Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 15 May 2024

Chương III: Trên đường ra Bắc

Phần 3

Tuy mệt, nhưng không sao ngủ được. Tiếng nói chuyện, cười đùa, văng tục làm không khí căn hầm náo động. Vài chiếc võng đã tìm cách móc lên, chủ nhân nằm thoải mái. Tôi chắc đây là những sĩ quan đã lăn lộn ở đơn vị tác chiến, nên có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề ăn ở. Chiếc võng là một tấm vải nylon mỏng, nhưng rất chắc, được treo bằng dây dù tòn ten ngay trên đầu những người nằm dưới. Chẳng thấy ai phàn nàn gì, chắc họ cùng “băng”. Trên tấm vách sắt ngang tầm mắt, có dòng chữ No Smoking kẻ bằng sơn đỏ, nhưng chẳng ngăn cấm được sự không hút thuốc. Tiếng điếu cày ren réc đó đây. Tôi cố tìm cách moi chiếc điếu trong túi đeo lưng ra. Chiếc điếu đã đổ hết nước. Chẳng còn cách nào khác, tôi phải tìm cho bằng được chiếc bi-đông. Sau một hồi mò mẫm, tôi đã thấy nó nằm dưới đáy túi vải. Tôi phải hết sức khéo léo mới lôi được nó lên, khỏi bỏ ra những vật để trên. Mở nắp, tôi cẩn thận rót nước vô điếu, đưa lên môi kéo thử. Tiếng điếu rít lên. Tôi vê thuốc, châm lửa, kéo một hơi dài. Suốt từ chiều qua, tới sáng nay, lá phổi của tôi mới được che phủ bởi màn khói quen thuộc. Hồn tôi lâng lâng, ngây ngất, ngã lưng vào đống đồ chật cứng phía sau, thở dồn dập!

– Cho mượn cái điếu ông!

Tuy nghe tiếng, nhưng chân tay tôi bủn rủn, không cách nào đưa nổi chiếc điếu đến phía gọi. Lát sau, cơn say hả, mở mắt nhìn, trời mờ sáng.

Những vệt mây chuyển động từ từ, trong lúc trời không gió. Có lẽ, con tầu đã khởi hành. Mầu sắc bàng bạc vắng lặng. Từ phút ấy, trước mặt tôi lúc nào cũng chỉ có ngần ấy khoảng trời.

– Khói thuốc của bố ngửi ngon quá hé? Bố hút đã lâu chưa, hay vào tù mới biết. Bố cho mượn rít một hơi !

Tôi đưa điếu cho người bạn trẻ ngồi xế, xa đúng một tầm tay.

– Bố cho con xin một “bi” luôn, thuốc của con “cù lần” quá, hút phào phào như rơm.

Tôi mở bao, vê vê bi thuốc to bằng hạt ngô, đưa cho người bạn trẻ. Anh nhồi vào nõ, bật lửa. Tiếng điếu kêu ròn rã, nhịp nhàng. Hút xong, anh ngữa mặt thở khói. Nhưng đột nhiên, anh nằm vật xuống, bọt mép sùi ra, buông chiếc điếu đổ nghiêng, nước chảy tung tóe!

– Đù mẹ, nước điếu đổ tùm lum, hôi rình, ai chịu nổi ? Hút cái kiểu đếch gì, khốn khổ vậy?

Người ngồi kế bên càu nhàu. Người say không còn sức trả lời. Tôi vội nhoài người cầm chiếc điếu, sợ nhỡ có ai bực mình đập vỡ. Người bạn trẻ đã tỉnh, ngồi ngay ngắn.

– Ôi cha, thuốc của Bố mua ở đâu, trứ danh vậy? Kể từ ngày biết hút thuốc lào, chưa lần nào con được hút bi thuốc ngon như vậy!

– Này cậu, lau nước điếu đi, hôi rình à!

– Thông cảm, khăn đâu? Chờ chút, khô ngay í mà! Thuốc ngon quá, cậu nên xin Bố một bi, kéo thử xem!

Người ngồi gần nghe nói, chắc cũng muốn hút cho biết, anh ta cứ nhấp nhổm, nửa muốn xin, nửa ngượng. Tôi đưa bịch thuốc về phía anh ta.

– Này, làm một “bi”!

Anh ta cầm bịch thuốc, thò hai ngón tay vê vê một điếu, nhồi nhanh vào nõ. Anh này kéo coi bộ không ngon bằng anh trước. Điếu thuốc chưa cháy hết, anh đã ngã người, há miệng thở dốc, hai mắt nhắm nghiền như không muốn nhìn, muốn thấy gì nữa trên cõi đời này.

– Cho mượn chiếc điếu và gói thuốc bố!

Thế là từ lúc đó, bịch thuốc và chiếc điếu lưu lạc đi vòng vòng khắp lượt, đến lúc trở về, bịch thuốc cũng vừa sạch trơn! Chính nhờ bịch thuốc và chiếc điếu, nên tôi được nhiều thiện cảm. Mỗi người xích một chút, tôi đã có chỗ ngồi thoải mái ! Xung quanh, toàn chiến hữu trẻ, trên dưới 30 tuổi, cấp bậc từ Thiếu úy tới Đại úy.

Một khoảng nắng chiếu xuống hầm. Những khuôn mặt bơ phờ, mệt mỏi, đầu tóc rối bời, ngó nhìn ngơ ngác. Nhiều người giờ này vẫn còn ngủ, đầu nghẹo về một bên, ánh nắng chiếu lệch làm nổi bật nét lồi lõm của khuôn mặt như gỗ đẽo. Những sợi râu đâm tua tủa trên mép, trên cằm như hai chiếc bàn chải đã hư. Người ngồi sát tôi, có gương mặt khắc khổ, trầm lặng. Anh lấy gói mì ra ăn. Những sợi mì được hai hàm răng nghiến mạnh, nghe dòn tan. Không hiểu sao, tới giờ này, tôi vẫn chưa thấy đói. Phần cơm đựng trong lon ghi-gô từ chiều qua, chắc đã thiu. Tuy biết vậy, nhưng không cách nào vứt đi. Bụng cồn cào, có thể do đói, tôi bắt chước anh ngồi bên, bóc gói mì cho vào mồm. Mì đã nát sẵn, nên hàm răng đỡ phải làm việc. Tuy nhai, nhưng tôi chẳng cảm thấy mùi vị gì! Nó nhạt nhẽo, không tạo nên sự thích thú nào để trở thành ham muốn! Dù sao, tôi cũng cố nuốt vì nếu không, sẽ mất sức, khó lòng giữ được phong độ khi cần đến sức mạnh và sự dẻo dai.

Có lẽ, chiếc tầu đã đổi hướng nên khoảng nắng đổi chỗ. Tàu chạy rất êm, ngồi dưới hầm, tôi không cảm thấy gì, không nghe tiếng máy cũng chẳng bị sóng nhồi. Tôi chỉ cảm biết nó đang đi vì nhìn lên vòm cao thấy mây trôi.

– Đéo biết tụi nó cho mình đi đâu?

– Phú Quốc là cái chắc!

– Tại sao không Côn Sơn? chuồng cọp thiếu gì?

– Cái thân tù, đi nơi nào cũng vậy thôi. Đến đâu, Cách Mạng cũng phải cho ăn, cho chỗ ngủ, mình chẳng phải lo chó gì cả. Đời tù thế mà sướng đó, cụ ạ!

Tiếng cười hô hố nổi lên.

– Cậu tưởng tụi nó cho cậu ăn không đấy chắc? Nó bắt lao động hộc máu mồm ra, nuốt cũng không vô cho mà xem. Nếu đời tù sướng, tại sao mọi người đều sợ? Ở cái thế này, đéo làm hơn được, nên nói liều!

Từ sát mé tường, có người đứng dậy, ngó chăm chăm về phía trước mặt, như tìm vật gì.

– Này anh em, cho đi nhờ chút, mót đái quá!

Nói xong, anh ta bước đại vào một khe hở vừa đủ đặt bàn chân. Khi anh đã đặt được bàn chân xuống, anh co chân kia lên để tìm một khe hở khác. Trong lúc đó, anh đứng có một chân, mắt vẫn ngó xuống sàn.

– Cho nhờ tý anh em!

– Nhờ cái con c…Đi đâu, đi lắm thế?

Tôi nghe đúng tiếng gã úp mũ lên mặt, trên ngực có chòm lông và xâm hình trái tim cùng mũi tên.

– Mót đái quá, nhờ chút!

– Sao không đái cha nó ra quần. Nằm cũng không yên. Cả đêm không chợp mắt phút nào!

Tuy nói vậy, nhưng anh cũng co gối, để người mót đái đặt đủ bàn chân vô, khi bàn chân đã đặt xuống, do kinh nghiệm, anh không dám rút chân kia, trong khi chưa tìm ra chỗ. Anh lại năn nỉ, cứ thế, đi lần đến chân chiếc cầu thang sắt ở cuối hầm. Tôi nhìn theo anh với mục đích để quan sát trước. Rồi đây, vì nhu cầu sinh lý, mình phải đi và cũng phải gánh chịu những gì anh đã trải qua. Đoạn đường tuy ngắn ngủi nhưng cam go không thua gì “đoạn đường chiến binh” tại các Quân Trường. Khi tới chân cầu thang, anh xếp hàng đứng chờ. Hàng người đợi cũng khá đông. Ngay sát đấy, kẻ nằm, người ngồi ngổn ngang. Chờ hồi lâu, cũng đến lượt. Anh leo cầu thang vội vã. Lượt đi đã xong, lượt về không hơn gì. Cùng ngần ấy khổ ải, ngần ấy câu chửi rủa, có khi còn ăn đòn nữa, nếu sơ ý dẫm lên đồ vật hoặc đụng phải người. Sau bãi đái, anh trở về chỗ, mặt mày lơ láo!

Tôi rùng mình lo sợ, không dám uống nước nhiều.

Từ trên miệng hầm, tên bộ đội đeo A.K. cúi đầu nhòm xuống: – Ê, anh nào đứng kia?

mạnh hải flickr

Một anh, chắc cũng mót đái hay ỉa, đang đứng tìm chỗ đặt chân, nghe tiếng gọi, ngẩng đầu lên.

– Phát nước! Tôi thòng sợi dây nhựa xuống, anh giữ “nấy”, chia nước cho mọi người, nghe rỗ không?

– Nghe rõ!

Anh trả lời, nét mặt nhăn nhúm vì bỗng dưng vớ phải cái vạ vịt.

– Mót ỉa thấy mồ, anh nào chia nước dùm đi.

Anh vừa nói xong, sợi dây nhựa, đường kính chừng 2 phân, thả ngay trên đầu, do đó, buộc lòng anh phải cầm. Thấy có nước, mọi người nhốn nháo tìm đồ để đựng. Nào bi-đông, nào lon gô, cà-men, nón nhựa, ca coóng đều được đưa lên cao. Dòng nước chảy ào ạt qua vòi nhựa, vì không hứng kịp, nước chảy tung tóe làm uót một khoảng khá rộng.

– Cho xin một lon đi!

– Ướt cha nó hết rồi, từ từ chứ!

– Đù mẹ, chen gì khỏe thế, muốn lấy nhiều, vô trong!

– Ối cha, anh nào cầm dùm tý. Mót ỉa quá. Nếu không ai cầm tôi buông tay nè!

Vừa nói xong, anh buông ra thật. Dòng nước chảy xối xả. Tên bộ đội từ trên cao nhìn thấy, nó tụt đầu xuống. Chỉ tích tắc sau, dòng nước hết chảy. Nhiều người chưa kịp lấy, ngơ ngác nhìn sợi dây nhựa từ từ rút lên cao rồi mất hút.

– Có dư cho một miếng! ·

– Lúc bảo cầm ống, đéo ai chịu cầm, nay lại xin với xỏ!

– Tôi ở xa qua, sao cầm?

– Không cầm, ráng chịu!

Nhìn cảnh đó, tôi hồi tưởng, hình như đã thấy ở đâu rồi. Có lẽ, trong cuốn phim trình bầy về cảnh buôn nô lệ ở cuối thế kỷ thứ 18, đầu thế kỷ 19. Những người da đen cũng bị nhốt dưới hầm tầu, bị đánh đập tàn nhẫn, thiếu nước, thiếu ăn. Họ bị đối xử như lũ thú vật. Trong đầu tôi, nổi hằn lên nỗi tủi nhục. Tôi muốn gào lên để tỏ lòng căm phẫn, vì không ngờ ở những năm cuối của thế kỷ 20 con phải nhìn cảnh người đầy đọa người như vậy? Cộng Sản, từ ngày thắng trận vẫn rêu rao: “Việt Nam, trái tim của nhân loại!”, “Việt Nam, chiếc nôi của loài người tiến bộ”, nhưng trên thực tế, họ lại hành động như một lũ mọi rợ!

Cảnh phát nước vừa xong, đến cảnh quăng lương khô. Từng thùng lương khô do Trung Cộng chi viện, được buộc vào sợi dây thừng thả xuống.

Tên bộ đội từ miệng hầm nói xuống:

– Ê, mỗi anh 4 cục. Chúng tôi tính đã đủ số. Các Đội Trưởng chịu trách nhiệm.

Các Đội Trưởng lúc này mới nhúc nhích, điểm số anh em, tính toán số lượng.

– Mời anh em lại nhận phần ăn.

– Xin nới rộng một chút, lấy chỗ chia.

– Chỗ đâu mà nới? Muốn rộng đi chỗ khác!

Vì quá chật chội, nên con người dễ sinh bực tức. Sự việc không đáng gì, ở đây, trở thành nặng nề, khó giải quyết. Mới đây, họ là những chiến hữu, chào hỏi nhau qua cấp bậc, nếu không quen biết cũng chẳng bao giờ có ý nghĩ gây gỗ. Nhưng ở hoàn cảnh này, tình chiến hữu hình như phai nhạt, nhường chỗ cho ích kỷ, nhỏ nhen. Nói vậy không có nghĩa mọi người có mặt đều hành xử như nhau, nhưng “đa số trầm lặng” không giúp ích gì trong việc giải quyết mâu thuẩn cấp thời.

Nhưng mọi việc rồi cùng trôi qua bằng hình thức này hay hình thức khác. Ngoài phần lương khô, mỗi người còn được cấp chiếc bát nhựa và đôi đũa. Chiếc bát, sau nay trở thành đơn vị đo lường dùng cho việc chia chác, hay mua bán. Người ta gọi nó là “bát tầu thủy”!

Vẫn chưa đoán biết, con tầu này sẽ đưa chúng tôi đến đâu. Có mấy ông Hải Quân hiện diện dưới hầm, nhưng chẳng ông nào nói gì. Ánh nắng, lúc bên này, lúc bên kia, khi dài, khi ngắn rất khó định hướng. Hơn nữa, nóc hầm lại được kéo nắp che một nửa khoang nên khoảng trống bị thu hẹp. Người nào cũng muốn ngồi yên chỗ, chẳng ai muốn di chuyển vì mỗi bước đều gặp khó khăn.

– Này ông Khánh hải quân, ông có định hướng xem tầu chạy ngả nào?

Một gã trung niên, có bộ râu mép đẹp, người dong dỏng cao, đang đứng chống tay vào cạnh sườn, quay đầu nhìn lại:

– Tôi đang định hướng đây ! Nếu tụi nó đưa mình ra Phú Quốc thì mặt trời phải chiếu thẳng phía mũi tầu hoặc hơi chênh chếch từ trái qua phẳi. Đằng này, tôi để ý, từ hơn tiếng đồng hồ, mặt trời chiếu ngang thân tầu và bóng nắng cứ thu ngắn dần, tôi nghĩ tầu đang tiến về hướng Bắc quá!

– Chả nhẽ tụi nó đưa mình ra Bắc?

– Có thể lắm! nhưng phải chờ đến sáng mai mới định hưóng được.

– Tối nay, ông nhìn sao, rõ không?

– Nhìn thế quái nào được. Có một lỗ hổng, to bằng lòng bàn tay, cách nào thấy sao mà định, lên boong tầu, họa may!

Buổi trưa dưới tầu quá nóng. Anh em đều cởi trần, mồ hôi vẫn chảy dầm dề. Chỗ bị ánh nắng rọi vào, tất cả đều đội mũ, ngồi chịu trận. May quá, từ đêm qua, tôi không thấy mót đái cũng như iả. Tôi mừng thầm, vì nếu bị thôi thúc phải đi, không biết làm cách nào tôi có thể vượt qua được “biển người” đang nằm, ngồi la liệt mà không bị xỉ vả ? Xế chiều, có lần phát nước nữa. Chiếc dây nhựa lại được thòng xuống. Sự hỗn loạn có phần tồi tệ hơn lúc sáng vì nóng nực quá, mọi người đã dùng hết phần dự trữ. Chiếc bi-đông đã vơi quá nửa, tôi đứng lên cố men ra chỗ phát nước. Đưa chiếc bi- đông lên cao gần vòi nước, nhưng không cách nào tôi có thể lấy được một giọt. Mọi người đều giành giật, ai có thân hình cao lúc này rất lợi. Nhìn thấy Khánh hải quân đứng đó, tuy chưa quen biết gì nhau, nhưng tôi cũng làm như thân tình.

– Ông Khánh ơi! lấy dùm tôi chút nước!

Khánh đưa tay cầm chiếc bi-đông ấn ngay vào vòi, trong nhấp nháy nước trào ra. Khánh nhích vòi nước, đưa trả. Tôi cảm ơn, nhưng anh đã quay lưng vì cũng có người nhờ lấy nước!

Cầm chiếc bi-đông trong tay, tự nhiên thấy khát, tôi mở nắp đưa lên miệng. Dòng nước mát lạnh trôi đến đâu biết đến đây, nhưng mồ hôi lại vã ra nhiều hơn lúc chưa uống. Không hiểu sao, tôi chẳng thấy đói. Từ chiều hôm trước đến giờ này, gần 24 tiếng đồng hồ, chỉ ăn gói mì khô. Nếu cuộc di chuyển này kéo dài, làm sao chịu đựng? Tôi mang cục lương khô, ăn thử xem sao.

Bóc tờ giấy bao ngoài từ từ vì nó đã bị bể nát, tôi đưa từng miếng nhỏ vô miệng. Nó là thứ bột nhờn nhờn, ăn rất bứ, nếu không có nước chiêu. Mỗi miếng bột đưa vô miệng, phải chiêu theo ngụm nước. Cố gắng nuốt hết nhưng chẳng tìm thấy chút hứng thú nào!

Người bạn trẻ bên cạnh, đang nghẹo đầu ngủ ngon lành. Xung quanh, tiếng nói cười oang oang như giữa chợ. Chiếc điếu cày được chuyền tay liên tục, mỗi lần muốn hút, tôi phải chờ hơi lâu mới được trả về.

– Bố ơi, trước ở đơn vị nào?

– Chiến tranh chính trị!

– Ối cha! Tụi Cộng Sản nó ghét chiến tranh chính trị lắm đó Bố! Chúng con khi bị giam ở Sóc Băm Bô thuộc Phước Long, tụi nó hỏi, ai ở ngành Chiến tranh Tâm “ný”, “nà” nó thù dữ lắm!

Anh ta cố bắt chước giọng nói ngọng của các tên bộ đội, nói xong cười ngặt nghẹo:

– Bố ơi, bố là người miền Bắc, sao không nói ngọng, tụi Cộng Sản lại nói ngọng?

– Vì tôi, người miền Bắc Quốc Gia, còn miền Bắc Cộng Sản, đều nói ngọng! khác nhau chỗ đó!

– Chúng con còn trẻ, chịu đựng vài năm không sao, chứ Bố e khó lòng quá!

– Cảm ơn bạn, ai sao tôi vậy mà! Đã trót thua trận phải gánh chiu hậu quả chứ? Các bạn trẻ còn phải sống nhiều, cái khó ở chỗ đó. Rồi mai đây, làm cách nào có thể thích ứng với hoàn cảnh mới, chế độ mới mà mình không ưa, nhưng bắt buộc phải góp mặt?

– A, chúng con đếch cần. Ngày mai còn xa lắm. Đến đâu lo đến đấy. Khi trước đi trận, có nghĩ gì đâu, lệnh trên bảo đâu làm đấy, bây giờ thua trận, cũng vậy thôi!

-Trước bạn ở đơn vị nào?

mạnh hải flickr

– Biệt Động Quân! Tụi con ngồi đây, đứa Sư Đoàn 18, đứa Sư Đoàn 21, đứa Truyền Tin, đứa Pháo Binh, đứa Tình Báo, đứa Biệt Kích, tùm lum cả!

– Tuổi lính các bạn hãy còn trẻ, tuổi đời cũng vậy! Nhưng tôi tin, sau những năm dài học tập cải tạo, các bạn sẽ tìm thấy đúng con đường mình phải đi!

Tôi nói với ngụ ý xa xôi. Tôi nhìn đám người bao quanh, nắng gió và khổ cực đã làm họ mất đi phần nào nét sắc sảo của những sĩ quan trẻ trong Quân Đội Cộng Hòa. Qua hơn một năm học tập cải tạo, tôi chưa hề được thấy tên sĩ quan Cộng Sản nào có khuôn mặt khả ái!

Chiều đã xuống. Tôi ngước nhìn lên. Một khoảng không gian im lìm gần như bất động đang hiện rõ trước mắt như miếng bìa. Không khí dưới hầm đã bớt nóng nực. Tôi cho tay cài cúc áo. Mùi mồ hôi quen thuộc xông lên mũi. Đã hai chiều nay không tắm rửa, 24 giờ không đái ỉa, trong người thấy ngứa ngáy khó chịu. Người bạn trẻ đã thức giấc. Anh ta vươn vai, ngáp to mấy tiếng, hình như để giải tỏa những gì đang đè nặng trong đầu.

– Ông còn nước, cho xin một ngụm?

Tôi đưa bi-đông nước cho anh ta, anh ngữa mặt, dốc ngược. Dòng nước chảy trào ra khỏi miệng. Uống xong, anh trao lại, đưa tay quệt ngang mép.

– Đã phát nước chưa ông?

– Phát lâu rồi, trong lúc bạn đang ngủ.

– Chết cha, thế là tối nay không có nước uống.

– Đừng lo, tôi còn, cứ uống. Nếu hết xin quanh quẩn cũng đủ!

Anh đưa tay xin tôi bi thuốc. Tiếng điếu kêu như tiếng còi. Anh ngữa mặt thở bụm khói dầy đặc. Tuy là điếu thuốc đầu, nhưng anh vẫn tỉnh táo, khói thuốc hình như không đủ sức tạo cho anh sự khoái cảm như mọi người thường có!

Cái ô vuông trên đầu lúc này đã sẩm tối. Từ một góc, có tiếng la:

-Sao ẩu vậy? Chỗ anh em nằm ngồi, ông đái ra, bố ai chịu được?

– Đái vô lỗ mà! Các ông xem, có giọt nào rớt trên sàn không?

– Nhưng mùi khai xông lên, chứ đâu có phải rớt hay không!

Tôi thầm nghĩ, ông đái ẩu có 1ý. Thà đái liều ở đây, nghe anh em chửi còn hơn phải nghe cả làng chửi!

Trời tối hẳn. Ngọn đèn đỏ quạch từ trên cao toả xuống không xua đuổi hết bóng tối. Từ miệng hầm, vài ba cái đầu ngó xuống như xem lũ thú vật. Tôi chợt nghĩ đến những con gấu trong Sở Thú và đám trẻ con bu quanh bức tường xi-măng cao, nhìn những con gấu đi vòng vòng dưới đáy chiếc hố tròn. Nhưng những con gấu còn được thoải mái hơn chúng tôi nhiều, trong hoàn cảnh này! Vài người khéo thu xếp với nhau, có thể nằm trở đầu đuôi, hoặc có thể duỗi thẳng chân trong thế ngủ ngồi, còn đa số đều bó gối, chịu trận.

Người bạn trẻ kế bên lại mở gói mì ra ăn. Tiếng nhai dòn tan làm tôi có cảm tưởng như anh đang thưởng thức hết cái thú của việc ăn uống. Tuy chưa đói, nhưng thấy người bên cạnh ăn ngon quá, cũng bắt thèm. Tôi lấy cục lương khô, đưa từng miếng nhỏ vô miệng. Chất bột hòa tan vào nước miếng, không muốn trôi qua cuống họng. Tôi dùng nước để chiêu, như uống thuốc. Khi cục lương khô đã nằm yên trong bụng, nước trong bi-đông cũng vơi một nửa.

– Cho xin ngụm nước, ông!

Người bạn trẻ cầm chiếc bi-đông đã mở sẵn, đưa lên, dốc ngược. Tôi nhìn chiếc yết hầu lên xuống theo nhịp uống. Tuy không nói ra, nhưng trong lòng tôi cảm thấy bất mãn với thái độ không mấy lịch sự của anh ta. Nếu uống cái kiểu này, làm sao tôi có đủ nước để cầm cự tới giờ phát nước sáng mai? Lúc nẫy vì chủ quan, tôi nói xin quanh quẩn, nhưng xét lại, thấy khó, vì ai cũng có một phần nước, dễ gì hào hiệp trong lúc cần phải lo cho mình trước đã! Nhưng đả trót, đành chịu! Khi chiếc bi-đông được trao lại, nó nhẹ tênh, có lẽ chỉ còn lại độ 1/4 hay 1/5 là cùng!

Thời gian cứ đi từng nhịp đều đặn. Nền trời sau ô vuông đã mờ mịt. Tuy vậy, nhưng còn sớm, chưa ai ngủ, dù mỏi mệt. Khi ở Suối Máu, dù phải nằm đất, nhưng còn đủ chỗ để xoay trở, chứ ở đây, như bị ép trong chiếc hộp sắt, bốn bề chèn ép, bực bội, dễ sinh ra cáu kỉnh.

– Mệt qua ông hé! – Người bạn trẻ nhìn tôi, nhếch mép cười.

– Cứ như thế này kéo dài vài hôm, voi cũng chết huống chi người!

– Nghĩ chán đời ghê. Tôi đề nghị, mình chồng mấy cái bị này lên nhau, lấy chỗ duỗi chân, ông nghĩ sao ?

– Cái đó, nhất rồi, nhưng sợ anh em kêu!

– Kêu cái quái gì. Đời sống con người qúy hơn đồ vật. Ai kêu đã có tôi, ông khỏi lo!

Nói xong, anh đứng dậy, xắn tay áo. Tôi nhìn hay cánh tay anh cũng xâm trổ, bắp thịt nổi lên cuồn cuộn. Tôi không ngờ, lúc ngồi trông anh cũng bình thường như mọi người, nhưng khi làm việc con người anh thay đổi hẳn. Đôi mắt sắc sảo đưa đẩy, có vẻ sẵn sàng đối phó với mọi trở ngại. Cũng may không ai nói gì. Chỗ ngồi rộng đôi chút. Tôi duỗi thẳng chân ra phía trước thênh thang. Tối nay, may ra ngủ được, nếu vì lý do nào đó, khó ngủ, tôi sẽ dùng Valium.

Tôi nhớ đến Lan và gói thuốc. Không biết giờ này Lan ở đâu? Chúng tôi còn có hy vọng gặp lại nhau trong một trại tù nào không? Còn Hùng, Phúc, Nhân, Mậu, Huy giờ này ra sao? Con tầu đưa tôi về hướng nào trong mười mấy tiếng đồng hồ vừa qua? Nói đến Cộng Sản là nói đến bí mật và xảo quyệt ! Chúng luôn luôn tìm mọi cách để làm sai lạc dự đoán của đối phương. Chính vì vậy, nên lúc nào chúng tôi vẫn chỉ là những “kẻ mù sờ voi” trước ý đồ của họ. Để tránh ám ảnh không đâu, tôi hỏi:

– Này, người bạn trẻ, tên gì nhỉ?

– Tên Hạnh, Bố!

-Trước bạn ở đơn vị nào?

– Lực lượng đặc biệt!

– A, trước đây, tôi cũng có quen vài người thuộc đơn vị đó như ông Tiêu, Đình, Viên và Lưu. Chẳng biết bây giờ họ ở đâu?

Hạnh ngó tôi chằm chằm, vì không ngờ tôi quen nhiều chức sắc của Binh chủng đặc biệt này.

– Ông Đình và Viên, nhảy xuống giữa núi rừng Lào – Việt, trước ngày 30-4-75, nhưng tôi tin, họ đã vượt sông Cửu Long qua Thái Lan rồi. Còn ông Lưu vì hoạt động tại Vạn Tượng nên đã dọt ngay được. Ông Tiêu cấp lớn quá, chắc còn kẹt, không biết bị học tập cải tạo nơi nào?

– Trước ngày 30-4-75, bạn ở đâu?

– Mới từ biên giới Lào Việt trở về, gặp ngay ngày 30-4, cái đó mới đau chứ! Nếu tôi còn hoạt động ở miền biên giới, sức nào Cộng Sản tóm được?

– Sao không chuồn cha nó đi cho rồi! Lực lượng đặc biệt thiếu gì phương tiện. Cuộc sống trong rừng rậm đối với các bạn quá quen thuộc, còn sợ cái nổi gì!

– Cũng khó lắm! Lúc trước, mỗi lần “nhảy”, đều có các phần vụ chuyên môn lo lắng, từ sợi dây đến khẩu súng, chiếc dao găm. Nói tóm lại chúng tôi khỏi lo gì hết, chỉ lo chu toàn nhiệm vụ, đến ngày giờ đã ấn định trước, ra điểm hẹn chờ “câu” về!

– Bạn đã được huấn luyện tại đâu?

– Thái Lan! “Học khổ thấy mẹ”! Trong suốt thời gian huấn luyện không được ra ngoài chơi bời gì ráo trọi. Học xong là về, cũng mang tiếng đi học tại ngoại quốc! Chán bỏ cha!

– Trong Bản Tự Khai, bạn có viết ra không?

– Sợ gì không viết! Tôi viết hết ông ạ! Tôi nhảy ra Bắc mấy lần, ở bao lâu, liên lạc với ai, địa điểm nào, giết bao nhiêu Cách Mạng v.v… nói tóm lại, khai tuốt luốt! Đằng nào cũng chết, vì tin như vậy, nên chẳng cần giấu diếm!

mạnh hải flickr

Tôi nhìn Hạnh, một khuôn mặt rắn đanh như tạc bằng đá, tưởng như không còn cảm xúc. Tôi nói thì thầm:

– Đời sống của mấy bạn coi như đã được quyết định từ ngày đặt bút ký vào bản hợp đồng giao phó mình cho chiến trường. Sự sống chết đối với các bạn nào có nghĩa gì? Nhưng tại sao ở hoàn cảnh này bạn lại không tìm con đường nào khác để tự giải quyết, như trốn trại chẳng hạn!

– Trước sau gì cũng phải trốn trại thôi! Chịu gì nổi?

– Trốn trước vẫn hơn, “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” mà!

– Lo gì chuyện đó ông? khi mình đã “hạ quyết tâm”, việc khó đến đâu cũng xong!

– Tuổi trẻ, mấy bạn hay chủ quan lắm! Chớ có khinh địch! Chúng ta đã thua trận và gánh chịu những nhục nhằn trong hơn năm nay và còn bao lâu nữa, một phần cũng do khinh địch đấy bạn ạ -Tôi nhếch mép cười.

– Này, xin ông bỏ dùm cái nụ cười đó đi. Nhìn nó tôi không chịu nổi! Ông có thể chửi tôi, nếu cần, có thể đánh tôi, nhưng đừng có cái cười khinh mạn đó!

– Xin lỗi, nếu nụ cười của tôi có làm bạn phật ý. Tôi đâu có ý chê bai gì tuổi trẻ. Sự thua trận này, đâu phải do một tình cờ gây ra, mà do nhiều dữ kiện tích lũy sâu xa từ bao năm trước. Nó như căn nhà, bề ngoài sơn phết đẹp đẽ, nhưng bên trong, kèo cột đã bị mối đục hư, chờ cơn lốc bất ngờ nào đó, sẽ sụp đổ. Cộng Sản là cơn lốc đó!

– Đã nhiều lần, tôi nghe cái ví dụ đó rồi, khổ lắm, Bố già! Tuổi trẻ chúng tôi, lúc trước chưa được hưởng thụ gì những ân huệ của cuộc đời, đã bị quăng vào lò lửa. Chẳng biết lớp tuổi trẻ của Bố già chiến đấu ra sao? Có lý tưởng gì không? chứ lớp tuổi chúng tôi nếu có hăng say chiến đấu chăng nữa, hoàn toàn do ý thức cá nhân. Tôi có mặt trong Lực Lưọng Đặc Biệt, cũng chỉ vì thích mạo hiểm, thích có nhiều tiền, để mỗi lần về thăm Saigon, có thể đưa em đi ăn đi chơi từ vũ trường này qua vũ trường khác thoải mái, để khỏi sợ cao bồi, du đảng ăn hiếp vì luôn luôn trong mình có vũ khí!

– Này, bạn Hạnh, ở Lực Lượng Đặc Biệt làm gì có nhiều tiền, bất quá cũng chỉ được phụ cấp đặc biệt, cộng vào số lương hàng tháng, vì hành quân trong rừng không tiêu đến, cộng chung cũng chả đáng bao nhiêu, tại sao bạn nói, có thể ăn chơi từ vũ trường này qua vũ trường khác mỗi đêm?

– Ông già đời trong quân đội mà chẳng hiểu gì ráo trọi! Có chuyến chúng tôi được thả xuống giữa khu rừng thuốc phiện của Lào, hỏi có ngu lắm mới không dắt trong người vài ký? Bố hiểu chưa?

Tôi không nói gì, nhưng chợt nghĩ lại những điều tên y tá Việt Cộng đã nói với tôi ở Long Giao. Đây, thêm yếu tố nữa, cộng vào những yếu tố đã có sẵn, nó như giọt cuối làm tràn nước ra khỏi miệng ly. Tôi vẫn tin, mọi kết quả đều có nguyên nhân, mà nguyên nhân chính đưa miền Nam đến thua trận, do thiếu người lãnh đạo ! Miền Nam trước đây 5 bè, 7 mối, ai cũng vỗ ngực tự tôn vinh mình là yêu nước, đảng phái nào cũng tưởng chỉ có chủ thuyết của mình là tuyệt đối sáng suốt, có thể đưa dân tộc lên đài vinh quang! Nhưng khi thời thế đã đưa đến tay họ quyền lực, họ lại lo củng cố địa vị, quyền hành cá nhân và gia đình, bè phái, do đó, vì tranh dành đố kỵ, các làn sóng chống đối dù âm thầm, dù công khai nổi lên, gây chia rẽ! Mỗi lần đảo chính, mỗi lần chỉnh lý, tiềm lực quốc gia lại suy yếu, tiến dần đến bờ vực thẳm của đổ vỡ!

– Ông đã ngủ chưa? – Hạnh hỏi

– Chưa!

– Sao ông nhắm mắt, nói lảm nhảm vậy?

– Có lẽ, mấy bữa nay mệt quá, tâm trí bị xáo trộn!

– Cho xin ngụm nước, ông!

Tôi đưa chiếc bi-đông cho Hạnh. Cũng như lần trước hắn ngữa cổ tu ừng ực. Khi chiếc bi-đông được trao lại, không còn một giọt!

– Bố già thông cảm! Khát quá! Khi nào cần, tôi đi xin.

– Thế nhỡ đêm tôi khát, bạn đang ngủ, chả lẽ tôi đánh thức bạn dậy để xin nước cho tôi uống sao?

Hạnh không nói gì, cầm chiếc bi-đông, đứng dậy lần từng bước tới chỗ anh xâm trái tim và mũi tên trên ngực. Anh này, vẫn chụp chiếc mũ trên mặt, đương ngáy đều, mồm há hốc! Hạnh cúi xuống, cho tay ấn vào thân hình, lay lay:

– Ê, ngủ gì, ngủ lắm thế, chưa tối “xưởng cưa” đã hoạt động. Còn nước không?

– Đù mẹ, đứa nào phá giấc ngủ, tao đập chết cha bây giờ?

– Dữ vậy, mày? Tao đây! còn nước không?

Anh kia mở mắt nhìn, bỗng nhổm dậy:

– A, tưởng ai, nước đây anh!

Hắn đưa bi-đông cho Hạnh. Hạnh trút nuớc sang chiếc bi-đông của tôi.

– Cảm ơn nghe, ngủ đi!

Hạnh lại lần từng bước về chỗ. Vài tiếng lầu nhầu cất lên khe khẽ . Tôi nhìn Hạnh, mỉm cười :

– Bạn hay thiệt, nếu tôi, ăn đòn là cái chắc!

– Em út mà! Hắn là vệ sĩ của một ông Tướng đó! Ông Tướng vọt rồi, nó đi tù. Tụi vệ sĩ phần đông hung hản. Các ông Tướng dùng họ, như dùng loại “berger siêu đẳng” mà!

– Bạn nói chứ không phải tôi đâu nghe!

– Có gì mạt sát đâu mà Bố già phải dè chừng, cũng như Tổng Thống Mỹ dùng gorille vậy thôi!

Tôi cảm thấy quá mệt, không muốn khơi chuyện để Hạnh nói thêm. Hồi chiều hắn ngủ đã chán mắt, tối nay muốn thức bao lâu chẳng được. Còn tôi, nếu đêm nay mất ngủ nữa, mai chắc gì không đau?

Nhắm mắt, kéo chiếc áo mưa lên ngực, tôi mong chợp mắt được ít tiếng để lấy sức cầm cự với cuộc hành trình vô phương huóng kéo dài đến bao lâu chẳng biết?

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 15 May 2024

Chương III: Trên đường ra Bắc

Phần 2

Buổi chiều nay, đợt chuyển trại cuối được thực hiện. Vì đoán biết thế nào nó cũng xẩy đến, nên chúng tôi không còn hoang mang. Danh sách mỗi đội đã được phổ biến. Đội Trưởng là ai, chúng tôi biết rồi, không ai thắc mắc gì. Đưọc lãnh cơm sớm, tôi không ăn, cho vào chiếc lon ghi-gô đề phòng đói trong đêm. Đã quen với hình thức chuyển trại, chúng tôi, mỗi người cố thu xếp sao cho gọn, nhẹ. Nhưng không hiểu sao, túi hành trang đã đầy ứ, vẫn còn một số vật dụng cần thiết nằm tênh hênh trên mặt đất. Bỏ cái nọ, giữ cái kia, cái nào cũng có ích cho đời tù, tính sao bây giờ? Lâm được ở lại, nên có mặt bên cạnh giúp đỡ tôi thu xếp.

– Vứt cái nay đi ông!

– Cái gì?

– Cái lon sữa. Đến chỗ mới tìm cái khác.

– Nhỡ không có thì sao? Nó hữu dụng lắm đó. Không có để đựng đậu phộng, chuột nó xơi hết rồi!

– Thế bỏ cái này vậy!

– Cái gì?

– Tập thư và mấy quyển vở chép bài học ở Long Giao.

– Ấy chết, cần thiết lắm. Trong đó có Bản Tự Khai. Mai mốt, khi cần khai báo, điều gì quên, có nó để tham khảo!

Lâm tần ngần nhìn cái túi vải của tôi căng phồng như nửa tạ gao, có ý lo:

– Sức ông vác sao nổi, nếu phải đi bộ xa. Ông quên rồi ư? Từ ngoài cổng trại vào đến đây, mới có trên cây số, ông đã lặc lè, mang muốn hết nổi. Chưa kể lúc trước, làm gì có ca, coóng đựng cơm và những thứ lẩm cẩm khác?

Tôi hoàn toàn đồng ý với Lâm, nhưng không sao có thể tự mình vứt bỏ những gì đang cần. Hình ảnh cuộc chuyển trại của anh em mấy tháng trước, từ khu này qua khu khác, tôi đã thấy, lại cố tình quên đi, để yên tâm trong vấn đề mang kỳ hết những thứ gì có trong tay.

– Ông không thấy sao? Vì biết trước, tôi đã cẩn thận khâu hai quai đeo bằng vải dù rất chắc. Kỳ trước, không có quai nên mới lê lết, chứ lần này, cam đoan là “phom phom”.

Nói xong, tôi cầm chiếc túi vải khoác lên vai. Tôi nhờ Lâm nâng lên, để xỏ tay vô quai. Khi chiếc túi vải dính cứng sau lưng, tôi nhún nhảy mấy cái, điều chỉnh cho chiếc túi ăn khớp vào thân hình, xong nhìn Lâm:

– Ông xem, vừa đấy chứ? Có nặng gì đâu?

– Rồi ông biết, nếu di chuyển đường dài. Nhưng thôi, nếu ông đã muốn, ráng chịu.

Nói xong, Lâm cho tay vỗ vào chiếc túi vải mấy cái, như anh nài vỗ về con ngựa trước khi ra vòng đua.

Tôi nghiêng người thả chiếc túi vải xuống, cầm điếu, nhồi thuốc, rít một hơi. Làn khói tỏa mờ ngăn cách tôi và Lâm trong một dây.

Tuy có ít người, nhưng vấn đề chuyển Trại cũng gây nên nhộn nhip. Những ai không phải di chuyển mặt mũi hân hoan, sốt sắng phụ giúp anh em chuển bị hành trang lên đường. Vào khoảng 5 giờ chiều, hàng chục tên cảnh vệ đeo A.K. làm nút chặn các lối đi như thường lệ.

– Ai không chuyển Trại, tập trung trong một căn nhà, không được di chuyển lộn xộn.

Tên Thiếu úy Tư cho lệnh, mọi người riu riú nghe theo.

– Những anh nào chuyển Trại, mang tư trang ra phòng Hội lớn, tức phòng đặt máy “màn ảnh nhỏ” .

Nó là hai căn nhà ghép liền nên khá rộng. Những chiếc túi vải, xắc-ma-ranh căng phồng, lần lượt khuân vào. Chỉ một lúc, căn phòng rộng như vậy đã chật ních người và hành trang. Tiếng nói chuyện ồn ao như vỡ chợ.

Tên Tư đứng trên chiếc ghế cao hô lớn:

– Yêu cầu các anh im lặng, nghe tôi nói.

Tiếng ồn ào tắt ngấm.

– Tôi gọi đến tên anh nào, anh ấy nói “có mặt” và phải đứng đúng vào Đội của mình. Mỗi đội sẽ do anh Đội Trưởng chịu trách nhiệm khi “nên” và xuống xe, cũng như “núc” đi đường. Các anh nghe rõ chứ?

– Rõ!

– Bây giờ tôi đọc tên, sau đó, điểm nghiệm, mỗi người không được mang quá 20 kilô.

Tiếng gọi tên và tiếng hô âm vang căn nhà, tạo nên không khí đặc biệt. Gọi tên và chia Đội xong, cuộc điểm nghiệm bắt đầu. Mọi người mở túi hành trang, bầy các thứ trước mặt. Tuy không ai nói ra, nhưng chắc người nào trong lòng cũng buồn phiền vì vật dụng đã được sắp xếp gọn gàng, nay lại mở tung, thì giờ đâu xếp lại cho ngăn nắp ? Tôi cũng ở trong tâm trạng đó ! Nhưng dù không muốn, vẫn phải thi hành lệnh. Tôi cúi xuống, mở sợi dây thừng dằng bên ngoài chiếc túi vải, lôi dần từng thứ ra, nào mùng mền, quần áo, ca coóng, lon gô bầy la liệt trên nền đất. Tên Tư và mấy tên cảnh vệ chia nhau khám xét

– Sao mang lắm thứ thế này? Vứt đi, vất!

Vừa nói, tụi cảnh vệ vừa quăng vào góc nhà những gì tụi nó cho rằng không cần thiết, hoặc quá nhiều. Vấn đề khám xét, ai cũng biết qua hai chuyến chuyển Trại trước nhưng vẫn là vì hy vọng vào sự may rủi, như khám sót hoặc giấu được vì quá đông, còn được cái nào hay cái nấy! Anh em không còn tin vào lời lừa gạt của những tên Cộng Sản lưu manh nữa!

Cuộc điểm nghiệm đến tối mịt chưa xong. Trại lại hư điện, nên phải đốt nến và đèn dầu để khám nốt những người còn lại. Được khám xong, trong bóng tối, tôi ấn đại vô bất kể trời đất. Tuy đã bị vứt đi khá nhiều, mà sao cũng chiếc túi vải này, mới chưa được 2/3 vật dụng, đã chật cứng. Không còn nhiều thời gian để suy tính, tôi trải tấm đắp ra, cho tất cả những thứ còn lại vô, buộc túm lại thành gói thứ hai. Bây giờ hành trang của tôi hóa cồng kềnh: một đeo lưng, một xách tay. Xốc túi đeo lên lưng, quả thực nhẹ hơn nhiều, nhưng không gọn bằng trước.

Chúng tôi được lệnh chuyển ra chiếc sân nhỏ, theo từng Đội. Tôi vừa quay người, bỗng có tiếng nói bên tai:

– Ông đưa tôi xách dùm!

À Lâm.

– Tôi nói từ chiều, ông không chịu, nếu nghe tôi có phải lúc này nhàn không?

Tôi không trả lời, lầm lũi bước ra ngoài. Lâm nói tiếp:

– Lúc nào có hoàn cảnh, ông nhớ thu xếp lại, tay xách nách mang, rầy rà lắm!

Lời nói của Lâm, lời nói tiên nghiệm, không cần phải chờ đợi lâu, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau, thực tế đã bắt tôi trả giá bằng bao nhiêu khổ nhọc, có lúc tưởng tiêu luôn sinh mạng!

Khoảng hơn 8 giờ tối, đoàn xe vận tải tiến vô Trại. Chúng tôi không còn bỡ ngỡ. Sau khi đếm người xong, tên cảnh vệ áp tải ký nhận, rồi cho lệnh lên xe. Cững như mọi lần, vật dụng trước, người sau. Chiếc bạt lại buông kín mít. Tên cảnh vệ trèo lên ngồi vào chỗ đã dành cho y. Nó cho tay vén chiếc bạt, thò đầu ra nói chuyện với mấy tên đứng dưới, trước khi xe chạy. Lòng xe chật cứng. Mỗi lần di chuyển hình như đồ đạc lại nhiều hơn, thu hẹp diện tích chỗ ngồi. Lần di chuyển này, anh em tuy cùng Trại, nhưng ít ai quen thân, nên ai nấy ngồi im không trò chuyện.

Chiếc xe chuyển bánh, chạy theo con lộ vòng quanh khu vực. Đám bụi bay mù che khuất một góc Trại. Thôi, dù sao, cũng giã từ kẽm gai, giã từ những ngày buồn nản, giã từ khoảnh đất đã nằm, giã từ kỷ niệm dù vui, dù buồn, giã từ đàn én, giá từ lũ nhặng, giã từ hố phân, giã từ “ân nhân”, giã từ, giã từ hết…!

Đoàn xe ra khỏi con lộ đất, tiến vào xa lộ, tăng dần tốc độ.

– Ai ngồi ngoài, nhìn xem quẹo hướng nào?

– Hướng Saigon!

mạnh hải flickr

Trong lòng xe có tiếng cười nhẹ nhỏm.

– Hướng này, có hy vọng đó anh em!

– Chờ xem!

Lời qua tiếng lại cất lên khe khẽ.

Tên cảnh vệ ngồi như pho tượng. Lần di chuyển này tôi bị ấn vào giữa lòng xe nên chẳng nhìn thấy gì. Tất cả những điều tôi biết đều do anh em nói.

Xe đang chạy ngon trớn bông có tiếng khục khục. Chiếc xe giật giật mấy cái rồi ngưng lại. Máy hết nổ. Tiếng gió vun vút tạo nên do các xe chạy phía sau qua mặt. Từ ca-bin, tên lái xe mở cửa, nhảy xuống. Chiếc nắp ca-pô khua lách cách. Tôi quay mặt cố tìm cách nhìn qua khe bạt. Ánh đèn pin chiếu lập lòe nơi đầu máy. Trong xe có người hút thuốc. Khói thuốc đưa vào mũi bắt thèm, nhưng ở hoàn cảnh này làm sao có thể rít hơi thuốc lào cho đỡ nhớ?

-Yêu cầu anh nào hút thuốc vứt đi nhé! Bí hơi thế này, thở khói mù mịt, chỉ có chết.

– Thèm quá, thông cảm chút.

– Thông cảm cái đếch gì? Mình ông khoái, mấy chục người khổ.

Anh hút thuốc cố rít thêm mấy hơi nữa, mới chịu vứt. Tôi gục đầu xuống gối, mắt nhắm lại, cố gắng không suy nghĩ, nhưng chẳng hiểu sao biết bao nhiêu hình ảnh bỗng nhiên xô lại làm xáo trộn hệ thống thần kinh. Mở choàng mắt, tôi nhìn chòng chọc vào bóng tối. Những khuôn mặt lấp ló thoáng còn, thoáng mất, ẩn ẩn, hiện hiện mơ hồ như trong một giấc mơ nào đó. Để tránh ám ảnh, tôi trườn mình, cho tay kéo chiếc bạt để khe hở mở to một chút. Một chiếc Jeep M2 của Quân Đội Cộng Hòa thắng sát chiếc xe hư. Tên bộ đội có tuổi đeo K54 không mang quân hàm, nhảy xuống. Chúng thì thầm với nhau phía đầu mũi xe, không ai nghe rõ. Tên bộ đội lại vội vàng leo lên chiếc Jeep. Tiếng rú ga rầm rầm vang dội giữa bóng tối mênh mông!

Thấy chiếc xe của Quân Đội mình khi trước, nay tụi nó xử dụng trong lòng tôi tự nhiên nhức nhối, khó chịu, tuy thực tế, chẳng những chiếc Jeep, còn rất nhiều thứ quý giá hơn, thiêng liêng hơn, nhưng vì cuộc thua trận bất ngờ làm mất hết, tiêu tan hết!

Chúng tôi đang ngồi trong lòng chiếc xe chế tạo tại Trung Cộng. Sở dĩ tôi phân biệt được, do chiếc mui xe và màu sơn. Nó đã vưọt Trường Sơn trong cuộc chiến vừa qua để vào miền Nam, rồi ở lại đây.

Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau, chiếc Dodge 44 xịch tới! Một tốp người nhảy xuống. Họ xúm lại sửa chữa, chừng nửa tiếng, xe nổ máy. Tiếng rồ “ga” nghe khó chịu. Tên lái xe nhảy lên ca-bin, sang số lách cách. Chiếc xe lăn bánh, tăng tốc độ. Tôi nghe tiếng máy nổ đều, chạy thẳng hướng Saigon. Quá mệt, tôi ngã người vào đống túi hành trang thiêm thiếp.

– Thủ Đức rồi, anh em ơi! Ồ, đèn ở khu nhà máy biến điện sáng quá!

Tuy không ai ước đoán được, chiếc xe sẽ đưa mình tới đâu, nhưng đi về hướng này, có cơ may hơn các hướng khác. Mọi người tuy không ai nói, nhưng tôi tin tất cả đều mong mình được đưa về Trường Thủ Đức, chưa chắc được tha, nhưng gần nhà hơn!

Chiếc xe qua ngã tư, vẫn chạy thẳng, tuy nhiên, anh em chưa hết hy vọng.

– Có lẽ tụi mình được đưa về Hạnh Thông Tây, kho Quân Nhu cũ. Nơi đó cũng rộng lắm!

Tiếng nói thì thầm cất lên giữa tiếng máy nổ đều đều. Qua khỏi ngã tư Thủ Đức chừng hơn nửa tiếng, chiếc xe hạ dần tốc độ rồi lạng qua phía trái. Tiếng thắng kêu ken két. Anh em đổ dồn người về phía trước. Xe dừng lại. Tên cảnh vệ vén bạt nhảy xuống, hạ tấm chặn hậu, cho lệnh rời khỏi xe.

Người trước, kẻ sau lần lượt lao ra.

– Chết cha, New Port!

– Tân Cảng à?

Không ai nói điều gì. Những túi hành trang được thẩy xuống. Tôi xách hai tay hai gói của mình, ra đứng một chỗ. Phía trước mặt, chiếc tầu thủy loại chở khách và hàng hóa, khá to đậu lừng lững như dãy phố ! Những ngọn đèn sáng rực trong các ca-bin trông vui mắt. Người đi lại rộn rịp trên boong.

– Mấy anh tập họp đi! Đội mấy?

Đội Trưởng nhanh nhẹn trả lời: Đội 15!

– Theo tôi.

Tên này, có lẽ lo về hành chánh, tay nó cầm một tập giấy, dẫn chúng tôi đến một chỗ, nơi đó đã có nhiều Đội khác tập họp. Sau khi chỉ chỗ xong, nó quay ra đón các chuyến khác. Tôi đứng cạnh một Đội trẻ măng không thuộc lớp tuổi chúng tôi. Không hiểu, các Đội thuộc Trại tôi, họ được chuyển đi đâu ? Tôi nhìn xa xa, từng loạt nhà kho giống nhau trải dài trước mắt, sau lớp rào kẽm mắt cáo khá cao. Những ngọn đèn pha chiếu sáng rực, để phòng trộm cắp! Bỗng một tên bộ đội từ đâu tiến đến, dẫn một đội ra bến tầu. Tôi dõi mắt nhìn xung quanh. Có mấy cô gái mặc quân phục, đội cối, chân đi dép râu, đi đi lại lại trước vọng gác gần đó. Chiếc đuôi tóc, bím theo kiểu Trung Hoa, đung đưa theo nhịp bước. Họ đều mập, lùn. Tôi không hiểu sự có mặt của họ ở nơi đây có nhiệm vụ gì, có lẽ để khám xét phái nữ, khi cần.

Tôi nhìn chiếc tầu với những sợi dây thừng to quăng bừa bải trên lan can dài. Phiá gần mũi, có chữ Sông Hương kẻ mầu đen nổi bật trên nền trắng của vỏ tầu. Một chiếc thang dây thả từ mép tầu xuống thềm xi-măng. Tôi thấy những người đeo ba-lô, vác xắc-ma-ranh đang leo lên. Chiếc thang đung đưa như chiếc võng. Họ leo chậm chậm, rất khó khăn. Mỗi bước, hình như phải lấy hết gân sức để giữ thăng bằng cho khỏi té. Chiếc thang một bên có sợi dây thừng làm tay vịn, người leo phải giữ chặt sợi dây này nếu không muốn rớt xuống sông. Tên bộ đội đứng dưới, chỉ tay quát:

– Các anh kia, “neo” nhanh “nên”, để người khác còn “neo”. Anh “neo” chậm vậy, bao giờ tới “nượt” người khác?

Tôi nhìn về phía tay hắn chỉ, thấy một người đeo quá nặng, chiếc túi đeo lưng to đụng phải sợi dây vịn, làm nó càng lắc lư nhiều hơn. Một tay nắm dây, tay kia xách thêm vài thứ cồng kềnh, từ xa tôi không nhìn rõ vật gì? Bề ngang chiếc thang quá hẹp rất khó di chuyển. Người leo sau, mặt áp sát vào gót chân người leo trước. Chiếc thang dây đeo kín người, đung đưa, run rẫy do sức nặng không đồng đều tạo nên. Từng bước, rồi từng bước, người leo đầu cố gắng. Từ dưới nhìn lên, tôi nhận thấy tất cả sự mệt mỏi trong mỗi bước chân. Bỗng chiếc thang chao mạnh. Có tiếng kêu thất thanh. Một thân người với chiếc túi đeo lưng từ trên cao rớt xuống!.. Giữa đám người nhốn nháo, có tiếng quát: “neo nên” chờ gì nữa? Tên cảnh vệ, cầm ngang cây A.K., có nhiệm vụ canh giữ đoàn tù leo thang, hình như không để ý đến người vừa rơi xuống nước. Vài tên khác, từ phía xa, chạy đến chỗ vừa xẩy ra tai nạn, chỉ chỏ một lát xong cũng bỏ đi. Tôi không biết anh vừa té xuống thuộc Đội nào, cấp bậc gì, nhưng chắc chắn đã chết đuối. Chiếc túi đeo lưng đã giết anh.

Vì có người vừa rớt thang dây, những người đi sau leo từng bước dè dặt, mặc kệ sự giục giã của tên cảnh vệ đứng dưới. Vứt bớt đồ, không ai muốn. Mang nặng, leo thang dây, vô cùng nguy hiểm. Tôi rùng mình lo sợ cho từng bước chân của mình. Khi leo đến nấc thang cuối, tôi quay đầu ngó xuống. Một vũng sâu hoắm, đen ngòm mở ra trước mắt, chỉ một sơ hở nhỏ cũng đủ mất mạng. Nhưng may thay, mọi người đều thoát, trừ kẻ xấu số duy nhất. Tôi thở phào nhẹ nhỏm, đi men theo chiếc hành lang hẹp tiến đến miệng hầm. Hai tên nữ bộ đội, đứng hai bên. Người đưa tôi hai gói mì ăn liền, người đưa bốn cục lương khô. A, nhiệm vụ của họ đây. Lúc nãy ở dưới “ke”, tôi đã hiểu lầm, nhưng chưa chắc, vì lính Cộng Sản đa năng, họ có thể làm nhiều việc, nhiều nghề!…

Vì bất ngờ được phát mì và lương khô, không có chỗ chứa, tôi ấn đại vô túi quần, túi áo cho rảnh tay. Từng bước, tôi men dần theo dòng người đến cửa hầm. Chiếc cầu thang sắt nhỏ móc dựng đứng từ miệng hầm tới sàn tầu. Nghiêng đầu ngó xuống, căn hầm chật ních người. Nếu thêm nữa, chẳng biết len chân vào đâu ? Nhưng mặc kệ, mọi người đều phải lần lượt xuống. Tôi xoay người, úp mắt vào thang, thả dần từng bước. Xuống đến nửa thang, tôi tuột tay, đánh rớt tấm đắp, trong có đựng một số vật dụng ! Những tiếng la, kèm theo tiếng chửi tục tằn ào ào quất vào mặt. Trong đời, chưa một lần, tôi phải chịu đựng cơn mưa chửi dữ dội như vậy. Biết mình có lỗi, tôi chỉ im lặng. Khi đến bực thang cuối, đang tìm chỗ đặt chân, tôi nghe có tiếng gọi.

