Tạ Tỵ
Post by Sơn râu 19 May 2024

Chương IV: Suối độc rừng thiêng
Phần 5
Lần thứ nhất, từ khi ra Bắc, chúng tôi được viết thư về gia đình để yêu cầu gửi áo ấm ra, vì Nhà Nước chưa cấp phát. Miền Bắc đã bắt đầu vào mùa lạnh. Chúng tôi đã được Trại cấp một bộ đồ Dù để lao động. Mỗi lần mặc, tôi thấy tủi cho Binh Chủng Dù, một Binh Chủng bách chiến bách thắng. Cũng những bộ đồ hoa đó khi xưa uy dũng chừng nào, nay nó dùng để chứa nào măng rừng, nào rau tầu bay, nào sắn, nào khoai, lấy được từ đâu chẳng biết!
Hàng ngày đi lao động về, phần đông trút ra đủ thứ. Nhưng cũng còn một số người, dù hoàn cảnh nào cũng vẫn giữ được nhân cách.
Mỗi sáng chúng tôi đi lao động dưới vườn rau, sát dòng suối lớn. Sương mù dầy đặc, mặt trời nhô lên đã khá cao trên dẫy núi, sáng loáng như chiếc đĩa ngọc, nhìn rất đẹp giống cảnh trong mơ. Bây giờ đã giữa tháng 11 ta, chỉ còn hơn một tháng nữa đến Tết. Mùa này nước cạn, nhưng con suối khá lớn nên lúc nào nước cũng chảy dào dạt, miên tục. Làm từ sáng đến trưa, nào băm phân, tưới cây, lúc về lại leo con dốc cao bằng tòa nhà 10 tầng, để ăn chén cơm. Chiều lại xuống, lên như vậy. Nhưng được cái thú tắm suối. Chiều nào, trước khi về, anh em đều tắm giặt thoải mái. Nhưng cái thú nay cũng chẳng hưởng được bao lâu vì thời tiết tự nhiên lạnh giá. Ai nấy co ro, có cái gì khoác vào người cái ấy cho ấm. Cơn lạnh kéo dài, mỗi ngày tăng cường độ. Nhưng nhờ nước suối ấm, nên mỗi tuần chúng tôi đều tắm giặt vì sợ ghẻ.
Buổi sớm nay, trời xám nặng, gió thổi rần rật từng cơn như rứt thịt. Chúng tôi khom khom người đi dưới cơn gió. Những giọt mưa nhỏ bắt đầu rơi đến trưa mới ngớt hạt. Vì mưa gió nên được nghỉ lao động. Chúng tôi quây quần ngồi trong chiếc lều dựng sơ sài bằng những cành khô, mái lợp cỏ gianh. Căn lều này để tránh nắng chứ không phải trú mưa, nên có ngồi dưới lều cũng như không. Chỗ nào cũng ướt nhẹp. Trong khi anh em đang ngồi tán dóc, có tên Trung Úy hậu cần tới. Nam, Tổ Trưởng Tổ gieo giống, vốn láu lỉnh, nói chuyện với tên này về chính sách 3 năm của Nhà Nước. Sau một hồi nói vòng ngoài, Nam đi vào câu hỏi:
– Thưa, cán bộ, theo đúng chính sách của Nhà Nước, những ai học tập tốt, lao động tốt được cứu xét cho về sớm phải không cán bộ?
– Ơ, anh này nói lạ nhỉ! Cái đó còn tùy tình hình chính trị nữa chứ! Tha các anh về sớm, để các anh nói xấu chế độ à?
Nói xong, hắn bỏ đi. Chúng tôi nhìn nhau ngán ngẫm. Nhìn thấy Kiếm, Đội Trưởng ngồi gần đấy, có người nói bâng quơ:
– Đù mẹ, hăng say cho lắm vào. Nào kỹ thuật, nào kỷ luật, nào năng xuất… Mai về rồi đó!
Kiếm không nói gì, không phải hắn sợ người nói, chỉ vì hắn mới phạm một lỗi lớn đối với anh em. Nguyên do, mỗi sáng thức dậy, mọi người phải ra sân tập thể dục 5 phút, hắn lùa anh em ra hết, mình hắn ở lại Lán, lục đồ của anh em để ăn cắp. Bị mất mấy lần, An, người bị mất, rình bắt quả tang. Trong buổi sinh hoạt tối qua, hắn phải xin lỗi An cùng toàn thể anh em và hứa không bao giờ tái phạm !
