Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

December 30th, 2021

Post by Sơn râu 3 May 2024

(Kỳ 46)

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 46

Tôi trình diện Phòng Nhân viên ở Yokosuka ngày 27 tháng 12 năm 1943. Ở đây cho biết việc bổ nhiệm tôi chưa được sắp xếp và yêu cầu quay lại sau Tết. Làm sao họ có thể chú tâm đến các ngày nghỉ lễ trong giai đoạn khủng hoảng này? Viên sỹ quan tiếp tục: “Ở nhà mấy ngày Tết thực là tuyệt diệu, phải không Ðại tá? Tôi đoán chừng đây là “tặng phẩm” của Bộ Tư Lịnh dành cho các chiến công của Ðại tá.” Thái độ của viên sỹ quan gây cho tôi sự oán ghét. Tôi muốn mắng vào mặt bọn người này nhưng tôi dằn được, và xoay lưng bước khỏi phòng.

Trường Ngư lôi ở Oppama. Tôi đi thẳng đến đó, bước vào phòng chỉ huy trưởng, và không còn dằn được nữa, tôi đã để cơn giận dữ bùng nổ trước mặt Phó Ðô đốc Omori. Ông tỏ vẻ khó chịu, nhưng kiên nhẫn nghe tôi nói rồi lên tiếng: “Tôi hiểu anh, Hara, nhưng những người ở đây, ở tại quê hương, họ chưa biết cuộc chiến đã đến giai đoạn sinh tử như chúng ta, đã từng ở mặt trận. Anh phải biết, cũng như tôi, rằng chúng ta không thể nào thay đổi thế giới, chúng ta bắt buộc phải kiên nhẫn và làm những gì có thể làm.”

Từ Oppama, tôi quay về gia đình ở Kamakura, lộ trình dài đúng 20 phút xe lửa, với một dư vị chua chát trong miệng. Trải qua nhiều tháng tôi mới được nhìn ngắm lại thị tứ này. Lòng tôi cảm thấy bồi hồi, Kamakura, một trong những nơi đẹp nhứt xứ Nhựt đang trở nên hoang vắng. Chưa một quả bom nào rơi xuống nhưng các cửa hàng đều trống rỗng. Dân chúng có vẻ mệt lả và đói kém. Cơn tức giận đã giảm bớt, thay vào đó là sự mệt mỏi chán chường. Tôi bước vào nhà với nhiều cảm giác lẫn lộn, nhưng khi vợ con đổ xô đến, tâm hồn trĩu nặng của tôi như được giải tỏa.

Ngày 10 tháng 1 năm 1944, tôi trở thành huấn luyện viên cao cấp của Trường Ngư lôi.

Một việc lạ lùng là Nhựt không sử dụng các tàu phóng lôi vào những ngày đầu cuộc chiến. Mãi bận tâm với các đại chiến hạm, Bộ Tư Lịnh không lo đến việc đóng loại tàu này. Các sỹ quan Nhựt đã phải nếm mùi sự nhanh nhẹn của các tàu phóng lôi Hoa Kỳ ở quần đảo Solomon. Trong tình thế hiện tại, việc phát triển khinh tốc đĩnh và huấn luyện thủy thủ là phản ứng tự nhiên, nhưng đã quá trễ.

Những sai lầm không chỉ trên phương diện tàu phóng lôi mà thôi. Ngay cả các dự án tuyển phi công và sáng chế radar cũng bị bỏ lửng quá lâu. Vào cuối năm 1943, các cơ xưởng của chúng tôi đã hoạt động cả ngày lẫn đêm trong việc sản xuất radar, lý do là vào thời gian đó chiến hạm Nhựt bị chiến hạm Mỹ có trang bị radar đánh chìm quá nhiều. Trước chiến tranh, hàng ngàn thanh niên xin học phi công nhưng Hải quân chỉ chọn lựa vài trăm người là cùng. Cho đến cuối năm 1943, Hải quân vẫn không thay đổi chính sách này. Ðến khi hầu hết phi công bị cuộc chiến thiêu rụi, Hải quân mới hối hả huấn luyện ồ ạt, nhưng số phi cơ sản xuất lại không đáp ứng nhu cầu đòi hỏi.

100 khóa sinh thụ huấn ở Trường Ngư lôi đều xuất thân từ các trường cao đẳng, thoạt đầu đã tình nguyện theo học các khóa phi hành. Sau 3 tháng huấn luyện sơ khởi, tất cả đột nhiên bị chuyển sang khóa huấn luyện trên biển. Lý do đơn giản là Hải quân không đủ phi cơ cho họ lái.

Các khóa sinh của tôi đều trên 20 tuổi, rất nhiệt tâm, nhưng tất cả đều thuộc thành phần trừ bị nên có vẻ tài tử, hoàn toàn khác biệt với các sỹ quan xuất thân từ Hàn Lâm viện trước đây. Tôi hiểu với những tay tài tử này, tôi cần phải kiên nhẫn.

Tôi đã rất cứng rắn và không ngần ngại chỉ trích các lỗi lầm của họ. Kỷ luật cũng áp dụng chặt chẽ, nhưng nhóm sinh viên trừ bị giống như các sinh viên dân sự. Tôi nhận thấy không thể nào áp dụng lối quở trách mà không giải thích tỉ mỉ các lỗi lầm của họ. Làm cách nào biến các tay tài tử này thành các thủy thủ phóng lôi chuyên nghiệp trong vòng 3 tháng?

Chiếc khinh tốc đĩnh đầu tiên đến trường vào tháng 2 với vận tốc 18 hải lý làm tôi thối chí. Sau khi chạy thử, tôi quay vào cầu tàu và mạnh miệng tuyên bố: “Ðây không phải là một tàu phóng lôi. Chỉ là du thuyền! Cái ngữ này vô dụng trên phương diện chiến đấu!”

Omori đứng lặng lẽ, mặt mày tiu nghỉu. Anh chàng kỹ sư phác họa đồ án chiếc tàu mặt xanh xám, biện hộ rằng chiếc tàu này được trang bị động cơ của máy bay cũ! Việc này không có gì khó hiểu, bởi lẽ chúng tôi không thể nào sản xuất máy móc mới đúng mức đòi hỏi. Khinh tốc đĩnh của Ðức lúc đó đã đạt vận tốc 45 hải lý. Bực mình và chán nản vô tả, tôi im lặng bỏ đi.

Một vài “tàu phóng lôi” khác được đưa đến, nhưng cũng chỉ là “du thuyền”. Tất cả các tàu này đều chạy bằng máy phi cơ cũ và không chiếc tàu nào đạt tốc độ hơn 25 hải lý. Vỏ của loại tàu này được làm bằng gỗ hoặc thép, dài khoảng 12.5m đến 15.5m; thủy thủ đoàn 7 người, trang bị 2 ngư lôi nhỏ và một đại liên 13 ly. Nhưng không chiếc nào đạt đến phẩm chất theo mong muốn của tôi.

Chương trình huấn luyện kéo dài vài tuần lễ và kết thúc vào tháng 4 năm 1944. Những điều tôi nêu ra để lưu ý các sinh viên tốt nghiệp đã khiến cho Omori không hài lòng: “Các tàu phóng lôi của chúng ta, thực không may, đều dưới chân bất kỳ chiếc tàu nào cùng loại của đối phương. Như tôi đã từng lặp lại hàng ngàn lần với các anh, rằng chiến thắng của các anh sẽ nhờ cậy vào sự vụng trộm, bởi lẽ các anh sẽ không sống sót nếu mặt đối mặt với địch. Các anh phải lợi dụng mọi phương thức che giấu hoặc đánh lừa mới mong thành công.”

Giảng dạy là một công việc rất dễ chán. Các khung cửa sổ của lớp học nhìn ra hải cảng trầm lặng. Quang cảnh trước mắt gợi trong lòng tôi những tiếng gọi thì thầm của đại dương. Ðời sống trên một khu trục hạm là một đời sống đầy căng thẳng và nhọc nhằn, nhưng là một mừng vui hòa hợp lẫn lộn. Những cảm giác đó thiếu vắng ở đây.

Thỉnh thoảng tôi đến Tổng Hành Dinh Yokosuka để dọ hỏi tin về các chiếc tàu do tôi chỉ huy trước đây. Trong suốt năm 1943, khu trục hạm Amatsukaze đã hộ tống các đoàn chuyển vận giữa quê hương và Ðông Nam Thái Bình Dương mà không gặp tai nạn nào. Nhưng khi tôi đến trường này không lâu, tôi đã xúc động mạnh khi nghe tin Amatsukaze bị trúng ngư lôi phía Bắc đảo Trường Sa vào tháng Giêng năm 1944 và 80 thủy thủ thiệt mạng. Mặc dù hư hại nặng, Amatsukaze vẫn ráng lết đến cảng Sàigòn. Khu trục hạm Shigure vẫn làm nhiệm vụ hộ tống sau khi tôi rời khỏi Sasebo, tôi buồn hơn hết khi nghe tin chiếc tàu bị trúng bom vào ngày 17 tháng 2, với 21 thủy thủ tử vong.

Nhiều tin tức khủng khiếp khác dồn dập bay đến. Vào ngày 30 tháng 3, một Task Force Hoa Kỳ tấn công quần đảo Caroline, đập tan các hệ thống phòng thủ của Nhựt. Chiều ngày đó, Ðô đốc Koga rời khỏi đảo bay đến Davao, và từ đó không còn tin tức gì nữa.

Tôi được lịnh đến Kawatana, ngay sau khi khóa đầu kết thúc. Nhiệm vụ của tôi là thiết lập một quân trường mới ở đây, bởi lẽ Oppama không còn thích hợp với số khóa sinh ngày càng đông. Thuyên chuyển này sở dĩ xảy ra, có thể là do việc tôi luôn luôn than phiền về tình trạng trang thiết bị bết bát ở Oppama. Cho dù lý do nào đi nữa, sự thay đổi này vẫn được tôi tiếp nhận nồng nhiệt. Phiền não làm tôi mệt mỏi, nhưng viễn ảnh được chỉ huy một quân trường độc lập khiến tôi tươi tỉnh.

Kawatana là một làng đánh cá nhỏ nằm ven bờ vịnh Omura. Nhiều năm trước, Hải quân có một căn cứ thí nghiệm ngư lôi nhỏ ở đây, nhưng hiện thời cơ sở này không còn được sử dụng. Ðến Kawatana vào ngày 3 tháng 5, tôi nhận thấy nhà cửa tại căn cứ đều đổ nát. Tôi gặp khoảng mươi nhân viên bảo trì còn lưu lại. Khi biết tôi có ý định đặt cơ sở huấn luyện cho một chiến thuật mới trên mặt biển, họ vừa kinh ngạc vừa có vẻ chế giễu. Thái độ này khiến tôi buồn cười.

Viên sỹ quan cơ khí cho tôi biết Ðô đốc Koga xem như đã mất tích, và Ðô đốc Toyoda kế vị trong chức vụ Tổng Tư Lịnh Hạm đội Hỗn Hợp. Tin này khiến tôi kinh ngạc còn hơn khi nhìn thấy cảnh hoang tàn của ngôi trường tương lai do tôi chỉ huy. Tôi thấy Ðô đốc Toyoda không thể nào là nhân vật thích hợp cho chức vụ này. Khi tôi rời Oppama, ông còn chỉ huy căn cứ Yokosuka. Trước đó, vào những ngày đầu cuộc chiến, ông giữ chức vụ Tư lịnh Hải khu Kurê. Do đó Toyoda chưa bao giờ nhìn thấy tận mắt bất kỳ trận đánh nào. Vào thời gian khủng hoảng này, tại sao lại cắt đặt một nhân vật mà hầu hết các thủy thủ ở tiền tuyến không biết đến thành tích vào chức Tổng Tư Lịnh? Câu hỏi ám ảnh tôi suốt.

Một tuần sau đó, 200 khóa sinh nhập học. Như khóa huấn luyện ở Oppama, tất cả sinh viên đều đến từ các trường phi hành. Cùng với 6 sỹ quan phụ tá, tôi lại bắt đầu nghề thầy dạy đáng chán của mình.

Tiên liệu của tôi về Toyoda đã sớm chứng minh bằng một sự thực đau buồn. Chức vụ mới quá lớn đối với ông. Vào ngày 19 tháng 6, các hàng không mẫu hạm của Phó Ðô đốc Ozawa hứng chịu đại bại đầy bi thảm, trong một trận đánh được gọi chế giễu là “Cuộc bắn gà ở Mariana”. Kết quả, Ozawa mất 3 hàng không mẫu hạm và 500 phi cơ. Không Hạm đội cuối cùng của Hải quân tan tành.

Hầu như mỗi ngày đều có những tin gây bàng hoàng đến nỗi chúng trở thành quen thuộc. Một bản tin phát đi cho biết Saipan rơi vào tay địch và Phó Ðô đốc Nagumo đã tuẫn tiết. Tôi chết lặng khi nghe tin này. Ngay lúc đó, một công điện từ Yokosuka gửi đến, chỉ thị tôi từ đây trở về sau, việc huấn luyện phải nhắm vào mục đích chính là chống lại đổ bộ lên các bờ biển Nhựt.

Phản ứng của tôi đối với lịnh này là một cái gì mà tôi sẽ không bao giờ hiểu được, chỉ biết rằng nó gây cho tôi sự xúc động kỳ dị. Tay tôi run và mặt tôi đỏ bừng lên vì giận dữ. Tôi xé nát bức công điện, quăng vào sọt rác và ngồi xuống thảo một thỉnh nguyện thư dâng lên Thiên hoàng. Ðó là một hành động phạm thượng, nhưng lúc ấy tôi không thể nào tự kềm chế.

Tôi viết rằng Nhựt đang bại trận, và tôi kêu gọi Nhựt hoàng hãy nhìn thẳng vào tình thế. Tôi nêu ra các chức vụ then chốt trong Lục quân và Hải quân đều do các sỹ quan già nua, không quen với chiến tranh hiện đại, và các cuộc cãi cọ cứ tiếp tục xảy ra giữa Lục quân và Hải quân khiến cho hiệu năng trong cả hai lĩnh vực quân sự và kỹ thuật ngưng trệ. Tôi thúc giục Thiên hoàng hãy mưu tìm phương cách chấm dứt chiến tranh, và, xem như là bước đầu tiên, cách chức tất cả các đô đốc và tướng lĩnh thiếu năng lực.

Tôi đã thành một tay cuồng tín. Ðó có lẽ là hậu quả của những bực dọc kéo dài quá lâu trong công tác giảng dạy. Việc làm của tôi không chỉ có tính cách bất phục tùng mà còn khi quân… Và – theo luật của Hải quân – tôi có thể bị đưa ra tòa án binh. Nhưng tôi không hề nghĩ đến những điều này. Tôi quên mọi thứ, tôi chỉ biết quốc gia đang bước dần đến miệng vực.

Khi viết xong thỉnh nguyện thư, tôi đáp xe lửa lên Tokyo. Vào ngày 12 tháng 7, tôi đi thẳng vào Bộ Hải Quân, và người đầu tiên mà tôi gặp là Ðề đốc hoàng thân Takamatsu, bào đệ của Thiên hoàng. Tôi vồ ngay lấy ông.

“Hoàng thân! Ngài có thể tiếp riêng tôi được không?”

Hoàng thân nhìn tôi, ông nghĩ tôi là một tên dở khùng nhưng ông gật đầu. Tôi bước theo hoàng thân vào văn phòng riêng. Nơi đây, tôi trao thỉnh nguyện thư cho ông, yêu cầu ông dâng lên Thiên hoàng.

Ông hỏi: “Tôi có thể đọc trước hay không?”

Tôi đáp: “Dạ được, thưa ngài.”

Ông ngồi xuống mở thư ra và chăm chú đọc. Chân mày ông nhíu lại. Ðọc xong, ông quay lại nhìn tôi, hình như ông muốn xác định xem có phải tôi là một tên điên thực hay không, và ông xếp tờ giấy bỏ vào túi áo.

“Hoàn toàn đúng, Hara!” Ông vừa nói vừa đứng dậy. “Hãy bảo trọng lấy thân!”

Tôi không biết rõ những gì mà hoàng thân Takamatsu mưu tính, nhưng có điều ông giữ rất kín hành vi của tôi trong giới Hải quân. Nếu các lời lẽ tôi viết đến tai bộ trưởng, chắc chắn tôi sẽ không yên thân.

Sau khi trao thư, tôi lập tức đón xe lửa trở về Kawatana chờ phản ứng của Nhựt hoàng. Khi không thấy động tịnh gì hết, tôi dần dần định tâm và ý thức rằng hành động của tôi hoàn toàn vô nghĩa, nếu không nói là lăng nhục. Không Thiên hoàng mà cũng không bất kỳ ai khác trong hoàng tộc đưa ra biện pháp dựa trên thỉnh nguyện thư của tôi. Hơn nữa, dưới thể chế hiện thời, Thiên hoàng không có thực quyền, vì vậy, ngài không thể đưa ra bất kỳ hành động có tính cách quyết định nào. Tuy nhiên, Nhựt hoàng đã lấy lại chút ít quyền bính một năm sau, khi ngài tự quyết định đầu hàng.

Ðành chịu thua với số phận, tôi chăm chú với nhiệm vụ, và khóa học kết thúc vào tháng 7. Ðầu tháng 8, quân trường bị 400 tân khóa sinh tràn ngập. Khi nhìn thấy họ, thiếu mền, thiếu chiếu, nằm ngủ xếp lớp như cá mòi trên đất, tôi quyết định dẹp bỏ tất cả phiền muộn để trở về với bổn phận. Những thanh niên này đều yêu nước, họ xứng đáng với sự tận tụy của tôi.

Cuối giai đoạn huấn luyện, một thông cáo đầy bất ngờ cho biết việc thành lập Phi đội Thần Phong, một đơn vị tự sát gồm toàn những người tình nguyện. Tin tức gây choáng váng này đã khuấy động ngôi trường Kawatana một cách khủng khiếp. Nó cũng là một cú đấm thẳng vào tôi, vì từ lâu tôi vẫn luôn chủ trương sanh mạng người lính phải được bảo vệ. Từng nuôi nấng hy vọng ra đi và trở về cho các thủy thủ của tôi, chiến thuật mới này quả thực phi nhân tính. Trong căn phòng lặng lẽ, tôi bật khóc.

Vào cuối tháng 10, một người khách “không chờ đợi” đã đến. Là đồng đội cũ của tôi hồi còn ở Rabaul, Ðại tá Toshio Miyazaki, nguyên chỉ huy trưởng Hải đội 17, và hiện thời là huấn luyện viên cao cấp của Trường Ngư lôi Oppama.

Sau khi tuyên bố viếng thăm với tư cách riêng, Miyazaki tiết lộ cho tôi biết là đã đến đây bằng chuyến xe lửa đặc biệt có chở một món hàng lạ, và yêu cầu tôi đi xem. Bước vào sân ga, ông dẫn tôi đến một toa hàng có lính gác. Các kiện hàng được mang đến sở thí nghiệm ngư lôi và mở ra. Ðó là 3 tàu phóng lôi nhỏ với dụng cụ lặn dưới mặt nước, đóng bằng ván ghép và chạy bằng máy xe hơi, trông giống như loại xuồng máy. Ðiều mới lạ là phía trước chứa đầy chất nổ cực mạnh. Khi Miyazaki khẽ nói: “Ðây là các Kamikaze trên biển,” tim tôi nhói đau.

Tôi hỏi về các dụng cụ lặn. Miyazaki giải thích: “Những cái đó để người nhái sử dụng. Với bình dưỡng khí, họ sẽ mang một khối chất nổ lặn xuống đáy biển để gắn vào chân vịt hoặc bánh lái tàu địch.”

Ông ta cùng tôi lặng lẽ trở lại trường, và ở đây, ông nói rõ từng chi tiết. Ý kiến về các tàu phóng lôi cảm tử là do Bộ Tư Lịnh Tối Cao đưa ra. Chiến thuật tự sát đã được quyết định dứt khoát.

Tôi nói: “Miyazaki, huấn luyện gấp rút các khóa sinh thì sẽ chẳng khác nào đút thịt vào miệng cọp. Tôi thấy rõ là họ ít dịp may sống sót. Kế hoạch đưa ra đã đành là phải thi hành, nhưng yêu cầu người khác cam tâm chịu chết, là một việc khác. Làm sao chúng ta có thể yêu cầu những người trẻ tuổi đó tự sát?”

Miyazaki nói một cách nghiêm nghị: “Hara, chúng ta chỉ còn một cách duy nhứt là thành thực giải thích cho họ hiểu tình thế tuyệt vọng ở hiện tại. Tôi sẽ đích thân kể lại cho các sinh viên của anh trường hợp thiệt mạng của những thủy thủ thuộc hải đội của tôi, mặc dù những thủy thủ này có nhiều năm kinh nghiệm. Tôi cũng sẽ nói với họ rằng hiện thời chúng ta đang hấp hối, tất cả binh sỹ đều đối mặt với tử thần. Tôi nghe tin các phi công Thần Phong đều nhứt quyết thực hiện các phi vụ tự sát sau khi nghe 500 phi công từng có hàng ngàn giờ bay đã bị giết như ruồi ở Mariana. Ðây là những dữ kiện hợp lý nhứt để trình bày với họ. Anh từng nổi tiếng là có phép lạ trong việc mang thuộc cấp trở về một cách an lành, do đó Phó Ðô đốc đã muốn tôi gặp anh để bàn thảo nhiệm vụ khó nuốt này.”

Tới đây, tôi và Miyazaki không còn gì để nói với nhau nữa.

Sáng hôm sau, tôi ra lịnh tập họp toàn trường. Miyazaki lên tiếng đầu tiên, giải thích về các tàu phóng lôi cá nhân, dụng cụ lặn và công dụng của chúng. Không khí trong sảnh đường căng thẳng. Khi Miyazaki dứt lời, tôi bước lên bục gỗ và lên tiếng: “Các anh đến đây để học hỏi về các loại tàu phóng lôi thông thường, nhưng vừa rồi các anh đã nghe qua hai loại vũ khí mới. Chúng sẽ nằm trong chương trình của trường này. Bắt đầu từ ngày mai, 3 lớp huấn luyện sẽ mở ra cho các anh. Các anh có quyền tự do chọn lựa một trong 3 lớp học đó, nếu xét thấy thích hợp với khả năng và khuynh hướng của mình. Tôi muốn sự lựa chọn của các anh không do áp lực của bất kỳ ai. Sự lựa chọn này phải từ ý thức của các anh. Ðây là quyết định của tôi. Trưa và chiều nay, tôi sẽ ở tại văn phòng để mỗi người trong các anh trình riêng với tôi về lựa chọn của mình. Sẽ không có bất kỳ tra hỏi hoặc yêu cầu giải thích nào.”

400 khóa sinh, từng người một, bước vào văn phòng của tôi. Người cuối cùng rời khỏi lúc 4 giờ sáng. Sau đó, tôi gọi Miyazaki. Có 200 sinh viên chọn tàu phóng lôi bình thường, 150 chọn tàu phóng lôi tự sát và 50 người chọn lớp người nhái.

Miyazaki, đã kiệt sức sau nhiều đêm mất ngủ, thở hắt ra. Tôi cũng không khác gì ông ta.

Các tàu phóng lôi tự sát được đặt tên rất thơ mộng – Shinyo – có nghĩa là “Kẻ lay động đại dương”. Người nhái mang tên Fukuryu, có nghĩa là “Rồng bò sát”. Hàng chục cơ xưởng Nhựt đã đóng khoảng 6,000 loại tàu nhỏ bé này. Mỗi chiếc có chiều dài từ 4.9 đến 5.5m, nặng từ 1.35 đến 2.15 tấn, gắn động cơ đạt tốc độ 26 hải lý. Chỉ một vài chiếc vỏ bằng thép còn lại đều làm bằng gỗ nên rất dễ vỡ.

Xét trên mục đích tấn công, những “Kẻ lay động đại dương” tỏ ra rất bết bát. Trang bị cho những con “Rồng bò sát” lại còn tồi tệ hơn nữa. Hơn 50 khóa sinh, toàn là những tay bơi lội tài giỏi, đã gặp nhiều rắc rối trong suốt thời gian thụ huấn. Ngay cả các bình dưỡng khí cung cấp cho nhà trường, không có cái nào là hoàn hảo. Nhiều sinh viên ngã bệnh khi lặn xuống biển ngay ngày đầu tiên.

Khoảng 100 sinh viên tốt nghiệp được gửi sang Phi và Okinawa, đa số đã thiệt mạng mà không có bất kỳ kết quả nào. Bi quan phủ trùm tôi.

Thơ Tháng Tư

baotreonline.com

Sao Khuê

Post on April 12th, 2024

Post by Sơn râu 2 May 2024

Thơ Tháng Tư ở đây là thơ của Nguyễn Hàn Chung. Anh người gốc Quảng Nam. Tuổi nhỏ ở quê nhà, từng sống qua thời chiến tranh, làm nghề dạy học, sang Mỹ năm 2006, hiện sống ở Houston, TX. Nguyễn Hàn Chung làm thơ từ trước năm 1975. Anh đã từng có mặt trên các tạp chí Khởi Hành, Đối Diện.

Tác phẩm của Nguyễn Hàn Chung mang tên rất lạ Nói Hộ Phù Du (2002), Nghịch Lưu Của Tuổi (2011), Dự Cảm Rời (2016), Lục Bát Tản Thần (2018), Mót Chữ Trong Kinh… Phần lớn có vẻ bỡn cợt mà cũng rất trí thức.

Ra hải ngoại anh tiếp tục viết, tự làm mới thơ mình, trở thành một trong những tác giả có nhiều người đọc. Sở thích và tài năng của anh là ở sự pha trộn các giọng điệu khác nhau: hài hước và trữ tình, đùa cợt và bi hận. Đó là một thứ thơ gạt bỏ các cảm xúc thông thường, làm cho ngôn ngữ trở nên trần trụi, thấm đẫm các hoàn cảnh bi đát, không từ bỏ bất kỳ một góc nhìn nào, tiếp cận sự thật không nhân nhượng, với các phương ngữ, các tiếng lóng, các kinh nghiệm dưới đáy xã hội và bình dân cùng cảm xúc cá nhân. Những nét đó cũng tìm thấy trong Thơ Tháng Tư của anh.

SAO KHUÊ

ngày về xứ

Xứ người quen lạ không cần biết

Nghe tiếng sà vô quất mấy câu

Một bữa đã thành tay bạn cũ

Không bao giờ gặp, có sao đâu 

Chẳng còn phân biệt Nam Trung Bắc

Cũng chẳng đôi co đạo với đời

Ngóng chuyện biển Đông thù cướp đảo

Trẻ già ai nấy máu như sôi

Vợ bỏ hề chi buồn một phút

Chồng hư nhăng nhít kệ thây đời

Cúi xuống bàn chân buồn số kiếp

Mình nghèo nên phải chịu mà thôi

Chiu chắt mươi năm về một cú

Bạn xưa xe cộ chạy um làng

Thảng thốt bao người say đánh chén

Nói xàm bí tỉ bất buồn khan

Nhà mẹ tấm phên còn lủng lỗ

Thằng bò con bướm ốm tong teo

Sân khấu dăm ba thằng nhọn mỏ

Phường tuồng tru mãi mấy câu điêu

Bạn hỏi cớ gì sang nước Mỹ

Khi đầu hai thứ tóc loe hoe

Trả vốn lời ngay không ngẫm nghĩ

Không đi uổng phí cái chuông rè

Xứ người đất khách quê người khác

Lăn lộn mười năm cũng xứ mình

Ngày trẻ lăn đùng ra kiếm bạc

Về già ráng rẩm cái linh tinh

Không có tiền to mừng chú bác

Thôi thì tiền cắc xả loanh quanh

Bạn rủ tưng bừng ta cáo bệnh

Ngày về nước Mỹ khỏi tanh banh

Đừng trách người xa sao thiếu sót

Thơ rời trăm cuốn đã hư danh

Sài Gòn đêm 4/4/16

tháng tư

Tháng tư nhớ chết màu hương cũ

nhớ chuyến tàu di tản chớm khuya

em mắt quầng thâm buồn ủ rũ

anh bám thân tàu. Con sóng kia 

Tháng tư từ đó mưa không ướt

đất dưới chân đen đến lạnh lòng

nghe khúc hùng ca mà khát nước

triều dâng sa mạc vẫn khô rang

Tháng tư buồn đứt đuôi nòng nọc

tiếng ngụy găm đau mỗi ngọn đèn

lòng chợt già như người đứng tuổi

chờ người thắng cuộc gọi kêu tên

Tháng tư đạp chiếc xe đầm cũ

ngơ ngác hồi lâu trước cổng trường

một lớp đỏ người trương áo mũ

một lớp âm trầm trước đại dương

Tháng tư mới đó mà xa biệt

những hận và vui đã lộn phèo

nỗi nhớ chảy tràn qua giới hạn

lòng xưa cũ ấy quá rong rêu

Tháng tư về lại không quay lại

quay lại làm sao được nỗi mình

em đã nghìn năm chìm sóng biếc

hồn người chết ức có siêu sinh?

2.30. AM 2/4/2017

ra tư chợt nhớ

Em tất tưởi theo đoàn người rồng rắn

mặt bẩn bùn lem luốc tiểu thơ ơi

đứa em út trong tay thon khóc thét

chiếc quần loe te tướt hết trơn rồi.

Trong mắt kẻ tình si ta có lửa

cái vẫy tay cũng rụi tận trong lòng

biết hai đứa còn đứa nào qua ải

và đứa nào ngã xuống cuộc đào vong.?

Và từ đó ta và nàng xa biệt

thời điêu linh không cả một tờ thư

chàng thi sĩ cày năm sào ruộng khoán

đêm qua chiều lầm lụi buồn ngất ngư!

Nhớ em chớ chẳng nhiều đâu, thỉnh thoảng

lúc bầy trâu hợp tác xã sật sừ

lòng thức chạy theo đoàn người hoảng loạn

mặt bẩn bùn lem luốc buổi chia ly.

20/4/17

tháng tư ma

Tháng tư ma lội đầy sông biển

ma cụ già ma bồng bế sơ sinh

ma ngã xuống mắt trừng không chịu nhắm

ma chìm sâu đáy nước hóa u linh

Đừng nhắc tới tháng tư đừng nhắc nữa

ta bảo ta ta chẳng chịu khứng lời

ta cứ mớ xác người treo lủng lẳng

ta cố chùi không sạch bụi tro rơi

Người cầm súng tháng tư còn bao nữa

thắng hay thua cũng hóa khói bay rồi

người chinh phụ nhăn nheo ngồi tựa cửa

nhiều đêm hè nhìn chết đóm ma trơi

Ta forgive không bao giờ forget

mỗi tháng tư lòng không thể yên hàn

Ta mong mỏi ma đầu thai kiếp khác

vẫn chực chờ trong tiếng sóng âm vang!

2/4/2022

Buổi sáng sinh phần

 tranvu.free.fr

Trần Vũ

Post on 7-1991

Post by Sơn râu 2 May 2024

Mưa vẫn còn rơi lai rai khi Ðiềm vào tới nghĩa trang. Hai ven đường mồ mả mọc đìu hiu nằm men sau dẫy tường thấp. Gió thổi bời rời, phe phẩy dăm ba hột mưa ảm đạm. Chàng trả tiền cho người phu xe dặn ngồi đợi. Ðiềm còn đau râm ran trong bụng, không đau xẻ ruột đứt gan và ói máu như lúc nằm viện, nhưng là cái đau dai dẳng chậm rãi âm ỉ. Chàng cố dỗ dành viên mụt nhọt thâm sâu trong dạ dày khi bước vào cổng. Bà cụ già ngồi bán nhang chào mời chàng với ham răng nhuộm. Ðiềm mua lấy một bó đến thắp ở miếu thổ thần. Mùi nhang đốt, hương đèn xông nghi ngút, khói cay bỏng mắt đột ngột đưa chàng vào hẳn thế giới của người chết. Bó nhang chập một bén lửa cứ phựt lên làm Ðiềm phải vẩy mấy lần trước khi lâm râm khấn rồi cắm vào bát sành. Vài ngọn gió lùa tha theo nước mưa vào trong miếu làm chàng gây gây lạnh. Ðiềm lại thấy đau nhói trong phủ tạng, chàng chờ cho khỏe lại rồi mới đi quanh quất giữa những hàng mồ mả. Nghĩa trang hiu hắt, hoang vắng. Thế giới sau lưng con người chỉ phơ phất mấy đường mưa chảy lăn ròng trên bia đá. Trời mưa ri ri suốt cả một buổi làm bầu trời xám ngắt như đã ngã về chiều dù chỉ mới quá trưa. Hai ba giọt nước luồn qua cổ áo khiến Ðiềm rùng mình ớn lạnh.

Chung quanh miếu thổ thần mộ lập san sát nên Ðiềm chỉ nhìn lướt các kiểu bia xây. Nhiều tấm bằng đá hoa chạm đẹp, nhiều tấm cẩn xà cừ, và những tấm đá thạch đơn giản chỉ mài nhẵn. Những bia mộ làm Ðiềm xúc động. Những đôi mắt người chết nhìn chàng u uất trên dòng chữ khắc mặc niệm. Vợ hiền lập mộ. Em và các con thương nhớ anh hoài. Bố mẹ thương con vô cùng… Lác đác vài vòng hoa cườm bằng nhựa lây lất trên đầu mộ chí, người ta quên đem về đã phai nước sơn nhưng còn đọc được những chữ Thành kính phân ưu. Ðau xót chia buồn. Thương tiếc tiễn đưa… Chàng buồn buồn đi rảo qua lối đi nhỏ, tiếng cỏ tranh lay chạm lào xào như có ai than. Thân phận kiếp người quá là mong manh. Sống gửi thác về, tro tàn bụi cát, hồn phách tiêu tán. Gió thổi nâng đong đưa vài miếng tro nơi đống vàng mả ai đó vừa đi thăm mộ đốt xong. Phiến tro bay trĩu trĩu theo mùi nhang đưa từ ngôi mả mới cắm. Ðiềm đi sâu vào trong. Những người khuất mặt còn lưu trữ chút chân dung qua di ảnh vẫn theo dõi chàng. Có người mất thật trẻ, hưởng dương hai mươi mốt tuổi, kẻ thất lộc ngoài tám mươi. Ðiềm đi tới cuối nghĩa trang chỗ có bức tường đổ xiêu trông qua mấy dãy nhà lợp tôn phía Tân Sơn Nhất. Mồ mả đan kín không còn đất trống. Chàng phân vân nửa muốn trở ra sang khu nghĩa trang bên kia đường, nửa muốn đi tiếp sâu vào hướng ngược lại con đường dẫn ra miếu thổ thần. Ðiềm còn chần chừ thì nghe tiếng người gọi:

– Cậu kiếm mả ai?

Chàng giật mình quay lại, bắt gặp một cụ già đứng cách mấy hàng bia. Ông cụ đi giày tây nhưng vận áo dài, chít khăn nhiễu và cắp ô đen. Trời gió thổi hai vạt áo the rung rung.

– Thưa cháu kiếm đất. Ðiềm trả lời.

– Cậu cũng người Bắc à?

Ông cũ lại hỏi, nét vui mừng mà phúc hậu.

– Dạ, cháu sinh quán Hải Dương.

– Quý hóa quá! Tôi là Chương, người huyện Tiên Sơn tỉnh Hà Bắc, hân hạnh biết cậu. Nhưng kiếm đất ở đây làm sao có, khu này họ xây choáng hết cả rồi. Nếu cậu không vội, theo tôi sang đằng này họa may.

– Dạ, cám ơn cụ chỉ đường.

Ông cụ phát tay, chỉ về hướng tượng Quan Âm xây ở đằng xa, ra dấu bảo Ðiềm đi theo. Trời mưa lâm râm không nặng hạt nhưng ông cụ vẫn giăng ô, hai ống quần lụa giặt trắng phau. Chàng để ý thấy đôi giày tây của cụ Chương còn mới nguyên chưa mòn đế.

– Cậu kiếm đất cho ai? Cụ Chương bỗng hỏi.

– Dạ, không dấu gì cụ… cháu muốn mua sẵn một miếng đất cho mình.

Ðiềm hơi ngần ngại, nhưng rồi cái phong thái hồn nhiên của cụ Chương giúp chàng nói thật. Chàng bỗng thấy mình khỏe hẳn sau khi nói ra mục đích đến nghĩa trang.

– Ối giời! Còn trẻ thế mà đã lo xa kia à? Xem như là chúng mình đồng bệnh tương lân rồi nhé! Cứ coi như ta đã là tri kỷ!

Cụ Chương bật cười lớn khoác vai chàng tương đắc. Ðiềm không hiểu gì khi thấy ông cụ đưa tay làm loa gọi những người khác. Cụ Chương tươi cười:

– Lâu lâu mới gặp một người còn trẻ mà đã cẩn thận biết lo chốn yên nghĩ của mình, chúng tôi quý lắm. Người xưa vẫn dạy cái phần mả bao giờ cũng là trọng, mà tuổi trẻ đời nay họ chỉ ham sống. Thật bụng chỗ đồng hương với nhau, gặp cậu tôi rất cảm kích, sẵn có vài người bạn đằng mả, nếu cậu cho phép xin được giới thiệu.

Ðiềm còn đang chần chừ do dự không biết tính sao, thì đã thấy mấy người từ dẫy mộ phía trong đi ra. Cụ Chương vừa kéo tay chàng vừa vẫy họ.

– Các ông lại đây! Có anh bạn trẻ này hợp với chúng mình lắm!

Người đàn ông đi đầu tuổi trạc ngoài năm mươi, tóc chải kiểu hai thập niên trước, complet cà vạt ủi hồ thật thẳng. Trông ông ta như sắp đi dự đại tiệc. Người đàn ông nói:

– Tôi là Thanh, chủ hãng cưa Phúc Lợi, rất vui được biết cậu.

– Không dám làm phiền bác, cháu là Ðiềm vừa quen với cụ đây.

Chàng bắt tay ông Thanh. Ba người đi sau cũng vừa tới. Một cô gái mặc áo dài trắng tóc thề, một người lính trong bộ lễ phục sĩ quan Ðà Lạt và một người thương phế binh áo ngụy trang bê bết bùn đất. Người thương binh cụt chân, Ðiềm nhìn sững họ quên cả chào, lúc này mà còn mặc áo lính Cộng Hòa thì phải cómáu mặt.

– Chào anh bạn! Tôi là Trình Văn Khánh! Người thương phế binh phác tay chào Ðiềm theo cung cách quân đội cũ.

– Mừng anh ghé tham quan! Người sĩ quan võ bị vồn vã ôm hôn chàng, vừa vỗ vỗ vào lưng thân ái. Không quen với kiểu chào này nên Ðiềm ngượng đỏ mặt. Cô gái chỉ khẽ gật đầu nhìn chàng, không xưng tên, chỉ lẳng lặng đứng nép một bên mả.

– Tôi tên Thìn, sinh đẻ ở phố Kim Mã, quận Ba Ðình châu thành Hà Nội, rất hãnh diện được đón tiếp anh hôm nay!

Người sĩ quan Ðà Lạt bây giờ mới trịnh trọng tự giới thiệu. Chàng không hiểu gì ngớ người ra nghe.

– Thôi bây giờ là người nhà rồi cả nhé, không cần khách sáo nữa. Nếu cậu Ðiềm không bận thì ra ngôi mả uống với chúng tôi một ly, chả mấy hôm mới có được chút rượu đế. Ta đi nào!

Cụ Chương không chờ Ðiềm trả lời, thân mật nắm tay dẫn ra một chỗ mả tương đối sạch sẽ trống trải. Ông cụ vừa đi vừa kể cho mấy người kia nghe ý định tìm đất của chàng. Hai người lính bật cười ha hả còn ông Thanh thì khen ý hay, chỉ có cô gái vẫn không nói gì chỉ lẳng lặng theo sau. Trưa nghĩa trang gió buồn buồn đưa mưa qua những ngôi mộ vắng vẻ, có được vài người cùng đi kiếm đất chung thì cũng bớt cô đơn,  nghĩ vậy Ðiềm mạnh dạn bước theo họ.

– Nhấm nháp qua loa rồi chúng tôi đưa cậu đi coi đất, trong này thì không có chỗ nào mà chúng tôi không biết. Nhưng chọn đất là việc hệ trọng, cậu không nên hấp tấp, con cháu mai sau nhờ cả vào đó.