– Lại đây ông, lại đây!

mạnh hải flickr

Tuy chưa nhận ra ai, tôi cũng quay mắt về hướng đó, gục gặc đầu ra chiều đồng ý. Gói đồ rớt, đã được ném trả lại. Tôi sực nhớ đến Lâm và lời nói trước của hắn, nhưng đã muộn ! Rồi đây, trên bước đường cải tạo, tôi còn phải gánh chịu nhiều nỗi ê chề, chỉ vì quá lo xa.

Tuy muốn, nhưng không cách nào tôi đến được nơi phát ra tiếng gọi vì người ngồi xít nhau và những túi đồ đã choán hết chỗ. Ngước mắt nhìn ra xa, nơi tấm vách sắt ngăn đôi hầm tầu, còn một chỗ trống, tôi cố gắng ôm đồ len đến. Khi bàn chân tôi vừa chạm tới “khoảng trống đáng yêu” bỗng có tiếng nói ầm ừ cất lên: – Có người rồi đó ông! Chiếc mũ lưỡi trai úp trên mặt đuợc hé mở. Một khuôn mặt khắc khổ, đôi lông mày rậm cùng bộ râu quai nón mọc che kín gần hết khuôn mặt. Chiếc áo Treillis mở tung khuy, để lộ khoảng ngục nở tròn với mảng lông đen. Phía trên mảng lông đó, có xâm hình trái tim với mũi tên xuyên qua, bên dưới có hàng chữ nhỏ. Tôi vội rụt chân lại, đứng trơ trơ như Từ Hải giữa trận tiền. Đang quanh quẩn tìm chỗ, từ sau có bàn tay kéo tôi ngã nghiêng trên đống đồ.

– Còn muốn đi đâu nữa! Cứ ngồi đại đây, tính sau!

Tôi quay lại.

– A, Trúc, ông cựu Quận Trưởng.

Trúc nhếch mếp cười, nụ cười buồn bã ! Từ cửa hầm, người vẫn tuôn xuống. Tiếng chửi thề luôn luôn cất lên khi có người đi tìm chỗ, bắt buộc phải bước qua mặt một số người đã xuống trước. Nhưng may mắn, chiếc thang đã được rút lên khỏi miệng hầm. Từ dưới, ngước mắt nhìn lên, tôi thấy một khoảng trời mờ mờ trên cao báo hiệu trời sắp sáng. Mấy gói mì và các cục lương khô đã nát ngướu. Bữa cơm chiều qua chưa ăn, vẫn chưa thấy đói. Cổ họng khô ran, tôi tìm chiếc bi-đông nước, nhưng không nhớ đã để nó vào túi đeo lưng hay bọc trong tấm đắp. Tôi nhìn về phía Trúc.

– Có nước, cho xin một ngụm, ông!

Trúc quăng về phía tôi chiếc bi-đông nhẹ xìu. Tôi lắc lắc, tiếng nước khua vang bên trong chứng tỏ không còn nhiều. Tôi mở nắp, dốc ngược vô miệng, vừa một ngụm!

Nhờ ngụm nước, trong người thấy tỉnh táo, tôi dựa lưng vào đống đồ, nhắm mắt lại cho đỡ mỏi vì cả đêm vừa qua, không chợp mắt. Với tình cảnh này, tôi coi như số mệnh đã an bài. Con tầu này sẽ đưa chúng tôi ra Côn Sơn hoặc Phú Quốc để từ đó, sống đời tù nhân đích danh, chứ không còn mập mờ qua từ “học tập, cải tạo“…!

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 15 May 2024

Chương III: Trên đường ra Bắc

Phần 1

Tôi di chuyển khỏi Trại Suối Máu trong đợt 2, đã thực hiện cách đây khoảng nửa tháng. Lần này, thay vì gọi tên những người chuyển trại, tụi Cộng Sản cho gọi tên người ở lại, gồm một số Bác sĩ, Dược sĩ và người già có bịnh. Chúng tôi đã quá quen với hình thức chuyển tù của Cộng Sản nên không hoang mang truớc những biến chuyển bất ngờ do Cộng Sản cố ý tạo ra để đánh lừa nhận thức của kẻ thù ! Vì biết trước, sớm muộn gì cũng phải rời khỏi nơi đây, chưa rõ thời gian, nên chúng tôi đã chuẩn bị để lúc nào có lệnh, cũng không mất thời giờ thu xếp. Thứ gì ít dùng, được cho vô túi trước, chỉ để ngoài, những vật thực sự cần thiết cho đời sống hàng ngày. Cách đây mấy bữa, “ân nhân” đã báo cho biết, sắp có đợt chuyển trại, nhưng không biết ngày và số người phải chuyển.

– Tôi sắp đi nghỉ phép. Nếu các anh chuyển trại trong thời gian đó, tôi chúc các anh được mạnh khỏe. Nếu cần, tôi sẽ báo cho gia đình các anh biết !

Nói xong, anh đứng tần ngần ngoài bờ rào kẽm gai nhìn vào. Bóng tối xóa mờ vóc dáng anh, nhưng vóc dáng ấy sẽ sống mãi trong tôi tới lúc vĩnh biệt cuộc đời!

– Hai đợt trước, chuyển đi đâu, cán bộ?

– Ra Bắc!

– Thật không?

– Nói dối anh “nàm” gì. Mấy thằng bạn tôi, theo ra ngoài ấy, vừa trở về cho biết: khổ “nắm”!

Nghe nói, tự nhiên lòng tôi ngao ngán! Miền Bắc, quê hương tôi đó, nơi tôi đã cất tiếng khóc chào đời, đã lớn lên, đã học hành, đã kháng chiến chống thực dân Pháp, đã trưởng thành trong một cuộc sống vô cùng chao động, vô cùng thắm thiết! Nhưng đã hơn 20 năm, tôi xa miền Bắc, tôi đã có mặt ở bên này vĩ tuyến cầm súng để bảo vệ miền Nam, để bảo vệ Tự Do, Dân Chủ chống lại chế độ Cộng Sản độc tài! Sự thực, vấn đề chống Cộng, đối với tôi, trước ngày 30-4-75, một phần do bổn phận, nhiệm vụ của một quân nhân, một phần do ý thức hệ. Nhưng vì điều kiện xã hội miền Nam xô bồ quá, làm chao đảo tư tưởng nên vấn đề chống Cộng chỉ ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của tôi một cách hời hợt, không sâu xa tích cực, như những năm đầu chia đôi đất nước. Đôi lúc, vì ngu xuẩn, tôi lại thầm cảm phục Cộng Sản, đã chiến thắng Quân Đội Pháp trong trận Điện Biên Phủ, một cường quốc Âu Châu, một trong năm nước đứng đầu Thế Giới, sau Đệ II Thế Chiến. Các danh tướng của Pháp đều thân bại danh liệt tại Việt Nam. Tướng De Lattre de Tassigny đã ôm mối hận ngàn đời vì đứa con trai duy nhất, Trung Úy Bernard de Lattre, đã trút hơi thở cuối cùng tại dãy núi đá vôi thuộc tỉnh Ninh Bình trong khi cuộc chiến tranh Việt Pháp đang đi dần vào giai đoạn kết thúc.

Tất cả thế giói biết đến Việt Nam qua những thành tích chiến đấu oai hùng đều do Cộng Sản thu đạt được trong cuộc chiến chống Pháp, tuy sự chiến thắng này, do công lao xương máu của toàn dân đóng góp. Cộng Sản đã lợi dung và vơ vào phần mình tất cả! Nhưng tôi lại vô cùng phẫn nộ và cương quyết chống Cộng, khi Cộng Sản tàn sát đồng bào tôi tại Khe Đá Mài ở Huế, Tết Mậu Thân năm 1968 và các cuộc tấn công bằng bạo lực, do Rocket và các loại vũ khí khác gây nên trong những năm kế tiếp. Tất cả những cái đó, tuy nhiên cũng chưa đủ để tạo cho tôi căm thù, quyết tâm, không thể cùng Cộng Sản sống chung dưới một vòm trời, nếu tôi chưa trải qua những đụng chạm thực tế, giữa tôi và Cộng Sản trực tiếp đối diện trong Trại Tập Trung Cải Tạo. Nay, nghe thấy mình sắp bị đưa ra Bắc, làm sao tôi có thể tránh được giao động?

Tuy nghe vậy, tôi cũng chưa tin, vì ở miền Nam, thiếu gì chỗ giam? Nếu họ dùng Suối Máu để giam giữ chúng tôi, họ cũng có thể đưa chúng tôi ra đảo Phú Quốc, nơi trước kia, chúng tôi đã giam giữ họ, để cải tạo nốt khoảng thời gian hai năm còn lại, theo chính sách 3 năm, vừa phổ biến trên báo Nhân Dân.

Tôi đem tin đó nói lại với anh em. Có người tin, người không!

– Ồ, hơi đâu nghe mồm Cộng Sản!

– Đã đến nước này, đưa đi đâu cũng vậy thôi!

Những ngày chờ đợi “biến cố” xảy ra, nhưng chưa biết lúc nào, quả thực nặng nề. Trại vắng hoe vì chỉ còn mấy trăm người. Huy, Phát, Mậu, Liêm cũng đã chuyển trại đợt vừa rồi. Khắc còn đó, đã lâu, không nghe hắn nói gì về chuyện trốn trại.

Một tuần lễ trước ngày chúng tôi di chuyển, không khí trong trại vô cùng ngột ngạt. Các nhà dồn người lại, nên có nhiều nhà trống. Lúc này không còn ai nghĩ đến chuyện liên hệ, vì chẳng con gì để liên hệ. Trại 5 cũng đã chuyển đi một phần. Cảnh tấp nập khi trước, nay không còn.

Trời bắt đầu mùa mưa. Cơn mưa mỗi ngày tuy không đều, nhưng mỗi lần mưa, mỗi lần giông gió. Đây, mùa mưa thứ hai, trong đời tù. Tiếng mưa đập vào mái tôn nghe rào rào, dòng nước chảy xối xả từ trên cao đổ xuống như không muốn ngưng. Tôi ngồi nhìn mưa, chưa bao giờ thấy buồn như vậy ! Những hạt mưa dây dây theo gió, tạt vô buồng làm ướt khoảng đất. Tôi mở túi vải lấy thêm áo mặc, để tránh lạnh. Hút thuốc mãi cũng chán. Ngoài hơi thuốc buổi sáng sớm làm đê mê, những điếu tiếp theo không còn nhiều thú vị. Người ta hút vì thói quen nhiều hơn thèm muốn. Ngày tháng sống trong tù lâu dần làm tâm hồn trở thành ù lì! Con người không còn nhạy cảm nữa, mà trơ trơ, hờ hững trước mọi sự việc mà trước kia vừa chạm tới đã rung động. Tôi tự cảm thấy những sợi dây thần kinh hình như tê liệt, ít xúc cảm.

Những hạt mưa nhẹ dần, thưa thớt. Gió cũng ngưng thổi. Cảnh vật sáng dần trước tầm nhìn. Trên chiếc sân nhỏ, mặt cát bóng lên, im sững như chiếc gương lớn. Mấy con chim nhỏ đang nhảy nhót trên những vòng kẽm gai. Chúng chuyền từ nơi này qua nơi khác rất nhẹ nhàng. Chúng bay lượn giữa những mũi nhọn, như bay giữa vùng trời rộng lớn. Chúng nhởn nhơ như chẳng bao giờ biết buồn ! Đôi cánh kia, ôi, tạo hóa đã cho chúng đôi cánh nhiệm mầu để có thể tụ do thực hiện ý muốn. Chúng đâu có biết, tôi ngồi đây, đang nhìn chúng như nhìn thấy hiện tượng của Tự Do tuyệt đối. Chúng đâu có biết, con người với bao nhiêu ràng buộc, đã tự trói đời mình vào nhũng ước lệ, đã tiêu hủy, đàn áp nhau, đưa nhau đến hố thẳm của chia rẽ, hận thù!

Hởi, những con chim nhỏ! ta đương ao ước đôi cánh để vượt thoát cái không gian khốn khổ này, để tự ta có thể tìm thấy đời sống của riêng mình, dù chẳng may, viên đạn nào đó, rủi ro nào đó, bất ngờ kết thúc đời ta trên một tuyến bay không ước hẹn!

Tôi đang suy nghĩ vẩn vơ, Lâm tới:

– Trời mưa buồn quá, ông hé! Tôi với ông đi dạo cho vui!

– Thôi, mệt quá! Có gì đâu mà coi!

-Anh em đi hết rồi, chẳng biết bao giờ đến lượt mình. Trước khi di chuyển, ông Huy còn gửi lại chiếc đồng hồ, nhờ tôi nếu được tha trước, mang hộ về, trao trả cho vợ con ông ấy. Cứ làm như tụi Cộng Sản nó ưu đãi “Tu-bíp” lắm!

– Các ông dù sao, đối với chế độ mới cũng là những chuyên viên. Ở chế độ nào, chẳng cần đến chuyên viên?

– Ông cứ nghĩ thế chứ! Ông quên, lúc học tập ở Long Giao nó lên án tụi “tu-bíp” quá chừng sao?

– Sá kể gì ấy tên cán bộ tép riu đó! Tụi nó chỉ học thuộc bài, chỗ nào và lúc nào cũng có chừng ấy câu, ngoài ra, nó chẳng biết gì ráo trọi!

– Đồng ý, nhưng tụi nó nói theo chính sách của Đảng và Nhà Nước! Cái đó mới nguy hiểm, nó tạo nên sự cuồng tín, cố chấp, một chiều!

Lâm đưa thuốc mời tôi, điếu thuốc cuối trong bao.

– Thôi còn một điếu, ông hút đi! tôi rít thuốc lào được rồi!

Lâm đưa thuốc lên môi, vò bao ném ra cửa.

mạnh hải flickr

Mặt trời lại chiếu từng làn ánh sáng rực rỡ. Những cánh chim én chao chát, đảo lên, lộn xuống nhịp nhàng vẽ lên nền trời những đường cong tuyệt mỹ. Mầu mây xanh biếc, trong suốt như tấm thủy tinh vĩ đại. Những tiếng kêu chin chít của đàn én vọng đến đều đều. Tôi và Lâm cùng nhìn về phía đàn chim. Tôi hỏi:

– Tôi không hiểu sao, lại có người bẫy chim én để ăn, trong khi nó giúp mình diệt trừ đàn nhặng ngoài hố xí nhỉ?

Giọng Lâm, trầm trầm:

– Thôi, nói làm gì đến các ông nội đó. Thèm thịt quá, con gì có tí thịt mà chẳng ăn? Khi dục vọng đã lấn áp lương tri, còn nói gì phải, trái?

– Một hôm, tôi đến thăm Khoa, ông biết chứ? Khoa “tu xuất” đó, ở K12 trước đây. Ông ta làm chiếc bẫy bằng hai que tre có buộc sợi dây thung. Ông gài con nhặng làm mồi. Con chim nào ham mồi nhào xuống đớp, bị sợi thung siết chặt lấy cổ, ông ta chỉ việc ra tóm vào, bóp chết. Chờ được năm, bảy con, ông ta vặt lông, mổ bụng, nướng trên lò lửa, nhậu ngon lành!

– Thit chim én tanh ngòm, xương rắn như đá!

Tôi trừng mắt hỏi Lâm:

– Sao ông biết?

– Bữa trước, tôi đến thăm, ông ấy mời tôi nếm thử. Vừa đút vào miệng nhai, vội nhổ ra ngay. Súc miệng gần chết!

– Như vậy, ông cũng phạm tội rồi đó! Nếu thịt chim én ngon như thịt chim bồ câu, chắc ông cũng làm bẫy rồi!

Lâm cười khục khục, không chối, cũng chẳng nhận.

Tôi đứng lên vươn vai cho đỡ mỏi. Lâm đứng dậy theo, rủ đi một vòng trước giờ cơm. Tôi chụp chiếc mũ vải lên đầu. Chiếc mũ vải của quân đội Úc Đại Lợi, khi còn tham chiến tại Việt Nam. Chếc mũ kỷ niệm trong chuyến công tác tại Bà Rịa, được một sĩ quan Úc tặng. Tôi mang đi theo vì nó gấp lại được, bỏ trong túi vải gọn gàng.

Chúng tôi đi ngang qua chiếc sân nhỏ. Vài vũng nước còn đọng chưa kịp rút hết, phản chiếu ánh mặt trời làm chói mắt. Chiếc giếng lúc này, thưa người tắm giặt, một phần anh em đi nhiều, một phần trời mưa! Việc gầu nước không còn vất vả, thả gầu xuống độ 2 thước đã có nước. Chúng tôi đến gần rào kẽm gai nhìn sang khu giam Đại Tá. Chiếc sân rộng vắng hoe. Dưới ánh nắng, tôi chỉ thấy thấp thoáng một, hai bóng người lạc lõng , bơ vơ giữa vùng đất rộng lớn.

Cấp Đại Tá đã di chuyển cách đây dăm bữa. Những luống rau muống bắt đầu vàng úa vì không có người chăm sóc. Do nhu cầu đời sống, ở đâu và bất cứ chỗ nào có thể trồng trọt được, anh em đều trồng rau dền hoặc rau muống để cải tiến bữa ăn! Phân ở đây không thiếu, nên luống rau nào cũng tươi tốt. Chúng tôi men theo lối đi hẹp. Trên miếng đất nhỏ, giữa hai lớp kẽm gai, một dây mướp bò theo rào kẽm, bắt đầu nở hoa vàng choé. Nhưng không phải vì thế, cảnh vật nơi đây tươi đẹp. Nó vẫn hoang vắng, và bên trong cái hoang vắng đó, còn có cái gì rờn rợn, thiếu sinh khí. Chúng tôi bước vào một căn nhà trống. Cảnh tượng nơi đây còn thê thảm hơn, tuy đã được quét dọn khá sạch sẽ. Chiếc nền đất chỗ đậm chỗ nhạt, nơi cao nơi thấp, tất cả những người tù đã phải nằm mỗi đêm, từ sáu, bảy tháng nay để cải tạo theo chính sách “nhân đạo” của Đảng và Nhà Nước Cộng Sản. Hơi người tỏa ra mỗi đêm đã sấy khô mặt đất ẩm ướt, có nhiều chỗ nứt nẻ. Bản nội quy viết bằng loại chữ in, treo ngay nơi cửa ra vào. Tôi nhìn nó, như nhìn thấy sự sỉ nhục. Mỗi điều trong bản nội quy đều mang tính cách dọa nạt, ức hiếp của kẻ mạnh đối với kẻ yếu. Đã đành, nó là luật thắng bại, nó đánh giá khả năng và tinh thần chiến đấu của một quân đội, nhưng không phải vì thế, kẻ chiến thắng coi đó như một vinh dự tuyệt đối!

Lâm bỗng nắm tay tôi:

– Ông có thấy gì không?

– Không!

Lâm cười, chỉ tay lên sà nhà. Một con chuột to bằng bắp chân đang thu hình ngó xuống chúng tôi như khiêu khích. Tôi cúi xuống nhặt cục đất toan ném, nó đã phóng nhanh rồi chui vào hốc kẹt, sát mái tôn. Lâm lẩm bẩm:

– Vào giờ này tháng trước, chắc nó không chạy thoát!

Chúng tôi đi qua khu nhà bếp. Những cảnh tấp nập, chửi thề, cãi lộn không còn ! Một vài người ngồi chắt nước vo gạo để uống chống bệnh phù thũng. Rất nhiều người bị bệnh này vì thiếu B1. Người có thuốc, uống thuốc, người không có, uống nước vo gạo! Chúng tôi đã đi đến cuối trại, sát vòng rào kẽm gai, trông sang khu 5. Cảnh vật vắng tanh. Tôi nhìn qua rào kẽm, con lộ đỏ ửng nằm chơ vơ không có tên bộ đội nào qua lại. Các bạn thân đã đi hết, nên ít khi phải đứng lại nói chuyện hay chào hỏi.

Lâm nói bâng quơ:

– Ông thấy câu thơ của cụ Nguyễn Du: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?” vào lúc này hay tuyệt không?

– Thơ Nguyễn Du, câu nào chả hay, cứ gì câu đó!

– Đồng ý, nhưng lúc này mình buồn, cảnh cũng buồn chứ đâu phải có mưa gió hay buổi chiều tà ! Trời đang nắng gay gắt sao lòng buồn, cảnh buồn cái đó mới lạ! Ông có thấy vậy không?

– Tôi thấy từ lâu rồi, từ ngày thứ nhất bước chân vô Long Giao cơ! Chứ đâu như ông, cho đến hơn năm sau mới biết!

Về đến nơi Lâm ở, vừa giờ cơm. Nói cho đúng, vấn đề cơm ở đây, ăn để sống hơn ngon miệng. Từng miếng cơm nhai trong mồm như nhai rơm. Người nào trông cũng đen thui, gầy guộc, tuy chưa phải sự suy sụp toàn diện, nhưng nó cũng báo trước một tương lai không mấy tốt đẹp, nếu điều kiện dinh dưỡng như thế này kéo dài vô hạn định!

Hơi nóng từ mái tôn dội xuống hầm hập. Tôi cởi trần cố gắng tạo điều kiện cho giấc ngủ trưa. Những con ruồi đậu trên mắt, trên người, buồn buồn khó chịu. Cầm miếng bìa trong tay, tôi khua mạnh. Đàn ruồi tản đi, nhưng chúng quay trở lại ngay khi tay ngưng đập. Cứ như thế, giấc ngủ không bao giờ đến, nhưng vì mệt, tôi không muốn dậy.

Lối thoát cuối cùng

Constant Virgil Gheorghiu

Dịch giả: Hằng Hà Sa và Bích Ty

Post by Sơn râu 15 May 2024

Phần 6

Cuốn Sách Của Những Cặn Bã Xã Hội

Sau khi Marie chết, Pillat không còn lui tới các sứ quán để lo về vấn đề di cư nữa, cũng không lui tới các cơ quan từ thiện; chàng không còn dự định gì cho tương lai nữa cả. Suốt ngày ngồi trong phòng khách sạn Dupont, cửa luôn luôn đóng kín. Thỉnh thoảng, xuống phố mua bánh, nhưng không cần nhìn ai và nói chuyện với ai cả.

Một hôm Aurel Popesco đến khách sạn, trên xe Cadillac đen lộng lẫy bước xuống, Popesco đã được ông Dupont kính cẩn tiếp đón, Popesco hỏi ông ta về Pillat, Dupont trả lời:

– Ông đến đúng lúc lắm. Sau biến cố đó, Pillat chỉ nghĩ đến nỗi tuyệt vọng của mình, ông đến đây là phải lắm. Cả ngày ông ta chỉ ở trong phòng một mình, không nói với ai, không ăn uống gì cả, ông muốn lên gặp ông ấy không?

Aurel Popesco biết rõ chuyện tự tử của Marie. Ông ta bảo :

– Tôi sẽ đem ông Pillat theo tôi. Pillat đã được mời vào một chức vụ cao bên cạnh bộ chỉ huy lực lượng Đại Tây Dương. Ông ta là người tài giỏi. Tôi được phái đến đây để tìm ông ấy đây.

Aurel Popesco trả tiền phòng cho Pillat, xong bước lên lầu. Các cô gái con ông Dupont nhìn chiếc Cadillac đen có vẻ thèm thuồng. Aurel Popesco vào phòng la lớn:

– Dậy đi anh. Tôi đem tin mừng đến cho anh đây. Anh sắp trở thành một nhân vật tên tuổi rồi đây, tin do bộ chỉ huy lực lượng Đại Tây Dương cho biết đó. And đi với tôi. Chúng ta phải đến Đức đêm nay. Anh có biết anh sẽ là người quan trọng như thế nào không?

– Nói với tôi điều gì cũng được nhưng anh đừng nói tôi là nhân vật quan trọng. Tôi biết giá trị của tôi. Từ ngày bị lưu đày, thiên hạ đánh giá tôi bằng phân mét và kí lô, bằng sức mạnh của bắp thịt, bằng dấu tay…

Aurel Popesco bảo :

– Nhưng bây giờ tình thế đã thay đổi rồi. Đời có lúc nầy lúc nọ chứ. Nào dậy đi, và sửa soạn lên đường.

Popesco giải thích cho Pillat rằng các quốc gia Tây phương đã chuẩn bị một cuộc chiến với Sô Viết:

«Người ta đã gọi tất cả những người tài ba ở bên nầy bức màn sắt cộng tác trong công việc đó. Anh là một trong những người đó. Anh vừa được nhận làm cố vấn cho bộ chỉ huy các lực lượng Đại Tây Dương. Người ta sắp trông cậy vào anh một công tác đầu tiên hết sức quan trọng. Anh có lương rất hậu. Anh không cần phải di cư đi đâu hết, bây giờ anh đã là nhân vật quan trọng rồi!»

Aurel Popesco bắt Pillat ngồi dậy, sửa soạn hành lý để ra đi. Ông Dupont đưa họ đến tận xe, bắt tay vồn vã và chào từ biệt rất là nhã nhặn. Lúc xe rồ máy, Popesco hỏi :

– Anh có vẻ không hài lòng? Đây là một biến cố phi thường chứ?

Pillat nhìn xuống đường. Chàng không nghĩ gì hết, chàng để Popesco đưa đi đâu thì đi, chàng không hành động gì nữa và hoàn toàn thụ động với tất cả những gì xảy ra cho chàng, thụ động như một tên tù nhân. Popesco lại giải thích:

– Đêm nay, chúng ta sẽ gặp các vị chỉ huy. Ba ông tướng đang chờ anh ở Heidelberg, anh biết không? Anh phải giải quyết một vấn đề hệ trọng. Anh có một bạn đồng học tên Boris Bodnariuk, bây giờ gặp hắn, anh có nhận ra không?

Pillat gật đầu, Popesco nói tiếp:

– Boris là nhân vật quan trọng nhất của Lỗ ma ni. Hắn ta đang cùng tên thống chế những người Slaves miền Nam tổ chức Liên minh các quốc gia quanh sông Danube và đang là bộ trưởng Bộ chiến tranh. Gần đây, người ta không biết gì về hắn nữa. Bỗng cách đây vài hôm, người Mỹ bắt được ở Đức một người giống như Boris. Nhận diện thật đúng rồi nhưng người Mỹ muốn có chứng cớ chắc chắn rằng đó là Boris. Nếu đúng hắn là Boris, thì thật có một tầm quan trọng về chính trị kinh khủng. Nhưng giả thuyết quá đáng có thể dùng. Hoặc là Boris bị bắt buộc trốn đi vì đã có sự bất động quan điểm trong các quốc gia Sô Viết. Trong trường hợp đó, Hoa Kỳ có thể lợi dụng sự bất động chính kiến đó. Hay là Boris đi công tác. Nếu thế thì công tác cực kỳ quan trọng, vì một bộ trưởng Bộ chiến tranh lại được đưa qua Tây Phương như là một nhân viên tầm thường. Người Hoa Kỳ đang xôn xao về vụ nầy. Nếu đúng là Boris, thì cục diện chính trị thế giới sẽ thay đổi. Anh là người có thể biết chắc người bị tình nghi là Boris hay không. Tất cả phụ thuộc vào anh. Anh chỉ cần nhìn kỹ hắn, nói chuyện với hắn và nói rằng: «đúng hắn» hay «không phải hắn», và thái độ của Hoa Kỳ đối với Sô Viết tùy vào sự nhận diện đó, sự nhận diện mà không có anh sẽ không ai làm được. Vì thế mà tại sao tôi phải đi kiếm anh ở Ba Lê. Anh sẽ ở lại Đức Quốc. Anh sẽ làm Cố vấn vĩnh viễn về các vấn đề chính trị bên cạnh bộ chỉ huy. Đó là một nhiệm sở phi thường, giống như của tôi đó. Lần chót anh trông thấy Boris hồi nào?

– Vài ngày trước khi tôi rời khỏi Lỗ ma ni.

Popesco cầm lấy vai chàng bảo :

– Anh là người cần cho chúng tôi, người của thời cuộc.

Popesco nói huyên thuyên. Pillat thỉnh thoảng mới nghe vài câu, nhưng chàng không hề chú ý.

– Nếu người Mỹ có dấu tay Boris, họ sẽ nhận ra ngay lập tức, nhưng nghiệt là họ không có và người bị bắt lại không chịu khai. Nếu chúng ta nhận diện được, hắn sẽ được đem về Hoa Kỳ và ở đó sẽ phải khai. Bởi có loại Sérum bắt con người phải nói thật. Anh tưởng tượng xem những điều kinh khủng mà Boris sẽ khai như thế nào? Sự hiện diện của hắn ở vùng đất Đồng minh là một điều hết sức quan trọng mà bây giờ người ta hy vọng hết cả vào anh. Chỉ có anh mới có thể nói chắc rằng đúng nó hay không.

Đền Đức, Pillat nghĩ đến Marie. Đức quốc là quốc gia mà hai vợ chồng chàng đã lê chân cùng khấp, xách trên vai, đói khát, tuyệt vọng.

Thành phố, làng mạc bị phá hủy. Pillat nhìn phong cảnh như trong giấc mơ. Khi chàng trông thấy lại sông Neckar và cây cầu Heidelberg, Pillat bảo Popesco:

– Dừng lại một chút đi.

– Anh sao vậy, mệt hả?

Họ dừng xe trên cầu, đứng xem. Pillat bước xuống xe, đến gần bao lơn cầu, nhìn xuống dòng nước, nhìn con đường dọc theo sông Neckar và chiếc ghế ngồi ở cuối đường. Chàng bảo:

– Chính ở đây trước kia tôi đến xin việc làm. Bây giờ cầu xong rồi. Nếu hồi đó, họ cho tôi làm việc thì bây giờ mọi sự có lẽ đã đổi khác. Doina, con gái tôi, có lẽ đã không chết. Có lẽ mọi sự sẽ đổi khác nếu họ để tôi làm việc trong công trường nầy, nhưng tôi không được phép cư ngụ và họ không muốn nhận tôi làm việc.

Pillat nhìn chiếc ghế chàng đã để vợ ngồi chờ và cảnh sát đã đến bắt nàng đi. Chàng thầm nghĩ chính ở đây lần đầu tiên Marie bị nhục nhã. Popesco dục :

– Ba ông tướng đang đợi chúng ta. Anh nhanh lên chứ. Pillat leo lên xe còn nhắc lại:

– Hồi mới đến Đức, tôi đã xin làm việc ở cây cầu nầy.

– Cầu vừa mới làm xong đấy, đẹp chứ!

Popesco nhìn đồng hồ : «Chúng mình phải nhanh lên mới được».

Pillat buồn bã: Cầu đẹp, thật đẹp.

Cả hai đến một biệt thự mới tinh, căn cứ của bộ tư lệnh Lực Lượng Đại Tây Dương phân bộ tình báo. Các sĩ quan Hoa Kỳ đang chờ họ. Pillat là người họ đang cần và được triệu đến từ cách xa hàng ngàn cây số.

Họ nhìn Pillat với vẻ khâm phục.

II

Aurel Popesco hãnh diện nói:

– Đây là biệt thự của riêng tôi. Vì tầm quan trọng của nhiệm sở tôi, văn phòng tôi phải đặt ngay trong nhà, như thế kín hơn.

Vài sĩ quan đang đợi trong phòng khách, họ mời Pillat uống whisky. Ghế bàn đều sang trọng, đắt giá. Mọi người chăm chú nhìn Pillat. Người ta đã truyền lệnh đem Boris đến và đang ngồi chờ. Popesco đã thay áo khác và đến ngồi cạnh Pillat, nói :

– Anh rồi cũng có một lối sống như tôi, một cố vấn chính trị bên cạnh bộ tư lệnh Hoa Kỳ đáng được có chỗ ở xứng đáng nghĩa là một biệt thự sang trọng với tất cả các tiện nghi của nó: xe hơi, lương trả bằng dollars mà không phải đóng thuế đoan. Vì là một nhiệm sở hết sức quan trọng. Tôi rất hài lòng thấy anh được cử giữ chức vụ đó. Nếu anh muốn, có thể sang ở bên Hoa Kỳ bất kỳ lúc nào. Không có trở ngại gì khi một viên chức bộ tư lệnh sang bên đó cả. Anh sẽ trở thành công dân Hoa Kỳ ngày nào mà anh muốn.

Aurel Popesco được gọi sang phòng bên cạnh. Và ông ta trở lui có vẻ sợ hãi, nói vài câu với các sĩ quan đang chờ. Tất cả có vẻ thất vọng, cầm mũ ra đi để Pillat ở lại một mình. Popesco cho chàng biết :

– Boris vừa mới trốn thoát cách đây nửa giờ. Popesco run lẩy bẩy nét mặt thay đổi, hắn như một kẻ nào xa lạ không phải là Popesco ngày thường.

– Nhưng dù sao anh cứ ở lại nhà tôi. Trong lúc chờ đợi họ cấp nhà cửa, anh là thượng khách của tôi. Tôi không tin là tên đó lại có thể tẩu thoát. Không có tù binh nào thoát khỏi tay người Mỹ, thế mà tên này làm được như vậy, chứng tỏ chính hẳn là Boris, chỉ có Boris mới có khả năng làm điều táo bạo đó mà thôi. Chắc chắn là hắn đang âm mưu gì đây, nhưng không chóng thi chầy hắn sẽ bị bắt lại. Trong mới nửa giờ, hắn chưa thể đi xa đâu được, người Mỹ có thể bắt hắn lại, và mang lại đây cho anh nhận diện.

Aurel Popesco mặc chiếc áo choàng màu xám xong, bảo Pillat:

– Anh nằm nghỉ đi. Tôi phải đến Trung ương. Nếu chúng tôi bắt lại hắn được, chúng tôi sẽ phiền anh sau! Cần phải nhận diện hắn ngay tức khắc.

Đêm đó, Pillat không hề bị làm phiền, vì người Mỹ không bắt lại Boris được nữa. Mấy ngày sau, Pillat vẫn ở trong biệt thự Popesco và chờ. Boris đã trốn hẳn.

Suốt một tuần, Aurel Popesco it khi về nhà. Gặp lại Pillat, ông ta chán nản:

– Boris thế là trốn hẳn rồi.

Từ ngày Boris trốn đi, Popesco ngủ một đêm có vài giờ :

– Người ta báo cáo là hắn vừa vượt sang vùng Sô Viết ở Đức. Chúng ta không còn hy vọng gì bắt lại hắn được nữa, bây giờ chúng ta chỉ còn nhận diện hắn bằng các bức ảnh thôi. Người Mỹ muốn là anh viết một bản tường trình đầy đủ chi tiết với các dấu hiệu đặc biệt về Boris.

Pillat viết bản tường trình về bề ngoài cũng như tính tình của người bạn học cũ. Popesco hỏi thêm:

– Anh không biết Boris nặng bao nhiêu ký sao? Người Mỹ cần điều nầy lắm vì họ cho rằng không thể nhận diện được nếu không có trọng lượng người đó, dù chỉ là đại khái.

– Nhưng tôi không bao giờ hỏi người quen là họ nặng bao nhiêu ký cả?

– Tôi thì trái lại, từ ngày làm việc với người Mỹ, hễ cứ gặp ai là tôi ước lượng sức nặng của họ ngay. Quan trọng lắm, hơn cả màu mắt nữa. Anh có biết Boris cao bao nhiêu không? Anh ráng nhớ lại xem từ lúc còn đi học hắn nặng và cao bao nhiêu? Ta có thể suy ra chiều cao và sức nặng bây giờ của hắn. Ví dụ như theo ảnh của hắn, chúng ta có thể biết độ nhọn của cổ áo và cổ giầy của hắn ra sao, điều này rất quan trọng lúc nhận diện một người nào.

Sự mô tả của Pillat về Boris làm cho người Mỹ thất vọng vì thiếu các sự kiện cụ thể, những thiếu sót không thể chấp nhận được trong sự nhận xét của một người đã từng quen biết Boris. Pillat không cung cấp điều gì xác thực về Boris cả, kể cả sức nặng, chiều cao, vòng đầu, vòng cổ, gót giày, vòng thân. Sự mô tả có vẻ văn chương suông, không khoa học tí nào cả. Người Mỹ bắt đầu nghi ngờ rằng Pillat chẳng hề biết Boris, và trách Aurel Popesco điều đó. Thái độ Aurel Popesco đối với Boris thay đổi hẳn, ông ta trở nên lạnh nhạt với Pillat.

Một ngày kia, lúc Pillat từ ngôi mộ Doina Australie ở Heidelberg trở về, chàng vẫn thường đến đó mang theo hoa cắm lên mộ đứa con gái mỗi ngày. Aurel Popesco bảo chàng:

– Tôi phải đi ngay. Bộ chỉ huy bắt tôi đi săn tin ở Israel, tôi phải gặp những người Do thái Lỗ ma ni, rất có thể tôi sẽ thành lập ở đó một trung tâm chống Sô Viết. Hơn nữa tôi phải viết một biên bản đầy đủ chi tiết về tân quốc gia đó. Người Mỹ chọn tôi làm việc đó vì họ muốn có một biên bản khách quan. Tôi không thân người Do Thái, cho nên tôi quan sát và tường trình mọi việc theo sự thật của nó, và người Mỹ chỉ muốn có thế. Họ đã tốn bao nhiêu tiền của cho công cuộc tạo dựng quốc gia Do Thái, thì họ có quyền biết những gì đang xảy ra ở đó chứ. Cho nên đây là công tác hết sức quan trọng. Tôi sẽ gặp bà Salomon và trung úy Varlaam. Cả hai người muốn rời Palestine, vì ở đó họ không thích. Nếu có thể, tôi sẽ giúp đỡ họ, nhất là Varlaam. Lúc tôi đi vắng, anh cứ ở đây, tôi đã lo giấy tờ cho anh, người ta sẽ bổ nhiệm anh, giấy tờ đang ở Hoa Thịnh Đốn. Zaig Burian sẽ thế tôi ở đây.

Pillat biết rõ Zaig Burian, hắn là một đại thuong gia ở Lỗ trốn sang Đức. Popesco giải thích thêm:

– Burian sẽ làm trung gian giữa anh và Bộ chỉ huy, anh cần liên lạc với ông ta nếu anh cần gì. Khi nào lệnh bổ nhiệm của anh đến đây, ông ấy sẽ thông báo cho anh biết. Trong lúc chờ đợi, anh cứ làm việc với ông ta. Tôi đi chừng hai hay ba tháng, sẽ viết thư cho anh. Anh cứ tĩnh dưỡng và vui vẻ lên. Anh cần giải trí nữa, sau bao nhiêu đau khổ, anh cần được nghỉ dưỡng sức thật sự, tôi hy vọng là anh sẽ bình phục.

III

Sau khi Popesco đi rồi, Pillat lại trở về tình trạng khủng hoảng tinh thần như hồi còn ở Paris, chỉ khác một điều là bây giờ chàng ở yên trong biệt thự sang trọng trên bờ sông Neckar thay vì ở trong căn phòng khách sạn chật hẹp của ông Dupont. Người duy nhất chàng gặp mỗi ngày là Zaig Burian, hắn ta mang báo chí Lỗ ma ni yêu cầu chàng dịch các tin quan trọng cho hắn. Một vài lần khác, hắn hỏi chàng lai lịch một vài chính khách mà người Mỹ lưu ý đến. Burian là một ông già dễ mến và lịch sự. Mỗi lần đến thăm, ông ta đều gọi điện thoại trước báo tin cho Pillat. Nên hôm nay nghe tiếng điện thoại, chàng biết ngay là Burian gọi:

– Chúng tôi vừa bắt được một người hết sức nguy hiểm, gốc Lỗ ma ni. Hắn ta có một quá trình rất đáng ngại. Tôi sẽ dẫn đến cho anh xem để anh nói chuyện với hắn thử xem, rồi cho chúng tôi biết cảm tưởng, nửa giờ nữa tôi sẽ đến nhà anh.

Pillat ngồi chờ ở phòng khách sang trọng nơi mà trước đây chàng đã từng gặp các tướng lãnh Hoa Kỳ. Nửa giờ sau, Burian đến bảo chàng:

– Người Nga gởi vào phần đất bên kia Đại Tây Dương đủ loại gián điệp. Gần đây họ dùng cả thợ thuyền và nông dân giả ngơ giả điếc làm như là không hiểu được gì, không biết nói một thứ tiếng nào, nghĩa là giả như những kẻ đần độn. Nhưng thật ra đó là những thành phần nguy hiểm. Người Mỹ lưu ý chúng ta và chúng ta phải kiểm soát mỗi cá nhân thuộc vào hạng gián điệp nầy. Người mà tôi sắp đem đến đây cho anh đúng là thuộc hạng nầy, hắn bảo là chỉ biết có tiếng Lỗ và không hề biết việc chính trị vì hắn chỉ là một nông dân tầm thường. Toàn là mánh lới cổ điển, anh sẽ thấy cho mà xem.

Burian mở cửa mời tù nhân vào, lính gác ở ngoài cửa. Tù nhân là một kẻ ăn mặc theo kiểu Gia Nã Đại, nhưng áo quần rách rưới, giày theo lối Đức, áo của Mỹ, một chiếc khăn vắt ngang vai, hình dáng nhỏ thó, ốm yếu và già nua. Đúng là một người đang hồi sa sút, chỉ cặp mắt là còn mang vẻ tinh anh. Đó là ông Ion Kostaky, nên khi ông ta đang còn sợ sệt bước vào phòng, Pillat đã nhảy xổ đến định ôm ông, vừa la lên:

– Cha!

Chàng muốn nói thêm ít câu nữa nhưng chàng không biết nói gì ngoài tiếng gọi: «Cha! Cha!». Pillat muốn xiết chặc Kostaky trong tay vì nỗi vui mừng lớn lao nầy, muốn kể cho người bố vợ nghe ngay tức khắc cuộc trốn khỏi làng Piatra, đám cháy ngôi nhà của họ, việc đuổi bắt nông dân do Severin cầm đầu, tất cả nỗi nhục nhã của họ. Chàng muốn kể những lần viễn du ở phương Tây. Nhưng đôi mắt của Kostaky không cho phép chàng lại gần, đôi mắt đó nóng bỏng, tinh anh, nhưng không mời mọc chàng đến gần, đôi mắt đó giữ lấy một khoảng cách, như hai dấu hiệu báo động, giống như đôi mắt của loài chim rừng, của loài nai tơ nhìn mình để sẵn sàng trốn chạy, đôi mắt đó giống như đôi mắt của một con chó đã bị đánh đập lâu ngày nên thấy người là sẵn sàng đào tẩu. Cho nên Pillat chỉ nắm lấy tay Kostaky mà không ôm lấy ông ta được…

Kostaky vẫn đứng sững gần cửa, ông ta nhìn Pillat như trong một giấc mơ mờ ảo. Nhưng quanh ông đúng là bàn ghế, thảm trải nhà. Ông ta gọi nhỏ:

– Pierre.

– Cha.

Hai bàn tay họ trao cho nhau, Kostaky hỏi thêm:

– Marie? Marie đâu rồi?

Đôi mắt đó nhìn quanh có vẻ tìm kiếm nhưng không dấu nỗi vẻ sợ sệt của một con thú bị săn đuổi. Rồi bàn tay ông ta rời khỏi bàn tay Pillat, đôi mắt không còn tìm kiếm Marie nữa. Ông ta đã hiểu, chỉ còn có Pillat thôi. Và mắt họ tuyệt vọng nhìn nhau. Bàn tay đầy cả chai sạn lại nắm chặt bàn tay Pillat. Có một cái gì tuyệt vọng não nề trong lúc gần nhau mà họ không thể thấy lại Marie. Và càng biết là tìm kiếm Marie vô ích, Kostaky càng tiến lại gần Pillat. Burian rút lui : «Thôi tôi đi đây. Mừng cho cuộc gặp gỡ của hai người. Tôi để cho hai người được tự do, tôi sẽ gọi điện thoại sau».

Burian bỏ đi, để lại sau lưng một khoảng trống. Kostaky hỏi:

– Chuyện xảy ra đã lâu chưa?

Ông ta chậm rãi đưa tay lên dụi mắt. Nước mắt đã khô cằn lâu rồi chỉ còn có một nỗi niềm đau khổ còn bao la hơn cả những giòng nước mắt. Ông ta hỏi Pillat mà hầu như không cần câu trả lời. Ông ta nói thêm :

– Có lẽ Iléana còn sống. Ít nhất bà ta… Rồi ông ta làm dấu thánh giá và nói tiếp: Chúa đã muốn thế, đó là ý muốn của Chúa biết làm sao được.

Kostaky không nhắc đến Marie, dù Marie đang hiện diện trong tâm tư của cả hai người nhưng ai cũng chỉ giữ yên lặng. Kostaky kể chuyện của mình trước :

– Cha từ Gia Nã Đại sang đây. Cha làm việc ở đó gần hai năm.

Nét mặt Kostaky đã trở nên lạnh lùng. Đôi giày đã rách nát, đôi giày mà ông ta có từ lúc ở Đức, mang nó sang tận Gia Nã Đại rồi mang trở về lại đây. Chiếc quần vải kaki cũng đã rách tươm. Trông ông ta thật thiểu não, quần lính theo kiểu Anh, áo ngoài theo kiểu Gia Nã Đại và sơ mi theo lối Mỹ – Chỉ còn đôi mắt vẫn như cũ, đượm chút hãi hùng và lo âu.

– Không thể nào ở lại Gia Nã Đại. Nên cha đã trở về đây. Không phải vì cha sợ phải chết ở đó, chết trong tuyết hay trong bãi sa mạc xa lạ đó, thật ra không có một nguyên nhân nào cả, nhưng cha phải trở về.

– Cha ngồi xuống đây đã.

Kostaky ngồi xuống ghế. Đúng là một người đàn ông hết thời mà người ta đã tước mất sự sống như chanh đã vắt hết nước. Chỉ còn lại một nấm xương, xanh xao, với triệu chứng lao phổi hay đau dạ dày. Mấy cái răng phía trước rụng hết. Pillat rót rượu mời, nhưng Kostaky từ chối:

– Cho cha một ly nước lạnh thì hơn.

Sau đó, cả hai yên lặng nhìn nhau rồi yên lặng nhìn qua cửa sổ.

Phía trước là cây cầu trên sông Neckar và chiếc ghế dài mà có lúc Marie đã ngồi trên đó. Pillat cắn răng để khỏi phải kể những gì đã xảy ra cho hai người. Chàng không muốn cho Kostaky biết những khổ sở mà chàng và Marie đã chịu đựng bao năm. Kostaky bảo :

– Thôi để khi khác hãy nói chuyện; nên nói chuyện vào lúc khác hơn là bây giờ.

IV

Ion Kostaky không còn bị tình nghi nữa nên được phép ở chung với Pillat trong biệt thự của Aurel Popesco. Một hôm Pillat bảo:

– Con sẽ nhận chức ở bộ chỉ huy lực lượng Đại Tây Dương, chúng ta sẽ có một căn nhà để tạm trú và để cha bồi dưỡng sức khỏe, rồi chúng ta sẽ tính sau. Điều chính yếu là chúng ta sẽ có được một chỗ ở tiện nghi và có thể tạm nghỉ chân.

Kostaky nghe mà không nói gì, Pillat biết là ông ta đang nghĩ đến Marie.

Lúc Burian bước vào phòng thì hai người đang đối diện với nhau ở phòng khách, Kostaky liền bỏ vào phòng. Burian tỏ về bất bình:

– Hoa Thịnh Đốn đã trả giấy tờ của anh cho chúng tôi, và là lần thứ hai rồi đó. Anh không được bổ nhiệm trong bộ chỉ huy nầy dù Aurel Popesco đã cố nài nỉ cho anh.

– Người ta đã từ chối tôi hay sao?

– Tại vì anh không có một quá trình chính trị rõ ràng.

Người Mỹ đã dò hỏi tin tức về anh nhiều lần. Và tôi đã gởi cho rồi. Bây giờ thì họ đã trả lời rõ ràng, họ từ chối không bổ nhiệm anh vì quá khứ chính trị của anh đáng nghi ngờ.

– Nhưng tôi chưa hề làm chính trị.

– Cho đến ngày người Nga chiếm đóng Lỗ ma ni, nghĩa là cho đến ngày chiến thắng, như người Anh vẫn thường nói thế, anh vẫn là thẩm phán?

– Đúng vây. Và khi người Nga đến, họ đã loại tôi ra khỏi thẩm phán đoàn.

– Và anh bỏ về làng vợ anh ở Piatra?

– Đúng như thế. Ở Piatra, tôi làm ruộng với bố vợ tôi để sinh sống, vì tôi không còn phương tiện nào khác hơn để sinh sống.

– Ở Piatra, anh cố để được gia nhập đảng cộng sản?

– Đúng vậy, tôi cố để được nhận vào đảng để tìm kế sinh nhai, nhưng tôi đã không được toại ý.

– Trong các ý định của anh, như anh đã khai trong biên bản người ta chú ý đến lời yêu cầu của anh xin gia nhập đảng cộng sản Lỗ ma ni.

– Đúng vây, tôi có yêu cầu như thế.

– Và chính vì lý do đó mà người Mỹ từ chối không bổ nhiệm anh vào chức vụ ở bộ chỉ huy. Luật lệ Hoa Kỳ trong phạm vi này thật rõ ràng. Bất cứ ai đã vào đảng cộng sản dù chỉ là một giờ cũng không được bổ nhiệm vào một chức vụ trong chính phủ, mà nếu là người ngoại quốc thì họ cấm không cho nhập nội xứ Hoa Kỳ.

Pillat ngẫm nghĩ một lát. Nếu đó là luật lệ của Hoa Kỳ thi dĩ nhiên họ phải từ chối bổ nhiệm chàng. Chàng không còn gì để đòi hỏi hay thắc mắc. Chàng đành phải một mình lo liệu lấy, chàng chỉ tiếc là đã nhận lời rời bỏ nước Pháp, Burian nói thêm:

– Điều hệ trọng hơn là trường hợp của ông bố vợ anh. Kostaky vừa bị liệt vào hạng tình nghi, y theo luật định.

– Cha tôi lại bị tình nghi? Vô lý và khôi hài quá!

– Kostaky đã rời bỏ Gia Nã Đại, mà Gia Nã Đại là một nước dân chủ. Tại sao ông bố vợ anh lại không thể sinh sống, hòa mình trong một thể chế dân chủ. Đó là câu hỏi mà người Mỹ đã chú trọng. Tôi đã đọc biên bản của Kostaky… Công việc ở Gia Nã Đại thật là vô nhân đạo : người ta kiến thiết những đường rầy xe lửa ở các vùng băng giá, lương cao nhưng đời sống quá đắt đỏ, rút cục rồi chẳng có gì cả. Nếu công nhân muốn có ăn hàng ngày thì thế nào cũng mắc nợ… Cứ công nhận là công nhân bị bóc lột đi. Nhưng người Mỹ lại không hiểu cho rằng một người làm công từ bỏ một thể chế dân chủ chỉ vì người đó vấp phải một chủ nhân bóc lột; họ đặt ra nhiều giả thuyết nữa cơ. Với họ, ai rời bỏ một quốc gia dân chủ là một người đáng nghi ngờ, đó là một cá nhân không chịu đựng nổi thể chế dân chủ.

– Chúng tôi sẽ cố di cư lần nữa, rất có thể là sang Venezuela.

– Anh di cư càng sớm càng tốt cho xong. Mâu thuẫn đã trầm trọng ở Viễn Đông, bây giờ đang có chiến tranh Triều Tiên. Rồi sẽ đến chiến tranh ở Trung Hoa. Một tuần sau cuộc chiến tranh ở Trung Hoa, mâu thuẫn sẽ xảy ra trong các quốc gia Âu Châu. Pillat bảo:

– Từ khi có Hòa bình đến giờ, nghĩa là từ năm 1945, chiến tranh thật chưa hề ngưng, anh nhỉ?

Burian giải thích thêm:

– Nếu chiến tranh xảy ra ở Âu châu, anh sẽ bị cầm tù ngay tức khắc. Anh thì vì là đảng viên đảng cộng sản Lỗ ma ni, còn ông bố vợ anh thì đã từ bỏ một quốc gia dân chủ không có lý do. Đó tôi nói thật với anh như thế và tôi cũng đã viết thư cho Aurel Popesco bảo rằng anh đang bị nguy hiểm. Danh sách của những người phải bắt giam lúc có biến cố đã có và tôi không thể nào chừa anh ra được. Cả anh lẫn ông bố vợ đều có tên trong danh sách những người sẽ phải bắt giữ.

Sau một chốc yên lặng, Burian lại khuyên Pillat:

– Với tư cách là bạn thân, tôi sẽ giúp anh di cư. Tôi quen biết nhiều, bây giờ người trí thức cũng có thể di cư. Anh thì không bao giờ sang Hoa Kỳ được, nhưng còn các xứ khác trên trái đất nữa chứ, tôi còn có thể giúp anh được. Nhưng với Kostaky, thì đành chịu không ai giúp đỡ cho ông ta được. Các cánh cửa di cư đều đóng kín nên ông ta phải ở đây để chờ các biến cố xảy ra. Ông ta đã bị liệt vào hạng phế thải.

– Hạng nào?

– Hạng phế thải, nghĩa là hạng của cặn bã vô dụng. Anh không thấy là ông ta không còn lấy một cái răng nào cả hay sao?

– Và chính vì đó mà cha tôi là một thành phần cặn bã sao? Ông ta đã đau khổ nhiều rồi mà.

– Nhưng không phải tôi nói như thế. Đó là cách chỉ định chính thức của người Mỹ. Chúng ta hiện có chừng một triệu người mang bệnh bất trị, những người tàn tật và già nua. Đó là những kẻ xơ xác hèn mạt. Họ không thể ghi tên vào bất cứ danh sách di cư nào, ở bất cứ một quốc gia nào. Họ là những thành phần lắng xuống đáy một cốc rượu, là những phần cặn bã, phế thải, «hardcore». Và đó là chữ người ta đã dùng chính thức. Anh đã xem căn cước của Kostaky?

Đúng là tấm căn cước của những người bị phế thải, và được viết lên rõ ràng như thế. Tôi biết là để lên trán hai chữ phế thải thì cũng đáng buồn lắm, nhưng người Mỹ không phải là những linh mục, người ta không thể đòi hỏi họ cư xử như những vị linh mục. Những cá nhân đó là những phần cặn bã của xã hội loài người, người ta không thể rút tỉa những gì ích lợi ở nơi họ cả. Anh thấy Kostaky rồi chứ, cha vợ anh đó, tôi biết, nhưng anh phải thành thật công nhận rằng ông ta không thể xài được nữa!

Pillat nghẹn ngào :

– Cám ơn anh. Tôi chỉ tiếc là phải đi mất bao nhiêu đoạn đường để đến nơi đó, để nhận được cái khuôn dấu phế thải lên trên trán, như những con vật mà thịt thối không thể ăn được nữa. Cám ơn anh.

– Anh cẩn thận đó. Mỗi đêm đều có thể có chuyện xảy ra và anh sẽ bị bắt giữ. Tôi không nói đùa đâu. Ai mà quá khứ chính trị không trắng 100% sẽ bị bắt giữ. Anh và ông bố vợ đều có tên. Vậy phải quyết định ra đi gấp lúc đang còn thì giờ. Nếu ở đây thì chỉ có một đường là bị bắt. Nhanh lên cho rồi.

Pillat uể oải:

– Vâng, tôi sẽ đi gấp.

V

Ion Kostaky cầm bó hoa đứng đợi Pillat ở trước cửa. Họ phải đi thăm ngôi mộ của Doina Australie, nên Kostaky đã mua sẵn hoa và đèn bạch lạp. Dạo này, Kostaky đã ăn mặc tươm tất, nên lúc nhìn ông ta, Pillat muốn khóc khi nghĩ rằng: «Làm sao người ta có thể nói rằng con người này lại là một thứ cặn bã được. Không ai có thể là một thứ cặn bã được đâu».

