ hai còn phải đi làm. Ba chiều phải có một chiều, một chiều cho đồng hương, cho quê hương. Ba chiều có đủ ba chiều thì càng hay. Lắm khi liên tiếp ba chiều được Việt ngữ hóa, sáng thứ hai vào sở phát ngôn mấy tiếng Mỹ đầu ngày như bị ngọng. Buổi họp về việc tổ chức văn nghệ gây quỹ bữa nay cũng thành công. Còn dợt nhạc, còn gặp nhau dài dài…
– Anh cũng ở Sông Cầu nữa hả. Mà sao anh biết Nghề ở Sông Cầu?
Hoàng cũng không hiểu câu chuyện đầu đuôi ra sao mà bây giờ dẫn tới màn này, câu hỏi này. Hoàng trả lời đại:
– Thì nghe thằng Thành nó mới nói.
Advertisement
Nghề ra vẻ trầm ngâm suy nghĩ :
– Tù hồi qua Mỹ đến giờ em chưa bao giờ nói với ai là em ở Sông Cầu.
Hoàng cắt ngang:
– Sao vậy. Quê hương của mình mà, làm gì mình lại chối bỏ.
– Em chỉ muốn sống với quê hương cho riêng mình mà thôi. Em cứ nghĩ hình như trên đất Mỹ này không còn ai biết Sông Cầu là gì cả. Thằng Thành nữa, nó chỉ biết em ở đó thôi chứ nó đâu có biết Sông Cầu về cái gì đâu… Mà anh còn nhớ trường trung học Sông Cầu ở hướng nào không?
– Nhớ cái gì! Anh chỉ nói sơ sơ từ chiếc tàu chìm trong vịnh, cái sân banh ngó vô dinh quận, bến xe đò cạnh quốc lộ 1, cái chợ cất bằng cột dầu vuông, lợp tôn cũng sát bên quốc lộ 1, với những buổi chợ phiên có bạn hàng xuống từ trên núi, và… những con heo nái dẫn con dạo phố cùng đường là đủ diễn tả Sông Cầu, cần gì cái trường trung học.
– Trời đất ơi, vậy là anh rành quá rồi. Không ngờ em lại găp anh. Anh ở Sông Cầu vào lúc nào?
Nghề đua tay ra bắt tay Hoàng, siết thật mạnh như tỏ lòng kính mến đàn anh. Hoàng lâng lâng thả hồn về một thời xa xưa, những ngày tháng nên thơ tại cái thành phố nhỏ nhoi miền biển này. Kỷ niệm như có đối tượng để được khơi lại, để đuợc bột phát, để được thấm thía một lần. Hoàng bắt đầu kể truyện.
***Phục vụ trên Hải vận hạm Tiền Giang HQ-405 mới được hơn một năm thì tôi được lệnh đổi lên bờ. Tôi là một trong những thằng cùng khóa bị đổi về bờ sớm nhất. Không khá được! Tất cả bạn bè đều còn ở dưới Hạm Đội mà mình phải lên bờ. Lẻ loi, bơ vơ, lạc đàn. Thiệt tình mà nói, lúc đó tôi đang khổ với ông hạm trưởng lé của tôi, tôi đang bị trù giống như thời tôi còn ở trong trường. Thuở đời nay, dưới tàu mà cũng bị cấm trại dài hạn, cho đến khi có lệnh mới. Nhưng, tôi vẫn còn thích đi tàu, đi tàu như đi du lịch khỏi tốn tiền. Tàu cập bến lúc nào cũng có bạn bè vì chiếc nào cũng có bạn cùng khóa, pont cũng như cơ khí. Vả lại hồi xưa mình đâu có khí phách anh hùng, đâu có chọn tàu tuần dương miệt mài biển khơi thì đâu gì phải lo. Tàu vận chuyển có hải hành nhiều lắm là bốn ngày bốn đêm, Sài Gòn – Đà Nẵng chẳng hạn, thì cũng cập bến, có dịp ngắm nhìn người đẹp, có dịp say sưa
Mạnh Hải Flickr
Cầm cái công điện thuyên chuyển đã thấy bất mãn mà lại thuyên chuyển về Tây Kết, bộ tư lệnh Vùng 2 Duyên Hải, Nha Trang, thì lại càng bất mãn hơn. Huấn luyện ở đó hai năm, hai năm tung tăng khắp phố phường, hang cùng ngõ hẻm đã nhàm chán rồi. Vậy mà bị đưa trả về đây. Lúc ra trường tất cả đã bàn giao cho khóa đàn em, cho con cái, cháu chắt hết rồi, bây giờ đâu có đòi lại được. Hơn nữa tôi cũng sắp sửa hết còn độc thân, Lan và tôi đã làm lễ hỏi năm sáu tháng nay, sau chuyến chở hàng về Cần Thơ. Bởi vậy lúc vác sac-marin vào Tây Kết tôi tự hứa: sẽ không bao giờ trở ra phố Nha Trang nữa. Rồi tôi được thảy xuống làm sĩ quan trực trung tâm hành quân. Chán chưa. Sĩ quan trưởng phiên trên tàu có lý hơn nhiều. Xung quanh mình còn có trời, mây, trăng, nước, còn được ra lệnh, còn được làm hạm trưởng tạm thời. Trong “ca” có súp, hết “ca” có đồ nhai, sẵn trong carré sĩ quan. Trực trung tâm hành quân chỉ thấy bốn bức tường và khói thuốc. Lên “ca” mì gói xuống “ca” mì gói ở câu lạc bộ và… cờ tướng, bi-da. Cờ tướng và bi-da như là nghề phụ của hầu hết các sĩ quan trực trung tâm hành quân. Nhờ cờ tướng và bi-da tôi lại ăn chịu và quen thân với đại úy Biên, trưởng phòng một, một tay cầm cơ có hạng.
– Đại úy làm sao đưa tôi đi khỏi chỗ này. Tôi chán ở đây quá.
– Mày đi mất tay chơi sao? Còn mấy chỗ thiên hạ chê đó mày muốn đi thì đi, Déji, Sông Cầu chẳng hạn.
– Còn mấy duyên đoàn ở phía nam chi cha nội, Cam Ranh, Thanh Hải gì đó.
– Không dễ gì đổi vô đó đâu, tao đề nghị tư lệnh cũng bác, mày mới tới có mấy tháng.
Rốt cuộc rồi cũng có ngày tôi khăn gói lên đường đi Sông Cầu, duyên đoàn 23. Còn đỡ hơn Déji, duyên đoàn 21, duyên đoàn địa đầu của Vùng 2 Duyên Hải. Hồi ở đây ngày nào cũng mong đi, đến lúc đi lại thấy buồn buồn, tiếc tiếc. Chiếc fibro-ciment, loại ghe chỉ được chế tạo tại hải quân công xưởng Việt Nam, của duyên đoàn gửi về sửa chữa ở Cầu Đá đã xong và sẵn sàng chờ tôi tách bến. Ngày ra đi tôi đến từ giã đại úy Biên, ổng lại gửi tôi một câu thòng:
– Hoàng, mày muốn được đổi về Sài Gòn không? Nếu muốn thì ký tên vô đây để tao đề nghị mày về học tình báo. Ở đây cóc có tên nào chịu đi.
Tôi ký tên đại vào chỗ trống có đánh dấu. Đúng ra tôi chỉ muốn trở về Sài Gòn thôi. Học một khóa sáu tháng mình như được đi phép sáu tháng, học một năm mình đi phép một năm. Chứ học tình báo thì tôi chưa biết có thích hay không. Chẳng lẽ lại đổi nghề à, nghề hải quân của mình nó cao đẹp nên thơ lắm, bỏ sao được. Thây kệ tới đâu hay tới đó.
Tôi xuống ghe duyên đoàn 23 đi về duyên đoàn. Thủy thủ đoàn biết tôi mới đổi về đơn vị săn sóc tôi rất chu đáo không như mấy đứa hạ sĩ quan, đoàn viên ở trung tâm hành quân, công việc ai nấy làm, mì gói ai nấy ăn, mình như quan không có lính. Xế chiều ngày hôm sau thì ghe về đến bến. Vịnh Sông Cầu rộng lớn, sóng nước nhấp nhô trông như một mặt hồ hơn là mặt biển. Tôi ngạc nhiên thấy chiếc tàu chìm, cứ tưởng mình đang đi trong sông vì tàu thường chìm trong sông chứ tàu đâu chìm ngoài vịnh. Ống khói, cột cờ đài chỉ huy in bóng dài trong nắng chiều. Chỗ này như là chỗ đi câu lý tưởng, mà sao không thấy ghe tàu đánh cá, xứ gì lạ vậy. Tất cả như im lặng, không hoạt động.
Ghe cập cầu, tôi ngạc nhiên thấy người đón tôi là trung úy Tám, em của thằng bạn cùng khóa, thằng Kiết. Tôi chào trung úy Tám, qua lại vài câu xã giao rồi lang thang theo hắn ta về trại. Duyên đoàn nằm dọc theo sông Sông Cầu, bắt đầu từ cửa sông có cái miếu Thổ Thần cho đến cây cầu sắt trên quốc lộ 1. Một bãi cát dài chỉ thấy một nhà kho, và một nhà tiền chế trống trơn không có vách. Nhiều lô-cốt phòng thủ vòng đai dọc theo bờ sông, có kéo mấy lớp kẽm gai tròn. Lội cát một khoảng đừ người mới đến câu lạc bộ, cư xá hạ sĩ quan và đoàn viên, rồi đến khu sĩ quan và cố vấn Mỹ. Tôi bỏ đồ đạc vào phòng rồi xuống câu lạc bộ sĩ quan, Hội Trùng Dương, một cái nhà sàn ngó ra dòng sông. Trung úy Định cùng khóa với ông Tám, khóa 15, làm chỉ huy phó. Ông Tuấn, cũng trung úy, khóa 14, làm chỉ huy trưởng. Ai cũng trung úy hết, chỉ có tôi là thiếu úy, khóa 17. Mà sao không có đại úy? Tôi đến đúng vào giờ cơm nên nhảy vô nhập tiệc luôn. Tất cả đều độc thân, chỉ có ông Định là có gia đình, vợ mới cưới, chưa con cái và có nhà riêng ở ngoài phố. Cơm nước xong xuôi còn lại tôi và ông Tám, ông Tám nói nhỏ cho tôi biết chỉ huy trưởng của mình là em của trung tướng Lê Nguyên Khang, em của trung tá Lê Khánh, tỉnh trưởng Khánh Hòa. Vậy sao, hèn chi ổng mới trung úy đã nắm chỉ huy trưởng rồi. Tôi thấy mình như Tôn Tẩn bắt được cây Hạnh huỳnh kỳ. Trên đầu như có cây dù quá ớn, bảo đảm lần thuyên chuyển này sẽ không đến nỗi.
Mạnh Hải Flickr
Sĩ quan ăn uống khỏi tốn tiền lại có đầu bếp giỏi, trung sĩ Ngô. Dọn dẹp phòng ốc, giường nệm và giặt ủi áo quần có hạ sĩ Nhánh. Còn đòi hỏi gì nữa. Tôi được chỉ định làm sĩ quan kỹ thuật, coi việc bảo trì sửa chữa máy móc tàu bè, kiêm sĩ quan chiến tranh chính trị, lo việc phát thực phẩm, áo quần cũ, thuốc men, quà tâm lý chiến nói chung, cho dân nghèo. Việc hành quân, tuần tiễu do mấy ông lớn lo hết, lý do, tôi chưa có kinh nghiệm chiến trường. Còn gì phải đòi hỏi? Cố vấn Mỹ có ba tên, đại úy Pine, trung úy Alexander, và trung sĩ Mập, tại vì hắn ta mập quá và thích được kêu như vậy. Đại úy Pine và trung sĩ Mập nói tiếng Việt cũng khá lắm, biết chửi thề, văng tục. Không biết ai dạy tụi nó, thâu băng cho tụi nó mà tối ngày cứ nghe tape, thực tập rồi phát ngôn bừa bãi, rồi cười.
Tôi ở được ba tuần chưn ướt, chưn ráo thì đến ngày xin phép về Mỹ Tho cưới vợ. Ông bà già vợ nghe nói phải đi ra tận miền Trung thì ngại lắm, nhưng con gái lấy chồng thì phải theo chồng, đâu có cản được. Ngày ra đi bà già khóc sướt mướt làm như tôi đưa con bà đi tới chỗ chó ăn đá gà ăn muối, làm công lên chuyện xuống gì nhọc nhằn lắm vậy. Tôi phải trấn an Lan vì Lan cũng chưa lần nào ra Trung, ngoài ấy sống được lắm, em khỏi phải lo gì ráo trọi, tôi nói như vậy. Và lời nói này quả thật không sai tí nào hết. Đây có lẽ là lần đầu tiên Lan có dịp đi Air Việt Nam. Đáp xuống phi trường Tuy Hòa xong hai đứa tôi đón xe đò về Sông Cầu. Cũng là dịp đầu tiên cho tôi được đi qua vùng này bằng đường bộ. Thường thường hải quân phải đi đường sông đường biển, nhưng mấy ai dẫn vợ đi tàu, vừa lâu vừa bất tiện. Đường miền Trung lên đèo xuống vịnh, ngoằn ngoèo trong núi, mù tít trong rừng. Nhiều đoạn di chuyển thật chậm, theo toán rà mìn của lính Mỹ, lính Đại Hàn. Mệt mỏi rồi cũng đến nơi. Phòng ở độc thân của tôi trở thành phòng có gia đình. Cũng không sao, kéo thêm tấm rideau cho kín đáo một chút. Bên mặt là ông Tuấn, bên trái là ông Tám, ai cũng muốn dành căn bìa, hai đứa tôi phải ở căn giữa. Lan cũng nhảy vô carré sĩ quan “ăn chùa”, tạo thêm đề tài cho ông Tám, ông Tuấn. Bữa ăn nào cũng vậy, ít khi kết thúc sớm.
– Rồi, bữa nay ông Hoàng chọn ngồi phia này đặng dễ dàng ngó qua phía đầu cầu bên kia rồi.
– Ngó qua bên đó rồi sao?
– Bà này làm bộ ngây thơ nữa. Bà không biết bên đó có cái quán nước hả. Cô chủ quán cũng coi được lắm nghe, hồi bà chưa ra cổ để ý ông Hoàng dữ lắm đó.
– Không biết để ý ông Hoàng hay ông Tám đây, cái gì cũng đổ tội cho ông Hoàng hết chắc có ngày nồi cơm bị bể.
Lan xen vào:
– Chỉ huy trưởng nói vừa vừa thôi.
– Cái bà này hiền khô, tui chịu cái tánh bà bình dân. Người đẹp phải đẹp cả thể xác lẫn tâm hồn. Tui không ưa cái thứ son phấn, õng ẹo. Khỏi cần giải thích tụi tôi cũng biết ông Tám muốn nói xiên nói xỏ bà Định, ông Tám không ưa gái Nha Trang và cũng có lẽ tại ông Định là bạn cùng khóa mà trên quyền… Cơm nước sẵn ngày ba bữa sáng trưa chiều, còn bữa tối thì đôi khi tụi tôi phải làm lấy, khi trung sĩ Ngô không có ở trong trại. Gà vịt thì nuôi sẵn bên chuồng, cá, cua, tôm hùm thì rộng sẵn dưới sông muốn ăn lúc nào cũng có. Riêng phần tôm hùm, mấy đứa có nghề lặn được giao nhiệm vụ đặc biệt: đi bắt tôm hùm cho chỉ huy trưởng. Mỗi ngày. Vậy mà lớp ăn lớp cho cũng hết. Không lần nào về Nha Trang họp mà ông Tuấn không mang theo tôm hùm. Tôm hùm vừa cỡ ăn mới ngon, nhiều con lớn quá, “tôm biết nói”, bằng bắp đùi trở lên thì bị chê, nướng thơm phức trong lò mà không ai thèm ăn. Trung sĩ Ngô nấu mấy món ăn kiểu Tây thì hết sẩy, có điều ai cũng phàn nàn là bánh mì Sông Cầu sao mà cứng quá, hình như chỉ làm toàn bằng bột gạo, không có bột mì.
