Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Chương III: Trên đường ra Bắc

Post by Sơn râu 15 May 2024

Phần 5

Chừng hai tiếng sau, chiếc tầu dừng lại thật. Anh em ở dưới hầm nhốn nháo, đứng cả dậy, trong tư thế sẵn sàng. Từ trên miệng hầm, một tên sĩ quan Cộng Sản, mang quân hàm Trung tá thò đầu xuống nói:

– Xin giới thiệu, các anh sắp đặt chân lên thước đất đầu tiên của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa!

Nói xong, hắn biến mất. Cũng kể từ đó, không một lần, tôi gặp lại tên trung tá có nét mặt xương xương, trông có vẻ trí thức ấy nữa, dù tôi đã đi qua nhiều trại Cải Tạo trong 5 mùa mưa nắng, rét mướt của miền Bắc nghèo nàn, khắc khổ.

Mọi người ai nấy đều đứng trước túi hành trang của mình. Nhưng chiếc thang chưa hạ xuống, anh em ngữa mặt ngó lên chờ đợi. Các anh Đội Trưởng kêu gọi những người thuộc đội mình sẵn sàng rời khỏi hầm tầu khi có lệnh.

Thấy chờ đợi lâu quá, có người lại ngồi xuống lôi điếu ra kéo. Khói thuốc có sức quyến rũ, chỉ loáng sau, tiếng điếu rít liên tục khói tỏa mờ mịt. Trời lúc này đã chạng vạng. Mẩu mây tim tím như miếng nhung vuông vắn đóng khung trên miệng hầm. Miền Bắc đây rồi, nhưng chúng tôi chưa ai đoán được mình lên bến Vinh hay Hải Phòng, phải chờ lúc nữa mới nhận biết . Chiếc thang sắt được thả xuống. Mọi người xô đến, ai cũng muốn lên trước. Chiếc thang quá hẹp, một đám người dính cứng vào chân thang như khối bê tông.

Tên bộ đội từ cao nói xuống:

-Từng người một “neo nên”!

Lạ thay, tiếng nói như có uy lực thần bí, đám đông giãn ra. Từng người thứ tự leo lên. Những chiếc túi đeo lưng to kềnh, che lấp cả thân hình người mang nó, lúc lắc theo nhịp bước chân chậm, nặng nề ! Hạnh đã rời khỏi chỗ từ lúc nào. Cũng từ lúc đó, tôi và Hạnh không còn gặp lại nhau, dù chúng tôi cũng cải tạo chung một không gian, nhưng khác trại.

Tôi leo lên thang khi căn hầm đã trống trải, chỉ còn vài người đứng đợi tới phiên mình. Trước khi leo, tôi ném cái nhìn cuối cùng xung quanh căn hầm ngập ngụa rác rưởi, giấy dơ, bao mì ăn liền. Đúng là cái thùng rác to chưa đổ. Từng bước một, tôi nắm tay thang leo dần. Chiếc túi vải đeo lưng siết chặt hai bên vai như muốn kéo tôi ngã về phía sau. Khi leo qua miệng hầm, tôi men theo chiếc hành lang nhỏ, chui qua căn phòng hẹp để xuống chiếc cầu thang khác đưa tới boong tầu. Từ căn phòng hẹp này, có thể nhìn thông sang một căn phòng lớn chưa đầy xe Honda, Suzuki, tủ lạnh, bàn ghế, tủ sắt, quạt máy, quạt trần, máy giặt v.v… của Mỹ, chở về Hà-nội. A, người ghét, của yêu là vậy!