Sáu người ngồi dưới một tàn cây nhạc ngựa, chung quanh cỏ lau, mồ mả im lắng như tờ. Ðiềm trông thấy một hàng phượng nở hoa đỏ, giữa chiều mưa in hình lên nền trời ướt nước của lối đi chính mãi tận đầu nghĩa trang. Cụ Chương không biết lôi ở đâu mấy đĩa xôi gấc, loay hoay tháo bọc ny lông phủ mặt. Ông thanh cũng rở mấy bánh oản, lớp giấy bóng kính xanh đỏ đủ màu. Thìn rót nước trà ra tách, Khánh chuyển cho mỗi người một ly đế. Cô gái ngồi im nhìn.

– Làm một ly anh bạn!

Khánh đưa ruợu đến chàng, vui vẻ.

– Ruợu trắng hơi nặng, nhưng trời lạnh uống vào nóng ran người, thích thật! Cụ Chương gật gù khề khà.

Ðiềm cũng đưa ly lên môi nhấp, rượu đế rẻ tiền cay bỏng lưỡi lại nồng nặc mùi nhang, chắc tro tàn rơi vào ly. Chàng cố chiêu ngụm rượu, lẽ ra Ðiềm không được uống nhưng trước sau thêm vài tháng thì có khác gì đâu. Nghĩ vậy Ðiềm nhắm mắt uống cạn ly, chất lỏng nóng như sôi sục trong dạ dày Ðiềm. Chàng khà một tiếng lớn.

– Bạn chịu chơi lắm! Tôi phục bạn, ít người uống nổi thứ ruợu đế này!

Khánh ngồi xuống cạnh Ðiềm có vẻ thích thú, anh ta nói tiếp:

– Tôi là hạ sĩ quan nhảy dù, tiểu đoàn 11 của Nguyễn Ðình Bảo, bạn biết chứ? Trận Charlie tôi bị vào đây.

Khánh đưa tay đập đập vào phần đùi còn sót, rồi nói không tải thương được.  Khánh nốc hết ly ruợu một hơi, rồi phác một cử chỉ nửa đáng tiếc mà cũng bất cần.

– Sống khôn thác thiêng, sống hùng chết vinh, trúng đạn què chân, binh chủng hào hùng thì phải bỏ mạng sa trường, poncho gói thây. Bạn đồng ý không? Ai như thằng này!

Khánh nói một hơi trước khi đưa tay chỉ vào mặt Thìn.

– Cứ phát biểu linh tinh! Thế nào là sống hùng chết vinh? Ði lính thuê cho đế quốc ấy à?

Thìn, người mặc áo sĩ quan Ðà Lạt, đeo kiếm và mang găng trắng như sắp đi duyệt binh ngày quốc khánh, đang ngồi chồm hổm trên một ngôi mả bực bội trả lời. Anh ta gỡ cái nón kết lưỡi trai trên đầu xuống cầm tay quạt.

– Rắm thối nhà anh! Cứ có tí ruợu đổ vào là chết vinh hơn sống nhục!

Thìn nói thêm câu nữa, trước khi xúc miệng òng ọc bằng trà. Chờ cho Thìn nhổ toẹt bãi nước xuống đất rồi Khánh mới dằn mạnh ly.

– Ðù mẹ mày! Ðội đồ đi bộ từ Bắc vào Nam gia tài có mỗi đôi dép Bình Trị Thiên, bây giờ đeo găng, mắc kiếm, mang anh dũng bội tinh Việt Nam Cộng Hoà không biết xấu hổ! Giải phóng cái con mẹ mày!

Khánh chửi lại:

– Này, đừng có chạm vào thành quả đấu tranh của nhân dân Nam bộ! Việc tôi mặc áo sĩ quan đeo quân hàm ngụy thì không phải do tôi muốn. Người ta lộn, đem tôi về tắm rửa cho mặc áo lính ngụy đành chịu. Lúc đó ngoài Trung tình hình găng quá, thân nhân của cái thằng lộn không ra nhận được, chờ lâu họ phải hàn xì vì sợ xông mùi. Thật tình là như thế anh ạ!

Thìn quay lại phân bua với chàng. Ðiềm không hiểu họ muốn nói gì, chàng cho là cả hai chóng say đâm ra dở hơi. Nhưng Khánh thì vẫn cứ hùng hổ:

–      Ðù mẹ! Cứ coi là mày bị cầm nhầm, nhưng đồ ăn của gia đình thằng bị lộn vào cúng mày cứ xơi là thế nào? Còn giấu ăn riêng thì quân đội giải phóng chúng mày tệ thật!

–      Ðói thì phải ăn! Chứ thân nhân có biết tôi ở đâu đâu mà thăm nuôi! Sự đời nó có nhiều cái oái oăm, không biết thằng lộn bây giờ nằm đâu. Hôm ấy tắm ở suối lên chậm một chút thì chưa chắc đến nỗi, mình lại bò lên trước các đồng chí ấy, chưa kịp chòng cái áo thì bị biệt kích nó bắn. Ði không mang theo được một món kỷ niệm. Tiếc hoài cái áo trấn thủ anh Ðiềm à. Cái áo tự tay cô Miễn may lấy cho tôi có thêu cả tên họ chữ lót của hai đứa. Tiếc quá. Bây giờ nước nhà thống nhất, người ta xum họp còn tôi không biết đến khi nào mới gặp lại…

Thìn thở dài thườn thượt, nhìn đăm chiêu ra cổng nghĩa trang, nhưng lối ra bị mấy hàng tranh cao che khuất. Ðiềm lạ lùng theo dõi cuộc cãi vã giữa hai người lính, chàng ngờ ngợ một chuyện gì mà chưa dám tin vội. Ðiềm thấy tay chân mình bủn rủn cả.

Từ nãy vẫn có vài người đàn bào đi tảo mộ ngang qua chỗ họ ngồi. Mỗi lần Ðiềm đều để ý thấy mấy người đàn bàn chỉ nhìn một mình chàng. Mưa lâm râm gần tạnh hẳn, mùi đất xông lên ngai ngái cả một khu mả đìu hiu thê thiết. Ðiềm cứ ớn lạnh từng chập, chàng nhìn mấy người ngồi quanh thấy họ tự nhiên như không. Chàng muốn bỏ đi mà không nhấc nổi chân. Ông Thanh bóc một bánh oản mời chàng.

–      Cậu xơi miếng bánh! Còn hai anh kia thôi cho tôi can, nể mặt cậu Ðiềm với chứ. Xin lỗi cậu Ðiềm nhé, ngày xưa họ đánh nhau chưa chán nên bây giờ cứ gặp nhau là kiếm chuyện thù oán.

–      Này ông Thanh! Không có bọn lính tráng tụi này xả thân bảo vệ lãnh thổ cho ông làm ăn để tụi nó vào đặt chất nổ khủng bố, thì có mười trại cưa Phúc Lợi ông cũng không mở được. Ðừng khi dễ bọn này chứ!

Khánh quay sang cãi nhau với ông Thanh. Ông chủ hãng Phúc Lợi chưa kịp có ý kiến thì Thìn đã chõ vào:

–      Bảo vệ lãnh thổ? Nghe thối!

–      Thôi thôi! Tôi đã bảo hai anh thôi là thôi. Câu Ðiềm đâu có vào đây nghe hai anh cải nhau. Chuyện cũ qua rồi, tôi bây giờ cũng không còn điều khiển trại cưa nữa. Cậu thấy tôi nói có phải không cậu Ðiềm? Họ hăng máu quá, cái thời trẻ của tôi đâu có như vậy, lúc ấy tôi chỉ nghĩ làm sao học một nghề kiếm ăn lương thiện có ích và hữu dụng, có vốn rồi mở một cơ xưởng để của cho con cháu nhờ… Suốt cuộc đời tôi chỉ ước vọng có bấy nhiêu, thế mà tôi không đạt được cậu Ðiềm à, khi đau bệnh gan không làm việc được nữa, tôi để lại cho vợ con cả một cơ sở phồn thịnh. Vợ chồng thằng cả đưa nhau trốn ra nước ngoài bị bắt, cơ xưởng máy móc ván gỗ họ tịch biên hết, mẹ chúng nó vào đây than thở, nghe mà tôi cứ khóc ròng, bao nhiêu năm gầy dựng chớp mắt đổ đi.

–      Chính sách nhà nước bao giờ cũng đúng đắn, để phường tư sản các anh lũng đoạn thị trường cạnh tranh vô tổ chức ấy à!

Thìn lại chõ vào câu chuyện, không nể nang. Ðiềm tưởng ông Thanh sẽ trả lễ ngay, nhưng không ngờ ông ta chỉ nhỏ nhẹ đáp.

–      Các anh cứ cho chúng tôi là giai cấp bóc lột, nhưng thật sự nếu không có các cơ sở thương mãi của chúng tôi, những hãng xưởng thủ công nghiệp mà các anh gọi là tư sản dân tộc, thì nhiều người dân mà các anh tự hào là chiến đấu cho quyền lợi của họ không có công ăn việc làm đâu. Kinh tế nước nhà cũng không phát triển vì thiếu vốn đầu tư. Xã hội nào, tầng lớp nào cũng có kẻ xấu người tốt, đừng nên vơ đũa cả nắm thế. Tôi nói thế đúng không cậu Ðiềm?

–      Dạ, cháu cũng nghĩ như bác.

Ðiềm trả lời, chàng bị hút vào các mẩu tranh luận của họ mà bấy lâu nằm bệnh chàng ít khi được tham dự. Chàng ngờ ngợ họ không phải là người sống, một lúc chàng đã ớn lạnh khắp cả người, nhưng rồi Ðiềm lại thấy họ bình thường quá, thật quá, còn sống động hơn cả người thật. Có thể nào mấy người này đang đóng kịch để trêu chàng. Nghĩ kỹ rồi Ðiềm thấy không đúng, làm sao đóng kịch tài đến như thế. Nhưng nếu họ là ma thì Ðiềm lại thấy không có gì để sợ. Trời còn sáng, người phu xe còn đợi chàng ngoài cổng. Hơn nữa… chậm nhanh một vài tháng Ðiềm cũng vào nằm trong này. Làm bạn với họ trong một vài tháng, hay làm bạn bây giờ thì cũng thế. Nghĩ vậy chàng không còn thấy sợ.

Mấy người trong bọn chia nhau xôi gấc. Cũng loại xôi bán để cúng. Phẩm đỏ loẹt gặp mưa dính nhớp nháp ra tay. Bận ăn, hai anh lính thôi cãi nhau, ông Thanh cũng im lặng. Cụ Chương từ nãy không nói gì cứ lâu lâu nhìn chàng tủm tỉm cười. Cô gái thì ngồi xõa tóc, lâu lâu thu vén những giấy rác mấy người đàn ông bày bừa. Ðiềm thấy thiếu nữ trông mặn mòi, hai con mắt đen láy, tóc óng ả như lụa. Chàng đang định bụng hỏi chuyện nàng thì nghe tiếng xột xoạt ở mả bên. Tiếng cười con gái rúc rích. Tiếng vải quần tuột mau. Giọng đứa con gái nũng nịu rinh rích.

–      Anh trả tiền em trước đi!

–      Thì xong rồi đưa, có mất đi đâu.

–      Thôi đưa tiền em liền đi, nghe!

–      Ừ, thì đưa. Bộ em hay bị quỵt lắm hả?

–      Cũng có bị, nhưng có tiền trước em mới phấn khởi!

–      Rồi đó. Bây giờ thì phu với cho ngon coi!

Giọng đàn ông cười hình hịch dâm đãng. Ðứa con gái vẫn cứ cười rúc rích. Thấp thoáng sau mấy cành lau sau lưng mả Ðiềm trông rõ cái bụng trắng tươi của đứa con gái làng chơi. Cánh tay nó lúc đưa lên níu cổ gã đàn ông, khi buông để giữ vạt áo bà ba cho khỏi rớt xuống đùi làm vướng víu. Gã đàn ông làm hùng hục như trâu kéo cày. Ðiềm chợt thấy Khánh và Thìn nhảy leo lên nóc mộ chỗ cặp trai gái đang làm tình để nhìn. Thìn cười hô hố chỉ trỏ mỗi khi gã đàn ông đổi kiểu, còn Khánh huýt sáo khi nghe đứa con gái rên ư ử. Kỳ cục là họ đứng ngay trên mả ngay chỗ cặp trai gái đang chơi mà gã đàn ông với đứa con gái vẫn tiếp tục làm tình. Bất chợt đứa con gái ngẩng đầu ngước nhìn bốn phía, nó chợt thấy Ðiềm ngồi ở bên này.

–      Chết rồi có người! Anh!

–      Ðâu? Ai?

–      Dậy đi anh! Mặc đồ vô! Ði!

Gã đàn ông cũng vừa trông thấy chàng, hắn hối hả kéo quần dắt đứa con gái chạy đi. Khánh và Thìn cũng nhảy xuống đất chạy theo coi.

Ðứa con gái chòng được cái quần lãnh đen nhưng còn chưa kịp cài nút áo tất tả chạy theo gã đàn ông. Ðứa con gái vừa chạy vừa nói léo nhéo:

–      Ðừng vô miểu thổ thần tội lắm anh! Qua bên kia kìa, mà coi như xong một cối rồi nghe anh! Phải trả em thêm đó!

–      Xong cái gì! Người ta chưa ra mà! Sao em chơi đểu vậy?

–      Chứ còn gì nữa, chẳng lẽ nảy giờ chùa sao!

Khánh và Thìn chạy đuổi theo sau cười nắc nẻ, nhưng cặp trai gái làm như không thấy hai người lính vẫn léo nhéo vừa chạy vừa mặc cả. Trời tạnh mưa, chút nắng muộn le lói soi khu nghĩa địa. Bốn người cùng chạy nhưng chỉ có hai cái bóng của cặp trai gái phơi trên lối đi đất. Cả bốn xa dần và khuất hẳn. Cụ Chương chờ cho tất cả trở lại yên tĩnh rồi mới lên tiếng.

–      Tội nghiệp! Hai anh lính vào trong này giữa lúc đời họ còn sôi động quá. Còn dở dang tuổi trẻ nên họ ham vui, đôi lúc hiếu thắng, có lúc lại bất mãn tất cả. Tôi hiểu họ còn vướng nhiều bụi trần chưa dứt được, nên hay theo khuyên bảo nói chuyện với họ. Cái phần số không do mình định đoạt, cũng không do thượng đế đâu, do ở cái tiền kiếp lúc trước ăn ở thế nào kiếp này chịu vậy. Thượng đế không có bất công với ai, không có quýt làm cam chịu, mà ai làm người nấy nhận. Tôi ở trong này trên hai mươi năm rồi, gặp đủ hạng người, đủ khắp các thành phần nên tôi hiểu rõ con người ta lắm. Con người ta nhiều lúc đáng thương mà nhiều lúc cũng đáng ghét. Không biết ông bạn Thanh với cậu Ðiềm và cô Thủy nghĩ thế nào, nhưng tôi thì thấy con người ta là nạn nhân của chính mình mà lại thường đổ tội cho trời cao không có mắt.

–      Thưa, cháu muốn hỏi cụ một điều không biết có nên chăng?

Ðiềm ngắt lời cụ Chương. Tự nhiên anh cảm thấy mến cái thần thái ung dung tự tại, phong cách chấp nhận cuộc đời, kiếp người ngay cả sau khi chết của ông cụ.

–      Cậu cứ hỏi không việc gì mà ngại.

–      Cụ vừa bảo nằm ở đây trên hai mươi năm, sao vong hồn không được siêu thoát?

–      Trả lời cho cậu tôi cũng không biết nói thế nào, chuyện ấy ngoài thẩm quyền của chúng tôi, nhưng thời buổi nhiễu nhương của chúng mình bây giờ hồn âm khó mà siêu linh tịnh độ. Lũ chúng tôi ở đây không có ai được lên cõi niết bàn, mà đều chờ vào vòng luân hồi, chậm hay mau thì tùy thuộc vào ân đức của mình khi sống để lại. Lúc còn sinh tiền tôi không thấy mình có làm điều gì xấu, nhưng biết đâu! Có chuyện mình không cho là xấu mà nó vẫn cứ xấu, mà mình không nghĩ ra thôi. Nhưng cứ chờ mãi rồi mình đâm ra tin mình đã làm chuyện xấu, đành phải thay đổi cách nhìn chấp nhận ở đây vậy. Ở riết lại thấy trong này cũng vui vui cậu Ðiềm à. Chẳng hạn cái cảnh giang hồ vừa rồi, cái thời tôi còn ở vùng quê mình ngoài Bắc làm sao có. Lúc ấy trai gái gặp nhau thì chỉ hát quan họ. Cậu biết quả đồi Lim không? Chùa Lim, xã Lim bên cạnh sông Tiêu Tương, làng tôi là cái nôi quan họ cổ truyền đấy!

–      Lúc di cư cháu chỉ trên mười tuổi nên bây giờ không nhớ gì, thưa cụ.

–      Ối giời ơi! Hát quan họ thì mê lắm lắm! Âm điệu của nó du dương tỏa khắp cả người mình. Cái giọng con gái Bắc Ninh mới chết!

Cụ Chương nói rồi liền cất giọng hát:

Em là con gái Bắc Ninh

Em nghiêng vành nón mái đình nghiêng theo

Tòa sen Phật muốn lặng thinh

Nghe em ca bỗng thấy mình trần gian

Quê em sóng, nhịp, gió, đàn

Nắng thêu nên nhạc, trăng vờn nên thơ

Tiêu Tương dấu cũ con đò

Xuống sông nỗi nhớ, ngóng hờ nỗi thương…

–      Mấy chục năm rồi mà tôi vẫn không quên mấy câu hát ấy, nó như ăn vào hồn mình. Trần Linh Quý làm bài hát ấy nổi tiếng cả vùng Bắc Ninh.

–      Cậu Ðiềm rảnh rang thì vào đây nghe cụ Chương hát quan họ, kể chuyện hội Lim thú lắm.

Ông Thanh nói với chàng.

–      Cụ Chương còn biết nhiều thắng cảnh miền Bắc, những đêm trăng bọn trẻ chúng em thường tụ tập nghe cụ kể chuyện đi chùa Hương, chùa Keo, viếng đền Kiếp Bạc, hồ Ba Bể thích lắm. Hôm nào không bận bịu anh Ðiềm ghé chơi nhé!

Cô gái tên Thủy nãy giờ mới lên tiếng. Ðiềm trông nàng duyên dáng quá. Ðột nhiên chàng thấy vui vui, buổi trưa lúc vào nghĩa địa tìm cho mình miếng đất sinh phần, chàng đâu nghĩ có cuộc gặp gỡ kỳ lạ này. Nói chuyện miên man, bâng quơ giữa kiếp người, cõi sống, cõi âm, làng quê đất tổ ngoài Bắc, cãi lộn quốc cộng giữa hai người lính, kinh tế tư bản cá thể, kinh tế Mác xít quốc doanh, Ðiềm nhận thấy cõi âm cũng khác không bao xa với cõi người sống. Ðời sống vẫn tiếp tục, kéo dài dù chỉ là những hệ lụy đem theo. Vài tháng nữa vào đây nằm, chàng không đánh mất gì nhiều, vẫn tiếp tục sống dù chỉ còn là linh hồn vấn vưởng. Nghĩ thế Ðiềm thấy chàng thật sảng khoái, không còn sợ hãi buồn chán cho số phần mình chẳng may ngắn ngủi.

–      Thế nào tôi cũng trở lại thăm cô với bác và cụ.

Ðiềm trả lời cô gái. Chàng tiếp:

–      Chắc cũng chẳng còn bao lâu thì tôi vào ở luôn, nếu may mắn tìm được miếng đất.

–      Thế thì còn gì bằng. Ấy chết! Em nói bậy quá! ý em muốn nói là chắc bác và cụ đây đã có cảm tình với anh cũng mong gặp lại thường.

Thủy nói lỡ vội chữa, nàng cười xin lỗi câu nói gỡ khi nãy. Lúc cười, Thủy có hai lúm đồng tiền nho nhỏ và chiếc răng khểnh mà Ðiềm thấy có duyên lạ.

–      Thôi, mình cũng sửa soạn đi tìm đất cho cậu Ðiềm đi bác Thanh nhỉ?

–      Ừ, mình đi kẻo muộn để cậu ấy còn về cho kịp, chiều hôm ở đây cũng ngại.

Ông Thanh đứng lên theo cụ Chương. Thủy cũng đứng dậy thu vén chỗ ngồi lần chót, nàng không quên liếc nhìn chàng và cứ cười tủm tỉm.

–      Mình đi phía đằng này, tôi chắc còn một vài khoanh trống. Tôi không rành khoa địa lý nên khong biết đất tốt xấu thế nào, để tùy cậu định đoạt không dám ép. Mà cậu đã có đi xem ở chỗ nào khác chưa?

–      Thưa cụ chưa. Trước khi vào đây cháu có định lên xem nghĩa trang Gò Vấp nữa đã rồi mới quyết định, nhưng bây giờ được biết cụ, bác Thanh và cô đây thì cháu nghĩ cũng là do ý trời xếp đặt, nếu được một miếng đất đủ nằm thì cháu mua ngay không lên Gò Vấp đâu. Trăm sự nhờ cụ và bác Thanh cho.

–      Thôi được rồi, nếu cậu tha thiết như thế thì tôi chỉ cho một miếng đất còn chừa, đúng ra thì họ đã đặt cọc nhưng mình có thể mua lại. Cậu đi xem rồi trở ra thành phố thương lượng với người ta. Mà này, sau này nằm có bị kiến với trùn, mối nhiều quá thì đừng có mắng vốn tôi đấy nhé! Cụ Chương cười thật đôn hậu. Hai người đi trước, Thủy và ông Thanh đi sau. Cụ Chương ghé tai chàng nói nhỏ:

–      Cô ấy ngoan lắm, con nhà đàng hoàng, tính tình hiền lành, lần đầu tiên tôi thấy cô ấy vui vẻ dạn dĩ với một người đàn ông là cậu đó. Nếu duyên định cô cậu gặp nhau dưới này cũng hay.

Ðiềm cười theo, chưa dám thổ lộ nhiều, chỉ mới lần đầu, biết Thủy xem chàng ở vai vị nào. Ðiềm thấy có nhiều đứa trẻ ở đâu chạy chơi trong khu nghĩa trang. Có đứa tụ nhau đánh đáo, bắn bi, có đứa chơi ô quan, và có một đứa chạy ngang khoanh tay chào cụ Chương. Chàng biết chúng là ma, nhưng có cảm tưởng chúng mới vừa ngủ trưa dậy ra sân chơi. Trông chúng cũng hồn nhiên không khác mấy những đứa trẻ trong trường học, chỉ có điều đứa nào cũng mặc đồ mới. Ðiềm đi xem đất và bằng lòng lắm. Khoanh đất mát mẻ, có bóng cây, không bị mộ nào lấn. Ðất cứng không sợ bị xụp, chỉ xa lối vào nghĩa trang nhưng được cái ở gần chỗ Thủy nằm. Nghĩ mai mốt có thể qua lại chỗ Thủy, chàng đã vừa ý.

Ðiềm ra về sau khi cụ Chương cho chàng địa chỉ của người chủ đất. Lúc bước ra cổng, Ðiềm thấy bà già bán nhang đang ngủ gật. Người phu xe trông thấy chàng ngồi bật dậy, rời lòng xích lô dẩy nẩy:

–      Bắt đợi cả buổi như vầy ông phải tăng tiền cho tôi!

–      Anh cầm lấy tất.

Ðiềm móc túi còn bao nhiêu tiền trao hết cho người phu xe. Trình giấy cho người bộ đội gác cổng ngoài rồi chàng bảo người phu đánh xe lên Phú Nhuận. Rời Bắc Việt Nghĩa Trang, trên đường Chi Lăng Ðiềm lại phân vân nửa muốn về nhà báo tin mừng cho mẹ, nửa ngập ngừng nhớ cái không khí đưa đám ở nhà mình từ khi bác sĩ bảo bó tay. Suy nghĩ một chốc rồi chàng đổi ý, quay gọi người phu xe chở chàng đến thẳng cái địa chỉ cụ Chương vừa cho.

*

Ðiềm trở vào nghĩa trang tuần sau, nắng nóng chói chang trên mấy ngôi mộ, chứ không mưa lai rai ướt mặt người chết như hôm đầu. Cả khu mả thiêm thiếp giấc trưa, yên lặng không bóng người. Chàng cũng vào khấn nơi miếu thổ thần, rồi đi rảo tìm khoanh đất trống đã hẹn với người chủ cũ tiù nữa đến xem lại và ký giấy thỏa thuận. Trưa nắng chang chang trên mấy lùm cỏ lau gai sắc, không có bóng mây chỉ có mỗi một chiếc bóng của Ðiềm duy nhất vởn qua vởn lại tìm lối đi. Cỏ mọc che kín nhiều chỗ mả rậm rạp, chàng loay hoay bưng đồ cúng vạch lau lách. Quần hai ba vòng Ðiềm vẫn chưa tìm ra chỗ đất cụ Chương đã giắt chàng tới, Những kiểu mả lập bảo tháp, long đình, xây uynh thành giông giống nhau nên chàng không nhớ đã có đi qua hay không. Ðiềm đi tìm một hồi thì mệt, mồ hôi rũ ra ướt đẫm sống lưng, cơn đau bụng lại trổi lên hành hạ. Chàng ngồi vật xuống ven con đường đất thở dốc, dạ dày như có ai lấy kim chích đau xon xót. Ðiềm cố cất tiếng gọi cụ Chương ra đón mình, nhưng tiếng kêu của chàng chạm những thành bia đá dội đi vang vang không có người trả lời. Ðiềm vuốt mồ hôi chảy ướt cả cổ áo, rút khăn tay đắp lên đầu che nắng, rồi lại gọi ba bốn lượt. Cụ Chương ơi! Cụ Chương ơi! Có cháu đến tìm! Khánh ơi… Bác Thanh ơi! Cháu mang quà vào! Ðiềm nghe tiếng chàng vọng vang dội trở về lặp lại như có ai đùa. Chàng đứng lên dáo dác tìm rồi lại ngồi xuống thất vọng. Khu mả vắng vẻ quá, mộ lập chùng chùng biết đường nào mà tìm. Chàng tự trách mình hôm nọ đã không nhớ kỹ lối đi, lại để quên ở nhà tờ giấy người chủ đất ghi lô thứ tự. Ðiềm đành ngồi đợi, lâu lâu chàng ngước mặt nhìn bắt gặp một vài nụ cười hóm hỉnh trên bia đá.

Có cái am chúng sinh gần đó. Ðiềm chợt nảy ra một ý. Chàng tháo giỏ đồ cúng, bày cau chè, xôi vịt với rượu bánh ra trước am. Ðiềm đốt ba nén hương khấn vái những âm hồn đi hoang. Không có gió, khói nhang bay đè trên mặt đất, di di buồn buồn lượn lờ theo bóng nắng. Chàng gấp giấy báo lại làm quạt, mấy luồng hơi gió làm Ðiềm dễ chịu, như đẩy được chút nắng ra xa. Làn gió cũng đẩy khói hương đi bốn phía.

–      Này anh bạn! Sao đem đồ cúng ở đây!

Ðiềm giật mình quay về phía có tiếng nói, thấy Trình Văn Khánh đang nhảy lò cò với chiếc chân cụt, mặt hớt hơ hớt hải:

–      Dẹp đi! Trời ơi! Ðây là am chúng sinh, bạn cúng như vậy cô hồn các đảng tụi nó ùa tới ăn sao cho đủ!

–      Phải đấy! Cất ngay đi, khẩn trương lên!

Chạy sau Khánh là Thìn, vẫn tươm tất trong bộ lễ phục sĩ quan Ðà Lạt. Cây kiếm mãn khóa Võ Bị, Thìn đeo bên hông chạm vào chân kêu lanh kanh.

–      Cụ Chương có ra không? Chàng hỏi họ, vừa thương vừa tức cười.

–      Có, ra liền bây giờ nhưng ông cụ đi chậm lắm. Phụ tôi khuân ra đằng mả cô Thủy, có bấy nhiêu mà chia cho cả nghĩa địa thì mỗi người chỉ được một hột xôi!

Khánh quơ quào mấy đĩa đồ cúng, trong lúc Thìn nhanh tay tắt nhang, nhặt chai ruợu. Ðã có dăm mười bóng người từ mấy ngôi mả xa ùn ùn kéo ra, mặt mũi ai trông cũng phấn chấn!

–      Phát chẩn chúng mày ơi!

–      Chẩn cái củ thìu biu! Không có hộ khẩu thì không được quyền nhận!

Thìn rút kiếm võ bị chống nhau với mấy người tha phương cầu thực. Ðiềm bị Khánh lôi bắn đi, chạy như ma đuổi.

–      Lần sau anh bạn đừng có dại như vậy nữa nhé! Có hảo tâm cúng ai thì cúng một người đó thôi, nhân đạo chung chung như vầy vô bổ lắm!

Khánh lôi chàng phăng phăng băng qua mấy dẫy mả liền. Thìn ở đằng sau múa máy đường kiếm rồi cũng chạy theo.

–      Các cậu ơi! Chúng nó đeo mình găng quá!

–      Quẳng cho họ mấy cái bánh! Khánh hét.

Thìn vừa chạy vừa ném ra sau mấy phong bánh đậu và buồng cau Ðiềm mua lúc sáng, chỉ giữ lại chai rượu đế Hiệp Hòa với cây thuốc lá. Ðám cô hồn giành nhau mấy thứ rơi rớt trên đất quên cả đuổi.

*

–      Các anh làm gì mà la toáng lên thế? Lại đánh nhau nữa à?

Thủy từ sau mồ của nàng bước ra hỏi. Ðiềm để ý thấy nàng hôm nay bới tóc, xăn tay áo, để lộ cái cườm tay nhỏ đeo hai chiếc vòng ngọc thạch và một ngấn cổ ngó sen. Hai má lúm đồng tiền vẫn duyên dáng như hôm nọ, còn có phần xinh hơn.

–      Anh bạn Ðiềm đến dâng cau chạm ngõ cô em mà bị chúng nó lột rồi!

Khánh cười hềnh hệch đắc chí với câu pha trò của mình.

–      Nói tầm bậy nào! Thủy nhìn chàng đỏ mặt, không quên liếc một cái sắc lẻm về phía Khánh.

Bốn người bày mấy món còn đem theo được trên mả Thủy.

–      Xem nào, còn một con vịt luộc, hai đĩa xôi, cây thuốc và chai rượu, tốt chán! Chỉ mất có buồng cau, năm phong bánh với nải chuối để quên trong am. Cứ xem như thắng lợi vẻ vang!

Thìn khoái trá đếm đi đếm lại mấy món đồ cúng, trịnh trọng rót ruợu ra ly bày sẵn. Khánh vội vã mồi thuốc rít từng hơi, ếm sâu vào phổi rồi mới từ từ thở ra bằng lỗ mũi:

–      Phê quá!

Người hạ sĩ quan Cộng Hòa tiểu đoàn 11 Dù ngồi tựa tấm bia của ngôi mả bên cạnh lim dim mắt. Thủy từ lúc nãy đến giờ vẫn đứng nhìn chàng ngượng ngùng, lên tiếng hỏi bâng quơ:

–      Anh Ðiềm thết tiệc chuyện gì vậy?

–      Hôm nay tôi ký giấy mua đất nên muốn ăn mừng với Thủy, cụ Chương, bác Thanh và hai anh Khánh, Thìn.

–      Cứ coi như anh bạn đãi tân gia!

Khánh lại mở mắt pha trò.

–      Vậy là nhập hội tương tế với bọn mình rồi nhá!

Thìn vui vẻ cởi mở. Thủy cuời ngặt nghẽo với mấy câu đùa của hai người lính.

–      Anh đã nhất quyết vào với chúng em?

Một lúc nàng chậm rãi hỏi.

–      Tôi đã quyết định từ hôm đầu gặp cô.

Ðiềm nhìn nàng khi trả lời, chàng đọc thấy sự bối rối mà sung sướng ẩn trong đôi mắt Thủy đen láy. Chàng muốn nói đã yêu Thủy ngay hôm đầu nhưng không dám.

–      Sao cụ Chương với bác Thanh lâu đến?

Thủy lảng chuyện, không dám ngó chàng nữa.

–      Chúng tôi đây!

Bốn người quay ra, thấy cụ Chương và ông Thanh đang đi tới. Khánh cằn nhằn:

–      Chờ hai cụ cắp ô tới thì con người ta đói rã ruột!

–      Anh em chúng tôi phải chiến đấu căng lắm mới bảo vệ được thành quả của nhân dân lao động là mấy món ăn này do anh Ðiềm đem vào.

Thìn kể công.

–      Chúng tôi biết! Xin lỗi các bạn trẻ vậy. Nào ta dùng cỗ đi chứ, chắc cậu Ðiềm có mấy lời ngỏ đầu?

–      Dạ, thật ra cũng không có gì trọng đại, hôm nay cháu mua được cái sinh phần cho mình hẹn với người ta đến ký giấy lát nữa, được như vậy cũng là do cụ, bác Thanh, hai anh Khánh, Thìn và Thủy đây giúp đỡ, nên cháu muốn báo tin vui cho tất cả, nhân thể có ít xôi rượu mời mọi người đánh chén.

Mọi người vỗ tay khi Ðiềm dứt lời, chàng cảm động thấy mọi người đều thành thật chia vui với mình. Họ ngồi bệt xuống đất, Thủy chặt vịt, ông Thanh bới xôi, Khánh và Thìn rót rượu tiếp mọi người. Cụ Chương châm điếu thuốc hỏi chàng:

–      Ðã sắm cỗ hậu quan quách gì chưa?

–      Dạ chưa, nhưng chắc cũng phải đi mua nay mai. Ðiềm đáp.

–      Ừ, liệu trước vẫn hay hơn, mua loại gỗ vàng tâm thì mới không sợ bị mục nước sau này.

–      Sợ thời buổi khó khăn lúc này không tìm được thứ gỗ quý đó.

Ông Thanh vừa nhằn xương vịt nói. Cụ Chương gật gù đồng ý, bảo thôi thì gỗ lim cũng được.

–      Anh đã chọn kiểu mộ chưa, anh Ðiềm?

Thủy hỏi thêm.

Chàng còn đương suy nghĩ, Khánh đã ồn ào:

–      Mộ lập cho ngon thì phải xây ít ra cũng giống mồ cụ Chương với ông Thanh. Có bình phong, sân bái đường, hồ nước, hương án, thành mộ trồng hoa giấy, hoa dâm bụt, bên ngoài xây viên thành có cổng uốn. Người sống đi qua nhìn mới dễ nễ!

–      Trong Nam các anh cứ quen thói tư sản! Xây cho đẹp vào chỉ tốn tiền của thân nhân mình chứ ích gì. Ngoài Bắc lúc tôi lên đường cứu quốc năm 73, người ta chỉ đắp đất hình nấm, không có xây gạch xây gung như trong này.

Thìn, tương phản trong bộ lễ phục võ bị, vừa nhồm nhoàm ăn vừa phát biểu.

–      Bị bắt lính thì nói bị bắt lính, lên đường cứu quốc! Nghe không giống ai!

Khánh ực một hơi cạn ly rượu, rót thêm rồi lại ực. Mặt người thương phế binh đã đỏ gay. Thìn bị nói móc, cũng buông cái chân vịt, tợp một ngụm rượu.

–      Ừ, không giống ai mà chúng tôi chiến thắng các anh lẫy lừng!

–      Ðù mẹ! Chó táp phải ruồi! Bộ đội anh hùng, chỉ đạo đứng đắn, thi đua lập chiến công… tới Xuân Lộc chết như rạ!

–      Ừ, chết đấy, nhưng ngụy quân ngụy quyền thì bị bắt sống cả bầy!

Thìn hất mặt thách thức. Khánh toan chồm lên phang chai rượu Hiệp Hòa vào đầu Thìn nhưng ông Thanh đã kịp thời can họ.

–      Thôi thôi cho tôi xin, lại cãi nhau nữa. Cứ lần nào có rượu vào là các anh lại đánh nhau. Hai anh thoi nhau vì rượu chứ có phải vì chính nghĩa của hai bên đâu! Hôm nay là ngày vui của cậu Ðiềm, người ta làm tiệc đãi thì phải biết giữ tư cách một chút chứ. Các anh làm sao mang tiếng người chết chúng mình, không khéo cậu Ðiềm đổi ý không mua sinh phần ở đây nữa.

Ông Thanh bắt họ mỗi người ra ngồi một góc. Như hôm nọ, cụ Chương không nói gì chỉ tủm tỉm cười. Ông Thanh chiêu ngụm rượu rồi mới lên tiếng nói về cách thức xây mộ.

–      Lập mộ có nhiều kiểu, Bảo Châu, Bảo Tháp, Trúc Cách, Long Ðình, đó là những kiểu đắt tiền xưa chỉ có triều thần hoàng tộc hay các nhà quyền quý mới được xây. Sau này trong Nam ai có tiền, muốn xây sao thì làm. Nhưng những kiểu mộ đó đòi hỏi đất rộng, ít ra cũng rộng bằng cái âm phần của tôi hay của cụ Chương. Chỗ đất của cậu mua thì hơi chật, không làm được sân bái đường đâu. Tôi đề nghị cậu xây kiểu trúc cách tam cấp, có bình phong với một ao nước nhỏ trước mặt là đủ đẹp. Cậu Ðiềm thấy thế nào? Còn hoa giấy, hoa dâm bụt thì tùy người nhà mình giồng, nhưng cũng chỉ được ít lâu rồi héo cả thôi mà.

–      Dạ, cám ơn bác đã chí tình chỉ bảo, nhưng đời sống bây giờ đắt đỏ quá, cháu không rõ gia đình có đủ tiền lập mộ khang trang như lúc trước hay không? Cháu đã định bụng xây kiểu mộ liếp thường, đơn giản mà cũng tươm tất.

Ðiềm nói với ông Thanh. Cụ Chương nghe thế thì chen vào câu chuyện.

–      Ừ, cậu Ðiềm nói cũng đúng, tôi thấy từ sau bảy mươi nhăm mấy người vào đây mồ mả ai cũng xoàng xoàng, hẳn là vật liệu bây giờ đắt kinh lắm. Thôi thì cậu cứ xây theo khả năng của mình. Nhưng nếu vẫn thích tối tối ngồi sân bái đường, trông sao uống chè, ngắm hoa, ngắm trăng soi hồ nước thì lại đằng tôi và ông bạn Thanh. Cửa mả chúng tôi lúc nào cũng mở rộng đón cậu.

–      Cám ơn cụ đã có lòng xem cháu như con cái.

–      Nhưng tôi chắc anh bạn đây thích ngắm sao đêm với cô em Thủy hơn là với cụ!

–      Thích mê đi chứ lị!

Khánh và Thìn đã thôi cãi nhau, mỗi người một câu đùa làm người thiếu nữ đỏ bừng mặt.

–      Cấm hai anh không được nhắc đến em nữa! Sàm sỡ vừa vừa chứ!

Mọi người bật cười ròn. Cụ Chương trịnh trọng nâng ly mời:

–      Nào, ta nâng ly chúc mừng cậu Ðiềm sắp xây kim tĩnh.

–      Mừng anh bạn!

–      Mừng anh!

*

Tàn tiệc, cụ Chương và ông Thanh cáo từ đi ngả lưng. Khánh và Thìn rủ nhau đi rình mấy cảnh bán tình của những ả giang hồ làm ăn trong nghĩa địa. Chỉ còn lại một mình chàng và Thủy. Thủy dợm đứng lên đi dọn dẹp, nhưng Ðiềm kéo nàng ngồi xuống.

–      Thư thả, lát nữa anh phụ Thủy một tay.