Mạnh Hải flickr
Vài tuần sau ông Định tổ chức đi biển. Hải quân tổ chức đi biển thì chỉ có đi đảo hoang, bãi hoang chưa người đặt chân tới. Vậy mới thú, vậy mới thần tiên, cứ tưởng như mình là chúa đảo. Rau sống bánh tráng làm sẵn ở nhà mang theo, bia lạnh đã vô thùng đá. Mấy thằng em thì quá rành với việc đánh cá bằng chất nổ. Dân đánh không được chứ mình đánh được, bởi vậy phải kiếm chỗ hoang vắng. Phải lựa bầy cá thật nhiều, thật to mới làm một phát. Một trái lựu đạn MK3 là cá chết ngập mắt cá chân, cá đuôi đỏ. Xúc lên ghe vài thùng nướng liền tại chỗ, cá tươi ngọt làm sao. Lần đi này có thêm vợ chồng đại úy Bê, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn pháo binh, và vợ chồng ông Thân, trưởng chi quan thuế.
Tháng sau ông Định bỗng nhiên được lệnh đổi về Nha Trang. Tôi mới tới, ông Định lại đổi đi, rồi sẽ có sĩ quan thay thế, hình như ở trong hải quân không ai được ở yên một chỗ. Ông Tám lên làm chỉ huy phó, tôi làm sĩ quan đệ tam tuy nhiên công việc của tôi cũng không có gì thay đổi, tôi cũng chưa có kinh nghiệm chiến trường. Vợ chồng ông Định đi, nhường lại vợ chồng tôi căn nhà ngoài phố. Tưởng là thuê mướn gì ai dè cũng ở không. Cư xá của quan thuế, cư xá của ông bà Thân, một dãy nhà gạch năm căn. Nhân viên quan thuế không có ai thiếu chỗ ở, nên cư xá được nhường cho các quân binh chủng bạn, hải quân, cảnh sát, pháo binh… Ồng bà Thân ở cái nhà giữa lớn như cái dinh có sân cờ, có cổng vào hẳn hòi. Đối diện với khu quan thuế, bên kia đường là nhà của ông bà đại úy Bê, Lan có thêm bạn để trò chuyện, đi qua đi lại cũng gần. Lúc này vào dạo hè, dân miền núi hay xuống miền biển nghỉ mát. Cô Bộ, em bà Bê cũng từ Kontum xuống Sông Cầu thăm chị, ở chơi vài tuần trước khi nhập học. Lan lại có thêm bạn bè nữa để trò chuyện. Ngang ngang tuổi, cô Bộ và Lan thân nhau ngay. Đặc biệt hơn, sau mấy lần tiệc tùng tại nhà ông bà Bê, ông Tuấn lại có cảm tình với cô Bộ. Phen này anh chàng hết dám chọc mình rồi, chọc mình mình chọc lại. Nói vậy chứ ổng bề gì cũng là chỉ huy trưởng của một đơn vị, chuyện tình cảm lúc nào cũng kín đáo, dè đặt. Ông Tuấn không bị chọc mà ông Tám lại bị kết làm đề tài:
– Ông Tuấn bây giờ có nơi có chỗ rồi, giờ chỉ còn mình ông thôi, kiếm một người nào gần đây đi khỏi phải đi Tuy Hòa chi cho xa… Cô bán gạo dưới chợ coi cũng được lắm đó, trung úy.
– Thôi đi ông bà ơi, thôi để tui chịu khó đi xa xa một chút đi. Ở đây không được đâu, mang tiếng chết. Chỗ này nhỏ, có gì một chút thiên hạ đồn rùm beng lên, khó làm việc lắm.
– Rồi chừng nào cho ăn đám cưới đây. Lúc này thấy ông đi Tuy Hòa đều đều, đi hai ba bữa mới về nữa.
– Đi như “đi giải độc” vậy thôi, vợ con gì, cưới hỏi gì. Rồi cô Bộ và ông Tuấn càng lúc càng khắn khít. Nhanh thiệt. Cô Bộ muốn ông Tuấn về Kontum một lần cho biết nhà, biết gia đình nhưng chưa biết làm sao để ngỏ lời. Ngày về cũng gần, không thể bỏ 1ỡ dịp may. Rồi không biết ai đề nghị, cô Bộ và Lan về Kontum trước, ông Tuấn và tôi hai tuần nữa sẽ lên sau. Gặp lúc đi họp, ông Tuấn đưa cô Bộ và Lan đi Qui Nhơn ở một đêm rồi sáng hôm sau mới ra bến xe đò về Kontum. Tôi có bàn với Lan đi như vậy em có làm cản trở tay chân người ta không. Lan bảo cô Bộ không muốn đi một mình với ông Tuấn, mà ông Tuấn cũng không muốn như vậy. Cũng được, mình có địp đi phép về miền núi. Đến chừng đi họp về, ông Tuấn đổi ý không đi Kontum vì bận lo công vụ, nhiều kế hoạch hành quân mới của Vùng vừa đưa ra phải chuẩn bị thi hành. Sẽ có thêm sĩ quan bổ nhiệm về đây. Tôi phải đi Qui Nhơn rồi Kontum một mình để đón Lan về. Lần đầu tiên qua đèo An Khê, lần đầu tiên đi qua Pleiku phố núi, phố núi cao, phố núi đầy sương… đi năm phút, trở về chốn cũ…, lần đầu tiên đến Kontum. Cũng may là ba của cô Bộ làm xếp ở văn phòng Air Việt Nam nên tôi cũng dễ tìm một chút. Cô Bộ buồn, khóc, trách ông Tuấn quá chừng khi thấy tôi đến có một mình. Chẳng làm gì khác hơn được, Lan và tôi được dịp đi thăm thành phố có cái nắng chang chang nhưng lành lạnh này. Còn nhớ chợ Kontum, còn nhớ dòng sông Dak Bla, còn nhớ ký túc xá Bok Kiom, và còn nhớ những làng Thượng với những mồ mả có hàng rào cây tạc hình đầu người. Rồi phút chia tay cũng đến, ai muốn gửi lời thăm, lời nhắn nhủ, lời dặn đò? Hẹn rồi sẽ có ngày gặp nhau. Hẹn rồi sẽ thư từ qua lại. Chúc tụng nhau những gì thật ân cần, thật tốt đẹp… Đến Qui Nhơn thì trời cũng về chiều. Còn chuyến xe lam cuối cùng về Sông Cầu.
Mạnh Hải flickr
Tôi còn hỏi lại cho chắc:
– Liệu có về kịp không bác tài.
– Kịp mà.
Không ngờ gặp chiếc xe chạy như rùa bò, chạy hoài không thấy tới đâu hết. Mặt trời chếch bóng, rồi mặt trời lặn. Vài ánh nắng chiều thoi thóp. Không cách gì về kịp, phải chiếc xe khác thì chắc đã tới mất tiêu rồi. Hành khách đã xuống hết dọc đường chỉ còn hai đứa tôi ngồi bó gối. Trời một lúc một tối thêm, xe bật đèn, chạy được một lúc thì ngừng lại cạnh cái quán cóc bên đường.
– Mời cô bác xuống xe.
– Sao vậy? Chưa tới mà!
– Không đi được nữa, đi đêm đoạn này nguy hiểm 1ắm. Ngủ lại đây.
– Ngủ chỗ này sao được, tụi này đâu có quen ai ở đây. Đây là đâu rồi?
– Tuy Luật Hòa.
Chưa từng nghe qua, chưa từng biết tới. Sao có chuyện này được, bác tài này ác vừa vừa thôi chứ. Tụi tôi chần chờ chưa chịu xuống, thì hắn ta tiếp luôn:
– Muốn đi theo tôi thì đi, ở đây thị tứ còn đỡ chứ theo tui thì càng nguy hơn.
Chẳng lẽ thằng cha này là Việt Cộng nằm vùng, là giao liên thành phố cũng không chừng. Chúm được mình thì lập công to với Bác và Đảng rồi. Không được, tôi kéo Lan xuống xe, vào quán uống nước nghỉ xả hơi trước, rồi hỏi thăm tình hình sau. Tuy Luật Hòa, Tuy Luật Hòa là đâu. Chiếc xe lam chạy theo quốc lộ 1 một đỗi rồi quẹo về phía biển mất dạng. Gặp thằng Mỹ làm hãng thầu RMK, hắn hiểu hoàn cảnh và mời hai đứa tôi về chỗ nó ở, ngủ qua đêm. Đâu có được, cũng đâu có tin thằng Mỹ này được. Cám ơn lòng tốt của nó, tôi còn Lan, còn vợ con phải bảo vệ. Phải nhờ bà chủ quán chỉ đường vô văn phòng xã. Khỏi phải lo, chờ một chút, chờ thằng Mỹ về, đóng cửa quán rồi đi luôn. Từ quốc lộ vô xã cũng xa, băng qua mấy nhà kho của Mỹ và một đơn vị Đại Hàn. Tại văn phòng xã anh em nhân dân tự vệ súng ống hẳn hòi đang tập họp để chuẩn bị phân nhóm đi canh, đi kích. Ai cũng từ chối khéo. Nước cùng tôi vọt miệng nói với người trưởng đoàn:
– Thôi, làm ơn cho tụi tui ngủ tại văn phòng này đi.
– Không được đâu, tôi khóa cửa và về ngay bây giờ… À, đâu để tôi dẫn chú em lại nhà thiếm ba coi.
Bây giờ đi đâu cũng được, tới đâu tính tới đó, hi vọng gặp hên. Thêm một đổi quanh quanh quẹo quẹo trong xóm, chúng tôi đến một dãy nhà lá cất rời nhau từng cái một, nhưng cái này khít khít cái kia như thiếu đất.
– Thiếm ba ơi?
– Ai đó.
– Tui đây.
Nghe tiếng người quen thiếm ba mở cửa, cánh cửa bằng lá được đẩy lên trần, cửa mở như kiểu mở cửa garage. Người đàn ông phân trần hoàn cảnh thay cho hai đứa tôi. Thiếm ba hiểu ý trả lời:
– Cũng được.
Ngọn đèn đầu không đủ sáng, leo lét soi lờ mờ khắp căn nhà như có một phòng. Phòng khách có cái bàn và mấy cái ghế, phòng ngủ có cái giường phía bên kia, phòng ăn nhà bếp thì cũng có mấy ông táo nằm đó. Vậy rồi phòng khách đâu, mình ngủ ở đâu. Thiếm ba chỉ cho cái ghế bố để dựa bên vách. Mới bước vào nhà là đã nghe mùi đàn bà đẻ rồi nhưng chưa dám chắc, đến lúc thấy bộ đi, tướng đứng của thiếm ba như học trò lễ mới biết là mới sanh, non ngày non tháng. Tôi nhảy lại bê cái ghế bố trải ra gọn gàng như của mình. Cái ghế bố nặng quá chừng mà không thấy gì mệt nhọc. Thiếm ba lấy đưa cho tôi một cái mền mới rồi chun vô mùng với đứa nhỏ chẳng nói thêm tiếng nào.
– Chị muốn tắt đèn hay để đèn?
– Chú muốn tắt cũng được.
Đàn bà ở một mình, chắc thiếm ba để đèn sáng đêm, bữa nay có khách khỏi phải lo. Tôi thổi đèn, bóng đêm chợt phủ trùm, đen như mực. Mò mẫm lại ghế bố nằm, tôi tung mền đắp bít chân bít đầu cho cả hai. Tôi biết Lan muốn trách tôi tại sao không ở lại đêm ở Qui Nhơn để khỏi phải gặp cảnh trắc trở như vầy nhưng nàng không nói được
Mạnh Hải flickr
. Bây giờ phải im lặng và ngủ thôi, làm ồn ào con thiếm ba thức thì lại càng không ổn. Nói vậy mà nửa đêm thức giấc hai đứa thì thào và làm đủ trò trong chăn mà chẳng thấy thằng nhỏ giật mình. Tờ mờ sáng thức dậy, không cần đánh răng rửa mặt, cám ơn thiếm ba rối rít đặng đi về. Thiếm ba cũng ừ hử ở trong mùng mà không thèm bước xuống đất. Cửa không khóa, mở lên sập xuống là hai đứa đã bước vào với thiên nhiên, không khí trong lành của buổi sáng. Cứ theo con đường duy nhất của xóm mà đi thì gặp đường cái, rồi theo đường cái ra quốc lộ 1. Bây giờ mới có dịp nhìn lại cảnh vật hai bên đường đêm rồi mình đã đi qua. Tất cả như khác lạ. Ra đến quán thì thấy mấy chiếc xe lam chạy sớm đã đậu thành hàng. Chỗ này lại là bến xe? Hai đứa nhảy lên chiếc đậu đằng trước. Bác tài chờ khoảng mười phút không thấy ai nữa thì rồ máy chạy. Không ngờ từ Tuy Luật Hòa xuống Sông Cầu đâu có xa, thêm chiếc xe chạy như gió. Về ngang duyên đoàn chưa đến tám giờ, chưa đến giờ làm việc, Lan và tôi về nhà tiếp tục ngủ, chuyện “báo cáo tình hình Kontum” cho ông Tuấn hạ hồi phân giải, thiếu chút nữa bị thiên hạ bắt cóc rồi…
Một tháng sau chuẩn úy Tâm đổi tới đơn vị.
Tâm còn trẻ, ít nói, lại không ưa hải quân, bảo là bị hải quân bạc đãi. Từ Thủ Đức chuyển sang, không được mang danh hiệu hải quân trung úy, hải quân thiếu úy như các sĩ quan xuất thân từ trường hải quân, mà gọi là chuẩn úy chiến binh. Chiến binh viết tắt là CB. Hạ sĩ quan và đoàn viên hải quân lại không ưa sĩ quan chiến binh gán hai chữ “Cán Búa” thay cho chữ CB… Chuẩn úy Cán Búa… Tôi có trách nhiệm hướng dẫn và bàn giao chức vụ sĩ quan kỹ thuật và chiến tranh chính trị cho Tâm. Tôi làm một lần phát quà thiệt lớn và dẫn Tâm đi theo. Khu phát quà nằm dưới miệt Gành Đỏ, khu nổi tiếng có nhiều Việt Cộng. Nhân viên ban hai cũng thừa cơ hội này đi theo để dò la tin tức. Sĩ quan có trung úy Alexander, Tâm, và tôi, hạ sĩ quan có trung sĩ nhất Dương phụ tá ban chiến tranh chính trị, trung sĩ Ninh y tá, và một lô thủy thủ đoàn. Quà cáp chuyến này mang theo gấp đôi số lượng. Tất cả dồn lên chiếc “chủ lực”, loại ghe lớn của hải quân. Vừa vào vịnh đã thấy một bãi cát thật đài, rồi cát và rau muống biển xen lẫn nhau trông như một đồng cỏ xanh bao la, xa tít. Đến bìa rừng mới có tàn cây bóng mát, có lẽ vì vậy mà không ai cất nhà ngoài bãi trống này. Dương và tôi đến trụ sở ấp trước tiên, một ngôi nhà lá lụp sụp vừng ba phía vách để trống mặt tiền và bên trong có kê một cái bàn và lỏng chỏng mấy cái ghế đẩu. Nhân viên ban hai mới lên đã phân tán mỏng vào xóm, hình như tụi nó đã từng ăn dầm nằm dề ở đây. Đường ngang đường đọc, hẻm hóc chằng chịt trong bụi lá rừng cây. Dân chúng tề tựu về trụ sở ấp càng lúc càng đông, người nào cũng trông lê thê, lếch thếch. Quà tâm lý chiến cất lên xong thì ông trưởng ấp cũng chỉ thị ông “tà-1a”, mang ống loa đi phát động khắp vùng. Ông tà-la đi theo đường mòn lên xóm trên, vừa khuất dạng được một lúc thì nghe một loạt đạn nổ chát chúa, tôi hỏi:
– Cái gì vậy Dương, ai nổ súng mà chưa có lệnh bậy bạ như vậy?