Trên boong lúc này chật ních người cải tạo. Bây giờ tôi mới biết, không phải con tầu chỉ chở số anh em chúng tôi, mà nó có tới 3, 4 chiếc hầm như vậy. Số người xuống bến chưa kịp, số dồn lên mỗi lúc mỗi nhiều, nên sự ứ đọng không thể tránh. Tôi bị dòng người chen lấn xô đẩy ra tới cầu thang bên hông tầu. Chiếc thang này tương đối rộng, chạy nghiêng nghiêng theo thân tầu, dễ đi. Xuống đến “ke”, tôi, người cuối cùng trong đội. Anh em nhìn tôi như trách móc về sự chậm trể. Bến tầu khá lớn, chắc mới được xây dựng trong những năm gần đây vì mầu xi-măng còn mới dưới ánh đèn pha sáng rực. Rất nhiều bộ đội, ôm A.K. gác kín vòng ngoài. Tôi nhìn con tầu lần cuối. Ngay trên chiếc lan can chạy vòng quanh boong tầu, cũng có rất nhiều vũ khí đủ loại, hướng nòng về phía chúng tôi.

Một tên mang quân hàm Thiếu úy hỏi:

– Đội mấy đây?

– Dạ, Đội 15!

– Hai đồng chí đưa đội này đi!

Tên Thiếu úy cho lệnh hai tên bộ đội cầm A.K. đứng gần đó. Một tên tiến lên, ra lệnh cho chúng tôi đi theo hắn, còn tên kia theo sau.

Chúng tôi đi sau ánh đèn pin, xuôi xuống mé sông. Chiếc tầu đổ bộ đã há mồm sẵn, chờ ! Tên bộ đội bảo chúng tôi đi xuống, đưng nép mình vào một bên, dành chỗ cho các đội khác. Chiếc tầu này chắc mới được chi viện, mầu sơn bóng loáng sạch sẽ. Lát sau, 3 đội nữa xuống chật cứng khoang tầu. Chiếc nắp hậu tự động kéo lên. Tiếng máy chạy rè rè. Một hồi còi ré lên, chiếc tầu từ từ tách bến. Chúng tôi đứng bên trong không nhìn thấy gì vì bị đóng cứng trong chiếc hộp thép. Chiếc tầu lừ lừ trôi trong đêm tối, chừng 15 phút sau dừng lại. Tấm chắn hậu tự động thả xuống. Tôi nhìn thấy chiếc tầu đậu cách bờ một khoảng khá xa, có lẽ vì nước ròng nên không ghé sát được.

Từ trong lòng tầu nhìn lên bờ, dưới ánh đèn điện sáng trưng, tôi thấy đứng chật ních một hàng Công An áo vàng, dài cả mấy chục thước, mỗi tên dắt theo con chó berger cao gần tới hông. Con nào, con nấy thè lưỡi, đỏ lòm! Đó, chúng tôi được đón tiếp trên thước đất thứ nhất của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa ! Chó và Công An làm hàng rào danh dự! Chúng tôi lội bì bõm, nước ngập tới đầu gối, từ chiếc tầu đổ bộ vô bờ. Vì đeo quá nặng, có người ngã nghiêng xuống nước! Ánh điện chói chang sáng rực khoảng trời. Sự mắc điện ở nơi này chắc mới thực hiện, do sự có mặt của chúng tôi, vì khi đến bờ, nhìn chung quanh chỉ có vài căn nhà lá mới dựng, còn toàn là đồng ruộng.

Lên đến bờ, chúng tôi được hướng dẫn đến chiếc bàn, ở đây có những người đội mũ không vành trắng, mặc blouse, dài gần tới mắt cá chân. Người nào cũng cầm sẵn trong tay ống chích. Chúng tôi lần lượt đi qua, mỗi người nhận một mũi chích và 4 viên thuốc. Quá đấy mươi bước, có chiếc bàn khác, mỗi người lại nhận thêm 2 trái chuối, xong được dẫn đến bãi đất trống, ngồi nghỉ. Đã mấy ngày đêm, không tiêu tiểu, nhân dịp này, tôi xin phép đi. Tên bộ đội, chỉ chỗ ở phía mé sông. Bỏ túi đeo lưng xuống, nhờ anh em coi hộ, tôi đi ngay ra phia chỉ định. Thật sung sướng như chưa bao giờ sung suớng như vậy. Từ ngày đi học tập cải tạo, tôi mới được làm công việc tiêu hóa một cách thoải mái, mát mẻ như thế này. Không thối tha, ruồi muỗi, gió thổi hây hây!