Trại mấy bữa nay, hết gạo, phải ăn bánh mì luộc. Không hiểu sao chiếc bánh cứ nhỏ dần lại, đã đói, càng đói! An vì làm bếp, chắc ăn vụng no, nên mới có bánh để đành, chứ ăn không đủ, lấy đâu cất?
Vấn đề thuốc lào, thuốc lá cũng “căng” lắm. Thuốc “3 số 8” coi như tuyệt bóng, anh em bây giờ chỉ hút Thống Nhất hoặc An Thái do Trại phát. Thuốc nhạt phèo không đủ “đô” làm những ai sành thuốc cảm thấy luôn luôn thiếu thốn.
Thuốc lá cũng hiếm. Trời lạnh, có điếu thuốc cũng ấm thêm, nên đã có người nhịn cơm đổi lấy thuốc như trường hợp Lê Huy Linh Vũ. Mỗi ngày Vũ chỉ ăn một bữa, còn bữa kia do tên trung tá Truyền Tin lấy, mỗi ngày hắn phát cho Vũ hai điếu thuốc Điện Biên hoặc SaPa. Vì thiếu cơm nên Vũ phải ăn rau tầu bay trừ bữa. Rau cũng không dễ kiếm, Vũ cú gầy rạc đi trông như xác ma!
Trời mỗi ngày mỗi lạnh hơn, quá lạnh! Đã mấy chục năm xa miền Bắc, nay quay lại gặp ngay vụ rét quá mức. Mạ gieo hai lần, không mọc. Chắc chắn sẽ mất mùa chiêm. Bát nước để ngoài sân, sáng hôm sau, mặt nước đã đóng váng. Nghe nói vùng biên giới, có tuyết!
Cuộc sinh hoạt mỗi tối, theo thường lệ, để phê bình rút ưu khuyết điểm trại tù nào cũng vậy. Ở đây, có đặc điểm thỉnh thoảng đêm khuya, mở mùng rọi đèn pin vào mặt, điểm số. Có khi, bị gọi ra sân giữa cơn mưa phùn gió bấc tập họp, rồi từng ngời hô to con số của mình trước khi vô Lán. Đó là hình thức điểm tù, sợ tù trốn. Mỗi sáng thứ hai, trước giờ lao động, tên đại úy Trại Trưởng đã dọa nạt đủ thứ, nào cùm, nào hầm tối để nản lòng những ai có ý định trốn Trại.
Theo sự phân công tối qua, Đội tôi phải đi Ba Khe lấy bột mì cùng các Đội khác. Ba Khe ở cách Trại khoảng 10 cây số. Mỗi người phải vác 20 kiIô. Đi Ba Khe ai cũng ngán.
Sau khi tan hàng, vô Lán, anh em ai có túi đeo lưng bỏ quần áo ra để ngày mai đựng bột mì; ai không có, lấy chiếc quần xanh có may nẹp trắng dành riêng cho tù, mới được cấp phát, buộc túm 2 ống quần để đựng. Bộ áo quần may kiểu này để phân biệt, khi đi lao động bắt buộc mọi người phải mặc nó, hoặc đồ Dù. Còn các quần áo mang từ nhà đi, phải gởi kỹ, cất một chỗ, không được dùng, do Đội Trưởng trách nhiệm. Những quần áo ấm, mặc vào trong. Cho đến giây phút này, tôi chưa thấy hiện tượng nào chứng tỏ có ai muốn trốn Trại. Sự canh gác của tụi “cối xanh” không khe khắt lắm. Mỗi tối tập họp ra công tác, chỉ tiêu, ai muốn đi xa, đi gần tùy ý, miễn sao đạt được chỉ tiêu, sớm nghỉ sớm, muộn nghỉ muộn!
Từ sáng anh em đã lãnh bánh để đi Ba Khe. Vì đi xa, mỗi Đội đều có quản giáo đeo súng ngắn và tên cảnh vệ mang A.K. đi kèm. Chúng tôi đi lần theo những sườn đồi, qua nhiều chiếc cầu gỗ bắc ngang bằng một thân cây trên dòng suối sâu thẳm. Tuyệt nhiên không có nhà cửa.