Lên tàu điện với Kostaky, Pillat lại nghĩ: «Kostaky là một thứ cặn bã thừa thãi mà không xã hội nào chấp nhận, không một quốc gia văn minh nào thâu nhận. Phải ở đó và tàn lụn đi tại chỗ», nên chàng gợi ý:

– Ba, đêm nay chúng ta sẽ trở về Lỗ ma ni, ba hiểu ý con chứ?

– Lần đầu tiên, ba thấy trong người khỏe khoắn và có cảm tưởng là mọi việc sẽ êm đẹp và con sẽ tìm ra chỗ làm.

Trong lúc Kostaky mân mê bó hoa dành cho ngôi mộ của Doina Australie, Pillat giải nghĩa :

– Họ không muốn dành cho con chức vụ đó nữa. Và cả ba lẫn con, chúng mình lại còn sắp bị bắt.

– Họ bắt chúng ta? Nhưng nào chúng ta có làm gì đâu?

– Vâng, không làm gì cả. Nhưng đêm nay chúng ta phải trốn đi. Rất có thể chúng ta sẽ bị lính gác bắn guc. Nhưng nếu thoát, chúng ta sẽ trở về sinh sống trong núi rừng xứ Piatra thân yêu, trên dãy núi ở Néamtz.

Pillat đặt tay lên vai Kostaky. Tàu điện dừng ngay trước nghĩa trang, Kostaky càng nắm chặt bó hoa hơn lên, còn Pillat thì giải thích dần dần lý do tại sao họ phải trốn đi:

– Ba, ba là người thuộc thành phần cặn bã của xã hội. Ba không thể đến ở trên bất cứ quốc gia nào trên thế giới này. Ba phải ở lại đây và đi ăn mày chờ bị bắt vì họ đã lập xong danh sách những người tình nghi. Cái tên Kostaky của ba nằm ở trang đầu.

– Họ bắt ba à? Ba có bao giờ bị bắt đâu.

– Rồi ba sẽ bị bắt bây giờ. Ba ở trong danh sách người Hoa Kỳ sẽ bắt vì ba đã từ bỏ một quốc gia dân chủ như là Gia Nã Đại. Làm như thế là đáng nghi ngờ và đáng bị bắt giữ.

– Nhưng ba đã giải thích cho con cả rồi mà, ba không thể nào sinh sống ở đó được.

– Và như thế là phản lại dân chủ. Ai không sinh sống được trong một quốc gia dân chủ là một người bị tình nghi.

Kostaky khong thể nào hiểu nổi điều đó. Phải nói rõ hơn nữa mới được.

– Phải ở lại Gia Nã Đại ư? Ba sẽ chết ở đó mất thôi.

Họ tiến dần về phía nghĩa trang. Vẫn cầm bó hoa trên tay, Kostaky hỏi:

– Và con, tại sao họ cũng muốn bắt giữ con?

– Tại con cũng là một người đáng nghi ngờ, bởi vì con đã cố để được ở lại Lỗ ma ni, vì con đã không trốn ngay mà còn sống chung với người cộng sản, như thế là mờ ám, đáng để bắt giữ.

Họ ngồi lại ở trước ngôi mộ có chữ thập bằng gỗ, trên chữ thập, có đề tên «Doina Australie Pillat».

Cả hai cùng quỳ xuống. Kostaky đặt hai bó hoa xuống đất, một bó cho Marie và một bó dành cho Doina. Kostaky thắp hai cây nến, cắm từng cây xuống mồ. Ông ta lâm râm: «Cây nến nầy dành cho Marie, xin Chúa rước linh hồn con tôi». Rồi với cây nến thứ hai: «Cây nến nầy dành cho Doina, xin Chúa rước linh hồn cháu tôi». Pillat và Kostaky đăm chiêu nhìn hai bó hoa và hai cây nến cắm giữa đất ẩm ướt. Kostaky hỏi:

– Con tin là Iléana còn sống không?

Pillat không trả lời. Cả hai cùng nghĩ đến Piatra, Iléana, Marie và Doina. Kostaky lại hỏi:

– Tại sao họ nói ba là một con người phế thải?

– Vì ba không còn răng nữa, bà đã già, lại bệnh hoạn và khốn khổ.

– Xin Chúa tha tội cho họ.

Quay sang Pillat, Kostaky bảo:

– Chúng ta sẽ đi đêm nay. Vào rừng, không ai còn bảo chúng ta là đồ phế thải, cặn bã nữa.

– Thưa ba, ba không phải là cặn bã. Không con người nào là cặn bã của xã hội cả.

Lần đầu tiên, Kostaky khóc như một người đàn bà. Họ nhìn mặt trời để xem thử bao lâu nữa mới tối. Mặt trời còn ở trên ngôi mộ. Bóng họ đổ dài trên mộ, dọc theo lối đi, trùng với bóng của thập tự giá.

Lối thoát cuối cùng

Constant Virgil Gheorghiu

Dịch giả: Hằng Hà Sa và Bích Ty

Post by Sơn râu 15 May 2024

Phần 5

Cuốn Sách Của Ô Nhục

Phần thứ nhất

Chiếc xe chở Ante Petrovici và những kẻ tị nạn của các quốc gia đồng minh đi xa dần. Pillat và Marie mới thực sự cô đơn giữa một quốc gia xa lạ chưa bao giờ đặt chân đến và chưa hề quen biết ai cả. Không nhà cửa, không một đồng dính túi. Pillat nói :

– Chúng ta có thể đi đâu và làm gì đây? Chúng mình đã lầm lẫn khi bỏ khu rừng để về đây.

Nhưng tình cờ bỏ tay vào túi quần, Pillat tìm thấy 200 đồng Marks. Chắc là bác sĩ Petrovici trước khi đi đã kín đáo bỏ tiền vào túi chàng. Chàng thấy bạo dạn hơn lên khi cầm tiền trong tay, họ tiến về nhà ga và nhìn bản đồ. Thành phố gần nhất là Heidelberg; Pillat bảo:

– Heidelberg là một trung tâm sinh hoạt trí thức, anh sẽ kiếm việc làm ở Đại học đường, có thể là trong một thư viện nào đó cũng được.

Bước chân xuống Heidelberg; họ dừng chân trên bờ sông Neckar với một lô dự định tương lai. Người ta đang xây cầu trên sông. Pillat vội vã nói:

– Anh sẽ kiếm việc ở đây, làm thợ vậy. Ngay hôm nay, vì chúng ta không thể để mất giây phút nào. Điều còn lại, chúng ta sẽ xét sau.

Chiều hôm đó, để mặc Marie ngồi chờ, Pillat xuống công trường xin việc. Viên đốc công sốt sắng :

– Chúng tôi cần thợ làm và trả tiền công rất hậu. Ngoài số lương, thợ còn được ăn và hút thuốc; ông có thể trở lại đây ngay sáng hôm sau. Chỉ cần mang cho chúng tôi một giấy phép trú ngụ ở Heidelberg, thế là đủ.

Pillat cho là mình gặp hên, cám ơn rối rít và chạy nhanh về báo tin mừng cho Marie:

– Nào chúng mình đi xin giấy cư ngu. Sở cấp giấy gần đây lắm. Marie lại khệ nệ vác xác lên vai. Trong lúc chờ đợi, viên trưởng phòng nhân viên mời Pillat và Marie rất lễ phép. Họ cho biết :

– Ông bà sẽ có giấy phép cư ngụ ngay, nhưng phải có bằng chứng là ông bà đã có công ăn việc làm rồi mới được.

– Tôi đã nói với viên đốc công làm cầu rồi, ông ta bảo rằng sẽ mướn tôi nếu tôi có giấy phép cư ngụ.

– Nhưng trước tiên, ông phải có bằng chứng là ông đã làm việc.

– Thì tôi đã kiếm ra công việc rồi đó, người ta sẽ cấp chứng chỉ cho tôi, mười phút nữa tôi sẽ mang lại cho ông ngay mà.

– Nhưng tôi không thể cấp giấy phép cư ngụ nếu không có chứng chỉ làm việc.

Viên trưởng phòng là một người tị nạn từ vùng Đức bị Nga sô chiếm đóng, ông ta hiểu nổi thất vọng của Pillat và Marie :

– Ông không thể nào kiếm việc nếu không có giấy phép cư trú nhưng không có giấy chứng nhận đã có công ăn việc làm người ta lại không cấp giấy cư ngụ cho ông, không cấp phiếu thực phẩm, không được phép thuê phòng.

– Như vậy thì rõ là họ không cho phép chúng tôi ở Heidelberg chứ gì.

– Trên nguyên tắc thì người ta không cấm. Nhưng trên thực tế thì như vậy đó. Tại sao ông bà không cố sang tỉnh khác xem. Heidelberg bị nhân mãn rồi. Người ta chỉ thuê những người thực sự cư ngụ ở đây mà thôi. Nhưng dù sao, nếu ông đem lại đây bằng chứng là ông đã kiếm được việc, tôi cấp giấy cư ngụ ngay.

– Vậy thì tôi cố trở lại công trường một lần nữa xem sao. Và họ lại trở ra bờ sông Neckar. Viên đốc công không còn ở đấy nữa, Pillat đành vào lều ngồi chờ. Marie mệt lả ngồi chờ ở một cái ghế dài. Nàng dựa đầu lên ghế, tay nắm chặt gói hành lý sợ bị đánh cắp. Bỗng nàng thấy như có ai đặt tay lên vai. Nàng định đứng dậy, nhưng bàn tay đã nắm chặt, bàn tay mang găng của một người cảnh sát Đức. Một người khác cầm xắc hành lý vứt lên xe cam nhông, và cả hai đẩy Marie lên xe luôn thể. Marie muốn gọi Pillat nhưng xe đã nổ máy. Nàng định la lên thì một bàn tay đã bóp miệng nàng lại, bàn tay cũng như sắt, nàng có muốn cắn cũng không ăn thua gì. Có một số người đàn bà khác trên xe, toàn là trẻ đẹp cả. Họ tò mò nhìn Marie, nàng có cảm tưởng bàn tay không phải chỉ ở miệng nàng mà còn đè nặng lên cả cơ thể nàng, nhất là trên vú nàng.

Xe cam nhông đã dừng hẳn. Marie được dẫn vào một căn nhà trống, nàng khóc nức nở. Một người đàn bà ái ngại:

– Lần đầu tiên em đến nhà thương sao?

Marie chùi nước mắt ngạc nhiên:

– Đúng là nhà thương sao? Tại sao họ lại đưa tôi vào nhà thương?

– Thì nếu em không có gì họ sẽ thả ra lo gì.

Marie đứng dựa vào hai xắc hành lý, hai cái xắc chứa hết cả gia tài của nàng và Pillat, chứa luôn cả hương vị cơ thể hai vợ chồng, vì họ vẫn thường dùng làm gối trong hàng tháng. Nghĩ đến chồng, Marie òa lên khóc. Chàng sẽ ra sao nếu lúc trở lại không thấy nàng trên ghế. Nàng muốn van xin người ta để cho nàng đi, nhưng đã hết giờ làm việc, không còn ai ở đó nữa. Suốt đêm hôm đó, nàng khóc liên miên.

Sáng hôm sau, tất cả đều được đi tắm và sắp hàng hai. Một người đàn bà bên cạnh la to :

– Đừng có khóc nữa, tao có hai đứa con ở nhà không ai chăm nom tao còn không khóc đây.

– Nhưng sao họ bắt chúng ta chứ?

– Họ không bắt chúng ta đâu. Chỉ là một cuộc bố ráp thôi. Mày chưa hề bị bố ráp sao?

– Không. Nhưng tại sao lại bị bố ráp?

– Người đàn bà nào cũng bị bố ráp cả. Để họ đừng truyền bệnh cho lính Mỹ. Người đàn bà nào ở ngoài đường cũng có thể truyền bệnh cho lính. Tao đã bị bốn lần, còn mày chưa hả, sao thế?

Marie trả lời:

– Tôi không sống ở thành phố này.

Họ được đưa lên lầu một. Người đàn bà cạnh Marie giải thích:

– Nếu mày ở lại phố thì mày sẽ đến đây mãi. Lần sau mày sẽ quen đi, không khóc nữa.

Sau khi tắm xong, tất cả được dẫn vào một hành lang, và được đưa từng người một vào thăm bệnh. Nghe gọi tên, Marie bước vào. Đã có hai người mặc áo blouse trắng đang khám một người đàn bà trần truồng trên bàn, tay họ đều mang găng. Một người giận dữ la :

– Sao chưa cởi áo quần ra? Cô cởi mau đi.

Marie muốn bị đánh đập hơn là nghe mệnh lệnh đó. Nhưng hai người nữ y tá đã la mắng và cởi áo quần nàng ngay. Marie cố chống cự, nhưng họ đã nhấc bổng nàng lên bàn. Nàng bắt đầu la hét, vùng vẫy, kẹp chân chặt lại. Nhiều người chạy đến giữ kỹ nàng. Sau cùng nàng thấy một đám mây lạnh trên mặt và không biết gì nữa cả. Thân thể nàng đành phải tuân theo ý muốn của những bàn tay xa lạ. Lúc nàng tỉnh dậy, nàng hoảng hốt cố che kín thân thể để đừng trần truồng trước mặt những người lạ. Và trong khi cố che đậy sự trần truồng đó, bàn tay nàng đã bị những mũi nhọn chích nhè nhẹ, thì ra đám lông mềm mại không còn nữa, người ta đã cạo sạch mất rồi. Thất vọng, Marie mặc vội quần áo lại.

Người nữ y tá bảo:

– Cô có thể ra về.

Và Marie cúi đầu mang xắc ra về. Mỗi bước chân nàng cảm thấy những mũi kim châm nho nhỏ. Nàng nghẹn ngào khóc, nàng có cảm tưởng người ta sẽ nhìn qua lớp áo là nàng đã bị cạo lông rồi và cho mình là người đàn bà nhục nhã nhất trần gian.

Muốn kêu cứu cũng chả biết kêu cứu ai, Marie không còn can đảm nghĩ đến Pillat. Như một kẻ không hồn, nàng bước về phía sông Neckar, muốn trầm mình xuống sông tự vận.

Một giọng nói êm dịu vang lên:

– Em đi đâu suốt đêm, để anh kiếm mãi thế.

– Anh Pillat, em không thể nào nói cho anh nghe được, thà chết còn hơn nói rõ điều này cho anh nghe. (Nàng lại khóc nức nở và cảm thấy những đầu mũi kim đang châm chích.)

Lúc Pillat cầm tay, Marie uất ức bảo:

– Em trở về Piatra, em không muốn ở lại đây nữa.

II

Pillat và Marie đành rời bỏ Heidelberg, vì họ không có quyền ở đó nữa. Đến Stuttgart, họ được Petrovici ân cần tiếp đón như bạn bè chí thân. Họ đã chung sống có một đêm thôi, nhưng có những cuộc gặp gỡ đáng giá hơn cả một đời bên nhau.

Petrovici cung cấp thức ăn uống đầy đủ. Tổ chức quốc tế tị nạn đã giúp đỡ họ nơi ăn chốn ở đàng hoàng. Tuy vậy bác sĩ Petrovici vẫn đi cà nhắc nhiều hơn lên, điều đó chứng tỏ ông ta đang khổ tâm.

– Trên bất cứ thành phố nào ở Đức, anh không thể nào trú ngụ mà không có chứng chỉ làm việc, và anh không thể có chứng chỉ làm việc nếu không có giấy phép cư ngụ, đúng là một vòng lẩn quẩn. Trên thực tế, ông bà bị cấm cư ngụ nơi đây nhưng xin phép ra đi cũng không được. Một thước đất biên thùy Đức quốc đều có xe tăng canh gác. Biên giới đã được đóng kín bằng dây kẽm gai. Chỉ còn cách là sống chơi vơi trong không khí. Thật tai hại là con người không thể sống bằng và ở trong không khí.

Marie cắn mẫu bánh mì Ante vừa cho, ông này nói tiếp :

– Để dành quyền sống, Tây phương đã bán cho Sô Viết một nửa Âu Châu. Dân cư ở các quốc gia bị bán đứng cho Sô Viết phải trốn qua Tây phương để tránh nạn khủng bố và chết chóc.

Tây phương là cơ hội thứ hai cho công dân các nước bị Nga Sô chiếm đóng. Những kẻ đào tẩu đó phải băng ngang qua Đức quốc và ở đây họ bị bắt vào các trại tập trung, không thể nào thoát khỏi được nữa.

Marie hỏi:

– Ông nghĩ là không còn lối thoát nào nữa ư? Chúng tôi không đòi hỏi gì nhiều ngoài công ăn việc làm. Tôi thừa biết là chúng tôi không thể có nhà cửa như lúc trước, nhưng tôi chỉ xin họ để chúng tôi sống ra sao thì sống.

– Tôi không phải là nhà tiên tri, nhưng tôi nghĩ là không còn lối thoát nào nữa cả. Âu châu không còn nữa. Chỉ còn lại có Hoa Kỳ và Nga Sô đang chia nhau Âu châu. Cả hai đều gán lối sống của họ cho toàn thế giới. Muốn thế, họ hủy diệt cá nhân. Nga Sô đã loại bỏ hàng triệu người, hủy bỏ nhiều giai cấp trong xã hội. Hoa Kỳ không thế. Nhưng Hoa Kỳ bán đứng con người cho Sô Viết để Sô Viết loại bỏ họ. Giống như những giáo sư ở Đại học Coimbre, Hoa Kỳ tưởng là có thể tránh thiên tai bằng cách nướng người vào lửa, dần dần, Hoa Kỳ đã thiêu sống những tù binh Nga trước mắt chúng ta để tránh mọi trở ngại trong việc bang giao với Sô Viết. Hoa Kỳ đã dâng cho Sô Viết xứ Lithuanie, Lettonie, Esthonie để tránh một bất động chính trị với chính phủ Sô Viết. Hoa Kỳ đã hy sinh Ba Lan để tránh sự rạn nứt ngoại giao với Nga Sô. Sau đó, họ đã hy sinh luôn Lỗ ma ni, Tiệp khắc, Hung gia lợi, dần dần.

Nghe đến đây, Marie òa khóc. Petrovici giải thích tiếp:

– Sự nguy hiểm to tát cho mỗi cá nhân, mỗi giai cấp, mỗi dân tộc đến độ phải đau đớn tự đánh lừa mình, nhưng thời gian vẫn trôi không ngừng, không còn khúc quanh nào của lịch sử có thể có được nữa. Chỉ có những kẻ mơ mộng mới tin vào các khúc quanh đó.

Chủ nghĩa tin tưởng lạc quan đó là một sự hèn nhát. Chúng ta sinh vào thời đại này và chúng ta có bổn phận can đảm đi trên đường đã vạch sẵn, vì không còn con đường nào khác nữa.

Bổn phận đó đòi hỏi phải tồn tại ngay cả trong một hoàn cảnh bi đát và tuyệt vọng. Phải biết kiên nhẫn như người lính La Mã ngày xưa đã phơi xương trước cửa thành Pompei và bị chôn vùi bởi ngọn núi lửa Vésuve.

Pillat cãi :

– Những cơ quan chính của thân xác con người, như tim phổi đều sinh hoạt tự động, lòng tham sống và hy vọng con người cũng thế. Chấp nhận cái chết chỉ là một sự láo khoét của văn chương. Câu chuyện người lính La Mã của Spengler chờ dung nham núi lửa đến cuốn đi chỉ là một điều tưởng tượng, không đúng sự thật. Khi quân Nga bắt đầu xâm chiếm đất nước chúng tôi như những luồng dung nham, và khi chúng tôi hiểu là họ muốn loại bỏ chúng tôi thì chúng tôi phải trốn đi. Chúng tôi được may mắn thoát khỏi họng núi lửa, thoát khỏi bàn tay Sô Viết và bây giờ chúng tôi sẽ tìm cách để thoát khỏi cái nồi súp de Đức quốc này. Trên bình diện con người, bác sĩ hãy nói thật cho chúng tôi biết là bác sĩ có tìm cách để cứu lấy mạng sống của mình và thoát khỏi nơi này không?

– Có chứ.

Petrovici trả lời thế và chỉ những lọ mực, cục tẩy, khuôn dấu để la liệt trên bàn, rồi nói tiếp :

– Tôi cố để thoát hiểm bằng một lối duy nhất, đó là di cư. Các quốc gia bên kia Đại tây dương thường gởi đến nước Đức những phái đoàn thương mại để tìm nhân công giữa hàng ngàn người tị nạn. Họ chọn người như chọn súc vật và chỉ giữ lại những món hàng hảo hạng. Nghĩa là họ thích những thanh niên trẻ trung, tôi thì vượt quá giới hạn của tuổi trẻ rồi, vì thế cho nên tôi phải sửa lại giấy khai sinh. Và đó là điều tôi đang làm. Tôi lại tàn tật nữa, thiếu mất vài mi li mét dưới bàn chân phải, tôi thấp hơn người hảo hạng mà họ muốn, vài mi li mét nữa mới đủ 1m60. Tôi lại theo đạo Hồi giáo. Người hảo hạng mà họ muốn phải có đạo Thiên Chúa mới được. Tôi sắp cạo sửa tất cả điều đó, phải làm giấy tờ giả mạo mới mong thoát khỏi mạo hiểm được. Nhưng sự khó khăn thực sự là ở điểm khác, là làm sao để tách rời được khỏi nấm mồ Âu châu. Âu châu đã chết rồi. Và cũng như tất cả giai cấp trí thức trưởng giả tôi cũng biết phụng thờ các ngôi mộ. Thú thật khi phải rời bỏ Âu châu là một điều khổ tâm cho tôi. Âu châu đã bắt đầu chết lúc mà các trại tập trung quốc xã được dựng lên.

«Âu châu đã chết với mỗi tù nhân bị quốc xã thiêu sống, Âu châu chết một phần cùng với cái chết cháy của vợ tôi, nhưng sự thật Âu châu đã thở hơi thở cuối cùng ở Torgau, ở đó có ngôi mộ chôn Âu châu, ở đó có một thành phố nhỏ trên bờ sông Elbe đánh dấu nơi quân đội Nga Mỹ gặp nhau vào năm 1945. Ở đó, trước thi hài Âu châu, lính Nga và lính Mỹ đã ôm nhau hôn và uống Whisky cùng Vodka. Tang lễ của Âu châu đã được tưới bằng rượu ngoại quốc, Vodka, Whisky. Cũng như anh và vợ anh không cho nơi nào êm ái hơn là ở Piatra của xứ Lỗ ma ni, tôi cũng chỉ mến Âu châu thôi. Chính vì thế, mà tôi xem cơ hội này, cơ hội mà tôi đã tranh đấu và tìm cách sửa đổi giấy khai sinh là cơ hội thứ hai. Sự lưu đày ra khỏi quê hương chỉ là một khúc giáo đầu cho sự lưu đày ra khỏi Âu châu…»

Vừa lúc đó, một người lịch sự bước vào, bắt tay Petrovici, lạnh lùng chào Marie và Pillat.

– Tôi vừa mới được cử giữ chức cố vấn chính trị và các vấn đề eo biển Balkan bên cạnh Bộ chỉ huy Hoa Kỳ ở Âu châu.

– Thành thật mừng ông.

Trả lời thế và Petrovici quay qua giới thiệu Marie và Pillat :

– Đây là một trong những đồng bào của ông bà, ông Aurel Popesco.

– Hân hạnh được biết ông bà.

Và ông ta vội vã bước đi, đến ngưỡng cửa ông ta còn quay lại :

– Phái bộ Gia nã đại đến đây ngày mai để tuyển lựa những người được di cư lúc 8 giờ sáng, vậy bác sĩ muốn trình diện thì phải dậy sớm nghe.

Petrovici nói cho Pillat biết :

– Aurel Popesco thuộc thành phần được ưu đãi vì hắn có một giấy chứng nhận là «nạn nhân của phát xít» và chính nhờ đó mà hắn được làm việc cạnh bộ chỉ huy Hoa Kỳ. Trước đây hắn là một trong những tên chỉ huy của phong trào phát xít ở Lỗ ma ni, chắc là anh biết rồi chứ. Hắn ta đã gây nhiều tội ác man rợ. Hắn đã trốn qua Đức. Người Đức nhốt hắn ở Buchenwald với những tên phát xít khác từ Lỗ ma ni trốn sang. Rồi người Mỹ giải thoát tất cả tù binh ở trại Buchenwald cấp cho họ chứng chỉ «nạn nhân của phát xít» và trong thành phần đó có lũ phát xít quá khích đó là trường hợp của Aurel Popesco.

Ngừng ở đó, Petrovici quay qua Pillat :

– Anh cứ trình diện với phái bộ Gia nã đại ngày mai, tôi không thể đến đó vì giấy tờ cạo sửa chưa xong. Tôi rất tiếc vì không hiểu bao giờ mới có phái bộ thứ hai tiếp theo. Nhưng anh thì cứ trình diện. Anh ngủ đây đi và mai tôi dẫn đi.

III

Sáng hôm sau khoảng 7 giờ Marie và Pillat sắp hàng trong đám người chờ phái bộ Gia nã đại, đám người khốn nạn thuộc nhiều hạng tuổi và nhiều quốc tịch khác nhau. Nhưng họ cùng chung một ước mơ là được trở thành người tiều phu ở Gia nã đại.

Toàn là những người trước đó có nhà cửa, gia đình, nghề nghiệp đàng hoàng, nhưng vào ngày chiến thắng, tổ quốc của họ đã rơi vào tay Sô Viết, họ buộc lòng phải trốn đi, từ bỏ nhà cửa, gia súc, gia đình tất cả. Giờ đây họ trở thành những kẻ vô sản chính hiệu. Trên thế giới có đến hơn trăm triệu người như thế rải rác trên các đường phố.

Mặt luôn luôn cúi gầm xuống đất, họ chờ đợi cơ hội được đi Gia nã đại, nhưng khó khăn lắm. Trong hàng triệu người vô sản đó, Gia nã đại chỉ chọn một số giỏi dang mà thôi.

Chín giờ xe của phái bộ Gia nã đại mới đến, còi vang inh ỏi. Họ gọi tên thí sinh ngay tức khắc. Cứ gọi đến hàng chục người một lần. Lúc đến trước bàn giấy, Pillat ngửi thấy mùi nước hoa Cologne, mùi thuốc lá và xà phòng, dấu hiệu của tình trạng toàn hảo của các thương gia. Ba người Gia nã đại nhìn chăm chăm từng thí sinh, từ đầu đến chân như là lúc đi mua ngựa, vì họ phải trả tiền di chuyển cho ai được di cư.

– Anh ở quốc gia nào?

– Lỗ ma ni. Pillat trả lời.

Phái bộ Gia nã đại chỉ thích người Bắc âu vì họ cao lớn và cần cù hơn, với lại họ ít ngoan cố và sống lâu.

– Anh làm nghề gì?

– Cựu thẩm phán.

Trả lời như thế Pillat thấy hình như họ không bằng lòng, vì ai cũng nhìn chàng một cách khó chịu. Một người hô ngay:

– Gọi người tiếp theo.

Rồi bảo Pillat ra ngoài. Chàng hỏi lại:

– Các ông không nhận tôi sao?

– Trường hợp anh thế là xong rồi.

– Tôi muốn biết là tôi được nhận hay không?

– Không. Chúng tôi không nhận anh.

– Các ông thấy tôi có gì không vừa ý?

– Chúng tôi không dùng những người trí thức. Anh có thể ra ngoài. Hai chữ trí thức được phát ngôn một cách hằn học và dữ dằn. Pillat hỏi ráng :

– Các ông nghĩ là một người trí thức không đốn ngã một cây ở Gia nã đại sao?

Và giọng nói của chàng có vẻ van nài :

– Xin các ông rộng lòng nhận tôi đi.

– Không.

– Các ông chê giới trí thức ở chỗ nào? Chúng tôi có thể làm công việc như những người khác vậy chứ.

– Không, anh không làm được như họ. Người trí thức không làm được việc lao động, vì không có bắp thịt. Anh có thể ra ngoài đi, anh bị từ chối rồi.

Pillat bỏ đi, không còn gì để hỏi nữa, lý do đã quá rõ ràng cho chàng hiểu rồi. Chàng bỏ đi, rời khỏi văn phòng mà không hiểu phải đi đến nơi nào. Marie đợi chàng ở ngoài đường. Nàng nhảy chồm đến Pillat, hót lấy cổ chàng và khóc.

– Em được họ chấp nhận rồi. Có 100 người mà chỉ một mình em được nhận mà thôi.

Marie ôm cứng lấy Pillat, nàng chưa bao giờ sung sướng như thế từ ngày bỏ Piatra mà trốn đi. Nhưng trong cơn hạnh phúc đó nàng có cảm tưởng là vai, mặt, cổ của chồng lạnh ngắt như người chết. Nàng hoảng hốt.

– Họ không nhận anh sao?

– Không, họ không thích người trí thức. Người trí thức không có bắp thịt.

IV

Lúc Pillat và Marie bỏ đi, thì trong một toán mười người khác bước vào văn phòng phái đoàn Gia nã đại, có một người đàn ông vạm vỡ đứng tuổi bước vào trước ba người Gia nã đại. Ông ta hơi cảm động nhưng bước đi vững chắc, đến trước bàn giấy ông nghiêng mình chào như đã có thói quen nghiêng mình trước vị linh mục trong làng.

– Ông thuộc quốc gia nào?

Người nông dân rụt rè một chút rồi trả lời:

– Tôi tên là Ion Kostaky, người Lỗ ma ni, 40 tuổi, tôi là dân cày ruộng và ngoài ra tôi không biết một tiếng Đức nào nữa cả.

Kostaky đọc thuộc lòng câu trên bằng tiếng Đức, không sai tí nào như ông đọc một câu thơ. Đọc xong, ông nhìn kỹ ba người lạ để xem họ quyết định tối hậu như thế nào.

Cả ba người rũ ra cười. Người ngồi giữa hỏi:

– Ông học câu đó ở đâu thế?

Ion Kostaky muốn đoán câu hỏi đó có nghĩa gì, nhưng không thể được. Tuy nhiên, ông thấy ba người đó nhìn mình kỹ càng và không tỏ ý chê bai. Buộc lòng ông ta lập lại:

– Tôi tên là Ion Kostaky, người Lỗ ma ni, 40 tuổi. Tôi là dân cày ruộng, và ngoài ra tôi không biết một tiếng Đức nào nữa cả.

– Hoan hô, tuyệt hảo (họ cười ngất), đúng là một công dân tương lai tài ba của Gia nã đại, ông được nhận.

Ion Kostaky nhìn họ, trông thấy họ cười đùa nhưng không hiểu họ nói gì. Ông trưởng phái đoàn nói:

– Du Kanadian, verstanden? (ông là người Gia nã đại, hiểu chưa?) Kostaky thấy ngón tay ông ta chỉ về phía mình và nghe tiếng «Gia nã đại» ông Kostaky biết là mình được chấp nhận; ông thầm cám ơn trời, rồi nghiêng mình trước phái đoàn như đã nghiêng mình trước cha Thomas Skobay ở Piatra.

Viên thư ký cầm tay ông và giải thích:

– Ông dễ thương lắm. Ông cứ ăn và ngủ ở đây. Sau đó ông sẽ đi Gia nã đại với mấy ông này. Trong lúc chờ đợi, ông được chấp nhận vào phái đoạn rồi đó.

Sau đó, Kostaky được đưa xuống ăn uống và hút thuốc, bao nhiêu khó khăn trở ngại đều không còn nữa. Nhưng đang lý biểu lộ niềm hạnh phúc đó, Kostaky lại bật khóc. Iliéna, nhà cửa ở Piatra, Marie và Pillat, tất cả chỉ còn là hình bóng trong ký ức ông mà thôi. Không nhà cửa, làng mạc, gia đình, ông không thể nào vui được, và không ăn uống gì được nữa. Qua cửa sổ, qua làn nước mắt, ông muốn thấy lại làng mạc, nhà cửa, gia súc, tất cả những người thân yêu; nhưng sự thực chỉ là những người xa lạ đang qua lại trước cửa sổ.

Dù xuất phát từ đâu, tất cả những người tị nạn đều gặp nhau ở Đức Quốc. Pillat gặp lại Motok, ăn mặc rất lịch sự, tay đeo đồng hồ vàng, xách cặp da và hút thuốc Mỹ. Cùng với Aurel Popesco, Salomon, Motok buôn chợ đen rồi giàu to. Nhưng hắn vẫn muốn bỏ đi.

Ở Đức, người ta có thể chết đói hay là buôn lậu rồi bị bắt giam vì thế mà Motok đến trình diện cùng một lượt với Marie, Varlaam, Pillat và Petrovici trước phái đoàn Úc Châu vừa mới đến Stuttgart.

Bác sĩ Petrovici, như thường lệ, lên tiếng tố cáo hiện đại.

– Âu Châu là lục địa biến đổi nhiều nhất. Âu Châu bán công dân theo kích thước và sức nặng cho các lục địa khác. Tất cả phái đoàn đó đến đây chỉ nhìn chúng ta theo kích thước và sức nặng. Không có gì nữa trong con người liên quan với họ trừ trọng lượng và bề cao.

Mọi người được yêu cầu điền vào tờ giấy kể lại cuộc đời mình từ trước đến nay, xong họ được đưa vào một căn phòng rộng đầy đủ dụng cụ y khoa để căn đo, khám nghiệm. Đàn ông đàn bà ở hai phòng khác nhau. Phần thí nghiệm kỹ càng như ở trong một bệnh viện. Cô ý ta người Anh lễ phép nói :

– Các ông đừng để giấy tờ xuống đất, vi trùng nhiều lắm đó.

Ante Petrovici cắn giấy vào miệng và cởi áo quần. Tất cả thí sinh đều trần truồng trước ba người nữ y tá tóc vàng cùng với những dụng cụ y khoa trắng tinh. Ở đằng trên những dụng cụ đó, những người tị nạn có thể trông thấy xứ Úc đại lợi như là một mảnh đất hứa hẹn.

– Nắm hết sức đi.

Người nữ y tá bảo Petrovici nắm chặt một dụng cụ như nắm gươm.

– Trời, ông chưa bao giờ đo sức mạnh bắp thịt sao?

Sau đó, cô ta đưa dụng cụ đó cho Pillat. Con đường đi Úc đại lợi phải đi qua quả nắm đó.

Sau khi đo sức mạnh bắp thịt, mười người trần truồng đó được trích máu đầu ngón tay nhỏ lên từng tấm kiếng nhỏ. Không thể qua Úc châu nếu không cho một giọt máu.

Petrovici run sợ. Pillat bình thản nhìn những mảnh kiếng đựng máu chàng và đồng bạn.

Rồi sau đó lại bị lấy máu ở mạch máu bỏ vào các ống nghiệm. Chưa hết, mỗi thí sinh phải thổi mạnh vào một ống cao su để đo dung tích buồng phổi.

Và đến phần quyết định cho Petrovici. Mặt ông ta tái nhợt khi bước chân đến cái thước đo bề cao. Pillat thấy ông ta thóp bụng nhón chân cao lên một chút. Người y tá ra lệnh:

– Ông đứng thẳng như thường đi.

Petrovici đành phải đứng yên, nhưng vẫn cố nhón lên chừng 2cm. Nên khi người nữ y tá hô to độ cao của mình, Petrovici sung sướng thấy mình đã thắng cuộc, ông ta nói nhỏ với Pillat:

– Tôi chỉ cần 2cm thôi, và thế là được rồi đó.

Sau khi cân đo, tất cả lại được đưa vào rọi kiếng. Pillat, Motok, Petrovici sắp hàng chờ. Bàn tay mang găng của bác sĩ sờ soạng từng người trong bóng tối. Mọi người chừng 10 phút. Đến lượt trung úy Varlaam, người tráng kiện nhất trong bọn. Bác sĩ hỏi:

– Ông nằm nhà thương bao lâu?

– Tôi chưa bao giờ nằm nhà thương cả. Varlaam quả quyết trả lời như thế.

Vị bác sĩ chỉ vết sẹo trên ngực Varlaam rồi bảo:

– Ông đã bị thương ở đây, vì sao ông nói là không bao giờ nằm nhà thương cả?

– Tôi chưa bao giờ nằm nhà thương, chỗ bác sĩ chỉ đó là một vết trầy da. Tôi là phi công, một hôm tôi bị một mảnh đạn nhưng không hề bị thương nặng. Áo tôi bị cháy và da tôi bị trầy đôi chút. Hồi đó họ băng sơ cho tôi và ngày hôm sau tôi lại nhận công tác như thường. Tại sao bác sĩ cứ đinh ninh là tôi bị thương?

– Ông có một vật lạ trong phổi ngay nơi chỗ có vết sẹo, rất có thể là một mảnh đạn.

Varlaam mỉa mai trả lời:

– Nếu tôi có mảnh đạn trong ngực thì tôi đã có cảm tưởng là nó ghim vào phổi chứ?

– Tôi sẽ chụp hình và ông sẽ thấy nó tận mắt.

Varlaam lại được đưa vào phòng tối. Mấy người khác lo mặc áo quần.

Bác sĩ bảo Varlaam mặc áo quần lại, trong lúc đợi rửa phim, Varlaam lại biện minh cho lý lẽ của mình :

– Nếu tôi có mảnh trong phổi, tôi đã không hoàn thành hàng ngàn phi vụ trên đất địch, ở Nga Sô và tôi đã không nhận hàng nửa tá huy chương.

– Thì ông nhìn đây.

Vị bác sĩ cầm phim đưa ra trước cửa sổ, Varlaam nhìn mà không quan tâm đến những bóng mờ trên phim. Bác sĩ giải thích:

– Ông thấy rõ chấm đen nầy chứ, đúng là một vật lạ trong phổi ông rồi đó.

– Nếu thật sự có mảnh đạn, điều đó đối với tôi không quan hệ gì. Nó không có gì làm tôi khó chịu cả. Vật lạ đó không cản trở tôi trong hai năm trời, ngày cũng như đêm, bay trên nền trời của xứ địch. Vật lạ đó không cấm tôi ăn, ngủ, nhẩy đầm, tôi hoàn toàn khỏe khoắn, cho nên nó không phiền hà gì tôi và tôi đã từng bay cao hàng ngàn thước qua các giàn trọng pháo mà tôi cũng không thấy khó chịu gì cả. Với mẫu kim khi đó trong ngực, tôi đã trở thành anh hùng của không quân, thi cùng với nó tôi sẽ trở thành người chăn cừu, người làm ruộng hay phu quét đường phố ở Úc châu, vì tôi cho là các ông không có công việc gì khác cho các người tị nạn.

– Chúng tôi chỉ nhận những người di cư có những buồng phổi tốt, lành lặn.

– Tôi cũng mong là tất cả những dân Úc châu đều có bộ phổi như tôi là cùng.

Nói xong, Varlaam hằn học gài nút áo và rời phòng khám không cần ngoái cổ lại chào ai cả.

Vị bác sĩ còn tiếc rẻ :

– Chúng tôi có thể cho hắn cái may mắn là sẽ mổ cho hắn mảnh dạn nầy. Nếu hắn muốn nghe lời tôi khuyên nhủ, hắn sẽ trình diện lần khác nhưng với thái độ đó…

Mấy người tị nạn lại được vào phòng tối khác để nha sĩ khám răng bằng quang tuyến. Vị nha sĩ nói với Petrovici :

– Ông cần chụp phim hàm răng. Có lẽ điều nầy không làm ông ngạc nhiên. Ở Úc châu, chúng tôi có mức sống mà các ông không thể tưởng tượng nổi ở Âu châu. Cô thể là Âu châu có trình độ văn hóa cao hơn nhưng về mức sinh sống thì chúng tôi cao hơn nhiều. Cũng thường tình vì chúng tôi ở trên một lục địa còn mới mẻ.

Rồi vừa chụp hình hàm răng Petrovici, vị nha sĩ nói thêm:

– Khoa xã hội học chúng tôi không giống các ông ở Âu châu. Ví dụ Khoa vệ sinh xã hội chúng tôi tân tiến hơn. Chúng tôi đã giải quyết vấn đề chủng tộc rất khoa học, vì ở Úc châu ai cũng có tinh thần khoa học cả. Nhờ tinh thần đó mà trong vài năm nay ở Úc châu chúng tôi có một dân tộc rất khá; sở dĩ thế là nhờ chúng tôi biết săn sóc kỹ lưỡng các cuộc hôn nhân, các cuộc pha giống, các vấn đề di cư, nghĩa là bằng các phương pháp rất ôn hòa và khoa học. Chúng tôi không giải quyết vấn đề chủng tộc như các ông ở Âu châu, bằng cách thức man rợ như Hitler như việc đốt cháy người Do thái và các nòi giống thấp kém khác. Chúng tôi cư xử với các nòi giống thấp kém đó bằng các phương pháp khoa học chứ không đốt họ đi. Vấn đề chủng tộc cũng có dưới nhãn quang khoa học, nhưng chúng tôi không giải quyết trong các trại tập trung. Chúng tôi nghiên cứu vấn đề đó trong các phòng thí nghiệm và các văn phòng để đưa đến một giải pháp nhân đạo.

Petrovici muốn bịt tai lại. Từ khi bà vợ Lidia của ông bị đốt cháy, Petrovici không chịu nổi những bàn cãi về chủng tộc cao sang và thấp hèn. Từ lúc mà Milan Paternik đã nhân danh các nguyên lý của hắn để giết chết chính mẹ hắn cũng như 800 người Serbes và Do Thái, ông không muốn nghe ai nói đến vấn để chủng tộc nữa, ngay cả một giải pháp ôn hòa.

Petrovici thấy ngã bệnh chỉ vì nghe nói đến chữ chủng tộc, bởi vì nhân danh chữ đó, Lidia đã bị đốt. Thân thể Lidia đã từng ngủ bên cạnh ông, những ngón tay Lidia đã từng uyển chuyển trên phím đàn vĩ cầm cũng đã bị đốt nhân danh chủng tộc. Petrovici thấy tim mình khắc khoải vì chữ chủng tộc đồng nghĩa với lò sát sinh, sát nhân. Ở cửa miệng ông nha sĩ người Úc đó, sự pha giống y hệt như ở súc vật, Petrovici muốn trốn khỏi căn phòng. Vị nha sĩ đã đưa phim về phía cửa sổ và mỉa mai :

– Nào, ông nhìn xem, bộ răng của ông đấy.

Petrovici lại gần nhìn hình bộ xương đầu của mình. Một cái gì đăng đắng đầy miệng ông ta. Không ai muốn người ta chỉ cho mình xem một bộ xương và bảo rằng đó là cái đầu của chính mình. Chỉ còn cái xương đầu y hệt như bộ xương của người chết.

– Ông có thấy bộ răng của ông chưa?

Petrovici tái mặt, trong lúc vị nha sĩ nói tiếp :

– Ông thấy rồi phải không? Vậy thì ông không thể nào đến Úc châu với bộ răng như thế được.

Petrovici định không trả lời nhưng ông ta nhẫn nại:

– Tôi sẽ chữa răng, ông xem bao nhiêu là biến cố vừa mới đổ lên đầu dân Âu châu.

– Nhưng trong lúc này, ông không thể di cư sang Úc châu. Không thể nào được cả. Trên nguyên tắc, chúng tôi không chấp nhận những người mang hàm răng giả, nhưng ông cứ ráng xem sao. Chúng tôi không chấp nhận hàm răng giả, Úc châu như thế đó. Mà ông nhìn xem, ông thì chắc chắn phải cần một hàm răng giả rồi đó.

– Nhưng các phần khám nghiệm khác tôi đã qua được cả rồi.

Nói thế và Petrovici xiết chặt cái cà vạt như muốn tự xiết cổ cho chết vì cái ô nhục này to tát quá.

– Phần hàm răng là chính yếu, hoàn toàn chính yếu. Tôi không hiểu là điều này đối với Âu châu thế nào, chứ với Úc châu, bộ răng có phận sự đặc biệt, ưu tiên, trong nghĩa chính xác của nó.

Petrovici điếng người vì những tư tưởng đó. Ông ráng cãi :

– Nếu giả thử tôi là một người tài ba, như Michel Ange hay Goethe chẳng hạn, liệu ông có từ chối quốc tịch Úc đại lợi chỉ vì tôi thiếu vài cái răng không? Tôi đặt câu hỏi này hoàn toàn vì tò mò mà thôi. Bởi vì nếu như thế thì chúng tôi cho là kỳ dị quá. Tôi muốn nói là những giá trị nơi con người như luân lý, trí thức, nghề nghiệp, có những thiên tài về tình thần có giá trị hơn vài cái răng chứ.

– Không có gì bằng và thay thế được một bộ răng tốt cả. Những khám phá khoa học mới đây rất chính xác, và khi chúng tôi được giao trọng trách về vấn đề di cư, chúng tôi cứ y theo những nguyên tắc khoa học. Ông nói đến những giá trị luân lý ư? Tất cả đều phải đi qua cửa miệng. Tất cả nền luân lý đều phải thế, ông chấp nhận như thế không nhỉ? Và từ của miệng hôi thối, chỉ phát xuất những điều xấu xa. Răng xấu thì vấn đề tiêu hoá cũng xấu. Tiêu hóa xấu thì năng lực làm việc kém đi và hay bị cáu kỉnh, điều này gây ra bất mãn và từ bất mãn sẽ đi đến xung đột, đi đến việc không tôn trọng hợp đồng làm việc chẳng hạn. Hợp đồng đó mà không tôn trọng thì sẽ gây ra nạn thất nghiệp; có nghĩa là nạn nghèo đói và phản động, con đường dẫn đến tội ác hỗn loạn và những âm mưu chính trị và nếu ông hỏi tại sao thì câu trả lời đã sẵn sàng. Chỉ vì ông thiếu mấy cái răng. Một quốc gia mà công dân toàn mang bộ răng yếu ớt là một quốc gia suy yếu về tất cả khía cạnh tinh thần và kinh tế. Tôi nói với ông giản dị có thế thôi, chứ vấn đề thật ra đã được nghiên cứu kỹ càng hơn nhiều.

Tất cả yên lặng. Vị nha sĩ vẫn cầm cái phim đầu của Petrovici nơi tay. Motok, Pillat, Petrovici không nói nửa lời.

– Tạm thời ông không thể nào di cư được, Chúng tôi buộc lòng từ chối ông. Pillat cầm tay Petrovici kéo ra đường. Marie chờ trước cửa có vẻ hài lòng, nàng chỉ sợ Pillat bị từ chối nên hỏi ngay.

– Anh được nhận không?

Pillat gật đầu. Nàng phóng lại ôm chầm lấy chồng nhưng Pillat không hôn trả, chàng đứng yên như bức tượng. Petrovici nói:

– Hy vọng là việc tôi bị từ chối không làm phiền lòng ông bà. Đương nhiên là ông bà đang vui sướng rồi đó nghe.

V

Trước khi đi Úc đại lợi, Pillat đến hội Hồng Thập Tự ở Francfort :

– Chúng tôi sẽ di cư sang Úc châu, và sẽ khởi hành trong vài tuần nữa. Nhưng trước khi đi, chúng tôi muốn biết là ở Đức hiện có một người Lỗ tên là Ion Kostaky xin tị nạn đến không? Ông ta là cha vợ tôi. Tôi tin là Hồng Thập Tự có đầy đủ danh sách những người tị nạn. Nếu ông ta không đến Đức thì chắc là chết hay bị người Nga bắt rồi.

Viên thư ký trả lời :

– Ông bà không còn hy vọng gì gặp lại Ion Kostaky nữa, tại sao ông bà lại không đến tìm sớm hơn, ông ta đã di cư qua Gia nã đại cách đây 15 hôm rồi. Chưa chắc chắn, viên thư ký còn đọc rõ tên họ, sinh quán, nghề nghiệp của Kostaky cho Pillat nghe. Marie khóc ròng:

– Đúng là ba rồi chứ còn ai nữa.

Và họ buồn rầu đi bộ đến ga xe lửa. Tàu đi Stuttgart vừa mới chạy, chuyến sau cũng phải đến ngày mai mới có, họ đành ở lại phòng đợi nhà ga cho qua đêm, cả hai đều ân hận là không kiếm Kostaky sớm hơn. Trên đầu họ một bản thông cáo dán sẵn : “Nhà ga đóng cửa lúc 10 giờ. Không được ở lại trong phòng đợi hay trên sân ga”. Bên cạnh đó một bản thông cáo khác: “Ai đi ngoài đường sau mười một giờ sẽ bị bắn”.

Họ đành lại phải đứng dậy đi. Khách sạn không còn nữa, nhà cửa bị dội bom nát hết cả rồi. Một người qua đường cho biết là có một nhà trú ẩn ở trước nhà ga. Họ bước vào trong một căn hầm đổ nát có giường cho thuê. Mệt mỏi, cả hai nằm xuống giường, lấy xách kê đầu. Marie vẫn khóc tỉ tê vì không còn hy vọng gặp lại cha, rồi lại nghĩ đến đứa con còn trong bụng. Pillat bảo :

– Em biết không, anh đã tìm ra tên đặt cho con rồi. Nếu là con gái, chúng ta cứ gọi là Doina Australia. Doina có nghĩa là tên một bài hát Lỗ ma ni nói về sự lưu đày não nề. Còn Australia thì để kỷ niệm tổ quốc mới của chúng ta.

Marie sung sướng nghĩ rằng họ sẽ đến Úc châu và con nàng sẽ sinh ra trong một quốc gia chứ không ở trên bước đường lưu lạc như bây giờ. Như thế họ thiếp đi trong giấc ngủ có tên Doina Australia ám ảnh.

Lúc họ tỉnh dậy, ánh sáng đã chiếu vào căn hầm. Cái áo Marie để trên đầu và đôi giày biến đâu mất. Không còn ai trong hầm nữa, nên họ chẳng biết phàn nàn cùng ai cả. Pillat xổ xách tay ra chỉ còn kiếm được một đôi giày lính. Marie mang vào, rộng thênh thang, nàng nức nở khóc. Xổ xách tay Marie ra, Pillat tìm thấy một gối mềm. Thì ra đó là một cái áo trắng bằng Voile.

– Áo cưới của mẹ đó. Em mang theo lúc đi. Em nghĩ là…

Trong nước hồi đó không còn tục đám cưới theo nghi lễ tôn giáo nữa. Marie mang theo với hy vọng một ngày nào họ sẽ lại làm đám cưới ở nhà thờ. Pillat bảo :

– Thôi em cứ mặc đỡ áo này đi. Thắt chặt dây lưng một tí sẽ ngắn bớt lại ngay.

Marie đành phải mặc áo cưới vì không còn cách nào khác. Giày rộng thênh, áo cưới, và xách mang trên vai, Marie vừa đi vừa khóc, nhưng không ai nhìn nàng cả. Không còn ai ở đây ngạc nhiên về điều gì nữa cả.

Họ đến sở cảnh sát. Viên cảnh sát trưởng lắng nghe rồi bảo:

– Tôi có thể cấp cho ông bà một giấy chứng nhận là ông bà đã khiếu nại bị mất cắp. Với giấy chứng nhận đó, ông bà đến trình ở sở cấp phát quần áo và xin phiếu mua áo. May là ông bà chỉ mất quần áo thôi đó, lần sau đừng có vào trong nhà trú ẩn đó nữa. Mỗi đêm người ta thường thấy người bị ám sát chết trong hầm đó là thường.

Sở cấp quần áo ở ngay bên cạnh. Người ta mời ngồi và cùng lắng nghe câu chuyện sau đó, viên công chức hỏi giấy cư ngụ. Pillat trả lời:

– Chúng tôi có giấy tờ, chứng nhận di cư và, một giấy khác chứng nhận bị mất cắp.

– Chúng tôi không thể cấp phiếu mua áo quần nếu không có giấy cư ngụ.

– Nhưng đây là trường hợp đặc biệt. Ông nhìn xem, vợ tôi không thể lên đường bằng bộ áo cưới và giày lính thế này được. Ông nghĩ lại xem. Tôi van ông cấp cho, trong trường hợp đặc biệt này, vì ngoài cái áo cưới này, vợ tôi không còn cái nào khác.

– Đối với luật lệ, vợ ông trần truồng. Áo cưới không được xem như là áo quần mặc thường ngày. Trước mặt tôi và trước mặt pháp luật, bà đang ở trần, hoàn toàn trần truồng, nhưng dù thế nào đi nữa, chúng tôi không thể cấp phiếu mua áo được, cần phải có chứng chỉ cư ngụ.

Pillat nhớ lại là muốn có giấy cư ngụ phải có giấy làm việc và muốn có giấy làm việc phải có chứng chỉ cư ngụ và bây giờ…

Biết van nài vô ích, họ lên tàu đi Stuttgart, Marie mang áo cưới và giày lính với đôi mắt đỏ hoe. Niềm an ủi duy nhất cho nàng là chẳng ai trên tàu thèm để ý đến nàng cả. Không ai chú tâm đến cái áo cưới kỳ dị đó, bởi con người không còn để ý đến nhau nữa.

Không còn gì phi thường, lạ lùng đối với họ nữa. Và đó chính là điều phi thường nhất: phi thường ở chỗ không còn gì đáng cho là phi thường nữa.

VI

Lúc Pillat đi rồi, một phái đoàn Argentine đến Stuttgart. Tất cả ai bị các phái đoàn trước từ chối đều đến trình diện.

Có cả Motok, Varlaam và bác sĩ Petrovici lúc nào cũng mang theo giấy tờ giả mạo.

Lúc họ được đưa vào phòng, ai cũng ngạc nhiên. Phái đoàn Argentine không có dụng cụ máy móc gì cả, không máy đo bắp thịt, máy quang tuyến. Chỉ có hai người đàn ông và một người đàn bà mặc đồ đen có mang thánh giá bằng vàng trước cổ – người đàn bà là trưởng phái đoàn và hình như gốc Tây Ban Nha, và có vẻ cương quyết lắm. Bà hỏi Motok:

– Ông làm nghề gì?

– Công chức hỏa xa.

– Công chức gì?

– Kiểm soát viên. Tôi biết bốn thứ tiếng, có mười hai năm thực hành.

– Trong lúc này, chúng tôi chỉ chọn những người có nghề tay chân thôi, thợ may, thợ mộc, thợ luyện kim, sau này, chúng tôi sẽ chọn người có nghề khác. Nhưng ông đừng thất vọng. Hãy tin ở Chúa. Chúa phán xét con người và giúp người thành công và chỉ có Chúa mới mang lại vinh quang.

Motok nhìn đôi mắt lạnh lùng của người đàn bà. Hắn ngửng đầu nhìn và bắt gặp đôi mắt Chúa từ trên thánh giá. Chúa Giê su muốn giữ Motok lại, muốn để cho hắn nói, nhưng người đàn bà đã dõng dạc ra lệnh:

– Người tiếp theo.

Đến lượt Varlaam.

– Tôi là phi công.

– Chúng tôi có đủ phi công rồi. Tất cả phi công của các nước thất trận đều tị nạn ở Argentine. Trong lúc này chúng tôi chỉ cần thợ máy bay thôi. Tiếc thay ông không phải là thợ máy.

Rồi đến lượt Petrovici.

– Tôi là giáo sư trường sửa đồng hồ Iéna.

Vừa nói Petrovici vừa để lên bàn chứng chỉ có chữ ký của vị chủ tịch hiệp hội các nhà sửa đồng hồ ở Thuringe và mười hai người giáo sư khác. Có ghi bằng chữ vàng là hiệp hội thợ sửa đồng hồ chấp nhận bác sĩ luật khoa và toán học Ante Petrovici là giáo sư sửa đồng hồ của hội.

Thế là người đàn bà mỉm cười, thiện cảm, Petrovici tự giới thiệu thêm :

– Lúc tôi còn là sinh viên, tôi đã học sửa đồng hồ ba năm tại một tiệm ở Iéna. Hồi đó, sinh viên vẫn thường tự học thêm thủ công nghiệp. Năm tôi đổ tiến sĩ luật và toán, tôi lấy luôn chứng chỉ sửa đồng hồ. Tôi có thể tháo ráp một đồng hồ tay trong ba mươi phút. Lấy được chứng chỉ đó khó lắm.

– Và đó mới là điều quan trọng. Argentine hiện đang cần giáo sư sửa đồng hồ. Bây giờ ông hãy qua khám nghiệm y khoa đi. Tôi tin chắc là ông hoàn toàn có sức khỏe; người nào có nghề thủ công cũng là người khỏe mạnh cả.

Ante Petrovici thầm nghĩ : Không ngờ vận hội của mình lại là cái mảnh bằng học một cách tài tử hồi còn trẻ. Argentine không muốn mảnh bằng tiến sĩ luật hay thạc sĩ toán, cũng không thích khả năng hành chánh dồi dào của một cuộc đời công chức dài đăng đẳng của mình. Argentine chỉ thích mình ở chức vụ giáo sư sửa đồng hồ, thế mà từ lâu mình bỏ quên hình dạng đó nơi con người mình, người thợ sửa đồng hồ trong ông thạc sĩ toán và tiến sĩ luật Ante Petrovici. Mảnh bằng duy nhất còn giá trị : sửa đồng hồ.

Trong lúc người đàn bà đang viết phiếu khám nghiệm y khoa, Petrovici tiếp tục nghĩ về mình.