Khi quay về, vừa kịp lúc anh em được chuyển đi nơi khác. Tôi xốc vội túi đeo lên vai, lúp xúp đi theo anh em. Chúng tôi di chuyển chừng 500 thước đến một căn nhà lón, như nhà kho. Đi vào bên trong, tôi chẳng thấy gì, ngoài đống lửa đã tàn, than còn đỏ hồng, thỉnh thoảng lại bùng lên khi có gió. Tên bộ đội chiếu đèn pin soi khắp chỗ. Dõi theo ánh đèn pin, chỗ nào cũng tro than ngập ngụa, tôi rùng mình khi nghĩ mình phải ngủ qua đêm tại chỗ này.

– Tối nay các anh nghỉ ở đây! Mọi người không được ra khỏi cửa. Khi cần, phải xin phép cán bộ cảnh vệ trước. Nếu được phép, mới di chuyểh, không tuân theo, các anh phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Nghe rõ chứ?

– Nghe rõ.

Tên bộ đội đi ra. Ánh đèn pin thoáng còn, thoáng mất chìm sâu vào bóng tối.

Cứ như vậy, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau, căn nhà rộng rinh, đã đầy người. Tôi “tranh thủ” buông mùng, trải tấm nylon xuống, ngả lưng cho đỡ mỏi sau mấy đêm ngủ ngồi. Cũng may, tối nay vừa đặt người xuống nằm lơ mơ, tôi ngủ lúc nào không hay!

mạnh hải flickr

Hôm sau, khi thức giấc, đống lửa đêm qua đã vạc, tuy nhiên vẫn còn hơi nóng. Chung quanh vắng lặng như tờ. Đi ra phía cửa, tôi cho tay đẩy nhẹ. Cánh cửa nặng mở hé! Tôi thò đầu nhìn ra ngoài, những đống than đá cao như núi rải rác đó đây. Một tên bộ đội đeo A.K. đứng cách căn nhà chừng 20 thước, đang cho chân đá những cục than vương vải, coi đó như trò giải trí! Xa hơn chút nữa, một dòng sông khá rộng, mặt nước phẳng lì, không bóng con thuyền xuôi ngược. Chiếc xà-lúp cũ kỹ đậu ở mé bờ chở đầy than đá. Phía bên kia, hàng cây xanh rì, vài mái nhà ẩn hiện. Ôi, quê hương tôi, sau mấy chục năm xa cách, buổi sáng nay được nhìn lại, tự dưng lòng thấy bồi hồì. Tôi chưa xác định được đây là đâu, thuộc tỉnh nào? Từ khe cửa, khó có thể quan sát cho đúng vị trí nơi mình có mặt, nhất là phong cảnh không gợi cho mình địa điểm. Tôi quay vào kéo hơi thuốc lào. Sau cơn ngây ngất, tôi cuốn mùng, gấp tấm nylon cho vào túi đeo lưng, gọn gàng. Nếu có lệnh di chuyển, đã sẵn sàng.

Trời sáng rõ, anh em thức giấc hết. Nhìn quang cảnh căn nhà phát sợ. Không hiểu sao tối qua tôi đã ngủ, giấc ngủ ngon lành? Ngoài tro than, còn biết bao nhiều giấy vụn, lá bánh, vỏ chuối, phân người lâu ngày đã khô, phân trâu bò v.v… Chắc căn nhà này đã có anh em chúng tôi ngủ qua đêm trong những đợt chuyển trại trước. Cánh cửa được mở rộng. Một tên bộ đội đi vào hỏi:

– Mấy anh Đội Trưởng đâu?