– Dạ, chắc không có gì lạ đâu.
Anh hạ sĩ đứng kế bên vọt miệng:
– AK nổ đó thiếu úy, không phải mấy thằng em mình đâu.
Tôi cũng chưa rõ tiếng súng AK khác với tiếng súng M-16 của mình ra sao. Chưa nghe loạt thứ hai, chưa biết được. Tôi bảo:
– Sao chỗ này kỳ vậy Dương. Anh kêu anh em tập họp hết về ngay đây cho tôi.
– Dạ. Nhìn đi nhìn lại chỉ có Dương, Ninh, một hạ sĩ và ba thủy thủ lẫn lộn trong đám dân, còn bao nhiêu đi đâu mất hết. Tôi có linh tính như đi chuyến này không yên, nhứt quá tam, hai lần trước phát quà vùng Từ Nham, Cù Mông thật là tốt đẹp. Xong việc rồi còn tiệc tùng với dân trong ấp, còn nhớ món gỏi “cá suốt” đặc biệt, những ngôi nhà xây bằng đá ong và đám dân hiền lành chất phác…
Mạnh Hải flickr
… Ông tà-la chạy như chạy cà nhắc trở về trụ sở ấp, nhưng không phải chân mà là tay, cánh tay trái ôm cánh tay phải xụi lơ, không cử động, máu me thấm đỏ làn vải đen, mặt mày nhăn nhó:
– Du kích về nữa rồi. Tôi bị bắn sẻ.
Ninh để ông tà-la ngồi xuống ghế băng bó vết thương, đạn đi giữa bắp tay trên, chắc trúng xương. Mấy thằng em nghe tiếng súng lạ cũng đã tự động qui tụ về, M-16 lên đạn nghe lách cách. Tôi cũng rút khẩu Colt 45 lên đạn.
– Còn chuẩn úy Tâm và trung úy Mỹ đâu?
– Chưa thấy lên, chắc đang đi giữa đường.
– Dương, kêu anh em rút ra bãi thôi. Mình không rành địa thế, ở đây bất lợi.
– Thiếu úy đi trước đi, tôi cho tụi nó sắp xếp đồ đạc rồi tôi đi sau.
Ông tà-la, Ninh, và vài ba đứa nữa theo tôi, còn phần đông ở lại với Dương. Gần đến bãi mới gặp Tâm và Alexander. Thằng Alexander thấy ông tà-la bị thương, thấy máu, rồi mặt mày tái dần tái dần xanh như tàu lá. Hắn im lặng rút khẩu Colt 45 lên đạn sẵn rồi để vô bao trở lại. Tôi yêu cầu nó gọi trực thăng tải thương. Nó làm nhiệm vụ và cho biết trực thăng sẽ đến trong vòng hai mươi phút, bây giờ mình phải chọn bãi đáp và bảo vệ bãi đáp. Bãi cát trống này đáp đâu chẳng được, tầm đạn Việt Cộng trong bìa rừng cũng bắn không tới. Chuyện này dễ. Ông tà-la được để lên băng-ca lúc nào tôi không hay, sắc mặt biến đổi, mất hết thần khí. Dương và đám nhân viên còn lại khệ nệ khiêng mấy bao bột mì, mấy bành áo quần cũ trở ra bãi. Tôi cằn nhằn:
– Bỏ cha nó trong đó cho rồi, khiêng tới khiêng lui chi cho mệt.
– Để đành cho chuyến tới, thiếu úy, khỏi phải báo cáo tổn thất.
Tôi kêu Dương sắp xếp nhân viên làm vòng đai phòng thủ cho bãi đáp. Hơn hai mươi phút rồi, không thấy máy bay. Thằng Alexander check lại mới biết hai mươi phút nữa, tình trạng này chỉ nằm ưu tiên hai. Hai mươi phút nữa rồi cũng đến. Khói màu thả lên làm hiệu. Trực thăng lượn một vòng rồi đáp xuống, băng-ca đưa vào, bốc lên bay đi lập tức… Trong khoảnh khắc dồn đập này tôi bất thần nhìn ra biển thấy ghe duyên đoàn xuất hiện chạy ào ào vào vịnh, một chiếc, hai chiếc, năm chiếc, rồi hình như cả hải đội của duyên đoàn. Sao có chuyện gì kỳ lạ vậy. Phút chốc đoàn chiến đĩnh vào tới nơi. Quan, lính nhảy xuống nước, súng dơ ngang đỉnh đầu lội vào bờ, đổ bộ, đổ bộ như trong phim The Longest Day. Tôi lội ra tiếp ông Tuấn và đại úy Pine:
– Sao commandant xuống đây?
– Thì chuẩn úy Tâm báo cáo anh đang đụng Việt Cộng, đang kẹt giữa đường, tiến vô đất liền không được mà rút ra bãi cũng không xong.
Bấy giờ tôi mới để ý là không thấy thằng Tâm ở đâu hết. Không ngờ nó lội ra ghe còn lên máy báo cáo bậy bạ. Đến giờ cũng chưa thấy ló đầu ra. Tôi giận:
– Tôi đâu có ra lệnh cho nó làm cái gì đâu. Cái thằng mất dạy này.
Tôi tường thuật mọi sự cho ông Tuấn, chuyện cũng chẳng có gì là quan trọng. Ông Tuấn cho biết ổng đã hiểu rồi, thằng Tâm đã báo cáo lại, nhưng lỡ đi rồi nên xuống đây luôn. Đại úy Pine, trước khi lại tiếp chuyện với thằng Alexander, đến bắt tay tôi mỉm cười:
– Đây là một kinh nghiệm tốt cho thiếu úy.
Tôi mím môi gật đầu, gật đầu.
Chuẩn úy Tâm bắt đầu đảm nhiệm chức vụ sĩ quan kỹ thuật và chiến tranh chính trị, còn tôi bắt đầu tham gia vấn đề hành quân tuần tiễu. Một vài lần kích đêm trong vịnh khi có tin tình báo cho biết Việt Cộng bè vũ khí từ biển lên núi. Đại úy Pine cũng thích đi kích với tôi, hắn lại thích trực những ca khuya để nhìn starlight scope, vũ khí mới mới trang bị cho duyên đoàn. Chưa có lần nào tôi bắt được bè. Phần hành quân của tôi không gì trở ngại lắm, chỉ thỉnh thoảng bỏ Lan ngủ một mình, nhưng phần chiến tranh chứnh trị của Tâm thì không ổn chút nào hết. Chuyện gì thằng Dương cũng lên báo cáo với tôi mà coi chuẩn úy Tâm như không có, tôi rầy hoài cũng vậy. Thằng có bệnh kỳ thị “sĩ quan cán búa” rất nặng. Tôi đứng giữa giải thích cho hai đứa biết thế nào là truyền thống, trách nhiệm, bổn phận và có lần đề nghị với ông Tuấn cho hai đứa làm hai ngành khác nhau. Ông Tuấn nói để coi lại, coi lại, rồi chần chờ cũng chưa có gì thay đổi. Cho đến ngày Thanksgiving, trong lúc ông Tuấn và đại úy Pine đi họp, ông Tám đi chơi ở Tuy Hòa, Lan và tôi trên đường vào trại vì tình hình lúc rày hơi động không dám ngủ ngoài, vừa bước ngang cửa câu lạc bộ hạ sĩ quan và đoàn viên thì nghe mấy tiếng súng nổ chát chúa bên trong. Tôi bảo Lan về phòng trước để tôi bước vào xem sao. Thằng Tâm bắn thằng Dương, có ba phát trúng vô người, một vô bụng, một vô bắp đùi, và một vô bắp chân. Dễ sợ chưa. Thằng Tâm chạy biến đâu mất, đám hạ sĩ quan nóng lòng bạn, đòi kiếm thằng Tâm trả thù. Tôi hết hồn kêu ông thượng sĩ quản nội trưởng tập họp tất cả nhân viên ra tuốt ngoài nhà tiền chế, giữ tất cả ở đó, và chờ lệnh mới. Vợ thằng Dương và mấy bà trong cư xá hạ sĩ quan túa ra, lớp khóc, lớp la, lớp chửi. Thằng Alexander có mặt tại đó lại chạy đi kêu trực thăng.
Mạnh Hải flickr
Tôi hỏi Ninh câu chuyện đầu đuôi ra sao, Ninh trả lời:
– Tụi tôi đang nhậu thì chuẩn úy Tâm và trung úy Mỹ đến cho biết sẽ chiếu phim cho anh chị em coi. Thằng Dương phản đối chuẩn úy Tâm nói: “đi chỗ khác chiếu phim chỗ này chỗ nhậu, tắt đèn đổ rượu vào lỗ mũi sao”. Chuẩn úy Tâm bỏ đi, không ngờ một lúc sau ổng trở lại với cây Colt và bảo thằng Dương: “tôi ra lệnh cho anh đi chỗ khác nhậu chỗ này chỗ chiếu phim”. Thằng Dương đứng dậy nói, chuẩn úy muốn bắn tôi hả, rồi dang hai tay banh ngực, nè chuẩn úy có ngon bắn tôi đi. Chuẩn úy Tâm lên đạn nói : “anh bước thêm một bước nữa là tôi bắn”. Thằng Dương bước tới là ổng bắn.
Tôi bước lại băng-ca kéo mền coi vết thương rồi đắp lại cho Dương. Máu ra nhiều quá. Dương run rẩy thì thào:
– Tôi lạnh quá thiếu úy.
Trực thăng tới tức thì và anh em phụ đưa băng-ca ra ngay. Vợ thằng Dương trao thằng nhỏ trên tay cho bà đứng kế bên leo lên trực thăng theo chồng. Viên đạn vô bụng thấp quá, sợ trúng bọng đái, khó sống… Tôi trở về khu sĩ quan tìm Tâm chẳng thấy nó trong phòng. Chạy qua khu cố vấn Mỹ thấy nó trong phòng trung sĩ Mập. Tôi chưa có câu nào thuận tiện đế nói, tôi im lặng thì Tâm mở lời:
– Thiếu úy, tôi không hiểu tại làm sao tôi lại hành động ngu dại như vậy. Cuộc đời tôi như đã tàn.
– Chuyện lỡ xảy ra rồi, không thể nào kéo lại được. Hãy nghĩ đến chuyện sắp đến thôi. Hi vọng thằng Dương nó không sao. Mình lo trấn an tụi lính và chờ chỉ huy trưởng về mới tính được.
Tâm bỗng nhiên nhảy lại chụp cây M-16 treo trên vách ôm vào lòng. Tôi la lên:
– Tâm, anh làm gì vậy.
– Tôi phải có cây súng mới được, thiếu úy. Tôi phải bảo vệ tôi.
– Anh ở đây là an toàn rồi. Tôi không để ai hại anh đâu.
Trung sĩ Mập tiến lại, từ tốn:
– Đưa nó cho tôi, làm ơn.
Tâm biết mình không thể giữ súng của người khác được, trù trừ một lúc rồi đưa súng cho thằng Mập, rồi ôm mặt khóc… Cũng may, lúc đó ông Tám bỗng nhiên ở đâu bang bang về. Tôi mừng hết sức, nói cho ông Tám biết sơ sơ câu chuyện và điều quan trọng là đám lính vẫn còn tập họp ngoài nhà tiền chế.
– Được rồi. Để tôi lo.
Đêm đó, ai cũng trải qua một đêm phập phồng.
Sáng sớm hôm sau ông Tuấn và đại úy Pine về đơn vị. Tôi để ông Tám báo cáo hết mọi việc xảy ra ở nhà và tôi chuẩn bị đi Qui Nhơn thăm thằng Dương. Không ngờ nó còn sống, còn nói đùa với tôi vài câu. Bác sĩ giải phẫu cũng lẹ, chai nước biển vẫn còn treo, dây nhợ chằng chịt. Tôi mừng cho nó, cho gia đình vợ con nó. Tôi bảo tôi sẽ còn ra thăm nó nữa và tôi phải trở về Sông Cầu trong ngày. Tôi lại đi thăm thằng Tâm, đang bị nhốt ở nhà giam của ban quân cảnh tư pháp. Tôi cho nó biết thằng Dương chưa chết, nhưng hình như nó chẳng màng về việc chết sống của thằng Dương. Nó nhắn tôi làm sao cho gia đình nó hay và biên cho tôi cái địa chỉ ở khu Hàng Xanh, Gia Định. Tôi hứa tôi sẽ làm điều này cho nó.
Mạnh hải flickr
Tuần sau, thêm một vụ làm chấn động dư luận nữa. Thằng Dân, một nhân viên của duyên đoàn đi ngủ đêm với điếm, không hiểu vì tư thù hay vì Việt Cộng, bị ném lựu đạn vô phòng nổ banh xác. Đâu ngờ cái quận ly nhỏ nhoi này cũng có gái điếm. Rồi vợ con nó từ Sài Gòn cơm ghe bè bạn ra hốt xương chồng, khóc, kể lể đủ điều, ông Tuấn cũng rầu thúi ruột.
Hai vụ khủng hoảng liên tiếp làm tinh thần binh sĩ trong duyên đoàn xuống dốc kinh khủng. Đi đâu cũng thấy tụm năm tụm ba bàn tán, không ai muốn làm việc. Cái thời vàng son như đã qua, những ngày êm đềm như đã mất. Ông Tuấn có ý định xin đổi đi chỗ khác, nhưng tôi lại đi trước ông Tuấn, tôi có lệnh đổi về trường Cây Mai học lớp tình báo, cách đó mấy hôm. Tôi mừng, Lan cũng mừng. Mình ra đi cũng vừa đúng lúc. Tiệc tiễn đưa tụi tôi cũng đủ mặt bạn bè. Ai cũng chúc may mắn, thành công. Còn nhớ ông Tuấn cho tiền mua vé máy bay, ông bà Thân cho ba cái áo len, một cho Lan, một cho tôi, và một cho đứa bé trong bụng. Lan có bầu. Ngày đi Lan và tôi còn ra miếu Thổ Thần cúng vái giã từ, cũng như hồi tụi tôi mới tới. Cầu nguyện cho duyên đoàn, cho những người ở lại được bình yên. Hai đứa đi xe đò về Nha Trang rồi mới đáp Air Việt Nam về Sài Gòn. Phải cho Lan biết Nha Trang, nơi mà hầu hết những sĩ quan hải quân truyền thống đã được đào tạo.
Cứ nghĩ như không còn dịp nào để trở lại miền Trung. Mà thật đúng như vậy. Mấy năm trước 75 còn gặp thiếu tá Tuấn, cũng còn độc thân, đổi về làm trưởng phòng Tâm Lý Chiến ở bộ tư lệnh Hải Quân. Rồi nghe đâu ông đổi về làm chỉ huy trưởng “chấm”, một task force thuộc lực lượng Trung Ương, trong vùng Tuyên Nhơn, Đồng Tháp Mười trước khi mất nước. Còn gặp vợ chồng đại úy Định và ba bốn con nhỏ ở Bình Thủy, Cần Thơ, trên đường thuyên chuyển về lực lượng Thủy Bộ, Năm Căn, Cà Mau. Còn gặp lại ông Tám, một nhóc tì và vợ mang một bụng bầu ở trại Fort Chaffec, Arkansas. Có lẽ không bao giờ gặp lại thằng Tâm, cô Bộ, ông bà Bê, ông Thân… Cũng không bao giờ gặp lại đám cố vấn Mỹ. Cho Lan, cho tôi, sáu tháng Sông Cầu như hai mươi bốn tuần trăng mật. Tình nào đẹp cho bằng tình cưới…
***
Đáng lý ra em phải gọi anh bằng chú, ba em, Thân như anh kể đó, bây giờ sa sút lắm rồi. Ba em phải xuống ghe đi đánh cá mà sống qua ngày.
Hoàng nhìn Nghề trố mắt. Con của ông bà Thân? Không lẽ thằng nhóc chạy lững cững ngày đó bây giờ lớn như vậy? Hoàng chọt nói như đang mơ:
– Phải thật em là con của anh chị Thân không? Ở Sông Cầu chỉ có một ông Thân quan thuế thôi.