Thủy nhìn chàng do dự, rồi ngồi xuống kế bên không nói gì. Ðiềm nhìn cánh tay nắng ôm ngang khu mả, lấp lánh trên những bia đá như có dát vàng. Yên tịnh quá, không có tiếng trẻ nít đùa giỡn như hôm nào. Có lẽ chúng đang ngủ trưa. Thế giới trong nghĩa trang im vắng khác hẳn cái cuộc đời trần tục xô bồ ở ngoài thành phố, chỉ cách nhau có con đường lộ. Ðiềm phân vân tự hỏi, không hiểu Thủy có hay biết những thay đổi biến động kinh khủng của xã hội người sống? Chàng thầm mong là nàng không hay biết gì hết, vẫn giữ trong đầu những hình ảnh vui tươi của miền Nam trước đây. Ðiềm nhìn tấm bia khắc trên mộ nàng. Phạm Thị Thu Thủy, hưởng dương mười bảy tuổi, thương con lập mộ. Dưới tấm hình nàng là hai câu thơ của bố mẹ Thủy thương tiếc con: Nụ cười đã tắt trên môi thắm, hình bóng con yêu đã khuất mờ. Chàng thấy thương cô gái đang ngồi cạnh mình, nàng đã ở trong này mười mấy năm rồi, một thân, một mình cô độc lẻ loi. Trông Thủy không khác trong hình bao nhiêu, có lẽ âm hồn nàng giữ lại hình ảnh của thể phách lúc chết.

–      Có thật anh quyết định mua sinh phần vì em?

Thủy bất ngờ hỏi, hơi cúi mặt không nhìn chàng. Ðiềm gật đầu.

–      Tôi không hiểu vì sao, nhưng thấy mình có cảm tình nhiều với Thủy.

Chàng do dự rồi nắm lấy bàn tay nhỏ trắng ngó sen, mấy ngón tay thuôn bum búp như những đọt măng non. Thủy để yên không phản đối, hai người không nói tiếng nào nữa, nhưng họ xúc động lắm. Mãi Thủy mới dám ngửng mặt. Nàng bắt gặp khuôn mặt Ðiềm ở sát mình, nghiêng nghiêng cúi xuống gần ở ngang tầm môi.

–      Có phải anh sắp hôn em?

Nàng đỡ khuôn mặt Ðiềm, hơi hốt hoảng. Chàng lại khẽ gật đầu.

–      Âm dương chạm nhau không tốt đâu, bây giờ anh còn xác phàm.

–      Chẳng bao lâu nữa là anh vào đây rồi, tốt hay không tốt thì cũng như nhau.

Ðiềm nói và nâng cằm nàng. Thủy nhìn sâu trong mắt chàng thật lâu, Ðiềm đọc được trên khuôn mặt nàng tất cả băn khoăn lo lắng chen lẫn tình yêu bối rối. Nhưng rồi nàng nhắm nghiền mắt, ngửa mặt chờ đợi. Ðiềm cúi xuống đặt nụ hôn khẽ vào giữa đôi môi thơm thơm hồng. Cảm giác lạnh khô và nhạt nhạt. Người Thủy mềm nhũn đi, đôi tay cũng lạnh mát níu lấy vai chàng. Ðiềm thấy nàng lẩy bẩy run rẩy đánh rơi một chiếc guốc xuống đất. Chàng cũng đê mê sung sướng, người con gái hiền quá, ngoan quá, đẹp quá, ngấn cổ thơm ngọc lan thoang thoảng. Chàng hôn tiếp không muốn rời…

–      Ê! Anh làm cái gì vậy? Tôi tìm anh từ nãy!

Chàng và Thủy lật đật buông nhau ra. Người đàn ông mặc áo ôm vạt bầu, cỗ lưỡi mèo đứng nhìn chàng chăm chăm. Người chủ miếng đất trố mắt nhìn mấy đĩa đồ cúng lây lất trên mặt đất, rồi lại ngó chàng, hiển nhiên là ông ta không trông thấy cô gái.

–      Một mình anh ăn hết chừng này à?

–      Buổi sáng quên ăn sáng, nên hôm nay tôi đói quá!

Ðiềm lúng túng, không biết phải giải thích làm sao. Người đàn ông ngó vỏ chai rượu Hiệp Hòa mà Khánh vất chỏng trơ trên đất. Ông ta hất mặt.

–      Uống nguyên lít đế thế này, không ung thư dạ dày cũng uổng! Nhưng sao lại ăn toàn đồ cúng không thế?

Người đàn ông nhìn quanh quất mấy ngôi mả bên cạnh như có ý nghi ngờ chàng lấy trộm thức ăn. Gã lấy chân đá mấy cái xương vịt rồi nói:

–      Thôi đi xem đất nào, tôi còn phải về áp phe. Như vậy là anh đã thỏa thuận giá cả với vợ tôi?

–      Bà ấy bảo tôi thương lượng với anh.

–      Không thương lượng gì ráo, tôi có giá của tôi, anh không mua thì thôi. Tôi không thích mặc cả.

Gã đàn ông đi xăm xăm về khoảng đất trống còn chừa nằm cách mộ Thủy hai dẫy. Ðiềm cùng bước với nàng theo sau người đàn ông. Ông ta mặc quần gin Mỹ, có thêu nhãn hiệu Levis, đôi dép sabot đế cao, đồng hồ vàng Oméga và tấm lắc bự lủng lẳng ở cườm tay. Gã đàn ông tỏ ra là dân làm áp phe chuyên nghiệp. Thủy đi theo Ðiềm, chốc chốc lại nhìn chàng lo lắng. Ðiềm chỉ biết ra dấu trấn an nàng và đối đáp cầm chừng với gã đàn ông. Ðến chỗ ngôi đất, gã móc trong túi một sợi dây thước đo nói giọng chắc nịch.

–      Hai thước ngang, hai thước dọc, vuông vức như vầy mới vừa đẹp. Năm bảy mươi tư tôi mua ngôi đất này ngót hai trăm năm chục ngàn tiền cũ, bây giờ thì giá lên gấp trăm. Giá thị trường sao thì tôi để anh vậy, không bớt, không tăng giá!

Ðiềm biết chàng gặp phải tay buôn chợ trời thứ thiệt. Sau bao kỳ đánh tư sản, truy quét tàn dư, dẹp chợ trời mà gã vẫn ung dung sinh sống, phát phì mỡ màng như vậy, tay này hẳn phải có bản lãnh hơn người. Và hiện giờ hắn đang nắm đàng chuôi, chàng là người cần đất, hắn không cần bán, trừ phi giá hời.

Gã đàn ông nhăn mặt nhìn đám tranh mọc rậm rạp kín mít ngôi đất.

–      Tiên sư chúng nó, trả bao nhiêu tiền cũng không bao giờ chịu cắt cỏ. Tiền niên liễm hàng năm mình đóng cho hội không biết chúng vứt đi đằng nào! Cỏ xanh um thế này thì có ỉa vào đấy cũng không ai thấy!

Gã đàn ông lấy chân đạp cỏ, càu nhàu, nhưng rồi như nghĩ ra chuyện gì có lợi, ngoảnh ngay mặt lại nhìn Ðiềm vênh váo:

–      Người ta nói khi nào cỏ quanh mả khô héo chết hết, hay đất nứt thành đường thì con cháu phải cải táng. Cỏ chỗ này xanh tươi tức là đất tốt có sinh khí, xem này có nứt chỗ nào đâu! Lẽ ra tôi phải tăng giá, tìm được đất tốt không phải dễ, anh may mà không biết!

–      Tôi ứng tiền trước cho anh một nửa, khi nao tôi qua đời người nhà sẽ trả nốt phần còn lại, anh bằng lòng không?

Ðiềm lên tiếng, chàng biết trận chiến mặc cả bắt đầu.

–      Không đưa trước đưa sau gì ráo, biết chừng nào anh mới chết!

Gã đàn ông quay phắt lại, rõ ràng là phản ứng của gã trở nên quyết liệt gấp bội khi đụng tới tiền.

–      Tôi chỉ còn sống nữa năm sáu tháng, anh không phải chờ lâu.

–      Anh chết tuần sau mặc xác anh, tôi bán đất tiền trao cháo múc, sống nhờ bát cơm, chết nhờ đất cát, anh chết anh cần đất, tôi sống tôi cần tiền. Không mua thây kệ anh, tôi không vội bán.

–      Ðược, tôi bằng lòng trả ngay bằng bạc mặt, nhưng anh phải bớt cho tôi một phần ba cái giá mà vợ anh đã nói với tôi. Cái giá đó anh đã nhân gấp đôi giá thị trường.

–      Bớt? Trong tự điển Việt Nam quốc âm tự vị của tôi không có chữ này! Anh muốn mua đất rẻ thì đến mấy chỗ họ đào kinh thủy lợi mà mua, đất ở đó người ta xúc cho không, đổ đi không hết!

Gã đàn ông như bức tường thép, không tài nào lay chuyển. Thủy nhìn chàng lo ngại, Ðiềm thấy mình đã hơi quá vội vui mừng khi làm tiệc đãi mọi người lức nãy. Chàng không dễ dàng mua được miếng đất mà không bị cứa cổ.

–      Tôi tên là Thế, mua đất xây kim tĩnh cho mình nhưng mấy năm nay bận quá chưa có thì giờ làm. Bây giờ tôi có giấy bảo lãnh của ông anh ruột không cần nữa, tôi đi Pháp nay mai, nhưng nếu anh không đủ tiền trả thì tôi để lại cho người khác. Người chết bây giờ không thiếu!

Gã đàn ông tên Thế, tự giới thiệu rồi rút dây thước ra đo đạc. Ðiềm không hiểu tại sao gã chỉ mua đất để sẵn cho mình mà không mua cho vợ. Gã đàn ông vừa đo đất vừa nói như rao hàng.

–      Dài hai thước đúng, không thiếu một phân. Tôi nói đâu có sai, tính ra rẻ chán, chỉ có mấy chục đồng một mi li mét!

Gã lại cắm cúi đo đạc chiều ngang, đến chân ngôi mả mới xây bên cạnh gã chợt đứng dựng lên la bải hải:

–      Thôi chết tôi rồi! Tiên nhân cái thằng nào xây lấn qua đất của mình ba mươi cen ti mét! Sư cha nhà nó! Quân ăn cướp!

Gã Thế lồng lên, chồm người nhìn xuống ngôi mả còn tương đối mới. Gã đọc lẩm nhẩm tên họ người chết, nhìn vào tấm bia trừng trừng như đang đối diện người lấy cắp đất của gã.

–      Nguyễn Văn Nhâm… sinh 1761, một ngàn bảy trăm sáu mốt…! Chắc là khắc nhầm! Ðồ đểu nhà nó, không biết dạy con cháu, xây lấn qua đất người khác!

Gã đàn ông văng tục, vừa chưởi thề vò đầu bức tai, vừa đá vào hông mả mấy cái. Giận quá mất khôn gã đập luôn hai cái bình bông để trên mộ. Ðiềm chụp vội ngay cơ hội.

–      Thiếu ba mươi phân đất, như vậy anh phải bớt cho tôi một phần ba giá.

–      Cái gì? Tôi bán đưa đủ giấy tờ cho anh, anh lên mà kiện với công an quận, không thì cho người tới cào bố mả nó lên. Ðất này của mình, mình có quyền đào xới!

Chàng nhận ra gã đàn ông đã dùng chữ “đất của mình”. Ðiềm lắc đầu.-      Tôi không biết, việc kiện tụng là việc của anh, chỉ có một mét bảy ngang và hai mét dọc, anh không thể đòi giá cao được. Chật thế này, ai nằm cho vừa!

–      Tôi gần đi Pháp, không muốn giấy tờ lôi thôi, nếu anh không muốn kiện thì thôi, nhưng tôi không thể bớt được.

–      Tùy anh, tưởng đất rộng tôi mua, ai ngờ đất hẹp thì thôi, tôi lên nghĩa trang Gò Vấp vậy.

Ðiềm nhún vai. Mặt gã đàn ông đỏ gay, mồ hôi chảy nhớt trên mặt. Gã thở phì phò mặt nhăn như táo bón.

–      Thôi được, tôi bớt anh một phần ba giá.

–      Bây giờ không phải một phần ba nữa mà là phân nửa!

Ðiềm thản nhiên, như việc xuống giá thật bình thường. Gã Thế hét lên:

–      Anh bảo sao? Một nửa giá thôi ấy à? Anh cút đi tôi không cần bán nữa!

–      Anh có ông bà cụ thân sinh cũng chôn trong này phải không?

Chàng từ tốn hỏi, trong lúc gã Thế biến sắc.

–      Ai nói với anh?

–      Vợ anh có nói với tôi là cả gia tộc anh chôn trong này. Anh nghĩ sao nếu tôi nói với thân nhân của cụ Nguyễn Văn Nhâm nằm đây rằng anh đã đá vào sườn ông cụ và đập bể hai lọ hoa. Anh nghĩ họ sẽ phản ứng như thế nào, nếu tôi chỉ mả của ông bà thân sinh ra anh? Dĩ nhiên là tôi sẽ nói luôn là anh muốn chạy tiền công an cào mả ông cụ lên chắc họ không hài lòng đâu!

–      Anh, anh… dám làm điều đó?

Gã Thế lặng người nhìn Ðiềm, mồ hôi chảy võng trên mặt. Gã hung hãn bao nhiêu khi mới vào, lúc này xanh mướt hiền lành chẳng khác một kẻ buôn chui bị bắt.

–      Dĩ nhiên là tôi không làm chuyện thất đức đó rồi, nếu anh chịu để cho tôi phân nửa cái giá chỗ đất này.

Ðiềm đưa tay chỉ chỗ mấy lùm cỏ um tùm. Chàng biết gã Thê đã giao động lắm và mình đã thắng cuộc mặc cả. Buổi chiều ôm nắng qua vòm nghĩa trang. Gió thổi hiu hiu những lọn tóc Thủy bay bay nhè nhẹ đong đưa. Nàng nhìn Ðiềm mỉm cười ranh mãnh, đan năm ngón tay nhỏ vào tay chàng. Bầu trời vẫn xanh biếc không gợn mây, nhưng nghĩa trang đã mất đi cái âm u rờn rợn lạnh lẽo, thê lương của nơi cúng tế. Bên cạnh người yêu, Ðiềm có cảm tưởng chàng đang đứng trong một khu an phúc, nơi cuộc đời tàn bạo là gã con buôn kia đã chịu thua. Chàng xiết tay Thủy tin tưởng. Nàng gật đầu khuyến khích. Ðiềm trông thấy thấp thoáng bóng của Khánh và Thìn đứng ngoài rình nghe. Ðiềm mạnh dạn lên tiếng:

– Anh suy nghĩ lẹ lên chứ! Chiều rồi tôi còn phải đi, nói tôi một tiếng anh có bằng lòng hay không? Bớt phân nửa giá, anh vẫn còn lời mà!

7-1991

Bên Trong Pháo Ðài

tranvu.free.fr

Trần Vũ

Post on 12/1987

Post by Sơn râu 2 May 2024

Cuộc sống của đám con gái trở nên khó khăn hơn từ khi chúng tôi chuyển sang công tác hầm Mười Một. Cuộc sống? Nếu có thể gọi hai mươi bốn tiếng đồng hồ chui rúc dưới lòng đất của lũ con gái là cuộc sống. Thế kỷ này thật lạ. Ngày xưa chỉ có những kẻ chết rồi mới vào nằm trong đất. Ngày nay những thây ma tranh nhau dành phơi mình trên đất nóng mùi lửa. Bọn sống sót còn thở chúng tôi, còn mang những gân máu dữ dội trong hố mắt, thì bò trườn lê lết trong những đường hầm hun hút thậm thượt. Thế giới đảo lộn từ khi thần chết biết bay, xuống bắt người từ những đám mây xanh an bình, tưởng hiền lành mà bất thần thả lao nỗi chết vỡ vụn. Bọn con gái, những khi rãnh rỗi, ngồi kiểm điểm trao đổi những kinh nghiệm bản thân đã trải qua. Kinh nghiệm? Nếu gọi là kinh nghiệm cảnh tượng tất tả chạy chối chết băng đồng về điểm núp, bàn tay tê liệt không cầm nổi súng trong thứ âm thanh lanh lảnh của đạn đại liên từ máy bay lên thẳng xối ào xuống ruộng. Tôi dường đã đánh mất từ khi chui xuống hầm Mười Một, cái cảm giác nóng bỏng của giọt nắng vỡ òa trên da thịt sợ hãi cháy phỏng lửa xăng. Không phải tôi không biết sợ mỗi khi máy bay địch tập kích. Mỗi khi trần tăng xê của hầm Mười Một vụt rung chuyển, lắc lư bần bật, thuốc đạn, bụi đất tung mù không khí và hơi nóng dồn xuống muốn nung chín mọi người co quắp run rẩy chịu đựng. Những khi ấy dĩ nhiên là tôi biết sợ. Nhưng là nỗi sợ hãi trong bóng tối có màu đất đen quánh ngột ngạt, không phải sự sợ hãi bình thường của một con người đang chạy trốn, bị đe dọa nhưng còn trông thấy mặt trời và tin tưởng vào sức sống của cỏ cây, vạn vật chung quanh. Ở đây – dưới hầm Mười Một– không có cây, không có lá, không có mặt trời, không có mây và không có cả sự tự do chạy trốn. Chỉ có một đám người tê cứng tứ chi thụ động chờ thần chết đem đi. Trong số những chiến sĩ du kích của tỉnh đội Củ Chi sống chui rúc dưới lòng đất, trốn những trận mưa bom không ngớt, liền liền, có bốn đứa con gái là Nhu, Phấn, Huệ và tôi. 

* 

Hôm đầu tiên về công tác ở hầm Mười Một, tôi nhớ bọn con gái đã được chào đón hân hoan bằng nhiều khuôn mặt hồ hởi của các đồng chí nằm hầm bao lâu nay. Sự hồ hởi của bọn họ hiện rõ trong tiếng cười khàn khàn gần như không thoát ra nổi khỏi hàm răng luôn luôn nghiến chặt kìm hãm nỗi xúc động thường trực, thường bùng nổ đột ngột ở mỗi trận bom. Lực -người cán bộ chỉ đạo của Mặt Trận- cũng có giọng cười sền sệt co rút các cơ hàm khi bố trí chỗ ăn ngủ và chỉ định các khâu công tác cho chúng tôi. Hầm Mười Một quả là điểm nóng của tuyến đường ngầm 916B. Bọn con gái đã chịu thử thách ngay những giờ nằm điểm đầu tiên. Thoạt tiên là còi báo động. Thứ âm thanh gần giống với chuông báo thức thoát ra từ cái đài bán dẫn, được khuếch đại vang lên trong tất bật của cả nhóm người nhốn nháo. Tiếng bom reo trong lòng đất kế đến mới thật kinh dị. Bọn chúng tôi nghe rõ mồn một thứ tiếng động mạnh của nhiều vật nặng xuyến xoáy vào lòng đất. Rồi tiếng nổ chát chúa ù tai dây chuyền trong lúc người váng đi, thân thể tung bắn lên trần hầm. Kinh nhất là sức ép trong lòng đất. Tám lá phổi của bốn đứa con gái như bị bóp dẹp, vò nát rách bươm từng mảnh. Những trận bom có thể bất chợt trong nhiều phút với tiếng nổ ầm ầm rồi kéo dài hàng giờ với tiếng vọng âm âm trong lòng đất, nhiều khi từ một nơi thật xa truyền lại còn giữ nguyên sức rung địa chấn. Chúng tôi co quắp ôm chặt nhau những khi ấy, với cảm tưởng thần chết đang bóp chặt lấy cổ họng, đùa bỡn. Ðất đá từ trần rơi xuống lộp bộp, lấp đầy những cái miệng cố mở lớn để thu vào chút dưỡng khí. Cả bọn chỉ nhận ra người mình phủ đầy cát và một dòng máu đỏ lòm đang rỉ ra từ cánh mũi đen xì cáu bẩn đất sau khi cuộc đánh bom qua đi. Ðời sống ở hầm Mười Một quả là khủng khiếp, nếu còn có thể gọi là đời sống.

Nhưng rồi ở đâu thì con người cũng tìm cách thích nghi với môi trường mới. Chúng tôi quen dần với những trận đánh bom. Quen với những luồng hơi nóng hừng hực của bom xăng đặc ném dội xuống hầm. Quen với những tuyến đường ngàm đào theo hình chữ L, sâu xuống thành hình chữ E và tẽ ra thành chữ K chạy zích zắc nối liền nhau bằng các hầm chắn an toàn đổ đầy than đá, vôi sống và sỏi cát để lọc hơi độc mà địch thường bơm xuống từ một nắp hầm bị khám phá. Bốn đứa con gái quen với cả tính tình và vóc dáng những người du kích tỉnh đội. Hai ống chân ghẻ chốc của Tỉnh, khuôn mặt phù thủng của Lập, bệnh sốt rét kinh niên của Chiến hay vết thẹo dài sâu hoắm giữa lưng Lực… Chúng tôi học sống và chiến đấu dưới lòng đất. Nhu -đứa con gái mười bảy tuổi- được chỉ định làm giao liên, biết mò mẫm trườn bò di chuyển trong những lộ tuyến nhỏ bằng lỗ chó chui, biết luồn lách trong những khúc hầm nguy hiểm nhất và ngửi ra mùi khói ngạt mà bọn Mỹ không ngừng ném, phun, xịt vào lòng đất. Nhu thường buộc lại búi tóc trễ xuống vai, ném về chúng tôi cái nhìn trìu mến trước khi biết mất vào trong bóng tối của những con đường hầm đen thẳm, để dẫn đưa hay đón người tới từ những hầm chung quanh. Chẳng thế mà tập thể đã bình bầu Nhu là chiến sĩ giao liên tiên tiến, tặng danh hiệu anh hùng làm vẻ vang cho cả bọn. Phấn thì khác. Ðứa con gái mười chín tuổi sinh đẻ ở Củ Chi, rành rẽ, sành sõi, nhớ mặt từng tên Dân vệ trong vùng. Phấn còn là tay bắn cừ khôi của hầm. Mỗi đên Phấn theo Lực và tổ du kích rời hầm đi đắp mô, thâu thuế và tấn kích một vài đồn bót Ngụy ven khu vực. So với Phấn, Huệ mập mạp đẫy đà, có nước da xanh nhớt, trắng bệch vì là đứa sống lâu nhất dưới mặt đất. Tuy thế Huệ công tác tốt ở khâu chị nuôi. Và cả tôi nữa -đứa con gái tên Nhật- vào đời với may mắn chưa bao giờ phải sống trong vùng tạm chiếm của Ngụy. Mỗi ngày tôi ngồi trước máy, phụ trách khâu hiệu thính điện đài, tháo rỡ, cầm rút mấy chục cái phích để liên lạc với các hầm số Chín, Mười Ba, Mười Lăm… báo cáo tình hình và hội thảo phương án chi viện cho một điểm nóng nào đó nếu cần. Tôi còn nghe ngóng đêm cũng như ngày, tất cả những động tĩnh trên đường dây điện đàm của địch và trình cho Lực nắm những mẩu tin xếp loại A. Những khi tôi ngủ, tự động Phấn hoặc Nhu ngồi vào bàn thay thế. Chúng tôi sống với tuổi trẻ và chiến đấu bằng niềm tin mãnh liệt rằng ngày tổng công kích sắp đến… 

* 

Thế giới của côn trùng, của giun dế, tuy thế cũng có những ngày êm lắng và bình yên. Máy bay địch hay gã thần chết hiểm ác dường như không mấy thích bay lượn những ngày mưa. Mỗi bận nghe tiếng sấm rền vọng ngân trong lòng đất, Phấn cong môi mỉa mai rằng giặc lái sợ ướt  bộ đồ bay đẹp của chúng khi phải ra sân bay dưới cơn mưa nặng hạt. Nhu thì nói dỗi những hôm trời tầm tã thế này, thể nào cóc nhái và ễnh ương cũng ra chào cô trong những đường hầm ngập nước. Huệ càu nhàu than củi ướt quá, khó nhen lửa bắc lò. Và tôi -con Nhật hiệu thính- bộ tịch hờn mát trời gầm làm đường dây nghe không rõ. Ngoài miệng nói thế, nhưng trong thâm tâm lũ con gái mong mưa như đất hạn mong nước. Ai hiểu cho bọn con gái những khó khăn thầm kín, những vấn đề vệ sinh bản thân mà bốn ca nước tiêu chuẩn mỗi ngày không đủ thỏa mãn cung ứng. Chúng tôi túa đi, thi nhau hứng những giọt nước trong suốt rỉ nhiễu từ những rễ cây mọc len lỏi trong đất. Tiếng động lốp bốp vui tai của giọt nước vỡ, đôi khi làm người ta quên mất đang sống trong thế giới của loài trùng đất. Riêng tôi cứ tưởng đâu mình hãy còn dưới mái nhà lá dột phất phơ của gia đình. Bốn đứa con gái vụt trở nên trẻ thơ, đùa giỡn tạt nước vào nhau từ cái vại nước hứng đầy. Bọn chúng tôi gội đầu và chà mình trong góc hầm giăng bạt. Sau những buổi tranh thủ tắm đột xuất như thế, tóc Nhu óng ả mượt mà hẳn lên, thôi dính bệt từng mảng bùn đỏ ké “thu hoạch” được trong những chuyến giao liên. Da thịt Huệ cũng hồi sinh, nuột nà bay mất mùi bếp và tro than. Tôi tìm cho mình cái thú ngồi tựa lưng vào vách hầm mát lạnh, thấm loang loáng nước mưa rỉ rả nghe Nhu thủ thỉ kể một mẩu chuyện góp nhặt từ các hầm khác. Ðôi mắt của mọi người long lanh bị kích thích khi nghe Nhu kể một cảnh cứu đất xập ở hầm Mười Bốn. Cả bọn nén tiếng thở chờ đợi Lực kể tiếp một vụ xử lý linh động thằng trưởng ấp chiến lược bị Mặt Trận bắt được. Huệ luôn đãi cả hầm một ấm chè tươi với bánh đậu mà hậu phương lớn miền Bắc gởi vào khích lệ nhân dân Nam bộ, sau những lúc hàn huyên thân mật ấy.

Nhưng thời gian dưới mặt đất qua mới chậm. Giọng đùa cợt khúc khích của bọn con gái lơi dần. Khuôn mặt của những người du kích trở lại lầm lì, lạnh đá. Ðêm cũng như ngày chỉ có một ánh đèn dầu vàng lu, vặn nhỏ tim leo lét, soi loe hoe dăm cái bóng lúc chao nghiêng ngả, lúc đứng sững dán in lên vách. Những háo hức ban đầu của lũ con gái vừa khám phá ra mặt chìm của đời sống dưới lòng đất, qua nhanh như cuộc tắm mưa ngắn ngủi. Thời gian biến thành sự bồn chồn chờ đợi. Tai vểnh lên nghe ngóng rình rập một tiếng động lạ. Mười ngón tay bứt rứt cào sước trên mặt đất. Những kích thích tột độ của một bản tin chiến thắng, số máy bay Mỹ bị bắn rơi trong ngày. Sự lo lắng chu toàn khâu công tác của mỗi người, những chiếc võng treo hối hả trên vũng nước ngập lõng bõng của hầm ngày mưa bão và cả nỗi sợ hãi điếng người khi địch vãi bom cày xới mặt đất, cũng không đủ giúp thời gian trôi nhanh hơn. Ngày duới hầm Muời Một là một khối lê thê, dài thậm thượt hun hút như con đường ngầm sâu hoắm, bất tận, nuốt chửng mọi sinh vật. Nhóm con gái chỉ phân biệt được đêm ngày ở cây kim đồng hồ đánh tích tách dưới trần hầm đen cứng. Ngày đến với tiếng khạc nhổ của một du kích bị loét bao tử thức sớm. Trưa là tiếng đằng hắng của Lực triệu tập phiên họp bồi dưỡng chính trị. Chiều xuống thêm một buổi học tập cách thức bám trụ, chống càn trong chiến tranh Giải Phóng. Ðêm về, trả tiếng tra đạn lách cách của tổ du kích khi rời hầm đi hoạt động. Chừng ấy tiếng động tẻ lặng, ngần ấy cử chỉ rời rạc của từng người diễn ra trong ánh đèn dầu vàng bủng màu nghệ. Một tuần, một tháng, một năm… tiếng cười trong vắt của Nhu đục dần, cũng trở nên khàn khàn kìm hãm. Giọng hát cao vút của Phấn thấp đi, không còn chuyên chở hết lửa nhiệt tình của những bài ca tranh đấu của Mặt trận. Và tôi – ở trần hầm im phắc– tôi bắt đầu trông thấy những đốm thao thức lớn dần, loang loáng nhiều ý nghĩ lạ. Ngày tổng công kích vẫn chưa đến, nhưng những bồn chồn nóng nảy trong lòng mọi người chừng đã chín mùi ghê gớm lắm rồi. Hà Nội, hậu phương lớn –pháo đài của niềm tin– trong bản tin cuối cùng đang chịu những trận bom khốc liệt. 

* 

Những trận bom khốc liệt tiếp tục một năm, thêm một tuần, thêm một tháng, thêm nhiều tháng… trong ngột ngạt thường trực của căn hầm ngộp hơi, thiếu dưỡng khí. Cảnh tù quẫn bít bùng chìm sâu dưới lòng đất dễ làm con người ta nếu không phát điên, cũng chẳng còn bình thường. Ðiều kỳ lạ là lớp vỏ bên ngoài của những con người nằm hầm, nếu có vẻ vượt qua được thử thách để sống sót trong một môi sinh khắc nghiệt, thì cái phần bên trong của con người ấy hoàn toàn bị hủy hoại. Tôi chứng kiến đầy đủ, gần như trọn vẹn sự thoái hóa của những du kích bị tước đoạt ánh mặt trời.

Chuyện tranh chấp giữa Huệ và Phấn khởi đi từ một ve dầu dừa cỏn con. Một bận sau phiên trực máy, buông mình xuống mặt chiếu tìm giấc ngủ bồi dưỡng, đang lim dim, tôi chợt nghe tiếng Huệ vang lên chua và sắc.

– Gớm sao tóc thơm mùi dầu dừa thế? Lại lấy trộm của tao đấy phỏng?

– Tôi không lấy trộm của ai!

– Thế ở đâu ra? Ăn cắp còn chửa nhận thì thôi!

Có lẽ chính những cặp mắt đổ dồn về làm Phấn tự ái. Ðứa con gái được tập thể biểu dương có tính triệt để Cách Mạng trong công tác, vụt hung hãn như thể tìm thấy đích bắn lúc hươi nòng súng.

– Mày bảo ai ăn cắp, con kia?

– Tao nói đứa đầu hôi như cú không dám cho trai ngửi!

Tiếng “bộc” khô khan từ nắm tay Phấn bất ngờ thoi vào mặt Huệ không kịp lường trước. Huệ ngã bật ngửa sóng soài ra bếp, nhưng trước tập thể, Huệ không muốn mình yếu thế vùng ngay dậy, tiện tay chụp thanh củi tạ phang mạnh vào người Phấn. Hai đứa con gái tru tréo the thé, chửi bới đào mả, thóa mạ dòng họ lẫn nhau. Huệ và Phấn xô đẩy, đấm thụi, bứt tóc, cào cấu gầm rú trước mặt đám đàn ông dửng dưng như đang xem diễn tuồng. Lúc Lực can cả hai ra và lớn tiếng phê phán tác phong, đạo đức của hai người, thì Phấn và Huệ đã tả tơi, bầm dập mình mẩy. Huệ chui vào xó bếp lẩm bẩm chửi rủa. Phấn ôm đầu tóc rối bù với một bên má bầm tím ra ngồi ở đầu hầm, mài lưỡi lê xoành xoạch bằng hai bàn tay nổi gân chai đá. Không khí ngột ngạt nghẹt thở. Tôi nằm im giả vờ ngủ. Nhóm đàn ông quay mặt lại làm như không thấy gì, nhưng trong ánh đèn dầu vàng lu, một vài khóe môi nhếch lên kỳ lạ. Thái độ chần chờ trước khi can thiệp của Lực cũng kỳ lạ. Ðám ruồi xanh bay vo ve trên nền đất. Một con chuột xạ chạy vụt qua hầm. Tôi nhìn thấy ở trần nhà, dáng nằm thụ động của chính mình. Tại sao tôi không nhào vào can gián, giải hòa cho hai con bạn gái cùng tổ? Tại sao mấy anh du kích cười mỉm thích thú? Con chuột lại bò ra giữa hầm tha theo mẩu bánh, không ai buồn đuổi. Tiếng chuốt lưỡi lê của Phấn tiếp tục vọng lên, sắc nhọn, đều đều.

Từ ve dầu dừa cỏn con, sự giận hờn mau chóng biến thành mối thù truyền kiếp. Phấn và Huệ nói xấu công khai, trắng trợn, sau lưng nhau. Nhiều lần Phấn rình rập lén trút muối vào nồi canh, đổ thêm nước vào chảo cơm Huệ đang nấu. Bữa trưa, bát canh bí lưa thưa vài con tôm khô, trở thành mặn chát. Chảo cơm gạo lứt nhão nhoẹt. Huệ sượng sùng, lầm lì cúi gầm mặt ngồi ăn giữa những anh du kích xếp bằng tròn cũng giận dữ, và từng đũa cơm vữa vào miệng. Chỉ hai lần như thế đủ để Huệ bị đưa ra kiểm điểm trước tập thể. Chỉ một miếng ăn không ngon mà Huệ bị những đồng chí còn coi nhau khắng khít hơn anh em hôm qua, đem ra phê phán gay gắt. Nhưng Huệ đủ khôn lanh để tìm ra ngay thủ phạm. Cái hôm mà mọi người đi khuân đạn bên hầm Mười Chín, chỉ còn hai đứa ở lại trực phiên, tôi bắt gặp Huệ chui rúc trong góc hầm đang mài miểng chai rắc vô bi đông nước uống của Phấn. Ánh mắt Huệ đầy chết chóc và hiểm ác khi Huệ ngẩng lên trông thấy tôi đang đứng nhìn nó. Huệ nhìn tôi đằng đằng sát khí, như thể chỉ cần tôi lên tiếng, làm một cử động nhỏ là nó sẽ giết chết tôi ngay. Tiếng động cà rèn rẹt từ hòn đá mài dao, mải miết không ngừng phát lên nơi bàn tay béo mập của Huệ. Tôi bị ánh mắt thôi miên của đứa con gái bấu chết trân tại chỗ cho đến khi nó làm xong, hoàn tất cái công việc ám hại có chủ đích.

– Quỷ tha ma bắt nó đi!

Huệ cà xong miểng chai, đến đứng trước mặt tôi chờ đợi một phản ứng. Khuôn mặt Huệ vẫn đầy vẻ đanh đá và hiểm ác khi thốt ra câu nguyền rủa độc địa.

– Mày là đồng chí của tao. Phấn, nó là một con quỷ!

Tôi đứng yên như một cái xác chết. Ðứng yên vì sợ hãi cái hành động giết người của Huệ hay vì biểu đồng tình? Tôi cũng không biết rõ. Tôi chỉ biết mình ghét Huệ nhưng không đủ can đảm có một phản ứng nào cả, ngay cả một lời nói. Huệ gật gù tỏ vẻ hài lòng, đưa một bàn tay – cái bàn tay đã cầm cục đá mài khi nãy–  đưa lên vuốt má tôi trìu mến.

– Tao có tranh thủ cất riêng tí đường, nấu bát chè mình cùng ăn.

Nói rồi Huệ quầy quả treo bi đông nước lại chỗ cũ, bước ra xó bếp nhen lửa, bắc nước nấu chè. Với Huệ mối thù đã trả xong. Tôi nuốt chất lỏng ngọt với ý nghĩ mình vừa bán nhân phẩm để đổi lấy bát chè.

Sau hôm đó, thời gian đối với tôi càng trở nên dài hơn. Tất cả ngưng lại, nặng chì ở cây kim giờ đứng yên, cây kim phút không di chuyển và kim giây đánh tích tách, tích tách liên hồi chừng vang xoáy muốn đâm thủng bốn vách hầm. Tim đèn dầu thuờng trực soi bất động thứ ánh sáng vàng khè. Từng chập những tiếng thở ngắt quãng mệt nhọc của Chiến bị bệnh sốt rét hành hạ. Lâu lâu, tiếng chân dồn dập của bầy chuột xạ lại chạy rần rần vang trong khúc đường hầm không người ở. Phấn bắt đầu kêu đau bụng một buổi tối, rên rỉ kêu xót ruột và dạ dày. Tình trạng sức khỏe của Phấn nhanh chóng suy sụp, thường hay bị sốt liên miên và tiêu ra máu. Phấn không còn đi kích với những người du kích nữa, mà nằm liệt trên chiếc võng ny lông, đong đưa kẽo kẹt hai mươi bốn tiếng. Lúc thức, lúc ngủ, Phấn rơi dần vào tình trạng hôn mê bất thường. Ðiều lạ lùng là cả hầm thụ động chứng kiến, không ai biết phải làm gì. Chỉ có Huệ vụt trở  nên thành khẩn, hăng say chăm sóc cho người bệnh. Cặp mắt Huệ long lanh sung sướng mỗi khi được đút cháo cho Phấn. Thái độ đóng kịch sỗ sàng của Huệ chỉ đem đến cho tôi những cơn ác mộng hãi hùng trong giấc ngủ. Tôi thường mơ thấy một bắp chân đứt lìa, một cánh tay lênh láng máu và tiếng thét của Phấn the thé vang vang trong giấc mơ. A! Con Nhật, mày đồng lõa! Lần nào cũng vậy, tôi giật bắn mình choàng tỉnh, người tướp ướt mồ hôi. Căn hầm nóng ngộp hơi đến tắt thở. Chiếc võng nơi Phấn nằm đu đưa như có bàn tay vô hình đẩy. Cây đèn dầu vẫn cháy thoi thóp. Cặp mắt Huệ luôn ở đó, rình mò theo dõi. Và nước ở đâu nhiễu giọt lỏng tỏng, vang vang trong góc hầm. Tiếng động của giọt nước vỡ, được khuếch đại nặng nề như tiếng chân thần chết. Ðêm hay ngày đều kéo lê sự hoang vắng rùng rợn của chính nó. 

* 

Nhưng Phấn không chết như Huệ mong muốn. Chỉ nằm đó, dật dờ oằn oại và lả đi trong bóng tối của căn hầm ngày càng nặng nề âm khí. Xuất sáng không rõ từ lúc nào, thường vọng lên tiếng chửi rủa giữa những người du kích với nhau. Những câu tục tằn, thô bạo gán ghép cho nhau chỉ vì một bi thuốc lào, một xị rượu đế. Giấc trưa và chiều, những khuôn mặt gật gù hạ quyết tâm máy móc. Lực tiếp tục lập đi lập lại phương án chống càn mà chúng tôi đã thuộc nằm lòng. Phản kích, vây ép. Bám trụ, bám chắc. Ðánh chậm, đánh tốt. Bắn trúng, bắn bồi. Kiên trì diệt Mỹ, giải phóng miền Nam. Nhân dân nhớ ơn, miền Bắc chi viện… Một buổi tối, tổ du kích trở về thiếu mất Lập và Tính. Lực lạnh lùng phát âm hai chữ “hy sinh” rồi thản nhiên ra lục cơm nguội. Tôi chợt nhớ có lần Phấn kể, khi công tác những người bị thương đều không được phép mang về hầm, phải linh động xử lý. Thứ nhất chúng tôi không đủ thuốc men để săn sóc người bị thương. Thứ nhì cảnh tượng hấp hối của một đồng chí có thể gây tác hại, giao động tinh thần cho hầm. Phấn đã kể chính tay Lực đã kê súng vào đầu Thọ, khi anh Thọ bị đạn vào đùi không chạy được nữa. Nhớ đến câu chuyện của Phấn, tự nhiên tôi nghĩ đến cảnh Lực linh động giải quyết Lập và Tính. Tôi rùng mình trong xó hầm đen tối. Bất giác tôi quay đầu nhìn về chiếc võng của Phấn, vẫn đu đưa im lìm. Bao giờ thì Lực mới quyết định giải quyết trường hợp của Phấn? Ðứa con gái rõ ràng không còn khả năng chống Mỹ. Khoảng thời gian này, đột nhiên giặc lơi ném bom. Ðã lâu chúng tôi không còn sống cái cảm giác sợ hãi chờ thần chết đến bắt đi trong cơn địa chấn của lòng đất. Làm như con người ta chỉ yêu thương nhau khi kề cận nỗi chết. Từ lúc máy bay địch ít bay qua vùng, tự dưng ở đâu bao tị hiềm nhỏ nhen vụt bật ra trong cảnh sống của hầm Mười Một. Miếng ăn, miếng uống, thư nhà, dè bĩu trong công tác trở thành nguyên do của sự xâu xé. Nhưng trầm trọng hơn là ánh mắt nhìn chằm chằm của đám du kích lên thân thể ba đứa con gái, mỗi khi tụi tôi giăng bạt tắm mưa. Sau lớp vải, bọn con gái chịu đựng âm thầm hàng chục đôi mắt đang nhìn chòng chọc về phía mình.