Chúng tôi đi qua một khu trồng toàn bắp, rộng mênh mông. Khu này do anh em thuộc Lán 3 và 4 trồng. Theo lời tên quản giáo, “anh em trồng, anh em ăn”, nhưng theo kinh nghiệm , trước khi được ăn, đã chuyển Trại! Đi chừng 6 cây số đến con lộ trải nhựa. Đi khoảng trên 2 cây số nữa có nhà và trường Tiểu Học. Khi đoàn người ăn mặc đặc biệt đi qua, những đứa trẻ bỏ lớp ào ra coi. Cô giáo trẻ đứng nơi bậc cửa, hét to:
– Mấy em đi vào ngay! Các em xem họ có ích gì không?
Tuy cô giáo hét như vậy, đám trẻ vẫn không chịu vào, cứ đứng trơ trơ nhìn chúng tôi như nhìn lũ quái vật. Tôi liếc mắt, ngó vào ngôi trường. Trên bức tường quét vôi vàng, tôi thoáng đọc được nhiều dòng chữ viết bằng than, ngòng ngoèo toàn lời tục tỉu trong đó có câu: “L… cô giáo to quá”, kèm theo hình vẽ! Không ngờ, quả thực tôi không ngờ, học sinh dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa lại quá mất dạy như vậy! Tên quản giáo và tên cảnh vệ đi sau nói chuyện to nhỏ:
– Đéo mẹ, mình tới đó uống tí “nước cay” cho vui! Thèm bỏ cha!
À ra, dưới chế độ này nói và viết bậy đều là chuyện thường! Từ trẻ con đến người lớn như nhau.
Chúng tôi cứ đi theo con lộ tráng nhựa, bỗng gặp cây cầu xi-măng khá to và kiên cố? Bên dưới, dòng nước chảy cuồn cuộn. Tôi nhìn ra xa, có 3 nhánh nước rẽ ra 3 chiều, có lẽ do đó, địa phương gọi: Ba Khe! Qua chiếc cầu, đi khoảng 500 thước tới ngả ba, có nhà Bưu Điện, có Ngân Hàng Tiết Kiệm để đân chúng gửi tiền. Cơ sở này là căn nhà lá, nằm sát mé lộ. Tôi nghĩ đến những nhà Ngân Hàng to lớn, cao năm, mười tầng của Sàigòn với những chiếc tủ sắt, những hầm chứa tiền xây bằng xi-măng cốt sắt có năm, bảy lần cửa và luôn luôn có cảnh sát vũ trang đứng gác. Những dẫy xe hơi đủ kiểu bóng lộn đổ dài dài!

mạnh hải flickr
Ba Khe là một Huyện, nên sinh hoạt không có vẻ tấp nập. Hai bên lề đường, dưới bóng rợp của tàn soan tây, hàng quà bánh bình dân, bầy bán kẹo lạc, kẹo vừng, kẹo bột, chuối, mía v.v… và nước trà tươi. Nhìn thấy lọ kẹo lạc, tôi thèm ứa nước miếng. Từ bữa Đàm cho cục đường đến nay, tôi chưa có thêm miếng đường nào vô miệng. Có người thèm đường quá, gặp dịp có bệnh được đi nằm Bệnh xá nhất định xin ăn nhạt, để mỗi bữa có nửa chén đường khoảng gần 100 gram. Trong Lán tôi ở, một anh có lọ đường nhỏ bằng ngón tay cái, sau mỗi bữa ăn, anh chấm chiếc tăm vào lọ đường đưa vô miệng, mút chùn chụt, cứ như vậy độ dăm lần, anh đậy nắp cất đi. Anh chấm như vậy cả tháng trời, lọ đường chưa hao hụt bao nhiêu!