– Đó là điều còn lại sau cùng của mình, một người sắp làm nghề sửa đồng hồ ở Tân thế giới, một thợ thay lò xo đồng hồ, thay mặt kiếng vỡ, sửa con lắc và chuông báo trong các đồng hồ đánh thức của xứ Argentine, cho những người ở Tân thế giới. Và đó là điều mà Tân thế giới tìm được nơi mình. Hoan hô bác sĩ Petrovici. Tân thế giới chỉ đòi hỏi một điều thôi : nghề sửa đồng hồ. May mà mầy còn có cái nghề sửa đồng hồ nếu không thì mầy chết rồi. Vì chính Tân thế giới điều khiển vũ trụ và Tân thế giới không cần người trí thức mà chỉ cần thợ sửa đồng hồ. Điều duy nhất mà Âu châu mang lại cho con cháu là đem bán chúng ta theo thước tấc và sức nặng, bán từng lá phổi, từng phân mét cho Tân thế giới. Và Tân thế giới chỉ chọn những gì họ thích, nơi mình, họ chỉ chọn có nghề sửa đồng hồ.

Người đàn bà hỏi:

– Ông có đạo Thiên chúa?

– Vâng, đương nhiên là có đạo Thiên chúa rồi.

Petrovici nuốt nước bọt, choáng váng rồi cố rướn cổ lên để tìm một ít không khí để thở. Ở đàng sau phái đoàn, tượng Chúa trên Thánh giá hình như xoắn lại, không vì đau đớn mà vì thương hại cho Petrovici bị bắt buộc phải nói dối. Petrovici sinh ở Bosnie dưới thời lệ thuộc Thổ nhi kỳ, dân Bosnie bị bắt buộc theo đạo Hồi giáo. Ông nội Petrovici tuyên thệ bỏ đạo Thiên Chúa vì sợ bị chặt đầu và đành theo Hồi giáo. Đó là lý do tại sao Petrovici theo Hồi giáo như đa số dân Bosnie.

Bà trưởng phái đoàn hài lòng nhìn chứng chỉ rửa tội mà Petrovici tự tạo ra để được phép sửa đồng hồ tại Argentine :

– Chúng tôi chỉ nhận người có đạo Thiên chúa thôi. Ông đi khám nghiệm y khoa xong trở lại đây. Tuổi giới hạn là 40, ông hình như chưa quá 40. Với là chắc ông không bị tàn tật?

Người đàn bà nhìn giấy tờ. Toàn là đồ giả mạo hết, nhưng bà không hề biết. Petrovici nghĩ đến vài phân mét còn thiếu, nhưng ông ta thừa biết phải thóp bụng, nhón chân làm sao rồi. Ông ta nghĩ đến cái răng sâu, đến bàn chân phải không có lòng bàn chân và lo sợ hết sức. Nhưng người đàn bà nói:

– Những người thợ giỏi. Những người sùng đạo và khỏe mạnh. Đó là tiêu chuẩn của xứ Argentine. Ông hội đủ tất cả các điều kiện.

Petrovici lại khó thở, cố tìm không khí nào cho dễ thở. Ở trên cao có lẽ không khí trong sạch hơn. Ông ta ngẩng đầu lên. Trên thánh giá, Chúa Jésus đang nhìn vào đôi mắt Petrovici và hình như bảo : Chúa sẽ giúp đỡ cho những ai không có lòng bàn chân ở chân phải. Và giúp đỡ những ai cao không đầy 1m60. Ante Petrovici, con đừng sợ gì cả, bởi vì dù con theo Hồi giáo, Chúa cũng giúp đỡ người Hồi giáo như thường. Chúa ở bên cạnh con, ngay cả khi giáo hội của ta không thừa nhận con.

Petrovici bước ra ngoài mà không hề đi cà nhắc, đi như là ông ta không có một chân thấp hơn chân kia. Chúa đã nâng Petrovici lên một chút để cho người đàn bà đó không thấy Petrovici đi cà nhắc.

VII

Về đến nhà, Petrovici đã thấy Pillat trong phòng, Marie mặc áo cưới từ Francfort trở về một cách ô nhục. Họ kể cho Petrovici nghe về Kostaky và vụ mất cắp áo quần. Cầm một miếng biscuit nhai, Petrovici hứa hẹn :

– Chờ đây, tôi sẽ đi kiếm cho bà một cái áo và một đôi giày. Petrovici đi cà nhắc đến ngọn đồi trên cao của Stuttgart. Khu phố trên đồi là khu phố duy nhất không bị dội bom. Những biệt thự ở đó đã bị người Mỹ tịch thu và nhường lại cho người Do Thái còn sống sót ở trại tập trung. Đó là một xóm Do Thái bị quản thúc theo lối mới. Ở đó, hằng ngày tiêu thụ hàng triệu tiền marks. Mỗi đồ hộp vừa mới ở nhà hàng bán ra đều đã tung vào khu Do Thái đó, trước khi qua hàng chợ đen. Tất cả những tác phẩm nghệ thuật, vàng bạc, tất cả vật dụng có giá của Đức quốc phải đi qua khu phố đó trước khi đến Hoa Kỳ. Mỗi điếu thuốc của lính Mỹ phải qua khu phố đó trước khi đến tay người dân. Ở đây không thiếu gì cả. Một số người trở thành triệu phú trong vài ngày. Ở đây có cả áo lông, tranh ảnh nghệ thuật, thức ăn, trái cây ngoại quốc, thuốc lá. Điều duy nhất mà người Do Thái ở đây không được phép giữ đó là tiền đô la. Quân cảnh lùng bắt rất thường để tịch thu đô la. Nhiều triệu phú trong vài phút trở lại nghèo nàn như lúc vừa mới bước chân từ trại tập trung ra.

Petrovici bước vào nhà bà Salomon. Ông không biết bà Salomon nguyên là cô Eddy Thall, bạn thân của Lidia, vừa ở miền núi Oural đến, đã làm trong chương trình thay đổi khí hậu ở Sô Viết. Ông cũng không biết là đứa con của Salomon vừa mới bị giết ở Varsovie.

Không ai biết gì về hành tung của ông bà Isaac Salomon cả trừ chuyện họ là nạn nhân của chủ nghĩa phát xít và bà Salomon là một trong những người đàn bà giàu nhất khu Do Thái ở Stuttgart. Petrovici ngỏ ý :

– Tôi đến xin bà một cái áo cho vợ một người bạn vừa bị mất cắp và không còn gì để mặc nữa.

Bà Salomon mở va ly và trao cho Petrovici hai cái áo đã cũ. Trong phòng, chỉ có một giường nằm, hai ghế, một bàn gỗ với nhiều va ly chồng chất lên nhau.

– Tôi đã được di cư sang Argentine.

Bà Salomon chỉ bức ảnh một trang trại đặt trên đầu giường bảo :

– Tôi cũng sắp di cư. Đó là một trang trại tôi mua được ở Gia nã đại. Chúng tôi hy vọng sẽ khởi hành trong vài tuần nữa.

Trang trại có ngôi nhà hai tầng và nhiều phòng rộng.

– Isaac đang lo chạy áp phe. Chiều mai anh ấy mới về với số tiền cần đủ cho chúng tôi đi Gia nã đại. Chắc là lần áp phe chót của anh ấy đó. Sau đó chúng tôi sẽ đi xa và yên ổn sinh sống.

Petrovici biết là Motok cùng đi với Isaac Salomon để lén lút bán mấy chiếc cam nhông hàng hoá trong vùng Sô Viết, nếu họ không bị bắt họ sẽ giàu to. Petrovici muốn về, nhưng bà Salomon cản lại :

– Aurel Popesco sẽ đến đây. Ở lại đây chơi chút đã.

Salomon bắt đầu nói về trang trại của bà ở Gia nã đại qua bức ảnh. Nàng ăn mặc thật sang với toàn đồ trang sức đắt tiền, giày dép đều đắt giá và theo kiểu Mỹ.

– Tôi nóng lòng rời bỏ người Mỹ cũng như hồi xưa tôi muốn trốn thoát trại tập trung. Thật ra người Mỹ đã chiến đấu để giải phóng người Do Thái ra khỏi các trại tập trung và hủy bỏ chủ nghĩa chống Do Thái. Ngày chiến thắng đã đến rồi. Và chúng tôi lại được quản thúc trong khu phố này, được ăn ở miễn phí, được tự do làm gì thì làm. Chúng tôi có thể trở nên triệu phú nhưng vừa lúc chúng tôi kiếm được tiền là người Mỹ đến đây để tịch thu ngay. Isaac đã nhiều lần giàu có. Nhưng đều bị quân cảnh lấy không còn một xu dính túi. Chưa đủ, lúc mà một đô la đến tay người Do Thái thì nó không còn giá trị gì nữa cả. Người Do Thái chúng tôi không trả tiền để du lịch được, không thể mua nhà được vì họ cấm chúng tôi trả tiền bằng đô la; chỉ còn một cách là mỗi khi kiếm được tiền chúng tôi đem chôn đi.

Nhưng chúng tôi cũng kiếm cách để giải quyết nỗi lo ngại đó, bằng cách là chúng tôi chia đôi tiền có được với một người Mỹ nào đó để họ chuyển cho chúng tôi sang Gia nã đại. Vài tuần nữa chúng tôi sẽ bỏ khu phố này mà đi.

Vừa lúc đó thì Aurel Popesco và Varlaam đi vào. Bà Salomon dấu vội tấm hình trang trại, nhìn hai người vừa đi vào và nhận ra Varlaam ngay. Đúng là viên sĩ quan đã đến Bucarest đòi cư ngụ trong ngôi nhà của bà bị chánh phủ tịch thu, nhân danh những luật lệ về chủng tộc. Nhưng Varlaam không nhận ra bà Eddy. Bà cố nhắc :

– Hình như chúng ta đã gặp nhau rồi thì phải.

Varlaam nhìn thật kỹ và không thể nhận ra nổi. Bà Salomon chắc chắn:

– Tôi chắc là chúng ta đã gặp nhau một lần.

Nhưng sau đó, bà không nhắc câu nói đó nữa mà chỉ nghĩ “Mình già đến độ người ta không nhận ra nữa ư?” cũng với ý tưởng đó, nỗi buồn to tát xâm chiếm tâm hồn bà. Varlaam quả quyết:

– Tôi không nghĩ là chúng ta đã gặp nhau. Với lại trí nhớ tôi khá lắm.

– Thôi chả quan hệ gì. Nói về công việc thì hơn. Ông bạn Aurel Popesco có nói với tôi là ông muốn di cư, nhưng ông bị tất cả các phái đoàn từ chối. Tôi có thể cho ông một cơ hội để trở về làm phi công như cũ. Muốn thế ông phải ký hợp đồng với Israel. Ông sẽ gia nhập không quân Do Thái với cấp bậc cũ mà ông đã có, nghĩa là trung úy phi công. Với tiền lương đầy đủ cộng với phụ cấp công vụ. Hợp đồng có giá trị trong suốt thời gian có chiến tranh giữa Do Thái và Ai Cập.

Bà Salomon giải thích thêm:

– Thay vì phải ở lại Đức lén lút bán bơ và thuốc lá với viễn tượng mỗi ngày là sẽ vào tù với những tên du đãng, ông nên làm chiến sĩ thì hơn. Về phương diện tinh thần thì thật là một vinh dự khi chiến đấu để bảo vệ cho Thánh địa Palestine.

Nghĩ đến các nước bên kia Đại dương không thèm chấp nhận mình làm thợ đốn củi, hay là quét nhà, Varlaam đáp ngay:

– Tôi nhận lời.

– Nhận lời thôi chưa đủ. Ông phải ra đi ngày mai tức khắc.

– Chả có gì giữ tôi lại nơi đây cả.

Bà Salomon chỉ thêm vài thủ tục cần làm, phải đi đến văn phòng quân sự trước mặt để ký hợp đồng, hay chụp hình và may quân phục.

– Ông sẽ ra đi trong bộ đồng phục sĩ quan của Do Thái, nhưng đừng mang tên cũ nữa.

– Nhưng có cần đổi tên lắm không?

– Ông cần có một tên Do Thái, lúc mà ông mang quân phục Do Thái.

Để tôi kiếm cho. Ông thích tên David không, tên có vẻ chiến sĩ lắm đó. Tiếp theo là Ozias, tên hay đó, phi công David Ozias của không lực Do Thái.

Bà Salomon đưa cho Varlaam 500 đô la, như là tiền đặt trước. Trước khi đi, Varlaam sẽ nhận lương một tháng bằng đô la. Bà Salomon hỏi:

– Ông biết giá tiền trên thị trường chứ nhỉ? Nói vậy chứ về tiền tệ đổi chác chắc với ông là một việc lạ lùng. Hiện nay giá trị con người ở ngân hàng Mạc tư khoa là một con số không. Ở Nữu Ước cũng không hơn không kém. Các phái đoàn bên Đại Tây Dương đến Đức mua người với một giá rẻ mạt, rẻ hơn cả một vé tàu hạng ba trên tàu thủy. Vì thế mà họ mua theo kích thước và sức nặng rồi chở lên tàu như súc vật. Trước khi đi ông sẽ nhận hơn hai ngàn đô la. Như vậy là tại ngân hàng Tel Aviv nhân vị cao hơn hết. Tôi nghĩ là hiện tượng đó có được là vì Israel là một quốc gia có tín ngưỡng. Trong một quốc gia như thế thì con người còn một chút giá trị. Tiếc thay Israel là quốc gia sùng đạo duy nhất trên thế giới.

Varlaam đã muốn đi. Nhưng bà Salomon gạn hỏi:

– Nhìn kỹ tôi một lần nữa xem có nhận ra tôi không?

Varlaam nhìn mái tóc đã bạc, đôi mắt đã nhăn chung quanh và trả lời :

– Thưa bà, tôi chưa bao giờ gặp bà.

Bà Salomon ứa lệ, nhưng ráng vui :

– Đừng quên tên ông đó nghe, David Ozias.

Cùng lúc, nàng nghĩ “Mình đã già lắm rồi”.

°

Aurel Popesco bắt đầu nói chính trị như thói quen của ông ta.

– Trong vài ngày nữa sẽ có hội nghị của những quốc gia Âu châu bị Nga Sô chiếm đóng. Tôi đã cho người Hoa Kỳ biết rằng hội nghị đó là một biến cố chính trị hết sức quan trọng của thời đại này. Những lãnh tụ đảng Cộng sản Đông Âu muốn tách rời Nga Sô để thành lập một liên minh các nước Cộng sản quanh sông Danube. Chủ tịch liên bang sẽ là vị thống chế những người Slaves miền Nam. Mạc tư khoa đã biết rõ kế hoạch đó, và đã dùng Boris Bodnariuk trong công tác ám sát vị thống chế đó, trong lúc đó Hồng quân sẽ đổ bộ lên bờ Địa Trung Hải, có thể Hồng quân sẽ tiến đến Ý Đại Lợi. Tôi đã báo động cho Hoa Kỳ, và như thế không những tôi đã cứu Ý Đại Lợi và Vatican mà cứu cả nền văn hóa Tây phương; nhờ tôi mà quân đội Mỹ biết được đà tiến của Nga Sô. Chính tôi và ông bạn Milan Paternik đã có công cứu vớt Tây phương khỏi sự xâm lăng của Nga Sô.

Ante Petrovici chua chát:

– Ông bỏ thì giờ để cứu vớt một nền văn hóa và để giết người luôn thể. Ông giết người đã cứu nền văn minh, cứu văn hóa, cứu giáo hội ư? Hãy cứu người đi đã, và điều đó đáng hơn là cứu nhân loại. Bởi vì không có nhân loại, chỉ có người và con người mà thôi, ông bạn Aurel Popesco!

Nói xong, Petrovici cám ơn Salomon về hai cái áo, và ra về, ông ta đi cà nhắc hơn bao giờ hết.

VIII

Aurel Popesco thì cố giải thích cho bà Salomon vì sao các vị lãnh tụ cộng sản các quốc gia bị Nga chiếm đóng muốn chống đối Mạc Tư Khoa, vì sao Sô Viết sẽ giết thống chế những người Slaves miền Nam và lợi dụng cơ hội đó để tiến vào Đông Âu.

Trong lúc đó bà Salomon chỉ nghĩ đến trang trại của bà ở Gia nã đại. Bà lơ đãng nhìn ra cửa sổ thấy Varlaam ở văn phòng quân sự đi ra.

– Chính trị không liên quan gì đến tôi cả.

Nói xong, bà mời Aurel Popesco xuống lầu. Trời xẩm tối. Tất cả người Do Thái đều ra đường trước nhà. Trong tất cả khu phố của người Do Thái, đâu đâu cũng có hiện tượng đó. Lúc hoàng hôn xuống, người Do Thái nào cũng bỏ nhà, xuống phố để nghe ngóng tình hình. Sợ hãi đã thấm tận xương tủy. Cho nên trước khi vô nhà, gài cửa đi ngủ, họ phải ra đường để lấy tin tức về giá cả tiền tệ, về chính trị, về các phong trào chống Do Thái. Họ hỏi hết tất cả vấn đề để xem thử nên ngủ hay cần phải thức trắng đêm, để tính toán xem thử có gì đến với họ trong đêm, và họ có thể ngủ yên hay không. Aurel Popesco nhìn những người Do Thái đang tụm năm tụm ba trên đường phố. Bỗng nhiên xe cam nhông và xe quân cảnh Mỹ xuất hiện, bao vây khu phố. Bà Salomon giải thích:

– Họ lại đi kiếm đô la đó. Cứ mỗi tuần hai, ba lần, quân cảnh Mỹ xuất hiện nơi đây khi người ta báo cáo là có một vụ làm ăn mang lại khá nhiều đô la. Họ đến tịch thu hết đô la xong rồi lẹ làng chuồn đi. Ngoài đô la ra, họ không thèm để ý đến điều gì khác nữa.

Lính Mỹ đã bao vây một vài căn nhà. Bà Salomon nói tiếp:

– May mà Isaac không có nhà. Các vụ vơ vét đó đã làm chúng tôi điên đầu.

Cho nên ông thấy là tôi khoái bỏ đi lắm, chỉ khi nào đi khỏi đây chúng tôi mới sống tự do được. Isaac cũng thế, anh ấy không thể chịu đựng nổi. Đã nhiều lần họ lấy hết tiền của chúng tôi, lấy sạch sành sanh chẳng còn đô la nào cả. Bây giờ, họ có lên phòng tôi thì cũng chỉ tìm thấy áo quần dơ thôi.

Bà Salomon và Popesco đành đứng lại nhìn, không bước lên được, đường xá bị ngăn chặn hết.

– Chúng tôi sẽ được yên ổn ở Gia nã đại, ở đó chúng tôi có thể sống như bao nhiêu người khác.

Vào lúc đó có tiếng một vật gì lớn rơi xuống, đám đông la hét om sòm. Lính Mỹ tăng cường hàng rào ngăn chặn. Aurel Popesco nhón chân lên nhìn và bảo:

– Hình như có ai nhảy qua cửa sổ tự tử.

Đám đông vây quanh căn nhà có người tự tử, nhưng không ai đến gần được. Bà Salomon tái mặt, phải vịn vai Aurel Popesco.

– Tôi không còn chịu đựng nổi cảnh tượng này nữa. Giá mà tôi được rời khỏi nơi này càng sớm càng hay.

Xe hồng thập tự chạy đến, vài y tá đem xác chết lên xe. Mọi việc chỉ xảy ra trong vài phút.

Eddy Thall nhờ Aurel Popesco dẫn về phòng:

– Tôi kiệt sức rồi, không lên lầu một mình được nữa.

Họ rẽ đám đông đang bàn tán về vụ tự tử để trở về phòng.

Bà Salomon cảm thấy cái gì trơn ướt dưới chân. Thì ra bà đang đi trên vũng máu, đúng chỗ mà người chết vừa lao xuống. Eddy Thall muốn hỏi thử ai vừa mới tự tử, nhưng cặp mắt bà cứ trơ tráo nhìn vũng máu trên đường nhựa, vũng máu mà bà vừa bước chân lên, đôi giày hoa mỹ kiểu Hoa Kỳ đã dính máu. Vừa bước lên lầu, bà vừa thấy trước mặt hình ảnh vũng máu, chiếc xe hồng thập tự và đám đông đang vây quanh bà.

Một người Do Thái vừa nhảy qua cửa sổ tự tử, và điều đó xảy ra sau ngày chiến thắng. Vào lúc mà người Do Thái đã là sở hữu chủ những trái bom nguyên tử và viên giám đốc kỹ nghệ nguyên tử, Lilienthal, lại là một người Do Thái cùng quê hương với Lidia. Bà Salomon vẫn nói :

– May mắn là chúng tôi sẽ đi Gia nã đại.

Bà ta đã chóng mặt phải tựa lên tay Aurel Popesco mà đi. Bà muốn rửa đôi giày trước khi vào nhà để máu đỡ dính nền nhà.

– Ai tự tử đấy nhỉ?

– Tôi không biết. Người Mỹ chở ông ta vào nhà thương nhưng hắn chết rồi.

Vào phòng, bà Salomon nằm dài xuống giường.

– Làm ơn cho tôi thức gì uống, lạnh càng tốt. May là chúng tôi rời bỏ nơi nầy, từ giã cái xứ bạc bẽo nầy. Sung sướng mà đi được. Nếu Isaac có thể về sớm hơn được nhỉ? Nhưng mà Isaac chỉ trở về vào ngày mai khoảng 6 giờ và từ đây cho đến 6 giờ chiều mai, tôi phải ở đây một mình, cô đơn quá.

Bà khóc nho nhỏ. Qua làn nước mắt, bỗng bà thấy cái mũ của Isaac trên ghế. Bà mở to mắt ngạc nhiên. Rồi trên giường có cả áo choàng của Isaac đó nữa. Bà vùng dậy tưởng mình mê ngủ:

– Isaac về rồi hả? Anh ấy đâu rồi?

Cửa phòng xịch mở, và hai cảnh sát Do Thái bước vào. Bà Salomon hỏi:

– Isaac về rồi sao?

Hai người cảnh sát vẫn yên lặng. Bà Salomon nhảy chồm về phía họ với bộ áo vết trên tay, liên hồi hỏi Isaac ở đâu, nhưng hai người cảnh sát vẫn không trả lời. Họ bất động cho đến lúc bà Salomon ngả dài trên sân nhà với bộ áo của chồng bà còn trên tay. Hai người cảnh sát ẩm bà lên giường và giải thích:

– Tụi Mỹ ở lầu một, Isaac vội vã bước lên lầu. Rồi tụi Mỹ thấy ông ta bước vào phòng. Vài giây sau, ông ta lao mình qua cửa sổ.

Aurel Popesco hỏi:

– Nhưng mà đúng là Isaac hả?

Hai người cảnh sát cẩn thận nhìn lại bà Salomon đang bất tỉnh.

– Vâng, đúng là Isaac tự tử. Ông ấy là bạn ông? Hình như ông ấy có nhiều đô la và sợ bị tịch thu.

Hai người y tá vào phòng và bắt đầu đánh gió cho bà Salomon đang nằm sấp trên giường.

– Hình như Isaac Salomon bị mệt mỏi quá sức. Điều đó ông là bạn chắc ông hiểu rõ. Vâng, ông ta bị giao động quá mức, nên không thể trách ai về vụ này được. Đúng ra tụi Mỹ không có ý định khám xét nhà ông ấy. Họ rất ngạc nhiên về vụ tự tử này, và đã ngừng ngay cuộc bố ráp.

Trên giường, dưới người bà Salomon có cái cặp của Isaac Salomon đầy ắp cả đô la.

Hai người y tá lật bà nằm ngửa ra cho dễ chịu. Trước khi rời phòng, hai người cảnh sát nói với Aurel Popesco :

– Chào ông. Không phải lỗi của ai cả. Lỗi của người Mỹ lại càng không đúng mấy. Chúng tôi có chứng kiến vụ này. Ngay lúc mà Isaac nhảy qua cửa sổ, người Mỹ đã ngừng cuộc bố ráp.

IX

Nguồn tin của Aurel Popesco đúng ngắt. Vào buổi chiều Isaac tự tử, Boris Bodnariuk đã nhận được lệnh ám sát vị thống chế những người Slaves miền Nam.

Sau khi đã loại bỏ hẳn giai cấp trưởng giả, Boris Bodnariuk được thăng chức bộ trưởng bộ chiến tranh.

Hắn đến Niamtz vài ngày bằng phi cơ riêng do ông bạn phi công Anatole Barsov mà hắn đã làm quen trong bệnh viện lái. Phi cơ hạ cánh ở phi trường Piatra được thành lập trên khu đất của nhà Pillat và vườn rau của Ion Kostaky. Nhà Kostaky dùng làm văn phòng. Làng Piatra đã thay đổi rất nhiều. Bodnariuk lên xe hơi. Trước khi tạm biệt, hắn bắt tay Anatole Barsov và viên phi công phụ Igor Poltarev, cầu chúc cả hai vui vẻ.

Đường sá Piatra nay đã rộng rãi và lát gạch. Trong làng đã có một xưởng kỹ nghệ. Giữa thành phố Molda và làng Piatra có một nhà gạch lớn dùng làm nhà tù. Người ta cũng đã quốc hữu hóa đất đai. Đa số nông dân làm việc trong xưởng kỹ nghệ, ăn ở quán, chỉ về nhà ngủ thôi. Nhà của Piatra gần như bỏ hoang. Không còn khói thổi cơm mỗi chiều, vì nông dân từ xưởng về muộn vội vã đi ngủ rồi lại ra đi vào tảng sáng. Không còn ống khói trên nhà, không còn rào dậu quanh nhà. Chó mèo cũng vắng bóng, hoa cỏ hiếm hoi. Người cũng ít khi xuất hiện trong làng, trừ ngày chủ nhật. Ngay cả vào ngày nghỉ, họ cũng phải đến phường hội họp, nên nhà nào cũng vắng vẻ cả.

Xe Boris đã lên đến khu rừng thông. Boris hài lòng:

– Lần đầu tiên, nhờ Sô Viết mà con người không phấn đấu riêng rẻ cho đời sống. Cá nhân không còn lo âu cho ngày mai nữa. Bởi tất cả đều chung lưng làm việc. Thật là một công trình vĩ đại hữu ích cho con người. Thế mà họ lại chống đối. Cho nên lũ đó phải bị loại bỏ để cho cuộc cách mạng đầu tiên vĩ đại trong lịch sử có thể hoàn thành được.

Trong một biệt thự ở khu rừng thông, Boris phải soạn một bài diễn văn cho hội nghị các quốc gia Đông Âu. Và hắn được nghỉ ngơi ba ngày, trong cái yên tĩnh của khu rừng. Boris quấn chặt khăn cổ, gài nút áo, chui vào mền đắp kín chăn. Chưa bao giờ hắn được nghĩ ngơi. Đây là lần đầu tiên dưỡng sức trong đời. Trong ba ngày, hắn được ở một mình trong núi rừng yên tĩnh.

Trong lúc đó thì Anatole Barsov và Igor Poltarev nghỉ ở trong làng Piatra, thong thả uống rượu Vodka.

Barsov được xa vợ ít hôm là một điều hạnh phúc, bởi vợ hắn cãi vả suốt ngày làm hắn đâm ra chán nản. Hắn không trách gì Olga, chỉ nghiệt là bà ta cứ kiếm chuyện rầy la hắn mãi. Vợ hắn như là chong chóng, quay mãi không bao giờ ngừng. Igor mở chuyện:

– Tối nay mầy sẽ không cãi cọ với Olga nữa đâu. Không tối nay và không tối nào nữa cả. Bà ta chỉ còn cãi vả với mấy bức tường, vì chúng mình sẽ đi tối nay.

– Đi đâu mầy?

– Như là tụi mình đã định. Đã có đủ xăng. Bay từ sân bay Piatra này thì cũng dễ như ở Bucarest. Xăng có đó, tao sẽ chỉ cho mầy xem.

Barsov nhớ rõ từng câu nói của họ mấy tháng trước. Một hôm, cả hai cùng đi công tác chung. Poltarev đã từng đi công tác ngoại quốc. Hắn biết rõ Luân Đôn, Ba Lê, Nice, Bá Linh… kể chuyện xong, Poltarev hỏi thẳng Barsov:

– Mầy muốn trốn với tao sang Mỹ không?

Barsov giận dữ:

– Tao không muốn làm một kẻ phản bội.

– Tao cũng thế, tao không phải là kẻ phản bội. Tao đặt vấn đề cho mầy xem trước đã. Mầy không đồng ý với vợ mầy và với cấp chỉ huy mầy ở không đoàn. Mầy là bạn của ông bộ trưởng Bodnariuk, đúng đấy, nhưng hắn ta bận việc hoài không bao giờ nói chuyện với mầy cả. Tao hỏi mầy thử mầy có muốn lấy máy bay trốn đi, xa Olga, xa không đoàn, xa nợ nần, xa luôn cả chương trình hằng ngày không? Xa tất cả. Bay sang một xứ xa lạ nào đó, tự do làm giàu, không còn ràng buộc vợ con, cấp chỉ huy.

Barsov nhớ rõ mồn một câu chuyện đó: «Tao thì nghĩ mãi vấn đề này, Poltarev nói tiếp, tưởng tượng là tao lên máy bay với người bạn thân đi đến một nơi nào xa lạ. Nghĩ thế và tao thấy được một viễn ảnh đẹp nhất đời tao như là lúc uống rượu, tắm nắng».

– Mầy không hiểu đó là những giấc mơ phản động sao? Tao sẽ tố cáo mầy lên cấp chỉ huy.

– Mầy là bạn thân của tao, mầy không tố cáo tao đâu.

– Nhưng trước tiên tao là một người lính và một công dân Sô Viết, bạn mầy chỉ là điều thứ yếu.

– Mầy sẽ không tổ cáo tao, không có gì xấu xa trong câu chuyện tao nói với mầy cả. Tao biết mầy cũng ước mơ được ra đi trên một chuyến bay đến tận cùng thế giới. Phi công nào cũng mơ ước như thế.

– Tao có mơ ước chứ, cũng mơ ước bay thật xa, nhưng cùng lúc đó, tao cũng mơ ước trở về, đáp trên mảnh đất Sô Viết mà tao yêu mến và nguyện trung thành.

Poltarev bình thản nói thêm:

– Tao cũng thế, tao thích trở về trên mảnh đất Sô Viết, bởi vì tao cũng trung thành và yêu mến tổ quốc nhưng mầy phải công nhận là sau những giờ bay trên nền trời xanh thẩm, lúc mà tất cả đều ở dưới chân mầy, thì thật là khổ tâm nếu phải trở lại trái đất, chịu đựng những cặp mắt xoi bói của tên chỉ huy trưởng vì mầy không gài nút áo đàng hoàng.

Poltarev khéo nói lắm:

– Mầy thấy chưa, trở lại trái đất là một điều khổ tâm cho một người phi công. Trái đất xấu xa, chật hẹp và dơ bẩn. Trái đất không giống bầu trời tí nào cả. Sau mỗi lần bay, tâm hồn mầy sẽ bực bội với ý nghĩ là sẽ trở về trái đất trong một căn hầm, trả nợ, làm tiền, thi hành những mệnh lệnh ngu xuẩn, cãi vả với chỉ huy trưởng, với bà mẹ vợ và vợ mầy, chịu đựng những mỉa mai của bạn bè. Trở lại với tất cả những điều đó thì chán lắm, nhất là sau khi đang bay bổng trên trời mà mầy làm chủ hết mọi việc, mà các ngôi sao nở trên vai mầy như là huy hiệu thống chế. Thành ra mầy không thể không có cùng những ý nghĩ như vậy. Tất cả phi công nào cũng mơ ước như thế cả.

Bây giờ ngồi trước Poltarev, Anatole Barsov nhớ rõ mồn một buổi nói chuyện hôm đó, sở dĩ thế là vì từ sáu tháng nay hắn cũng nghĩ nhiều về điều đó, nghĩ về từng câu nói trao đổi giữa hai bên. Hắn đã trả lời Poltarev như thế này: «Trên quan điểm của mầy thì mầy có lý lắm, nhưng chúng mình trước tiên là những công dân Sô Viết, thứ đến mới là phi công chứ».

Cuội nói chuyện chấm dứt ngang đó, sau này lại chính Barsov đã khơi mào trở lại câu chuyện :

– Mầy biết là tao cũng muốn lái máy bay trốn đi, với một người bạn và không bao giờ trở lại không đoàn nữa.

Poltarev hỏi lại cho chắc ăn :

– Mầy nghĩ là nên làm thế hả?

– Vâng, tao nghĩ đến điều đó mỗi tối, và tao phải công nhân đó là những giờ phút đẹp nhất trong ngày.

– Đúng là mầy đã tìm thấy một thứ hạnh phúc trên đời. Dạo này mầy it uống rượu và mập ra, ít cáu kỉnh. Người ta bảo một giấc mơ cũng làm cho cuộc đời êm đềm hơn.

– Nếu ai nghe chúng mình nói thế, cả hai đều bị bắt mất. Chúng mình sẽ bị khổ sai chung thân, vì điều nầy quan hệ lắm.

– Mơ mộng mà cũng bị tội nặng sao?

– Tất cả tội ác và phản bội đều bắt nguồn từ giấc mơ. Vì thế mà đồng chí Boris Bodnariuk đã bảo là giấc mơ cũng bị trừng phạt nặng như hành động. Từ giấc mơ qua sự thật chỉ có một bước ngắn ngủi, nên công lý phải trừng phạt giấc mơ cũng như hành động, phải trừng phạt tội ác trong giấc mơ và tội ác đã phạm ngang nhau. Vả lại, tao nhận thấy là công lý Sô Viết đã bắt đầu làm như thế rồi. Cho nên, trong lúc mơ mộng tao có cảm tưởng là đã phạm trọng tội.

Poltarev thúc giục:

– Nếu vậy thì mầy có đủ can đảm thực hiện điều đã mơ ước không nghĩa là leo lên máy bay và lái đi xa?

– Không, không bao giờ tao phản bội.

– Nhưng nếu mầy đã mơ ước thì có ngày mầy sẽ hành động, đã phản bội trong giấc mơ thì có ngày sẽ phản bội trong hành động.

Cuộc cãi cọ đã đến hồi gay gắt. Barsov dọa sẽ trình lại với Boris. Poltarev khéo léo nói :

– Nhưng, mầy cũng phải khai trước tòa án là mầy đã mơ ước trốn đi mỗi tối, phải khai là mầy mơ ước làm sao đánh cắp một chiếc máy bay để đào ngũ. Và khai như thế có nghĩa là thế nào mầy biết không? Đào ngũ bằng tưởng tượng nhưng chưa thực hiện vì thiếu phương tiện. Quan toà thừa biết là nếu mầy đã đủ xăng nhớt, mầy sẽ thực hiện giấc mơ ngay. Và họ sẽ kết án mầy như tao.

– Không, tao không phải là kẻ phản bội. Mầy là một thành phần nguy hiểm. Tao không tố cáo mầy, nhưng tao tránh không nói chuyện với mầy nữa kể từ chiều nay. Tao không muốn phản bội.

Poltarev lại bào chữa:

– Không phải là một điều phản bội. Đó là chuyện thường tình của một phi công. Phi công thường mơ ước bay thật xa. Cho nên không thể cho điều đó là phản bội đất nước Sô Viết. Ông bạn Barsov ơi, đó là lòng trung thành của phi công với trời cao. Phi công chúng ta gần với trời cao hơn. Nếu bảo chúng ta phản bội thì tất cả phi công đều phản bội cả vì phi công nào cũng mơ ước như thế. Vài phi công mơ ước bay xa, họ phản bội không riêng gì quê hương mà phản bội tất cả trái đất. Và dĩ nhiên, trời xanh thì đẹp đẽ, còn đất thì dơ bẩn và xấu xí. Vì vậy nên tại sao mầy là một phi công thực thụ, mầy sẽ bay xa với tao. Hơn nữa, mầy cũng thích xa hoa, tiền bạc, âm nhạc, đàn bà, tất cả những gì đẹp đẽ, mầy sẽ bay với tao để thực hiện giấc mơ mỗi tối của mầy.

Barsov giận dữ:

– Để thực hiện giấc mơ phản quốc?

– Tao cũng yêu tổ quốc chứ, đi đâu thì tao cũng yêu nhớ về tổ quốc. Nhưng tao sẽ đi với mầy như tao đã từng mơ ước. Tao sẽ tổ chức đời sống của tao tùy theo sở thích. Tao muốn biết các nước khác như thế nào, tao muốn có tiền, muốn nhảy đầm, nghe nhạc, có người yêu trẻ đẹp, lịch sự. Và chuyện đó có phải là chuyện phản bội đâu.

– Mầy không phải là công dân Sô Viết, mầy là một tên phản quốc.

– Tao đã trữ 100 lít xăng. Lúc nào tao có đủ, tao sẽ cho mầy biết. Tao sẽ gọi mầy, mầy nhớ đến ngay.

Tối đó, Barsov không tố cáo Poltarev, ngày sau cũng thế. Nếu gặp lại Boris thì hắn đã kể hết, nhưng Boris đã đi xa. Barsov không thể thổ lộ với ai cả. Vài ngày sau, Poltarev bảo:

– Chúng ta sắp đi rồi. Tao rất mừng là mầy đã nhận lời. Bay với người bạn thân thì thích lắm. Với lại tao cũng không thể bay một mình được.

– Ô hay, tao đã nhận lời gì đâu.

– Mầy không tố cáo tao dù mầy đã thấy tao trữ nhiều xăng có nghĩa là mầy nhận lời trốn đi với tao. Bây giờ, tố cáo tao thì cũng trễ rồi. Nếu mầy tố cáo tao, mầy cũng sẽ bị bắn.

Poltarev cười to, và khuyên Barsov lấy xăng thêm nữa. Barsov vẫn từ chối. Hắn vẫn vừa suy nghĩ vừa nhìn những ngôi nhà vắng vẻ ở Piatra, rồi uống thêm một ly rượu. Poltarev vội thu chai rượu đi.

– Đừng uống nữa. Vài giờ nữa phải đi rồi. Tất cả đều sẵn sàng. Tao đã có đủ xăng.

– Nhưng tao không muốn đi, tao muốn chết hơn là phản bội.

Poltarev chỉ máy bay đậu trên sân và nói:

– Từ chối bây giờ thì quá chậm. Ở bên kia, hạnh phúc đang chờ chúng mình. Mầy biết là phi công lương tháng bao nhiêu ở Mỹ không? Hơn cả tiền mình kiếm được ở đây một năm. Và nếu mầy biết là cuộc đời ở đó đẹp lắm, chắc mầy sẽ cám ơn tao nhiều.

– Nhưng tao không nhận lời phản bội.

Barsov vừa nói vừa nhìn chiếc phi cơ và lập lại:

– Tao không thể phản bội được.

– Tao đã giấu xăng trong mấy hộp thức ăn ở hầm máy bay. Có đủ để bay xa rồi.

– Nhưng nếu tụi Mỹ bắt hai đứa mình và trả lại cho Sô Viết?

– Thôi đừng sợ nữa. Tao bảo đảm với mầy là tám ngày nữa tụi mình đã ở trung tâm Nữu Ước với thuốc lá trên môi và túi đầy ắp tiền.

– Mầy bảo đảm thế à? Làm sao mầy chắc chuyện đó được?

– Bởi vì tao đã ở ngoại quốc và tao biết chuyện rõ lắm rồi.

Cả hai cùng yên lặng ngắm chiếc máy bay. Barsov nghĩ đến Olga và nói:

– Tao đi với mầy.

– Nếu có chuyện gì xảy ra tao tự tử. Và thế là đúng lắm. Một kẻ phản quốc phải chết. Tao đã là một kẻ phản quốc, phản quốc từ ngày đầu tiên tao bằng lòng nói chuyện với mầy cách đây sáu tháng.

Và hai giờ sau họ bước lên máy bay thì Barsov mới cảm thấy sung sướng. Hắn ta nói với Poltarev:

– Tao sung sướng đã trốn đi thế này, như chưa bao giờ sung sướng thế.

– Hạnh phúc sẽ có trong tương lai. Cuộc đời chỉ mới bắt đầu thôi. Mầy không hiểu là đời đẹp lắm đấy. Mọi người mơ ước được bỏ đi. Mầy có may mắn lớn lao đã được đi như mầy đã từng mơ ước.

Thế là chiếc máy bay của ông bộ trưởng chiến tranh Boris Bodnariuk của Lỗ ma ni hướng về phương Tây, phía Áo quốc. Barsov bảo: «Đây là giờ trọng đại nhất của đời tao». Bởi vì lần đầu tiên trong đời phi công, hắn mới cảm thấy hắn bay thật sự bay trong tự do, như những con chim bay theo ý muốn – Một chuyến bay thực sự.

X

Bốn giờ sau cuộc đào ngũ của hai phi công đó, Boris vẫn không hay biết gì cả, bởi vì Boris vẫn còn nằm trong biệt thự trên đồi thông. Cho dù có giường nệm êm ái, hắn vẫn không thể ngủ được. Hắn còn phải thảo bài diễn văn phải đọc trước hội nghị Bucarest nhân lễ kỷ niệm nữ anh hùng Tinka Neva và sự thành lập liên ban các nước cộng hòa nhân dân Sô Viết quanh sông Danube. Không chịu nổi tiếng tích tắc của đồng hồ, hắn đứng lên cho đồng hồ dừng lại. Nửa đêm, bỗng có xe đậu lại trước biệt thự, hai vị đại tá Sô Viết đi vào, Boris đoán là có việc hệ trọng xảy ra. Một người bảo ngay:

– Sô Viết lại bị phản bội một lần nữa. Thống chế những người Slaves miền Nam từ chối không đến Bucarest để dự hội nghị các nước cộng hòa nhân dân quanh sông Danube, hắn vẫn ở yên trong dinh có hai trung đoàn canh gác. Trong vài ngày hắn sẽ hủy bỏ hòa ước với Sô Viết.

Boris giận run lên. Hắn đã thông báo cho Mạc tư khoa bao nhiêu lần về việc thống chế những người Slaves có liên lạc với Tây phương, về việc ông ta bỏ hội nghị liên bang để xa rời hẳn Sô Viết và liên hiệp với các nước tư bản. Boris thừa biết là việc phản bội này không phải vì tiền cũng như vì dị biệt ý thức hệ, mà chỉ vì vị thống chế đó là một kẻ kiêu ngạo, hắn muốn trở thành quan thầy, một kẻ độc tài. Trong khuôn khổ các nước cộng hòa của liên bang Sô Viết, điều đó không thể nào có được, nên ông ta phải đánh ván bài Hoa Kỳ vậy.

Người Mỹ đã hứa với ông ta (với điều kiện là ông ta đoạn giao với Sô Viết) là sẽ để cho ông ta làm chủ tịch liên bang các nước Lỗ, Bảo Gia Lợi, Hung Gia Lợi, Nam Tư, Albanie, Áo Quốc. Và lúc ông ta đã được bảo đảm trở thành quan thầy nhờ người Mỹ, ông ta đã phản bội. Boris vừa mời nước vừa cáu kỉnh nói:

– Tôi đã chắc là tên thống chế đó sẽ phản bội. Hắn với tôi là bạn thân, nhưng ngày mà tôi thấy hắn nuôi con chó trong nhà một cách đam mê, tôi biết chắc hắn sẽ phản bội trong tương lai. Người nào có đam mê một điều gì đương nhiên sẽ là một kẻ phản bội. Người nào đam mê một con chó không thể là một người cộng sản. Với lại, hắn ta còn có một đời sống quá xa hoa. Hắn mặc y phục còn sang hơn cả Goering. Khăn choàng viền vàng, áo quần bảnh chọe, biệt thự huy hoàng. Cho nên đương nhiên là có ngày hắn sẽ phản bội. Hắn đã phản bội giai cấp công nhân. Chỉ cần nhìn bộ áo và con chó là biết ngay hắn sẽ phản bội. Mỗi lần tôi trông thấy con chó của viên thống chế đó, tôi muốn rút súng ra bắn chết con vật trước mắt hắn. Tên đảng viên cộng sản gan dạ đó chỉ vì con chó mà phản bội, bởi vì các đam mê khác sẽ tiếp theo cái đam mê đầu tiên là lòng yêu thích con chó.

– Mạc tư khoa muốn đồng chí đến xứ Slaves miền Nam. Tên thống chế đó phải bị bắt hay bị giết trước khi hắn công bố kế hoạch phản bội.

Ông đại tá kia nói tiếp:

– Chúng ta hiện có năm sư đoàn trong nước, ngày mai nhiều sư đoàn khác từ Lỗ ma ni, Áo Quốc và Hung Gia Lợi sẽ vượt sông Danube. Đồng chí có quyền sử dụng một phi đội đã sẵn sàng. Tùy theo nhu cầu, chúng tôi có thể điều động số máy bay mà đồng chí yêu cầu. Mạc tư khoa muốn đồng chí có mặt ở biệt thự tên thống chế đó. Ngay trong biệt thự đồng chí có sẵn một tiểu đội cảnh sát, một tiểu đoàn nhảy dù và một phân đội nghĩa quân Albanie mà đồng chí có thể tin cậy được. Tất cả đều đã được huấn luyện kỹ càng và sẽ đột nhập vào biệt thự. Tôi sẽ cung cấp đầy đủ chi tiết của kế hoạch lúc đi trên máy bay. Mạc tư khoa rất tin tưởng khi trao nhiệm vụ này cho đồng chí. Tên thống chế đó là bạn thân của đồng chí, hắn chưa hề nghi ngờ gì đồng chí cả. Dù sao hắn ta phải bị bắt hay bị ám sát trong 48 giờ tới đây, nghĩa là trước khi âm mưu phản bội của hắn được công khai hóa.

– Tên thống chế đó biết là đồng chí sẽ đến thăm hắn ngày mai, và hắn đã xác nhận trên đài phát thanh là hắn đang chờ đồng chí. Đồng chí là con người duy nhất có thể vào được cái ổ đó để giết con rắn độc. Bây giờ phải hành động gấp.

Boris vội vã mặc áo, vừa nghĩ thầm: «Một người cộng sản thực sự không được có một đam mê nào cả, phải vươn lên khỏi đời sống nô lệ, nhất là không còn bản năng bảo thủ. Phải hy sinh đời sống của chính mình cũng dễ dàng như hy sinh một chiếc áo, một ống điếu, vì tất cả đều thuộc về Sô Viết, kể cả mạng sống.

Boris suy tính về chương trình loại bỏ tên thống chế. Trong gian nhà bên cạnh, hai đại tá đang đùa giỡn với con ở, Boris bực mình. Hắn ghét đàn bà, vì đàn bà có thể là một đối tượng đam mê của người cộng sản, đàn bà vốn là kẻ thù của hắn, của đảng và của Sô Viết. Bỗng một người dừng trước cửa, đưa cho Boris một điện tín:

«Phi cơ của đồng chí đã vượt biên giới và đáp xuống khu vực người Mỹ ở Đức. Đào ngũ có tính toán trước của hai viên phi công Igor Poltarev và Anatole Barsov. Xem lại các tài liệu có bị mất hay không.»

Boris xé bức điện tín và đốt đi. Hắn muốn bình tĩnh nhưng không thể được. Vốn đã căm thù kẻ phản bội nhưng chưa bao giờ hắn ghét kẻ phản bội bằng đêm nay. Hắn mơ ước có một điều là bóp cổ viên thống chế có con chó nuôi trong nhà để trả thù cho tất cả những vụ phản bội từ trước và sắp xảy ra, từ Natacha đến Barsov, Poltarev và mọi người.

Và chính với bầu máu nóng đó mà hắn bước lên máy bay cùng hai tên đại tá Nga Sô. Họ cùng bay về biệt thự tên thống chế phản bội, bay đến ổ rắn độc. Lúc máy bay cất cánh từ phi trường Piatra, Boris nói:

– Tôi muốn là chỉ một viên đạn sẽ giết một lúc tên thống chế và con chó của hắn.

XI

Vài ngày sau hôm Isaac Salomon tự tử, bác sĩ Ante Petrovici đến nhà Daniel Motok. Ông này bảo :

– Tôi mới bác sĩ đến đây để nhờ một việc. Tôi buôn lậu với Isaac Salomon, bây giờ cảnh sát đang truy tầm, thế nào tôi cũng phải đi. Nếu Gia nã đại, Úc, Argentine nhận tôi thì tôi đã không đi buôn lậu. Bây giờ nếu tôi bị bắt, tôi bị năm năm tù. Hôm nay tôi phải trốn qua Hoa Kỳ trong hai giờ đồng hồ nữa và mong bác sĩ giúp cho tôi.

Phòng Motok đã sắp đặt có thứ tự. Một va ly để trên giường và chiếc tủ gỗ lớn ở đằng sau cửa. Motok nhìn đồng hồ và bảo :

– Họ đã mời tôi trình diện nhiều lần rồi, nên họ có thể đến đây bất cứ lúc nào. Tôi có biết là lính Mỹ có quyền gởi về nhà những chiến lợi phẩm lấy được ở Âu châu. Họ có toàn quyền gởi bất cứ thứ gì để ghi lại chiến công của họ trong cuộc thánh chiến giải phóng Âu châu, để trang hoàng nhà cửa. Và tôi đã tạo được một kiện hàng này.

Motok chỉ một cái két mới nguyên có đề tên : Bà Blanche Schmith New York City N.Y.

– Tôi sẽ chui vào két này. Người lính Mỹ John Schmith khoảng sáu giờ sẽ đến đây nhận kiện hàng và gởi ra phi trường. Tôi nằm ở trong, nhưng bên ngoài sẽ có chữ chiến lợi phẩm. Nếu tôi không bị chết ngột lúc đi đường thì tôi sẽ đến Hoa Kỳ an toàn. Lúc tôi đã chui vào trong, xin nhờ ông đậy nắp kỹ càng và giao gối hàng này cho John Schmith. Khi hắn đã mang lên xe Jeep xong, ông giao cho hắn ta năm trăm đô la. Tôi chỉ nhờ ông từng ấy việc.

Búa, đinh và đô la đã để sẵn trên bàn. Motok chờ bác sĩ Petrovici trả lời. Ông này hỏi lại :

– Người lính Mỹ có biết là ông nằm trong két không?

– Không, hắn ta nhận các điều kiện sau đây: Tôi cho hắn năm trăm đô la để trả tiền cước chuyên chở, kiện hàng không được nặng quá 500 kg và không được chứa đồ quốc cấm, một người nào đó phải mang kiện hàng từ nhà ra đến xe Jeep. Tôi đã hứa với hắn là tôn trọng tất cả điều kiện trên. Sáu giờ hắn sẽ đến đây. Bà Blanche Schmith là mẹ hắn, nhưng kiện hàng này sẽ đến phi trường Nữu Ước và có người đến nhận ngay.

– Như vậy anh tự xem như là chiến lợi phẩm mà lính Mỹ có quyền gởi về nhà trong trận thánh chiến ở Âu châu?

– Những két chiến lợi phẩm không bị mở ra kiểm soát ở phi trường. Sự kiểm soát hoàn toàn bằng quang tuyến X, tụi Mỹ biết ngay thứ gì ở trong.

– Nếu vậy thì vô lý và nguy hiểm cho anh lắm. Anh quên rằng thân thể con người có chất kim khí và chất mà quang tuyến X có thể thấy được sao? Thân người có bộ xương. Cảnh sát sẽ trông thấy bộ xương anh, dù họ không nhìn được tim, máu cùng nổi tuyệt vọng của anh, mà họ chỉ cần nhìn bộ xương thôi, tất cả những gì còn lại nghĩa là thịt, máu, bộ óc, da con người không quan trọng gì đối với họ cả. Cảnh sát không đánh giá con người ở các thứ đó. Chỉ có bộ xương là quí thôi. Họ sẽ khám phá ra bộ xương sống, xương hàm, xương đầu của anh. Chính quyền sẽ không nhìn thấy trái tim anh, tôi đồng ý, nhưng cảnh sát nhờ dụng cụ tối tân để nhìn được bộ xương anh trong kiện hàng, và không bao giờ họ cho anh lên máy bay. Một bộ xương người không thể nào vượt qua biên giới được.

Motok mở nắp két ra, ở bên trong được lót một lớp giấy thiết lấy từ các gói thuốc lá và chocolat:

– Bộ xương của tôi sẽ được thứ giấy nầy che chở ông khỏi lo. Ante Petrovici đành yên lặng. Motok nói tiếp :

– Két nầy do tôi làm lấy. Tôi có trữ đủ cà phê, sinh tố và rượu Cognac, nghĩa là có đủ cho một cuộc hành trình. Kiên nhẫn thì tôi có thừa, chỉ cần một ít may mắn nữa mà thôi. Tôi nghiên cứu kỹ kế hoạch nầy từ nhiều tuần nay rồi. Ý nghĩ nầy xuất hiện khi tôi đọc báo thấy một thiếu nữ đi Hoa Kỹ bằng cách trốn trong một kiện hàng. Nhưng trước khi máy bay cất cánh, cô ta ngột thở và phải kêu cứu.

Petrovici chán nản:

– Tôi không nhận giúp anh. Tôi không thể làm điều anh yêu cầu được. Giả tỉ anh đến Hoa Kỳ mà anh còn sống và không bị phát giác dù là điều nầy khó xảy ra được, thì anh sẽ làm gì ở Nữu Ước? Chỉ vài giờ sau anh sẽ bị bắt và cho hồi hương ngay. Hoa Kỳ đã cho hồi hương hàng triệu người di cư một cách bí mật. Ngày nào cũng có tàu chở loài người đó rời bến tàu Mỹ đi về phía Âu châu. Sau bao nhiêu cố gắng, anh sẽ bị đưa xuống tàu có kẽm gai bao quanh và trở về nhà lại. Bao nhiêu tàu như thế đang đi trên đại dương, đang chở tù nhân bồng bềnh trên nước để đi về phía Âu châu. Từ ngày chiến thắng, tù nhân không những ở trên đất mà còn ở trên mặt biển, trên đại dương nữa. Anh có muốn trốn một nhà tù trên đất liền để bị nhốt trong hầm giam nổi trên nước?

– Ông từ chối thì thật tôi khó xử quá. Ngoài ông ra tôi không còn nhờ ai đóng đinh trên nắp két nầy được nữa. Bạn bè tôi biến mất hết rồi. Isaac Salomon thì đã tự tử. Varlaam đã đi Palestine rồi. Aurel Popesco đã trở thành một công chức cao cấp không thể nào gặp được. Pillat thì quá đa cảm, không nhờ việc nầy được. Tại sao bác sĩ nỡ lòng từ chối?

– Bởi vì, đối với tôi việc nầy đồng nghĩa với tự tử. Tôi không thể hoàn thành việc làm như thế được. Motok, anh tha thứ cho tôi. Tôi cảm thấy thương hại cho con người, không những chỉ riêng anh, riêng tôi, mà xót thương cho tất cả con người đã bị đẩy đến những giải pháp tuyệt vọng như thế. Không những riêng chúng ta, trên hoàn cầu, có hàng trăm triệu người phải nghĩ đến lối thoát tuyệt vọng cuối cùng như anh. Anh nghĩ lại xem, hàng trăm triệu người như thế. Nghĩa là một nửa dân số Hoa Kỳ, hai lần dân số nước Pháp, toàn là những người lang thang, tuyệt vọng, mất hết quyền sống. Chưa bao giờ có một giai cấp vô sản như thế hiện hữu trên thế giới. Chúng mình là những kẻ vô sản đau đớn nhất trên trái đất. Chỉ vì những hiệp ước, hội nghị giữa Tây phương với Quốc xã, với Sô Viết sau đó, mà hiện giờ có hàng trăm triệu người cù bơ cù bất trên khắp nẻo đường đang đi kiếm một lối thoát cuối cùng trong tuyệt vọng. Cho nên tôi không có can đảm để giúp anh một việc như thế.

Trước khi bỏ ra về Ante Petrovici nói tiếp:

– Cũng có thể chính quyền sẽ cho phép gởi kiện hàng nầy đi cho dù họ khám phá ra bộ xương ở trong đó. Bởi vì những người lính can đảm có thể gởi về nhà những chiến lợi phẩm như là một chiếc gươm, một bộ áo, những hạt nút của địch quân bị ngã gục để trang hoàng nhà cửa thì tại sao họ không có thể gởi về một chiếc sọ hay một bộ xương người như là một chiến lợi phẩm? Gởi như thế lại càng chứng tỏ lòng can đảm tột độ của họ đối với cha mẹ hay người yêu của họ chứ sao. Chiến lợi phẩm thường hay được gởi về tổ quốc nhất là những sợi dây người lính dùng để treo cổ các tướng lãnh của quân thù. Đã thế tại sao họ lại không gởi những bộ xương cho tiện việc. Vì thế anh có thể không bị ho phiền hà gì trong chiếc hòm bay đó vì họ xem anh như một chiến lợi phẩm. Rất có thể tôi đã bị lòng căm hờn chi phối nhiều quá. Motok, anh tha lỗi cho, tâm hồn tôi đã quá nhiều lần nổi loạn.

