Tạ Tỵ

Chương IV: Suối độc rừng thiêng
Phần 6
Sáng mùng 1 Tết, mọi người đều ngủ trưa. Bên ngoài trời rét khan. Nằm trong chăn ấm ai cũng ngại dậy. Tôi phải cố gắng, lấy hết can đảm tung mền ngồi lên, cuộn mùng. Sau khi thu dọn chỗ nằm gọn ghẽ theo đúng quy định, tôi bước chân ra cửa. Sắc mây bàng bạc trải dài rộng khắp vùng trời.
Mầu núi xanh biếc. Mầu xanh đẹp như nhung, phơi phới tưởng bay lên được. Cũng như Trại Cải Tạo ở Yên Bái, Trại này cũng được rào kín bằng tre vạt nhọn đầu. Chiếc rào mới được thực hiện hồi trong Tết, chỉ để chừa một chiếc cửa có cánh đóng mở. Cũng vì chiếc hàng rào này, một anh suýt chết đuối, vì khi mang tre qua suối, buộc không kỹ, ra đến giữa dòng, nước chảy siết, đập vào đá, bó tre tung ra, trôi mỗi nơi một cây, quần áo anh để trên bó tre cũng trôi đi tuốt luốt. Dòng nước đã cuốn anh đi khá xa, cũng may biết bơi, nên lựa chiều bơi vào khe đá hẹp nước cạn, mới lên được bờ. Lúc về Trại, anh chỉ còn độc chiếc xi-líp. Tên cảnh vệ gác cổng không cho vô, anh phải năn nỉ mãi mới xong. Về đến Lán, anh thay vội quần áo, lại ra đi nữa, vì không muốn chịu kỹ luật. Đến chiều tối, sau khi anh em đã ăn xong, anh mới ôm được bó tre về.
Tôi nhìn chiếc hàng rào với con mắt thù hận. Sự thực muốn qua rào không phải chuyện khó, chỉ cần con dao nhỏ cắt vài đoạn lạt, gạt mấy cây tre qua một bên, tạo thành khe hở, dễ dàng chui qua, nhưng chui ra rồi, đi đâu? Cái đó mới quan trọng! Nếu chỉ cần chui qua để nhìn chơi thì không nên, vì nhỡ tụi cảnh vệ bắt được, bị ghép ngay vào tội trốn Trại chắc chắn sẽ bị giam vào hầm đá và cùm chân.
Chiếc hầm và chiếc cùm tôi đã nhìn thấy. Hầm giam là một lõm sâu, đục ngầm dưới chân núi, đào kiểu hàm ếch như hầm trú ẩn tránh bom. Ba bề là vách đá, còn mặt chính, cắm cây rừng đường kính khoảng 15 phân, ken sát bên nhau. Một chiếc cửa cũng bằng cây rừng, thân nhỏ hơn, có buộc sợi dây xích vào ống khóa to. Bên trong có chiếc giường tre, kê cao hơn mặt đất chừng một tấc. Những giọt nước từ trên núi thấm suốt, nhỏ tí tách suốt ngày đêm. Bên cạnh chiếc giường có đặt chiếc cùm làm bằng những cây gỗ thật chắc. Người bị phạt, ngồi vào lòng chiếc cùm, hai chân duỗi ra phía trước, có đục sẵn hai lỗ. Khúc trên nhắc lên, hạ xuống được do hai con chốt bằng sắt kềm hai đầu. Người bị phạt, tự mình nhắc khúc gỗ lên, cho chân vào đúng lỗ, xong hạ xuống rồi tự mình khóa lại. Chiếc khóa và sợi dây xích gắn sẵn ở đó. Phía sau chiếc cùm, có lưng tựa nghiêng nghiêng. Do đó, người bị cùm không nằm được chỉ ngồi dựa lưng vào những đống gỗ gồ ghề, khó lòng chịu nổi lâu. Tôi trông nó giống chiếc cùm thời Trung Cổ.
Tên quản giáo cho biết, chỉ tội nào nặng lắm mới thi hành kỹ luật cùm loại này. Còn thường ra, chỉ cùm một chân và được nằm trên sạp nứa.
Từ khi làm xong hầm giam và cùm, chưa thấy ai phạm trọng tội! Không biết chuồng cọp ở Côn Sơn và hầm giam loại này, cái nào tàn bạo hơn?
Cả ngày mồng 1 Tết, trời rất đẹp. Như thường lệ, anh em sau khi ăn sáng xong, chúc Tết nhau:
– Chúc bạn, năm nay được sớm sum họp với gia đình.
– Tôi cũng chúc bạn như vậy!
Ai ai cũng nói câu đó, nghe mãi thành mỉa mai!
Nếu nhà nước Cộng Sản giữ đúng lời hứa 3 năm, chúng tôi đã đi được nửa đường gian khổ. Nhưng ngày này qua ngay khác vẫn không có điều gì khích lệ! Mấy ngày Tết qua đi rất nhanh sau những bữa cơm có thịt, tương đối no nên anh em ai cũng phởn phơ, sẵn sàng tích cực lao động. Vườn rau của Đội tôi, trước ngày Tết, thu hoạch được một số lượng lớn, dùng không hết, phải bán đi cả ngàn kilô. Tiền bán ra, chúng tôi không được hưởng, chẳng biết nó biến vào đâu, không ai dám hỏi. Ngay cả số lượng rau khi chưa làm, tên quản giáo nói, nếu trồng được rau, các anh ăn tha hồ. Nhưng thực tế, khi thu hoạch xong, mang lên nộp kho hậu cần, chúng tôi cũng chỉ được ăn theo đúng tiêu chuẩn nhà nước ấn định. Qua thực tế đó, rồi đây mấy chục mẫu sắn và bắp, làm sao chúng tôi có thể ăn thoải mái được?