Chúng tôi đã tới kho lãnh bột mì. Đây là cơ sở Hợp Tác Xã. Trên một mảng tường có dán khẩu hiệu: “Ai bán cho Hợp Tác Xã một con lợn, được cấp một phiếu mua xe đạp!” Tôi hỏi mới biết dân chúng nuôi heo cho Nhà Nước được quyền giữ lại một phần để tùy ý bán theo giá thương lượng, tức giá tự do, cao hơn giá chính thức nhiều. Cũng như xe đạp nếu mua theo phiếu rẻ bằng 1/5 giá tự do. Do đó, mới có khẩu hiệu trên. Tuy vậy, nhưng cũng ít có ai bán heo theo giá chính thức cho Hợp Tác Xã vì có phiếu rồi, nhiều khi chờ cả năm chưa mua nổi chiếc xe, nên dân chúng chi tiêu theo lối mua bán tự do cho nhanh chóng! Ai muốn ăn thịt heo, có tiền cứ mua tự do. Xe đạp cũng vậy, khỏi phải chờ đợi mất công!
Cái sân nhà kho rộng mênh mông, đông nghẹt người. Không phải chỉ có Trại tôi đi lãnh, còn nhiều Trại khác thuộc khu vực Ba Khe đều phải lãnh ở đây. Tôi nhìn những người tù trẻ, lòng se lại. Vì cái tuổi của họ, đáng lẽ không phải gánh chịu sự nhục nhã này. Họ phải có quyền được xử dụng tất cả khả năng và tiềm lực tuổi trẻ vào một cái gì có ích và kiêu hãnh hơn là phải cúi đầu chấp nhận hoàn cảnh khốn khổ, mà giá trị con người được coi ngang hàng với súc vật.
Chờ đến chiều, sau khi lãnh xong, chúng tôi đeo trên vai một khối nặng 20 kilô. Tôi vắt chiếc quần đựng bột mì lên vai, theo đường cũ trở về. Những hàng quà buổi sáng không còn nhìn thấy ở hai bên lộ! Đường phố vắng ngắt. Một tên Công An đứng ngay nơi ngả ba để kiểm soát. Chiếc nón cối và bộ đồ vàng tạo cho hắn một hình thức khác hẳn, nổi bật giữa mầu nâu tối và mầu chàm của núi rừng.
Cái lộ trình này, tôi còn phải qua lại hai lần nữa: 1 lần lấy mền đắp và 1 lần lấy gạo, trước khi chuyển Trại. Còn các Đội khác vẫn đi đều hàng tháng!
Chúng tôi về đến Trại, trời vừa tối. Mọi người đi thẳng vào kho hậu cần, nằm ở con đồi chênh chếch với Trại, để nộp bột. Tôi tháo mép quần đổ bột vào bao tải. Tôi nắm hai ống quần, đồng thời nắm chặt chút bột trong đó, nhằm mục đích bớt lại để chống đói. Tôi cầm chiếc quần còn sót độ 100gram bột đi về Trại. Vào đến Lán, tôi trải tấm nylon, giũ bột ra, được một “chén tầu thủy”. Tôi nghĩ, ngày mai mang xuống vườn rau, nhồi làm bánh, ít ra cũng no được một ngày! Nhưng vì nhiều người lấy, hao hụt số cân quá lớn, nên các chuyến sau, tụi nó kiểm soát rất kỹ, chính tụi quản giáo giũ bao quần và túi đeo lưng.
Hôm nay, chúng tôi được ăn thịt trâu. Nói cho đúng, từ ngày đến Trại, thỉnh thoảng vẫn được ăn thịt heo hoặc trâu. Heo ít thôi nhưng trâu mỗi lần làm thịt, ăn 2 ngày liền. Ngày đầu ăn thịt, hôm sau ăn da. Da trâu ninh kỹ, ăn như “côn phoóc”. Bữa nào có trâu, tương đối, anh em đuợc no đôi chút, vì mỗi người cũng được lưng chén thịt.
Trời tháng chạp lạnh buốt. Cả tuần không thấy ánh mặt trời. Vòm mây nặng như khối chì vĩ đại, hình như lúc nào cũng muốn úp chụp xuống trái đất.
