Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Chương III: Trên đường ra Bắc

Post by Sơn râu 15 May 2024

Phần 5

Chừng hai tiếng sau, chiếc tầu dừng lại thật. Anh em ở dưới hầm nhốn nháo, đứng cả dậy, trong tư thế sẵn sàng. Từ trên miệng hầm, một tên sĩ quan Cộng Sản, mang quân hàm Trung tá thò đầu xuống nói:

– Xin giới thiệu, các anh sắp đặt chân lên thước đất đầu tiên của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa!

Nói xong, hắn biến mất. Cũng kể từ đó, không một lần, tôi gặp lại tên trung tá có nét mặt xương xương, trông có vẻ trí thức ấy nữa, dù tôi đã đi qua nhiều trại Cải Tạo trong 5 mùa mưa nắng, rét mướt của miền Bắc nghèo nàn, khắc khổ.

Mọi người ai nấy đều đứng trước túi hành trang của mình. Nhưng chiếc thang chưa hạ xuống, anh em ngữa mặt ngó lên chờ đợi. Các anh Đội Trưởng kêu gọi những người thuộc đội mình sẵn sàng rời khỏi hầm tầu khi có lệnh.

Thấy chờ đợi lâu quá, có người lại ngồi xuống lôi điếu ra kéo. Khói thuốc có sức quyến rũ, chỉ loáng sau, tiếng điếu rít liên tục khói tỏa mờ mịt. Trời lúc này đã chạng vạng. Mẩu mây tim tím như miếng nhung vuông vắn đóng khung trên miệng hầm. Miền Bắc đây rồi, nhưng chúng tôi chưa ai đoán được mình lên bến Vinh hay Hải Phòng, phải chờ lúc nữa mới nhận biết . Chiếc thang sắt được thả xuống. Mọi người xô đến, ai cũng muốn lên trước. Chiếc thang quá hẹp, một đám người dính cứng vào chân thang như khối bê tông.

Tên bộ đội từ cao nói xuống:

-Từng người một “neo nên”!

Lạ thay, tiếng nói như có uy lực thần bí, đám đông giãn ra. Từng người thứ tự leo lên. Những chiếc túi đeo lưng to kềnh, che lấp cả thân hình người mang nó, lúc lắc theo nhịp bước chân chậm, nặng nề ! Hạnh đã rời khỏi chỗ từ lúc nào. Cũng từ lúc đó, tôi và Hạnh không còn gặp lại nhau, dù chúng tôi cũng cải tạo chung một không gian, nhưng khác trại.

Tôi leo lên thang khi căn hầm đã trống trải, chỉ còn vài người đứng đợi tới phiên mình. Trước khi leo, tôi ném cái nhìn cuối cùng xung quanh căn hầm ngập ngụa rác rưởi, giấy dơ, bao mì ăn liền. Đúng là cái thùng rác to chưa đổ. Từng bước một, tôi nắm tay thang leo dần. Chiếc túi vải đeo lưng siết chặt hai bên vai như muốn kéo tôi ngã về phía sau. Khi leo qua miệng hầm, tôi men theo chiếc hành lang nhỏ, chui qua căn phòng hẹp để xuống chiếc cầu thang khác đưa tới boong tầu. Từ căn phòng hẹp này, có thể nhìn thông sang một căn phòng lớn chưa đầy xe Honda, Suzuki, tủ lạnh, bàn ghế, tủ sắt, quạt máy, quạt trần, máy giặt v.v… của Mỹ, chở về Hà-nội. A, người ghét, của yêu là vậy!

Trên boong lúc này chật ních người cải tạo. Bây giờ tôi mới biết, không phải con tầu chỉ chở số anh em chúng tôi, mà nó có tới 3, 4 chiếc hầm như vậy. Số người xuống bến chưa kịp, số dồn lên mỗi lúc mỗi nhiều, nên sự ứ đọng không thể tránh. Tôi bị dòng người chen lấn xô đẩy ra tới cầu thang bên hông tầu. Chiếc thang này tương đối rộng, chạy nghiêng nghiêng theo thân tầu, dễ đi. Xuống đến “ke”, tôi, người cuối cùng trong đội. Anh em nhìn tôi như trách móc về sự chậm trể. Bến tầu khá lớn, chắc mới được xây dựng trong những năm gần đây vì mầu xi-măng còn mới dưới ánh đèn pha sáng rực. Rất nhiều bộ đội, ôm A.K. gác kín vòng ngoài. Tôi nhìn con tầu lần cuối. Ngay trên chiếc lan can chạy vòng quanh boong tầu, cũng có rất nhiều vũ khí đủ loại, hướng nòng về phía chúng tôi.

Một tên mang quân hàm Thiếu úy hỏi:

– Đội mấy đây?

– Dạ, Đội 15!

– Hai đồng chí đưa đội này đi!

Tên Thiếu úy cho lệnh hai tên bộ đội cầm A.K. đứng gần đó. Một tên tiến lên, ra lệnh cho chúng tôi đi theo hắn, còn tên kia theo sau.

Chúng tôi đi sau ánh đèn pin, xuôi xuống mé sông. Chiếc tầu đổ bộ đã há mồm sẵn, chờ ! Tên bộ đội bảo chúng tôi đi xuống, đưng nép mình vào một bên, dành chỗ cho các đội khác. Chiếc tầu này chắc mới được chi viện, mầu sơn bóng loáng sạch sẽ. Lát sau, 3 đội nữa xuống chật cứng khoang tầu. Chiếc nắp hậu tự động kéo lên. Tiếng máy chạy rè rè. Một hồi còi ré lên, chiếc tầu từ từ tách bến. Chúng tôi đứng bên trong không nhìn thấy gì vì bị đóng cứng trong chiếc hộp thép. Chiếc tầu lừ lừ trôi trong đêm tối, chừng 15 phút sau dừng lại. Tấm chắn hậu tự động thả xuống. Tôi nhìn thấy chiếc tầu đậu cách bờ một khoảng khá xa, có lẽ vì nước ròng nên không ghé sát được.

Từ trong lòng tầu nhìn lên bờ, dưới ánh đèn điện sáng trưng, tôi thấy đứng chật ních một hàng Công An áo vàng, dài cả mấy chục thước, mỗi tên dắt theo con chó berger cao gần tới hông. Con nào, con nấy thè lưỡi, đỏ lòm! Đó, chúng tôi được đón tiếp trên thước đất thứ nhất của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa ! Chó và Công An làm hàng rào danh dự! Chúng tôi lội bì bõm, nước ngập tới đầu gối, từ chiếc tầu đổ bộ vô bờ. Vì đeo quá nặng, có người ngã nghiêng xuống nước! Ánh điện chói chang sáng rực khoảng trời. Sự mắc điện ở nơi này chắc mới thực hiện, do sự có mặt của chúng tôi, vì khi đến bờ, nhìn chung quanh chỉ có vài căn nhà lá mới dựng, còn toàn là đồng ruộng.

Lên đến bờ, chúng tôi được hướng dẫn đến chiếc bàn, ở đây có những người đội mũ không vành trắng, mặc blouse, dài gần tới mắt cá chân. Người nào cũng cầm sẵn trong tay ống chích. Chúng tôi lần lượt đi qua, mỗi người nhận một mũi chích và 4 viên thuốc. Quá đấy mươi bước, có chiếc bàn khác, mỗi người lại nhận thêm 2 trái chuối, xong được dẫn đến bãi đất trống, ngồi nghỉ. Đã mấy ngày đêm, không tiêu tiểu, nhân dịp này, tôi xin phép đi. Tên bộ đội, chỉ chỗ ở phía mé sông. Bỏ túi đeo lưng xuống, nhờ anh em coi hộ, tôi đi ngay ra phia chỉ định. Thật sung sướng như chưa bao giờ sung suớng như vậy. Từ ngày đi học tập cải tạo, tôi mới được làm công việc tiêu hóa một cách thoải mái, mát mẻ như thế này. Không thối tha, ruồi muỗi, gió thổi hây hây!

Khi quay về, vừa kịp lúc anh em được chuyển đi nơi khác. Tôi xốc vội túi đeo lên vai, lúp xúp đi theo anh em. Chúng tôi di chuyển chừng 500 thước đến một căn nhà lón, như nhà kho. Đi vào bên trong, tôi chẳng thấy gì, ngoài đống lửa đã tàn, than còn đỏ hồng, thỉnh thoảng lại bùng lên khi có gió. Tên bộ đội chiếu đèn pin soi khắp chỗ. Dõi theo ánh đèn pin, chỗ nào cũng tro than ngập ngụa, tôi rùng mình khi nghĩ mình phải ngủ qua đêm tại chỗ này.

– Tối nay các anh nghỉ ở đây! Mọi người không được ra khỏi cửa. Khi cần, phải xin phép cán bộ cảnh vệ trước. Nếu được phép, mới di chuyểh, không tuân theo, các anh phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Nghe rõ chứ?

– Nghe rõ.

Tên bộ đội đi ra. Ánh đèn pin thoáng còn, thoáng mất chìm sâu vào bóng tối.

Cứ như vậy, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau, căn nhà rộng rinh, đã đầy người. Tôi “tranh thủ” buông mùng, trải tấm nylon xuống, ngả lưng cho đỡ mỏi sau mấy đêm ngủ ngồi. Cũng may, tối nay vừa đặt người xuống nằm lơ mơ, tôi ngủ lúc nào không hay!

mạnh hải flickr

Hôm sau, khi thức giấc, đống lửa đêm qua đã vạc, tuy nhiên vẫn còn hơi nóng. Chung quanh vắng lặng như tờ. Đi ra phía cửa, tôi cho tay đẩy nhẹ. Cánh cửa nặng mở hé! Tôi thò đầu nhìn ra ngoài, những đống than đá cao như núi rải rác đó đây. Một tên bộ đội đeo A.K. đứng cách căn nhà chừng 20 thước, đang cho chân đá những cục than vương vải, coi đó như trò giải trí! Xa hơn chút nữa, một dòng sông khá rộng, mặt nước phẳng lì, không bóng con thuyền xuôi ngược. Chiếc xà-lúp cũ kỹ đậu ở mé bờ chở đầy than đá. Phía bên kia, hàng cây xanh rì, vài mái nhà ẩn hiện. Ôi, quê hương tôi, sau mấy chục năm xa cách, buổi sáng nay được nhìn lại, tự dưng lòng thấy bồi hồì. Tôi chưa xác định được đây là đâu, thuộc tỉnh nào? Từ khe cửa, khó có thể quan sát cho đúng vị trí nơi mình có mặt, nhất là phong cảnh không gợi cho mình địa điểm. Tôi quay vào kéo hơi thuốc lào. Sau cơn ngây ngất, tôi cuốn mùng, gấp tấm nylon cho vào túi đeo lưng, gọn gàng. Nếu có lệnh di chuyển, đã sẵn sàng.

Trời sáng rõ, anh em thức giấc hết. Nhìn quang cảnh căn nhà phát sợ. Không hiểu sao tối qua tôi đã ngủ, giấc ngủ ngon lành? Ngoài tro than, còn biết bao nhiều giấy vụn, lá bánh, vỏ chuối, phân người lâu ngày đã khô, phân trâu bò v.v… Chắc căn nhà này đã có anh em chúng tôi ngủ qua đêm trong những đợt chuyển trại trước. Cánh cửa được mở rộng. Một tên bộ đội đi vào hỏi:

– Mấy anh Đội Trưởng đâu?

Các Đội Trưởng ra trình diện.

– Sáng nay, mấy anh được tư do nghỉ ngơi. Anh nào muốn tắm rửa có thể ra hố bom phía bên. Nếu giặt giũ phải phơi phóng có trật tự. Đi tiêu, tiểu phải qua khu đất trống, phía bên kia bờ cây thấp. Nghe rõ chưa?

– Nghe rõ!

Thấy được tắm rửa, giặt giũ , ai nấy mừng quá vội vàng mở túi lấy đồ. Tôi cũng làm như anh em, mang quần áo ra hố bom tắm giặt. Đường kính vũng nước khoảng 15 thước, nước khá trong, nếu nhìn từ xa. Chắc đây, hố bom do không quân Mỹ ném vào cuối năm 71. Khi đến gần, tôi thấy xung quanh đầy phân trâu bò. Nơi này thường ngày là chỗ trâu bò đầm mình. Những vết chân thú ăn sâu xuống đất bùn, còn in rõ. Nhưng, lấy nước làm sạch, chúng tôi cũng lội xuống giặt giũ, tăm rửa, có anh bơi vòng vòng, lăn ngụp như trong hồ bơi nhà “xéc”! Nước tù, lâu ngày bị khuấy, nên mùi nước thum thủm đưa lên mũi làm buồn mửa. Tôi kỳ cọ qua loa, giặt nhanh chiếc áo và quần lót xong đi lên. Khổ nỗi, chỗ lên lại ngập bùn, nên khi tắm xong, chân ngươi nào cũng như đi giầy ống phải phơi nắng cho khô, bóc lớp bùn đi, chứ không tìm đâu ra nước rửa!

Buổi trưa chiếc jeep kiểu Liên Xô chở đầy thùng lương khô, đậu ngay trước cửa. Các Đội Trưởng theo số người đến lĩnh. Sau đó, phát nước uống. Anh em người nào cũng chứa đầy bi-đông để dành, khi khát, cứ múc nước trong thùng. Cũng may trời nắng, quần áo chóng khô, tôi gấp lại cất đi. Bữa trưa, tôi không ăn lương khô mà bóc nốt gói mì được phát trên tầu ra ăn, chẳng cần ngâm nước. Lương khô khó nuốt lại hay khát nước! Gói mì đẩ nát ngướu, tôi đổ ra tay, đưa dần vào miệng. Bữa nay, ăn đã thấy ngon, có lẽ có thể bắt đầu làm quen với thời khắc và món ăn mới. Ăn xong, tôi uống ly nước đầy, làm một khói thuốc lào, rồi trải tấm nylon năm khèo. Quả thực tôi không quen thân với ai thuộc Đội 15 dù cho anh em đã cũng sống chung 7, 8 tháng trời tại Suối Máu. Do đó, nếu có chuyện trò cũng chỉ để nói chơi cho khuây khoả chứ không hề tâm sự. Trong hoàn cảnh này, thiếu người bạn thân, quả là thiệt thòi lớn.! Có tiếng giải thích về địa điểm, ngay gần chỗ tôi ngồi.

– Đây, bến Sáu Kho, bên kia, Hải Phòng!

– Sao ông biết?

– Tôi nhìn thấy dãy núi đổ đãi ra cửa biển Đồ Sơn. Khi trước, nơi đây là bến đò, bây giờ, căn cứ của Hải quân.

Tôi lắng nghe, để tìm hiểu đích xác nơi mình có mặt.

– Đéo biết rồi tụi nó đưa mình đi đâu. Các toán di chuyển trước đều phải qua đây cả, nên mới iả đái tùm lum, bẩn thỉu thế này. Anh em mình đi đâu, bê bối đấy!

– Đâu phải lỗi do mình, đêm nó không cho ra ngoài, làm sao đái iả? Túng phải tính chứ?

Tiếng nói chìm dần.

Buổi trưa không khí oi ả, chẳng ai ngủ được. Anh em lại quây quần nói chuyện, hút thuốc lào vặt. Vì mới xa miền Nam có mấy ngày nên số lượng thuốc lào chưa hao hụt bao nhiêu, anh em còn có thể mời nhau hút qua hút lại thoải mái. Nhưng dần dà về sau, thuốc lào “3 số 8” trở nên một món hàng đắt giá, vì thuốc lào miền Bắc, nơi thổ sản nổi tiếng như Vĩnh Bảo, Tiên Lãng nay là Thống Nhất, An Thái đều nhạt phèo hút như rơm vì đã thuộc Quốc Doanh.

Khoảng 5 giờ chỉều, chúng tôi được lệnh chuẩn bị. Quang cảnh căn nhà kho rộng như vậy tự nhiên thấy chật đi vì người qua, kẻ lại tấp nập. Tiếng giũ mền, giũ nylon phành phạch, bụi bay mù! Nhưng chỉ nửa giờ sau, căn nhà lại rộng rinh vì mọi người đã thu gọn hành trang, người nào đứng trước đồ vật của người đó. Lịnh tập họp được truyền đi. Anh em đeo hoặc gánh đã sẵn sàng. Tên bộ đội gọi từng Đội. Đội tôi ra gần chót.

Buổi chiều mùa hạ miền Bắc trong bối cảnh hoà bình, trông hiền hoà như bức tranh. Dòng sông chảy êm đềm phía trước mắt, mầu nước sáng hơn mầu trời, long lanh như tấm gương vĩ đại. Đằng xa hàng cây xanh mướt chạy dài tạo nên đường viền đăng-ten ở cuối chân trời. Đàn chim nhỏ bay lượn lờ như những cánh lá rơi theo chiều gió cuốn chưa chịu rớt, trông vui mắt. Chiếc thuyền nhỏ đang lướt trôi giữa dòng nước, gió thổi căng cánh buồm to bằng mảnh chiếu trông thật dễ thương! Tôi đi từng bước trên con lộ đen đúa đầy tro than. Khẩu A.K. luôn luôn chĩa về phía chúng tôi sẵn sàng khai hoả, nếu chúng tôi có hành động chống đối, cũng như hồi tối qua, bên bờ sông, nếu có ai chạy trốn sẽ bị Công An suỵt đàn chó berger xé xác!…

Nhìn qua cung cách đối xử của Nhà Nước Cộng Sản với chúng tôi, họa có ngu lắm mới không thấy rõ sự căm thù. Họ đã nói ra miệng: “Tội các anh, trời không dung, đất không tha, tre trúc không ghi hết, nước biển Đông không rửa sạch, Cách Mạng không bao giờ quên mối thù này đâu!”

Đang di chuyển, bỗng nhiên tôi nghe tiếng chỉ đứt. Một bên vai nhẹ hẫng.

– Chết cha! Tôi kêu lên, nhưng đã muộn! Một bên quai đeo đã rời khỏi túi vải. Chiếc túi sà xuống, làm người tôi bị lệch, rất khó đi. Trong lòng vô cùng bối rối, không biết phải giải quyết ra sao trong tình huống này? Anh em vẫn di chuyển đều một nhịp. Tôi chậm bước tụt lại phía sau. Tên bộ đội giục:

– Anh kia, đi mau “nên” chứ?..

Tôi cố gắng đi nhanh, nhưng không cách nào đều bước được. Chỉ một quãng đường là đuối sức. Tôi bỏ nốt chiếc quai còn lại ra khỏi vai, dùng hai tay đưa nó lên vai, như vác bao gạo. Thấy dễ chịu hơn lúc trước, tôi chạy lúp xúp mong đuổi kịp anh em đã bỏ xa cả mấy chục thước. Tên bộ đội bám sát luôn luôn giục giã . Khi bắt kịp anh em, tôi cảm thấy những bước chân đã lảo đảo không còn chính xác nữa. Tôi muốn quăng đại chiếc túi đeo lưng ở giữa đường, đi tay không cho nhẹ nhàng. Tuy nghĩ vậy, nhưng thực tế, lại không dám, vì vứt dễ, nhưng sau khi vứt rồi, lấy gì dùng? Tôi mong chóng đến điểm dừng, để có thời giờ buộc lại chiếc túi, nhưng sao đi hoài chẳng tới! Tôi thở dốc từng cơn, tiếng thở mệt nhọc như kẻ sắp trút hơi thở cuối cùng, vĩnh biệt cuộc đời! Bỗng nhiên, chân tôi khuyu xuống, chiếc túi đeo lưng lăn ra xa. Anh em cứ mải miết đi, không ai ngó lại Tên bộ đội cứ luôn miệng “mau nên”. Tôi buồn và tức quá thốt ra tiếng nói khẽ, bực bội: “mau cái con c…!” Tôi lồm cồm đứng dậy, chạy ra phía chiếc túi cúi xuống vác lên. Lần này tôi ôm nó ngang bụng, như ôm đứa bé con 6,7 tuổi. Cũng chỉ vài chục bước, hai cánh tay rã rời, buông nó xuống. Cũng may vừa lúc đó tôi nhìn thấy anh em đã dừng lại, kẻ đứng người ngồi cách tôi khoảng 50 thước. Trời bắt đầu tối. Bóng đêm nuốt dần cảnh trí như con quái vật khổng lồ nuốt con mồi. Có bóng nguời chạy lại phía tôi, khi đến gần, nhận ra Quân, người bạn trẻ ngồi gần tôi trên tầu Sông Hưng. Không hiểu sao Quân lại nhập vào Đội tôi, và từ lúc nào?

– Bố già, để con vác dùm. Bố cứ đi tay không đến chỗ anh em tập họp.

Quân vác chiếc túi của tôi lên vai nhẹ nhàng như vác chiếc bao giấy. Nhìn Quân, tôi biết mình đã già!… Quân đặt chiếc túi đeo lưng xuống, rồi nhìn tôi cười. Ngồi thụp xuống, tôi cầm sội dây quai tìm hiểu vì sao nó đứt? Khi ở Suối Máu, tôi đã chiu khó tháo từng sợi chỉ trong chiếc dây đeo băng đẹn của quân đội Mỹ. Những sợi chỉ tháo từ sợi dây này rất chắc, thế mà cũng không chịu nổi sức nặng, đã đứt bung. Tôi cố tìm cách buộc lại để đeo đỡ, chờ lúc nào có hoàn cảnh sẽ khâu lại. Mệt quá, tôi nằm lăn ra bãi cỏ đầy tro than. Trên chiếc “cầu cao” có mấy người, cả đàn ông lẫn đàn bà, đang xúc than đổ vào chiếc xà-lan phía dưới. Tiếng nói cười của họ làm không khí nơi đây đỡ phần u uất. Chắc họ biết rõ chúng tôi, những người khách lạ, nên họ vừa làm vừa nhìn xuống, nói với nhau những gì, không nghe rõ! Tên bộ đội đứng lởn vởn phía xa, có lẽ, đây là phần đất an toàn, nên họ không cần canh phòng cẩn mật như ở trong Nam.

– Đi xe lửa đó anh em!

mạnh hải flickr

Một tiếng nói cất lên, không đoán được do ai? Tiếng điếu cầy lại rít ren réc đó đây. Mỗi lần nghỉ, anh em chẳng biết làm gì để khuây khỏa ngoài điếu thuốc. Chúng tôi kẻ nằm, người ngồi lổn nhổn. Tiếng nói chuyện thì thào, to nhỏ. Tôi nhìn lên trời. Mầu mây đen kịt như tảng hắc ín vĩ đại, không một ánh sao. Từ phía xa, thỉnh thoảng có lằn chớp lóe lên như ảo ảnh. Tôi nhìn đồng hồ, đã gần 9 giờ tối. Những toa tầu chở súc vật khi trước nay dùng chở than nhem nhuốc, nằm im lìm trên đường rầy trông như một dãy hang nhỏ. Tôi nghĩ, lát nữa đây, chúng tôi sẽ lên các toa tầu, có ghế ngồi thoải mái. Con tầu, hồi còn trẻ, tôi đã đi từ Hà-nội xuống Hải Phòng. Nó không hiện đại như những con tầu của các quốc gia tiên tiến mà tôi đã có dịp được biết, nhưng còn hơn ngồi bó gối mấy ngày đêm trong căn hầm chiếc Sông Hương, trông bề ngoài rất đẹp đẽ, hiền hoà, mà trong lòng nó là hỏa ngục!

Có tiếng còi tầu rúc từ xa. Tôi nghe tiếng máy chạy xình xịch đều đều rõ dần. Hình như họ đang dồn toa. Ánh đèn đỏ báo hiệu lúc lắc, chao qua chao lại như mời gọi! Tiếng động rầm rầm, do sự nối toa tạo nên. Những chiếc toa đen sát chỗ chúng tôi bỗng lùi lại chạy tuốt về phía sau, móc vào chiếc toa khác, có đèn sáng trưng. Tôi chú ý nhìn về phía đó. Trong chiếc toa sáng đèn có nhiều tên bộ đội trang bị vũ khí đứng lổn nhổn, có đứa thò đầu ra ngó lên vòm trời.

Một toán bộ đội đi lần theo đường sắt, chiếu đèn pin nhìn vào mỗi toa để kiểm soát. Chúng để lại ở mỗi toa một tên vũ trang, đứng ngay lối lên. Chừng 15 phút sau, hồi còi rúc vang. Sau hồi còi, tên bộ đội vũ trang cho lệnh chúng tôi lên tầu. Những chiếc toa đen dơ dáy ít phút trước đây, tôi trông giống như chiếc hang, nay chúng tôi được lệnh leo lên, mỗi bên 25 người, hành trang để ở ngăn giữa. Tên bộ đội có sắc mặt lạnh lùng. Từng người lần lượt leo lên. Đội Trưởng đếm số người chia đều cho mỗi bên. Trong mỗi ngăn chỉ có chiếc cửa sổ nhỏ khá cao, phải đứng kiểng chân mới nhìn ra ngoài được. Nếu người nào cao không quá 1 thước 60, khỏi nhìn. Vừa leo lên, đã biết ngay tối nay lại phải sống trong đia ngục! Một đêm trắng sẽ trôi qua với muôn vạn nhục nhằn! 25 người chen chúc trong một ô vuông quá chật, do đó mọi người lại ngồi sát nhau, bó gối. Trong toa không một ngọn đèn, tối và nóng nực vô cùng. Có người mới lên đã không chịu nổi không khí ngột ngạt, cứ nghểnh cổ ghé mặt sát chiếc cửa sổ nhỏ trên cao giăng mắt cáo để thở. Cánh cửa được kéo lại, chỉ còn để hở khe, chừng 10 phân. Một sợi dây xích luồn qua và chiếc ổ khóa lồng vô bóp lại. Tiếng “cách” báo cho biết chúng tôi đã hoàn toàn bị cô lập. Tên bộ đội từ ngoài nói vào:

– Các anh sẽ đái qua cái khe cửa này, còn iả vào túi nhựa, xong quăng ra ngoài, nghe rõ chứ?

Sau khi nghe tiếng “rõ”, những bước chân dẫm xào xạo trên sỏi đá nhỏ dần rồi mất hút! Chắc nó đã trở về chiếc toa sáng đèn với các phương tiện tối thiểu đã dành cho chúng.

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Chương III: Trên đường ra Bắc

Post by Sơn râu 15 May 2024

Phần 4

Sáng hôm sau, tôi tỉnh giấc khi ánh nắng đã chiếu sáng một bên khoang hầm. Qua đêm ngủ đầy giấc, trong người thấy bớt mệt mỏi. Tôi đưa hai tay lên cao, duỗi chận cho đỡ mỏi. Những khóp xương kêu lục cục sau mỗi cái vặn mình. Nằm kế bên, Hạnh mở hé mắt.

– Đêm qua Bố già ngủ ngon quá hé?

– Mất ngủ sao? chắc ban ngày bạn làm một giấc quá xá, chứ gì?

– Có lẽ vậy! Cả đêm chập chờn. Thức lâu mới biết đêm dài thật, nhất là đêm dưới căn hầm này! Bố già cho xin bi thuốc.

Cũng như hôm qua, Hạnh kéo một hơi dài, hắn không say, hai con mắt chỉ lờ đờ chút ít.

– Bạn hút thuốc lào đã lâu chưa?

– Cũng mới biết hút, từ ngày đi tù, hết tiền mua thuốc lá. Có thể tôi lạ lắm, rượu uống không say, thuốc gì hút cũng không say kể cả á phiện. Âu đó, cũng là một thiệt thòi, vì không say là mất đi cái hứng thú. Cũng do đó, tôi ít uống rượu, ít hút thuốc, mỗi ngày chỉ hút một hai lần, có cũng được, không chẳng sao?

– Thế bạn nghiện cái gì?

– Lúc trước, nghiện đàn bà, nhưng từ ngày vào tù, vấn đề đó coi như cai hẳn. Không nhắc, chẳng nghĩ tới !