Luôn luôn chúng tôi bị mắc lừa, tụi Cộng Sấn vờn chúng tôi như mèo vờn chuột.
Căn nhà hội rộng lớn làm chưa xong, anh em vẫn phải đi lên rừng đẵn cây làm tiếp và hạ cả những cây thật lớn để đóng bàn ghế, giường nằm cho tụi cán bộ và cả cảnh vệ nữa. Đội cưa xẻ được thành hình gồm những người trẻ có sức khỏe. Tổ “xẻ” được ăn bồi dưỡng trên tiêu chuẩn, trong đó có một Đại Úy, sĩ quan tùy viên của một ông Tướng đã di tản, hắn kẹt lại. Xưởng xẻ được thiết lập ở nhiều địa điểm, nơi tiện đặt cây to! Gần vườn rau, sát bên suối, cũng có một xưởng. Trong lúc rảnh rỗi, tôi nhìn họ kéo cây cưa to tổ bố đưa lên hạ xuống suốt giờ lao động. Tuy mưa lạnh, áo họ cũng ưót đẫm mồ hôi! Họ được giao khoán công việc, không bị kiểm soát gắt gao như các Đội khác.
Qua Giêng, Trại thu hoạch số rau còn lại để cung cấp cho tù. Số lượng rau chẳng kéo dài được bao lâu cũng hết. Bây giờ đến mùa trồng rau dền và rau muống. Nhưng cả hai thứ rau đó, muốn ăn được cũng phải chờ từ 1 tháng rưỡi đến 2 tháng. Tên quản giáo phụ trách Đội rau tỏ ra nóng nảy trong thòi gian chờ đợi này. Hắn luôn luôn cau có, vì Trại thiếu rau trầm trọng. Cơm lúc nay phải độn thêm bột mì, tù ăn quá thiếu chỉ trông vào ít rau để đỡ đói. Nay rau không có, cơm không đủ, chắc chắn tù sẽ đuối sức và đau ốm nhiều, trách nhiệm đó Ban Chỉ huy Trại phải chịu. Cộng Sản chủ trương hành hạ, chứ không giết. Ăn đói cũng nằm trong chính sách. Tất cả chúng tôi, ăn không đủ no, đói không đủ chết, cứ sống lây lất, vật vờ như lũ ma đói, luôn luôn bị ám ảnh bởi miếng cơm, củ sắn! Số lượng cơm cứ sụt mức dần vì tên cán bộ hậu cần cân thiếu. Mức ăn tù 18 kí sụt xuống 15, lại bị ăn cắp nữa thì còn gì?
Một hôm, tên Trại Trưởng xuống bếp tham quan việc ăn uống của tù. Sau khi xem xét những chậu cơm quá ít chia cho 10 người, hắn bảo Bếp trưởng có quyền được xem cân lượng có đúng theo tiêu chuẩn không?
Hôm sau, Bếp trưởng tuân lời, trèo lên bục để xem cân. Tên cán bộ hậu cần, quắc mắt hét: Xuống! Thế là anh nhảy tót xuống cái một, mặt mũi tiu nghỉu. Trong thời gian này, tôi phục vụ trong nhà bếp với nhiệm vụ chuyên đun 6 chảo nước uống cho anh em, mỗi ngày phát 3 lần và phụ gánh thực phẩm, chia cơm, canh mỗi buổi.
Làm nhà bếp cũng không sung sưóng gì. Phải thức dậy từ 4 giờ sáng. Trời mùa lạnh, mưa phùn gió bấc ra giếng kéo nước, trong lúc bụng đói cật rét, nhiều lúc tôi muốn xỉu. Làm bếp tuy không phải lên rừng xuống núi, tuy không phải gánh phân, băm phân mỗi ngày, tuy không phải mỗi ngày lên xuống 4 lần trên con dốc cao bằng căn nhà 10 từng lầu, lởm chởm đá vô ý là chảy máu, tuy không phải mỗi ngày xách hàng trăm “ô zoa” (Arrosoir: Việt Cộng gọi là Ô-zoa) nước tưới rau nhưng nó cũng có những nỗi khổ khác. Nào củi ướt, nhóm cả giờ chưa lên lửa, khói hun làm nước mắt chảy ràn rụa và còn nghe anh em chửi lên, chửi xuống vì nước chưa sôi hoặc phát thiếu! Còn lúc phụ chia cơm, phải rửa chậu, xếp chậu, khiêng các chậu đã chia để vào từng ô dành cho mỗi Đội, để khi anh em đi lao động về, vấn đề phân phối được thứ tự. Nhưng có điều an ủi, làm bếp được ăn vụng, ăn cơm cháy, nên phần nào đỡ đói. Một buổi, Trại cho ăn thịt heo, tôi được chỉ định chia. Trong lúc chia, tôi nhìn những miếng thịt nóng hổi ngon lành quá, không kềm chế được sự thèm khát, tôi ăn vụng, nhưng khi vừa cho miếng thịt vô miệng, một tên cán bộ xộc vô kiểm soát. Hoảng quá, không kịp nhai, tôi nuốt vội. Miếng thịt nóng không chịu trôi xuống dạ dầy lại nằm ngay cuống họng. Tôi phải đứng dậy, giả vờ đi ra ngoài như định tìm kiếm cái gì đó, nhằm mục đích nuốt miếng thịt cho xong. Cuối cùng, nó cũng trôi xuống, nhưng không ngon. Có thể nói, tất cả toán làm bếp đều ăn vụng, nếu ai nói không, tức nói dối, không thành thực. Cũng như những ai đi cải tạo từ Thủ Tướng trở xuống, nếu nói, chưa “bốc cứt” tức nói láo! Nói đến Cộng Sản là nói đến phân, vì phân là yếu tố căn bản để nuôi sống con người. Tất cả mùa màng hoa mầu tươi tốt, thu hoạch vượt chỉ tiêu, vượt mức kế hoạch là do phân cả. Vì mùa lạnh vừa qua quá khắc nghiệt nên công việc canh tác xúc tiến chậm.