Khu trồng rau đã tươi tốt. Những luống cải xanh um sắp thu hoạch được. Những luống su hào, cải bắp mơn mởn. Hàng ngày tôi ngồi băm phân bên bờ suối. Tiếng nước chảy róc rách như khúc nhạc trầm trầm không thay đổi âm giai. Mầu trời như sơn bằng lớp ngân nhũ. Từng cơn gió thổi gay gắt. Tôi có cảm tưởng đang sống trong hầm nước đá. Tôi choàng thêm chiếc áo mưa để tránh gió. Tiếng hót của con khướu trong vòm cây xa nào đó vọng lại, nghe lảnh lót. Tiếng hót như mời gọi, quyến rủ! Chim rừng không thiếu nhưng chẳng con chim nào hót hay bằng con khướu. Tôi đang ngồi lắng nghe tiếng hót, bỗng có đàn chim rừng cả ngàn con sà xuống, đậu kín trên ngọn cây mọc gần suối. Đàn chim như đám mây đen, trừ một con có bộ lông đỏ như son. Từ trên cao nó lao xuống như mũi tên lửa, khuất vào tàn lá. Lúc sau, đàn chim lại bay vút lên. Tôi nhìn theo, con chim đỏ bay xuyên vào giữa đàn chim rồi mất hút sau triền núi. Quả thực, chưa bao giờ tôi được nhìn một hình ảnh vừa đẹp, vừa lạ như vậy.
Trong những đêm khó ngủ, tôi nghe thấy nhiều tiếng động của núi rừng, con chim “bắt cô trói cột” kêu hoài từ tối đến sáng. Con Từ Quy cứ từng hồi khắc khoải và tiếng rú thê thảm mơ hồ từ rừng sâu vọng đến, tôi chẳng phân biệt được tiếng của loài thú nào. Tôi đã nhìn thấy con rắn dài hơn 2 thước, to bằng bắp tay, trườn mình bắt mồi. Chiếc cổ cất cao, thân hình uốn lượn nhẹ nhàng, nó vồ hụt con gà rừng đang ngủ trên chạc cây. Con gà vỗ cánh bay loạn xạ, mầu lông sắc hoả hoàng nổi bật giữa mầu lá rừng bát ngát!
Mùa đông lê thê, buồn thảm. Vì không đủ ăn, nên ai cũng gầy. Có nhiều người ốm. Trung Tá Nguyệt khi trước, có thời gian phụ trách xưởng may cắt, đã chết ở đây. Tôi nghe nói, mộ anh ở sau con đồi, phía trước Trại. Chưa có dịp đến thăm vì không lao động bên đó.
Kế hoạch trồng sắn được phát động. Trừ Đội làm rau và Tổ chuyên môn, các Đội khác phải đi lấy hom sắn tại khu nhà dân, cách xa hàng chục cây số!
Tên quản giáo phụ trách kế hoạch này, có nói:
– Trại biết, các anh không đói, nhưng ăn chưa đủ no, bay giờ muốn khắc phục, ta phải lao động để có của cải vật chất. Các anh trồng hôm nay, ngày mai các anh tha hồ ăn, khỏi “no” đói. Nhất Trí không?
– Nhất trí!
Tuy nói vậy, nhưng ai nấy đều nghi ngờ vì Cộng Sản nói là một chuyện, còn làm lại chuyện khác! Công việc trồng sắn được thực hiện cấp tốc, chỉ trong vòng một tháng đã trồng được mấy chục mẫu. Ở tù, công việc nào cũng vậy. Không làm việc này, làm việc khác, Cộng Sản chẳng cho ai ở không, nên trồng sắn hay lên rừng lấy gỗ cũng vậy thôi!
Trại đã hết bột mì phải ăn độn bắp. Chỉ tội cho những người già và những ai thiếu răng không cách nào ăn được vì nó cứng như đá, dù nhà bếp đã ngâm vôi suốt đêm, hôm sau mới nấu. Thời gian nấu bắp lâu gấp đôi thời gian nấu cơm hay bột. Nhưng mọi người cũng được ăn độn 1/3 chén cơm. Tôi thuộc loại thiếu răng, nên mang đổi 2 chén bắp lấy 1/3 chén cơm, như vậy mỗi bữa, tôi ăn chưa đầy một chén cơm. Cơn đói hành hạ, thân xác teo dần!…
Vì quá đói, tôi phải lén lấy su hào, những củ su hào non ăn sống. Mỗi lần ăn, phải chui vào bụi rậm, nuốt vội vàng cho xong vì để quản giáo bắt được khó sống đã đành, mà anh em thấy cũng không yên. Nhưng ăn gì, cũng vẫn không bằng cơm. Thiếu cơm, thiếu tất cả.
Tết đã đến. Thời tiết càng lạnh. Toàn Trại sửa soạn ăn Tết. Đây, cái Tết thứ hai trong tù, cái Tết thứ nhất ở Suối Máu. Trại đã mua hai con heo, lo gạo nếp, đậu và hành để gói bánh chưng. Toán nhà bếp được tăng cường. Thực đơn ngày Tết được cải tiến gồm 7 món: Thịt luộc, thịt ram, thịt kho, thịt xào su hào, dưa hành, canh bún tầu và nước chấm. Anh em lao động đến hết ngày 28. Sáng 30 là vệ sinh doanh trại, chiều nghỉ ăn Tết. Anh em có được phát thuốc lào và thuốc lá Sapa hoặc Điện Biên để hút phì phèo cho vui.
Tết ở đây được ăn 3 bữa chính. Chiều 30, trưa mùng 1 và chiều mùng 2. Sau đó, lại trở về như cũ. Trong 3 ngày Tết được ăn cơm trắng, thay vì bắp.
Những tờ bích báo mừng Xuân mới, do mỗi Đội thực hiện, được treo trong nhà Văn Hóa. Tuy gọi, nhà Văn Hoá nhưng sự thực bên trong chỉ có vài tờ báo Nhân Dân, Quân đội Nhân Dân, Tuần báo khoa học phổ thông và Báo Ảnh Liên xô giống như tờ Thế Giới Tự do của cơ quan Thông Tin Mỹ phát hành, tuy khuôn khổ to hơn, ấn loát công phu hơn. Nó nhằm mục đích tuyên truyền.
Buổi chiều cuối năm, tôi ngồi trên gốc cây nơi cuối Trại để hồi tưởng. Đã hai cái Tết xa nhà, xa tất cả những gì thân mến nhất, một mình ngồi trong một góc nhỏ bé của Trại Cải Tạo, gửi hồn mình về chốn cũ. Không thể đoán biết những chuyện gì đã xảy đến cho gia đình trong thời gian qua, nhưng tôi tin, nó không tốt đẹp! Cái guồng máy cai trị bạo tàn của Cộng Sản không dễ gì buông tha cho những ai đã chống lại họ trong quá khứ. Nhưng dù cho sự nghi ngờ của tôi có phong phú đến chừng nào nữa, vấn đề cũng ở ngoài tầm tay !
Sương núi bốc ra phủ mờ cảnh vật. Rặng núi phía trước không còn phô những nét sắc sảo, nó mờ nhạt, ẩn khuất xa vời trước mắt tôi như tấm ảnh “halo”!

mạnh hải flickr
Cơm đã được phát. Từng món đã chia xong. Tuy đói, sao tôi chưa muốn ăn! Bữa cơm tất niên, có thịt, có canh ngon lành như thế, tôi có cảm tưởng như có vị chát bên trong. Tôi chợt nghĩ đến anh bạn cùng tù, ở sát lán tôi, tháng trước vì quá thèm mỡ, anh không ngần ngại thè lười ra liếm chiếc đĩa đựng thịt để duới đất sau khi chia xong, dù anh em cho biết, chiếc đĩa đó chó đã liếm rồi. Anh thản nhiên :
– Chó liếm chưa kỹ, người liếm lại đã sao?
Tôi thấy chua xót trong lòng, thầm phục tụi Cộng Sản đã dùng kỹ thuật “bóp bao tử” để kềm chế, hạ phẩm giá con người. Cũng do chuyện ấy, tôi thông cảm với mấy anh đi lượm những vỏ hộp thịt, do tụi cảnh vệ ăn xong, vứt ở lề đường, đem về cho chút cơm trộn vô để lấy hơi thịt. Một bữa, tôi nhìn thấy hai anh đuổi đánh con chó để giành cục xương heo. Con chó cùng đường, phải nhả cục xương nhe răng chống cự, nhưng người không đánh chó, chỉ cần lấy khúc xương. Hai anh dừng lao lao động đập vỡ nát chia nhau mút tủy! Cái sự thực 100% này đã làm tâm hồn tôi nhức nhối, mỗi lần hồi tưởng!