– Ba em đó.
– Có hai đưa con, một trai một gái.
– Bốn đứa lận, hai trai hai gái. Hai đứa nữa chắc anh không biết đâu….
Sau đúng một ngày đêm đi bè, Ðường, Dzũng và Biên, cùng hai con trai ông Trương Hồng, chủ tàu, bị trận bão thổi dạt về lại chỗ xác tàu MT-603. Anh Lý giải thích cho biết ở những khu san hô luồng nước xoáy thường hay chảy vòng chung quanh trũng biển cạn. Khi cơn giông tạnh, cả năm chỉ còn cách xác tàu không xa, nơi đằng mũi tàu chứ không phải phía sau chân vịt như khi họ xuất phát. Vĩnh, Thành, Công và Hoàng lội ra kéo họ vào. Xác chiếc tàu đăng ký MT-603 tàn tạ hơn lúc họ đóng bè ra đi. Tầng đàn bà bị sập đã bị bọn thủy thủ phá gỡ. Anh Thành cho biết đêm trước tầng này đã sập thêm một lần nữa, làm chết thêm chín người. Bây giờ xác tàu chỉ còn hai phần: khoang trước và khoang sau với cabine và một tầng hầm lõng bõng dầu ma-zút. Chiếc thuyền tân trang sáu “lốc”, ba tầng gỗ mà ông Trương Hồng hãnh diện vì bảo đảm nhất vùng Bốn tan nát sau mười ba ngày rời Mỹ Tho. Anh Vĩnh cũng kể thêm cho Ðường và Dzũng biết hai vụ ẩu đả có tuôn huyết xảy ra giữa nhóm thủy thủ của ông Hỏa với nhóm Hoa kiều “dấn thân” giành nước uống và thực phẩm. Thành và Vĩnh đã không cản những bạn trẻ lúc họ đóng bè ra đi, nhìn hai người sinh viên có đôi chút khâm phục pha lẫn thương lại. “Tụi mày chì quá, nhưng liều mạng chưa đủ “ăn” đâu bây.” “Ở đây còn nước còn tát, tụi mày đi bè chết mất xác không ai hay!” Ðường và Dzũng sau khi trả lời một số câu hỏi của những người tò mò và của cả anh Lý hỏi xem họ đã khởi hành về hướng nào, trèo lên boong thượng nằm nghỉ. Ðường mất hết sinh lực, nhai tạm bợ vốc cơm sượng Công và Hoàng nấu trong lon gui-gô pha nước biển rồi thiếp đi. Vị cơm không chín đều vừa mằn mặn vừa tanh rong. Dzũng cũng ngất đi bên Ðường, chỉ còn Biên cố nhai “cơm biển”. Hai anh em Trương Ðắc đã chui lại vào cabine chỗ gia đình chủ tàu. Thổi cơm, Hoàng và Công không dám chan nhiều nước biển nên bã gạo sống nhăn và hăng hăng mùi dầu ma-zút. Công nấu thêm vài nhành rong biển trong lon nước mưa làm canh và cố nuốt. Biên đoán anh Hoàng đã moi trong bao gạo rớt dưới hầm dầu mà nó trông thấy hôm đầu tiên. Biên nhấp nhấp chút nước mưa của anh Thành, nghe loáng thoáng tiếng xì xầm của ông Hỏa nghi ngờ về sự mất tích của can nước 10 lít ông Trương Hồng giao cho họ đi bè. “Bày đặt đi bè để kiếm nước uống chứ tìm tàu vớt con mẹ gì! “Mới đi một ngày đã về, uống hết mẹ nước ngọt! “Ð.M.. Sao cha ngon không đi bè đi? Tiếng anh Hoàng vọng lên thách thức. “Lụ.. mẹ, ai nói chuyện với mày?” Thằng Úng đứng sau ông Hỏa quát. Nó hươi hươi cây búa dùng đập san hô. “Ngon ra đây tao “lập” chết cái con “lĩ” mẹ mày!” Thằng Úng huơ huơ cây búa trên tay, anh Hoàng với nó nhìn nhau trừng trừng. Anh Thành, Vĩnh và Công cũng đứng lên thủ thế. Gần mười thằng thủy thủ đàn em ông Hỏa đứng dàn trận trên boong. Anh Lý và chị Mười, vợ bé ông Trương Hồng phải can đôi bên ra mới êm chuyện. Hoàng về chỗ thằng Biên lẩm bẩm chửi thề, nói lên bờ sẽ biết tay nhau. Ðây không ngán mấy thằng Tàu! Hoàng nhổ nước miếng xuống biển. Lần đầu tiên thằng Biên có ý nghĩ du đãng là phải “đục” tụi thủy thủ, nó chỉ ngạc nhiên tại sao phải lên bờ mới “biết tay nhau”. Mây chiều chạng vạng trên những oan hồn vật vờ giữa biển. Ðường hé mắt nhìn cảnh tượng, anh cảm giác đang là một bức tranh vẽ sinh linh dưới âm ty. Ðám thuyền nhân im lìm nhìn mây ngả màu tím lím báo hiệu sắp phải qua thêm một đêm trên xác tàu mắc cạn. Thằng Biên nghĩ tới chuyến đi bè đêm qua, nghĩ đến lục địa Úc châu xa vời mà vĩnh viễn nó sẽ không bao giờ đặt chân tới. Biên nghĩ tới mẹ nó ở Sài Gòn đợi điện tín, chị nó trông ngóng em… rồi Biên âm thầm nghĩ đến cô bạn học nhỏ thân thiết của nó đã đi vượt biên trước 1 tháng, có lẽ đến Mã Lai, mà Biên sẽ không bao giờ gặp lại. Biên nhớ nó đã nghĩ lớn lên sẽ lấy cô bạn học của mình và tin chắc là cô bạn ưng chịu… Lúc nghĩ đến Mỹ Tho với cồn nước lợ và tính nhẩm số ngày bị “bón” từ hôm xuống tàu, Biên gục thiếp trên sàn bắt đầu soi ánh trăng. Ba ngày kế tiếp sau khi Ðường đi bè về, tình trạng trên tàu MT-603 càng thê thảm. Cảnh đẩy tàu mỗi sáng tái diễn, vô vọng không kết quả. Khi chiếc phao cầu cứu cuối cùng được ném đi, ghi con số 362 người sống sót, mọi người nhìn theo thẫn thờ cho đến khi cái phao mất hút. Ðường đã mất hết tin tưởng, những chiếc phao cầu cứu này chắc chỉ quanh quẩn lởn vởn trong vùng nước xoáy của dải san hô dài rộng mênh mông này. Không một bóng tàu, một bóng phi cơ bay qua từ hôm mắc cạn. Không ai lai vãng qua vùng biển đầy đá ngầm nguy hiểm. Chỉ thằng tài công ngu mới đâm đầu vào! Như anh Vĩnh vẫn còn văng tục mỗi khi nhắc lại. Ðám thuyền nhân hóa dần thành lũ ma đói mỗi ngày chờ nước rút xuống mắt cá chân là khều gỡ, nạy đục trên các mỏm san hô những con hàu, chem chép còn bám, hay bắt còng biển và uống những trận mưa rưới bất chợt xuống đầu. Vùng san hô gần như một vùng biển chết, hoàn toàn không có tôm, cua, cá. Biên và hai đứa bạn, Phương, Tuân vớt được con sao biển cùng ít rong. Chúng nó cho vào lon gô đun với nước mưa làm món súp hải sản đầu tiên từ khi rời Việt Nam. Nhưng con sao biển sau khi “qua đời” trở nên cứng ngắc không cách gì nhai được. Biến cố đến với đám thuyền nhân khi anh Lý quyết định đóng bè ra đi. Anh Lý ghép 4 miếng ván tàu lại với nhau, chằng những thùng phuy rỗng chung quanh như Ðường đã làm và đem theo lá cờ S.O.S. “Tôi hứa kiếm được tàu vớt sẽ trở lại cứu tất cả mọi người. Ai muốn theo tôi thì theo…” Trong nhóm người tuyệt vọng, nhiều thanh niên đi theo anh Lý. Vợ chồng anh Lý cùng hai con nhỏ và bảy người khác kết cái bè ra đi buổi trưa, theo hướng Bắc về hướng Hồng Kông. Ðến chiều, thêm hai nhóm người khác đi bè. Một nhóm người Hoa giữ của và nhóm của bọn thủy thủ cùng gia đình ông Hỏa, em rể ông Trương Hồng. Ðám hung thần tịch thâu cái xuồng phao của bọn Ðường, ráp thêm vài tấm ván thuyền nữa rồi ông Hỏa chất 6 đứa con dưới 10 tuổi lên ra khơi. Bầy thủy thủ mang phao làm bằng ruột xe bơi chung quanh hộ tống. Người ông Hỏa phồng lên vì đô-la phình dưới lớp áo phao, trong lúc vợ con trên bè khẳm xuống vì sức nặng của túi vàng. “Vàng gia đình mình đóng đó Ðường.” Dzũng thì thầm. “Cha Hỏa mà được tàu vớt là “dzoọt” luôn, đếch trở lại bây ơi!” Anh Vĩnh rầu rĩ nhìn những phao bánh xe, can nhựa cuối cùng biến mất. Bây giờ ai có muốn đóng bè cũng không còn phương tiện. Ðường đứng cạnh anh Vĩnh bị giằng co bởi ý nghĩ can ngăn những người liều mạng đang xa dần. Tổng cộng ba mươi người bỏ đi, chỉ còn vài tên thủy thủ ở lại với gia đình ông Trương Hồng. Nắng chết dần trên mặt biển, chân trời mỗi lúc một thấp xuống. Ði bè chín phần mười là chết, chỉ mỗi mình Ðường và Dzũng ý thức điều ấy. Ðêm rằm rét căm căm, bọn người chọn ở lại “còn nước còn tát” hì hục đẩy tàu. Ngày rằm, trăng tròn mịn, sáng trưng cả gầm trời. Theo sức hút của trăng, nước ròng lên cao. Trong một tháng chỉ có một ngày thủy triều dâng cao nhất, là ngày trăng rằm. Tài công suốt buổi sáng đã khẩn khoản năn nỉ mọi người đừng lên tàu đêm nay, cho tàu nhẹ, đợi nước dâng lườn tàu rồi hãy trèo lên. Mọi người đứng ngâm mình trong nước từ lúc chiều chạng vạng, vành môi tất cả thâm tím vì lạnh, tròng mắt chờ đợi phép lạ. Dưới ánh trăng lạnh toát, Ðường không còn phân biệt nổi nữa đâu là đàn ông, đâu là đàn bà, đâu là trẻ con, mọi người đều già như nhau, cùng nhăn nhúm da thịt và lở loét tay chân mặt mũi vì những vết cắt san hô. Những vết cắt mưng mủ xanh. Tiếng khóc của lũ trẻ bị ngâm nước quá lâu ré lên như ri, đến gần nửa khuya thì lịm tắt, những đứa bé ngủ gật hay ngất xỉu trong tay cha mẹ bồng bế đứng nước. Ðường nhận ra lần đầu tiên anh mới nghĩ đến đàn bà và trẻ em trên tàu. Suốt thời gian từ khi đụng san hô anh gần như không chú ý đến họ, chỉ lo cho riêng sinh mạng của mình và đứa em. Trong sống chết, con người trở nên ích kỷ. Ðường đã biết mà không ngờ chính anh cũng tàn nhẫn với đồng loại. Nước biển mỗi lúc một lạnh, làm tay chân anh run bần bật. Ðường cảm giác anh bị sốt trong lúc nước lên xuống ở khoảng bụng đẩy anh xiêu vẹo, nghiêng ngửa. Ðường nhớ đến lời hứa với mẹ lo cho thằng Biên ăn học, làm anh ngậm ngùi tiếc cho số vàng đã đóng. Cơ may đến được đất liền quá ít… Cơn sóng lớn bất thần vồ vập khiến Ðường ngã chúi. Ðường ngã, kéo theo em và các bạn. Thằng Biên té vục mặt xuống nước mặn chát. Những trận sóng tiếp tục ùa tới. Mỗi lúc một mạnh. Ðứng lên, Biên cũng có ý nghĩ sắp chết, nó chỉ thương nhà đợi tin và tức vì chết khi chưa kịp gửi một đồng bạc về cho mẹ. Dzũng cũng lóp ngóp bên anh em Ðường, sặc sụa vì uống nước. Dzũng vuốt mặt mình đầm đìa nước biển, nhớ người yêu tên Trình còn ở Sài Gòn. Nhớ thương của Dzũng vữa nhanh theo lớp sóng sầm sập ập tới. “Nước ròng lên rồi!” “Ðẩy tàu, đẩy tàu… Nước ròng lên!” Mặt biển vụt dậy sóng, nước ở đâu tràn vô vùng san hô lên nhanh từ bụng tới ngực. Bầy người đứng nước đem hết tàn lực chuyền vô xác tàu vẫn nằm nghiêng. Nước dâng cuồn cuộn bây giờ ngập đến cằm khiến mọi người chiến đấu cố cho khỏi bị chết chìm nhiều hơn là đẩy tàu. Những người có con cái kinh động trước sóng dữ đã trèo lên tàu. Cánh tay của Ðường và Dzũng cùng các bạn trơn tuột trên lườn chiếc MT-603. Họ níu nhau để khỏi bị cuốn trôi đi, đồng thời ráng đẩy tàu. Nhưng cánh đàn ông nhận ra ngay họ cũng phải trèo lên tàu nếu không muốn bị chết đuối, nước đã ngập quá đầu người. Thằng Biên leo được lên khoang trước, buông rũ xuống sàn khoang ngập lõng bõng nước biển và dầu, nó còn nhìn thấy sự thất vọng thất sắc tuyệt lộ trên gương mặt mấy trăm con người. Xác tàu vẫn nằm nghiêng không động đậy. Run lập cập tưởng có thể chết vì lạnh, thằng Biên ngã vật lên đám đàn bà con nít đang nhắm nghiền mắt không sinh khí. Chung quanh tiếng gió rít từng cơn của phong ba cuồn cuộn nổi sóng. Những bà xẩm nằm chỗ thằng Biên đột ngột bị ném lăn lóc hết sang mạn tàu bên phải. Mọi người nghe tiếng ván kêu răng rắc và cảm thấy cả con tàu rung chuyển dữ dội. Chiếc MT-603 lắc lư không ngừng, nghiêng trái phải như một cái cân, nhồi lên xuống rồi bất thình lình thôi chòng chành quân bình trở lại trong cái thế tưởng đã mất hẳn từ ngày nó đâm vào san hô. Mấy trăm thân hình bàng hoàng thoát ra khỏi tư thế nghiêng 60 độ của xác tàu xiêu lệch, vụt nhận ra chiếc thuyền đã nổi trở lại trên mặt nước. Như có những bàn tay vô hình chống đỡ dưới lườn tàu, chiếc MT-603 đứng cân bằng không nhờ tới bất cứ bả vai, cánh tay nào nữa của bầy thuyền nhân bất hạnh giờ đây rúc hết lên thân tàu như một bầy gà con trong lòng mẹ. “Cho máy chạy, tài công cho máy chạy!” “Lùi ra, lùi ra… nhanh lên!” Tiếng máy tàu hộc lên đánh thức tất cả mọi người choàng tỉnh, như ra khỏi cơn ác mộng nhốn nháo. Ðàn ông la hét và đàn bà đọc kinh, những bài kinh mừng Tạ ơn, kinh Phật vang rân xúc động. Nhưng chiếc tàu vẫn bị giữ chặt, không lùi được mặc dù đảo san hô đã chìm xuống, biến mất hoàn toàn dưới mặt nước đen. Sáu lốc tàu hộc lên, kêu rống trên biển lúc này trùng điệp sóng bám víu vào chân vịt. Mọi người linh cảm như sợi dây vô hình nối chiếc tàu với vùng san hô vẫn chưa đứt. “Thanh niên nhảy xuống cho nhẹ tàu!” Tài công kêu gọi thảm thiết từ buồng lái. “Thanh niên xuống đi!” Những bà xẩm gào lên, thằng Biên trong số những thanh niên bị xô đẩy ra đến mạn thuyền. Biên vùng vẫy chống cự nhưng vẫn bị lôi nhấc lên thành gỗ. Ðám đàn bà tham sống trở nên hung dữ lạ thường, nhấc bổng những thanh thiếu niên và ném họ xuống biển. “Nhảy xuống! Nhảy xuống tàu ra sẽ vớt lên!” Trong tiếng quát la của tài công, thằng Biên còn trông thấy hai anh Thành, Vĩnh chống cự trong góc khoang rồi nó bị vất rơi nhào xuống biển ở mũi tàu. Thằng Biên vừa hớt hải nổi lên trên mặt nước thì thân hình của anh Công đè lên nó. Cả hai co đạp khi chìm xuống, Biên nhờ chiếc áo phao lại nổi trở lên. Mặt biển lúc này xanh biếc, bình minh lên hồi nào thằng Biên không hay, chưa kịp định thần thì thân hình nó đã bị nước lôi từ đằng mũi ra sau tàu. Sóng trắng xóa từ chân vịt rùng rùng đánh tung hai bên mạn sườn chiếc MT-603. Mặt đại dương bừng sáng với thủy triều dâng cao làm thành những luồng nước mạnh cuốn trôi Biên và anh Công, cùng những thanh niên khác bị ném xuống cho nhẹ tàu lúc này đang trôi dạt ra xa. Thằng Biên bị sức hút không cưỡng lại được lôi về phía chân vịt đang xoáy tung. Nó ý thức khắc nguy hiểm, cuống cuồng chống đỡ bơi sải đạp bấu víu vào lườn tàu trơn tuột. Biên lấy mười đầu ngón tay nó cào rách mạn lườn tàu bằng gỗ mà không giữ nổi thân thể bị hút vào chân vịt quay tít. Sức mạnh sống còn giúp Biên chụp cứng lấy chân một thanh niên Hoa kiều vừa bấu vào được sợi dây thừng đằng lái. ““Puông” ngộ ra!!” Gã thanh niên co rút chân đạp xối xả vào mặt thằng Biên đang trì kéo hắn. Biên biết buông ra là chết, nó bấu cứng lấy mắt cá chân gã Hoa kiều mặc những cú đạp dộng vào đầu, cho đến lúc cả hai được kéo lên. Chiếc MT-603 đã thoát ra được vũng sâu. Kinh hoàng còn nguyên trên nét mặt mọi người. Biên nằm vật trên tàu, chỗ nó được lôi lên. Nó nôn sặc sụa vì uống nước biển nhiều. Biên mở mắt lờ đờ nhìn lên cảnh trời mây hừng sáng vần vũ gió, không chứng kiến được cảnh tài công phụ và những người khác vớt xác anh Công. Trong số 30 thanh niên bị bắt phải nhảy xuống cho nhẹ tàu, 14 bị nước cuốn trôi mất tích, 16 kể cả thằng Biên được vớt kịp, riêng Công khi kéo lên đã chết đuối. Biên ngửng lên trông thấy anh Ðường và anh Dzũng nằm bẹp trong góc. Quần đảo san hô đã biến mất hẳn, trả lại cho đại dương bây giờ lồng lộng gió. Trong khoang tàu chỉ còn tiếng chị Hương, vợ anh Công và những người đàn bà mất chồng khóc rấm rứt. Ngày 21 tháng 6, gần một tháng sau khi rời Mỹ Tho, chiếc MT-603 được một quân vận hạm Phi Luật Tân kéo vào đảo Liminangcong. Khi điểm danh trên cầu tàu, còn 285 thuyền nhân trên tổng số 405./.