mạnh hải flickr
Tôi được gọi lên để phục vụ Liên Trại một thời gian vì có chuyên môn. Ngày nào tôi cũng phải đi hai lần sáng và chiều. Liên Trại ở cách xa Trại khoảng 3 cây số thuộc khu vực Nông Trường Trần Phú chuyên sản xuất trà. Nơi đây, cơ sở chỉ huy tối cao toàn khu, gồm 6 Trại Cải Tạo. Mỗi ngày tôi đi như vậy khoảng 12 cây số, dù nắng hay mưa. Tôi đã nhìn thấy những người đàn bà kéo bừa thay trâu. Mùa rét vừa qua, trâu bò chết nhiều, vả lại, cũng tùy vùng, tùy nơi có nhiều, có ít! Đã mấy chục năm, mắt tôi mới lại nhìn thấy cảnh này. Dưới lớp mưa phùn dầy đặc, hai người đàn bà đội nón lá, mình khoác tấm nylon mầu, cúi gập người xuống, trên vai đeo sợi dây buộc vào chiếc bừa, cố kéo, phía sau cách 5 thước, người đàn bà khác cầm bừa. Họ làm từ lúc sáng tôi đi, đến trưa về còn thấy. Trông thật tội nghiệp! Có khi tôi thấy cả tụi sĩ quan đeo quân hàm, cũng bừa như vậy vì nghe nói, theo chính sách của Đảng và Nhà Nước, mỗi năm họ phải tự túc lương thực 3 tháng. Sự tự túc này, không phải thi hành trong một thời gian liên tục, nhưng rải rác mỗi tháng vài ngày, hoặc hình thức này, hình thức nọ. Nói cho đúng, tụi bộ đội coi tù không bao giờ chịu đói, họ lao động hình thức, để làm gương cho thuộc hạ vì chắc chắn họ là Đảng viên trung kiên của Đảng.
Trong thời gian này, tôi phụ trách kẽ những sơ đồ thành tích của Liên Trại. Nội dung sơ đồ, chắc chắn có sự khuếch đại về công tác huấn luyện, công tác sản xuất cũng như văn nghệ v.v….
Vì tình cờ, tôi gặp Hùng, Trung úy Dù và rất nhiều anh em ở các Trại khác đến đây làm công tác xây dựng một hội trường lớn cho Liên Trại. Tuy chưa biết nhau trước, nhưng bạn tù dễ quen:
– Bố ơi! con tự tử hai lần, không chết đó! Lần thứ nhất cắt mạch máu cổ tay, khi máu chảy nhiều, con ngất đi, không hiểu sao chúng nó cứu được. Lần thứ nhì, cách đó ít lâu, con dùng lưỡi dao cạo mổ bụng, tụi nó lại cứu sống. Đây bố xem.
Hùng chìa cổ tay, một vết sẹo ngay “ven” chính, rồi vạch áo cho tôi thấy đường khâu ngay trên rốn, dài khoảng 2 tấc! Đã hai lần tự tử không chết, sau gần 2 năm cải tạo, Hùng vẫn to lớn, vạm vỡ .
– Chán quá, bố ơi! thế nào con cũng trốn Trại, sống không nổi, nhục quá! Sự thua trận này lỗi không phải ở chúng con mà do cấp lãnh đạo từ chính trị đến quân sự, bết quá, hèn quá, chưa chi đã chạy!
Nói xong Hùng mở trừng mắt nhìn đăm đăm về phía núi. Đôi chân mày rậm xếch ngược như chứng tỏ sự uất ức trong lòng! Qua hình ảnh của Hùng, tôi thấy xấu hổ, chẳng phải riêng mình, còn cho biết bao cấp chỉ huy lớn nhỏ khi lâm vòng tù tội, không giữ nổi nhân cách để kẻ thù khinh khi, đánh giá rất thấp.
Trong thời gian làm việc ở Liên Trại, tôi đói lắm, vì đi mỗi ngày 12 cây số, mỗi bữa chưa được hai chén cơm nhỏ độn bột mì và sắn, anh em gọi là cơm 3 tầng. Vì công việc khá nhiều nên có thêm hai người nữa cùng làm: Sử đã cùng với tôi ở Suối Máu và Phương, có khả năng viết chữ.
Xung quanh Liên Trại, các khu trồng sắn đã xanh um, cao ngất. Chúng tôi cùng đói như nhau nên bàn tính mưu kế lấy trộm sắn. Vì sắn do tù trồng chứ đâu phải do công lao động của tụi Cộng Sản? Sau vài ngày suy tính, chúng tôi quyết định sẽ lấy sắn ngay tại khu vực chỉ huy, vì chúng không ngờ tù dám đến đó. Vì lần đầu, chưa có kinh nghiệm nhổ sắn, chúng tôi cứ nhổ nguyên cây. Khu trồng sắn lá dầy san sát, nhổ một cây, tự nhiên đám lá xung quanh lay động, trong lúc toàn khu đứng im. Sử hoảng quá khi nhìn thấy hiện tượng đó. Tuy nhiên chúng tôi cũng nhổ được một gốc, có chừng dăm củ bằng cổ tay, bỏ vào chiếc túi vải, mang xuống suối rửa sạch, đốt lửa nướng ăn. Bữa đó, tương đối đỡ đói.