Số thịt heo và trâu do Trại cấp phát, tuy không đủ, nhưng chẳng phải hoàn toàn không có. Người tù luôn luôn cảm thấy thiếu thốn, thèm muốn, do đó, nếu không có nghị lực để chống đỡ, con người dễ sa ngã và trở thành thú vật trước sự đánh giá của kẻ thù qua miếng ăn, thức uống! Tôi cũng yếu đuối, cũng sa ngã và cái đói đã làm tôi đôi khi trở thành con người khác. Kẻ thù đã đẩy phe thua trận vào lối hẹp. Muốn sinh tồn, không có cách nào hơn phải mưu toan để tồn tại. Tới phút này, những giây phút cuối của một năm, tôi thấy hổ thẹn khi nhớ lại từng sự việc đã qua. Nhưng quả thực tôi cũng không dám đoan quyết còn giữ được sự hổ thẹn này tới bao lâu?
Trong những ngày trước Tết, có nhiều tin đồn sẽ có môt số được tha. Ai cũng hy vọng có tên tuy không nói, nhưng hôm nay đã 30 Tết, chưa có dấu hiệu nào chứng tỏ việc ấy xẩy ra. Tiếng đồn chìm dần vào không khí rộn ràng của ngày Tết, dù Tết trong tù! Chiều nay có vài người cởi quần áo ngồi bắt rận dưới nắng, . Cảnh tượng này trông thật thê thảm. Có người đã tắm gội xong mặc quần áo mới giặt, trông sáng sủa, gọn gàng. Để chuẩn bị cho bữa cơm chiều 30 Tết, nhiều anh em đã sửa soạn chén bát để đựng thức ăn, dù sao nó cũng khá hơn ngày thường nhiều.
Hai con heo làm thịt trong dịp Tết không phải chỉ dành riêng cho tù mà cho tất cả tụi bộ đội từ cán bộ đến cảnh vệ đều hưởng. Do đó, những miếng nào ngon lành cùng hai bộ lòng tụi nó chia nhau, tù chẳng được miếng nào. Ngoài phần thịt anh em còn được phát chiếc bánh chưng to bằng bàn tay. Tuy thèm, chưa ai dám ăn, phải để dành cho bữa sáng mùng 1.
Bữa cơm tất niên, mọi người đều vui, ít nhất cũng bề ngoài. Phần nhiều nhắc đến kỷ niệm những mùa xuân tự do đã qua và của ngon vật lạ đã ăn trong dịp Tết. Trời lất phất mưa, những hạt mưa như rây bụi trắng xóa không gian làm nhớ nhà vô cùng. Gió thổi giật từng cơn lạnh buốt. Từ ngọn đồi của Ban Chỉ Huy, tiếng pháo nổ vọng lại. A, tụi nó đốt pháo, vui ghê! Từ phía xa, nơi khu nhà dân, tiếng pháo cũng nổ lẻ tẻ. Giờ này, giờ sum họp gia đình, những kẻ vì mưu sinh đi làm ăn xa, mỗi dịp Tết, cũng cố trở về để hưởng từng giây phút thiêng liêng, ấm cúng dưới mái nhà thân yêu, ngoại trừ trường hợp bất khả kháng. Tất cả hình ảnh đó nhảy múa trong đầu tôi như những con múa rối, làm choáng váng như vừa uống xong ly rượu mạnh.
Trời bắt đầu tối hẳn. Những giọt gianh tí tách nhỏ ngoài thềm. Hai ngọn đèn dầu cháy le lói giữa bóng tối mênh mông buồn vô hạn! Tiếng điếu cầy rít ren réc. Chiếc điếu chuyền tay nhau, làm không gian nơi đây đỡ cô quạnh trong đêm 30 Tết.
Những cái gì qua, sẽ qua. Một vài anh em thức khuya để đón giao thừa, vừa uống nước, hút thuốc, vừa kể lể tâm sự đủ cho nhau nghe. Họ là những anh em cùng đơn vị hoặc cùng khóa quân trường khi trước.
Tôi cuộn mình trong chiếc mền cũ, tuy mắt nhắm nhưng tai vẫn nghe rõ từng tiếng động xung quanh!
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.