Chuyện xãy đến cho Nhu như một tiến trình tất yếu. Lần đó Nhu được chỉ định đi giao liên với Trọng. Lúc trở về người Nhu như mất hồn, đôi mắt khiếp đảm và vẻ mặt đau đớn. Chuyện gì đã xãy ra cho Nhu trong khúc đường hầm đen đặc ấy? Xác một “con chuột” –như bọn Mỹ vẫn gọi những du kích đường hầm– chết lâu ngày sình thối bất ngờ ngã đè lên người Nhu? Hay Nhu bị bò cạp cắn? Tôi đỡ lấy Nhu, con bạn gái mà tôi thương yêu nhất, chú thỏ đất của tôi ngã rũ rượi ra chiếu, mắt nhìn nghiêng và đôi môi mím chặt. Nhu cương quyết dấu nhẹm câu chuyện kinh khủng đã xảy đến cho cô, trong tuyến đường ngầm với Trọng. Trọng cũng không giải thích điều gì, tảng lờ coi như không có chuyện. Sau hôm ấy ở Nhu không còn sự tinh anh, tươi tắn, trẻ trung yêu đời của tuổi mười tám. Nhu lầm lì không nói chuyện với ai, câm như hến kể cả với tôi. Giống như Nhu không còn tha thiết với cuộc sống nữa, vì đã đánh mất cái phần quý giá nhất của một con người. Liên tiếp nhiều đêm sau đó, trong giấc ngủ tôi nghe tiếng thở của Nhu trăn trở, gần như phiền não. Làm như trong tiếng thở có sự ẩn ức, nhục nhã không nói nên lời. Rồi một đêm bất ngờ tôi thức giấc. Ở chiếc chiếu kế bên, nơi Nhu nằm, tôi bắt gặp một bóng đen trườn tới, đè lên mình Nhu. Ðứa con gái kháng cự yếu ớt, hai cánh tay của bóng đen săn chắc chống xuống mặt chiếu, một thân hình loang loáng mồ hôi lên xuống nhịp nhàng trên người Nhu. Tiếng thở của bóng đen dồn dập, hào hển. Tiếng thở của Nhu rên rỉ, đau đớn. Căn hầm tắt đèn tối om. Tiếng muỗi vo ve và tiếng cử động nhẹ của hai thân hình chập chờn trên mặt chiếu. Tôi không nhận rõ mặt người du kích, nhưng đoán là Trọng bởi cái lưng chắc khỏe, bả vai cuồn cuộn thịt. Tôi nhìn sững họ ở chỗ nằm. Lần đầu tiên tôi chứng kiến một cảnh tượng như thế. Ðộ năm mười phút thì Trọng rời ra khỏi Nhu, bò về chỗ ngủ. Cái hình ảnh gian díu vụng trộm đó diễn ra hàng đêm, cho tới một hôm tôi chợt khám phá ra không phải chỉ mình Trọng ăn nằm với Nhu, mà là cả nhóm du kích. Vết thẹo giặc chém sâu hoắm trên lưng Lực, nổi ửng một bên đen trong đêm. Tấm lưng trần xương xẩu của Lực cũng lấm tấm mồ hôi chảy nhiễu xuống da thịt trắng tươi của Nhu, luôn luôn nằm thụ động chịu đựng. Ðôi chân khẳng khiu của Vượng, đôi chân ban ngày có nhiều mụt ghẻû lốm đốm, ban đêm duỗi thẳng song song, làm đà chống cho thân hình Vượng vồ vập lấy Nhu. Ngực tôi bị nghẹn, trái tim đập mạnh muốn vỡ tung lồng ngực. Tôi cùng chịu đựng với Nhu hoạt cảnh thô bỉ của mỗi đêm. Thời gian qua Nhu phờ phạc đi trông thấy. Mắt thâm quầng và mặt hốc hác, da xanh mướt. Trong một buổi kiểm thảo, Lực phê bình Nhu thiếu tích cực trong công tác. Nhu ngồi bó gối cúi mặt. Huệ lim dim thích thú và nép sát vào vách trốn tránh. Bầy ruồi đậu trên những bắp chân trần của đám du kích. Những bắp đùi hằng đêm chống trên mặt chiếu của Nhu. Tôi bỗng thấy mình may mắn vì không có nhan sắc. Tôi cũng thấy mình ích kỷ vì không dám lên tiếng bào chữa cho Nhu. Tạm thời họ để yên tôi và Huệ, vì chúng tôi xấu, vì Nhu trẻ đẹp hơn, tất nhiên. Ðêm đó Nhu thở khá lớn, chừng như để chứng tỏ mình tích cực hơn trong công tác. Sáng hôm sau, Lực tỏ ra thỏa mãn, phấn khởi thôi hằn học và lần đầu tiên quyết định cho Phấn biên chế sang hầm bệnh xá, nghe đâu Phấn phải mổ một khúc ruột nhưng sống sót.

Từ lúc Phấn rời hầm, Nhu ít nói như người câm. Tính và Lập hy sinh, hầm Mười Một ảm đạm hơn một nhà mồ. Không ai còn hàn huyên với ai. Chỉ có những câu trao đổi ngắn vì nhiệm vụ, thật vô hồn. Dần dà mọi người biến thành những xác chết biết bò, trườn, chui, len lỏi trong lòng đất. Những cái xác chỉ thật sự sống vào bữa ăn, tranh nhau lùa cơm vào miệng, nuốt chửng khúc cá khô nhanh hơn một con thú. Bình thường trong ngày thì mọi người giam mình vào lớp áo quan riêng, khép kín, nhìn lên trần hầm bằng đôi con ngươi thiếu sự sống. Tôi trực máy nhiều hơn. Tôi xa lánh tập thể xung quanh, muốn nghe thấy một giọng nói khác, của một con người sống đúng nghĩa trên đường dây. Nhưng ở các hầm khác, những mẩu đối thoại rập khuôn tương tự cũng chỉ là những mẩu chết. Chỉ trên đường dây điện đàm của Ngụy là có sinh khí. Tôi thường say mê cắm những cái phích, nghe ngóng rình mò các đường dây liên lạc của Ngụy. Tôi thường hay bắt được cùng một tiếng nói của một người lính. Tiếng nói giọng thành phố còn trẻ, đùa giỡn trên máy. Tôi thích thú theo dõi giọng cười của người lính vang vang sảng khoái, anh ta kể những câu chuyện mà tôi chưa bao giờ được nghe. Người lính có vẻ nghệ sĩ, lâu lâu hát tặng bạn bè trong máy. Bản nhạc lạ, có âm hưởng lúc vui tươi, khi buồn man mác xa vắng, nhưng tuyệt nhiên không có sắt thép và máu trong lời nhạc. Giọng người lính ấm, ngọt ngào bên tai. Ðã từ lâu tôi không còn trình lên Lực những mẩu tin loại này, vì Lực đánh giá tầm phào, không có giá trị quân báo cao. Nhưng rõ ràng mỗi ngày tôi một say mê, trở nên thích thú gần như sung sướng được nghe trộm những câu chuyện trao đổi giữa họ. Một câu chuyện vui, có khi là một chuyện tình được kể với thương yêu bùi ngùi và có khi chỉ là những tâm sự bâng khuâng thao thức của người lính. Nhiều lúc tôi có cảm tưởng người lính đang ngồi ở ngay trên nóc hầm, mở máy truyền tin nói chuyện với bạn bè. Giọng anh ta rõ mồn một. Tôi có ý nghĩ kỳ cục là chỉ cần trổ nóc hầm là tôi có thể trông thấy mặt mũi người lính. Hôm nào trời mưa bão, đường dây bị sấm ù nghe không rõ, hay những hôm người lính lười biếng không lên máy, tôi cảm thấy thật thiếu thốn, bứt rứt chờ đợi trong lòng. Tôi quen giọng nói anh ta đến nỗi, chỉ cần nghe một câu vô thưởng vô phạt là tôi đoán ra được người nói chuyện, đề tài sắp bàn đến. Thường thì người lính kể về thành phố anh ta sống, lớn lên trước khi gia nhập quân đội đánh thuê. Lâu lâu anh ta nhắc về một kỷ niệm cũ, ở góc quán cà phê thơ mộng, hay sau buổi xem hát dưới phố. Ðiều kỳ lạ là trong cái thành phố đó không hề có cảnh đàn áp, áp bức của chính quyền tay sai Mỹ. Cũng không bao giờ tôi nghe người lính nhắc về một cảnh bốc lột nhân dân lao động của thành phần thống trị tư bản. Người lính chỉ nhắc những vòng hoa giấy sặc sỡ màu sắc, một cổng trường trung học tưng bừng phố xá hay về một người con gái nào đó mà tôi đoán là người yêu. Lần lần tôi khám phá ra họ không phải là những tên đồ tể điên cuồng bắn giết như chúng tôi tưởng. Trong những mẩu chuyện của họ, có cái gì đó thật thơ mộng, đôi lúc lãng mạn mà không thể tìm thấy trong câu chuyện của những người du kích. Họ cũng biết chua xót đau đớn cho đất đai bị tàn phá. Tình cảm tôi dành cho người lính nhen nhúm, nẩy sinh đến lúc nào không hay. Có khi tôi có cảm tưởng người lính biết tôi đang rình rập nghe lén anh ta và anh ta trả lời cho tôi nghe.

–      Ông có hiểu vì sao chiến tranh không?

–      Không, nhưng tôi mong chiến tranh chấm dứt, phe mình thắng rồi giải ngũ.

–      Phe nào thắng cũng được, quan trọng là đừng hận thù nữa…

–      Ừ, thôi hận thù, tôi chỉ muốn về dạy học.

–      Ông nhớ cái đêm thằng Nghiêm chết không? Ðưa ma rồi mình ra ngồi ở cái quán có không khí liêu trai, ông bảo tôi hát một bản nhạc vì ông đang nhớ ai đó…

– Ừ, đang nhớ héo hon đây. Ông hát tôi nghe nữa đi.

– Bản gì?

– Gì cũng được.

– Ông nghe tôi hát nhạc Không Tên của Vũ Thành An chưa? Bài có câu đời con gái cũng cần dĩ vãng, mà em tôi chỉ còn tương lai đó?

– Chưa, hát đi.

Người lính của tôi cất tiếng hát. Giọng ấm rung thật truyền cảm. Khi ngân giọng hát khao khao, lúc xuống thấp buồn da diết. Tôi uống từng lời hát, nuốt từng nốt nhạc tây ban cầm. Chưa có ai hát cho riêng mình tôi nghe một bản nhạc trữ tình hay như thế. Thường thường các anh du kích hát tặng chúng tôi trước tập thể, nhưng đều là những bài ca tranh đấu sôi sục, không hề có âm hưởng tha thiết và tình cảm như người lính đang hát. Giọng hát trầm ấm theo đường dây điện đài vào thẳng tim tôi và ngừng ở đó. Trong máy có khoảng im lặng một lúc, rồi người lính chuyện trò trở lại.

– Ðánh nhau mãi, sao hai bên không thương thuyết hoà bình? 

– Biết làm sao, mỗi miền một thân phận.

– Này, ông đã trông thấy các cô du kích giao liên bao giờ chưa?

– Gì?

– Giao liên nữ, nghe nói không khác nữ sinh ngoài phố, tôi ước ao chuyện trò với họ một lần, để hiểu…

–       …

Tiếng rè rè trên đường dây và mẩu nói chuyện ngưng ngang ở đó. Trở về manh chiếu của mình, tôi nằm xuống ngó lên trần và thấy ở đó một khuôn mặt. Tôi cố mường tượng ra người lính Ngụy, không phải với hình ảnh ác ôn mà chúng tôi được học tập, nhưng bằng giọng hát khi nãy còn đeo đuổi bên tai. Ðời con gái cũng cần dĩ vãng, mà em tôi chỉ còn tương lai… Anh ta có biết tôi chưa hề có dĩ vãng? Còn tương lai? Tôi đâu nhận thấy gì ngoài cái trần hầm đen đủi trên đầu mình. Tôi đã sống dưới lòng đất hai năm rồi. Hai năm của tuổi thanh xuân, để đến một lúc nào đó phải làm công tác như Nhu. Người lính có thực sự muốn gặp chúng tôi? Tôi sẽ bắn anh ấy? Và anh ta bắn tôi, ai là kẻ bắn trước? 

* 

ý nghĩ hỗn độn trong đầu tôi. Tim đèn dầu vàng lu. Căn hầm tối thê lương. Ðám du kích sống dật dờ. Một đứa con gái chỉ chực sinh sự, một đứa con gái hiến thân cho Cách Mạng ở nghĩa đen và một đứa con gái chao đảo, tương tư một giọng hát. Không còn những trận bom ác liệt. Không còn những nóng nảy, bồn chồn chờ đợi ngày tổng công kích. Không còn chi hết. Chỉ còn tiếng chân chuột chạy và tiếng động của loài thú sống dưới mặt đất.

12-1987

© Copyright Trần Vũ

“Khô Héo Lá Gan Cây Đỉnh Ngự”

vanchuongviet.fr

Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 2 May 2024

(“Tạo hóa gây chi cuộc hí trường” – BHTQ)

Sự thay đổi của một triều đại thường hiện rõ nhất ở kinh đô. Một tầng lớp tiêu ma, một tầng lớp mới xuất hiện, cảnh tượng như một hí trường, một sân khấu ở rạp hát, một tấn tuồng. Có thể đó là một sự đau lòng, như câu thơ trên của Bà Huyện Thanh Quan, trích trong bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ”, mà cũng có thể là một trò hề, một thằng hề. “Vua chèo còn chẳng ra chi, quan chèo chi nữa khác chi thằng hề.” Đó là nhận xét của Nguyễn Khuyến. Vua chúa thay đổi, các tầng lớp dân chúng cũng thay đổi theo. Điều nầy, xin nói rõ về sau.

Nước ta lần lượt có 3 kinh đô. Hà Nội, Huế và Saigon. Cả ba đều trải qua những thời kỳ đổi thay, bao nhiêu cuộc “hí trường”.

Xin thu gọn một quãng thời kỳ lịch sử gần đây thôi, người ta có thể thấy rõ hơn những gì vua Lê chúa Trịnh (1533-1786), xây dựng ở Thăng Long, làm cho Hà Nội nổi tiếng hơn với cái tiếng đất “Ngàn Năm Văn Vật.” Chế độ nầy tàn lụi dần, mãi đến khi Gia Long đặt kinh đô ở Huế thì vai trò kinh đô của Thăng Long không còn nữa, vua chúa cũng không còn, một tầng lớp quan lại tàn rụi cùng với vua ngai vàng của vua Lê chúa Trịnh.

Nhìn cảnh kinh đô cũ Chu Mạnh Trinh than thở:

… Cung miếu triều xưa giờ vắng ngắt,
Trăng mờ khắc khoải Cuốc kêu thâu
 

Nguyên văn:

… Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu,
Đỗ Quyên đề đoạn nguyệt âm âm.

(Tiêu Đàm dịch)

Huế là kinh đô nước ta thời các vua Nguyễn (1802-1945). Sau khi vua Bảo Đại thoái vị, vai trò kinh đô của Huế cũng không còn. Rồi tới vai trò thủ đô của Saigon sụp đổ năm 1975.

Sự thay đổi của Hà Thành sau khi kinh đô đã được dời vào Huế không có tính chất toàn diện. Ai nặng lòng “hoài Lê” thì lui về ở ẩn. Cũng có người “bó thân về với triều đình” mới ở Huế, cam chịu thân phận “hàng thần lơ láo”.

Sự thay đổi của Huế không phải đến khi vua Bảo Đại thoái vị mới có mà nó đã xảy ra trước đó, sau “thất thủ kinh đô” ngày 5 tháng 7 năm 1885 (23 tháng 5 Ất Dậu). Một tầng lớp ngoi lên trong giới cầm quyền. Họ là ai?

Nhìn chung, cảnh xưa chỉ còn “dấu xưa xe ngựa”, chỉ còn “hồn thu thảo” thì sự thay đổi đó không hoàn toàn triệt để như Hà Nội sau 1954, Huế và Saigon năm 1975.

Trước năm 1954, Hà Nội vẫn còn là đất ngàn năm văn vật, “người Hà Nội” vẫn còn giữ được cái tính chất riêng của họ, cái tính chất bắt nguồn từ trong văn hóa truyền thống dân tộc, nho nhã, thanh tao, lịch sự… dù họ là hậu duệ của các cựu thần nhà Lê hay con cháu các quan tân trào nhà Nguyễn.

Năm 1954, sau hiệp định Genève, trong số gần một triệu người di cư vào Nam, không ít là “người Hà Nội”. Sau đợt di cư đó, Hà Nội trống đi, nhiều nhà bỏ hoang vì người Hà Nội đã “bỏ đi Nam”, nhất là cư dân Hà Nội ở các phố nổi tiếng đẹp và sang. Hà Nội còn lại nhiều gia đình lao động, những xóm nghèo và những ai có con đi kháng chiến, ở lại để đón con từ chiến khu về.

Dưới chính quyền mới, do tính chất “cách mạng triệt để” Hà Nội đông dân trở lại vì một tầng lớp cai trị mới về sống ở thủ đô. Tầng lớp đó xuất thân từ nông dân nghèo khổ, đói rách, theo cách mạng để kiếm tìm một đời sống no ấm hơn. Đó là tầng lớp “Ba Người Khác” của Tô Hoài, của Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Cù Chính Lan, Lê Mã Lương, của thằng Cảnh (xem “Đêm Giữa Ban Ngày”) du thủ du thực và không ít những Chí Phèo, Thị Nở.

Để thay thế vào văn hóa của “người Hà Nội” cũ đã di cư, tầng lớp mới đem theo một văn hóa mới: “Văn hóa vô sản”, văn hóa của “anh hoạn heo” (2), của “anh nông dân mồ côi cha không có miếng đất cắm dùi” (3), v.v…

Vậy thì ngày nay, Hà Nội còn “ngàn năm văn vật” không? “Người Hà Nội” còn không?

Đó cũng là tình cảnh “Saigon mất tên”. “Hòn ngọc viễn đông” với Catinat (Tự Do), Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Gia Long không còn. Gần như toàn bộ quận 1 Saigon nay là “phố Bắc Kỳ 75”. Điều ấy, chắc chắn làm cho “Hòn Ngọc Viễn Đông” mất đi vẻ trong sáng của nó.

Hiểu về Huế như thế nào?

Ngay trước 1975, không ít người hiểu sai về Huế.

Hiểu đúng thì như anh học trò Quảng Nam “Thấy cô gái Huế chân đi không rời”. Cũng trong ý nghĩa đó thì Hoàng Nguyên đã gặp một “Tà áo tím bên giòng Hương Giang”. Dù “tà áo qua cầu, giòng nước trôi cuốn mau” thì Huế vẫn có những tà áo tím khác, với màu sắc đặc biệt mà người ta gọi là “tím Huế”, tím đậm hay tím than… Người con gái Huế được khen là nhu mì, hiền hậu (?). Người đàn ông Huế được khen là khéo léo, khôn ngoan (?).

Nhưng cái thay đổi đích thực của Huế là ở đâu?

Từ khi người Pháp bắt đầu xâm lược đến khi họ đã đặt nền cai trị thì một giai cấp mới đã hình thành ở Huế. Đó là những quan thông ngôn, lính tráng, thầy cai, thầy đội khố xanh, khố đỏ, bồi bếp, “ba-de” (4), phu kéo xe, đánh giày… cho Tây xuất hiện ngày càng đông ở Huế. Người ta cũng không quên các ông quan to, quan nhỏ quay lưng lại với triều đình, với vua, phục tòng cho chủ mới.

Giai tầng mới nầy là những người, nói chung là theo Tây, phục vụ cho Tây. Người Huế có khâm phục họ không? Phục hay không, xin đọc bài thơ sau đây của cụ Phan Bội Châu. Rõ ràng là cụ ngao ngán cho tình cảnh kinh đô khi cụ vào Huế tìm đồng chí:

“Vào thành ra cửa Đông
Xe ngựa chạy tứ tung
Vào thành ra cửa Tây
Sa gấm rực trời mây
Vào thành ra cửa Nam
Áo mũ đỏ pha chàm
Vào thành ra cửa Bắc
Mưa gió đen hơn mực
Dạo khắp trong với ngoài
Đàn địch vang tai trời
Đau lòng có một người!
Hỏi ai? Ai biết ai?

Hoặc tôi xin đơn cử một ví dụ, nói đúng hơn là một kinh nghiệm, tôi đã gặp trong đời.

Tháng 12 năm 1956, trường Quốc Huế kỷ niệm 60 năm. Lúc ấy tôi đang học lớp Đệ Nhị tại trường nầy. Tôi cũng đang cư trú tại xóm Chợ Xép, sát vườn nhà cụ Thị Ngô, còn gọi là cụ Hường Ngô (Trần văn Ngô). Sau lễ được ít lâu, “một hôm, tôi đang ngồi sát cửa sổ, học bài, thỉnh thoảng nhìn ra ngoài trời thì cụ Hường đi xuống nhà cầu, ngang qua cửa sổ tôi, tay vẫn không chống gậy. Khi trở vào, cụ Hường dừng lại bên ngoài, hỏi tôi:

– “Anh học trường Quốc Học?”

Tôi đứng dậy, lễ phép:

– “Thưa cụ, vâng.”

– “Hai đứa cháu nội tôi cũng học ở Quốc Học. Ba nó cũng trường Quốc Học mà ngay chính tôi, cũng là “Cựu Học Sanh” trường Quốc Học.

Tôi nói:

– “Dạ, cháu biết cụ có học Quốc Học. Năm ngoái, lễ kỷ niệm 60 năm trường Quốc Học Ngô Đình Diệm (khoảng thời gian từ 1956 đến 1963, trường có tên như thế -tg-), các cựu học sinh về dự đông lắm. Cháu thấy cụ có đi dự, mặc quốc phục, đi đầu, chung với mấy cụ già, cụ nào cũng chống gậy.”

Tôi nói các cụ già chống gậy là nói một cách tình cờ, thấy sao nói vậy. Cụ Hường, có lẽ nghĩ khác, nên cụ nói:

– “Bữa đó tôi hơi váng đầu, phải chống gậy. Bữa nay thì khỏe rồi.”

Rồi cụ nói tiếp:

– “Tôi học khóa đầu tiên.”

– “Thưa cụ, vậy hả? Chắc hồi đó trường ốc chưa có gì?” -Tôi tò mò hỏi.

– “Hồi xưa, đó là trại lính thủy của Nam Triều.” – Ông cụ giải thích – “Sau khi Pháp đô hộ rồi thì lính thủy Nam Triều bị giải tán, còn lại mấy cái lán không. Cụ Ngô Đình Khả, thân sinh của cụ Ngô bây giờ, nhà ở Phủ Cam, mỗi ngày đi làm việc ở Tòa Khâm Sứ hay trong Đại Nội, tôi không nhớ, ngang qua nơi này, thấy trại bỏ không, mới nảy ra ý kiến dùng làm trường Quốc Học, dạy cho sĩ tử học chữ Quốc Ngữ và chữ Tây (5). Khóa đầu tiên khai giảng năm 1896. Tôi học khóa đó.”

– “Hồi đó cụ thi vô có khó không?” Tôi hỏi.

– “Có thi đâu!” – Cụ Hường trả lời – “thi đậu xong thì bắt học thêm ở trường Quốc Học. Vở với bút chì phải lận dấu trong bụng. May mà mặc áo dài ta nên dấu cũng dễ.”

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– “Sao lại phải dấu?”

– “Ai cũng sợ mang tiếng là theo Tây. Học chữ Quốc Ngữ, chữ Tây là theo Tây, chống lại Triều Đình, chống lại dân mình. Dân người ta thấy, người ta chê cười mình nên phải dấu.”

– “Vậy cụ Ngô Đình Khả đứng ra chủ trương mở trường Quốc Học, không sợ mang tiếng theo Tây sao?” – Tôi lại hỏi.

– “Gốc ông ta làm thông ngôn cho Tây thì sợ mang tiếng gì nữa. Với lại nhiều khi tôi cũng nghĩ, cụ ấy hơn người, nhìn xa thấy rộng, không thể bo bo với mớ chữ Nho xưa mà cứu nước được.

(Cựu “học sanh” Viết Về Huế – 1)

Bấy giờ, Huế có hai thành phần khác nhau: Một là những người cố cựu của triều đình, giữ lòng “trung quân ái quốc”, không chịu hợp tác hay phục vụ cho thực dân Pháp, chính quyền mới. Đang làm quan, họ xin cáo quan về hưu. Một số thi đổ, cử nhân, phó bảng, tiến sĩ, được triều đình bổ ra làm quan, nhưng từ chối làm quan. Rõ nhất là trường hợp các cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Võ Bá Hạp… Một số thì “hàng thần lơ láo”, một số thì cúc cung phục vụ cho chế độ mới, như Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân, Nguyễn Trọng Hợp (đạo Thiên Chúa).

Những người cam chịu phục vụ cho Pháp để bảo tồn vinh hoa phú quí, hợp tác với một số quan lại mới, gốc là thông ngôn cho Tây, có hoặc không theo đạo Thiên Chúa như Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Thái Văn Toản, Bùi Bằng Đoàn, Phạm Khắc Hoè,… Đó là giai cấp mới của Huế, của chế độ thực dân cai trị.

Dĩ nhiên thì Huế có tiếng khóc, tiếng cười… trong tiếng ca của thời Trần Hậu Chủ: “Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa”. Cách giang là bên sông. Trong tình cảnh của Huế bấy giờ, thì giang là sông Hương.

Từ lâu lắm, Huế có một thú chơi, thú giải trí của giới quan lại và người giàu có mà người ta gọi là thanh tao, lịch lãm, có lẽ cũng tương tự thú hát cô đầu của người Hà Nội. Đó là thú chơi đò, thả đò trên sông Hương. Một chiếc đò rộng, trải chiếu hoa, có năm ba nhạc sĩ chơi đàn cò, đàn bầu, đàn nguyệt, đàn tỳ bà… với năm ba ca kỹ nổi tiếng. Họ hòa đàn và ca Huế, qua những bài Nam ai, Nam bình, Bình bán, Kim tiền, Tứ đại cảnh… bên chén trà, bầu rượu của các quan. Đò neo giữa sông hay thả trôi trên sông. Tiếng đàn, tiếng ca vang dội trong đêm vắng.

Cảnh vui chơi đó, từ trước khi mất nước (1885) đã có, mà sau khi người Pháp đô hộ rồi thì nó vẫn như vậy. Thay vào tầng lớp quan lại cũ thì có tầng lớp quan lại mới, hay cũ mới vui hưởng khoái lạc cùng nhau, mặc cho:

Ngẫm xem thế sự thêm rầu,

Ở giữa Đồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi (6)

hoặc:

Một nhà sinh đặng ba vua

Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài (7)

mặc cho phong trào Cần Vương, phong trào Văn Thân đang nổi lên phò vua cứu nước, mặc cho những cuộc khởi nghĩa chống Pháp còn xảy ra đâu đó trong Nam với Nguyễn Trung Trực, Thủ khoa Huân, và ngoài bắc với Vụ Quang, Bãi sậy… đang trong cơn nguy biến, tuyệt vọng, vì binh lính Pháp có sự tiếp tay của các linh mục Thiên Chúa giáo, giáo dân bắn, chém giết lương dân vô tội để cướp nước và để trả thù.

Biến cố lịch sử “thất thủ kinh đô” cùng với cuộc xâm lăng của thực dân Pháp và chống xâm lăng của người Việt, cùng với việc một giai tầng xã hội sụp đổ, tàn rụi, tiêu vong đã tạo nên những nỗi u hoài cho người Huế, nó không chỉ “hoài cổ” như Bà Huyện Thanh Quan, mà chính là nỗi sầu thảm của người dân mất vua, mất nước. Nỗi đau mất vua mất nước làm khô héo lá gan người như cây trên đỉnh núi Ngự Bình, với bao nhiêu giòng nước mắt tràn đầy như nước sông Hương khi cao khi hạ.

Nỗi u hoài không chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn, chỉ trong biến cố năm Ất dậu ở Huế, trong các phong trào nổi dậy đã bị dẹp tan, mà còn tiếp nối trong các đời vua bị lưu đày: “Mười bốn đời vua, bốn kiếp lưu đầy” (8)

Vậy thì nên hiểu người Huế ở đâu, trong “Gẫm xem thế sự thêm rầu” của cuối thế kỷ 19 và trong “Tiếng Xưa” hay “Đêm Tàn Bến Ngự” của giữa thế kỷ 20? Nỗi u hoài đó ở trong “thoảng nghe khúc ca Nam Bình sầu than”, trong “Ai oán cung đàn sầu vọng trần gian” trong “Đời vui chi trong sương gió”, trong sự trách móc “luyến tiếc chi khúc ca Tần Hoài” (9) và dù có muốn tìm lại cái cũ, vua quan hay nền độc lập của đất nước thì đó cũng là chỉ “Tìm trăng, trăng khuất đã lâu”.

Tất cả chỉ là “phai tàn một thời liệt oanh”, là “dư âm thấm đôi giòng châu” với “cung đàn nhỏ lệ Tầm Dương” (10).

Nỗi đau của người Huế khi nghe khúc “Tần Hoài Dạ Bạc” còn thể hiện trong ca dao Huế:

Hầu như những người sinh ra và lớn lên ở Huế đều thuộc lòng hay biết câu ca dao sau đây, nhưng thực ra đó là một phần trong bài thơ của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị:

“Chiều chiều, trước Bến Văn Lâu

Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm

Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông

Thuyền ai thấp thoáng bên sông

Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non”

Nghe bốn chữ “ai” đi liền nhau trong câu thứ hai, người ta hiểu là tác giả muốn ám chỉ vua Duy Tân. Nhà vua thường giả dạng đi câu cá ở hồ Tịnh Tâm hay ở sông Hương để gặp gỡ và bàn bạc công việc khởi nghĩa do nhà vua lãnh đạo.

Cũng trong ý tưởng phê phán “gái đĩ không biết hờn vong quốc” trong thơ của Đỗ Mục, cụ Ưng Bình biết trắng hơn và cũng đau đớn hơn:

Núi Ngự không cây chim ngủ đất

Sông Hương vắng khách đĩ kêu trời.

Sau 1945, Tây sai chặt hết thông trên núi Ngự để Việt Minh không có nơi ẩn núp quan sát thành phố Huế.

Khác với thơ Huế, ca dao Huế không chỉ là tâm trạng của một người mà là của đông người, của người Huế nói chung. Sông Hương là nơi người ta gởi gắm tâm sự nhiều nhứt: Sông Hương có cái “liếc mắt khuynh thành” làm xô lệch cung vàng điện ngọc, sông Hương có bao nhiêu nước thì người ta sầu bấy nhiêu. Trong ý nghĩa đó, nỗi sầu trong lòng người cũng mênh mông như nước sông Hương vậy. Để cuối cùng, cũng chỉ là một lời trách oán những ai quay lưng lại với “nước mất, nhà tan”, phản lại với vua với dân. Những câu ca dao sau đây nói lên ý nghĩa đó.

Bến chợ Ðông Ba, tiếng gà eo óc

Bến chùa Thọ Lộc, tiếng trống sang canh

Giữa sông Hương giợn sóng khuynh thành

Núi Ngự Bình mơ màng trăng gió

Niềm tâm sự ai thấu rõ cho mình

Ðoái nhìn sông Hương nước chảy thanh thanh

Sông bao nhiêu nước, dạ sầu bấy nhiêu !

Ðêm khuya một chiếc thuyền mành ngửa nghiêng

Tiếng hát ngư ông giữa sông Nhật Lệ,

Tiếng kêu đàn nhạn trên áng Hoành Sơn

Một mình em ngồi giữa sông Hương,

Tiếng ca theo khúc đoạn trường ai nghe!

Ðất Thừa Thiên trai thanh gái lịch

Non xanh nước biếc, điện ngọc, đền rồng

Tháp bảy tầng, thánh miếu, chùa Ông

Trách ai hai dạ một lòng

Tham đồng bạc trắng phụ lòng dân đen !

Dư âm còn lại!

Không ít người phê phán về cái tính tự cao của người Huế. Nhiều người cứ tưởng mình là “con ông cháu cha”, “con giòng cháu giống”, là “dòng dõi vua quan”, là người hiểu cao thấy rộng, tư cách đạo đức hơn người.

Cách đây lâu lắm, tôi có đọc một truyện ngắn của ông Phan Du, nói về một người đàn bà thường say sưa rượu chè. Uống rượu say sưa, đối với người đàn ông đã là một điều sai, huống chi với một người đàn bà. Tuy nhiên, khi say rượu, sợ bị người đời phê phán, bà thường bảo vệ cái xấu của mình bằng mấy câu ca dao Huế:

Say như ta là say nghĩa say dơn (nhơn)

Say thơ Lý Bạch, say đờn Bá Da (Nha)

Đó là sự ngụy biện để bảo vệ cái xấu của mình, không thiếu trong một số người Huế.

Người Huế cũng thường tự hào về cái cao sang, lịch lãm của họ. Tôi từng gặp một trường hợp đau đớn về cái cá tính tự hợm mình của họ. Tôi đi ăn kỵ (giỗ) tại nhà của một người bác. Bữa kỵ nấu chay, theo phong tục của nhiều người Huế theo đạo Phật. Vào bàn, tôi gắp từng miếng đồ ăn bỏ vào chén của mình. Bà chị con ông bác đứng nhìn, thấy vậy, bèn giành lấy cái chén trên tay tôi, vừa gắp nhiều món ăn, trộn chung với nhau trong chén, đồng thời bảo tôi:

– “Ăn chay là phải ăn như ri nì.” Rồi chị ấy nói tiếp bằng một câu đầy lòng nhân ái: “Tội nghiệp nó không biết ăn chay đến nơi!”

Ấy là nói khéo rằng tôi quê mùa vì tôi sinh đẻ ở Quảng Trị. Chê người khác quê mùa bằng một câu nói “rất thương người” như vậy đấy.

Tuy nhiên tôi vẫn hiểu người Huế theo một cách khác. Năm 11 tuổi, khi người anh cả của tôi là Hồng Quang, làm chủ báo Ý Dân ở Huế, bị Tây bắt bỏ tù, tôi thường vào Huế ở lại nhà bà con ở đường Ô-Hồ (đường Võ Tánh sau nầy) để đi thăm nuôi ông anh cả. Những ngày được đi thăm, vì phải đi bộ tôi dậy lúc 5 giờ để kịp có mặt lúc 7 giờ sáng trước lao Thừa Thiên (trước Tòa Đại biểu Chính phủ) để đưa đồ thăm nuôi vào. Cũng bà chị nói trên phải dậy lúc 4 giờ hơn để nấu một nồi xôi nhỏ, bắt tôi phải ăn chút ít, vì sợ đi sớm, bụng đói, dễ bị cảm gió. Đó cũng là một tình người, ít nơi nào có được.

Tôi có người chị bà con họ bên ngoại. Chị từng là học sinh trường Đồng Khánh, em chị, trung tá Biệt Động Quân Phan Văn Cẩm, cả hai chị em gọi vua Thành Thái bằng ông ngoại. Có nghĩa rằng mẹ của họ là một công chúa (con vua Thành Thái) và thân phụ là một bác sĩ, phò mã. Vậy mà chẳng thấy họ khoe khoang về dòng dõi gia tộc bao giờ.

Cũng trong thời gian ấy, một ngưòi bạn học ở Huế, cùng một tuổi như tôi, dẫn tôi vào Mang Cá nhỏ. Anh ta chỉ một cái nhà nhỏ, hình vuông, nóc bằng, xây gạch, mỗi bề chưa quá 3 thước, xây sát bờ tường Mang Cá, nói với tôi rằng vua Hàm Nghi khi bị Tây bắt ở Đồng Hới đem về, bị giam ở đây. Nhà vua không chịu nhận mình là vua Hàm Nghi. Bọn Tây chơi trò xỏ lá, tự nó biết hay một ông quan theo Tây nào đó, bày mưu cho Tây, đưa thầy dạy học của vua Hàm Nghi là ông Nguyễn Nhuận vào thăm. Khi thấy thầy học vào, tức thì vua Hàm Nghi đứng dậy chào. Đứng dậy chào thầy cho đúng lễ Quân Sư Phụ, tức là vua Hàm Nghi vô tình bị mắc lừa, tự nhận mình là vua. Sau cái trò xỏ lá đó, biết mình bị gạt, vua Hàm Nghi mới nhận rằng ông là vua. Người Huế thường biết giữ đạo Thầy Trò như thế, và cũng không ít người, sau khi đỗ đạt, tự thấy mình cao hơn thầy.

Tuy nhiên, điều tôi suy nghĩ chính là điều bạn tôi biết về vua Hàm Nghi. Một đứa bé 11 tuổi, có thể học qua về lịch sử Pháp xâm lược nước ta năm Lớp Nhất, nhưng do đâu mà nó biết rõ về vua như thế, biết chỗ vua bị giam và về cả cái trò xỏ lá của Tây như thế? Điều đó không phải tình cờ, không ngẫu nhiên chút nào.

Dân Huế, vì là chốn kinh đô, tận mắt chứng kiến sự ngang ngược của De Courcy, khi y buộc triều đình Huế phải để cho đoàn tùy tùng cùng đi với y vào cửa chính Ngọ Môn, trái với luật lệ của triều đình Huế, cùng với dã tâm cướp nước của chúng, cũng như sự tàn ác khi chúng phản công giết hại binh lính triều đình và hàng ngàn dân thường chết chôn chung trong những hố tập thể. Dấu tích còn lại ở đường Âm Hồn, nơi có mồ tập thể tên là miếu Âm Hồn. Bên cạnh đó, còn có biến cố “Tứ nguyệt tam vương”, còn việc phế truất vua Thành Thái, việc khởi nghĩa của vua Duy Tân thất bại, vua phải đi trốn, việc xử trảm hai ông Thái Phiên và Trần Cao Vân ở bãi chém An Hòa. Những biến cố đó khích động và làm người Huế đau lòng không ít, khiến cho một đứa bé 11 tuổi như người bạn tôi, thừa hưởng nỗi đau đó của cha ông, khiến nó phải nhớ tới sự tích các ông vua bị bắt và bị lưu đày.

Nguời Huế cũng đau lòng trước những kẻ phản vua, quay lưng với triều đình, cúi đầu thờ lạy ông chủ mới mắt xanh mũi lõ, và cả những linh mục, giám mục, người có đạo Thiên Chúa tiếp tay cho công cuộc xâm lăng của người Pháp, tàn sát dân lành, đánh dẹp các phong trào Cần Vương, phong trào Văn Thân.

Nhìn vấn đề rõ ràng và cụ thể như thế người ta sẽ hiểu tại sao sự xung khắc, mâu thuẫn giữa những người dân Huế theo đạo Phật và theo đạo Thiên Chúa gay gắt hơn bất cứ nơi nào khác trên lãnh thổ nước ta.

Theo tôi, không nên hiểu người Huế của thời kỳ sau khi vua Bảo Đại thoái vị. Hãy nhìn xa hơn chút, từ trong nỗi u hoài của “cây khô đỉnh Ngự”, trong “giọt lệ sông Hương”. Nỗi u hoài của việc mất vua, mất nước, của phong trào Cần Vương, phong trào Văn Thân.

Nỗi đau đó kéo dài qua nhiều thế hệ, từ cuối thế kỷ 19 đến thế kỷ 20, đã trở thành truyền thống đấu tranh của Huế, muốn dựng lại một nền độc lập, một nền tự chủ đã bị cướp mất.

Nỗi đau mất vua, mất nước kéo dài qua nhiều thế hệ cũng tạo cho người Huế có tinh thần đấu tranh cũng kéo dài qua nhiều thế hệ. Nhìn lại một quảng thời gian ngắn ngủi một trăm năm đô hộ giặc Tây, người Huế không bao giờ ngưng những cuộc đấu tranh, trong triều đình cũng như ngoài dân dã.