Motok nhìn đồng hồ bảo :

– Nếu ông không giúp tôi, tôi đành kiếm người khác vậy. Tôi phải vào trong hòm nầy trước 6 giờ. John Schmith sẽ đến đây đúng 6 giờ.

XII

Ante Petrovici từ chối không đóng đinh vào chiếc thùng đựng Motok. Nhưng anh chàng nầy đã nhờ được một người bạn khác làm công việc đó. Đúng 7 giờ sáng chiếc thùng có Motok ở trong đến phi trường, được đặt cạnh chiếc máy bay đi Nữu Ước, cùng với các kiện hàng chiến lợi phẩm khác. Không ai khám phá được Motok đang ở trong, hắn lắng tai nghe được tiếng chong chóng quay, tiếng hành khách nói chuyện với nhau.

Hai người đàn ông đến gần thùng đựng Motok, họ nói với nhau bằng tiếng Nga. Motok đoán họ cũng là những hành khách bắt buộc như mình, nên hắn lắng nghe xem họ nói những gì. Một người tên là Igor và một người tên là Anatole Barsov. Hai người nầy đang cãi cọ với nhau. Theo dõi câu chuyện, Motok mới biết họ là hai phi công Sô Viết đã đào ngũ và những người Mỹ đang chở họ về Hoa Kỳ. Igor bảo:

– Mầy thật ngu độn. Nếu mầy cứ tiếp tục nói với tụi Mỹ là mầy trốn đi không vì những lý do chính trị thì tụi hắn sẽ trả mầy về nhà mầy ngay.

– Nhưng tao không thể nói dối được.

– Nhưng ít nhất mầy cũng phải nói những gì mà tụi Mỹ thích chứ. Bởi vì người Mỹ không cần những sĩ quan Sô Viết trốn qua xứ họ vì đã cãi nhau với vợ hay vì không thể trả hết nợ được. Người Mỹ nhận chúng mình và hậu đãi như những ông hoàng bởi họ cho là chúng mình trốn đi vì thù ghét chế độ. Cho nên thay vì nói với báo chí về những tàn bạo của Staline, của Boris, của cả chế độ cộng sản, mầy cứ lập lại như một thằng ngu là suốt ngày mầy cãi với vợ con, với cấp chỉ huy không đoàn và mầy đã bị thương ở chiến trường như thế nào. Mấy chuyện đó không liên hệ gì với tụi Mỹ cả, họ muốn mầy nói về Staline hơn.

– Tao không biết gì về Staline cả. Tao cũng chưa bao giờ thấy ông ta nữa, làm sao mầy bảo tao kể chuyện ông ta được.

– Thì mầy cứ bảo với họ là mầy có thấy Staline trong một cuộc duyệt binh, thấy ở đằng xa, rằng không ai có thể lại gần ông ta vì chung quanh toàn là lính gác người Caucase cao đến hai thước và trang bị vũ khí đầy đủ. Như là tao đã bảo với họ như thế. Mầy không để ý là tụi Mỹ thích những câu chuyện như thế lắm sao.

– Tao không thể làm như thế được.

– Thì cứ nói với họ là mầy trốn đi vì những lý do chính trị, rằng sự khủng bố đang ngự trị trên đất Sô Viết, rằng không ai muốn sống ở Nga Sô cả. Ít nhất là mầy cũng nói với họ là sĩ quan Sô Viết hút toàn thuốc lá dở ẹt, và chúng mình ăn uống không đầy đủ.

– Ừ, tao có thể nói với họ là ăn uống, thuốc men không đầy đủ, vì điều đó có thật.

– Bảo với tụi Mỹ là mầy đã chóa mắt vì xe cộ của họ, vì áo quần, sự ăn uống của họ, mầy thích thú đến cả với miếng sô cô la thơm ngon của họ, nói với họ là những thứ đó không có ở Nga Sô. Tụi Mỹ là những kẻ buôn bán, nên họ thích ai ca tụng họ là những quân nhân và nhà ngoại giao giỏi. Nếu mầy nói với họ như thế thì kể như sự nghiệp mầy đã tạo dựng xong xuôi rồi đó.

Barsov trả lời:

– Tao có lương tâm, tao không phải là một thằng nói dối. Mầy thì có thể như thế được.

– Mầy ngu lắm. Nếu mầy không nghe tao, tai họa sẽ đến với mầy, rồi mầy xem.

Nhân viên máy bay đã mang kiện hàng có Motok ở trong nhẹ nhàng đặt lên phi cơ. Họ đã trông thấy trên kiện hàng chữ «chiến lợi phẩm» và họ thừa biết là họ phải cẩn thận đối với các kiện hàng đó.

XIII

Boris Bodnariuk bay đến nước những người Slaves miền Nam. Hai vị đại tá Sô Viết yên lặng không nói, cả Boris cũng thế. Gần như cả ba đang buồn ngủ, nhưng thật sự cả ba đang nghĩ đến kế hoạch ám sát viên thống chế xứ đó.

Viên đại tá to lớn đang ngậm kẹo ho. Đến gần Boris, ông ta mời một viên kẹo và bảo nhỏ:

– Trưa nay sẽ có một bữa ăn khoản đãi đồng chí ở biệt thự tên thống chế đó. Chúng ta phải để súng lục tại phòng thay áo. Nhưng người của chúng ta sẽ trao lại súng khác vào túi chúng ta. Như thế là khi ngồi vào bàn ăn, chúng ta sẽ gồm có năm người được trang bị vũ khí rồi đó.

Yên lặng. Máy bay đang bay vào mây mù. Boris nhổ viên kẹo ho vào khăn tay. Viên đại tá bảo:

– Giờ nầy quân ta đang tiến vào xứ tụi Slaves miền Nam. Đến tối viên thống chế đó sẽ bị giết. Quân ta sẽ chiếm trọn xứ đó, chỉ cách Vatican vài trăm cây số. Công cuộc loại bỏ viên thống chế đó mở đường cho Hồng quân tiến vào Ý Đại Lợi, Ba Lê, Luân Đôn. Cho nên hành động chúng ta hôm nay là một hành động rất quan trọng cho diễn biến của lịch sử. Tất cả tùy thuộc vào sự khéo léo của chúng ta.

Nhìn đồng hồ, viên đại tá cười nói tiếp :

– Từ đây cho đến một giờ trưa, con chó của viên thống chế sẽ bị mồ côi. Một con chó không có thống chế nữa.

Viên đại tá lại ngậm thêm một viên kẹo ho. Máy bay đang bay thật cao, hình như đang nghiêng về bên phải. Boris quá mệt mỏi. Một người trong phi hành đoàn quay lại, la to:

– Cháy.

Boris soát lại dù nhảy, và nhìn qua cửa sổ. Máy bay vẫn tiếp tục bay, nhưng đã hơi nghiêng. Hắn nắm chặt tay định đập vỡ cửa kính. Đáng lý phải hỏi phi hành đoàn xem thử phải làm những gì, hắn ta lại nắm chặt tay như hồi 15 tuổi hắn quyết định bơi qua sông Dniestr, hệt như thế.

Bên ngoài chỉ toàn là mây trắng. Boris không thấy sợ hãi gì cả. Hắn nhét cặp da vào trong áo và quàng áo choàng lên ngực. Hắn đoán là hắn đang ở trên không phận nước Đức. Nếu phi cơ không đáp được, hẳn phải nhảy bằng dù. Chỉ có một điều làm hắn khó chịu là vì kẹo ho trong cổ. Hắn ho đến muốn ói thứ đó ra. Phi cơ đã đầy khói rồi.

Boris đập vỡ cửa kính, nhưng không khí tràn vào lại càng ngột thở hơn nữa. Khói tràn cả phi cơ, hắn đứng dậy tìm cánh cửa lớn, vì cửa sổ nhỏ quá, không nhảy ra ngoài được. Gài chặt áo lại, Boris tức là đã không kiếm của lớn được trước khi khói tràn vào ngập phi cơ. Giờ nầy không thể kiếm được nữa, cái bụng lại bắt đầu khó chịu. Mùi kẹo ho làm hắn buồn nôn. Hắn nghiêng cả người, tưởng như sắp ngạt đến nơi. Có ai la to bên tai, nhưng hắn không trả lời được. Hắn gập người lại, và tưởng như đang ở trong đêm tối mù mịt và trong một cơn buồn nôn vô tận vì chất kẹo ho. Hắn rủa thầm: «Đồ thứ kẹo khốn nạn!».

Cơn buồn nôn đã thu nhỏ cơ thể hắn vào hư vô. Cơ thể hắn đã phản bội hắn. Đâu đâu cũng toàn là chuyện phản bội. Anatole Barsov phản bội. Viên thống chế nuôi con chó đẹp cũng phản bội. Và bây giờ chính cơ thể hắn cũng không tuân lệnh hắn nữa.

Chán nản, hắn nhắm mắt lại. Chỉ còn có mùi kẹo ho trong cổ. Hắn ghét cay cái mùi kẹo nầy cũng như hắn ghét cay lũ phản bội. Ghét hết các thứ phản bội, nhưng nhất là sự phản bội của cơ thể hắn.

Bây giờ chỉ còn lại một cơn buồn nôn, một sự rơi xuống vực thẳm và hư vô.

Lúc hắn mở mắt ra, chung quanh toàn màu trắng. Ánh sáng đó làm hắn chảy nước mắt. Nhắm mắt lại, thì hắn lại có cảm tưởng rơi vào một màn tối dày đặc. Hắn thầm nghĩ «Lại là một thứ phản bội khác nữa đây». Hắn cố nhấc chân lên, nhưng không được. Muốn đưa tay lên, cũng không được nữa. Tay chân hắn đã chết hết cả rồi. Boris nghĩ «Kẻ thù Sô Viết đã biết nhiệm vụ của mình và chúng nó đã gây ra tai nạn».

Boris lại mở mắt ra. Thì ra hắn rơi trên núi tuyết. Hắn muốn nhúc nhích, nhưng thân thể không vâng theo ý muốn hắn nữa. Chỉ còn lý trí và một mắt còn nghe theo hắn, nhưng mắt hắn chỉ còn trông thấy màu trắng, nhắm mắt lại thì toàn màu đen bao phủ.

Chỉ còn một mắt mở được, con kia rất có thể đã rơi mất. Hắn nhắm mắt lại. Đen tối. Lại mở mắt ra, toàn màu trắng. Nhưng không phải toàn là màu trắng của tuyết mà là những người đàn bà mặc quần áo trắng, những người đàn ông trắng, bức tường trắng, nệm trắng… Hắn thầm nghĩ :

– Mình chỉ còn một mắt. Y hệt như Angelo. Với một mắt thì chỉ thấy hoặc đen hoặc trắng. Chỉ thấy có hai màu mà thôi; mà đen, trắng có phải là màu sắc đâu.

Boris cố tìm trong trí nhớ một màu khác, nhưng ngay cả trong trí nhớ cũng chỉ có hai màu đen và trắng. Tất cả dỉ vãng của hắn chỉ là đen hoặc trắng mà thôi.

Vào lúc đó, Boris không biết là hắn đã đạt đến lý tưởng của Đảng và các đồng chí hắn. Tức là chia vũ trụ làm hai màu : đen và trắng. Cũng như hắn nhắm mắt thì thấy đen và mở mắt thấy trắng, nhân loại cũng thấy sự vật trắng hay đen tùy theo nhu cầu của lịch sử. Điều đó đã là lý tưởng rồi. Một vũ trụ trong sáng, chính xác không màu sắc. Màu sắc vừa vô ích vừa rắc rối. Trắng và đen là đủ rồi. Hoặc có hoặc không là đủ rồi. Vũ trụ không cần giải đáp nào khác ngoài hai chữ có hay không. Những câu trả lời khác đều là phản động, hay chỉ là những dị biệt nho nhỏ.

Boris cảm thấy một vật lạ bên tai, sau đó hắn nghe được. Hắn quên là hắn đang có thính giác. Độ sau nầy, hắn không còn nghe gì nữa cả. Hắn đã sống trong câm điếc. Hắn không còn cảm nhận đau đớn, thế mà bây giờ đây mi mắt của hắn cho hắn biết lại thế nào là đau đớn. Bỗng một giọng nói rắn rỏi, bằng tiếng Anh:

– Chúng tôi muốn nói chuyện riêng với bệnh nhân.

Cái máy nghe để bên tai Boris thật lạnh, hình như lần đầu tiên cảm giác lạnh lẽo đó xâm chiếm con người hắn, hắn có nhớ ra rằng đôi lúc cũng có ấm áp, nhưng lúc nầy hắn chỉ thấy toàn là lạnh lẽo.

Mở mắt, Boris trông thấy hai sĩ quan Sô Viết. Những người áo trắng đi hết rồi, hai sĩ quan nọ hình như đang bận áo toàn đen. Một viên sĩ quan nói bằng tiếng Nga:

– Nhờ mũi thuốc, đồng chí sẽ tỉnh táo chừng một giờ. Hãy cho chúng tôi biết là đồng chí có nghe hiểu chúng tôi nói gì không, nếu không, chúng tôi sẽ chích thêm một mũi thuốc nữa. Chúng tôi cần hỏi đồng chí vài điều. Chúng tôi được bộ chỉ huy Sô Viết ở Vienne gởi đến đây.

Họ đưa cho Boris tấm căn cước để xem thử Boris có đọc và hiểu được không. Boris thấy rõ khuôn dấu sở mật vụ Sô Viết và cảm thấy yên tâm hơn. Một người lại bảo:

– Đồng chí đang nằm trong một bệnh viện của người Mỹ. Đồng chí có nhớ những gì đã xảy ra không?

Người kia giải thích tiếp:

– Đồng chí đi từ Piatra bằng phi cơ và rơi trên núi, đồng chí là người sống sót duy nhất sau tai nạn đó, mấy người kia đều chết hết. Người Mỹ mang đồng chí lại đây, và báo tin cho chúng tôi. Suốt hai tuần nay chúng tôi có nói chuyện với đồng chí nhưng vô ích. Người ta bảo là trong cơn mê sảng, đồng chí đã khai đồng chí tên là Boris Neva, và chính người ta đã ghi tên đó vào sổ bệnh viện. Tốt lắm, đồng chí cần giữ nguyên lời khai đó. Cần nhất là đừng để cho tụi Mỹ biết lý lịch của đồng chí. Thế nhưng, đồng chí có nhớ rõ tên của đồng chí không nhỉ?

– Boris Bodnariuk.

– Chúng tôi sẽ cho đồng chí hồi hương trong chừng 10 hôm nữa. Trong lúc chờ đợi, nhớ giữ cái tên Boris Neva. Bây giờ, đồng chí cố lập lại những gì chúng tôi vừa nói.

– Tôi bị tai nạn phi cơ, được chở đến bệnh viện Mỹ với cái tên là Boris Neva. Tôi sẽ được hồi hương trong 10 ngày. Tôi không được để lộ lý lịch của tôi.

Vị đại tá thân mật vỗ vai Boris. Lần đầu tiên, Boris mới nhận biết được vai của mình. Vị đại tá bảo :

– Tôi rất tiếc là không thể mang đồng chí đi ngay được. Người Mỹ bảo là chưa thể di chuyển được, chúng tôi sẽ lại thăm đồng chí đều đều.

Boris hỏi thêm:

– Đây là một vụ phá hoại hay phản bội?

– Thủ phạm sẽ bị trừng phạt và thủ tiêu.

– Nếu chúng bị thủ tiêu thi tốt lắm.

Boris nói thế và nhắm mắt lại. Hắn lại rơi vào một màn đêm đen tối.

XIV

Vài ngày sau, hai viên sĩ quan Sô Viết lại đến thăm Boris. Cả ba nói chuyện rất lâu. Viên đại tá bảo :

– Tai nạn phi cơ vừa rồi thật là một tai họa. Viên thống chế xứ người Slaves miền Nam không bị thủ tiêu thì sự phản bội của hắn ta đã công khai hoá. Sô Viết đã bị mất Địa Trung Hải, cánh cửa mở để đi về phương Tây và vịnh Adriatique. Tai hại quá nhưng chúng ta phải cố hàn gắn những gì có thể hàn gắn được. Bây giờ tên thống chế đó trở thành tên bồi phòng cho lũ Tây Phương. Những rủi ro đó thật cũng tại vì đồng chí không thể giết hắn đúng lúc được. Đồng chí đã làm chủ tình thế nhưng chỉ vì phi cơ bị rớt. Nói cho hợp lý thì việc thay đổi tình thế tuỳ thuộc vào đồng chí. Bây giờ đồng chí đã bị què quặt, nhưng khối óc, trái tim vẫn còn thì đồng chí vẫn có thể tiếp tục phục vụ.

Họ cũng kể cho Boris nghe là Sô Viết không từ bỏ kế hoạch ám sát viên thống chế đó, nhưng bây giờ khó khăn hơn nhiều:

– Công việc thủ tiêu đòi hỏi thời gian. Chúng ta đã thành lập một hệ thống toàn hảo, vì chúng ta sẽ thanh toán tên thống chế đó, chắc chắn như thế, nhưng còn lâu lắm. Lúc này, chúng ta chỉ nuôi ý tưởng thủ tiêu hắn ta mà thôi.

Boris bổ túc thêm:

– Trotzky cũng bị ám sát về phương diện chính trị trước khi hắn bị giết. Trong các trường hợp phản bội, khi kẻ bị ám sát đào tẩu được thì việc kết án tinh thần và chính trị cũng làm cho thủ phạm khổ sở lo âu…

– Muốn kết án Trotzky, chúng ta cần bản cáo trạng năm 1938.

– Thì điều đó cũng có thể tái diễn vậy, rất cần thiết nữa là đàng khác. Các nước tân cộng hòa, như Lỗ ma ni, Hung gia lợi, Bảo gia lợi hoặc kín đáo hoặc lộ liễu đều muốn tạo phản. Bản cáo trạng về viên thống chế mang tinh thần trưởng giả nọ sẽ quét sạch tất cả ám muội chính trị ở các quốc gia đó. Lúc rời khỏi bệnh viện này, tôi sẽ đề nghị một bản cáo trạng kết án lũ âm mưu kia ngay.

Viên đại tá trả lời:

– Bản cáo trạng đó đã xong xuôi. Tháng tới chúng ta sẽ mở ở Bucarest một tòa án kết tội tên thống chế đó. Chúng ta sẽ chứng minh rằng hắn ta đã bị lũ tư bản Tây Phương mua chuộc, rằng hắn đã tìm cách nô lệ hoá những dân tộc đã được Sô Viết giải phóng khỏi ách thống trị của lũ tư bản Anh – Mỹ. Hàng ngàn tội trạng đã được phơi bày. Chúng nó đã thu nhận tất cả. Chỉ còn thiếu một nhân vật chính, một người cộng sản ưu tú đóng vai tội nhân để trình bày những giai đoạn và mặt trái của sự phản bội. Thiếu một người như đồng chí, nguyên phó chủ tịch liên bang Danubienne. Chúng ta còn thiếu một người đóng vai y hệt tên thống chế, để tự thú tội, một người nào đó để bị kết án như là đại diện cho tên thống chế đó. Chúng ta thiếu có bấy nhiêu, còn ngoài ra sẵn sàng hết cả rồi.

Boris bảo :

– Tôi đã không chết trong tai nạn máy bay, bây giờ tôi xin để tùy quyền đồng chí định đoạt.

– Đồng chí muốn đến Bucarest để đóng vai tên thống chế có tư cách trưởng giả đó ư?

– Hắn ta phải bị đào thải về phương diện chính trị. Chúng ta sẽ mang tội nếu để chậm trễ bản án đó. Còn ai hơn tôi trong công việc đâm một nhát dao chí tử vào tên phản bội đó?

Boris nghĩ đến cái may mắn tột cùng của một người công sản so với các người khác. Hắn chỉ là một tên tàn phế, thế mà vẫn còn phục vụ đảng thật phi thường.

Viên đại tá có vẻ nhắc nhở :

– Nạn nhân chính sẽ bị kết án tử hình đấy.

– Dĩ nhiên đó là hình phạt xứng đáng nhất cho sự phản bội.

Nói xong, Boris nhắm mắt lại, và lại rơi vào bóng tối. Hắn nghĩ là một đời người sống toàn với tiểu tiết chỉ là một đời người thấp kém.

Đời sống cao thượng chỉ cấu tạo bằng «có» hoặc «không», bằng «đen» hoặc «trắng», thì mới là một đời hoàn hảo.

– Như thế chúng tôi có thể thông báo là đồng chí tình nguyện đến Bucarest để tự thú tội trên cương vị tên thống chế?

– Nhu cầu của lịch sử đòi hỏi điều đó.

Boris thản nhiên trả lời như thế. Vị đại tá dặn thêm :

– Trong lúc nầy phải cẩn thận đấy, đừng để lộ tông tích.

Ông ta để xuống gối Boris một khẩu súng lục, vổ vai Boris và từ giã. Lúc cánh cửa đã đóng lại, Boris thầm nghĩ :

Sợ hãi cái chết là một thành kiến của tụi trưởng giả. Bây giờ mình đã quyết định chết, mình không còn sợ hãi gì cả, trái lại, mình còn cảm thấy khoan khoái, tỉnh táo, vì mình đang sống trong lịch sử, lần đầu tiên, mình gắn liền với lịch sử, mạnh dạn sống với lịch sử. Sợ chết chỉ là một thành kiến mà thôi.»

XV

Buổi chiều, Boris đứng tựa ở cửa sổ. Tuy chưa bình phục hẳn, hắn cũng đã có thể đi lại được. Hắn sẽ được hồi hương vào trưa mai. Mấy vị sĩ quan trong bộ chỉ huy Sô Viết ở Vienne đã hứa với hắn như thế.

Boris suy nghĩ nhiều về thứ kinh nghiệm sắp đến trong đời hắn lúc hắn trở về thú tội, một thứ tội phản bội mà hắn không hề phạm. Nhờ hành động đó, một số lớn thành phần vô ích, nguy hiểm sẽ bị thủ tiêu và địa vị của đảng sẽ được cũng cố hơn bao giờ hết. Đó là mặt phải của sự thử thách, trong khi mặt trái của nó là sự hủy thể của cá nhân. Boris tự phân tích rất chu đáo và thành thật, bởi hắn muốn tìm hiểu xem mình có sợ chết hay không. Hắn đã từng nói về sự khinh thị của một người công sản đối với cái chết của một cá nhân để cho đảng sống mãi.

Trên nguyên tắc thì Boris đang chấp nhận lý thuyết đó và không ngần ngại xin được xử tử hình. Về phương diện lý trí, cái chết vô nghĩa hơn những gì lịch sử, tôn giáo và văn chương đã đề cập đến. Cho nên lúc hắn muốn tự tử, hắn không sợ hãi gì cả. Động tác vô nghĩa đó không có gì khó khăn đối với hắn cả.

Bây giờ bỗng nhiên hắn khám phá ra một điều gì không ưng ý với hắn, hình như một giọng nói âm thầm đang trổi dậy. «Sau khi giả vờ tự thú, mầy sẽ bị kết án, nhưng mầy sẽ không bị xử tử». Boris lấy làm xấu hổ về ý nghĩ đó, nhưng hắn không thể không nghĩ được, bởi hắn vẫn hy vọng là nếu hắn tự thú, đảng sẽ không xử tử hắn nhưng con đề cao hắn nữa. Hắn tự hỏi: «Hay là vì sợ chết mà mình có cái ảo tưởng đó». Hắn muốn xóa bỏ ý nghĩ đó đi, nên lại bảo thầm: «Mình sẽ được xử tử, mình sẽ bị xử tử, xử tử». Nhưng giọng nói âm thầm lại vang lên : «Đảng sẽ tán dương công lao của mầy và không bao giờ để mầy chết. Hành động tự kết án đó sẽ được khao thưởng, kỷ niệm và tôn thờ».

Boris không muốn có ảo tưởng đó, hắn muốn chắc là hắn sẽ chết, chết thực sự theo chính lời yêu cầu của hắn. Lý trí nói với hắn rằng: «sự việc sẽ xảy ra như thế, nhưng hắn không thể nào làm câm ngay cái giọng nói âm thầm bên trong rằng hắn sẽ sống mãi.

Một chiếc xe ngừng trước cửa bệnh viện. Một người thanh niên vận âu phục, dáng điệu bỡ ngỡ bước xuống xe. Vị y sĩ trưởng đang đứng giữa sân với một bác sĩ khác ngay dưới cửa sổ của Boris. Thanh niên nọ lại gần, Boris lắng nghe câu chuyện. Thanh niên tự giới thiệu :

– Tôi là Milan Paternik, cố vấn chính trị cho bộ chỉ huy các lực lượng Âu châu (hắn đưa căn cước và thư giới thiệu). Tôi mang theo một người đàn bà đã đến kỳ sinh nở.

– Không thể được, ở đây, chúng tôi không có trại sản phụ khoa. Vị y sĩ trưởng trả lời. Nhưng Milan nài nỉ :

– Đây là một trường hợp ngoại lệ. Vị chỉ huy trưởng yêu cầu ông nhận bà ta và săn sóc kỹ lưỡng.

Bác sĩ đọc bức thư. Marie sắp đẻ, đang nằm trong xe. Aurel Popesco đã tìm cách để nàng được nhận vào quân y viện vì không còn bệnh viện nào ở đây nữa. Milan Paternik đích thân đem nàng đến.

– Bác sĩ chúng tôi ở đây không chuyên về sản khoa, đáng lý chúng tôi không nhận, nhưng vì có lệnh trên, chúng tôi sẽ làm theo.

Milan lập lại:

– Xin bác sĩ vui lòng, đây là trường hợp bất khả kháng.

Boris chú ý đến chữ «trường hợp bất khả kháng, ngoại lệ» mà Milan cứ lập đi lập lại mãi. Bác sĩ cáu kỉnh :

– Tôi không hiểu nổi, thật là quá đáng, ai đời lại gởi vào quân y viện người đàn bà sắp sinh, đúng là họ muốn đùa với chúng tôi rồi.

Boris giật mình lẩm bẩm : «Mình hiểu, vâng, mình hiểu tại sao người ta gởi người đàn bà nầy đến đây».

Hắn trông rõ Pillat và Milan Paternik đỡ Marie xuống xe. Trong óc Boris, giả thuyết người Mỹ đã biết lai lịch hắn càng ngày càng rõ rệt. Nép sau tường, hắn nhìn kỹ Marie, nhưng không nhận ra nàng. Boris thầm nghĩ:

« Họ đưa Pillat và người đàn bà nầy đến đây để có thể nhận diện mình. Muốn biết chắc mình có phải là Boris không, tụi Mỹ đã đưa đến đây một người bạn học cũ của mình, cách tốt nhất để nhận diện mình là Boris Bodnariuk, bộ trưởng bộ chiến tranh Lỗ ma ni chứ không phải là công dân Số Việt Boris Neva». Boris nhớ lại lời khuyên của các sĩ quan Sô Viết «Đứng để lộ tông tích». Rồi nhớ lại câu nói của viên bác sĩ «Thật là quá đáng, ai đời lại gởi đến đây một người đàn bà sắp sinh. Tại sao lại đúng vào quân y viện chúng tôi», và câu nói của Milan Paternik «Đây là một trường hợp bất khả kháng, ngoại lệ…».

Thế là Boris chắc rằng Pillat đã được gởi đến đây để nhận diện hắn. Nhẩm tính, còn 16 giờ nữa thì đến lúc hồi hương, nhưng nếu người Mỹ nhờ Pillat nhận diện được hắn thì hắn khó trở về nước được nữa. Bản cáo trạng ở Bucarest kết tội tên thống chế trưởng giả đó sẽ bị hủy bỏ. Boris thầm bảo: «Mình đừng để họ biết tông tích chứ».

Phòng bên có tiếng nói chuyện, lúc đầu bằng tiếng Anh, sau đó bằng tiếng Lỗ ma ni. Milan Paternik đang nói chuyện với y tá, Pillat nói với người đàn bà có thai. Milan nói :

– Chồng bà sẽ ở đây, ông ta ngủ ở ghế nầy.

Boris lắng nghe: «Sao lại ngủ đúng phòng bên cạnh phòng mình? Không còn nghi ngờ gì nữa. Họ gọi Pillat đến đây để nhận diện mình. Chốc nữa hắn sẽ đến phòng mình với một lý do nào đó để nhìn mặt mình đúng theo chỉ thị đã nhận được». Boris bỗng để ý là cửa phòng hắn không khoá: «Lại thêm một lý do nữa, sao họ lại lấy mất chìa khóa phòng mình?».

Boris lại cửa sổ và thấy Milan Paternik lên xe về một mình. Ở phòng bên, Pillat và Marie đang chuyện trò với nhau bằng tiếng Lỗ. Marie đang than phiền. Boris lại thầm nhận xét : «Nghe rõ như họ đang đứng nói chuyện trong phòng mình». Mọi sự xảy ra thật đáng ngạc nhiên nhưng hắn vẫn bình tĩnh, hắn vẫn cố không để bị nhận diện – Pillat thì đang ở phòng bên và hắn còn đến 16 giờ nữa mới hồi hương được. Boris vừa nhìn cửa lớn vừa thầm nghĩ: «Hắn có thể ám sát mình, và bảo rằng đó chỉ là một cuộc trả thù riêng. Đối với công chúng giải thích âm mưu đó như thế thì tạm ổn. Người Mỹ muốn ám sát mình để không cho mình trở về nước thi hành bản án tên thống chế phản bội đó. Chắc thế rồi».

Boris nhìn qua cửa sổ, không có gì đáng ngại, vườn bệnh viện chỉ có tuyết phủ, đường phố cách xa chừng hai trăm thước. Boris quyết định. Tay hắn xiết chặt khẩu súng trong túi áo ngủ. Hắn mở tủ và thấy áo quần hắn họ vẫn để nguyên, áo choàng, quần dài bị cháy. Hắn không tiền, không giấy tờ và không thuộc đường vùng nầy, nhưng không sao, điều chính là hắn phải bỏ đi đêm nay, sau đó sẽ tự liệu lấy, chân lạnh cóng chưa đi được, nhưng hắn vẫn cố nghĩ là hắn sẽ bí mật lên tàu lửa trong đêm.

Nhìn vào tấm kiếng, Boris thấy mình hơi tái. Mặc vội áo quần, giấu khẩu súng dưới gối, Boris lên giường nằm. Lúc bác sĩ và y tá đến khám bệnh, Boris than nhức đầu, và thích ngủ hơn ăn. Boris nghĩ đến kế hoạch trốn khỏi bệnh viện.

Hắn có thể nhảy qua cửa sổ là ra khỏi bệnh viện dễ dàng, nhưng nếu hắn có tiền để mua vé xe lửa thì mọi sự sẽ giản dị, đằng nầy hắn không có lấy một xu, đó là một điều thiếu khôn ngoan, đáng lẽ là hắn phải xin hai viên sĩ quan Sô Viết kia trước mới phải.

Lúc nầy, nữ y tá trực đi ngang, hắn giả vờ ngủ, phòng bên cạnh vẫn còn tiếng nói của Pillat và tiếng rên siết của Marie.

Boris mặc áo trong bóng tối, phải gỡ băng chân ra mới đi được, dù chân còn đau. Xong xuôi hắn nhảy qua cửa sổ xuống vườn bệnh viện còn đầy cả tuyết.

Thế là lúc y tá trực đêm đi kiểm soát bệnh viện lúc hai giờ sáng thấy giường Boris Neva trống rỗng, mặt khác lại có dấu chân trên tuyết dưới cửa sổ, họ bèn báo động tức khắc với cảnh sát và quân cảnh. Điện thoại reo suốt đêm. Người ta lục soát các chuyến xe lửa. Tám giờ sáng, hai viên sĩ quan đến bệnh viện, thì viên y sĩ trưởng giải thích :

– Boris Neva biết là ông ta sẽ hồi hương lúc 12 giờ nên ông ta đã chọn tự do. Ông ta không muốn trở về Nga Sô. Hàng ngàn người đã làm như thế, có gì đáng ngạc nhiên đâu. Ông ta sợ không dám trở về với Sô Viết nữa.

Nhưng hai viên sĩ quan Sô Viết không chấp nhận lời giải thích đó.

– Boris Neva là công dân đã được tẩy não, giả thuyết đào ngũ không thể chấp nhận được. Chúng tôi yêu cầu lập biên bản đàng hoàng.

– Các ông có thể lập biên bản ngay.

Y tá, gác dan được mời đến. Tất cả đều khai là không hề hay biết gì cả. Bệnh nhân người Nga Sô đó có vẻ cau có vào buổi tối. Ông ta từ chối không chịu ăn uống và không chịu để bác sĩ khám bệnh, rồi đòi đi ngủ sớm. Hai giờ sáng thì người ta đoán là ông ta nhảy qua cửa sổ xuống vườn, trèo tường đi ra đường.

Đành phải đợi cảnh sát bắt giữ bệnh nhân mới hỏi được. Nhưng hai viên sĩ quan Sô Viết giận dữ hứa sẽ phản kháng chính thức vụ nầy và đòi một biên bản đặc biệt. Trong lúc đó, máy phóng thanh bệnh viện thông báo: «Trân trọng thông báo với chính quyền và đồng bào là có một công dân Sô Viết đã trốn khỏi bệnh viện quân đội đồng minh sau khi đã được săn sóc các thương tích chu đáo do tai nạn máy bay. Ai biết bệnh nhân trốn ở đâu phải thông báo ngay cho chính quyền. Các điểm đặc biệt của bệnh nhân như sau: một vết sẹo lớn trên trán, vết thương ngực và tai chưa lành. Chân cong chưa đi được nhiều. Áo choàng da màu nâu, ủng đen, khăn choàng đỏ».

Nhưng hai viên sĩ quan Sô Viết bỏ đi không thèm nghe thông cáo. Lúc đó đã 9 giờ sáng. Cửa phòng mổ mở ra đúng lúc họ bước ngang. Người nữ y tá nói với Pillat đang đứng ở hành lang:

– Con gái. Mẹ tròn con vuông rồi đó. Ông có thể đến thăm trong chốc lát.

Pillat đặt tên ngay:

– Doina Australie.

Chỉ có mình chàng là không biết gì về vụ bệnh nhân Sô Viết trốn khỏi bệnh viện. Vì từ lúc đến đây, chàng chỉ có một điều phải lo lắng, đó là Marie, và bây giờ thì phải lo đến hai người. Marie và đứa con đầu lòng Doina Australie. Chàng vui đến rớt nước mắt, muốn ôm choàng cả hai người. Trong lúc chàng lẩm bẩm, «Doina Australie, con và mẹ đều mạnh khỏe cả» thì máy phóng thanh vẫn lập đi lập lại: «Chúng tôi lập lại các điểm đặc biệt: áo choàng da màu nâu, ủng đen, khăn choàng đỏ».

Pillat thì vẫn cứ lẩm bẩm: «Doina Australie. Con và mẹ đều mạnh khỏe cả».

Phần thứ hai

I

Thế là Boris Bodnariuk trốn biệt tăm. Cả người Nga lẫn người Mỹ đều không tìm ra hắn ở đâu cả. Trong lúc đó Pillat và Marie vẫn còn ở lại quân y viện Mỹ. Hai tuần sau họ nhận được giấy mời của phái đoàn Úc Đại Lợi, vì những ai được di cư đều phải trình diện gấp để đi Hambourg.

Marie, Pillat và đứa con rời ngay nhà thương trong ngày hôm đó với không biết bao nhiêu là quà bánh do các bác sĩ và y tá ở bệnh viện gởi tặng. Doina Australie là đứa bé duy nhất sinh ra trong nhà thương đó, dưới lá cờ nhiều ngôi sao của nền dân chủ Hoa Kỳ. Lúc mới đến nhà thương trên chiếc xe của Milan Paternik, hai vợ chồng Pillat chỉ có một cái xách nhỏ, thế mà bây giờ hành trang họ đã khá bộn, lại còn được xe đưa ra ga, được cung cấp thực phẩm tiền bạc đầy đủ. Họ đến Hambourg như là những kẻ được số phận ưu đãi nhất.

Báo chí vẫn tiếp tục bàn về việc Boris Neva bị mất tích, nhưng không ai biết thêm điều gì về hẳn cả. Pillat và Marie lại càng không cần quan tâm đến vấn đề đó, vì đang bận con, bận di chuyển, bận lo nghĩ về tổ quốc mới của họ. Pillat an ủi vợ:

– Đừng bao giờ cho là muộn màng cả. Cách đây vài tháng, lúc mọi phái bộ di cư đều từ khước chúng ta thì hầu như chỉ còn có nước tự tử mà thôi, thế mà hôm nay mộng ước chúng ta sắp thành. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ tìm thấy ba cho mà xem.

Đến Hambourg, tâm hồn thơ thới, họ thầm cám ơn trời đất đã cứu sống họ. Đã sẵn tiền nên đến ga họ thuê ngay taxi đến trình diện phái đoàn Úc. Một nhân viên phái đoàn bảo:

– Tàu sẽ nhổ neo trong ba hôm nữa. Ông bà đến trình diện gấp ủy ban kiểm soát để xuống tàu mà đi.

Sau khi trình thẻ được phép di cư cho ủy ban họ ngồi ở ghế và cứ ngỡ là cả ba sẽ được xuống tàu trong vòng chừng một giờ. Một viên chức mời họ vào văn phòng. Marie bế con với một con búp bê trên tay. Ủy ban kiểm soát gồm ba người. Có tiếng hô tên:

– Pillat Marie.

Marie cười kiêu hãnh trả lời:

– Có tôi đây.

Gọi tên Pillat xong, cả ba yên lặng nhìn về phía con búp bê trên tay Marie. Con búp bê to gần bằng đứa bé. Marie giải thích:

– Dạ con búp bê này do vị Y sĩ trưởng bệnh viện tặng đấy.

– Không, chúng tôi muốn nói đến đứa bé cơ chứ.

Ba người nhìn kỹ Doina. Pillat lên tiếng:

– Con bé tên là Doina Australie. Chúng tôi gọi là Doina vì đó là tên một khúc hát có ý nghĩa một sự lưu đày của xứ sở chúng tôi, còn Australie là để kỷ niệm tổ quốc mới mà chúng tôi sắp có.

Người ngồi giữa bảo :

– Trong danh sách chính thức những người được di cư sang Úc chỉ có tên Pierre Pillat là ông đây, và Marie Pillat là bà. Ngoài ra không còn ai khác nữa.

– Nhưng mà Doina Australie là con đẻ của chúng tôi mà!

– Rất tiếc là cô bé không có tên trong danh sách.

– Nhưng mà con tôi vừa mới sinh ra chừng hai tuần, trong lúc chúng tôi chờ có tàu cơ mà.

– Dù sao thì tên đứa bé cũng không có trong danh sách này.

Sau một chốc yên lặng đến nghẹt thở, một người hỏi:

– Bây giờ ông bà định thế nào?

Pillat nhìn sững anh chàng vừa hỏi, rồi lại nhìn vợ con. Chàng không có gì để trả lời câu hỏi đó cả, nên đành phải hỏi lại:

– Ông hỏi như thế nghĩa là chúng tôi phải quyết định ra sao? Và chàng được trả lời :

– Nghĩa là ông bà chỉ có thể di cư hai người có tên trong danh sách này thôi.

Marie hỏi lại:

– Thế thì chúng tôi không thể ghi tên thêm đứa con sao?

– Không thể nào được cả. Trẻ con dưới mười tuổi không thể di cư. Giọng nói anh chàng đó thật lành lùng rắn rỏi. Marie chỉ còn nước nhìn Ủy ban kiểm soát và òa khóc, khóc mà không thể chùi nước mắt được vì tay nàng đang bận con và búp bê, nước mắt nàng chảy cả xuống đôi má hồng hào của con búp bê. Pillat gạn hỏi:

– Thế chúng tôi phải làm sao bây giờ?

– Thì ông tự quyết định đi chứ còn sao nữa?

– Có thể nào có một quyết định trong trường hợp tương tự?

– Hoặc là ông bỏ đứa con hoặc ông từ chối không di cư nữa.

Pillat có nghe câu trả lời nhưng chàng không thể ngờ như thế, nên chàng vẫn hỏi lại:

– Chúng tôi phải làm sao bây giờ?

– Ông cứ để đứa con ở lại đây tức khắc ông được di cư. Lúc nào đứa bé lên mười, ông có thể đưa nó sang Úc. Giản dị có thế thôi.

Pillat nắm chặt tay tức tối:

– Hừ, giản dị? Ông cho thế là giản dị ư?

Marie thì chỉ biết đứng khóc. Người nọ bực bội :

– Không có lôi thôi gì hết. Chúng tôi không rảnh để mà nghe than thở. Chúng tôi còn gọi tên người khác nữa. Nào, ông bà quyết định đi cho.

Pillat nổi nóng:

– Có thể nào ông đòi hỏi một điều như thế đối với bậc làm cha mẹ? Ông có phải là người không? Ông có phải là người có đạo Thiên Chúa không? Ông có phải là người văn minh không?

– Chính vì chúng tôi là những người văn minh mà chúng tôi mới yêu cầu điều đó. Chính vì những lý do của những người có nền văn hóa cao mà chúng tôi không thể nào hành hạ những đứa bé dưới mười tuổi bằng một cuộc hành trình từ đây đến Úc châu. Vả lại, luật lệ của hội Hồng thập tự Liên hiệp quốc, và lương trị của một con người văn minh, nếu có, buộc chúng tôi phải làm thế. Chúng tôi sẽ trở nên dã man nếu chúng tôi làm khác hơn.

– Nghĩa là các ông buộc một người mẹ phải bỏ rơi một đứa con?

Pillat là một người rất điềm tỉnh, nhưng trước trường hợp này chàng muốn đập phá hết thảy. Nhưng người nọ vẫn thản nhiên :

– Hãy gác tình cảm sang một bên rồi quyết định đi. Không phải là chuyện phi thường gì đâu, ông gởi con lại cho một viện mồ côi nào đó, rồi chừng mười năm sau lấy lại. Chỉ tạm thời xa nhau thôi.

Pillat vỗ vai vợ:

– Chúng ta đi thôi.

Người nọ còn ráng hỏi:

– Ông bà định sao?

Pillat quay lại nhìn bộ mặt của anh chàng vừa hỏi, nhìn cách ăn mặt sạch sẽ của hắn mà phát tởm đến buồn nôn. Lúc chàng nghe lại câu hỏi: “Ông bà quyết định sao”, chàng muốn khạc vào nền văn minh, vào cách thức giữ vệ sinh, vào nền văn hóa, vâng, chàng muốn dùng hết sức bình sinh để khạc vào nền văn minh này, và nền văn hóa này, vào cách thức giữ gìn vệ sinh này.

Thế là chàng bỏ ra đường, ôm con trong tay. Đứa bé khóc liên hồi từ khi chàng và Marie bỏ Ủy ban kiểm soát để ra phố. Marie đặt con xuống đất, cởi áo cho con nhưng vẫn không làm đứa bé thôi khóc được. Người qua đường ái ngại, một người đàn bà khuyên:

– Đi kiếm bác sĩ đi chứ. Khóc như thế ắt là có bịnh gì rồi đó, tại sao không đem nó đi bác sĩ.

Cả hai nghe lời đem con đến bệnh viện. Người ta khám bệnh cho đứa bé ở phòng ngoại chẩn. Bác sĩ chích một mũi thuốc, đứa bé vẫn không nín. Tiếng khóc mỗi lúc một khàn và yếu dần đi. Pillat thương con nên cũng khóc theo, chàng lo ngại hỏi bác sĩ :

– Con tôi đau gì đấy thưa bác sĩ?

Sau một hồi yên lặng, bác sĩ bảo :

– Nó chết rồi.

Thật sự là tiếng khóc không còn nữa, Doina đã tự làm vỡ hai lá phổi của mình vì những tiếng khóc thất thanh đó, hai lá phổi nhỏ nhoi của một kiếp sống lưu đày.

Pillat và Marie nghẹn ngào trước cái xác nhỏ nhắn xanh xao, trần truồng của bé Doina Australie. Họ biết là ủy ban Úc còn ở lại ba hôm nữa. Doina chết rồi, họ có thể ra đi được, nhưng họ không còn can đảm nghĩ đến những người Úc Đại Lợi nữa. Úc châu là nơi mà trẻ con không được thâu nhận, là nơi mà người ta bắt người mẹ phải bỏ rơi đứa con vì những lý do của một nền văn minh tiến bộ.

II

Trong lúc các lực lượng đồng minh đang kiếm tìm Boris khắp nơi thì hắn đã đến Ba Lê, tìm ra sứ quán Sô Viết và xin hội kiến với viên đại sứ. Nhân viên tòa đại sứ trả lời :

– Đồng chí đại sứ không cho ai yết kiến cả.

Vừa trả lời, ông ta vừa quan sát bộ mặt chưa cạo râu của Boris.

Vết sẹo trên trán, áo choàng đỏ đã bị cháy xém, cũng rách nát, khăn choàng loang lổ. Trong trạm gác, người cảnh sát Pháp theo dõi mọi cử chỉ của Boris nhưng vẫn giả bộ đang nhìn nơi khác. Boris nóng nảy:

– Tôi muốn thông báo một tin hết sức quan trọng, tôi cần gặp một người nhân viên nào cũng được trong văn phòng ông đại sứ.

– Ông là công dân Sô Viết?

Nhân viên nọ hỏi Boris một cách lạnh nhạt, tay vẫn sắp lại một chồng báo. Boris vội vã trả lời, ngỡ rằng câu trả lời của mình sẽ mở được mọi cánh cửa :

– Vâng, tôi là công dân Sô Viết, và tôi cần được hồi hương ngay tức khắc, chính vì vậy mà tôi đến đây.

Cùng với những động tác lạnh nhạt, máy móc, nhân viên nọ đưa cho Boris một tờ giấy và bảo:

– Điền vào tấm giấy này các thủ tục hồi hương, ông sẽ nhận tin trả lời tại nhà.

Boris biết là hắn sẽ phải chờ hàng tháng nếu hắn dùng đến lối hồi hương này. Tuy vậy, hắn vẫn cố làm đúng theo thủ tục, kèm theo một bức thư. Viết xong, hắn cẩn thận đọc lại:

“Thưa đồng chí đại sứ,

Tôi tên là Boris Neva, công dân Sô Viết, bị tai nạn phi cơ trong dãy núi Alpes, đã trốn khỏi một bệnh viện Hoa Kỳ tại Đức với ý định là sẽ trình diện với bộ chỉ huy Sô Viết. Nhưng vì cuộc lùng bắt của cảnh sát tôi phải nhảy qua một chuyến tàu khác đang đi về hướng nước Pháp, tôi bắt buộc phải làm như thế để khỏi bị giữ. Đến Pháp, tôi đến trình diện tức khắc tại sứ quán để xin hồi hương. Đồng chí Đại sứ có thể tìm biết lai lịch của tôi nơi bộ chỉ huy Sô Viết tại Vienne.”

Boris biết là viết thư như vậy chưa đủ, nhưng dù sao cũng đã gợi được óc tò mò của tòa đại sứ. Nhân viên nọ vẫn thản nhiên:

– Chúng tôi không nhận thư.

Ông ta chỉ nhận tấm phiếu khai hồi hương của Boris, còn trả thư lại cho Boris mà không cần xem trong thư nói gì. Boris van nài:

– Tôi là công dân Sô Viết, tôi đến đây sau một tai nạn, và bây giờ cần thông báo một tin hết sức quan trọng.

Nhân viên tòa đại sứ thầm nghĩ: “Sau khi đã phản bội, mọi con rắn độc đều có những tin tức quan trọng cần thông báo. Và nhìn Boris ra chiều khinh bỉ, nếu có thể thì hắn ta đã giết tên này, bởi như mọi công dân Sô Viết, hắn ta ghét cay ghét đắng lũ gián điệp và phản bội, đâu đâu hắn ta hình như cũng có gặp tụi do thám và phản bội cả.

– Ông không ghi chỗ ở.

– Tôi không có chỗ ở tại Pháp, vì tôi chỉ mới đến đây có mấy tiếng đồng hồ.

Thế là nhân viên nọ trả lại tờ khai:

– Ông không thể xin hồi hương nếu chưa có chỗ trú ngụ cố định. Chúng tôi không được phép nhận tờ khai thiếu sót.

– Thế tôi không thể nào nói chuyện với một ai ở tòa đại sứ này?

– Tôi là nhân viên của tòa đại sứ đây. Tôi đã cho ông mọi chi tiết đầy đủ. Bây giờ ông có thể đi, không được đứng ở đây lâu.

Nói xong, nhân viên nọ mở cửa, đến gần Boris, nắm lấy tay hắn đuổi:

– Đi, đi.

Vừa đuổi vừa yêu cầu người cảnh binh Pháp đến can thiệp. Lúc đó Boris muốn nói rõ với nhân viên nọ rằng hắn ta là Boris Bodnariuk, tướng lãnh Sô Viết đang giữ chức bộ trưởng chiến tranh Lỗ ma ni, nhưng hắn đã tự chủ được, vì nhớ ra là không được để lộ tông tích.

Lúc đó người cảnh sát đã ra lệnh:

– Cút đi ngay.

Boris đành nhục nhã bỏ đi. Viên cảnh sát mỉm cười nhìn hắn, còn nhân viên nọ lại càng không thèm nhìn Boris nữa. Dưới mắt hắn Boris chỉ là một trong vô số tên phản bội đang vây quanh các tòa đại sứ trên thế giới để làm mật thám cho đế quốc, hay là hối hận muốn hồi hương. Cả hai loại đó đều nguy hiểm. Nên lệnh ban ra rất nghiêm nhặt, không được lắng nghe hay cho phép lũ đó vào tòa đại sứ, hoặc là chúng giăng bẫy để báo chí tư bản có dịp làm rùm beng mọi chuyện, hoặc chúng là những thành phần cằn cỗi rải rắc khắp nơi mà Sô Viết không biết nữa. Vì thế mà nhân viên nọ đã không nhìn đến Boris. Vả lại hắn không được phép nói chuyện với Boris, vì mọi công dân Sô Viết sống trong một nước tư bản đều được báo động rằng người lạ mặt nào muốn khơi chuyện đều có thể là kẻ thù của Sô Viết, một tên mật thám đáng sợ.

Lang thang ngoài đường, Boris tự vấn lương tâm của một đảng viên xem thử mình đã hành động đúng cách và sáng suốt hay không. Theo lệnh trên, hắn không được tiết lộ hành tung của mình. Lúc mà hắn tưởng Pillat đến nhận diện hắn, hắn đã trốn khỏi nhà thương. Hành động đó chắc chắn là không sai lầm rồi. Hắn lên tàu trốn qua Vienne, và lúc cảnh sát khám tàu, hắn lại nhảy qua tàu bên cạnh để chờ cho hết cuộc bố ráp. Hại thay tàu lại chạy qua Pháp, hắn phải đến trình diện với sứ quán. Sứ quán Sô Viết ở Pháp lại từ chối không cho hắn gặp được vị đại diện. Nên hắn phải lang thang trên đường phố Ba Lê vừa đói vừa rét. Hắn không còn lê nổi đôi chân nữa. Cái tiện nghi duy nhất của hắn bây giờ là không ai thèm dòm ngó đếm xỉa đến hắn nữa. Ở Sô Viết, bất cứ một người nào lê gót lang thang trên hè phố như hắn bây giờ tức thời bị bắt và tra hỏi giấy tờ đủ loại ngay, nào là giấy phép, nào là chứng chỉ việc làm. Hắn ở đây được tự do hoàn toàn nhưng vẫn thầm nghĩ: “Tòa đại sứ Sô Viết đã hành động thật khôn khéo. Bởi vì một tòa đại sứ Sô Viết ở trên đất một quốc gia tư bản luôn luôn sẵn sàng bị mọi cạm bẫy, mọi khiêu khích. Tuy nhiên, nếu không có tòa đại sứ giúp đỡ, mình không thể đi đâu được cả. Giấy tờ, tiền nong không có, sức lực cũng hao mòn cả rồi. Mà mình lại phải đến Bucarest gấp. Vụ án khởi tố tên thống chế trưởng giá đó phải bắt đầu càng sớm càng hay”.

Boris đi giữa những cửa hàng bóng nhoáng, những người đàn bà lộng lẫy mà không thấy gì cả. Mắt hắn bây giờ chỉ muốn tìm được một lối thoát tức khắc; vì hắn tự cho là: Nếu mình không có cách gì thông tin tên tuổi cho tòa đại sứ, điều đó có nghĩa rằng mình đã đào ngũ và phản bội, dù mọi sự xảy ra ngoài ý muốn của mình. Một nỗi đau xót đâm vào lòng ngực Boris cơ hồ như hắn không thể nào đứng vững được nữa. Rồi mọi sự quay cuồng chung quanh hắn, hắn lả đi bên lề đường. Mọi người đi qua vẫn không thèm nhìn hắn. Hắn bỗng sống lại cảnh cô đơn sâu xa như hồi còn ở sân trường hoàng gia Kichinev lúc hắn phải mặt bộ đồ nhục nhã và bạn bè chung quanh thản nhiên không thèm nhìn hắn nữa. Hai người lính đi qua nhìn hắn một lát rồi lạnh lùng bỏ đi, làm cho nỗi cô đơn buồn tủi của hắn càng thêm sâu đậm. Ngước mắt nhìn cửa hàng trước mặt, hắn đoán là một cửa hàng bán áo quần. Hắn cố đứng dậy bước vào bên trong, muốn giải thích cho họ biết là hắn muốn bán chiếc áo nhưng không nói được tiếng Pháp. Người bán hàng gốc Bắc Phi hiểu ngay. Hắn cởi bộ áo cho Boris và hỏi:

– Người Nga?

Boris gật đầu. Điều đó không quan hệ gì với người bán hàng nầy cả, cũng như những vết sẹo đầy trên ngực Boris. Hắn thản nhiên cầm lấy chiếc áo kaki, áo sơ mi và hai áo nỉ mỏng mà Boris giao cho. Hắn nhìn luôn chiếc áo choàng da nhưng Boris đã mặc vội vào người cùng với chiếc khăn quàng đỏ muôn thuở của Boris. Người bán hàng nhìn ngần ấy thứ trên tay và trao cho Boris 150 quan. Boris cầm tiền mà không biết là mình bán đắt hay rẻ, vì hắn không biết giá tiền đồng quan Pháp. Ra đường, hắn lại chóng mặt, và cảm thấy chất da nham nhám của tấm áo choàng cọ vào lưng, vào ngực, vào vai rất khó chịu. Hắn muốn uống ly rượu, ăn chút bánh, hút điếu thuốc cho ấm lòng, nhưng hắn đã tự chủ được ngay, và tìm một quán điện thoại. Hắn ra hiệu muốn gọi điện thoại. Hắn định không cho ai biết gọi điện thoại cho ai, nhưng khốn nỗi hắn không biết xử dụng cuốn niên giám, nên đành phải hỏi ông chủ quán. Lúc đã gọi được sứ quán Sô Viết, hắn nói bằng tiếng Nga. Một giọng đàn bà trả lời:

– Ông tổng lãnh sự hiện không có đây.

– Tôi là phi công Sô Viết Boris Neva đang ở đầu giây. Tôi muốn hồi hương ngay.

Boris muốn giải thích thêm, nhưng đã có tiếng trả lời.

– Vấn đề hồi hương, ông cần hỏi ở văn phòng sứ quán, ở đó người ta sẽ cho ông giấy tờ để điền vào, sau đó ông cứ chờ ở nhà người ta sẽ trả lời.

Boris nghe tiếng gác máy ở đầu giây, như tiếng xé lòng.

Hắn ngẩn ngơ giữ ống nghe một chốc rồi cũng đành gác máy xuống.

Viên chủ quán hỏi:

– Ông cần gọi lại số đó nữa không?

Ông ta cầm số tiền gọi điện thoại trong tay Boris, số tiền bằng nửa số tiền bán áo trong người hắn, rồi quay lại một lần nữa số điện thoại của tòa đại sứ Sô Viết. Boris van nài:

– Tôi xin bà nghe tôi, vì đây là một trường hợp khẩn cấp. Tôi là phi công Boris Neva đang gọi điện thoại đây.

– Ông mới gọi cách đây ít phút thôi. Ông đã được chỉ dẫn đầy đủ rồi, tại sao ông gọi lại làm gì?

Nói xong điện thoại viên lai gác máy ngay. Boris như treo lưng chừng giữa khoảng không. Sô Viết và đảng còn xa quá, hắn chưa thể đến gần được. Đành phải ra đường, giữ kỷ số tiền còn lại trong tay.

Hắn chỉ nghĩ đến một điều duy nhất: hắn đã đến trễ về việc bản án ở Bucarest, mỗi giờ mất đi là xem như một giờ phản bội, nhưng trí óc hắn không thể tìm ra một giải pháp nào nữa.

Boris phải nghĩ đến những đồng chí cộng sản mà hắn đã từng gặp ở Nga, hy vọng đến gặp họ để bắt liên lạc với tòa đại sứ Sô Viết, có lẽ thế là giải pháp đẹp nhất. Hắn có nhiều bạn Pháp ở Mạc Tư Khoa nhưng bây giờ không còn nhớ đến ai nữa. Hắn ráng nhớ lại xem thử còn đảng viên cộng sản nào quen đang ngụ tại Ba Lê hay không, thứ quen thân mà hắn có thể thố lộ tông tích rằng hắn là Bodnariuk và đang cần trở lại Nga gấp.