Tôi rất đồng ý với Hạnh về vấn đề này. Trong hơn một năm đi học tập cải tạo, tôi chưa hề nghe thấy ai nói tới đàn bà, dù người trẻ nhất. Vấn đề sinh lý có lẽ, bị quên lảng vì mọi người như bị cuốn hút vào môi trường đặc biệt. Ở đấy lo âu, buồn phiền làm tê liệt những sợi dây thần kinh sinh lý ! Hạnh phanh áo. Lồng ngục nở nang, trông như pho tượng. Với sức mạnh và tuổi trẻ như vậy, phải cúi mình tuân theo kỷ luật của những tên lính Cộng Sản nhà quê, quả thực một nhục nhằn!

– Bố già còn gì ăn không ? Đêm không ngủ, đói quá!

Tôi đưa Hạnh cục lương khô còn lại. Hắn bóc giấy ăn ngon lành, không cần chiêu nước!

– Này, Bố già có đồng ý với tôi, hơn năm nay tụi mình được nghỉ xả hơi không?

– Thôi bạn a, tôi không thích cái kiểu nghỉ này chút nào!

– Dù thích hay không, Bố già cũng phải thừa nhận rằng, lúc trước mình làm việc bỏ cha. Lúc nào cũng công tác, cũng nhận lệnh này, lệnh nọ. Về Saigon chưa nghỉ được mấy bữa, lại cầm sự vụ lệnh hành quân! Lại chuẩn bị lên đường, sống cả tháng trong rừng già biên giới, đụng chạm với sống chết mỗi ngày. Tiên sư tụi Cộng Sản, khi nó “lên lớp”, nó bảo mình là “giai cấp ăn bám” được hưởng đặc quyền, đặc lợi, giai cấp “nắng không ưa, mưa không chịu, mát trời đi chơi!”, Bố già nghĩ có tức không?

– Nó nói tuy không đúng 100%, nhưng cũng chẳng sai, nếu áp dụng cho một số người ở miền Nam trước đây. Trong lúc các chiến sĩ đang chiến đấu gian khổ ở khắp chiến trường thì Thủ Đô vẫn sống phây phây, ai có tiền cứ ăn chơi phè phỡn. Những chiếc xe hơi mới nhất, chạy bon bon đầy phố, trên chở những khuôn mặt phì nộn ngập bơ sữa. Những căn phòng gắn máy điều hòa không khí vừa dùng làm việc, vừa để du hí. Các ngân hàng thi nhau mọc với lãi xuất cao! Các câu lạc bộ tại các Bộ Tư Lệnh hằng đêm vẫn tổ chúc dạ vũ cho Tướng, Tá ăn chơi. Những màn vũ sexy hay Strip-Tease khiêu dâm! Những hộp đêm, những sòng bài mạt chưọc, xì-phé thâu đêm, suốt sáng, từ ngày này qua ngày khác. Làm việc sáng tạo thì không, chạy áp phe nước bọt lúc nào cũng tấp nập, hỏi làm sao quân đội có tinh thần chiến đấu, xã hội thăng tiến?

– Ờ nhỉ!

Hạnh nhìn tôi, như chợt phát giác ra điều gì mới lạ, rồi tiếp:

– Vì cái đó, mình thua sao, Bố già?

– Không hẳn vậy, nhưng nói để chứng minh sự đánh giá của kẻ thù không có gì quá đáng đâu!

Tôi cầm điếu, nhồi thuốc đưa lên môi. Theo sau tiếng điếu rít, một bụm khói trắng đục tỏa dầy. Vì không có gió nên khói vương vất đó đây trước khi tan hẳn vào không khí.

Sau gần 40 tiếng đồng hồ, không đái ỉa, trong người thấy nôn nao. Tôi đứng dậy, nhìn về phía cầu thang. Đám người đứng lổn nhổn. Thấy ngại, nhưng dù sao cũng phải cố gắng “một lần cho xong”. Tôi tìm chỗ, đặt từng bước chân dè đặt. Mỗi bước chân, nếu sơ ý, có thể gây nên hậu quả không hay. Đoạn đường từ chỗ tôi đến cầu thang, nếu đường thẳng, không quá 30 bước, nhưng lúc này sao nó xa thăm thẳm, quá gian nan?

– Không có mắt à? Đi dẫm cả lên đồ của người ta vậy?

– Xin lỗi, xin lỗi!

– Xin lỗi, cái đéo gì! Đi phải nhìn chứ?

Tôi thấy không nên trả lời trong hoàn cảnh này, im lặng là vàng, nên mặc ai muốn chửi cứ chửi, tôi vẫn cứ len lỏi từng bước. Sau cùng cũng đến được chân thang.

Lần thứ nhất, tôi đến đây làm “công tác vệ sinh”. Khi ở Suối Máu, sự chờ đợi đi cầu mỗi sáng đã làm con người khốn khổ, nhưng chỉ khốn khổ trong sự đợi chờ do tên cảnh vệ làm khó. Đằng nay chính anh em làm khó, trong lúc cùng chung cảnh ngộ!

– Đù mẹ, ỉa gì lâu quá vậy? Còn ăn nữa sao?

Sự chờ đợi làm con người dễ bực tức. Đi đái lâu cũng bị chửi, đi iả lâu cũng bị chửi. Anh nào đi đái, còn có hy vọng lên sớm một chút, anh nào đi cầu chỉ chờ mà chết! Riêng tôi, biết rằng chết, vẫn cố chờ. Chừng nửa giờ sau, tôi đã nắm được cái gióng sắt thứ nhất của chiếc cầu thang. Chỉ còn một người nữa đến lượt mình. Phía sau tôi, đã đứng đông nghẹt, mặt mũi người nào cũng nhăn nhó, khổ sở. Không hiểu sao, mãi chưa có người xuống. Một tiếng hét:

– Mau lên, chờ vãi ra quần rồi!

Không tiếng trả lời. Một lát, có người đi xuống, mặt mũi cũng không vui vẻ gì, chẳng biết anh ta đã trút xong gánh nợ đời chưa? Người đứng trước tôi leo nhanh hai bậc một. Anh này lên rồi, cũng chẳng xuống nhanh hơn. Tôi chờ muốn hụt hơi. Nhưng rồi anh cũng xuống. Mặt mũi anh này khá hơn chút đỉnh. Vì không đến nổi gấp gáp, tôi leo từng bước một, vã lại, chiếc cầu thang hơi dốc, sợ trượt chân. Tiếng nói theo sau.

– Lẹ lẹ, nghe ông!

– Yên chí!

Tuy nói vậy, nhưng không tin mình có thể xuống mau hơn mọi người.

Khi leo hết cầu thang, tôi quẹo mấy bước về phía trái. Một chiếc thùng “phuy” đặt sát vách, bên dưới có chiếc thùng gỗ dùng làm bậc bước. Tôi leo lên. Tự nhiên người chao nghiêng, tôi phải chống tay vào vách cho khỏi té. Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Nước tiểu làm ướt từng vũng. Chờ cho cơn sóng qua đi, tôi lại leo. Khi đã ngồi yên trên miệng “phuy”, người cứ chao qua, chao lại liên hồi, làm tắc nghẽn cả đường tiêu lẫn tiểu. Hai bàn chân bắt đầu đau vì bị mép thùng nghiến, nếu sơ ý có thể bị lọt xuống! Trường hợp này không biết sao nói! Thấy khó quá, ngồi lâu cũng vô ích, tôi đứng dậy bước xuống. Một cơn sóng lại làm tôi khựng lại.

Tôi vịn tay vào vách, bước liều xuống. Khi hai chân đã đặt vững trên sàn sắt, tôi mới yên tâm! Sự vất vả trong cuộc “hành trình gian khổ” coi như vô ích! Tôi chưa thực hiện được phần nào ý muốn.

Nhìn thấy tôi, nhiều tiếng nói:

– Đó, cứ như ông này, anh em đâu có khổ vì chờ! Nên theo gương tốt, nghe chưa các ông? Thôi, ông này, leo lẹ lên!

mạnh hải flickr

Tôi chẳng biết nên cười hay nên khóc vì chỉ riêng tôi mới rõ được lòng mình! Tôi lê đôi dép đầy nước tiểu trở về. Con đường trở về, gian nan không thua gì lúc đi. Cũng tiếng cằn nhằn xen lẫn câu chửi thề, kèm theo những cái nhìn tóe lửa. Tôi vẫn giữ im lặng, chẳng xin lỗi, cũng chẳng trả lời. Tôi hoàn toàn thông cảm họ. Mỗi ngày họ phải chịu bao nhiêu bước chân nước tiểu dơ dáy, qua lại chỗ nằm, ngồi, hỏi làm sao không tức giận? Còn ban đêm tránh sao khỏi có người đi tiêu, tiểu bất tử làm mất giấc ngủ?

Nhưng tuy chửi bới hung hăng như vậy, chưa có vụ ấu đả nào! Đó là điều may.

Về đến chỗ, tôi thở phào, tự hứa, cố nhịn cho tới khi nào không nhịn được hãy hay!

– Nay ông Khánh, ông quan sát xem nó chạy hướng nào?

– Có lẽ, hướng Bắc quá! Từ sáng tôi để ý ánh nắng thấy chiếu từ huớng Đông. Để lát nữa, tôi xung phong lên đổ thùng phân, lúc ấy sẽ biết rõ!

– Bao giờ đổ?

– Lúc nãy nó kêu, chưa ai nhận!

Một chiếc đầu từ miệng hầm ngó xuống:

– Ê, anh nào lên đổ thùng phân. Sóng đánh tràn ra ngoài rồi!

Tôi nhìn thấy Khánh giơ cao tay:

-Có tôi! Cần anh nữa, theo tôi!

Không tiếng trả lời. Hạnh đột nhiên đứng lên:

– Tôi!

Nói xong, Hạnh cởi áo, xắn quần, bước ra khỏi chỗ.

– Bố già cho qua chút!

Tôi né người để Hạnh len qua mặt và đống đồ chật cứng.

Hai người bước những bước rộng, tiến đến phía cầu thang. Chẳng ai nói điều gì !Đám người chờ ở chân cầu thang nhớn nhác.

– Xin anh em đừng ai đi cầu nữa, để chúng tôi thi hành nhiệm vụ. Làm xong, sạch sẽ, anh em đi thả giàn.

Khánh vừa nói vừa trèo lên thang. Từ trên, một người vừa đi xuống vừa túm quần. Tôi ngóng chờ Khánh chóng làm xong công việc để biết kết quả!

Tôi kéo hơi thuốc lào. Vì trong người không được khỏe nên thuốc kém ngon!

– Bố cho mượn chút!

Thế là chiếc điếu của tôi lại đi chu du, chả biết bao giờ mới hoàn khổ chủ?

Tôi nhìn quanh. Những khuôn mặt đã phần nào quen thuộc. Tuổi trẻ lúc nào cũng đùa nghịch được. Họ nô giỡn, cười nói, hình như không quan tâm đến hoàn cảnh, dù lợi hay bất lợi cho họ. Con tầu đưa họ ra Côn Sơn hay Phú Quốc hoặc tới miền Bắc, họ cũng chẳng cần. Cuộc chiến đã tàn rồi. Cái chết không nằm kề bên nữa, nay chỉ còn sự sống, dù cho sự sống mất tự do, mất quyền làm người! Tuy không nói ra, nhưng ít nhiều gì họ cũng hy vọng, hết hạn 3 năm theo đúng chính sách đã in trên giấy trắng mực đen, họ sẽ được thả về, để từ đó, họ làm lại cuộc đời!

Tôi hỏi một người ngồi gần nhất:

– Nay anh bạn trẻ, tên gì nhỉ?

– Tên Quân, Bố!

– Có gia đình chưa?

– Dạ, có vợ, 3 con.

– Sao, lấy vợ sớm thế? Hãy còn trẻ mà! Đến 30 chưa?

– Đúng 30, sao Bố đoán hay thế?

– Cũng đoán mò thôi, Đại úy chưa?

– Mới Trung thôi, khóa 7/72 Thủ Đức mà! Ban 2 Tiểu Đoàn lên gì nổi?

– Cấp nhỏ, sao cũng đi đây?

– Đù mẹ, nó đưa đâu biết vậy. Từ Long Khánh đến Kà Tum, qua Hóc Môn, rồi lên tầu. Chán quá, muốn ra sao thì ra. Đéo cần, Bố há?

– Đến nước này, cần hay không cũng vậy thôi!

Giữa lúc đó, tôi nghe tiếng “ồ” từ cầu thang vọng lại. Tôi nhìn thấy Hạnh và Khánh, người ướt đẫm như vừa vớt dưới nước lên. Khánh cười toe toét.

– Đúng quá, đúng quá các ông ạ!

– Đúng sao? – Có tiếng hỏi.

– Ra Bắc chứ sao nữa. Tôi nhìn thấy dãy núi phía Đà Nẵng, nơi xưa kia tôi thường lái tầu qua lại, lầm sao được? Thôi, thế là dứt khoát!

Hạnh trở về chỗ, mở túi đồ lấy chiếc quần mới. Anh mượn tôi chiếc áo mưa thay khăn tắm. Sau khi thay quần xong, Hạnh ngồi xuống, xin tôi bi thuốc.

– Ê, anh nào mượn điếu, làm ơn cho lại nghe!

Chờ chừng 5 phút sau, chiếc điếu mới đến tay Hạnh. Anh nhồi thuốc kéo một hơi, vừa nhả khói vừa nói:

– Chao ôi, khiếp quá! Ngày mai xin chào thua, có hai đứa mà phải khiêng một phuy đầy cứt. Khiêng đếch nổi, phải vần dần. Xin thêm người, nó không cho. Khi đẩy được phuy cứt xuống biển, người mình cũng là thùng phân rồi! Đổ xong, lại rửa thùng, rửa phòng. Các bố đái ẩu, không chịu đái vô lỗ, đái mẹ nó ngay dưới sàn, như cái hồ nươc tiểu.

Hạnh dựng chiếc điếu ngay bên cạnh chỗ ngồi.

– Cái điếu này dính cứt rồi nhé, từ nay đừng ai mượn!

Tôi nhìn hai cánh tay Hạnh để trần, mỗi bên có xâm một con rồng. Mỗi lần cử động, thân con rồng nhúc nhích theo bắp thịt, trông thật linh động.

Giờ phát nước đã đến. Chiếc vòi nhựa lại được thả xuống. Hai tay cầm hai chiếc bi-đông, Hạnh đứng lên, tiến lại phía vòi nước. Chỉ một loáng, hai bi-đông đã đầy tràn. Hạnh quay nhanh người, nhìn tôi cười:

– Đó, Bố già xem, hôm qua lỡ một buổi. Từ nay cho tới lúc lên bờ, xin phục vụ Bố già hết mức ! Bố chịu chưa?

Kể từ phút Khánh cho biết, con tầu đang di chuyển về hướng Bắc, tôi chợt nghĩ đến “ân nhân” đã báo cho biết trước, nhưng tôi không tin. Tôi suy nghĩ hoài về vấn đề này. Tại sao họ đưa chúng tôi đi xa vậy? Ở ngoài đó có những nhà tù rộng và kiên cố lắm sao? Thế còn các trại tù Côn Sơn, Phú Quốc họ để làm gì? Những câu hỏi đó được đặt ra, tôi cố tìm cách trả lời sao cho hợp lý! Tôi đã xa miền Bắc hơn 20 năm. Với khoảng thời gian ấy, sau bức màn tre Cộng Sản đã làm những gì, nào tôi có biết? Cái guồng máy Công An của chế độ Cộng Sản chắc chắn đã nghiền nát những gì chống lại, hoặc có thể chống lại họ. Nếu họ có đưa chúng tôi ra Bắc cũng là để “cách ly” chúng tôi ra khỏi môi trường quen thuộc, không còn khả năng hoạt động, như cái cây bị bứng khỏi vùng đất màu, nếu không chết, cũng ngất ngư, chẳng hy vọng gì đơm hoa kết trái ! Cộng Sản vốn thâm độc, không từ chối hành động tàn ác nào, nếu hành động đó có lợi cho họ!

Thời gian qua tuy chậm nhưng cũng hết một ngày nữa dưới hầm. Hai bữa nay trời không mưa. Suốt ngày, một mảnh trời xanh ngắt hiện trên miệng hầm cho tới khi ánh chiều vụt tắt, ngọn đèn đỏ lòm bật sáng làm căn hầm càng nóng nực. Sau hai ngày một đêm sống chen chúc, người nào cũng biểu lộ sự chán mỏi qua dáng điệu. Họ ít nói, ít cười hơn hôm qua, ngay cả sự văng tục và chửi bới cũng đỡ gay gắt. Tôi nhìn sang bên, Hạnh đã ngả đầu vào bao đồ mắt nhắm lại. Không biết Hạnh ngủ hay thức, hoặc đang suy tính chuyện gì, tôi thấy không nên lên tiếng, có thể cắt đứt dòng suy nghĩ của hắn. Có thể Hạnh đang nghĩ tới kỷ niệm, có thể đang mưu tính việc trốn trại! Đôi lông mày cau lại như có điều gì bực tức!

Đêm nay, tôi cũng muốn đi vào giấc ngủ càng sớm càng tốt vì suy nghĩ nhiều, nhức đầu, chẳng đem lại kết quả nào vì trong hoàn cảnh này mình không có quyền quyết định! Tất cả đều do kẻ thù chi phối từ miếng ăn thức uống, giờ giấc và địa điểm đến, đi! Rồi mai đây, khi tỉnh giấc, có thể sẽ được lên bờ, một bến bờ xa lạ nào đó! Có thể vẫn ngồi đây trong căn hầm chật hẹp này, để chờ đợi bất cứ cái gì xảy đến!

mạnh hải flickr

Tiếng thở của Hạnh đều đều, tôi biết hắn đã ngủ. Tôi cũng nhắm mắt. Trong đầu tôi, tự nhiên quay cuồng từng chuỗi hình ảnh từ buổi ấu thơ tới hôm nay. Tôị thảng thốt bao nhiêu, khi gặp lại những kỷ niệm tưởng đã quên đi, ai ngờ bây giờ lại hiện lên rõ ràng như mới xẩy ra hồi hôm. Tôi nghe nói, trước khi lìa khỏi cuộc đời, mỗi con người đều có sự hồì tưởng như vậy. Nó là cuộn phim trung thực nhất, chỉ chiếu riêng cho mình xem, cả tốt lẫn xấu đều được phô bầy, nhưng đã quá muộn để hối hận hay tiếc nuối!.. Tôi đi vào giấc ngủ và ước mong nó là giấc ngủ cuối cùng!…

Tôi thức giấc từ sớm. Bầu trời trên miệng hầm còn tối đen. Thỉnh thoảng có một ngôi sao xa lắc thoáng hiện rồi mất hút… Tầu vẫn đang chạy. Chiếc tầu Sông Hương khá lớn nên không bị ảnh hưởng nhiều của sóng gió đại dương. Tôi quơ tay tìm điếu, nhồi thuốc. Điếu thuốc đầu tiên trong ngày bao giờ cũng vậy, gây sự đê mê, thích thú. Bên cạnh, Hạnh vẫn ngủ say như các anh em xung quanh. Từ cuối hầm, phía gần cầu thang, cũng có vài đốm lửa vụt sáng, vụt tối. Tiếng ngáp kéo dài như muốn trút hết mệt mỏi sau một đêm ngủ không thoải mái.

Mầu trời đã lờ mờ sau miệng hầm. Tên bộ đội, đeo A.K., thò đầu nhòm xuống. Hắn không đội mũ, mái tóc bị gió thổi rối bù. Từ dưới nhìn lên, không rõ mặt, nhưng tôi biết các tên lính Cộng Sản đều trẻ, trong hạn tuổi nghĩa vụ ! Sự căm thù giữa những tên lính Cộng Sản và chúng tôi nếu có, chẳng qua do tuyên truyền khích động của Đảng và Nhà Nước, chứ riêng con người, dù Nam, dù Bắc, chưa gặp nhau lần nào, làm sao có thể nhìn nhau bằng con mắt thù hận? Chỉ trừ những ai đã đụng chạm chiến trận hoặc có bà con, anh em bị chiến tranh làm thiệt hại về sinh mạng hay vật chất, lúc ấy, lòng căm thù mới có lý do phát động!

– Bố già thức sớm thế? – Hạnh vươn vai, những khớp xương kêu răng rắc!

– Tối qua ngủ sớm, đẫy giấc là dậy! Không biết bữa nay cặp bến chưa?

– Cái đó, phải hỏi ông Khánh Hải Quân!

Tôi quay đầu nhìn về phía Khánh. Hắn còn ngồi nguyên chỗ, mắt vẫn nhắm.

Đã hai đêm, hai ngày, “công tác vệ sinh” cá nhân, tôi vẫn chưa thực hiện được. Tôi cảm thấy trong người bồn chồn, bực bội, nhưng nghĩ đến “đoạn đường gian khổ” cần phải vượt, lại thấy ngại ngần. Thôi, cố nhịn, sớm muộn gì bữa nay cũng tới bờ, lúc đó giải quyết, chưa muộn! Cố quên đi, nghĩ sang chuyện khác, vừa lúc đó tôi nghe tiếng Khánh kêu mệt vì đêm qua khó ngủ.

– Bạn Khánh ơi! Sao, bữa nay có thể cặp bến được không?

– Cái đó hơi khó đoán đấy các cụ ạ! Vì chiếc tầu này có thể ghé hai bến, một Vinh, hai Hải Phòng. Chẳng hiểu họ ghé bến nào? Nếu Vinh có hy vọng đến sớm.

– Hôm qua lên boong, ông có đoán được tốc lực của nó không?

– Khoảng 25 hải lý một giờ tối đa. Cũng may, mấy bữa nay biển êm.

Khối người dồn nén dưới căn hầm lại tìm cách nhúc nhích cho đỡ mỏi. Tiếng nói cười tuy không còn ròn rã như hôm trước, nhưng cũng đủ làm căn hầm nhộn nhịp. Tôi muốn xếp lại túi hành trang, sao cho gọn để dễ dàng trong việc di chuyển, nên ngỏ ý nhờ Hạnh giúp một tay. Hạnh sẵn lòng, cố thu hẹp nơi ngồi để đủ chỗ cho tôi đặt chiếc túi vải đeo lưng. Tôi bỏ ra từng thứ trước mặt.

– Sao mang lắm thế này? Bố già không té xuống sông lúc leo thang là may lắm đó!

– Ấy, đã vứt nhiều trước khi đi rồi đấy!

– Phải vứt nữa, nếu Bố già không muốn gục xuống giữa đường!

Tôi ngửng nhìn Hạnh:

– Vứt hết, lấy gì dùng?

– Bố không thấy chúng tôi hành quân sao? Sống cả tháng trong rừng già, mang nặng cả quần áo, thuốc men, dụng cụ, vũ khí và lương thực không quá 20k. Nhiều lúc còn quăng bớt cho đỡ nặng, đỡ vướng gai góc. Di chuyển đến đâu, phải xóa dấu tích đến đấy, nên chậm lắm. Mang nặng, lúc cần vứt hết, cũng vậy thôi!

Tôi không nói gì cứ lẳng lặng thu xếp từng thứ một. Gói thuốc Lan đưa, tôi để riêng một nơi, để khi cần tìm cho dễ. Thấy tôi như vậy, Hạnh không nói thêm. Tất cả đã được dồn vào một túi, như trước khi rời Suối Máu, chưa bị khám xét. Tôi nhờ Hạnh nâng lên khoác thử vào vai. Kể cũng hơi nặng, nhưng không sao vì tôi tin, đi đâu rồi cũng có tầu, xe. Lo gì! Có xa lắm cũng chỉ đeo từ vài trăm thước đến 1 cây số là cùng! Tôi đặt chiếc túi đeo lưng xuống, ngồi dựa lưng vào. Chiếc túi cao đụng đến vai.

Đây, ngày thứ ba, chúng tôi sống trong hầm tầu.

Nhìn ánh nắng xê dịch dần trên vách sắt, chúng tôi không còn nghi ngờ gì, con tầu đang tiến dần về phía Bắc. Bây giờ mọi người chỉ còn mong giờ tầu cặp bến để thoát khỏi cảnh chật chội. Chúng tôi sống như nhưng con vật trước giờ đưa đến lò sát sinh. Mỗi lần chuyển trại, hình như Cộng Sản lại cố tình “leo thang”, đẩy chúng tôi vào môi trường khốn khổ hơn, bắt buộc chúng tôi phải chấp nhận. Tôi nghĩ, đó cũng là nghệ thuật đầy ải con người, làm nó quen dần. từng bước một, từ thấp đến cao, từ dễ tới khó ! Ở Long Giao, nếu Cộng Sản bắt mọi người phải làm Bản Tự Khai ngay sau khi nhập trại, chắc chắn họ sẽ nhận được một số lượng đông đảo Bản Tự Khai bố láo, bố lếu không thành khẩn ! Nhưng họ đã khôn ngoan, cho chúng tôi thảo luận, nói cho sướng miệng, rồi từ đó, siết dần lại qua kỹ thuật khai thác, làm mọi ngườii về sau, có muốn khai man cũng e dè vì đã trót công khai nói ra hết rồi! Cái kỹ thuật khai thác này, Cộng sản Việt Nam học được của Liên Xô và Trung Cộng, thêm vào cái xảo trá, quỷ quyệt của riêng mình làm nó càng hiệu quả!

Từ Long Giao chúng tôi chuyển về Suối Máu, nay lên tầu ra Bắc, từng bước một, Cộng Sản đã dẫn dắt chúng tôi đi lần xuống đáy Địa Ngục.

Vào khoảng xế chiều, con tầu bỗng đứng lại, đổi hướng. Tiếng Khánh nói to:

– Cặp bến đó, anh em!

– Sao ông biết?

– Nghề của tụi tôi mà!

Lối thoát cuối cùng

Constant Virgil Gheorghiu

Dịch giả: Hằng Hà Sa và Bích Ty

Post by Sơn râu 15 May 2024

8. Cuốn Sách Của Sự Lùi Vào Bóng Đêm

Bác sĩ Ante Petrovici là người sung sướng nhất trong số những kẻ phải di cư khỏi Âu Châu. Trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, ông ta đã trở thành một nhân vật nổi danh của xứ Á Căn Đình nhờ làm giám đốc hãng chế tạo đồng hồ khổng lồ ở Châu Mỹ La Tinh.

Trong mọi nhà ở Á Căn Đình đều có đồng hồ báo thức, đồng hồ treo, đồng hồ đeo tay do hãng ông ta chế tạo, nên Ante Petrovici rất giàu và đương nhiên trở thành một công dân Á Căn Đình từ lâu. Bạn bè ông ta thúc đẩy ông ta vào chính trị.

Một hôm, như thường lệ ông ta đến thăm khu kỹ nghệ đồng hồ khổng lồ và tối tân chỉ vừa mới hoàn thành trong mấy tháng nay. Ông ta đi khắp các văn phòng, các cơ xưởng, các cơ sở báo chí. Petrovici ăn mặc rất chỉnh tề, thợ thuyền vui vẻ thăm hỏi ông ta. Sự thành công trong đời ông ta thật là hiếm hoi, ông ta bắt đầu làm việc với hai bàn tay trắng và chỉ trong vài năm ông ta đã trở thành chủ nhân của một xí nghiệp vĩ đại. Vào phòng, ông ta đọc cho thư ký viết những bức thư cấp tốc, xong bước ra đường. Tài xế lái xe đến khu biệt thự của thành phố Buenos Aires và đứng trước cổng nhà có để giòng chữ: Bệnh viện tư chuyên trị các bệnh thần kinh của bác sĩ Brünn. Tài xế lái xe trở về hãng, Bác sĩ Petrovici cảm động bước vào bệnh viện một mình.

