Biển san hô

damau.org

Trần Vũ

Post on 11.06.2018

Post by Sơn râu 1 May 2024

Kỳ 2

Trưa nắng Mỹ Tho

Biên thức giấc thì trời đã sáng bạch. Giấc ngủ rời rạc, chập chờn mộng mị trên bao lơn lầu hai làm Biên không được tươi tỉnh lắm. Thực tình Biên cũng không rõ mình thiếp đi lúc nào, nó nhớ cả đêm đã không ngừng đuổi muỗi. Một tay móc vào lan can, một tay phẩy đuổi đám muỗi mòng vo ve. Nhưng có lẽ chính những suy nghĩ người lớn đầu tiên đêm qua đã làm thằng Biên bần thần. Hồi tối lúc vâng lời anh Ðường lên lầu, Biên đã muốn được tự do một mình viết thư từ biệt bạn bè. Nhưng nó cũng chỉ biên được vài dòng rồi xé bỏ. Nếu chẳng may lại dời ngày đi, trở về Sài Gòn thì ngượng chết! Kinh nghiệm của mấy lần vượt biên hụt khiến thằng Biên quyết định không viết thư từ giã. Nhưng lúc cất bút cùng mẩu giấy, Biên lại nhớ bạn bè nó kinh khủng. Cái phù hiệu học sinh trường phổ thông cấp ba Lê Thị Hồng Gấm, Couvent des Oiseaux cũ, còn đính trên túi áo không kịp thay lúc tất tả từ Sài Gòn xuống Mỹ Tho như giữ rịt lấy nó với khung trời trường lớp hôm qua. Biên chưa bao giờ hình dung cuộc sống nó thiếu đám bạn thân gặp nhau mỗi ngày từ tiểu học cho đến đệ nhị. Nhưng khác với những lần đi chui trước, trong chuyến đi này Biên bị xúc động dữ dội. Lúc chiếc xe Ford Taunus của ông Hỏa, em rể ông Trương Hồng rồ máy lăn bánh, thằng Biên quay lại bắt gặp mẹ và chị cả nó đứng dưới gốc me ràn rụa nước mắt. Trưa nắng chang chang trên khuôn mặt bà Long và chị Ngân đầm đìa nước mắt, Biên cố níu kéo hình ảnh cuối cùng của mẹ và chị nó đứng khóc trên vỉa hè. Khoảng lề đường vàng kệch xa dần mà Biên còn nắm chặt trong tay miếng bánh dày của chị nó dúi vào tay lúc lên xe. “Mày nhớ ăn sáng trước khi đi học”, chị cả chỉ dặn được nó ngần ấy rồi lặng lẽ khóc. Biên trông thấy lúc đó tất cả những giọt nước mắt ấy. Nó chồm lên kính xe để nhìn mẹ và chị đến phút chót. Ðến ngã tư Hiền Vương–Hai Bà Trưng, chiếc Taunus quẹo trái để vòng xuống Phan Thanh Giản – Ðiện Biên Phủ ra xa lộ rước thêm người, thằng Biên chợt hốt hoảng nhìn khu phố Ðakao nhà nó mờ xa. Bức tường nghĩa địa Mạc Ðĩnh Chi băng trôi vùn vụt, bỏ xa dần mẹ và chị thằng Biên đứng sững lại trong quá khứ vừa thành hình. Ðêm tối trên lan can lầu hai, Biên biết gia đình nó đã sa sút để mẹ không còn nổi một trăm bạc mua vé xe lôi đưa anh em nó đi như nhiều bà xẩm ở đây. Mẹ cũng không làm nổi bữa cơm tươm tất để đãi hai anh em ăn lần chót dưới mái ấm gia đình. Ra đi, thằng Biên chưa ý niệm rõ ràng về ý thức hệ Quốc-Cộng, chưa biết thao thức cho hiện tình đất nước như anh Dzũng và anh Ðường, nhưng nó đã biết phải ra đi để có thể kiếm tiền gởi về nuôi mẹ và chị, mà cảnh túng quẫn đã đập vào mắt.
Thanh thiên bạch nhật, tỉnh lẻ thức dậy với không khí xô bồ, bon chen giành giật hôm qua, làm như không hề gián đoạn bởi màn đêm thê lương hồi tối. Biên là người cuối cùng xuống lầu. Mọi người đã ra hết ngoài sân. Tiếng Quảng Ðông xì xà xì xồ như trong Chợ Lớn. Biên gặp anh Ðường và anh Dzũng ở góc vườn. Lúc đó Ðường hỏi nó có muốn ăn sáng tô mì gì không, thằng Biên lắc đầu mặc dù những chú ba đứng chung quanh làm nó thèm một đĩa mì xào giòn có lần được ăn ở Hải ký Mì gia trong khu La Kai. Thấy em lắc đầu Ðường cũng không ép, hai anh em không muốn tiêu phạm vào số tiền tám mươi đồng còn lại mẹ cho dằn túi. Ngay hôm đầu xuống Mỹ Tho, Ðường đã nói với em ráng đừng ăn quà, khi xuống tàu sẽ gởi tất cả tiền dư về trong bao thư cho nhà. Tám mươi đồng, mẹ có thể đi chợ một tháng. Thằng Biên vâng lời anh, tránh nhìn những gánh xôi chè và bánh cuốn Thanh Trì bên lề. Thấy anh em Ðường không ăn sáng, Dzũng cũng tế nhị không đi ăn một mình, chỉ chạy mua ba ly cà phê xây chừng cho ba anh em. Trong sân Hoa kiều ăn hủ tiếu, chan húp xì xụp.
Gần trưa một chiếc Peugeot 504 sơn trắng đỗ trước cổng. Một viên công an mang kính gọng vàng, đeo đồng hồ Rolex và xách cặp táp Samsonite bước xuống nói chuyện với ông Trương Hồng. Sau đó có lệnh tập họp di chuyển. Không khí tự nhiên nao nức cả lên. “Ði, đi… xuống tàu”. Ba trăm người chia thành mười lăm tổ, đi bộ qua phố chợ xuống bến sông. Ðoàn người đi “xuất ngoại” tay không, theo hàng một. Mười ký hành lý quy định cho mỗi đầu người đã được cân ký cho xuống trước. Trẻ con, bạn hàng bu bám theo cố giành giật khách Sài Gòn.
“Chú, chú, mua thuốc hút chú.”
“Cám ơn có hai bao rồi.”
Dzũng đẩy thằng nhỏ bán thuốc dạo đang dính bên mình. Thằng nhỏ trì kéo, dai hơn đỉa nhất định “thu hoa lợi” mới thôi:
“Có Dunhill và Ba con Năm từ Thái Lan qua nè chú!”
“Ðã nói có mua rồi mà.” Dzũng đẩy thằng nhỏ ra lần nữa.
“Hai bao đâu có đủ. Mua thêm để ‘trữ lượng’ đi chú, đi tàu có khi cả tháng mới tới!”
“Thôi được rồi, nhiêu bao ba số?”
“Tám mươi lăm đồng, chú.”
Không dứt nổi thằng nhãi, Dzũng định mua một gói thuốc để tống khứ đứa cháu ngoan Bác Hồ, nhưng giá thuốc làm anh chới với. Năm 79, công nhân viên nhà nước lãnh có ba mươi hai đồng và sinh viên như Dzũng lãnh có mười tám đồng một tháng. Trước cửa rạp Bến Thành, Mini Rex cũ, giá một gói ba số năm cũng chỉ có bốn mươi lăm đồng. Dzũng cảm thấy chua chát. Bây giờ thì anh hiểu tại sao những người dân ở đây chưa thèm vượt biên. Thêm một loại “ký sinh trùng sống bám phi lao động” nảy sinh từ những tế bào của nền kinh tế mà trên lý thuyết “nặng về sản xuất, nhẹ về cá thể tư doanh”. Dzũng chua chát nghĩ những gì anh học trong trường Ðại học Kinh tế là một mớ giấy lộn.
Ði sau lưng Dzũng, anh em Ðường cũng bị níu kéo, nhưng vì họ không trả lời nên cũng đỡ vất vả mua bán như những người khác. Ðường chỉ ngượng ngùng khi phải đi bộ ngang lòng chợ, thấy dân chúng hai bên đường đang chăm chăm nhìn mình. Khác hẳn sự hồi hộp cải trang, lo sợ bị bắt khi đi chui, Ðường vừa khám phá ra sự yên tâm đến lạnh lùng trong lòng anh. Xen kẽ hàng công an, dân phòng và phường đội, Ðường không tài nào đoán nổi những ý nghĩ trong đôi mắt dân chúng Mỹ Tho, thương hại hay mừng giùm, ganh tỵ hay thông cảm? Những ánh mắt hời hợt, ngộ nghĩnh như đang xem xiệc. Ra đến bến, Ðường vẫn còn thắc mắc.
Một đoàn xuồng máy đuôi tôm đậu san sát nhau, lúp xúp dưới bến sông. Cứ mười người xuống một xuồng chở họ ra cồn. Mặt nước sông xanh lá cây, lấp lánh nhấp nhô theo nắng buổi trưa. Chiếc xuồng của ba anh em chao đi khi ra đến sông lớn. Sóng gờn gợn từng đợt xẻ ra từ những đuôi tôm phía trước đập thùm thụp vào lườn ghe.
“Trời ‘lất’ ơi, sao ghe nghiêng quá ‘chòi”!
Mấy bà xẩm ngồi trong khoang mặt cắt không còn giọt máu. Xuồng chòng chành đến sợ, nước sông bắn tung từng chặp làm ai nấy ướt nhẹp. Mọi người nín thinh nhìn hai bên sông đột ngột tách rời, mở rộng ra thành cửa sông lớn bát ngát. Tiếng máy đuôi tôm rầm rào xoáy át hẳn mọi tiếng động. Thằng Biên trông thấy anh Ðường đang cố quay người nhìn thị xã Mỹ Tho lần cuối cùng sau lưng. Biên chợt nhớ cách đây ba hôm, cũng vào giấc trưa như hôm nay, nó cũng đã xoay đầu nhìn con đường Hiền Vương ngập nắng… Lúc thị xã mất hút thì cái cồn hiện ra, xanh rì im lìm như cái mu rùa nổi bật lên giữa trời trong vắt. Cái mai rùa rõ dần, đến gần cây cối um tùm. Tiếng máy đuôi tôm phụt tắt, trả lại xôn xao của sóng nước. Tiếng nước dập vào lườn gỗ nghe như thúc giục. Mặt nước chênh chao, mấp mênh, làm tăng những phân vân trong lòng mỗi người. Còn chừng hai mươi thước, ông già lái ghe lên tiếng:
“Xuồng không cặp sát bờ đâu, cây cầu bị nước cuốn trôi rồi, bà con chịu khó lội vô bờ đi.”
Mặc kệ mấy bà xẩm phản đối, ông lão lái ghe thản nhiên cắm cọc neo xuồng tại chỗ. Hai mươi thước sông lung linh nắng.
“Ðâu có sâu gì cho cam, nước nông tè tới đầu gối nhìn xuống coi.”
Ông già nói như ra lệnh sau cái nhổ toẹt xuống mặt nước. Thằng Biên chồm người ngó xuống, mặt nước cạn thiệt, nó trông thấy đất mùn với thân cây củi mục dưới đáy. Xung quanh những xuồng khác cũng neo xa xa bờ, không có chiếc nào cặp hẳn vào cồn. Ba anh em Ðường, sau khi vén quần tới bẹn, quyết định nhảy xuống.
Mặt nước vỡ tung lúc thằng Biên rơi tõm xuống sông. Sức rơi nhận nó lún xuống sình tới đầu gối. Hốt hoảng Biên đạp tứ phía cố rút chân lội vào bờ. Nhưng nó giẫm xuống một mặt sình lỏng khác, lần này lún tới đùi. Mặt nước trở nên đục ngầu vì đất mùn bị khuấy động. Càng cố đi tới Biên càng lún sâu xuống, lúc này thì nó đã ở nguyên người trong sình lún tới bụng.
“Chúa ơi! Anh kéo giùm em với, chết mất!”
Một người cùng nhóm đã lên được bờ, trườn người vươn tay kéo thằng Biên lên cồn.
“Sợ một mẻ hả em?”
Thành, tên người đàn ông, cười vỗ vào vai thằng Biên còn chưa hoàn hồn. Dzũng và Ðường cũng vừa lên tới bờ, người ngợm họ dính đầy sình.
“Nông tà tới đầu gối thôi hà!”
Dzũng cằn nhằn mỉa mai. Mọi người vội vã đi kiếm nước rửa chân. Mùi sình tươi nhờn nhợn, tanh tanh làm ai nấy váng vất. Dân thành thị đâu có quen lội bùn. Những chiếc xuồng máy đuôi tôm tiếp tục thải người lên bờ. Sình dơ dính nhơm nhớp bó lấy ống quần nên mạnh ai nấy túa đi tìm nước rửa chân. Không ai muốn trở ra vũng nước đục ngầu bùn lầy, đầy ối người đang ngụp lặn lội vô cồn nên họ ùa nhau ra những lạch nước gần đó.
“Ê, ai cho mấy người ăn cắp nước ở đây.”
“Tụi tôi xin chút nước.”
“Muốn mua nước thì đưa tiền đây, một đồng một lon gui-gô. Thằng nào tự tiện tao dộng bể mặt!”
Những người dân trên cồn đứng chực sẵn hai bên con lạch, người vác rựa, kẻ đòn gánh, toàn dân dao búa. Trong lúc nhóm người Việt đăng ký kỳ kèo xin trả giá năm mươi xu một lon, những Hoa kiều lên sau vung tiền ra mua nước. Mấy bà xẩm mua đong cả thùng phuy tắm gội ngay tại chỗ. Ðường nghĩ chính cách xài tiền phí phạm này của Hoa kiều đã thúc đẩy những người lái ghe hồi sáng toa rập với dân trên cồn, bắt bọn Ðường lội sình để bán nước. Anh và đứa em, số tiền còn dư đã gởi về cho nhà, chỉ còn đúng mười đồng phòng thân nên chỉ dám mua hai lon guigoz rửa qua loa. Thằng Biên cởi phăng quần dài xanh, mặc xà lỏn phơi chân trần ướt nhèm nhẹp, mọi người lại bàn nhau mượn chiếu trải nằm đỡ, vì đến tối tàu lớn mới ra.
“Chiếu lớn mười bốn đồng một giờ, chiếu nhỏ tám đồng.”
Chị đàn bà quấn khăn rằn kiểu “Nguyễn Thị Ðịnh” thản nhiên đáp. Dzũng vừa đếm tiền vừa bực tức:
“Coi quê mùa vậy chớ máy chém hiện đại dữ.”
Nhóm của Ðường bây giờ thêm anh em anh Thành, cựu thiếu úy bộ binh. Cả bọn hùn tiền mướn một chiếc chiếu nhỏ đủ đặt mông cho sáu người. Lát sau có thêm anh Vĩnh, cựu trung úy Thủy quân Lục chiến và chị Lan em gái anh nhập bọn. Rồi thêm chị Hương với hôn phu là anh Công. Thời gian mướn chiếu được kéo dài ra theo tiền quyên góp của những người đến sau. Buổi chiều 29 ở trên cồn, nhóm người Việt ít ỏi này tách rời ra khỏi tập thể người Hoa đang tiêu xài cho hết những đồng bạc “Cụ Hồ” sắp trở thành vô giá trị. Thật ra cũng còn nhiều gia đình Việt mua giấy khai sinh giả khác nữa, nhưng nhóm của Ðường trẻ nhất và quy tụ phần lớn độc thân nên họ dễ dàng thành bạn nhau. Ðường, Dzũng và Công – đang học năm chót ở Tổng hợp, nói chuyện về tính biến dị tập nhiễm từ môi trường ngoài theo học thuyết Darwin, giải thích hiện tượng “thỏa hiệp” của một số bạn bè kết nạp đoàn viên Ðoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, rồi họ cùng nhau tính xem trong số mười hai cây vàng đóng giá người lớn cây nào là “cây giá trị thặng dư”, họ cũng đố nhau giải vài bài toán còn nhớ trong cuốn Toán Cao cấp và bàn về dự tính theo đuổi việc học ở xứ người. Anh Vĩnh và anh Thành kể chuyện đi cải tạo của họ, nhắc những kinh nghiệm đau thương chiến tranh. Chị Hương và chị Lan tâm sự đàn bà với nhau, cả hai đều mừng vì không bận bịu gia đình con cái trong hoàn cảnh hiện tại. Thằng Biên mừng như bắt được vàng từ khi gặp Phương, em út anh Thành và Tuân, em chị Hương. Cả hai đều bằng tuổi nó, cũng vừa học xong lớp 11. Tuân học Chu Văn An sau giải thể đổi sang Lê Hồng Phong, Pétrus Ký cũ, Phương học ở Nguyễn Thị Minh Khai, Gia Long cũ. Ba tên con trai mới lớn hăng hái nhắc chuyện thầy cô, trường lớp và phê bình đám nữ sinh bạn gái đầu tiên của chúng. Lâu lâu Biên nhìn xuống chân còn dính bùn khô, chợt nẩy sinh ý nghĩ lãng mạn là ra đi đem theo sình lầy của quê hương. Chỉ có Hoàng, em kế Thành là cô đơn hơn hết, anh lớn tuổi hơn Công, Dzũng, Ðường và cũng không còn đi học, nhưng lại nhỏ tuổi hơn các anh Vĩnh, Thành, chưa bao giờ đi lính. Buổi trưa nắng chói chang vỡ rợp từng mảng da trời, ngồi dưới tàu lá chuối xanh rờn trên đầu Hoàng thấy lạc lõng không tìm ra thế hệ của mình, lạc lõng như cồn nước lợ nổi chơ vơ giữa dòng sông.

Biển san hô

damau.org

Trần Vũ Post on 8.06.2018

Post by Sơn râu 1 May 2024

Kỳ 1

Cuối thập niên 70 cùng với những ghe vượt biển mong manh còn xuất hiện những thuyền nhiều tầng được Công an Biên phòng hộ tống ra tận cửa biển, do chính nhà nước đứng ra tổ chức dưới tên gọi Vượt biên Bán Chánh thức. Với chính sách bài Hoa, chính quyền muốn triệt tiêu “đội ngũ Hán gian” nhưng trong thực tế là những gia đình Hoa kiều đã sinh sống nhiều thế hệ trong Chợ Lớn và có cả những thanh niên Việt mua khai sinh Tàu để ra đi. Giá trung bình là 12 lượng vàng cho người lớn và 7 lượng vàng cho trẻ em, cùng hai trăm đồng “cụ Hồ” cho thị thực khai sinh ma. Ðóng cho chủ tàu và công an thị xã điểm xuất phát. Chuyến tàu MT-603 khởi đi từ Mỹ Tho đêm 29 rạng 30 tháng 5-1979 chứa 405 thuyền nhân đã đâm vào bãi ngầm Trường Sa bốn ngày sau đó. Ngày 21 tháng 6-1979 khi được Hải quân Phi Luật Tân cứu đưa vào hải đảo Liminangcong, điểm danh còn đúng 285 người. Tôi ở trong số những thiếu niên trong chuyến tàu này, ghi lại chuyến đi dưới dạng tiểu thuyết.    

Vượt biên bán chánh thức

Những ai đã sống ở Mỹ Tho khoảng thời gian hai năm 78 và 79 đều có chung nhận xét: trọn thị xã nhỏ bé hiền hòa nổi tiếng nhờ món hủ tiếu này đã biến thành một chợ người hỗn độn dân tứ phương đổ về sinh sống, đầy dẫy bon chen, càng làm nẩy bật thêm lên tình cảnh tranh sống giữa Người và Người.
Người, tuy thế ở đây không giản dị như trong quy định 5 thành phần kinh tế xã hội của nhà nước, thời kỳ đánh tư sản. Người phức tạp từ đứa trẻ nhỏ bán trà đá chanh đường đến bà lão còm lưng gánh cháo lòng rao bán trong chợ. Người rắc rối từ chị hàng sạp vải may đo đến gã thanh niên chuyên móc ngoặc với chính quyền, và dĩ nhiên, luôn cả đội ngũ công an vũ trang thường hay chạy xấn vào các hẻm chật vây bắt nhân dân cũng góp mặt tạo thành cái tập hợp Người xô bồ kỳ lạ ấy. Nhưng có lẽ phải kể đến diện Người bất thường hơn hết chính là những đám đông tuôn đổ xuống từ bến xe lôi thị xã, nằm bãi chờ đi vượt biên theo diện người Hoa đăng ký bán chính thức.
Tháng 5-1979, trong số những người Hoa rời Mỹ Tho có những người Việt buồn bã nhìn thị xã yên lành ngày nào đã đánh mất hẳn nét an hòa, bình dị của một tỉnh lỵ nửa chợ nửa quê. Thay vào đó là bầu không khí mờ ám lấp lửng, đầy bất trắc của một bến cảng miền Tây chuyên xuất cảng Người.
o O o
Buổi chiều 28, sau bữa cơm chiều ăn qua loa trong lòng chợ, anh em Ðường và Dzũng thả bộ về ngôi nhà lầu bốn tầng thuê bao gần đó. Theo lời dặn từ hôm xuống Mỹ Tho, họ không được ra ngoài sau 8 giờ tối. Lúc về đến biệt thự, Biên, em Ðường nhìn tòa villa ngán ngẩm. Ngôi nhà mà gia đình ông Trương Hồng chủ tàu thuê từ sau Tết, làm chỗ ở tập trung cho ba trăm diện người Hoa đi tàu của ông, mỗi ngày một thêm đông người xuống ở. Tối nay, bốn tầng lầu chật cứng người từ trên xuống dưới. Dù đã bị hụt mấy lần vì công an đình chỉ ngày đi và cũng mấy bận lê thê lếch thếch kéo nhau về lại Sài Gòn vì chủ tàu tự ý dời ngày “xuất ngoại”, đêm nay chừng như “diện” nào cũng có mặt đầy đủ. Không ai muốn bị hụt chuyến đi ngày mai, trên chiếc tàu đăng ký số MT-603, sáu “lốc” cùng hai máy kéo phụ mà ông Trương Hồng đã hãnh diện tuyên bố với mọi thân chủ là bảo đảm nhất vùng Bốn!
Ba người thanh niên đứng tần ngần trong sân vườn nhìn tòa nhà cũ từ thời Pháp đang chìm từ từ vào trong nền trời chiều chạng vạng của tỉnh lẻ. Một lúc sau, theo thói quen Ðường giục em mình đi kiếm chỗ ngủ. Thằng Biên hơi bất bình anh nó đêm đó, không chịu nhìn thấy “khó khăn chung của cả nước” đang nằm ngồi ngổn ngang la liệt tràn lan từ trên lầu thượng xuống đến bếp. Làm sao tranh được chỗ ngủ trên sàn gạch bông đã được cắm dùi kỹ luỡng và tận tình giăng mùng màn sùm sụp thế kia? Nhưng trái với tính tình thường ngày bướng bỉnh ở Sài Gòn, tối đó Biên lẳng lặng vâng lời anh bước vô nhà. Lý trí niên thiếu của Biên hiểu đang sống những giờ phút nghiêm trọng, cần tuyệt đối vâng lời anh. Nó loay hoay tìm chỗ đặt bàn chân, len lỏi men qua đám đông người đang nằm nhoài trên đất. Cái bóng lanh lợi của thằng Biên vàng vọt một lúc dưới ánh đèn măng-xông, rồi biến mất ở chân cầu thang. Còn một mình, Ðường rủ bạn ra ngồi ở bậc tam cấp. Cả hai không buồn ngủ và cũng không có ý định ngủ đêm nay.
“Ðêm Xã-hội-Chủ-nghĩa cuối cùng, thức để nhớ mình đã uống nước suối Vi-Xi.” Dzũng khôi hài đen khi ngồi bệt xuống nền xi-măng.
Ðường yên lặng tìm trong túi hai điếu Ðà Lạt, chìa cho bạn một rồi châm lửa. Lúc nãy khi đuổi em đi ngủ, Ðường biết anh có hơi vô lý. Thằng nhỏ kiếm đâu ra chỗ đặt lưng trong hộp cá mòi. Nhưng hình như Ðường sợ nếu cho phép đứa em ngồi lại với mình, nó sẽ đọc được hết những tâm tư của anh trên vỉa hè này. Những suy tư mà Ðường chợt thấy yếu đuối và thụ động trong khoảng thời khắc cuối cùng của hai anh em trên quê hương.
“Hồi gom vàng hô đi hai trăm. Cận ngày đi kêu hai trăm rưỡi, bây giờ ‘đóng bến’ ba trăm mạng. Ðiệu này là cha Trương Hồng có đặt mua máy ép dầu cho mình rồi!”
Dzũng vừa bập điếu thuốc, vừa cằn nhằn. Ðường đồng ý với bạn là chuyến tàu rồi sẽ chật như nêm cối, nhưng anh không bàn góp gì thêm. Nơi nào trên đất nước thời buổi này không có người bị lừa? Ðiếu Ðà Lạt Dzũng vừa kéo được vài hơi đã tắt lịm. Người thanh niên lại làu nhàu. Loại thuốc phân phối, sợi thuốc “dỏm” không tự cháy nổi một mình khiến Dzũng phải đánh diêm châm lại. Ðường nhìn đốm lửa soi mông lung khuôn mặt bạn. Dzũng là sinh viên năm thứ ba cùng học khoa Kế-Tài-Ngân ở đại học Kinh tế, trường Luật cũ với Ðường. Quen nhau tình cờ khi cả hai đi học môn Xác-suất Thống-kê. Rồi Dzũng trở thành người giới thiệu dắt mối cho hai anh em. Dzũng thẳng tính nên không thích ai “cong” với mình. Cuộc vượt biển nào cũng thẳng ít cong nhiều. Ðường cầu mong sao cho chuyến đi sẽ êm xuôi trót lọt, vì nếu không sẽ chẳng còn chuyến nào nữa cho anh em anh. Bóng đêm đã buông tuồng xuống thị xã từ lâu mà dường như Ðường vẫn còn trông thấy trong những lùm cây đang tối mờ đầu ngõ, hình ảnh ngôi nhà toang hoác trống trơn của gia đình. Ðường nhớ đến chiếc honda dame của mình, đến chiếc xe đạp course của thằng Biên, đến máy truyền hình hiệu National của nhà, bàn máy may Singer của chị cả, tủ lạnh Panasonic và những chỉ vàng, nữ trang cuối cùng của mẹ lần lượt ra đi để gom góp cho đủ số hăm bốn cây vàng.
Khu xóm về đêm mới thê lương. Những đường hẻm đối diện mới hồi chiều tấp nập người ra vô, đầy dẫy những quán tiệm cơm hàng cháo chợ, trời vừa sụp tối đã vắng tanh vắng ngắt. Hai người bạn sinh viên không hiểu có phải vì công an cấm lai vãng ban đêm khu nhà của “kẻ xấu người Hoa” hay giờ giới nghiêm ở Mỹ Tho sớm hơn Sài Gòn nhưng họ cảm nhận rõ rệt khu phố cúp điện thưa người chìm tối âm u đến thê thảm.
“Dzũng, sao ông đi lần này?”
Ðường bỗng chợt hỏi bạn khi anh búng tàn thuốc xuống lạch cống.
“Thì cũng như ông, ngán đi chui! Ði ‘tu nghiệp’ kiểu ‘hợp doanh ngoại thương’ như vầy an tâm hơn.”
“Không, ý mình muốn hỏi Dzũng sao chọn ra đi kìa?”
Ðường vội ngắt lời bạn khi thấy Dzũng hiểu sai ý anh. Hỏi Dzũng nhưng thật ra Ðường hỏi cho chính mình. Anh muốn duyệt xét lại lần nữa câu trả lời thao thức từ nhiều năm qua. Ðường, trong một giây ôn lại tâm tư của chính anh. Một tâm tư đã biết chia sẻ với Soljénitsyne, Pasternak, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ… Trước 75 đọc Một ngày trong đời của Denissovitch, Tầng đầu địa ngục, Bác sĩ Jivago, Dòng sông định mệnh, Ðem tâm tình viết lịch sử của những nhà văn ấy, Ðường không ngờ có một ngày miền Nam nơi ấp ủ tuổi thơ, dung dưỡng tuổi niên thiếu, nẩy nở tuổi trẻ của anh bỗng vụt trở thành thực tế kinh khủng ê chề của những cuốn tiểu thuyết kia. Và Trại Ðầm Ðùn của Trần Văn Thái rõ ràng là đang hiện diện trong nhà giam Phan Ðăng Lưu, nhà tù Ðại Lợi ngay giữa lòng Sài Gòn.
“Sao chọn ra đi? Dễ hiểu lắm, không muốn mỗi tối họp tổ dân phố, không muốn mỗi Chủ Nhật đi lao động xã hội chủ nghĩa, không muốn mỗi tam cá nguyệt đi thủy lợi, không muốn phải chạy tiền Phường để khỏi bị gọi nghĩa vụ chết dấm dúi một xó xỉnh nào đó bên Kampuchia. Và quan trọng nhứt, là không muốn suốt cuộc đời chỉ được đọc có hai tờ nhật trình của nhà nước…”
Sau phút hơi ngạc nhiên vì câu hỏi bất ngờ của bạn, Dzũng chậm rãi trả lời. Một sự thật quá hiển nhiên mà nhiều người đã không cần tự hỏi khi ra đi. Nhưng Ðường và Dzũng đang ở lứa tuổi của một thế hệ vừa bước chân vào đời, sớm biết suy nghĩ, băn khoăn vì cuộc sống vây quanh. Ðêm khuya dần và vầng trăng sáng treo cao trên đầu cả hai. Họ còn tự đặt cho nhau nhiều câu hỏi khó khăn khác, về khả tín của học thuyết Darwin, về câu nói bất hủ “Chính quyền trong tay Sô-viết” của Lénine, về những bế tắc của cấu trúc kinh tế Mác-xít ứng dụng ở Việt Nam, về các ca khúc mới của Trịnh Công Sơn trình diễn ở Hội Trí thức Yêu nước, cùng cả về cái chết bí mật của Thanh Nga. Hai người thanh niên không tìm ra giải đáp nào thỏa đáng với câu hỏi đầu tiên vì sao phải ra đi, họ chỉ cùng đồng ý phải thoát ra khỏi Việt Nam, cái hộp sắt bưng bít giam nhốt đang làm chết ngạt tất cả những giá trị tư tưởng. Tương lai ở ngoài hộp sắt.
Dzũng châm thêm điếu thuốc. Anh rít mạnh vì thuốc Hoa Mai sợi đen, cũng như Ðà Lạt lúc nãy dễ tắt. Ðường và Dzũng thức thật khuya đêm ấy, cả hai không để ý đến vài người Hoa đi cùng chuyến cũng còn chưa ngủ, bắc ghế ra sau hè bàn tán. Những chú Sìn, chú Cẩm, chú Hổi của Chợ Lớn không sõi tiếng Việt, chưa đọc Tư bản luận, chưa đọc Lénine Toàn tập và cũng chưa đọc Trại Ðầm Ðùn của Trần Văn Thái. Song họ vẫn biết rõ vì sao mình phải ra đi. Vì thực tế phũ phàng người Việt dành cho họ, vì kinh nghiệm máu xương của kỳ đánh tư sản năm ngoái hãy còn quá gần? Ðó chỉ là một phần của lý do khiến sau nhiều ngàn năm giao tình với dân tộc phương Nam, người Trung Hoa đành nhìn nhận hồi kết đã đến. Dưới thời Ðệ nhất Cộng hòa, Hoa kiều bị cấm mười tám ngành nghề, đến Ðệ nhị Cộng hòa họ chung lưng chịu trận chiến tranh, nhưng vẫn vui vẻ sống, vẫn vui vẻ mỗi sáng nở nụ cười cầu tài đầu tiên. Hình ảnh dân tộc Việt trong lòng Hoa kiều là hình ảnh anh bản xứ hiền hòa, cần cù vui tính, dù đôi khi có hơi lì lợm. Nhưng từ 75 đến 78, chỉ cần vài năm một thứ người Việt khác, đã xóa bỏ hoàn toàn một hình ảnh sẵn có, xây dựng từ bốn ngàn năm qua trong lòng Hoa kiều để xua họ ra biển.
Vầng trăng của bốn ngàn năm trước tối nay vẫn còn treo lơ lửng, ngọn gió của thời Lạc Hồng vẫn còn đang lùa nhẹ qua sân, những hậu duệ của các tổ phụ di dân phương Bắc vẫn còn đang trò chuyện. Tiếng Quảng xì xầm xì xồ của họ râm ran, nhưng là những lời an ủi khích lệ nhau may mắn trên đất tự do với một dân tộc khác.