Cộng sản là một đại gia đình có đảng viên trên tất cả thành phố. Đảng viên cộng sản đi đâu cũng không thể cô đơn được, thế mà hắn không nhớ nổi một đảng viên cộng sản Pháp nào cả. Hắn bóp trán suy nghĩ, vụt chốc một cái tên hiện ra trong trí: giáo sư Voivod, một nhà điêu khắc gốc Lỗ ma ni hiện đang ở Ba Lê.

Đó là một người cộng sản mà báo chí nhắc nhở đến luôn. Boris thầm tính là: mình sẽ đến ông ta để bắt liên lạc với sứ quán Sô Viết”.

Hắn chưa bao giờ thấy mặt giáo sư Voivod, nhưng chỉ cần ông ta là đảng viên cộng sản mà hắn lại là người cùng làng nữa. Tìm địa chỉ ông ta trong niên giám điện thoại Boris đi bộ đến nhà. Giáo sư Voivod ngụ trong một xưởng lớn ở Montparnasse. Ông ta có bộ râu thật đẹp như trong tranh:

– Tôi không muốn tiếp ai cả.

Nói thế xong ông ta muốn đóng cửa, không thèm nhìn Boris nữa, ông ta hằn học nói lại:

– Tôi không có gì để phải nói chuyện với ai cả. Tại sao các anh cứ muốn gặp tôi?

Boris tự giới thiệu:

– Tôi là người Lỗ ma ni, người đồng hương với giáo sư.

– Tôi không có liên lạc gì với người Lỗ ma ni cả, cũng không liên hệ gì với xứ Lỗ ma ni và toàn thể dân Âu châu. Tôi không quen ai ở xứ nào trên vũ trụ này nữa. Đi đi và để tôi yên.

– Tôi vừa đến Ba Lê sáng nay sau khi rời khỏi bệnh viện.

– Thế ra anh là người tị nạn? Tại sao lại tị nạn? Anh sợ cộng sản phải không? Các anh ai cũng sợ cộng sản cả, sợ họ bắt làm việc. Và các anh tưởng tại Tây Phương các anh không bị bó buộc làm việc ư? Lầm, Tây Phương đang đầy người tị nạn, đầy, đầy nhóc.

Voivod giận đến tím mặt không nói nữa. Boris khoái trá. Giáo sư này hình như là một người cộng sản quá khích, thế là hắn gặp may rồi đấy. Giáo sư nhìn thẳng vào người Boris, vào những giọt mồ hôi đang chảy dài trên trán, trên vết sẹo, trên đôi má tái nhợt lởm chởm toàn râu chưa cạo. Voivod bảo:

– Xin lỗi anh tôi biết anh muốn ở lại Lỗ ma ni. Ai cũng muốn ở lại trong làng mạc của mình. Tôi biết là lũ cộng sản tàn bạo đó không cho người ta vui thú gia đình nữa. Họ đuổi các anh ra khỏi nhà, tôi biết. Các anh năn nỉ muốn làm việc, nhưng người Nga không cho phép. Tôi biết, hạng người như anh tôi đã gặp hàng ngàn. Nhưng tại sao các anh đều qui tụ nơi nhà tôi, tôi chỉ là một tên điêu khắc già. Thôi cầm lấy chừng này và đi đi.

Giáo sư Voivod đưa cho Boris 1000 francs, và muốn đóng cửa, nhưng Boris vẫn còn đứng đây. Qua cánh cửa người ta trông rõ những bức tượng trong xưởng, vô số. Chưa bao giờ Boris thấy cảnh tượng này. Không có bóng dáng con người, súc vật, cây cỏ, hoa lá, chỉ là hàng trăm bức tượng, cái cao cái thắp ngổn ngang. Boris thầm nghĩ: “Thì ra ông nầy chống Cộng. Ông ta đã phản bội tất cả”. Boris đăm đăm nhìn các bức tượng, chỉ toàn là những nét linh hoạt, như là những hình lửa khói đang bốc thẳng lên trời. Giáo sư Voivod hỏi thêm:

– Bức tượng tôi có còn ở làng không nhỉ?

Lần đầu tiên giọng nói của Voivod có vẻ thân mật, nhờ lúc nghĩ đến số phận của các tác phẩm quá khứ của ông ta. Voivod nghi ngờ:

– Tôi chắc là lũ cộng sản lang sói đã đập vỡ bức tượng đó rồi.

– Không, họ chưa đập vỡ đâu.

Nghe trả lời thế, mặt ông ta sáng lên, bảo Boris:

– Nào, vào đây ăn uống gì đã. Nhưng ăn xong, anh đi ngay nghe chưa. Tôi không muốn mất thì giờ.

Boris cầm bánh mì và miếng dâm bông ông ta đưa cho. Ông ta hỏi lại Boris :

– Lần chót anh thấy bức tượng đó ở Roman từ bao giờ?

Boris nhớ lại là lúc 14 tuổi mình có thấy một lần ở trong nghĩa địa Roman. Rồi từ đó hắn không trở về làng nữa. Tuy thế, hắn nhớ rõ ràng lắm, vì dân làng Roman ai cũng biết bức tượng của Voivod trong nghĩa địa, bằng cẩm thạch trắng, bức tượng chiếu sáng như một tấm gương soi, Boris trả lời bừa là hắn ta vừa thấy lại lần sau cùng chừng sáu tháng. Voivod sung sướng ra mặt hỏi:

– Cách đây sáu tháng, bức tượng còn ở đó ư? Bức tượng trinh nữ đó là tác phẩm đầu tay của tôi. Sau đó, tôi có cả hàng ngàn bức tượng khác, để ở khắp viện bảo tàng trên thế giới. Năm mươi năm nay, lúc nào tôi cũng đẽo gọt các bức tượng nhưng chưa có bức tượng nào tôi thích hơn bức trinh nữ ở nghĩa địa làng Roman. Lúc mà các phê bình gia hỏi tôi tại sao có thể đạt đến thứ nghệ thuật gãy gọn hoàn toàn trừu tượng thì tôi đều nói về bức tượng trinh nữ ở Roman. Người bạn hàng trong làng mình có một người con gái chết lúc 16 tuổi. Ông ta có nhờ tôi làm một bức tượng để trên mộ. Qua bức ảnh và trí nhớ của riêng tôi, tôi cố hoàn thành bức tượng người con gái đó. Nhưng tôi không thể khắc một trinh nữ bằng cách để cả vú, đùi và háng được. Những thứ đó đều bằng chất thịt, thế mà một trinh nữ đã chết không còn chất thịt tục lụy đó được, mà chỉ còn cái gì tinh khiết, thanh cao. Thịt không thể nào thanh cao, và chỉ là chất liệu có tính cách giai đoạn nơi một trinh nữ đã chết, anh có nhận thấy thế không? Cho nên lúc nắn tượng, tôi bắt đầu lột hết da thịt của nàng để chỉ tạo đúng nàng như tôi đã thấy và đúng với thực chất của nàng là tinh khiết, thanh cao. Cho nên tôi chỉ giữ lại nơi nàng những đường nét lóng lánh cao ngất như một ngọn lửa, đúng là một ngọn lửa được điêu khắc. Đó là bức tượng trinh nữ ở làng Roman và cũng là tất cả hệ thống nghệ thuật của cả đời tôi, nghĩa là dừng lại nơi thực chất và loại trừ hết những gì tục lụy và vô ích. Ví như nơi con chim đang bay, tôi chỉ chọn khả năng bay được, vì đó là cái gì quan trọng nhất của con chim. Phần còn lại tôi gạt bỏ hết : đầu, cánh, chân, vì những thứ nầy không chính yếu, chỉ có khả năng bay được là đáng ghi lại mà thôi. Tất cả những bộ phận chim dùng để làm việc khác ngoài việc bay như ăn uống, sinh đẻ, chống đỡ với thời tiết đều phụ thuộc. Với tôi, chim không đẻ, chim chỉ bay mà thôi, anh hiểu chưa?

Boris đã thấy giáo sư này là kẻ thù của đảng cộng sản. Đáng ra thì hắn chả hiểu gì về các bức tượng của ông này cả, nhưng hình như hắn cảm nhận rằng Voivod là một đồng chí của hắn trên lý thuyết, vì nhà điêu khắc Voivod làm việc theo một chiều hướng với đảng cộng sản, nghĩa là với hắn. Hắn hy sinh mọi điều cho thực chất. Ai cũng nhìn thấy ở con chim các bộ phận như cánh, lông, mỏ, trứng. Bay là một điều trừu tượng. Chỉ có cộng sản mới có thể thực hiện trên bình diện xã hội điều mà Voivod đã thực hiện trên bình diện nghệ thuật. Cộng sản chủ nghĩa giáo dục con người để dành cho kế hoạch và nếu cần hy sinh người cho kế hoạch, như Voivod đã hy sinh chim cho khả năng bay lượn.

Voivod hỏi thêm :

– Anh bị gì đấy? Sao lại không có đến chiếc sơ mi? Chắc lại trốn khỏi một nhà tù cộng sản rồi phải không? Họ có hành hạ anh? Boris muốn trả lời như thế này : “Không, thưa ông. Trái lại là đằng khác bởi vì tôi là người cộng sản. Tôi đang thực hiện cho lịch sử trên bình diện xã hội những gì mà ông thực hiện trên bình diện nghệ thuật. Tôi gạt bỏ hết vú, đùi, háng, tất cả những gì không trong sạch để đào tạo một xã hội hoàn toàn trong sạch. Ông nắn tượng thì tôi nắn người. Tôi phá bỏ thành kiến, cổ hủ, bản năng, để giáo dục con người theo một cuộc sống tập thể cao hơn y theo kế hoạch. Sự độc ác của ông lúc ông cắt thân thể người trinh nữ để lóc thịt hay lúc ông nhổ lông, cắt thân còn chim để chỉ nắn đương bay mà thôi nghĩa là chỉ thực hiện những gì toàn chân và toàn mỹ cũng giống như chúng tôi, bởi vì chúng tôi là những nhà kỹ sư tân kỳ đi kiến tạo một thứ người mới, loại bỏ những giai cấp phản động, lười biếng, chống đối, để mở đường đi đến một đời sống cao đẹp hơn. Cuộc đời cộng sản không giống đời người từ trước đến nay, như trinh nữ của ông không giống những trinh nữ khác mà chúng tôi đã thấy. Chúng tôi là kẻ sát nhân hay là những người thuộc thành phần ưu đẳng? Thưa ông, ông là đàn anh của tôi trên lý thuyết, bởi vì chúng tôi cũng lóc thịt người để đem lại một đời sống cao đẹp hơn. Xã hội cộng sản ngày mai sẽ trong sạch và đẹp đẽ như trinh nữ ở nghĩa địa Roman hay như con chim đang bay của ông. Người Sô Viết chúng tôi kiến tạo một xã hội trong đó con người không đơn độc tranh đấu cho miếng cơm manh áo như súc vật. Đây là lần đầu tiên con người vượt khỏi thân phận loài vật để cùng nhau tranh đấu chung cho đời sống, y theo kế hoạch”.

Duong nhu doan duoc y nghi cua Boris, nen Voivod duoi han :

“Đi đi, lũ Á Châu súc sinh đã phạm những tội ác tày trời. Sô Viết là những kẻ sát nhân hung bạo nhất chưa bao giờ thấy trên đời. Thành Cát Tư Hãn là một thiên thần bên cạnh chúng. Những người cộng sản đã áp dụng vào đời sống con người những nguyên tắc mà tôi đã áp dụng trong nghệ thuật. Chúng tưởng là chúng được phép ứng dụng vào thịt sống của con người công việc mà tôi đang thực hiện trên đá. Con người nào có dễ dàng uốn nắn như đất đá, gỗ cây. Con người tự nó đã hoàn toàn rồi. Nếu anh lấy bớt bất cứ một cái gì trên con người tức là anh đã hủy hoại, đã làm hỏng nó đi mất. Người cộng sản muốn tước bỏ nơi con người những tình cảm, ích kỷ, bản năng, thành kiến, ảo tưởng. Kết quả là nơi nào họ đi qua, Sô Viết chỉ để lại đằng sau họ những xác chết. Không bao giờ một xã hội cộng sản có thể tạo dựng được. Đời sống cần có những lầm lỗi, những bí ẩn. Khi loại bỏ lầm lỗi, anh loại bỏ luôn cả con người. Như một thi sĩ Đức đã viết : “Đời sống chỉ có trong lầm lỗi. Khôn ngoan đồng nghĩa với sự chết”. Chiều hướng đẹp nhất của con người là chiều hướng mà người Sô Viết và chủ nghĩa cộng sản không biết đến : đó là chiều hướng của bí ẩn, đẹp nhất của đời sống. Thôi anh đi đi, đi mua áo mà mặc và đừng bao giờ trở lại nhà tôi. Tôi van anh để cho tôi yên, tôi chỉ còn là một ông già cô đơn…”

Boris cầm những tấm giấy bạc mới của Voivod trao cho. Ông ta còn nói thêm:

– Hãy đi theo con đường định mệnh của anh.

Rồi ông bước vào xưởng điêu khắc rộng như một nhà kho. Boris đi xa dần, vừa đi vừa đếm tiền, sau cùng hướng về nhà ga.

Boris lên tàu đi Strasbourg theo như kế hoạch vừa mới nghĩ ra, hắn sẽ bí mật qua Đức và từ đó sang vùng Sô Viết. Hắn đã có tiền, thế nào hắn cũng đến được Bucarest đúng lúc.

Trước khi từ giã Ba Lê, hắn ngạc nhiên nhìn người ta qua lại trên bến tàu. Ba Lê cho hắn cái cảm giác rã rời cùng cực, mỗi người là một con thú phải đơn độc lo cho thân mình. Mỗi cá nhân chiến đấu đơn độc cho miếng cơm, manh áo, cho cuộc đời riêng rẻ của mình. Đúng như loài vật.

Xã hội trưởng giả không có trật tự, không che chở cho ai cả. Đó là một xã hội chỉ có danh từ mà không có ý nghĩa nào cả. Mỗi người là một thế giới cô đơn. Vì thế mà Tây phương không thể nào hiểu nổi tại sao một người cộng sản có thể chết đi để cho xã hội này được sống, vì đối với cộng sản hai chữ xã hội có nghĩa là che chở, cơm áo, giải trí, an ninh. Xã hội là tất cả, và cá nhân không là gì cả. Ở đây, xã hội vô nghĩa, chỉ có cá nhân là tất cả. Trong xã hội Tây phương, cá nhân hoàn toàn tự do và không được bao bọc che chở như con thú trong rừng, ý nghĩ đó thật đã làm cho Boris rã rời nhọc mệt.

Tàu đã ra khỏi ga, hắn phải suy tính đoạn đường hắn sẽ đi qua. Hắn phải vượt hai biên giới, và rồi hắn sẽ được trở về với vũ trụ cộng đồng của những người Sô Viết.

III

Sau khi Doina Australie chết, Pillat và Marie bí mật trốn qua Pháp. Người Pháp không bắt bớ những người tị nạn, nên cảnh sát Pháp đã cho họ giấy phép tạm cư một tháng. Họ nghĩ là từ Pháp họ sẽ dễ dàng di cư sang đất khác; hơn nữa tất cả sứ quán và đại diện các quốc gia bên kia bờ Đại Tây Dương đều có ở Pháp. Ở đây không có ủy ban buôn bán người như ở Đức. Marie hy vọng là sẽ di cư sang Gia Nã Đại để tìm gặp Kostaky.

Hai vợ chồng thuê một căn buồng gần đại học Sorbonne, trong khách sạn của ông Dupont, khách sạn này dành cho sinh viên, vợ ông chủ cũng giúp đỡ trong việc quét dọn phòng ngủ; ông bà có hai đứa con gái.

Pillat và Marie trả tiền phòng và tiền ăn nhờ các cơ quan từ thiện tương trợ. Ở Ba Lê có đến hàng ngàn người tị nạn, các cơ quan từ thiện thường giúp đỡ họ bằng cách biếu phiếu thực phẩm, vài trăm francs hay là cho quần áo. Lúc nào không đi đến các cơ quan từ thiện thì Pillat lại đến các sứ quán để lo về chuyện di cư, vì hai vợ chồng đã xin tất cả các quốc gia nào còn nhận người di cư chấp nhận họ, và đang chờ trả lời. Trong lúc chờ đợi, họ viết thư cho các bạn bè đã di cư được ra xứ ngoài để hỏi han về cuộc sống ở đó. Varlaam trả lời là anh đã được bốn huy chương ở Israel. Ante Petrovici đã trở thành nhà đại sản xuất đồng hồ ở Argentine. Daniel Motok viết một bức thư thật dài :

“Tôi biết là ông bà đang muốn di cư sang Venezuela, ở đây tôi đang ở trong một thiên đàng của rắn độc. Nếu ông bà chính thức sang đây thì có lẽ sẽ được may mắn hơn. Tôi thì phải trốn qua đây thôi. Như ông bà biết chuyến đi của tôi ở Đức bằng cách tự nằm nhốt trong một kiện hàng. Mới đầu, tôi đã bị nghẹt thở vì chính hơi nóng của thân thể mình. Chóng mặt đến muốn chết được. Thật là phải cầu trời xin đừng bao giờ cho con người đau khổ đến như thế. Tôi đã đau khổ quá nhiều. Trên cùng chuyến phi cơ có hai người khách danh dự, chắc ông bà có nghe báo chí nói đến: đó là hai phi công Nga Anatole Barsov và Igor Poltarev. Người Mỹ cho họ ăn uống đầy đủ trong suốt cuộc hành trình, phỏng vấn, chụp hình. Người Mỹ muốn biến họ thành những người khổ nhục vì Sô Viết, nhưng những người chịu khổ nhục thực sự thì người Mỹ lại không hề biết đến. Ở trong kiện hàng tôi tưởng mình sẽ ngủ luôn một đời. Nhưng lúc tôi tỉnh dậy và đẩy nắp kiện hàng lên thì thấy mình đang ở trong một nhà kho hàng của một phi cảng Hoa Kỳ còn xa thành phố.

Vừa choáng váng, vừa đói, vừa khát, tôi như kiệt lực đi nhưng cũng cố lê chân về phía nam. Đang đêm, tôi biết là tôi, Motok, đang ở trên đất Hoa Kỳ một cách bất hợp pháp nhưng tôi không hề sợ hãi.

Tôi chỉ biết có một điều: tôi là một con người và lúc tôi là một con người thì không có gì là bất hợp pháp khi tôi đặt chân lên một con đường, ngắm sao trên trời và thở không khí của trời đất.

Tôi, Daniel Motok, đêm đó, đã tự thấy mình vẫn hợp pháp. Tôi đi kiếm việc làm nuôi thân như là một điều đương nhiên. Đêm đó nếu ai có bảo là tôi đang đi một cách bất hợp pháp trên mảnh đất nầy chắc là tôi chết được. Tôi cảm thấy là ai cũng có quyền tranh đấu cho sự sống còn của đời mình. Điều đó hợp pháp. Chỉ cấm không cho con người sống nữa, điều đó mới là bất hợp pháp.

Cứ như thế, tôi đi về phía Nam. Ban ngày ngủ giữa đồng. Ban đêm tôi đi bằng cách quá giang, đi bộ, đi tàu lửa, lúc nào cũng trốn tránh bí mật. Tôi vượt qua hai biên giới mà không bị bắt giữ. Khi bị bắt thì đã biết mình đang ở trên đất Venezuela. Người ta chỉ hỏi là tôi có cần làm việc không, chứ không hỏi giấy tờ.

Venezuela đang kiến thiết một con đường cắt ngang dãy núi của một khu rừng đầy rắn của vùng nhiệt đới. Thợ thuyền đều là người da đen vượt ngục. Tôi là người da trắng duy nhất. Họ tưởng tôi cũng là một tên tội phạm. Nên họ không cần hỏi giấy tờ tôi, cũng không cần hỏi tôi ở đâu đến. Thế là tôi được ra làm ở công trường.

Thật chưa sách vở nào viết về một vùng như thế lại có được trên quả đất. Mặt trời làm thân thể chảy nước ra được và cứ mỗi bước lại gặp một con rắn. Tôi sống sót, nên được làm trưởng toán. Tôi thay thế một kỹ sư, rồi hai, rồi dần dần tôi thay luôn nhiều kỹ sư vì họ không muốn ngày ngày bước chân đến vùng đó. Tôi lãnh một nửa lương của họ để thay họ sống với cái địa ngục nhiệt đới toàn là rắn và rắn. Tôi làm giàu nhanh chóng, có cả một va li toàn ngân phiếu, nhưng tôi cũng bị nhiều khổ tâm vì nóng và rắn. Sợ hãi đến tột cùng. Nhưng còn bị dày vò vì một nỗi khổ khác nữa đó là sự khao khát đàn bà. Từ lúc đến đây, tôi chưa hề thấy người đàn bà nào cả, dù là thấy ảnh mà thôi. Sau là tôi sợ người da đen. Người da đen căm thù người da trắng đến độ có thể giết chết được. Họ không dám bắn người da trắng trừ trường hợp người nầy say rượu. Mỗi đêm, hàng trăm người mọi da đen dưới quyền điều khiển của tôi lảng vảng quanh lều tôi để xem thử tôi có uống whisky hay không. Chỉ cần tôi nhắp một chén rượu là tôi sẽ bị giết ngay, lũ mọi sẽ vồ lên thân xác tôi xé tôi ra thành từng mảnh. Cho nên tôi không hề đụng đến rượu, nhưng càng kiêng cử tôi càng thèm khát. Trong một năm, hợp đồng sẽ mãn hạn. Nếu trong năm nay tôi không chết khát, chết nắng, chết vì rắn rết, vì mọi da đen thì tôi sẽ trở về thế giới loài người. Tôi sẽ trở thành giàu có trên đời, và sẽ kiếm ông bà nếu ông bà còn sống sót trên lục địa nầy. Nhưng một năm dài quá, gần như là bất tận đối với tôi nhất là tôi sống với toàn là kẻ thù với ánh nắng mặt trời luôn thiêu đốt tôi, với lũ rắn độc và lũ mọi hung dữ. Nên ông bà hãy nghĩ đến tôi vào giờ cầu nguyện vì không có sự giúp đỡ của trời không ai có thể chống cứ để sống sót ở một nơi đầy hiểm nghèo như thế nầy. Hoàn cảnh tôi như thế đó. Tuy nhiên, tôi có thể nói là cho đến bây giờ, tôi hoàn toàn may mắn đã đến đây. Như tất cả sự may mắn dành cho một kẻ bị lưu đày, sự may mắn của tôi chỉ là một vận hội thứ hai, thứ vận hội giống như chiếc áo mưa rẻ gặp dịp, thứ vận hội vay mượn tạm bợ.”

Pillat đọc thư Motok hết sức cảm động. Chàng bảo vợ:

– Chắc vợ chồng mình không đến nổi nào, chúng mình sẽ di cư đàng hoàng, chính thức. Di cư như thế đỡ hơn nhiều chứ.

Thế là Pillat được phép di cư sang Venezuela, chỉ còn đợi tàu nữa thôi. Việc kiếm ăn hàng ngày thật khó khăn và chật vật, nhưng hy vọng sẽ được có việc làm nay mai làm cho hai vợ chồng thêm can đảm. Họ chờ đợi ở khách sạn Dupont.

Một buổi sáng, có tiếng gõ cửa thật gấp trước phòng họ. Có cảnh sát đến. Hai vợ chồng có phép cư ngụ đến một tháng và họ chỉ ở Ba Lê mới có ba tuần và chưa làm điều gì bậy bạ. Tuy thế Pillat vẫn run sợ. Hai người cảnh sát bận đồng phục bước vào hỏi giấy tờ vợ chồng Pillat. Pillat tìm giấy tờ cư ngụ, một tờ giấy mỏng tanh như giấy hút thuốc, đưa cho cảnh sát.

– Ông bà không còn giấy tờ gì khác sao?

– Không, chúng tôi chỉ có giấy tờ bằng tiếng Lỗ thôi.

Marie còn đang bận mặc áo lại dưới tấm mền. Cửa mở toang hoang, bốn người cảnh sát quan sát mọi cử chỉ của hai vợ chồng.

– Ông bà có giấy tờ gì khác bằng tiếng Pháp?

– Thưa không.

Pillat trả lời thế và mặc vội chiếc áo, Marie ôm đầu thầm cầu nguyện “Lạy trời đừng để họ bắt chúng con, hãy tha cho chúng còn chuyện bắt bớ”.

Cảnh sát ra lệnh:

– Mặc áo quần và đi xuống.

Pillat thắt cà vạt, hỏi:

– Chúng tôi bị bắt giữ sao?

– Vâng, ông bà mặc áo quần nhanh lên.

– Các ông có giữ chúng tôi lâu chăng? Chúng tôi có cần mang gì theo chăng? Mà tại sao lại bắt chúng tôi?

Viên cảnh sát thản nhiên châm điếu thuốc lá, dựa lưng vào tường. Pillat hỏi lại :

– Chúng tôi đã làm điều gì đến nỗi bị bắt? Giấy phép cư ngụ chúng tôi không hợp lệ chăng?

– Xuống đi.

Ra lệnh xong, viên cảnh sát khóa cửa phòng trả chìa khóa cho ông Dupont.

Con gái bà Dupont đã thức giấc, nhìn Marie và Pillat bị còng tay đi giữa hai người cảnh sát. Ông Dupont không nói gì, chỉ cầm chiếc chìa khóa và nhìn Marie, Pillat ra chiều khinh bỉ. Đó là sự khinh bỉ của người đang có tự do đối với người bị bắt. Ông ta cho rằng mình không bao giờ bị bắt, và con cái ông ta cũng thế. Điều đó chỉ xảy ra cho những người ngoại quốc mà thôi. Pillat hỏi lại một lần nữa :

– Chúng tôi đã làm gì? Tại sao bắt giữ chúng tôi?

Cảnh sát vẫn không trả lời. Họ dẫn Marie và Pillat đến tòa thị chính leo lên tầng thứ năm. Lúc đó đã sáu giờ sáng. Họ nhốt hai người trong một căn phòng. Pillat vẫn tự vấn xem mình đã phạm tội gì. Giấy cư ngụ thế là đã bị thu hồi. Lúc 11 giờ, họ được mời vào văn phòng một viên thanh tra khá dễ thương. Ông nầy cho biết :

– Nếu ông bà tái phạm, sẽ bị đuổi ra khỏi xứ nầy ngay.

Marie khóc. Pillat thanh minh :

– Chúng tôi đã được chấp thuận di cư sang Venezuela. Chúng tôi sẽ đi trong vòng vài ngày nữa bao giờ có tàu đến. Chúng tôi không có tội gì, tại sao các ông bắt giữ chúng tôi?

Marie chăm chú nhìn các ngón tay dính đầy mực đen sau khi được sở cảnh sát lấy dấu tay. Đúng là những vết đen ô nhục. Nàng chùi các ngón tay và bật khóc. Những dấu mực đã thấm vào da, đã bám vào thịt, nàng có chùi cũng vô ích, đen vẫn hoàn đen.

Viên thanh tra nói:

– Đáng lý tôi đưa ông bà xuống trại tạm giam.

Marie trố mắt nhìn.

– Bà không biết trại giam là gì à? Đó là một nhà tù, vâng đáng lý tôi đưa ông bà vào tù, nhưng vì đây là lần đầu, tôi tha cho. Ông bà chỉ bị phạt vạ mà thôi.

Marie hỏi :

– Nhưng chúng tôi phạm tội gì mới được chứ?

Trong lúc Pillat cứ nghĩ là nếu mình không có tiền để đóng phạt thì tội phạt vạ sẽ biến thành tội tù ở.

– Ông bà không khai báo chỗ ở cho sở cảnh sát.

Chúng tôi chỉ ở có một ngày hồi mới đến Ba Lê ở khách sạn “Con mèo câu cá”, sau đó chúng tôi dời đến khách sạn của ông Dupont trên cùng con đường, chỉ cách đó hai nhà mà thôi, vì rẻ hơn. Và ở đây cho đến bây giờ.

– Như thế ông đã vi phạm nghị định 31-12-1947 về chuyện khai báo chỗ ở của ngọai kiều. Ông là người ngoại quốc trên đất Pháp, mọi sự thay đổi chỗ ở dù chỉ là từ nhà này sang nhà bên cạnh đều phải khai báo cho sở cảnh sát. Cảnh sát Pháp để cho các ông tự do và không hề kiếm chuyện như cảnh sát các nước khác, nhưng họ vẫn phải theo dõi các ông chứ. Dĩ nhiên như thế. Ông thuộc thành phần mà cảnh sát theo dõi ngày đêm. Mọi người ngoại quốc ở Paris đều phải bị như thế cả. Làm sao mà theo dõi ông được, nếu ông đổi nhà mà không khai báo.

Marie vẫn cố chùi sạch các ngón tay. Pillat vẫn nhìn viên thanh tra. Ông này ra lịnh:

– Ông bà có thể ra về. Nhưng đừng quên là mỗi lần thay đổi địa chỉ phải khai báo đấy.

Pillat cảm ơn ông ta đã không tống giám hai vợ chồng, rồi vội vã dẫn vợ về khách sạn tắm rửa. Mùi của hành lang quận cảnh sát đã dính vào áo quần họ. Ông Dupont hỏi:

– Thế là ông bà may mắn đấy. Chỉ có ở Pháp, cảnh sát mới tử tế với người ngoại quốc như thế thôi.

Marie dấu các ngón tay đi nhưng hình như con ông Dupont đang tò mò nhìn. Con gái ông ta thì không bao giờ bị bắt nên dỉ nhiên ngón tay lúc nào cũng trắng trẻo và sạch sẽ vì không bao giờ ngón tay họ bị nhúng vào mực tàu. Trong tận đáy lòng, Marie tủi hổ về các ngón tay dơ bẩn của mình. Nàng thèm khát các ngón tay sạch sẽ của các con gái con của ông Dupont mà từ nay nàng không bao giờ có được nữa, nàng vừa từ sở cảnh sát về, nàng vừa bị bắt, nghĩ thế mà nàng bật khóc.

Bỗng ông Dupont cằn nhằn:

– Tôi đã cấm bà bao nhiêu lần là không được nấu ăn trong phòng, bà làm dơ hết tường và nền nhà.

Và Pillat không còn thấy chìa khóa phòng ở chỗ hộc cũ nữa.

Đồ đạc đổ la liệt ở văn phòng khách sạn, cái trên bàn, cái trên đất kể cả quần áo dơ bẩn, nồi nấu bằng cồn, và vài củ khoai tây. Ông Dupont đã dọn hết đồ đạc trong phòng họ ra ngoài, và để các đồ vật tang chứng lên trên cùng: khoai tây, bánh mì, lạng mỡ, rồi bảo:

– Tôi thấy cả khoai tây, cả nồi cồn, cả son chảo, nghĩa là bà đã làm bếp trong phòng mặc dầu tôi đã triệt để ngăn cấm. Tôi không thể chấp chứa ông bà trong khách sạn tôi nữa. Tìm chỗ khác mà ở.

– Ông Dupont, Pillat năn nỉ, ông Dupont…

– Lần cảnh cáo chót, ông bà lên tầng sáu mà ở và hứa với tôi là không được nấu ăn trong phòng nữa.

Pillat, Marie thu dọn đồ đạc và bước lên từng thứ sáu. Để chứng tỏ là họ không làm bếp nữa, Pillat để lại mấy củ khoai dưới đất. Ông Dupont lượm vứt vào thùng rác ra vẻ khinh bỉ.

Con gái ông Dupont nhìn Pillat bước lên các bực cầu thang như thể là chàng đang bước lên đoạn đầu đài. Marie vẫn còn khóc.

Vào phòng nàng rửa tay ngay, cố chùi các ngón tay thật mạnh nhưng những vết mực đèn vẫn còn, không thể nào nàng chùi sạch được.

Một tuần nữa đã đến lễ Phục sinh. Pillat bảo :

– Hôm nay là ngày đầu của tuần Thánh lễ.

Hai vợ chồng đều nghĩ về xứ Lỗ ma ni thân yêu của mình.

IV

Một tuần lễ trước ngày lễ Phục sinh, các hội từ thiện làm việc gắt gao hơn thường lệ. Pillat nhận được tiền giúp đỡ của hội Tin Lành Hoa Kỳ. Chàng trả tiền phòng cho ông Dupont. Hai vợ chồng muốn thực hiện giấc mơ của mình. Sửa soạn một bữa tiệc cho ngày lễ Phục sinh. Suốt thời gian lang thang lưu đày, họ chưa bao giờ nghĩ rằng có ngày họ sẽ ăn được một bữa thịt ngỗng rô ti. Bây giờ, trả tiền phòng xong, họ vẫn còn thừa tiền để thực hiện cái mơ ước của những ngày đói khổ, của những đêm dài nằm mơ mấy củ khoai tây, một khúc bánh mì bơ mà thực tế họ chỉ uống nước để cho dịu cơn đói mà thôi.

Ngày thứ sáu thánh họ mua nửa con ngỗng và khoai tây, như thế là họ có cảm tưởng tiêu phí hết cả gia tài, nhưng biết là sắp đi Venezuela nên họ tự cho phép một lần tiêu sang. Vào ngày lễ đó, Pillat nhịn đói hoàn toàn, không ăn bánh, không uống nước. Chàng thành tâm cầu nguyện Chúa Trời giúp đỡ cho vợ chồng mình được di cư sang Venezuela để có thể tái tạo một cuộc đời mới. Họ cầu nguyện cho linh hồn đứa con Doina Australie được yên ổn mà nắm mồ đang ở trên mảnh đất buồn tẻ của Đức Quốc. Họ cầu nguyện cho Ion Kostaky đang ở bên kia bờ Thái Bình Dương, cho Ileana có lẽ bây giờ đang ở trong ngục tối, và sau cùng cho hàng triệu người bạc phước đang lang thang sau ngày chiến thắng không nhà không cửa trên trái đất hãy còn khốn đốn trong cảnh tù đày. Họ còn nghĩ đến Eddy Thall, đến Motok đang sống trong địa ngục của rắn rết, họ cầu nguyện cho Ante Petrovici mà dù giàu có trên xứ Argentine vẫn chưa biết có thể bị bắt giữ lúc nào vì còn thiếu vài ly mét ở chân phải, họ cũng không quên Varlaam đang chiến đấu cho xứ Do Thái.

Đêm về thật yên tĩnh. Hình như thời gian trôi qua không đúng như chiếc đồng hồ treo trên tháp trước khách sạn, hay như những chiếc đồng hồ các cô gái con ông Dupont đang đeo trên tay, cũng không đúng như đồng hồ của Cảnh Sát và Quân Đội. Đó là một thứ thời gian của vũ trụ vĩnh cửu, chiếc đồng hồ không hề đo thời gian bằng giây, bằng phút.

Ở đâu đây, lùi xa vào dĩ vãng, thi hài đấng Jésus Christ đang được đặt vào trong mộ. Người ta cảm thấy được nỗi rã rời của hàng trăm triệu người đang bị đóng mình vào thập tự giá trên khắp hoàn cầu, lìa đời vì những quyết định trên các hiệp ước nghị hòa như là chiếc đinh đóng sâu vào da thịt họ và đang chờ ngày bước xuống khỏi thập tự giá của cảnh lưu đầy để được chôn vùi trên mảnh đất quê hương.

Đêm về Pillat nhen bếp cồn và bắt đầu nấu ăn. Món thịt ngỗng đang ở trên soong, họ lại đang đói nhưng họ vẫn muốn nhịn ăn cho đến ngày lễ Phục sinh. Marie nằm gối đầu lên vai Pillat. Cả hai không nói năng gì. Trong nhà không còn thứ ánh sáng nào ngoài ngọn lửa xanh leo lét của cây đèn cồn.

Cửa sổ mở. Hai vợ chồng mơ ước trong yên lặng. Marie ngủ yên, Pillat tắt đèn, nằm xuống ôm vợ trong tay. Họ ngủ bên nhau như thế trong ý hướng về xứ Venezuela, về Jésus và về sự phục sinh của Ngài. Đó là một đêm tinh khiết nhất của đời họ, nên Pillat tuy ngủ mà nụ cười vẫn có trên môi. Nhưng khi thức giấc, đầu chưa rời khỏi gối, họ đã nghe thấy tiếng đập cửa lúc trời hừng sáng. Đã có tiếng gọi :

– Mở cửa mau, có cảnh sát đến.

Lệnh gọi được lập đi lập lại nhiều lần. Pillat nghĩ bụng:

Giấy cư ngụ của mình còn hợp lệ, sao cảnh sát còn trở lại. Mình làm điều gì phi pháp đến nỗi họ trở lui chăng?

Marie nhảy xuống giường, muốn mặc lại áo trong bóng tối nhưng không tìm thấy áo ở đâu cả.

– Mở cửa mau, có cảnh sát đến.

Nhiều bước chân dồn dập trên hành lang. Marie muốn dấu cái soong và bếp cồn. Pillat thắp đèn. Marie bảo:

– Khoan mở cửa, chờ em một chút đã.

Nàng tìm áo, nhưng không thấy. Chưa bao giờ nàng tuyệt vọng và kinh hoàng đến thế, ngay cả lúc người Nga đến, ngay cả lúc trốn vào rừng hay băng qua biên giới, chưa bao giờ nàng sợ hãi đến thế.

– Cảnh sát đây mở cửa mau.

Marie lo sợ:

– Họ đến bắt chúng mình đấy. Em không muốn bị bắt, không.

Nàng bám vào cánh tay Pillat. Chàng nói:

– Anh phải mở cửa. Em cứ mặc áo đi, bình tĩnh, thế nào anh cũng mở cửa cho họ vào.

– Mở cửa mau. Cảnh sát An ninh đến xét đây.

Marie tiến đến cửa sổ, hai tay che mắt. Thân nàng run lên như cánh cửa lớn bị cảnh sát gõ mạnh. Nàng có cảm tưởng cái nắm tay đập cửa đó đang đập lên chính thân thể mình, lên trán, lên ngực, lên đầu. Tất cả xảy ra nhanh đến chóng mặt. Marie không còn chịu đựng được nữa. Rồi thân thể nàng vắt qua cửa sổ, như là một cây bạch lạp cong lại trong ngày lễ Phuc sinh lúc trời quá nóng trong nhà thờ.

Nàng phóng người ra thật giản dị, run lên, tan vào khoảng không. Marie chưa bao giờ làm việc gì rắc rối trong đời.

Nàng không còn chống cự được nữa. Nàng để cho thân thể nàng mềm ra như là một cây bạch lạp đang tan dần, thân nàng rơi xuống mềm nhũn từ cửa sổ từng thứ sáu xuống đường. Mọi sự xảy ra giản dị, chỉ có thế thôi.

Lúc Pillat quay đầu lại, thì Marie không còn trong phòng nữa. Chàng chạy đến cửa sổ. Chàng chỉ quay lưng lại Marie có một chốc, một chốc thật ngắn để mở cửa cho cảnh sát vào, rồi chàng nghe một tiếng động, mơ hồ, xa xôi ở dưới đường, rồi chàng nhìn xuống. Trước khách sạn, đã có ngọn đèn hơi cháy sáng, chàng thấy vệ đường và thân thể Marie nát nhàu, bất động như một vết mực trên nhựa đường. Người qua đường bu quanh.

Hai người cảnh sát và một người mặc thường phục bước vào phòng. Pillat vẫn còn nhoài mình ra cửa sổ. Một người lên tiếng nghi ngờ:

– Có gì xảy ra ở đây?

Cảnh sát tiến đến cửa sổ, nhìn xuống đường và cùng hỏi: “Có gì đang xảy ra?”.

Trước thân thể sóng soải của Marie dưới đường và đám đông đang bu quanh, một người cảnh sát nắm lấy Pillat lôi ra ngoài phòng, chàng nghiến răng và không còn suy nghĩ gì nữa cả. Chàng chỉ muốn nghiến răng đến nát mà thôi. Cảnh sát hỏi:

– Ai đó? Có phải từ đây bà ta nhảy xuống lầu phải không? Trả lời mau.

Cửa phòng vẫn mở. Người trong khách sạn đã đứng đầy hành lang, bước chân người dồn dập. Pillat muốn ra khỏi phòng xuống lầu.

– Đứng yên. Đi đâu đấy?

Pillat muốn vùng vẫy nhưng bị giữ lại. Chàng biết mọi cố gắng bây giờ đều vô ích. Không còn gì phụ thuộc vào ý chí của chàng nữa, như là từ ngày chàng bị lưu đày, không có gì tùy thuộc vào ý chí của chàng cả. Chàng đã bị cầm tù một lần nữa.

– Tên ông là gì?

– Pillat.

Trước mặt chàng là thân thể nát nhàu của Marie đang nằm sóng soải trên vệ đường. Ngoài ra chàng không còn thấy gì nữa cả.

– Căn cước đâu?

Như trong mơ, chàng lục túi tìm giấy tờ. Cảnh sát vẫn theo dõi từng cử chỉ chàng. Người kia đóng cửa sổ và cầm giấy tờ, giấy mỏng như một tấm giấy hút thuốc. Đó là giấy phép cư ngụ ở Pháp nhưng không phải của Pillat mà là của Marie. Giấy của chàng ở phía sau. Ngạc nhiên cảnh sát hỏi:

– Bà ở dưới kia là Marie Pillat?

– Đúng là vợ tôi đấy.

Chàng cắn môi đến chảy máu. Cố nhịn khóc nhưng sự đau đớn cực độ đã làm chàng bật khóc.

Mấy người cảnh sát đọc giấy phép cư ngụ và cùng nhìn nhau thất vọng; người mặc thường phục quay về phía Pillat:

– Không phải hắn. Anh ở phòng số mấy?

– 604.

Dưới đường, vẫn có tiếng la hét, tiếng máy xe nổ. Hành lang trước phòng vẫn đầy người và cánh cửa lớn vẫn để mở. Cảnh sát nói:

– Tên Hy lạp mà chúng mình kiếm ở phòng 504. Chúng mình bị nhầm từng lầu.

– Vâng bị nhầm lầu.

Pillat muốn ra ngoài, nhưng bị giữ lại. Chắc lại bị cầm tù rồi đấy. Cảnh sát hỏi:

– Vợ ông?

– Vâng, vợ tôi.

– Tại sao bà tự tử?

Pillat không trả lời. “Tại sao bà làm thế?” Cảnh sát hỏi có vẻ với giọng nghiêm khắc, kết tội. Hắn muốn xử tội và lập lại câu hỏi:

– Tại sao bà tự tử? Ông bà cãi cọ nhau?

– Không, chúng tôi không hề cãi nhau.

– Thế tại sao bà nhảy xuống lầu tự tử? Trả lời ngay.

Pillat nắm tay, nghiến răng. Thịt trên thân chàng co rút lại. Tim chàng co rút lại.

– Có gì đã xảy ra?

– Chỉ vì sự nhầm lẫn của các ông đó.

Pillat trả lời như thế và cắn môi đến chảy máu. Chàng lẩm bẩm, nhầm lầu, nhầm lầu.

Chàng đá chiếc soong. Mở văng trên nền nhà thành một vũng và không bao giờ chùi sạch được, không bao giờ cả.

– Chúng tôi phải giữ ông để lập biên bản.

Chàng bị đẩy ra khỏi phòng. Trước khách sạn đã có xe hồng thập tự. Thân thể Marie nằm trên vệ đường. Pillat nhảy bổ đến bên vợ.

Nhưng chung quanh Marie đã có hàng rào cảnh sát với những áo quàng đen như những cánh quạ. Cảnh sát đến thật đông, bên xác Marie, người nào cũng mang áo choàng đen, như những cánh quạ mở rộng, như những loài chim báo hiệu tử thần.

Xác Marie được mang lên xe, xa dần. Sau xe là hàng xe cảnh sát nối đuôi, với áo choàng đen như một bầy quạ vừa ngửi thấy máu người. Họ đi theo xe và biến mất lúc đến góc đường. Ai cũng buồn vì chuyện vừa xảy ra, ai cũng cảm động. Người Pháp thường cảm động như thế khi một việc bất hạnh xảy ra cho một người đàn bà con trẻ.

Trước cửa khách sạn Dupont, còn một vết máu lớn. Hai con mèo đến lảng vảng bên vũng máu muốn liếm. Các cô con gái ông Dupont hoảng sợ gọi mèo vào nhà, và đổ sửa cho mèo khỏi phải đi liếm máu người đàn bà đã chết. Bà Dupont mang một thau nước đến lau sạch vết máu để cho mèo đừng ngửi thấy mùi nữa. Ông Dupont bảo:

– Bà lau sách là phải lắm.

Và ông ta nghĩ: “Người ngoại quốc chỉ làm mình thêm rắc rối. Vâng, nếu mình bị bực bội cũng chỉ tại họ, chỉ tại lầm lỗi của họ mà thôi”.

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Vũ Khắc Khoan

Post by Sơn râu 15 May 2024

36. Người Đẹp Trong Tranh

Gửi Hòa, 1939…

Sương chiều dâng lên đã kín khung song. Bình rượu đã vơi gần nửa mà hai chú cháu vẫn chưa vào chuyện.

Trần Công nhìn cháu, ngập ngừng rồi lại nâng chén. Tú Uyên cúi đầu yên lặng. Chàng biết là ông chú lặn lội từ Sơn Nam lên Kẻ Chợ không phải là chỉ để uống một bữa rượu với chàng. Gia dĩ, gió may đã thổi, luống cúc nảy chồi, trời trở sang thu, kỳ thi sắp tới, chú chàng nhất đán không thể vì một câu chuyện giao tế thường tình mà bỏ đám học trò đang sửa soạn vào kỳ khảo hạch.

Tiếng một tiếng ngỗng vẳng trên không. Trần Công rùng mình. Ông với chiếc điếu, chậm rãi nhồi thuốc rồi châm đóm. Khói thuốc lào miền Tiên Lãng tỏa ấm gian phòng. Tú Uyên biết là ông chú sắp vào câu chuyện.

Ông chú nói rằng:

“Mai thì chú xuôi sớm. Còn trông cho họ kịp kỳ khảo hạch. Mà nhà cũng neo người. Anh biết đấy…”

Trần Công ngừng lại giây lát, đủ để Tú Uyên thấy thoáng hiện lên trên nền ký ức một nếp nhà ba gian hai chái, những hàng cau thẳng tắp, một giàn thiên lý, những pho sách dưới ánh trăng, một ấm trà thơm buổi sớm, rặng tre xào xạc, ngõ tối đom đóm lập lòe, những bước đi thầm lặng của một người thím đã luống tuổi mà vẫn chưa một lần sinh nở.

Tú Uyên thấy lòng se lại. Chàng thấy cần phải làm một cái gì, có thể làm bất cứ cái gì để an ủi một ông chú đã nuôi chàng từ tấm bé, từ khi cha mẹ chàng mắc bạo bệnh quy tiên. Chàng với bình rượu rót đầy chén Trần Công. Trần Công đỡ lấy chén rượu rồi nói tiếp:

“Ít lâu nay chú thấy trong mình không được như xưa. Chú sợ những khi bất thần trái tiết trở trời. Mà họ nhà ta chỉ còn có chú và… anh”.

Tú Uyên chợt hiểu rõ câu chuyện. Thì ra là chuyện lập gia đình. Chàng định lên tiếng thì Trần Công đã giơ tay ngăn lại:

“Để chú nói nốt… Bố cháu thì mất sớm. Mẹ cháu cũng vậy. Cái việc chung thân của cháu giờ đây là chú phải lo. Lần này lên đây, chú đã có ý định”.

Thế rồi ông nói tiếp đến tên một người thiếu nữ. Ông khen ngợi gia thế và tài sắc của nàng. Ông viện ra tất cả chữ nghĩa của thánh hiền để nêu cao cái nghĩa thiêng liêng của việc tề gia. Ông gợi đến cái viễn ảnh cô quạnh và xót xa của một dòng họ không người nối dõi.

Nhưng đến khi trống vòm canh cửa Nam điểm vào canh một, một ngọn bạch lạp được thắp lên thì ông không nói nữa. Vì từ nãy tuy vẫn đối diện mà Tú Uyên như không để ý đến lời nói của chú, mắt nhìn qua song, tâm tư hút hẳn vào lòng một đêm đầu thu trở lạnh, lộng âm thanh heo hút của gió và lá khô xào xạc rụng ngoài vườn.

Gian phòng trở nên tịch mịch khác thường, một già một trẻ, mỗi người một tâm sự. Ánh nến chập chờn, gò má người thư sinh cao thêm lên, tròng mắt của chàng thăm thẳm. Trên khuôn mặt đó, Trần Công cố tìm lại những nét ngây thơ của một Tú Uyên vô tư lự, mười ba tuổi đã lầu thông kinh sử, miệng cười là hoa hồng hàm tiếu, mắt long lanh như sao Hôm sao Mai. Trần Công lắc đầu: người đối điện không còn là cháu ông nữa. Đó là một con người lạ mà tâm hồn chắc đang nung nấu những suy tư thắc mắc nó vượt khỏi tầm thông cảm của một người chất phác như ông.

Tú Uyên bỗng nhìn thẳng vào chú. Giọng chàng thiết tha:

“Cháu muốn thưa với chú một điều: Chú đừng giận thì cháu mới dám nói…”

Rồi chàng ngập ngừng nói tiếp:

“Thưa chú… có bao giờ… chú nghĩ đến sắc đẹp của một người đàn bà?”

Câu hỏi đột ngột, lạ lùng quá sức tưởng tượng của Trần Công. Ông lặng người trong giây lát. Rồi ông nhớ lại ngày trước, những buổi du nhai nhộn nhịp, đêm Thăng Long tưng bừng hội Hoa đăng, một chàng tân khoa xênh xang áo gấm, một tà áo lụa thiên thanh thấp thoáng sau một cánh cổng khép hờ. Duyên kỳ ngộ là duyên đẹp ba sinh. Người thục nữ yểu điệu đã trở nên người vợ hiền.

Ông định thần:

“Anh hỏi thế là có ý gì, chú chưa hiểu…”

“Thưa chú, cháu biết là câu hỏi đã quá đường đột. Nhưng mấy tháng nay, cháu nghĩ đã nhiều. Cháu nghĩ đến những áng thơ hay, những nét vẽ tài tình và những người đẹp trên đời, Vương Duy, Lý Bạch và Tây Thi, Bao Tự, Dương Quý Phi…”

Lúc bấy giờ Tú Uyên đã mất hẳn vẻ trầm tư. Tròng mắt long lanh như vừa bắt gặp một vài dáng hình là lạ thấp thoáng ngoài song. Giọng nói trở nên thắm thiết, tâm sự nung nấu từ lâu, giờ đây, gặp dịp, gặp người để mà lời lời kể lể, Trần Công yên lặng ngồi nghe, Tú Uyên nói tiếp:

“Cháu nghĩ đến khúc Thanh Bình điệu, Lý Bạch đối diện Dương Quý Phi…”

Bất giác Trần Công khẽ đọc:

Vân tưởng y thường hoa tưởng dung
Xuân phong phất hạm lộ hoa nồng…

Lời thơ như vọng về từ một nẻo xa xôi hun hút. Gian phòng rung rinh ánh nến bỗng chốc bàng bạc không khí Thịnh Đường, người thơ chưa dứt một cơn say lại đã chập chờn mê tỉnh trước cái sắc đẹp não nùng của người thiếu phụ.

Tú Uyên sang sảng ngâm theo:

Nhược phi Quần Ngọc sơn đầu kiến
Hội hướng dao dài nguyệt hạ phùng.

Trần Công trầm ngâm giây lát rồi mới nói:

“Lời thơ như chén ngọc chạm mâm vàng. Cái kỳ thú trong thơ là do nơi cảm hứng vô biên trong lòng thi sĩ. Tại sao đọc thơ cổ nhân cháu lại nghĩ đến sắc đẹp của một phu nhân?”

Tú Uyên ngập ngừng:

“Cháu thiết tưởng dù sao thì sắc đẹp của mỹ nhân cũng là cái cớ để cho cảm hứng bắt nguồn. Huống hồ lời thơ óng chuốt, hơi thơ đầm ấm như ánh sáng mùa xuân, họ Lý chắc không thể nào vô tình trước nhan sắc của Dương Quý Phi”.

Trần Công lặng lẽ châm đóm. Năm xưa sinh thời Tiên Đế, khi còn là một sĩ tử ngày ngày ngồi nghe giảng văn ở Quốc Tử Giám, ông đâu có những thắc mắc như bọn thiếu niên ngày nay? Ông thấy cần phải lập nghiêm, nên cất tiếng giữa khói thuốc tỏa ra trắng xóa.

“Câu chuyện văn thơ đã rõ như ánh trăng rằm. Anh không nên nghĩ quẩn mà quên việc học hành. Chú tiếc rằng hội Tao Đàn của Tiên Đế không còn tồn tại, cho nên lũ các anh ngày nay mới thiếu người dìu dắt”.

Trần Công không ngờ Tú Uyên đã cắt lời ông. Tú Uyên sắm nắm:

“Thưa chú, cháu thiết tưởng cái việc lập hội Tao Đàn không phải là hoàn toàn đắc sách cho việc văn chương”.

Trần Công trừng mắt:

“Anh nói thế là có ý gì?”

“Thưa chú, theo ý cháu, nếu có thứ văn chương quan hệ tới chính trị và luân lý thường tình có thể dùng quy tắc để mà khuôn nắn thì cũng có thứ văn chương, lời như cánh con bằng, từ như sóng ngoài khơi, hội Tao Đàn nào mà gò bó nổi?”

Lúc bấy giờ, Trần Công không còn giữ nổi được bình tĩnh. Giọng ông run lên:

“Vậy thế ra tất cả những lời ngâm vịnh của Tiên Đế, anh đều cho là không đáng kể hay sao? Anh mắc tội mạn thượng mà không biết đấy! Cũng may chỉ có anh với tôi, chứ nếu lọt vào tai người ngoài thì tội anh là đáng chém”.

Tú Uyên cúi đầu. Chàng biết rằng phải dùng đến chữ “tôi” để nói chuyện với cháu là ông chú đã quá giận. Chàng yên lặng giây lâu rồi mới kính cẩn lên tiếng:

“Thưa chú, cháu biết là đáng tội chết. Nhưng vì lòng thành muốn hiểu, nên mới dám đường đột trực ngôn. Tiên Đế là một bực anh quân, là ân nhân của kẻ sĩ. Cái công của ngài đối với giang sơn đất nước thật cao như trời, rộng như biển cả. Nhưng… ngài là một bực thi nhân…”

“Ra đến bây giờ anh mới nhận…”

“Cho nên ép uổng văn chương, làm thơ khẩu khí cũng là một việc bất đắc dĩ của ngài. Chỉ những lúc hồn thơ lai láng, từ thơ phiêu diêu, lại gặp duyên kỳ ngộ như Lý Bạch thuở trước…”

Tú Uyên bỗng ngừng lời. Chàng vừa nhớ ra một câu chuyện cũ. Mắt chàng tươi hẳn lên:

“Chú còn nhớ câu chuyện ngâm vịnh tại chiều Ngọc Liên năm xưa? Cháu cho đấy mới là những vần thơ đắc ý của ngài…”

Trần Công cười thầm trong bụng. Ông quên sao được câu chuyện cũ, câu chuyện gặp gỡ giữa Tiên Đế và người tiên?

Ông gật gù nhìn cháu, cơn giận tiêu tan với gió lạnh đầu thu vẫn đang xào xạc ngoài vườn. Nhưng… những vần thơ đắc ý của Tiên Đế là những vần thơ nào?

Ông nói:

“Tiên Đế ngự chơi chùa Ngọc Liên, nghe thấy một ni cô ngâm một câu kệ:

Ở đây mến cảnh mến thầy
Tuy vui đạo Phật, chưa khuây lòng trần.

Ngài có truyền ni cô lấy câu kệ đó làm đầu đề… nhưng anh vừa nói đến những vần thơ của ngài, anh còn nhớ không?”

Tú Uyên bèn cất tiếng, trầm trầm lời thơ ngân lên trong yên lặng của gian phòng:

Gió thông đưa kệ tan niềm tục
Hồn bướm mơ tiên lẩn sự đời.

Trần Công ngẩn người, không chịu:

“Hai câu đó là của ni cô…”

Tú Uyên vẫn bình tĩnh:

“Thưa chú, người đời thường hay hồ đồ mà truyền lầm chuyện cũ. Họ chỉ biết cái khẩu khí của Tiên Đế qua những bài thơ xướng họa trong hội Tao Đàn. Còn cái tâm hồn thi nhân phiêu diêu của ngài thì ít có người thông cảm. Ngài gặp người tiên và hồn thơ nảy tứ. Cháu cho đó là những vần thơ đắc ý nhất của ngài.