Trần Vũ, Paris 1988 đánh máy lại và sửa chữa tháng 3-2015
Bè trôi trong yên lặng. Năm người thanh niên đã thôi chèo để mặc cho giòng nước lôi phăng phăng. Ðêm buông mau như tấm màn đen rơi phủ lên mặt biển, nếp rèm gợn lên thành những lượn sóng nhấp nhô đưa đẩy. Ðến phút này năm người thanh niên mới thấy sợ, tứ bề mịt mùng làm họ thấy như bị rình rập đe dọa. Nước biển lạnh dần theo độ tối mỗi lúc một dầy. Ðường và Biên ngồi trên miếng ván tàu kết bằng dây thừng với bốn can plastic. Không khí trong bốn can nhựa rỗng không đủ giúp hai anh em nổi hẳn trên mặt nước, mà chìm ngang đến bụng. Chiếc bè nhỏ chỉ nổi lập lờ, trôi nhấp nhô và sẵn sàng lật bất cứ lúc nào nếu hai anh em cử động mạnh. Bây giờ Ðường mới thấy anh quá liều lĩnh, ban sáng lúc quyết định đóng bè thoát ra khỏi vũng san hô, cả năm không ý thức được sự nguy hiểm bấp bênh của vài tấm ván ghép lại. Họ chỉ muốn thoát khỏi cảnh chết dần mòn trong tuyệt vọng. Dzũng và hai anh em Trương Ðắc, con ông Trương Hồng, vì không bơi giỏi nên được ngồi trong chiếc xuồng phao của phi công Mỹ. Ðường và Biên trên tấm ván gỗ kế bên. Năm người thanh niên không sao xác định được phương hướng, vì sương bao lấy họ, chỉ lâu lâu nhắc chừng nhau rà soát lại các mối dây thừng nối hai chiếc bè và phó thác cho số mệnh. Luồng nước không biết đưa họ đi đâu, Ðường chỉ biết chắc một điều là họ đã ra khỏi vùng san hô. Hồi chiều khi nắng còn soi xuống đáy biển, anh đã lặn xuống để biết chắc không còn đá ngầm. Lòng đại dương lúc này sâu thăm thẳm. Mặt biển đầy ngập nước. Ðường nhìn hai anh em Trương Ðắc mặt trắng nhợt, chắc cả hai đang hối hận đã xin theo anh và Dzũng. Ông Trương Hồng hết hy vọng, cho hai con trai đi bè với nhiệm vụ cứu sống mọi người, nếu may mắn được vớt… Biên mất hẳn sự linh hoạt của nó từ khi trời sụp tối. Trời nước vô tận, không tiếng động, không vật thể làm nó sợ. Nửa thân mình chìm trong nước, Biên thấy rõ ràng có một lực vô hình đang lôi hai chiếc bè, kéo mất hút vào trong khuya khoắt. Biên giương mắt nhìn đăm đăm một hình khối đen đang lướt theo bè. Thoạt tiên thằng Biên tưởng đá ngầm, nó la gọi mọi người báo động. Nhưng mấy thanh niên nhận ra cái hình khối khá lớn màu đen này trôi cùng vận tốc với bè. “Cái gì kìa?” Dzũng lắp bắp. Cả năm như bị khối đen thôi miên không dám rời mắt. “Chắc đá ngầm mà, không sao đâu… Thôi mình … “đi” đi…” Trương Ðắc bấu chặt mép phao xuồng, đầu gối co lên đến cổ. “Biển sâu lắm, không có đá ngầm đây đâu.” Ðường trả lời mà thấy tay chân anh lạnh ngắt. Khối đen vẫn lướt song song với họ, đến gần dần. Cả năm nhìn rõ những gợn sóng trắng xẻ ra hai bên khối đen. Mỗi uốn lượn của khối đen làm bè dập dềnh. Ðường và em chết lặng với ý nghĩ hai chân cùng với bụng của họ đang chìm dưới nước. Sương trắng toát bị khối đen đến gần sát, cắt ra thành hình tam giác. Một cái vây nhọn, đồ sộ, lù lù xuất hiện, bơi song song. Mỗi cái quẫy của chiếc vây làm bè chòng chành dữ dội. “ Cá mập!” Thằng Biên la thất thanh, hốt hoảng lúc cái vây chuyển động chỉ còn cách nó không đầy ba thước. Những lượn sóng ngầm dạt ra từ chiếc vây làm bè chao nghiêng, trồi lên, sụt xuống. Hai anh em Trương Ðắc run lẩy bẩy trong lúc thằng Biên chụp lấy khúc gỗ dùng làm chèo thủ thế. Tiếng cầu kinh của anh em Ðắc và Dzũng lạc giọng. “Ðừng đụng nó!” Ðường vùng dậy trước tiên. Thằng Biên nghe tiếng anh thảng thốt nhưng người nó rũ liệt, tê cứng, không mở miệng nổi. Cái vây bây giờ vờn vờn quanh hai chiếc bè. Không phải một mà lá sáu cái vây, nổi lên bơi vòng tròn chung quanh họ. Lúc xa, lúc gần, sáu cái vây khi lặn xuống, lúc trồi lên xẻ mặt biển đêm thành những đường sóng bạc lăn tăn. Chừng nửa tiếng đồng hồ đùa giỡn như vậy rồi sáu chiếc vây biến mất. Phải lâu lắm sau đó, năm người thanh niên mới hoàn hồn. “Chắc là cá ông…” Dzũng thở đứt quãng, hình ảnh sáu cái vẩy còn lởn vởn quanh đây. Hai anh em Trương Ðắc vẫn nhắm tịt mắt, lẩm bẩm đọc kinh. Thật tình cả năm chưa bao giờ trông thấy cá mập, lẫn cá ông. Họ biết là có cá lớn, nhưng không rõ cá gì. Cơn nguy biến qua đi, cả năm lại nhìn đăm đăm khoảng biển tối phía trước. Hai chiếc bè trôi băng băng, gió thốc vào lưng họ mỗi lúc một mạnh. Hai chiếc bè trôi đều như vậy không rõ bao lâu, có một lúc Ðường nhấc tay coi giờ, chỉ mới một giờ sáng. Năm người thanh niên vẫn thức canh chừng biển đe dọa. Mỗi lúc mặt nước lên xuống, làm bè chao là đám người đi bè lại la gọi cuống cuồng giúp nhau giữ thăng bằng. Không ai nhớ đến chiếc tàu MT-603 lúc này nằm cạn trơ vơ giữa quần đảo san hô. Tiềm thức họ chối bỏ mười hai ngày mắc cạn vừa qua để đối phó với bóng tối của đêm đại dương sâu hun hút. Một con nước dâng bất thình lình rồi hụp xuống, trong một giây, hai chiếc bè như rơi thụp xuống lòng biển không đáy. “Ngồi ngay lại! Ngồi ngay lại Ðắc ơi!” “Coi chừng lật! Coi chừng lật!!” Tiếng la hét của đám người đi bè vang vang, không có tiếng dội, chỉ có tiếng sóng từ xa trả lời. Tiếng sóng mỗi lúc một lớn dần, gầm gừ, rồi sầm sập trong đêm. “Có sóng, Ðường ơi… Sóng…” Dzũng và các bạn anh nghe rõ mồn một tiếng sóng lớn dập vào bãi. “Có sóng tức là có bờ…” “Lục địa đâu chỗ này, mình mới đi bè chưa được một ngày! “Chắc hoang đảo… Thằng Biên góp ý, nhưng mấy thanh niên không ai trả lời nó, chính vì họ cũng không biết chuyện gì xảy ra. Tiếng sóng cuồn cuộn, đập phùm phụp rào rào như tiếng sóng ở dinh ông Thượng Vũng Tàu đập vào ghềnh đá nửa khuya. Cả năm trông thấy từ từ từng đợt sóng bạc đầu trắng xóa, cong lên rồi đổ ập xuống. Sóng đột nhiên trùng trùng vây quanh. Hai chiếc bè lắc lư lên xuống như bị ai túm lấy lắc lia lịa. Những mỏm đá ngầm đột ngột hiện ra, va chạm đâm vào bè. “Chống bè! Coi chừng lủng phao!” Chiếc phao xuồng của anh em Ðắc và Dzũng cạ vào đá kêu rìn rịt. Năm người trên bè hãi hùng chống đỡ những đợt sóng đẩy họ vào gần những mỏm đá khác, hình dạng nhọn đâm tua tủa. “Ðẩy ra! Chống bè ra mau lên!” “Tránh đá ngầm bên trái!” “Coi chừng trước mặt!!” Lần này con sóng dữ vươn cao, cong vòng từ từ trước khi đổ ập xuống với tất cả sức mạnh. Hai chiếc bè nhỏ bị bứng tung lên khỏi mặt nước rồi rớt xuống biển lật úp. Năm thanh niên bơi đập tay chân vùng vẫy cuống cuồng, cườm tay họ quấn mấu dây thừng cột dính bè giúp không chìm lâu. Ðường và Biên nhờ hai áo phao của hải quân Mỹ nổi lên trước, họ xoay sở lật hai cái bè tả tơi trở lại. Lúc Dzũng và anh em Ðắc quờ quạng bám lấy, Ðường vụt nhận ra chân mình giẫm lên san hô! Tiếng sóng rào rào và từng dải san hô đen đủi, lởm chởm, xù xì hiện ra, không khác với quang cảnh nơi chiếc tàu đăng ký của họ bị mắc cạn. Trời nước chung quanh tối thui, không bóng dáng xác tàu nào nhưng cả bọn đành chấp nhận họ đã lạc vô một quần đảo san hô khác. “Chết rồi, chết rồi…” Cả năm thất thểu bơi bám theo hai chiếc bè, vừa tránh những mỏm san hô sần sùi, vừa cố ngước mặt thở. Ðường nhớ đến lời anh Lý nói: bãi ngầm Trường Sa rộng dài trên trăm hải lý… “Trời ơi! Can nước ngọt rơi mất tiêu rồi!” “Bình nước của “Pá” cho mất rồi!” Hai anh em Trương Ðắc hốt hoảng. Dzũng vội vàng rà soát lại chỗ dây chạc, thấy đứt tự hồi nào. Can nước 10 lít mà ông Trương Hồng đã muối mặt giấu trong hầm máy với thức ăn cho hai con trai đi bè, bị sóng đập rơi mất tiêu. Không nước ngọt là cầm chắc cái chết, cả năm quyết định quay lại chỗ nhiều đá ngầm lúc nãy. Thêm một trận chèo chống, sóng gió tơi bời mà họ vẫn không kiếm ra can nước. Suốt đêm nhóm thanh niên đi bè cào cấu giành giật chiếc xuồng phao của họ với sóng dữ của vùng san hô chìm. Ðến sáng thì họ thoát ra được chỗ biển sâu nhờ gió đổi chiều giúp tấp vào một luồng nước khác. Cả năm ngủ dật dờ sau một đêm kinh hoàng, đúng hơn là ngất đi trong mệt thiếp và nổi nhờ áo phao và thùng can rỗng buộc chặt lấy người. Ðến lúc da mặt giộp lên vì bỏng, Ðường thức giấc. Thân thể các bạn anh trôi lềnh bềnh bên cạnh. Ðường lay mọi người dậy, lật lại bè và trèo cả lên. Mặt trời vàng rợm to như cái thúng ném vào bọn thanh niên những tia lửa phỏng da thịt. Không chịu nổi sức nóng, cả năm lại ngâm mình xuống nước. Nước muối mặn làm họ khát khô cổ. Da môi tróc ra từng mảng, chân tay nhăn nhúm như ông già. Thằng Biên đuối sức mê sảng nhiều lần, nó mơ thấy đất liền có một tòa lâu đài nước ngọt. Ðường cũng thiêm thiếp nửa tỉnh nửa mơ, thấp thoáng thấy đôi mắt lạc thần của Dzũng kề bên, thấp thoáng thấy một tiệm giải khát giữa biển. Ðường biết thiếu nước làm lý trí anh mụ đi, anh cố gắng vùng dậy mà cơ thể cạn kiệt nước cứ lả dần. Anh chỉ còn thấy màu cam chói chang của mặt trời chiếm hết bầu trời và cảm giác nắng đang chiên xào phần da mặt còn nổi của mình. Ðường thả buông cho thi thể trôi dập dềnh với ý nghĩ anh sắp chết đuối vì kiệt sức. Cơn bão đổ ập bất ngờ không báo trước. Trong tích tắc mây đen kịt đùn lớp lớp và gió gào xé trên đầu đám thanh niên. Mưa rơi ngay sau đó. Nhóm thanh niên bừng tỉnh, trận mưa giúp họ hồi sinh, không chết khát. Nhưng trận mưa mỗi lúc một thấp, làm đại dương tối sầm, xám xịt. Cơn giông càng lúc càng mạnh bạo. Mặt biển như bị hất tung. Từng cột nước dâng lên trước khi ụp xuống. Hột mưa như mũi dao đâm lún vào da mặt mọi người. Gió gầm gào tứ phía. Cả năm chứng kiến con trốt xoáy lừng lững từ xa đến gần, quần nát khúc biển vây lấy họ. Ðường với em và các bạn anh không tài nào kềm giữ được hai chiếc bè. Tấm ván cột can nhựa rỗng của Ðường và thằng Biên đứt dây thừng rã ra từng mảnh. Sau vài đợt sóng nhồi, chiếc bè gỗ vỡ tung và bị sóng cuốn đi mất tích. Cả năm chỉ còn biết bám vào chiếc xuồng phao đang bị trận cuồng phong kéo lôi đi. Ðến khi màn mưa trĩu hạt bớt dầy đặc, sóng giảm dần, những người thanh niên vụt trông thấy thấp thoáng xa xa ẩn hiện một bóng tàu!