Crab City

baotreonline.com

Đặng Hiếu Sinh

Post on March 17th, 2023

Post by Sơn râu 30 Apr 2024

Anh Myke, chủ nhân Crab City     

Gần đây, thường nghe bạn bè nhắc đến CRAB CITY, đôi lúc gởi vài đoạn video clip của quán, lúc các ca sĩ địa phương hoặc ở xa về trình diễn. Đây cũng là một địa điểm khá mới mẻ ở Dallas. Quanh đây, ngoài club Fantasy, nhà hàng Quốc Hương thỉnh thoảng khuấy động bằng những đêm nhạc tưng bừng với sự góp mặt của những giọng ca tên tuổi… Dallas về đêm thêm sôi động với Crab City. Tò mò, tôi đến lần đầu, gặp được anh Myke, chủ nhân, và bắt chuyện…

Hỏi: Chào anh Myke, nhìn anh rất phong trần đó nha, không giống một ông chủ nhà hàng như tôi nghĩ. Trước đây anh có từng làm nhà hàng đâu chưa, vì sao anh mở Crab City?

Myke: Cảm ơn anh. Trước tôi học ở UT Austin về ngành nha khoa, Dental lab. Tôi làm trong ngành nầy đã nhiều năm và thêm vài công việc khác nữa. Tính tôi nào giờ tôi thích ăn ngon (cười) và họp mặt bạn bè, từ đó tôi nảy ra ý định tạo ra một nơi tụ họp ấm áp, vui nhộn để làm địa điểm cho đồng hương có chỗ để họp mặt, gặp gỡ bạn bè, người thân… Ðơn giản là tận hưởng cuộc sống, anh nghĩ xem, nếu cuộc trò chuyện diễn ra quanh chiếc bàn, vừa có món ăn ngon, thưởng thức ca nhạc hay karaoke.

Hỏi: Khi chọn tên nhà hàng là Crab City, có lẽ anh chuyên về đồ biển?

Myke: Ban đầu tôi có ý định chỉ chuyên các loại đồ biển (Seafood Cajun Style). Nhưng thấy yêu cầu của khách rất đa dạng, nên thêm một số món nhậu và ăn tối.

Hỏi: Ngoài sinh hoạt ca nhạc – karaoke ban đêm, nhà hàng của anh có bán buổi trưa không?

Myke: Thời gian đầu, khách hàng đến ăn chiều và tối khá đông. Khoảng thời gian từ 9 giờ sáng đến 4 giờ chiều thì vắng. Ðể giảm khoảng trống này, tôi thêm vào thực đơn các món ăn trưa như bún, cơm, phở, bánh bèo… Bà con mình sành ăn lắm, quanh đây lại nhiều hàng quán, nên tôi tìm mua những công thức “đặc biệt” của các tiệm đã thành danh từ Florida, Houston và Việt Nam. Ðến hôm nay được 3 tuần, có 6 món ăn khách như phở đuôi bò thố đá, phở gà đi bộ thố đá, bún bò Huế thố đá, bánh bèo v.v. được “chấm điểm” khá cao.

Hỏi: Theo tôi biết, trước đây nơi này là một nhà hàng Mễ. Anh có sử dụng được những thiết bị của họ để tiết kiệm chi phí không?

Myke: Mục đích của tôi là mở nhà hàng cho người Việt Nam. Ðây là một khu vực người Việt đông đúc, tiện đường, đi ngang ai cũng thấy. Tôi đã remodel, thay đổi đến 95% và build một nhà bếp rất rộng, chiếm phân nửa diện tích nhà hàng (cười), đúng tiêu chuẩn vệ sinh…

Trước cửa nhà hàng

Hỏi: Như vậy, nhà hàng này là dạng gì?

Myke: Nhà hàng đa dạng, ăn uống và giải trí. Chúng tôi phục vụ các món ăn trưa Việt Nam, ăn chiều, các loại hải sản, các món nhậu và chương trình ca nhạc cuối tuần.

Hỏi: Tôi nghe nói Crab City là nhà hàng chịu chi về nhạc, ca sĩ nhất tại địa phương? Lý do tại sao anh lại bỏ một chi phí lớn cho việc này vậy?

Myke: Ý nguyện khi mở nhà hàng, tôi muốn tạo một nơi ăn uống, giải trí cho đồng hương. Khách đến đây thư giãn để đời sống thoải mái vui tươi hơn sau những giờ làm việc mệt mỏi. Ngoài ra, cũng tiện cho ai muốn tổ chức họp mặt thân hữu, sinh nhật, hội đoàn… Nên tôi đầu tư sân khấu, ánh sáng, quan trọng nhất là âm thanh, sao phải thật hay. Tôi đã chi trên $100 ngàn cho dàn âm thanh, và mướn chuyên viên “sound system” set-up.

Hỏi: Nhà hàng này được bao nhiêu bàn? Giả sử tôi bao cả nhà hàng cho tiệc gia đình, thì giá cả ra sao?

Myke: Nhà hàng này mình có thể sắp 20 bàn. Anh có thể đặt một hay nhiều bàn tùy nhu cầu, còn giá cả thì tùy menu khách chọn. Nếu anh muốn bao nhà hàng, thấp nhất là $350 một bàn. Cao nhất là $800/bàn.

Hỏi: Nếu bao vậy khách có phải trả tiền âm thanh hông?

Myke: Không anh. Âm thanh, sân khấu, ánh sáng và karaoke, trang trí miễn phí luôn. Tôi có dàn quay phim sân khấu, nếu cần chúng tôi sẽ tặng cho khách phim đó luôn.

Quang cảnh nhà hàng

Hỏi: Từ hồi mở cửa đến giờ, anh có nghe khen-chê gì không?

Myke: Khoảng 4 tháng đầu thì có 60% khen và 40% chê, chê phục vụ chậm, không “nice”, loa bị hú, vài món ăn chưa vừa miệng… Chúng tôi luôn lắng nghe chăm chút sửa đổi. Sau 1 năm thì nhận được 80% khen và 20% complain. Hiện nay chúng tôi đã cải thiện khá hoàn chỉnh về bài trí, ánh sáng, âm thanh, tiếp đãi, món ăn…

Hỏi: Hình như ở đây cũng có bán beer, và rượu?

Myke: Có anh. Giá beer cũng “nhẹ”, có 3 đô/chai.

Hỏi: Khi có ca sĩ nổi tiếng về hát, khách có phải mua vé hoặc trả tiền thêm khi vào ăn không?

Myke: Có chứ, có bàn VIP hạng 1, hạng 2, tùy đặt. Tiền vé giúp nhà hàng phần nào trong việc trang trải chi phí cho ca sĩ.

Hỏi: Anh có dự định gì khác về thực đơn, âm nhạc, phục vụ trong thời gian tới không?

Myke: Thật ra chương trình ca nhạc không mang lại lợi tức cho nhà hàng. Những show ca nhạc luôn bị lỗ, nhưng tôi vẫn làm với mục đích mang lại niềm vui cho khách hàng. Món ăn, thực đơn là điều tôi đang lưu ý đến, làm sao phải ngon và luôn có món mới mỗi tuần.

Ca sĩ đang hát

Hỏi: Nhà hàng thường chỉ lo nấu nướng, coi bộ anh phải chăm lo nhiều việc. Khó khăn nhất của anh hiện nay là gì?

Myke: Chọn menu và tìm chef cook. Rất nhiều nhà hàng bị trở ngại là phải lệ thuộc vào đầu bếp chính. Chúng tôi phải chọn menu trước, có công thức nấu hẳn hoi mới tìm đầu bếp, thực hiện theo công thức có sẵn.

Sau đó, tôi được giới thiệu gặp anh Hoàng là “Chef Cook”của Crab City.

Hỏi: Chào anh Hoàng, xin anh cho biết làm nghề này bao lâu rồi? Trước giờ anh đã làm việc qua bao nhiêu nhà hàng rồi?

Chef Hoàng: (cười) Tôi đã làm việc qua rất nhiều nhà hàng, kể từ tháng 9 năm 2006 ở Florida.

Hỏi: Nghề nấu ăn là do sở thích, hay từ gia đình?

Chef Hoàng: Không vì gì cả, mà vì hoàn cảnh (cười). Ban đầu tôi làm phụ bếp để mưu sinh. Lúc đó chưa  biết nấu nướng gì hết. Nhưng mỗi lần đổi nhà hàng thì tôi tiến bộ một chút và đâm ra mê nghề luôn (cười).

Hỏi: Năm nào anh mới thành đầu bếp chính?

Hoàng: Sau 9 năm “văn ôn võ luyện”, đến năm 2015 tôi làm đầu bếp chính tại Phở Gà DaKao, Houston.

Ca sĩ Thủy Tiên và Tuyết Minh

Hỏi: Còn ở Crab City, anh có món gì ưng ý nhất.

Hoàng: Phở đuôi bò thố đá và phở gà đi bộ thố đá. Tô phở đem ra bàn vẫn còn nóng sôi sùng sục, đã lắm!

Tôi lang thang nhìn ngắm, nhận thấy cách bài trí khá bài bản, trang nhã. Gặp hai cô ca sĩ của nhà hàng là Tuyết Minh và Thủy Tiên.

Hỏi: Hai cô hát ở đây thường trực hay chỉ khi nào có show?

Tuyết Minh: Tụi em đến đây thường xuyên ạ, hát giúp vui mỗi tối Chúa Nhật. Nếu thứ Bảy hoặc thứ Sáu nhà hàng cần, tụi em cũng đến giúp.

Hỏi: Các em hát có được trả thù lao không? Điều gì làm em thích nhất?

Tuyết Minh: Với tụi em thì thù lao không quan trọng, vì mối giao tình giữa anh chị Myke, chị Yến, xem như anh em trong nhà. Tụi em cũng biết ơn ảnh chỉ nữa chớ (cười), nhờ anh chị Myke mà mấy em có nơi để ca hát, gặp gỡ bạn bè.

Hỏi: Tuyết Minh và Thủy Tiên thường hát dòng nhạc nào?

Tuyết Minh: Em và Thủy Tiên thích hát nhạc trẻ, nhưng vẫn có thể hát nhạc trữ tình, tùy theo yêu cầu khán giả.

Hỏi: Ngoài ca hát ở đây, các em nhận lời mời hát nơi nào khác không?

Tuyết Minh: Tụi em không phải sống bằng ca hát, nên tham gia cho các chương trình thiện nguyện cộng đồng, hội đoàn thôi ạ.

Tôi kết thúc cuộc trò chuyện với chủ nhân, thả bộ vòng vòng quan sát, ở đàng kia có mấy tụ tiệc sinh nhật, cụng ly reo hò ầm ĩ, không khí có vẻ sôi nổi. Vài người lên ca tặng ai đó cho nhóm bạn. Âm thanh hay, ánh sáng đẹp. Tôi thấy vui lây cho khách tham dự hôm ấy, và cả chủ nhân, thầm chúc Crab City thành công, đem đến niềm vui cho mọi người ở cộng đồng người Việt địa phương.

Bar rượu

SĐ

Ai chẳng lỗi lầm?

baotreonline.com

Đặng Hiếu Sinh

February 24th, 2023

Post by Sơn râu 30 Apr 2024

Tranh Bảo Huân

– Chú ơi, con nghe nói Thụy sĩ đã chế ra một loại xe lăn rất tối tân có thể leo lên các bậc thang, đường sá dù có lồi lõm nó cũng băng qua tuốt, ghế ngồi có thể nâng lên cao và chạy xa tới hơn 20 miles. Chú biết không?

– Ừ, chú có đọc thấy tin này trên báo.

– Con thích lắm. Con sẽ để dành tiền để mua một cái.

Anh Bình giật mình:

– Ủa, mua làm gì? Con đang khỏe mạnh mà.

– Con không cần, nhưng ông ngoại cần.

Sau tiếng cười phá lên vì sự sửng sốt của anh Bình là vẻ trầm ngâm trên khuôn mặt Thắng:

– Chú biết không, từ lúc bị tai nạn phải ngồi xe lăn đến giờ, tinh thần của ông ngoại xuống thấp. Lúc nào cũng buồn bã, bi quan, vì nghĩ mình là gánh nặng của con cháu.

Con muốn tặng món quà đặc biệt này để ông có thể tự mình đi, tự mình chạy mà không cần ai đẩy giúp. Xưa nay, ông ngoại là người tự lập, con nghĩ chắc ông sẽ vui lắm.

Anh Bình dựa lưng vào thành ghế, nghiêng đầu ngắm khuôn mặt rạng rỡ của thằng cháu, nghe lòng vui hớn hở:

– Chà, thời nay mà tìm một đứa cháu hiếu thảo như Thắng chắc khó hơn mò kim đáy biển.

Thắng đưa tay gãi đầu, ra vẻ trách móc:

– Chú đá giò lái con hoài.

– Hừ… ai lại “đá” một đứa cháu ngoan ngoãn thế này. Chú nói thật đấy.

Với nụ cười hiền hậu trên môi, Thắng tâm sự:

– Chú biết không, người con thương nhất trên đời là ông ngoại. Lúc mới qua Mỹ, con là một đứa bé quê mùa mà lại rất nghịch ngợm. Tất cả mọi thứ quanh con đều rất lạ và mới mẻ nên con hay lục lạo, tìm tòi và đã làm hư hỏng bao nhiêu thứ của ông ngoại, nhưng chưa bao giờ ông rầy la con. Có lần, thấy ông ngoại cắm bàn ủi để ủi bộ đồ vest mới toanh, chuẩn bị đi đám cưới. Thấy cái đèn đỏ dưới đuôi bàn ủi chớp lên rồi kêu tít tít, con vội vàng nhấc bàn ủi, đặt lên cái ống quần ông ngoại đã trải sẵn. Khói bay lên, mùi khét lẹt tỏa ra, ông vội chạy vào thì ôi thôi, cái ống quần thủng một lỗ dưới đáy bàn ủi. Con xanh mặt, vọt lẹ ra ngoài vì sợ ông lôi con lại, phát cho mấy cái chổi lông gà. Nhưng không ngờ mẹ con đã nhìn thấy, bà chạy theo túm được con, vừa tát bôm bốp vào mặt, vừa la hét muốn nổ tung nóc nhà “cái thằng phá hoại, bây giờ lấy gì cho ông mặc đi dự tiệc…”  trong khi ông ôm lấy con, ôn tồn bảo “Có gì đâu, nó chỉ muốn giúp ông thôi mà…”. Sau ngày ấy, cứ có ai đến nhà là mẹ lại lôi tội con ra kể. Chú có tin là cả chục năm sau, cứ có dịp thì mẹ lại tỉ tê kể lể làm con xấu hổ và bị ám ảnh đến nỗi sau này lớn lên con chẳng bao giờ dùng bàn ủi. Trong khi ông ngoại thì không. Có lần con nhắc lại và hỏi lúc ấy ông có giận con không, ông cười bảo “chuyện qua rồi là ông quên béng đi chẳng nhớ gì nữa cả”. Con biết ông nói thế là không muốn nhắc đến lỗi lầm của con và cũng để con đừng tự trách mình. Nếu Mẹ được như ông thì đời con đỡ khổ.

Anh Bình chồm qua, khỏ nhẹ lên đầu mũi của Thắng:

– Chú thấy con cứ phây phây ra đấy, chứ khổ chỗ nào.

– Con hỏi thật và chú cũng phải nói thật. Có phải mẹ nói xấu con với chú nhiều lắm không?

Anh Bình lắc đầu, mặt tỉnh rụi:

– Không. Chú có nghe, có thấy gì đâu.

– Nếu chú nói thật thì con sẽ trả lời câu mà chú hỏi con từ năm trước “Mẹ già rồi, thui thủi một mình, sao con không ở với mẹ?”.

Biết nói sao đây? Anh Bình  đã nghe rất nhiều lần và nghe đã đầy tai. Nhưng liệu chừng câu trả lời của anh có làm cho tình mẹ con của Thắng rạn nứt thêm không?

– Sự im lặng của chú chính là câu trả lời, phải không chú? Con nói thật, cho đến giờ phút này con vẫn không biết câu “cha mẹ nào mà chẳng thương con” có đúng cho trường hợp của con không? Là cha mẹ, ai cũng bào chữa, bao che những lầm lỗi của con mình nhưng mẹ con thì không. Bao nhiêu lỗi lầm của con được bà ghi vào trí nhớ không sót một lần và khi có dịp thì y như một máy ghi âm được bấm nút, bà kể từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, chẳng thiếu chuyện nào. Từ chuyện mua chiếc xe về chưa kịp mua bảo hiểm, trong khi con vừa biết lái xe đã lén leo lên lái rồi đâm sầm vào gốc cây đến nỗi chiếc xe nát cả đầu làm bà mất tiêu sáu ngàn bạc … chuyện con nghe theo bạn bè, hùn hạp kinh doanh rồi thua lỗ, nợ nần tứ tung không còn một cắc dính túi, khiến bà phải còng lưng trả tiền bảo hiểm xe mỗi tháng cho con gần hai năm, dù sau đó con đi làm và đã trả hết món nợ ấy cho mẹ rồi. Chú à, con cũng có lòng tự trọng, con cũng đau khổ và xấu hổ vì những lầm lỗi của mình và cố gắng sửa đổi. Bây giờ, tất cả mọi chuyện đã qua đi, con muốn quên đi tất cả, nhưng mẹ không cho con được bình yên để lấy lại sự tự tin mà bắt đầu những gì tốt đẹp hơn.

Anh Bình gõ khẽ vào ly cà phê  và nhẹ nhàng đổi đề tài để xoa dịu nỗi uất ức của Thắng.

– Thôi, chuyện không vui bỏ đi. Bây giờ kể chú nghe chuyện của con và Linda đến đâu rồi, bao giờ hai đứa làm đám cưới?

Thắng thở dài buồn bã:

– Con với Linda tan rồi.

– Ủa, sao thế? chú thấy hai đứa thắm thiết lắm mà.

– Thì cũng từ chuyện mẹ hài tội con mỗi lần gặp mặt Linda. Nhưng chú có biết vì sao Linda đòi chia tay với con không?

Anh Bình ngập ngừng:

– Chắc… Linda nghĩ rằng con không tốt? Nó sợ con…

– Không phải Linda sợ con mà sợ mẹ. Nó nói, mẹ ghim từng cái lỗi của con rồi nhắc tới, nhắc lui như kinh nhật tụng, nếu sau này Linda trở thành con dâu của mẹ, chắc sẽ còn thê thảm hơn nữa nên rút lui sớm cho chắc ăn.

– Chú nghĩ, có lẽ tình cảm của hai đứa chưa đủ lớn… nên đó chỉ là cái cớ thôi.

– Con không biết… nhưng đối với con đây là mối tình lớn và mẹ đã góp phần phá hỏng nó. Con đau lắm chú biết không?


Bạn thân mến,

Ðã là cha mẹ ai cũng mong muốn con mình thành đạt và luôn có được những điều tốt đẹp nhất trong cuộc sống. Do đó, cha mẹ luôn đặt  mình vào vai trò dạy dỗ, nhắc nhở con cái, từ thuở bé đến khi trưởng thành hầu cho con trở thành người hoàn hảo. Vì thế, bất cứ lỗi lầm, sai phạm nào của con cũng đều làm cha mẹ đau lòng. Nhưng không phải ai cũng biết cách dạy con khi chúng phạm lỗi. Như câu chuyện trên đây, người mẹ cảm thấy mình cáu gắt là điều rất bình thường và việc nhắc đi, nhắc lại lỗi lầm của con như một cách trừng phạt cho nó xấu hổ mà không tái phạm. Ðiều nầy chẳng những không giúp gì cho con mà sinh ra tác dụng ngược lại. Người con hổ thẹn với người thân, với bạn bè và tệ hại nhất là cảm thấy mình thật ngu ngốc, mặc cảm, mất tự tin và nảy sinh tâm lý chống đối, xa lánh cha mẹ.