Sau thất thủ kinh đô là phong trào Cần Vương, phong trào Văn Thân. Một cuộc đấu tranh tiêu cực bất hợp tác với người Pháp của giới sĩ phu kéo dài hàng chục năm. Mãi đến khi quân đội Thiên Hoàng đánh bại hạm đội Hắc Hải của Nga Hoàng ở eo biển Đối Mã, người dân Huế cùng cả nước thức tỉnh trước cơn mê thủ cựu, để nghe lời cụ Phan mà hát câu: “Dậy! dậy! Mở mắt xem toàn châu, Đèn khai hóa rạng khắp hoàn cầu…” Trong triều thì vua Thành Thái, Duy Tân chống Pháp, trong dân chúng nổi lên phong trào Duy Tân, theo cụ Phan Bội Châu chống Pháp tích cực hay theo đường lối “Pháp Việt đề huề” của cụ Phan Châu Trinh. Huế bao giờ cũng đứng hàng đầu, hàng nhì trong phong trào chống thuế, đám tang cụ Phan Chu Trinh (1925) hay công cuộc xin phá án cho cụ Phan Bội Châu. Bên cạnh các đấng Nam Nhi, không thiếu gương phụ nữ với Lê Thị Đàn (bà Ấu Triệu), Trần thị Như Mân, Hoàng thị Vệ, Đào thị Xuân Yến… những nguời tham gia phong trào xin phá án cho cụ Phan.

Trong khoảng thời gian mất vua, mất nước, Huế có nhiều phong trào đấu tranh xảy ra, liên tiếp. Trong triều thì hai ông vua bị lưu đày qua châu Phi vì “can tội” chống thực dân Pháp, một ông vua trốn qua Nhựt Bản. Ngoài dân chúng thì sau phong trào Cần Vương, đến phong trào Văn Thân, phong trào Duy Tân, phong trào chống thuế, đám tang cụ Phan Chu Trinh, rồi các đảng phái hình thành. Đảng phái Quốc gia hay Cộng Sản, hồi ấy chỉ có môt mục đích là chống Pháp giành độc lập, chứ chưa chắc người Huế tham gia phong trào nầy đảng phái kia là vì chủ nghĩa: chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Văn hay chủ nghĩa Cộng Sản của Marx.

Hoàn cảnh Huế khác với các nơi khác vì hành động ngang ngược, hung hãn, xâm lăng và tàn ác diễn ra hàng ngày trước mắt người Huế. Các nơi khác, chỉ nghe nói lại, thậm chí có khi không biết tới nữa. Tình cảnh của kinh đô lúc bấy giờ làm cho người ta căm tức, oán giận, bất mãn. Chính những tình cảm đó tạo nên tinh thần đấu tranh của người dân Huế. Trong viễn tượng đó, những cuộc đấu tranh ở Huế là liên tục, trở thành một truyền thống.

Chính cái truyền thống đấu tranh đã xô đẩy người Huế đi theo nhiều con đường khác nhau: Tinh thần độc lập dân tộc, thiên hữu, thiên tả, thậm chí thiên Cộng và cuối cùng là những người cực đoan đi theo Cộng Sản để đến tết Mậu Thân thì từ trong rừng sâu cầm súng về Huế bắn giết, chôn sống người dân Huế để trả thù, trả thù cho ai thì không ai hiểu, ngoài cho cá nhân họ.

Những biến cố lịch sử đau đớn làm cho người Huế có tính cực đoan. Theo và chống bao giờ cũng kịch liệt, gay gắt. Biểu tình và chống biểu tình, đấu tranh và chống đấu tranh làm phân ly người Huế khá nhiều và khá đau lòng.

Dĩ nhiên ngày nay, truyền thống đó đã hết, vì nỗi u hoài của người Huế cũng bị mờ nhạt dần đi. Và bao nhiêu người đã bỏ nước ra đi, với lòng oán hận chế độ mới hơn là những nỗi đau cũ. Cũng có những người “khôn khéo”, biết lợi dụng tinh thần chống Cộng của người dân Huế ở trong nước cũng như hải ngoại, để quay mũi dùi thù hận vào những người thiên tả, vào Phật tử, vào sư sãi, vào đạo Phật, cho rằng chính những người nầy, tôn giáo nầy đã tiếp tay cho việc Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam.

Còn gì nữa đâu!!!

Huế ngày nay còn gì đáng nói chăng, thay vào nổi u hoài xưa cũ là một nỗi hân hoan mới, hân hoan của những kẻ đã giành lại được Huế vì chính cha ông họ phải trốn chạy khỏi kinh thành trong “Giặc Chày Vôi” (11), của con cái ông chủ vựa cá ở làng chài nghèo khổ Gia Đẵng (12), hay con cháu của “tiệm cầm đồ” mụ Thái ở phía trong cửa Đông Ba. Ít khi người ta cho rằng chủ tiệm cầm đồ là người dầy lòng nhân ái. Cũng như nỗi thất chí của những người mà cha ông họ tàn lụi cùng với sự tàn lụi của ngai vàng nhà Nguyễn. (13)

Trong ý nghĩa đó, với những người yêu Huế chân thật, sẽ tự hỏi: “Thuyền ơi đưa ta tới đâu”, vì khi họ “tìm trăng trăng khuất đã lâu”. Mặc dù, vẫn còn đó, những “gái đĩ không biết hờn mất nước” đêm đêm xuất hiện trên những chiếc đò sông Hương.

♣ ♣ ♣

(1) “Con ôi, ruột mẹ ngấu như tương
Bảy nổi ba chìm xiết thảm thương.
Khô héo lá gan cây đỉnh Ngự,
Ðầy vơi giọt lệ nước sông Hương
Quê người đành gởi thân trăm tuổi,

Ðất tổ mong vì nợ bốn phương.
Mẹ cũng trông mau rồi một kiếp
Ðể cho vẹn nỗi mối cang thường.”
(năm 1919)

Ðây là bài thứ 4 trong 10 bài Khuê Phụ Thán của Thượng Tân Thị. Thượng Tân Thị là bà hoàng phi Nguyễn thị Ðịnh, thân mẫu của vua Duy Tân đã khóc thân nhân mình trong hoàn cảnh cùng chồng và con đi đày ở đảo Réunion, thuộc địa Pháp ở Phi Châu năm 1916, ít lâu sau bà từ giã vua Thành Thái và Duy Tân để trở về cố đô.

Tuy nhiên theo Bùi Thụy Đào Nguyên thì Thượng Tân Thị, tên thật: Phan Quốc Quang (1878-1966), tự Hương Thanh, biệt hiệu: Hoài Nam Tử, Thượng Tân Thị; là một nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. Ông là tác giả mười bài thơ nổi tiếng có tên chung là Khuê Phụ Thán. Thượng Tân Thị, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1879 tại làng Lại Nông, thuộc phủ Thừa Thiên (Huế). Cha, không rõ họ tên, chỉ biết mẹ ông là Tôn nữ Thị Xuân.

Sớm giỏi thi phú, nhưng ông đi thi Hương mấy lần đều bị hỏng. Khoảng năm 1916, buồn vì công danh lận đận, vì nạn nước (hai vua: Thành Thái, Duy Tân đều bị thực dân Pháp đày sang đảo Réunion), thêm buồn vì mẹ mất và gia đình ly tán, ông bỏ xứ theo ghe bầu vào Nam.

(2- 3)- Ai chẳng biết đây là Đỗ Mười, kế là Lê Đức Thọ (Xem “Đêm Giữa Ban Ngày” của Vũ Thư Hiên).

(4) Ba-de, nói trại chữ Paniers của tiếng Pháp là rổ rá, có nghĩa là bọn bồi xách rổ rá cho các bà đầm đi chợ. Bọn nầy ỷ vào thế chủ Tây, tỏ ra mất dạy với dân chúng. Do đó, “ba-de” cũng có nghĩa trong tiếng Việt là bọn mất dạy, vô giáo dục.

(5)- Ai mở trường Quốc Học?

Vua Thành Thái là người có tư tưởng duy tân, tiến bộ, có ảnh hưởng đến con ông là Vĩnh San, sau nầy lên ngôi lấy hiệu là Duy Tân. Nhà vua chủ trương phải tiếp xúc với thế giới văn minh, buộc các quan hậu bổ phải học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Chính nhà vua ra lệnh cho ông Ngô Đình Khả can thiệp với nhà cầm quyền Pháp dùng trại lính thủy để mở trưòng Quốc Học, chọn ông Ngô Đình Khả làm chưởng lý, khiến nhiều người lầm tưởng ông Ngô Đình Khả là người dựng nên ngôi trường nầy.

(6) Gẫm xem thế sự thêm rầu
Ở giữa Đồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi

Ở giữa, tức là kinh đô Huế, hai đầu là Nghệ Tĩnh và Nam Ngãi, nơi hoạt động của phong trào Cần Vương và Văn Thân.

(7)- Vua Hàm Nghi – tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, là con trai thứ 5 của Kiến Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Phan Thị Nhàn, em ruột của Nguyễn Phúc Ưng Kỳ (tức vua Đồng Khánh) và Nguyễn Phúc Ưng Đăng (tức vua Kiến Phúc). Sau khi vua Kiến Phúc bị đầu độc chết, ông được Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đưa lên ngôi, lấy hiệu năm là Hàm Nghi.

Ông không phải là con nuôi của vua Tự Đức (1829–1883) nên không được kế vị. Sở dĩ ông được chọn làm vua vì còn nhỏ tuổi, vả lại lúc đó khó tìm được người hoàng tộc đủ điều kiện để làm vua. Lẽ ra Nguyễn Phúc Ưng Kỳ được nối ngôi, nhưng ông này không được lòng Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết.

Ngày 23-5-1885, Tôn Thất Thuyết đánh úp quân Pháp tại kinh thành nhưng thất bại nên phải bỏ kinh thành về Tân Sở (thuộc huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị) lập chiến khu. Chính tại đây vua Hàm Nghi đã ban chiếu Cần Vương tổ chức chống Pháp cứu nước. Nhân dân cả nước đều hưởng ứng. Lực lượng nghĩa quân đã gây nhiều thiệt hại cho quân Pháp.

Ngày 26-9-1888, ông bị Trương Quang Ngọc phản bội bắt về nộp cho Pháp. Sau đó Pháp đưa ông về Thuận An, rồi đưa lên tàu Biên Hoà đày sang Algérie. Các cận thần của ông kẻ bị Pháp bắt, người trốn vào rừng tổ chức nghĩa quân tiếp tục kháng chiến, Tôn Thất Đạm uống thuốc tự tử trong chiến khu.

Vì cả ba anh em ông đều làm vua, nên dân gian hồi đó có câu hát:

Một nhà sinh đặng ba vua,

Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài

(Vua còn là vua Đồng Khánh, vua mất là vua Kiến Phúc, vua thua tức vua Hàm Nghi).

(8) Mười ba đời vua chính thức: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và Bảo Đại. Các vua bị lưu đầy sang châu Phi là Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân và ông vua không ngai vàng là Cường Để, lưu vong ở Nhựt.

(9) Tần hoài Dạ Bạc:

Trần Hậu Chủ (583-587) tên Trần Thúc Bảo, là một ông vua nổi tiếng tài tử phong lưu. Hậu cung lúc nào cũng có hàng ngàn mỹ nhân tuyệt sắc. Trong số đó có hai nàng là Khổng Quý Tần và Trương Lệ Hoa được nhà vua sủng ái.

Suốt đêm ngày, Trần Hậu Chủ bỏ cả việc triều chính, say sưa bên cạnh Trương Lệ Hoa, Khổng Quý Tần và những mỹ nữ ca hát bên tiệc rượu làm cho đất nước suy đồi.

Tùy Văn Đế (589-617) thừa dịp nhà Hậu Trần suy vi, sai tướng Lý Uyên và Dương Tố đem quân sang vây Đại Thành. Giữa lúc ấy, Trần Hậu chủ còn đương say khướt trên lầu Kết Ỷ. Quân Hậu Trần chạy tán loạn. Về Trần Hậu chủ, có sách nói là được cứu sống, nhưng sau thấy quân sĩ giết mấy hai nàng Khổng, Trương nên buồn rầu, sinh bịnh nhớ thương mà chết.

Đỗ Mục, một thi hào nổi tiếng đời nhà Đường (618-907), nhân một đêm ghé thuyền trên bến Tần Hoài, gần một quán rượu. Bấy giờ trong quán, khách còn đang say sưa ăn uống, bên cạnh những ả buôn son bán phấn hát xướng để mua vui cho khách. Lắng nghe giọng hát réo rắt bên kia sông đưa sang, Đỗ Mục xúc cảnh sinh tình:

Yên lung hàn thủy, nguyệt lung sa,

Dạ bạc Tần hoài cận tửu gia.

Thương nữ bất tri vong quốc hận,

Cách giang do xướng “Hậu Đình Hoa”.

Dịch thơ:

Khói bay, nước lạnh, khói trăng pha,

Thuyền đậu sông Tần cạnh Tửu gia.

Hận nước gái buôn không biết rõ,

Cách sông còn hát “Hậu Đình Hoa”.

(Bản dịch của Quốc Ấn)

(theo Wiki)

(phần tg thêm vào):

Thuyền Đậu Sông Tần Hoài
Khói trùm nước lạnh, trăng lồng cát;
Thuyền đậu Tần Hoài, cạnh tửu gia.
Cô gái không hay buồn nước mất,
Bên sông còn hát Hậu Đình Hoa

Có người dịch “thương nữ” là “gái đĩ”:

“Gái đĩ không hay buồn mất nước.”

Trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều cũng có câu:

Vườn Tây Uyển khúc trùng thanh dạ,

Gác Lâm Xuân điệu ngã Đình Hoa.

Thừa ân một giấc canh tà,

Tờ mờ nét ngọc, lặp lòe vẻ son.”

(10) “Nhỏ lệ Tầm Dương”.

Điển tích:

Lời tựa của Bạch Cư Dị:

“Năm Nguyên Hoà thứ 10, ta về giữ chức Tư Mã ở quận Cửu giang. Qua mùa thu năm sau, đêm ra tiễn khách bên bến sông Bồn, chợt nghe thuyền ai có tiếng đàn Tỳ Bà vọng lại. Nghe trong tiếng đàn thánh thót, âm vang điệu nhạc ở kinh đô. Bèn hỏi gốc gác. Người đàn trả lời rằng: “Tôi vốn là con hát, quê ở Trường An, học đàn Tỳ Bà với hai danh sư Mục và Tào. Nay tuổi đã cao, nhan sắc tàn tạ, lấy chồng làm con buôn thường theo thuyền buôn đi đây đi đó. Nghe vậy, cho dọn rượu ra đãi, xin nàng đàn lại cho nghe. Ðàn xong cảm xúc vô vàn, nàng bèn kể lại cuộc đời mình từ lúc còn trẻ, vui sướng, cho tới lúc lưu lạc giang hồ khổ nhọc. Ta về đây làm quan đã được hai năm, thanh thản, yên ổn. Hôm nay nghe nàng nầy nói chuyện, cảm thương cho số phận lưu đày! Bèn làm một bài thơ dài tặng nàng ta, gồm 616 lời, gọi là Tỳ Bà Hành.”

Bốn câu cuối trong Tỳ Bà Hành là:

“Thê thê bất tự hướng tiền thanh
Mãn toạ trùng văn giai yểm khấp
Toà trung khấp hạ thùy tối đa
Giang châu Tư Mã thanh sam thấp”

Phan Huy Vịnh dịch như sau:

“Nghe não nuột khác tay đàn trước,
Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi.
Lệ ai chan chứa hơn người?
Giang châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.”

Tác giả ghi chú thêm:

Chỗ sông Bồn, nơi Bạch Cư dị đưa khách là bến Tầm Dương (Hai câu đầu của Tỳ Bà Hành là: “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách, Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu”

Bốn câu cuối tả tâm trạng của Tư Mã Bạch Cư dị cũng như người đàn bà ca kỹ, cả hai đều cảm cái thân phận lưu đày, trôi nổi của mình và cùng khóc.

Bản tiếng Nôm do Phan Huy Vịnh dịch. Có nhà phê bình văn học cho rằng bản dịch của Phan Huy Vịnh hay hơn cả bản Hán văn của Bạch Cư dị.

(11) Giặc Chày Vôi chính là sự Phản nghịch ở kinh thành. Sử chép:

5.- Sự phản nghịch ở Kinh Thành

Việc ngoài bác mới hơi nguôi nguôi, thì Kinh đô lại có việc làm cho náo động lòng người.

Nguyên vua Dực Tông là con thứ mà được nối ngôi, là vì người anh ngài là Hồng Bảo, phóng đãng, không chịu học hành cho nên không được lập. Ông ấy lấy điều đó làm tức giận, bèn mưu đồ với một nước ngoại quốc để tranh ngôi vua. Chẳng may sự lộ ra, ông ấy phải bỏ ngục, rồi uống thuốc độc mà chết. Còn con ông ấy thì được tha mà phải đổi tên là Đinh Đạo.

Đến năm Bính Dần, là năm Tự Đức thứ 19, nhà vua đang xây Vạn Niên Cơ tức là Khiêm Lăng bây giờ, quân lính làm lụng khổ sở, có nhiều người oán giận. Bấy giờ ở kinh thành có Đoàn Trưng cùng với em là Đoàn Hữu Ái, Đoàn Tư Trực và bọn Truơng Trọng Hòa, Phạm Lương, kết làm “Sơn Đông thi tửu hội”, để mưu việc lập Đinh Đạo lên làm vua. Bọn tên Trưng mới chiêu dụ những lính làm ở Vạn Niên Cơ và cùng với quan hữu quân Tôn Thất Cúc làm nội ứng định ngày khởi sự.

Đến hôm mồng 8 tháng 8, bọn tên Trưng đem quân vào cửa tả dịch, chực xông vào giết vua Dực Tông. May nhờ có quan chưởng vệ Hồ Oai, đóng cửa điện lại, hô quân bắt được tên Trưng, tên Trực và cả bọn đồng đảng.

Đinh Đạo phải tội giảo. Tôn Thất Cúc thì tự vẫn chết, còn các quan có trách nhiệm đều phải chiếu tội nặng nhẹ, hoặc phải cách.

(Việt Nam Sử Lược – tập 2. trang 272)

Theo dư luận ở Huế, cháu chắt Đoàn Trưng, Đoàn Trực sợ liên lụy, bèn bỏ Huế chạy trốn, một số về Truồi, phía nam Huế; một số ra Hương Cần, phía bắc Huế, đổi thành họ Lê. Con cháu họ Lê ở Hương Cần, theo như người Huế nói, có ông Lê Văn Khương, đại tá Không Quân VNCH, ông Lê Van Lâm, tác giả sách lý hóa đệ nhị, ông Lê Văn Bang, thiếu tá Không Quân VNCH… Điều nầy, tôi chỉ nghe đồn chớ có được đọc gia phả của họ đâu mà biết chắc!

Họ Lê ở Truồi, chính là ở làng Bàn Môn, huyện Phú Lộc (sau nầy đổi thành Vinh Lộc) là họ của Lê Đức Anh. Khi Lê Đức Anh làm tổng bí thư đảng Việt Cộng, có người nói: “Lê Đức Anh là con cháu tên phản nghịch, nay làm trùm đảng cướp. Giòng nào giống đó! Có chi mà thắc mắc?”

Anh em Lê Đức Anh học hành không tới nơi. Người anh có tiệm đại lý gạo ở Hàng Bè, tiệm gì “… Lợi” đó, tôi không nhớ. Chủ tiệm nầy là bố trung tá hải quân trung tá Lê Kim L. của VNCH. Có lẽ nhờ là cháu Lê Đức Anh, ông trung tá nầy đi “tù cải tạo” chỉ 4 năm rưởi thì được tha ra. Như người ta thì cũng phải ngồi gở trên mười cuốn lịch. Ông hải quân trung tá Lê Kim L. qua Mỹ theo “diện” HO.

Lê Đức Anh, mới đậu bằng “Sơ học yếu lược” (lớp ba), rời quê vào Nam tha hương cầu thực, làm cặp rằng ở đồn điền cao su Phú Riềng. Việc nầy nhiều người biết, xin khỏi bàn thêm.

(Trích “Chuyện bên lề lịch sử, cùng tác giả)

(12)- Đoàn Khuê tên thật là Trần Bá Khuê, quê ở làng Gia Đẵng, phủ Hải Lăng tỉnh Quảng Trị, làng làm nghề đánh cá biển, chỉ có đất cát, không có ruộng nương gì, làng nghèo nhứt của tỉnh nghèo nhứt nước ta. Tuy nhiên, cha mẹ ông Trần Bá Khuê (Đoàn Khuê) không nghèo, nhờ làm nghề “đầu nậu” (mua tôm cá của ngư phủ rồi bán lại, và làm nghề cho vay cắt cổ khi tới mùa biển động, ngư dân không đánh cá được, đến mùa cá thì trả bằng cá đánh được, cả vốn lẫn lời. Hai anh em ông Đoàn Khuê, Đoàn Mại (tức Trần Bá Mại, hoạt động nằm vùng ở miền Nam trước 1975) được đi học chứ không dốt chữ như toàn bộ dân làng Gia Đẵng. Xong tiểu học ở “École Primaire de Quangtri” (tên trước 1945, tức là trường tiểu học Quảng Trị) thì vào Huế ở với mẹ đẻ (vợ hai của cha). Bà nầy mở tiệm cầm đồ trên đường Đông Ba (Mai Thúc Loan), gần miếu Âm Hồn, không chưng bảng hiệu, dân chúng thường gọi là “Tiệm cầm đồ “Mụ Thái”). Năm 1945, cả hai anh em theo Việt Minh.

(13) Hoàng Phủ Ngọc Tường thuộc dòng dõi Hoàng Hữu Bính, làm quan triều Nguyễn. Vì nhà Nguyễn suy tàn nên dòng họ Hoàng Hữu nầy cũng tàn theo. Bố của Tường học chữ Nho không tới, chữ Quốc ngữ không thông, nên xin học và làm y tá ở bệnh viện Quảng Trị thời kỳ bác sĩ Phan Văn Hy làm giám đốc bệnh viện ở đây. Lương y tá thì nhỏ, sống nhờ của cải tổ tiên để lại, ngày càng nghèo đi nên thất chí, bất mãn. Việc ấy ảnh hưởng đến tâm tính các con ông.

Phụ lục: Thăng Long thành hoài cổ – Bà Huyện Thanh Quan

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương.

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ.

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường

Đêm tàn Bến Ngự – Dương thiệu Tước:

Tiếng Xưa – Dương Thiệu Tước

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là hậu duệ danh sĩ Dương Khuê đời Tự Đức (1829-1883) hiệu Vân Trì. Tục gọi ông là Nghè Vân Đình vì ông quê ở làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông, nay là thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội. Ông là cháu nội của cụ Đốc học tỉnh Sơn Tây Dương Đức Ứng, húy Thụy, con cả cụ Đô ngự sử Dương Quang, anh ruột là Dương Lâm.

Ông văn hay chữ tốt, đỗ cử nhân lúc ngoài 20 tuổi. Ông vào kinh thi Hội bị hỏng khoa đầu, nhân được Tùng Thiện Vương (Nguyễn Phúc Miên Thẩm) mời về nhà dạy con cháu học, ông nán ở lại chờ khoa sau.

Năm Mậu Thìn (1868), ông đỗ tiến sĩ lúc 29 tuổi, được bổ làm Tri phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương rồi thăng dần chức Bố chính. Khi quân Pháp xâm lược nước ta, ông dâng sớ bàn phải quyết liệt chống Pháp nhưng vua Tự Đức xem sớ phê là “Bất thức thời vụ”, rồi giáng làm Chánh sứ Sơn phòng, trông nom việc khai hoang.

Mấy năm sau, thăng làm Án sát tỉnh Hải Phòng, lại bị cách chức lần nữa trở ra Sơn Phòng như trước.

Được vài tháng lại bổ làm Đốc học Nam Định, rồi thăng làm Bố chính. Đến đời Thành Thái ông giữ chức Tham tá Nha kinh lược Bắc Kì, Sau đó làm Tổng đốc Nam Định, Ninh Bình. Về hưu, ông được tặng hàm Thượng thư bộ Binh. Ngày 6-3-1902, ông mất, hưởng thọ 63 tuổi.

Thơ văn ông được truyền tụng hầu hết là những bài hát nói, đặc sắc hơn cả là bài “Đề: Động Hương Tích.”

Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, (báo chí Mỹ gọi bà Bomb Lady) thuộc dòng dõi họ Dương nầy!

Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương thượng thư.

(Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê)

Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

Cùng là hậu duệ các quan, nhưng xem ra, với hai bài hát trên, người ta hiểu, quí trọng và yêu mến nhạc sĩ Dương Thiệu Tước nhiều, vì ông là người có tâm hồn, biết rung cảm, xuc động trước nỗi đau của Huế, nói riêng và dân tộc, nói chung, khác xa với anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường những con người đầy lòng thù hận.

Chùa Phật Lồi

Kể Chuyện Quảng Trị “Tui”

vietvanmoi.fr

Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 2 May 2024

1./ Mới đây, xem trên Youtube, tôi thấy ông Lê Mạnh Thát nói chuyện “Phật Giáo đời Hai Bà Trưng”. Câu chuyện làm “tui nhớ Quảng Trị tui”, thời tui còn thơ ấu, tức là thời “Tây qua giăng giây thép”, tàu bay Mỹ cũng chưa đến thả bom ở Quảng Trị, làm “sập cầu Ga”.

Ông Mạnh Thát bảo, đạo Phật truyền vào nước ta hai ngàn năm trăm năm, nhưng người Việt ta thì đã có bốn ngàn năm lịch sử. Đạo Phật, khi vào “nước ta” thì thẳng từ Ấn Độ qua, tới với người Chàm. Trong một số di tích của người Chàm còn lại, có ghi chữ Phạn.

Việc ông Mạnh Thát nói, làm tôi nhớ tới “Chùa Phật Lồi”, là chùa tôi từng đi “lễ chùa” – nói cho đúng với chữ nghĩa là nói như thế – hồi mới biết đi. Tôi sinh tháng 2 năm 1937 – đúng với ngày tháng – Ông Mạnh Thát cũng sinh tháng 2 nhưng năm 1943. Nói theo cách thông thường, tôi biết “Chùa Phật Lồi”, còn ông giáo sư Nguyễn Mạnh Thát, dù cùng quê với tôi, – ông ở làng Cu-Hoan, phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, cách không xa thị xã Quảng Trị, là nơi tôi sinh ra, lớn lên và đi học, cũng không xa lắm đâu, cũng chưa tới hai chục cây số mà thôi – Ông thua tôi sáu tuổi, chắc ông cũng mù tịt về “Chùa Phật Lồi”. Nói thế là nói cho vui, vì ông Thát đọc sách Phật “thiên kinh vạn quyển”, còn tôi, hồi nhỏ, vô Gia Đình Phật Tử là “vô cho vui”, đi chùa cũng nhiều lần mà không thuộc nỗi cuốn “Nghi Thức Tụng Niệm”, là cuốn kinh mà Phật Tử ai ai cũng biết.

Nhưng chuyện “Chùa Phật Lồi” mà tôi biết, là chuyện lịch sử Phật Giáo Việt Nam, và lịch sử Việt Nam, có liên hệ tới người Chàm, người Việt, người Tây Phú Lang Sa và “lính Mỹ” nữa đấy.

Độc giả nên đọc…cho vui.

2./ Kể lại từ đầu…

Sử viết:

LẤY ĐẤT CHIÊM-THÀNH. Vua Thánh-tông đã nhân mà lại dũng: nước Chiêm-thành hay sang quấy-nhiễu, ngài thân chinh đi đánh. Đánh lần đầu không thành công, đem quân trở về. Đi đến châu Cư-liên (?) nghe thấy người khen bà Nguyên-phi ở nhà giám quốc, trong nước được yên-trị, Thánh-tông nghĩ bụng rằng: « Người đàn-bà trị nước còn được như thế, mà mình đi đánh Chiêm-thành không thành công, thế ra đàn-ông hèn lắm à! » Lại đem quân trở lại đánh bắt được vua Chiêm-thành là Chế Củ 制 矩. Năm ấy là năm kỷ-dậu (1069). Thánh-tông về triều, đổi niên-hiệu là Thần-võ.

Chế Củ xin dâng đất ba châu để chuộc tội, là châu Địa-lý 地 哩, châu Ma-linh 麻 令 và châu Bố-chính 布 政. Thánh-tông lấy ba châu ấy và cho Chế Củ về nước.

Những châu ấy nay ở địa-hạt tỉnh Quảng-bình và tỉnh Quảng-trị.

(Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim)

Sử cũng chép:

Tháng 2 năm Tân Sửu (1301), Thượng hoàng Trần Nhân Tông, người đã cải thiện bang giao với Chiêm Thành, đến thăm Chiêm Thành và được nhà vua Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) đón tiếp nồng hậu. Trần Nhân Tông ở Chiêm Thành đến chín tháng trời, vừa ngao du sơn thủy vừa trao đổi Phật pháp. Trước khi về, Thượng hoàng ngỏ ý muốn gả con gái là Huyền Trân công chúa cho Chế Mân để mở rộng bang giao hai nước. Từ đó, năm nào Chiêm Thành cũng cử sứ bộ tới Thăng Long xin cầu hôn. Triều đình nhà Trần phản đối cuộc hôn nhân dị tộc này, chỉ có Văn túc vương Trần Đạo Tái và Đại hành khiển Trần Khắc Chung ủng hộ. Đặc biệt đến năm 1305, khi Chế Mân đề nghị dâng hai châu Ô, Rí làm của hồi môn thì nhà Trần không thể chối từ nữa.

(Báo Pháp Luật ở trong nước)

Theo hai tài liệu sử học nói trên thì Quảng Trị thuộc Châu Lý – tức là Rí ngày xưa của Chiêm Thành -. Chữ Nôm không có chữ Rí nên người xưa mượn chữ Lý mà thế vào. Ông Thái Văn Kiểm giải thích, đại khái, châu Bố Chính, nay còn trong “huyện Bố Trạch”, tỉnh Quảng Bình, châu Ma Linh – chữ Linh nay còn lại trong phủ Vĩnh Linh, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Châu Ô nay còn trong sông Ô-Lâu, một trong “tam giang” đổ nước vào phá Tam Giang, là ranh giới giữa Châu Rí và Châu Ô. Nghe cũng có lý, đúng sai chưa biết, phải chờ các “nhà” sử học, coi thử họ nói sao.

Theo tôi thấy, truông Ái Tử – nói theo cách tôi nghe từ hồi nhỏ, lọt thỏm ngay giữa Châu Rí.

Khi Chế Củ dâng đất cho vua Lý để xin “chuộc tội?”, hoặc khi Huyền Trân Công Chúa về Chiêm để làm vợ Chế Mân, người dân Chiêm Thành không thể, hay không chịu, ở với người Việt, biết đất nầy đã thuộc về vua Đại Việt. Binh lính, người Việt sẽ đến đây, nên người Chàm “di cư” về phương Nam.

Gồng gánh kéo nhau đi…

Nhưng những tài sản nặng thì sao? Cối đá, tượng đá, và tượng Phật bằng đá thì sao?

Bấy giờ người Chàm theo đạo Phật. Họ không muốn Phật của họ rơi vào tay ngoại bang, dù, có thể, họ biết người Việt thời bấy giờ cũng đã có người theo đạo Phật. Họ bèn đào cát, – truông Ái Tử là một truông cát – chôn Phật của họ xuống đó, trước khi “bỏ Phật mà đi…” Chắc họ cũng đau lòng khi bỏ Phật. – Người Việt cũng đau lòng khi bỏ Phật mà “thượng” lên bàn thờ tượng ông Chúa Giê-Su vậy.

3./ Chuyện “Nam Bắc phân tranh”.

Theo sử thì “Chúa Chỗm” – tức Lê Trang Tông – được rước lên làm vua. Rồi vì chuyện nội bộ “Nhà Lê trung hưng” lộn xộn, ông Nguyễn Hoàng “xin vào Nam”.

Nguyễn Hoàng biết phận mình. Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm giết rồi, chắc nay mai cũng tới phiên mình nên Nguyễn Hoàng sợ, giả điên, rồi nhờ chị là Ngọc Bảo, xin với Trịnh Kiểm cho vào “trấn thủ đất Thuận Hóa”. Trịnh Kiểm bèn cho đi, để khỏi mang tiếng giết hết cả anh em nhà vợ.

Nghe lời Trạng Trình “Vạn đại dung thân” nên Nguyễn Hoàng chuẩn bị cho chuyến đi nầy là “đi luôn”, chắc “không một ngày về” nữa, nên Nguyễn Hoàng “cuốn đoàn trường” mang hết theo: Vợ con, anh em bà con, tướng tá, binh lính. “Ai vô Nam” thì đi theo ông. Quan trọng nhất trong số người ra đi ấy có cậu ông Nguyễn Hoàng là Nguyễn Ư Kỷ, làm quân sư.

Không thấy sử nói Nguyễn Hoàng vô Nam đi bộ hay đi thuyền. Nếu đi thuyền thì tiện hơn, mang theo các “hành trang” nặng nề. Vả, ông có “một ngàn thủy binh” nữa đấy.

4./ Mẹ thương con ra ngồi cầu Ái Tử

Tôi cũng đoán chừng ghe thuyền ông ghé vô Cửa Việt, tên chữ là cửa Việt An, tức là cửa của hai con sông Thạch Hãn và sông Hiếu Giang – có khi còn gọi là sông Đông-Hà. Hai con sông nầy gặp ̣nhau ở làng Gia Độ, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Vô Cửa Việt, Nguyễn Hoàng với đoàn tùy tùng lên Ái Tử, gần đó. Ái Tử là một truông cát, nằm giữa hai con sông nầy.

Các di dân Việt đến đây từ trước, thấy Chúa đến, có lẽ mừng lắm, đem nước ra dâng.

Trên thực tế, Ái Tử là một truông cát, người đi qua đây thì “trên nắng, dưới cát” – nóng – nên người ta mới dâng 7 chum nước cho Chúa giải khát. Quân sư Nguyễn Ư Kỷ “làm thầy bàn”: “Nay mới đến trấn mà dân đem nước ra dâng, nước đó tức là nước vậy.” Theo nghĩa bóng thì “nước uống” cũng có nghĩa là “đất nước”.

Thấy lời bàn hay, Nguyễn Hoàng bèn cho đóng đô ở Ái Tử. Năm ấy là năm 1558, có lẽ đang giữa mùa hè, biển không có giông bão, đi biển dễ dàng. Và cũng là mùa hè nên khi tới truông cát, Chúa và mọi người đều khát nước.

Chúa đóng quân ở giữa, binh lính đóng chung quanh để bảo vệ Chúa. Thời bấy giờ đâu có cường quốc, siêu cường nào – Nga, Mỹ, Tàu, Tây… chẳng hạn – ở bên ngoài xúi bậy, “Mỹ Quốc viện trợ”… nên binh lính của Chúa phải “Tiến vi binh, thối vi nông”, phải tự làm ruộng lấy để có gạo ăn. Do “chiến lược” nầy, nên các làng do binh lính đóng chung quanh “làng Ái Tử” thì có “làng Tiền Kiên” lo giữ mặt trước; “làng Tả Kiên”, “Hữu Kiên” giữ hai bên, “làng Hậu Kiên” giữ mặt sau; “làng Trung Kiên” đóng ở giữa. “Làng” là tôi viết theo cách gọi của dân chúng sau nầy, khi tôi lớn lên. Thời Chúa còn đóng đô ở đó, gọi bằng gì, tôi không biết.

Tới năm nào đó thì Chúa dời đô về làng Trà Bát, gần ngã ba Hiếu Giang và Thạch Hãn gặp nhau một đỗi. Nơi nầy nhiều đất ruộng hơn, tiện cho việc sinh hoạt của Chúa và binh lính, rồi Chúa lại dời đô qua phía đông Ái Tử, gọi là Dinh Cát, trước khi Chúa Sãi – tên là Nguyễn Phúc Nguyên – dời đô vô làng Phước Yên. Làng nầy nằm bên cạnh sông Bồ, thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên.

Khi Chúa dời đô, binh lính đi theo, bỏ lại đất hoang, vài làng mất dấu. Khi tôi lớn lên, thường nghe nói tới – có nghĩa là đang còn – là làng Trung Kiên, làng Tả Kiên, làng Hậu Kiên. Tiền Kiên, Hữu Kiên không còn nghe nữa. (1).

Chúa đi rồi, Ái Tử còn lại câu hò. Duy Khánh “đưa” cầu hò vào bài hát của ông:

Mẹ trông con ra ngồi cầu Ái Tử,
Vợ trông chồng đứng núi Vọng Phu.

Ái Tử là “đây rồi”. Còn Vọng Phu, ai mà không biết, thì xin lỗi, đừng giận tui, không phải là người Việt Nam đấy. – Biết “Bác”, biết Đảng, biết Chúa, biết Mẹ Ma-Ri-A, biết Phật Bà… mà không biết núi Vọng Phu là “người nước mô?” vậy hè?

Câu hò trên đầy đủ, như tui từng nghe “Mạ” – tiếng gọi Mẹ của người nhà quê Quảng Trị tui, chị tui ru em là:

Mạ thương con ra ngồi cầu Ái Tử,
Vợ trông chồng lên đứng núi Vọng phu,
Bao chừ nguyệt xế trăng lu,
Con chim kêu mùa hạ, biết mấy thu hỡi chàng.

Con chim kêu mùa hạ, biết mấy thu? Có nghĩa là chàng đi đã lâu rồi đấy, chưa thấy về…

Nói rõ hơn là như thế nầy: Theo Quốc Lộ 1, ra hướng Bắc, qua khỏi sông Thạch Hãn thì tới sông Ái Tử, một con sông nhỏ, bề ngang trên dưới 50 mét. Qua khỏi sông nầy là vô địa phận “làng Ái Tử”. Đi một đỗi, qua khỏi truông cát, là tới cầu Lai Phước – quê của Lê Thọ Giáo đấy – . Sông Lai Phước cũng nhỏ như sông Ái Tử. Thành ra, nói cho chính xác, truông Ái Tử nằm giữa hai con sông nhỏ: Sông Ái Tử và sông Lai Phước, – hai phụ lưu của sông Thạch Hãn và Hiếu Giang – chứ không phải nằm giữa sông Thạch Hãn và sông Hiếu Giang, như tôi nói ở phần trước.

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc “tả xung hữu đột”, nói cho rõ là “Bắc cự Tàu, Nam đánh Chiêm”. Hồi còn đi dạy, tôi thường nói đùa với học trò: “Bắc chống thằng Chệt, Nam đánh thằng Chiêm”, một mặt thì giữ đất của mình, không cho thằng Tàu chiếm, một mặt thì chiếm đất người ta, thật là nhiễu sự, mệt ơi là mệt. Tao chỉ mới dạy sử cho tụi bây, đã thấy mệt, huống chi ông bà ngày xưa, chắc là mệt dữ lắm. Ai không biết công ơn tổ tiên là Việt gian, biết không?”

Học trò cũng giởn lại, cùng hô to “biết, biết chớ thầy”.

Khi dạy Ca Dao cho học trò, giảng tới câu “Ba năm đẳn gỗ trên ngàn, Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai” hay “Con cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”, không thể nào tôi không nói tới “Mẹ thương con ra ngồi cầu Ái Tử”. Khi các Chúa đóng quân ở Ái Tử, Chúa cũng bắt lính, đem lính ra mặt Bắc chống lại “Chúa Trịnh miền Bắc xâm lược”. Trong lịch sử nước ta, miền Bắc thường “xâm lược miền Nam”, như Cộng Sản trước 1975 vậy, mà họ giả nhơn giả nghĩa hát lên rằng “Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước” . Bây giờ thì giải phóng rồi đấy, thống nhất rồi đấy. Sáng mắt ra chưa hay phải nhờ cái kiếng đen của “đờn cò Văn Vĩ.”

Các Chúa cũng cho quân vào miền Nam:

“Tiếng ai trên núi véo von
Phải chăng người lính trên hòn Cù Mông,
Xa xa em đứng em trông,
Hỏi người lính mộ thử chồng em đâu?”

(Lính mộ, lính lệ, lính dõng, lính tập, lính giản… là các thứ lính ngày xưa, trước 1945. (2)

Chồng đi xa vậy. Con đi xa vậy. Làm sao mà người Mẹ Ái Tử – Quảng Trị tui không ra ngồi Cầu Ái Tử mà khóc nhớ thương con.

Vậy thì cái tên “Ái Tử” có từ lúc nào? Trước khi Chúa đóng quân ở đây hay sau thời kỳ đó. Anh học trò lớp Đệ Tam Nguyễn Văn Trai – sau nầy là “Đại úy giặc lái máy bay Ngụy” – nói theo cách Việt Cộng – hỏi thầy giáo một câu như thế. Thầy “ngọng” luôn, không trả lời được, bèn hoãn binh “Để tui tra lại tự điển”.