Các Đội Trưởng ra trình diện.

– Sáng nay, mấy anh được tư do nghỉ ngơi. Anh nào muốn tắm rửa có thể ra hố bom phía bên. Nếu giặt giũ phải phơi phóng có trật tự. Đi tiêu, tiểu phải qua khu đất trống, phía bên kia bờ cây thấp. Nghe rõ chưa?

– Nghe rõ!

Thấy được tắm rửa, giặt giũ , ai nấy mừng quá vội vàng mở túi lấy đồ. Tôi cũng làm như anh em, mang quần áo ra hố bom tắm giặt. Đường kính vũng nước khoảng 15 thước, nước khá trong, nếu nhìn từ xa. Chắc đây, hố bom do không quân Mỹ ném vào cuối năm 71. Khi đến gần, tôi thấy xung quanh đầy phân trâu bò. Nơi này thường ngày là chỗ trâu bò đầm mình. Những vết chân thú ăn sâu xuống đất bùn, còn in rõ. Nhưng, lấy nước làm sạch, chúng tôi cũng lội xuống giặt giũ, tăm rửa, có anh bơi vòng vòng, lăn ngụp như trong hồ bơi nhà “xéc”! Nước tù, lâu ngày bị khuấy, nên mùi nước thum thủm đưa lên mũi làm buồn mửa. Tôi kỳ cọ qua loa, giặt nhanh chiếc áo và quần lót xong đi lên. Khổ nỗi, chỗ lên lại ngập bùn, nên khi tắm xong, chân ngươi nào cũng như đi giầy ống phải phơi nắng cho khô, bóc lớp bùn đi, chứ không tìm đâu ra nước rửa!

Buổi trưa chiếc jeep kiểu Liên Xô chở đầy thùng lương khô, đậu ngay trước cửa. Các Đội Trưởng theo số người đến lĩnh. Sau đó, phát nước uống. Anh em người nào cũng chứa đầy bi-đông để dành, khi khát, cứ múc nước trong thùng. Cũng may trời nắng, quần áo chóng khô, tôi gấp lại cất đi. Bữa trưa, tôi không ăn lương khô mà bóc nốt gói mì được phát trên tầu ra ăn, chẳng cần ngâm nước. Lương khô khó nuốt lại hay khát nước! Gói mì đẩ nát ngướu, tôi đổ ra tay, đưa dần vào miệng. Bữa nay, ăn đã thấy ngon, có lẽ có thể bắt đầu làm quen với thời khắc và món ăn mới. Ăn xong, tôi uống ly nước đầy, làm một khói thuốc lào, rồi trải tấm nylon năm khèo. Quả thực tôi không quen thân với ai thuộc Đội 15 dù cho anh em đã cũng sống chung 7, 8 tháng trời tại Suối Máu. Do đó, nếu có chuyện trò cũng chỉ để nói chơi cho khuây khoả chứ không hề tâm sự. Trong hoàn cảnh này, thiếu người bạn thân, quả là thiệt thòi lớn.! Có tiếng giải thích về địa điểm, ngay gần chỗ tôi ngồi.

– Đây, bến Sáu Kho, bên kia, Hải Phòng!

– Sao ông biết?

– Tôi nhìn thấy dãy núi đổ đãi ra cửa biển Đồ Sơn. Khi trước, nơi đây là bến đò, bây giờ, căn cứ của Hải quân.

Tôi lắng nghe, để tìm hiểu đích xác nơi mình có mặt.

– Đéo biết rồi tụi nó đưa mình đi đâu. Các toán di chuyển trước đều phải qua đây cả, nên mới iả đái tùm lum, bẩn thỉu thế này. Anh em mình đi đâu, bê bối đấy!

– Đâu phải lỗi do mình, đêm nó không cho ra ngoài, làm sao đái iả? Túng phải tính chứ?

Tiếng nói chìm dần.