Người viết nghĩ rằng, không ai mong muốn chính mình hay con mình mắc phải lỗi lầm, nhưng trong cuộc sống, thất bại hay sai lầm là điều không thể tránh. Có những nguyên nhân thật đáng trách nhưng cũng có những nguyên nhân rất đáng thương. Sai lầm hay thất bại cũng chính là những kinh nghiệm thực tế cần thiết trong cuộc sống. Ðó chính là những bài học quý giá để chúng ta trưởng thành hơn.

Lỗi lầm xảy ra thì đã xảy ra rồi, thời gian không thể quay trở lại được và con cái hẳn cũng có những bối rối, lo âu, hối tiếc. Hơn bao giờ hết, đây là lúc con cần sự đồng hành của cha mẹ. Thí dụ như đứa con làm hư hại chiếc xe, hao tổn sáu ngàn đô la, nếu người mẹ bình tĩnh và quý trọng sinh mạng của con mình hơn vật chất phù du, bà sẽ nói rằng “mất chiếc xe cũng tiếc, nhưng con bình an là điều mẹ vui mừng nhất”. Câu nói ngọt ngào, biểu hiện tình thương bao la ấy sẽ mãi mãi hằn sâu trong trái tim đứa con vừa mới lớn.

Khi thấy con phạm lỗi, cha mẹ không nên phản ứng bằng cách trút cơn tức giận lên con, nhất là kể đi, kể lại với mục đích nhắc nhở cho con nhớ những điều tệ hại mà đừng trượt vào vết xe cũ. Bởi vì, việc làm đó sẽ tạo thêm  sai lầm cho chính mình và hậu quả là tình mẹ con rạn nứt như trong câu chuyện kể trên.

Nhà giáo một thời nhếch nhác

vietmessenger.com

Nhật Tiến

Post by Sơn râu 30 Apr 2024

Phần 5

Lao động dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa

Một trong những mục tiêu hàng đầu mà chính quyền mới nhắm vào dân chúng ở các đô thị miền Nam sau tháng 4-1975 là bắt họ phải học tập để biết giá trị của hai chữ Lao Động. Vì thế mà những từ ngữ vốn xa lạ trước đây nay đã trở thành những câu nói trên đầu môi chót lưỡi của nhiều người. Như thể :

” Lao động là vinh quang”,

“Kẻ không lao động là kẻ ngồi không ăn bám xã hội”,

“Tích cực lao động để góp phần làm ra của cải vật chất…” ..v..v…

Học rồi thì tất phải thực hành ngay. Mọi công tác thực hành lao động, bao gồm nhiều phạm vi rộng lớn, được mang một cái tên tóm gọn là “Lao Động XHCN”.

Ở cương vị nhà giáo, chúng tôi được các thuyết trình viên giảng giải rằng :

” Trong chế độ cũ, giai cấp tư sản đã dùng những hình thức đè nén, đàn áp, kể cả roi vọt cũng như sự đói rét, bần cùng để trói buộc những người làm thuê vào guồng máy bóc lột của nó. Giờ đây, tổ chức lao động xã hội cộng sản chủ nghĩa mà bước đầu là chủ nghĩa xã hội thì dựa vào và sẽ ngày càng dựa vào kỷ luật tự giác và tự nguyện của chính ngay những người lao động, những người sẽ bẻ gẫy gông cùm của bọn địa chủ tư bản. “

Chính vì thế mà chính quyền cách mạng phải :

” Kiểm soát chặt chẽ các giai cấp bóc lột, tất cả những kẻ quen thói ngồi không ăn bám, những bọn con ông cháu cha, bọn ăn cắp, lưu manh, bắt chúng phải phục tùng, phải gánh vác nghĩa vụ xã hội – trước hết là nghĩa vụ lao động. Chỉ có cưỡng bức bọn bóc lột, bọn ăn bám, bọn lười biếng phải lao động thì chúng mới được sống chính đáng trong xã hội mới.”

Trên cơ sở lập luận này, riêng ở thành phố Sài Gòn, tôi đã thấy mọi sinh hoạt ở chung quanh đã bị xáo trộn hay bới tung cả lên. Như ở đầu ngõ nhà tôi có một tiệm hớt tóc. Gọi là tiệm cho nó sang, chứ thật ra cơ ngơi của ông thợ này chỉ là một khoảnh đất láng xi-măng kê vừa đủ một cái kệ trên có gắn một cái gương soi và vài thứ đồ hớt tóc linh tinh. Rồi đến một cái ghế gỗ có tay vịn trên có vắt một tấm vải trắng dùng làm khăn choàng khi có khách. Ở sát ngay rìa lối đi chung vào ngõ, ông còn căng thêm một tấm nylon mầu xanh đã cũ mòn để che nắng hay phòng khi mưa tạt. Ấy thế mà ông đã được cán bộ trên Phường xuống rỉ tai :

” Phải tém dẹp ngay đi vì tiệm của ông là một hình thức làm ăn của bọn Tư sản”.

Ông thơ hớt tóc lắp bắp:

” Tôi…tôi lao động mà….tôi đâu có bóc lột của ai?”

Cán bộ Phường nói như học thuộc lòng :

” Lao động của anh là lao động cá thể. Cứ cái gì cá thể đều là mầm mống của Tư sản, nó sẽ nẩy sinh cái tinh thần bóc lột của giai cấp Tư sản. Vì thế phải tém dẹp !”

Vào thời điểm này, hai chữ “Tư sản’ giống như vi khuẩn của một căn bệnh hiểm nghèo. Thứ vi khuẩn này xuất phát từ các cơ sở làm ăn tư nhân như nhà in, nhà may, tiệm sửa chữa xe hơi, xe máy, các xưởng làm thủ công nghiệp, các cửa tiệm buôn bán kể cả các tiệm tạp hóa bán những loại hàng hóa lặt vặt…v…v…Tất cả đều nằm gọn trong một chiến dịch gọi là “Cải tạo Tư sản”, trong đó người đứng chủ phải kê khai tài sản, rồi cơ sở vật chất bị niêm phong để sau đó có thể bị tịch thu hay trưng mua. Nhưng đã có nhiều người mau mắn xin tự nguyện dâng hiến để đổi lấy chuyện khỏi bị tống xuất ra khỏi thành phố để “đi kinh tế mới”.

Vì thế, mới chỉ nghe thấy cán bộ Phương hăm dọa liệt mình vào loại có hình thức làm ăn kiểu Tư sản là ông phó cạo xóm tôi đã xanh mặt nhăn nhó:

– Tôi có mỗi cái góc làm ăn cỏn con này. Tém dẹp nó đi, làm sao tôi sống ?

Viên cán bộ Phường mới giảng giải :

– Thì vào Tổ hợp đi ! “Tổ Hợp” là cung cách làm kinh tế theo kiểu có nhiều người tham gia cùng một ngành nghề. Nó không mang tính Tư sản nên không có tính bóc lột. Vậy hãy đi kiếm vài ba tay hớt tóc rồi xin đứng chung một tổ hợp thì có thể được chấp thuận cho tồn tại. Nhưng cũng chỉ tạm thời thôi. Mai mốt tình hình ổn định hơn thì tất cả đều phải đi vào “Hợp tác xã”. Phải Hợp Tác Xã thì mới gọi là tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội, biết chưa !!!

Ông thợ hớt tóc cười toe rồi reo lên :

– Tưởng gì, chớ cái đó thì…dễ ! Để tôi rủ vài anh em xin lập cái Tổ hợp. Mà nếu cần thì tôi xin lập Hợp Tác Xã ngay cũng được, đâu cần chờ đợi gì. Mình tiến mạnh tiến mau lên Chủ nghĩa Xã hội mà!

Rõ ra là ông thợ này chả hiểu gì về những hình thức kinh tế trong chế độ mới. Tuy nhiên cũng chỉ sau đó hơn một tuần, vừa đóng cửa tiệm vừa lo đi chạy giấy tờ và trang bị thêm cho cơ sở vật chất, ông thợ hớt tóc xóm tôi đã trương lên biển hiệu mới. Đó là một tấm các-tông khá lớn, có kẻ nguệch ngoạc dòng chữ “Tổ Hợp Hớt Tóc”. Ở dưới lại có tên riêng nghe rất kêu, đó là cái tên “Chiến Thắng” viết theo kiểu chữ in bằng loại sơn nhìn thấy đỏ lòm. Ông ta cười khà khà :

– Hai chữ Tổ Hợp nghe thế mà “oai” ! Mà cái tên “Chiến Thắng” cũng lại rất hợp thời. Cả nước chẳng đang ca om sòm bài hát ” Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng” đó sao ?

Vừa nói xong miệng ông cất tiếng theo bản nhạc như để mừng khai trương tiệm mới của mình:

” Te té te tè …te tè te tè té…te tè…

Quả không sai, vào thời kỳ đó, đâu đâu cũng thấy bài hát này cất lên, nhất là ở những cái loa Phường:

Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng

Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng.

Riêng tôi thì ngẫm nghĩ không biết với cái tông đơ cũ kỹ và bộ dao kéo cùn mòn của ông thì chiến thắng được cái gì, mặc dù “quân số” của tiệm ông nay đã thêm 2 người. Một người cũng làm nghề hớt tóc ở đâu đó quanh vùng, còn một người nữa là thằng cháu của ông, tuy chưa bao giờ cầm tới cái tông đơ nhưng lo việc “quản trị kế toán’ và “hồ sơ nhân viên”. Rõ ra là một Tổ Hợp rồi còn gì !

° ° °

Tuy nhiên sôi nổi nhất về lao động thì phải kể tới cái lễ xuất quân đi lao động xã hội chủ nghĩa của Văn Nghệ Sĩ thành phố được tổ chức ở ngay khuôn viên trước bậc thềm của tòa Quốc Hội VNCH cũ. Cả một rừng cờ, rừng biểu ngữ trên có câu ” Văn Nghệ Sĩ thành phố Hồ Chí Minh hưởng ứng phong trào Lao Động Xã Hội Chủ Nghĩa”, trên ve áo của mỗi người tham dự còn có gắn một phù hiệu hình đuôi nheo, trên có vẽ hình 1 cái xẻng, 1 cái cuốc để xéo nhau với dòng chữ : “Văn Nghệ Sĩ TP Hồ Chí Minh” và ghi ngày phát động là ngày ” 27-7-1977″.

Thật tình tôi không hiểu các ông các bà văn nghệ sĩ vốn xưa nay chưa biết cầm cái xẻng, cái cuốc bao giờ thì sẽ làm ăn được gì khi rầm rộ kéo nhau ra ngoại ô thành phố để đào đào, xới xới trên những lớp cỏ khô cằn. Họ đang làm ra “của cải vật chất” đó chăng, hay là chỉ sau vài ba hôm trình diễn ai nấy đều trốn biệt. Duy có điều ai nấy cũng đều hân hoan, phấn khởi ra mặt khiến cho bà con đi trên đường phố nhìn vào đội ngũ của biết bao nhiêu là tên tuổi của làng ca nhạc kịch, cải lương hay văn nghệ báo chí, đã phải tự hỏi:

“Các ông các bà này sao mà đóng kịch khéo thế ! Cầm cuốc, cầm xẻng đâu có gì hay ho hơn là cầm bút mà biểu tình hoan hô rầm rộ như thế !”.

Riêng trường tôi thì bầu không khí lao động lại náo nhiệt theo một kiểu khác.

Ở đám học trò thì Chi đoàn Thanh Niên phát động đủ thứ sinh hoạt: Nào chiến dịch “Tiêu diệt tàn dư văn hóa đồi trụy, phản động”, nào kế hoạch “Dũng sĩ kế hoạch nhỏ”, nào công tác lao động mài trúc, cắt trúc để làm mành mành trúc..v…v..

Trong chiến dịch tiêu diệt tàn dư văn hóa đồi trụy, nhiều em đã được cắt cử ra đứng ở ngã tư đường phố, nhắm anh nào quần loe, tóc để dài thì chặn xe lại, lấy kéo sớt cả tóc lẫn quần. Chuẩn đích đã được nêu rõ ràng trong câu :

Quần loe, áo túm, tóc dài

Tàn dư phản động tức thời triệt ngay

Đấy là chưa kể tới những vụ từng toán, từng đoàn lũ lượt kéo nhau đi tịch thu các sách báo của chế độ cũ còn tàng trữ trong nhiều nhà tư nhân. Như tôi đã nhắc ở phần trên, cái gậm cầu thang lên lầu hai ở trường tôi tràn ngập những sách báo được coi là phản động. Nhiều cuốn đã bị xé tơi tả, nhiều cuốn khác còn nguyên bìa da, mạ chữ vàng. Có những cuốn dầy cộm tới 400, 500 trang, đó là những cuốn tự điển ngoại ngữ cùng những loại sách Y khoa, Dược khoa, Kiến trúc hay Đồ họa máy móc do học sinh gom từ nhà mang tới.

Ở ngoài sân, nhiều hôm giấy má bị gió thổi bay tơi tả góc này một trang, góc kia vài trang, có trang vẫn còn bay là là hay lơ lửng theo chiều gió cuốn. Trong khi ấy, ở Hội trường, tiếng kèn trống, tiếng vỗ tay râm ran khi Chi đoàn đang trao tặng giấy khen, bằng khen cho những em đã tham gia công tác một cách tích cực.

Về Kế Hoạch Nhỏ thì cũng có nhiều sáng kiến thần kỳ. Các em được huy động đi nhặt bao nylon, giấy vụn vứt quanh sân trường, trên đường đi học hay các khu chợ búa gần trường. Thậm chí có em còn tích cực hơn, đem gom góp những vỏ chai, những lon sữa bò, những mẩu gỗ thừa, bao nhựa cũ để tích dần trong bao tải, đến lúc gom đầy thì lặc lè vác đến trường nộp cho Chi Đội lớp. Lớp tập trung lại rồi khi nhắm đã nhiều thì sẽ đem lên Thành đoàn giao nộp. Tất nhiên, những em tích cực như vậy sẽ được sớm đeo khăn quàng đỏ, thậm chí còn được mang danh xưng ” Dũng sĩ kế hoạch nhỏ” nữa.

Những loại công tác kể trên mới chỉ được coi là những hoạt động của Chi Đoàn, Chi Đội. Nó chưa phải là công tác lao động chính quy, hiểu theo nghĩa là được chính thức đưa vào chương trình hoạt động của lớp học. Vì thế trong Thời Khóa Biểu của mỗi lớp, nay còn có thêm 1 giờ học nữa mang tên là Giờ Lao Động. Trong giờ này, học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên Chủ Nhiệm đã kéo nhau đi làm công tác lao động, có khi ở trong thành phố, có khi ở ngoại thành. Công việc tất không ngoài việc đào mương, vét cống, cuốc cỏ, khai vườn..v..v…Có nhiều trường xin được một mảnh đất hoang ở đâu đó nhưng hầu hết là ở ngoại thành, thì thầy trò kéo nhau tới đó để lao động sản xuất. Cũng trồng rau, cũng đào ao nuôi cá….tuy nhiên thành quả của những công việc này, Ban Giám Hiệu tuyệt nhiên không bao giờ thông báo lại cho thầy trò đã tham dự để biết thành quả của nó ra sao. Có thể nó chết ngóm sau vài tuần lễ rầm rộ khởi đầu, mà cũng có thể tiền bán rau, bán cá chạy vào túi ai thì cũng chẳng người nào được rõ.

Ở trường tôi, ngay hồi đầu hình như cũng xin được một khoảnh đất ở đâu đó, nhưng từ khi phát kiến ra công việc làm mành mành trúc có thành quả kinh tế rõ rệt hơn thì hầu như học sinh các lớp, trong giờ lao động đã đổ hết công sức vào công việc này.

Mành mành trúc là một thứ mành treo làm bằng gióng những cây trúc, trên có vẽ cảnh trí hay con người. Các gióng trúc được kết nối với nhau bằng những lỗ khoen làm bằng dây kẽm nhỏ. Nhờ cách kết nối này mà khi treo lên, khi ở vị trí đứng yên, mành trúc có thể che kín một cánh cửa thông phòng nọ sang phòng kia. Nhưng khi có ai bước qua thì những gióng trúc sẽ uyển chuyển để cho người bước qua dễ dàng trước khi khép lại.

Công tác làm mành mành được chia làm nhiều khâu :

– Học sinh lớn thì đi chở ùn ùn ở đâu đó những bó cành trúc còn thô sơ, chưa cắt gióng, chưa mài, chưa chuốt cho nhẵn nhụi.

– Các học sinh nhỏ hơn thì chia nhau đem những bó này ra tước, ra mài, rồi chùi giũa sao cho thành nhẵn bóng.

– Sau đó là khâu cắt thành từng gióng. Không phải gióng nào cũng dài đều như nhau mà phải theo một thiết kế tỉ mỉ đã được nghiên cứu trước, căn cứ trên hình sẽ vẽ trên tấm mành. Như trong hình có mầu xanh, thì phải có bao nhiêu gióng xanh dài, bao nhiêu gióng xanh vừa, bao nhiêu gióng xanh ngắn. Mầu đỏ, mầu vàng cũng như vậy.

Thế là chia nhau ra, nhóm này cưa trúc thành gióng dài, nhóm kia cưa thành gióng ngắn. Các gióng cùng cỡ đổ đầy trong những hộp để ngổn ngang trong phòng. Sau đó thì chuyển qua phòng làm công việc sơn gióng. Ở khâu này, chẳng cần hoa tay hay họa sĩ gì hết. Cứ theo mầu sắc ghi sẵn mà quét sơn lên. Đến khi sơn khô hết rồi thì mang qua phòng làm khoen rồi theo sơ đồ của hình vẽ mà nối gióng. Nói tóm lại, khi tất cả các gióng được kết nối xong thì cả một tấm mành trúc khi treo lên, hình vẽ sẽ hiện ra rất rõ ràng, chủ yếu là cảnh Tháp Rùa giữa Hồ Hoàn Kiếm, hay hình Thiếu nữ bận áo dài đứng dựa lưng vào thân cây dừa, tay cầm dù e ấp nom rất điệu.

Là Chủ nhiệm của một lớp, khi tới giờ lao động, tôi cũng phải theo học trò trong lớp tham gia vào công tác lao động ở tổ Mành Mành Trúc. Có hôm chúng tôi được điều tới khâu cắt trúc, có hôm thì mài trúc, chùi bóng trúc. Học sinh thì tỏ ra vui thú thấy rõ vì chúng nó được ngồi cạnh nhau để vừa làm vừa vui đùa, tán chuyện gẫu chứ không phải ngồi nghiêm chỉnh như trong lớp học. Và thằng Tửu thì bao giờ cũng lại chuyên môn giở trò đầu têu nhảm nhí. Nó vừa cắt những gióng trúc vừa lèm bèm cái miệng:

– Này cắt đầu thằng Phản động…này cắt đuôi thằng Tư sản…

Rồi nó hỏi :

– Mình còn cắt đứa nào nữa hả các “bồ” ?

Một nữ sinh trả lời chanh chua:

– Còn…còn..còn cắt cái đầu thằng Tửu nữa!!!

Tửu la lên :

– Sai bét ! Còn thiếu gì ! Còn thằng Chủ nhiệm Hợp tác xã, thằng Cán Bộ Thu Mua, thằng Công an Khu vực, Công an Phường…

Tôi vội vã la lên :

– Tửu ! Cấm nói bậy nghe !

Tửu cười ngỏn ngoẻn :

– Thầy khác em ! Em dám nói. Thầy không dám nói !

Câu trả lời của nó khiến tôi điếng người ! Quả nó nói không sai !

“Thầy khác em ! Em dám nói! Thầy không dám nói !”

Ôi chà ! Thằng nhỏ đã phũ phàng phóng ra một mũi tên trúng ngay tim đen của thầy giáo.

Tôi còn có lý do gì để lên giọng trách mắng nó khi nó nói thẳng ra cái thực tế phũ phàng mà lẽ phải đã nghiêng về phía nó.

Tôi thật đau lòng khi phải nhận lãnh cái sự thực ấy do chính học trò của mình nói ra. Rồi tôi bỗng tự hỏi cả cái tập thể giáo viên ở ngôi trường này, không biết đã trở thành những con người “không dám nói” tự bao giờ ?

° ° °

Trên đây là mới chỉ nói về công tác lao động của lũ học trò. Còn chúng tôi, những thầy cô giáo, thì sinh hoạt lao động cũng có phần sôi nổi không kém.

Trong một buổi họp các giáo viên toàn trường, Ban Giám Hiệu đề ra kế hoạch thành lập các “Tổ Lao Động” của các thầy cô giáo trong trường.

Cái tên gọi nghe lạ hoắc khiến nhiều người ngơ ngác không biết cái “Tổ” này sẽ làm gì trong khi chúng tôi cũng đã cật lực thi hành cho đạt tiêu chuẩn “8 giờ vàng ngọc” trong mỗi ngày rồi.

Nhưng hình như mọi sự vốn đã được âm thầm sắp xếp từ trước. Khi chỉ thị đã công bố rõ ràng thì lập tức có một vài vị trong Hội Nhà Giáo Yêu Nước đứng ra thuyết trình về nội dung thành lập “Tổ” và cung cách điều hành những Tổ ấy ra sao. Các vị ấy lại còn giới thiệu một vài Tổ đã thành hình, như Tổ Đồng Hồ, Tổ Thêu May, Tổ Ấn Loát, Tổ Sửa Chữa Máy Móc…v..v…Đại thể như sau:

– Tổ Đồng Hồ sẽ chuyên lo việc lau dầu, thay dây cót (dây thiều), đánh bóng mặt đồng hồ đã bị trầy sước….

– Tổ Thêu May thì nhận thêu khăn tay, khăn choàng, khăn giải bàn, yếm dãi…

– Tổ Ấn Loát thì in thuê các tài liệu học tập bằng cách quay Ronéo với máy quay tự chế, thực hiện bằng tay, không cần chạy điện!

– Tổ sửa chữa máy móc thì sửa bàn là (bàn ủi), quạt máy, ấm đun nước.

Trên đây chỉ là những tổ sơ khởi, ai có sáng kiến gì khác thì sẽ lập thêm những tổ mới sau. Còn ai không có khả năng thành lập tổ thì hãy ghi danh tham gia vào các tổ đã có sẵn để tùy nghi Tổ trưởng phân định công tác. Miễn sao mọi người, ai cũng đều có công tác lao động chân tay để “làm ra của cải vật chất” !

Thế là bọn chúng tôi nháo nhào, chen nhau ghi tên, người thì vô tổ đồng hồ, người thì nhập tổ sửa chữa máy móc, đa số các Cô thì xin vào Tổ thêu may mặc dù đã có mấy cô thú nhận:

– May vá gì…hồi trước lo soạn bài, chấm bài bận thấy mồ, cái áo có rách cứ đem ra tiệm thuê làm là vừa nhanh vừa gọn.

Còn một anh bạn tham gia Tổ Đồng Hồ thì sau đó tâm sự :

– Tớ biết mẹ gì những thứ linh tinh nằm trong cái đồng hồ. Nhưng nó bé xíu, có rớ vào nó để rà rẫm thì cũng đỡ phải vã mồ hôi hột !

Riêng tôi thì ghi danh vào Tổ Ấn Loát. Tôi thừa biết nhà trường chẳng thể có một cái máy in, dù chỉ là thứ máy thô sơ thường gọi là máy pédale có một cái bàn tròn để lăn mực đặt ngay trước mặt thợ in. Người thợ dùng chân để đạp cho máy chạy và in ra từng tờ nhỏ như danh thiếp, thư mời hay thiệp cưới. Nhưng điều mà tôi tò mò muốn biết là để xem cái thứ “máy quay Ronéo tự chế” nó sẽ vận hành thế nào. Dẫu sao, ở vào cái thời kỳ mà từ cái máy chữ trở đi cũng bị coi là đồ quốc cấm (vì có thể dùng để đánh máy tài liệu phản động) thì chuyện sáng chế ra cái máy in ronéo quay tay kể ra cũng là một điều hi hữu !

Thế rồi những ngày sau đó, vào cuối tuần không phải đứng lớp giảng dạy, mọi người lui tới tấp nập, thi nhau nhốn nháo trang bị cho cơ ngơi cái Tổ của mình. Khoảnh lầu rộng rãi nơi tiếp nối hai dẫy lầu vuông góc ở tầng hai được trưng dụng làm nơi cho các Tổ hoạt động. Mỗi Tổ được chiếm dụng một khoảnh giống như những khoảnh bán hàng ở ngoài chợ Trời. Các biển hiệu được trưng lên, nào Tổ Đồng Hồ, Tổ Ấn Loát, Tổ Sửa chữa máy móc…. riêng Tổ Thêu May thì chiếm riêng một khoảnh rộng rãi, thoáng mát gần cửa sổ hơn, vì các Cô cần chỗ để căng những khung thêu, để bầy những giỏ len, giỏ chỉ mầu cùng các thứ linh tinh khác như ô dù, mũ nón, lại cả những xách tay ý hẳn chứa đầy cơm nắm, xôi vò và dám có cả những bịch xí mụi hay trái cóc giầm tương ớt nữa.

Bên Tổ Đồng Hồ tôi thấy các Thầy cũng trưng ra mấy cái đồng hồ báo thức cũ sì, và trong một cái tủ kính nhỏ cũng lại có vài chiếc đồng hồ đeo tay loại còn chạy dây cót mà người xài cứ mỗi ngày phải vê vê cái nút tròn nằm ở bên mặt gọi là cái remontoir để lên dây cót. Còn thầy Tổ trưởng thì cũng hí hoáy ngồi trước một cái bàn nhỏ xoay xoay, vặn vặn vài con ốc gì đó, trên mắt phải Thầy lại còn gắn một cái ống kính lúp phóng đại, nom rõ ra là một tay chuyên nghiệp sửa đồng hồ. Nhưng thật tình, tôi tự nhủ nếu có hư đồng hồ thì cứ đem ra thợ sửa ở đầu phố còn tin tưởng hơn là giao cho mấy ông thần chuyên bầy vẽ đủ thứ chuyện này .