Nơi làm việc của chúng tôi xa cơ sở Liên Trại. Nó là căn nhà chứa xác chết của tù. Bất cứ ai chết ở Trại nào đều mang quàn tại đấy, trước khi chôn. Nghe nói, ít nhất 10 anh em Cải Tạo còn trẻ, đã nằm xuống. Có người chết vì đói quá ăn trái cây rừng, trúng độc, bị cấm khẩu và chết sau 24 giờ quằn quại. Có người chết vì bệnh sốt rét cấp tính, và thương hàn! Căn nhà xác ở xa đường, sát dòng suối lớn, nên ít ai qua lại.
Tuy đói đứt ruột, nhưng chúng tôi không dám lấy sắn luôn vì sợ lộ. Qua kinh nghiệm lần trước, các lần sau trước khi nhổ gốc, chúng tôi bẻ ngang thân cây. Thân sắn vốn dòn, dễ gẫy. Từ đó việc lấy sắn an toàn, có sự canh gác và hiệu lệnh báo nguy, nếu có gì bất thường xảy tới! Nhưng một hôm, khi chúng tôi đang luộc sắn trong lon ghi-gô, bỗng thấy toán cảnh vệ từ trên lộ đi xuống. Sử cầm vội chiếc lon lao thẳng vào bụi cây rậm gần đấy, còn tôi đổ nước vào đống lửa. Sau tiếng xèo xèo, lửa tắt ngấm. Làn khói mỏng vươn lên tản nhanh vào không khí.
Chúng tôi giả vờ cặm cụi làm việc. Toán cảnh vệ xộc vô, tên chỉ huy hỏi:
– Mấy anh “nàm” gì ở đây?
Tôi trả lời, làm công tác của Liên Trại.
– Sao “nại” có đống củi, dùng “nàm” gì?
– Dạ chúng tôi đun nước uống, vì làm thông tầm.
Tên chỉ huy không hỏi thêm, cho lệnh khám chung quanh.
Cả 3 chúng tôi đều hồi hộp, tim muốn ngưng đập.
Sau một hồi lục lọi các lùm cây, chúng tiến thẳng ra phía suối.
Về sau, tôi mới biết, toán này thuộc bộ phận an ninh đặc biệt, có nhiệm vụ canh phòng tù trốn Trại.
Sử đi nhặt lại chiếc gô cùng những mẩu sắn đem rửa rồi luộc lại. Từ hôm đó, chúng tôi hết dám lấy sắn. Cơn đói lại dài dài.
Một buổi chiều trên đường về, chúng tôi gặp một nông dân đã có tuổi vừa đi vừa chửi:
– Đéo mẹ cả “nàng” chúng mày. Ông sợ “nà” sợ chính sách của Đảng, của Nhà Nước, chứ ông đâu sợ chúng mày! Ông nghèo quá, có căn nhà muốn bán đi để ăn, chúng mày không chịu đóng dấu chứng nhận. Tiên sư cha cả họ chúng mày, ông đây từng “nà” chiến sĩ Điện Biên, đã chiến đấu chống Pháp khi tụi mày chưa sạch máu đầu, mà nay ông chỉ xin một con dấu, tụi mày không cho. Cha tiên sư bố, tổ tiên sư cha chúng mày nhé!
Tôi nhìn ông ta, những nếp nhăn chạy phủ kín hết khuôn mặt hồng hồng như vừa uống rượu.
Bộ râu thưa mọc lởm chởm trên mép và cằm, nhiều sợi đã bạc, ông ta quay mặt nói với chúng tôi:
– Này các chú, chớ có theo tôi chửi tụi nó nhá! Tôi chửi được, vì tôi ở miền Bắc, còn các chú đi cải tạo, nếu chửi, nó cùm đó!
Chúng tôi không dám bắt chuyện sợ nhỡ vạ lây. Ông ta chửi mỏi mồm, nghỉ một lát, chửi tiếp, cứ như vậy suốt 3 cây số. Khi ông ta đi qua khu nhà tụi quản giáo ở, một tên đứng đó thấy vậy, kéo ông vô nhà mờì hút thuốc, ông vẫn chửi! Chúng tôi cắm cúi đi, coi như không biết chuyện gì xẩy ra!
Mỗi tối, chúng tôi bắt buộc phải sinh hoạt bằng cách đọc báo 30 phút. Ai tốt giọng đọc cho anh em nghe. Nói đúng, tuy ngồi nghiêm chỉnh nhưng ít ai nghe, vì nghe làm gì những tin tức Phái đoàn các nước Cộng Sản anh em viếng thăm Việt Nam; chỗ này vượt chỉ tiêu, chỗ kia vượt kế hoạch, trong khi chúng tôi vẫn đói như điên. Sau 1/2 giờ đọc báo, anh em lại quây quần tán dóc, có lẽ do sự thiếu thốn quá lâu, nên mặc cảm làm cho thèm khát hơn mức mình tưởng. Có nhiều người chịu khó chép cả cuốn sách dầy dạy về cách làm các món ăn, các loại bánh. Mỗi tối, lại đem ra đọc từ vật liệu đến cách làm, coi như món đó đã làm xong, mời anh em nếm thử. Cứ kể ra cái kiểu “ăn hàm thụ” như thế cũng vui vui. Nào món nộm sứa, nào xôi chiên phồng, nào bánh khoai môn, nào chả giò, nào ốc xào, ốc nấu ba ba, món nào cũng hấp dẫn. Có người ước, được làm chồng bà Quốc Việt! Nếu có bà làm vợ lúc này đỡ khổ. Bà sẽ thăm nuôi gửi quà bánh cho ăn thoải mái. Tôi chỉ ngồi nghe và cười, vì có được hân hạnh biết bà từ trước!