Buổi trưa không khí oi ả, chẳng ai ngủ được. Anh em lại quây quần nói chuyện, hút thuốc lào vặt. Vì mới xa miền Nam có mấy ngày nên số lượng thuốc lào chưa hao hụt bao nhiêu, anh em còn có thể mời nhau hút qua hút lại thoải mái. Nhưng dần dà về sau, thuốc lào “3 số 8” trở nên một món hàng đắt giá, vì thuốc lào miền Bắc, nơi thổ sản nổi tiếng như Vĩnh Bảo, Tiên Lãng nay là Thống Nhất, An Thái đều nhạt phèo hút như rơm vì đã thuộc Quốc Doanh.

Khoảng 5 giờ chỉều, chúng tôi được lệnh chuẩn bị. Quang cảnh căn nhà kho rộng như vậy tự nhiên thấy chật đi vì người qua, kẻ lại tấp nập. Tiếng giũ mền, giũ nylon phành phạch, bụi bay mù! Nhưng chỉ nửa giờ sau, căn nhà lại rộng rinh vì mọi người đã thu gọn hành trang, người nào đứng trước đồ vật của người đó. Lịnh tập họp được truyền đi. Anh em đeo hoặc gánh đã sẵn sàng. Tên bộ đội gọi từng Đội. Đội tôi ra gần chót.

Buổi chiều mùa hạ miền Bắc trong bối cảnh hoà bình, trông hiền hoà như bức tranh. Dòng sông chảy êm đềm phía trước mắt, mầu nước sáng hơn mầu trời, long lanh như tấm gương vĩ đại. Đằng xa hàng cây xanh mướt chạy dài tạo nên đường viền đăng-ten ở cuối chân trời. Đàn chim nhỏ bay lượn lờ như những cánh lá rơi theo chiều gió cuốn chưa chịu rớt, trông vui mắt. Chiếc thuyền nhỏ đang lướt trôi giữa dòng nước, gió thổi căng cánh buồm to bằng mảnh chiếu trông thật dễ thương! Tôi đi từng bước trên con lộ đen đúa đầy tro than. Khẩu A.K. luôn luôn chĩa về phía chúng tôi sẵn sàng khai hoả, nếu chúng tôi có hành động chống đối, cũng như hồi tối qua, bên bờ sông, nếu có ai chạy trốn sẽ bị Công An suỵt đàn chó berger xé xác!…

Nhìn qua cung cách đối xử của Nhà Nước Cộng Sản với chúng tôi, họa có ngu lắm mới không thấy rõ sự căm thù. Họ đã nói ra miệng: “Tội các anh, trời không dung, đất không tha, tre trúc không ghi hết, nước biển Đông không rửa sạch, Cách Mạng không bao giờ quên mối thù này đâu!”

Đang di chuyển, bỗng nhiên tôi nghe tiếng chỉ đứt. Một bên vai nhẹ hẫng.

– Chết cha! Tôi kêu lên, nhưng đã muộn! Một bên quai đeo đã rời khỏi túi vải. Chiếc túi sà xuống, làm người tôi bị lệch, rất khó đi. Trong lòng vô cùng bối rối, không biết phải giải quyết ra sao trong tình huống này? Anh em vẫn di chuyển đều một nhịp. Tôi chậm bước tụt lại phía sau. Tên bộ đội giục:

– Anh kia, đi mau “nên” chứ?..