Ở Tổ Ấn loát của tôi thì thầy Tổ trưởng trưng ra một cái máy ronéo quay tay đặt trịnh trọng trên một cái bàn nhỏ có trải khăn làm bằng những tờ giấy trắng ghép lại. Cái máy thì nom như cái chảo rang cà phê của mấy bác bán cà phê rong. Nó được đặt trên một tấm gỗ ở hai đầu có hai cái trụ, trên đầu trụ có khoét một lỗ hổng để cái trục của cái “lò rang cà phê” chạy xuyên qua, và khi xoay tròn cái tay quay thì cái chảo cũng quay theo. Bên trong chảo lót vải mùng có đổ mực in, phía ngoài thì dán lên tờ stencil tức giấy sáp đã đánh máy hay vẽ hình lên cho thủng lỗ sẵn. Phía dưới cái chảo lại có một cái rouleau có thể xoay tròn, áp gần sát với cái chảo. Khi tờ giấy in được đưa vào và thợ in quay cái chảo đi nửa vòng, tờ giấy sẽ bị cuốn theo để hình vẽ hay chữ viết trên tờ stencil sẽ thấm mực in ra giấy. Tổ chúng tôi biểu diễn ngay việc in ấn của cái máy tự chế này bằng cách in một tờ truyền đơn trên có ghi mấy hàng chữ viết tay :

” Quyết tâm thi hành công tác lao động để đưa nước nhà tiến mạnh, tiến mau, tiến vững chắc lên XHCN”.

Tôi đã nghe thấy có tiếng ai đó la lên :

– Rất hiện đại mà lại không hại điện !

Hồi đó đa số chúng tôi đều cũng chỉ như cá nằm chung trong một giỏ, nên chúng tôi chỉ nhìn nhau rồi cười trừ !!

Nhà giáo một thời nhếch nhác

vietmessenger.com

Nhật Tiến

Post by Sơn râu 30 Apr 2024

Phần 4

Một thời giáo án

Các giáo viên miền Nam nếu còn tiếp tục được giảng dạy trong nhà trường XHCN thì không mấy ai là không ngán ngẩm về cái được gọi là “giáo án” vốn là một thứ bắt buộc mỗi người phải thực hiện cho từng giờ giảng dạy.

Giáo án hiểu một cách nôm na là bài soạn của thầy, cô giáo trước khi vào lớp. Dĩ nhiên, đã vào lớp thì phải soạn bài. Trước đây các thầy, cô giáo đều cũng đã làm thế. Nhưng mỗi người có cung cách soạn bài theo ý riêng của mình. Có người ghi chép vào sổ tay, có người chỉ đọc tài liệu mà không ghi chép, lại cũng có người vì dạy đã lâu năm nên bài giảng nằm sẵn trong đầu, khi đến trường sẽ tùy theo tình hình lớp học mà giảng dạy.

Nhưng dưới mái trường XHCN thì khác. Nó là một thứ “Pháp lệnh”, ai cũng phải tuân theo chứ không thể “tùy tiện” như trước. Cho nên mỗi giáo viên đều phải có một cuốn sổ gọi là Sổ Giáo Án dùng để soạn bài và bài soạn này phải được Ban Giám Hiệu kiểm tra, đóng dấu rồi mới được phép đem dùng. Đã thế, trong giờ học, cuốn sổ này lại phải đặt tại rìa bàn học ở cuối lớp, phía sát ngay hành lang để bất chợt Hiệu Trưởng hay Hiệu Phó đi kiểm tra thì có thể mở ra đối chiếu xem thầy, cô giáo có theo đúng tuần tự diễn tiến như đã ghi trong sổ hay không. Chính vì thế mà hầu như giáo viên nào cũng đều coi “giáo án” là một cơn ác mộng.

Vậy giáo án gồm những nội dung gì để khiến thầy cô phải ngán ngẩm đến thế ?

Đại thể nó có những mục như sau, dùng cho bất cứ môn học nào (trừ các môn không phải khoa học thực nghiệm thì không có khoản phải làm thí nghiệm) :

I/ Mục đích -Yêu cầu :– Mục đích về chính trị.

– Mục đích về kiến thức khoa học.

– Yêu cầu về thái độ học tập của học sinh.

– Yêu cầu liên hệ bản thân của học sinh qua bài học.

II/ Hoạt động trong lớp:1) Kiểm tra và ôn tập bài tuần trước.

2) Nội dung Bài Giảng:

– Tóm tắt nội dung sẽ giảng (có ghi thời lượng cho mỗi đoạn phải giảng)

– Các dụng cụ thí nghiệm sẽ dùng (thời lượng từng bước cho mỗi thí nghiệm).

– Các câu hỏi sẽ nêu ra, liên hệ tới bài học

– Các câu trả lời cho những câu hỏi nêu trên.

3) Thí nghiệm sẽ trình bầy trong lớp:

– Các vật dụng dùng trong thí nghiệm.

– Chia nhóm thực hiện thí nghiệm, thảo luận.

– Thầy giám sát, kiểm tra, đôn đốc.

III/ Tổng kết tiết học :– Tóm tắt bài giảng.

– Đánh giá kết quả học tập.

– Rút kinh nghiệm cho tiết học kế tiếp.

IV/ Xác nhận: – Xác nhận của Tổ trưởng tổ Chuyên môn.

– Xác nhận của Ban Giám Hiệu

Trong đủ thứ các điều kể trên – cứ dạy một giờ là phải soạn đủ từng ấy thứ – cái khoản khó nhằn nhất đối với chúng tôi là mấy chữ “Mục đích, Yêu cầu”.

Về mục đích dành cho kiến thức khoa học thì đã rõ ràng đi một lẽ rồi, nhưng sao lại còn thêm cái khoản “chính trị”và “liên hệ bản thân” nữa thì mới là oái oăm. Bởi vì với các môn học như Hình Học, Đại Số, Vật Lý, Hóa Học, Sinh Vật….thì tụi tôi làm sao “móc” được cho nó dính vào vấn đề chính trị đây? Chẳng lẽ một cái phương trình, một cái đồ thị hay hình tròn, hình vuông, hình đa giác..v..v…lại cũng có cả vấn đề chính trị trong đó nữa sao ? Đã thế lại còn bắt học trò “liên hệ bản thân” nữa thì mới là cơ khổ.

Hồi đó tôi dạy môn Vật Lý cấp II, và một anh bạn khá thân dạy môn Hóa Học. Anh này vốn cũng là đồng nghiệp của tôi từ nhiều năm trước ngày 30- 4 -1975. Chúng tôi than thở với nhau : ”Bài giảng Hoá Học về “Cách làm Xà Phòng” hay bài Vật Lý về ” Bình Accu chì ” thì cái vụ “chính trị” nó nằm ở chỗ nào”?

Ấy thế mà anh bạn của tôi cũng đã múa may được một cách tài tình trong giáo án của anh như sau :

” Bài học Cách làm Xà Phòng sẽ bồi duỡng trình độ Khoa Học Kỹ Thuật, qua đó học sinh được nâng cao kiến thức trong công cuộc tiến hành cuộc Cách mạng Khoa học Kỹ thuật để đưa nền kinh tế nước nhà tiến mạnh, tiến mau lên Chủ Nghĩa Xã Hội!”.

Tôi đọc xong liền kêu lên:

– Ôi giời ! Cậu đúng là Thợ Vẽ chuyên nghiệp ! Thôi đổi quách qua dạy môn Hội Họa cho rồi !

Bạn tôi cứ tủm tỉm cười. Anh còn đích thân đọc cho tôi nghe đoạn nói về liên hệ bản thân như sau:

– Học trò sau khi học xong bài này phải biết giữ gìn thân thể luôn sạch sẽ, lại có ý thức luôn đề cao cảnh giác phòng chống buôn lậu xà phòng vốn đang còn là một vấn đề tồn tại trong các vùng mới giải phóng!

Ôi chà chà ! Chẳng biết đoạn này khi đem trình Ban Giám Hiệu thì có được thông qua không, nhưng theo tôi thì nó thật đúng kiểu, đúng cách, nói lên trúng phóc mối bận tâm của chính quyền cách mạng vào thời điểm đó, khi mà con phe, chợ trời đang buôn lậu, buôn chui đủ thứ, kể cả món….xà phòng !

Nhưng nói cho ngay, những ai cần xài xà phòng thì tôi không biết, chứ phần đông bà con Sài Gòn, nhất là các bà các cô thì không ai bảo ai cứ đem quần áo của mình ra nhuộm nâu, nhuộm đen hết ráo. Thì ra, mọi người đều có chung nhau một mối bận tâm :

” Bây giờ mà ăn trắng, mặc trơn sẽ bị coi là giai tư sản cấp bóc lột. Tốt hơn hết là ta cứ đen hay nâu quách đi cho rồi.”

Chính vì thế mà đã có một thời thuốc nhuộm lên giá vù vù, đặc biệt là thuốc nhuộm mầu đen hay mầu nâu thì rất hiếm hoi tìm mua được.

Tôi lại đã nghe một vài cô giáo mách nhau :

– Cần gì thuốc nhuộm. Cứ móc cống rãnh lấy bùn lên rồi đem ngâm quần áo vào là xong tất. Tuyệt đối mầu không bao giờ phai.

Gớm ! Gái Sài Gòn quả có tinh thần thích ứng với thực tế thật là mau chóng. Các cô giáo hồi trước thì bao giờ cũng đến trường với những tà áo dài thướt tha đủ mầu, nhưng bây giờ thì ai cũng chỉ có cái quần đen với áo sơ mi mầu nâu hay trắng. Thậm chí phấn son, các cô bây giờ cũng ít xài. Một cô nói nhỏ:

– Còn bầy vẽ cái gì nữa ! Luớ quớ nó lại vu cho cái tội đồi trụy, phản động !

Thế là lại thêm một khía cạnh nữa cho thấy cái vẻ đẹp yêu kiều của phụ nữ Việt Nam, ở vào thời buổi này cũng đang âm thầm bị bóp chết !

Nói đến sự thích ứng với hoàn cảnh, tôi lại nhớ tới một buổi học tập dành cho các giáo viên tập trung ở ngôi trường Nguyễn Bá Tòng. Hôm ấy, một cô giáo rất xinh đến từ miền Bắc đã nói cho chúng tôi nghe về tinh thần khắc phục gian khổ và óc đầy sáng tạo của nhà giáo trong thời chiến tranh. Cô luôn mồm bảo:

“Phải vận dụng óc sáng tạo để thích hợp với hoàn cảnh !”.

Rồi cô nêu ngay thí dụ cụ thể trong thực tế ở miền Bắc. Cô bảo lớp học tiến hành ngay dưới hầm tránh bom thì đào đâu ra dụng cụ để thí nghiệm. Ấy thế mà thầy cô giáo miền Bắc cũng đã sáng chế được thuốc thử Acít thay thế cho rượu Quỳ để cho học trò làm thí nghiệm đấy. Rồi cô giải thích cái sáng chế thần tình ấy là hoa Râm Bụt. Hoa Râm Bụt có thể thay thế Rượu Quỳ để thử Acit, nó cũng đang mầu xanh hóa ra mầu đỏ khi nhỏ vào một giọt Axít. Nghe thật sướng tai, bọn chúng tôi ai cũng xuýt xoa đúng là các thầy cô miền Bắc biết vận dụng óc sáng tạo. Nhưng rồi tôi là người đã lên tiếng hỏi:

– Vậy thưa thuyết trình viên, việc biến chế hoa Râm Bụt thế nào để thay thế được Rượu Quỳ, xin cô cho biết.

Bỗng nhiên hai gò má hây hây của cô giáo mang danh hiệu Tiến sĩ Hóa học ấy chợt đỏ hồng lên. Cô nhìn thẳng về phía tôi, miệng chúm chím cười. Rồi thật bất ngờ, cô đã trả lời câu hỏi của tôi với một giọng nghe rất hồn nhiên:

– Ấy…cái đó …cái đó thì tôi cũng chỉ nghe báo cáo như thế, chứ chính bản thân tôi cũng chưa thí nghiệm thử bao giờ!

Cả nhóm chúng tôi chẳng bảo nhau cùng chợt ùa lên cười ! Cái cười hả hê vì vừa lột mặt nạ được một sự dối trá, nhưng cũng vừa thích thú khi được thấy chính Cô Tiến sĩ Hóa học này đã ngay thẳng nói ra sự thật mà không quanh co biến báo. Cũng chính vì vậy mà chúng tôi không cảm thấy bất mãn về sự tuyên truyền huyênh hoang của cô, mà trái lại, chúng tôi lại còn rất quý mến cô ở chỗ cô đã cất lên lời nói chân thật. Hầu như đã lâu lắm rồi, dù ở ngay trong môi trường giáo dục này, chúng tôi chỉ toàn được nghe những lời giả dối. Cho nên, khi được nghe một lời nói chân thật từ một báo cáo viên đến từ miền Bắc, chúng tôi có cảm giác như được hưởng một cơn mưa rào sau những ngày nắng hạn.

Tôi còn nhớ, sau những ngày chấm dứt khóa học, chúng tôi có hùn tiền nhau mua tặng cô giáo một cái bút Pilot để trong hộp nhung cẩn thận. Một phần là để cám ơn cô đã tới thuyết trình cho chúng tôi về một đề tài nghe “rất vui vẻ”, nhưng phần khác, chúng tôi muốn cô đem về miền Bắc những ấn tượng tốt đẹp về thầy cô giáo của miền Nam, những con người chỉ thích nói thật và rất ngay thẳng trong các vấn đề dạy dỗ con em.

Mà đúng như thế. Hôm tiễn cô ra khỏi cổng trường, cô nói nhỏ nhẹ :

– Cái vụ Rượu Quỳ ấy, tôi tưởng cứ trình bầy xong thì thôi. Ai ngờ các anh các chị trong này lại cứ hay hỏi tới nơi tới chốn. Ở ngoài kia, có mấy ai cần hỏi ra đầu ra đuôi như thế đâu !

Thì ra cái sự nói dóc đã được nuôi dưỡng từ một môi trường quen thói giả trá. Một khi nó đã thành thói quen rồi thì biến thành quán tính, chứ hẳn trong thâm tâm, nào cô có muốn bịp bợm gì chúng tôi đâu !

Trở lại câu chuyện giữa các cô giáo mách nhau : “Cứ móc cống rãnh lấy bùn lên rồi đem ngâm quần áo vào là xong tất”. Tuy biết vậy, nhưng tôi chưa được nghe có cô giáo nào trình bầy lại cái kinh nghiệm “nhúng quần áo vô bùn cống để nhuộm đen cả”. Nhưng cũng không vì thế mà cái óc tò mò của tôi chịu nằm yên một chỗ. Nói của đáng tội, cũng chỉ vì lấn cấn cái vụ “bùn dưới cống” này mà nhiều hôm ở trường, khi có một cô giáo đi ngang qua, tôi đã không khỏi nhìn xuống cái ống quần để xem quần thâm của các cô nếu nhuộm bùn thì nó sẽ ra như thế nào! Nhất là những người đi qua đi lại có bị cái mùi nước cống bốc lên, xộc vào mũi hay không ?

° ° °

Chuyện Mục đích, Yêu cầu và Liên hệ bản thân mới chỉ là phần mở đầu của Giáo Án. Qua phần Nội Dung Bài Giảng, tưởng dễ dàng mà cũng hóa ra rất chật vật. Trong các buổi hướng dẫn soạn Giáo án, chúng tôi đã được nghe chỉ thị:

– Các đồng chí phải dự phòng mọi tình huống khi học trò nêu câu hỏi sau bài giảng. Tuyệt đối không được nói năng linh tinh ra ngoài đề tài đang học. Vì thế, phải dự đoán trước học trò sẽ hỏi những gì xoay quanh bài học và soạn sẵn trước những câu trả lời. Khi trả lời cũng phải tập trung vào kiến thức của bài giảng chứ không được phát biểu bừa bãi ra ngoài lề. Mọi câu hỏi và đáp án phải ghi đầy đủ trong Sổ Giáo Án và đặt ở cuối lớp để sẵn sàng khi có kiểm tra.

Ý thức cảnh giác của Nhà Nước quả là cao độ. Họ lo đến cả chuyện đối đáp giữa thầy và trò trong lớp học. Có thế thì mới bắt chúng tôi soạn sẵn những câu hỏi mà thầy cô dự trù học trò sẽ hỏi, rồi lại phải soạn cả những câu trả lời. Có nghĩa là cả thầy lẫn trò “không được nói năng linh tinh ra ngoài đề tài đang học”. Đấy là một hình thức kìm kẹp rõ ràng chứ còn có ý nghĩa nào khác nữa đây ??

Ở các tỉnh phía Nam thì tôi không rõ có thầy cô nào bạo gan nói năng xuyên tạc ra ngoài lề không, nhưng tôi cũng đã được nghe kể những chuyện đã xẩy ra trong lớp học ở miền Bắc mà nhiều khi chẳng phải do ai có ý đồ phá phách gì, có khi chỉ là nói lên một vài sự thực xẩy ra hằng ngày.

Như có một lớp tiểu học ở ngoài kia được chọn lựa làm “Lớp học điển hình”. Cô giáo được lệnh chuẩn bị một tiết dạy để hôm đó, nhiều nhân sự thuộc các Ban Ngành trong Sở Giáo Dục sẽ tới tham quan tại chỗ.

Khỏi cần phải nói cũng biết cô giáo lo lắng và chuẩn bị tiết dạy của mình kỹ lưỡng đến như thế nào. Đề tài cô chọn để dạy học trò hôm ấy là “Kính yêu Bác Hồ”. Trong giáo án của cô cũng có đầy đủ Mục đích, Yêu cầu, Liên hệ bản thân đại để như làm cho học trò trong lớp hiểu được rằng Bác Hồ là một vị lãnh tụ vĩ đại, có công lao to lớn đối với đất nước và dân tộc Việt Nam. Các em thiếu nhi qua đó phải có lòng kính yêu Bác, phải làm theo 5 điều Bác đã dạy gồm: 1) Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, 2) Học tập tốt, lao động tốt, 3) Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt, 4) Giữ gìn vệ sinh thật tốt, 5) Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm. Rồi cô còn liệt kê sẵn ra cả một vài công việc gợi ý để các thiếu nhi liên hệ bản thân sẽ cần phải làm để tỏ lòng kính yêu Bác. Cô còn bắt vài đứa phải học thuộc lòng để hôm ra “điển hình” chúng nó không bị ngấp ngứ. Riêng về trợ huấn cụ thì cô cũng đã chuẩn bị sẵn mấy tấm ảnh của bác Hồ, nào là ảnh chụp Bác đang bế và ôm hôn một cháu thiếu nhi, ảnh chụp Bác đang cùng các cháu múa hát, lại có cả tấm ảnh Bác đang chia kẹo cho các cháu nữa. Kỹ lưỡng đến thế còn gì !

Ấy thế mà trước cả chục con mắt lom lom của các thành viên tham dự buổi giảng dạy điển hình, một chuyện bất thường đã xẩy ra. Một trò gái ngồi ở khoảng giữa lớp bỗng nhiên cất tiếng ho húng hắng. Rồi nó cúi xuống quay sang lúi húi lục cái gì đó ở trong túi vải đặt ngay kế bên. Trong khi lục tìm, nó cố dằn cơn ho đến nỗi mặt của nó đỏ ửng lên. Tiếng ho của nó làm cả lớp quay lại nhìn. Bỗng bất chợt nó giơ tay lên và cất to giọng như để át tiếng ho lại sắp bật ra khỏi họng:

– Thưa Cô …thưa cô…hôm nay …hôm nay cô có mang bánh kẹo đi bán như mọi hôm không ạ ?

Cả lũ học trò ngồi chung quanh chợt ré lên cười. Ôi giời, đang thao thao về chuyện Bác Hồ mà con bé lái ngay sang chuyện bán bánh, bán kẹo trong lớp thì còn trời đất nào nữa, mặc dù nó chỉ cầu cứu tới món kẹo của cô giáo để làm giảm cơn ho trong những phút cần sự nghiêm chỉnh nhất.

Thế là lớp học nhốn nháo cả lên. Trong số mấy vị đi tham quan ngồi ở phía cuối lớp đã có vài vị nhấp nhổm đứng lên. Tiết học điển hình tuy không có lệnh của ai mà cũng tự nhiên rã đám. Riêng cô giáo thì chỉ còn biết đứng như trời trồng. Cô không thể mở miệng tác xác câu hỏi hỗn xược của con bé vì trong ngăn kéo bàn của cô, bịch kẹo bánh vẫn còn nguyên đó mà vì bận rộn nên cô chưa có dịp chào hàng. Chuyện này không biết là thật hay đùa, nhưng chính tôi đã nghe kể lại và đã tự hỏi không biết sau này cô phải nhận lãnh những kỷ luật gì.

Nghĩ cho cùng, cô giáo ấy và chính chúng tôi ở đây, nay cũng đều là đồng nghiệp và cùng dạy dưới mái nhà trường Xã hội Chủ nghĩa. Hoàn cảnh hiện nay của cô thì bi thảm như vậy, còn chúng tôi trong một tương lai không xa nữa rồi sẽ ra sao. Hay là rồi cũng lại rơi vào những tình trạng mà dân chúng miền Bắc đã từng diễn tả trong mấy câu ca dao thời đại:

Thày giáo lãnh lương ba đồng

Làm sao sống nổi mà không đi thồ

Nhiều thày phải đạp xích lô

Làm sao xây dựng tiền đồ học sinh?

Tiền đồ học sinh ra sao, câu trả lời sau đây nghe cũng khá rõ ràng :

Mười năm cắp sách theo thầy

Đến khi tốt nghiệp vác cầy theo trâu !!

Nhà giáo một thời nhếch nhác

vietmessenger.com

Nhật Tiến

Post by Sơn râu 30 Apr 2024

Phần 3

 Học sinh cá biệt

Học sinh cá biệt là loại học sinh vừa kém, vừa lười, nhiều đứa lại bướng bỉnh, khó dạy. Thế cho nên nhà trường mới nẩy ra nhu cầu “phụ đạo”, tức là phải dạy thêm giờ cho các học sinh yếu kém này.

Tôi và hai giáo viên thuộc bộ môn khác được giao phó phụ đạo một lớp gồm hơn mười đứa. Đây là đám học sinh được gom lại từ nhiều lớp học khác nhau, nhưng chúng ở cùng một trình độ, tức là có chung một cấp lớp. Một cô giáo ghé vào tai tôi nói nhỏ :

– Cái đám quỷ sứ này toàn là những thứ đội sổ ở nhiều lớp được gom lại đây. Thầy coi chừng bị chúng nó ăn thịt!

Tôi mỉm cười :

– Cô hãy lo phần cô trước. Bề gì thì chúng nó cũng là học trò cả mà.

Cô ta bĩu môi quay đi, nhưng tôi cũng kịp nhìn thấy vẻ mặt lạnh tanh của cô. Hồi trước, khi ngôi trường này chưa bị tiếp thu, cô vốn là người khó tính và rất nghiêm khắc với học trò. Nhưng bây giờ tôi tự hỏi cái tính chất ấy của cô có còn tồn tại được ở ngôi trường mới mẻ này không. Niên học vừa rồi, vào dịp cuối năm, tôi đã thấy lũ học trò cho điểm các giáo viên và nạp cho Bí thư Chi đoàn để tuân theo lệnh không bằng văn bản mà chỉ bằng sự rỉ tai. Ngoài phiếu điểm ấy ra, có thể còn vài ba đứa khác âm thầm theo dõi Thầy, Cô để báo cáo ngầm với Ban Giám Hiệu nữa.

Tôi thầm mong cái lũ chỉ điểm này sẽ chỉ toàn là những con em cán bộ chứ không phải là những đứa học trò đã từng theo học ở đây từ nhiều năm về trước. Học sinh miền Nam không có thói quen rình mò thầy cô như một thứ chỉ điểm, nhưng rồi trong hoàn cảnh này không biết chúng còn giữ được những phẩm chất đó trong bao lâu nữa.

Lớp cá biệt của tôi tuy có hơn mười trò, nhưng tôi lại chỉ đặc biệt chú trọng đến có hai đứa. Một thằng trạc mười lăm, mười sáu, nước da đen đủi, đầu tóc bờm sờm và quần áo đã rách rưới lại còn hôi hám đến kinh người. Nó tên là Sơn, theo giấy tờ xin học thì thấy ghi nơi sinh là Đà Nẵng, bố chết, mẹ làm nghề bốc vác ngoài chợ, không có anh em, chị em nào khác. Ngồi bên cạnh nó là thằng Tửu, ít tuổi hơn nó, quần áo tề chỉnh hơn, nhưng tính tình cũng rất bậm trợn, nom nó rõ ra là con của một cán bộ ở ngoài Bắc được gửi vào.

Nhìn bề ngoài thì Sơn và Tửu là hai thái cực. Sơn thì cao lớn, ngông nghênh trong khi Tửu thì loắt choắt lại e dè, thứ e dè của kẻ lúc nào cũng muốn giữ thế thủ. Nhưng Sơn thì lại rách rưới hôi hám, trong khi Tửu thì lúc nào nom cũng tươm tất nếu không nói là tề chỉnh từ áo đến quần, ngoại trừ đôi dép râu làm bằng vỏ xe hơi, nom trái ngược với cái áo sơ mi trắng tuy không ủi nhưng cũng rất phẳng phiu.

Thằng Sơn thì tôi thấy nó ít khi mang dép. Đôi dép của nó tuy đã cũ mòn nhưng cũng là thứ dép da có quai xéo, thứ dép thông dụng của hầu hết dân Sài Gòn thời bấy giờ. Sở dĩ gọi là ít mang dép là vì nó chỉ sử dụng đôi dép để qua mặt mấy tay đeo băng đỏ của Chi đoàn vẫn hay đứng kiểm soát ở ngay cổng trường. Đi qua hàng rào kiểm soát là nó tụt ngay đôi dép ra, kẹp vào nách và thoăn thoát bước qua sân trường. Về sau này tôi mới biết ngoài giờ học Sơn còn phải hối hả phóng ra chợ để phụ với mẹ trong việc bốc vác, dọn dẹp đủ thứ linh tinh tại một khoảnh đất mà mẹ nó đang lui cui làm việc. Vậy là trong bản kê khai gia cảnh, nó ghi Mẹ làm nghề bốc vác là đúng chứ không phải bịa đặt để chứng tỏ ta đây là thành phần vô sản.

Có một hôm tôi hỏi nó:

– Bố mất lâu chưa?

Nó nhìn tôi giây lâu rồi trả lời:

– Mới năm rồi.

Tôi ngạc nhiên:

– Mới mất thế sao không thấy em để tang?

Thằng Sơn lại nhìn tôi như thăm dò cái mức độ quan tâm của tôi đối với nó, rồi nó ngậm ngùi:

– Tang tóc gì thầy. Em có đeo băng tang đó, nhưng chỉ gọi là cho có thôi.