5./ Phật không chịu nỗi cát nóng.

Không biết vào lúc nào, khi Chúa còn đóng đô ở Ái Tử hay dời đô đi rồi, có gió Nam thổi mạnh ở quê tôi.

Gọi Gió Nam là theo tiếng địa phương, sách địa lý gọi là Gió Lào, là hiện tượng gió Foehn ở Châu Á Gió Mùa, sách địa lý giải thích như sau:

Gió Foehn là hiện tượng thường thấy trên mặt địa cầu, thường khô và nóng. Gió Foehn thổi ở vùng núi Alps bên Châu Âu làm cho vùng Trung Âu mùa đông được ấm lên. Ở Mỹ, gió thổi dọc theo rặng Rocky Mountain, được gọi là gió Chinook… Mỗi nơi một tên, nhiều lắm, nhớ không hết.

Ở nước ta, gió hình thành từ vịnh Thái Lan, thổi ngược lên hướng Bắc, theo sườn phía Tây rặng Trường Sơn, nên, người Việt Nam không gọi gió Lào, – từ bên Lào qua – mà gọi là Gió Nam, từ phương Nam thổi lên.

Từ đèo Lao Bảo trở ra Bắc, rặng Trường Sơn bỗng thấp xuống, nên khi ngọn gió tới đây thì quay ngoặt về hướng Đông-Nam. Do đó, Quảng Trị, Quảng Bình, Thanh – Nghệ – Tĩnh mới có gió Lào. Chỉ phía Bắc Thừa Thiên mới có chút gió Lào. Huế thì không.

Khi gió thổi dọc Trường Sơn, bị cây rừng và không khí loảng rút hết nước, nên gió trở nên khô và nóng, lá chuối cũng khô, làm cho không khí vùng Bắc Trung Bộ, có khi lên tới trên 40 độ C. Gió thổi từ tháng Tư đến tháng Chín Dương lịch, tiếp theo là “Gió Mùa Đông Bắc thổi mạnh trên biển Nam Hải”, – câu thường nói trên đài Saigon trước 1975, – lạnh lắm.

Gió Nam thổi, có khi rất mạnh, làm cát bay tung, mù mịt.

Mấy ông Phật đá của người Chàm chôn xuống cát ngày xưa, vì gió thổi, cát bay, hay vì nóng quá, tượng Phật chịu không nỗi, phải “trồi” (có khi gọi là “lồi”) đầu lên.

Người dân đi ngang qua đấy, thấy Phật dưới cát nóng, thấy Phật “tội quá”. Họ cũng không phân biệt màu da, – đá đen, đá trắng, – chủng tộc, Phật Chiêm hay Phật Việt – như người Mỹ trắng hiện giờ -, bèn cho đào lên, rước về làng, lập Chùa thờ Phật, đặt tên nôm na là “Chùa Phật Lồi” . Tên chữ là gì, tôi không biết.

6./ “Cậu” tôi đi “Chùa Phật Lồi”.

“Cậu” tôi, tức là cha tôi, ngoài Bắc Kỳ gọi là “bố”, tuy nhà kế bên “Chùa Phật Học”, nhưng không đi chùa nầy bao giờ. Tại sao? Ổng nhát gan đấy.

Sau khi nước ta bị Tây đô hộ rồi, đạo Phật càng ngày càng suy đồi. Một phần vì đó là hậu quả của chiến tranh Tây xâm lược, một phần vì chính sách cai trị của Tây – có bàn tay mấy ông cha cố góp vô. Dân tộc bị đô hộ rồi, đang trên đường suy vong, đạo Phật đi theo, nhiều ông thầy chùa “ăn theo”, v.v. và v.v… Thầy chùa, thầy cúng, thầy pháp, thầy tăng, thầy bói, thầy tướng, thầy bùa… hầu như thầy nào cũng có vợ, có khi hai vợ, có con đùm đuề; có thầy “làm ăn” trúng mánh, nhà ngói, ruộng nương bề bề… mệt ơi là mệt vì mấy thầy.

Phật giáo bấy giờ “đi xuống” , một phần vì chính sách cai trị của thực dân. Chùa là nơi “tụ họp” của những người yêu nước, chống Tây. Thế mới có cái cảnh như trong “Hỏa thiêu Hồng Liên Tự”, “Bộ áo cà sa nhuốm máu”, của nhà văn Nguyễn Bảo Hóa, v.v… và v.v… Bên cạnh chính sách cai tri tàn ác, phá hoại của Tây, những người tu hành theo đạo Chúa hay chính ngay cả Giáo Hội La Mã, hay con chiên của Giáo hội ở Việt Nam cũng về hùa Tây mà banh ruột xẻ gan đạo Phật của dân tộc Việt Nam.

Phải qua tới khoảng thập niên 1930, tín đồ đạo Phật mới hoàn hồn để mà lo phục hưng tôn giáo của mình. Thế mới có “An-nam Phật Học hội” ở miền Bắc, miền Trung. Còn ở miền Nam, hình thức đạo Phật hồi sức là đạo Cao Đài, là Phật Giáo Hòa Hảo. Tây thấy cũng được. “An-nam Phật Học Hội”? Có chi hại cho Tây đâu! “Phật Học Hội” nầy, trên nguyên tắc cũng như hội “đá gà”, hội “bài chòi”, hội “đá banh”, “bóng tròn”, “bóng rỗ”… vậy thôi. Mấy ông Tây đeo xâu chuỗi dài tới bụng, mắt xanh mũi lõ, râu quai nón xùm xuề, cũng thấy yên tâm với mấy cái hội tào lao nầy. Nó không thể làm hại tới “Nước Chúa”, “Dân Chúa”, “Quân Chúa” là mấy ông yên tâm cho “chúng nó” hội. – Quan Thượng Thư Thái Văn Toản, người làng Qui Thiện, phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị là người đứng ra lập hội, xây chùa của “An-nam Phật Học Hội” tỉnh Quảng Trị –

Cậu tôi, tức bố tôi, không dám léo hoánh tới trụ sở của hội nầy. Ông nội tôi, đời Thành Thái là “Ngự y” trong “Đại Nội” – người làng thường gọi là ông Ngự Trâm – Hoàng Thế Trâm – Khi vua Thành Thái bị phế, bị đày, ông nội tôi sợ “liên hệ”, bèn xin về quê. Có lẽ ông nhát gan, sợ Tây, nên ông bỏ làng của ông, làng thợ rèn, Hiền Lương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên mà “di dân” qua làng vợ của ông, làng Hạ Lang, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, và “cấm” người làng không được gọi ông là “ông Ngự”, mà chỉ gọi là “ông Thầy” – thầy thuốc Bắc – Cái “truyền thống nhát gan” ấy cũng “di truyền” cho cha tôi. Những cái chi có liên hệ tới “triều đình, chống Tây” đều “không có ông” . Vì vậy, cậu tôi không đi “Chùa Phật Học”, kế bên nhà, mà đi “chùa Phật Lồi”, tuốt bên “truông Ái Tử”.

Mỗi năm, ngày mồng một tết, cậu tôi dẫn “ba anh em” chúng tôi đi Chùa Phật Lồi. Chùa ở xa, từ nhà tôi, qua sông Thạch Hãn, đi ngang qua làng Nhan Biều là làng ngoại tôi, bên kia sông, rồi qua sông Ái Tử, qua truông Ái Tử, đi chếch về phía Đông, mới tới Chùa Phật Lồi.

Tôi không vào trong Chùa bao giờ.

Ngay hàng hiên Chùa, có tượng “Ông Thiện, ông Ác” ở hai bên “hộ pháp”. Ông Thiện thì hiền, ông Ác thì dữ, dĩ nhiên. Ông Ác ngồi trên mình ngựa, tay cầm “thanh long đao”. Cái “thanh long đao” chém bay đầu tôi dễ như không nên tôi không dám vô chùa, sợ lắm.

Cậu tôi vô chùa, cúng Phật, gõ mõ tụng kinh, “đàm đạo” với sư Cụ – tôi đoán vậy. Còn ba anh em chúng tôi làm gì? Sau Chùa là mấy ngọn đồi cát trắng, sườn đồ thoai thoải.

Ba anh em chúng tôi leo lên những đỉnh đồi cát ấy, lăn theo triền đồi, “thi đua” coi đứa nào lăn nhanh. Kết quả là hai thằng anh tôi cãi lộn nhau, chưởi tục, vì thằng anh lớn, thường chơi ăn gian thằng em. Tôi là thằng nhỏ nhất, bao giờ cũng cầm đèn đỏ, nên không tranh cãi hơn thua với ai được.

Đến giờ về, Chú Tiểu ra gọi vô. Áo quần – áo đen, quần cháo lòng -, tóc tai, tay chưn dính đầy cát. Chú Tiểu kêu chúng tôi ra giếng chùa, kéo nước cho chúng tôi rửa ráy sạch sẽ, xong vô sân chùa, kính cẩn chào Sư Cụ mà về. Bao giờ Sư Cụ chúng vuốt đầu, vuốt tóc, biểu “rán học giỏi”, rồi cho mỗi đứa mỗi cái kẹo, bánh gì đó, “lộc của Phật”, cầm về mà ăn. Chúng tôi vòng tay cúi đầu cám ơn Sư Cụ.

Sư Cụ tôi là bần tăng, bần nên không giàu – Bần mà giàu thế nào được -. Tết, mùa lạnh, Sư Cụ cũng chỉ phong phanh chiếc áo nâu sồng, đôi khi đội thêm cái mũ vải cho đỡ lạnh cái đầu không có một “chọng tóc”, như tôi thường nghĩ. Chân sư cụ mang đôi guốc mộc, bằng gỗ “mơớc”, do Sư Cụ hay các Chú Tiểu đẻo cho, quai cao su, bằng vỏ xe đạp cũ.

Đi chùa, không vào trong Chùa, chỉ gặp Sư Cụ, nên thời thơ ấu của tôi, tôi chỉ thấy Sư Cụ. Sư Cụ là Phật của tôi đấy.

Mấy năm sau, khi chiến tranh xảy ra, Cậu tôi đi kháng chiến chống Pháp, bệnh, qua đời trên Chiến Khu Ba Lòng năm 1948, gia đình tôi hồi cư, về lại “Phường Đệ Tứ”. Bạn học cùng lớp, cùng trường, như Nguyễn Cẩm, anh em Hồ Xuân Diện, Hoàng Xuân Định, và cả thằng anh kế tôi nữa, … rủ tôi “vô Gia Đình Phật Tử” chơi. Gì chứ nghe “chơi” thì ít khi tôi vắng mặt. Thế là tôi theo “tụi nó” vào chùa “lễ Phật”. Lần đầu tiên thấy ông Phật ngồi trên tòa sen, tóc quăn, vai trần… tôi nghĩ ngay rằng “Ông nầy không phải là Phật của tôi”. Trong trí óc thơ ngây của tôi, thời thơ ấu, hình ảnh Phật của tôi chính là Sư Cụ Chùa Phật Lồi, áo nâu sồng, đôi khi có miếng vá ở cùi tay. Ông Phật ấy đã… về cõi Phật rồi, “tịch” rồi, ngay khi cuộc chiến tranh vừa mới xảy ra. Nghe mẹ nói Sư Cụ đã qua đời, tôi khóc đấy các bạn ạ. Phật của tôi chết rồi.

Chùa của tỉnh, xưa, gọi là “Chùa Phật Học”. Sau năm 1951, Chùa có cái tên mới là “Chùa Tỉnh Hội”, không ai gọi là Chùa Phật Học nữa – Phật Giáo đã thống nhất Nam/ Bắc/ Trung sau đại hội ở Chùa Từ Đàm, năm 1951. Danh xưng “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống Nhứt” thành danh từ “đại hội” ấy, sau “một trăm năm đô hộ giặc Tây”, không thể bỏ đi được.

Ái Tử có hai ngôi chùa: Sắc Tứ Tịnh Quang, nằm gần Quốc lộ 1. Chùa có “sắc phong” của vua, và “Chùa Phật Lồi”, tên chữ là gì tôi không biết. Tôi cũng không biết chùa có sắc phong hay không, hay vì Chùa thờ Phật Chàm nên vua không phong chi cả.

Trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Nhứt 1945/ 54, có vị sư nào của hai Chùa nầy, “cởi bỏ áo tu, xếp kinh cầu nguyện” như trong “Tha La Xóm Đạo” mà theo kháng chiến hay không, nhưng cả hai ngôi Chùa đều bị phá hủy hoàn toàn. Tây gở hết gỗ, gạch, ngói, rui, mè… của hai ngôi Chùa nầy để dựng đồn Lai Phước, đồn Ái Tử, để giữ hai cây cầu trên hai con ông nầy, sợ Việt Minh về phá cầu.

Mặt cầu Ái Tử không lót bằng gỗ mà lót bằng sắt. Khi xe qua cầu, xe nhà binh hay xe tăng, thiết giáp… tiếng dội nghe ầm ầm. Đêm tôi nằm trong nhà bên bờ sông Thạch Hãn, nghe tiếng hàng chục chiếc xe qua cầu ầm ầm, là đoán biết Tây đang chuẩn bị lính tráng để đi đánh nhau với Việt Minh đâu đó: Trận Thanh Hương – Tây gọi – là Trận Camarge như Bernard Fall kể lại trong “Con Đường Buồn Thiu” – The Street Without Joy” hay “Trận Cửa Việt”, “Trận Ba Đồn”, v.v… và v.v…

Sau Hòa bình lập lại 1954, Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang được Hòa Thượng Thích Hải Đức, quê ở làng Trung Kiên, cho dựng mới lại. Chùa vẫn còn sau cuộc chiến tranh vừa qua, mặc dù Chùa ở trong khu vực quân sự Mỹ.

Con Chùa Phật Lồi? Tây phá thành bình địa, không ai xây dựng lại cả. Người Chiêm Thành khi di cư về phương Nam, đem Phật chôn xuống cát để bảo tồn Phật của mình.

Còn người Việt Nam?

Sau chiến tranh có ai đi tìm Phật về để gìn giữ, hay để cho tượng Phật lăn lóc đâu đó trên cõi “cát bụi trần ai” của truông Ái Tử.

Chùa Phật Lồi là Phật thời thơ ấu của tôi. Có ai đó cười tôi vớ vẩn nhưng tôi thì rất đau lòng mỗi khi nhớ tới mấy “ông Phật Lồi”.

lập Thu/ 2022. /

_____________________________
Ghi chú:
(1)/ Làng Hậu Kiên nằm ở cuối Chợ Sãi- chợ lớn nhất của Phủ Triệu Phong, trên ngã ba sông Thạch Hãn và sông Vĩnh Định, trên con đường “Đò Giọc” tữ Vĩnh Linh – phía Bắc – vô tới Huế là kinh đô nhà Nguyễn – Chữ Sãi trong chợ Sãi có liên quan gì tới Chúa Sãi là Chúa Nguyễn Phúc Nguyên không thì tôi không rõ. Cuối Chợ Sãi, thuộc làng Hậu Kiên có hai ngôi nhà kế nhau: Rạp mộc của ông thợ Tiềm, là bố ông Lê Duẫn. Bên cạnh là tiệm gạo bố mẹ “Mụ Xạ Bình”. Hai nhà “cách nhau có giậu mồng tơi xanh rờn” như thế nào đó tôi không rõ. Nhưng “chàng Lê Duẫn” học hết lớp Ba với thầy Trợ Lẫn – Hồ Ứng Lẫn – thì xin đi làm công nhân xe lửa. “Nàng Xạ Bình” ở lại lấy chồng là ông Xã Bình. Thiên hạ đồn hai người thương nhau. Sau 1975, ông Lê Duẫn về thăm cố hương, gặp người cũ, bèn tha cho ông thiếu tá Nguyễn Văn Thành “học tập tốt, lao động tốt” được về sớm, chỉ mới “hơn một năm cải tạo” mà thôi.
Làng Trung Kiên, bên kia sông Thạch Hãn, ngang Chợ Sãi, không rõ phong thủy như thế nào, mà có nhiều vị cao tăng xuất thân ở đây. Đó là Hòa Thượng Hải Đức, sáng lập “Phật Học Viện Nha Trang”, “ôông” Đôn Hậu, tăng thống, “ôông” Trí Thủ, “qua đời một cách lặng lẽ” trong vụ án tử hình ông Tuệ Sĩ, ông Mạnh Thát “chống chế độ, chống nhà nước – Cộng Sản – chống “cách mạng”…
(2)/Lính mộ, lính lệ, lính dõng, lính tập, lính giản… là các thứ lính ngày xưa, trước 1945. Lính mộ: lính được tuyển mộ cho Tây đi đánh giặc Đức ở bên Tây hồi “Đệ nhứt Thế giới chiến Tranh. ” Lính lệ: Lính chuyên hầu hạ quan lại thời phong kiến, thực dân. Lính dõng: lính địa phương ở nông thôn và miền núi, thời thuộc địa Pháp. Đại tướng Chu Văn Tấn nguyên là lính dõng thượng du Bắc Việt. Lính tập:  là các đơn vị quân đội bản xứ do người Pháp tổ chức thành lập nhằm phụ trợ cho quân chính quy Pháp trong việc đánh dẹp, bảo vệ an ninh thời Pháp thuộc, sau khi chiếm được Nam Kỳ, rồi Bắc Kỳ. Lính giản Lính chuyên phục vụ ở các công đường cấp tỉnh thời phong kiến.

Nhà giáo một thời nhếch nhác

vietmessenger.com

Nhật Tiến

Post by Sơn râu 2 May 2024

Phần 8

Họp hành và Học tập chính trị…có thể nói đấy là một căn bệnh trầm kha của chế độ mới.

Ở địa phương tôi thì Tổ dân phố gọi bà con tới nhà Tổ trưởng để nghe phổ biến các loại thông cáo, rồi đọc tin tức trên báo Nhân Dân, báo Sài Gòn Giải Phóng cho nắm vững tình hình, nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng.

Vào thời gian đầu, bà con nườm nượp tới tham dự vì ngán bị chụp vào đầu cái mũ ” tàn dư phản động”. Nơi họp thì chỉ là căn phòng ngoài của bà Tổ trưởng đã được dẹp bớt đồ đạc đi để đủ chỗ cho nhiều người. Bà con tới trước thì ngồi xổm vòng trong, vòng ngoài. Những người tới sau thì đứng lố nhố, tràn ra cả sân trước. Phụ tá bà Tổ trưởng là một cô thanh nữ. Cô này mặt mũi nghiêm trọng, trên cánh tay đeo một cái băng đỏ lòe chứng tỏ là một thành phần đang phấn đấu để được vào đối tượng Đoàn, tức Đoàn Thanh Niên CS Hồ Chí Minh.

Cần nói thêm là dù mới chỉ là giai đoạn mong được trở thành đối tượng thôi, nhưng công cuộc phấn đấu của cô hẳn cũng nhiều gian nan, thử thách, có khi cả năm mới được công nhận trở thành “đối tượng Đoàn”. Rồi cũng phải chừng ấy thời gian hay lâu hơn nữa thì cô mới chính thức được kết nạp làm Đoàn viên. Khi đó, trên ngực áo, cô sẽ được đeo cái huy hiệu của Đoàn có vẽ một cánh tay áo đang xắn lên, bàn tay thì gân guốc nắm chắc một cái cán có gắn cờ đỏ sao vàng. Theo lời giải thích thì huy hiệu này biểu thị sức mạnh và ý chí của thanh niên. Nó cũng mang tính “xung kích của tuổi trẻ” trong công cuộc “xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Về mặt tổ chức thì Đoàn Thanh Niên được coi là cánh tay mặt của Đảng, luôn luôn sẵn sàng để ” Đâu cần: Thanh Niên có – Đâu khó: có Thanh Niên”.

Tại Tổ dân phố, khi màn phổ biến thông cáo xong thì đến vụ đọc báo Nhân Dân hay Sài Gòn Giải Phóng. Gớm, cái giọng vừa ngấp ngứ lại vừa dữ dằn cố làm ra vẻ hùng dũng, quyết tâm của cô gái khiến cho bà con ta cứ ngáp dài. Ngáp chán thì xoay ra chuyện trò rỉ rả, trước nhỏ sau to, riết rồi buổi họp ồn ào như đang họp chợ. Giọng đọc của cô cứ dần dần bị chìm lấp đi bởi những tiếng ho, tiếng hắt hơi, tiếng cười, tiếng tranh cãi..v..v…cho dù bà Tổ trưởng đã hết hơi kêu gào can thiệp.

Họp hành như thế nên cứ hễ bị nhắc “Đi họp” là ai cũng thở dài như lại vừa bị mắc thêm một tai vạ. Tuy nhiên không ai dám viện cớ này cớ kia để trốn tránh cả vì cứ sợ thái độ của mình sẽ khiến mình bị liệt vào thành phần ngoan cố, nguy hiểm. Trừ trường hợp một ông già ở ngay sát bên cạnh nhà tôi mà bây giờ ngồi nhớ lại tưởng cũng nên kể ra ở đây.

Cả gia đình ông này di tản hết nên nhà chỉ có mỗi mình ông. Ỷ vào tuổi tác già cả, chắc lại còn tiền bạc không phải phụ thuộc vào nhu yếu phẩm bán theo sổ phân phối của mỗi nhà, nên ông cương quyết không bao giờ chịu đi họp. Bà Tổ trưởng dân phố bực mình lắm về thái độ bất hợp tác này. Trước thì bà còn nhắn hàng xóm tới mời ông già đi họp, sau bà đích thân tới gặp, định để giáo dục cho “cái lão già mất nết” một bài học. Nhưng lão trốn tuốt lên lầu hai, có đấm cửa, rung hàng rào, hò hét qua lỗ khóa, lão ta vẫn êm rơ không thèm mở cửa. Cuộc chiến đấu giữa hai bên giằng dai mãi cho tới một hôm bà Tổ trưởng dân phố bỗng phát huy một sáng kiến rất diệu kỳ. Đó là thay vì đập cửa gào to ” Ông Ba ơi, xuống đi họp !” thì bây giờ bà cất tiếng : “Ông Ba ơi, xuống nhận thư ngoại quốc!”.

Ôi dào, thật không còn có gì linh nghiệm hơn. Cái lão cứng đầu, bao lâu nay trốn biệt không thò mặt ra, thế mà chỉ nghe có mấy tiếng “thư ngoại quốc” là đã hối hả đáp lại, giọng cũng to chả kém ai ” Có tôi! Chờ đó! Chờ đó!”. Rồi lão bổ nháo bổ nhào từ lầu hai xuống, hấp tấp mở khóa rồi kéo cánh cửa sắt rộng ra. Báo hại, thư từ chả thấy đâu, chỉ thấy khuôn mặt khó ưa của bà Tổ trưởng đang nở một nụ cười dễ ghét và cất tiếng đắc thắng “Mời ông Ba đi họp!”

Cái cơn lôi đình của ông lão sau đó ra sao, ai cũng biết và ai cũng kể lại cho nhau nghe để cùng cười với nhau hể hả. Cuộc sống có nhiều nỗi lo âu , buồn bã, thật hiếm khi lại có những nụ cười vui vẻ như thế!

Chuyện họp hành ở khu phố tôi lâu dần cũng thấy thưa đi. Bởi đời sống khó khăn quá, ai cũng phải lo chuyện mưu sinh nên nảy ra cái tâm lý bất cần. Chẳng họp thì đừng, phải lo nồi cơm trước đã. Cho nên, cuối cùng thì chỉ khi nào thật cần thiết, bà Tổ trưởng mới tới từng nhà dân đập cửa kêu “Mau ra Phường, đi họp !”. Họp Phường tất cao cấp hơn họp Tổ. Có thể nhà Nước lại áp dụng đường lối chính sách nào mới mẻ có ảnh hưởng đến đời sống đây, nên bà con đành phải nín nhịn rủ nhau cắp nón đi ra Phường. Được cái, lâu lâu thì mới chỉ đi một lần, chứ không bị gọi xoành xoạch như trước. Nhưng cũng chẳng vì thế mà bà Tổ trưởng dân phố trở nên dễ thương hơn. Có thể nói, bà cũng là một thứ tội nợ để dân chúng đổ mọi thứ chê trách lên đầu. Nào nhu yếu phẩm xuất hiện thất thường, lại bị phân phối khoai sùng hay gạo mốc, nào giờ tham gia sinh hoạt “nếp sống mới” khởi sự quá sớm vào lúc 5 giờ sáng. Cứ vào cái giờ bà con còn đang chập chờn với giấc ngủ đó thì tiếng loa đã ồn ào réo gọi tất cả phải kéo nhau ra đường phố để cùng tập thể dục theo tiếng còi “một, hai” phát trên loa. Hồi đầu, bà con hiện diện khá đông đủ, lại còn ríu rít cười đùa, chuyện trò thăm hỏi nhau tạo nên bầu không khí vui vẻ mà ngày xưa không hề có. Nhưng rồi chỉ ít lâu sau, đám đông cứ thưa dần. Việc tham gia sinh hoạt cách mạng không còn gì là hào hứng nữa. Mà hào hứng sao được khi trong bữa cơm, hạt gạo đã bị thay thế bằng khoai, sắn hay bo bo. Rồi những thứ ấy cũng chẳng đủ nên nhiều nhà đã biết cái đói là gì.

Riêng tôi thì chưa đến nỗi. Buổi sáng sớm, lúc ngồi ở phòng ngoài để soạn sách vở đi dạy học, tôi còn được gặm một ổ bánh mì không. Chợt có hôm đang gặm bánh thì thấy xuất hiện một đứa nhỏ con nhà hàng xóm cứ đứng ở ngoài cửa nhìn vào. Tưởng nó chỉ tò mò, tọc mạch nên tôi không để ý. Nhưng hôm sau lại thấy nó xuất hiện. Bộ mặt vêu vao, thân hình còm cõi, cặp mắt thì chăm chú nhìn tôi với vẻ thèm thuồng. Tôi chợt nghĩ ra rằng con bé hẳn là đang đói. Tôi liền bẻ cho nó mẩu bánh đang cầm. Nó vội chộp lấy mà ăn ngấu nghiến.

Như thế, chuyện dân đói không chỉ còn là những lời bôi bác chế độ một cách vu vơ. Trong dân gian đã xuất hiện những câu vè ta thán:

Ông Đồng , ông Duẩn, ông Chinh

Vì ba ông ấy dân mình lầm than.

Tệ hại nhất là chính sách Kinh tế dưới thời Đỗ Mười, nghe nói ông ta hồi xưa ít học, chỉ làm nghề thiến heo, năm 1977 leo lên tới chức Phó Thủ tướng đặc trách Kinh tế lại kiêm nhiệm chức Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách Cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam. Dân mới có câu vè rằng:

Thiến heo lại giữ lắm quyền

Trách gì dân chúng đảo điên thế này !! .

° ° °

Trong nhân dân, chuyện họp hành là như thế. Còn các giáo viên trong nhà trường thì chuyện họp hành của chúng tôi còn gay go hơn nhiều. Nhẩm tính trong tuần, tôi thấy đã phải tham dự nhiều buổi họp: Họp Ban Giám Hiệu, họp Giáo Viên Chủ Nhiệm, họp Tổ Chuyên Môn, họp Tổ Lao Động, họp Công Đoàn trường (chủ yếu là bàn chuyện phân phối nhu yếu phẩm), lại thỉnh thoảng phải đi dự những buổi họp đột xuất mỗi khi ở Ban, Ngành nào đó có nhu cầu.

Cả năm trời đã rệu rã cả người vì những phiên họp như thế, nhưng đến kỳ nghỉ hè thì các thầy, cô lại còn phải dành ra một tháng liền để tập trung Học tập Chính trị toàn Thành phố. Vậy là toi một tháng hè để bị o ép nữa!

Có nhiều nơi được dùng làm địa điểm học tập, như trường Nguyễn Bá Tòng ở đường Bùi thị Xuân, trường Tabert ở Lê Thánh Tôn, trường Bồ Đề ở chợ Cầu Ông Lãnh, trường Trưng Vương ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, gần Sở Thú…v..v..Cứ chiếu theo bản thông cáo, giáo viên trường nào tập trung ở đâu thì kéo nhau tới trình diện ở đó. Trong suốt thời gian học tập, ngày hai buổi, sáng từ 8 giờ đến trưa. Chiều từ 2 giờ đến lúc nắng xế. Ai nhà ở xa thì lấy sân trường làm nơi nghỉ trưa, chứ đạp xe đi, về lúc trời nắng gắt vừa mệt nhọc vừa hại lốp xe mà khi đó, cái lốp xe cũng quý như vàng.

Ở Tổ Chuyên môn của tôi, một năm mới được bán rẻ cho 1 cái lốp xe đạp. Toàn tổ phải bốc thăm coi ai “trúng số”. Chúng tôi cũng chẳng vì thế mà kêu ca. Vì dân chúng Hà Nội xem ra còn khổ hơn nhiều. Thằng Tửu đã có lần nói:

– Ngoài đó thiếu gì cảnh ” Đi xe độn báo, mặc áo chuyên gia”!

Và nó giảng giải: lốp xe vá mãi thì banh nát ra, phải lấy báo độn vòng quanh rồi cột dây lại. Còn áo “chuyên gia” hiểu là “chuyên da”, tức là áo rách bươm, hở cả da thịt ra ngoài.

Rút cục, tôi vẫn thường tự nhủ: Ăn bo bo, xếp hàng cả ngày thì cũng được đi, vì đất nước nào sau chiến tranh đời sống chẳng khổ cực, nhưng vấn đề là ở chỗ ăn độn xếp hàng trong bao lâu? Chứ nếu cứ theo cung cách điều hành đất nước kiểu này thì dân chúng còn cực khổ dài dài, không biết đến bao giờ mới chấm dứt cái thời kỳ “quá độ” khốn khổ này để được sống trong cái xã hội XHCN, một thứ thiên đường nghe vô cùng tốt đẹp mà kể từ ngày thành lập chính quyền mới, cán bộ cũng như các cơ sở truyền thông cứ ra rả tuyên truyền về nó.

Trong việc học tập toàn Thành, các giáo viên cũng được chia thành nhiều Tổ. Mỗi Tổ khoảng 20 người, gồm giáo viên cùng trường chen lẫn với các giáo viên trường khác. Việc ăn nói, phát biểu trong sinh hoạt Tổ vì thế cũng phải dè dặt hơn. Ai mà biết được lúc nào thì bị báo cáo về tác phong học tập hay lập trường chính trị chao đảo của mình. Thôi thì cứ chiếu theo tài liệu, sách vở mà phát ngôn. Ai không nhớ câu nào, ý nào thì cứ vừa nêu ý kiến vừa giở giấy ra đọc. Thế cũng còn được đánh giá là có tinh thần tích cực, còn hơn nhiều vị chẳng hiểu mô tê gì hay chẳng muốn hiểu thì cứ làm bộ ngồi lì. Mà càng ngồi, không nghe, không chi chép thì lại càng dễ buồn ngủ. Mà đã buồn ngủ lại phải nghe mấy ông thuyết trình viên lải nhải thì giấc ngủ ùa đến còn dễ dàng hơn. Cho nên ở quanh chỗ tôi ngồi, thỉnh thoảng tôi lại bắt gặp một thầy hay một cô ngủ gục. Cũng được đi, nhưng đừng có ngáy. Ngủ mà ngáy thì không ai bao che được, cho nên đôi khi phải huých cùi chỏ vào mạng sườn đương sự để đánh thức. Lại cũng có khi có vị ngủ say thế nào mà đổ nhào sang cả người ngồi bên cạnh, khi choàng tỉnh dậy mới hay biết. May mà hội trường quá đông đúc, chất chứa tới bốn, năm trăm người, trên bục giảng thì giảng viên cứ thao thao bất tuyệt, nên dưới “xóm nhà lá” nếu có xẩy ra chuyện gì thì cũng chẳng ai quan tâm.

Cái tệ trạng này hẳn Ban tổ chức khóa học cũng hay biết, nhưng cũng phải coi là chuyện chẳng đặng đừng. Bởi vì chúng tôi cũng đã quá mệt mỏi vì phải ôm đồm quá nhiều công tác, đã thế việc ăn uống bồi dưỡng sức khỏe lại cứ ngày càng tồi tệ đi.

Hồi tham dự khóa học tại trường Bồ Đề ở cạnh chợ Cầu Ông lãnh, tôi còn nhớ buổi chiều cứ tan ra là các thầy cô xúm lại hàng bán hạt ngô tẽ, cứ 1 đồng thì người bán xúc đầy 1 lon sữa bò. Người nào cũng mua vài ba lon để dùng cho bữa chiều hay ngày hôm sau. Hạt ngô đem về luộc lại ăn thay cơm hoặc nhà còn gạo thì thổi cơm trộn với ngô. Như thế cũng còn sang hơn là ăn bo bo là thứ vừa khó nhai lại trở ngại trong vấn đề tiêu hóa. Trong tình cảnh ấy, mấy ai còn đủ sáng suốt để mà nghe thuyết trình viên dài dòng về những thứ trên trời dưới đất, nào là “Quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản từ cuộc Cách mạng Dân chủ Nhân dân chuyển qua Cách mạng Xã hội Chủ nghĩa”, nào là “Cuộc đấu tranh giai cấp của chúng ta là đưa nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn, kết hợp cải tạo với xây dựng mà xây dựng là chủ yếu”, nào là “Chuyên chính Vô sản tức là cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ nhằm xóa bỏ giai cấp bóc lột, xác lập quan hệ sản xuất Xã hội Chủ nghĩa để mọi thành viên trong xã hội làm chủ tập thể, làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình” ….v…v….

Đố ai trong những ngày hè nóng như đổ lửa mà phải ngồi trong một hội trường đông nghẹt những người, chỉ có mấy cái quạt trần uể oải quay chậm, rồi lại phải nghe ngần ấy thứ vớ vẩn trong nhiều tiếng đồng hồ mà không thấy nhức đầu, không buồn ngủ thì phải được phong lên làm Thánh.

Mà như thế cũng vẫn chưa xong đâu. Điều ngán ngẩm nhất mà ai cũng phải trải qua là sau mỗi bài giảng, các thầy cô còn phải chia Tổ thảo luận rồi về nhà viết “thu hoạch” để hôm sau nộp cho ban Tổ Chức khóa học nữa.

“Thu hoạch”! Nhà nông mà tới lúc này thì hẳn ai cũng tràn đầy vui vẻ. Nhưng lũ giáo viên chúng tôi thì lại cho đây là một khoản mà mọi người ai cũng ngán nhất, đặc biệt là các cô giáo miền Nam cũ.

Vào thời điểm này, tôi thấy các cô có vẻ thân thiết với nhau hơn là ngày xưa. Hình như những khắt khe của thời thế đã trở thành chất keo gắn bó họ lại với nhau hơn. Họ chia với nhau từng nắm xôi, tấm bánh, chỉ bảo tận tình cho nhau về cách xài miếng thịt, con cá khi lãnh ở trường về, như chiên xào cách nào cho có lợi nhất, hoặc là cung cách tận dụng những miếng mỡ hiếm hoi tách ra từ lạng thịt.

Họ như đang cùng với nhau đi trên một quãng đường đời xa lạ, lại có chung một hoàn cảnh là phải mang gánh nặng gia đình khi chồng không có mặt hoặc vì thất lạc lúc di tản hoặc đang bị giam cầm đâu đó trong nhà tù cải tạo. Những nỗi nhọc nhằn mà họ đang phải chịu đựng khiến mặt họ trở nên khó đăm đăm, mà lại hay lãng trí, đang nói chuyện với người đối diện mà đầu óc cứ để đi đâu, nhiều khi cứ ngớ ra không biết mình đang bàn luận về câu chuyện gì. Ấy thế mà khi túm năm, tụm ba ở riêng một chỗ thì họ lại cười đùa rả rích về những chuyện khôi hài, ngớ ngẩn trong nếp sống bây giờ. Thì ra cái cốt cách hồn nhiên, tươi trẻ của họ ngày xưa vẫn không bị thời thế làm cho tàn lụi đi. Chúng chỉ lặn sâu vào bên trong tiềm thức của mỗi người.

Nói cho đúng ra, “thu hoạch” chỉ là một bài viết theo đúng cung cách của một con vẹt. Con vẹt khi nói thì nó đâu có nghĩ gì. Nhưng chủ của nó lại rất thích.

Các nhà lãnh đạo bây giờ cũng cùng chung cái tâm lý đó. Đọc một bài ‘thu hoạch”, họ biết thừa là giả dối, nhưng vẫn mang ra bình phẩm với nhau để cùng gật gù thỏa mãn. Nói cho ngay, chính họ cũng đang giả dối với nhau đấy. Đâu có vị nào dám bầy tỏ ý kiến là thôi vứt quách cái chuyện viết thu hoạch đi cho rồi, bọn chúng nó chỉ nói vuốt đuôi đấy thôi.

Thì ra từ kẻ có quyền xuống tới bàn dân thiên hạ, ai ai cũng đều sống giả dối hết, mà lạ thay, họ lại cùng nhận biết ở nhau là đã giả dối, vậy mà đời sống vẫn cứ tiếp diễn năm này qua năm khác y như thế thì mới là kỳ chứ!

Tuy nhiên, nói cho cùng thì chuyện viết thu hoạch không hẳn là hoàn toàn không có tác dụng gì. Nó là thước đo sự chống đối của chế độ. Trong hàng ngàn bài viết chất cao thành từng đống, sẽ có một vài bài được đặc biệt moi ra để xăm xoi từng chữ. Đó là bài viết của một số người đã có tên trong danh sách bị nghi ngờ là có đầu óc phản động hay chống đối. Tất nhiên họ sẽ chẳng kiếm được âm mưu gì trong những trang giấy vô tri đó. Nó chỉ chứa toàn những lời lẽ đầu môi chót lưỡi. Cũng chẳng sao, nội dung cứ bẻo lẻo, giả dối đi, nhưng ít ra nó cũng là dấu hiệu của sự phục tùng. Kẻ không phục tùng đời nào chịu viết những lời như thế. Vậy ít ra nó cũng làm thỏa mãn lòng tự ái của những kẻ đang cầm quyền.

Có điều là trong hàng ngũ giáo viên, nào có ai tự nghĩ mình không phải là thành phần đang bị theo dõi, ngoại trừ thầy, cô nào có thân nhân là cán bộ từ miền Bắc vô Nam tăng cường công tác. Số này cũng có, nhưng không nhiều. Phần còn lại, hầu như ai cũng có cảm giác như đang có lưỡi gươm lơ lửng trên đầu. Nhà giầu là có tội. Chân tay mũm mĩm, không dấu vết chai sạn vì lao động cực nhọc cũng mang mặc cảm là lớp người đi bóc lột. Ngày trước, nếu giao du quen biết với những giới có chức, có quyền thì cũng ngán ngẩm không biết khi nào bị moi ra để bị buộc vào tội đã dính líu đến một vụ việc vu vơ nào đó. Đặc biệt là các bà có chồng đang đi học tập cải tạo thì hầu như đã sống trong sự nhủi chui, dè dặt, chỉ mong đừng có ai để ý tới mình.

Như trường hợp cô Hường ở trường tôi, tôi biết khá rõ. Từ nhiều năm trước, cô cũng là một đồng nghiệp của tôi, chuyên dạy môn Nữ Công, Gia Chánh. Về trình độ học vấn thì cô có vẻ như chỉ qua một hai năm đầu bậc trung học, nhưng về nữ công, gia chánh thì cô lại rất giỏi. Vì thế cô vẫn được tuyển dụng để dạy cắt may, nấu nướng cho nhiều lớp trong toàn trường.

Sau tháng Tư -1975, chồng cô là sĩ quan cấp Tá phải đi học tập cải tạo. Cô ở nhà chèo chống lo nuôi một bầy con nhỏ. Ngày xưa cô khá đẹp, lúc nào cũng thuần nhã từ cung cách ăn nói cho đến cử chỉ giao tiếp bên ngoài. Nhưng nay thì khó tìm ra được nhân vật cũ trong con người của cô bây giờ. Chiếc áo dài xưa không còn nữa. Quanh năm chỉ thấy cô bận chiếc áo cánh nâu, chiếc quần thâm vải dầy và vai lúc nào cũng khoác một cái bị mang đầy ống chỉ, vải thêu, mẫu thêu và những cuốn sổ ghi chép. Rất ít khi thấy cô mỉm cười, nụ cười với hai bên má lúm đồng tiền ngày xưa nay tắt ngúm trên đôi vành môi khô héo không được thoa son. Đôi mắt trong veo của cô bây giờ đã thấy vẩn đục. Nó thấp thoáng một vẻ phập phồng, e ngại như lúc nào cũng chờ đợi chuyện bất trắc xẩy ra cho mình.