Bác sĩ Rudolf Brünn giám đốc bệnh viện là một người Thụy Sĩ và là bạn thân của Ante Petrovici, Brünn cùng trạc tuổi với Petrovici nhưng dáng dấp to lớn, thuộc dòng Thụy Sĩ ham công việc, theo đạo Tin Lành biết tiết kiệm, thích thơ văn và rất ngoan đạo. Petrovici ngồi một mình trong phòng khách với bác sĩ Brünn. Petrovici lo ngại:

– Tôi đã tìm cách để hành lý của tôi đi được vào chuyến sáng nay. Sự việc đã hết sức rõ ràng, hôm qua tôi đã nói chuyện với ông giám đốc sở cảnh sát và được biết là kể từ hôm nay, không biết lúc nào sẽ có trát đòi tôi. Những lý đó buộc tội là : Khai man trước ủy ban di cư và nhập tịch, khai man trước bộ thương mãi và kỹ nghệ, khai man trước bộ nội vụ. Biên bản đã lập xong, người ta đang chờ để bắt tôi, bỏ tù và tống khứ tôi ra khỏi xứ nầy.

– Đừng nói quá ra chứ, người ta không thể kết tội anh vì các lời khai man đó được, dù anh thật sự có giả mạo các ngày tháng để có thể di cư. Đó chỉ là một sự giả mạo trong lúc quá tuyệt vọng chứ không có ý xấu nào cả. Từ khi mới đến đây, anh đã có thể hòa mình vào xã hội này và đã trở thành một nhân vật tăm tiếng. Quốc gia nào cũng cần người như anh. Trường hợp anh sẽ được đưa ra trước Nghị viện. Hôm qua, tổng thống cũng đã có bảo đảm là việc này thế nào cũng được xếp lại, giấy tờ của anh sẽ được điều chỉnh và anh lại giữ vững địa vị của mình trong xã hội này, lo gì.

– Nhưng trong lúc chờ đợi, tôi sẽ bị bắt, tôi không thể chịu đựng nổi cảnh tù tội nữa, điên lên mất thôi.

– Không, anh không bị bắt đâu. Trong lúc này anh cứ ở lại đây trong nhà thương của tôi cho đến lúc chính phủ tha cho anh. Không ai được bắt anh trong nhà thương. Trong kinh cựu ước có ghi rằng Moise đã đòi hỏi con người phải lập nên những thành phố tị nạn trong quốc gia họ để cho những người bị theo dõi một cách bất công đến trú ẩn. Trái với thời đại kinh thánh, xã hội hiện đại không còn nghĩ gì đến con người nữa. Ngày nay những người vô tội bị luật lệ hành hạ như là lũ chó sói chuyên ăn thịt người. Những nơi con người có thể được che chở chống lại luật lệ là những cơ sở như bệnh viện của tôi đây. Anh sẽ được tiếp đãi tử tế ở đây, yên chí đi nghe ông bạn…

Ante Petrovici nhìn chiếc đồng hồ treo trên tường, đúng là đồng hồ do ông ta chế tạo. Nhìn vào gương, trông thấy mình đã già, đôi mắt đã mờ. Ông ta buồn bã nói:

– Nào tôi có ngờ là một ngày nào đó tôi phải ẩn thân trong một nhà thương điên. Công việc anh làm đối với tôi thật là quái gở, anh là chủ nhân một nhà đầy nhóc lũ điên. Bệnh viện anh là một ngôi mộ của những bóng ma trên dương thế. Thế mà tôi không đến ở đây thì người ta sẽ bắt tôi. Người ta bắt tôi ở bất cứ nơi nào, ở nhà, ở xưởng, ở ngoài đường phố, và tôi phải đến đây. Sung sướng thay, trong vũ trụ còn có những nơi như thế nầy mà cảnh sát không xâm nhập được. Tôi đồng ý với anh là chỉ có một nơi có thể chống lại luật pháp ngày nay, là nhà thương điên. Ở đây luật lệ bất lực, người điên là người tự do, là một người không bị luật lệ đay nghiến hành hạ. Đó là lối thoát sau cùng cho con người muốn thoát khỏi luật pháp.

Rudolf Brünn thấy bạn có vẻ bị sốt và yêu cầu Petrovici đi nằm nghỉ. Nhưng Ante Petrovici không chịu:

– Anh nghĩ với bao nhiêu là thử thách phiêu lưu trong đời, đương nhiên là tôi phải run sợ chứ, cần gì phải đau ốm mới run. Cũng không cần bị cao nhiệt mắt mới đỏ ngầu. Để trốn thoát khỏi Âu châu mà tôi đã bị chết dần chết mòn ở đó, tôi phải làm giả mạo giấy tờ, phải giấu kỹ là chân phải tôi ngắn hơn vài ly mét, là tôi nhiều tuổi hơn lời khai, là tôi cao 1m57 thay vì 1m60, là tôi không có đạo Thiên Chúa, và các điều đó có làm hại ai đâu, nhất là không làm hại cho tổ quốc mới của tôi.

Những thiếu sót mà vì đó tôi không được di cư chăng nữa nào có cấm tôi tạo nên xưởng kỹ nghệ đồng hồ nầy, đem lại việc làm cho hàng ngàn người ở đây, tạo nên một thứ kỹ nghệ mới, kiếm được tiền và vinh quang.

Những sự kiện trên đã chứng tỏ là tôi có thể là một thành phần có ích cho xã hội ngay cả với lòng bàn chân bất thường của tôi. Nhưng luật lệ lại muốn đi ngược lại với sự thật đó, xua đuổi tôi cho dù luật lệ đó đã hoàn toàn trái với thực tế. Tại sao lại không cho phép tôi di cư chỉ vì tôi thiếu cái lõm nơi lòng bàn chân? Bằng cớ là một người thiếu lòng bàn chân như tôi vẫn tạo dựng nên một cái gì cho xã hội rồi đó. Một người hư răng cũng có thể có ích cho xã hội chứ, và tôi đã làm việc có ích, tại sao luật lệ lại theo đuổi tôi như thế. Chỉ vì nó là luật lệ ư? Không thể được. Lý do đó chưa đủ.

Hai người bước ra vườn. Petrovici lại nói thêm:

– Nếu anh hiểu được là tôi đã khổ sở đến mức nào từ lúc tôi đặt chân đến Á Căn Đình. Nếu gặp cảnh sát ngoài phố, tôi phải dừng lại để hắn ta đừng thấy tôi đi cà nhắc. Nếu tôi vào văn phòng hay đến nơi công cộng tôi phải ngồi xuống ngay, vì sợ đứng lâu người ta sẽ thấy tôi thấp hơn là chiều cao trong giấy tờ đến ba phân mét. Với những người đàn bà tôi yêu thích, tôi đều nghi ngờ là họ có thể tố cáo tôi là một người có đạo Hồi giáo, cho nên tôi phải xa lánh tất cả đàn bà. Tôi muốn đến trước Tổng thống và thú nhận tất cả để xin ông ta tha cho tất cả những tội giả mạo của tôi trước khi di cư. Tôi đã không đủ can đảm, bây giờ thì muộn quá mất rồi. Tôi đành phải ẩn thân chung với người điên hay là bị tù và bị xua đuổi. Hoặc thế nầy hoặc thế kia, tôi mệt quá rồi, tôi không còn phấn đấu được nữa.

Bác sĩ Rudolf cầm cánh tay Petrovici:

– Thế nào chúng ta cũng có lối thoát. Á Căn Đình là một quốc gia trong đó con người còn có lòng nhân đạo. Anh lại quen biết nhiều và được trọng vọng, mọi việc rồi sẽ ổn thỏa, chỉ là vấn đề thời gian, vài ngày hay vài tuần là cùng chứ gì.

Một người đàn bà lịch sự với dáng điệu e dè đến gần hai người :

– Thưa bác sĩ tôi cần báo tin gấp cho bác sĩ biết (móng tay bà ta ấn mạnh vào lòng bàn tay). Bác sĩ có chịu khó nghe tôi nói một lát không, gấp lắm, vâng, rất gấp.

Rudolf muốn lánh xa, ông ta giải thích cho Petrovici:

– Đó là một thân chủ của tôi, tên là O’hara, vợ của một đại kỹ nghệ gia người Anh.

Bà ta nói với Petrovici:

– Tôi xin lỗi được nói chuyện với ông dù chưa được hân hạnh quen ông. Nhưng có nhiều việc vô lý và trầm trọng đến độ tôi phải nói.

Ông có biết họ muốn làm gì không? Ồ, không tưởng được. Chiều nay họ muốn đốt tôi. Đêm nay họ sẽ thiêu sống tôi.

Các móng tay nhọn đỏ của bà O’hara lại như đang ấn sâu vào lòng bàn tay:

– Tôi không biết làm gì hơn nữa trước cái ý định thiêu sống một người đàn bà trong thế kỷ nầy, giữa thời đại văn minh Thiên Chúa giáo. Không tưởng được, kết án đề thiêu sống một người đàn bà. Và tôi không hiểu được tại sao, vì lý do nào họ lại kết án tôi, tôi cũng không biết ai đã kết án tôi. Tôi không biết nhân danh luật lệ gì và do đâu mà người ta kết án tôi. Đêm nay họ sẽ đốt tôi.

Rudolf bực dọc:

– Thưa bà có thật thế đâu.

– Không, bác sĩ nói thế để an ủi tôi thôi. Tôi biết là chuyện rất vô lý, nhưng là chuyện có thật, người ta sắp thiêu sống tôi.

Rudolf giới thiệu:

– Đây là bác sĩ Petrovici, bạn thân của tôi và đang bị bệnh. Tôi sẽ để ông ta nằm cạnh phòng bà.

O’Hara nói ngay:

– Ông nằm cạnh phòng tôi hả? Nếu thế ông sẽ là một chứng nhân. Ông sẽ thấy là chiều nay họ đến đây đốt tôi. Đó là một hành vi dễ sợ quỉ quái và không tưởng được trong thế kỷ văn minh của chúng ta. Họ sẽ đốt tôi dù tôi không làm gì nên tội cả, hoàn toàn tôi không có tội gì cả. Và ức nhất là tôi không biết ai đã kết án tôi. Nếu ông ở cạnh tôi, càng hay, ông sẽ là chứng nhân.

Nói xong O’Hara bỏ đi. Rudolf giải thích:

– Bà ta bị bom ở Luân Đôn. Trong thời chiến, bà ta đã chịu đựng giỏi lắm. Nhưng khi đến Á Căn Đình bà ta ngã bệnh trong lúc chồng bà đang làm chủ một hãng xe hơi lớn. Người ta mang bà lại đây và bà cứ đinh ninh là sắp bị thiêu sống. Ngày ngày bà ta thức dậy lúc năm giờ sáng vì bị dày vò bởi ý nghĩ rùng rợn đó.

Cuộc gặp gỡ nầy làm cho Petrovici xúc động sâu xa. Ông ta quên là mình đến đây để trốn chính phủ, quên mất chuyện riêng để nghĩ đến câu nói của bà O’Hara: «Tại sao họ lại bắt tôi để thiêu sống?».

Lidia vợ của Petrovici cũng bị kết án và thiêu sống. Nhưng Lidia thị thực sự bị thiêu sống rồi: «Tại sao họ lại kết án Lidia như thế. Ai kết án và nhân danh ai? Ai thiêu sống Lidia? Dù sao thì Lidia cũng đã bị đốt cháy giữa thế kỷ được gọi là văn minh nầy. Sáu triệu người Do Thái cũng bị đốt cháy. Vài triệu người Đức cũng bị cháy thành than trong các đô thị bị Hoa Kỳ dội bom, cũng như vài triệu người Ba Lan, Nhật Bản. Nhưng tại sao họ lại bị chết cháy?

Ai đã kết án họ, với mục đích gì? Hiện giờ, cũng đang có vài trăm triệu người đang tị nạn trên khắp thế giới, đang bị đốt chết dần dần như Pierre Pillat, Marie, Eddy Thall, Varlaam, Kostaky… »

Ante Petrovici tiếp tục nói:

– Bác sĩ có nhớ đến chuyện Candide không? Xã hội Coïmbre thời xưa đã quyết định thỉnh thoảng thiêu sống một người để tránh nạn động đất. Ngày nay hàng triệu người bị đốt cháy để cho các chính phủ giữ được liên hệ tốt đẹp với nhau. Vài trăm thân binh Nga bị Mỹ đốt cháy để giữ hòa khí giữa Tổng thống Hiệp Chủng Quốc và Staline, điều này tôi đã tận mắt chứng kiến. Một nửa Âu Châu với thị thành, làng mạc, nhân mạng, súc vật đã bị bán đứng cho Nga Sô thiêu hủy để người Anh có được mức sống cao hơn và người Mỹ có thể bán Côca Côla ở Nga Sô. Nhưng một nửa Âu Châu đã bị hy sinh vô ích. Người Mỹ đã không thể bán Côca Côla cho Nga Sô và người Anh cũng chả được ăn ngon hơn dù họ đã bán cho Nga Sô người Ba Lan, Hung Gia Lợi, Lỗ Ma Ni, Bulgarie, Esthonie, Lettonie, Lithuanie, Phổ, Đức, Albanie. Và với quyền gì Tây phương đã bán hàng triệu người của các quốc gia đó cho Sô Viết? Với quyền gì người Anh đã bán người Lithuanie cho Nga Sô? Tất cả chỉ vì những lý do chính trị. Chính trị là tiếng hát của con thiên nga biểu tượng một nền văn minh.

– Anh bình tĩnh một chút chứ. Những lời nói của bà O’Hara đã làm anh quá xúc động. Trường hợp đó cũng đáng chú ý thật đấy, nhưng anh phải dung hòa một tí chứ. Đừng xem mọi việc quá đen tối, vô ích.

– Bà O’Hara có lý khi bà ta biết là mối nguy hiểm lớn lao đang đe dọa nhân loại hiện nay là việc con người bị thiêu sống. Bà O’Hara sẽ không bị thiêu sống nhưng bà ta biết mối nguy hiểm đang lơ lửng trong không khí của các quốc gia trên toàn cầu. Tướng Grisha Costak không biết trước ông ta sắp bị người Mỹ thiêu sống, thế mà ông vẫn bị đốt. Cho nên cái sợ của bà O’Hara hợp lý lắm chứ.

Bác sĩ Rudolf, kéo tay Petrovici: «Chúng ta đi thôi».

Cả hai bước lên thượng tầng căn nhà. Petrovici vẫn nói:

– Đã từ lâu tôi biết tôi sẽ bị đốt cháy, dần dần, vì chân phải tôi ngắn hơn vài phân mét. Bây giờ dám cháy đã xảy ra rồi đấy, người ta đòi bắt tôi vì tôi thiếu vài ly mét ở chân phải, và để trốn thoát, tôi phải ẩn trong nhà chứa người điên. Tất cả điều đó chỉ vì chân phải tôi không có lòng bàn chân.

Petrovici ngồi một mình. Cầm tờ báo, ông ta đọc bài nói về chiến tranh người Mỹ ở Triều Tiên. Tướng Arthur đã thắng cộng sản nhiều trận mới. Trong cột bên cạnh, có tên chủ tịch Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc, nghĩa là người chủ mưu trong cuộc chiến tranh chống Cộng, lại là người cộng sản tên là Malik.

Vậy thì, Liên Hiệp Quốc, dưới sự bảo trợ của Staline, mà đại diện là Malik, chống lại Staline. Malik chống lại Malik. Mac Arthur nhận lệnh của Malik để chống lại Malik…

Ante Petrovici dụi mắt, thấy O’Hara, ông ta đề nghị:

– Bà có muốn chúng ta đàm đạo một chốc không?

– Không, tôi muốn ông hiểu tôi mà thôi. Ngày xưa, tôi đọc nhiều sách báo lắm. Tôi yêu nghệ thuật, sắc đẹp, nhưng ngày nay tôi không muốn nói đến nữa. Trường hợp tôi thật là phi thường, tôi biết là tôi sắp bị thiêu đêm nay, làm sao ông bảo tôi nói chuyện với ông được, và điều kinh khủng là tôi không biết tại sao tôi bị kết tội, ai kết tội tôi? Tại sao một điều như thế lại có thể xảy ra giữa một thế kỷ được gọi là văn minh nầy nhỉ? Không ai giúp đỡ gì tôi được cả sao, bi đát quá. Không ai, vâng, không ai có thể giúp đỡ gì tôi. Không chính phủ nào, nhân vật nào cứu lấy tôi, dù tôi quen biết nhiều, nhưng cũng chẳng ai có thể giúp gì tôi được.

Ante trở về phòng suy nghĩ lung lắm. Ông ta cũng quen biết nhiều ở Á Căn Đình, quen hầu hết nhân viên trong chính quyền. Và không ai có thể ngăn cản chuyện người ta sắp bắt giữ ông. Khi người ta đốt Lidia thì ông ta đang làm bộ trưởng bộ nội vụ và ông ta không giúp đỡ gì Lidia được. Chồng bà Milostiva Debora Paternik là quốc trưởng mà cũng không giúp gì bà ta được. Không ai có thể giúp đỡ người khác được nữa. Niềm đau đã quá to tát mất rồi.

Con người đã bị thiêu đốt dần dần. Tướng Costak là bạn của các nước đồng minh, và các nước đồng minh đã không ngăn cản việc đốt cháy ông ta. Nghĩ đến đây, Ante Petrovici thấy mắt mình hơi mờ đi, hơi chóng mặt, ông ta nằm dài trên đi văng và nhắm mắt lại. Vừa nhắm mắt thì trí khôn của ông cũng không còn nữa. Một thứ bóng đêm bao trùm quanh ông và ông cảm thấy một sự thoải mái vô biên. Lý trí đã tàn. Và sự tàn lụn đó của lý trí đối với Ante Petrovici là một thứ bước xuống cây thập tự giá, một bước lùi dần vào bóng đêm. Nhưng trong bóng đêm có thanh bình và yên nghỉ. Công cuộc đóng đinh lên trên thập tự giá đã xong. Trong bóng đêm ông ta thấy thoải mái, ông ta không bị đóng đinh. Lý trí đã lùi chân nhường bước cho đêm đến. Ông ta đoán thấy một cánh tay trên người ông. Ông ta thoáng nghe một giọng nói xa lạ: «Tất cả sẽ được chính quyền dàn xếp ổn thỏa. Anh sẽ không bị giữ, Phu nhân Tổng Thống đã đích thân can thiệp cho anh. Anh được tha rồi đó. Anh muốn ra đi lúc nào tùy ý».

Bác sĩ Rudolf sung sướng cầm tay Petrovici:

– Chúng ta sẽ uống sam banh để ăn mừng chuyện nầy mới được vì đây là một cuộc chiến thắng vẻ vang. Á Căn Đình là một quốc gia không ở đâu giống cả, vì vậy mà tôi tin tưởng ở tương lai của xứ nầy. Anh là một nhân vật quí báu. Anh không thể bị kết tội được. Bắt đầu hôm nay anh sẽ hoàn toàn sung sướng, ông bạn có biết thế không nhỉ?

Nét mặt Petrovici có vẻ rất bình thản. Rudolf nói tiếp:

– Trông anh có vẻ tươi lắm, nằm nghỉ đi. Tôi hài lòng vì anh là một nhân vật lỗi lạc trong tất cả phạm vi, anh là nhà toán học, luật học, bách khoa, và kỹ nghệ gia.

Petrovici hỏi:

– Có thật là tôi đang ở Nam Mỹ không?

– Thật chứ, anh quên rồi sao?

Mắt Petrovici mở thật lớn, nhìn ra xa. Hình như ông ta đang mỉm cười. Trước khi nghe câu trả lời, ông ta đã không còn nghe được nữa. Rudolf cầm tay ông ta nói : «Du bist doch in America». Mắt Petrovici vẫn mở lớn. Nhưng ông ta không nghe gì nữa. Ông ta bình thản nằm trong bóng đêm, người ta đã mang ông ta xuống từ thập tự giá. Cuộc đóng đinh Petrovici đã chấm dứt. Lý trí đã lùi vào đêm, trong nấm mồ, trong bóng đêm.

Rudolf vẫn nói: «Tu es en Amérique du Sud». Anh nghe chứ? «You are now in America».

Nhưng Ante Petrovici không hiểu một thứ ngôn ngữ nào nữa cả. Cuộc vật lộn với đời của ông ta đã kết thúc. Ông ta nhìn trong đêm, lý trí của ông ta đã lùi vào bóng tối.

Rudolf gọi «Ante, mein Freund… my Friend, mon ami… amigo mio».

Nhưng Ante Petrovici không nghe nữa. Không bao giờ ông ta còn nghe thấy gì nữa cả.

Lối thoát cuối cùng

Constant Virgil Gheorghiu

Dịch giả: Hằng Hà Sa và Bích Ty

Post by Sơn râu 15 May 2024

7. Cuốn Sách Của Ô Nhục 2

Trước khi đi du lịch, Aurel Popesco ghé lại bộ chỉ huy các lực lượng Đại Tây Dương ký vài bản tường trình cuối cùng, nói vài câu chuyện với Zaig Burian sắp thay thế hắn. Milan Paternik đang chờ hắn ở ngoài xe. Tuy cùng đi chung, họ không hề nói chuyện với nhau trong suốt đoạn đường xuyên qua thành thị, làng mạc bị tàn phá ồ Wurtemberg. Sau cái chết của bà mẹ, Milan Paternik bị ông bố đày đi xa, rồi bị người Đức bắt giữ, ở tù với Aurel Popesco, cho đến cuối cuộc chiến thì được trả tự do vào ngày Chiến thắng. Hắn ta lại là người đứng đầu trong số những nạn nhân của chế độ phát xít, cũng như trường hợp của Aurel Popesco. Rồi cũng như Popesco, hắn được bổ làm cố vấn chính trị cho bộ chỉ huy Hoa Kỳ.

Bây giờ, Milan được nghỉ hè một tháng và muốn đi cùng với Popesco đến Ý Đại Lợi để tỉnh dưỡng. Popesco hỏi:

– Tại sao anh lại nhất định đi ngang qua Trieste? Trieste là thành phố buồn nhất của Âu Châu, buồn hơn cả Bá Linh, hay Vienne. Vienne và Bá Linh là hai nơi được bốn cường quốc trấn giữ. Trong lúc Trieste, chưa kể lực lượng chiếm đóng, còn có thêm cả quyền hành của chính phủ Ý Đại Lợi và những người Slaves. Đúng là một thành phố nghẹt thở vì có đến sáu lực lượng cảnh sát kiểm soát, chúng mình nên tránh Trieste là hơn. Đến La Mã có phải là anh vui vẻ hơn không?

– Không, nhất định tôi phải ở vài ngày tại Trieste. Anh cho tôi xuống đó, rồi anh tiếp tục đi.

Popesco làm quen với Paternik ở Buchenwald. Hắn thừa biết là Paternik đã loại trừ tám trăm ngàn người Do Thái ở xứ người Slaves miền Nam, đúng là con người không biết đến tình cảm là gì. Nhưng Paternik đã lên tiếng:

– Tổ quốc là một cái gì người ta không thể nguôi thương nhớ được. Tôi muốn đến Trieste để đặt chân lên đất của quê hương, dù chỉ là chấm bằng đầu ngón chân, để thưởng thức không khí, gió mát, mùi hương của quê cha. Không có thứ văn hóa nào có thể làm anh quên được tổ quốc, cũng như người ta không thể nào tách rời khỏi cơ thể của chính mình. Tổ quốc như là một phần nối dài của cơ thể mỗi người. Tiếng gọi của quê hương tha thiết đối với kẻ bị lưu đày như là sự khao khát tình yêu của những ẩn sĩ mỗi đêm hè. Đó là thứ tình cảm ở trong tận cùng máu huyết và thỉnh thoảng lại xuất đầu lộ diện. Lòng yêu quê hương cũng thế. Tất cả lục địa của thế giới không thể nào làm tôi quên được tiếng hát của Loreley ở mảnh đất quê hương, tiếng mời gọi vào một lúc nào đó anh không ngờ được. Anh có bao giờ cảm thấy như thế không nhỉ?

Nhưng anh muốn làm gì ở Trieste? Nhìn qua các hàng rào kẽm gai tốp lính gác của xứ anh thôi sao?

– Thế thôi. Tôi sẽ sung sướng nhìn lại đất nhà, thế là đủ. Tôi đang nhớ nhà, nhớ quê hương. Có ngày anh cũng như thế. Điều đó sẽ đến với tất cả mọi người không trừ một ai cả.

Suốt đoạn đường còn lại, họ chỉ bàn đến hai chữ tổ quốc. Đến Trieste, trong lúc Popesco ở nhà hàng, Paternik một mình thơ thẩn đến khu phía Đông thành phố, về phía biên giới của quốc gia hắn. Hắn phải trình giấy chứng nhận công chức Lực lượng Đại Tây Dương cho các toán tuần tiểu Anh, Mỹ, Ý và Slaves.

Hắn dừng lại ở hàng rào kẽm gai chia đôi mảnh đất quốc tế Trieste và quê hương của hắn, xứ Slaves miền Nam, rồi buồn rầu nhìn qua bên kia. Paternik sinh ra trong cảnh lưu đày, chỉ ở trong nước mình có vài năm thôi. Nhưng mảnh đất quê hương thu hút hắn như một thỏi nam châm vĩ đại. Hắn không hiểu nổi những tình cảm trong hắn lúc bấy giờ, cũng như không ai giải nghĩa được tình yêu. Chỉ hình như là Milan đang thích nghe nói bằng tiếng mẹ đẻ, nhìn những ngôi nhà trắng ở bên kia hàng rào kẽm gai. Chỉ nhìn thế thôi, mà máu đã ran lên trong người, mắt đã mở rộng, tim đã đập nhanh như khi người ta tiến đến gần người yêu.

Hắn cởi găng tay cho vào túi. Và hắn đã bị lộ. Lính gác người Anh cũng như lính gác người Slaves đã dùng ống nhòm theo dõi hắn dù Paternik chưa vượt quá mức đất cấm, hắn chỉ là một du khách như bao người khác.

Có tiếng chuông reo ở phía trạm gác bên kia. Tiếng chuông đi ngang qua thân thể Paternik như một luồng điện. Rồi người ta nghe tiếng lính gác trả lời ở máy điện thoại. Không hiểu họ nói với nhau những gì nhưng đúng là cách phát âm của tiếng mẹ đẻ. Chỉ có một tiếng nghe được : «Uredu», có nghĩa là xong rồi.

Trong tâm hồn của Paternik, tất cả đang là Uredu, xong rồi. Hắn nhìn khung cảnh quê nhà bằng đôi mắt mở lớn, đôi môi, lỗ mũi mở rộng để đón nhận mùi thơm của khu đất vùng biên giới không người qua lại, tai để yên cho tiếng mẹ đẻ vang lên bên trong. Và hắn muốn đứng đấy mãi mãi.

Người lính Slaves ở trước mặt nhìn hắn chăm chăm, súng tiểu liên cầm tay. Người lính đó thừa biết là khách lạ chưa dẫm chân lên mảnh đất mà hắn đang canh gác bằng súng tự động. Trong lúc Paternik thì đang muốn nuốt chửng mảnh đất bên kia hàng rào kẽm gai. Người lính đoán được điều đó, nhìn lại vào ống nhòm, người lính không hiểu tại sao khách lạ lại khoái nhìn mảnh đất nầy thế. Chỉ có hai người đang đối diện. Bên nầy là người lính với ống nhòm, súng trên tay chăm chú, nghi ngờ, bên kia là Paternik đang chiêm ngưỡng vùng đất cấm bằng tất cả thớ thịt của thân thể mình nhưng trò chơi đó nào có kéo dài được lâu. Người lính gác có cảm tưởng là người lạ đang bị thu hút bởi một cái gì đó trên đất mình đang canh gác. Bổn phận hắn là bảo vệ tổ quốc. Nên hắn nhắm súng vào người Milan Paternik để anh chàng nầy đừng có chăm chú nhìn vào đất của người Slaves. Paternik nở nụ cười thân thiện. Người lính lại xem nụ cười đó là một sự thách thức. Nên không ngần ngại hắn bấm cò. Một tràng mưa đạn xuyên qua thân thể Milan. Hắn ngả người xuống, thân thể vẫn còn đang ở bên nầy lằn ranh giới.

Đáng lý cơ thể Milan ngã gục ra phía trước, và thân thể hắn đã có thể gục xuống bên kia lằn ranh, đầu và ngực đã có thể chạm vào mảnh đất quê hương và hắn đã có thể chết trên quê cha. Nhưng Milan đã ngã bằng lưng và tưới máu lên khoảng đất xa lạ của vùng do quốc tế kiểm soát trên thành phố Trieste. Và thế là hơi thở nóng bỏng, thứ hơi thở nóng bỏng nhất của cái nấc nơi một người sắp chết, đã bị đất lạ hút mất. Đôi môi khô cằn còn cố tìm đất thân yêu, nhưng chỉ gặp được một thứ đất xa lạ không phải là đất quê hương.

Lệnh báo động ban hành. Ở Trieste, ngày nào cũng có đôi ba vụ va chạm biên giới như thế. Lần nầy, cảnh sát đồng minh phản đối quyết liệt, vì Paternik bị người lính Slaves bắn chết không có lý do xác đáng.

– Tại hắn muốn qua bên nầy.

– Ai lại dại gì trốn qua biên giới vào 11 giờ trưa. Người ta muốn lập biên bản, nhưng không rõ ràng được. Hôm qua, lính Anh đã giết một người Slaves. Lần nầy người Slaves lại giết một công dân ở vùng quốc tế kiểm soát. Nên người lính bên kia tuyên bố:

– Thế là huề đấy nhé. Mạng đổi mạng, Uredu?

– All right, xong rồi, nội vụ xếp lại. OK?

°

Một chiếc xe jeep chở Milan Paternik về nhà xác ở thành phố.

Xem xét giấy tờ xong, người ta báo tin cho Popesco hay. Bộ chỉ huy Hoa Kỳ làm lễ mai táng cho Paternik vì hắn vẫn là công chức trong bộ chỉ huy. Aurel Popesco thì phải đi ngay, hắn tiếc là không thể ở lại dự lễ mai táng được, công việc hắn lúc nào cũng tính từng giờ một. Vé máy bay và các nơi hẹn đã định trước mất rồi, không thể vì một đám táng mà trễ nải được. Nhưng hắn cũng đứng tưởng niệm một lúc bên thi hài của Paternik. Đằng sau hắn, hình như đang có ai đứng đấy. Người lạ mặt chặn Popesco lại lúc hắn sắp bỏ đi và tự giới thiệu là người đại diện cho cộng đồng Do Thái ở Trieste. Người lạ mặt nói với Popesco :

– Chúng tôi đã tiếp xúc với bộ chỉ huy Hoa Kỳ. Người quá cố sẽ được ăn táng theo nghi lễ trọng đại của người Do Thái chúng tôi.

Hai người Do Thái nữa bước đến. Thế là có ba người đại diện muốn đưa xác chết về nghĩa trang của những người Do Thái. Aurel Popesco tái mặt lúc nghĩ đến tám trăm ngàn người Do Thái bị Paternik giết chết lúc hắn còn là giám đốc cảnh sát. Popesco muốn tránh chuyện trái cựa nầy.

– Mẹ của ông bạn Paternik tôi là một người Do Thái, nhưng chính Paternik không có đạo Do Thái, tôi nghĩ thật là quá đáng nếu…

– Nếu mẹ của ông ta là người Do Thái y theo giấy tờ chứng minh của ông ta, thì ông ta cũng là người Do Thái rồi. Chuyện ông ta không theo đạo Do Thái không có gì quan trọng. Biết bao nhiêu người Do Thái đã quên hết gốc Do Thái của chính mình. Bổn phận đồng đạo của chúng tôi là đưa linh hồn người chết về với danh dự đó dù họ không làm gì xứng đáng để được hưởng điều đó. Bổn phận của cộng đồng chúng tôi là thế, chúng tôi sẽ lo mọi việc cho Paternik.

Aurel Popesco biệt là có nài nỉ cũng vô ích. Hắn không thể nào ngăn cản người Do Thái ở Trieste chôn Milan Paternik trong nghĩa trang của họ. Vì họ đã đọc trong giấy tờ của Paternik rằng mẹ của hắn ta là người Do Thái mất rồi, Aurel Popesco đành chấp nhận:

– Vâng, các ông cứ mai táng bạn tôi theo nghi lễ Do Thái, trong nghĩa trang của các ông.

Nói xong, Popesco bỏ đi mà không dám quay đầu nhìn lại. Sự kiện một kẻ giết Do Thái như Paternik bây giờ lại được người Do Thái theo sau hòm khóc lóc cho đến nghĩa trang làm cho Popesco kinh hãi. Hắn muốn trở lui và nói hết sự thật cho họ nghe. Bởi vì đa số người Do Thái ở Trieste là những người tị nạn từ xứ những người Slaves sang, là bà con của những người Do Thái bị Paternik giết chết. Bây giờ Paternik sẽ được chôn bên cạnh các nạn nhân hay bà con của nạn nhân của hắn, hắn sẽ vĩnh viễn là bạn đồng hành của chính những người hắn đã giết chết. Aurel Popesco nhớ lại trường hợp một văn sĩ người Pháp chống Do Thái sống ở nước Áo bằng một tên giả Do Thái để tránh tử hình, cũng được chôn ở nghĩa trang Do Thái như Milan Paternik. Vài tuần sau, biết được đích danh người chết không phải là Do Thái, người ta quẳng quan tài văn sĩ đó ra khỏi nghĩa trang. Có thể một đêm nào đó, quan tài Milan Paternik cũng bị quẳng ra khỏi nghĩa trang xứ Trieste.

II

Đến Palestine rồi mà Popesco vẫn còn bị ám ảnh bởi cái chết của Paternik. Hắn không thể nào tưởng tượng nổi là hiệp hội Do Thái ở Trieste lại mai táng cho Paternik đàng hoàng và người Do Thái lại theo sau quan tài mà khóc lóc.

Popesco quan sát kỹ những kiến trúc theo kiểu Mỹ ở Palestine. Hắn muốn nhìn và ghi lại thật kỹ tất cả những gì có ở Palestine vì cuộc hành trình nầy là cuộc hành trình thu lượm tin tức. Hơn nữa, hẳn phải tiếp xúc với người Do Thái gốc Lỗ ma ni để còn bắt mạch thời đại xem sao. Lúc máy bay sắp hạ cánh xuống «Mảnh đất hứa hẹn», hắn thầm nghĩ: «Dân tộc Israel vẫn thường bị rủi ro». Từ ngàn xưa, dân Do Thái đã mơ ước làm bá chủ hoàn cầu. Họ đã hết sức cố gắng để thực hiện giấc mơ đó. Nhưng cứ đến lúc sắp thực hiện được đúng như lời tiên tri thì họ lại bị thất bại vì rủi ro, thế thôi. Họ đã bày ra chủ thuyết cộng sản để cùng chế ngự hoàn cầu. Họ đã làm cách mạng ở Nga và đã thành công, chỉ còn việc lan tràn để thực hiện mộng bá chủ mà thôi, nhưng đúng vào lúc họ thành lập được quốc gia cộng sản đầu tiên, họ liền bị đuổi khỏi xứ đó, mà trước hết là Trotzky. Rồi họ lại cố gắng dìu thế giới đến chỗ liên hiệp các quốc gia ở Genève, do Do Thái cầm đầu. Họ lại thất bại lần nữa. Cho đến thế chiến thứ hai, có đến sáu triệu người Do Thái bị thủ tiêu, nhưng họ vẫn thắng trận. Vì sau thế chiến, họ tạo được khu kỹ nghệ lớn nhất hoàn cầu để có thể chế ngự hoàn cầu, đó là kỹ nghệ nguyên tử ở Hiệp Chủng Quốc.

Giám đốc khu kỹ nghệ đó là một người Do Thái gốc Trung Âu: David Lilienthal. Khi đã giết được nửa triệu người Nhật với một quả bom nguyên tử duy nhất, người Anh bèn nhốt họ vào những trại có kẽm gai bao quanh bên bờ Địa Trung Hải và Hồng Hải. Không thể nào giải thích nổi các vụ đó được nếu không nói là vì rủi ro. Sau cùng, người Do Thái lập quốc, nhưng muốn thế họ phải trở về quốc gia họ bằng các phương tiện bí mật, và người Anh đã biết được và tìm hết mọi cách để ngăn cản. Lúc người Anh rời Palestine để trả lại độc lập cho Do Thái, việc đầu tiên mà người Do Thái thực hiện trong quốc gia của họ là lập thành các trại tập trung, nghĩa là hễ có một người Do Thái nào đến Israel, lập tức người đó được đưa vào trong trại tập trung «Shaar Aiyyah» ngay. Tất cả biên thùy của họ đều có kẽm gai bao quanh. Bây giờ thì không còn người Thiên Chúa Giáo ở đó để mà hành hạ họ vì những lý do tôn giáo nữa, lại đến lúc họ hạnh hạ lẫn nhau vì một lý do tôn giáo».

Vừa rời khỏi phi trường, Aurel Popesco gặp ngay Varlaam. Varlaam mừng rỡ:

– Trời đưa anh đến đây để đưa tôi ra khỏi nơi nầy rồi đó.

– Dạo này anh mập quá nhỉ? Kiếm taxi ở đâu đây anh?

– Hôm nay thứ bảy, không có taxi. Thế nào tôi cũng ra khỏi đây. Nếu anh không đưa tôi rời khỏi Palestine, tôi sẽ không cho anh đi đâu hết. Vì nếu anh không làm được điều đó, không ai có thể giúp tôi được cả.

Ngày hôm sau, Popesco dẫn Varlaam đến bộ nghi lễ, đó là một bộ có quyền hành nhất ở Do Thái; tất cả vấn đề trọng đại của quốc gia đều tùy thuộc quyết định của bộ nầy; nhờ tiếp xúc với bộ nầy, Popesco có dịp tìm hiểu phong tục và đời sống của tân quốc gia nầy. Tại đó, Popesco được tùy viên của bộ trưởng đón tiếp trong một căn phòng khá rộng. Varlaam tự giới thiệu:

– Tôi là trung úy phi công David Ozias.

Xong chàng đưa giấy tờ lên bàn, từ các nhật lệnh, huy chương đến các báo chí tuyên dương các chiến công oanh liệt của chàng trong trận đánh chống Ả Rập.

Vị tùy viên lên tiếng:

– Tôi rất hân hạnh được biết đến một vị anh hùng. Người anh hùng nào đã bảo vệ tổ quốc cũng được quyền hưởng mọi danh dự dành riêng cho họ. Tôi có thể giúp gì anh được?

– Tôi xin Ông cấp cho một giấy xuất ngoại.

– Ra khỏi đất Do Thái? Tại sao thế?

– Tôi không hợp với Israel, ở đây có nhiều khác biệt quá. Ở quốc gia nầy, mọi sự đều được tổ chức trên căn bản tôn giáo. Tôi lại theo đạo khác, nên tôi cảm thấy mình đang sống bên lề xã hội.

– Nhưng ai đã di cư sang Palestine phải ở lại đây trọn đời.

– Mà tôi có di cư đâu. Tôi cũng không phải là người Do Thái nữa.

– Anh là công dân của quốc gia Israel, lại là một công dân có tài nữa, giấy tờ chứng minh như thế rất đầy đủ.

– Nhưng giấy tờ thực sự của tôi đã bị hủy. Vì điều kiện đầu tiên mà tôi tình nguyện nhập ngũ vào quân đội Do Thái là hủy các giấy tờ và khai một tên khác để đánh giặc.

– Tôi rất tiếc, nhưng mà hình như tên của anh không chỉ có ý nghĩa một tên giả để đánh giặc mà thôi.

– Chính vậy. Nào, nhìn kỹ tôi đi rồi hãy tin là tôi nói thật. Chúng mình đang ngồi ở bộ Nghi lễ, ngoài những luật lệ và nghi lễ của quốc gia, viên chức của bộ còn phải biết đến một thứ luật lệ to tát hơn, đó là luật lệ của Chúa, luật muôn đời. Tôi xin ông y theo luật đó mà cư xử công bình với tôi. Tôi chỉ là một người khốn khổ cần được ông giúp đỡ. Tôi không thể nào sống ở đất nầy được, thế nào tôi cũng phải đi. Tôi là một người và là một người khốn khổ. Trong kinh thánh của các ông, kinh Thora có nói: «Con người được tạo ra như một cá thể riêng biệt độc nhất, để người ta biết rằng ai đang tâm giết hại một đời sống thì sẽ bị trời phạt như là đã giết hại toàn thể thế giới loài người và ai cứu sống một đời sống, trời cũng sẽ xem như là đã cứu sống cả nhân loại».

– Nhưng anh có phải là người Do Thái hay không?

– Tôi không phải là người Do Thái, cha ông tôi không ai là người Do Thái cả.

– Như vậy thì anh không thể nào xin xử y theo một thứ luật lệ mà anh đã trắng trợn xâm phạm. Điều thứ nhất của luật Thora bảo rằng: «Giết chết một linh hồn Do Thái, trời sẽ phạt… ai cứu rỗi một linh hồn Do Thái, trời sẽ thưởng». Anh đã thay thế chữ linh hồn Do Thái bằng «một đời sống». Đúng là anh đã vi phạm trắng trợn.

III

Aurel Popesco gặp Eddy Thall đang ở trong một căn nhà nghèo nàn bằng gạch chưa tô vôi, không điện, không nước. Trong phòng chỉ có một cái giường chất đầy Valises, cái nọ chồng lên cái kia, nghĩa là người ta thừa biết nàng không bao giờ dùng đến áo quần ở bên trong nữa. Ở mảnh đất hứa hẹn nầy, nàng không cần đến những thứ xa hoa đó nữa, chỉ một bộ quần áo là đủ. Eddy Thall nói:

– Tôi đang làm việc trong trang trại tập thể nầy, bởi vì xứ tôi không cần đến những nghệ sĩ già. Hiện có biết bao nhiêu là nghệ sĩ trẻ đẹp tài ba. Israel cần gì đến những người già cả chứ! Lúc đầu, tôi cũng muốn làm giáo sư trình diễn. Nhưng người ta đã bắt tôi làm việc trong trại nầy, tôi chỉ muốn tự tử. Tuy nhiên hiện nay, tôi hoàn toàn sung sướng hơn cả lúc tôi hoạt động cho kịch nghệ nữa.

Aurel Popesco biết là có thời Eddy Thall đã xin trở về Lỗ ma ni. Hắn muốn hỏi xem lại sự thật thế nào thì được Eddy Thall trả lời là: «Chỉ mấy tuần đầu lúc mới đặt chân lên Israel tôi hoàn toàn thất vọng nên mới có ý nghĩa như thế. Lúc đó, mọi sự hoàn toàn xa lạ, nghèo nàn và kham khổ đối với tôi quá, đến độ thần kinh tôi căng thẳng nên tôi đã xin tòa lãnh sự Lỗ ma ni ở Tel Aviv cấp cho giấy tờ trở về Lỗ ma ni. Người ta trả lời là tôi không thể trở về đó được nữa vì tôi đã bạc đãi vị nữ anh hùng Tinka Neva khi bà ta còn là kẻ giúp việc trong nhà tôi. Vả lại, họ có lý do để từ chối bởi vì tôi không bao giờ theo họ cả. Chuyện xin trở về đó chỉ là vào một lúc tuyệt vọng nhất thời mà thôi».

Eddy Thall cười to. Nàng mập ra, chân hơi phù, nàng nói thêm trong lúc Popesco tò mò nhìn đôi chân sưng húp của nàng:

– Hiện giờ tôi không còn ý nghĩ trở về Lỗ ma ni nữa. Mà tại sao lại phải từ giả xứ Do Thái nầy. À, chân tôi vì khí hậu nầy mà sưng lên đó. Khí hậu hơi khó chịu đối với tôi nhất là từ khi tôi bị đau ở Oural, nhưng tôi đã quen dần rồi. Nếu không có chuyện phù chân nầy thì tôi hoàn toàn hài lòng ở trên mảnh đất nầy.

Eddy Thall ngồi ở trên Valises và đang nói đó là một Eddy Thall xa lạ, hoàn toàn không phải Eddy Thall của sa mạc, của miền núi Oural, của Varsovie hay của Stuttgart.

Aurel Popesco gợi ý:

– Tôi có cảm tưởng là các luật lệ tôn giáo làm cho đời sống ở đây nghẹt thở. Một quốc gia văn minh không thể nào bị các giáo sĩ điều khiển được. Một quốc gia đang có một hệ thống thủy lộ, một trung tâm điện lực, vô số thiết lộ và tàu bè không thể nào cho phép mọi công dân chắp tay trước ngực đọc kinh mỗi ngày thứ bảy như là luật lệ tôn giáo đòi hỏi được. Chỉ được như thế nếu dân tộc Do Thái hoàn toàn là một dân tộc giáo sĩ. Lúc mà họ đã trở thành công dân của một quốc gia văn minh, họ phải từ bỏ những tục lệ tôn giáo cũ kỹ không thể nào thích hợp với đời sống hiện đại được nữa.

Eddy Thall phản đối ngay:

– Không, hành đạo theo đúng từng câu kinh vô lý thật đó, nhưng mà đáng kính; lúc đầu, tôi cũng nghĩ là vô lý nếu người ta bảo rằng không được vắt sữa bò vào ngày thứ bảy vì tôn giáo cấm điều đó. Nhưng bây giờ tôi đã thấy điều đó hợp lý. Tai hại là tôn giáo không đủ sức để buộc người ta theo đúng mọi điểm khác.

Vì tôn giáo đã cứu rỗi dân tộc Do Thái từ ngàn năm nay. Luật lệ của tôn giáo đó khó khăn thật, đó là luật lệ đầy đọa, nhưng lại rất ích lợi.

– Nhưng bây giờ đã hết cảnh đày đọa đó rồi, tại sao lại áp đúng luật lệ lưu đày cho những kẻ đã có một tổ quốc.

– Dân tộc Do Thái luôn luôn bị lưu đày dù đã có một tổ quốc. Chỉ chừng hai triệu người Do Thái trở về Palestine, nhưng con chừng mười triệu người còn lang thang. Làm sao ông có thể bảo là đã hết cảnh lưu đày? Chúng tôi sẽ thay đổi luật lệ quốc gia nầy lúc mà mười triệu người Do Thái đó không còn bị lưu đày đây đó nữa. Nhưng chưa phải là bây giờ, ông là kẻ ở ngoài, ông dễ dàng chỉ trích quá. Nhưng tôi là công dân ở đây tôi bảo là đời sống ở tổ quốc của tôi rất đẹp. Hoàn toàn đẹp và tôi đang sung sướng.

Aurel Popesco muốn biết thử Eddy Thall có nói dối hay không, nhưng không có cách nào được cả. Eddy nói tiếp:

– Như tất cả các nghệ sĩ khác, tôi phải ngâm thơ cho ông nghe, nhưng lần nầy không là thơ mà là một đoạn văn: «Không phải là một quốc gia phì nhiêu ngọt bùi mà Ngài đã mang chúng tôi đến, không phải là những cánh đồng bát ngát nho tươi mà Ngài ban cho chúng tôi…» Vâng, tôi biết rằng mảnh đất hứa hẹn nầy không phải là đất mà là đá sỏi. Người ta đã hứa với chúng tôi là sẽ có đất đai phì nhiêu, nhưng người ta chỉ đem lại cho tôi toàn là đá, tuy nhiên ở đây tôi đã sung sướng.

– Như vậy cô đã hài lòng trong tổ quốc của cô?

Eddy Thall chua chát:

– Ông có biết tổ quốc của người đàn bà ở đâu không, thưa ông? Tổ quốc của người đàn bà là thời son trẻ, bởi vì chỉ vào thời đó người đàn bà mới thực sung sướng. Tôi đã mất tổ quốc nghĩa là mất thời vàng son từ lâu rồi và tôi sẽ không bao giờ tìm thấy lại được nữa. Người đàn ông hay cả một dân tộc có thể quay về với tổ quốc bởi vì đó là một cái gì cụ thể. Trong khi tổ quốc của người đàn bà là một lứa tuổi. Tôi vĩnh viễn mất thời son trẻ rồi, tôi đã là một người vô tổ quốc, một «heimatlos» rồi. Ích gì đi kiếm lại một vật không bao giờ thấy lại. Tôi sẽ ở lại đây và chết trong sự lưu đày, bởi vì tuổi già là một sự lưu đày đối với người đàn bà. Ông hiểu chứ? Mọi người đàn bà đều phải bị đày đọa lúc tuổi già đến. Lúc mà tuổi trẻ đã qua đi, thì chỉ còn vui với tuổi già đầy đọa, dù cho tôi ở đâu cũng được, Lỗ ma ni, Hoa Kỳ hay Sô Viết, nào có quan hệ gì bởi vì bây giờ quốc gia không có tên nữa mà chỉ là những cộng đồng nên dù ở đâu chăng nữa tôi cũng là một kẻ lưu đày, chỉ còn lại một ít niềm vui đọa đày, thứ niềm vui lúc đắng lúc chua, chưa bao giờ dịu ngọt nhưng dù sao cũng là niềm vui. Tôi bắt đầu thích súc vật, công việc đồng áng làm tôi dễ chịu. Tôi tự an ủi với lũ súc vật chung quanh. Ông biết bài thơ của Walt Wittman chứ:

«Tôi nghĩ là tôi có thể thay đổi cuộc sống để trở về sống với súc vật.

Chúng vừa hòa nhã vừa cương quyết

Tôi đứng đó và nhìn chúng thật lâu

Thân phận chúng không làm chúng than thở

Chúng không trở dậy trong đêm khuya để ân hận về tội ác

Hay chúng không mất công cãi vả về bổn phận với Chúa trời

Không con nào bất mãn, không con nào điên rồ tìm quyền tư hữu

Không con nào phản đối con nào, hay phản đối đồng loại sống trước chúng hàng ngàn năm

Không con nào đáng kính mà cũng không con nào đau khổ trên thế gian nầy.»

Aurel Popesco từ giã:

– Tôi hy vọng là cô sẽ viết thư cho tôi. Nếu một ngày nào đó, cô nghĩ là tôi có thể giúp đỡ gì cô được thì cô hãy biên thư cho tôi.

– Không, Eddy Thall trả lời, tại sao phải viết thư cho ông nhỉ? Tôi không viết thư cho ai nữa cả. Không bao giờ nữa cả.

IV

Cũng giống như Sô Viết đã tạo ra huyền thoại người hùng Tinka Neva, người Mỹ cũng muốn biến Anatole Barsov thành một người hùng vì không chịu sự hành hạ của chế độ Sô Viết nên đã lái máy bay sang tị nạn ở Hoa Kỳ. Chỉ khác là Anatole Barsov không muốn thành anh hùng, hay là có muốn chăng nữa anh ta cũng không thể làm được.

Barsov ở Mỹ được một năm, và mỗi ngày một thấy khó chịu. Hắn đến tìm Igor Poltarev. Tuy là bạn, cả hai không ở chung và ít khi đi chơi chung. Công việc của Poltarev phát đạt nên Poltarev đã giàu có, nhờ hắn viết lách cho báo chí nhiều. Barsov làm công cho một hãng đồ hộp nhưng sau đó bị đuổi. Lại thất nghiệp, lại ốm o thiểu não. Gặp Poltarev, Barsov bảo:

– Tao muốn trở về nước, tao gặp mầy để tỏ ý định đó.

Poltarev phải dằn lòng lắm mới không nắm vai Barsov tống ra ngoài đường. Barsov năn nỉ:

– Tao xin mầy cho mượn thêm một ít tiền nữa, tao không có nhà ở đã hai ngày rồi bây giờ nhọc quá sức.

– Mày bảo là mầy muốn về Nga Sô. Staline sẽ cho mầy tiền, tại sao mầy lại kiếm tao làm gì?

Poltarev nắm vai Barsov đuổi ra ngoài:

– Nếu mầy không về với Staline của mầy thì tao báo trước là tao sẽ nhờ người Mỹ tống mầy về, đồ thứ phản bội hai mặt.

Barsov đành trở ra đường, đến lại hãng làm việc cũ, vì ở đó hắn có quen một người Mỹ cộng sản đã nhiều lần khuyên hắn nên trở về với Nga Sô. Người Mỹ tên là Ballin, Barsov hỏi:

– Tôi muốn trở về nước, làm sao đây?

– Anh yên tâm, lát nữa hết giờ làm việc tôi sẽ dẫn anh đến tòa lãnh sự Sô Viết. Họ sẽ cấp giấy tờ cho anh đi là xong chứ gì.

Chiều lại Barsov theo Ballin đến tòa lãnh sự nạp đơn xin hồi hương, xong xuôi, Ballin bảo:

– Mai anh đợi tôi trước hãng, chúng ta đến tòa lại một lần nữa sẽ có giấy tờ ngay.

Barsov than hết tiền và không có chỗ ngủ, Ballin cho tiền ngay dù không nhiều lắm. Barsov lại vào quán nước. Hắn hơi mệt và muốn uống một ít bia. Hai người còn trẻ đến ngồi bên cạnh hắn. Hắn có cảm tưởng là đang bị theo dõi, nên uống thật nhanh và ra ngoài.

Hắn không có tiền để thuê khách sạn nhưng hắn biết một chỗ người ta cho thuê ghế ngủ từng giờ một. Barsov thuê hai giờ liền. Theo thói quen, hắn trả tiền trước và đứa bé con sửa soạn ghế ngủ cho hắn. Nhiều người thuê ghế ngủ như thế nhưng hơi đắt. Barsov ngủ ngay và ngủ rất mê đến nỗi không biết giờ đã hết nên bị thằng bé cho thuê ghế đá một đá nên thân.

Barsov lại đi vào một quán rượu vì hắn nghĩ là chỉ cần qua đêm nay thôi, ngày mai hắn đến tòa lãnh sự và có thể chấm dứt cuộc sống lang thang nầy.

Trong quán rượu, Barsov lại gặp hai thanh niên hồi nãy. Chẳng nói chẳng rằng một trong hai người đấm một cú vào sườn Barsov làm Barsov thối lui và hắn tiếp tục đấm Barsov cho đến khi Barsov ngã quỵ. Hỗn loạn trong quán rượu, ly tách bể loảng xoảng. Barsov không muốn lôi thôi, hắn định đứng dậy chạy đi nơi khác nhưng lại bị đánh thêm. Barsov ngạc nhiên:

– Các ông muốn gì tôi? Nào tôi có làm gì đâu?

Nhưng hắn vẫn tiếp tục bị đá cho đến lúc cảnh sát đến. Mọi người trong quán rượu đều bị bắt. Barsov không hiểu tại sao lại xảy ra chuyện như thế, mình mẩy hắn đầy máu, áo quần rách tơi tả. Người ta giam hắn trong một xà lim riêng biệt. Mệt quá, hắn ngủ thiếp đi. Trong thâm tâm, hắn không sợ bị bắt, nhưng sợ lỗi hẹn với Ballin ngày mai.

Ngày hôm sau, Barsov được gọi lên thẩm vấn. Bốn cảnh sát hỏi han đủ thứ và hắn trả lời rất thành thật.

– Anh làm gì suốt ngày hôm qua?

– Tôi đến nhà người bạn đã cùng tôi trốn khỏi Nga Sô, người bạn tên là Poltarev.

Cảnh binh nhìn nhau cười đắc thắng, biết là Anatole Barsov đã không nói dối tí nào.

– Anh đã nói gì với người bạn anh?

– Tôi nói với hắn là tôi muốn trở về Nga Sô (Barsov nói ngô nghê như con nít). Igor đã đánh và đuổi tôi ra đường.

– Và sau đó anh làm gì?

– Giận quá tôi trở về hãng làm việc. Tôi xin việc làm nhưng bị từ chối. Tôi cầu cứu người bạn cùng phòng với tôi hồi trước tên là Ballin, nói thật với anh ta là tôi muốn trở về nước, bởi vì anh ta đã nhiều lần khuyên tôi nên làm thế. Ngoài ra tôi không nói thêm gì khác nữa. Chúng tôi cùng đến tòa lãnh sự Sô Viết, tôi đã đệ đơn xin hồi hương; mượn tiền Ballin, ngủ hai giờ trong quán cà phê, vì không đủ tiền để thuê phòng ngủ, nên tôi chỉ thuê một ghế hai tiếng đồng hồ thôi.

Một cảnh sát viên hỏi:

– Anh thuê một chỗ ngủ hả?

Đồng bạn anh ta giải thích cho anh ta biết là ở Nữu Ước có những chỗ mà người nghèo không đủ tiền thuê phòng, chỉ thuê ghế ngủ từng giờ trong quán cà phê.

Barsov khai tiếp:

– Sau hai giờ ngủ, tôi lại lang thang ngoài đường phố và sau đó vào một quán rượu. Hai người lạ lấn tôi và đánh tôi cho đến lúc cảnh sát đến. Người ta mang tôi lại đây, câu chuyện chỉ có thế thôi.

Cảnh sát bực quá. Tất cả những gì Barsov kể lại đều thật cả, đều phù hợp với bản tường trình của nhân viên đã theo dõi Barsov ở sứ quán Nga ra về, phù hợp với lời khai cả Poltarev và của nhân viên có phận sự ngụy tạo sự hỗn loạn ở quán rượu để bắt Barsov. Nghĩa là Barsov không hề dấu giếm một điều gì cả.

Một cảnh binh hỏi:

– Ông muốn trở về Nga thật không?

– Vâng, tôi muốn trở về Nga lắm.

Một viên chức mang đến một tờ giấy và một cuốn sổ tay. Anatole Barsov nhận ra cuốn sổ tay của hắn ghi các công việc hàng ngày, cuốn sổ tay đó cũng như tất cả đồ đạc của hắn đã phải để lại khách sạn vì không đủ tiền trả tiền phòng. Trên mảnh giấy đã có một bản dịch ra tiếng Anh tất cả những gì Barsov viết trong cuốn sách đó.

Cảnh sát đọc và có vẻ bất bình:

– Từ hồi nào anh có ý định trở về nước?

– Lâu lắm rồi, ngay từ những ngày đầu tiên tôi bước chân lên đất Hoa Kỳ. Nhưng tôi không có can đảm để thực hiện đó thôi. Bây giờ tôi không chịu được nữa, tôi phải về.

– Anh có biết là nếu anh trở về nước, Staline sẽ giết anh ngay không?

– Vâng, tôi biết, giết vì phản bội. Tại nước tôi, phản bội sẽ bị án tử hình.

– Và anh muốn trở về để bị xử tử?

– Tôi hy vọng là tội của tôi chỉ bị kết án khổ sai mà thôi, mười hay hai mươi năm. Điều tôi đã làm có tội nặng lắm, nhưng khi đã đền tội như thế rồi, tôi sẽ trở về hàng ngũ của những người công dân lương thiện.

– Tại sao anh trốn khỏi Nga Sô trong khi anh chấp nhận chế độ đó?

Barsov ngần ngừ, kỷ niệm ra đi làm hắn bực bội:

– Trả lời đi chứ. Tại sao anh bỏ Nga Sô ra đi?

– Đó là câu hỏi mà tôi tự đặt ra cho mình từ lúc tôi đặt chân đến đây. Tôi đã điên đầu vì tôi không hiểu rõ tại sao như thế.

Cảnh sát đọc lại nhật ký của Barsov. «Mỗi đêm mình điên đầu lên để tìm hiểu những nguyên nhân chính đáng của cuộc trốn thoát. Càng nghĩ mình càng thấy những lý do ra đi như sau: 1) Không hài lòng bà vợ. 2) Bất bình với cấp chỉ huy không đoàn. 3) Nhiều nợ nần quá không trả được. 4) Ảnh hưởng của Igor Poltarev. Và mình tưởng là mình có óc phiêu lưu. Hình như đó là những lý do đã làm cho mình phản bội tổ quốc.»

– Về phương diện chính trị, anh có đồng ý với chế độ Sô Viết không?

– Tôi chưa bao giờ tự hỏi là chế độ Sô Viết tốt hay xấu. Thế mà lúc tôi đến đây mọi người đều hỏi tôi câu đó. Tôi nghĩ là chế độ Sô Viết cũng như bao nhiêu chế độ khác vừa tốt vừa xấu.

Thế anh không bao giờ bị khủng bố hay là cảm thấy khó chịu vì ách độc tài?

– Tôi không thấy khó chịu về sự độc tài nào cả trong xứ sở của tôi.

Barsov nhìn đôi mắt viên thông ngôn, hắn cố hiểu và không bỏ qua một chữ nào, vì hắn muốn trả lời thành thật và thẳng thắn. Hắn không cần dấu điều gì cả.

– Chế độ dân chủ của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ không làm anh hài lòng?

Barsov ngần ngừ:

– Trả lời đi chứ. Anh không thấy dễ thở dưới một chế độ tự do dân chủ hay sao?

Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ nhất thế giới, thứ dân chủ hoàn thiện nhất. Thế mà anh không thấy dễ chịu với chế độ hay sao?

Barsov nắm chặt tay, cảnh sát dục:

– Trả lời đi. Anh có hài lòng hay không đối với chế độ tự do?

– Không. Tôi không cảm thấy dễ chịu dưới chế độ dân chủ.

– Thế anh thích chế độ Sô Viết hơn.

– Vâng. Tôi thích hơn.

Bốn người cảnh sát nhìn nhau, cùng có chung một ý nghĩ: Anatole Barsov đang bị thất vọng và cần phải vào bệnh viện thần kinh để điều trị trong trường hợp Barsov nói thật. Vì nếu đã bị khủng bố dưới chế độ Sô Viết, thế nào Barsov cũng bị khủng hoảng thần kinh.

Họ hỏi tiếp:

– Anh đã nghĩ kỹ trước khi trả lời chưa hay đó chỉ là một quyết định chốc lát vì khổ sở, đói khát và mệt mỏi?

– Không, tôi suy nghĩ kỹ lắm rồi. Ngay từ đầu, tôi biết là tôi phạm một lỗi lầm. Đúng là tôi đã bị mệt mỏi, đói khát, tuyệt vọng nhưng những gì tôi đã nói đều đã được suy nghĩ chín chắn. Tôi thích chế độ của tổ quốc tôi, và tôi không thể sống ở Hoa Kỳ.

Cảnh sát cười. Barsov tưởng là họ chế nhạo hắn vì cho là hắn nói dối.

– Anh không thích Hoa Kỳ là vì ở đây không có trại tập trung? Vì thế mà anh chán chúng tôi ư? Vì ở Sô Viết có trại tập trung mà anh thích trở về?

– Không, không phải vì thế. Ngay cả nếu tôi có hàng triệu bạc, tôi cũng không thể nào sống ở Hoa Kỳ được.

– Anh là người độc nhất trên vũ trụ nầy nói thế.

– Không, tất cả bạn bè tôi đều nghĩ và hành động như tôi nếu họ ở vào hoàn cảnh của tôi.

– Anh muốn tuyên truyền cho cộng sản.

– Không, tôi mong các ông tha cho.

– Chúng tôi sẽ tha cho anh nếu anh thú nhận tại sao anh không thích sống ở Hoa Kỳ và tại sao anh thích Sô Viết hơn Hoa Kỳ, vì thế nào anh cũng có một lý thuyết hay ho chứ.

– Tôi không có lý thuyết gì cả. Tôi không biết làm chính trị hay làm lý thuyết gia. Tôi biết và thấy rõ là ở Hoa Kỳ con người ăn sung mặc sướng, lương tiền cao hơn, xe cộ đẹp hơn, nhưng tôi không thích, tôi khoái Sô Viết hơn.

– Nhưng anh vẫn chưa nói tại sao anh thích Sô Viết, trong lúc mà ở bên đó người ta sống chật vật hơn, làm việc nhiều mà kiếm tiền ít.

– Ở nước chúng tôi, con người không cô đơn. Ở đây, tôi cô đơn như ở giữa một bầy chó sói. Ở Nga, mọi người đều có việc làm. Ở đây, không ai giúp đỡ ai cả. Ở Nga Sô, có trật tự xã hội và tình đồng đội. Tôi sẽ đem ví dụ cha tôi cho các ông nghe. Cha tôi làm nghề đánh cá. Một hôm sau một trận bão ở biển Đen, ghe cha tôi chìm và dụng cụ mất hết. Ba ngày sau cha tôi được chính phủ cấp cho một chiếc ghe khác với đầy đủ dụng cụ cần thiết. Thế là cha tôi tiếp tục làm ăn. Ở Hoa Kỳ, nếu ghe cha tôi bị chìm, cha tôi sẽ chết đói. Ví như tôi đây, nếu ở Nga Sô, tôi đã có việc làm từ lâu. Chính Phủ sẽ cấp cho tôi việc làm ngay. Ở đây, tôi lang thang như một con chó và chẳng ai thèm đếm xỉa đến tôi cả.

– Nhưng mà anh được tự do đi lang thang.

– Không, tôi không muốn tự do lang thang. Các ông muốn tôi làm gì với thứ tự do đó cơ chứ?

– Chế độ dân chủ đem lại tự do cho mỗi người. Thứ tự do lợi hay hại là tùy ở chính cá nhân mỗi người xử dụng nó. Bởi vì với tự do đó, người nầy trở thành tổng thống, người kia trở thành kẻ sát nhân. Với thứ tự do đó ông bạn Poltarev của anh đã viết sách viết báo, cũng với thứ tự do đó anh muốn trở về Nga Sô để bị đày đi Sibérie hay trong một hầm mỏ trọn đời. Nhờ tự do, mỗi người làm những gì mình thích. Đó là thứ công bình xã hội to tát nhất trên trái đất: Nghĩa là mỗi người được tự do để chọn điều gì hợp ý, điều gì mà họ cho là đáng yêu nhất. Và chính vì lý do đó mà chúng tôi tôn trọng quan điểm của anh: Bỏ đi để bị tù chung thân hay bị tử hình. Anh có thể dùng tự do đó để làm việc gì khác hơn là tự ý vào tù. Anh có thể trở thành phi công hay kỹ sư, giám đốc ngân hàng hay là quân nhân. Anh đã được tự do và anh đã chọn lựa sự tù tội. Chúng tôi để cho anh đi. Nhưng bổn phận của chúng tôi trước hết là gởi anh đến một nhà phân tâm học để xem anh có bình thường không. Nếu anh bị bệnh, chúng tôi sẽ săn sóc anh. Chúng tôi sẽ để anh quyết định sau khi đã điều trị bệnh tình cho anh xong.

Barsov hơi xiêu lòng. Điều mà người ta vừa nói có vẻ hợp lý đối với hắn. Người cảnh sát hỏi thêm :

– Bây giờ anh có cần thêm gì vào lời khai ban đầu không?

– Tôi không thêm gì nữa cả. Tôi lập lại là tôi trốn khỏi Nga Sô không phải vì những lý do chính trị, mà toàn là vì những lý do cá nhân. Nhất là vì tôi không đồng ý với vợ tôi. Cho nên nếu tôi trở về Nga Sô lại thì cũng chỉ vì những lý do cá nhân chứ không phải vì những lý do chính trị. Tôi phải về vì tôi nhớ quê hương. Tha thiết muốn thấy lại tổ quốc của tôi. Đó là lý do thật sự. Với lại, tôi không thể sống chung với những người xa lạ, tôi muốn ở tù nhưng ở tù chung với đồng bào tôi, các ông hiểu chưa?

– Dù sao lúc nầy anh cũng phải ở lại đây đã, để chúng tôi bổ túc biên bản.

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Nguyễn Nghiệp Nhượng

Post by Sơn râu 15 May 2024

Tiểu sử

Tên thật Mai Khúc Hải, sinh năm 1951. Thực sự tham dự sinh hoạt nghệ thuật từ 1960. Cộng tác mật thiết với tạp chí Văn Nghệ. Viết rải rác ở các tờ khác, cũng làm thơ. Hiện cùng thân hữu chủ trương Tập San Văn Chương. Tác phẩm đã xuất bản: Dạ Khúc, 1970.

Quan Niệm Về Truyện Ngắn

Tôi thường chỉ nên phát biểu vài điều qua những gì đã viết ra: truyện ngắn giống như một sự rọi sáng tập trung (dĩ nhiên không thể là biểu tượng). Nhân vật hay sự vật trong truyện ngắn xuất hiện mà không còn một phụ tùng nào khác. Tôi gọi sự kiện này là sự xuất hiện định mệnh.

Đằng khác, chữ có sức mạnh riêng. Sức mạnh này xóa nhòa, vượt bỏ và làm hiển lộ nhiều thứ: cường độ của sự rọi sáng nhờ đó tăng thêm và đưa truyện ngắn đến cực đoan.

Sau cùng và trước hết, tôi cho rằng tiếng “Truyện Ngắn” đã nên được khai tử.


Về Truyện Ngắn “NHÂN VẬT”

Đoản thiên Nhân Vật sau dây được viết năm 1969, in trên tuần báo Hiện Tượng số tháng 11,1970, có sửa chữa và lược bỏ đôi chỗ.

39. Nhân Vật

Chúng tôi không có gì để mà nói với nhau: khung cảnh như đã biến đổi, một tia ánh trăng xuyên qua cửa lớn, nơi có một dàn hoa lá đêm đen thẫm. Trăng đêm nay rất sáng, có lẽ phải rất tĩnh trời mới được như vậy. Một tay nàng mảnh dẻ đặt trên đùi, và tay khác, đúng như là một tay khác, thì trên mặt bàn với bàn tay thõng xuống mềm dịu. Một điểm óng ánh trên ngón tay của bàn tay đó. Điểm óng ánh cũng mềm dịu.

Hình như cả hai chúng tôi đều quên bẵng mọi chuyện khi bắt đầu tới ngồi nơi cái bàn này. Những chuyện mà tôi có thể nói với nàng đều quá nhàm dù tôi chỉ mới bước chân vào ngôi nhà này không lâu. Chúng tôi nói chuyện vớ vẩn, về thành phố, về những người ở quanh đây mà tôi chẳng hề biết mặt, những căn nhà, đêm trăng sáng, nhạc, và cả những thứ mà tôi mù tịt, chẳng hạn nói về những hạt ngọc bích ở đâu đâu và kim cương trên tay nàng.

Chiếc nhẫn lúc này vẫn sáng lóng lánh và có lúc tôi nghĩ nàng hơi cầu kỳ một chút. Thật ra nàng không có món gì khác hơn và chiếc nhẫn thì có vẻ hợp với bàn tay và thân hình óng ả của nàng. Nhưng mặc dầu với cả ngôi nhà to lớn này bên cạnh nàng, tôi vẫn không ngăn được ý nghĩ về một người đàn ông nào đó, một người đàn ông đen sạm, trong một ngày mịt mù nào đó, đến tặng nàng chiếc nhẫn rồi đi biệt tích… và đại khái, một vài thứ khác trong nhà này cũng đôi lúc cho tôi cảm tưởng tương tự. Dĩ nhiên, đây chỉ là chuyện cảm tưởng.

Ánh trăng vẫn vằng vặc. Trong không khí mát lạnh, có một vài tiếng động khẽ, xa vắng. Hình như có tiếng sóng vỗ. Điều này có lẽ bởi tôi đinh ninh thế, bởi cả cái không khí bằn bặt làm như lúc nào cũng bao phủ khuôn mặt và thân hình nàng. Biển, theo trí nhớ của tôi, phải ở cách đây khá xa, và tiếng sóng nếu có thì cũng gần như sự im lặng. Nhưng cũng có thể là ngọn gió nhẹ từ phía giang khẩu thổi vào đã đem tiếng sóng đi xa như vậy. Đột nhiên, tôi nghe một tiếng động khác thường.

Một thứ tiếng tôi chưa từng nghe từ khi bước vào nhà này, ở đâu đó vọng tới. Cũng chính sau tiếng động này, nàng đổi thế ngồi một cách nhẹ nhàng chậm rãi, và nàng nói:

“Trăng sáng.”

Tiếng nói của nàng không lớn và cũng không có vẻ gì là nàng định tâm phá vỡ sự im lặng đang vây bọc chúng tôi để hướng tới một điều khác nào đó. Tôi im lặng một lát sau câu hỏi ngắn ngủi của nàng, rồi tôi nói, gần như là phải cố gắng để cho lớn hơn một chút:

“Trăng sáng.”

Hình như một ngón tay nàng đặt trên mặt bàn có vẻ động đậy. Tôi nói tiếp:

“Em nói trăng sáng như lời than thở. Như em buồn việc gì.”

“Em không buồn gì đâu anh. Trải lại nữa kia.”

“Em im lặng.”

“Anh cũng im lặng vậy. Mà anh không thích em ngồi im lặng sao anh?”

“Sao không. Với lại, làm sao không được. Bao lâu nay ta đã im lặng.”

Có lẽ nàng hơi mỉm cười và có lẽ nàng cũng nhìn thấy tôi hơi mỉm cười như nàng. Chúng tôi lại im lặng một lúc nữa rồi nàng lại nói trước với giọng nhẹ như hơi thở ban nãy:

“Em có thay đổi nhiều không?”

“Tất nhiên em có thay đỗi. Anh cũng thay đổi vậy. Làm sao ta không thay đổi được, có một thời anh hay nghĩ anh thay đổi, nhưng thời đó qua rồi. Bây giờ anh không hay nghĩ như thế nữa. Việc đó đâu có quan trọng.”

“Anh có buồn không?”

Tôi không trả lời. Tôi nhìn sâu vào mắt nàng. Ở đôi mắt này, như hai viên đá tròn, bao quanh là nét viền của mí mắt, tôi không thấy một điều gì khác lạ như tôi vẫn thường tưởng. Nàng có đang nhìn thấy tôi không? Chắc là có. Nhưng hình như tôi không tìm thấy bóng dáng của tôi trong mắt nàng. Tôi nói:

“Không. Anh không buồn.”

“Em cũng không buồn. Em đã quen với nhiều thứ rồi. Ở trong cái nhà này, em thường ngồi một mình, nhìn ra các thứ… Nhưng em không nghĩ gì cả. Mình không có gì để nghĩ cả, anh nhỉ?”

“Phải. Không có gì cả. Cũng như khi anh đến đây… Anh có định đến đây đâu.”

Nàng nhìn tôi tỏ vẻ chờ đợi.

“Hình như anh nhìn thấy một tảng đá hay một cái gì đó quen quen, rồi anh bỏ dở đoạn đường. Anh băng ngang quốc lộ, băng ngang cánh đồng, vào thị trấn, đi lang thang….”

“Rồi anh gặp em ở đây. Anh có ngờ gặp em không?”

“Không.”

“Khi anh hiện ra trong khoảng đường tối, em không nhận ra là anh. Tảng đá nào mà anh trông quen quen thế?”

“Em biết rồi đó. Chắc cũng chẳng có tảng đá nào cả đâu.”

“Em cũng vậy”, giọng nàng chợt có vẻ khẩn khoản, mắt nàng nhìn tôi làm như cả thân hình xô về phía trước, “ngôi nhà này anh đâu đã biết, tất cả những thứ ở đây anh đâu đã biết… Vậy mà em nhìn chúng hằng ngày, hằng đêm. Em đâu có nhớ tới anh. Nhưng mà. Anh biết rồi đó.”

“Thì vậy”, tôi đáp nhưng không hiểu nàng định nói gì.

“Trông anh đen quá. Anh có vẻ cao hẳn. Tóc anh hình như biến thành mầu nâu. Tay chân anh dài khẳng khiu. Anh như già đi.”

Thốt nàng cất tiếng cười trong trẻo. Tiếng cười của nàng vang dội trong ngôi nhà, trong khu vườn, trong ánh trăng lặng lẽ. Nàng ngưng cười và nói:

“Anh về đột ngột quá.”

“Anh thì như ngủ mơ, em thấy không?”

“Thôi cứ cho là ta có thay đổi đi, cũng chẳng sao. Phải không anh? Anh thử nhìn xem. Những cái thuyền ngoài cửa sông kia…”

Một tay nàng cất lên như bằng gỗ. Đó là cánh tay mà ngón tay có đeo chiếc nhẫn lóng lánh. Trong ánh trăng sáng đang chiếu một đường xiên vào gian phòng, cái mặt nhẫn lóng lánh như một ngôi sao trong buổi sáng sớm có gió lạnh. Tôi nhìn theo ánh sáng ấy và phải mấy giây sau tôi mới bắt đầu trông thấy lờ mờ một vài hình ảnh lô xô, hiện ra trong khung cửa lớn đầy ánh trăng. Đó là những cột buồm cao thấp không đều nhau, với những cánh buồm đã cuốn lại mắc xéo vào những cột của chúng. Những cột buồm và cánh buồm đã cuốn lại này tất cả đều mang một mầu sắc mờ nhạt, vì ánh trăng lồng lộng dưới trời không mây như đã hòa bỏ tất cả những mầu sắc đặc biệt của chúng. Một đôi lúc, và tại một vài chỗ, những cột này hình như sáng lên một cách loãng nhạt, rồi từ từ biến đi như thể bị hút mất bởi một tờ giấy thấm. Đó là một cảnh sắc với âm bản hơn là được nhìn với mắt thường.

“Anh thấy những cái thuyền đậu trong bến.”

Không có một ánh đèn nào, chắc thế. Và dẫu có, hẳn là chúng đã bị ánh trăng lấn át. Những cái thuyền như thể là đậu trong khoảng không, không di chuyển, không lắc lư, im lặng và thẳng cứng.

“Anh có nhìn được con sông không?”

Sông ở đâu? Tôi không hề thấy. Ánh trăng đã làm mất nhiều thứ. Tôi không hề trông thấy mặt nước đáng lẽ phải lấp loáng dưới trăng sáng. Nơi những cái thuyền đậu im lặng, tiếp giáp với cả hai phía trên dưới, là một khoảng sáng trong trẻo nhưng nhạt loãng, và hình như có những hạt sáng li ti đang thay đổi mỗi lúc với tốc độ đều đặn, giống như chỉ bay lên mà không rơi xuống, theo một hướng cong cong rồi tụ lại ở cùng một phía. Phía đó là phía nào? Tôi không thể hình dung nổi. Tôi nói:

“Trước mặt ta, phía bên trái là gì em?”

“Không có gì cả. Chứ anh thấy gì thế?”

“Có phải hướng đó là chỗ những cái thuyền hay hạ buồm không?”

“Chắc không phải. Chỗ đó là cửa sông.”

“Anh nhìn thấy những chấm sáng bay về phía ấy. Chúng nhỏ li ti bay thẳng lên.”

“Những chấm sáng”, nàng cười, “tại mắt của anh đấy. Anh có nhìn thấy núi không?”

Núi? Có lẽ những ngọn núi thấp đang ở trước mặt tôi, phía sau những cột buồm lô nhô, sau giang khẩu, bên kia eo biển. Nhưng tôi không trông thấy. Đến chỗ đó, bầu trời hình như rộng rinh và nhòe sáng. Mọi vật đã chìm ngập tất cả dáng vẻ của chúng trong ánh sáng đó.

“Anh không nhìn được núi. Hình như ban ngày, dãy núi này có những vệt trắng lớn, phải không em?”

“Đó là những bãi cát, anh ạ.”

“Nhưng bây giờ thì anh không thấy gì. Thuyền, cột buồm, những cái buồm cuốn lại, tất cả những cái áy đều không rõ ràng. Ngay cả mặt sông, núi, hay những thứ khác cũng biến mất. Ngay cả em nữa. Hiện giờ em cũng khó nhìn thấy. Hình như tóc em đã dài lắm rồi, phải không?”

“Dài, anh ạ. Em không hề cắt.”

Vệt ánh trăng vẫn chiếu sáng lặng lẽ và xiên một đường trong gian phòng. Sau câu nói của nàng, hình như có một tiếng dội mỏng manh giống như tiếng rơi lăn tăn cho đến khi sự yên lặng trở lại như thể là chúng đã lẩn trốn. Trong khoảng im lặng cuối này, tiếng thở của nàng nhẹ và đều. Nàng hơi nhích động thân hình, rồi đưa cả hai tay đặt trên mặt bàn. Tôi nhìn hai cánh tay đó và không khỏi kêu lên:

“Em gầy ốm quá!”

Nàng cười nhẹ nhàng:

“Em không gầy đâu anh. Em khỏe mạnh lắm.”

“Anh khó tin được nhưng anh mong em khỏe mạnh. Tay em xanh mướt.”

“Không xanh lắm đâu anh. Chắc tại em không hay đi ra ngoài. Chắc tại vậy.”

“Nơi đây có vẻ mát mẻ nhưng hình như thiếu ánh mặt trời. Em phải ra ngoài nắng cho khỏe người. Ở đây anh thấy lạnh quá.”

“Em chịu nổi. Có lẽ tại anh không quen. Để em mời anh một ly rượu cho ấm nhá.”

Nàng đứng lên. Tôi cũng đứng lên theo.

“Anh chịu phiền chờ em một chút thôi.”

Và nàng nhẹ nhàng bước ra cửa giữa vùng ánh trăng tràn ngập. Hình như nàng bước xuống một hai bậc gạch gì đó rồi đi trong một lối sỏi trắng. Đêm trăng vẫn thanh tĩnh.

Khu vườn có vẻ rộng mênh mông. Nàng như thể sẽ đi mất mà không trở lại. Khi tôi thu tầm mắt về để chú mục vào lối đi của nàng, thì nàng đã không còn đâu nữa. Có một bức tường ở gần chỗ nàng vừa đi đến, và tôi độ chừng nàng đã vòng theo lối đó, một nơi có những cây to, tàn rậm rạp, những chậu cảnh rải rác đây đó, cả những bụi cây trống cạnh lối sỏi nữa. Nơi xa, gần với hàng rào, có một cái cổng nhỏ bằng gỗ, loại cánh cổng đóng nẹp sắt, mở ra một vùng rộng rãi âm u hơn, được cách biệt bởi hàng rào nhưng vẫn có vẻ là sở hữu của chủ nhân ngôi nhà này. Ánh trăng chiếu tỏa trên những mô đất đá cao thấp như người sống, một vài chỗ như phát ra ánh sáng.

Có một bức tường cao và dài thấp thoảng sau những lùm cây. Bức tường dài gần bằng một nửa chiều dài khu vườn, và nó làm cho ngôi nhà có một sinh hoạt biệt lập. Trong ngôi nhà to lớn này còn có ai ngoài nàng không? Chắc hẳn phải có một vài người nào đó, như bà con thân thích, hay một vài kẻ giúp việc. Họ ở đâu? Chắc là ở trong những căn nhà khác khuất sau phía hông mà tôi không thấy được, vẻ im lặng mơ hồ của khu vườn làm tôi luôn luôn nghĩ đến cuộc sống biệt lập của nàng.

Gian phòng rộng quá sức so với số ít đồ đạc bầy biện và những vật trang hoàng mờ tỏ. Ánh trăng soi sáng một bức chân dung vẽ chì đen không biết là người già hay trẻ nhưng y phục trịnh trọng, có vẻ bệ vệ oai võ. Ánh trăng cũng soi sáng bộ bàn ghế mà tôi và nàng vừa ngồi nói chuyện, soi sáng những cái dĩa treo tường, những tua kim tuyến nơi quần áo một hình nhân đeo mặt nạ tay cầm kiếm dáng dữ tợn. Tuyệt nhiên tôi không trông thấy một cây đèn nào.

Có lẽ nàng không thích nói chuyện với tôi dưới ánh sáng của những cây đèn. Ánh trăng thay thế cho những cây đèn và mát mẻ lung linh hơn nhiều: giờ đây, vì đã quen với một số đồ vật và vị trí của chúng, tôi bắt đầu có thể nhận ra những mảng ánh sáng hơi xanh tô nhạt lên bề mặt nhiều thứ. Chẳng hạn, ánh trăng phớt nhẹ trên một nửa thân bức tượng đeo mặt nạ cầm kiếm, phớt nhẹ trên một mảng của cái tủ mầu nâu nhạt, phớt nhẹ trên một vài miếng gạch bóng, trên một vài cái dĩa có hình cây cỏ hay người, trên một chiếc độc bình không cắm hoa… Trên tường, bức chân dung vẽ chì đen thì không có một mảng sáng nào, nhưng lờ mờ một thứ ánh sáng khác do độ đậm nhạt của nét chì tô bóng.

Hình như trong một lúc nào đó, có một làn gió thổi tới với âm thanh như tiếng mưa. Đó chắc không phải là một cơn mưa, và trời vẫn sáng đều đặn không một chút nào thay đổi. Tuy nhiên, một thoáng sau khi cơn gió thổi đến, tôi bắt đầu nghe những tiếng côn trùng lẻ loi kêu ngoài vườn tưởng chừng chính cơn gió đã đánh thức chúng. Hình như trăng sáng hơn đôi chút. Hình như những mô đất đá cũng sáng hơn. Và lối sỏi thì lóng lánh.

Chốc nữa đây, những vật này có thể lại tối sẫm đi đôi chút, có thể chúng sẽ có những hình thù khác; nhưng giờ đây, ánh trăng vẫn vằng vặc, sáng đều đặn trong khắp khu vườn. Hẳn cũng có nhiều vật đang chậm rãi chuyển đổi, những góc cạnh đang thay đổi, lá và cành cây có vẻ chuyển chiều, những mặt phẳng khác đang từ từ hiện ra… nhưng đêm trăng thì vẫn thanh tĩnh, tất cả những điều có thể đó cũng thanh tĩnh. Không có một chuyển dịch đột ngột và rõ rệt nào. Tất cả đều yên tĩnh, thanh tĩnh, chậm chậm, từ từ và đều đều. Nàng hiện ra trong tất cả những điều đó.

Chúng tôi im lặng đối diện trước ngưởng cửa. Nàng đưa cho tôi một trong hai cái ly và mở nút. Khi nàng nghiêng cái chai xuống, tôi nghe rõ tiếng thủy tinh chạm vào nhau rất khẽ và chỉ một lần nhưng tay tôi dần dần chịu thêm sức nặng như thể là nàng không cầm nổi. Nàng rót đầy ly cho tôi, và rót một chút trong ly của nàng.

Tôi không đưa cao ly mời, im lặng uống. Hình như nàng cũng nhấp một chút. Tôi đỡ chai rượu trên tay nàng và đi vào ngồi nơi cái ghế ban nãy. Nàng cũng ngồi xuống cái ghế của nàng.

“Cám ơn em đã thân đi lấy tới mời anh”, tôi nói và chờ nàng trả lời để xem có phải nàng sống một mình không. Nhưng nàng chỉ yên lặng mỉm cười.

Tôi rót một ly khác, ngửa cổ uống một hơi và rót một ly khác nữa. Tôi nói:

“Em cũng uống với anh một chút đi.”

Nàng lặng lẽ nhấp một chút rượu trong ly của nàng.

“Khi em đi trong vườn, quả thật tóc em đã dài.” Nàng vẫn ngồi thẳng, mắt hướng về phía tôi, nhưng đôi môi bằn bặt không một lời nào.

“Em sống trong một cái nhà quá lớn. Cả khu vườn này. Cũng quá lớn. Anh không bao giờ nghĩ em sống ở một nơi như chỗ này cả. Nếu không gặp em bất ngờ, có lẽ anh chỉ đi ngang đây như mọi cái nhà khác.”

Nàng không nói gì.

“Cả hai đứa ta làm như đều không thích ồn ào. Anh bao giờ cũng vậy. Chắc em cũng vậy. Nhưng nghĩ cho cùng, ta đã im lặng quá!”

Nàng nhẹ nhàng bắt chéo hai bàn tay đang đặt trên mặt bàn.

“Có những điều ta không nên nói lại nữa, anh hiểu vậy. Em có cảm thấy như thế không?”

Nàng nhẹ nhàng mỉm cười.

“Anh đã buồn rầu một thời gian. Nhưng bây giờ thì hết rồi. Bây giờ thì hết thật rồi.”

Nàng mỉm cười.

“Thời gian thật kỳ lạ. Ta đã trải qua nhiều chuyện tưởng không thể xảy ra được. Thường khi anh tự nói: quên đi, quên hết đi. Nhưng chắc anh không làm được điều đó.”

Nàng hít thở một hơi dài và nhấp một chút rượu.

“Quá khứ. Thật là khó khăn.”

Nàng hơi nghiêng ly rượu của nàng và chăm chú nhìn ly rượu ấy.

“Còn hơn thế nữa, anh nghĩ vậy. Ta nương tựa vào quá khứ quá nhiều và quá lâu. Chính ra, anh tưởng ta phải sống khác hơn.”

Nàng mỉm cười.

“Nhưng lâu lâu anh lại nghĩ một cách điên khùng là ta đã sống khác hơn rồi.”

Nàng vẫn nhìn cái ly, hơi nghiêng đầu và mỉm cười.

“Anh chưa hề đụng tới ngón tay của em. Ta chưa hề hôn nhau một lần. Có phải không?”

Nàng khoanh hai cánh tay của nàng mà không giữ cái ly nữa. Nàng nhìn xuống hai cánh tay ấy.

“Có phải ta đã yêu nhau không? Chắc là phải. Ta yêu nhau cũng giống như một chuyện không có thực. Đúng như là một chuyện tưởng tượng.”

Nàng im lặng.

“Cuối cùng, anh tự nói nên tin là ta đã kết thúc từng phần một, một cách đầy đủ trọn vẹn mà ta không hay. Chắc ta không hay biết gì cả.”

Nàng im lặng.

“Cũng như những cảnh trí bây giờ. Những thuyền câu, cột buồm, sông, biển, gió biển, tiếng sóng, núi, trời mây, trăng sáng, những thứ này rồi ra sẽ không còn nữa. Ngày mai chẳng hạn. Ngày mai chúng sẽ mất. Ngày mai ngay cả em nữa cũng thế. Anh cũng thế. Chẳng còn gì.”

Nàng im lặng.

“Có một thời kỳ anh hay nhớ tới một hình ảnh. Một đêm trăng sáng ở gần đâu đây. Trăng sáng quắc sau một cây dừa thấp. Lá dừa lấp loáng. Trăng vàng rực. Trời trong vắt. Cây dừa đó ở ngã tư của hai con đường nhỏ, phía sau một bức tường thấp. Chắc em không nhớ nó.”

“Nay nó đã cao lắm.”

“Cây dừa đó. Một cây dừa sáng loáng, lóng lánh, sáng quắc… Phải không?”

Nàng im lặng.

“Cây dừa đó không bao giờ rời khỏi tâm trí anh. Vậy mà anh cứ tưởng chỉ có anh nhớ tới.”

Nàng im lặng.

“Thế nhưng bây giờ thì hết rồi. Bây giờ nó không thể sáng bằng ánh trăng đang chiếu xuống đây được.”

“Vâng. Nhưng anh uống rượu đi.”

“Anh không quen uống nhiều rượu. Nhưng rồi anh sẽ uống.”

“Em bị say một lần tưởng chết được.”

Tiếng cười của nàng đột ngột ngân vang trong trẻo.

“Em mà say rượu. Anh thử tưởng tượng xem buồn cười đến đâu.”

“Đáng lẽ em không nên uống mới phải.”

“Em hiểu, anh ạ. Không ai có thể xua đuổi ý nghĩ trong trí bằng thứ này được cả. Rượu chắc chỉ để uống cho khỏi lạnh.”

“Anh sợ có đôi lúc thì khác”. Nàng lặng lẽ ngước nhìn tôi, mục quang như thể biến thành hình dáng: co rút trong chỗ sâu thẳm không thể với tới.

“Anh có vẻ gầy quá. Anh có bị đau thường không?”

“Không. Anh thế này có bao giờ bị đau đâu.”

“Em nghĩ anh hơi yếu. Chắc anh yếu. Nét mặt anh thì không thay đổi mấy. Dù có thay đổi, em vẫn nhận ra. Nhưng má anh ít thịt hơn. Anh có cực khổ không?”

“Không. Chưa khi nào anh cực khổ. Tại sao khi không em lại nghĩ ra được điều đó vậy? Mình thì đâu có cực khổ hay không cực khổ. Mình chỉ bị cảm nắng hay cảm lạnh. Mình không khi nào có chuyện cực, không cực. Lúc nào mình cũng vậy. Chẳng bao giờ khác.”

“Em cứ đôi lúc nghĩ lẩn thẩn như vậy anh ạ.”

“Em nghĩ vậy rồi em làm được gì? Ví dụ anh cực khổ, rồi em an ủi anh phải không? Hay em chia gia tài cho anh?”

“Nhưng ta sống làm gì đây?”

“Ta có làm gì đâu? Anh chẳng làm gì cả. Nói cho cùng thì đúng là anh chẳng làm gì cả.”

Hình như nàng hơi hơi cười. Nàng có cười không? Chắc là có. Ánh trăng vẫn vầng vặc sáng khắp khu vườn, tràn lan trên mọi vật. Hình như những cái thuyền ngoài cửa sông đang sáng hơn một chút, bầu trời cũng sáng hơn, cửa sông cũng sáng hơn… Tôi nhìn nàng và cầm chai rượu lên. Tôi uống không cần ly cho đến hết.

“Anh sẽ bị say lắm anh ạ.”

“Chắc vậy. Anh bắt đầu choáng váng.”

“Anh có thấy mệt không?”

“Anh bắt đầu say say. Rượu kinh khủng quá. Nhưng chắc anh còn chịu nổi. Dù sao, lát nữa anh cũng đi khỏi đây.”

“Anh đi giờ này sao?”

“Không. Nhưng cũng gần thế. Sáng mai hay buổi trưa, có lẽ họ sẽ đón anh. Bây giờ anh từ biệt em luôn thể, nhé?”

“Em mong gặp lại anh.”

“Chắc anh sẽ ghé thăm em. Anh say rồi đây.”

“Hay anh nghỉ một chốc cho khỏe đã?”

“Không. Nếu anh nghỉ một chốc, anh ngủ quay ra đây mất. Mà em biết rõ là bao giờ anh cũng muốn được ôm em ngủ.”

Nàng vẫn bất động. Tôi im lặng nhìn nàng. Hai mắt sâu đen, lãng đãng, trong ánh trăng không chớp động với viền mắt nhòa lẫn giữa bóng tối và ánh sáng. Mũi nàng. Mũi cao và thẳng, suôn sẻ, xinh xắn, với nét cong thoải mái. Miệng nàng. Môi nàng. Đôi gò má. Cái cằm. Tôi thầm cám ơn nàng đã dành đúng giây phút này đề tôi được một mình ngắm nhìn nàng. Đây là hình ánh của nàng chăng? Tôi sẽ còn giữ được hình ảnh này trong bao lâu? Thật không còn gì rõ ràng hơn, đó là điều chúng tôi sẽ chẳng còn dịp nào gặp nhau nữa. Hẳn nàng cũng đã hiểu được như thế. Chúng tôi là hai hình vẽ trong một bức tranh và mãi mãi chẳng bao giờ rời vị trí của mình.

Tôi đứng dậy và gần như cùng một lúc, nàng tì tay vào mép bàn để đứng dậy. Tôi đi vòng cái bàn, phớt qua thân hình mảnh mai của nàng, xuống thềm, vào lối sỏi, bập bềnh bước mà không rõ đang đi về hướng nào.

NGUYỄN NGHIỆP NHƯỢNG



Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta

vietmessenger.com
Huỳnh Phan Anh

Post by Sơn râu 15 May 2024

Tiểu sử

Tên thật Huỳnh Thanh Tâm, sinh ngày 3.3.1940 tại Dầu Tiếng, Thủ Dầu Một. Năm tuổi, theo gia đình tản cư xuống Saigon. Cựu học sinh Lê Bá Cang. Tốt nghiệp ĐHSP Triết tại Đà Lạt, 1964. Lần lượt dạy học tại Sa Đéc, Kiến Hòa, Mỹ Tho, Bình Dương… hiện là giáo sư Trung học Nguyễn Trãi, Saigon. Xuất hiện đều đặn từ năm 1966 trên các tạp chí Nghệ Thuật, Văn Học, Văn… Tác phẩm đầu tay: Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô, tập tiểu luận, xuất bản năm 1968. Lần lượt sau đó, truyện: Người Đồng Hành, Những Ngày Mưa, Ngọn Lửa Đìu Hiu…, phê bình: Đi Tìm Tác phẩm Văn Chương…

Quan niệm về truyện ngắn

Truyện ngắn có lẽ là một thử thách toàn diện và cao độ nhất mà người ta có thể thực hiện trong văn chương và chỉ có truyện ngắn mới nói lên đầy đủ và dứt khoát quan niệm của một tác giả về chữ nghĩa. Cho nên theo tôi, vấn đề quan trọng trong truyện ngắn vẫn là vấn đề kỹ thuật.

Kỹ thuật truyện ngắn luôn thúc đẩy người viết đặt chính truyện ngắn, tức là đặt vấn đề sử dụng chữ nghĩa thành vấn đề. Truyện ngắn thể hiện một sự tìm kiếm, mãi mãi như thế.

Về Truyện Ngắn “PHÍA NGOÀI”

Về truyện ngắn dành cho nhà xuất bản, theo tôi, có thể tạm gọi là điển hình cho lối viết của tôi, nếu tôi được phép nói như thế.

38. Phía Ngoài

Quán quay mặt ra bờ sông, thuộc một dãy phố thấp, cũ kỹ, với những cửa tiệm bán đồ bazar, gạo, than, cùng những sản phẩm đặc biệt của địa phương, tất cả nghèo nàn, mặc dầu vẻ phát đạt bề ngoài của chúng; đó là nơi tôi vẫn ngồi vào những buổi chiều không phải vào lớp, những ngày không phải về Saigon hay đến một tỉnh lỵ nào khác, những giây phút trống rỗng, bao giờ cũng vậy, để dễ bắt gặp cảm giác của lần đầu tiên bước vào một cuộc khám phá tình cờ, đúng vào buổi chiều đầu tiên đặt chân tới đây tìm mua những món vật dụng hàng ngày (bàn chải, xà bông, ly uống nước…), tôi đã uống ly cà phê nhạt nhẽo, gớm ghiếc, nhìn ra quang cảnh tẻ lạnh, lam lũ, xa lạ, chán ngắt bên ngoài, hương vị cà phê vẫn không hề thay đổi, cũng như bầu không khí chung quanh, trước mặt, nhưng không hiểu tại sao tôi vẫn tiếp tục trở lại đó, tìm lại chỗ ngồi đã bắt đầu quen thuộc, một cảm giác phải nói là khó chịu, một cảm giác mà tôi chấp nhận một cách dễ dàng. Chỗ ngồi kê sát bên cửa ra vào: một chỗ để nhìn ngắm, nghe ngóng, có lúc tôi tự nhủ thầm như vậy. Tôi đã nhìn qua bờ sông bên kia, lũ trẻ con nô đùa ngụp lặn dưới nước, tôi nhớ ra, để không bao giờ quên nữa, những âm thanh mơ hồ của nước, của những tiếng reo hò, có thể nào tôi đã nghe vang dội vào tai mình, qua một khoảng cách quá xa như vậy, có thể tất cả bắt đầu từ một hình ảnh tươi sáng xuất hiện bất ngờ, đúng vào lúc đó, dưới cái nhìn lơ đãng của tôi.

Tôi sẽ bước vào ngồi chỗ của mình, tâm hồn bình thản, rỗng không. Bờ sông bên kia, đúng vào chỗ có những cây dừa lả ngọn, những cành lá chết, buông xuôi, khô cóng: tôi chờ đợi lũ trẻ xuất hiện Ở đó, tôi tiếp tục mường tượng những hình ảnh, những âm thanh hãy còn mơ hồ, vướng vít đâu đó. Và tôi ngồi như đang nghe ngóng, bằng trọn thân thể của mình, những động tĩnh chung quanh. Buổi chiều (ôi, những buổi chiều của cuộc sống ngái ngủ, giả mơ giả chết) được ghi nhận bằng những sinh hoạt chậm lại, loãng dần, yếu ớt. Tôi sẽ chờ đợi sự thầm lặng đang trở về, hay vẫn có mặt từ bao giờ, sự thầm lặng kéo tôi ngồi nán lại, trói buộc mọi ước muốn viễn vông trong tôi. Lúc bấy giờ, mặt sông trở nên bằng phẳng, sóng rất khẽ, lấp lánh dưới những tia nắng sau cùng rất nhạt, rất dịu, ánh lên rất khẽ, gây ảo tưởng về một thứ âm thanh nồng nàn. Bên kia sông (tôi tiếp tục nhìn qua, tìm kiếm): cây lá dày kịt ven bờ, những mái nhà lưa thưa nằm lẩn khuất sau những bóng dừa sầm uất, mây xám và trong, thấp xuống. Nhìn ra xa, về phía trái, chiếc cầu sắt vắt ngang sông, thẳng băng, ở đó vào giờ tan học buổi chiều, những chiếc áo trắng kết thành hàng, thành một chuỗi dài tưởng chừng bất tận. Cảnh sắc đâu đây vẫn vậy, quen thuộc và nhàm chán. Tôi nhìn ra cõi mênh mông, không đối tượng. Tôi sợ từng sự vật bất ngờ nào có thể gây chú ý, từng sự chuyển biến đột ngột quanh tôi. Thật ra không còn gì nữa ngoài sự trống vắng, mơ hồ, một cái gì đang âm thầm chuyển bước hoặc âm thầm đứng lại, hoặc tan đi, không còn nữa, một cái gì đã là một sự vắng mặt. Còn tôi, tôi cũng mong manh, chới với. Tôi đã ở một nơi nào. Một nơi nào ở tận cùng cái nhìn kia. Ở đâu không biết.

Thỉnh thoảng, một khuôn mặt trong đám người qua lại dưới hiên quán, lơ đãng nhìn vào, bất chợt nhận ra một hình ảnh quen thuộc mỗi ngày, sẽ trở nên lúng túng, mất tự nhiên, sẽ vội nghiêng đầu bỡ ngỡ, một phản ứng gượng gạo, không thể cưỡng chống lại được. Tôi sẽ nghiêng đầu đáp lại hay tôi vẫn ngồi yên trong vị trí chết đờ khép chặt. Hay thật ra tôi chỉ mới chuẩn bị một tác động chào hỏi, lỡ dở và muộn màng; những cử chỉ, những mưu toan của tôi trong đời có bao giờ đúng lúc, nhịp nhàng, ăn khớp. Sau đó, liệu tôi còn tiếp tục đáng ngồi buông thả như trước hay sự bình yên đã mất, còn lại tôi loay hoay tìm kiếm một thế ngồi khác. Tôi sẽ rút một điếu thuốc (một cử chỉ, bất luận một cử chỉ nào, tôi nghĩ). Ở đây không ai buồn chú ý tới tôi. Điều này khiến tôi dễ chịu. Có thể đối với mọi người, sự có mặt của tôi không hề mang một ý nghĩa nào đáng kể. Lão chủ quán người Tàu, tóc bạc, vẻ mặt gân guốc, giọng nói sang sảng, ngồi sau quầy, mắt láu liên, thỉnh thoảng vẫn nhìn về phía cửa, trông chừng từng người khách bước vào, cái nhìn lão lướt qua tôi, không hề dừng lại ở tôi. Có lẽ vì lão đã quen thuộc quá rồi tôi, đối với lão, cả tên hầu bàn, thằng bé luôn luôn toét miệng cười, đã tỏ ra thân thuộc với tôi ngay từ những phút đầu, nó không còn lạ gì nữa thức uống của tôi, giờ khắc tôi ngồi trong quán, giờ khắc tôi đứng dậy bước ra ngoài. Nó tỏ ra tôn trọng sự im lặng của tôi, mặc dù đôi lúc, tôi vẫn bắt gặp một khoé nhìn xét nét kín đáo của nó. Lúc đó, không hẹn, chúng tôi sẽ gặp nhau trong một nụ cười gượng gạo pha lẫn chút cảm tình.

Tôi tìm kiếm, trông đợi gì? Trước mặt tôi chỉ còn là một sân khấu trống trải, trần truồng, chết. Buổi chiều lịm dần ngoài kia, trên mặt nước, ở tận cùng những ngọn cây bên kia sông. Tôi nghe ngây ngất như trong một cơn say ngà ngà đang đẩy nhẹ, đưa nhẹ, một cơn choáng váng mơ hồ. Tất cả bắt đầu từ một khoảng trống, một lỗ hổng trước mặt đang thu hút tôi, chiếm đoạt tôi (nếu tôi có thể nói như vậy).

Đó là những phút sau cùng bắt chợt trở nên hối hả khi tôi sắp sửa đứng dậy đồng thời nghe ra những tiếng thì thầm trong cổ họng, vô nghĩa, chưa thành lời. Tờ giấy bạc dằn dưới đáy ly, tôi sẽ đứng dậy, khẽ quay nhìn vào trong (một dấu hiệu mơ hồ, một cử chỉ phác họa thừa thãi), cho gói thuốc, hộp quẹt vào túi quần, nhìn một lượt trên mặt bàn đen đúa (một cuộc kiểm điểm lấy cớ, vô hại), bước ra khỏi quán. Tôi sẽ đi trên những bước chậm, đều, thân thể nhẹ nhàng, tâm hồn lêu bêu. Lúc bấy giờ trời đã chạng vạng, cảnh vật bên kia sông chỉ còn là một dãy đen kịt chạy dài, lập lòe những ánh lửa cách khoảng, lẻ loi. Trời xám thẫm, nặng trĩu. Đâu đây có tiếng sóng tấp vào bờ, tiếng mái chèo khua nước nghe như vẳng lại từ xa (những chuyến đò ngang muộn màng của một ngày). Tôi đi giữa những khuôn mặt câm nín, những dáng đi vội vàng như trốn tránh: tất cả chỉ còn là những bóng dáng mờ loang. Đèn đường bật sáng. Đêm tỉnh lỵ, không hẹn hò, chợt trờ tới, trơ trẽn (lớp phấn trên đôi má quê mùa). Tôi đi về phía trung tâm tỉnh lỵ (bữa cơm tối một mình trong một quán ăn, cạnh rạp hát). Những dĩa vọng cổ khàn giọng giờ đây đã bắt đầu. Tôi sẽ dừng lại ở một sạp báo. Ừ, một tờ báo trong khi chờ cơm dọn lên.

Vài hàng về tỉnh lỵ đã nói, ít ra một lần ở đâu đó. Nói chung: một tỉnh lỵ khá nên thơ (cỏ, cây, lúa thóc, sông rạch, mây trời…). Qua khỏi cầu bắc, con đường nhựa thẳng tắp đưa vào trung tâm tỉnh lỵ, chạy giữa những đồng ruộng xanh mướt, những vườn dừa sầm uất, lạnh vắng, những đồn canh lặng lẽ, bí ẩn, những cột đèn ngã quị, những sợi dây thép đứt phăng, những tấm bảng tuyên truyền, lời lẽ đánh thép, v.v. Người ta nói chiến tranh, tàn phá, giết chóc, chỗ này mìn mới giựt, chỗ này nữa trận phục kích hôm nào. Qua một ngã rẽ, bắt đầu từ góc đường có tấm bảng viết hàng chữ in “Kính Chào Quí Khách”, nhà cửa hai bên đường trở nên san sát, loáng thoáng sau những hàng cây thưa. Công trường với đài chiến sĩ đứng sững giữa lộ (bên trái: ty thanh niên, sân vận động, bến xe đò… bên phải: bến xe lôi, đồn lính…): cửa ngõ chính thức đưa vào tỉnh lỵ, bắt đầu từ đây, con đường nới rộng hơn với khu công viên hai bên, với những hàng cây dương cao ngắt che rợp bầu trời, những chiếc bảng đá, những thảm cỏ… tất cả tạo nên một cảm tưởng tốt đẹp, có lẽ, trong cái nhìn đầu tiên của người mới đặt chân tới. Tôi hy vọng tôi đã nói với một ai khác hay với chính mình? Sẽ thích được nơi này, sẽ ở đây luôn nếu cần, tại sao không, một ước mong nào khác, một đời sống nào khác, một nơi nào khác, tất cả, tôi tự hỏi để làm gì, đối với tôi, có thể mọi sự chưa đến đỗi muộn màng lắm đâu nhưng đôi khi chính tôi không biết phải làm gì trước cả những mưu toan kịp thời, đúng lúc chỉ còn chờ thực hiện, tôi thấy sự gãy đổ từ đầu, thật ra sự gãy đổ bắt đầu từ đâu, Hạnh nói, tôi có cảm tưởng anh sống lêu bêu, chân không chấm đất, nghĩa là anh vẫn như vậy, bao nhiêu năm rồi anh không thay đổi gì, tôi làm sao biết được, tôi nghĩ chính anh tự ý bớt đi hay thêm vào, anh định sống hết đời như thế sao. Tôi nhớ đã hỏi gặng lại nàng, một cái gì khi đã bắt đầu liệu còn biết tiếp tục cách nào khác? Tôi nhớ đã cười đắc thắng sau câu nói đùa của mình. Tôi cười thì phải giống đứa con nít, như Hạnh đã một lần nói như vậy.

Gian phòng nơi tôi trở về rất muộn, ban đêm, khi gió từ dưới sông ùa lên lạnh buốt, gian phòng, nơi những câu chuyện thường kéo dài tới khuya, khi bốn bề lặng ngắt, khu vườn ngoài cửa sổ đã im ngủ, chỉ thỉnh thoảng đưa lại những tiếng rì rào, ớn lạnh. Hãy tưởng tượng tới những gian phòng, những câu chuyện trao đổi trong bầu không khí bịt bùng, thân mật đó, những câu chuyện tưởng chừng vô tận, những câu chuyện chỉ cần được khơi lên. Có phải mỗi con người là một câu chuyện (hay nhiều hơn) đang chờ được kể ra (kể điều cần nhất, điều ghê gớm nhất). Tôi nói: “Đầu óc tôi nặng trĩu trí nhớ”. Tôi nói: “Tôi biết nói những điều nào khác những gì tôi đã sống qua”. Tôi nói: “Ta phải sống, có lẽ vì ta đã sống”. Tôi nói như kẻ đối diện tôi (thí dụ: Hạnh) chỉ còn là sự vắng mặt, và tệ hại hơn nữa, như thể chính tôi không còn tự chủ nữa, lời nói tôi tự kiếm cho nó một cách phát biểu. Chúng tôi ngồi dối diện nhau, có khi mỗi người quay mặt về một phía khác, một cách để tránh nhìn nhau trong khi đang nói (hoặc đang lắng nghe), như vậy có lẽ mỗi người sẽ được tự nhiên hơn, thong thả hơn (không ai giục giã ai, mỗi người được tự do hoàn toàn, làm chủ lời nói, cả sự im lặng của mình). Hạnh thường xuất hiện trong phòng tôi, dưới lớp áo ngắn, rộng, tay dài, một cách che giấu bớt thân thể mảnh dẻ của nàng, loại áo nàng vẫn mặc ở nhà, không hiểu sao dễ gây ở tôi cảm giác dễ chịu hơn. Tôi sẽ thấy mình gần gũi với nàng hơn, đúng ra, với thân hình yếu đuối, với chính sự yếu đuối của nàng. Tôi không bao giờ nói cho Hạnh biết là tôi vốn thích mẫu đàn bà mảnh dẻ, ốm yếu: một cách giải thích cho những cảm giác thân mật một cách tự nhiên của tôi lúc gần nàng. Cho tới khi, lần đầu tiên, đứng sát vào người Hạnh (hai người bỗng nhận ra mình đứng sát vào nhau, nhận ra sự gãy đổ những khoảng cách đã có từ trước), tôi không có một ý nghĩ nào đáng kể, điều này có nghĩa là tôi vẫn mặc nhiên chấp nhận Hạnh trong mối liên hệ thường tình như tự thuở nào: một người bạn, nếu cần một người chị; thế ngồi im lìm bất động của Hạnh lúc đó đáp ứng phần nào những động tác của tôi: không một phản ứng bất thường nào hứa hẹn bộc lộ (thí dụ, một cái nhìn kinh ngạc, một câu nói vất vả: tại sao anh làm vậy, tại sao chúng ta làm vậy), không ai nói một lời nào nữa dù để chối từ, dù để mời mọc, tất cả những gì xảy ra sau đó tưởng chừng vượt ngoài, thoát khỏi ý muốn mỗi người, tất cả không hứa hẹn xảy ra, nhưng đã xảy ra (những cử chỉ đầu tiên của một nhân loại nào đó, có thể như vậy).

Tại sao câu chuyện đó, câu chuyện xảy ra đêm trước (một đêm trước) hầu đã lùi xa, thoát khỏi đời sống mỗi người: câu chuyện của một thời nào mất biệt, của một ai, những ai hoàn toàn xa lạ. Tôi nhận ra vẻ thản nhiên của nàng, ngay cả những tiếng “tại sao” lạc loài trong những câu nói, những lời chuyện vẫn bình thường khi tinh cờ nhắc lại “câu chuyện”, khi “câu chuyện” tự dưng hiện đến, trở về. Tôi tránh khói cảnh lúng túng, khó ăn, khó nói. Tôi có thể lướt qua những phút khó khăn một cách không mệt nhọc, “Không tại sao cả”. Đó là câu giải thích của tôi. Tôi không giải thích được gì, và dầu vậy, nàng vẫn không hề tỏ vẻ thắc mắc, điều khiến tôi hài lòng, dễ chịu. Không tại sao cả. Đúng vậy. Tôi đã đến gần nàng. Chúng tôi đã đứng sát bên nhau, thân thể gục vào nhau trên những bước chân dìu nhau tim kiếm (một chỗ để ngồi, một chỗ để nằm), điều tôi còn nhớ lại, đó là đôi mắt của Hạnh, cái nhìn của nàng: một sự bình thản lạ kỳ. Chúng nhìn tôi từ phía dưới, cái nhìn khô, rỗng, tẻ nhạt: nó ở ngoài thân thể và cử chỉ của nàng lúc bấy giờ, nó ở ngoài những câu chuyện chúng tôi đang nói (những lời, những chữ…). Nó biến tất cả thành một sự trống vắng, rỗng không. Hoặc chính nó đang khởi sự xóa nhòa… Dù sao, nó làm tôi cảm động. Tôi đã hôn lên đôi mắt đó (tôi muốn bày tỏ một tình cảm dịu dàng hay tạo một cơ hội cho sự việc đó) để tức thì bắt gặp một nỗi ngượng ngùng, đủ cho tôi nghe nóng ran hai bên thái dương. Tôi xấu hổ vì một cử chỉ tầm thường, vô nghĩa của mình. Tại sao tôi thấy cần phải làm một cử chỉ nào khả dĩ mang một ý nghĩa, một nội dung. Ai, cái gì cho phép tôi bộc lộ một cách trắng trợn như vậy, dù một tình cảm trìu mến, dù một nỗi thương hại — một cách chân thật hay dối trá — cử chỉ thừa thãi, vượt ngoài sự chờ đợi của mỗi người, cử chỉ đó thay vì một im lặng biểu đồng tình, một thỏa ước mặc nhiên (tốt hơn tôi không nên làm gì, nói gì trong sự chuẩn bị, cần nhất phải đánh tan mọi ẩn ý đang ẩn nấp, rình rập sau mỗi lời nói, mỗi cử chỉ), như vậy có lẽ hay hơn, hoặc ít ra, người ta không có gì để phàn nàn: một cuộc gặp gỡ tốt đẹp, có thể nói như vậy.

Gian phòng nơi tôi trở về rất muộn ban đêm khi gió từ dưới sông ùa lên, lạnh buốt, một ý nghĩ quen thuộc bấy giờ, “nơi yên nghỉ của tôi sau một ngày”, thật ra tôi biết rằng tôi không muốn nói như vậy, điều tôi muốn nói, nghĩ đến, hẳn là một điều gì hãy còn mơ hồ, nhưng chắc chắn đó là một nỗi sợ sệt, một sự lo lắng, một điều mong ước bắt đầu từ công việc hình dung trong đầu tôi ý nghĩ về nó. Tại sao? Hẳn là nó vẫn ở đó, ở cuối khu vườn, im lìm trong bóng tối. Có sự gì khiến tôi luôn tìm cách trì hoãn việc trở về. (Trở về? Thật ra đó chỉ là những bước chân: tôi chỉ đi theo những bước chân của mình, điều này thật buồn cười, nhưng có những lúc tôi chợt thấy như vậy, nhận ra rằng trên những bước chân đó, tôi đang trở về gian phòng của mình), nó như một niềm xấu hổ trong vô thức mà tôi tìm cách làn tránh, nó như một thói quen đã bắt đầu mòn rỉ, tôi phải cố gắng rất nhiều để có thể chịu đựng được, nó như … Tôi chỉ cần một ý nghĩ tầm thường, đơn giản này khi ngồi trong quán nước, nhìn ra bờ sông, lúc bấy giờ, sau bữa cơm, trời sụp tối, tôi đã trở lại chỗ ngồi ban chiều, một chỗ yên tĩnh hơn, một cách để tránh nghe những tiếng ồn ào của khu rạp hát, lại là một cách để… “gian phòng nơi tôi trở về, nhưng rồi sau đó?”, bấy nhiêu đã đủ cho tôi thấy rõ sự buồn nản xâm chiếm tâm hồn, tưởng chừng đó cũng là cơ hội tốt đẹp giúp tôi nhìn, một lượt, trọn vẹn đời sống mình (hẳn là sự việc không đơn giản như vậy, phải không?) cái nhìn rươm rướm nước mắt, thứ nước mắt tủi thân (hẳn là sự việc không quá bi thảm như vậy, phải không?). Trước mặt tôi, bấy giờ, là một sân khấu bát ngát, hút sâu với những ánh lửa lặp loè đơn chiếc trong bóng tối và hơi lạnh, tôi mường tượng một mái nhà bên kia sông, một con thuyền câu trên mặt nước, trí tưởng tôi dừng lại ở đó, hẳn là nó đang ở bước đường cùng, hẳn là nó đã uể oải: nó không còn đủ sức bén nhạy để hoạt động. Tôi chỉ còn lại những hình ảnh vụn vặt, đứt đoạn, tản mạn trong đầu. Cuộc sống tôi bây giờ bị chặt ra thành nhiều mảnh. Như một khoảng trời sao lấp lánh. Nó không ra làm sao cả. Không một liên lạc nội tại nào. Không một trật tự. Lỗi ở đâu. Ở đời sống tôi, ở trí nhớ tôi. ở những khoảnh khắc nhạt phèo, rời rã, đang gậm mòn tôi một cách dửng dưng, tàn bạo. Tôi muốn biết. Tôi không cần biết, để làm gì. “Cần nhất bây giờ là một sự yên ổn trước khi đứng dậy, dời khỏi quán…” Đứng dậy. Dời khỏi quán. Trở về. Tôi mường tượng con đường, trên đó, dù muốn dù không, tôi sẽ lần bước trở về, cánh cửa phòng đứng sững trước mặt tôi, ở tận cùng lối đi vòng trong bóng tối, và chiếc giường. Tôi bắt đầu thấy sợ hãi trong ý nghĩ sẽ bước lên chiếc giường đó, một ý nghĩ kinh khiếp, chết chóc: ý nghĩ đó hầu như đặt tôi ở cuối đường mọi sự, ở tận cùng đời sống, nó ném tôi về phía trước, nơi xa tít mù, nó bóp nát mọi ước vọng tôi đang có, nó là sự hủy diệt. Đó là khoảnh khắc chờ đợi. Đó là giây phút sau cùng. Tôi sẽ ngã lưng xuống, tôi không còn lại gì, chỉ còn lại ở trên kia, chập chùng, bóng tối của một đêm, một đời. Cái gì bảo đảm cho tôi rằng sáng hôm sau, mọi sự vẫn không thay đổi: tôi vẫn ngồi bên cửa sổ nhìn mặt trời đang lên từ phương Đông đó chứ! Tôi nói với Hạnh: “Thuở nhỏ, tôi chỉ lo phút tận thế đến khi mình đang ngủ”. Hạnh nói về một tình cảm thất trận nào đó trong tôi. Nàng lại nói không phải, nàng không muốn nói vậy, nàng chỉ muốn nói rằng… Tôi không biết nàng định nói gì. Tôi tiếp lời: “Thật ra không có gì… không có gì thật cả”.

HUỲNH PHAN ANH

Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta

Định Nguyên

Post by Sơn râu 15 May 2024

Tiểu sử

Tên thật Nguyễn Đình Định, sinh ngày 12 tháng 4 năm 1942 tại Hải-Dương, Bắc Việt. Cựu học sinh Chu Văn An. Đã cộng tác với các tạp chí Bách Khoa, Văn…

Hiện phục vụ trong quán đội Việt Nam Cộng-Hòa với cấp bậc đại úy.

Quan niệm về truyện ngắn

Theo tôi, truyện ngắn là một góc cạnh sáng chói nhất trong toàn diện văn chương của người Việt. Hầu như nhà văn nào cũng bắt đầu bằng truyện ngắn, một sáng tạo, một dấu hiệu, rồi tiếp tục, dưới hình thức này hay hình thức khác, triển khai sáng tạo đó để hình thành một khí hậu, một lối viết, những nhân vật của riêng mình.

Về Truyện Ngắn “KHÍ HẬU”

Lời nói thêm của tôi về truyện ngắn in trong tập truyện này chính là cái tên truyện.

37. Khí Hậu

Trời rạng sáng: Tiếng gà gáy vọng dưới thung lũng còn mù sương đục. Ánh sáng nhợt nhạt lan từ hướng Đông tới. Ông Thức đã dậy từ lúc nào, ngồi im lặng trên chiếc ghế trước cửa sổ: Cửa kính được mở ra một nửa. Gió lạnh buổi sớm tẩm đẫm hơi sương. Góc đường một gốc thông cũ cháy dở (Người ta đang sửa chữa và mở rộng con đường trước nhà. Nhiều cây cối đã bị đốn xuống). Mùi nhựa thông cháy thơm hắc mỗi lúc một nồng hơn trong không khí.

Người đàn ông vẫn ngòi yên lặng. Hai tay đặt trên thành ghế. Bàn tay phải cầm gọn cái pipe. Thuốc trong lòng điếu chắc đã lắt. Người đàn ông như thể đang ngủ, cũng như thể đang nhìn ra ngoài.

Tiếng gà gáy mỗi lúc một râm ran dưới lũng thấp trầm mình trong bóng tối và sương mù. Hôm nay không biết có nắng tốt không. May ra! May ra! Hình như ấm lại nhiều. Người đàn ông vươn vai và ngáp dài, như vừa tỉnh thức từ một giấc ngủ (một giấc mộng), ông với tay lấy chiếc bật lửa châm một mồi thuốc. Ngọn lửa gaz cong xuống chui vào lòng điếu. Ánh sáng hát ngược soi vầng trán đã có những nếp nhăn và mái lóc lòa xòa điểm những sợi bạc.

Ông rời khỏi ghế đi về phía góc phòng, bật đèn, gấp cuốn sách để trên mặt bàn ngủ lại, nhìn bức ảnh một người đàn bà treo trên tường. Đôi mắt bà có vẻ hờ hững nhìn đâu đâu. Khuôn mặt người đàn bà thật đẹp nhưng buồn thảm, giống như buổi chiều mùa thu chiếu ra thứ ánh sáng hiu quạnh. Người đàn ông đứng lặng trước bức ảnh, hai vai hơi so lại. Một cơn gió rét lùa vào phòng. Chụp đèn treo chao qua chao lại. Ông rùng mình, đưa hai tay vuốt mặt. Da mặt lạnh và ẩm. Ông lắc đầu lẩm bẩm:

“Mau thật!”

Mười năm: Người đàn bà đã chết. Tuổi già buồn thảm. Tuổi già một mình lại càng buồn thảm hơn. Đời sống ta cũng như một mặt nước tù hãm, đóng váng không còn in soi được một mảnh trời nắng, một bóng cây xanh. Cái lớp váng ấy chính là cái chết của em mà cũng là cái tuổi già của ta. Nó đóng kín đời ta lại nhưng cũng chính vì thế mà ta giữ được âm vang hạnh phúc của quá khứ ta. Tuổi già bây giờ như vậy đó: toa tàu rỉ sét ở lại một ga bỏ không miền núi, cao nguyên đất đỏ nơi em đã hấp hối chết lần chết mòn những ngày cuối cùng mà ta vắng mặt. Ôi tuổi trẻ cuồng nộ và lãng mạn. Cuối cùng, bây giờ, ta vẫn chỉ là một lão giáo già. Sự có mặt của người dàn bà làm cho đời sống khó khăn hơn nhưng cũng cần thiết hơn (Sau khi em chết và ta bắt đầu cái tuổi già của mình mới hiểu ra như thế); người ta như thể bị trôi nghiến vào với nhau mà cái cách duy nhất là cố gượng đứng lên và bước tới, nếu không thì sẽ chẳng cục cựa gì được. Sự ràng buộc ấy cũng như thời tiết với mùa màng. Như ngày với đêm. Bây giờ không thời tiết. Không mùa màng. Không ngáy. Không đêm. Ta đã già. Em đã chết…

Ông Thức đưa tay định mang tấm ảnh xuống nhưng lại thôi. Ông thở dài, lững thững đi về phía cửa sổ khép cánh lại. Phương Đông đã ửng dáng đỏ, hắt lên những cụm mây đặc sệt lam nham. Sương mù ẩm đục tụ kín trong vòm cây như tất cả lá cây đang thở ra hơi nước lạnh lẽo. Người đàn ông rất sợ mùa lạnh nhưng may là mùa lạnh hình như sắp qua (?). Hình như thế thì phải. Sáng nay không lạnh dữ như những sáng khác. Người đàn ông lầm bầm, với chiếc áo choàng trên mắc, mở cửa.

Cửa phòng của An mở hé. Ánh đèn hắt ra trải một vệt sáng trên hành lang tối âm. Ông Thức ngạc nhiên. Chẳng hiểu nó dậy làm gì sớm thế. Ông đẩy rộng cánh cửa nhìn vào phòng. Không có ai hết. Chăn nệm bừa bãi trên giường. Đèn bàn viết bật sáng, soi tỏ bức tượng Chúa trên thập tự. Cạnh bức tượng là tấm hình một người lính trong cái khung mạ vàng kiểu cọ. Một cuốn tập dày bìa da nâu mở ra đến ba phần tư. Ánh sáng soi qua chụp đèn mầu hồng không đủ tỏ bức tranh, ấn bản họa phẩm La Mousmé của Van Gogh treo trên tường. Những sọc đỏ trên áo cô gái trong tranh thẫm mầu hơn, trông giống như những vệt máu rỉ xuống, khô queo. Tất cả các cánh cửa sổ đều đóng kín. Ông Thức bước hẳn vào phòng con gái. Bây giờ chợt ông đứng lặng đó, trong cái khung cảnh và hơi hướng đặc biệt: đàn bà; một thế giới bé nhỏ riêng rẽ, khác lạ, làm ông choáng váng ngây ngất. Căn phòng toát ra sự dịu dàng thấm dần vào ông.

Ông Thức cầm cuốn tập bìa da soi sát vào ngọn đèn chụp. Đó là cuốn nhật ký của An. Những dòng chữ lệch lạc rõ ra được viết trong lúc mệt nhọc, bất an:

… Nhức đầu quá không tài nào ngủ được. Khổ chưa! Không còn viên thuốc nào hết. Muốn đập dầu vào tường. Sợ ba thức. Khuya quá rồi. Mai là ngày giỗ mẹ. Sao mẹ lại đặt tên con là Bình An. Ta không bao giờ được may mắn ấy. Mọi người sống như chỉ để lần lượt chết đi. Ba: một cái bóng. Như thế không còn là ba nữa. Ba đã chết. Ba đã chết! Buồn cười thật. Sao cười hoài vậy H.? Không thấy em đang đau đầu sao? Tại sao vậy? Không bao giờ H. tắt được nụ cười đó. Nụ cười của H. — Như thế — Cũng đã chết. Chết! Ngon lành vậy sao H. của em? Anh nói… có hai điều đáng gọi là bằng nhau (Tại sao lại có chữ đáng khỉ như vậy?): yêu em và chết. Bây giờ em mới thấy em ngu khờ vì cái điều thứ hai, anh đâu có quyền chọn lựa. Anh nói dối em nhưng lời dối trá ấy thật tình, nên em đã phải khóc hoài. Ta không khỏe. Đau đầu quá! Mà không phải chỉ đầu không thôi. Ta phải làm một cái gì đó? Mà làm cái gì đây? Mệt nhọc. Rời rã. Đời sống ta giống như sau một cơn sốt. H. = Cái chết = Cơn sốt ghê gớm ấy…

Ông Thức ngồi hẳn xuống ghế trước bàn viết. Ông gấp cuốn nhật ký của con lại, nhè nhẹ lắc đầu. Chiếc đồng hồ quả lắc kiểu cổ ở dưới nhà ngân nga điểm sáu tiếng. Âm vang lạnh lẽo, giống như những lớp sóng tản tròn lớn mãi dần ra trên một mặt nước tiêu điều, đập lên tất cả những ô cửa kính của ngôi biệt thự, rung trong thăm thẳm. Mất tăm. Người đàn ông tắt ngọn đèn trên bàn. Căn phòng chìm vào bóng tối. Ánh sáng nhợt nhạt hiện dần lên trên mặt các ổ kính của sổ. Người đàn ông vẫn ngồi yên lặng trên ghế, trong ánh sáng lam nham, như một bức tượng.

Bên ngoài: Những con chim bồ câu bay xuống sân. Phương Đông sáng rõ dần. Chằng bao lâu mặt trời sẽ lên ở phía bên kia đồi. Mặt hồ phủ sương mù, trôi lập lờ giống như một chất dẻo, trắng xóa, nhẹ tênh. Đám khói từ gốc thông cháy bay lẫn trong sương. Người phu quét dường vừa bắt đầu làm việc. Tiếng chổi quét trên mặt lộ sàn sạt. Một ngày bắt đầu bằng mọi thứ tiếng động.

An ngồi trong phòng khách. Nàng ngả đầu trên thành ghế. Hai mắt khép hờ. Tay giữ cuốn sách đặt trên đùi. Điếu thuốc đang cháy trên cái gạt tàn. Sợi khói đứng thẳng tắp. Ngọn đèn chụp tỏa ra ánh sáng yếu không đủ soi tỏ những cuốn sách đứng lệch lạc trên giá giống như một hàm răng khấp khểnh không đều. Lò sưởi đã tắt từ lâu còn lại những tàn than và vài mẩu củi nhỏ. Khuôn mặt cô gái chỉ được soi tỏ một phần. Ánh sáng dịu dàng của ngày đọng lại trên mi mắt nàng. An lắng nghe những tiếng động của buổi sáng: Con chim bồ câu kêu gù gù, tiếng gà gáy vọng bên ngoài các ô kính nghe xa lắc, tiếng râm ri trong căn phòng như thể tất cả các chất gỗ đều cựa mình thức dậy đón buổi sáng ấm. Khi nhắm mắt lại nàng có cảm tưởng những âm thanh mơ hồ đó được khuếch đại hẳn lên. An cũng nghe tiếng chân cha trên lầu. Một lát sau thì im bặt. Nàng tự hỏi: có cái gì lạ lùng của một ngày như hôm nay? Người cha thức dậy quá sớm? Có điều gì lạ lùng trong những âm động thầm thì của buổi bình minh? Tất cả như vừa đổi mới và bất thường? Nhưng chắc chắn là thời tiết đã bắt đầu đổi khác.

Ông Thức hiện ở đầu cầu thang tối:

– An!

Nàng mở bừng mắt nhìn cha:

– Ba dậy sớm quá ba! Ba có sao không?

– Con hút thuốc hay đọc sách vậy?

– Không! Con buồn ngủ. Con pha cà-phê cho ba nghe!

– Con đừng hút thuốc nhiều. Con yếu lắm đấy!

– Con quên chưa đun nước nữa. Ba chờ con một chút nghe ba!

– Ờ! Ba còn rửa mặt.

– Ba ăn trứng không?

– Sao cũng được.

– Ba!

– Con cứ ngồi ngh đi, còn sớm mà!

Ông Thức đi thẳng vào toilette, khép cửa lại. An xoay người ra phía sau tắt ngọn đèn chụp. Ánh sáng bên ngoài mới vừa chỉ đủ soi tỏ trên các ô kính cửa sổ. Nàng lại bật đèn lên.

“Bây giờ mình làm cái gì đây?”

Nàng đứng dậy vươn vai. Những tấm nệm vuông đỏ còn đặt trước lò sưởi. Đêm qua An đã nằm ngủ ở đó. Vài ba cuốn sách báo rải rác trên sàn làm cho phòng khách có vẻ bừa bãi hơn thường lệ. Bình hoa hồng trên bàn ăn đã héo. Những cánh hoa rụng xuống nền vải trắng, đã thẫm mầu tím lại. Mặt trời đã hực nhô lên bên kia đồi rọi chiếu ra những sợi nắng đầu tiên xuyên qua sương mù lấp lửng trong các đám lá, rồi nhấp nhánh trên ô kính cửa sổ.

“Sáng rồi!”

An đi vào nhà sau và đứng trước cửa bếp. Nắng đang lên thật mau, giống như lớp bọt nước vàng óng, sủi cao dần, tràn qua các ô kính cửa vào trong căn bếp nhỏ gọn ghẽ: mặt gạch men trắng óng ánh như mầu thỏi bạc cắt, rồi mầu vàng rực rỡ trên các mặt gỗ vẹc-ni.

An ngồi ở bàn ăn, để cái thìa và bình đường, đặt tách cà-phê vào đúng chỗ, lau lại chiếc nĩa, những việc nhỏ nhặt này nàng làm rất thứ tự và chậm rãi trong khi chờ người cha thay quần áo trên lầu. Sau đó nàng đứng dậy đi loanh quanh trong phòng, ngừng lại trước bàn viết, không nhấc ống nói lên, quay số điện thoại vu vơ để nghe tiếng lách cách đều đặn dễ thương của vòng số quay trả trở về.

– Con gọi điện thoại à?

Ông Thức vừa xuống thang gác. Ông mặc complet bằng hàng nhẹ mầu xám nhạt, chemise trắng và cravate sọc đỏ. An quay lại cười:

– Hôm nay trông ba trẻ ra quá!

Ông Thức lúng túng nắn nắn lại chiếc cravate sọc đỏ:

– Con gọi điện thoại sớm vậy?

– Không! Con không gọi điện thoại.

Ông ngồi xuống bàn ăn:

– Lại uống cà phê với ba chứ?

Trong phòng đầy ánh nắng rực rỡ của buổi sáng ấm. Hai cha con ngồi đối diện ở bàn ăn. Ông Thức ngồi thẳng lưng, nâng tách cà phê một cách trịnh trọng nhưng tự nhiên bằng thói quen cố hữu. An ngồi nhô người tới trước, tì hai khuỷu tay lên mép bàn. Nàng nhìn xuống tách cà phê của mình trong khi ông Thức nhìn con. Hai cha con đều yên lặng. Thỉnh thoảng An nhìn cha rồi lại yên lặng uống tách cà phê của mình. Một lát sau An nói: “Con đi nướng bánh” và đứng lên. Ông Thức rót thêm cà phê vào tách, vừa uống vừa gật gù không nói gì. Một lát sau An trở lại với những lát bánh vuông được nướng vàng và một đĩa bơ lạt.

– Ba ăn trứng thêm không ba?

– Thôi con! Hôm nay ba không thấy đói lắm.

Nàng ngồi xuống lấy dao ăn miết bơ lên miếng bánh rồi để vào đĩa trước mặt cha. Tự nhiên nàng hỏi:

– Sao sáng nay ba dậy sớm quá vậy? Đêm qua ba không ngủ được à?

– Ba đi ngủ sớm lắm chứ! Có lẽ tại khí hậu thay đồi thì phải?

– Hình như trời ấm lại nhiều. Phải không ba?

– Ừ, có lẽ vậy.

– Sáng nay ấm như mùa hè ấy ba!

– Ừ chắc vậy.

– Nên ba mới dậy sớm hơn mọi ngày phải không ba?

– Ba cũng không biết.

– Đúng không ba?

– Ờ! Ờ, có lẽ như thế. Nhưng con ăn hết miếng bánh đi chứ! — Người cha mỉm cười — Sáng nay ba uống ba tách cà phê rồi.

– Ba uống chút rượu nghe ba!

– Vào hơn bảy giờ sáng à? Hơn nữa hôm nay có buổi họp ở trường, ba không muốn người ta cho ý kiến của ba là do rượu nói chứ không phải ba nói.

– Ba có gì lo nghĩ không ba?

– Không! Không! Mà sao?

– Sao ba thức sớm quá vậy?

– Có lẽ tại trời đột ngột ấm lại nên ba dậy sớm.

– Đúng thế không ba?

– Có gì quan trọng đâu con.

– Mùa hè còn lâu mới đến mà ba.

– Thời tiết cũng không nhất định gì lắm.

– Con sợ không phải là như thế.

– Sao vậy?

– Ba lớn tuổi rồi.

– Ừ! Ba già rồi nhưng ba còn khoẻ mà.

– Đúng không ba?

– Ba không mất ngủ theo ý con nghĩ đâu.

– Ba không thương con.

– Đừng khóc vào buổi sáng như thế này!

– Con không khóc.

– Ba không cấm con khóc được nhưng đừng khóc nữa.

– Con không khóc đâu.

– Ba biết! Trưa nay con muốn ba về ăn cơm nhà hay con xuống trường đón ba rồi hai cha con đi ăn tiệm?

– Ba!

– Ba biết! Ba biết! Không phải vì thời tiết mà ba dạy sớm Có phải con muốn nói như vậy? Ba biết, ba nhớ hôm nay là ngày giỗ mẹ con. Ba đã cố…

– Con xin lỗi ba.

– Con đừng khóc!

– Con xin lỗi ba.

– Con ăn đi chứ! Con không có gì để phải xin lỗi ba.

Ông Thức bẻ một miếng bánh miết bơ và đặt lên đĩa cho con. An cúi đầu nhìn xuống.

– Con đã không săn sóc ba chu đáo.

Ông Thức đặt tay lên mép bàn:

– An! Đó không phải điều làm con khóc mãi.

– Con xin lỗi ba.

Ông Thức đứng lên đi vòng lại sau lưng con gái, đặt tay lên vai nàng nói:

– Trưa ba về ăn cơm rồi chiều ba chở con ra khỏi thành phố cho khoẻ người, lâu lâu mới có ngày ấm như thế này.

– Giá là nghỉ hè ba nhỉ? Con muốn đi thăm mộ mẹ.

– Ừ! Còn lâu mới mùa hè.

Ông Thức vuốt tóc con rồi về ghế ngồi xuống:

– Hay con thích ba ở nhà hôm nay, ba có thể bỏ buổi họp ở trường cũng chẳng hề gì.

– Thôi ba đi làm đi!

– Ờ! Trưa ba về.

– Để con xuống trường đón ba rồi đi ăn tiệm như ba nói. Lâu lắm con chưa xuống phố.

Người cha rót thêm một ít cà phê vào tách, nhìn con mỉm cười:

– Hôm nay ba uống quá nhiều cà phê.

Ông chỉ vào miếng bánh còn trên đĩa:

– Con ăn hết miếng bánh đi chứ!

Bên ngoài sân cỏ: nắng vàng rực rỡ rung động trên những đóa hoa còn ẩm sương đêm. Bầy chim bồ câu rủ nhau bay vòng một vòng lớn trên nền trời xanh ngắt qua đồi thông và mặt hồ đã tan sương.

ĐỊNH NGUYÊN



Hai bài tân cổ không giao duyên

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 02/01/2018 

Post by Sơn râu 15 May 2024

cuối năm nêm chút ruốc cùng đầu bếp trần huy sao

mềnh thấy ai cứ răng ri rứa là ưa bắt quàng làm họ
không chộ mặt có ngày lọ mọ cũng tìm ta đọ tề
người tên sao mà ngồi trốn dưới hiên trăng
chơ xa vô hậu chim chừng nghe mỏi cánh
thôi thì nghĩ cứ xuống đèo hải vân kẻo nam ô đợi
mô phật. biển chỗ nớ ắt xanh hơn xen-đi-ế-gồ
ai đời thơ mà như ngọn sóng xô vô bờ
ba trợn cách mấy cũng say chết cha mệ nội
“tình cờ gặp nhau khoảng giữa chặng đường
trừa chỗ phần ôn ngồi dưới hiên trăng…
rứa mới sướng cho một đời lải nhải
ghé quán o mười tô bún huế
”… tui đãi

người ta bảo ngoại tình là thích ăn phở
mềnh sôi sùng sục gọi vợ là bún bò giò em
đi mô rồi cũng lòi đuôi dân mắm ruốc
mềm như cọng bún nhưng cây sả nằm trong nồi thì… cứng hung
nói như rứa thì không lẽ tình bạn là đọi cơm nguội?
luôn nằm đợi trong lồng bàn thuỷ chung lúc đói lòng
có xa vạn dặm cũng “khoèo” theo trái ớt
chảy nước mắt sống vì toé khói mừng vui
ốt dột chi mà không hít hà quở cay vô hậu
hết cái nhem thèm muốn thôi tình bậu
mà lỡ chộ nhau rồi thì tỉnh như sáo sậu. y bon

bài thơ cũ có dòng nhắn tựa toa bác sĩ
hồi mô lành lặn xương xóc máu me thì
đường trường xa nhắm mắt nhược bằng mệt bỏ
hiên trăng là chỗ mô thế nào có ngày tui cũng tỏ
tường trình cùng anh bản báo cáo đầy hăm dọa phút này
bún o mười ngon cách răng mà bên nớ nói ỏm tỏi
ưa qua trổ tài độc cô cầu bại mà chống gậy mỏi ba sườn
thôi thì đừng làm le làm gió, gây sinh sự
ngồi ngó nhau, cứ cơm nhà quà vợ là sướng sung
ba vạn cũng bỏ. có trăng sao làm chứng
phải rứa không nà, khi nớ, eng ơi!

rao vặt

tuyết có về. một lần. e quá sớm
mất xanh, nuốt màu vàng. bạc trắng thôi
lạnh ba sườn, chỗ thiếu eva, lấn xuống nơi ốc vít
thân xe đời cũ đau bắt ê càng
bốn vỏ x-ice winter tire không cắn được mặt đường
người té lăn cù vì giày chẳng hiệu michelin
đun vô garage người khỏi mất một đồng nhớt
xe vào bệnh viện “tơn-ấp” thì chúng hét giá cao
sửa bộ thắng thay bu-gi châm dầu mỡ
người vượt biên, đồng hồ ghi bộn cây số đường dài
vất ngoài đường con yêu bánh nậm nào nhìn đểu?
mất giá quá. đạo lý ngủ hai mình phải hơn một, lung lay
tuyết về, chêm giá rét, giá băng bay
sứt mẻ thêm lạnh đầu Ngô run mình Sở
sáng ho hen trưa húng hắng tối thiu ngủ
nhớ mơ màng lời mẹ hiền nhắn nhủ
này việt kiều nhắm có lại sức chăng
chứ gái chân dài nhiều con sẵn sàng gọi tao bằng má
lạy mẹ đời đổi giễu như bộ chữ việt
đi một ngày đàng, chân chàng ràng
học đủ một sàng bẻ bàng, mẹ ơi!

Hồ Đình Nghiêm

Khí tượng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 28/06/2015 

Post by Sơn râu 15 May 2024

Thiếu nữ ngồi chống cằm
dinhcuong

tặng Chị Hàn Song Tường

Ở ngoài siêu thị Kim Mã có dán tờ giấy. Gần tầm mắt, tôi đọc hàng chữ hoàn toàn viết bằng Việt ngữ trong khi đợi Nhài lái xe lại đón: Đi thăm thú Q. hai ngày bằng xe đò hạng sang. Bao ăn và ngủ một đêm ở khách sạn. Đi thứ bảy về chủ nhật. Giá 150 Gia kim cho mỗi đầu người. Liên lạc với cô Tám ở điện thoại số…

Tôi nói với Nhài trên đường về, có lẽ mình nên đổi không khí, mình đi Q. Hồi nào? Xe hơi chậm lại trong khi Nhài hỏi. Nhài chẳng ngó qua tôi. Nhài luôn nghiêm chỉnh mỗi bận ngồi trước tay lái, phóng mắt tới trước hoặc nhìn vào kính chiếu hậu. Mai mình đi mốt mình về. Nhài đạp chân thắng trước ngọn đèn vừa đổi màu. Sao không nói sớm? Mua ê hề những thịt những cá. Rồi bữa tiệc ngày mai… Nào anh Trí nào anh Dũng nào Mạnh nào Tráng. Một mình Nhài lo sao xuể! Chiều nay mình sẽ làm sẵn một ít món ăn chính cho Nhài, thế nào cô Công chị Dung chị Hạnh cũng vào bếp phụ đỡ một tay. Mấy anh kia chẳng gặp bữa nay thì gặp bữa khác. Có được một long-weekend như thế này hãy cho mình làm chuyến du lịch ngắn ngày.

Tôi ở chung cùng Nhài, hai đứa ế chồng, theo cách nói của người mình. Và cộng đồng người Việt cũng buồn miệng ê a: E hai ả nọ “lét-biên” lẳng lặng đóng cửa vui thú chuyện vợ chồng trái khuấy. Nhài ưa tạo ra những buổi họp mặt có ăn nhậu có hát hò tại nhà cũng là cách âm thầm minh oan. Thực tâm, Nhài mong có ngày hai-con-mẹ-già này sẽ nảy sinh cảm tình với anh chàng nào đó. Nên duyên nợ cả hai càng quý, bằng không thì một trong hai đứa sẽ cuốn gói đồ đoàn ra ở riêng. Tôi thấy thương Nhài, mệt, hơi đâu phải bỏ công sức ra để dẹp yên dư luận. Có được một tấm chồng bên lưng, đứa ác miệng vẫn tìm ra cớ để chê bai, nếu nó quỡn. Đại loại nó sẽ nói: Hoa Nhài mà đi cắm bãi cứt trâu!

Tình ngay tôi rất ngán “cứt trâu”. Có khi câu chuyện giữa hai đứa dẫn tới sự xung đột, và Nhài chấm dứt bằng thứ hình ảnh, xét cũng có lý: Bọn mình chẳng còn trẻ nhỏ, lớn tuổi mà sinh con, điều ấy không khiến bạn phải thắt thỏm sao? Phải, tôi đã thắt thỏm, đã hoang mang, đã thầm trách phận mình; nhưng hoàn toàn không hề phân tâm tới chuyện đẻ đái. Chưa qua cầu đã mong đặt chân tới bên kia bờ là thế nào? Trước tiên chị phải biết hẹn hò, phải thề nguyền, phải yêu thương. Phải qua biết bao nhiêu chữ phải nọ mới dẫn tới cảnh làm tình. Phải làm tình mới đến giai đoạn cấn thai. Phải bụng bầu mới tính tới chuyện cắn răng nặn ra cục nợ đời. Rất nhiêu khê và rất “đời là bể khổ”. Những ma-xơ, những ni cô, họ sẽ nói gì về phận số của hai đứa tôi? Trùm khăn, xuống tóc. Khổ hạnh, áo nâu sòng? Không, xin cho tôi được thong dong tại ngoại trên cõi đời ô trọc này. Tôi ghét khuôn thước, tôi chẳng ham điều lệ giáo lý nội quy. Tôi thích ăn mặn, tôi ưa hưởng thụ, tiếc thay tôi lại ngủ chay.

Sáng thứ bảy tôi chuồn khỏi nhà giấc sớm, rón rén sợ kinh động giấc ngủ Nhài. Đeo ba lô, lòng thanh thản vì đêm qua tôi đã chu toàn bao món ăn công phu mà Nhài chơi chữ: Phải ba đầu sáu tay mới làm xong. Thành phố chưa thức giấc, sương còn luyến tiếc dùng dằng dưới những vòm cây thinh lặng lá chưa cựa mình ú ớ. Tôi gọi taxi chở tới địa điểm tập trung theo lời chỉ bày của cô Tám. Người ưa đi giang hồ vặt giống tôi khá đông, tôi quan sát và nhìn mặt một người đàn bà mà chốc nữa thôi tôi sẽ kiếm cách ngồi kề cận. Bà có dáng vẻ một người tốt bụng, y như bà dì của tôi hiện còn ở quê. Nhớ, có lần dì phán: Số mi lận đận, phải tha phương, tình duyên thì trầm trầy trầm trật tính một đàng hậu vận đi một nẻo. Đi đường xa, ngồi gần bà này để bắt chuyện, thế nào cũng học hỏi được lắm điều hay. Hy vọng bà cũng biết qua thuật tướng số, nhìn mặt mà bắt hình dong, phán xét cho đỡ nhạt mồm.

Thất vọng, bà ấy đi theo đoàn. Ngồi sát bà là người đàn ông cùng nhóm. Ông nói giọng ân cần, em ưa ngồi sát cửa ngắm phong cảnh hay phía ngoài. Ông đứng cho bà được quyền định vị. Tôi không hưởng được sự lựa chọn và tôi ngồi vào cái ghế trống ở băng sau, kề cận một cô gái trẻ.

Trước khi xe lăn bánh, người hướng dẫn đọc qua chương trình, giờ giấc và những nơi chốn sẽ thăm thú. Chúng ta bỏ trống hai giờ đồng hồ dành cho quý vị nào muốn rời đoàn tự do đi thăm viếng riêng tư. Hai tiếng thôi, xin nhắc lại, ai chậm chân ráng chịu, xe chạy đúng giờ, quý vị chớ trách.

Xe rồ ga chậm rãi thoát khỏi thành phố, tăng tốc khi tiếp giáp với đồng không mông quạnh. Ở với Nhài đã lâu, chưa khi nào Nhài chở tôi đi đâu xa, loanh quanh đi thương xá đi xem phim và chợ búa. Nhái lái xe không vững một phần, phần khác Nhài chẳng thích long nhong vô thưởng vô phạt. Phải có mục đích hẳn hòi, nơi đến phải chộn rộn tiếng nói cười. Nhài cực lực phản đối “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ”. Heo hút thế kia biết tìm đâu ra một tấm chồng? Trai khôn, chúng nó cũng biết tìm vợ chợ đông. Sàng lọc một rỗ cá mới nhặt ra được con cá còn tươi, chưa ương, chưa thấm muối. Khiếp, cách luận chuyện của Nhài thiệt không hợp tạng tôi. Sống, đôi khi bạn phải tự tạo cho mình một khoảng trống. Đi chơi kiểu bầy đàn như thế này họ cũng tôn trọng cắt chia cho người ta được hai giờ rảnh rang. Nói bỏ lỗi chứ dùng nó để trang trải cho việc đi ỉa đi đái, rửa ráy vệ sinh cá nhân cũng khiến nhẹ cả người, lay tỉnh.

Tôi tính nhắm mắt dưỡng thần chốc lát thì cô gái ngồi bên chỏ mỏ qua: Chị đi Q. lần đầu? Tôi nói mà không mở mắt: Lần hai. Vậy chắc chị rành Q. lắm? Rành mà cũng không rành. Là sao? Em chẳng hiểu. Trước, tôi ở đó. Sau, tôi bỏ nó ra đi. Q. rất rộng, nói là rành, không dám đâu! Trong chương trình người ta sẽ dắt đoàn đi thăm nhà thờ cổ, nghe bảo rất linh thiêng, có đúng không chị? Tôi ngoại đạo, tôi không tin, nhưng dạo còn ở đó nghe người ta đồn thổi một người quỳ gối suốt ngày trong tuyết giá trước cổng nhà thờ, hôm sau lòng thành ông ta được chứng giám, trả công. Ông trúng số, lô độc đắc, ẳm nguyên con 23 triệu đồng. Trời ơi! Vậy thì linh hơn cả chùa Bà Đanh. Tôi mở mắt ra, làm sao dưỡng thần cho xong với lời cảm thán kia? Tôi ngó cô gái ăn vận rất thời trang, áo không cài kín ngực ẩn hiện cái thánh giá nhấp nhô trên vũng thịt đầy tràn. Thánh giá có khi chỉ là vật trang sức, tôi không tin cô gái này thuộc tuýp sùng đạo. Chị có tính vào chốn trang nghiêm kia cầu nguyện không? Cũng có thể. Mục đích chuyến đi của em chỉ tập trung đến đó thôi. Đã mua vé số chưa? Tôi hỏi, dằn lòng chẳng nói ra mệnh đề sau: Sao không đợi mùa đông mang tơi đội nón dầm mình trong hạnh của băng tuyết?

Em chẳng mong cầu làm triệu phú. Em chỉ cầu xin… Cô gái ngưng nói, tuồng đắn đo, ngại trình bày sớm e mất linh. Nắng loang loáng bên ngoài khung cửa đóng chặt. Không nghe tiếng động cơ gầm thét, không nghe gió hú. Đồng cỏ xanh mượt, thấp thoáng những căn nhà mãi thu cất nỗi an lành, chúng chạy lui với diện mạo thanh bình chẳng suy suyển. Hẳn dân tình chốn này chẳng tìm ra cớ để van nài thượng đế một điều gì cả. Họ hiểu thượng đế sẽ khước từ: Chúng mày ấm no dường ấy…

Một lát, buồn miệng chẳng chịu được, cô gái nhỏ to: Em sẽ về Việt-nam lấy chồng. Chị nghĩ em có phiêu lưu mạo hiểm không? Em đã trao đổi chuyện trò tìm hiểu anh ấy cả nửa năm. Chúng em đã làm chuyến xuyên Việt, người anh ấy thật thà có vẻ chơi được, nói chung mọi thứ đều OK. Sang năm sẽ tổ chức đám cưới, sẽ mang anh ấy sang đây, phí tổn em chi trả khoảng hai mươi lăm ngàn. Số tiền em tằn tiện sau tám năm đi cày ở đây. Em vào nhà thờ cổ để cầu xin mọi chuyện suông sẻ, chỉ chừng ấy thôi. Xin Chúa phù hộ đừng cho con chịu cảnh tiền mất tật mang. Cô không nói Amen nhưng tôi đã thầm mong cho cô toại nguyện. Một thằng đàn ông đẻ bọc điều khoẻ re được sang đây, chân ướt chân ráo đánh rơi cái mặt nạ xuống, hình ảnh ấy sẽ khiến cô gái thót tim mà chết. Tai biến mạch máu não. Đột quỵ vì máu bị đông đặc. Bán thân bất toại vì nửa hồn thương đau. Tôi ngoại đạo nhưng cũng ráng góp một lời cầu lành giúp cô tai qua nạn khỏi. Lạy Chúa!

Theo tin dự đoán thời tiết, trời sẽ đổ mưa, giấc chiều. Mưa giông, sẽ chóng tạnh. Để chứng thực màu xanh của mây trời đang hoen ố dần. Gió từ đồi cao tràn về, nương theo bức tường uốn lượn làm tóc tôi rối tung. Tôi bước vào khung cửa ngập đèn vàng soi rọi chữ Second Cup. Đã mấy năm qua, diện mạo nó chẳng hao mòn một mảy may. Nó chung tình đến mức gieo cho tôi sự ngờ vực. Ngay cả hương mùi nó lưu trữ cũng thế, tuyệt không vơi đi, vồ vập vây đón ngày tôi trở về. Tôi bước tới quầy gọi hai tách cà phê, một espresso một latte. Cái bàn tròn kê trong góc có hai ghế đang bỏ trống. Tôi bồi hồi cầm khay lại đó, hai chiếc muỗng mãi nằm trên dĩa kêu tiếng thổn thức như chính nó cũng biết nhận ra vẻ khác thường.

Chiếc bàn này, xó góc này tôi và anh đã từng ngồi một mùa hè quá vãng. Tay trong tay, anh mân mê và nói ra những điều gần là một khôi hài lãng nhách, dở nhất thiên hạ. Nếu em có mệnh hệ nào thì hằng năm, đúng tháng ngày đen tối nọ anh sẽ vào quán ăn gọi một lúc hai tô phở. Khi ấy anh vừa đưa tôi đi xét nghiệm máu ở bệnh viện về. Tôi biết anh nói đùa nhằm gián tiếp ca ngợi tài nấu ăn của tôi. Tôi an toàn với kết quả sau thử nghiệm dài cả tháng của nhà thương gửi trả nhưng anh, băng tuyết mùa đông đã cuốn chiếc xe anh, lạc tay lái chui vào gầm chiếc xe tải đồ sộ. Tôi bỏ Q. như cố xoá đi một đoạn phim khủng bố. Tôi đã gần tìm lại sự quân bình cho chính mình khi thay đổi cảnh sống. Tôi trở về Q. đường đột chẳng tính toan. Tôi vào nhà thờ linh thiên do lực đẩy tình cờ. Tôi câm lặng trong thứ không gian đọng chết những thanh âm. Và giờ đây, theo trí nhớ, tôi rảo chân tìm về ngồi lại quán cà phê năm xưa. Tôi uống một lúc hai cốc cà phê. Một cho anh và một cho tôi. Tôi không xin Chúa, không xin anh một điều gì cả. Tôi vốn chẳng tin những gì liên quan tới sự nhiệm mầu. Ba tôi sinh ngày 30 tháng 4, ông chết cùng ngày tháng ấy hưởng dương 49 tuổi. Có phải đó là sự nhiệm mầu? Cũng vào ngày đó tháng nọ năm nào cuộc đời run rủi khiến tôi làm đứa thuyền nhân. Tôi tha phương và dưới con mắt cộng đồng người Việt ở khu phố nọ, lý lịch tôi mang: Một con mẹ ế chồng.

Hai giờ tự do tuỳ nghi hành sử đã kết thúc. Hai giờ, khung thời gian 120 phút vừa đủ cho tôi viết xong câu chuyện này. Tôi hối hả trở lại nơi tập trung, tôi tuyệt không muốn mình bị bỏ rơi. Tôi lên xe. Khi đó bầu trời Q. mới thịnh nộ trút xuống cơn mưa tầm tã. Mưa như một kẻ đã cắn răng nhịn khóc suốt tháng năm dài. Khóc đi em, chảy trôi bao phiền muộn.

Hồ Đình Nghiêm
hè hai không 5



Tết ăn, chơi!

Đoàn Xuân Thu

baotreonline

Post on 19 Jan 2023

Post by Sơn râu 15 May 2024

Tranh Bảo Huân

Từ điển cho biết: tào lao, tính từ, chỉ lời nói, câu chuyện nói ra cho có chuyện, cho vui. Tào lao năm ba câu; hứa tào lao trên bàn nhậu. Thằng nói chuyện tào lao!

Tết đến xin phép bà con cho tui nói chuyện tào lao, chuyện ăn chơi ngày Tết.

Chuyện ăn

Trước hết là chuyện ăn. Không những Tết, đám giỗ, đám cưới, đám thôi nôi, đầy tháng có mần heo là có món thịt kho tàu.

Có một ông chỉ tui cách kho thịt như vầy: Muốn kho một nồi thịt ăn Tết thì mua thịt ba rọi miếng ngon nhứt. Cục thịt bự bằng một gang tay, sau đó lấy dây chuối, dây lạt buộc chặt cục thịt lại. (Ai mà kho cục thịt bự dữ thần vậy cha nội? Làm sao nước mắm thấm vô hết? Cục thịt hình vuông vức, mỗi bề bằng 3 lóng ngón tay út là hết mức rồi).

Kho với nước dừa xiêm Bến Tre cứng cạy, đường cát trắng, nước mắm Phú Quốc. Ðể lửa liu riu. Sôi, bỏ vô chục cái hột vịt trắng phích trong nước màu cánh gián nâu nâu.

Tui nghe rồi để đó; vì xưa giờ tui chỉ biết có ăn. Thịt kho Tàu là do con vợ tui là á xẩm nó kho. Vợ tui xẩm lai nhưng ổng biểu tui không nên kêu là ‘thịt kho tàu’ nữa. Phải kêu là ‘thịt kho rệu’, ‘thịt kho hột vịt”, ‘thịt kho nước dừa’. Ủa chuyện gì mà cữ chớ?

Thì ông cắt nghĩa là: “Người Miền Nam xưa kêu người Tàu là Ba Tàu, Cắc Chú. Nên có người nói: “Thịt kho tàu là của người Tàu vì người Tàu đi tàu qua đây.”  Hay thịt kho tàu vì cục thịt, cái hột vịt nổi lờ đờ trên mặt nồi như một chiếc tàu”

Ông không chịu thịt kho tàu là của người Tàu. Thịt kho tàu là của người Việt trăm phần trăm. Vì người Tàu ăn xì dầu không ăn nước mắm. Cái nầy tui hoàn toàn đồng ý với ổng.

Rồi ngon trớn, tới luôn bác tài, ổng bác bỏ luôn cách giải thích chữ ‘kho tàu’ là kho hơi mằn mặn như nước sông Cái Tàu, Miệt U Minh. (Sông Cái Tàu gần rừng, gần biển nên nước nó mặn lờ lợ) của nhà văn Bình Nguyên Lộc.

Ông Bình Nguyên Lộc cắt nghĩa có lý đấy chớ! Theo tui, một bữa cơm của người Miền Tây thường có 3 món kho, canh và xào. Kho chủ lực phải có. Nghèo, canh, xào không có cũng hổng chết thằng Tây nào. Kho có nhiều tên, tuỳ theo nước mắm trong nồi nhiều hay ít mà chúng ta có kho lạt, kho mẳn, kho khô, kho quẹt…Nên nhớ ngoài thịt kho Tàu còn có tôm kho Tàu nữa.

Kho tàu là nước thịt kho lờ lợ không mặn quá để ăn với rau, dưa giá, củ kiệu, dưa cải. Thịt kho Tàu mặn độ “ph” cao không cho nồi thịt kho bị vi khuẩn làm cho chua nên để lâu được. Thịt có mỡ nhiều nên ăn với dưa cải, dưa giá giúp cho sự tiêu hoá. Cắt nghĩa kho tàu là của người Tàu là cắt nghĩa tầm xàm bá láp. Bác bỏ luôn chữ thịt kho tàu của ông bà mình từ thời khẩn hoang Miền Nam vì ông không thích Tàu là một đề nghị bậy bạ hết sức.

Chuyện chơi

Ðó là tui tào lao về chuyện ăn. Giờ tui tào lao về chuyện chơi, chuyện cờ bạc ngày Tết, chuyện bầu cua cá cọp. Có một nhà văn chín nút viết vầy nè: “Trong sáu ô của trò bầu cua cá cọp không hề có con cọp. Chỉ có: bầu, cua, cá, gà, tôm và nai. Vậy là mượn oai hùm chăng?

Có nhiều giả thuyết cho sự mượn oai hùm này. Thứ nhất: đọc là bầu cua cá cọp nghe cho xuôi tai. Tôi thấy giả thuyết này dở ẹc. Ðọc là ‘bầu cua cá tôm’, ‘bầu cua cá nai’  hay bầu cua cá gà’ cũng xuôi tai vậy.”

Tui thấy ổng nói bầu cua cá cọp không có con cọp là ổng nói không có trúng. Có sao không? Tui nhớ, lúc 10, 11 tuổi, tui từng đứng coi (không chơi vì mậu lúi nhưng ham vui) người ta chơi bầu cua vào Tết Nhâm Dần, Con Cọp, năm 1962, trong hẻm 482 đường Phan Thanh Giản Sài Gòn, trước cửa Miếu Thần Hoàng gần chợ Hai Mươi

Ðồ nghề của một ông (nhưng làm cái) gồm 3 cái hột hình khối lập phương 6 mặt. Và một miếng vải hình chữ nhựt có vẽ bầu cua cá cọp. Có con cọp màu vàng khè vằn vện nhe nanh đàng hoàng nằm bên góc.

Sỡ dĩ không bằng giấy, mà bằng vải, vì nó bền. Trải miếng vải đó xuống nền xi măng là gầy sòng, ăn vùa thua giựt được rồi. Bằng vải, nhà cái dễ túm lại, trong đó có tiền đặt của tay em, chạy biến vô hẻm sâu mất tiêu nếu bất ngờ có thằng nào hô “Lính tới!”

Ổng cho rằng ai nói gọi bầu cua cá cọp cho xuôi tai là dở ẹc. Tui thấy ông mới dở ẹc!

Tranh Bảo Huân

Theo tui, cọp hay nai là tuỳ người ta có sợ cọp hay không? Sợ không dám gọi tên mà gọi là ông Ba Mươi. Không sợ thì còn giỡn mặt ‘bắt cọp’ hay con gái biểu diễn đánh cọp lúc khai thị chợ Bến Thành năm 1914.

Tui cho rằng một số nhà sản xuất bộ bầu cua cá bằng giấy muốn thay con cọp bằng con nai hoặc con tôm cho bán được nhiều. In con cọp, sợ những người sợ cọp không chịu mua. Mần ăn phải tính chớ.

Ồng bà mình in vậy nhưng không kêu bầu cua cá nai hay bầu cua cá cá tôm không dở ẹc đâu ông? Bầu cua cá cọp dễ nhớ vì cách phát âm của nó. Ông bà mình dùng phép đối xứng về thanh. ‘Bầu cua’ hai thanh bằng đối với ‘cá cọp’ là hai thanh trắc. Còn nói theo ông, ‘bầu cua cá nai’ mới hổng giống ai hết ráo.

Thưa tui ủng hộ phê bình. Vì có phê bình mới có tiến bộ. Phê trúng, tui học. Phê trật tui cự lại cho vui vậy thôi.

Tui thấy nhà văn gốc cây khi phê bình về phong tục tập quán của Miền Nam thì nên cẩn thận đừng nói ẩu, kẻo trật lất!

Tuy nhiên ca sĩ lừng danh Bob Marley (1945-1981) đã từng nói: “Ngay cả mặt trăng cũng không hoàn hảo, nó đầy những miệng núi lửa. Biển đẹp vô cùng, nhưng mặn và tối ở độ sâu. Bầu trời luôn vô tận, nhưng thường nhiều mây. Vì vậy hãy thôi “hoàn hảo” đi!

Nhưng con vợ tui nói: “Em không cầu toàn nhưng anh yêu nên càng lúc càng tiệm cận với hoàn hảo. Bớt nhậu đi một chút được hông?

DXT