Nói rồi nó tốc cái vạt áo lên để cho tôi nhìn thấy một mẩu vải đen được cài bằng kim băng ở phía sau túi áo của nó. Rồi nó giải thích thêm:

– Bố em chết trận trước ngày 30 tháng 4. Mẹ có tin báo, dắt em ra Huế tìm xác nhưng giữa đường thì kẹt lại. Sau trôi giạt về tới đây.

Ô! Thế ra thằng Sơn là con của một người lính VNCH, một chiến sĩ vô danh đã chiến đấu và hy sinh trong những ngày cuối cùng trước khi miền Nam sụp đổ.

Tôi không còn nhìn Sơn như một đứa học trò “cá biệt” nữa. Không phải nó lười biếng mà vì nó đã phải để dành nhiều thì giờ giúp mẹ mưu sinh. Nó rách rưới hôi hám là vì vừa rời khỏi lớp học, nó đã phải vội vã chạy về giúp mẹ, vai áo đã bạc màu mà như còn tơi ra vì đã phải khiêng những sọt rau, rổ cá. Tôi chưa có dịp gặp mẹ của nó nhưng cũng hình dung ra một người đàn bà thân hình còm cõi, mặt mũi tiều tụy, với mảnh khăn tang trên đầu chắc đã thấm đẫm nhiều giọt nước mắt đau thương vì đã phải thân cô lăn xả vào cuộc sống và nhất là cứ bắt thằng con bằng mọi cách phải đi tới trường. Bà mẹ Việt Nam nào mà chẳng kỳ vọng vào sự học của con cái:

– Không học hành thì sau đời khốn khổ, con ơi!

Nhưng có vẻ như thằng Sơn chẳng mấy quan tâm tới tấm lòng kỳ vọng của mẹ. Nó tới trường với cái tâm lý mẹ bắt tới thì phải tới, thế thôi. Tôi hiểu rõ điều đó khi trong lúc giảng bài, tôi thấy đầu óc của Sơn như để đi đâu.

Mà thật ra, đời sống của nó có thay đổi được gì khi cứ phải nhồi vào đầu mấy công thức, mấy định lý cũ mòn ở trong hoàn cảnh đầy dẫy những biến động khốc liệt như thế này. Dĩ nhiên là muốn xây dựng cuộc sống thì phải vun trồng kiến thức từ những bài học căn bản, như cây thì phải có rễ, có lá, có cành thì mới đơm hoa, kết trái. Nhưng có thực là ở đây, trong ngôi trường này, với đầy dẫy những điều được coi là “phản giáo dục” sẽ có thể khiến cho thành quả cố gắng của nó đơm hoa kết trái được chăng?

Tôi không vì bất cứ lý do gì để nói xấu, nói quá cho cái chính sách giáo dục mà tôi chứng kiến ở trong ngôi trường này. Cứ mỗi lần bước lên cầu thang để lên lầu vào lớp học, tôi đã phải nhìn thấy một kho sách báo vương vãi đến tràn ra cả lối đi, đang nằm chờ được chở đi làm bột giấy. Đó là toàn bộ những sách báo mà học sinh trong trường ùn ùn mang đến sau khi nhà trường phát động chiến dịch “tiêu diệt tàn dư sách báo đồi trụy, phản động”. Trong số tàn dư ấy, tôi thấy có cả những cuốn sách Y khoa, sách Kiến trúc, sách Học làm người, thậm chí cả những cuốn tự điển đủ loại mà học trò trong trường đã moi vét từ ở nhà mang đến để góp phần vào cái gọi là “kế hoạch nhỏ”.

“Kế hoạch nhỏ” nghe thế mà không nhỏ chút nào, vì trên đường phố tôi đã chứng kiến từng đoàn học sinh, ngay cả những đứa bé lít nhít thuộc cấp tiểu học một tay cầm túi đựng, một tay cầm que gắp đi moi móc những trang giấy vụn, những mẩu nylon thừa vương vãi trong lòng cống rãnh hay trên hè phố. Càng gom được nhiều, chúng càng được khen ngợi, được tuyên dương và nhất là mau chóng được mang danh hiệu “dũng sĩ kế hoạch nhỏ”. Người lớn đã có “dũng sĩ diệt Mỹ” thì trẻ em lạ gì lại không ham hố cái tên “dũng sĩ kế hoạch nhỏ”. Thế thì chúng còn thời giờ đâu để vui đùa với tuổi hồn nhiên, để vui vầy xum họp với gia đình và để học hành chăm chỉ những bài vở trong lớp học?

Ngược với Sơn lầm lì, ít nói, thằng Tửu lại là đứa rất năng động, nghịch ngợm và gây ồn ào nhất lớp, đặc biệt là ở trong lớp phụ đạo. Ở đây, nó không bao giờ có một chỗ ngồi nhất định. Thoắt một cái, vừa thấy nó lúi húi chui xuống gậm bàn để bóc cái kẹo bỏ vào mồm hay làm điều gì đó giấm giúi thì đã lại thấy nó tuồn xuống cuối lớp cười tích toét với một đứa khác cũng nổi danh dốt như bò mà cũng lười như hủi. Sự có mặt của nó khiến cho vài đứa ngồi bàn trước cũng quay lại góp phần. Thế là lớp học lại ồn lên như họp chợ, bất kể lời giảng của thầy cô đang uể oải cất lên và rơi tõm vào khoảng không nào đó, mà có ai cần biết tới. Cũng đành là phải nhún vai, chịu đựng vậy thôi. Đây là lớp Cá Biệt mà! Một cô giáo thì thào với tôi:

– Tụi nó là lũ bất trị, sao cứ bắt các thầy, các cô phí thì giờ vào những lớp như thế này?

Tôi mỉm cười:

– Đây là màn trình diễn. Phải có nó thì mới có dữ kiện để báo cáo thành tích, cô không thấy sao?

Ngoài giờ học, Tửu theo bén gót thằng Sơn đi ra ngoài chợ. Sở dĩ tôi biết đuợc vì tôi thường thấy hai đứa cùng đi với nhau, lại chuyện trò ra vẻ tâm đắc. Tôi không hiểu một thằng như Sơn, có bố chết trận, có mẹ lầm than, đầu tắt mặt tối như thế thì làm sao lại có thể hợp với Tửu là con một viên chức cán bộ mới từ miền Bắc vào. Một lần tò mò, tôi chợt hỏi Sơn:

– Thằng Tửu thế nào? Bạn bè như nó chơi được không?

Sơn nhìn tôi như nghi ngờ tôi thăm dò điều gì, nhưng rồi nó cũng đáp:

– Thằng ấy ranh như ma. Nó mới vô mà rành Sài Gòn còn hơn bọn em trong này. Nó giúp em được nhiều thứ.

Tôi vui miệng hỏi tiếp:

– Vậy hả? Những thứ gì vậy cà?

– Bữa hổm, thằng gác chợ đeo băng đỏ đòi bắt giữ mớ cá của mẹ em, Tửu xông lại trừng mắt nói “Này, đằng ấy đừng có rớ tới má nuôi của tớ. Mẹ Chiến sĩ đấy!”.

Thằng băng đỏ không vừa, cãi lại:

” Cái đồ chỉ buôn đi bán lại, mất phẩm chất cách mạng, Mẹ chiến sĩ ở cái chỗ nào?”

Câu chuyện vui vui, thấy tôi chăm chú nghe, Sơn hào hứng kể tiếp:

– Thế là Tửu giở giọng chửi tục ngay. Nó nói y chang như thế này : “Đ….cụ nhà anh! Cách mạng mới vừa thành công anh đã khoác ngay cái băng đỏ vào tay để lòe bà con, chớ anh biết chó gì về các mẹ nằm vùng che giấu cán bộ rồi chở cả súng đạn vô thành. Đừng có thối mồm giở giọng ta đây với mẹ chiến sĩ nhớ!”. Thế là thằng băng đỏ im re rồi lảng mất!

Một lần khác, Sơn lại kể:

– Nó rủ em ra chợ trời, đi theo mấy anh bộ đội đổi chác lương khô lấy búp bê nhựa hay lấy căm xe đạp. Cái lương khô nom như những cục bánh in, nghe nó nói là đồ viện trợ của Trung Quốc ấy. Chỉ cần cắn một mẩu rồi uống nước vào là no rất lâu!

Tôi gật gù:

– Cái thứ bánh này thầy đã thử. Giống như bánh đậu xanh nhưng nhạt phèo. Chắc nó nén kỹ lắm nên ăn vào rồi uống nhiều nước thì quả là no lâu. Thời buổi khó khăn này, chả cứ bộ đội trong rừng cần tới nó mà dân thường cũng ưa xài.

Sơn tủm tỉm cười:

– Em thấy ăn hột bắp còn ngon hơn nhiều. Ngoài chợ Cầu Ông Lãnh người ta bán 1 đồng một lon sữa bò hộp bắp mới tẻ xong. Luộc lên ăn còn hơn là cơm trộn với bo bo nữa.

Lại có hôm thằng Sơn hớn hở khoe với tôi:

– Thằng Tửu giúp nhà em khỏi phải đi kinh tế mới!

Tôi tròn mắt lên vừa ngạc nhiên vừa vui mừng cho nó:

– Vậy à? Tửu nó tài thánh gì mà làm được chuyện ấy?

Sơn kể:

– Cũng là nhờ bố nó, chắc là cán bộ cấp cao. Nó lấy cớ rằng em đã giúp đỡ nó tận tình trong lớp học, không có em thì nó chới với không theo được bài vở nhà trường. Thế là ổng chỉ viết có một mảnh giấy đem ra Phường là em với mẹ em có ngay hộ khẩu thường trú, lại khỏi phải đi kinh tế mới!

Tôi tủm tỉm cười:

– Vậy là cậu trúng số rồi đó. Thiên hạ thường trú ở đây từ bao nhiêu năm rồi mà nhiều người cũng phải tém dẹp để kéo bầu đoàn thê tử đi kinh tế mới.

Vào thời điểm ấy, tôi cũng đã chứng kiến nhiều cảnh đau lòng. Một gia đình ở gần cầu Công Lý, không biết thuộc diện “tư sản” nào mà vào một buổi sáng kia, cả gia đình chất lên một chiếc xe bò gồm nhiều thứ đồ đạc giường chiếu, áo quần, nồi niêu, bát đĩa cùng lũ con lếch thếch đi theo chiếc xe được đẩy ra ngoài thành phố. Nhìn quang cảnh não lòng này, điều mà tôi không bao giờ có thể quên được là những ánh mắt bi thương, sầu thảm của người chồng cũng như người vợ bên đàn con còn lít nhít. Họ nom như những người đang gồng gánh tài sản, gia đình con cái để dắt díu đưa nhau đi vào thế giới của những kẻ tội đồ.

Ai cũng biết đấy là những diện gia đình bó buộc phải ra đi. Theo chỉ thị của nhà nước thì có tới năm hạng dân thành thị phải chuyển ra vùng kinh tế mới, bao gồm Dân thất nghiệp, Dân cư ngụ bất hợp pháp, Dân cư ngụ trong những khu vực dành riêng cho cán bộ, bộ đội, và sau cùng là các thương gia, đại thương gia (sau khi tài sản đã bị kiểm kê, nhà bị niêm phong không cho vào nữa).

Về danh nghĩa thì mấy chữ “Kinh Tế Mới” nghe có vẻ tốt đẹp. Đất nước hết chiến tranh rồi, nhiều đồng ruộng bỏ hoang cần có người canh tác. Chỉ một vài năm sau, dân đi kinh tế mới sẽ làm chủ ruộng đồng xanh tốt, không còn cảnh thất nghiệp, lang thang đầu đường xó chợ như xưa. Tuy nhiên, trong thực tế, ai cũng thấy đây là một biện pháp áp dụng mà chẳng có sự nghiên cứu kỹ lưỡng hay chuẩn bị chu đáo gì. Nhưng nó vẫn được vội vã thi hành vừa vì lý do trả thù giai cấp vừa cảnh giác về an ninh cho vùng đô thị mới được “giải phóng”. Đã thế, tài sản, cơ ngơi, nhà cửa, biệt thự của những người bị đuổi đi hẳn sẽ là miếng mồi ngon cho các quan chức cách mạng chia nhau xông vào chiếm đoạt.

Vì những lý do đó, biện pháp thi hành cưỡng bức dân đi kinh tế mới được tiến hành rất khẩn trương và nghiêm ngặt. Ngoài những nhà đã bị niêm phong, ở Phường, Khóm còn thu hồi hộ khẩu, rút thẻ mua gạo, mua các loại nhu yếu phẩm, và cấm trẻ em nhập học các trường trong phạm vi thành phố. Trong tình cảnh ấy, thằng Sơn được Phường bỏ qua không rớ tới, lại có hộ khẩu đàng hoàng, hèn chi mà nó không mừng rỡ.

Nói đúng ra, trong việc đẩy dân đi kinh tế mới, nhà nước cũng có những chính sách ghi thành văn bản đàng hoàng. Nhưng chỉ là văn bản thôi, chứ từ một bản văn ra tới thực tế để thi hành mà không chuẩn bị kỹ lưỡng thì có cũng kể như không.

Một cách tổng quát, người đi kinh tế mới sẽ được hỗ trợ như sau:

Vé xe chuyên chở từ nhà đến vùng kinh tế mới. Mỗi hộ được mang theo tối đa 800 kg hành lý. Nếu thí điểm ở xa thì mỗi ngày phụ cấp thêm 1 đồng tiền ăn dọc đường cho mỗi người. Mỗi hộ lại được cấp hai dụng cụ canh tác, thường là cuốc, thuổng; tiền mặt từ 700 tới 900 đồng tùy theo số người trong hộ gia đình để dựng nhà, thêm 100 đồng để đào giếng, hay 100 đồng để mua ghe thuyền nếu ở vùng sông rạch. Ai đau ốm không lao động được thì được trợ cấp 1 đồng thêm 50 xu mỗi ngày tiền thuốc cho đến khi khỏi bệnh; rồi nếu có bỏ mình nơi đất khách quê người thì thân nhân cũng được trợ cấp 150 đồng để mai táng. Chi tiết kỹ lưỡng đến như thế còn gì!

Tuy nhiên, chỉ không đầy một năm sau đó, có khi chỉ vài ba tháng thôi, bỗng ở các gậm cầu, các khu vực hẻo lánh, thậm chí ở cả các công viên đẹp đẽ ngay giữa thành phố, người ta đã thấy xuất hiện đủ loại người nhếch nhác, gầy còm, mặt mũi vêu vao vì thiếu ăn, thiếu ngủ. Họ bao gồm đủ loại già trẻ lớn bé, hỏi ra thì mới biết đó là dân bỏ trốn về từ vùng kinh tế mới! Có người nói:

– Kinh Tế Mới con mẹ gì. Nó đầy con người ta vô xó rừng rồi bỏ mặc xác!

Hay diễn tả chi tiết hơn:

– Canh tác gì được ở những chỗ đó ! Đất thì cứng như đá tổ ong, nước thì không có, cái lều được cấp phát làm nhà ở thì chỉ có mái với vài cái cột. Bên trong cỏ mọc um tùm, muốn bước vô nhà phải lấy gậy khua để đuổi rắn trước!!!

Vậy thế còn những món tiền hỗ trợ theo chính sách đã đề ra như liệt kê ở trên thì nó biến đi đâu ?

Tưởng hỏi thì cũng như đã trả lời, vì một dịp chi tiền công quỹ mà lại khó kiểm tra như thế thì bao nhiêu mà không chi hết!

Chỉ xin ghi lại thảm cảnh dân đi Kinh Tế Mới xuất hiện trong mấy câu Ca dao thời đại:

Đuổi dân ra khỏi cửa nhà

Bắt đi kinh tế thật là xót xa

Không sao sống được cho qua

Nên đành lại phải trở ra Sài Gòn

Chẳng ai giúp đỡ chăm nom

Cùng nhau vất vưởng, lom khom vỉa hè

Màn sương chiếu đất phủ che

Sinh ra bệnh tật khò khè ốm đau

Hay là:

Thứ gì kinh nhất xứ ta

Là Kinh Tế Mới, nghe mà thất kinh!!

° ° °

Có một lần tôi bắt gặp thằng Tửu hút thuốc lá vụng ở gậm cầu thang. Tôi nói:

– Ê! Nội quy cấm học trò hút thuốc lá trong trường!

Tửu chẳng những không dụi tắt điếu thuốc mà còn lôi trong bụng ra một bọc thuốc lá có những sợi vàng hoe. Nó nói:

– Thuốc Lạng Sơn đây thầy. Mời thầy làm một điếu. Đảm bảo là thuốc không pha!

Tôi kêu lên:

– Ý! Cậu định hối lộ tôi đấy có phải không?

Tửu cười hì hì:

– Lộ liếc gì một điếu thuốc. Nhưng nếu em có một chỉ vàng thì em cũng “hối lộ” thầy liền!

Thấy thằng này ba gai quá, tôi đổi giọng nạt nộ:

– Ê! Không có đùa giỡn đâu đấy nhé. Nói cho biết, Ban Giám Hiệu mà bắt được thì cậu bị đuổi học thẳng tay!

Trái với sự chờ đợi là lời đe dọa của tôi sẽ làm cho nó dụi tắt điếu thuốc, ấy thế mà thằng nhỏ lại còn cười ré lên rồi cất giọng đầy thách thức:

– Ơ! Cái ông Hiệu trưởng Vũ ấy hả thầy  Đuổi em đâu có dễ! Em còn chưa tố lão về cái tội làm hư hết dàn máy móc của nhà trường cũ để lại khi bắt tắt hết máy lạnh bảo trì để tiết kiệm điện. Đã thế đi vào trường còn kè kè khẩu súng lục, cứ như lão lúc nào cũng có tinh thần chống Mỹ cứu nước cao, định tính bắn mấy thằng lính Mỹ tình nghi là còn ẩn núp trong trường. Nhưng em biết rõ gốc gác của lão ta rồi!

Thằng Tửu nói quả không sai! Hồi trước, trong ngôi trường này có nhiều dàn máy móc, nào thu băng, nào quay phim, nào chụp hình rửa hình, tối tân nhất là dàn loa gắn trên tường ở tất cả các lớp để khi cần ra thông cáo, chỉ cần ngồi tại văn phòng đọc lên là toàn trường ai cũng nghe thấy hết, thư ký khỏi cần đi từng lớp để đọc. Ấy thế mà chỉ mới chưa tới một năm, toàn bộ máy móc trong trường đều “bất khiển dụng”. Có người nói là tại Ban Giám Hiệu cho lệnh tắt hết các máy lạnh bảo trì, cũng có người nghi hoặc là những thứ máy móc ngon lành đều bị tẩu tán đi hết. Chuyện tiết kiệm điện chỉ là cái cớ đấy thôi. Nhưng dù là do nguyên cớ nào thì ai nấy cũng chỉ lấm lét, thì thào với nhau.

Nói đến sự “lấm lét, thì thào” thì cũng là nói đến một sự thật đau lòng. Có một hôm tôi chợt phát giác ra rằng sự lấm lét, thì thào giữa các đồng nghiệp không biết nẩy nòi ra từ bao giờ, mà nay đã trở thành thói quen của tất cả mọi người. Tất nhiên, ai chẳng thấy một bầu không khí đe dọa bao trùm lên khắp mọi nơi, mọi lúc trong đời sống bây giờ. Người ta không những sợ quyền lực mà còn sợ cả những đồng nghiệp, những người quen biết nữa. Ai dám bảo đảm rằng những người ấy sẽ không bao giờ đi tố cáo mình, để hoặc vì chút lợi lộc, hoặc để được bỏ qua một lỗi lầm nào đó.

Tôi chợt nhớ đến 2 câu thơ của cụ Tú Xương:

Sĩ khí rụt rè gà phải cáo,

Văn trường liều lĩnh đấm ăn xôi.

Nhưng rụt rè như gà phải cáo thì có, còn chuyện liều lĩnh để cố đấm ăn xôi thì không. Khi phải chen chân trong cái môi trường giáo dục như thế này, hầu hết chúng tôi chẳng ai mong được ăn cái giải gì. Chẳng qua nương náu ở đây để còn có cớ không bị Phường, Khóm bắt đi kinh tế mới đó thôi.

° ° °

Tất cả những chi tiết vụn vặt mà tôi thu thập được qua những lần nghe Tửu kể lại đã khiến cho tôi có một cái nhìn khác về nó. Tôi không còn chỉ đơn thuần coi nó như một đứa trẻ ngỗ nghịch, lười biếng và bất trị. Có vẻ như nó đã chất chứa trong đầu biết bao nhiêu mảng đen của đời sống mà tôi chưa bao giờ có kinh nghiệm trải qua. Như có bao giờ ở bất cứ một ngôi trường trong miền Nam này lại xẩy ra cái cảnh một lũ học trò lẵng nhẵng đi theo cô giáo, vừa đi vừa vỗ tay:

” Cô giáo mất trinh! Cô giáo mất trinh!” như đã từng xẩy ra ở miền Bắc đâu.

Ôi giời! Học trò mà đem cô giáo ra bêu kiểu ấy thì còn nói chi đến việc dạy dỗ! Mà sự thể đã như thế thì nguyên do là tại đâu, nếu không phải là từ một xã hội bất toàn, ở đâu cũng thấy nịnh bợ, dối trá, thậm chí nhu nhược hèn hạ, trong đó con người phải tự tước bỏ nhân phẩm của mình để mong được sinh tồn. Có thể nói đấy là những nạn nhân của một chính sách cai trị tồi tệ, nó biết vận dụng đến cả những hình thức tinh vi như Giáo dục hay Văn nghệ để đẩy sâu con người vào cái vòng tăm tối như thế.

Tửu đã đến từ xã hội ở miền Bắc, một nơi mà kiến thức của tôi đã rất tù mù về những hoàn cảnh sống ở đó. Nếu không tù mù thì tôi đã chẳng phải rất ngạc nhiên khi hỏi một bà chị họ rằng ở Hà Nội có còn xích lô đạp không? Bà chị cứ rũ ra cười khiến tôi đỏ mặt cãi lại:

– Đạp xích lô là cảnh người bóc lột người. Vậy thủ đô Hà Nội làm sao có cảnh ấy.

Bà chị tôi ghé vào tai tôi thì thào:

– Cậu cứ nghe chúng nó nói thì cứ đổ thóc giống ra mà ăn!

Sự u mê này của tôi là hậu quả của những ngày tháng sau khi Sài Gòn sụp đổ, bọn giáo viên chúng tôi đã bị nhồi sọ đủ thứ. Nào lý thuyết về ” Ba dòng thác cách mạng” do Tổng bí thư Lê Duẩn đề ra: ” Dòng thác cách mạng XHCN, dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc và dòng thác các phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa”. Nào công cuộc đấu tranh giai cấp xóa bỏ chế độ người bóc lột người vì trong xã hội cũ “quan hệ người với người là chó sói! “. Nào chế độ ưu việt ở miền Bắc đã đưa nước Việt lên đỉnh cao trí tuệ của loài người ..vân vân…và …vân vân….

Một đôi khi trong trường có người phàn nàn một điều thiếu sót chi đó thì cán bộ Chi đoàn đã giải thích ngay:

– Đó là hiện tượng, không phải bản chất. Bản chất cách mạng bao giờ cũng ưu việt. Nhưng cũng đừng đòi hỏi cái gì cũng phải có ngay. Mình đang còn ở thời kỳ quá độ tiến lên XHCN. Quá độ là qua đò, đang qua đò thì chưa tới bến ngay được…phải từ từ….các đồng chí ạ!

Giải thích như thế thì hết cãi! Nhưng không cãi thì cũng không có nghĩa là đã đồng ý. Có điều ở thời buổi này ai mà dám nói ra sự không đồng ý của mình. Tôi đã một lần dại dột phát biểu trong hội trường mà sau này, mấy bạn đồng nghiệp thân thiết đã cứ cằn nhằn mãi:

– Cậu bạo gan như thế ích gì! Coi chừng nửa đêm công an đến gõ cửa!

Số là lần đó nhà nước tổ chức bầu cử Hội đồng Nhân Dân Thành Phố. Tất cả quần chúng khắp mọi nơi đều phải học tập về ý nghĩa của cuộc bầu cử này. Các giáo viên trường tôi cũng phải tập trung trong hội trường để nghe thuyết trình viên giảng giải và giới thiệu thành phần ban tổ chức bầu cử cũng như danh sách các ứng cử viên. Đến phần nêu thắc mắc, tôi lên phát biểu:

– Theo sự hiểu biết của tôi nếu đã là ứng cử viên thì không thể tham gia tổ chức bầu cử. Điều đó đâu có khác gì vừa đi dự thi, vừa tổ chức chấm thi. Nay tôi thấy trong danh sách ban Tổ chức Bầu cử lại có cả tên của ứng cử viên. Vậy là thế nào?

Hình như cả hội trường hôm đó đều xôn xao vì câu hỏi của tôi. Nhưng vị thuyết trình viên, cũng là một đồng nghiệp nhưng do Thành Ủy gửi xuống đã ôn tồn giải thích:

– Đây là sự ưu việt của chế độ ta, đồng chí ạ. Người có khả năng, lại có tinh thần chí công vô tư thì dù tham gia bất cứ công tác nào cũng đều là đóng góp cho sự nghiệp cách mạng cả. Ta không nên lấy cái kinh nghiệm xấu xa của chế độ cũ để làm thước đo cho những công tác cách mạng bây giờ.

Mấy hôm sau, thằng Tửu gặp tôi cũng cười hì hì:

– Em nghe chúng nó kể lại buổi học tập của các thầy cô trong hội trường. Thầy không biết ở ngoài Bắc, mọi người vẫn bảo nhau khi đi họp thì cứ “Thứ nhất ngồi lì, thứ nhì đồng ý” à ?

Tới lúc đó tôi chợt cảm thấy mình ước ao giá có được những kiến thức dầy dạn y như nó để có thể ứng xử hàng ngày trong thời buổi thật sự đổi đời này. Ngẫm nghĩ ra, mấy cái công thức, mấy cái định lý mà tôi đang dạy cho nó thật ra chỉ là cái thứ đồ trang trí đem vẽ lên một khuôn mặt độc ác, dữ dằn. Rồi tôi tự hỏi là mình đang làm cái gì đây trong đời sống này?