Sau này tôi mới hiểu lý do tại sao cô lại cứ phải mang cái tâm trạng bất an ấy. Bởi vì ngoài chuyện dạy may cắt trong trường, cô còn lo chạy hàng xách kiếm tiến nuôi con. Mà nói cho đúng ra, chuyện buôn bán của cô chẳng có gì to tát. Bà cán bộ này cần mua cái quạt máy, ông cán bộ kia đang kiếm dàn loa hay cái tủ lạnh. Cô chỉ là người trung gian móc nối người mua, kẻ bán kiếm lời. Trong nhà của cô tuyệt đối không chứa chấp một món hàng gì. Khách hàng lại cũng không ở cùng Phường, cùng xóm. Mối lái mà cô có được là nhờ bạn bè quen biết rỉ tai mách giùm.

Nhưng trong cương vị “một giáo viên nhân dân”, cô đã thấy mình đang làm chuyện tầy trời. Đã là nhà giáo thì phải chấp hành nghiêm chỉnh đường lối nhà nước, không được móc ngoặc, không được buôn bán chợ đen, chợ trời, phải phát huy tác phong của con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa, một người vì mọi người, mọi người vì một người..v..v…Nghĩa là đủ thứ trách nhiệm đè lên đôi vai của nhà giáo. Nhưng nếu không dấn thân vào chuyện kiếm chác thêm thì con cái đói. Đó là cái điều mà cô thấy tâm trạng của mình lúc nào cũng bất ổn.

Phải dài dòng như vậy là để thấy cô đã lo lắng như thế nào khi phải viết thu hoạch sau mỗi bài thuyết trình của giảng viên. Một lần tan học, cô nán chờ tôi tại chỗ để xe trong sân trường. Cô rụt rè nói:

– Viết thu hoạch khó quá, thầy ơi!

Tôi nhìn quanh rồi mỉm cười:

– Họ không đọc bài của cô đâu. Cứ chép đại một đoạn nào đó trong tài liệu rồi đem nộp là xong rồi.

Cô dẫy nẩy:

– Không được đâu! Nhỡ bị phát hiện, nó lôi ra thì khốn.

– Tôi thấy khối người làm thế. Có sao đâu. Họ đâu rỗi hơi ngồi đọc cả ngàn bài. Chỉ lọc ra những tên tuổi bị nghi là có vấn đề thôi.

– Thôi, thầy giúp tôi đi!

Tôi nhìn lại cô một lần nữa. Hình ảnh tiều tuỵ, phu nhân một Thiếu tá đang phải đi học tập cải tạo khiến tôi ngậm ngùi. Nhất là nhìn vẻ mặt của cô, cứ như đang mang một vẻ thất thần của một kẻ chơi vơi giữa dòng trông tìm một cái phao để níu kéo. Tôi đành chép miệng:

– Thôi được. Tôi sẽ xào nấu bài của tôi rồi để cô chép lại. Đừng có lo lắng quá.

Bất giác cô nhoẻn một nụ cười. Tôi hình dung ra được vài nét tươi trẻ ngày xưa của cô trong nụ cười ấy.

Thế là kể từ hôm ấy, cứ độ vài hôm, vào khoảng chiều tối, cô lại tạt qua nhà tôi để lấy bản nháp thu hoạch mang về chép lại. Mà tôi thì cũng chẳng mất công gì nhiều. Cái dàn bài “thu hoạch” mà tôi tự thảo ra đã nằm sẵn trong đầu. Như khởi đầu thì phải nhắc qua mục đích, yêu cầu của bài mà giảng viên đã trình bầy, rồi tóm tắt nội dung bài ấy trong vài câu, nếu cần thì trích nguyên con vài đoạn. Rồi phịa ra vài câu đánh giá mức độ tiếp thu của mình. Sau cùng là liên hệ bản thân rằng “sẽ phấn đấu trong công tác để hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ của người giáo viên dưới mái nhà trường Xã Hội Chủ Nghĩa”. Tất cả cứ tròm trèm 2 trang viết tay khổ giấy đôi là ổn thỏa.

Trong suốt khóa học kéo dài 30 ngày, mọi sự cứ thế trôi qua. Nhưng tôi lại không hay rằng mấy bài thu hoạch viết giùm một cách sơ sài như vậy lại được mấy bà, mấy cô cùng trường truyền tay nhau đem ra xào nấu lại. Một cô giáo trong Tổ chuyên môn ghé vào tai tôi thì thào:

– Họ phong thầy làm “họa sĩ”. Chuyên vẽ giáo án, vẽ biên bản, vẽ thu hoạch…

Tôi hoảng hồn:

– Ấy! Bảo họ kín mồm không thì chết tui!

Cô ta cười ngỏn ngoẻn:

– Thầy yên chí đi. Có chết thì chết cả nút chứ đâu riêng gì thầy.

Hóa ra, thỉnh thoảng khi tới trường tôi được người này giúi cho gói xôi, người kia thanh kẹo lạc, đó cũng là nhờ các kiểu vẽ vời ấy của tôi.

Tôi không cho những thứ quà vặt vãnh đó là những món hối lộ. Tôi chỉ nghĩ rằng đấy là sự biểu lộ tình cảm của những kẻ đồng hội đồng thuyền. Mà điều này thì lại rất quý trong thời buổi này. Nó sẽ xóa tan đi những mối nghi kỵ, dè bỉu lẫn nhau giữa những con người đang cùng phải chống chọi với đủ mọi thứ khó khăn trong đời sống. Nhất là xóa đi được cái sự chụp lên nhau cái mũ của kẻ hèn nhát, giẫm đạp lên nỗi đau của đồng nghiệp để mưu cầu sự bình an cho riêng mình.

Những ngày dạy học ở miền Nam xưa, có bao giờ chúng tôi lại phải đối diện với những tâm tình kiểu ấy!!

Nhà giáo một thời nhếch nhác

vietmessenger.com

Nhật Tiến

Post by Sơn râu 2 May 2024

Tuổi trẻ nhọc nhằn

Phần 7

Theo lời thằng Tửu kể cho tôi nghe thì các đàn anh, đàn chú của nó đã sinh ra trong một thời kỳ mà nó nói là “cực kỳ gian khổ”. Tôi làm bộ bật cười, giả lả:

– Thì cũng đến chăn trâu, cắt cỏ, cầy ruộng chứ làm gì đến nỗi phải gọi là cực kỳ gian khổ.

Tửu trợn mắt:

– Được chăn trâu, cắt cỏ thì còn sướng. Thầy không biết hết đâu. Đừng có nói!

Tôi vội vã:

– Vậy thì sao nào? Kể cho thầy nghe đi.

Tửu tiếp:

– Ở ngoài đó, người ta vét hết thanh niên, thiếu nữ vào Thanh Niên Xung Phong, cái mà các chú em gọi là đám “đi trước về sau”.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– Sao lại gọi là đi trước về sau ?

– Khẩu hiệu nêu ra là “Chọc thủng Trường Sơn – mở đường Thắng lợi” . Cho nên họ phải xuyên thủng tuyến địch để mở đường cho bộ đội trước khi có trận đánh. Mà đâu có dễ, nào băng suối, nào xuyên rừng, mò mẫm thăm dò để đắp đường, dựng cầu, gỡ mìn hay đánh dấu những chỗ nghi có bom nổ chậm. Thế là đi trước. Rồi trong trận đánh Thanh Niên Xung Phong cũng phải cầm súng chiến đấu như ai. Đến khi trận đánh chấm dứt thì họ về sau, tức là phải ở lại để dọn dẹp chiến trường, tải thương binh ra Bắc, chôn liệt sĩ đã hy sinh. Thế mà không gọi là gian khổ cực kỳ à?

Tôi rùng mình khi nghe nó chỉ vài lời vắn tắt mà cũng hình dung ra những đoạn đường khổ ải mà thanh niên, thiếu nữ miền Bắc phải chịu đựng suốt bao nhiêu năm dài trong cuộc chiến.

Đã thế, Tửu còn nói thêm:

– Vậy mà quanh năm đói khát, thầy ơi. Chú của em nói tiêu chuẩn thì 9 kí gạo mà thường chỉ còn có 3, 4 kí thôi. Đã thế vào mùa khô ít mưa, len lỏi trong rừng cả ngày đường không có lấy một giọt nước. Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước là như thế.

Tôi mỉm cười:

– Còn em thấy sao? Cái đời sống ở miền Nam này có khốn khổ tận cùng để miền Bắc phải mất công đi cứu không?

Tửu cười khì khì:

– Thế thì thầy hiểu sai rồi. Giải phóng miền Nam là để cứu dân miền Bắc chứ cứu gì dân Sài Gòn! Thầy không thấy bộ đội ùn ùn chở đồ ra Bắc à?

Tôi vội vã nói:

– Ấy…cái này chủ yếu là nhằm Độc lập với Thống Nhất đất nước chứ đâu phải vì mấy cái khung xe đạp, Ti vi hay tủ lạnh….

Tửu nói nhỏ nhẹ:

– Thôi đi thầy! Nhân dân ta giản đơn, cụ thể, chỉ thấy cái gì gần gũi thôi!

– Đến hạt thóc cũng cắn đôi đem chia sẻ với đồng bào miền Nam xa lắc, vậy là cụ thể gần gũi sao?

Tửu nhún vai:

– Đảng với nhà Nước nói miền Nam quằn quại dưới gót giầy của đế quốc Mỹ, thế thì ai nghe mà không đi. Chống cái gì để cứu nước thì cũng chống hết, Thầy à!

Tôi lại hỏi:

– Thế thì đã vào đến đây rồi, mọi người có thấy miền Nam quằn quại ở chỗ nào không?

– Có đấy! Nhiều người phát rên lên rằng sao miền Nam chúng nó có lắm của cải thế.

Rồi nó nheo mắt nhìn tôi rõ ra vẻ bỡn cợt. Tôi chợt mỉm cười theo. Thì ra thằng nhỏ này, càng nói chuyện càng thấy nó ranh ma dữ!

Câu chuyện giữa tôi với Tửu về tuổi trẻ gian khổ trong chiến tranh khiến tôi nhớ tới số phận của những Thanh niên Xung Phong gia nhập sau này, khi cuộc chiến đã chấm dứt. Vào khoảng tháng 3 năm 1976, Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh ở Sài Gòn đã phát động chiến dịch vận động thanh niên, thiếu nữ gia nhập đoàn Thanh Niên Xung Phong với những khẩu hiệu vừa phát trên đài, trên loa, vừa trên cả những tờ giấy lòe loẹt xanh, đỏ dán trên tuờng:

“Đâu cần: Có Thanh Niên Xung Phong; Đâu khó : Có Thanh Niên Xung Phong” hay là ” Gia nhập Thanh Niên Xung Phong là biểu lộ quyết tâm Bảo vệ và Xây dựng Tổ quốc”.

Nhiều thanh niên, thiếu nữ chen nhau ghi tên gia nhập. Một phần cũng là để cho gia đình thoát khỏi cái nạn phải đi kinh tế mới; phần khác, cũng có nhiều cô-cậu chán ngán cái cảnh đứng ngồi lóng ngóng chẳng biết làm gì khi công ăn việc làm thì không có, lại cứ bị Phường, Khóm thúc giục ghi danh để đủ túc số theo tiêu chuẩn. Thế là đường phố Sài Gòn bỗng nhiên tràn ngập hình ảnh của những toán Thanh niên, Thiếu nữ trong bộ đồng phục màu cỏ úa, đầu đội mũ tai bèo, chân đi dép lốp, tay cầm nào cuốc, nào xẻng rầm rộ xuất phát để đi về các vùng đất hoang hãy còn đầy những dấu vết do bom cày, đạn xới.

Cái vùng nổi tiếng nhất mà Thanh Niên Xung Phong đổ tới hoạt động là khu kinh tế mới Lê Minh Xuân cách Sài Gòn khoảng hơn 20 km về phía Tây Nam. Thực tình, tôi không thể hình dung được quang cảnh diễn ra những gì và đám Thanh niên Xung Phong đã và đang làm gì ở đó. Nhưng có một dạo Thành Ủy Sài Gòn phát động chiến dịch “Toàn dân tham gia bảo vệ tài sản XHCN” thì Thành đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh cũng nhẩy vào cuộc và cái tên của khu Kinh tế Mới Lê Minh Xuân lại được nhắc đến nhiều lần trên đài, trên loa.

Nói một cách tổng quát thì công tác “bảo vệ tài sản XHCN” là toàn bộ những nỗ lực của mọi ngành, mọi giới, mọi người sao cho bọn tham ô, trộm cắp, móc ngoặc tuồn hàng từ cơ quan nhà nước ra bán chợ trời phải bị triệt hạ, hay mọi người phải tích cực tố cáo những bọn đầu cơ, buôn lậu, móc ngoặc để giảm thiểu những sinh hoạt kinh doanh trái phép, rồi ngay cả những vụ sử dụng bừa bãi, phí phạm các phương tiện vật chất của nhà nước cũng đều phải bị lên án, trừng trị ..v..v…

Tích cực tham gia chiến dịch này, Thành đoàn Thanh Niên CS Hồ Chí Minh đã đem một vụ tố cáo “tham ô” của Thanh Niên Xung Phong ở khu Kinh tế Mới Lê Minh Xuân ra làm trường hợp điển hình. Thủ phạm tham-ô là một Thanh niên Xung Phong mà lâu ngày tôi không còn nhớ tên. Nhưng anh ta thì đã vì suốt ngày quần quật trên ruộng, trên bãi, lại phải ăn đói mờ người nên nẩy sinh ý tưởng đem chôn vùi vài củ khoai trên cái rẫy mà Toán của anh ta có nhiệm vụ đào lên để cho vào kho thu nhập. Chờ lúc tối trời, anh ta lẻn ra ngoài, bới khoai lên gặm nhồm nhoàm thì bị phát giác.

Cả trại ồn lên vì đã phát hiện một vụ “tham ô tài sản” có chứng cớ cụ thể. Thế là phóng viên đài, báo ở Sài Gòn ùn ùn kéo nhau tới, viết bài tường thuật um sùm và trường hợp “tham ô” này được nêu ra cho mọi người học tập coi như một thứ “điển hình”, chẳng riêng gì những Thanh niên Xung Phong ở Lê Minh Xuân mà còn cho cả những Thanh niên toàn Thành phố. Đấy là lý do mà tôi được nghe tới vụ án Lê Minh Xuân mặc dù suốt ngày bù đầu vào những công việc của trường, của lớp.

Một cô giáo dạy môn Anh văn, vốn đang là đối tượng Đoàn, sau một buổi họp thuộc Chi đoàn Thanh Niên nhà trường đã nói với bọn chúng tôi:

– Nhà trường ta cũng còn nhiều vấn đề lắm. Cũng phải theo gương Lê Minh Xuân mà chấn chỉnh lại thôi.

Tôi phản đối:

– Có vài củ khoai, đến nỗi nào mà phải gọi là tài sản XHCN.

Cô ấy nghiêm mặt lại:

– Trước nhỏ sau to. Nếu không kiên quyết thì từ củ khoai sẽ còn nhân lên thành đủ thứ.

Quả tình là tôi cũng có hơi nóng mặt. Tôi nghĩ đến thân phận của người thanh niên vốn đã lao động cật lực để trồng được luống khoai, nay vì đói quá mà phải ăn cắp ngay chính thành quả lao động của mình ở tại cái chỗ mà anh ta đã từng đổ mồ hôi xuống đó. Như thế thì còn gì bất nhẫn hơn mà không thấy nóng mặt để cãi cho ra nhẽ. Nhưng tôi chỉ nghĩ vậy thôi chứ chẳng dám đôi co thêm vài lời với một nhân sự đang phấn đấu để trở thành đối tượng Đoàn. Quả thật cho đến nay thì tôi đã “rèn luyện” được cái tính nhẫn nhịn của mình. Giống như nhiều thầy cô khác mà hàng ngày tôi vẫn gặp, họ cũng chẳng nói năng gì ra ngoài những điều đã được chính thức thông báo, ngoại trừ vẻ mặt ẩn nhẫn với ánh mắt mệt mỏi, chán chường là không thể che giấu được. Vì thế tôi chỉ nhìn cô và cố dằn để không phát biểu gì thêm. Thấy tôi im lặng, cô ta tiếp:

– Thầy về Tổ chuẩn bị những ý kiến đề xuất để tham gia trong việc trường ta phát động công tác bảo vệ tài sản Xã hội Chủ nghĩa.

Thế là tôi biết được rằng các giáo viên nay mai lại sắp có thêm công tác mới. Tôi thử nhìn quanh quang cảnh nhà trường xem có phát hiện được điều gì gọi là phí phạm hay tham ô không. Các máy lạnh hồi xưa thì nay đã được rỡ hết đi rồi. Trong các lớp học thì những cái quạt trần vẫn còn đó, nhưng nó chỉ chạy chậm rì, vừa chạy vừa nghiến vào trụ gỗ khiến phát ra tiếng kêu đều đều kẽo kẹt. Đã có lần tôi chợt nẩy ra ý tưởng không biết sẽ có thể chúng rơi trên đầu học trò lúc nào. Nhưng đấy chỉ là mối lo chợt đến một cách hão huyền. Vì ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, những cái quạt trên đầu chúng tôi vẫn nhẫn nại quay tròn một cách uể oải và không ngừng phát ra tiếng kẽo kẹt.

Mọi ngóc ngách trong trường thì cũng đã được tận dụng tối đa. Chỗ này làm nơi sản xuất mành trúc của Tổ Mành Mành, chỗ kia làm chỗ sinh hoạt Chi Đội, Chi Đoàn. Căn phòng rộng nhất vốn là Hội trường ngày xưa thì nay vẫn được dùng làm Hội trường, chỉ có khác là nó được tận dụng để hội họp liên miên, đặc biệt là mọi người hay tụ tập ở đó để nghe phổ biến Chỉ thị, hay học tập để quán triệt từng điều khoản trong các Nghị quyết.

Vậy thì còn điều gì để mà Tổ chúng tôi góp phần đề xuất ý kiến trong việc tham gia phong trào bảo vệ tài sản XHCN nữa đây ? Ấy thế mà hôm họp Tổ, anh chàng giáo viên môn Hóa đã nêu ra được cái ý kiến được coi là cũng hay ho. Anh ấy nói:

– Tôi thấy bọn nhà giáo chúng mình phí phạm nhất là cái vụ phấn viết bảng. Cục phấn khả dĩ còn xài được, vậy mà đã vứt đi để bẻ cục phấn mới.

Tôi gật gù:

– Cũng đúng! Tôi thấy có nhiều cục phấn bỏ đi mà nhắm thấy vẫn còn viết được.

Một cô giáo nhăn mặt :

– Nhắm thấy là sao? Cỡ bao nhiêu thì còn viết được? Ba phân, hai phân hay là một phân?

Tôi đáp lại mà thấy lòng cũng ngượng ngùng vì xưa nay chưa bao giờ phải sa đà vào những đề tài như thế:

– Tôi có lấy thước đo đâu mà biết chính xác. Thế mới gọi là “nhắm”.

Thầy dạy Sinh Vật đề nghị:

– Vậy mình làm thí nghiệm thử đi. Coi cục phấn ngắn nhất đến khi không còn xài được nữa thì nó dài bao nhiêu?

Mọi người đều tỏ ra hoan hỉ, không phải vì mục đích tìm cho ra lời giải đáp hợp lý, mà là vì thấy mình sắp sửa tham gia một trò chơi thú vị, coi thử ai viết nên chữ bằng một cục phấn ngắn nhất! Tuy nhiên, bỗng một cô khác cất giọng gắt gỏng:

– Thôi đi! Các ông đừng có bầy trò ra nữa. Chỉ cần nêu ý kiến là không nên xài phí phạm phấn viết bảng là được rồi. Đo lọ nước mắm đếm củ dưa hành kiểu đó khi đem ra buổi họp, các Tổ khác họ cười cho thối mũi!

Ý kiến của cô, sau cùng đều được mọi người tán thành. Và kết quả của các cuộc bàn cãi này là ở phòng giáo viên, ngoài hộp phấn trắng như mọi khi nay còn có thêm một hộp đựng phấn vụn nữa. Các thầy cô khi viết hết một cục phấn, thay vì vứt đại xuống bục giảng như trước thì nay gom lại đem về phòng giáo viên để bỏ vô đó. Tôi không biết những hộp phấn vụn này sau đó được Chi Đoàn mang đi đâu, nhưng xét ra cái hộp phấn vụn này cũng có cái ích lợi của nó. Bởi có nhiều hôm hộp phấn nguyên đã cạn queo, chúng tôi đã phải bới trong cái hộp ấy để moi lại mấy viên còn xài tạm được. Đúng là tủn mủn, nhưng thế cũng là một cách “bảo vệ tài XHCN” chứ sao, cho dù nói ra thì ai cũng thấy là rị mọ.

Mà trong cuộc sống của chúng tôi, dần dà cũng chẳng còn mấy ai e ngại những chữ gọi là rị mọ hay tủn mủn nữa. Bởi cuộc sống của chúng tôi cứ ngày càng đi xuống. Ngoại trừ vài cô giáo mà gia đình hãy còn của ăn của để, nay lại cứ biểu diễn quần đen áo cánh nâu cho ra vẻ con nhà vô sản nhưng cung cách, bộ dạng thì vẫn lòi cái đuôi tư sản, cụ thể là bây giờ, trong túi, trong bị của các cô vẫn còn đầy nhóc xí muội, mứt khế hay táo giầm. Nghĩa là vài cô vẫn còn tiền ăn quà như mỏ khoét!

Còn đa số chúng tôi thì ai nấy đều ăn mặc xuống cấp thấy rõ. Rõ nhất là cái mông quần tây của mấy thầy. Do đi xe đạp nên phía đằng sau mầu quần cứ bạc đi, vải bai dần ra. Nhiều hôm quay lưng về phía học trò để viết bảng, có mấy đứa nhìn thấy mông quần của thầy nên nháy nhau cười rúc rích. Ấy là tại chúng tôi đã phải đạp xe nhiều quá. Từ nhà đến trường. Từ trường ra ngoại ô lao động ngoại khóa. Rồi lại đi họp giáo viên toàn Thành ở những chỗ khác nhau hoặc dẫn lớp học đi mít tinh, đi diễu hành vào những ngày lễ lớn. Trách gì mà quần áo chẳng bạc phơ, vá chỗ này, rách chỗ kia. Mà nay thì làm gì có tiền để may quần áo mới. Thế là cái sự rị mọ, tủn mủn cứ lẳng lặng len vào đời sống chúng tôi tự lúc nào để biến thành nếp sống rất tự nhiên.

Tôi còn nhớ những lần đầu tiên được phát nhu yếu phẩm, tôi đã phải thủ sẵn từ nhà để mang đi một cái túi vải. Nó vừa đủ rộng để chứa đủ nào là hộp sữa, bọc đường, mì gói, bột ngọt, đậu xanh, miếng thịt, xâu cá, lại có cả cuộn giấy đi cầu. Đeo một cái bị như thế để khi giáo viên túa ra khỏi trường lúc tan học, bà con hàng phố không nhìn thấy mình được lãnh những gì. Một ông thầy chữ nghĩa đầy đầu mà đi xách hộp sữa hay cuộn giấy đi cầu thì còn ra cái thể thống gì nữa. Nhưng riết rồi cái thói che che, giấu giấu đặc biệt “tiểu tư sản” ấy đã không còn là một thói quen hay nhu cầu cần thiết nữa.

Bây giờ thì chúng tôi thản nhiên mang ra khỏi trường từng bọc giấy, từng gói nylon, cái thì buộc túm ở sau xe, cái thì quàng vào tay lái trước, chẳng ai còn thấy phải quan tâm tới cái vẻ văn nhân mô phạm bề ngoài của một ông thầy trước con mắt dòm ngó của phụ huynh hay đám học trò của mình nữa.

° ° °

Trở lại chuyện đài, báo, loa Phường um sùm về vụ điển hình chiếm đoạt tài sản XHCN ở khu Kinh tế mới Lê Minh Xuân, mới chỉ được vài hôm thì thằng Tửu đã kể với tôi:

– Bố em văng tục, thầy ơi! Ông ấy bảo cái lũ Thành đoàn làm chuyện ruồi bu!

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– Về chuyện gì vậy?

– Thì chuyện bắt giữ thằng Thanh Niên Xung Phong vùi trộm mấy củ khoai ở ngoài luống chờ tới tối lẻn ra ăn sống cho đỡ đói ấy. Bố em bảo làm mất uy tín lãnh đạo lại còn phản tác dụng. Đang vận động Thanh niên gia nhập Thanh Niên Xung Phong để thực thi nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng thành quả Cách mạng, hiệu quả chưa thấy đâu, chỉ thấy lộ liễu cái cảnh đói rã họng phải đi đào trộm khoai ăn vụng. Thế mà lại còn khua chuông gõ mõ lên thì còn có ma nào nó dám gia nhập nữa.

Tôi hoan hỉ đáp:

– Bố em nói đúng đấy. Thầy cũng thấy chuyện này rất bất nhẫn.

Tửu tiếp:

– Bố em đã liên lạc với mấy tay bên Thành đoàn rồi. Cái vụ học tập điển hình này rồi sẽ tém dẹp hết!

Quả nhiên sau đó mọi sự trở nên im rơ. Câu chuyện tham ô tài sản ở Lê Minh Xuân lặng lẽ trôi vào quên lãng và nó cũng không gây ảnh hưởng bao nhiêu đến sự thúc đẩy thanh niên nam nữ gia nhập phong trào Thanh Niên Xung Phong đang được phát động rầm rộ.

Ở trường tôi, một vài học sinh thuộc lớp lớn tự nhiên thấy nghỉ học. Riêng tôi, có một hôm tan trường, vừa đạp xe qua ngã tư đầu phố nghe có tiếng gọi lại. Lúc tôi ngừng xe thì một anh học trò vốn theo học lớp của tôi từ mấy năm về trước đã chạy ra chào hỏi rồi bùi ngùi nói:

– Em chào từ giã thầy, ngày mai em không còn tới trường nữa.

Tôi ngạc nhiên:

– Sao vậy? Chú chỉ còn có một năm nữa là xong bậc trung học rồi. Ráng lên!

– Em biết ! Nhưng chẳng làm sao được thầy ơi. Bố em đi học tập cải tạo. Phường Khóm hoạnh họe mẹ em đủ điều. Chỉ có cách em tham gia cách mạng thì họ mới để yên thôi. Mà cho dù có học cố hết cấp Ba để lên đại học thì cũng chẳng trường nào nhận đâu. Em “con Ngụy” nặng mà!

Tôi nhìn đứa học trò mà lòng lặng đi, chẳng thể cất lên được một lời nào để khuyên nhủ hay an ủi nó nữa. Chính sách kỳ thị những dân thuộc chế độ cũ đã thể hiện rõ trên nhiều mặt, ở nhiều nơi, nhiều lãnh vực. Đã thế, nó lại được áp dụng một cách rất tùy tiện, chẳng có một thứ văn bản quy định nào rõ rệt. Các địa phương cứ mặc sức mà làm. Chẳng thế mà lại đã có những tòa án nhân dân họp hành, xét xử con người ta một cách rất tức cười.

Như có một lần tôi được tới coi nhân dân trong Phường nhóm họp về vụ “Xét trả quyền Công dân” cho các anh lính VNCH cư ngụ tại địa phương, nơi tôi đang ở sau khi các anh đã học tập xong 3 ngày quy định. Nói chung, những ai chỉ bị đi học tập có 3 ngày thì sẽ được xét trả quyền công dân đúng như lời chính quyền đã hứa. Việc trao trả này cũng được thực hiện trong một buổi tổ chức có nghi thức đàng hoàng. Đó là một phiên tòa được triệu tập bao gồm các Tổ trưởng dân phố, thân nhân, gia đình các đương sự, các đại diện mọi Ban, Ngành, Đoàn thể. Một viên chức đại diện chính quyền Quận thì ngồi ghế chủ tọa. Bà con kéo tới tụ tập ngồi chật ních trong một căn nhà có phòng khách khá rộng mà chủ nhân của nó đã di tản và Phường trưng dụng làm gì tôi cũng chẳng rõ vì không có biển treo bên ngoài.

Trong phòng có kê một dẫy ghế gỗ dài, ở trên đó các cán bộ ngồi lố nhố thấy toàn khăn rằn ri hay mũ tai bèo. Bà con nhân dân thì đứng, ngồi la liệt vây quanh một khoảng trống vừa đủ chỗ đứng của gần chục người đang chờ xét xử. Rồi khi tên một người được xướng lên, anh ta tiến thêm ra một bước để cho mọi con mắt đổ dồn vào ngắm, nhìn. Có tiếng một người trong đám nhân dân Phường cất lên:

– Cái anh này tôi biết. Có đi lính nhưng không phải loại ác ôn. Trước có phá làng phá xóm nhưng nay tu tỉnh lại rồi. Đề nghị cho được hưởng quyền công dân.

Một tiếng khác vẻ gay gắt hơn:

– Tu tỉnh gì mà tóc còn để dài thế kia. Thiếu phẩm chất cách mạng.

Một cụ già đứng gần đó ôn tồn:

– Tóc dài thì biểu nó hớt ngắn đi. Nó đã học tập rồi, thì trả quyền công dân cho nó. Bà con có đồng ý không ?

Một loạt cánh tay giơ lên và nhiều cái miệng ồn ào:

– Đồng ý! Đồng ý!

Thế là xong một vụ. Những anh lính khác thì có mất thì giờ hơn, vì còn bị hỏi những tội như có xì ke ma túy không, có nghe nhạc vàng không, có chịu tham gia công tác ở Phường, Khóm không, có móc ngoặc, buôn bán ngoài chợ trời không ..v..v…Nhưng rồi cũng suông sẻ cả. Các đương sự đều qua khỏi những màn hoạnh họe hay dạy dỗ và ai nấy đều hoan hỉ là kể từ nay “mình được là công dân” cùng với cái nghĩa là từ nay không còn bị Phường Khóm là khó dễ vì cái gốc “lính Ngụy” của mình nữa. Các đương sự sau đó đều được cấp một mảnh giấy to bằng bàn tay, trên chứng nhận đã đi học tập và đã được trả quyền công dân do Ủy ban Quân Quản cấp và có chữ ký của ông Cao Đăng Chiếm đi kèm với triện son đỏ chói.

Tuổi tác của các “tân công dân” này nom vẫn còn trẻ. Hầu hết chỉ trong khoảng từ 25 đến 30. Nghĩa là suốt cả thời kỳ thanh xuân của họ cũng đã nổi trôi theo vận nước mà lại ở vào thành phần lính tráng vốn phải gánh chịu hy sinh nhiều nhất, ít được hưởng thụ nhất, gia đình vợ con bị khốn đốn, vất vả nhất ngay cả khi chồng mình, cha mình đang xông pha nơi trận mạc.

Ấy thế mà những người lính VNCH này vẫn sống một cách hồn nhiên, vui vẻ. Ra trận mạc, họ lăn xả vào mũi tên hòn đạn. Trên đường hành quân, họ nghêu ngao những bài hát nào ” Đường trường xa, muôn vó câu reo chập chùng…”, nào ” Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh, có con sông lờ lững vờn quanh”…hay cũng có khi chứa chan tình yêu đôi lứa gặp nhau trong khoảnh khắc : “Anh chiến trường, em nơi hậu tuyến- Đời lính chiến vui gặp nhau đây -Đôi đứa mình còn mỗi đêm nay – Nói gì cạn niềm thương để rồi mai ta lên đường”. Ôi sao nghe mà mộc mạc, đơn sơ như tâm hồn bình dị của các anh. Nhiều người trong túi vải hành quân còn mang theo một cái đinh dài, bóng loáng để phòng khi không có đồ nhậu, thức nhắm thì chấm cái đinh vào chén nước tương rồi nhai vài lá ổi xanh để nhậu với chai bia, xị rượu mang theo. Vậy mà đời lính vẫn vui vì chan hòa tình đồng đội cùng với nghĩa vụ bảo vệ dân đè nặng lên hai vai.

Đấy là một vài hình ảnh của những người lính VNCH mà bây giờ phải chịu mang cái tên đầy dè bỉu là “lính Ngụy”. Nhưng họ cũng chẳng vì thế mà chất chứa thêm lòng phẫn hận. Ngày xưa đã quen chịu thiệt thòi, thì nay có chồng chất thêm vài nỗi nhọc nhằn cũng chẳng sao. Tuổi thanh xuân của họ qua bao vật đổi sao dời cũng sẽ lại nổi trôi theo vận nước. Giống như bà con, cô bác, xóm giềng bây giờ. Nhìn quanh, đâu có ai nhận ra là mình sẽ có một tương lai sáng sủa đâu.

Trong cái tâm trạng ấy, tôi đã nắm tay người học trò cũ mà lòng đầy ngậm ngùi. Tôi thấy rõ tôi đang buồn bã cho anh ta và cho ngay cả chính mình. Hai thầy trò không nói gì thêm mà chỉ có cảm giác nghẹn ngào trong nỗi niềm khi thấy mọi kỷ niệm êm đềm của những ngày tháng cũ đang dần dà bị phân rã.

Rồi anh ta lủi thủi đi khuất bóng vào giữa đám đông ồn ào của thành phố. Nom cứ như một giọt nước bỗng tan nhanh vào cái mênh mông của biển cả…..

Nhà giáo một thời nhếch nhác

vietmessenger.com

Nhật Tiến

Post by Sơn râu 2 May 2024

Tổ chuyên môn

7. Phần 6

Hầu hết dân Sài Gòn trong tháng 4-1975 đều đôn đáo chạy chọt để có tên trong danh sách ra đi. Nhưng số người đi lọt xét ra chẳng là bao nhiêu so với những người kẹt lại. Cho đến khi các đoàn xe vận tải chở đầy bộ đội xuất hiện trên các đường phố thì ai cũng đều mang tâm trạng của những kẻ chấp nhận “thôi số phận đã an bài”. Đã có nhiều người ôm mặt khóc ròng. Nhưng cũng có nhiều kẻ khác nôn nóng đi ra đường để chứng kiến quang cảnh của một thành phố vào thời khắc đổi chủ. Phố xá vì thế vẫn đông nghẹt. Chỗ này người ta chen nhau chạy vào các cơ sở Mỹ hay các căn nhà không chủ để ùn ùn khuân ra đủ thứ đồ đạc, giẫm đạp lên cả những mớ giấy má, tài liệu vương vãi khắp lối đi. Ở chỗ khác thì người ta xúm xít quanh các xe chở bộ đội khi đó đã đậu lại ở các ngã tư đường phố. Có những tiếng xì xào:

– Ơi ! Bộ đội gì nom trẻ thế ! Chỉ mười bốn mười lăm là cùng !

Nhìn những khuôn mặt trẻ măng với nước da xanh bủng, thân hình thì nhỏ thó lụng thụng trong bộ đồ lính mầu xanh, lại thêm vẻ mặt ngơ ngơ ngác ngác nửa như bỡ ngỡ, nửa như dè chừng, mấy cô bán hàng rong còn dám cất lời trêu chọc :

– Anh bộ đội ơi ! Anh đi rồi thì má ở nhà ai trông ?

– Hoài của ! Giá lớn hơn chút nữa thì bên này cũng ưng !

Những tiếng cười rộ cất lên khiến cho bầu không khí ngột ngạt, e dè bỗng như tan loãng hẳn ra. Chắc hẳn cũng đã có nhiều người thở phào nhẹ nhõm khi nghĩ rằng Cộng sản mà chỉ như thế thì đâu có gì phải lo lắng.

Rồi sau đó, thành phố chỉ trong khoảnh khắc đã tràn ngập cờ xí, biểu ngữ và kèn trống um sùm. Nhân viên ở các Phường, Khóm lui tới thăm dò thì vẫn được bảo cứ tới làm việc như thường lệ. Chỉ khác trước có một điều là bên cạnh họ nay xuất hiện thêm những cán bộ ở khu về, người nào người nấy nom xanh xao, ốm yếu. Trời thì nóng như đổ lửa mà ai cũng cố choàng lên cổ cái khăn rằn ri mầu đen trắng, thậm chí có người còn khoác thêm cái áo sợi mỏng lên người, bộ điệu nom rõ ra vẻ ta đây ốm yếu do mới ở Rừng về.

Nhưng bầu không khí rộn ràng, hoan hỉ chẳng kéo dài được bao lâu. Chỉ ít lâu sau là cặp mắt mọi người đã bắt đầu thấy nhớn nhác. Những thông cáo của Ủy ban Quân Quản được phát liên tục trên đài rồi được đám thanh niên đeo băng đỏ vác loa đi từng khu xóm đọc đi đọc lại đã biến cuộc sống bình thường hàng ngày trở nên khẩn trương, nghiêm trọng. Nào cấm hát nhạc vàng. Nào giao nộp văn hóa phẩm đồi trụy. Nào dân có gốc ở địa phương nào thì phải quay về địa phương đó. Mọi người hầu như ai cũng mang cái tâm trạng phấp phỏng, lo âu như thể mình bây giờ tuy chưa sao nhưng có thể tai họa bất thường có thể ụp lên đầu bất cứ lúc nào. Cái không khí khẩn trương bất an ấy lúc nào cũng đè nặng lên tâm trí mọi người như thể ai cũng đang nhìn thấy bầu trời vần vũ báo trước sẽ có nhiều cơn bão dữ.

Rồi đến khi cái cụm từ “đi kinh tế mới” xuất hiện thì ai nấy cũng đều cuống cuồng lo chạy lấy một chân việc làm, mà làm gì cũng được miễn sao có tí dính dáng đến nhà nước hoặc các cơ sở được nhà nước cho phép hoạt động trở lại. Chẳng trách gì các Tổ hợp, các Hợp tác xã, các Công ty Hợp doanh mọc ra như nấm. Mà hễ ai chui được vào đó để có một chân làm thì lòng cũng đã chắc mẩm rồi ra đời sống sẽ được an toàn.

Cùng chung với những tâm trạng ấy, tôi đã rất lấy làm mừng vì xin được quay trở lại nghề dạy học. Cái nghiệp phấn trắng bảng đen hóa ra cũng đã đãi đằng tôi thật nhiều. Tôi tự nhủ, trước sau gì thì mình cũng là một thầy giáo. Mà làm thầy giáo ở đâu thì công việc giảng dạy cũng phải tận tụy hết mình. Sự tận tụy ấy nó xuất phát từ lương tâm nghề nghiệp chứ chẳng phải khi cách mạng về rồi thì trở cờ “ba mươi hay bốn mươi” gì hết. Bọn học trò, dù là A hay là B (tức miền Bắc hay miền Nam), theo tôi nghĩ, chúng nó đều cũng chỉ là những tờ giấy trắng để Thầy Cô giáo viết lên những dòng chữ đầu tiên cho tương lai của chúng sau này.

Nhờ kinh nghiệm lâu năm giảng dạy, tôi bỗng được ban Giám Hiệu gọi lên giao cho chức ”Tổ Trưởng bộ môn Khoa học Tự nhiên các lớp thuộc cấp II, bao gồm 3 môn học: Sinh vật, Vật Lý và Hóa học”. Thành viên trong Tổ đều là những người đã cùng đi dạy với tôi trước đó. Vài thầy dạy Lý, dạy Hóa, vài cô dạy Sinh vật, cả đám chúng tôi đều biết nhau cả nên tôi thấy công việc “Tổ trưởng chuyên môn” của mình xét ra cũng nhẹ nhàng.

Nhưng cũng không hẳn là như thế. Cả đám có khoảng năm sáu người thì cả chừng ấy mống lại đã nhìn tôi với cặp mắt e dè. Ý chừng họ cho là tôi phải có công trạng gì ghê gớm lắm thì mới được phong cái chức Tổ trưởng. Tuy họ chẳng cần nói ra nhưng cứ nhìn cái nụ cười nhếch mép của Thầy này, cái liếc xéo rồi quay đi của Cô kia là tôi đã cảm nhận được họ đang nghĩ gì về mình.

Thôi rồi còn đâu cái thời mà chúng tôi cười nói với nhau ròn rã, hỏi thăm nhau một cách tự nhiên không kiêng dè hay tán với nhau đủ thứ chuyện trên trời dưới đất vào những lúc nghỉ ngơi sau hai giờ giảng dạy. Đối với tôi những thứ rất thường tình ấy sao bây giờ nó lại quý đến thế ! Thì ra có những điều mà trước đây đã hiện diện một cách dửng dưng, tưởng chỉ là những thứ nhỏ nhặt trong đời sống ấy thế mà nay nó trở thành cái nhu cầu trọng đại muốn lấy lại mà không được. Chẳng thế mà có lần, tôi không nhớ trong hoàn cảnh nào, mà một Cô giáo đã mỉm cười với tôi một cách hồn nhiên. Tôi thấy rõ ở Cô lúc đó không mang bất cứ một ngụ ý gì. Chỉ có thế thôi mà tôi bỗng thấy lòng rộn lên một nỗi mừng vui vô hạn, như một kẻ đi giữa nắng trưa vừa được hưởng một cơn gió mát. Rõ ràng là ở đây, bây giờ, mọi sự bình thường đã không còn là bình thường nữa. Nó đang bị cung cách sống hàng ngày lặng lẽ bào mòn khiến cho con người trở nên dần dà bị biến chất.

Nhưng dù ở bất cứ tâm trạng nào thì tôi vẫn giữ nguyên được cái lương tâm nghề nghiệp. Vào lớp giảng dạy, tôi không hề có ý phân biệt đứa này là học sinh chế độ cũ, đứa kia mới ở A vào. Trò nào không hiểu bài, tôi sẵn sàng giảng giải thêm nếu nó tới hỏi tôi sau giờ học. Với cung cách hành xử ấy, tôi yên tâm nhận lãnh chức vụ Tổ trưởng Chuyên môn được giao phó.

Tuy nhiên cũng có nhiều điều đáng nói trong cái sinh hoạt được gọi là “họp tổ chuyên môn này”. Bọn chúng tôi thường chọn gặp nhau mỗi tuần một lần tại một lớp học được bỏ trống vào buổi chiều. Mọi người ai nấy đều ôm theo một đống tài liệu mà hầu hết là những cuốn sổ. Nào sổ Giáo án, nào sổ Chủ nhiệm lớp, sổ Ghi chép các buổi tham dự giờ dạy của các giáo viên cùng bộ môn, sổ Học tập chính trị, nếu ai còn tham dự Chi đoàn Thanh niên hay Công đoàn cơ sở thì còn có cả sổ Công tác, sổ Kiểm điểm cá nhân để tự học, tự bồi dưỡng..v..v..nữa. Ghê gớm thay cho cung cách sinh hoạt trong một nhà trường Xã Hội Chủ Nghĩa. Càng nhiều sổ sách thì càng có nghĩa là có nhiều thứ kìm kẹp. Bởi những cuốn sổ ấy không phải là thứ ghi chép của riêng mình. Nó phải được giao nộp cho cấp trên để kiểm tra xem mình ghi chép những gì, có tuân hành đúng theo mọi chỉ thị hay không, có tiết lộ ra tư tưởng phản động nào không…v..v…

Trong cương vị Tổ trưởng Chuyên môn, công việc của tôi là phải truyền đạt những yêu cầu của ban Giám Hiệu tới các giáo viên và nhắc nhở, kiểm tra các vị ấy trong tiến trình sửa soạn bài vở khi họ đứng lớp. Vì vậy, chiếu theo bài bản, tôi nêu câu hỏi đầu tiên thuộc về tình hình chung căn cứ theo hoàn cảnh của mỗi người, nghĩa là đương sự gặp những khó khăn gì, những thuận lợi gì và tinh thần phục vụ bây giờ ra sao, có cái gì lấn cấn mà không tự giải quyết được hay không ?

Một cô giáo đã nhanh nhẩu trả lời :

– Ui ! Khó khăn thì chả có gì khó khăn hết đâu thầy. Còn thuận lợi thì có khối ra đấy. Này nhé, ở địa phương tôi thì chính quyền vẫn tạo mọi thuận lợi cho nhà giáo làm công tác giảng dạy. Ở nhà trường thì Ban Giám Hiệu luôn luôn quan tâm đến đời sống của các giáo viên. Về mặt vật chất thì nhu yếu phẩm vẫn nhận lãnh đều đều không có ai khiếu nại gì hết. Về mặt tinh thần thì tôi luôn luôn được bồi dưỡng học tập đường lối chính sách của Đảng và nhà nước để mình được toàn tâm toàn ý trong sự nghiệp giáo dục những mầm non của tổ quốc….

Tôi hơi nhăn mặt:

– Cô nói vậy chớ, sao lại không thấy khó khăn gì hết ?

Mọi người như khựng lại khi được nghe tôi phát biểu một cách bất ngờ. Thật ra tôi cũng chẳng quan tâm gì đến những kiểu nói năng đầu môi chót lưỡi này. Nhưng trong thâm tâm, tôi rất bực cái nhà Cô này khi đã tuôn ra một tràng những lời lẽ như thế. Tôi có là cán bộ hay công an nhà nước đâu mà cô lại ứng xử với tôi những màn kịch kệch cỡm như thế. Chắc hẳn là cô đã đánh giá tôi quá thấp và tôi thấy mình không thể cho qua khi phải nhận lãnh những lời lẽ kiểu này. Vì thế tôi tiếp tục nói:

– Khó khăn đầy dẫy ra ấy chứ ! Như ở địa phương tôi, sau một đêm ngủ chập chờn không đủ giấc thì cái loa báo hại nó réo ngay ở đầu nhà từ 5 giờ sáng để khua bà con dạy đi tập thể dục theo Nếp Sống Mới. Rồi cứ ra rả suốt ngày đến không còn đầu óc đâu mà chấm bài, soạn bài nữa….

Trong khi cô giáo kia ấp úng không thể trả lời thì cả nhóm đã nhao nhao lên:

– Đúng đó ! Đúng đó !

– Ôi trời ơi ! Cái loa chết tiệt, nó hành con người ta đến phát ốm mà chết mất thôi.

Thế là cả bọn thi nhau kể chuyện Phường, Khóm nơi mình cư ngụ. Nào Phường đổ khoai ra giữa lối ngõ để chờ phân phối nhu yếu phẩm, nhìn ra thì toàn là khoai ủng, khoai sùng. Nào Thanh niên đeo băng đỏ hống hách, phách lối rượt theo mấy chị bán rau, bán bún mà đá đổ thúng mủng của họ không chút xót thương. Nào công an khu vực lừng lững đi vào nhà người ta coi như vào chỗ không người. Nào họp hành gì liên miên, ở Tổ, ở Khóm, ở Phường, xoạch một cái là kêu đi hốt rác, thụt cống, mít tinh biểu tình để biểu dương, chào mừng ngày lễ, ngày kỷ niệm này nọ….Dân chúng cứ như lũ kiến trong chảo rang, đời sống nháo nhào không biết an trú vào đâu để mà ngơi nghỉ.

Thấy buổi họp đã có mòi xoay ra “tố khổ” chế độ mới, tôi bèn phải chỉnh hướng lại:

– Thôi…thôi…chuyện địa phương, Phường Khóm xin để về địa phương khiếu nại. Bây giờ mình qua tới mục “tư tưởng chính trị và tác phong đạo đức cách mạng”.

Một thầy nói ngay :

– Cái này thì ai chẳng biết. Học tập rã người ra rồi.

Nhưng một Cô khác lại hỏi:

– Nhưng nội dung cái mục này là những cái gì kia hè ?

Tôi giảng giải :

– Thì nó là cái sự soi rọi coi mình có chấp hành chủ trương, đường lối của nhà nước hay không này, có quán triệt những nội dung chính sách theo nghị quyết của Đảng không này, rồi lại còn tác phong làm việc có giúp đỡ học sinh, giúp đỡ đồng nghiệp, cũng như bà con nhân dân trong sự nghiệp xây dựng Xã hội Chủ Nghĩa hay không nữa này…

Một cô giáo cất tiếng hỏi ngay :

– Thế thầy thì sao ? Thầy có chu toàn được mấy đòi hỏi ấy hay không hả thầy ?

Tôi thủng thẳng đáp :

– Tôi ấy à ? Có phấn đấu đấy, nhưng cũng còn lâu mới đạt tiêu chuẩn !

– Ủa ! Thế nghĩa là sao ? Xin nói cụ thể ?

– Thì có nghĩa là nội dung đường lối, chính sách, Nghị quyết của Đảng và nhà nước nó rộng rãi bao trùm lên mọi thứ trên đất nước này, tôi hơi sức đâu mà nói quán triệt. Lại còn khoe là chu toàn nữa ! Nói thế là nói dối !

Mọi người cùng “à” lên một tiếng đồng tình. Có những cặp mặt nhìn tôi mang vẻ cảm thông, chia sẻ. Như thế là tôi đã phần nào phá vỡ được cái vỏ bọc oan uổng mà bấy lâu nay tôi phải chịu đựng. Bầu không khí buổi họp trở nên gần gũi, thân mật nhau hơn. Mọi người xoay ra nói đủ thứ chuyện, nào là chuyện đổi tiền, chuyện đánh Tư sản, chuyện đi Kinh Tế Mới..v…v… Tuy nhiên cũng lại có một thầy nêu lên một câu hỏi cắc ké :

– Mình có ghi những lời phát biểu này vào biên bản họp Tổ không ?

Tôi vội vã xua tay :

– Ấy chớ ! Mình chỉ ghi những cái gì thuộc về chuyên môn thôi. Còn những phát biểu linh tinh….coi như “ngoại khóa” !

Câu nói này của tôi lại như một liều thuốc xua tan thêm những sự nghi ngờ. Hiển nhiên là sau buổi họp này, một Cô giáo tới gặp tôi, tâm sự:

– Trước tụi em cứ tưởng thầy…đáng ngại lắm. Nhưng bây giờ thì mới biết.

Tôi thở dài :

– Tôi cũng cảm nhận được sự e ngại của các cô. Nhưng cô nghĩ mà coi, thân phận nhà giáo bây giờ thì làm được cái gì. Đành là cứ phải chấp nhận thôi, miễn đừng có giở trò thì thụt báo cáo hãm hại cá nhân của nhau là được rồi.

° ° °

Bước qua phần chuyên môn, Tổ chúng tôi thảo luận rất cởi mở vì chẳng có gì phải dè chừng nữa. Một cô giáo dạy Sinh vật nhăn nhó :

– Giáo án thì đã ghi: Mổ cá Chép. Nhưng bây giờ đào đâu ra cá Chép để mà mổ. Không lẽ đi chợ bỏ tiền túi ra mua.

Một cô hùa theo :

– Mà mua một con thì đâu có đủ. Cả lớp chia thành 4 nhóm thì ít ra cũng phải có tới 4 con.

Một thầy khác nói giọng bực bội :

– Theo đúng giáo án thì cứ đổ thóc giống ra mà ăn. Như môn Hóa của tôi, trong bài học về đường Glucose có phần làm thí nghiệm tráng gương thì bây giờ đào đâu ra dung dịch Nitrat Bạc trong Am-mô-nhác ?

Có người hỏi :

– Ủa ! Phòng thí nghiệm của nhà trường lúc trước không còn gì nữa sao ?

Tôi trả lời thay :

– Tôi đã vô coi tất cả rồi. Món thì cạn khô, món thì quá date hết xài. Chai lọ, ống nghiệm nằm ngổn ngang như một đám ve chai. Căn phòng ấy đang có dự tính biến thành nơi sinh hoạt của Chi Đoàn.

Có tiếng thở phào :

– Vậy thì cứ dẹp giáo án qua một bên. Dạy tới đâu hay tới đó.

Tôi cản lại :

– Ấy không được đâu. Các cậu chả nghe ông Hiệu trưởng nói Giáo án là Pháp lệnh đó sao? Cho nên cứ phải viết cho đầy đủ, còn trong thực tế, làm được tới đâu hay tới đó.

Một cô thắc mắc :

– Rồi lỡ khi đang dạy nhà trường tới kiểm tra thấy trật lấc thì làm sao ?

Tôi mỉm cười, nói nhỏ:

– Đừng có lo ! Họ nhắm là nhắm các vị dạy Văn, dạy Sử kìa. Mỗi giáo án bị xăm soi như bác sĩ đem kính hiển vi ra tìm vi trùng. Cho nên dạy hai môn ấy mà ấm ớ thì toi. Còn lũ mình chỉ có cá Chép với đường Glucose thì nếu có kiểm tra cũng chỉ phơn phớt, qua loa thôi. Với lại ai chẳng biết bản thân còn phải nhá bo bo vẹo hàm, lấy tiền đâu mà mua Cá Chép để mổ khơi khơi…

Trong một lúc hứng chí, tôi đã tuôn ra mấy lời nói thật nhưng chợt thấy hối ngay vì tai vách mạch rừng, biết đâu mà lường trước. Đúng là cái câu mà chính tôi đã vừa nói ra : “ấm ớ là toi”, vì vậy tôi lại phải nói thêm ngay :

– Nhưng dù thế nào thì mình cũng phải cố gắng khắc phục. Như không mổ được cá thì cô vẽ hình lên đi. Cứ treo giữa bảng đen hình một con cá Chép to đùng, trên ghi đầy đủ các cơ phận đã mổ ra, nào mang, nào ruột, nào mật, nào bong bóng….thế là cũng tạm chấp nhận được rồi. Hồi trước, cô cũng dạy môn này, tôi đâu có thấy cô mổ cá.

Cô giáo đáp lại bằng một giọng chanh chua :

– Thưa có đấy ạ. Hồi trước em mổ cá ngoài chợ Trần Quốc Toản, thầy đâu có ghé qua mà biết được. Còn bây giờ, em sẽ biểu lũ học trò muốn coi mổ cá thì cứ xuống khu đằng sau nhà trường chờ các thầy cô xả thịt, chia cá thì cũng thấy ngay chớ gì !

Thế là mọi người lại hào hứng xoay qua chuyện phân phối nhu yếu phẩm kéo dài cho tới khi hết giờ, tan buổi họp. Lúc chia tay, tôi yêu cầu mọi người ký tên vào biên bản mà trong đó tôi chỉ ghi vắn tắt có vài hàng như sau :

– Các Tổ viên đã sốt sắng trao đổi kinh nghiệm giảng dạy cùng là góp ý nhằm nâng cao ý thức tự giác, tự phấn đấu bản thân để hoàn thành tốt công tác được giao phó trong cương vị của các giáo viên dưới mái nhà trường Xã hội Chủ nghĩa.

Mọi người đều sốt sắng ký tên. Riêng anh bạn tôi lúc ký xong lại còn nhún vai nhìn tôi. Cái nhìn thăm thẳm mang một nỗi chán chường sâu xa. Trong cái nhìn ấy, tôi cảm nhận được sự ê chề của đám nhà giáo chúng tôi khi đã phải cùng nhau đồng lõa trong sự giả dối.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

December 24th, 2021

Post by Sơn râu 2 May 2024

(Kỳ 45)

“Tên em là Kaori.” Cô gái dứt lời ca, nhìn tôi chăm chú. Kaori là Hương trong tiếng Nhựt. Khi tôi lên Trung úy, một đêm giữa xứ Nhựt thanh bình tôi đã trả tiền cho một geisha, nàng cũng nói: “Tên em là Utamaru. Trung úy nhớ cho em.” Đêm nay, tôi đã là Đại tá có gia đình, nhưng xứ Nhựt đang lâm nguy…

Trong chiến tranh, thần chết và lãng mạn bay dưới cùng một vòm trời phù du. Hara hẳn đã từng biết đến châm ngôn của Marguerite Yourcenar: “Giống nhau đến kỳ lạ giữa chiến tranh và tình yêu. Thỏa hiệp, tôn sùng, yêu sách và cấu xé đến chết thôi, để rồi nhớ mãi.”

Chương 45 còn là câu chuyện của một Tài-pán biết trọng vinh hiển và hy sinh của những quân nhân.

[Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 45

Ở Truk, các cơ khí viên của tàu công xưởng Akashi bó tay trong việc hồi sinh máy sonar của chiếc Shigure. Cuối cùng họ “phán quyết” là phải thay các cơ phận hư hỏng ở Nhựt. Ðiều này không khiến tôi lo lắng, vì tôi biết máy dò tàu ngầm trên 2 tuần dương hạm Myoko và Haguro vẫn hoạt động, và chiếc Shigure có thể theo bén gót hai tàu này với vận tốc 18 hải lý.

Năm ngày hải hành hoàn toàn yên tĩnh. Shigure buông neo xuống cảng Sasebo vào ngày 17 tháng 11 năm 1943. Lần trở về này tôi thấy vui hơn lần về cùng với chiếc Amatsukaze vào tháng 12 năm rồi, vì lúc ấy chúng tôi mang theo linh vị 43 thủy thủ mà thi hài phải thủy táng. Còn trong 8 tháng phục vụ ở Truk và Rabaul, chiếc Shigure không mất một người nào. Thủy thủ của tôi nhảy nhót khi tàu tiến vào hải cảng nhà. Trong các trận chiến đẫm máu quanh quần đảo Solomon, chúng tôi thường không mang một chút hy vọng nào sẽ nhìn thấy lại quê hương.

Mất hai ngày lo thủ tục, chiếc Shigure mới vào ụ nổi để sửa chữa. Khi nước bơm ra khỏi ụ, lườn tàu lộ hẳn, mọi người đứng xem đều kinh ngạc. Ngay giữa bánh lái có một lỗ thủng rộng hơn 6 tấc đường kính. Sau khi xem xét cẩn thận, các kỹ sư cho biết lỗ thủng bám đầy sò hến này là do một quả ngư lôi gây ra ít nhứt 3 tháng trước đây.

“Ồ, phải rồi,” tôi nhớ lại, “Lỗ thủng này chắc chắn có từ trận đánh tại vịnh Vella vào đêm mùng 6 tháng 8. Chỉ trong trận đánh đó chúng tôi mới thấy ngư lôi địch lướt gần tàu hơn hết.”

Một kỹ sư hỏi: “Nhưng, trong tình trạng này, làm sao ông có thể điều khiển chiếc tàu từ lúc đó cho đến đây?” Tôi đáp: “Trong những tháng gần đây, bánh lái tàu có vẻ trì trệ, chậm đáp ứng mỗi khi chúng tôi bẻ lái, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục thi hành hàng chục công tác, và như các ông thấy, tất cả đều trôi chảy.”

Sáng hôm sau, nhà báo và phóng viên vây quanh chiếc Shigure chụp ảnh. Tôi gần như bị họ tràn ngập. Họ phỏng vấn thủy thủ đoàn và viết bài liên quan đến các hoạt động của chúng tôi để đăng tải trên các nhựt trình phát hành trên toàn nước Nhựt.

Kể từ lúc đó, chiếc Shigure thành khu trục hạm nổi tiếng nhứt trong Hải quân Hoàng gia. Các nhựt báo địa phương đã dành trọn nhiều trang để đăng toàn những bài viết về chiếc Shigure. Tôi hơi áy náy khi đọc một số bài có những chi tiết thêu dệt thái quá, và tôi cho đây chẳng qua là một loại “pháo bông tinh thần” không hơn không kém. Tuy nhiên các câu chuyện về chiếc Shigure lại đầy ý nghĩa đối với dân chúng trong thị tứ.

Tối hôm đó, một buổi dạ tiệc khoản đãi thủy thủ đoàn Shigure tổ chức ở nhà hàng Manriko, nơi lui tới của giới Hải quân. Chủ nhân là một người đàn bà lớn tuổi mà chúng tôi thường gọi là Oseki-san. Tính tình bà thực thà chất phác. Bà đối đãi với bọn thực khách chúng tôi giống như với lũ trẻ con, gọi ngay cả tên tộc của các vị đô đốc. Nhưng không ai bắt bẻ sự vụng về có vẻ vô lễ này, vì mọi người đều biết tính khí và tấm lòng nhân ái của Oseki-san.

Khi bước vào nhà hàng, tôi đoán chừng bà cũng sẽ lớn tiếng gọi tên tôi, và đưa tay đập mạnh vào vai tôi, như bà vẫn thường làm mỗi lần tôi trở về sau một thời gian vắng mặt lâu ngày. Vì vậy, tôi đã kinh ngạc khi thấy Oseki-san, trong bộ y phục đẹp nhứt, trang trọng tiến ra và nghiêng mình xuống để tiếp đón tôi. Bà đã dùng những lời lẽ mà tôi chưa bao giờ nghe trước đây.

“Ðại tá Tameichi Hara, tôi xin có lời chào mừng ngày trở về của Ðại tá. Ðược chọn để mở tiệc mừng ngày trở về của thủy thủ đoàn vĩ đại dưới quyền chỉ huy đáng kính phục của Ðại tá, đó là một danh dự lớn lao cho chốn thô lậu này. Kính xin Ðại tá nhận nơi đây những lời lẽ ngưỡng mộ của một kẻ dốt nát như tôi.”

Tôi trố mắt: “Bà làm sao vậy? Oseki-san? Bà có vẻ khác lạ. Bà có bệnh hoạn gì không? Hay bà muốn xỏ lá tôi?”

“Tôi có dám chế giễu đâu, thưa Ðại tá. Ðại tá đã làm cho chúng tôi kiêu hãnh. Ðại tá nổi tiếng, tôi chưa bao giờ tưởng tượng có ngày Ðại tá trở thành một sỹ quan vĩ đại như vầy. Những cử chỉ, những lời lẽ vô lễ của tôi trước đây xin Ðại tá bỏ qua.”

“Bà đang nói gì đó, Oseki-san?” Tôi chưng hửng. “Tôi vẫn là Tameichi đây mà, tên uống rượu không bao giờ ngã đây! Cái điệu này là dám chắc tôi vẫn còn thiếu bà một khoản tiền, phải không? Có phải lần cuối cùng say khướt tôi đã quên thanh toán?”

“Ồ, Ðại tá Tameichi Hara, bây giờ chính Ðại tá đang chế giễu tôi. Từ giờ phút này, bất kỳ khoản tiền thiếu nào của Ðại tá hay của các thủy thủ dưới quyền Ðại tá đều kể như xóa bỏ. Và đêm nay, buổi tiệc của Ðại tá tôi cũng kể như của người trong nhà.”

Tôi kêu lên: “Chắc chắn tôi có làm điều gì sai quấy với bà chứ chẳng không!”

“Ðại tá vẫn còn chưa hiểu. Tôi biết có nhiều khu trục hạm bị địch quân đánh chìm, nhưng riêng chiếc Shigure của Ðại tá vẫn còn sống sót, lập chiến công mà không mất một thủy thủ nào. Việc này đối với tôi chẳng khác nào một phép lạ. Tôi từng giao dịch buôn bán với Hải quân hơn 50 năm, ngoại trừ Ðô đốc Heihachiro Togo, người đã ca khúc khải hoàn ở eo biển Tsushima vào năm 1905, tôi chưa từng thấy sỹ quan hải quân nào đáng khâm phục như Ðại tá.”

“Bây giờ tôi biết rồi, Oseki-san! Tôi chắc bà đã đọc báo. Bà đừng tin mấy bài báo đó, không đúng với một nửa sự thực đâu. Chiếc Shigure sở dĩ tồn tại là nhờ thủy thủ đòan các cấp chịu khó làm việc, và nhứt là nhờ vào sự may mắn. Hoặc giả là nhờ … bà siêng năng cầu nguyện cho chúng tôi trở về!”

Cả hai chúng tôi cùng cười to, nhưng bà ta vẫn không quên nhắc lại cho tôi biết buổi tiệc này thủy thủ của chiếc Shigure sẽ không phải trả một đồng xu nào hết. Khi dẫn tôi vào bàn, bà nói khẽ: “Tất cả geisha ở Sasebo tình nguyện tiếp đãi miễn phí cho buổi tiệc này. Họ nói với tôi là dù cho được trả bất cứ giá nào họ cũng sẽ không phục dịch cho thủy thủ đoàn của hai tuần dương hạm Myoko và Haguro, nếu hai chiếc tàu này mở tiệc. Ðại tá hãy cho phép họ nhận vinh dự này.”

Tôi vô cùng bối rối, nhưng Oseki-san nhanh chóng cáo lui và tiếng đàn đã trổi lên. Không cần phải nói cũng hiểu bữa tiệc đêm đó thiệt vui vẻ và hoàn toàn thỏa mãn đối với mọi người. Tám tháng ngoài mặt trận hầu như chỉ biết đến ngư lôi, mìn và cao xạ hoặc trọng pháo làm rung chuyển thép tàu, nên tất cả chúng tôi đều ngây ngất trước vẻ đẹp của các geisha, đặc biệt ân cần chăm sóc chúng tôi trong áo kimono đài các. Một ca hoàn giống in hệt Utamaru, làm tôi xao xuyến.

Tôi yêu cầu ca hoàn hát cho tôi nghe lại ca khúc Hana-kago no uta, là bài hát Lẵng hoa mà Utamaru hay hát cho tôi nghe trong căn phòng trọ của tôi gần bến cảng ở Kurê mà mỗi chiều khi hoàng hôn xuống Utamaru đều ghé đến. Cô gái ôm đàn hát, cất giọng thiết tha càng làm tôi nhớ Utamaru.

“Tên em là Kaori.”

Cô gái dứt lời ca, nhìn tôi chăm chú. Kaori là Hương trong tiếng Nhựt. Khi tôi lên Trung úy, một đêm giữa xứ Nhựt thanh bình tôi đã trả tiền cho một geisha, nàng cũng nói: “Tên em là Utamaru. Trung úy nhớ cho em.” Ðêm nay, tôi đã là Ðại tá có gia đình, nhưng xứ Nhựt đang lâm nguy. Tôi xua tan ý nghĩ ám tối. Ích gì khi vận mệnh lớn lao ngoài tầm tay. Hãy vui cùng Kaori. Tôi đứng lên mời nàng một điệu nhảy. Cả sảnh vụt im bặt. Thân thể Kaori êm ái xoay trong tay tôi và lướt theo vũ khúc như một làn lụa. Khi chúng tôi chấm dứt, hàng loạt tràng pháo tay. Tôi cảm giác hãy còn là tay trung úy 26 tuổi, trong lúc Kaori rạng rỡ. Rồi toàn tàu cùng đứng lên nâng ly. Ðêm là vì sao khuya chiếu sáng.

Ngày kế đó, tôi sắp xếp cho thủy thủ thay phiên nhau về nhà nghỉ phép, mỗi người 10 ngày. Tôi cảm thấy vui lây khi nhìn thấy 80 thủy thủ đi phép đầu tiên rời khỏi Sasebo vào sáng hôm sau.

Nhưng thời gian vui vẻ của tôi chỉ có tính cách từng ngày. Vào ngày 25 tháng 11, một sỹ quan tham mưu ở căn cứ hải quân Sasebo trao cho tôi những bản phúc trình mới nhứt. Một trong số những bản phúc trình này liên quan đến cuộc đại bại khu trục hạm được xem là nhục nhã nhứt của Hải quân Nhựt. Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần. Năm khu trục hạm, dưới quyền chỉ huy của Ðại tá Kiyoto Kagawa, khởi hành từ Rabaul vào lúc 15g30 ngày 24 tháng 11 trong nhiệm vụ chuyển vận lần thứ hai đến Buka. (Lần đầu tiên do tuần dương hạm Yubari và khu trục hạm Shigure của tôi thực hiện, và không gặp cản trở nào của địch).

Kagawa không phải là sỹ quan chuyên môn về khu trục hạm, và cũng chưa từng biết đến đánh ban đêm là gì, tuy nhiên ông ta đã lượng định gần đúng mức nguy hiểm của chuyến đi. Ông đã chia 5 khu trục hạm ra thành hai nhóm: soái hạm Onami của ông và chiếc Makinami lo nhiệm vụ thám sát chiến đấu. Ba chiếc còn lại chỉ thuần túy đảm trách nhiệm vụ chuyển vận.

Lượt đi, đoàn tàu không gặp sự ngăn trở nào, và 3 khu trục hạm vận tải – Amagiri, Yugiri, Uzuki – đã đổ 920 binh sỹ và 35 tấn tiếp liệu lên đảo Buka một cách êm thấm trước nửa đêm ngày hôm đó. Sau đó, 3 khu trục hạm này nhận 300 binh sỹ bệnh tật để mang về Rabaul.

Kagawa, với hai chiếc Onami và Makinami, chạy cách phía trước 3 khu trục hạm vận tải khoảng 8 dặm, thình lình bị 5 khu trục hạm Hoa Kỳ (dưới quyền của Ðại tá Arleigh Burke) tấn công bằng ngư lôi. Chiếc Onami chìm tức thì, không bắn được viên đạn nào. Chiếc Makinami bị đạn pháo địch chẻ làm hai, và cũng chìm không lâu sau đó.

Các khu trục hạm Hoa Kỳ truy đuổi 3 chiếc tàu Nhựt còn lại. Chiếc Yuguri, chạy cuối cùng, xoay lại chống đỡ với kẻ truy đuổi, nhưng vướng ngay vào hỏa lực tập trung của địch, và cùng chịu chung số phận với hai chiếc tàu bạn đã chìm trước đó. Hai khu trục hạm còn lại là Amagiri và Uzuki chạy thoát.

Kết quả của trận đánh này làm tôi đau buồn tột độ, bởi vì hạm trưởng của chiếc Onami, Trung tá Kiyoshi Kikkawa, là bạn thiết của tôi. Kikkawa cùng với Kagawa và toàn thể thủy thủ đoàn đã đi theo chiếc tàu xuống biển sâu. Kikkawa không phải là một sỹ quan ngu dốt hoặc thiếu kinh nghiệm. Tiếng tăm gặt hái được sau trận Guadalcanal. Lúc còn làm hạm trưởng khu trục hạm Yudachi, đã chứng tỏ tài năng của anh ta. Nhưng ngay cả một hạm trưởng dũng cảm và đầy kinh nghiệm, vẫn phải bó tay trước một đối thủ được trang bị các khí tài tối tân, đạt đến kỹ thuật cao độ nhứt, có thể nhìn và nhắm trong đêm tối một cách chính xác.

Khi tôi quay lại với nhiệm vụ chiến đấu, không hiểu khả năng của địch quân và khả năng của tôi như thế nào? Câu hỏi này đã gây cho tôi nhiều lo âu. Tôi trở lại ụ nổi và thúc giục ở đây sửa chữa chiếc Shigure càng nhanh càng tốt. Những người phụ trách việc sửa chữa cho biết họ sẽ tận lực, nhưng ít ra phải mất một tháng chiếc tàu của tôi mới thích hợp với nhiệm vụ tác chiến.

Vào ngày 26 tháng 11, tôi vừa ngạc nhiên vừa vui mừng khi Phó Ðô đốc Chuichi Nagumo gọi điện thoại và mời tôi dùng cơm với ông. Tôi hân hoan nhận lời.

Lúc còn giữ chức Tư lịnh Lực lượng Ðặc nhiệm, Nagumo đã chỉ huy hải lực tấn công Trân Châu Cảng và các cuộc hành quân hàng không mẫu hạm liên tục sau đó dẫn đến trận đánh Midway. Ðến tháng 7 năm 1942, ông được thuyên chuyển qua nắm giữ Ðệ Tam Hạm đội. Tháng 11 năm 1942, ông được bổ nhiệm vào chức Tư Lịnh Hải khu Sasebo, và tháng 6 năm 1943, ông lại được thuyên chuyển về Hải khu Kurê. Hiện tại, tôi vừa biết ông được tái bổ nhiệm vào chức Tư lịnh Ðệ Nhứt Hạm đội (Hạm đội đảm trách huấn luyện tại chính quốc). Lời mời của ông khiến tôi cảm kích đồng thời gây ra cho tôi sự ưu tư sau khi được biết các quan điểm và kế hoạch của ông.

Sức khỏe Nagumo đã phục hồi. Xem ông có vẻ tươi tắn hơn lần tôi gặp ở Truk cách một năm trước đây. Nhưng qua câu chuyện, tôi thấy ông mất tinh thần rõ ràng. Trong suốt bữa ăn kéo dài khá lâu, ông thúc giục tôi kể lại những kinh nghiệm mà tôi đã trải qua. Ông ngồi nghe chăm chú, và cuối cùng ông nói: “Những giai đoạn huy hoàng của các khu trục hạm đã chấm dứt cùng với trận đánh ở mũi Saint George. Tình trạng có thể đổi khác ở hiện tại và tương lai, nếu Nhựt Bản có chừng một chục hạm trưởng tài năng như anh.”

Tôi không biết lời ông nói có đúng không, nhưng theo tôi thấy, dù sức khỏe đã được khôi phục, vị đô đốc cao cấp già nua này đã ngã lòng. Nhiều lúc tôi nghĩ rằng sự phá sản tinh thần của ông cũng là sự phá sản của Hải quân Nhựt Bản.

Ðó là lần cuối cùng tôi gặp ông. Vào tháng 3 năm 1944, ông lại được thuyên chuyển đến Saipan kiêm nhiệm hai chức vụ Tổng Tư lịnh Khu vực Trung tâm Thái Bình Dương và Không Hạm đội 14. Ở đây, ông tiếp tục chiến đấu và tự sát vào tháng 7 cùng năm, khi Mỹ chiếm Saipan. Ngày hôm sau, tôi về nhà cùng lúc với 80 sỹ quan và thủy thủ được hưởng 10 ngày phép trong đợt nhì. Khoảng thời gian nghỉ phép này không giống với những lần nghỉ phép trước của tôi. Sáng, chiều và tối, các sỹ quan và thủy thủ của tôi lần lượt đến nhà, lẻ tẻ từng người hoặc từng tốp 3, 4 người, người nào cũng tay nách xách mang rượu sakê. Nhiều người ở gần, nhưng cũng có nhiều người ở xa, phải vượt hàng mấy giờ xe lửa, đổ xô về Kamakura, nơi mà gia đình của tôi hiện đang sinh sống. Trong tình cảnh ấy, tôi phải ngồi thù tạc tiếp họ cả ngày lẫn đêm.

Họ luôn miệng xin lỗi vợ tôi về sự quấy rầy và những lời nói vụng về, thô tục của họ. Họ giải thích: “Chúng tôi đã thoát chết khỏi các trận đánh đẫm máu nhứt. Ðó là một phép lạ, và có thể phép lạ này do Ðại tá ban cho chúng tôi. Ông là sỹ quan giỏi nhứt của Hải quân Hoàng gia. Chúng tôi phải chia bớt thời gian nghỉ phép cho gia đình của vị sỹ quan chỉ huy đáng kính của chúng tôi. Mong bà thông cảm.”

Bất kỳ công việc gì của gia đình tôi họ cũng mó tay vào. Họ chơi đùa và dẫn lũ con tôi chạy lang thang khắp nơi. Qua một vài ngày “đấu tửu lượng”, có thể nói thân thể tôi đẫm ướt sakê. Tôi không bị chết đuối vì sakê cũng là một điều lạ. Vợ tôi, đặc biệt là cô con gái, đã “bí mật tuyên bố” rằng đây là kỳ nghỉ phép “khủng khiếp” nhứt của cha. Vì cha đã đem về cả một thủy triều sakê! Riêng đứa con trai tôi lại khoái mấy ông khách này.

Vào ngày 6 tháng 12, tôi trở lại Sasebo với thể xác uể oải vì uống rượu quá độ, cho đến cả một tuần lễ sau tôi mới tỉnh táo lại. Công việc sửa chữa chiếc Shigure hoàn tất vào ngày 20. Sau hai ngày chạy thử, chiếc tàu chứng tỏ đã đầy đủ năng lực, tôi báo cáo cho Bộ Tư Lịnh biết chúng tôi sẵn sàng quay trở lại Thái Bình Dương. Tôi được lịnh chờ đợi.

Ba ngày ăn không ngồi rồi trôi qua một cách lê thê, tôi được gọi đến Tổng Hành Dinh Sasebo. Vị tư lịnh phó đích thân trao lịnh chỉ định tôi vào nhiệm vụ huấn luyện viên ở Trường Ngư lôi.

Tôi nổi khùng ra mặt: “Nhiệm vụ trên bờ cho tôi? Có thể nào như vậy được chứ? Phó Ðô đốc Samejima cho biết là ông cần tôi và mong tôi quay trở lại. Tôi muốn ra trận! Tôi xin lặp lại: Tôi muốn ra mặt trận.”

“Anh nói đúng, Hara, nhưng hãy bình tĩnh, tôi sẽ cho anh biết một việc. Sự chỉ định anh vào nhiệm vụ mới này không dính dáng gì đến hồ sơ phục vụ của anh đâu, như có nhiều trường hợp xảy ra trước đây. Vấn đề này vẫn trong vòng tối mật, nhưng tôi có thể tiết lộ cho anh biết là anh sẽ được giao phó thành lập một trường huấn luyện ngư lôi đĩnh mới. Bộ Tư Lịnh Tối Cao cho rằng ngoại trừ anh ra không ai có thể đảm trách nhiệm vụ sinh tử của Hải quân này. Ðó là nhiệm vụ huấn luyện thủy thủ trở thành chuyên viên ngư lôi đĩnh. Biết phóng ngư lôi từ các khinh tốc đĩnh. Ðừng nhăn nhó nữa. Bây giờ anh biết rồi, anh sẽ gánh vác một trong những kế hoạch đặc biệt và quan trọng nhứt của Hải quân.”

Qua lời vị Ðề đốc, tôi vỡ lẽ, và công nhận công việc sắp làm của tôi quả thực quan trọng. Công việc này Hải quân đã bàn đến từ lâu, nhưng bây giờ mới được chấp thuận.

“Hara,” vị Ðề đốc tiếp, “anh đã gây ra cuộc cách mạng lý thuyết ngư lôi trong Hải quân Hoàng gia, bây giờ là giai đoạn anh có hy vọng áp dụng lý thuyết này một cách tích cực hơn. Thời gian này có lẽ anh là người biết rõ về khu trục hạm hơn ai hết. Mà thời khu trục hạm đã qua. Sở dĩ anh được chọn vào nhiệm vụ tối mật này là do sự tiến cử nồng nhiệt của Ðề đốc Ijuin ở Tokyo, của Phó Ðô đốc Nagumo, Tư lịnh Ðệ Nhứt Hạm đội và của Phó Ðô đốc Omori, chỉ huy trưởng Trường Ngư lôi. Chúc anh gặp may mắn.”

Trở về chiếc Shigure, tôi tập họp thủy thủ đoàn trên sàn tàu và nói với họ: “Binh sỹ và sỹ quan, tôi thông báo cho các anh em biết là tôi phải rời khỏi chức vụ Chỉ huy trưởng Hải đội 27 Khu trục hạm và lên đường đến Yokosuka ngay lập tức. Trong 10 tháng qua, chúng ta cùng sống và cùng chiến đấu với nhau, đó là thời gian hạnh phúc nhứt và hài lòng nhứt trong cuộc đời binh nghiệp của tôi. Các anh đã làm tôi kiêu hãnh, và hiện tại, tôi dám mạnh miệng tuyên bố rằng tôi chưa bao giờ được chỉ huy một thủy thủ đoàn nào tài giỏi như thế này. Hãy giữ vững tinh thần và sự đa năng của các anh. Tôi biết là các anh sẽ tiếp tục chiến thắng với vị tân chỉ huy trưởng của các anh. Chúc các anh gặp nhiều may mắn. Từ đây có thể tôi sẽ không gặp lại các anh nữa, nhưng trong thâm tâm tôi sẽ luôn luôn cầu mong cho các anh đều an lành.”

Tôi bắt tay từng người một. Một số ấp úng nói vài lời từ biệt, một số đứng lặng yên, nhưng những giọt lệ đã long lanh trên đôi má, trong đôi mắt của tất cả mọi người.

Tôi sắp xếp hành trang trong nửa giờ và đi vòng quanh trên chiếc Shigure lần cuối cùng. Tôi đứng thực thẳng khi chiếc ca nô chở tôi rời xa chiếc tàu đã từng làm tôi kiêu hãnh. Quang cảnh đầy ủy mị nước mắt tôi chưa bao giờ được nghe nói đến trong kỷ luật lạnh lùng và phũ phàng của Hải quân Hoàng gia. Thủy thủ đoàn đứng dài theo song sắt trên tàu và bám víu vào bất cứ vật gì để nhìn theo, vẫy tay la lớn những lời từ biệt. Tôi muốn vẫy tay đáp trả lại họ, nhưng tim tôi bỗng dưng thắt lại. Tôi ngồi xuống với đôi mắt ứa lệ.