Trần Công không biết nói gì. Lời giải của cháu ông tuy đột ngột, lạ lùng mà không hoàn toàn vô lý. Tiên Đế và người ni cô. Một thi nhân và một mỹ nhân. Vả lại Tiên Đế cũng đã với người đẹp ngồi cùng xe để về cung…

Giọng ông già đượm sầu hoài cổ:

“Đến nửa đường thì người tiên chợt biến…”

Tú Uyên tiếp lời:

“Nhưng Vọng Tiên Các vẫn còn”.

Thế rồi… cả hai chú cháu ngồi yên không nói. Gian phòng tịch mịch, ánh nến leo lét. Bóng đêm dày đặc ngoài song. Trong yên lặng quạnh hơi thu, tiếng trống xa xa vẳng lại, khô cằn. Canh hai bắt đầu. Trần Công sực tỉnh giấc mơ quá khứ. Đến lúc bấy giờ ông mới nhận thấy cái vẻ lạ lùng của câu chuyện Tú Uyên. Câu chuyện lan man như không chủ đích, trong khi ấy thì cái việc hôn nhân vẫn chưa giải quyết. Cái công lặn lội từ Sơn Nam lên đến đây chẳng là vô ích hay sao? Ông đằng hắng rồi trở lại giọng cũ.

“Chuyện văn chương có thể thâu đêm khôn dứt. Chú tiếc không thể nán lại ít ngày để mà nói cho hết lời. Nhưng còn cái chuyện… chung thân của anh, chẳng hay anh có gì không?”

Tú Uyên tỉnh hẳn cơn mơ. Chàng bàng hoàng:

“Thưa chú… Cháu thiết nghĩ việc hôn nhân tuy hệ trọng nhưng cháu còn dở việc học hành…”

“Anh nói lạ. Vẫn biết đại đăng khoa rồi mới tiểu đăng khoa là thuận lẽ. Nhưng anh lại ở vào nghịch cảnh. Chú khuyên anh nên nghe lời cho chú yên tâm”.

“Thưa chú…”

“Chú sẽ bảo thím nhờ người bắn tiếng với nhà gái”.

Tú Uyên biết là tình thế đã đến chỗ quyết liệt. Chàng thu can đảm nói thẳng một hơi:

“Thưa chú, nếu chú ép, thì nhất định cháu sẽ phải mang tội bất hiếu. Vì hiện giờ, cháu không còn bụng dạ nào để tính việc chung thân”.

Giọng chàng tha thiết, tầm mắt xa thẳm hướng về một buổi đã qua. Tiếng mõ cầm canh rời rạc. Gió heo hút ngoài song.

Tâm sự bắt đầu kể lể.

Lúc bấy giờ vào khoảng hậu bán thế kỷ thứ XV, bốn phương lẳng lặng, thiên hạ thái bình, con gái đến tuổi cặp kê thường thức thâu đêm dệt cửi trong mành, con trai đọc sách Khổng Khưu từ thuở đầu còn để chỏm, ông già chống gậy trầm ngâm bên khóm cúc, bà lão lần tràng hạt mơ về cõi Niết Bàn. Trong nhà ngoài ngõ, trên đồi thoai thoải, dưới ruộng đồng chiêm, từ sương buổi sáng long lanh ngọn cỏ tới sao ban đêm mở hội trên trời, người người lấy sống làm vui, tiếng âu ca hòa nhịp cùng lời chim, tiếng gió.

Một chiều cuối xuân, từ Quốc Tử Giám thủng thẳng về nhà, gió nhẹ phơ phất vạt áo the huyền, chân bước mà không thấy vướng, tâm thần phơi phới cùng nghĩa sách lời kinh, bỗng Tú Uyên thấy khang khác trong người. Như một đợt heo may lạnh se da thịt. Như ngất ngây cùng khói thuốc một sớm đầu thu. Mảnh mai, nhè nhẹ – cánh bướm non vờn dịu cánh hồng – một cảm giác chớm nở trong lòng người thư sinh.

Chàng dừng lại, định thần nghe ngóng, nghiêng nghiêng mái tóc quấn rối vài vòng khăn nhiễu Tam Giang. Cảm giác nở dần như hoa nhài hàm tiếu gặp lúc trăng lên. Cảm giác dâng lên như sóng đại dương khi mặt trời lặn. Cũng không hẳn là khó chịu. Cũng không phải là nao nao cái tuổi dậy thì.

Bèn ngửng lên trời. Và chợt hiểu: trên trời rực màu áo vóc đại hồng, lững lờ có một đám mây trắng nõn đang chuyển hình, xê dịch từ Đông qua Tây. Nền trời cùng đám mây, tất cả cái cảnh tượng chuyển động huy hoàng đó, Tú Uyên thấy vừa quen thuộc mà rất lạ lùng. Bởi tuy chưa từng được thấy mà hình như trong tận cùng tâm thức của chàng, đã từ lâu, vẫn ẩn hiện một ước mong thầm kín được mắt nhìn tận mắt những cảnh chuyển vần huy hoàng tương tự. Hình như mối rung động màu sắc kết hợp này đã bắt nguồn tự lâu lắm, tự xa lắm, tự một kiếp nào thăm thẳm… Có lẽ, trong một cơn mơ, hay chập chờn, giữa những giấc ngủ chập chờn…

Tú Uyên nghĩ như vậy. Chàng lại còn thấy phải làm một cái gì. Bèn khẽ nói, đủ cho một mình nghe thấy:

“Bạch vân…”

Và ngừng lời: tiếng nói vừa cất lên, người thư sinh đã cảm thấy ngay nỗi bất lực của ngôn ngữ. Lời nào, tiếng nào mà có thể nói lên, gợi lại cái màu tơ nõn bồng bềnh mây trắng, cái ráng đỏ rực đặc quánh ánh tà huy này? Từng trang sách cũ lần giở trên nền ký ức, những vần, những điệu, châu ngọc lời lời, gấm thêu lớp lớp, nhưng tất cả chữ nghĩa thảy đều nhạt mầu trước sự giao hòa rực rỡ mà vô cùng giản dị của màu và sắc đang tưng bừng trước mắt Tú Uyên.

Tú Uyên linh cảm cần phải tìm ra những lời, những chữ tân kỳ, những chữ, những lời chưa từng một ai dùng tới, may ra…

“Tại sao không vẽ?”

Tú Uyên giật mình ngoảnh lại. Người vừa cất tiếng là một ông già.

Đến nay kể lại câu chuyện cùng ông chú, cố gắng nhớ lại, Tú Uyên vẫn thấy khó khăn khi muốn bằng lời mô tả hình dáng của ông già chiều đó. Chỉ biết đó là một ông già như mọi ông già và không giống một ông già nào Tú Uyên đã gặp. Chỉ biết ngay lúc đó, Tú Uyên không nói lên được một lời nào.

Chàng ngoan ngoãn theo gót ông già bước vào một quán rượu dựng dưới gốc cây cổ thụ ven đường.

Rượu mang lên, ông già điềm nhiên uống cạn ba bát lớn mà không lên tiếng. Qua khe liếp, chiều tím sẫm rồi theo tiếng trống điểm vào canh một, tím chuyển sang lam, từ từ ngả màu đen quánh. Đêm xuống. Gió nổi lên từng đợt. Người chủ quán lấy thêm rượu rồi lặng lẽ rút vào nhà trong. Im im lành lạnh, không khí gợi lời tâm sự, ông già đặt bát xuống mâm, nhìn Tú Uyên, hỏi:

“Chán học rồi ư?”

Câu hỏi đột ngột đi thẳng vào tâm can người thư sinh. Tú Uyên ngỡ ngàng chưa biết nói sao thì ông già đã cất tiếng cười. Gian quán bỗng thôi trống trải. Ánh đèn dầu trở nên ấm cúng. Gió lùa kẽ liếp đượm nồng hơi sống mùa xuân. Tú Uyên tự nhiên cũng thấy tâm hồn cởi mở, tưởng như vừa cạn vài bình rượu tốt đối diện với bạn cố tri.

Bèn xích lại gần, giọng thân mà kính:

“Lão trượng nói như soi thấu cõi lòng tiểu sinh. Tiểu sinh tự hỏi, không biết vì sao…”

Ông già lại như đùa cợt:

“Thử nghĩ xem”.

Tú Uyên vội tiếp:

“Vì đám mây trắng buổi chiều chăng?”

Ông già vuốt râu im lặng. Giây lâu mới trả lời:

“Mây trắng chiều nay chỉ là mối duyên liên lạc. Còn thì cấu tứ giữa phường Bích Câu, hồn thơ lai láng đã từ lâu làm nghiêng ngả cành cây ngọn cỏ, nỗi lòng dễ giấu được ai? Già biết công tử từ lâu. Nhưng cũng phải đợi đến mây nổi chiều nay mới có dịp ra mắt”.

Câu trả lời úp mở, thâm ý ra sao, lúc bấy giờ Tú Uyên cũng chưa lường hết. Đành cũng theo đà câu chuyện mà hỏi tiếp:

“Nhưng sao lão trượng lại biết tiểu sinh chán học?”

Ông già cạn thêm một bát rượu đầy rồi mới thủng thẳng trả lời:

“Ngày nay thiên hạ đã bình. Việc xử thế trở nên dễ dãi, cái học vì vậy mà sinh ra trọng từ chương. Người có nội tâm u ẩn, như công tử đâu lại chịu uốn mình theo cử nghiệp? Gia dĩ cấu từ mà chửa thành văn, nhìn mây chuyển mình mà xôn xao trong dạ, nỗi lòng u uất đã hiện rõ nơi đầu mày cuối mắt, tưởng không cần là Trần Đoàn tái thế, cũng có thể ức đoán đôi phần”.

Lúc bấy giờ đêm đã sẫm màu mà Tú Uyên tưởng như đâu đây có ánh muôn sao lấp lánh. Niềm tâm sự bấy lâu u kết, đến giờ đã giải nguồn cơn. Tú Uyên tha thiết bùi ngùi:

“Tiểu sinh là người xấu số, sinh nhằm lúc trị binh, có cố gắng đọc sách tu thân thì bất quá cũng đến giẫm lại lối mòn của người đi trước, cho nên thường thâu đêm nghĩ ngợi, quyết tâm tự tạo cho mình một nếp sống khác người. Thế mà mòn mỏi bấy lâu vẫn chưa tìm ra được lối”.

Ông già ngắt lời:

“Sao không dùng bút mà khơi nguồn tâm sự?”

Tú Uyên tiếp ngay:

“Tất cũng không ngoài cách đó. Nhưng mấy cấu từ đã lâu mà ý chẳng thành văn… Cũng như chiều nay, mây trắng nổi lên cuồn cuộn, nền trời như áo tân khoa, vậy mà đến khi tìm lời mô tả thì lại cảm thấy óc rỗng trống không…”

Ông già cười ngất mà rằng:

“Thế cho nên mới phải vẽ. Cảm hứng đột khởi tân kỳ như quen như lạ, lời tất cũng phải tân kỳ, đột ngột. Nhưng ngôn ngữ thường xuất tự lý mà ý đẹp của đám bạch vân lại trọng vì tình, việc tìm lời hợp ý không thể dễ dàng nhanh chóng. Chi bằng dùng ngay màu sắc để ghi màu sắc, lấy đường cong, nét thẳng của ngọn bút tơ mà hình dung dáng dấp có hơn là phải gián tiếp mượn lời để mà ngụ ý?”

Tú Uyên như con bệnh gặp thầy, xăm xăm đứng dậy vái dài mà xin thụ giáo. Ông già nâng bình rượu rót đầy hai bát rồi thủng thẳng:

“Hãy cạn đã”.

Tú Uyên tuy không quen nhưng cũng nhắm mắt cạn non nửa bát. Trong giây lát, rượu ngấm vào cơ thể, hơi men bốc lên thẳng đầu, Tú Uyên bỗng thấy toàn thân nhẹ nhõm, tâm thần phơi phới như đám mây trắng chơi vơi trên nền trời rực đỏ ban chiều. Bèn giương mắt nhìn quanh thì như lạ như quen, mờ mờ áo ảo, cảnh vật nhờ nhờ như một bức tranh thủy mặc. Định thần, cố cưỡng lại men thì thấy ông già đang cúi đầu trước một tờ giấy lớn giải rộng, tay lăm lăm cây bút đại tự. Mắt Tú Uyên dán chặt vào đầu cây bút. Bàn tay ông già ngần ngừ giây lát rồi gân tay bỗng nổi, mấy đầu ngón tay thuôn dáng lá lan bám chặt lấy cán bút, đầu bút chúc xuống mặt giấy. Toàn thân ông già giữ lặng như pho tượng đá, duy từ đôi mắt quắc lên, như có một sức vô hình phả xuống bàn tay: bút múa trên tờ giấy. Từng nét, từng đường, phút chốc đám mây trắng ban chiều đã cuồn cuộn nổi lên trên mặt giấy phơn phớt chu sa.

Tú Uyên nhìn không chớp mắt, thần trí lâng lâng cùng với cảm giác ban chiều cũng vừa nở lại trong lòng. Cũng như ban chiều, cảm giác vừa kịp nở, đã loang ra, đã vượt khỏi cơ thể của chàng. Từ ông già tới chàng, từ chàng vươn tới ông già, qua dấu vết một bóng mây vần vụ, niềm thông cảm rung rung nhịp cầu ba động của màu và sắc điều hòa, của dáng và hình cân đối. Tú Uyên sửa soạn chuồi mình vào cái khí lâng lâng nhịp nhàng tiết tấu đó thì ông già đã đặt bút xuống phản, nhìn Tú Uyên mà rằng:

“Công tử đã thấy chưa?”

Tú Uyên bùi ngùi:

“Lão trượng bút pháp như thần, tiểu sinh đức bạc, biết đến bao giờ mới theo kịp gót?”

Ông già gật gù:

“Công tử là người cốt cách. Nếu quyết tâm, chắc cũng không lâu. Nhưng không biết có đủ gan mà theo đuổi không?”

Tú Uyên sốt sắng:

“Xin nói cho nghe”.

Ông già bèn xốc lại cổ áo mà rằng:

“Nuôi trong nội tâm ý thành muốn đạt là nhân. Gặp ngoại cảnh là duyên đã bén. Bức tranh này là cái quả kết thành. Nhưng từ nhân tới quả, từ cái tuyệt đối trong lòng phả thành cái tuyệt đối trong thơ, trong họa, sẽ phải qua rất nhiều đoạn đường hy sinh, nuôi dưỡng. Lão nói như vậy không biết đã hết ý chưa?”

Tú Uyên không biết nói sao, đành cứ phải cúi đầu vâng dạ.

Ông già lại tiếp:

“Công tử đã nuôi ý đẹp trong lòng, lão xin giúp thêm chút duyên liên lạc. Vả ý đẹp mơ hồ, gia dĩ công tử còn đang tuổi trẻ, vậy thử thách vẫn là điều cần thiết. Huống hồ mây trắng nổi trên nền trời đỏ lửa tuy đẹp nhưng đối với lứa tuổi thiếu niên có lẽ cái đẹp đó không thiết thực bằng vưu vật này…”

Nói đoạn, ông già phất mạnh tay áo xuống bức tranh. Đám mây bỗng từ Đông vần vụ sang Tây rồi từ từ biến mất. Nền tranh dịu lửa, máu hồng chu sa dần dần trở nên mát dợi. Nền tranh gợi đến chất rêu bám miệng giếng khơi giữa trưa một ngày đại thử.

Ông già cất bút. Bút chạy loang loáng trên nên tranh. Trước mắt Tú Uyên dưới ánh đèn dầu, lần lần hiện lên, huyền huyền ảo ảo, vô cùng linh động, những đường cong ấm dịu thân hình uyển chuyển một người thiếu nữ. Chàng trai tuổi chưa đến hai mươi – Tú Uyên – bỗng thấy sung sướng đến rợn người. Bởi giờ đây, không phải chỉ là sự điều hòa của màu và sắc, sự nhịp nhàng của nét và hình. Giờ đây cả màu và sắc, cả nét và hình đã trở nên màu-sắc-nét-hình của da của thịt. Chất ma túy toát ra từ người thiếu nữ trong tranh quyến rũ không phải chỉ nguyên có phần thị giác, mà toàn thể giác quan, toàn diện con người của chàng tuổi trẻ.

Tú Uyên khẽ kêu lên:

“Chà…đẹp!”

Rồi im bặt. Ông già chỉ bức tranh, tủm tỉm:

“Đã được ngắm một vưu vật như thế này chưa?”

Tú Uyên ngập ngừng:

“Ở đời, làm gì có được một trang tuyệt thế giai nhân như vậy?”

Ông cụ gật đầu:

“Thế nhân còm cõi trong khoảng bốn mùa luân chuyển ví sao được với cái đẹp trong tranh? Nhưng giả thử gặp thì nghĩ sao?”

Tú Uyên thầm đặt lại câu hỏi với lòng mình.

Tự lúc trưởng thành, chàng chưa hề để ý đến đám phụ nhân. Thỉnh thoảng cũng có thoáng gặp một vài tà áo phất phơ óng ả, cong cong vành nón quai thao. Đôi khi, thoảng qua hàng giậu nhỏ, hoặc lả lơi giữa một đêm Hoa đăng dập dìu nam thanh nữ tú, cũng có thoáng nghe vài lời ngỏ ý của những cô gái trong phường cầm lòng chẳng đậu… trước cái giọng sang sảng bình văn, cái dáng dấp quỳnh giao của anh chàng thư sinh mặt trắng. Nhưng, tự lúc trưởng thành, lòng vẫn lặng thinh, Tú Uyên đã từ thuở nhỏ chỉ biết vùi đầu vào trang sách cổ…

“Lần này… nghĩ sao?”

Tú Uyên còn đang lúng túng thì ông già lại hỏi:

“Nếu gặp, liệu có thể cầm lòng, vượt khỏi tình thường da thịt của thế nhân được không?”

Câu hỏi làm rối thêm tâm tư, Tú Uyên không dám nghĩ thêm. Chàng rằng:

“Nếu có phải thử thách mới cầm nổi bút tạo nên vẻ đẹp thì tiểu sinh cũng xin được một phen thử thách”.

Ông già gật đầu:

“Nếu vậy được”.

Vừa nói vừa cầm bút và trên đầu người thiếu nữ trong tranh, tô đậm một nét vòng tròn. Đoạn vứt bút, cạn nửa bát rượu rồi nói tiếp:

“Lão thêm một nét trăng rằm. Cái đẹp trong tranh sẽ cùng ánh trăng mà biến hóa. Công tử hãy treo bức tranh này trước án sách. Ý thành của người ngắm tranh rồi sẽ có phen thể hiện”.

Nói đoạn đứng dậy thu dọn bút nghiên. Tú Uyên luống cuống ngăn lại:

“Xin lão trượng dạy thêm vài lời vàng ngọc, tiểu sinh thật tình vẫn chưa thấu ý”.

Lúc bấy giờ ông già đã đứng bên liếp cửa, râu tóc bạc phơ, hình dáng mờ mờ áng mây buổi sáng, nét núi ban hôm. Tiếng nói tự nơi xa xôi vọng lại:

“Hãy cứ làm đúng lời ta dặn. Tất sẽ hiểu dần”.

Tú Uyên cố nài xin cho tái ngộ thì lại vẳng nghe:

“Lúc cần gặp thì cứ mang tranh này đợi ta tại phía cầu Đông sông Tô Lịch. Ta sẽ đến”.

Những lời cuối cùng thoảng như một cơn gió nhẹ. Cánh liếp mở toang. Bóng ông già lãng đãng mờ dần vào lòng một đêm dày đặc, không trăng mà vắng cả sao.

Gian phòng yên lặng khác thường khi Tú Uyên kể dứt câu chuyện.

Trần Công đợi một lát rồi nhìn cháu. Ông thấy cần phải lên tiếng mà chưa biết nói gì. Câu chuyện tuy lạ lùng nhưng giọng người kể chuyện lại chân thành, tâm sự người sống trong chuyện u uất hiện lên đuôi mắt, Trần Công khẽ đặt tay lên vai cháu, giọng ông trìu mến lạ thường:

“Thế rồi sao nữa, cháu? Chú vẫn nghe đây”.

Tú Uyên thở dài:

“Bức tranh vẫn treo bên phòng học. Đêm đêm lặng ngắm vẻ đẹp trong tranh, tự xuân qua hạ đến nay đã vào thu mà vẫn chửa thấy gì…”

Trần Công bèn đứng dậy:

“Cháu dẫn chú sang xem”.

Lúc bây giờ đã quá canh ba, trăng hạ tuần nghiêng nghiêng đầu khóm trúc góc vườn, nét trăng thanh và gọn, ánh trăng thấp thoáng qua giàn cây leo soi chếch xuống dọc hàng hiên dẫn xuống phòng học. Chó sủa bâng quơ tiếng một. Gà thôn xa vọng lại tiếng gáy lẻ loi. Gió may xào xạc kẽ lá, Trần Công rùng mình, ngửa mặt nhìn trăng.

Ông lẩm bẩm một mình:

“Trăng hạ tuần. Vào thu rồi…”

Tú Uyên vén tấm mành trúc. Hai chú cháu lặng lẽ bước vào một gian phòng nhỏ, đồ đạc sơ sài, ngổn ngang sách vở, mờ mờ có bức tranh treo tận cuối phòng.

Trần Công tiến lại bức tranh, vừa đi vừa nói:

“Nào…”

Nhưng bỗng im bặt, tay run run nắm chặt lấy vai Tú Uyên. Trong yên lặng khác thường, hai người đứng sững, tròng mắt hút hẳn vào lòng bức tranh.

Lòng bức tranh vắng vẻ, quạnh hiu. Người thiếu nữ trong tranh không còn nữa. Nét trăng tròn trong tranh cũng đã biến dạng để trở thành một nét lưỡi liềm.

Ngoài trời… vắt vẻo ngang sông, trăng hạ tuần nhếch mếp, vàng khè.

Mờ sáng hôm sau, Trần Công dời phường Bích Câu một mình ra bến tìm thuyền về Sơn Nam.

Tú Uyên không kịp tiễn chú: chàng đã ra đi, ngay từ lúc gà chưa gáy sớm, sương còn nặng trĩu ngọn cỏ mọc ven tường Quốc Tử Giám. Chàng nhắm phía cầu Đông sông Tô Lịch mà rảo bước, con đường vắng vẻ, lác đác vài ba đám gánh gồng đến chợ, sao Mai khi mờ khi tỏ, ánh đèn hàng quán tuy le lói mà kẽ liếp vẫn kín như bưng. Gió buổi sớm đầu thu thấm lạnh qua vạt áo mỏng, sương nội cỏ thấm ướt gót chân, nhưng, chim bỗng ríu rít chuyền cành, ánh nắng hoe vàng, vàng hoe cả dòng sông Tô gợn sóng, vào giờ Mão thì Tú Uyên đã ôm bức tranh mà bước lên cầu.

Tới giữa cầu, bâng khuâng nhìn quanh bốn phía rồi tựa thành cầu mà đợi.

Một lát sau nghe tiếng gọi dưới sông. Nheo mắt cố nhìn thì mờ mờ trong đám sương lam, có chiếc thuyền nhỏ đang rẽ sóng mà vào bờ. Thuyền vừa cập bến, có người bỏ mái chèo thủng thỉnh bước lên. Đến lúc bấy giờ Tú Uyên mới nhận ra ông già buổi trước.

Bèn mừng mừng tủi tủi, chấp tay vái dài mà nói chẳng nên lời. Ông già ngửa mặt cười vang, râu tóc bạc màu khói nước, phơ phất trong gió sớm gợn mặt sông Tô.

Dứt tiếng cười, ông già mới lên tiếng:

“Lão đến hơi chậm, công tử thứ lỗi cho nhé!”

Tú Uyên kính cẩn:

“Được gặp là may, đâu dám kêu nài rằng nhanh hay chậm? Giả thử phải đợi đến mãn kiếp, tiểu sinh cũng ôm cầu mà đợi”.

Ông già gật gù:

“Chí tình thay…”

Rồi lại tiếp:

“Làm gì mà người đẹp chẳng phải động tâm!”

Tú Uyên tỏ vẻ ngạc nhiên, ông già bèn chỉ bức tranh mà rằng:

“Quên chuyện hôm qua rồi sao?”

Tú Uyên giật mình:

“Thế ra lão trượng đã biết chuyện…”

Thì gạt đi:

“Ta nên đi ngay. Thì giờ là vàng ngọc. Trăng rằm còn khuyết, ta e có người đang đỏ mắt mong tin”.

Nói đoạn, thoăn thoắt xuống bến, rồi bước lên thuyền. Tú Uyên cũng vội theo gót. Một lát sau, con thuyền bỏ cầu Đông, men theo dòng sông mà trôi nhẹ về Nam.

Tú Uyên đợi mãi vẫn không thấy ông già nói tiếp, bèn đánh bạo lên tiếng trước:

“Dám thưa lão trượng, tiểu sinh nghe thấy nói có người chờ đợi, tiểu sinh vẫn chưa hiểu là ai?”

Ông già lại cười vang mặt sông mà không trả lời.

Thuyền đi đến lúc mặt trời mọc ngang một con sào thì Tú Uyên không dằn được lòng, đành lại gạn hỏi. Đến lúc đó, ông già mới lên tiếng:

“Đêm đêm đối diện, từ lúc tàn xuân cho tới đêm qua… vậy mà công tử không biết là ai ư?”

Rồi lại cười mà chỉ bức tranh:

“Người đẹp trong tranh chứ còn ai nữa…”

Lời nói quá đột ngột, Tú Uyên chưa kịp thấu ý, thuyền đã dừng lại. Ông già gác mái chèo, chậm rãi nói tiếp:

“Từ đây tới chùa Ngọc Hổ cũng không xa, công tử, công tử hãy lên bộ mà tới thẳng chùa. Rồi sẽ được toại ý”.

Tú Uyên vẫn như người mơ ngủ:

“Tiểu sinh sẽ gặp người cũ trong tranh ư?”

Ông già mỉm cười mà rằng:

“Đang đợi công tử đấy…”

Tú Uyên cảm thấy hân hoan đến nghẹn thở, nhưng vẫn chưa dám tin:

“Lão trượng nói thật hay định đùa tiểu sinh?”

Ông già bèn nghiêm giọng:

“Tất không phải chuyện đùa. Tuy nhiên, công tử cũng cần gượng nhẹ. Người ta tuy có lòng với công tử nhưng vẫn còn ngại cái vòng kiềm tỏa của một ánh trăng. Công tử đứng ngỏ lời trước. Tới chùa tìm một cành cây rồi treo bức tranh lên mà ngồi đợi. Thấy gì cũng đừng tỏ vẻ ngạc nhiên. Cứ như thế mà làm. Chắc chắn sẽ thành công”.

Tú Uyên chăm chú lắng nghe, ông già ngừng trong giây lát rồi lại nói:

“Người đẹp chẳng qua chỉ là phương tiện. Thể hiện vẻ đẹp trên tranh mới là cái đích của công tử. Đừng nên đắm đuối vào phương tiện mà lãng quên cái đích của mình. Lão khuyên công tử từ nay phải sửa mình cho vững, vì thử thách còn nhiều… Giữa một người đẹp đào tơ mơn mởn và một nét họa trong tranh, giữa cái nhất thời tương đối và cái tuyệt đối bất chấp thời gian, sự chọn lựa sẽ vô cùng đau xót. Thôi… lão nói quá nhiều. Xin mời công tử”.

Tú Uyên sụp xuống lạy. Ông già vỗ vào vai mà từ biệt, Tú Uyên ôm bức tranh lên bờ. Lúc quay lại, thuyền đã dời bến. Chợt nhớ ra, bèn gọi với mà xin tái ngộ. Giọng ông già vẳng lại trên sông:

“Hễ thành công thì còn duyên hội ngộ. Bằng không thì có gặp nữa cũng là vô ích. Thôi!”

Trong giây lát chỉ còn nghe thấy tiếng mái chèo khua nước. Con thuyền đi dần vào sương buổi sớm còn vương lại, trắng xóa mặt sông.

Giập bã trầu thì Tú Uyên tới chùa.

Chùa vốn là nơi thắng cảnh Thăng Long nhưng hôm đó không nhằm ngày lễ nên cảnh chùa vắng vẻ, cổng tam quan mờ mờ ba chữ Ngọc Hồ Tự. Qua cổng tới mấy bực đá xanh, rồi Tú Uyên bước xuống một khoảng sân rộng rãi lát gạch Bát Tràng.

Nhìn quanh không thấy ai, chàng lẳng lặng đi lại một gốc phong già, chọn một cành thấp mà treo rộng bức tranh. Treo xong, tìm chỗ khuất, ngồi đợi.

Không bao lâu, vẳng nghe có tiếng người nói chuyện đàng xa. Cố gắng tai thì rõ là tiếng đàn bà mà sân chùa quạnh hiu, lộng gió, tuyệt nhiên không một bóng người. Tiếng nói chuyện mỗi lúc một gần. Tú Uyên cảm thấy rợn người nhưng nhớ tới lời ông già nên cố ngồi yên mà đợi. Một lát sau, đã nghe rõ nhỏ to từng lời đối thoại giữa một giọng trầm trầm đứng tuổi và một trong veo của một cô gái đang tơ.

Giọng người đứng tuổi thoảng buồn:

“Không biết mai kia Giáng Kiều có còn nhớ tới chị không?”

Giọng cô gái – Giáng Kiều – khẽ cất lên trong và nhẹ, tưởng như đâu đây có giọt mưa Ngâu thánh thót xuống mặt hồ thu.

“Cứ nghĩ tới lúc chia tay mà em đã thấy nao nao trong dạ”.

Người đứng tuổi cất tiếng cười:

“Thế sao mặt lại cứ tươi như hoa nở thế kia? Không biết anh chàng tu đã mấy kiếp mà…”

Giáng Kiều e lệ cắt lời:

“Nói khẽ chứ chị, ngộ nhỡ có ai nghe thấy…”

Người đứng tuổi vẫn chưa chịu tha:

“Ở đây vắng vẻ, chỉ có chị em mình. Gia dĩ mối tình si của anh chàng đã làm khuyết cả nét trăng rằm, còn giấu nổi ai?”

Dứt lời, cả hai im lặng. Tú Uyên nghe nhẹ có tiếng hài thêu lướt trong ngọn gió. Tú Uyên nghe như hai người lững thững lại gần. Rồi giọng người đứng tuổi lại cất lên:

“Đã từ lâu, chị thôi vướng mắc, thế mà cũng đang lây cái vui của em đấy”.

Giọng Giáng Kiều thỏ thẻ thoảng tới Tú Uyên. Chàng có cảm tưởng người thiếu nữ vô hình đang thì thầm tâm sự bên tai, hơi thở phả vào tận mặt:

“Vui hay buồn, thật tình cũng không hiểu rõ. Chỉ thấy nao nao trong dạ… Chị Giáng Tiên này, không biết mai sau phó mặc tấm thân ràng buộc với một nét trăng, rồi sẽ ra sao?”

Giây lâu, mới có tiếng trả lời, giọng người đứng tuổi là Giáng Tiên, như gợn một niềm ái ngại:

“Nghĩ làm gì, em? Em không có quyền chọn lựa?”

Giáng Kiều lại thủ thỉ:

“Thế còn chị?”

Im lìm. Gió nổi lên, tịch mịch. Giây lâu, lại vẫn giọng Giáng Kiều:

“Sao chị lại im không nói, chị giận em sao?”

Thoảng nghe có tiếng thở dài. Rồi giọng Giáng Tiên cất lên, nghe như từ một quá khứ xa xôi vọng lại.

Giáng Tiên khẽ ngâm:

Hồn bướm mơ tiên lẩn sự đời…

Câu thơ ngâm dứt, hồn thơ lai láng, dư ba làm dựng tóc gáy Tú Uyên. Chàng vừa kịp ngăn một tiếng kêu thốt tự đáy lòng thì Giáng Tiên đã tiếp:

“Chuyện của chị đã xưa rồi. Cũng vì chuyện đó, cũng vì một chuyện tương tự như chuyện của em, cũng vì một phút cảm thông với một tâm hồn thi nhân, cũng vì một vài vần thơ mà chị đã được siêu thoát. Chuyện của chị xưa rồi. Nhắc lại cũng là vô ích. Rồi ra em sẽ như chị. Chị khuyên em nên vững tâm chịu đựng. Nhỡ tay chàng, em sẽ hoàn toàn thoát khỏi nơi vòng kiềm tỏa thời gian”.

Tú Uyên có cảm tưởng hai người dừng lại nhìn nhau. Giây lâu, mới lại nghe thấy Giáng Tiên cất tiếng:

“Mà thôi, chị về. Để em đợi chàng. Chắc cũng sắp lại đấy”.

Giáng Kiều năn nỉ:

“Không gặp nhau nữa ư?”

Không có tiếng trả lời. Gió lộng thổi trên sân chùa bát ngát. Tú Uyên nín thở. Một lát sau, giọng Giáng Kiều nghẹn ngào khẽ thoảng bên tai:

“Bức tranh… Tân lang đã đến”.

Tú Uyên bước vội đến gốc cây phong. Nhìn quanh vắng vẻ. Sân chùa in bóng cây phong gầy guộc, màu gạch Bát tràng tái ngắt dưới ánh nắng thu.

Quay lại bức tranh thì nét trăng hạ tuần đã trở lại hình tròn.

Trong tranh, nguyên vẹn in hình người cũ. Giáng Kiều.

“Giáng Kiều…”

Tú Uyên khẽ thốt lên như vậy, lần này không biết đã mấy mươi lần, từ lúc dời chùa bước về nhà, run tay treo bức tranh lên chỗ cũ.

“Giáng Kiều…”

Mà lắng nghe, chỉ có tiếng gió đầu mùa lộng thổi ngoài song. Trong tranh, dưới ánh trăng tròn, Giáng Kiều, người đẹp, vẫn giữ nguyên dáng cũ: Giáng Kiều vẫn chỉ là những nét và hình.

Lúc bấy giờ đêm đã vào khuya, tiếng đồng hồ thánh thót, gian phòng lạnh toát hơi may. Tú Uyên với tay lấy bình rượu, rót đầy một chén, rồi lặng lẽ nhìn Giáng Kiều mà nâng chén. Men loang tê lưỡi, bốc cháy niềm chờ đợi: Giáng Kiều vẫn nguyên vị đứng yên.

Bèn vùng dậy xăm xăm đến trước bức tranh. Rồi nhân men bốc lên đầu, chàng thẳng tay đẩy mạnh cánh song.

Gió lùa vào phòng học, ánh nến chập chờn, trăng ngoài trời xuất hiện lên vắt vẻo ngang song. Trăng trong tranh bỗng khuyết dần: hai nét trăng lại giống hệt nhau.

Thế rồi gian phòng sực mùi hương lạ, tà áo người trong tranh phấp phới, sắc màu giao động, Giáng Kiều khép nép cúi đầu thi lễ. Tú Uyên chưa kịp ngạc nhiên, thì gót sen thoăn thoắt, Giáng Kiều đã đứng bên chàng. Lúc bấy giờ, mắt đen thăm thẳm, hơi thở rộn ràng, da ấm mịn cỏ non phơi nắng, môi mọng thơm quả quý chín mùi, tóc mềm cuồn cuộn xuống vai, Giáng Kiều là đợt sóng ngoài khơi, là mây trắng trên trời; Tú Uyên phút chốc tưởng như bồng bềnh bay bổng rồi lại cảm thấy tự chuồi xuống vực.

Chàng gượng giơ tay khép kín cánh song. Ánh nến đã tắt tự bao giờ. Gió ngoài trời vẫn thổi, Tú Uyên mong gió thổi không ngừng.

Đầu canh năm, gà gá ran bờ giậu, hàng xóm rủ nhau thức dậy thổi cơm, Tú Uyên cũng từ từ tỉnh giấc. Sực nhớ chuyện đêm qua, dụi mắt mà nhìn thì vẫn thấy Giáng Kiều nằm cạnh còn đang thiếp ngủ. Bèn đẩy mạnh cánh song rồi chống tay nghển đầu mà no mắt ngắm. Ánh sáng bàng bạc một bình minh đầu mùa trở lạnh chảy dài theo một vóc người thanh tú. Nhìn kỹ thì đường cong mềm mại, nét nhỏ nhịp nhàng, nhan sắc so với lúc còn ở trong tranh lại có phần hơn.

Gió thoảng vào phòng, Giáng Kiều rướn người nhích lại Tú Uyên. Da thịt ấm nồng, hơi thở thơm mùi phong lan nở dưới trăng rừng, Tú Uyên lại thấy choáng váng, tưởng như đang ngụp lặn dưới muôn nghìn đợt sóng lên xuống thất thường. Chàng cố gượng vùng dậy. Tiếng động làm Giáng Kiều tỉnh giấc, mắt đen láy mở to ngơ ngác. Rồi nhoẻn miệng cười. Tú Uyên ngập ngừng:

“Nàng… là ai?”

Thì cũng ngập ngừng:

“Lại còn phải hỏi ư?”

Bàn tay Tú Uyên mơn theo cái dáng bềnh bồng của mớ tóc mây, bàn tay dừng lại nơi thoai thoải giữa vai và cổ rồi nằm gọn trong mười ngón búp măng run rẩy của Giáng Kiều. Tiếng động bên ngoài mờ dần. Trong tịch mịch của gian phòng, không khí nghe như vần vụ từng luồng rạo rực…

Một lát sau, Tú Uyên mới nói:

“Biết nàng là người đẹp trong tranh. Lại nhân nghe trộm câu chuyện ở sân chùa mà biết thêm được tên. Nhưng ở đâu mà lại, tại sao lại từ trong tranh mà bước vào đời, Giáng Kiều…”

Mười ngón búp măng siết chặt, hơi ấm người thiếu nữ ấm ran bàn tay Tú Uyên. Nàng đáp:

“Nhưng sao lại băn khoăn tìm hiểu nguyên do? Đôi ta gần nhau thế này chưa đủ sao?”

Tú Uyên bèn đem chuyện cũ ông già vẽ tranh mà kể lại. Nghe xong, Giáng Kiều bỗng dưng nức nở, hàng mi ướt đẫm, tròng mắt ngấn lệ long lanh.

Gạn hỏi thì ngập ngừng không muốn nói. Giây lâu mới lên tiếng:

“Thiếp nhờ tay người tạo nên thể xác. Lại nhờ ý thành của chàng gây nên sinh khí mà trở thành người. Thân thiếp vì vậy mà hoàn toàn tùy thuộc nơi chàng. Không biết có tin được lòng ai không?”

Tú Uyên tự nhiên cũng thấy thổn thức trong lòng. Bèn nâng đầu Giáng Kiều đặt vào lòng rồi mắt nhìn tận mắt:

“Sinh này nguyện đem cả chuỗi ngày xanh còn lại mà nguyện yêu nàng. Như thế đã đủ tin chưa?”

Giáng Kiều chớp chớp hàng mi thỏ thẻ:

“Đời thiếp chỉ biết có chàng, không tin chàng còn biết tin ai? Nhưng… còn ông già?”

Trên nền ký ức Tú Uyên, bỗng nổi lên một dáng mây chiều. Chàng nhớ tới lời hứa của chàng khi gặp ông già: chàng sẽ vượt mọi thử thách để cầm nổi bút mà tạo nên vẻ đẹp. Chàng nhớ lại lời khuyên của ông già khi đời bến sông Tô:

“Người đẹp chẳng qua chỉ là phương tiện. Thể hiện vẻ đẹp trên tranh mới là cái đích cuối cùng. Không nên đắm đuối vào phương tiện mà quên mất đích…”

Chàng nhìn Giáng Kiều: Giáng Kiều ngước mắt nhìn chàng. Giáng Kiều chỉ là phương tiện. Biết nói gì đây?

Tú Uyên cố nén một tiếng thở dài. Chàng linh cảm những ngày sắp tới sẽ là những ngày thắc mắc. Nhưng hiện giờ chàng không muốn nghĩ. Hạnh phúc đang tràn trề, hạnh phúc là hương nồng da thịt, ăm ắp sinh lực của cuộc đời lộng gió heo may. Hạnh phúc giờ đây trọn vẹn, bởi mong manh, mong manh như giọt lệ lẻ loi đang còn vương lại nơi đuôi mắt Giáng Kiều.

Chàng cúi xuống thì thầm:

“Giáng Kiều… đôi ta…”

Và bắt gặp ánh mắt của mình thăm thẳm tận cùng tròng mắt Giáng Kiều. Đột nhiên, chàng thấy chớm lại trong lòng, từ những ngày thơ ấu âm thầm sống cạnh Trần Công, cái cảm giác xa xưa, rờn rợn, cô đơn mà vô cùng quyến rũ, khi một mình nhìn sâu xuống lòng một vực giếng khơi, khi lòng vực giếng dâng lên vòi vọi hình ảnh cô đơn của chàng.

Cảm giác đó lan ra như một chất men. Vòng tay Giáng Kiều nặng trĩu nơi cổ, Tú Uyên thôi nghĩ, quên hẳn những lời đối thoại vừa qua, từ từ nhắm mắt mà đắm mình vào lòng cảm giác.

Lúc bấy giờ mặt trời đã lên cao. Ánh nắng đầu thu nhè nhẹ qua song, dát vàng lên bức tranh vẫn trải rộng trên tường.

Nền tranh hoang rộng…

Trăng trong tranh đã lặn từ lâu.

Thế rồi, nhịp theo tuần trăng ngoài trời, nét trăng trong tranh khi mờ, khi tỏ, lúc khuyết, lúc tròn, hai người mê man quấn quít lấy nhau, lãng nhìn cảnh vật bên ngoài, lấy tình yêu làm lẽ sống.

Giáng Kiều bám chặt vào cuộc đời mà quên hẳn cuộc sống trong tranh. Tú Uyên thì đóng cửa không tiếp khách, để nguyên sách vở lên bụi. Bạn bè lúc đầu thấy lạ cũng có nhắn lời khuyên nhủ, hàng xóm dị nghị có khi nhắc khéo đến chuyện Liêu Trai, nhưng Tú Uyên cứ câm lặng mà để thoảng bên tai, lâu dần cũng không còn ai buồn nói tới. Có việc qua ngõ, cũng chỉ biết nhìn cổng khép kín, ngắm giàn thiên lý thấp thoáng trong vườn mà lắc đầu rảo bước cho nhanh.

Một buổi sáng, gió nhẹ đầy song, hoa đào nở đỏ góc vườn, trời xanh cao nhẹ, chim yến lượn từng đàn, Tú Uyên biết là mùa đông đã qua từ lâu. Bèn nhẹ đặt đầu Giáng Kiều xuống gối, với tay nhặt một cuốn sách để lay lắt từ lâu trên bàn mà dở ra xem. Sách luận về cái viễn tượng xa xôi, một khi Đạo lớn của người nước Lỗ được nơi nơi thực hiện. Nhưng đọc được non một trang, nghĩa sách vẫn thoảng như gió ngoài trời, Tú Uyên vứt quyển sách xuống chân giường mà lơ đãng nhìn quanh.

Chợt thấy bức tranh, bất chợt nghĩ đến ông già. Bèn vùng đứng dậy, mài mực, lấy bút, trải giấy xuống mặt án thư, vén tay áo mà vạch một nét. Nét bút vừa phác, Tú Uyên thấy nhẹ như một cánh chim. Vạch thêm nét nữa thì chim như đã vươn hai cánh, như muốn vỗ mạnh mà dời mặt giấy. Tú Uyên chấm mực, phác nhanh một nét sao đêm. Chim tức thì vỗ cánh mà vút lên cao rồi mất hút vào lòng ngôi sao lấp lánh. Gió chợt nổi lên trên nền giấy. Ngôi sao tắt ngấm. Nền giấy trở lại trắng tinh.

Quay lại, Giáng Kiều đã đứng bên chàng.

Hai người lặng lẽ nhìn nhau.

Một lát sau, Giáng Kiều mới nói, giọng như cố ghìm cảm động:

“Chàng phải bắt đầu tự thiếp. Thiếp mới là thật. Còn đôi cánh chim vừa vẽ chỉ là những trò ảo mộng…”

Tú Uyên nhìn lên bức tranh treo trên tường. Giáng Kiều cũng nhìn theo mà rằng:

“Chàng phải vẽ lên chính bức tranh đó. Chàng đã hứa với ông già. Vả lại thân thiếp dầu sao, chỉ là phương tiện. Chàng nên cố gắng thành công”.

Tú Uyên như người mơ ngủ, cầm bút tiến lại bức tranh, Giáng Kiều đứng im lặng một chỗ, dáng điệu giữ nguyên dáng điệu cũ, khi gót sen chưa bước vào đời. Tú Uyên dúng đầu bút xuống nghiên mực rồi quay lại nhìn Giáng Kiều. Tầm mắt chàng như xa ra, như vươn tới áng mây trắng chiều xuân năm ngoái, như lướt trên lớp sóng sông Tô. Chàng đã hứa với ông già. Chàng nghĩ tới một nền giấy chu sa, bềnh bồng có dáng mây vần vụ. Tầm mắt gần lại. Từng đường, từng nét, Giáng Kiều hiện lên trước mặt chàng, Giáng Kiều mà từng đường cong, từng nét nhỏ, cả tấm thân trau chuốt từng khối ngọc lành, đối với chàng không còn gì xa lạ.

Chàng bắt đầu vẽ.

Bắt đầu Giáng Kiều có cảm giác như có ai bới tóc mà đếm từng sợi tóc. Thế rồi, khi ngọn bút Tú Uyên vừa chạm xuống nền tranh thì cảm giác tê rợn vừa qua đã trở nên nhức buốt. Tóc bị nhổ dần từng sợi, mỗi sợi tóc nhổ đã lại được thay thế bằng một mũi kim… Cứ như thế, cực hình tiếp tục đồng thời với ngọn bút Tú Uyên loang loáng trên mặt nền tranh.

Nàng muốn cắn chặt môi, để khỏi bật tiếng kêu. Nhưng lại sợ Tú Uyên ngừng bút, nên toàn thân cố giữ không cử động, mặt vẫn phải tươi mà nước mắt trào ra đã ướt đẫm cả vạt áo ngoài.

Ngọn bút Tú Uyên vạch nhỏ từng nét tóc mây, ngọn bút in hằn xuống mặt giấy, mớ tóc mây bồng lên đen biếc màu da trời mùa hạ giữa đêm trăng. Giáng Kiều cố dán mắt vào bức tranh để quên đau xót. Nhưng mắt nàng trong chốc lát bỗng hoa lên. Và khi nghe tiếng động, Tú Uyên ngoảnh lại thì Giáng Kiều đã ngã vật xuống bên giường. Vội chạy lại thì Giáng Kiều đã vội ngồi dậy như thường. Hỏi ra mới biết chuyện, bèn vứt bút mà rằng:

“Lời hứa với ông già tuy nặng, nhưng mối tình của đôi ta còn nặng hơn. Xin thề không vẽ nữa”.

Dứt lời, những nét vừa phác trên tranh cũng mờ dần rồi biến mất. Bức tranh trơ lại nền tranh.

Từ hôm ấy, tâm hồn hai người không còn hồn nhiên như cũ. Tình yêu tuy vẫn nồng nàn mà ngay những phút đắm say đến cực độ, tâm tư vẫn còn thấp thoáng ám ảnh cô đơn. Hai người thôi là một. Đuôi mắt Giáng Kiều gợn lên từng đợt ưu tư. Tú Uyên đôi khi tự bất chợt âm thầm nhìn sâu vào một khoảng trời hun hút. Gia dĩ nét trăng trong tranh đêm đêm vẫn tỏ, ánh trăng tỏa ra, hắt hiu, kêu gọi. Tú Uyên lại nhớ tới ông già.

Những lúc ấy, giọng Giáng Kiều trở nên tha thiết, tiếng nhỏ to gợi đến cung bực một chiếc đàn tì nỉ non bên bờ sông vắng. Trong không khí hiu quạnh của gian phòng, Tú Uyên lặng nghe thấm vào lòng từng lời tâm sự và từng đợt quạnh hiu.

Giáng Kiều rằng:

“Thiếp từ tiếp ý của chàng mà bước vào đời, đến nay mới biết tình yêu là nặng, mới biết xót xa cho phận con người. Nhưng… tấm thân đã phương thức nơi chàng, thiếp nguyện hy sinh tất cả vì chàng. Lần đầu chưa thành công, tại sao không nghĩ lại mà thử thêm lần nữa?”

“Tại sao?..”

Tú Uyên không nói thêm, vòng tay khép chặt thêm vào đôi vai nho nhỏ của Giáng Kiều.

Tại sao? Vì chàng biết là muốn thành công thì sẽ mất Giáng Kiều. Lời ông già giờ đây mới là rõ nghĩa.

“Giữa một người đẹp mơn mởn đào tơ và một nét họa trong tranh, giữa cái nhất thời tương đối và cái tuyệt đối bất chấp thời gian…”

Tú Uyên phải chọn lựa. Giữa một bức tranh và Giáng Kiều. Giữa cái đích hãy còn xa lắc và một tấm thân hiện đang run rẩy trong vòng tay khép chặt của chàng. Giữa cái chửa thành hình và cái hiện hữu. Sự chọn lựa thật vô cùng đau xót.

Một đêm cuối xuân, mây đen vần vũ tự buổi chiều, không khí hầm hập chuyển mùa, trăng chưa mọc mà sao không sáng trên nền trời mù mịt, gió không thổi mà ngừng lại từng nội cỏ, lùm cây, trống vừa dứt canh ba, Tú Uyên từ từ ngồi dậy, không định ý mà mắt nhìn hướng thẳng vào bức tranh mờ ảo một khoảng trống không trên vách.

Hốt nhiên, chàng cảm thấy đã đến giờ quyết thiệt. Bèn nhẹ bước xuống giường, chọn cây nến lớn thắp lên mà bước thầm đến trước bức tranh. Ánh nến lung linh, nền tranh bát ngát gợn lên từng đám mây đen, không khí trong tranh tiềm tàng chờ đợi. Tú Uyên liếc nhanh về phía Giáng Kiều. Giáng Kiều vẫn đang thiếp ngủ, đường ngực nhịp nhàng, hơi thở đều đều…

Chàng khẽ gọi:

“Giáng Kiều…”

Đủ để một mình nghe thấy, để bỗng thấy trong lòng chứa chan lớp lớp sóng thương.

Chàng quay lại, giơ cao ngọn nến. Mây trong tranh vần vũ thêm nhanh. Lửa nến chập chờn, nét mặt Tú Uyên in hằn khắc khổ. Ngọn lửa từ từ kề sát bức tranh. Nhưng ngọn lửa vừa kịp tạt vào nền tranh thì bỗng gian phòng lóe sáng. Cùng một lúc, trăng đã nhô lên: chênh chếch ngoài song, chênh vênh một khoảng trong tranh, ánh trăng tràn ngập gian phòng, át cả ánh nến đang thoi thóp trong bàn tay Tú Uyên.

Thế rồi, gió lớn nổi lên khắp chỗ: ngoài trời, trong tranh. Mây đen cuốn sạch. Lửa nến chưa kịp bén vào bức tranh, đã tắt ngấm.

Tú Uyên nghiến răng bóp nát ngọn nến mà xô lại bức tranh. Cũng vừa lúc đó, giữa lòng đêm thâu tịch mịch, bỗng cất lên một giọng trầm trầm:

“Hãy khoan…”

Tú Uyên rợn người đứng sững. Giọng ai nghe quen thuộc, giọng xa xôi heo hút núi ngàn. Hốt nhiên nghĩ ra, chàng khẽ kêu lên:

“Giáng Tiên…”

Thì Giáng Tiên cũng từ bóng tối đi ra, nhịp nhàng, yểu điệu, Giáng Tiên thoắt đã đứng trước bức tranh, đối diện với chàng. Nàng cúi đầu thi lễ: không khí trở nên êm ả, hây hây ngọn gió cuối xuân. Ngước nhìn người thiếu phụ, Tú Uyên thấy dịu hẳn nỗi lòng: sắc đẹp Giáng Tiên đã vượt ra khỏi vòng tục lụy. Vẫn những đường cong óng ả, vẫn là vóc liễu mảnh mai, nhưng ở Giáng Kiều thì não nùng rạo rực, mà ở Giáng Tiên thì lại thanh thoát dịu dàng. Một đàng là tuyết miền Bắc cực hay ánh chói mặt trời giữa nơi sa mạc. Một đàng là gió mùa xuân, là ánh nắng mùa thu. Một đàng vươn lên là sóng trùng dương. Một đàng bình thản tỏa ra là mặt hồ im lặng. Giáng Kiều vẫn còn đau xót. Giáng Tiên đã hết đau xót từ lâu.

Tú Uyên vụt nhớ lại. Chàng đọc thầm:

Hồn bướm mơ tiên lẩn sự đời…

Giáng Tiên mỉm cười:

“Thế ra công tử đã nghe thấy…”

Rồi lại tiếp ngay:

“Giờ đây thiếp đã quên lãng việc đời. Nhưng vì bản thân đã qua cầu đau xót, cho nên phải về đây đêm nay để mà an ủi những người đồng cảnh”.

Tú Uyên như người mê ngủ. Chàng rằng:

“Sinh này xin nghe. Nàng đừng nề hà mà không nói rõ”.

“Đến đây đêm nay là muốn nói rõ. Câu chuyện chắc dài, công tử cho phép…”

Nói đoạn, ung dung kéo ghế mà ngồi. Tú Uyên lật đật xin lỗi, thì xua tay mà rằng:

“Chúng ta một hội một thuyền, chẳng nên khách sáo. Công tử cứ tự nhiên. Xin mời công tử”.

Tú Uyên ngập ngừng, liếc nhìn về phía Giáng Kiều. Giáng Tiên biết ý:

“Công tử để nguyên cho Giáng Kiều yên giấc. Nàng còn yên giấc cho tới hết câu chuyện. Cho tới khi nào công tử quyết định xong xuôi”.

Tú Uyên tuy không hiểu mà không dám hỏi nhiều. Chàng ghé ngồi xuống ghế đối diện, Giáng Tiên nói tiếp:

“Thiếp xin bắt đầu chuyện của thiếp. Vì nó liên quan với chuyện của công tử. Chắc công tử không ngờ, Giáng Kiều và thiếp, hình hài tuy có khác mà cốt cách lại giống nhau. Bởi cũng do một bàn tay cấu tạo”.

Tú Uyên thốt lên:

“Ông già!”

Giáng Tiên gật đầu:

“Chính ông già”.

Tú Uyên vẫn chưa hết ngạc nhiên:

“Trời… tại sao vậy…”

Giáng Tiên nói tiếp:

“Ông già vì thành ý của công tử mà tạo nên Giáng Kiều. Cũng như trước kia tiếc cho hồn thơ của Tiên Đế mà tạo ra thiếp. Sự nghiệp văn chương của Tiên Đế nào có phải là vài bài thơ khẩu khí truyền tụng trong chốn Tao Đàn? Đem cái vĩnh cửu là thơ để cho cái nhất thời là chính trị, Tiên Đế nếu không gặp thiếp, tất sẽ mai một hồn thơ. Nhưng một chiều thông cảm, hồn thơ lai láng, Tiên Đế đã dám vượt cả lễ nghi trong thiên hạ mà ngồi chung xe với một ni cô… Và cũng vì thế, đến nay…”

Giáng Tiên ngừng lại, tầm mắt xa hút.

Tú Uyên như lây cảm động, chàng khẽ ngâm:

Gió thông đưa kệ tan niềm tục
Hồn bướm mơ tiên lẩn sự đời…

Giáng Tiên ngùi ngùi:

“Lời thơ vang lại tới đêm nay, vì hồn thơ phiêu lưu thoát khỏi cái duyên trần tục, dư ba chắc không phai mờ trong mai hậu… Cũng vì thế đêm nay mới được ngồi đây mà hầu chuyện công tử.

Tú Uyên vội hỏi:

“Nàng nói sao?”

Giáng Tiên chậm rãi:

“Vì thiếp đã trở thành bất diệt. Bất diệt cùng với hồn thơ. Thiếp đã đi vào lòng tuyệt đối. Giả thử năm xưa, bánh xe không kịp thời đứng lại, Tiên Đế không kìm được tình thường da thịt thì… đâu có ngày nay?”

Tú Uyên bất giác ngoảnh lại nhìn Giáng Kiều. Bắt gặp tầm mắt Tú Uyên, Giáng Tiên liền tiếp:

“Sự lựa chọn nào mà không đứt ruột?”

Dưới ánh trăng, tấm thân Giáng Kiều bỗng trở nên mờ ảo, hình nét lung linh chuyển động như muốn vươn lên, cập tới một nhịp giao hòa mới lạ.

Tú Uyên nhìn thẳng vào Giáng Tiên:

“Xin hỏi thêm một điều. Ông già là ai?”

Giáng Tiên cười mà không đáp. Gạn hỏi thì úp mở mà rằng:

“Không là ai cả”.

Rồi lại tiếp:

“Cũng có thể là chàng”.

Tú Uyên chưa hết ngạc nhiên thì bỗng từ xa vẳng lại tiếng gà gáy sáng. Rồi, trống vòm canh dồn dập, hơi đêm tan loãng, ánh trăng mờ dần, nền trời bàng bạc, Giáng Tiên rũ áo đứng dậy, giọng cất lên như xa như gần:

“Đã đến giờ thiếp phải lên đường. Bình minh đã rạng. Giáng Kiều còn ngủ. Công tử nên kịp thời quyết định. Công tử trông kìa…”

Vừa nói vừa chỉ bức tranh.

Nét trăng trong tranh đã lặn từ lâu.

Quay lại thì xiêm y lãng đãng ngoài song. Giáng Tiên chỉ còn là những nét mờ mờ chấm phá đang phai nhòa trên nền sương buổi sớm mù trời.

Tú Uyên tiến lại bức tranh.

Lúc bây giờ Giáng Kiều vẫn còn ngủ thiếp.

Bỗng dưng, Giáng Kiều cảm thấy, giữa cơn mê tỉnh chập chờn, có con bướm trắng vờn quanh, cánh bướm đập nhẹ lên từng tế bào da thịt. Cảm giác tê tê dại dại lan ra như vết dầu loang. Phút chốc toàn thân tê liệt, cất tiếng kêu thì âm thanh vừa ra thoát khỏi miệng đã mất hút trong một khoảng không gian yên lặng khác thường. Bèn hé mắt nhìn thì thấy Tú Uyên đang lăm lăm ngọn bút, đứng trước bức tranh, nền tranh sơ sài phác nhẹ một nét hình dung toàn thể thân hình yểu điệu một trang thiếu nữ. Giáng Kiều thấy nhói nơi tim: Tú Uyên đã lựa chọn.

Hai người lặng lẽ nhìn nhau: phút yên lặng dần dần trở nên một phút cảm thông có giá trị một cuộc giao hoan trọn vẹn, mà ái ân lớp lớp, niềm yêu đương đã vượt khỏi tình thường quấn quít nơi mái tóc, làn da.

Thế rồi tròng mắt Tú Uyên xa thẳm, bàn tay cầm bút nổi gân, ngọn bút bắt đầu tỉ mỉ đi vào từng nét.

Giáng Kiều nghiến răng chờ đợi cực hình…

Bỗng, toàn thân thấy nhẹ lâng lâng, Giáng Kiều có cảm tưởng biến thành bông nõn, bồng bềnh trên đầu một ngọn gió xuân. Rồi ngọn gió xoay chiều thành cơn lốc nhẹ, Giáng Kiều chuốt dáng, thân hình như vờn cao đến tận mây xanh.

Cảm giác lạ lùng đó dâng lên như một đợt sóng thủy triều. Không gian ngừng lại đã tự bao giờ. Trăng thôi mọc. Ánh mặt trời mãi mãi là ánh thiều quang.

Chợt nhớ tới Tú Uyên, bèn quay lại thì long lanh tận dưới hàng mi, đuôi mắt Tú Uyên bắt đầu ngấn lệ…

Ngọn bút tung hoành loang loáng như một ánh thép lưu cầu bị dồn vào một thế giới. Ngọn bút táp xuống nền tranh, sầm sập mưa sa xuống mặt sông dài giữa cơn bão lớn. Từng nét một, người đẹp trên tranh lần lần thể hiện. Từng nét một, Tú Uyên bỗng thấy Giáng Kiều mờ dần trong một đám mây mù khởi dâng không biết tự đâu.

Chàng dụi mắt, định thần và chợt hiểu. Tay cầm bút run lên. Đám mây mỗi lúc một thêm dày đặc, thấp thoáng chỉ còn nhìn thấy vài nét Giáng Kiều.

Bèn nghiến răng, gạt lệ, mà chúc đầu ngọn bút xuống nền tranh.

Nét bút cuối cùng là một nét trăng rằm.

Đám mây phút chốc trở nên trắng xóa, bồng bềnh nhẹ lướt qua song, mờ dần vào một khoảng trời cao thăm thẳm.

Giáng Kiều đã đi vào lòng tuyệt đối.

Gian phòng vắng ngắt, hoe hoe màu nắng cuối xuân.

Tú Uyên vứt bút, gục xuống bên cạnh bức tranh đã thành hình.

Nửa tháng sau, không thấy tiếng động trong nhà, hàng xóm sinh nghi, kéo sang đầy ngõ, rủ nhau phá cửa mà vào. Cửa vừa mở thì mùi mốc xông lên, nhện giăng đây đó, sách vở ngổn ngang, động đến là tan thành bụi.

Thì ra Tú Uyên bỏ đi đã từ lâu.

Duy trên vách nguyên vẹn vẫn còn bức tranh tố nữ.

Bức tranh đó, Trần Công giữ làm đồ gia bảo, đêm ngày lặng ngắm không thôi. Một ít năm sau, nỗi buồn tuyệt tự ăn sâu vào tâm não, vợ chồng Trần Công theo nhau mà quy tiên. Bức tranh vì thế mà sang tay họ khác. Từ đó, trải mấy triều đại đổi thay, bức tranh đổi chủ đã mấy lần, mà nét bút vẫn còn nguyên như cũ.

Kịp đến khi, tang thương biến đổi, quân Pháp-lan-tây chiếm giữ các nơi, bức tranh không hiểu sao lại lọt vào tay quan Đình nguyên họ Phan lúc bấy giờ đang phất cờ khởi nghĩa Cần Vương khoảng rừng Hồng Lĩnh. Họ Phan có tài dùng quân, biết phép đúc súng, nhưng lại yêu việc thi, họa, cầm, kỳ, nên rất quý bức tranh tố nữ, luôn luôn treo trong phòng làm việc, không lúc nào rời. Thường lúc rỗi, hay ngồi một mình đối diện bức tranh mà thổi ống tiêu. Những lúc đó, tâm sự u uất lộ ra cả âm thanh, tiếng trúc theo gió Lào tỏa khắp chiến khu Ngàn Trươi, ai nghe thấy cũng phải chau mày gạt lệ.

Lúc bấy giờ, bức tranh đã mờ, nét vẽ như có sương mù bao phủ.

Đến một đêm, trăng trong tranh bỗng dưng đỏ ửng: họ Phan bắt đầu thụ bệnh.

Trước khi nhắm mắt, họ Phan có đòi nhìn lại bức tranh.

Nhưng trăng trong tranh đã rụng.

Người đẹp trong tranh đã đi trước họ Phan.

VŨ KHẮC KHOAN
1957

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Võ Phiến

Post by Sơn râu 15 May 2024

35. Một Ngày Để Tùy Nghi

Buổi chiều, anh về tới nhà trời hãy còn sáng một lúc lâu. Trong ráng chiều, đôi ba con én nhào lộn ngoạn mục trên các mái nhà.

Một buổi chiều, cuối mùa đông, anh Tư đi làm về, trong người rân rân mệt mỏi, nằm trông theo những con én bay ngược bay xuôi trong xóm. Én bay rạo rực. Nó không bay vì nhu cầu chuyển dịch. Nó lướt qua rồi tức thì lộn trở lại, bay vô ích. Nó bay như chỉ để phô trương, để biểu diễn những pha bất ngờ. Én bay trong xóm đôi ba con hay năm bảy con? Khó đếm được. Nó bay loạn xị. Nó rạo rực niềm vui trên xóm nghèo, trong ráng chiều, khi người người mệt mỏi. Anh Tư nằm trông theo én bay cho đến khi đèn đường bật sáng.

Mưa bắt đầu rơi lai rai trong bóng tối lúc nào không hay. Khi anh ló đầu ra sân sau, tới chỗ chum nước thì mưa ướt tóc, tay quờ nắm cán gáo thì cán gáo ướt đầm.

Mưa rơi im lặng lai rai trong lúc anh Tư ăn cơm và lúc anh ăn xong nằm đọc báo. Rồi mưa tạnh bao giờ cũng không hay biết. Khuya, trăng lên cao, sáng mát. Dưới ánh trăng, ngôi mả vôi nằm lù lù trước nhà, phía bên trái cửa ra vào, với cái bia mộ cũ kỹ rêu lở; dưới ánh trăng ngõ hẻm gồ ghề, tường nhà mảng tối mảng sáng; dưới ánh trăng mấy cái quần áo phơi chưa khô ở sân sau, chiếc xe đạp ba bánh của đứa con v.v… Đâu có gì để ngắm trăng. Nhưng đêm trăng gợi một nao nức vu vơ.

Anh Tư nghĩ đến câu thơ cổ, lạc loài trong trí nhớ:

“Nhị thập tứ kiều minh nguyệt dạ”

“Nhị thập tứ kiều”? Có gì hấp dẫn hơn những tường nhà mảng tối mảng sáng trong xóm? hơn những chiếc lốp xe cũ vứt nằm trong hẻm? những quần áo vắt phơi trên dây? Đâu có gì, đêm trăng trong câu thơ lạc loài, không mô tả, đêm trăng trống huếch trống hoác mà vẫn thu hút.

Anh Tư muốn thức, nhưng khuya rồi, không được thức nữa.

Giữa chừng giấc ngủ, chợt tỉnh dậy. Có tiếng xe gầm gừ trước nhà. Chiếc xe đang cố gắng nhích tới nhích lui, trở đầu một cách khó khăn. Đêm đêm vẫn có mấy người tới đánh bạc ở nhà bên cạnh, bây giờ họ ra về. Ánh đèn xe của họ chiếu sáng tận trong phòng anh Tư. Trước ánh đèn xe, mưa lại rơi lai rai tự lúc nào. Bấy giờ có lẽ đã quá giờ giới nghiêm một chút, chiếc xe mấy người đánh bạc đi xa rồi, cả xóm vắng lặng. Anh Tư chẳng còn được bao nhiêu thì giờ nữa, anh vội vã ngủ lại.

Lần khác, anh thức giấc, bốn trái hỏa châu cùng sáng rực một lúc, treo lơ lửng giữa trời về phía Tân Cảng. Ánh sáng rọi tận trong mùng. Anh bỡ ngỡ nhìn rõ những đường may ráp hai lá mùng, nhìn thấy tờ báo trải nằm trên trần mùng. Bốn trái hỏa châu trừng trừng sáng rực một lát rồi tắt. Bên ngoài còn lại thứ ánh trăng xanh mát. Mưa lại đã ngưng tạnh. Anh không còn thì giờ nữa.

Lần khác nữa, thức giấc, nghe có tiếng xích-lô máy nổ lẻ loi ở xa. Hết giới nghiêm. Gần lắm rồi, không còn thì giờ. Anh cần nghỉ thêm một chút.

Quả nhiên vừa chợp mắt lại được một tí đã nghe tiếng rao hàng: “Mì…nóng đây.” Hết. Từ lúc này, thì giờ không thuộc về anh Tư.

Bình minh lóe lên như một cánh tay giơ cao, sắp sửa đập xuống. Anh Tư sợ bình minh. Mỗi buổi sớm là một đe dọa. Mỗi buổi sớm mở đầu một ngày nhọc nhằn. Ngày nào cũng là ngày của công việc. Việc nọ tiếp việc kia, giờ khắc đun đẩy nhau liền liền suốt tới chiều.

“Mì…nóng đây.” Anh mở mắt. Sương trắng lờ mờ ngoài cửa. Trong không gian có tiếng con cu cườm buông xuống, nặng chình chịch. Tiếng u trầm làm cho buổi sớm lắng vào những suy tưởng sâu xa. Anh Tư muốn nằm yên chút nữa, theo dõi con chim cườm. Nhưng sáu giờ rưỡi rồi. Muộn rồi. Anh Tư đâu còn thì giờ? Anh chỉ có một giờ trước mặt. Một giờ để làm mấy động tác thể dục, để rửa mặt, cạo râu, đi cầu, để ăn sáng, mặc đồ, để soát lại chiếc xe qua loa trước khi phóc lên thẳng xông tới sở.

Anh Tư không thể dậy trễ mười phút. Tiếng con cu cườm nặng chịch những suy tư trong sương sớm u trầm không thuộc về anh. Ánh sáng trên mái ngói, trên lá cây mỗi buổi mai không thuộc về anh. Minh nguyệt dạ không thuộc về anh…

Nhị thập tứ kiều? Ở đâu vậy? Cảnh trí nó ra sao? Đêm trăng, anh nghĩ tới nó. Nó gợi những mơ ước xa khơi. Anh Tư tưởng tượng mình phất phơ thơ thẩn ở chỗ “nhị thập tứ kiều” xa xôi viễn vông đó. Nhưng, nhị thập tứ kiều cũng không thuộc về anh. Anh Tư tưởng tượng những rạch nước chạy giữa hai hàng cây trong các khu vườn ở Lái Thiêu, ở Chợ Giữa, tưởng tượng rừng tre gai ở cao nguyên miền Trung, những giải mây ẩm ướt, mang vô vàn giọt nước li ti lê thê kéo ngang qua đèo Hải Vân. Anh Tư tưởng tượng những ngóc ngách trong đô thành, cảnh sống sầm uất đầy bất ngờ của xã hội nghèo túng, tưởng tượng những quán cà-phê ba tàu, những vườn hoa đây đó ở Sài Gòn Chợ Lớn, những nơi có thể ngồi phất phơ nhẩn nha… Nhưng những thứ đó không thuộc về anh: công viên, tiệm nước ba tàu, vườn cây Lái Thiêu v.v… Anh Tư không thể ở bất cứ đâu. Anh Tư chỉ có thể ở sở.

Bình minh lóe lên như một cánh tay giơ cao, và anh Tư cúi đầu xuống chịu trận.

Anh Tư đã cúi đầu chịu trận sáng hôm nay, sáng hôm qua. Anh cúi chịu ngày này qua ngày khác, năm này qua năm nọ. Anh không có ngày nào của anh, thuộc về anh. Cả cuộc đời là của công việc. Sự mưu sinh tước đoạt trọn cuộc sống của anh.

Giả sử anh cắt ngang chuỗi ngày liên tục ấy, tự do sử dụng thì giờ để làm những cái anh thích, sống theo một chương trình tự anh xếp đặt, như thế dăm ba ngày anh sẽ mất việc ngay, khốn đốn ngay. Anh không tự ý ngừng cái nhịp sống ấy được. Nhìn về phía tương lai tít tắp, anh Tư không thấy đến bao giờ có thể gặp những ngày do anh làm chủ, thuộc quyền sử dụng của anh. Trên giấy tờ thường có những bản sao văn gửi đến các cơ quan “để tùy nghi”. Nhưng ngày tháng trong đời, khiếp! không có những ngày để tùy nghi. Không thể có một cuộc đời để tùy nghi.

Anh Tư tưởng tượng coi cải lương đã đời tới mười hai giờ đêm, ăn cháo cá ở Chợ Cũ hồi một giờ sáng, về nhà đọc truyện tàu vài chương, đem đàn và mấy bản nhạc thích thú ra đánh đi đánh lại tới hai ba giờ sáng trước khi đi ngủ. Mờ sớm, con cu cườm điểm từng tiếng u trầm trong sương, anh lắng tai, theo dõi. Anh tha hồ nghe chim gáy, nghĩ đến bên ngoài sương đang còn lạnh, tha hồ thu người vào chăn; trong sự ấm áp, thấy thích anh có thể cùng vợ ân ái, thong thả, nhẩn nha. Rồi lăn kềnh ra ngủ nữa. Bên ngoài, ánh bình minh hiền lành đánh tan sương, sưởi ấm không khí. Anh Tư thức dậy quá chín giờ. Hỏi đến các hàng quà rong bán món ăn sáng thì đều bán hết ráo trọi: mì nóng, hết! bún riêu, hết! cơm bì, hết!… Anh cười ha hả thích chí, tự mình chiên lấy một đĩa trứng, chạy mua một khúc bánh mì, tự pha một cốc cà-phê. Điểm tâm xong, mười giờ rưỡi sáng. Ăn cơm trưa lúc ba giờ chiều v.v…

Như thế là một ngày được tùy ghi. Một ngày giả tưởng. Một ngày huyền hoặc. Cuộc ái ân huyền hoặc lúc bình minh, bữa điểm tâm huyền hoặc hồi chín giờ sáng…

Anh Tư tưởng tượng cái ngày ly kỳ của mình, anh tha hồ vùng vẫy trong cái ngày ấy, như con cá trong nước con chim trên trời, anh ngược anh xuôi, đảo lộn hết chương trình trật tự sinh hoạt, anh tung hoành… Anh Tư say sưa… Nhưng cái ngày ấy ở đâu? Cuối tầm mắt mình, anh không hề trông thấy nó.

Về phía tương lai không trông thấy, nhưng trong dĩ vãng soát lại ắt có.

Hồi anh Tư còn nhỏ, cha anh còn đi làm việc nuôi cả nhà, hồi ấy hẳn anh đã có những ngày trọn vẹn để tung tăng, muốn làm gì thì làm, còn cha anh thì cũng như anh bây giờ, ông vượt từng ngày từng ngày. Cho đến cái ngày cuối cùng, ông không đủ sức vượt nổi, ông chùng chình rồi ngừng hẳn lại vào lúc bốn giờ chiều. Đáng tiếc! nắng đã xế nghiêng. Giá ông cố gắng được hai giờ nữa thì én chiều sẽ bay rộn ràng khắp xóm, ông sẽ cảm thấy thoải mái, như con ngựa về tới chuồng.

Cha anh ngừng lại nửa chừng, khi ấy ông đang làm cai ở một xưởng dệt.

Sau đó thì anh đi làm. Ủa, không phải từ đây không tìm được những ngày tự do của anh. Trong kỷ niệm của anh Tư có những đêm nhậu say tới hai giờ sáng, hôm đám cưới thằng Hùng làm cùng sở anh buồn tình lang thang suốt đêm, hồi mới tập thổi sáo hôm nào anh cũng chờ hơn mười một giờ mới lên gác thổi cho tới một hai giờ sáng… Trong kỷ niệm lại có những lần cuối tuần anh đưa bạn gái đi Cấp, về tới sở vừa đúng tám giờ sáng thứ hai, có những buổi trưa ngồi trong rạp xi-nê thường trực với đào v.v…

Soát lại dĩ vãng, anh Tư ngạc nhiên. Ngày này tiếp ngày kia, ngày nào cũng vẫn là ngày của công việc, tất cả bấy nhiêu ngày tháng vẫn đều là của hoạt động mưu sinh: thế nhưng hồi trai trẻ giữa công việc liên tiếp anh Tư đã tìm ra những khe hở để thổi sáo, để tán cô bạn. Tài tình thật.

Dần dần những khe hở như thế trở nên khó tìm thấy.

Một hôm, trong một khe hở thời gian, anh Tư làm quen với một người con gái dễ thương. Nàng cho anh biết địa chỉ, ở một ngõ hẻm bên Khánh Hội. Anh ghi nhớ. Sau, gặp lại, nàng mượn của anh cuốn truyện xem chơi. Anh định lấy cớ đòi sách, tới nàng. Nhưng rồi lây lất chưa tới được. Kế, nghe nói nàng mê một anh trung sĩ. Nàng “mê” ra sao, anh không rõ. Anh không quan niệm được thái độ yêu đương của nàng. Nhưng vì biết nàng “mê” người ta rồi, anh bỏ qua.

Thật lâu, tình cờ gặp lại nhau, anh Tư nhận thấy cô bạn đổi tính, buồn bã, lơ đãng, nhưng vẫn còn cảm tình đối với anh. Hai người thân mật, hàng ngày gần nhau. Anh được biết là anh trung sĩ nọ đã mất một chân ngoài mặt trận, không chết. Dĩ nhiên, anh Tư muốn biết giữa nàng với người tình xấu số ấy bây giờ ra sao, rồi sau này tính sao. Anh Tư khó đề cập thẳng, nàng thì vắn tắt, khó hiểu. Nàng nói: “Khó chứ anh.” Anh tưởng tượng như vậy nghĩa là: bỏ không nỡ, tiếp tục thì không còn yêu. Tưởng tượng mơ hồ thế thôi, không tiện hỏi thêm. Trông nàng uể oải, lạnh nhạt, vật vờ, gần như vô tình. Anh nghĩ đó là một hình thức của sự đau khổ, nên anh ái ngại.

Một ngày trời lạnh, buổi trưa cùng nằm dưới một tấm ra. Anh Tư xoay người. Cô bạn đang khoanh hai tay vòng trên đầu. Nàng toan gỡ tay, hạ xuống. Anh nhẹ nhàng ấn giữ hai tay, để yên vòng trên đầu. Hai tay chống đối yếu ớt; rồi nửa chừng, nàng mỉm cười, để yên. Hai mắt nhắm. Trong khi anh cử động, mắt nàng vẫn nhắm, bình yên. Một lúc, anh để ý nàng đang ngậm lấy môi dưới của anh, mút nhè nhẹ, chăm chú như một đứa bé con. Anh Tư thấy lòng bình thản: anh không chút vồ vập, anh thong thả, thong thả. Cô bạn mút đều đều, êm ả. Một lúc, anh ngừng cử động, nhìn xuống chợt thấy mắt nàng hé ra một lằn nhỏ; trong lằn hé ấy tròng mắt chạy qua chạy lại long lanh. Anh có cảm tưởng nàng thao thức, bất an, ngờ vực. Và anh tiếp tục, và nàng hoàn toàn nhắm mắt, bằng lòng. Êm ả, khoan thai. Cả hai cùng im lặng. Mỗi lúc anh ngừng, tròng mắt nàng ngờ vực bất an trong lằn hé tí ti, và anh lại tiếp tục…

Xong, hai người nằm bên nhau. Ngày lu lít, lờ mờ, không có ánh sáng, không khí lành lạnh. Trong nghỉ ngơi, thỉnh thoảng anh Tư bắt gặp một ý nghĩ của mình, lẻ loi, biếng nhác, như một con ruồi bay lơ thơ vẽ một đường vòng yếu ớt trong căn phòng vắng vẻ buổi trưa. Anh nghĩ đến sự nhớp nháp của mình trên người cô bạn gái, đột nhiên anh thương mến mênh mông, thương man mác bao la. Cái uể oải của nàng kêu gọi một uể oải nào đó tiềm phục sẵn nơi anh. Anh Tư vụt phác giác ra sự mỏi mệt của mình. Ngày tháng trước mặt anh chợt có vẻ đe dọa. Anh sợ nó. Anh có cảm tưởng từ nay mình sẽ khó tìm ra những khe hở thời gian để yên hưởng một chút êm đềm bên cạnh bạn. Và anh không muốn xa rời nàng nữa.

Ít lâu sau đó, anh Tư xin cưới nàng.

Rồi càng ngày, quả nhiên, anh càng không tìm thấy cơ hội rảnh rỗi giữa công việc mưu sinh. Anh không biết tìm đâu ra. Lâu dần, anh không tưởng tượng nổi, không quan niệm nổi mình có thể tìm thấy nữa. Chỉ mải đối phó với sự giục giã cấp bách của một buổi sớm, anh đã hụt hơi. Một ngày vừa qua thoát, anh Tư vừa nghỉ ngơi được tí chút, một ngày khác đã tới ngay. Nấp sẵn tự bao giờ ở chân trời, bình minh vụt ló ra chiếu lòa vào cửa, hô to: “Đây, một ngày nữa nhá!” Và anh Tư thưa: “Vâng.” Càu nhàu, khổ sở, nhưng vẫn lẽo đẽo phục tùng, anh Tư không có cách nào ngoài cách thưa: Vâng.

Từ đây cho đến cuối đời anh, cho đến ngày tàn của nhân loại, miên man ngút ngàn, cứ kế tiếp nhau những tiếng quát: Ngày nữa nhá! Ngày nữa! Ngày nữa! Nữa nhá! Nữa nhá!… Những âm vang, những tiếng vọng ma quái tự lặp nhau, đinh tai nhức óc, khủng khiếp, tuyệt vọng.

Giữa những âm vang giục giã gắt gao ấy, ở một tuổi nào đó trong đời, người ta còn có thể dùng dằng, dừng lại chỗ này một chút chỗ kia một chút để vui thú. Nhưng người ta không cầm cự được lâu, rồi chỉ còn có chạy dài.

… Buổi chiều, cuối mùa đông, anh Tư đi làm về, nằm trông theo những con én bay ngược bay xuôi trong xóm, với nỗi lo ngay ngáy về cái đêm sắp ập tới.

Anh Tư nằm trông cho đến khi én hết bay, và mưa rơi lai rai trong bóng tối từ lúc nào không biết. Mưa rơi lặng lẽ, êm đềm, nhưng hồi lâu đã tụ đủ để rớt giọt.

Phía bên kia đường, trước hiên căn nhà lá của ông Hai Xích-lô, một cô gái mặc chiếc áo dài trắng đứng đùa với những giọt nước từ trên mái rơi xuống. Hẳn nàng nghĩ trong nhá nhem tối không ai trông thấy, không ai để ý tới mình. Nàng đưa tay ra hứng nước, nàng ghẹo từng giọt nước lòng thòng ở đuôi lá. Nàng mỉm cười vui thích một mình.

Anh Tư biết: một cô gái không thể vui thích với những giọt nước mà mình trêu ghẹo. Cô ta chỉ có thể đang vui với niềm rạo rực nơi mình. Nàng tìm chỗ vắng, để, cô độc, được tha hồ đối diện với niềm rạo rực của mình. Nàng ghẹo giọt nước như trêu con chó, con mèo, trong lúc trí nàng bị thu hút vào một ấn tượng nào, một hình ảnh nào, một ước mơ nào đó.

Anh Tư nghĩ tới cô bạn ngày xưa của mình. Nàng đã “mê” anh trung sĩ cách nào? có “mê” như cô gái trước hiên nhà đối diện kia chăng? Anh Tư thắc mắc, không mường tượng được thái độ yêu đương nọ, chỉ biết thái độ nàng yêu mình. Anh nhớ lại lúc nàng nhắm mắt. Nhắm mắt để không cho bạn nhìn được mình. Mỗi người giữ lấy tâm tư riêng, từ chối sự xâm phạm của bạn. Sự thỏa thuận thụ động, buồn bã.

Nhưng tất cả đã xa rồi. Anh sẽ không còn tìm được những khe hở thời gian nào để trông bạn nhắm mắt, để thổi bài sáo giữa khuya, để nghe con chim cườm buổi sớm, để điểm tâm nửa buổi mai…

Còn cô gái nhà bên kia, cô hãy còn xoay xở được. Hãy cố gắng. Đùa với nước mưa đi. Và ngày mai, ngoài tám giờ của công việc, hãy xoay xở đâu đó vài giờ để… Cố lên!

Mưa tạnh. Trăng sáng, giãi xuống ngôi mả vôi lù lù trước cửa, choán khuất nửa chân cô gái. Phần anh Tư, anh phải đi ngủ, chuẩn bị chờ đợi buổi bình minh sắp đến, nếu không anh sẽ mệt nhoài và không vượt nổi thêm một ngày, như cha anh xưa kia.

Còn cô gái, cô cứ thức. Chúc cô may mắn.

VÕ PHIẾN

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Viên Linh

Post by Sơn râu 15 May 2024

34. Ngôi Nhà Tôi Đã Ở

Ngôi nhà tôi ở thuộc bất động sản của chùa Phú Thạnh. Hôm tôi xách chiếc va-li quần áo và sách vở tới, sư ông ngắm tôi, gật đầu chào Thầy tới ở hôm nay hả? Thế cô đâu? Tôi ngó vào lễ phòng tối om, nhìn thấy suốt qua lòng chùa cánh cửa sơn xanh của ngôi nhà lát nữa tôi sẽ dọn tới ở đó. Tôi nói Thưa thầy, tôi chưa có vợ. Sướng đa, ông nói, thế ở với bạn hả. Một mình thầy ạ. Ông lại kêu ở thế buồn chết. Trước khi tôi xách chiếc va-li tiếp tục đi, ông trao cho tôi chiếc chìa khóa ngôi nhà tôi sẽ ở. Chìa khóa nè, hai cái, khi nào thầy cần tôi sẽ đưa cho cái kia. Rồi ông chỉ xiên lòng chùa, qua đó chúng tôi thấy cánh cửa sơn xanh của ngôi nhà phía sau. Ông nói Chỗ thầy thanh niên, tôi nói thật, nhiều người tới ở ngôi nhà đó lắm rồi, nhưng một hai tuần lại dọn đi gấp. Họ bảo nhà có ma đó. Tôi chỉ mỉm cười, không tỏ ý kiến gì hết. Nhưng tôi nghĩ tôi là một con ma tổ bố, thêm một con ma nữa có ăn thua gì.

Cầm chiếc chìa khóa đồng nằng nặng của ông sư trao cho, tôi đi vòng qua hông chùa, nơi có một chiếc giếng khơi, một bãi chuối xơ xác và lối chục ngôi mộ, đi về phía ngôi nhà. Ðường đất và cát, lởm chởm ít gạch nổi. Chân gạch còn viền nước mưa của ngày hôm qua. Ði hết nền chùa, tôi đứng trước ngôi nhà. Mái tranh, vách ván, sàn gỗ, bắt nổi trên một con kinh cạn. Lòng kinh đầy lá chuối khô và lá tre, ở đó mọc lên những chiếc cột gỗ nâng đỡ lấy ngôi nhà tôi vừa tới. Trong một năm đã qua rồi, tôi đã có lần ở một căn nhà nổi trên sông, đêm mưa nghe nước lõng bõng như nằm thuyền. Con kinh cạn với lá khô chạy qua dưới chân nhà tôi, vòng ôm lấy mặt sau của khu chùa, một phía đổ ra một nhánh con sông của Sài Gòn, nghe đâu như là Bến Tắm Ngựa hồi xưa. Bên cạnh nhà tôi có hai ngôi nhà khác, nằm lọt hẳn xuống lòng con kinh cạn, nhưng thuộc về bờ bên kia, mái chỉ ngang với nền chùa Phú Thạnh.

Khi mở cửa xong, quay ra lấy va-li tôi lại nhìn thấy sư ông. Ông mặc đồ nâu đi dép da, người béo tốt sạch sẽ. Ông hỏi Thầy vừa ngắm con kinh hả? Thỉnh thoảng mới có nước thôi. Tôi giật mình: Tôi tưởng kinh cạn chứ. Thì cạn, nhưng thỉnh thoảng cũng có nước. Mùa mưa ấy mà, các nơi ứ lại, nó có nước. Sao, nhà ở được chứ. Dạ được, kể cùng là ba phòng. Ờ, phòng khách đó rồi phòng ngủ với cái phòng bếp. Thầy có nấu không. Tôi im lặng. Tôi có nấu ăn không. Dạ, khi có khi không, tôi buột miệng nói. Thầy chùa cười Ngày ăn ngày nghỉ hả. Nói rồi ông mách tôi ra ăn ở tiệm cơm đầu ngõ. Ngon mà rẻ lắm.

Bấy giờ một bà lão đi lại phía chúng tôi. Hôm đi qua con ngõ, thấy trên cổng chùa có treo tấm bảng Nhà Cho Thuê, tôi đạp xe vào và gặp bà. Thấy nói tôi có một mình bà cụ mừng lắm. Tuy vậy cụ cũng hỏi Nhưng chắc thỉnh thoảng cậu cũng có bạn chứ. Tôi bảo thỉnh thoảng chắc phải có. Cái đó không sao, bà cụ đáp. Bà cụ mặc đồ nâu, đi guốc nâu, trông xa xa như sư ông, nhưng trông gần mới thấy. Cụ tới đứng cạnh chúng tôi, bắt vào câu chuyện Cậu định nấu ăn hả. Nếu tiện tôi nấu giúp cho. Tôi ăn tiệm cụ ạ. Ờ, coi chừng mà cháy nhà. Cụ bước hẳn vào trong nhà, chỉ cho tôi chỗ kê bàn ghế. Một lát cụ ngó lên mái nhà như chợt nhớ. Cái chỗ này nó dột, để tôi kêu thợ lợp lại, mùa mưa rồi còn gì. Vâng, hôm qua đã mưa. Tôi ngó chỗ mái dột và ngó xuống chỗ dột. Chỗ ấy không thể kê bàn viết được, ngủ cũng không được, dù tôi chỉ trải trên đó một tấm nệm có thể xê dịch. Hai ông bà cụ đi ra sân chùa, nhìn lên đỉnh cây lông say, lá đều đặn như một loại si nước. Tôi khép cửa khóa trái, ngồi xuống cái ghế giữa nhà châm một điếu thuốc. Ngọn lửa vàng nhờ nhờ, hơi khói ấm áp, tôi lặng lẽ một lát và khi nước mắt trào xuống, tôi vội vã ra khỏi nhà.

Hai ngày sau, nhà cửa cũng tạm gọi là xong xuôi. Có bàn ghế, sách vở, đóng thêm vài cái đinh trên ván, rút đi vài cái đinh khác, chăng thêm một sợi dây kẽm, bỏ đi một vài sợi dây khác, bóc đi vài tấm hình Kim Cương, Kim Vui, treo lên vài tấm hình khác, đó là ngôi nhà của tôi. Buổi trưa, khi ánh nắng bừng lên qua các khe gỗ tôi phủi tay nhìn lên căn nhà mới. “Ngôi nhà này là của em đó. Nếu không có em, anh không tới ở đây.” Như một người yêu lòng phơi phới, tôi hay nói thầm như thế. Nhà còn thiếu nhiều lắm nhưng thôi để em mua sắm hộ anh. Tôi nghĩ thầm: Cô ấy sẽ phải mua cho mình cái này và cái này. Tôi nghĩ: nhất định là cô ấy sẽ phải mua thứ đó. Tôi muốn lặng im để xem điều ấy có xảy ra đúng như ý mình không. Ngôi nhà, một mình nó không có gì lạ hết. Tôi rời bỏ gia đình từ năm mười bảy tuổi đi kiếm việc làm để tiếp tục việc học, tôi đã ở nhiều căn nhà khác nhau, thường thường với bạn, đôi lúc một mình. Năm mới lớn tôi sống dưới một mái nhà thờ của cha Vĩnh, ở gần trường đua Phú Thọ. Bấy giờ cha thấy tôi hiền lành nên cho riêng một căn phòng ở sau bục gỗ nơi cha thường rao giảng mỗi sáng chủ nhật. Một hôm có chiếc xe Huê Kỳ chở mấy cha khác ở tòa Tổng Giám mục tới hội họp rất lâu trong phòng cha, gần phòng tôi. Chị Hiền, người vẫn thổi cơm tháng cho chúng tôi ăn buồn lắm. Chị bảo chắc chị sắp phải về Hốc Môn. Nhưng chính tôi phải đi, vì cha Vĩnh phải đi, và không ai cho tôi ở căn phòng đó nữa, ít năm sau tôi thuê vài căn nhà khác ở các miệt ngoại ô cư trú tạm, căn nhà nào cũng để lại cho tôi vài kỷ niệm. Tôi hay ngắm nghía chiếc chìa khóa phòng mỗi khi ngồi buồn trong quán nước hay trong các rạp xi-nê. Có chiếc chìa khóa cửa trong túi, tôi lớn hẳn lên. Ði đêm, tôi không ngại lúc về nhà nữa. Khuôn mặt mẹ tôi với mái tóc xổ mỗi khi lục đục ra mở cửa giữa đêm làm tôi ngại ngùng. Hôm nay tôi đã thuê căn nhà riêng, đã thu xếp căn nhà đó không phải để tạm trú nữa, ngôi nhà trên con kinh cạn mở ra trong đời tôi những cánh cửa có rèm vải màu lay động trước gió.

Chính tôi đã ngạc nhiên khi nhìn thấy cánh cửa nhà mình có một tấm màn. Ích đến thăm vỗ tay cười hô hố. Tấm màn đẹp quá. Cậu mà cũng có màn cửa nữa. Tôi ngửa cổ cười nói Sao lại không. Cậu tưởng tôi không thể ở một ngôi nhà có màn cửa sao. Ích tuột dép ngoài cửa, bước lên sàn nhà, vừa đi vừa ngó loanh quanh.

Lại có nệm nữa. Lại cả hai cái gối nữa. Hắn kêu lớn chùn người xuống. Tôi lặng yên, một lát nói đùa Ðộ này đau lưng. Ích gật gù, ngồi xuống sàn nhà, gần đống sách trên một manh chiếu gấp lại. Chúng tôi ngồi trên sàn gỗ nói chuyện với nhau. Ích gạt tàn thuốc xuống khe ván, và hắn ngó xuống hỏi:

– Dưới này là cái gì.

– Con kinh cạn và rác khô. Coi chừng cháy.

– Không cháy đâu. Cháy thì thôi chứ gì. Con kinh này ăn ra đâu đây.

Tôi giải thích loanh quanh. Ðang lúc ấy có tiếng run nhè nhẹ trên sàn gỗ. Ích lắng nghe và nhìn ra. Ai dắt xe vào thế. Chúng tôi nghe tiếng khóa xe lẹt xẹt rồi tiếng nón va chạm lạp cạp rồi tiếng guốc nhọn và vững. Một lát cánh tay áo trắng lấp ló ngoài khung cửa sổ, cử động đều đều. Tôi biết là Cúc đang cởi găng tay. Sau đó Ích đứng dậy và Cúc hiện ra ngoài cửa. Chúng tôi chỉ nhìn nhau cười, không nói tiếng nào. Nàng mang theo vào nhà chiếc nón và cái cặp sách màu mâu, vân cá sấu giả, cái cặp phồng phồng đựng nhiều thứ cồng kềnh không phải là sách. Ích khen tôi đang nói lần đầu tiên hắn ở một ngôi nhà có màn cửa. Thế hả anh. Anh thấy đẹp không. Ðẹp. Ðẹp. Tôi may đấy anh ạ. Bỗng Cúc kêu lên:

– Kìa anh, có khách mà ăn mặc thế à?

Tôi ngó xuống chiếc quần cộc sọc xanh, nói:

– Khách khỉ gì.

Ích kêu:

– A cái quần cũng đẹp quá.

Cúc đặt cái cặp lên bàn, liếc nhìn chúng tôi. Nàng ngồi xuống chiếc nệm trải ở góc phòng nói rất tự nhiên:

– Tôi may đấy, đẹp không anh.

– Ðẹp chớ, Ích lại kêu to và cười ha hả rồi đứng dậy. Hắn bảo:

– Nghe anh chị nói ở chùa, ai cũng tức cười. Thế mà ở chùa thật chớ.

– Ở chùa thật nhưng tụi tôi không định tu đâu anh ạ.

– Nó mà tu cái gì. Khi nghe nói chị tới đây với nó, chị biết người ta nói gì không?

– Không. Nói gì anh?

– Người ta nói hoa rơi cửa Phật đấy.

Cúc che mặt kêu Eo ơi, rồi mở tay nhìn tôi. Nàng bảo Ích:

– Tội lỗi quá anh nhỉ?

– Tội lỗi khỉ gì, tôi nói.

Ích bắt tay tôi.

– Chúc ông bà hạnh phúc.

– Ơ – Cúc kêu – tôi chỉ là bạn anh ấy thôi.

– Thì cứ hạnh phúc, lấy nhau sau cũng được chứ gì.

– Tôi chưa định lấy anh ấy anh ạ.

Ích xỏ chân vào dép tự khép cửa lại. Tôi nghe tiếng chân hắn kéo trên sàn gỗ. Cúc nói câu ấy không phải nói đùa. Câu ấy thật. Nàng ôm lấy đầu tôi: – Anh, đừng khóc anh. Biết đâu em sẽ đổi ý kiến. Anh phải làm em đổi ý kiến chứ.

Tôi lăn xuống sàn nhà. Tôi biết làm sao để nàng đổi ý kiến. Tôi nghèo lắm. Tôi học dốt lắm. Tôi thua sút nhiều điều tất cả mọi người. Tôi thất nghiệp. Từ ba trăm cây số về Sài Gòn, tôi đã bỏ dạy ngôi trường giúp tôi sinh sống trong hơn một năm qua. Người bạn hiệu trưởng đưa tôi hai ngàn bạc Anh còn hai ngàn, cầm về Sài Gòn mà tiêu. Nếu mình có tiền thì đã cho anh mượn thêm. Chúc anh hạnh phúc. Tôi đã chỉ có hai ngàn để xây dựng một tổ ấm, thuê được căn nhà và ăn cơm hàng từng ngày. Nhưng phải có một ngôi nhà, đó là điều cần thiết nhất. Ngôi nhà này đây là ngôi nhà đầu tiên đáng kể nhất trong đời tôi. Tôi đã dọn dẹp trí tưởng tượng từ những ngày vừa quen Cúc. Ngôi nhà không cần sang lắm, chỉ cần biệt lập tránh xa mọi người. Như cánh chim vừa rời chiếc tổ mẹ nuôi, tôi đã tha từng cọng lá, từng nhánh cây quí kết một chiếc tổ cho mộng tình mới lớn. Tôi không rõ nàng đã mơ ước những gì trong thời con gái, và tôi thật tình có đúng là bóng dáng mơ ước ấy không. Hay tôi chỉ là một người tình cờ cần có trong một ngôi nhà nàng dự tính từ quá khứ. Chiếc màn cửa em ơi, nó không đúng ý anh, một màu vàng úa không phải là màu anh mơ tưởng.

Một lúc nào đó, không rõ vì sao tôi cười tươi trước một tấm gương.

– Em mua cho anh tấm gương đó, đẹp không.

Tôi gật đầu, ngắm mặt mình trong gương. Rồi tôi kéo nàng cúi xuống soi chung vào tấm gương ấy. Xí quá, Cúc nói, đứng dậy đặt tấm gương tròn ngay ngắn trên bàn viết. Nàng lấy từ cặp ra một chiếc khăn mặt mới. Tôi ngồi dậy ngay ngắn, rồi ra khóa cửa lại. Khi trở vào, Cúc nói Em phải đi đây. Có hai giờ thực tập. Bỏ đi em. Thực tập không bỏ được. Cours thì em bỏ rồi.

Anh. Nàng gọi, nhìn tôi chăm chú. Mỗi lần Cúc nhìn tôi chăm chú tôi bỗng thấy mình đang rất sợ hãi. Cặp mắt nâu và đôi lông mày nở nang mượt đậm tha thiết nhưng nghiêm nghị ngó tôi. Bộ anh nói với anh Ích là em đến đây ở với anh hả. Không. Anh chỉ nói là em đến luôn. Thế sao anh ấy bảo là hoa rơi cửa Phật. Tôi gượng cười Anh ấy đùa em đấy mà. Ðùa gì, nói tức mình. Có gì mà tức em. Ai cũng biết là chúng mình yêu nhau. Nếu anh bỏ em thì mới hoa rơi cửa Phật chứ. Mà, tôi cười, chỉ chết anh mới bỏ em được. Việc gì em phải tức mình. Em tức vì anh ấy nói đúng. Chả hoa rơi với anh là gì. Tôi nắm lấy tay Cúc Thôi anh đưa em đi học. Anh ở nhà làm việc đi. Ở nhà buồn lắm. Ở nhà đi lát em tới nữa. Lòng tôi tươi tỉnh hẳn. Thế thì anh ở nhà. Cúc lại bỗng gọi khẽ, anh, em nói cái này anh đừng cười nhé. Anh cười thì ăn thua gì. Ừ. Nói đi. Kỳ quá hà. Cúc nhại tiếng nhìn tôi một lát. Anh à, đêm nay em ngủ lại với anh.

Tôi không dám cười, mặt mũi bần thần, sung sướng. Dường như tôi thở ra một cách khác thường, chân tay lúng túng bàng hoàng. Khi Cúc đòi tôi mở cửa, tôi mặc kệ đứng im. Ở trong tôi vỡ ra tất cả những ánh sáng còn che kín. Ở trong tôi chảy xối xả tất cả những nguồn suối con người. Như một bóng mát, tôi nằm ngủ trong tiếng gió lồng lộng của ngày tháng thanh niên.

Nửa đêm mưa đổ xuống rào rạt cùng với gió mạnh. Tôi quờ quạng sang bên, thấy Cúc nằm thu gối lên ngực như một đứa bé. Qua những khe vách ván, ánh chớp thỉnh thoảng nháng lên, tôi thấy mình gần với trời với đất lạ thường. Tôi ngó Cúc sợ hãi. Khối ngọc ngà của đời tôi lúc nào tan vỡ, những mộng tưởng lâu nay đã đến lúc tàn chưa. Dường như có lúc giữa hai lằn chớp, khuôn mặt nàng đổi khác. Ðôi mi rung động tựa hồ ánh mắt khi mở biến đổi theo ý nghĩ. Trong giấc ngủ, người thân thiết của mình đã ở đâu, đã sống ở miền nào, đã nhớ những gì vừa mới mất. Tôi không biết. Tôi hoàn toàn không biết đến một chút. Nhìn ngắm và tưởng tượng nàng, tôi tưởng như hạnh phúc đang la đà đâu đó, như một cánh chim trong mưa lướt thướt giữa khoảng đường bay nửa chừng. Ðêm ngủ lại của nàng bó chặt tôi những lo sợ hoang mang, tôi biết là tôi sắp phải rời bỏ ngôi nhà đang ở. Ðã kết thúc từ đây bao nhiêu hy vọng. Ðời mở ra những cánh cửa mênh mông. Giọt lệ nóng tròn như thứ ngọc trai trong nước mặn lăn trên má nàng đánh thức tất cả sự quên lãng cố dìm đi. Trí nhớ xa nhất cũng phải trở về, tôi vừa hiểu, tôi vừa thấy. Ðó là giọt sương mai của đêm đã hết, một ngày mới phải bắt đầu lại. Cúc mở mắt ngó xuống nệm, và nhìn thấy tôi. Khuôn mặt nở bừng, và chúng tôi quấn quít quên ý nghĩ. Quên lo lắng. Nhưng rồi tôi biết. Ðó là một hy sinh. Ðó là một rộng lượng đền bù, đó là một biện hộ, đó là ân nghĩa cho nhau để kết thúc lo âu và mở đầu tưởng nhớ. Nàng òa khóc Anh ơi, quên em đi. Quên em đi. Em biết anh yêu em nhưng quên em đi, phải chi em không gặp anh.

Tôi lặng lẽ hút thuốc, tỉnh thức và khô khan. Cơn mưa đã đổ xuống con kinh cạn khối nước từ hai bên bờ thành phố, tôi nghe lá khô bắt đầu nổi lên, bắt đầu chuyển động. Có tiếng rào rào rất nhỏ đâu đó truyền dưới sàn nhà. Có nước. Có nước. Tôi tưởng tượng con kinh chuyển động, thức giấc sau một mùa khô ráo, nứt nẻ, quên lãng. Áp tay xuống sàn, qua lần nệm và gối, tôi nghe rần rần đâu đó như một âm vang.

– Em ngồi dậy đi, tôi bảo Cúc.

– Gì đó anh.

– Con kinh em ạ. Con kinh dưới sàn nhà mình đó, nước nhiều lắm.

– Có sao không anh.

– Không, nhưng mà anh thấy ông thày chùa có vẻ lo ngại lắm. Lúc anh mới dọn tới, ông ấy cứ nhắc có nước. Chắc nó ngập.

– Nhà cao lắm mà.

Tôi không trả lời, trở dậy thắp đèn. Tôi có cảm tưởng một ngôi mộ nào đó ở trước chùa, trong những ngôi mộ nằm trên đất chùa, bắt đầu chuyển mạch. Nhưng Cúc không thể nào hiểu được những điều ấy. Một cái gì đó thức tỉnh ở trong chính tôi, như có lúc tôi nhìn thấy bóng mình chuyển động trong khi tôi nằm im một chỗ.

Qua một mùa mưa, tôi đổi khác. Thất thần và héo hắt. Con ngõ chùa ướt sũng lá đu đủ, lá chuối và bùn cát. Mỗi lần ra vào, đi ăn hay lên thành phố có chút việc, tôi thường gặp sư ông hơn mọi khi. Ông khỏe mạnh nhưng có vẻ nặng nhọc, đăm đăm ngồi đánh cờ tướng với một nhà tu hành khác dường như ở đâu đó xiêu lạc về. Người này gầy ốm xanh mướt. Tôi ít chào hỏi ông, nhưng thỉnh thoảng ông hỏi tôi:

– Khỏe mạnh chứ thầy.

– Dạ bình thường.

– Thầy giỏi đa. Những người trước không ai ở lâu được như thầy. Ba tháng vài tuần là dọn đi chỗ khác. Ðộ này ít thấy cô tới.

– Dạ, em tôi bận.

Nói rồi tôi đi nhanh, vẻ thảng thốt trông thấy. Mở cửa vào nhà, tôi hoảng hốt. Vết xe của Cúc in đậm trên sàn gỗ. Tới bàn, tôi thấy chiếc chìa khóa cửa để đó. Cúc sẽ không tới nữa. Có gì đâu, có gì đâu, bởi ngôi nhà này chỉ là mộng tưởng của tôi thôi. Nhưng chính ở đó tôi không thực hiện được điều gì ngoài sự sống tự nó cứ trồi lên, trồi lên, mọc như cỏ dại của một vườn cây cảnh, mà niềm vui là cái cây độc nhất của một miền thung lũng nóng. Tôi tự thấy tôi là cái cây ấy, tình yêu chỉ nẩy sinh từ một gốc, như cái bóng nằm của một cây đứng chon von. Tôi nào nhìn thấy em, người tình đợi chờ hạnh phúc như trái chín. Tôi tham lam, ăn vốc tuổi xuân nghèo.

Thật ra tôi tưởng vậy thôi, tôi không rõ lý do nào Cúc không trở lại. Nàng im lặng, im lặng cho tới bây giờ. Sáu tháng sau tôi trả sư ông chiếc chìa khóa bằng đồng, bán vài thứ đồ đạc cồng kềnh cho nhà bên cạnh, tự mình thấy mình cũng là một thứ hoa rơi cửa Phật.

Nhiều năm qua đi tôi vẫn không quên ngôi nhà ở sau chùa Phú Thạnh. Mỗi lần đi qua con ngõ xơ xác lá chuối và lá đu đủ, tôi có ý muốn vào xem ai đang ở trong ngôi nhà đó. Hắn có hạnh phúc không, hắn có thấy ma không, hắn có nghe con kinh lên xuống không, hắn có thức giấc vì tiếng chuông chùa và người đàn bà ăn mặc giống sư ông mỗi giờ chuông mõ kêu inh đi qua phía giếng nước. Ở trong trí nhớ của tôi, ngôi nhà ấy đầy đủ một trái tim vàng. Hạnh phúc tôi đã mất là hạnh phúc lớn nhất trong đời tôi. Tôi lớn lên trong một đôi tay ôm ấp dẫn dắt, và lúc mà hướng chỉ không còn, tôi tự do trong một than tiếc mù mịt. Nếu Chúa đã hiện ra ở Lộ Ðức, thì tôi phải quay về đó.

Hôm qua gặp lại Ích, hắn kêu Tôi nghe anh cháy nhà. Tôi sừng sộ Láo, tôi vẫn bình yên. Thật mà, tôi mới đi qua chỗ chùa, cái nhà ấy cháy rồi. Thế à, tôi bàng hoàng hỏi. Cháy rồi à. Bấy giờ hắn mới biết tôi không còn ở đó nữa. Nhưng tôi đã ở đó. Ðã sống ở đó.

Buổi chiều tôi về chùa Phú Thạnh bằng xe buýt vàng, như tôi đã từng đi về những năm trước. Một người đàn bà hơi ngờ ngợ ra chặn đầu tôi:

– Chào thầy.

– Chào bà.

– Thầy quên tôi hen.

Tôi muốn nhớ lắm. Nhưng không nhớ nổi. Bà ta cười:

– Tôi chủ nhà hàng cơm ngã tư đây mà.

Tôi ngượng ngùng cười trừ:

– À, tôi nhớ rồi. Bà mạnh khỏe chứ.

– Cũng thường. Hôm nào thầy đi mất biệt.

– Tại tôi kẹt quá. Thôi tôi trả bà bây giờ vậy, đừng phiền.

Tôi móc túi trả bà ta số tiền cơm tháng cuối cùng ăn chịu, rồi quay đi, theo con ngõ cũ vào chùa. Thầy có nấu ăn không. Ngày có ngày không. Nhưng tôi không nấu ăn ở đó bao giờ hết. Sư ông trông thấy tôi, mời vào uống nước trà, nói chuyện về ngôi nhà tôi đã ở. Tôi ngỏ ý muốn vào thăm, ông lắc đầu:

– Tro than không hà, trông tang thương lắm. Coi mất công buồn thầy ơi.

Tôi có vẻ lưỡng lự. Ông nói thêm:

– Coi mất công buồn mà. À, thế ông có cháu nào chưa?

Tôi hỏi lại. Chắc thầy muốn nói tới cô em tôi hồi xưa. Ông thày chùa gật đầu:

– Thì chớ ai, cô hiền quá, hạp ông lắm.

Tôi bùi ngùi nói với ông:

– Thưa thày, em tôi mất rồi.

Ông Trời ơi và kêu một tiếng nhẹ, nhìn tôi. Tôi đứng vội dậy đi nhanh ra ngoài ngõ. Có một điều gì đó lẽ ra phải giữ lấy một mình, phải giấu kín và im lặng. Không ai nên nói với tôi về một đám cháy, chẳng phải đâu, ngôi nhà ấy hãy còn, chính tôi còn trông thấy nó khi tôi bỏ đi.

VIÊN LINH

Hiên trăng ngập pháo hồng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 4/06/2016 

Post by Sơn râu 14 May 2024

Chúc mừng nhà thơ Trần Huy Sao có thứ nam lập gia đình


Pháo hồng nhà ai
(Ảnh Nguyễn Bá Khanh)

tui tới quán o Mười
vào lúc mười một giờ
thời buổi ni leo lên xe
nghe máy định vị chỉ bày
“hắn” nói tiếng Mỹ nhưng dịch cho thông thoáng:
mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua
bát quái trận đồ là chuyện nhỏ
huống chi nơi kia
hương bún bò dặm ngãi dậy mùi về

tui tiếng là người Việt
mà có khi mô đi trễ
bạn tui người Mễ cũng xêm xêm:
em ghét ăn đậu vô hậu eng ơi!

mười một giờ vác mặt tới
ai đứng cười tươi như bông mười giờ
ngoài ngõ người dưng nghe ốt dột
hoa hổ ngươi khép nụ bụi chè tàu
chơ qua khi mô mà thè thẹ
ưa làm chú tư Đào giựt chắc hay răng đây
chao! tướng tá lần khân y như cá nước lợ
vô đây tui múc cho tô bún đầy kè
nói bỏ lỗi ôn như thằng Kha Trấn Ác
việc chi mà đi mô cũng vác gậy theo
dạ, cứ xem như chuyến ni y như Hoa Sơn luận kiếm
San Diego này lắm cao thủ mà o
giang hồ đồn quán o
đã vô nằm trong thi phú
cho tại hạ ké chút cháo có được không?

mấy khi mà bữa ni
được đóng bộ đồ lớn
ôn Trần Huy Sao thấy tui
cũng lé con mắt luôn
nì đây là hiên trăng hôm ni trời trở
kia là cô Ba túi bụi
nọ chú Tư nhân vật chính lùng bùng
chào hỏi chi ai nấy có quỡn đâu
bắt chước Obama bắt tay nắm chân thêm sinh chuyện

bên ăn bún chả bên thời bún bò
tui đã viết sẵn diễn văn để đọc ngày trọng đại
việc đại sự chuyện trăm năm nói răng cho ngạ
tui đang đầu bạc
tui đang lung lay răng
tuổi ni rồi đi xa hơi bị choáng
nhiên tử sự cực tiểu
thành hôn sự cực đại
song hỷ là của đôi trẻ
đại hỷ là lòng say Trần Huy Sao

chúc mừng chúc mừng
có chi vui bằng ngó thấy con cái thành đạt
dẫu con cái bỏ mình lại để sang sông
mai mốt hắn về dắt tay thành viên mới
tuổi già sướng dứt là nựng cháu ngoan
ôn ơi mệ ơi nghe xương hết biết
lớn mau ôn tha ra quán dậu lai rai

tui đâu trách o Mười ác
tại tô bún cay mà lệ mặn bờ môi
tui người Việt mà chưa hề đi trễ
lời chúc mừng e cũng đến sớm hơn ai.

Hồ Đình Nghiêm

Hảo ngọt

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 19/08/2014 

Post by Sơn râu 14 May 2024

Hay tin người bị tiểu đường
Tôi dân hảo ngọt xem thường đắng cay
Đái tường trắc nghiệm cầu may
Ruồi bu kiến đậu cầm tay bần thần 
Không ăn nhứt quyết dặn thầm
Này chè trôi nước in nhầm thực đơn
Kiêng đi nha cử vẫn hơn
Sao như con trẻ lơn tơn cợt đùa
Mèo gào trên mái đúng mùa
Đêm trăng rậm rật gió lùa mùng chui
Những lần nắng cực thân tui
Nước em giải hạn niềm vui bến bờ
Không đụng hàng chỉ cho rờ
Ấy là em đã thả tờ mộng bay
Người nghe bác sĩ thày lay
Can này ngăn nọ thương thay cuộc đời
Ôm giùm tôi chút trang rời
Mai sau nhuốm bệnh còn lời dâng em.Hồ Đình Nghiêm