Buổi sáng 2 tháng 6-1979, sau bốn ngày lênh đênh trên biển, chiếc tàu đăng ký số MT-603 bị mắc cạn giữa một vùng san hô. Mặt đại dương bừng sáng phơi bày một xác tàu trơ vơ giữa trời nước lấp lánh, trông nửa thê thảm, nửa kỳ cục. Biên bơi chưa giáp vòng tàu thì tìm được anh Ðường và các bạn chung thuyền. Nắng lên vàng ối khiến mọi người nhận ra màu nước khác biệt. Khúc biển sâu sau đuôi tàu, nước xanh cẩm thạch chuyển dần sang màu mạ tái nhạt ở chỗ xác tàu bị cạn về phía trước. Chừng như chỗ biển cạn đằng mũi rộng và xa lắm vì màu mạ dài ra đến tận chân trời. Ðám thanh niên bàng hoàng gặp lại nhau sau tai nạn. “Trời ơi, anh lo cho mày quá.” Ðường bơi đến chỗ Biên. “Em không có sao, chỉ trầy sơ. Anh làm sao nhảy ra kịp vậy?” “Anh choàng tỉnh lúc boong sập, chen được ra tới cửa khoang thì bị hất xuống biển.” Ðường bơi bì bõm, cũng nổi trong chiếc áo phao hải quân Mỹ giống của em mà bà Long đã mua cho cả hai ở chợ trời Nguyễn Tri Phương. Ðường không dám kể cho em nghe đã nằm mơ thấy mẹ lúc gần sáng, giấc mơ còn ám ảnh anh. “Chết rồi ông ơi, tàu mắc cạn làm sao ra?” Dzũng bơi lóp ngóp bên cạnh hai anh em, thều thào. Bốn trăm thuyền nhân bây giờ bì bà bì bõm quanh xác chiếc MT-603. Mực nước không sâu lắm, chỉ đến ngực thằng Biên, có thể đứng được nhưng mọi người bị sóng bạt sấp ngửa. Những cạnh san hô bén đâm tua tủa vào chân mọi người. Nước biển mát rượi, trong những phút đầu làm tỉnh táo bầy thuyền nhân nhơ nhớp, dơ dáy mấy ngày qua. Tiếng bàn cãi về tai nạn hồi sáng, đủ mọi ý kiến được đưa ra để cứu tàu. “Boong sập mà chỉ có mười chín người gẫy tay chân, bị thương là mình may mắn lắm, Phật trời độ trì cho mình đó!” “Mấy người bị thương đâu?” “Cất trong cabine đằng lái…” “Tài công tính sao? Ð. m. Lái cái con c. gì đâm vô san hô, bộ không có la bàn, hải đồ sao?” “Có, nhưng lúc đụng là thằng tài công phụ lái!” “Ð. m., nghe nói có mấy tay sĩ quan hải quân hoa tiêu cũ đâu?” “Tôi đây! Nhưng cha Trương Hồng đâu cho tôi lái, lúc đụng tôi nằm dưới hầm mà!” “Ð. m., bây giờ làm sao đây?” “Nếu căn cứ trên độ đậm nhạt của biển, tàu bị cạn vào sâu san hô chỉ khoảng hai mươi thước, phía sau chân vịt còn là biển sâu.” “Mình hợp sức đẩy tàu đi, có ‘sức đẩy Archimède’ cũng không tới nỗi nào!” Sau cơn biến động cấp thời, tài công và chủ tàu cố gắng nắm lại quyền điều khiển. Ông Trương Hồng bắc loa trấn an mọi người và kêu gọi ai nấy tập họp theo từng tổ đã chia như lúc đi. Phải hợp sức, bằng mọi giá đẩy tàu ra biển lại. Mười lăm tổ thuyền nhân chia ra hai bên hông, mỗi bên bảy tổ. Ðằng mũi một tổ lực lưỡng nhất. Trong cabine ngoại trừ tài công, thợ máy và những người bị thương, tất cả xuống hết biển. Trong lúc gấp rút, ông Trương Hồng quên mất đám người công an gửi theo, họ không được chia tổ và cũng không có ai chỉ huy, bơi lớp lớp chung quanh. “Ðàn bà con nít tránh ra, thanh niên chịu vai vào lườn tàu. Ðếm một hai ba rồi đẩy! Một, hài… Ba! Một, hài… Ba! Hò dzô! Hò dzô!” “Cố lên, cố lên nữa! Hai, ba… lên!” “Dzách, dzì… xám! Úng xuyền! Úng xuyền!!” “Ð. m., mấy thằng kia sao không đẩy?” “Ngộ “lẩy” mà…” “Ð. m. đẩy thì đẩy đừng có vịn!” “Một, hài… ba, dzô ta!!” Ðám thuyền nhân lấy hết sức bình sinh, những người đàn ông và cả lũ thiếu niên như Biên, Tuân, Phương gồng bắp thịt lấy hết gân, bấm chân xuống san hô cố đẩy lui chiếc tàu ra khúc biển sâu. Nhưng không đòn bẩy, không điểm tựa, không thể xuống tấn với nước ngập đến ngực trên những mỏm đá ngầm bén, sức người đành chịu thua những đợt sóng từ khúc biển sâu vập vào con tàu. Cho đến quá trưa, Ðường và những người đàn ông đem hết sức lực ra đẩy tàu nhưng chiếc MT-603 vẫn nghiêng sang bên và trơ ra không nhúc nhích. Khi mặt trời đứng bóng rồi ngả chiều, thủy triều rút dần, cả một vùng san hô nổi lên lởm chởm. Mọi người rợn da gà nhìn bãi san hô bọc xác tàu rộng đến chân trời. Mực nước rút đi cấp kỳ, chỉ còn lưng mắt cá chân. Ðường nhìn xác thuyền thoi thóp, vật vã, anh đành chấp nhận ý nghĩ khủng khiếp: dung tích nước biển trong vùng san hô quá ít, không tương xứng với trọng tải tàu đủ để tạo nên lực đẩy Archimède. Dzũng, Công, anh Thành, Vĩnh cùng chung suy nghĩ ghê rợn này. Nếu không có phép lạ, xác tàu MT-603 nặng nhiều tấn không thể ra khỏi nơi đây. Nắng hoàng hôn thắm đỏ đại dương. Lúc này đám thuyền nhân thấm mệt mới thấy lạnh, tay chân họ nhăn nheo vì ngâm nước quá lâu, không ai bảo ai tất cả rùng rùng leo lên xác tàu mặc bọn thủy thủ ngăn cản. Gió chiều lồng lộng thổi, quất từng cơn lên những thân hình kiệt lực. Chen lấn lên được tới boong, Ðường bải hoải thấy không còn đủ sức để tiếp tục lục lạo lương thực rơi rớt trên tàu như mọi người đang hối hả làm. Ðường ngồi bệt xuống một góc boong, để mặc em cùng các bạn xoay sở. Boong tàu vẫn nghiêng lệch. Nắng quái soi đỏ rực một cách kỳ cục lên đám người nhốn nháo, đang chụp giật nhau những chất sống cuối cùng. Ðường vén quần, hơ chân dưới nắng, hai bắp đùi và hai gan bàn chân anh rách nát, những vết cắt không máu, rịt kín và thâm tím. Ðường không thấy đau, chỉ nhức nhối ngầm. Biên xuất hiện, giọng nó chua chát. “Tụi thủy thủ với chủ tàu tịch thu hết thực phẩm, em lẹ chân mới chụp được mấy thứ này.” Biên vứt xuống trước mặt Ðường bịch cơm sấy, một bao chuối khô với một bình thủy nước trà. Ðường bỡ ngỡ nhìn em, mới một ngày hoạn nạn nó đã sạm nắng, mặt mũi trông du đãng. Những người trong nhóm lục tục trở về, vẻ mặt chán ngán. “Ð. m., thức ăn tụi nó cất riêng hết rồi bây ơi. Anh Vĩnh văng tục. Mà đếch cần, còn kẹt đây chừng hai tuần nữa thôi là chết hết cả đám. Cho tụi mày ăn!” Nhóm Ðường chia nhau bữa ăn ít ỏi. Không ai biết sẽ ăn gì bữa mai, bữa sau… Những khuôn mặt trệu trạo nhai. Dzũng vừa nuốt chuối khô, vừa phơi những điếu thuốc nhăn nhúm, ướt nhẹp. Chị Hương, chị Lan, Hoàng, Phương, Tuân cắn từng miếng củ sắn nhai cả vỏ. Thành, Vĩnh, Công chia với mọi người chút cơm sấy. Chưa đầy 24 giờ từ khi gặp nạn, đám thanh niên đã thay đổi hẳn, lầm lì và mất sự tươi trẻ. Trên nền Thái Bình Dương, ngọn lửa kêu cứu đã được thắp lên giữa tàu bằng những phao bánh xe đốt cháy. Khi mặt trăng ném thứ ánh sáng xanh xao xuống lòng biển đen như mực, đa số đã ngất đi trong giấc ngủ mệt lả. Vầng trăng trên boong xiêu lệch, tan vữa. o O o Ðến sáng ngày hôm sau, mùng 3 tháng 6, thì 15 tổ đăng ký ban đầu hoàn toàn tan rã. Không ai theo ai nữa. Nhóm Việt Nam tụ lại quanh những cựu sĩ quan Cộng Hòa mà anh Lý có thời làm hoa tiêu phó cho tuần dương hạm HQ-16 Trần Khánh Dư, được tín nhiệm làm đầu đàn. Nhóm Hoa kiều đại đa số vẫn theo ông Trương Hồng. Một số khác không theo ai, sinh hoạt riêng biệt và cũng không phụ đẩy tàu. Số người xé lẻ này chỉ lo săn tìm thức ăn bị ném xuống biển hôm qua và chia nhau canh gác những bao bị ôm khư khư từ lúc xuống tàu. Ðường đoán là những bao vàng. Anh Lý đề nghị hạ cột buồm làm đòn bẩy và cử hai toán tình nguyện lặn xuống dùng búa đập phá những mỏm san hô ngầm quanh chân vịt. Ðàn bà và thanh nữ cũng phụ đẩy. Ðám con nít bám vào những chiếc phao trôi nổi xung quanh. “Một, hài… ba, lên!” “Một, hài, ba… hựựựự!!!” Chiếc MT-603 tưởng đã lên được lại nghiêng sang trái. Ðợt sóng dập bất ngờ làm nhóm bẩy đòn bẩy ngã chúi. Mất thế chống, xác tàu đổ nghiêng như cũ. Dzũng, Ðường ở tổ chống lóp ngóp đứng dậy, biển ngập đến cổ khiến họ xoay trở khó khăn, sức lực bị phát tán vào trong nước. Ðã vậy những cạnh san hô dưới chân làm rách toét thêm các vết thương cũ. “Hò dzô…” “Một, hai… ba, lên! Một, hai, ba… hựựựự!!!” Răng nghiến lại, gương mặt méo mó căng ra, nhíu vào, nhàu nát vì cố gắng, không có mấy tiếng chửi thề nữa, ai nấy như muốn tiết kiệm sức. Chỉ có những ánh mắt khinh bỉ, ném về bọn người giữ vàng vẫn điềm nhiên an tọa trên đám phao gần đó. “Một, hai… hựựựự!!!” Có lúc, mọi người tưởng chiếc tàu đã nhích được nửa thước, rồi một thước, nhưng thật ra mặt nước đầy đánh lừa cảm tưởng đó. Buổi chiều, khi san hô nổi lên như con thủy quái lởm chởm, tất cả nhận ra chiếc MT-603 vẫn ở nguyên vị trí cũ. Anh Lý đành buông xuôi: “Không ra nổi đâu, chờ mai may ra thủy triều lên cao hơn.” Ðám người lao lực nhìn anh chờ đợi thêm một lời phán. Anh Lý cúi gầm mặt: “Tôi nghi mình kẹt trong bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa giữa đường từ Cam Ranh sang Phi Luật Tân. Vùng san hô này rộng mấy trăm hải lý không có tàu bè nào dám đến gần, từ khúc này đến Phi cũng còn bốn, năm ngày hải hành, mình chưa đi được nửa đường!” Ráng chiều rơi vàng vọt trên những gương mặt đầm đìa. Bầy người thúc thủ lại kéo nhau trèo lên cái xác tàu tả tơi qua đêm. Những đám mây lo lắng đêm trước như nhiều hơn, đen tối hơn và bắt đầu nặng trĩu sợ hãi. Lời phán của anh Lý mang dấu hiệu chết chóc cho những ngày tiếp đó. Buổi sáng đầu tiên nghe tin có người chết, nạn nhân là người đàn bà bị gẫy xương sống khi boong sập và một đứa bé sơ sinh kiệt sức, thằng Biên còn hối hả chạy ra xem hai cái xác được cột trên mảnh gỗ thả nơi khúc biển sau đuôi tàu, cho trôi ra ngoài xa. Về sau, mỗi sáng mở mắt dậy đều có vài người chết vì kiệt lực, vì xuống tinh thần, hay do rơi ngã xuống biển chết đuối ban đêm, nó không buồn ra xem nữa. Tuy nhiên Biên bị ám ảnh bởi hai cái xác của một ông già và một đứa bé cùng chết trong lúc động kinh. Cái bụng của ông già Tàu chướng lên như phụ nữ mang thai trong khi xác của đứa bé teo lại. Gia đình chủ tàu thắp nhang khấn vái liên tục, mùi nhang u uất phả từng lúc trong khoang. Ông Trương Hồng thổ huyết và nằm liệt trong cabine. Mỗi ngày qua, số người đẩy tàu ít đi, cùng với tổng số nhân mạng giảm dần. Trên những phao bánh xe và thùng phuy thả trôi ban đầu ghi 394, 391, 389 rồi mới đây nhất chỉ còn ghi 384! Ðến ngày 7 tháng 6, đúng một tuần từ khi rời Mỹ Tho, không còn ai muốn đẩy tàu nữa. Thức ăn hết nhẵn, chỉ còn ít gạo sống mà đám thuyền nhân cướp giật lẫn nhau. Ðám thủy thủ của ông Hỏa, em rể ông Trương Hồng bắt đầu xô xát với những thanh niên người Hoa khác. Vài cảnh đâm chém diễn ra, vì giành vàng. Thêm những cái xác… Mọi người trên tàu gờm gờm nhìn nhau, không ai tin ai và tất cả giữ thế thủ, sẵn sàng sống chết vì một trái chanh hay ngụm nước lọc. Ðường thiêm thiếp dưới nắng nung giòn, hình ảnh chuyến tàu định mệnh Titanic lởn vởn trong đầu anh. Dzũng cũng nhớ tới phim L’Aventure du Poseidon coi ở Eden năm 74, có Pamela Sue Martin và Gene Hackman đóng. Nhưng cái cảnh tàu Poseidon lật úp khác hẳn xác chiếc MT-603 mắc cạn, dật dờ. Biên ước ao có một hoang đảo để dạt vào như Robinson rồi tự túc hái hoa quả, cất lều, trồng trọt… Có lần nó đã kích thích cực độ khi anh Vĩnh và anh Thành hè nhau đun nước biển, theo kiểu chưng cách thủy để lấy nước ngọt tinh chất. Hai anh bảo số dầu dự trữ để đi Úc còn trong khoang hầm dưới, chỉ việc múc lên cho vào thùng thiếc rồi đốt. Tuy nhiên sau ba tiếng đồng hồ cầm nắp chảo gang hứng nước, chắc mẩm với phương pháp giáo khoa đã học, Thành và Vĩnh đều lắc đầu thất vọng. Một lít nước biển chỉ cho được vài giọt nước tinh chất sau khi đốt cả 5 lít dầu! Anh Công, chị Hương, chị Lan, thằng Tuân nhìn màu sắc của mây để đoán mưa. Ai cũng chực sẵn ở tay một lon gui-gô hay tấm bạt sẵn sàng hứng nước. Những ngày đó, nhóm của Ðường đã ăn những nhúm gạo sống rơi vãi còn nhặt được nơi một góc kẹt tàu và đã uống những cơn bão rớt không chừng của biển. Những kim mưa của biển ghim lên da mặt giúp đám thanh niên tỉnh táo biết họ đang rơi vào tình trạng chết dần mòn, nếu không có tàu qua lại tiếp cứu. Một buổi chiều, anh Lý từ dưới biển lên, sau khi đo đạc cho biết là xác tàu đã bị sóng đẩy sâu vào trong san hô thêm mười thước! Anh Lý không còn là một cứu tinh, mọi người không còn gì để chờ đợi ở anh nữa.
Đêm 29 rạng 30 tháng 5 – 1979, ba chiếc tàu đăng ký bán chánh thức được hai chiếc PCF của công an biên phòng hộ tống ra cửa biển. Thằng Biên thức giấc khi hai chiếc PCF bắc loa chúc “đồng bào đi thượng lộ bình an”, rồi quay mũi trở lại Mỹ Tho. Ra tới cửa biển sóng lớn hẳn làm tàu chao, lắc lư như người say rượu. Trong tờ mờ hừng đông thằng Biên thấy những cụm phù sa đỏ ngầu trôi băng băng qua cửa tò vò. Nước biển đục, lờ lợ mằn mặn ngọt ngọt kỳ cục khi nó vốc nước uống thử. Biên chợt đoán ra đây là chỗ sông Cái tiếp giáp với biển. Hai luồng nước gặp nhau nên sóng mạnh, đập vào thành tàu như múa trống. Ba chiếc tàu tiếp tục lộ trình suốt buổi sáng cho đến khi hai chiếc tàu kia rẽ về hướng khác. Thằng Biên nghe tiếng xì xầm bàn tán của vài người Việt trong khoang, được biết hai chiếc kia đi Mã Lai. Chiếc MT-603 trở ngược lên phía Bắc, đến chiều ở khúc Nha Trang thì trực chỉ hướng Ðông. Hải trình đi Úc được vạch xuyên qua Phi Luật Tân. Nhóm tổ chức đã tính kỹ, đi Úc xa và gian lao hơn, nhưng bù lại không phải ở trại tỵ nạn, sẽ được định cư ngay. Thằng Biên ngủ li bì như để giả bữa cho ba đêm mất ngủ trên lan can ngôi biệt thự ở phố chợ Mỹ Tho. Sang ngày thứ hai, đàn bà con nít trên tàu bắt đầu say sóng. Ghê tởm nhất là mấy con xẩm từng băng cứ từng cơn ụa nôn, gục mặt lên người thằng Biên ói mửa! Nhiều lần thằng Biên thúc cùi chỏ vô bụng con xẩm ngồi cạnh nhưng người nó cũng đã nhơ nhớp đồ ói. Tệ hơn nữa là các cánh cửa tò vò không mở ra được vì sóng biển liên tiếp ập vào lườn tàu. Mùi hôi do đó tanh nồng hôi thối đến ngộp thở. Nhiều bà già ỉa đái ngay trên sàn, mỗi khi tàu ngả nghiêng phẩn dơ từ trong “pô” văng tung tóe! Phần Ðường và các bạn anh dưới hầm tàu, tình trạng cũng không khả quan hơn. Ngồi đằng mũi, nên Ðường có cảm tưởng những làn sóng vô hình đâm xuyên vào ngực mình trước khi xẻ dạt sang hai bên hông tàu. Các bạn Ðường cũng cùng chung cái cảm giác tức ngực ấy. Hầm tàu phần chìm dưới biển hứng chịu những đợt sóng ngầm nên tất cả đàn ông đều cảm thấy như mình bị dần, bị xô ném bởi bàn tay của tên khổng lồ. Nhiều người không chịu đựng nổi, nôn thốc nôn tháo lên người đối diện. Cây đèn bão không hiểu sao bọn thủy thủ lấy đi để lại khoảng hầm tối đặc, nặng mùi. Ðường không thấy đói, và cũng không dám ăn uống vì sợ đi tiêu đi tiểu hay nôn mửa giữa đám người ngồi bó chiếu. Thêm nữa, Ðường hối hận lúc xuống hầm đã không kịp đưa bao lương khô cho em, anh cứ lo lắng sợ thằng Biên đói. Mấy lần Ðường tính nhờ chuyền tay chuyền lên hộp guigoz đường cát có tẩm chanh cho em, nhưng lại sợ có tay nào bất hảo cầm nhầm luôn nên đành thôi. Ðến lúc mệt quá, anh mang theo lon guigoz vào cơn mê thiếp mệt lả. Ngày thứ ba, đám Hoa kiều bừng tỉnh nườm nượp ăn uống. Họ lôi từ trong sắc ra từng khối thức ăn bổ béo và có chất dinh dưỡng cao như sâm khô, gà ác ướp tương, chuối cau, mật ong, đường thẻ, cam sành… Thằng Biên cũng thấy đói bụng, không có bọc lương khô mẹ làm sẵn, nó đành chờ mấy con xẩm ngủ say mới moi móc vài củ sắn, miếng bánh đậu và uống ké nước lọc. Hậu quả tức thời của một ngày ăn uống là những vụ ói mửa, tiêu tiểu liên tục. Từ trên boong nhìn xuống các khoang, thằng Trương Ðắc, con ông Trương Hồng, không khỏi liên tưởng đến những xe hút hầm cầu thường trông thấy trong Chợ Lớn! Mùi xú uế kinh khủng đến độ thằng Biên quyết định trèo lên boong trên. Nó bò, trườn, đạp, giẫm trên đầu nhiều người để ra cửa khoang. “Nị hôi pín tồ?” Bà xẩm vừa bị Biên bò qua đầu chửi đổng “Tiểu nị lẩu mẩu hấy”. Thằng Biên bất cần, vì nếu không lên boong nó sẽ chết ngộp tức khắc! “Xuống hầm!” Thằng thủy thủ lúc ở cồn quát lớn, lấy tay đè đầu thằng Biên. “Cho đi đái!” Nó cố gỡ cánh tay cuồn cuộn bắp thịt của tên thủy thủ. “Ðái vô bao ny lông!” Tên thủy thủ lại nhấn thằng Biên xuống. “Thôi cho nó lên.” Thằng Trương Ðắc học chung Kế-toán Vật-tư với Dzũng, biết anh em Ðường nói với thằng thủy thủ rồi kéo thằng Biên lên. “Ðái rồi xuống liền nghe.” Biên không trả lời, bò ra boong sau. Cầu tiêu nằm tuốt ở đuôi, không có người. Bước vào cầu xí thằng Biên đang mắc tiểu kinh khủng, nhưng không tài nào tiểu tiện được. Nước biển chỗ chân vịt bị đánh văng tung xối xả lên nhà cầu. Thằng Biên tưởng như nó vừa hứng hết nước tiểu của những người đi tiểu trước! Cái buồng gỗ đóng sơ sài không đáy, nghiêng qua nghiêng lại chòng chành lên xuống đến thót ruột. Nắm chặt nắm cửa, người ướt nhẹp, nó sợ rơi xuống lỗ hổng toang hoác phía dưới. Cuối cùng, Biên đành chấp nhận nó không thể nào đi tiểu được trên một vị trí bấp bênh thiếu an toàn như miếng ván gỗ này. Nó trèo xuống, ngồi bệt trên sàn tàu. Nó nghe loáng thoáng tiếng nói chuyện được biết hôm qua ở hải phận quốc tế, có vài chiếc tàu Na Uy, Thụy Ðiển trông thấy chiếc MT-603 nhưng đều chạy luôn. Gió biển thổi phần phật, chung quanh tàu là một hình lõm nổi màu tím. Biển màu tím, nền trời màu tím, mây màu tím, chỉ có mặt trăng tròn sáng rợn trên cao. Sao nhiều kinh khủng, chưa bao giờ Biên được thấy nhiều sao như vậy. Cả bầu trời đêm tỏa sáng bát ngát, lồng lộng vần vũ mây và tiếng sóng ào ạt rào rào làm Biên tự dưng quên mất thực tế. Nó ngây ngất trước khung cảnh đã được đọc trong Mười lăm truyện mùa Hè, Mười lăm truyện phiêu lưu, Mười lăm truyện đường biển. Nó chợt sống với thế giới của Ngư ông và biển cả. Tiểu thuyết hơn, Biên nghĩ đến 20,000 dặm dưới đáy biển của Jules Vernes. “Ê, đái rồi sao chưa xuống mày?” Thằng Biên giật mình, vội hít lấy hít để bầu không khí trong lành trước khi chui xuống hầm lại. Biên thấy nó ngồi trong căn phòng ăn quen thuộc của ngôi nhà ở Ðakao, bà Long ngồi bên cạnh, nắm chặt tay con nước mắt ràn rụa. Biên hốt hoảng muốn rút tay ra, đỡ lấy mẹ. “Mẹ, mẹ sao vậy?” Nhưng bà Long vẫn nắm chặt tay con, hai mắt mở lớn trừng trừng… Biên vùng vẫy tỉnh dậy và nhận ra nó đang bị con xẩm đè ép sát vách tàu. Mồ hôi hai bên thái dương và lưng áo thằng Biên vã ra như tắm. Ðang đêm hầm tàu lạnh căm căm vì gió biển thổi lùa thốc qua cửa khoang, mà người Biên vẫn ướt đẫm mồ hôi vì sợ. Nó nhớ rõ mồn một cách đây bốn năm khi bố mất, bà Long nằm mơ thấy mình đang đi xe đò với chồng, chợt có người lạ mặt chặn xe xông lên đâm vào lưng ông Long. Ðúng lúc đó, cả nhà bị đánh thức dậy vì tiếng chuông điện thoại reo từ nhà thương Ðồn Ðất báo tin ông Long hấp hối. Ðêm đó là 31 tháng 5-1975, “Giải phóng” vừa đúng một tháng. Tháng 5-75 – tháng 5-79, tự nhiên thằng Biên cảm thấy khó thở, hai lỗ tai lùng bùng, rồi như có một sức mạnh vô hình thúc đẩy, nó bò trườn nhanh qua đầu mọi người đang say ngủ ra ngoài. “Xuống hầm! Con c., không có đi đái nữa!” Thằng thủy thủ lúc nãy ngồi chặn ở cửa khoang quát lớn, cùng lúc lấy chân đạp vào mặt thằng Biên. Vẫn cái sức mạnh vô hình đã kéo nó dậy, lần này truyền vào hai tay nó chụp lấy chân gã thủy thủ và hất mạnh ra sau. Tên thủy thủ ngã ngửa trong lúc Biên xông lên chạy ra boong sau. Gã thủy thủ lồm cồm đứng dậy rượt theo nó. Chiếc thuyền đột ngột chao thật mạnh khi ấy, cả hai, Biên và thằng thủy thủ cũng mất thăng bằng trượt chân té sõng soài. Toàn thân chiếc tàu rùng mạnh như bị bắn thủy lôi. Có tiếng va chạm cọ xát đến nhức óc. Cả hai vừa gượng đứng lên lại ngã nhào vì con tàu bất ngờ nghiêng hẳn sang một bên. Chuỗi âm thanh cọ xát vỡ vụn lanh lảnh lúc nãy lại vọng lên đinh tai. Trên tàu có tiếng la khóc sợ hãi. Tiếng quát hỏi hỗn độn của tài công và thợ máy. Cả tên thủy thủ và Biên đều bất động trên sàn tàu, họ bị thôi miên vào hình ảnh con tàu không ngừng nghiêng ngửa tưởng có thể lật úp. Biên, ở chỗ nó nằm dán sát cabine, thấy rõ tài công đang cố cho tàu de lại. Chiếc MT-603 rùng mình nhiều lần, tiếng máy tàu rú như tiếng sói biển tru đêm. Biên trông thấy ở nhà xí, chân vịt quay tít, nước biển bắn lên lớp lớp như sóng thần. Chiếc MT-603 rung chuyển toàn thân, cố bứt rời khỏi vùng nước đang bấu chặt lấy nó. Lẫn với tiếng sóng, tiếng máy tàu gầm rú, râm ran tiếng Nam mô niệm Phật cầu kinh của bốn trăm người. “Chân vịt vướng lưới rồi, cho chạy tới!” Không rõ ai đã la lên nhưng tài công nghe theo cho tàu chạy tới. Lần này tiếng va chạm cọ xát khủng khiếp như bom nổ. Con tàu hộc lên rồi lại chao nghiêng như muốn lật sấp. “Hỏng rồi, đá ngầm!” “De lại, de lại!” “Cho chạy máy phụ, gài hết số, vụt hết hành lý cho nhẹ tàu!” Tiếng khóc trong khoang đàn bà con nít bây giờ như ri, không phân biệt được nữa là tiếng Quảng hay tiếng Việt. Mặc dù đã chạy hết mã lực, chiếc tàu vẫn không nhúc nhích nổi. Thủy thủ đoàn đã quăng hơn quá nửa số hành lý buộc trên boong. Những sắc, vali, ba lô căng phồng, trôi nổi trên mặt nước một lúc rồi chìm lỉm. Thằng thủy thủ kiếm chuyện với Biên biến đâu mất. Trong cabine tài công và chủ tàu xoay trở, chửi bới lẫn nhau. Lúc này tài công đã biết chắc là đá ngầm, chứ không phải vướng lưới. Dù chuyện có đá ngầm giữa đại dương nghe vô lý, nhưng chiếc MT-603 rõ ràng là đụng phải một khối đá cứng. Tiếng máy tàu rít man dại, những hàng bọt sóng trắng xóa từ hai bên hông tàu rùng rùng xẻ phăng phăng trên mặt biển. Ván thuyền rung bần bật, có khi mọi người tưởng chừng tàu vỡ tung đến nơi vì những tiếng “bục”, “bục” cực lớn phát ra từ chân vịt. “Ngừng máy, ngừng máy, gẫy chân vịt đến nơi rồi!” “Ðừng thử nữa, bể ‘lốc’ máy!” Chiếc MT-603 đã nghiêng hẳn sang bên trái sát mặt nước. Mọi người được lệnh dồn hết sang phải để quân bình trọng lượng, nhưng vô ích. Bọn thủy thủ điên cuồng quăng hết xuống biển tất cả những gì chúng nắm dưới tay. Những bao bố thực phẩm tươi, những thùng cạc-tông thức ăn khô và cả những can nước ngọt hăm lăm lít thi nhau bay xuống biển. Hành lý của bầy thuyền nhân thì đã vất từ lâu. Tài công chính và thợ máy cố gắng thêm một lần nữa, hy vọng trọng lượng giảm bớt giúp tàu nổi lên. Tiếng máy chỉ kịp rít lên một tràng ngắn, thì đằng mũi đứng dựng lên rồi cả con tàu rơi chạm mạnh xuống mặt đá ngầm. Như cơn địa chấn, mặt nước vỡ tung tóe, trăm ngàn mảnh. Chuỗi tiếng động đổ sập từ trên boong làm mọi người ở đằng lái chết sững. Cây đà chống boong vừa sập xuống, kéo theo trần boong trên đè sập xuống tầng đàn bà, chỗ ngồi của thằng Biên từ mấy ngày nay. “Trời ơi cứu… cây đè con tôi chết rồi!” “Câu màng à! Câu màng à!” Ở những cửa hẹp, những cánh tay bấu víu giành nhau túa ra nhảy xuống biển. Những người đàn ông từ hầm dưới cùng nghe tiếng kêu khóc của vợ con, vùng tràn lên boong cố tìm đường vô khoang nhì đã bị đè bít. Mặt boong trên nghiêng vỡ trong tiếng gỗ gẫy vụn đến rợn tóc gáy, từng đám đông người lê lết tìm đường thoát. Mọi người tiếp tục tuôn ra từ các cửa sổ và cửa khoang, nhảy xuống biển theo lệnh của tài công cho nhẹ tàu. Tai nạn rùng rợn ở tầng nhì, như có quý nhân phù trợ không gây thiệt hại nhân mạng, chỉ một số đàn bà và con nít bị đè gẫy tay gẫy chân. Nhưng chiếc tàu bây giờ là địa ngục nổi trên mặt nước. Thằng Biên sau một lúc lâu chết sững trước buồng xí, vùng dậy theo bản năng, trước lúc nhảy xuống biển nó còn nhớ quàng vội chiếc áo phao của hải quân Mỹ mà nó đã hứa với bà Long luôn đem theo mình. Rơi tõm xuống biển, thằng Biên đau nhói ở lòng bàn chân bị đá san hô cứa đứt. Nó còn tỉnh táo cố giật bình gaz mắc trên áo phao. Chiếc áo phồng lên giúp nó trôi bềnh bồng. Bầu trời Thái Bình Dương sáng rực hồi nào không ai hay.
Suốt cả buổi chiều trên cồn, nhóm của Ðường tâm sự vãn và ăn uống dè sẻn những bánh ú, trái mận roi đường bán với giá cắt cổ. Trời chiều ngả dần từ màu vàng võ sang cam tuyền của những đám mây xa. Lúc chị Hương rút năm chục cuối cùng ra mua ba trái dừa xiêm cho cả bọn uống đỡ khát, tiếng reo hò chợt dậy vang trên cồn. “Dậu xuyền lại!” “Có tàu, tàu tới, tàu tới!” Mọi người không kềm chế được vui mừng chạy ùa ra bãi đất trống hồi sáng lúc lên cồn. Trong ráng chiều buông chầm chậm, Ðường trông thấy ngoài sông ba chiếc tàu cây đang chậm chạp tiến vô. “Ðâu, chiếc nào là MT-603 đâu?” “Chiếc sơn đỏ dưới lườn đó.” “Trời ơi! Nhỏ xíu vậy làm sao vượt đại dương đi Úc!” Những người lần đầu tiên vượt biển thất vọng kêu trời. Tàu vượt đại dương trong đầu họ là hình ảnh những chiến hạm, tàu thủy đậu trong bến cảng Bạch Ðằng. Những người đã cay đắng nhiều lần rồi thì bình tĩnh hơn. “Vậy là khá rồi, hồi tui đi chui ở Cà Ná ghe dài chỉ bằng ba chiếc giường ngủ nhập lại.” “Thôi chết rồi, lão Trương Hồng lừa mình rồi.” “Dưới Rạch Giá tàu cũng chỉ cỡ vầy…” Ðường nghe rõ những mẩu đối thoại chung quanh, anh không có ý kiến vì đã ra đến đây ghe xuồng tàu bè lớn nhỏ cỡ nào cũng phải lên thôi. Ba chiếc tàu cây ngừng lại ở giữa sông. Hóa ra có hai chuyến đăng ký khác đi cùng ngày mà Ðường không biết. Ðường cũng vừa khám phá thêm qua lời đối đáp giữa ông Hỏa em rể chủ tàu và những người vây quanh, là chiếc MT-603 dự định đi Úc. Người tổ chức tự tin chiếc tàu của họ đủ sức hải hành xuống tận vùng nam Thái Bình Dương. Có lẽ lý do chính là vì từ mấy tháng qua, đài BBC không ngừng loan những bản tin về nạn hải tặc ở vịnh Thái Lan, điểm đến gần nhất. Mã Lai, Nam Dương, Tân Gia Ba thì đài VOA loan tin tàu tỵ nạn bị kéo đuổi ra khơi. Ðường suy nghĩ nhưng không tài nào đoán ra lý do khiến các nước Ðông Nam Á trong vùng xua đuổi làng xóm đang lâm nạn. Chỉ mới hôm qua, họ hãy còn là đồng minh của Việt Nam Cộng Hòa. Ðường cảm thấy cay đắng, đồng thời ba chữ Úc Ðại Lợi vừa nhú mầm nẩy lên trong anh. Ðường cố hình dung ra vùng đất lạ của nhà sinh vật học nổi tiếng Darwin, nhưng cũng như bóng đen về sự xua đuổi thuyền bè của các nước láng giềng, Ðường không mảy may ý niệm gì được về mảnh đất lục địa chờ đón sắp đến. Nhưng lần đầu tiên từ lúc xuống Mỹ Tho, anh thấy nôn nao khó tả. Hơn tiếng đồng hồ sau, hai tàu tuần giang PCF chở đầy công an hộ tống một đoàn ghe đông đảo người ngồi trong khoang cặp vào cồn. Lần này những chiếc đuôi tôm cặp hẳn vào bờ. Công an và đám người lạ mặt tuần tự lên cồn. Viên công an mang kiếng gọng vàng lúc nãy tái xuất hiện, nói chuyện hồi lâu với chủ tàu rồi quay sang ra dấu đem loa phóng thanh đến. “Các anh chị chú ý! Các anh chị chú ý! Tôi thay mặt Tỉnh ủy, thay mặt đội ngũ Công an Nhân dân Thị xã quán triệt với các anh chị một vài điều trước khi các anh chị lên đường…” “Quán triệt” cầm loa vắn tắt, kêu gọi mọi người phấn đấu lao động ở xứ người, tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng của hai dân tộc Hoa-Việt tự ngàn xưa. Không ai cảm giác kỳ dị và cũng không ai tự hỏi vì sao chính quyền tổ chức cho họ ra đi, tất cả đã quen với ngôn từ chính thức và quen với sự im lặng, riêng Ðường càng lúc càng nôn nóng. “Sau đây là danh sách các anh chị có tên thuộc diện người Hoa đăng ký theo tàu MT-603. Anh chị nào có tên thì đứng lên ra tập họp xuống ghe để ra tàu lớn. Tổ Một: tổ trưởng Lâm Huê, tổ viên các anh Trương Liêu, Ðặng Cẩm, Trịnh Vũ Vương, Phùng Hội, Phùng Tảo… các chị Trương Tố, Vương Huệ, Tú Diệp Anh…” “Dzũng, ông có tên kìa, đứng lên đi!” Ðường bật dậy. “Ðâu? Gọi hồi nào?” Dzũng hớt hải. “Phùng Tảo! Tên trên khai sinh Tàu của ông là Phùng Tảo. Nhanh lên!” Ðường đẩy Dzũng. “Phùng Tảo có mặt!” Dzũng lật đật. Biên mang túi đeo vai giùm anh Dzũng, nó vừa kích động, vừa nghĩ đến cái tên Mã Siêu trên khai sinh Tàu của mình. Tự nhiên Biên nhớ đến cha đã mất, nhớ đến ông Long buổi trưa 30 tháng 4 đốt vội vàng thông hành của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc khiến bà Long phải mua khai sinh giả cho hai anh em Ðường với giá một chỉ vàng. Tàu thật trở thành Tàu giả, hay Tàu lai trở lại làm Tàu thật? Biên thật sự thắc mắc. Cho đến buổi trưa Mỹ Tho, Biên vẫn tin nó là người Việt, mà chỉ đến buổi trưa này Biên mới ý thức cái tên thật Lưu Gia Biên của nó đầy Tàu, nhưng là một thứ Tàu không được công nhận, giản dị vì là Tàu Quốc gia. Quốc gia? Biên hãy còn quá trẻ để hiểu, tuy biết cái chết của cha gắn liền với 30 tháng 4. Nó đứng xếp hàng sau lưng anh Dzũng, nhìn mọi người trút hết tiền Giải phóng còn thừa vào chiếc rổ mà anh công an trẻ đang cầm. “‘Giải phóng’ đến đây là hết giá trị.” Dzũng thì thầm. “Cái gì của âm phủ trả cho âm phủ.” Ðường gật đầu. Công an tiếp tục đọc tên: “Các anh Vưu Di, Mã Siêu, Mã Sinh, Chiêu Cấm, Triệu Hỷ… ” Ðến tên Mã Sinh, Ðường hô “Có mặt”. “Em mang tên Mã Siêu luôn hả anh?” Biên vẫn còn thắc mắc, ý nghĩ trở lại làm người Tàu làm thằng Biên không vui. Nó nghĩ đến đám bạn người Việt trong trường, nghĩ đến chỉ mới cách đây vài tháng khi chiến tranh biên giới nổ ra, thầy chủ nhiệm đã kín đáo khuyên nên khai lại lý lịch vì gốc Hoa sẽ cản trở học vấn. Ðường nhìn em ngạc nhiên, tự nhiên anh thấy thằng Biên lớn hẳn, nó có vẻ ưu tư. “Qua đến trại tỵ nạn khai lại.” Ðường nói khẽ. “Khai người Việt hay người Tàu?” Biên hỏi lại. Biên nhìn anh. Ðường nhìn thằng Biên, anh thấy rõ ràng thằng bé đang lớn lên, làm như xa gia đình ba ngày đã khiến nó ý thức phải tự lập và đã khiến nó hiểu những quyết định sắp đến của anh vô cùng quan trọng. Ðường muốn trấn an em nhưng chính câu hỏi của thằng Biên làm anh phân vân. Tàu hay Việt? Chính gốc Hoa của Dzũng và Ðường đã khiến ông Trương Hồng trở nên dễ dãi và tin tưởng. Cũng chính gốc Hoa này đã giúp bà Long xin bớt hai lạng vàng. Nhưng Tàu hay Việt, Ðường chưa bao giờ tự đặt câu hỏi, vì trong thâm tâm anh luôn nghĩ mình là người Việt. Bên cạnh, Dzũng cũng nghe thấy và chờ đợi đáp án của bạn mình. Chính Dzũng cũng đang phân vân, sau cùng, Dzũng nói nhỏ: “Sang tới trại tỵ nạn rồi tính”, nhưng Ðường đã trả lời em: “Khai người Việt. Mẹ là người Việt, anh em mình là người Việt.” Ðường nghe giọng nói của anh thật chắc chắn. Biên cảm thấy an tâm, nó nhìn ra những thước sông bây giờ đã sẫm.
o O o Bảy giờ tối, trong ánh đèn pin quét ngang dọc của công an, mọi người lần lượt xuống tàu lớn. Dzũng, Ðường và những người đàn ông trong nhóm bị đẩy xuống hầm dưới cùng. “Chết rồi bây ơi, không có cửa sổ!” Anh Vĩnh la làng khi cả bọn chui xuống hầm. Khoang tàu tầng dưới tù mù trong ánh đèn bão mắc ở đà ngang. Chưa gì mọi người đã ngộp thở, hầm tàu bít bùng thiếu dưỡng khí. Mùi dầu Ma-zút xông lên hăng hắc. “Xuống, xuống! Tổ một dồn ra đằng mũi đi! Nị tỳ hôi sườn pìn!” Mấy thằng thủy thủ gốc Triều Châu to con vạm vỡ, xô đẩy nhóm Ðường. Người trên boong tiếp tục dồn xuống. “Ngồi sát vô nữa! Mỗi băng mười người! Xập cô dành!” Bọn thủy thủ tiếp tục la hét quát tháo. Mặt anh Vĩnh và anh Thành đanh lại. Những người đàn ông ngồi chật đến độ không thể cựa quậy. Trong bóng đèn bão vàng vọt, vang lên vài tiếng “Tiểu lụ mụ” của các thanh niên người Hoa cũng đang bị dồn ép như cám. Người trên boong vẫn tiếp tục được đẩy xuống. Ðường có cảm tưởng hai xương vai và ba sườn mình sắp vỡ vụn. “Tôi nói ông rồi, máy ép dầu xuất khẩu mà!” “Nghe đâu công an gởi một trăm người, cánh ra sau hồi nãy là người của công an đó.” “Không cửa sổ, ngồi ép mỡ kiểu này tàu lật là đi đái…” “Ê mấy cậu nhỏ đó, đi đường xa đừng có nói gở. Hết chuyện đùa rồi sao!” Mấy ông già lớn tuổi ném cho bọn trẻ cái nhìn quắc mắt không mấy thiện cảm. Ðám thanh niên nín thinh, hầm tàu chỉ còn tiếng chân xô đẩy quờ quạng tìm chỗ ngồi. Không ai nói gở nữa, nhưng hình ảnh cái quan tài tập thể đã lởn vởn trong đầu mọi người. Phần Biên, dưới 18 tuổi nên được ở tầng nhì, có cửa sổ ngồi chung với đàn bà con gái. Tầng thượng dành cho thân nhân gia đình chủ tàu và tài công. Khoang tàu của thằng Biên cũng chật không kém, nó bị năm con xẩm ép dính vào vách. Không phải một hộp cá sardine nhưng là một hộp thịt pâté. Thằng Biên cố an ủi được ngồi kế cửa sổ không sợ ngộp thở. Nó đo lường bằng mắt cái khung cửa hẹp liệu xem thân hình ốm của nó có chui ra được khi gặp biến. Thõng một tay qua cửa sổ, Biên giật thót mình vì cánh tay nó chạm ngay vào dòng nước lạnh toát. Mực nước mấp mé chỉ cách chừng hai mươi phân. Ðúng lúc đó thằng Biên chợt nghe tiếng mái chèo khua nhẹ, rẽ trên mặt nước. Rồi tiếng chạm nhẹ vào vách, rồi có tiếng đụng mạnh hơn vào lườn tàu, tò mò nó nghiêng đầu qua cửa sổ. Một bàn chân rơi bịch bất ngờ ngay trên thành cửa trước mũi thằng Biên. Một bóng người từ chiếc ghe tam bản cặp bên hông chiếc MT-603 nhảy vụt lên boong. Tiếng súng nổ chát chúa liền tức khắc. Liên tiếp là tiếng đạn AK rít rít trong gió. Năm ngón chân của cái bàn chân trần bấu quặp vào thếp gỗ run rẩy rồi rơi tõm xuống, nước bắn ướt vào trong khoang. Những băng đạn AK vẫn còn được bắn xối xả xuống lòng sông đen ngòm. Tiếng AK nổ như trống. Ðến khi âm vang của tiếng súng dứt hẳn, hồi lâu sau trong bầu không khí sợ sệt im phắc, một giọng đàn bà mới lắp bắp thều thào: “Trời ơi… đi ‘hôi’ bị bắn rồi.” Ðã gần nửa đêm tàu vẫn chưa chạy, không ai rõ chừng nào mới “nhổ neo”. Ông Trương Hồng và tài công đã trở vô thị xã ăn chia tay với công an. Tất cả chìm trong bóng đen đặc, cây đèn bão gã thủy thủ đã lấy đi. Mùi Ma-zút xông lên đến ngộp thở, in mùi hắc ín tráng nhựa đường. Thằng Biên nhắm mắt cố ngủ để lấy sức, mỗi lần giật mình bừng tỉnh, nó ngó ra ngoài đêm quê hương mịt mù. Tàu vẫn đứng yên một chỗ.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.