Tôi cố gắng đi nhanh, nhưng không cách nào đều bước được. Chỉ một quãng đường là đuối sức. Tôi bỏ nốt chiếc quai còn lại ra khỏi vai, dùng hai tay đưa nó lên vai, như vác bao gạo. Thấy dễ chịu hơn lúc trước, tôi chạy lúp xúp mong đuổi kịp anh em đã bỏ xa cả mấy chục thước. Tên bộ đội bám sát luôn luôn giục giã . Khi bắt kịp anh em, tôi cảm thấy những bước chân đã lảo đảo không còn chính xác nữa. Tôi muốn quăng đại chiếc túi đeo lưng ở giữa đường, đi tay không cho nhẹ nhàng. Tuy nghĩ vậy, nhưng thực tế, lại không dám, vì vứt dễ, nhưng sau khi vứt rồi, lấy gì dùng? Tôi mong chóng đến điểm dừng, để có thời giờ buộc lại chiếc túi, nhưng sao đi hoài chẳng tới! Tôi thở dốc từng cơn, tiếng thở mệt nhọc như kẻ sắp trút hơi thở cuối cùng, vĩnh biệt cuộc đời! Bỗng nhiên, chân tôi khuyu xuống, chiếc túi đeo lưng lăn ra xa. Anh em cứ mải miết đi, không ai ngó lại Tên bộ đội cứ luôn miệng “mau nên”. Tôi buồn và tức quá thốt ra tiếng nói khẽ, bực bội: “mau cái con c…!” Tôi lồm cồm đứng dậy, chạy ra phía chiếc túi cúi xuống vác lên. Lần này tôi ôm nó ngang bụng, như ôm đứa bé con 6,7 tuổi. Cũng chỉ vài chục bước, hai cánh tay rã rời, buông nó xuống. Cũng may vừa lúc đó tôi nhìn thấy anh em đã dừng lại, kẻ đứng người ngồi cách tôi khoảng 50 thước. Trời bắt đầu tối. Bóng đêm nuốt dần cảnh trí như con quái vật khổng lồ nuốt con mồi. Có bóng nguời chạy lại phía tôi, khi đến gần, nhận ra Quân, người bạn trẻ ngồi gần tôi trên tầu Sông Hưng. Không hiểu sao Quân lại nhập vào Đội tôi, và từ lúc nào?

– Bố già, để con vác dùm. Bố cứ đi tay không đến chỗ anh em tập họp.

Quân vác chiếc túi của tôi lên vai nhẹ nhàng như vác chiếc bao giấy. Nhìn Quân, tôi biết mình đã già!… Quân đặt chiếc túi đeo lưng xuống, rồi nhìn tôi cười. Ngồi thụp xuống, tôi cầm sội dây quai tìm hiểu vì sao nó đứt? Khi ở Suối Máu, tôi đã chiu khó tháo từng sợi chỉ trong chiếc dây đeo băng đẹn của quân đội Mỹ. Những sợi chỉ tháo từ sợi dây này rất chắc, thế mà cũng không chịu nổi sức nặng, đã đứt bung. Tôi cố tìm cách buộc lại để đeo đỡ, chờ lúc nào có hoàn cảnh sẽ khâu lại. Mệt quá, tôi nằm lăn ra bãi cỏ đầy tro than. Trên chiếc “cầu cao” có mấy người, cả đàn ông lẫn đàn bà, đang xúc than đổ vào chiếc xà-lan phía dưới. Tiếng nói cười của họ làm không khí nơi đây đỡ phần u uất. Chắc họ biết rõ chúng tôi, những người khách lạ, nên họ vừa làm vừa nhìn xuống, nói với nhau những gì, không nghe rõ! Tên bộ đội đứng lởn vởn phía xa, có lẽ, đây là phần đất an toàn, nên họ không cần canh phòng cẩn mật như ở trong Nam.