Kể từ hôm đó, tôi để ý đến thằng Tửu nhiều hơn. Tôi thấy nó sinh hoạt một cách hồn nhiên giữa đám học sinh cũ của ngôi trường này. Y phục của nó cũng dần dà thay đổi. Bây giờ nó đã biết mặc quần bò và sơ mi sọc bỏ áo ra ngoài quần. Nó biết hát cả những bản nhạc vàng vốn bị cấm tiệt trong thời buổi đó. Đã thế nó còn hát cả nhạc “chế ” nữa. Tôi cũng đã được nghe bản nhạc chế này nhiều lần, và nếu chỉ do dân chúng Sài Gòn hát lên thì là chuyện bình thường. Nhưng đằng này cái thứ nhạc chế đó lại được cất lên từ chính miệng của thằng Tửu thì mới là…vui và khiến cho mức độ hài hước của bản nhạc tăng lên rất nhiều. Giọng của nó ồm ồm cất lên giữa những tiếng cười ngặt nghẽo của đám học sinh cũ như sau:

– Từ ngày giải phóng vô đây Thầy bán nhà lầu

Từ ngày giải phóng vô đây Thầy bán xe hơi

Lâu lâu Thầy bán Honda

Lâu lâu Thầy bán giầy da

Lâu lâu Thầy bán cái quần xì…

Bài hát ấy tuy là giễu nhưng thật đâu có sai. Tôi thì không có nhà lầu, xe hơi, Honda để bán, nhưng đồ đạc trong nhà thì cứ lần lượt đội nón ra đi. Không bán đồ đạc thì lấy tiền đâu đi chợ. Trong nhà tôi đã bán nhiều thứ đến độ có một hôm anh công an khu vực tự tiện bước vào nhà tôi nhìn quanh rồi cất tiếng hỏi:

– Ơ ! Cái kệ tủ trước kê ở đây bây giờ đâu rồi?

Tôi còn đang ngớ ra nhìn và thấy quả nhiên cái kệ tủ đã biến đi đằng nào, thì nhà tôi đã trả lời thay:

– Bán rồi anh ơi! Nhà hết tiền đong gạo!

Cái cảnh bán đồ đạc lấy tiền đong gạo này chẳng cứ riêng ở nhà tôi. Một lần đến thăm một anh bạn đồng nghiệp dạy môn Hóa Học cùng trường, tôi thấy phòng khách của anh trống huếch trống hoác. Bộ Salon vốn choán gần hết chỗ nơi phòng ngoài đã tém dẹp đi từ lâu rồi, còn chính anh thì đang nằm bò nhoài người ra giữa sàn đá hoa để chấm điểm cho một đống bài thi của học trò. Anh nhìn tôi cất giọng thiểu não:

– Còn cái giường kỷ niệm ngày cưới, chắc rồi cũng phải cho đi!

Tôi ngậm ngùi nói:

– Bọn chúng mình bao nhiêu năm chỉ quanh quẩn với cái bảng đen và cục phấn trắng. Nếu vứt ra khỏi cổng trường thì chẳng biết xoay sở thế nào để mà sống.

– Tại cái mặc cảm mô phạm nó bó riết lấy mình. Chẳng lẽ bây giờ lại đi ra chợ trời, tay cầm mớ quần áo cũ, miệng rao “mua đi …mua đi….rẻ rồi… rẻ rồi…”

Tôi bật cười:

– Rồi lại có một cô học trò xà lại nói: ” Thầy bớt cho em đi. Em đang học môn Hóa của thầy mà!” . Vậy thầy có “bớt” không?

Anh bạn cũng phì cười:

– Tới nước đó thì vất mẹ nó áo đi, bỏ của chạy lấy người, chớ ở đó mà bớt!

Ôi! Bọn nhà giáo chúng tôi trước đây chỉ toàn nói chuyện văn chương chữ nghĩa với bài vở nơi nhà trường, thế mà mới chỉ không đầy vài ba năm, bây giờ sao câu chuyện đã xoay thành những đề tài thảm hại như thế !!!

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

December 3rd, 2021
Post by Sơn râu 30 Apr 2024

(Kỳ 42)

Chương 42 của Tameichi Hara khá đặc biệt, vì cho người đọc thấy khía cạnh kỷ luật cùng lúc bất phục tùng trong Hải quân Hoàng gia Nhật. Hiếm hồi ký nào của giai cấp quân phiệt Nhật phơi bày điều này. Một Đại tá Hara bất phục tòng lệnh tiếp cứu của Đề đốc Ijuin và một Đại tá Hara áp đặt thi hành mệnh lệnh tuyệt đối với thuộc cấp là Thiếu tá Yamagami. Đâu là đúng sai? Nếu là chúng ta ở vị trí này? [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 42

Trong lúc Omori và Matsubara đang trải qua những giờ phút vất vả, tôi cũng lâm vào tình cảnh khó khăn không kém gì họ. Tuần dương hạm Sendai bốc cháy và đang giãy chết đã cầm chân chúng tôi. Pháo của địch vẫn tiếp tục dập chiếc tàu này không ngừng nghỉ. Khiến chúng tôi muốn sáp lại để giải cứu thủy thủ đoàn nhưng không thể nào làm được. Hai chiếc Samidare và Shiratsuyu hư hại đã rút lui theo lịnh của Omori. Các khu trục hạm Hoa Kỳ đã chứng tỏ tài năng của chúng. Ba chiến hạm Nhựt bị loại ra khỏi vòng chiến chỉ trong một cú đấm.

Quan sát viên trên đài chỉ huy của tôi ghi nhận tín hiệu đèn nhấp nháy những lời kêu cứu lặp đi lặp lại đầy thảm não của chiếc Sendai: “Shigure, hãy tiến lại tôi… Shigure, hãy tiến lại tôi…”

Tàu của tôi vẫn còn cách mạn phải của chiếc Sendai 500m. Không có quả đạn nào của địch rơi gần chúng tôi mà chỉ liên tục nhằm thẳng vào nạn nhân đang hấp hối. Người bạn tốt nhứt của tôi, Ijuin, đang cần sự giúp đỡ, nhưng chiếc Shigure khó mà trở về khi lọt vào hỏa ngục đó. Tôi đứng chết lặng trên đài chỉ huy. Bóng dáng 43 thủy thủ của chiếc Amatsukaze thiệt mạng dưới hỏa lực tập trung của tuần dương hạm Helena, do một lỗi lầm của tôi vào năm trước, như hiện ra trước mắt. Tôi đã thề với linh hồn của những người này là tôi sẽ không bao giờ phạm phải lỗi lầm như vậy nữa.

Hạm trưởng của Shigure hết kiên nhẫn rồi nên la to: “Tiến đến, Ðại tá Hara! Tiến đến Sendai! Chỉ huy trưởng Hải đoàn đã ra lịnh cho chúng ta!”

Giọng nói khẩn khoản của Thiếu tá Yamagami đã gây ảnh hưởng ngược nơi tôi, trái ngược hẳn những gì mà anh ta kỳ vọng. Dẹp hẳn sự lưỡng lự sang một bên, tôi đáp: “Không, Yamagami, tôi quyết định không tiến đến. Nếu chúng ta cặp vào lườn chiếc Sendai, hỏa lực địch sẽ ghìm chúng ta. Chúng ta có thể giải cứu một vài thủy thủ, nhưng tất cả thủy thủ đoàn của Shigure sẽ bị tiêu diệt.”

“Nhưng chúng ta có lịnh của Ðề đốc Ijuin là phải tiếp cứu!” Yamagami lớn tiếng một cách nóng nảy.

Tôi phẫn nộ: “Lịnh? Anh nói đúng! Tôi đồng ý hoàn toàn! Lịnh sơ khởi ban cho chúng ta là đánh địch quân. Công việc tiếp cứu trên mặt biển luôn đứng hàng thứ yếu. Hãy thi hành lịnh!”

“Nhưng các đồng đội của chúng ta đang yêu cầu giúp đỡ!” Yamagami cãi. “Họ đang chết trước mắt chúng ta.”

Câu nói này càng gây thêm sự tức giận nơi tôi, tôi hét to: “Im ngay! Ðây không phải là lúc nói chuyện tình cảm và tranh luận. Tôi có trách nhiệm với chiếc tàu này. Ðừng có lấn quyền!”

Nhưng Yamagami vẫn van nài: “Ðại tá cho cặp sát vào lườn Sendai… Tôi cho bắt thang, trong vòng mươi phút thủy thủ của Sendai sẽ sang Shigure.”

Thực quá đáng. Pháo của 4 tuần dương hạm địch đang vây lấy chiếc Sendai trong đường kính 100m, các cột nước trồi lên như nấm. Với trên 500 thủy thủ, việc di tản không thể nhanh. Áp sát là ăn đạn.

Tôi gầm lên: “Câm đi! Ai chỉ huy Hải đội 27? Ðừng bắt tôi tống giam anh!”

Yamagami nín lặng, mặt tái nhợt. Tôi ra lịnh: “Xoay sang trái! Xả hết tốc lực! Chạy về phía trước. Chúng ta tấn công!”

Máy của chiếc Shigure rồ mạnh và cấp tốc vọt lên tốc độ tối đa 30 hải lý. Với hành động này, tôi muốn kết hợp với bất kỳ chiến hạm Nhựt nào vẫn còn khả năng chiến đấu để sau đó quay lại phản công đối phương. Nhưng tôi không gặp Omori mà cũng không gặp Matsubara, và họ cũng không báo cho tôi biết hoạt động của họ như thế nào. Tôi xoay sang tìm kiếm các mục tiêu, bằng cách theo dấu hỏa lực của địch quân, nhưng tôi đã phí công vô ích. Súng của đối phương đã im tiếng hẳn. Sau đó, của Shigure chạy về hướng Nam, và đến 1g34, chúng tôi nhận được lịnh rút lui để trở về Rabaul của Omori.

Omori quyết định chấm dứt cuộc hành quân, bởi vì ông tin rằng chúng tôi đã đối đầu với hai lực lượng địch, bao gồm 7 tuần dương hạm và 9 khu trục hạm, và hai lực lượng này đang tiến về phía Nam, cùng một hướng tiến với ông. Sự xét đoán sai lầm này phát xuất từ báo cáo sơ khởi sai lầm về lực lượng địch của các thám thính cơ.

Hai tuần dương hạm hạng nặng đã chiến đấu với một ảo ảnh chỉ hiện hữu trong tâm trí của các vị chỉ huy trên hai chiếc tàu này. Sự thực, chỉ có 4 tuần dương hạm Hoa Kỳ đang chạy về hướng Nam, bỗng quay đầu để chạy về hướng Bắc vào lúc 1g01 và sau đó đã pháo kích vào 2 tuần dương hạm Myoko và Haguro. Hai tuần dương hạm Nhựt cũng bắn trả và phóng ngư lôi. Trận đụng độ này đưa đến kết quả ảo tưởng là Omori đã đánh chìm cấp kỳ một tuần dương hạm và gây hư hại cho 2 khu trục hạm địch. Omori không ý thức rằng hai chiếc tàu của ông đã chạy quờ quạng như 2 kẻ đui mù, chỉ phí đạn và nhiên liệu mà thôi.

Tim tôi trĩu nặng khi chiếc Shigure nối đuôi một cách mệt nhọc theo sau 5 chiến hạm có vận tốc nhanh phía trước. Dõi mắt về hướng mà chúng tôi nhìn thấy soái hạm Sendai lần cuối cùng, lòng tôi cảm thấy quặn thắt. Cùng lúc, tôi nghĩ đến hai chiếc Samidare và Shiratsuyu, cả hai đã bị loại ra khỏi vòng chiến do sự va chạm với chiếc Sendai, tôi độ chừng một số chiến hạm địch thế nào cũng truy đuổi ráo riết hai chiến hạm què quặt này, nên sự sống sót của chúng chỉ hy vọng vào may mắn. Trong sự yên lặng trên đài chỉ huy của chiếc Shigure, những người hiện diện đã chia sẻ ý nghĩ tang tóc của tôi.

Trên hải trình xuôi về phía Bắc, tôi nhớ lại chuyến trở về từ Guadalcanal đầy âu sầu của Ðề đốc Abê trước đây. Các chiến thuật mà Abê đã áp dụng trong trận đánh Guadalcanal đã bị chỉ trích mạnh mẽ chưa bao giờ thấy vào thời gian đó. Và bây giờ, hơn một năm sau, Omori đã lặp lại những sai lầm của Abê. Cả hai vị Ðề đốc cũng điều binh theo đội hình phức tạp và bám riết lấy đội hình này, cho đến nỗi phải rước lấy thảm bại trước chiến thuật nghi binh của đối phương. Nhưng Ðề đốc Abê còn có cái may là đối thủ của ông cũng mắc phải nhiều sai lầm không kém gì ông. Trái lại, đối thủ của Omori hành động một cách hoàn hảo.
Trong trận Guadalcanal, tôi đã mang khu trục hạm Amatsukaze trở về cùng với xác 43 thủy thủ và chiếc tàu bị hư hại nặng. Bây giờ, trong trận đánh Empress Augusta, chiếc Shigure còn nguyên vẹn và thủy thủ đoàn không một ai thương vong. Do đó, tôi như được an ủi một phần nào, vì nghĩ rằng ít ra tôi đã không lặp lại những sai lầm cũ. Ðiều này nhắc tôi nhớ lại chiếc Samidare cũng đã sống sót trong chuyến đi một năm trước đây của Abê, tôi hơi khuây khỏa khi nghĩ chiếc tàu đầy kinh nghiệm chiến đấu đang mất tích này sẽ sống sót để trở về với hải đội. Trái lại, đối với chiếc Shiratsuyu, tôi xem nó như đã bị xóa tên rồi. Nếu không xảy ra sự va chạm, 3 khu trục hạm của tôi có thể gây nhiều bối rối cho địch, giống như tôi đã làm ở Guadalcanal trong chuyến đi với Abê. 4 khu trục hạm địch mà chúng tôi chạm mặt lần này tỏ ra còn vụng về hơn 4 khu trục hạm địch mà chúng tôi đối đầu ở vịnh Vella vào ngày 6 tháng 8 năm 1943.

Trong trận vừa rồi, mặc dù địch nắm ưu thế, tất cả ngư lôi do họ phóng ra đều sai đích rất xa, cho đến nỗi không một ai trong chúng tôi nhìn thấy bóng dáng quả nào lướt qua. Nhìn lại, tôi cũng công nhận phần lợi thế trong trận đánh này nằm ở phía Hoa Kỳ, riêng phía Nhựt Bản không mấy hy vọng đạt được chiến thắng, nhưng tôi cũng công nhận đáng lẽ ra chúng tôi có thể làm tốt hơn những gì mà chúng tôi đã làm.

Ijuin phải chịu trách nhiệm về việc đã để cho nhóm chiến hạm của ông rối loạn hàng ngũ. Ông là một người đã mệt mỏi, kiệt sức và chán nản. Và qua sự mất mát của khu trục hạm Yugumo một tháng trước đây, ông không còn mảy may tin tưởng vào khả năng của ông nữa. Một người thuộc giai cấp quý tộc khi gặp nghịch cảnh thường sụp đổ tinh thần một cách mau lẹ như vậy.

Nhưng Ðề đốc Omori là người phải gánh chịu phần trách nhiệm lớn hơn. Qua lịnh xoay ngược hướng của Omori, tức là đưa lưng về phía địch quân, chẳng khác nào ông ta trói tay Ijuin, giới hạn một cách nghiêm trọng các hành động đang diễn tiến. Về phía Hoa Kỳ, hình như họ đã chiến đấu một cách không mấy hăng hái trong trận đánh này. Nếu họ không chấm dứt hành động ngay sau khi hai chiến hạm Nhựt bị què quặt do sự đụng chạm gây ra, họ có thể đánh chìm thêm nhiều chiếc tàu của chúng tôi hơn nữa. Tôi không hiểu tại sao màn pháo kích tiêu diệt của họ nhắm vào chiếc Sendai không được họ lặp lại với các chiến hạm khác đang nằm trong tình trạng bối rối như thế? Trong nhiều năm sau trận đánh, câu hỏi này vẫn lảng vảng trong tâm trí tôi.

Máy móc của chiếc Shigure trở nên yếu kém, có thể đây là hậu quả của một giờ chạy hết tốc lực trong trận đánh vừa qua. Hiện thời tốc độ của chiếc tàu giảm còn 18 hải lý. Nhưng điều này không làm tôi mảy may bận tâm. Tôi đang bực bội vì lịnh bỏ dở trận đánh giữa chừng, với tốc độ chậm chạp này, tôi hy vọng một số chiến hạm địch sẽ đuổi kịp chúng tôi, chừng ấy chiếc Shigure sẽ quay lại quần thảo với họ một chập nữa. Dù vậy, tôi cũng gọi vô tuyến báo cáo cho Ðề đốc Omori biết tình trạng của chúng tôi và yêu cầu thêm là ông hãy sắp xếp công việc giải cứu những người còn sống sót của chiếc Sendai.

Omori đáp ngay: “Chúng tôi đang chạy với tốc độ 12 hải lý, do đó tàu của anh có thể bắt kịp. Tôi đã yêu cầu Rabaul phái một tàu ngầm đến vớt các thủy thủ của hai chiếc Sendai và Hatsukaze.” Lần đầu tiên, qua câu đáp của Omori, tôi mới nhẹ được sau nhiều giờ căng thẳng. Xem ra Omori cũng là một mẫu người cẩn trọng. Sau đó, chiếc Shigure bắt kịp chiếc Myoko. Với tốc độ giảm xuống, máy móc của Shigure có vẻ chạy êm thắm.
Vào lúc 20g ngày 2 tháng 11, chúng tôi tiến vào cảng Rabaul. Tôi yên lòng khi nhìn thấy 2 khu trục hạm khác của tôi đang buông neo trong hải cảng Simpson (tức hải cảng của Rabaul). Chiếc Shiratsuyu hư hại không bao nhiêu, nhưng chiếc Samidare khá tồi tệ.

Ngay khi nhìn thấy Shigure, Samidare đã báo cáo các hoạt động của mình. Vào lúc 1g45 phút, chiếc tàu này bắt đầu đụng độ với các khu trục hạm của đối phương trong một trận chiến lưu động. Kéo dài một giờ đồng hồ. Kết quả, 5 thủy thủ của Samidare thiệt mạng và 5 bị thương do 2 quả đạn pháo trực xạ gây ra. 2 quả đạn này cũng gây hư hại cho guồng lái của con tàu. Sau đó, Samidare phải sử dụng sức người để bẻ lái trở về Rabaul. Viên hạm trưởng kết luận: “Chúng tôi đã bắn trả và phóng 8 ngư lôi vào đối phương, và chúng tôi tin tưởng đã phục thù được những cú đấm mà chúng tôi đã nhận.”

Qua báo cáo, hạm trưởng của chiếc Shiratsuyu có vẻ hối tiếc vì đã để cho chiếc tàu va chạm, và câu sau cùng đã làm cho những người hiện diện trên chiếc Shigure cười ồ: “Chúng tôi tháo lui dễ dàng. Máy móc của chiếc tàu tỏ ra còn tốt, không một quả đạn nào của địch bắt kịp chúng tôi.” Một công điện từ soái hạm Myoko gửi đến đã gây buồn vui lẫn lộn: “Tàu ngầm RO-104 cho biết đã cứu được Ðề đốc Ijuin và 75 thủy thủ khác của tuần dương hạm Sendai, nhưng không tìm thấy thủy thủ đoàn của khu trục hạm Hatsukaze.”

Sáng sớm hôm sau, hạm trưởng của Shigure là Yamagami đề nghị hai chúng tôi lên soái hạm Myoko để phúc trình đầy đủ chi tiết trận đánh cho Ðề đốc Omori. Tôi đáp: “Việc này chúng ta có thể làm sau, Yamagami. Rời tàu ngay bây giờ không ổn đâu, bởi vì Rabaul không còn là nơi an toàn nữa. Hôm nay đối phương có thể tung ra một cuộc không kích quy mô, chúng ta phải ở lại tàu để chào đón phi cơ họ. Hãy chuẩn bị đầy đủ cho chiếc Shigure đối phó với tấn công từ trên không.”

Trong tuần lễ vừa qua, phi cơ Hoa Kỳ đã tấn công Rabaul bốn lần. Sáng ngày 3 tháng 11, nhìn thấy thời tiết quang đãng, tôi có linh cảm là phi cơ địch sắp nhào đến. Với ý nghĩ này, tôi cũng đã chỉ thị cho 2 khu trục hạm Samidare và Shiratsuyu chuẩn bị chiến đấu với tất cả năng lực có thể.

Toàn thể thủy thủ đoàn trên 3 chiếc tàu của tôi hăng hái thi hành mệnh lịnh một cách hoàn bị. Và quả đúng như tôi tiên đoán, phi cơ địch ào đến như thác lũ từ phía Bắc, bay ở một cao độ không quá 50m tính từ mặt biển. Các cuộc không tập Rabaul trước đây đều được phi cơ địch thực hiện với cùng một cao độ và cùng một chiến thuật, nhưng hôm nay chiến thuật này có sự thay đổi. Trận chiến đang diễn tiến có lẽ là trận chiến ngoạn mục nhứt trong đời tôi. Shigure là chiến hạm Nhựt đầu tiên nhảy vào vòng chiến, kế đó Samidare và Shiratsuyu. Mọi loại súng ống của chúng tôi đều chĩa lên trời, và khi làn sóng phi cơ đầu tiên ùa đến, các xạ thủ đã khai hỏa chẳng khác nào quỷ dữ. Họ bắn không ngừng nghỉ, hình như để giải tỏa nỗi uẩn ức sau chuyến trở về đầy thất vọng từ vịnh Empress Augusta. Ngày hôm đó, có tất cả 80 oanh tạc cơ B25 và 80 chiến đấu cơ P38 tấn công Rabaul, và hầu hết đều bu quanh trên các tháp của 3 khu trục hạm do tôi chỉ huy. 3 chiến hạm nhỏ đã thoát chạy kịp thời ra vòng ngoài của hải cảng.

Ðó là việc mà các phi công Hoa Kỳ không thể nào tiên đoán.

Họ đuổi theo ngăn chặn chúng tôi, nhưng hiển nhiên các oanh tạc cơ Hoa Kỳ không sẵn sàng hoặc không trù tính sử dụng các quả bom của chúng nhắm vào 3 chiến hạm nhỏ bé nhưng di động. Một vài trái bom đã nổ sát sườn 3 chiếc tàu, nhưng chỉ gây thiệt hại nhỏ trên chiếc Shiratsuyu. Hỏa lực của chúng tôi lên tiếng dữ dội. Ðội hình phi cơ địch bị cắt ra từng mảnh khi lướt ngang qua chúng tôi.

Kết quả cuộc không tập, 18 phi cơ Nhựt bị tiêu diệt, chỉ có hai tàu buôn nhỏ và một tàu săn ngầm bị đánh đắm. Với một cuộc tấn công quy mô như vậy, kết quả này không đúng như ý muốn của đối phương. Hơn nữa, Hoa Kỳ còn phải trả giá: 8 oanh tạc cơ B25 và 9 chiến đấu cơ P38 bị bắn rơi cùng nhiều chiếc hư hại khác đã lê lết về được căn cứ, nhưng bị vỡ tan hoặc bốc cháy khi đáp xuống.

Hỏa lực từ các chiến hạm đang chạy trên mặt biển khó thể nào bắn trúng phi cơ bay nhanh. Nhưng ngày hôm đó lại khác hẳn, phi cơ địch hình như tìm họng súng của chúng tôi để chui đầu vào. Tôi nhìn thấy tận mắt chiếc Shigure đã bắn hạ ít nhứt 5 phi cơ địch. (Ghi chú của Roger Pineau: Hara nói đúng về thành quả phòng không của Hải đội 27 của ông đã đạt được trong ngày này. Tài liệu chính thức của Không quân Hoa Kỳ ghi nhận: “Hai khu trục hạm Nhựt nằm cạnh cửa sông Warangoi đối đầu trực tiếp với hướng tiến của phi cơ Hoa Kỳ. Hỏa lực của 2 chiếc tàu này đã gây nhiều xáo trộn cho cuộc không tập, ngăn chặn hẳn các chiến đấu cơ hộ tống, khiến cho các oanh tạc cơ B25 phải phá vỡ đội hình oanh tạc và phải không kích từng cặp, hoặc từng chiếc riêng rẽ.”)

Xế trưa hôm đó, các khu trục hạm của tôi quay vào quân cảng Rabaul, toàn thể thủy thủ đều lộ vẻ kiêu hãnh và hớn hở. Tình trạng căng thẳng của buổi sáng trôi qua hẳn. Sỹ quan cũng như thủy thủ lại cười nói ồn ào. Vào chiều tối, tôi bước lên soái hạm Myoko và cảm thấy dễ chịu hơn khi làm nhiệm vụ phúc trình lại chi tiết về trận đánh vịnh Empresss Augusta mà tôi không hài lòng trước đó.

Ðề đốc Omori vẫn đón tiếp tôi một cách thân mật như thường lệ. Sau khi nghe các chi tiết do tôi tường trình liên quan đến nhóm chiến hạm của Ijuin, ông nói: “Tôi nghĩ hành động của anh rất đúng. Trong khi chiếc Sendai đang bị hỏa lực tập trung của địch, anh tránh xa là phải. Về các điểm khác, tôi muốn cảm ơn công điện phát hiện địch của anh gửi cho tôi lúc 0g45. Lúc bấy giờ ngoài anh ra không ai khác nhìn thấy tàu địch. Không có báo cáo của anh, toàn hải đoàn sẽ rước lấy thảm họa.”

Khi tôi cáo từ và xoay lưng bước ra, Ðề đốc Omori gọi giật tôi lại. Ông rút bóp lấy một số tiền đặt lên bàn, mỉm cười nói: “Ðây là 30 yên (khoảng 90,000 đồng Việt Nam Cộng Hòa vào thời giá năm 1974). Số tiền không nhiều nhỏi gì, anh hãy cầm lấy mua rượu cho thủy thủ của anh, và xem đây là món quà kỷ niệm của tôi.” Sự ngạc nhiên của tôi làm ông cười to tiếng, vừa bắt tay tôi, làm tôi cùng cười theo. Ðoạn bi hài kịch trả kiếm và đòi tiền mua rượu của tôi chắc hẳn đã đến tai ông. Câu chuyện này xảy ra lúc ông chưa đến Rabaul.

Thủy chiến vịnh Empress Augusta kết thúc. Hoa Kỳ đạt chiến thắng trên mọi phương diện. Khu trục hạm USS Foote tuy nhận lĩnh một quả ngư lôi của Samidare, hư hại khá nặng, nhưng vẫn trở về được căn cứ. Trong trận đánh quan trọng này, chỉ có khoảng 40 thủy thủ Hoa Kỳ thương vong. Phía Nhựt thiệt mất tuần dương hạm Sendai với 335 người trong số thủy thủ đoàn, và khu trục hạm Hatsukaze với toàn thể 240 thủy thủ. Nhiều quả đạn trúng thẳng vào 2 tuần dương hạm nặng Myoko và Haguro, và khu trục hạm Samidare, gây nhiều thiệt hại cho 3 chiếc tàu này, nhưng về nhân sự chỉ có 6 thủy thủ thiệt mạng và 7 bị thương. Ngay sau trận đánh, Omori rời khỏi chức vụ và được chuyển về trông coi Trường Ngư Lôi. Matsubara cũng mất chức, được chỉ định vào một nhiệm vụ trên bờ.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

November 26th, 2021

Post by Sơn râu 30 Apr 2024

Huy hiệu TQLC Mỹ tại Việt Nam

(Kỳ 41)

Mùa Thu 1943, Tư lệnh US Pacific Fleet là Nimitz lệnh cho Đô đốc Halsey, chỉ huy South Pacific Area, đánh chiếm Bougainville cực Bắc quần đảo Solomon. Bougainville diện tích 10,049 km2 rộng gấp 17 lần đảo Phú Quốc (diện tích 585 km2) là tấm khiên cuối cùng của Nhật ở Nam Thái Bình Dương. Vượt qua, là Nimitz đặt chân lên New Ireland và New Britain ngay sát phía sau, với căn cứ Rabaul là trung tâm hành quân của Hải quân Thiên hoàng. Với Nhật, là một bất ngờ.

2/3 tinh binh của Lộ quân XVII (17th Army) của Trung tướng Hyakutake trấn đóng trên các đảo Choiseul, Santa Isabel, Kolombangara là chuỗi đảo phía trước Bougainville. Tướng Hyakutake chỉ còn 25 ngàn quân đóng phía Đông Bougainville nhằm bảo vệ các phi trường, phía Tây do địa lý hóc hiểm của cạnh sườn duyên hải nên Hyakutake chỉ cắt đặt 1 tiểu đoàn với 270 binh sĩ canh phòng. Chính đây là ưu điểm của chiến pháp “Nhảy đảo” (Island hopping) của Nimitz, đánh vào nơi kẻ thù không hiện diện “Knock where they are not”.

Ngày 1 tháng 11, Quân đoàn 3 Thủy quân Lục chiến dưới quyền tướng Vandegrift, khi đó còn mang tên The 3rd Marine Expeditionary Force (III MEF), đổ bộ lên mũi Torokina trong vịnh Nữ hoàng bên bờ Tây Bougainville. Rừng già cùng dãy núi Balbi cao 2,715m cắt dọc đảo, khiến Hyakutake không thể tiếp viện Torokina. Đô đốc Koga lập tức tung hạm đội của Đề đốc Omori ra khơi với hai mục đích: đổ lính Nhật lên cửa sông Koromokina ngay sát mũi Torokina để phản công và cùng lúc hủy diệt các tàu tiếp tế Hoa Kỳ. Phía Mỹ, Task Force 39 của Đề đốc Merrill nghênh chiến. Đưa đến thủy trận vịnh Nữ hoàng.

Riêng The 3rd Marine Expeditionary Force (III MEF) về sau tân cải thành The 3rd Marine Amphibious Force (III MAF), với Sư đoàn 1 TQLC là sư đoàn đánh Guadalcanal và Sư đoàn 3 TQLC là sư đoàn đánh Bougainville, sẽ đổ bộ lên Đà Nẵng ngày 6 tháng 5-1965 và được nữ sinh Quảng Nam trao vòng hoa.

[Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 41

Trong khi đó, vào ngày 27 tháng 10, địch quân đã thực hiện một cuộc đổ bộ lên đảo Mono, một căn cứ nhỏ của Nhựt cách phía Nam Bougainville 20 dặm. Ngày hôm sau, lực lượng nhảy dù của địch cũng được thả xuống Choiseul, và Ðô đốc Koga nhận thấy thời gian quyết định đã đến, dù ông muốn hay không. Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia yêu cầu ông, bằng tất cả mọi giá, phải giữ Bougainville cho đến ngày 30 tháng 10.

Koga lập tức lịnh cho 3 hàng không mẫu hạm của Ðề đốc Ozawa, bao gồm 173 phi cơ, đến Rabaul. Ðồng thời, ông ra lịnh cho Rabaul mở các cuộc phản công quanh Bougainville. Nhưng thời khóa biểu điều binh của Hoa Kỳ không chờ đợi Koga. Khi lực lượng hùng hậu của địch đổ bộ lên mũi Torokina, nằm ở bờ biển phía Tây Bougainville thì 3 hàng không mẫu hạm Zuikaku, Shokaku và Zuiho vẫn còn cách phía Bắc Rabaul khá xa. Cuộc đổ bộ diễn ra vào lúc 7g sáng ngày 1 tháng 11, hiển nhiên là không gặp một sự đề kháng nào. Phó Ðô đốc Kusaka tung tất cả phi cơ thuộc Không Hạm đội 11 của ông đến Torokina. Nhưng 104 chiến đấu cơ và 16 oanh tạc cơ này không thể nào ngăn chặn được địch quân như cơn thủy triều dâng ngập hòn đảo. Ba hàng không mẫu hạm của Ozawa, ban đầu còn dè dặt, sau đó đã cho 173 phi cơ cất cánh khi còn cách phía Bắc 200 dặm.

Ở Truk, Ðô đốc Koga muốn tránh các sai lầm của 15 tháng trước đây khi địch đổ bộ lên đảo Guadalcanal, qua việc Ðề đốc Mikawa hướng dẫn 7 chiến hạm của ông đến một chiến thắng ngoạn mục, nhưng ông lại không tiếp tục rượt đuổi đoàn tàu chuyển vận của địch. Do đó, hiện tại Koga quyết định tung tất cả chiến hạm khả dụng đến Torokina và tiếp liền theo sau là một đoàn tàu chở bộ binh Nhựt để mở một cuộc đổ bộ phản công.

Koga chỉ định Ðề đốc Sentaro Omori chỉ huy cuộc hành quân này. Omori vừa mới đến Rabaul với 2 tuần dương hạm nặng Myoko và Haguro của ông. Mặc dù trước đây Omari chỉ ở Nhựt hoặc ở Truk, nhưng lại được Koga kỳ vọng ông ta sẽ vượt qua chiến công của Mikawa. Có nghĩa là ông ta không chỉ nhận chìm chiến hạm Mỹ mà còn quét sạch tàu vận tải của địch quân.

Hai tuần dương hạm nặng của Omori được yểm trợ bởi hai đơn vị bao che. Sườn trái của ông bao gồm tuần dương hạm nhẹ của Ijuin và 3 khu trục hạm của tôi – đây là đơn vị duy nhứt có kinh nghiệm trận mạc. Ðơn vị bao che sườn bên phải, dưới quyền của Ðề đốc Hiroshi Matsubara, cũng bao gồm một tuần dương hạm nhẹ và 3 khu trục hạm – nhưng không có chiếc nào trong 4 chiếc tàu này hoạt động chung với nhau trước đây, và Ðề đốc Matsubara chưa từng biết đến dạ chiến là gì.

Trong một cuộc thuyết trình ngắn ngủi mở ra trên soái hạm Myoko, Ðề đốc Omori nói: “Trước đây chúng ta chưa từng bao giờ hành quân chung với nhau, điều đó có thể gây bất lợi trầm trọng trong chiến đấu. Nhưng Ðề đốc Mikawa, đã xúc tiến nhiệm vụ thành công với các chiến hạm không hề có sự huấn luyện phối hợp trước đó của ông. Do đó, hiện tại chúng ta có thể làm được như vậy. Tôi vững tin vào tài năng của mỗi sỹ quan và khả năng của mỗi thủy thủ dưới quyền. Tôi tin tưởng chúng ta tất thắng.”

Khi buổi thuyết trình chấm dứt, Ðề đốc Ijuin vỗ vào vai tôi nói: “Hara, công tác khó khăn đó. Tôi sẽ tựa vào anh.” Tôi cười: “Vậy tôi phải chuẩn bị bơi để không chết đuối và bơi như cá voi mới được.” Nhưng tôi nhận thấy ngay là Ijuin không một chút đùa cợt. Ông tiếp, có vẻ buồn bã: “Tôi không ưa tuần dương hạm Sendai. Nó già nua và chạy chậm như rùa.” Tôi biết ông muốn nói gì rồi, nhiều tháng nay ông không sử dụng tuần dương hạm 9 tuổi này, mặc dù nó là soái hạm của Hải đoàn 3 Khu Trục hạm do ông chỉ huy. Ông thích đặt soái kỳ trên khu trục hạm.

TQLC Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng ngày 6 tháng 5-1965

Ijuin thêm: “Nhưng chiếc Sendai còn nhỏ tuổi hơn chiếc Shigure của anh. Cuộc hành quân này tôi thấy bất an, tôi đặt hy vọng vào các chiến hạm vừa từ Truk đến, chúng sẽ thi hành nhiệm vụ tốt đẹp hơn. Mặc dù thủy thủ đoàn của các chiến hạm này thiếu kinh nghiệm nhưng họ đều còn trẻ và chưa hao sức như chúng ta.” Chúng tôi đi im lặng cho đến cầu thang của soái hạm Myoko, Ijuin bắt tay rồi nói: “Phiền muộn không tốt với chúng ta, Hara. Chúng ta phải chiến đấu và chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng. Nhựt Bản sẽ sụp đổ nếu Bougainville thất thủ.” Trở về chiếc Shigure, tôi không thể nào xua đuổi sự phiền muộn. Tôi không hiểu tại sao Koga có thể chọn Omori chỉ huy một cuộc hành quân quan trọng như thế này. Ông ta mới vừa được huấn luyện về chiến thuật ở trường ngư lôi và chưa bao giờ tham dự một trận hải chiến quan trọng nào.

Vào lúc 15g20 phút ngày 1 tháng 11-1943, mười chiến hạm của chúng tôi rời khỏi Rabaul. Ngay khi ra khỏi hải cảng, chúng tôi lập tức di chuyển theo đội hình đã vạch ra. Chiếc Sendai (5,595 tấn) của Ijuin chạy dẫn đầu, tiếp theo là 3 khu trục hạm Shigure (Mưa Thu), Samidare (Mưa Hạ), Shiratsuyu (Bạch Sương) của tôi – trong đội hình hàng dọc chặt chẽ ở bên trái và hơi nhích về phía trước 2 tuần dương hạm Myoko và Haguro. Ở bên phải của 2 tuần dương hạm nặng 13,500 tấn này là tuần dương hạm nhẹ Agano (7,170 tấn) của Matsubara và theo kế đó là 3 khu trục hạm Naganami (Trường Triều), Hatsukaze (Nhứt Phong) và Wakatsuki (Son Nguyệt). Ðoàn chuyển vận binh sỹ gồm 5 chiếc dương vận hạm, được 5 khu trục hạm hộ tống, chạy cách nhiều dặm ở phía sau.

Ban ngày trời lạnh lẽo, và mưa phùn u ám, tầm quan sát rất giới hạn. Ngoài cơn gió Ðông Nam thổi lao xao, mặt đại dương hoàn toàn lặng yên. Lực lượng chúng tôi chưa qua khỏi eo biển Saint George, truyền tin của chúng tôi đã chặn bắt được các công điện chuyển đi của địch quân quanh quẩn đâu đó. Chúng tôi không nhìn thấy gì hết, nhưng những công điện này rõ ràng là của các trinh sát cơ địch có trang bị radar đã phát hiện ra chúng tôi từ trong những đám mây dày đặc. (Ðây là hai chiếc B24 Liberator có trang bị radar thuộc Không đoàn 5 Hoa Kỳ (5th Bomb Wing), bay cách phía Ðông mũi Saint George khoảng 15 dặm, đã thông báo từng giây phút hướng tiến về vịnh Nữ hoàng Augusta của các chiến hạm Nhựt cho Ðề đốc Merrill chỉ huy Task Force 39).

Vào lúc 19g45, một trong hai oanh tạc cơ B24 thoát ra khỏi đám mây, chúi xuống chiếc Sendai và thả nhiều quả bom, nhưng không quả nào trúng đích. Cũng vào thời gian này, các thám thính cơ Nhựt báo cáo tình hình của đối phương phía Nam: “Ba thiết giáp hạm, nhiều tuần dương hạm và khu trục hạm đang ở vịnh Empress Augusta, gần Torokina.” Hải lực địch mạnh mẽ hơn tiên đoán, và dường như họ đã chuẩn bị sẵn sàng để đón tiếp chúng tôi.

Omori hội ý với Tổng Hành Dinh Rabaul, và lúc 21g30, Ðô đốc Kusaka ra lịnh cho đoàn tàu chuyển vận thối lui. Ông kết luận rằng một cuộc đổ bộ phản công trực diện với một hải lực địch mạnh mẽ như vậy khó thể thực hiện. Nhưng ông vẫn ra lịnh cho Omori tiếp tục tiến về phía trước để hạ gục các chiến hạm của địch quân.

Mười chiến hạm Nhựt chia ra làm 3 nhóm tiếp tục lướt xuyên qua mây mù dày đặc với tầm quan sát chưa đầy 5,000m. Hải đội của tôi gần quần đảo Bougainville nhứt nhưng không phân biệt được gì dọc bờ biển đen thẫm. Tôi nghĩ tình trạng này không khác với tình trạng ở vịnh Vella vào ngày 6 tháng 8. Tốc lực của chúng tôi vẫn giữ nguyên 18 hải lý. Tôi vẫn lo lắng khi nhìn quang cảnh gần như đui mù ở mạn trái. Các chiến hạm địch đều được trang bị radar, nhìn ban đêm cũng như ban ngày, có thể tấn công chúng tôi bất cứ lúc nào.

Vào lúc 23g24, một chiếc Liberator khác lộ diện khỏi bóng tối, nhào xuống oanh tạc tuần dương hạm Haguro, nhưng không trúng trái nào. Kẻ thù luôn luôn bám sát vì biết rõ vị trí cũng như hướng tiến của chúng tôi. Khi cuộc oanh tạc chấm dứt, Haguro tung lên một thủy phi cơ, và 14 phút sau đó phi cơ báo về: “Phát hiện một tuần dương hạm và 3 khu trục hạm địch cách mũi Mutupina 50 dặm, hướng 330 độ.”

Vị trí này chỉ cách phía Nam đoàn tàu của chúng tôi 20 dặm. Omori chỉ thị thủy phi cơ tiếp tục tìm kiếm thêm sự hiện diện của các tàu địch khác, và ra lịnh cho tất cả các chiến hạm của ông đồng loạt xoay hướng ngược lại trong chờ đợi một báo cáo mới của thủy phi cơ. Mười chiến hạm Nhựt, với đội hình chặt chẽ, xoay 180 độ, lướt tới trước khoảng 10,000m, và xoay một lần nữa về hướng Nam. Cách điều động này, nhằm nghi binh, rất hữu hiệu vào năm 1942, nhưng từ năm 1943 tỏ ra vô hiệu trước một kẻ địch được radar thông báo liên tục và chính xác các động tĩnh của chúng tôi. Trong suốt vòng quay tròn này, chúng tôi nôn nóng chờ đợi các báo cáo khác của thủy phi cơ, nhưng vô ích. Chúng tôi không bao giờ tưởng tượng Task Force 39 của Ðề đốc Stanton Merrill, gồm 4 tuần dương hạm và 8 khu trục hạm, được phi cơ thông báo đầy đủ diễn tiến hải trình của chúng tôi, đang cấp tốc lướt về phía Nam để chặn đánh chúng tôi.

Hai mươi lăm phút sau nửa đêm, khi chúng tôi tiếp tục hướng tiến sau vòng xoay thứ hai, tôi nhìn thấy một trái chiếu sáng màu đỏ lập lòe trên nền trời ở 70 độ tả mạn, không phù hợp với vị trí địch do thủy phi cơ của chiếc Haguro báo cáo ban nãy. Trái hỏa châu nhìn thấy lờ mờ, chứng tỏ khoảng cách xa ít nhứt 20,000m, và biến mất sau 2 hoặc 3 giây. Tôi mãi lo nhìn mục tiêu xa này mà không biết có những thay đổi gần. Ðây là một lỗi lầm của tôi.

Nếu tôi nhìn gần hơn trong thời gian này, tôi sẽ nhận thấy đội hình của các chiến hạm Nhựt đang rối loạn và ép sát vào nhau một cách nguy hiểm. Ðó là hậu quả mấy lần xoay hướng phức tạp mà chúng tôi thực hiện. Chiếc Samidare chạy ra khỏi đội hình về mạn phải và 3 chiếc tàu khác chạy sát vào nhau trong vòng 300m thay vì 500m bắt buộc.

Tôi đoan quyết trái chiếu sáng là do một trong những thám thính cơ khác của chúng tôi thả xuống để đánh dấu vị trí của địch quân. Tôi gửi ngay một công điện khẩn cấp cho tất cả các chiến hạm Nhựt. “Phát hiện địch 70 độ mạn trái”, và ra lịnh chuẩn bị chuyển cấp tốc một chỉ thị thứ hai cho các khu trục hạm thuộc hải đội của tôi.

Không có một ai trong hải đoàn Nhựt hồ nghi hải lực chính của đối phương đang từ phía Nam tiến lên và nhắm thẳng vào mặt trước của chúng tôi. Khi quan sát viên của tôi la to: “Bốn chiến hạm địch, 70 độ mạn trái!”, tôi ra lịnh chuyển ngay chỉ thị thứ hai của tôi. Lúc đó là 0g45 ngày 2 tháng 11.

Tôi đoán 4 chiến hạm địch, từ vị trí của trái chiếu sáng hồi nãy, vẫn tiếp tục tiến thẳng đến. Tuy nhiên, 4 trong số 8 khu trục hạm thuộc lực lượng này đã xoay hướng để tiến từ Nam lên Bắc. Chúng tôi chỉ phát hiện 4 chiến hạm này sau khi chúng đã xoay xong hướng nhắm để phóng ngư lôi.

Quan sát viên của tôi báo cáo: “Khu trục hạm địch phân hai nhóm. Một nhóm tách ra xa, một nhóm song song với chúng ta. Khoảng cách 7,000m!” Tôi rùng mình, vì hiểu rằng tàu địch đang phóng ngư lôi. Tầm quan sát hiện thời nằm trong tay đối phương có radar.

Tôi ra hai lịnh liên tiếp: “Phóng ngư lôi tức khắc! Bẻ hẳn tay lái về bên phải!”

Lịnh được lập tức thi hành. Chiếc Shigure xoay về bên phải đồng lúc với 8 quả ngư lôi xé nước lướt đến các mục tiêu trong vòng hai giây. Tôi bình tĩnh lại, chắc chắn đã tránh thoát tất cả các ngư lôi do tàu địch phóng ra. Nhìn theo hướng tiến của mấy quả ngư lôi do Shigure phóng đi, thân thể tôi lạnh toát khi nhận thấy chiếc Sendai đang hướng thẳng mũi vào chiếc tàu của tôi. Cùng lúc với chiếc Shigure, chiếc tuần dương hạm này cũng xoay sang phải, nhưng xoay cực mạnh và gấp rút vượt hẳn quy tắc, đoạn tiến sát vào chiếc Shigure đến nỗi làm tôi xanh cả mặt mày vì sợ hãi. Chiếc tuần dương hạm khổng lồ này, lớn gấp 3 lần chiếc Shigure, đâm thẳng mũi vào mạn trái chúng tôi.

Tôi hét: “Bẻ hết lái về bên phải! Xả hết tốc lực!”

Mồ hôi lạnh chảy dài xuống, và hơi thở của tôi như một người sắp chết đuối khi thân tàu nặng nề của chiếc Sendai lướt ngang qua phía sau bánh lái của chiếc Shigure, chỉ cách một kẽ tóc.

Giây phút hiểm nghèo đã trôi qua, tôi lo lắng hướng mắt về chiếc Samidare, mặt tôi xanh xám một lần nữa. Chiếc khu trục hạm này đã xoay hẳn về phía phải, chắn ngang hướng tiến điên cuồng của chiếc Sendai, và va vào lườn của chiếc Shiratsuyu đang chạy cùng hàng. Vỏ mạn trái và sàn tàu của chiếc Shiratsuyu vỡ vụn ra từng mảnh, tất cả pháo khẩu và ống phóng ngư lôi hầu như bị nghiền nát.

Chiếc Shiratsuyu mới gia nhập chưa hề mang một lợi ích nào cho hải đội của tôi mà đã hư hại rồi. Nhưng điều gây xúc động nhứt cho tôi là việc đổi hướng thình lình của chiếc Sendai mà không đưa ra một dấu hiệu nào để lưu ý các chiến hạm chạy theo sau. Bối rối, Ijuin ra lịnh cho chiếc Sendai trở ngược tay lái ngay sau khi vừa thoát khỏi va chạm với chiếc Shigure trong gang tấc. Chiếc Sendai đảo sang trái và chạy tụt về phía sau.

Tôi thở phào nhẹ nhõm, nhưng hơi thở lại đứt quãng ngay khi tôi nghe thấy tiếng của một loạt đại pháo bay đến, và cho dù chạy quờ quạng, chiếc Sendai đã lãnh trọn một trái ngay giữa tàu. Tôi chưa từng chứng kiến cảnh pháo kích nào đạt mức chính xác một cách ngoạn mục như vậy, ngay loạt đầu đã trúng đích!

Chiếc Sendai tiếp tục hứng loạt pháo thứ hai rồi thứ ba, với mức chính xác kỳ dị không thua gì loạt đầu, và bùng cháy như một bó đuốc khổng lồ. Mạch sống của chiếc tàu đã ngừng đập, nhưng vẫn gom hết sức tàn phóng một loạt 8 quả ngư lôi nhắm đại khái vào kẻ tử thù.

Cột khói khổng lồ của chiếc Sendai, lan rộng 500m, ngăn hẳn tầm mắt khiến tôi không thể nhìn thấy nơi xuất phát các quả đạn của đối phương. Nhưng chiếc Samidare, chạy ngoài vòng 500m, có thể định vị các chiến hạm địch. Hạm trưởng đầy kinh nghiệm của chiếc Samidare là Thiếu tá Yoshiro Sugihara đã phóng một lượt 8 quả ngư lôi vào lúc 0g52.

Bốn tuần dương hạm Hoa Kỳ không nhìn thấy trước đó, bây giờ xuất hiện cách chúng tôi khoảng 15,000m. Vào lúc 0g51, tất cả các chiếc tàu này đảo mạnh về bên phải, tránh thoát 8 quả ngư lôi của Samidare. Tuy nhiên, khu trục hạm USS Foote, chạy cuối cùng trong nhóm tàu thứ hai của Hoa Kỳ, hơi chậm chân nên lĩnh một quả ngư lôi vào lúc 1g08 phút. Chiếc Foote bể đuôi bị loại khỏi vòng chiến nhưng không chìm.

Nhưng chiến công này không lấy gì làm chắc, sự vui mừng trên các khu trục hạm thuộc hải đội của tôi không trọn vẹn, trong lúc đó, sự hỗn loạn và kinh hoàng đã xảy ra trong hai nhóm chiến hạm khác của chúng tôi.

Thời gian tôi báo cáo phát hiện địch quân, lúc 0g45, Ðề đốc Omori lại không nhìn thấy gì hết. Năm phút sau đó, ông mới thấy chiếc Sendai bao trùm trong lửa đỏ và ông đồ chừng chiếc tàu đang cháy này ở ngay phía trước, cách ít ra là 1,000m và cùng một hướng tiến với soái hạm Myoko của ông. Nhưng thực ra chiếc Sendai nằm ở ngay phía trái của ông.

Sau đó, Omori đã phải sửng sốt khi nhận ra sự sai lầm này. Phản ứng của ông – ảnh hưởng bởi tư tưởng bảo thủ đang thịnh hành trong giới chỉ huy – thay vì điều chỉnh các chiến hạm của ông cho đúng lại với đội hình nguyên thủy, ông vội vã ra lịnh quay đầu.

Qua hành động này, Omori đã bị chỉ trích mạnh mẽ sau đó, nhưng ông không bao giờ đưa ra một lý lẽ nào để biện minh. Quay đầu là một việc có thể làm được với điều kiện là tất cả các chiến hạm đều phải đáp ứng nhịp nhàng. Nhưng hai nhóm trong số các nhóm tàu của Omori lại do các sỹ quan thiếu kinh nghiệm dạ chiến, và kết quả đã đưa đến sự rối loạn. Nhóm tàu thứ ba của Ðề đốc Matsubara còn phạm thêm một sai lầm khác.

Mặc dù thiếu kinh nghiệm tác chiến, Matsubara nổi tiếng là một tay hăng hái và bướng bỉnh. Khi nghe báo cáo phát hiện địch của tôi, ông ra lịnh cho nhóm tàu của ông xả hết tốc lực đổ xô về hướng mà tôi đã báo cáo. Nhưng chạy liên tục như vầy trong 10 phút, ông vẫn không tìm thấy địch ở đâu. Cuối cùng, khi nhìn thấy hai tuần dương hạm Myoko và Haguro xoay hướng, ông đâm ra bối rối, vội vã ra lịnh cho các chiến hạm của ông xoay theo một cách vụng về, phạm phải điều cấm kỵ nhứt khi di chuyển vào ban đêm. Sau khi xoay hướng, tuần dương hạm Agano, soái hạm của Matsubara, và 4 khu trục hạm nối đuôi nhau chạy về phía Bắc, Matsubara không lưu ý đến việc các chiến hạm của ông lúc này chạy xiên ngang qua hướng tiến của hai chiếc Myoko và Haguro ở một góc thẳng. Kết quả, tuần dương hạm Myoko lướt ngang phía trước khu trục hạm Hatsukaze, chiếc tàu chạy hàng thứ ba trong đội hình hàng dọc của Matsubara, và chạm nhẹ vào mũi chiếc khu trục hạm 2,500 tấn này. Hai chiến hạm chạy theo sau Myoko và Hatsukaze là tuần dương hạm Haguro và khu trục hạm Wakatsuki, vội vã né tránh nhưng lại đụng nhau dữ dội gấp mấy lần hai đồng đội phía trước.

Cực kỳ bối rối, Matsubara cho tàu của ông quay lại chiếc khu trục hạm hư hại nặng của ông. Chỉ cần xem sơ qua, ông hiểu ngay là không thể làm gì kịp cho chiếc tàu này trong lúc địch quân đã đuổi theo đến nơi, một lần nữa, ông quay tàu để chạy song song với 2 tuần dương hạm hạng nặng.

Vào lúc 1g15, đạn đại pháo Hoa Kỳ bắt đầu rơi dọc theo cả mạn trái và phải của hai chiếc Myoko và Haguro. Các khẩu đại pháo của hai tuần dương hạm này đều khai hỏa khái quát vào những mục tiêu không nhìn thấy và phóng một loạt 24 quả ngư lôi vài phút sau đó. Dĩ nhiên, tất cả đều hoang phí một cách vô ích. Radar của địch quân đã đè bẹp ưu thế dạ chiến của Nhựt Bản trước đây.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

November 19th, 2021

Post by Sơn râu 30 Apr 2024

(Kỳ 40)

Vào lúc lớp sĩ quan trẻ Nhật giận dữ, cũng là lúc xảy ra xung đột giữa Us Navy và Us Army. McArthur, Tư lệnh Lục quân Á châu, đề xuất: Sau chiếm New Guinea tràn qua Nam Dương rồi từ đây tạt qua Mã Lai lần lên Đông Dương, phối hợp với Anh tiến vào Trung Hoa, chiếm Đài Loan rồi từ đó đánh sang Nhật. Tái chiếm cùng lúc Phi Luật Tân.

McArthur là một danh tướng không ít kẻ thù. Đô đốc Halsey bình phẩm về McArthur: “A swollen one, especially anxious to promote his person (một kẻ sưng tấy, chỉ lo quảng bá cá nhân mình)”. Ngay cả Nimitz, chỉ huy US Pacific Fleet là thượng cấp của Halsey cũng không ưa McArthur, và đặc biệt, cả hai không chấp nhận ý niệm hành binh của McArthur. Lý do?

Từ Guadalcanal lên Bougainville là 634 km đường chim bay. Tính từ lúc Sư đoàn 1 TQLC Mỹ đổ bộ lên Guadalcanal vào tháng 8-1942 cho đến khi Sư đoàn 3 TQLC của tướng Allen H. Turnage giẫm chân lên bãi cát trong vịnh Nữ hoàng Augusta phía Tây Bougainville tháng 11-1943, mất 14 tháng. Để đi 400 dặm.

Khoảng cách từ Bougainville đến Đông Kinh còn 5 ngàn cây số và nếu đi vòng sẽ mất hằng thập kỷ. Với tổn thất gấp ngàn lần. Nimitz lập luận: McArthur muốn chiếm từng đảo rồi trên các đảo lập căn cứ với sân bay làm bàn đạp chiếm đảo kế tiếp, nhưng chúng ta có hàng không mẫu hạm! Chỉ cần thiêu hủy hạm đội Nhật là cô lập các đảo Nhật không còn tiếp tế. Hàng không mẫu hạm không thể chở pháo đài bay nhưng chỉ cần chiếm Iwo Jima là các pháo đài bay B29 có thể trải thảm Tokyo. Để chiếm Iwo Jima, cần chiếm Saipan (190 km phía Bắc Guam) làm trạm tiếp tế cho các Task Forces và sau cùng chiếm Okinawa để đồn trú binh lính trước khi đổ bộ lên đất Nhật. Tái chiếm Phi Luật Tân là thừa! Phải tiến vào trung tâm Thái Bình Dương thay vì đi dọc thềm lục địa với McArthur. Chiếm những đảo ít quân địch và cô lập những đảo địch đông quân. “Knock where they are not!” (Cũng là Binh pháp Tôn Tử: Đánh vào khoảng trống).

Chiến pháp không xuất phát từ Nimitz mà từ Đề đốc Theodore S.Wilkinson, phó của Halsey và từng là đề tài nghiên cứu của Naval War College. Tuy vậy công lao của Nimitz vẫn lớn, vì đã thúc đẩy “Nhảy đảo” (Island hopping). McArthur nổi đóa viết thư cho giới hữu trách (tuy sau chiến tranh McArthur tự nhận “Nhảy đảo” là sáng kiến của mình). Roosevelt hậu thuẫn Nimitz. Chi tiết binh chủng TQLC trả về cho Nimitz điều động nói lên trọng tâm trong phân xử của Roosevelt.

Vai trò của McArthur lu mờ trong suốt hai năm 42 và 43, chỉ nổi bật với cuộc đổ quân lên đất Phi tháng 10-1944. Là vì với Roosevelt, lời hứa “I shall return!” của một đại tướng Mỹ phải được tôn trọng, nên Roosevelt chấp thuận tái chiếm Phi bất chấp phản đối của Halsey và Nimitz.

Các sử gia đồng thuận: kẻ chiến thắng trên Thái Bình Dương là Nimitz, không phải McArthur. Công trạng thực sự của McArthur là đã cai quản tốt đẹp và dân chủ hóa xứ Nhật sau thế chiến. Khía cạnh này, tầm vóc McArthur vượt xa Nimitz.

Riêng với Hara, thảm bại vịnh Empress Augusta mà Hara sắp tham dự là khởi đầu của chiến lược “Nhảy đảo” còn gọi “Nhảy Cóc” (Leapfrogging) của Nimitz. Thay vì tấn công đảo Kolombangara, nơi có nguyên một sư đoàn Nhật tử thủ, Nimitz lệnh cho Halsey đánh thẳng vào đảo Bougainville nằm ở phía sau, nơi ít quân Nhật. Cửa vào Bougainville là vịnh Nữ hoàng. [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 40

Báo cáo sai lầm của phi cơ tiếp tục truyền nhiễm nhóm chiến hạm của Ðề đốc Ijuin. Chúng đã chạy tán loạn trong nhiều phút sau khi đồng đội Yugumo (Mây Hoàng Hôn) bị đánh chìm. Ðến khi gặp hai chiếc Chevalier và O’Bannon, 3 chiến hạm Nhựt vẫn còn ngơ ngác và bối rối trước sự mất mát đồng đội một cách bất ngờ, nên đã nhìn thấy 2 chiếc tàu chạy quờ quạng này thành ra 4 tuần dương hạm địch, và cho rằng chúng tiến đến để dọn dẹp chiến trường.

Vào lúc 21g19, ba khu trục hạm của Ijuin phóng một loạt 24 quả ngư lôi nhắm vào 4 đối thủ ảo tưởng của chúng. Xuyên qua đêm tối đầy sương mù, thủy thủ Nhựt hân hoan ngắm nhìn ngọn lửa bốc cao trên hai chiếc O’Bannon và Chevalier, và báo cáo rằng các ngư lôi của họ đã đánh chìm 2 tuần dương hạm (hoặc 2 khu trục hạm lớn) của địch. Lại một ảo tưởng khác nữa.

Với “chiến quả” này, Ijuin ra lịnh cho các chiến hạm của ông xoay hướng Bắc để trở về căn cứ. Trong lúc đó, đoàn tàu chuyển vận của Nhựt đã đến Horaniu mà không gặp bất kỳ một sự ngăn chặn nào của địch. Trong vòng 2 giờ, toàn thể 589 binh sỹ trú đóng trên hòn đảo đều được di tản.

Một hải đội khu trục hạm thứ hai của Hoa Kỳ gồm 3 chiếc Ralph Talbot, Taylor và La Valette, chạy từ hải phận New Georgia tiến vào khu vực xảy ra trận đánh ngay khi chiến hạm cuối cùng của Nhựt vừa rời khỏi. Không tìm thấy đối thủ, chiếc La Valette xoay sang ban cho chiếc Chevalier một quả ngư lôi “ân huệ”. 3 khu trục hạm địch tiếp cứu những người còn sống sót, và sau đó dìu dắt 2 chiếc Selfridge và O’Bannon bị hư hại về căn cứ Tulagi.

Như vậy, trận đánh kết thúc, Hoa Kỳ bị đánh chìm một khu trục hạm và hai chiếc khác bị hư hại nặng nề. Nhựt thiệt hại mất một khu trục hạm. So sánh về thương vong, Hoa Kỳ nhẹ hơn Nhựt, vì phần lớn thủy thủ đoàn của chiếc Chevalier được cứu thoát trong khi toàn thể thủy thủ của chiếc Yugumo đều thiệt mạng. (Lúc ấy chúng tôi không hay biết việc khoảng một phần ba thủy thủ đoàn của chiếc Yugumo được các khu trục hạm Hoa Kỳ tiếp cứu). Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là mặc dù vấp nhiều sai lầm, nhiệm vụ hộ tống của Ijuin đã diễn tiến đúng theo kế hoạch một cách tốt đẹp, và điều này cũng là chiến thắng của ông.

Theo ý kiến của tôi, Hoa Kỳ có thể chiến thắng trong trận đánh này nếu các khu trục hạm của Ðại tá Walker xoay về hướng Nam thay vì xoay về hướng Bắc. Ông sẽ có một ngày tròn để truy đuổi 3 khu trục hạm mất tinh thần của Nhựt. Một cuộc truy đuổi như vậy không cần phải sử dụng ngư lôi mà chỉ cần sử dụng hải pháo có radar hướng dẫn là có thể tiêu diệt được các khu trục hạm đang trốn chạy của Ijuin. Nhưng ý kiến này chỉ có tính cách ước đoán, và các trận đánh trên biển luôn đầy dẫy sai lầm, ảo tưởng và bất ngờ.

Khi trở về Rabaul, tôi nhận thấy Ijuin xao xuyến và hổ thẹn. Ông không bị quở trách công khai, nhưng Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã chứng tỏ sự lượng xét hành động của ông bằng cách tổ chức một buổi lễ trao tặng trường kiếm cho tôi và đoản kiếm cho Thiếu tá Kimio Yamagami, hạm trưởng khu trục hạm Shigure, và Thiếu tá Yoshiro Sugihara, hạm trưởng khu trục hạm Samidare. Không một người nào thuộc nhóm chiến hạm của Ijuin được ân thưởng hoặc tuyên dương công trạng nào trong cuộc chiến thắng đầu tiên của Hải quân trong khoảng thời gian 3 tháng trở lại đây.

Mừng chiến thắng được tổ chức vào ngày kế đó, qua một buổi lễ trao kiếm và một bữa tiệc. Bữa tiệc ở câu lạc bộ dành cho sỹ quan cao cấp, với sự tham gia của tất cả sỹ quan hàng đầu của Hải quân ở Rabaul, trong đó có Phó Ðô đốc Jinichi Kusaka – Tư lịnh khu vực Ðông-Nam kiêm Tư lịnh Không Hạm đội 11, và Phó Ðô đốc Tomoshige Samejima, Tư lịnh Ðệ Bát Hạm đội.

Khối lượng sakê vĩ đại được tiêu thụ, buổi tiệc diễn ra thực vui vẻ với sự có mặt của một số nữ tiếp viên. Thường thường thì các nữ tiếp viên đều thuộc giới Geisha, trẻ đẹp và xinh xắn, được Bộ Chỉ Huy Hải quân điều đến các căn cứ tiền tuyến quan trọng với nhiệm vụ gây phấn chấn cho binh sỹ. Họ hát hay và quyến rũ. Nhưng tuy là khách danh dự của buổi tiệc, tâm tư tôi vẫn nặng trĩu, không cảm thấy vui như những người khác. Tôi muốn say, nên đã uống liên tu bất tận.

Kusaka đọc diễn văn ca ngợi khu trục hạm Shigure. Ông nói: “Hy vọng tồn tại của các khu trục hạm đóng tại Rabaul trung bình chỉ có 2 tháng. Nhưng có một chiếc tàu cũ kỹ đã chiến đấu dũng mãnh gần 3 tháng ròng rã mà không hề mang thương tích hay mất mát một thủy thủ nào. Hãy nâng ly để chúc mừng Ðại tá Hara, Thiếu tá Yamagami và tất cả thủy thủ của chiếc Shigure kiên cố.”

Tâm tư của tôi mỗi lúc càng nặng trĩu thêm. Ðáng ra bữa tiệc này phải dành cho toàn thể 240 thủy thủ sáng chói của tôi hơn là dành riêng cho mấy sỹ quan chỉ huy của họ. Trong lúc tôi đang suy nghĩ, buổi tiệc vụt trở nên ồn ào, vì sau đó một sỹ quan tham mưu lên tiếng: “Kính thưa Ðô đốc Kusaka, từ lâu tôi có nhiều vấn đề nhưng không bao giờ dám hỏi. Bây giờ, thưa Ðô đốc, tôi có thể mạn phép nêu lên được không?”

Bữa tiệc rơi vào im lặng sau câu hỏi đột ngột này. Phó Ðô đốc Kusaka gật đầu, và viên sỹ quan trẻ tiếp tục: “Thưa Ðô đốc, Ðô đốc vừa ghi nhận hy vọng sống sót ngắn ngủi của một khu trục hạm. Có phải chúng ta đã chấp nhận một số phận như thế? Tại sao tất cả các tàu lớn của chúng ta đều nằm lì ở Truk? Có phải buổi lễ mà chúng ta sẽ tổ chức vào ngày 26 tháng 10 tới đây là buổi lễ kỷ niệm trận đánh cuối cùng trong lịch sử có sự tham dự của các hàng không mẫu hạm Nhựt hay không? Trong suốt năm qua, các khu trục hạm của chúng ta không những được giao phó các nhiệm vụ vận chuyển không mấy vinh dự mà chúng còn nhận lĩnh tất cả các gánh nặng chiến đấu trong hải phận này. Xin Ðô đốc tha thứ câu hỏi vụng về của tôi. Câu hỏi này không nhằm chỉ trích Ðô đốc, nhưng mà tất cả chúng tôi đều biết rằng không chỉ có Không Hạm Ðội 11 của Ðô đốc đã nằm miết ở bờ biển từ khi cuộc chiến bắt đầu. Trong giai đoạn khủng hoảng này, tại sao các khu trục hạm phải gồng gánh hết sức nặng mà không được các hàng không mẫu hạm, thiết giáp hạm và tuần dương hạm nặng chia sẻ? Tại sao?”

Các câu hỏi dồn dập này thực là ngoài sức tưởng tượng, nhưng đều là cảm nghĩ chung của hầu hết đám đông hiện diện trong phòng. Những lời có vẻ vô lễ của viên sỹ quan say rượu khiến cho một số bạn bè của anh ta lo âu. Phó Ðô đốc Kusaka không nói tiếng nào. Phó Ðô đốc Samejima phá vỡ bầu không khí căng thẳng: “Tôi biết Tổng tư lịnh Koga đang chuẩn bị một trận đánh quyết định, trong trận đánh này tất cả đại chiến hạm của chúng ta sẽ tham dự.”

Viên sỹ quan trẻ tuổi không đắn đo, lớn tiếng hỏi: “Khi nào? Khi nào các đại chiến hạm sẽ hành động? Chúng đã đứng ngoài trận chiến một năm tròn nay, và một năm tròn đó, đối với các khu trục hạm chúng tôi lâu bằng một thế kỷ. Trong thời gian này địch đã đuổi kịp và vượt qua chúng tôi.”

Một sỹ quan cố gắng ngăn cản không cho đồng bạn lên tiếng nữa, anh ta cho rằng đã quá khuya, nên đi về thì hơn. Nhưng viên sỹ quan đã ngà ngà say vẫn tiếp tục nói: “Bộ Tư Lịnh Tối Cao đang làm gì ở Tokyo? Chỉ có những thông báo vang lên như tiếng kèn mỗi ngày, theo đó, Nhựt Bản đã đánh cho địch phải kéo cờ trắng trên quần đảo Solomon. Nếu có kéo cờ trắng thì kẻ kéo đó là chúng ta, không phải địch quân.”

Hai sỹ quan bạn phải đứng dậy lôi kéo viên sỹ quan trẻ ra khỏi phòng. Ðôi mắt hắn ta đầy nước mắt và bật khóc nức nở. “Yugumo bị chìm, chiếc Yugumo khốn khổ đã mang theo nhiều bạn bè của tôi.”

Ðoạn bi kịch đã gây một ảnh hưởng kỳ dị trong tôi. Tôi cũng đã say, nhưng tôi cố giữ vững đôi chân trong buổi lễ lĩnh trường kiếm do Phó Ðô đốc Samejima trao tặng. Tôi bước đến trước mặt ông và nói: “Kính thưa Ðô đốc, tôi muốn trả lại thanh kiếm này, vì tôi xét thấy không xứng đáng nhận lãnh nó. Ngay cả tôi có xứng đáng đi nữa, tôi sẽ sử dụng một thanh kiếm vào việc gì trên chiến hạm?”

Quả bom của tôi đã gây kinh ngạc cho mọi người. Ðại tá Miyazaki lộ hẳn sự xúc động, ông bước đến bên tôi và nói: “Anh đã mệt mỏi, Hara. Chúng ta nên đi về nghỉ ngơi.”

Tôi vừa đẩy nhẹ ông ta sang một bên vừa nói: “Không, cám ơn Miyazaki.” Và tiếp tục: “Tôi muốn đổi thanh kiếm này để lấy rượu sakê cho thủy thủ đoàn tuyệt vời của tôi. Nếu có ân thưởng thì họ chính là những người xứng đáng được ân thưởng. Không phải tôi. Thưa Ðô đốc, hãy mua rượu cho các thủy thủ của tôi.”

Tới đây, Ðề đốc Ijuin, chỉ huy trưởng trực tiếp của tôi, tiến đến bên cạnh tôi cố gắng khuyên lơn: “Anh hoàn toàn đúng, Hara. Tôi sẽ mua rượu cho thủy thủ của anh, nhưng hiện giờ tất cả chúng ta đều mệt mỏi, tốt hơn chúng ta nên chấm dứt buổi tiệc.”

Sáng hôm sau thức dậy, tôi cảm thấy rã rời thân thể. Trung tá Yamagami với vẻ mặt dàu dàu, đã kể lại tỉ mỉ cho tôi nghe về quang cảnh hai vở bi kịch ngoạn mục do viên sỹ quan trẻ và tôi thủ diễn đêm rồi ra sao, Ðề đốc Ijuin và Ðại tá Miyazaki đã cố gắng bịt miệng tôi như thế nào. Hành vi như thế chưa bao giờ được nghe nói đến trong hàng ngũ sỹ quan cao cấp thuộc Hải quân Hoàng gia, và hậu quả sẽ không thể nào lường được. Tôi cảm thấy bất an.

Nhưng lạ lùng thay, hành vi vô hạnh kiểm của tôi không bị khiển trách. Sau đó, tên tuổi của tôi trở thành quen thuộc với họ. Hậu quả không xảy ra cho tôi, đã chứng tỏ thượng cấp của tôi cùng chia sẻ sự bất mãn chung đối với Bộ Tư Lịnh Tối Cao.

Bộ Tư lịnh Hải quân ở Tokyo đã ra lịnh cho chúng tôi triệt thoái đến Bougainville, và xem nơi đây như là phòng tuyến cuối cùng. Việc này càng gây bi quan trong khu vực chiến đấu. Bougainville rộng gần gấp ba Guadalcanal. Với bờ biển quá dài và chưa được điều nghiên sâu rộng, hòn đảo này sẽ cung cấp nhiều điểm đổ bộ thuận lợi cho địch. Nhiều đồ hộp thức ăn của Mỹ đã được tìm thấy trong rừng rậm cho biết có sự hoạt động của địch trên hòn đảo, và dĩ nhiên các điểm đổ bộ tốt nhứt đã được họ chọn lựa.

Bộ Tư lịnh Hạm đội Hỗn hợp ở Truk không làm được gì thêm cho chúng tôi. Các vị tân chỉ huy đầu não cũng không xuất sắc gì hơn những vị tiền nhiệm của họ. Ðô đốc Mineichi Koga, nắm quyền Tổng Tư lịnh sau cái chết của Yamamoto vào tháng 4 năm 1943, hầu như khoanh tay ngồi yên. Riêng Phó Ðô đốc Jisaburo Ozawa, từ khi thay thế Nagumo trong chức vụ Tư lịnh Lực lượng Ðặc nhiệm vào tháng 11 năm 1942, không hề đạt được một chiến thắng đáng kể nào. Và Phó Ðô đốc Nobutakê Kongo, Tư lịnh Ðệ Nhị Hạm đội, mệt mỏi và bất thường, vừa được Phó Ðô đốc Takeo Kurita thay thế vào tháng 8 năm 1943.
Ba vị tân tư lịnh này chịu khó và siêng năng làm việc, nhưng họ không thể nào tạo ra các phép lạ. Sự khiếm khuyết căn bản nằm ở Tokyo, trong Tổng Hành Dinh Hải quân Hoàng gia, hiện vẫn dưới quyền Ðô đốc Osami Nagano.

Kể từ khi Yamamoto thiệt mạng, nửa năm đã trôi qua, vậy mà các chính sách của ông vẫn còn được theo đuổi. Trong trận hải chiến ở biển Java vào tháng 2 năm 1942, tôi nhận thấy mặt trận đã dạy nhiều bài học hơn cả ngàn buổi thao luyện. Chẳng may, các vị tư lịnh đã không chia sẻ quan điểm này. Họ giữ sức mạnh chính yếu của Hải quân ở Rabaul hoặc, tồi tệ hơn nữa, ở các hải phận Nhựt Bản, nhằm “bảo tồn chiến hạm và huấn luyện thủy thủ”. Kết quả, cả tàu và người đều chứng tỏ thiếu kinh nghiệm khi được tung ra mặt trận.
Bước tiến của đối phương không bao giờ ngừng nghỉ. Vừa trở về sau chiến thắng hiếm khi xảy ra của chúng tôi trong vịnh Vella thì một sự kiện ập xuống, cho thấy tình thế đã ngặt nghèo đến mức nào.

Vào ngày 12 tháng 10-1943, một cuộc không tập ở Rabaul do 349 phi cơ xuất phát từ các căn cứ trên đất liền của đối phương thực hiện. Tuy nhiên, một cuộc không tập với cao độ quá cao không mấy chính xác và chỉ một hải vận hạm bị đánh chìm. Ðó là dương vận hạm Keisho Maru, 5,879 tấn, của Hải quân. Ngoài ra cuộc không tập này còn đánh chìm 3 hải vận hạm nhẹ của Lục quân là Tsukinada 526 tấn, Kamoi Maru 513 tấn, Fuku Maru 132 tấn và tàu tuần tiễu Mishima Maru của Hải quân. Ba khu trục hạm, ba tiềm thủy đĩnh, một tàu chở dầu và một tàu tuần duyên khác bị hư hại.

Một cuộc không tập quy mô nhắm vào căn cứ chính của Nhựt là một việc gây nhiều chú ý và xúc động với Tổng Hành Dinh ở Truk. Nhưng Ðô đốc Koga vẫn còn lưỡng lự. Nếu đối phương có thể tung nhiều phi cơ đóng trên các căn cứ ở đất liền để tấn công Rabaul như vậy, hải vực quanh quần đảo Solomon sẽ bất lợi đối với hạm đội Nhựt nếu xảy ra đụng độ.

Vào ngày 18 tháng 10, một loạt không tập quy mô khác xảy ra ở Rabaul và Buin, căn cứ không quân chính ở Bougainville. Cuối cùng, Koga ra lịnh cho 2 tuần dương hạm hạng nặng và một phân đội khu trục hạm tiến từ Truk đến Rabaul. Ðây là hành động rập khuôn theo lối tăng viện nhỏ giọt của Yamamoto, sẽ gây cho Koga sự hối tiếc sau này.

Các cuộc không tập mạnh mẽ lại giáng xuống Rabaul và Buin 5 ngày sau đó, và tiếp tục hàng ngày cho đến khi Buin trở thành đống gạch vụn. Trong lúc đó, các đơn vị trên mặt biển đến Rabaul vào ngày 21 tháng 10. Trong số các khu trục hạm đến căn cứ này có chiếc Shiratsuyu, tức khu trục hạm tăng phái, bây giờ trở lại kết hợp với hải đội của tôi. Cuối cùng, tôi lấy làm sung sướng được nắm trong tay 3 khu trục hạm, nghĩa là 6 tháng sau khi tôi được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng hải đội. Trong thời gian này, có rất nhiều hải đội bao gồm không quá 3 chiếc tàu.

Shiratsuyu (Bạch Sương), 1,980 tấn, là một chiếc tàu đàn chị của Shigure và Samidare. Mặc dù được đóng từ 1933, chiếc tàu này có vẻ còn mới. Bị phi cơ địch oanh kích gây hư hại nặng nề gần Buna vào tháng 11 năm 1942, chiếc Shiratsuyu được tu bổ lại ở Truk.

Mặc dù phấn chấn, tôi đã lo ngại cho chiếc tàu này, bởi vì hầu như tất cả thủy thủ đoàn còn thiếu kinh nghiệm, và tôi không tin sẽ giữ được nó lâu dài trong hải đội của tôi.

Vào ngày 23 tháng 11, tôi mang cả 3 khu trục hạm của tôi tham dự vào một nhiệm vụ vận chuyển đến Iboki, cách phía Ðông mũi Gloucester khoảng 50 dặm. Ngày đó, cuộc không tập đầu tiên, nằm trong một loạt không tập hàng ngày của địch, xảy ra ở Rabaul và Buin, các chiếc tàu của tôi cũng được phi cơ địch đón tiếp nồng hậu trong nhiều giờ trước bình minh. Ba chiếc tàu phải phân tán để chạy riêng rẽ, và khi ngày lên hẳn, phi cơ địch bỏ săn đuổi chúng tôi. Các chiến hạm đã tụ họp một cách có trật tự, và tôi hài lòng khi nhận thấy tất cả còn nguyên vẹn. Chiếc Shiratsuyu đã chứng tỏ có nhiều hứa hẹn hơn là tôi tưởng.
6  ngày sau đó, tôi thực hiện một chuyến vận tải đến đảo Garove, nằm ở phía Bắc bán đảo Willaumez (New Britain), với 2 chiếc Shigure và Shiratsuyu. Vài phi cơ địch bay đến tấn công chúng tôi một cách qua loa. Tuy nhiên, Shiratsuyu đã thi hành nhiệm vụ khá đẹp, do đó, tôi xem như chiếc tàu này thuộc hẳn vào “tài sản của hải đội”. Tôi đã sai lầm biết bao.