Ngoài ra, mỗi tuần lại còn có một buổi tối bình bầu chọn lao động xuất sắc. Đây, một trò hề. Trước anh em còn tin tưởng nên hăng say lao động, để có tên trong danh sách, mong sớm được tha về. Sau biết, chẳng ăn thua gì, có làm lắm chỉ khổ vào thân, nên bảo nhau không để Cộng Sản đánh lừa mãi. Từ đó về sau, mỗi tuần, tuy cũng bình bầu, nhưng mọi người đồng ý luân phiên, mỗi tuần hai người. Tên quản giáo biết, nhưng cũng chẳng có ý kiến, vì trong thâm tâm hắn thừa biết, xuất sắc hay không cũng vậy thôi!
Mùa lạnh đã phai dần. Ánh nắng bắt đầu chiếu rọi mỗi ngày làm cảnh rừng núi bớt phần âm u. Một sáng vừa thức dậy, nghe tin có người trốn Trại đêm qua đã bị bắt lại. Người trốn Trại, sĩ quan thuộc binh chủng Biệt Động Quân. Cả ngày hôm ấy, anh em không ngớt bàn tán về chuyện này và thầm tiếc cho người vượt ngục không gặp may mắn! Nhưng đến chiều, đi lao động về được tin anh đã được tha, vì tội đói quá, phá rào hồi 8 giờ sáng, qua bên kia đồi sắn, để ăn cắp, chẳng may bị cảnh vệ bắt!

mạnh hải flickr
Buổi tối sinh hoạt, tên tuổi anh được phổ biến để làm gương cho những ai có ý định đó. Tên quản giáo Đội tôi lên giọng:
– Đó, các anh xem, Đảng và Nhà Nước đâu để các anh đói, mà các anh phải ăn cắp của công. Sắn do công “nao” của các anh trồng, đúng! Nhưng ai nuôi và cho các anh hom sắn? nếu không phải nhân dân và Cách Mạng? “Nuôn nuôn” các anh kêu đói, thế chúng tôi không đói sao? Mức ăn của chúng tôi chỉ hơn các anh có 2 “kí nô” mỗi tháng, như vậy có đáng “nà” bao? Tôi đảm bảo, các anh không đói, chỉ ăn thiếu thôi! Mà thiếu thì cả nước đều thiếu, chứ riêng gì các anh? Đế quốc Mỹ và chính các anh đã gây ra thảm họa ngày hôm nay. Mỗi thước đất ăn một trái bom hay một viên đạn đại pháo “nàm” sao mà trồng trọt hoa mầu? Ấy “nà” chưa nói đến thuốc khai quang phá hoại bao nhiêu triệu mẫu rừng!
Hắn nói, như quất vào mặt chúng tôi những ngọn roi thật mạnh, nhưng hắn quên không nói đến quân đội giải phóng từ miền Bắc vô Nam đã giết bao nhiêu dân lành, đã phá bao nhiêu cầu cống, đã ăn bao nhiêu cân rau, cân gạo của tù, ăn bao nhiều bột, sắn của tù, ăn bao nhiêu thịt heo, thịt trâu của tù, hỏi làm sao tụi quản giáo cũng như cảnh vệ đói được?
Buổi sáng, chúng tôi thương và cảm phục anh phá rào bao nhiêu, tối nay chúng tôi oán trách anh bấy nhiêu!
Câu chuyện đó rồi cũng qua đi, không ai nhắc nữa, vì nghe đồn anh phải nhận tội ăn cắp để tránh tội trốn Trại, mong anh em thông cảm.
Vào một buổi chiều, tên cán bộ hậu cần mua về con trâu mang bầu, định làm thịt, nhưng có lẽ vì kiêng cử hay lý do nào đấy, chưa làm. Anh em nhìn thấy trâu chắc mẩm được ăn, nhưng chờ mãi chưa có lệnh giết, cũng buồn. Mấy hôm sau, tên hậu cần lại mang về con nữa, cũng không làm thịt. Tổ mộc được lệnh làm chuồng trâu. Có tin đồn, cải tạo viên phải làm ruộng để tự túc, vì nhà nước không còn đủ khả năng nuôi tù. Nói đến chữ “tù” tôi nhớ tới viên đại úy Truởng Trại. Mỗi sáng thứ hai, có sinh hoạt nửa giờ, trước khi anh em đi lao động. Hắn là người Nùng, nói tiếng Việt chưa sõi. Hắn được điều đến thay viên Đại Úy Trại Trưởng cũ “hiền” quá, “thương tù”, mỗi lần trời sắp đổ mưa, cho lệnh toàn Trại nghỉ lao động. Hắn khẳng định, các anh “nà” Cải tạo viên, không phải “nà” tù, tôi cấm không ai được nói chữ “tù”, nếu tôi nghe được, sẽ thi hành kỷ “nuật”! Nghe, có vẻ ngon nhưng thực tế, chúng tôi đúng là những người tù đang thi hành bản án khổ sai, không hơn, không kém!
Hôm nay, cũng sáng thứ hai. Không khí buổi sinh hoạt có vẻ gì khang khác. Ở giữa khe hở cách hai Lán, đều có cảnh vệ võ trang đứng gác. Tên Trại Trưởng sắc mặt nghiêm túc, lù lù nhìn các Đội đứng xếp hàng ngay ngắn trước mặt. Sau khi nói vài câu thông thường, hắn sửa giọng gay gắt:
– Với tư cách Trại Trưởng hôm nay, tôi báo cáo cho mấy anh rõ, nhân dân ta vừa bắt được ba tên trốn Trại! Những tên khốn kiếp đó đã được giải về đây giam giữ và họ sẽ chịu thi hành kỷ “nuật” nghiêm ngặt! Trốn không nổi đâu, vì nhân dân “nà” tai mắt của Đảng và Nhà Nước mà! Còn chính sách thì rất rõ ràng, minh bạch. Ai chịu cải tạo sẽ được cứu xét cho về, ai không chịu, nghiêm trị. Cái đó đúng qúá, phải không?
Nghe đến đây, tôi chợt hình dung đến căn hầm giam và chiếc cùm thời Trung Cổ. Từ lúc đó, tai tôi ù, không còn nghe rõ tên Trại Trưởng nói gì?
Sau khi tan hàng để chuẩn bị lao động, tôi như người mộng du, đi những bước chơi vơi theo sau anh em như chiếc bóng.
Buổi chiều, Bếp Trưởng cho biết, anh em toàn Trại phải bớt phần ăn, để nuôi ba người “tù đặc biệt” này. 300 người bớt phần ăn, nuôi ba người, quả thực chẳng ảnh hưởng gì cả, nhưng chứng tỏ Cộng Sản đã bất nhân, cắt khẩu phần của ba người trốn Trại, bắt tù phải nuôi tù!
Tôi còn được biết, họ không phải nhốt ở căn hầm đặc biệt, mà được giam tại một căn nhà hẻo lánh trên đồi, xung quanh rào kín, ngoài có cảnh vệ gác, mỗi bữa nhà bếp đưa cơm tới.
Công việc Liên Trại đã xong. Tôi trở về với công việc băm phân, gánh phân và tưới rau.
Một buổi, tôi phải gánh rau từ đưới suối lên kho hậu cần, vô tình tôi nhìn thấy ba người “tù đặc biệt” đang bị thẩm vấn trong căn nhà nhỏ giống như chiếc chuồng chim. Trại có tất cả 4 chiếc “chuồng” như vậy. Tôi cũng đã được gọi lên “làm việc” ở đây một lần, để hỏi về lý lịch. Tên cán bộ an ninh hạch tôi mãi về việc có gia nhập đảng Cần Lao của ông Diệm – Nhu hoặc đảng Dân Chủ của Nguyễn văn Thiệu không? Nếu không, sao tôi lại được mang cấp Trung Tá và nắm guồng máy tuyên truyền của “Ngụy quân”? Tôi không nhận đã ở trong đảng phái nào cả. Hỏi mãi cũng vậy, hắn quay sang vấn đề khác! Tại sao các anh lại vẽ Cộng Sản có đuôi? Tại sao các anh lại xuyên tạc chữ Việt Cộng là cộng vợ, cộng chồng, cộng tài sản? Tôi chối dài, hắn chán quá cho về lao động! Nay cũng trong cái chuồng đó, ba người “tù đặc biệt” đang ngồi để “làm việc” cùng tên cán bộ an ninh. Tôi chắc họ bị “quay” dữ lắm. Ở xa, tôi không nhìn rõ nhưng chắc họ còn trẻ, vì cái dáng điệu bề ngoài cho tôi đoán thấy. Trong lòng tôi dâng lên mối xót thương vô hạn!
Một đêm đang ngủ, có tiếng trâu kêu inh ỏi. Tên cán bộ quản giáo xách đèn lồng đi vô Lán kêu Đội Trưởng và người giữ trâu. Hắn cho biết trâu sắp đẻ. Đội Trưởng và anh giữ trâu tên Phúc cũng dậy, theo tên quản giáo đi xuống chuồng trâu đỡ đẻ, đến gần sáng mới về. Phúc được giữ trâu vì anh có bệnh đau dạ dầy, quá ốm yếu. Mỗi ngày, anh dắt trâu đi ăn cỏ, khi no cho về, thế là xong công tác! Bây giờ trâu đẻ, không dắt đi ăn được, anh phải cắt cỏ nuôi trâu, công việc khá khó nhọc đối với sức anh. Nhưng khi suớng cũng có lúc cực, anh vẫn chăn con trâu đực và cắt cỏ nuôi con trâu đẻ. Nhưng sự vất vả cũng không lâu. Chừng nửa tháng sau, anh dắt cả mẹ lẫn con đi ăn ở những bãi gần. Đã non 3 tháng, toàn Trại chưa ăn thịt, tên hậu cần quyết định cho làm thịt con trâu mẹ, khi thấy con nghé đã khá lớn. Việc hạ thịt, do Nhược, Đội phó đội rau xanh phụ trách. Nhược tuy già nhưng có sức khỏe hơn người, nên được tên quản giáo giao trách nhiệm. Hắn cầm cây búa tạ theo trâu. Phúc dẫn trâu đi theo lối cũ, men xuống chân đồi, chỗ bờ suối gần vườn rau. Lạ thay, giống vật cũng có linh tính hay sao, sáng nay nó nhất định không chịu xuống đồi. Phúc phải kéo mạnh dây, gần đứt mũi, phía sau có người cầm roi quật liên tục. Nó lừ lừ bước xuống, mắt tuôn hai dòng lệ đầm đìa! Con nghé vô tư chạy lon ton bên cạnh mẹ. Khi đến nơi, Phúc buộc trâu vào cây cột tre đã được đóng sẵn từ chiều hôm trước. Giờ hành quyết đã tới. Nhược cởi áo, cầm chặt cây búa trong tay lấy thế. Bắp thịt nổi lên cuồn cuộn. Nhanh như chớp, hắn phang vào đầu một búa, nhưng nhát búa chưa đúng chỗ phạm, trâu chưa quỵ! Đau quá, nó lồng lên đứt dây mũi, quần nát cả mấy luống rau. Mọi người có mặt chạy tán loạn. Vô phúc, ai đón đầu, chắc chắn ăn sừng. Tên quản giáo đứng gần đó, rút khẩu súng lục, nhắm con trâu nổ mấy phát liền. Con trâu lảo đảo quỵ xuống. Con nghé không hiểu gì cứ chạy theo, lúc mẹ nó nằm xuống, máu chảy đầm đìa, nó cứ rúc đầu vào bụng để bú! Tự nhiên mắt tôi cay xè! Mọi người chạy ùa đến nơi trâu ngã, dùng dây trói chân cho chắc ăn, sợ nhỡ nó còn sức vùng dậy. Không ăn được thịt trâu, nhưng cũng vì nhìn thấy cảnh đó, tôi đâm ghét cả những ai ăn thịt con trâu đó! Con nghé từ ngày mất mẹ, nó bỏ ăn, cho cỏ non cũng chê, cứ đứng kêu gào suốt ba ngày mới thôi! Tôi nghĩ súc vật còn có tình nghĩa hơn nhiều con người tự nhận có lương tri, học vấn…
Từ buổi mất mẹ, nó mến Phúc, mỗi khi có tiếng kẻng báo giờ lao động, Phúc chưa kịp ra, nó đi thẳng vào chỗ Phúc ngủ, kêu nghè nghẹ như tiếng gọi!
Hôm nay tôi được gọi lên Ban chỉ Huy để lãnh gói quà đầu tiên của gia đình, cùng với nhiều anh em khác. Tôi vô cùng xúc động khi đứng chờ đến lượt mình được gọi. Tên cán bộ phụ trách việc phân phối nét mặt lầm lầm như chó ăn vụng bột. Tôi thầm mong gia đình gửi cho ít đường thẻ, bột Bích Chi, lọ mắm ruốc, thật quý hóa!. Thư viết về nhà để xin quần áo lạnh, nhưng mùa lạnh qua rồi, vả lại, tôi cũng đã được cấp phát thêm tấm mền Trung Cộng đỏ chói và chiếc áo trấn thủ loại phế thải, cũ mèm, chắc còn lại từ trận đánh Điện Biên Phủ! Chúng tôi còn sợ đó là những chiếc áo được lột từ các xác chết ngoài mặt trận!

mạnh hải flickr
Đến lượt tôi được gọi tên. Bước lên thềm cao, nhìn thấy gói quà khá to. Tôi khấp khởi mừng thầm. Tên cán bộ tay cầm con dao nhỏ cắt từng dây buộc để khám. Gói quà được mở. Tôi vô cùng thất vọng khi thấy đống quần áo lạnh cùng gói nhỏ mứt bí đã chảy nước, lên men mốc xanh, và một bịch trà. Chắc vợ tôi nghĩ, mặc quần áo ấm ngồi uống trà, ăn mứt bí trong Trại Cải Tạo, giữa ngày Tết miền Bắc là nhất rồi. Sau khi khám xong, tôi ôm gói quần áo lê từng bước chân nặng nề xuống dốc. Tôi thấy nhiều gói quà không có mảnh vải nào, chỉ toàn đường thẻ và đồ mặn! Tôi thầm trách vợ con đã quá thật thà, không linh động trong vấn đề này, thư viết sao làm vậy! Vợ tôi có biết đâu, nếu viết thẳng xin đồ ăn, khi tụi quản giáo kiểm duyệt, chắc chắn thư sẽ không được gửi đi, còn bị làm kiểm điểm nữa! Thôi, vợ dại đành chiu, biết trách ai?
Vứt mạnh gói mứt bí xuống dòng suối, tôi nhìn dòng nước cuốn nó đi một đoạn rồi mắc kẹt trong hốc đá. Khi về đến Lán, anh em hỏi nhận được gì? Tôi quăng gói đồ xuống chỗ nằm, nói:
– Ai thiếu áo lạnh, tôi biếu!
Anh em cười ồ:
– Ngày nào chuyển Trại, ông tha hồ vác nhé!
Tuy nhiên, tôi vẫn phải gói cẩn thận, cất vào nơi chứa đồ, vì quần áo gửi, không thuộc loại quần áo lao động!
Sáng hôm sau, đi lao động tôi mang theo bịch trà. Tôi múc nước suối vào chiếc lon sữa, đun sôi, pha trà. Tôi ngồi bên dòng suối, nước chảy dạt dào, thưởng thức từng ngụm trà. Cơn giận hôm qua tan biến theo chất nước thơm ngát, cổ họng ngon ngọt hưởng vị đặc biệt của loại trà ngon.
Tôi vừa uống xong, có tiếng ồn aò phía ngoài vườn rau. Tôi ngước nhìn. Nam, Tổ Trưởng tay cầm con rắn dài khoảng 6 tấc, to bằng ngón tay cái, khoang trắng khoang đen. Anh tìm sợi dây, buộc đầu con rắn cạp nong treo lên cành cây, rồi dùng lưỡi dao nhỏ cứa xung quanh cổ rắn. Con rắn lắc lư, lắc lư như chiếc que. Tôi không hiểu bằng cách nào, Nam lột da con rắn nhanh như vậy? Da rắn vứt xuống suối, dòng nước cuốn đi trong nháy mắt. Nam hạ con rắn xuống mổ ruột, rửa nước suối rồi xắt ra từng khúc, bỏ vào lon ghi-gô, cho chút bột cà-ri mà lúc nào anh cũng mang theo, đổ chút nước, thêm ít muối rồi cho lên bếp lửa. Lát sau, hạ xuống, anh trịnh trọng ngồi trên tảng đá sát dòng suối, ăn hết con rắn một cách ngon lành. Sự đun nấu dưới vườn rau, bị cấm triệt để, nhưng chúng tôi vẫn đun lén được vì lấy cớ cần lửa hút thuốc, bật lửa đã bị thu.
Sống trong Trại Cải Tạo, không phải lúc nào cũng bình thản và để mặc dòng thời gian đẩy đưa, mọi người có thể “nín thở qua sông một cách bình yên!” Câu “nín thở qua sông” này như in sâu vào trí nhớ, khi tên cán bộ giáo dục Liên Trại đã lên lớp chúng tôi hai ngày học tập về chính sách 3 năm Cải Tạo của Đảng và Nhà Nước.
– Các anh, những người có tội. Chính sách 3 năm Cải Tạo đề ra, nhưng nó không phải là cái mốc nhất định cho tất cả mọi người! Các anh đừng có giả vờ “nín thở qua sông” để cho hết 3 năm thì về! Tôi nói thẳng cho các anh biết, có thể 3 năm cũng có thể 15 hay 20 năm đó!
Giọng nói trọ trẹ miệt Hà Tĩnh của tên cán bộ giáo dục nghe rất khó chịu, nhưng may mắn tên này không nói ngọng. Sự thực, muốn “nín thở qua sông” cũng không phải chuyện dễ, như trường hợp mấy anh nuôi heo và hồ cá!
Không hiểu vì đâu, đàn heo đang ăn uống ầm ầm, trong đó có mấy con heo nái sắp đẻ, tự dưng bỏ ăn một, hai ngày lăn đùng ra chết. Trong vòng mấy hôm, heo chết cả bầy chỉ còn lại ít con ngất ngư! Bỗng dưng chúng tôi được ăn heo. Vì ăn theo đúng tiêu chuẩn đã ấn định, nên dù heo chết, tụi hậu cần đem ướp muối, phát dần, chứ không cho tù ăn thả dàn. Những người phụ trách như Mậu, Tổ Trưởng Tổ nuôi heo và bốn anh khác bị gọi lên, gọi xuống thẩm vấn trong chiếc “chuồng chim”! Tên cán bộ an ninh và tên quản giáo thay phiên nhau cật vấn :
– Các anh cứ khai thực đi, vì thèm ăn thịt, nên thuốc cho heo chết. Vậy các anh cho chúng tôi biết, đã dùng thuốc gì trộn vào thúc ăn của heo?
Cứ như vậy, ngày nào cũng trả lời câu hỏi đó và lý lịch ba đời. Mọi người đều phủ nhận tội thuốc heo, đổ lỗi cho thời tiết, nhưng tụi Cộng Sản nhất định không nghe. Công việc thẩm vấn kéo dài cả tháng làm các “anh nuôi” heo gầy rạc hẳn đi, mặt mũi người nào cũng bơ phờ như qua cơn đau nặng. Tất cả Tổ heo được lệnh nghỉ việc. Còn Tổ nuôi cá cũng vậy. Tuy cá không chết cả bầy nhưng tụi cảnh vệ bắt được một anh trong Tổ nuôi cá, vớt cá nướng ăn. Tội này nhẹ nên chỉ bị xỉ vả và đe đọa nghiêm trị nếu tái phạm!
Tổ nuôi heo được thay thế bằng số người lấy trong Tổ rau xanh. Tôi có mặt trong đó. Chúng tôi ai nấy đều sợ, vì còn lại mấy con heo bệnh, nhỡ nó lăn đùng ra bất tử thì chết cha! Tôi được phân công cắt rau khoai và bẹ chuối mang về băm nhỏ, nấu với khoai lang và cơm cháy do nhà bếp cung cấp. Việc nấu nướng, đích thân Tổ Trưởng phụ trách. Tên quản giáo ra vô chuồng heo sùng sục. May mắn sao, công việc chúng tôi làm, một tuần lễ trôi qua, không con nào chết. Chẳng những thế con heo nái còn “động đực” nữa.
Cơn nguy hiểm đã qua, nhưng chúng tôi vẫn đói dài dài. Tôi nhìn những củ khoai lang ngon lành trong chảo đồ ăn nấu cho heo thèm rỏ dãi. Cuối cùng không chịu nổi cơn đói, tôi và Ngữ bàn nhau, vớt khoai ra ăn, vì sự sống của con người cần hơn. Heo dù có gầy đi chút ít, nhưng không chết là được! Chúng tôi ăn khoai ngon lành ngay trong chuồng, vứt vỏ cho heo. Tiếng ủn ỉn của đàn heo ngửi thấy đồ ăn nghe sốt ruột. Mùi phân heo xông lên hôi nồng nặc, nhưng cơn đói làm chúng tôi quên hết. Sau một tuần, hết khoai, chúng tôi ăn bớt cơm cháy, tuy không ngon bằng khoai.
Tôi chỉ làm công tác này chừng ba tuần rồi lại trở về vườn rau. Sau hai tuần ăn bớt cơm heo tương đối no, nay lại bắt đầu những ngày vất vả!
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.