– Đi xe lửa đó anh em!

mạnh hải flickr

Một tiếng nói cất lên, không đoán được do ai? Tiếng điếu cầy lại rít ren réc đó đây. Mỗi lần nghỉ, anh em chẳng biết làm gì để khuây khỏa ngoài điếu thuốc. Chúng tôi kẻ nằm, người ngồi lổn nhổn. Tiếng nói chuyện thì thào, to nhỏ. Tôi nhìn lên trời. Mầu mây đen kịt như tảng hắc ín vĩ đại, không một ánh sao. Từ phía xa, thỉnh thoảng có lằn chớp lóe lên như ảo ảnh. Tôi nhìn đồng hồ, đã gần 9 giờ tối. Những toa tầu chở súc vật khi trước nay dùng chở than nhem nhuốc, nằm im lìm trên đường rầy trông như một dãy hang nhỏ. Tôi nghĩ, lát nữa đây, chúng tôi sẽ lên các toa tầu, có ghế ngồi thoải mái. Con tầu, hồi còn trẻ, tôi đã đi từ Hà-nội xuống Hải Phòng. Nó không hiện đại như những con tầu của các quốc gia tiên tiến mà tôi đã có dịp được biết, nhưng còn hơn ngồi bó gối mấy ngày đêm trong căn hầm chiếc Sông Hương, trông bề ngoài rất đẹp đẽ, hiền hoà, mà trong lòng nó là hỏa ngục!

Có tiếng còi tầu rúc từ xa. Tôi nghe tiếng máy chạy xình xịch đều đều rõ dần. Hình như họ đang dồn toa. Ánh đèn đỏ báo hiệu lúc lắc, chao qua chao lại như mời gọi! Tiếng động rầm rầm, do sự nối toa tạo nên. Những chiếc toa đen sát chỗ chúng tôi bỗng lùi lại chạy tuốt về phía sau, móc vào chiếc toa khác, có đèn sáng trưng. Tôi chú ý nhìn về phía đó. Trong chiếc toa sáng đèn có nhiều tên bộ đội trang bị vũ khí đứng lổn nhổn, có đứa thò đầu ra ngó lên vòm trời.

Một toán bộ đội đi lần theo đường sắt, chiếu đèn pin nhìn vào mỗi toa để kiểm soát. Chúng để lại ở mỗi toa một tên vũ trang, đứng ngay lối lên. Chừng 15 phút sau, hồi còi rúc vang. Sau hồi còi, tên bộ đội vũ trang cho lệnh chúng tôi lên tầu. Những chiếc toa đen dơ dáy ít phút trước đây, tôi trông giống như chiếc hang, nay chúng tôi được lệnh leo lên, mỗi bên 25 người, hành trang để ở ngăn giữa. Tên bộ đội có sắc mặt lạnh lùng. Từng người lần lượt leo lên. Đội Trưởng đếm số người chia đều cho mỗi bên. Trong mỗi ngăn chỉ có chiếc cửa sổ nhỏ khá cao, phải đứng kiểng chân mới nhìn ra ngoài được. Nếu người nào cao không quá 1 thước 60, khỏi nhìn. Vừa leo lên, đã biết ngay tối nay lại phải sống trong đia ngục! Một đêm trắng sẽ trôi qua với muôn vạn nhục nhằn! 25 người chen chúc trong một ô vuông quá chật, do đó mọi người lại ngồi sát nhau, bó gối. Trong toa không một ngọn đèn, tối và nóng nực vô cùng. Có người mới lên đã không chịu nổi không khí ngột ngạt, cứ nghểnh cổ ghé mặt sát chiếc cửa sổ nhỏ trên cao giăng mắt cáo để thở. Cánh cửa được kéo lại, chỉ còn để hở khe, chừng 10 phân. Một sợi dây xích luồn qua và chiếc ổ khóa lồng vô bóp lại. Tiếng “cách” báo cho biết chúng tôi đã hoàn toàn bị cô lập. Tên bộ đội từ ngoài nói vào:

– Các anh sẽ đái qua cái khe cửa này, còn iả vào túi nhựa, xong quăng ra ngoài, nghe rõ chứ?

Sau khi nghe tiếng “rõ”, những bước chân dẫm xào xạo trên sỏi đá nhỏ dần rồi mất hút! Chắc nó đã trở về chiếc toa sáng đèn với các phương tiện tối thiểu đã dành cho chúng.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply