Biển, sóng xô

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 21/04/2015 

Post by Sơn râu 21 May 2024

Du Tử Lê có làm bài thơ “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”. Đọc, tôi nghĩ tác giả sang tới Mỹ “êm re” chứ không nương thân lưu đày dưới hai chữ Boat People. Bởi, đã lỡ mang phận thuyền nhân, tâm lý bình thường của đứa ấy vẫn xem biển là một ám ảnh khôn nguôi. Bên dưới mạn thuyền mong manh là cả một địa ngục lung linh trôi dài theo từng hải lý. Nhìn xuống vẫn thoáng gặp Diêm vương hoan hỉ bày dạ tiệc đón đợi bèo dạt hoa trôi. Từng chứng nghiệm cái độ mỏng tang ngăn chia sinh tử nọ, nó bước chân lên được đất liền, một liều ba bảy cũng liều, dẫu chết nó cũng không dại gì về ngắm lại cảnh cũ người xưa. Ớn tận cổ.
“Đời lưu vong không cả một ngôi mồ”. Bi thảm quá. Tham sân si quá. Xin hãy đơn giản hoá, tựa như chữ Chết anh gôm tẩy đi chữ C, anh còn lại chữ hết. Chết và hết cũng một nghĩa như nhau. Nhắm mắt lại, xuôi tay, ôi trần gian này có còn gì nữa đâu? Còn chăng là tiếng sóng vẫn âm vọng một phản hồi.

Trung Tá Nguyễn Văn Phán, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Ó Biển Thuỷ Quân Lục Chiến vì bài thơ của người chiến hữu xa xăm kia, đã viết xuống một “độ rung” khác, một “tần số liên lạc” khác:

Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Lao Bảo Khe Sanh
Để đêm nghe vang dội khúc quân hành
Ôi! Lính chiến một thời kiêu hãnh quá

Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Ben-hét Đắc-tô
Nơi bạn bè tôi xây mộng sông hồ
Nguyện trấn giữ dãy Trường sơn yêu quý

Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Bình Giả chiến khu Đ
Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề
Thân chiến sĩ nguyện xin đền nợ nước

Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Cái Nước Đầm Dơi
Đêm U Minh nghe tiếng thét vang trời
Mừng chiến thắng để dâng về Tổ quốc

Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển
Trả tôi về với dân tộc Việt Nam
Gói thân tôi ba sọc đỏ màu vàng
Xin liệm kín với hồn thiêng sông núi.

Lịch sử sang trang với biết bao hoài niệm. Khi nỗi đau chạm đáy người ta bất lực một tỏ bày, chỉ biết thở dài loay hoay với hai chữ bể dâu. Lật qua trang mới, thứ chương hồi kia vẫn leo lét ngọn đèn dầu cháy đỏ tựa thắp nơi miếu vợ chàng Trương đầy oan trái. Điển tích kia cũng chẳng cần nhắc lại bởi tự thân mỗi gia đình người Giao chỉ chúng ta luôn tàng trữ riêng một bất hạnh khu biệt. Một tâm sự đắng lòng mà sóng nước Tiền đường không chắc đã rửa trôi.

Sóng sau xô sóng trước, theo Du Tử Lê lưu vong, tiếp Nguyễn Văn Phán hải ngoại, mới đây nhà thơ Đỗ Trung Quân ở trong nước vừa post lên Facebook bài thơ làm năm 2011 dưới tựa “Không Phải Thơ, Chỉ Là Nghĩ”:

Khi tôi chết đừng đem tôi ra biển
biển của thằng khốn nào
có phải biển mình đâu

khi tôi chết đừng đem tôi ra biển
gặp tiền nhân
đau biết mấy là đau

bạn bè đấy
anh em mình đấy
mấy nghìn đêm gầm trên sóng bạc đầu

khi tôi chết đừng đem tôi ra biển
mặt mũi nào nhìn lại những anh linh
thôi
cúi xuống
ngón chân mình
mà đếm
thà làm ma-trơi-đom-đóm
một mình…

khi tôi chết đừng đem tôi ra biển
biển của thằng khốn nào
có phải biển mình đâu
khi tôi chết hãy bỏ tôi lỗ cống
cống dù sao
cũng bởi
tự mình đào.

Biển qua từng cái nhìn, sự cảm nhận về nó của mỗi cá nhân có khác biệt. Nó xô vào lòng người mực thuỷ triều chẳng đồng nhất mức nông sâu. Biển, chỉ tính riêng khung cảnh, cái bờ bãi Thuận An mà cố nhà văn Cao Xuân Huy đưa vào trong “Tháng Ba Gãy Súng” tháng 3 năm 1975 thì xác chết vương vãi đó đây không dưới 500 đánh đổi cho sự rút quân đầy hỗn loạn. Biển của thời điểm 1977 đến 1980 sản sinh ra câu “thần chú”: Một là chết nuôi cá, hai là sống nuôi má, ba là má nuôi con. Ngọn hải đăng trong cụm chữ ngắn này là điệp khúc Nuôi. Và theo ước tính của Cao Uỷ Đặc Trách Người Tị Nạn LHQ cho hay, có không dưới nửa triệu người Việt đã…“Nuôi Cá”.

Và biển của Gạc Ma, của Hoàng Sa Trường Sa, của 2014. Có bao nhiêu cái chết của thuỷ thủ lẫn ngư dân Việt bị người “đồng chí” Trung Quốc tiếp tục giết?

Khi tôi chết, ừ thì hãy mang tôi ra biển. Cho tôi hoá thân làm cọc nhọn như Bạch Đằng năm xưa. Câu thơ nên viết xuống sử thi giờ này: Nước Việt có ai còn là con cháu của Hưng Đạo Vương, Trần Bình Trọng? Hay chỉ toàn một bọn lấm lét chỉ biết cúi đầu?

Biển ơi, chào mi. Hay Bonjour Tristesse?

Hồ Đình Nghiêm

Triết lý về ăn! 

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 20 May 2024

“Ăn để mà sống! Chớ sống không phải để mà ăn!” Người viết xin cực kỳ phản đối cái ý kiến kham khổ, khắc kỷ nầy. Nói như vậy mấy cái nhà hàng nó dẹp tiệm hết hay sao?

Giữa ăn thường thường với ăn ngon thì tui đâu có ‘khờ’ mà hổng chịu ăn ngon chớ?! Ăn là một nghệ thuật, là một trong tứ khoái… mà lại đứng đầu nữa thì khỏi bàn tới bàn lui bàn xuôi bàn ngược gì hết ráo cũng đủ biết nó quan trọng đến dường nào! Còn thu ăn măng trúc; đông ăn giá… thì kệ mấy ổng!

Phàm viết báo là đề tài phải giống như đồ ăn mới được. Nghĩa là phải mới, phải lạ, phải nóng và phải ngon! Báo Xuân năm nào cũng thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ là xưa rồi. Nên tui xin nói về chuyện ăn của hoàng đế Tàu hồi xưa kia là chuyện cơ mật trong cung đình, chuyện bí mật quốc gia không được phép tiết lộ ra ngoài.

Tại sao phải giữ bí mật? Vì để dân dã đang đói xanh râu, rã ruột mà nó biết được nó thèm thì tội nghiệp cho Trẫm lắm! Nó quậy là ngai vàng của Trẫm sẽ rung rinh gẫy (mẹ) nó một chưn là Trẫm té!!

Hoàng đế Tàu ăn là phải có: sắc, hương, vị, lượng. Vua xực phàn không được quyền nói xực mà phải nói là ngự thiện?! Mỗi bữa ăn của hoàng đế xoàng xoàng chỉ khoảng 40 món thôi. Làm từ gà, vịt, lợn, cá và rau củ mùa nào thức nấy mới ngon! Gạo vua xơi giã từ loại lúa đặc biệt, gọi là gạo tiến vua. Ngoài ra, vua còn xực luôn các loại nai, đuôi hươu, gân hươu, tay gấu, heo rừng, xương hổ, yến sào, vi cá, hải sâm… Con gì dưới đất, trên trời, trong rừng, ngoài biển, vua giành, xực ráo! Ăn ròng rã năm nầy qua năm nọ thì thử hỏi đất nước Trung Hoa không tàn mạt sao được?!

Dù ăn tùm lum tà la do mấy thằng khùng xúi bậy nhưng vua sợ chết lắm nha, (giống tui, tui cũng vậy!), nên một món dù ‘quan bếp’ nấu ngon chí tử, vua cũng ‘quằm’ không quá ba muỗng. Nấu ăn, phạm sơ suất nhỏ như đồ vua kiêng vì dị ứng, như đậu phộng chẳng hạn mà cứ nấu dâng; để tối vua gãi trầy da tróc vảy là bị đưa mông ra cho lính quánh 100 trượng! Quánh kiểu nầy là chết (cha) ‘quan’ đầu bếp?!

***

Từ cái triết lý về ăn mình rút ra cái kết luận là: Lãnh đạo ăn ít; thì dân ăn nhiều. Mà lãnh đạo ăn nhiều là dân ăn cỏ như nước Bắc Triều Tiên của Kim Chính Ân chẳng hạn. Còn vua ăn bạo và quan ăn hỗn luôn thì trước sau gì cũng loạn lạc.

Chính vì biết vậy nên Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phải xếp hàng mua bánh bao tại một quán ‘Qingfeng’ nổi tiếng ở Bắc Kinh móc túi mình ra, mua bánh bao, một đĩa rau và lòng heo xào để ăn trưa tốn hết 21 nhân dân tệ (3.5 USD).

Báo chí nhà nước Tàu đánh phèng la ỏm tỏi mà rằng: dân Tàu ngạc nhiên há hốc mồm ra, nhìn lom lom rồi khoái! Vì xưa giờ đâu có thằng cha tai to mặt lớn nào mà làm như vậy đâu! Tuy nhiên cũng có mấy chú Tào Tháo đa nghi nói: Tập Cận Bình diễn tuồng!  Một số khác cho rằng Tập Cận Bình bắt chước thằng đế quốc Mỹ cỡ Phó Tổng thống trong chuyến viếng thăm Trung Quốc mới đây chỉ ăn trưa chỉ hết 109 nhân dân tệ (17.5 USD). Mấy Chú Ba phán thằng đế quốc Mỹ nầy kịch nhưng các quan chức Trung Quốc nên xem đây là một bài học. Họ bỏ tiền túi ra; trong khi các quan chức Trung Quốc xài hàng chục ngàn nhân dân tệ tiền dân đóng thuế chỉ để ăn trưa!

Dù ông Tập có ăn sơn hào hải vị hay ăn ở quán cơm xã hội đi chăng nữa thì người viết cũng không ‘ke’. Tốn vài trăm lượng bạc cho một bữa ăn của chánh vì vương thì nói thiệt đất nước Tàu cũng không có mạt thêm bao nhiêu! Ăn uống tẩm bổ mới có sức mà phục vụ ‘bà xã’ và nhân dân chứ! Tập ăn gì cũng được! Đừng ăn (cướp) thác Bản Giốc, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là OK Salem!

Đoàn Xuân Thu 

Melbourne

Khóc lên đi hỡi Úc châu!

petruskyaus.net

Thơ đoàn xuân thu

Em thổ dân!

chân em trần

đi trong chiều sa mạc.

Em chết khát! Tự do!

Dáng em thấp

trời lại cao.

tiếng em gào

không tới tai thượng đế.

Da em đen giữa rừng người da trắng.

tóc em quắn,

rừng bạch đàn đang cháy.

Em thổ dân

chân em trần

đêm Melbourne đã rất sâu

em về đâu?

trên lục địa Úc châu

Thành phố chói lòa rừng cao ốc

em về đâu?

Sao em lại khóc

nhà em đâu?

Úc Châu! ôi Úc Châu!

Sao em tự sát

trong xà lim cảnh sát

Em thèm tự do

với luật buộc phạt tù

Boomerang

bay đi còn có chổ trở về

Em lang thang

thiên đàng đã khép

Em nô lệ

trên đất nước của mình.

Em cùng anh

một người Việt Nam

mắt hếch, mủi tẹt, da vàng

đêm nay ta lang thang

trên lục địa Úc châu

mênh mông

nhưng tấm lòng

lại hẹp

Em về đâu? ta sẽ về đâu?

Khóc lên đi! Ôi quê hương yêu dấu!

đoàn xuân thu

Cánh Ðồng Mùa Gặt Khô

tranvu.free.fr

Trần Vũ

Post by Sơn râu 20 May 2024

cho những bữa rượu sân si

Cách đây không lâu, một lần tôi nhờ Tam đến nhà làm hộ bữa tiệc. Tam đi vượt biên từ miền Bắc, ngoài giọng nói phát âm nặng hơi của vùng núi đá vôi Ninh Bình, anh còn đem sang đất Pháp cả thuật nấu ăn kỳ diệu. Tài bếp núc của Tam không chỉ ngon ở miếng dồi tiết bầm sả, lúc đem nướng tỏa bốc thơm ngào ngạt, hay trong mơn mởn ở bát canh cải có ngâm gừng, nổi xanh non nõn từng cọng cải tươi che giấu miếng giò gà trắng mịn. Cái khéo của Tam là ở chỗ làm cho thức ăn trở nên thật bắt mắt, quyến rũ, lôi cuốn đến điên người. Quả tình có đứng ở bên cạnh, trông thấy anh làm bếp thì mới triệt thấu rõ hết những tài hoa điệu nghệ trổ vươn đâm ra từ mười ngón tay phù thủy của Tam không ngớt vung vẩy, múa may thoăn thoắt, lúc anh nhồi vào thân mực ống nào thịt bầm, nấm hương, hành tỏi xắt vụn trộn với miến. Xong món mực ống là Tam bắt đầu thái thịt. Cả một dẻo thịt bò cứ thế lụn dần rồi biến mất. Con dao to bản tôi mua ở chợ Sắt được dịp hoa vun vút. Trông xa Tam như người thuật sĩ đương múa kiếm. Chẳng vậy mà từ khi biết Tam, tôi vẫn thường có thói quen thích lượn lờ bên cạnh mỗi khi anh làm bếp, bởi tôi vốn có nhiều thiện cảm với món mực ống nhồi làm theo kiểu Hải Phòng, lẫn cảm mến đức tánh rất mực hiền hòa của Tam. Bữa đó, tôi nhớ có hỏi Tam: Vì sao anh hay làm các món ăn miền bể, mà ít khi chịu cho chúng tôi thưởng thức nghệ thuật bếp của quê hương anh? Ninh Bình chắc hẳn có nhiều món ngon vật lạ như trên khắp các miền đất nước? Hôm ấy tôi chỉ hỏi đùa, ai ngờ câu hỏi của tôi lại làm Tam mất hẳn sinh khí của một người đầu bếp đương hăng. Anh ngừng hẳn tay, thõng cho lưỡi dao hươi xuống đất, dáng vẻ của Tam giống dáng dấp của một người viết văn bỗng nhiên khựng lại vì bị ai hỏi xoáy vào tận cùng chốn tư duy giấu kín. Bản dao chênh chếch, lóe chút sắc kim lạnh phản chiếu lên mặt, xuất nắng hiu hiu của Paris đầu hè càng làm cho vẻ mặt Tam thêm tiềm ẩn. Tôi nhớ lúc ấy, ánh kim loại bật lên làm mặt anh như bị chẻ đôi. Mà là thứ vệt cắt từ trong ra ngoài. Cặp mắt Tam hấp háy, anh ngập ngừng chùi tay vào quần, rồi mới rút vội điếu thuốc tôi mời. Tam rít vài ngụm khói, trước khi phả ra ngoài cửa sổ. Lẫn trong màn khói làm như cũng có chất suy tư nặng sền sệt, dầy dặc len vào những bụi cây. Lần nào đến nhà tôi, hình như Tam cũng chỉ làm có ngần ấy cử chỉ: thái thịt, xắt hành, bầm sả, nhồi mực, đánh vẩy cá, pha tiết, rồi thở cho khói bay qua ô vuông cửa. Ðến lúc điếu thuốc cháy gần hết, anh mới quay lại, giọng buồn buồn: Ninh Bình quê anh nghèo lắm, chỉ có vôi và núi đá. Núi, Vôi, Ðất, Ðá là quê hương, nhưng những thứ đó không ăn được. Muốn ăn ngon thì phải đi xa, thật xa, càng xa bao nhiêu thì vật lạ của ngon càng nhiều chừng ấy. Ở đời thường có nhiều chuyện ngược ngạo, chính những kẻ nghèo khó, không may mắn, cơ cực ở đời lại là những người dám bán mạng vì miếng ăn, là những kẻ khó ăn, sành ăn, và thích ăn. Tam nói là anh ở trong số những con người ấy. Tam bỏ Ninh Bình ra Hải Phòng vì những lưới cá tươi, cách hấp cá, làm bún, rang cua, nhồi mực của những phu phen ven bến cảng. Hải Phòng thì có gì mà đẹp. Thô lậu bỏ cha! Tam chắc lưỡi mỉa. Chỉ được nước bạo phổi, bạo ăn, bạo đàn đúm, chẳng thế mà phát sinh ra điệu hát Ðúm Hải Phòng, tương tợ như hát quan họ Bắc Ninh, nhưng giản dị và bình dân, ít rườm rà, “nhộn” hơn nhiều. Nhưng cậu đừng tưởng bở là bọn Hải Phòng hiếu khách! Tam lên giọng bất chợt. Anh lấy cán dao gõ gõ đập đập vào mặt bàn như muốn nhấn mạnh, hù họa kẻ chưa bao giờ trông thấy miền Bắc là tôi. Hải Phòng là đất thảo khấu! Dân anh chị có, bọn buôn chui chém mướn có, đảng viên thoái hóa có, cán bộ nòng cốt đi đêm có, tàn dư phong kiến địa chủ tái sinh cũng có, tất cả mọi người hội tụ về chỗ điểm nóng ấy để giành nhau chút khoắng bể nhổ neo cho tàu rời nước. Kỳ quặc là ở chỗ đó. Ở miền Bắc sau này ăn là lẽ sống, được ăn nhiều, uống nhiều… thoải mái, tức là có thực thi dân chủ! Dĩ nhiên cái ngon ở Hải Phòng không thể nào sánh bằng miếng ngon Hà Nội. Bánh đúc, bánh tôm, cốm vòng, tiết canh vịt… từ thời Lý Công Uẩn cho tới đời Lê mạt ở Hà Nội thì vẫn tuyệt sắc. Nhưng ở Hà Nội, ăn giữa khung cảnh sừng sững của lịch sử, nhấm nháp bát bún chả mà cứ khổ não vì chung quanh chứng tích công đức của tiền nhân nhiều quá, công khó oai hùng ngày xưa nhiều quá, rực rỡ là thế mà thời đại mình thì cứ tàn lụi, tâm thần ray rứt thì còn bụng dạ đâu mà thưởng thức. Bốn bề tiền nhân, văn hóa bao đời, từ cái cổng Văn Miếu, đến ngôi đền Quan Thánh, tượng Trấn Võ… sao mà lắm! Của ngon có dâng đến miệng cũng chả nuốt được. Nghẹn! Phải nói là mình bị nghẹn!

Tam uống bia, lý giải cái phần tâm linh nhầu nát trong anh những ngày còn ở quê nhà. Cách kể chuyện, lối so đo của Tam có vẻ hơi cường điệu, giống lối kể chuyện của những người Bắc vào Nam sau năm 75, khiến tôi đâm ngờ ngợ, nghĩ là anh nói quá. Ăn ở đâu thì ăn. Cớ gì phải sợ hãi lịch sử ? Ngày trước tôi vẫn thường hay ăn dồi chó bên hông Lăng Ông Bà Chiểu, mà có mặc cảm bao giờ đâu? Chừng như đoán ra được ý nghĩ trong đầu tôi, Tam chắc lưỡi: Cậu không tin thì cứ về du lịch nước mình một chuyến. Ra Hà Nội vào ăn chả cá ở quán Lã Vọng thì sẽ thấy, chan mắm tôm lên bún mà sao mùi mắm với mùi rau thì là cứ xông lên đến là bẽ bàng. Mỡ xối lên cá kêu xèo xèo cũng không đánh thức được những rạo rực trong bụng mình. Chỉ vì không khí, khung cảnh, con người, cuộc sống ở Hà Nội nó nhếch nhác thế nào, không giống ở Hải Phòng.

– Nhưng ở Hải Phòng thì khác ra sao?

Tôi nóng nảy, bộp chộp hỏi.

– Khác chứ!

Tam chìa ly cho tôi rót thêm bia. Những sóng bia vàng óng ánh, tưởng là sóng biển xanh ngoài vịnh Bắc Việt còn đọng trong mắt Tam lăn tăn. Khác lắm. Bát bún tàu xào cua bể ăn ở Hải Phòng không chỉ có nấm mèo, thịt cua, hành ngò, mà còn trộn lẫn mây trắng, ước mơ của thuyền bè đến từ biển lớn. Sau này Hải Phòng là trung tâm xuất khẩu người đi Hồng Kông. Ăn ở Hải Phòng, là ăn với tâm trạng nắm bắt được tương lai trước mắt. Bát miến cuối, ngày mai đời nở hoa! Mình sống với ý nghĩ không còn vướng bận, trách nhiệm gì với 4000 năm lịch sử đang vây kín chung quanh mình nữa. Thoải mái ăn, tự do ăn, hạnh phúc dân chủ mớm được tới nơi… ! Tam cười ha hả, giọng Bắc đậm đà hào sảng. Cười đã đời rồi anh vụt im lặng, trở lại làm bếp, như thể anh chẳng còn liên quan gì đến câu chuyện nữa. Tam nhẫn nại thái da heo ngâm vào nước nóng, rồi giã gừng lấy tinh chất, chế vào thau nước lạnh, cho thêm rượu trắng, thả bóng bóp nhẹ… Không trông thấy mặt, song tôi biết anh xúc động lắm, bởi cử chỉ Tam không còn nhịp nhàng, đứt quãng, như anh phải thừ người suy nghĩ để nhớ ra mình đang làm gì. Chén rượu trắng pha nước lã trong tay Tam cứ chao nghiêng ngả như chỉ chực đổ. Cách “hãm”, lối kềm chế những tình cảm vui buồn, thất vọng, khổ não, bất ngờ dậy dâng trong lòng Tam khiến tôi cũng buồn lây. Những thống khoái, há hê, tin tưởng vào cuộc đời ở những con người như Tam, sang đến trại Cấm Hồng Kông bỗng nhiên bị đập vỡ, đập vụn, tan thành từng mảnh. Có là con vật cũng phải chua xót.

Bữa tiệc chiều đó, tôi ăn không ngon, nuốt không vui. Miếng rượu cay cất mười hai năm trong chai đục, nút có đóng sáp, mua với giá một ngày lương mà rót vô miệng vẫn thấy đắng.

*

Hình như tôi có duyên với Tam. Tuổi rượu tôi thua tuổi rượu anh, thế giới của tôi khác xa thế giới của anh, tôi sinh trưởng trong một gia đình tiểu tư sản thành thị miền Nam, không biết thế nào là đói, khổ, là oằn oại nhão người. Song giữa tôi và Tam hình như còn có một cái gì khác, phải lâu lắm sau này tôi mới nhận ra trong anh là cái phần thằng người miền Bắc trong tôi không được sống. Nó ở đó. Chờ đợi. Câm nín và chờ đợi. Nhưng chờ đợi điều gì ? Bao nhiêu đêm tôi thức trắng tự hỏi? Tôi cần gì? Kiếm gì? Và tìm gì ở cái đất nước này? Ðất nước ba trăm sáu mươi lăm ngày thuế má. Ðất nước đi rửa chén cũng phải có bằng. Ðất nước ăn ngủ mối tình đầu không thấy người yêu nhỏ giọt nước mắt khóc cho phần trinh tiết đánh mất.

Một lần khác, tôi rủ Tam đi dạo phố. Phố xá ở đây thì chỉ có hàng quán. Sang ra khu Khải Hoàn Môn, nghèo lầm lũi trong những con đường hầm ngun ngút mắt. Không có thành phố nào tồi tệ, sống chui rúc dưới đất bằng Paris. Mồ hôi, thuốc lá, son phấn, bọ rận chen chúc nhau trong những toa tàu cáu bẩn. Bên trên sự cáu bẩn đó là quán Fouquet. Trời mùa hè, nắng phơi bên trên những tàng dù lấp phấp. Tam gọi một ly đế William Bon Père. Tôi kêu hai chope bia vàng ngậy. Lúc tôi uống hết chope thứ nhất, một tên Ả Rập đi ngang, giọng hát nghìn lẻ một đêm vang từ máy cassette trên vai hắn đong đưa rên rỉ thiểu não chảy vào giữa dòng người cuồn cuộn khắp mặt lộ. Tiếng hát Ả Rập nghe trước quán Fouquet, đối diện tiệm nhảy Lido tương phản đến lạ lùng. Tôi có cảm tưởng phải nghe cải lương trong Caféteria Rex. Song Tam lại tỏ vẻ thích thú. Anh bảo tôi thằng này khá đấy. Ngày xưa có lần đi Tunisie, dẫm chân vào khu sa mạc cát vàng, tôi cũng có lần bắt gặp thứ âm thanh nỉ non, rung nhiều ở đầu lưỡi, và “láy” bằng cổ họng vang vang trên mặt đất. Quả tình, chỉ có trên sa mạc, nhạc Ả Rập mới cất hết sức chuyên chở kỳ bí của nó. Âm thanh cứ kéo dài ra mãi. Nhạc Ả Rập lạ ở giọng ngân, một thứ ngân gần như khốn khổ đứt hơi, mà cứ phải ngân hoài hủy. Chuyến autocar bỏ chúng tôi xuống bách bộ, chỉ có một máy transitor nhỏ của người tài xế mà tiếng ngân như đi suốt sa mạc. Ði hết cả một nền trời đỏ cát lừng lững nắng. Có tiếng nhạc mắc võng trên đầu những trụ điện tồi tàn của Tunis, luồn lách trong chợ Souk, băng ngang cổng đền cấm đàn bà, và bám trên những mảng thịt cừu đỏ tươi treo bằng móc đen đặc ruồi bu, thì mới thấy hết cái hay của nhạc. Nhưng ở đây, trong khu Khải Hoàn Môn sang trọng, âm thanh trở nên lạc lõng kỳ dị, gần như một thứ quái thai. Vậy mà Tam lại bảo khá! Tôi nhìn Tam không mấy hiểu. Tam chiêu một hơi đế, hỏi ngược:

– Cậu có dám vác máy ra đây phát nhạc hồ quảng, cải lương không?

– Anh khùng à! Tây nó cười cho.

– Thế thì cậu thua thằng Ả Rập rồi. Niềm tự hào dân tộc của hắn mạnh hơn cậu.

– Tự hào không đúng chỗ!

– Ừ, đúng. Tự hào không đúng chỗ. Nhưng vẫn cứ là tự hào.

Tam uống cạn ly đế. Không nói gì nữa. Như đã rời xa, trở về đất nước. Cái con người ham sống, thích ăn, thích uống ở anh như biến đâu mất. Cả cái kẻ làm bếp tài hoa sống động cũng không còn ngồi đó nữa. Tam có lẽ đã trở về với những khoảng sân thượng chìm trong màu lam đục của buổi chiều tắt nắng Hà Nội. Tam có đôi mắt mệt mỏi, khuôn mặt mang nhiều vết tích cuộc đời, ở nhân dáng anh hình như chỉ đội chiếc mũ phở là hợp nhất. Mà Tam có lẽ cũng chỉ hợp với vị trí anh hàng phở, tự hào về nồi nước gia truyền, về thế đứng chỗ đậu của chiếc xe kéo thơm lừng nước dùng. Nếu lùi được nửa thế kỷ, Tam sẽ là anh hàng phở Sức. Chậm nửa thế kỷ, anh ngồi đây, dưới chân Khải Hoàn Môn vĩ đại, nhưng vô dụng. Ngồi quán chán, tôi với Tam về nhà. Nắng sắp tắt, còn phải lo bữa chiều.

*

Tam mở chạn bếp, lấy vỉ sắt, bật ga cho nóng rồi mới thảy một chân giò heo lên trên. Ðùi heo săn ngay lại, bắt đầu đen cháy. Bao giờ mùi thịt nướng cũng khơi dậy hình ảnh trong trí óc tôi. Miếng dồi chó tím lợt, hay miếng chả nướng bằng than tàu đỏ rực chảy nhễu mỡ ròng ròng cứ ám ảnh đeo đuổi tôi hoài. Tôi mở tủ tìm rượu. Bản nhạc Ả Rập lúc nãy đã tan mất, chỉ còn mùi vị quê hương thơm lừng ngầy ngậy giữa gian bếp. Tam vừa giã giềng, trộn với yaourt thay mẻ, vừa kể chuyện những năm sống dưới thảm bom B-52, chỉ có thịt cầy là bán chạy nhất. Hình như ai cũng sợ chết trước khi kịp thưởng thức. Anh đương dở tay, nên nhờ tôi trở thịt. Cả một mảng đùi heo đen rắn bốc ngào ngạt. Tam nhấp một ngụm Rhum, khà trong tiếng reo:

– Úi chà! Cái thằng Rhum này tuyệt! Hắn là cái thằng hay gắt gỏng, mà chịu nằm yên trôi lừ lừ qua cổ họng mình thì khá! Năm nào?

– Một chín bảy tám.

Tam ngửng vội nhìn tôi, vẻ mặt anh có nét sửng sờ. Tam nhấp thêm ngụm nữa rồi sang sảng kể: Năm bảy tám cậu ở đâu? Ngoài Bắc chuẩn bị chiến tranh chống Bá Quyền, mình hùng hục đào hầm ở biên giới, ai ngờ bên này có thằng nấu ruợu vô chai đợi mình sẵn… kỳ diệu! Quả thật đúng là kỳ diệu. Năm bảy tám gia đình tôi bị đánh tư sản, kiểm kê từ cây đinh đến con ốc. Thuế siêu ngạch, nghĩa vụ quân sự rình rập. Mối tình đầu tan vỡ. Bằng phổ thông cấp ba hụt thi. Trốn chui trốn nhủi sau những cồn cát Phan Thiết đợi đi chui… Chai Rhum vơi bén đi quá nửa. Chết thì thôi, nhưng sống phải uống cho bằng hết cái thứ nước kỳ diệu này. Có chất đốt, tôi với Tam thi nhau nổ chuyện. Tam kể ở Hà Nội có thứ rượu sen cất ven hồ Tây, trời chiều mưa lạnh uống vào nóng ran mình mẩy, mà hương sen còn đọng ở đầu lưỡi. Tôi không chịu kém, kể ở Củ Chi có thứ rượu hạ thổ chỉ mới ngửi qua đã nóng bừng mặt. Tam cười ha hả, bảo cậu rời Việt Nam còn thơm sữa biết thế quái nào là hạ thổ! Sợ nhà thổ cậu cũng chưa biết?

– Ừ thì biết qua sách vỡ.

Tôi cứng lưỡi, chống chế. Tam càng cười lớn. Giọng cười của anh tôi để ý bình sinh ròn rã, chỉ có những lúc tuyệt vọng thì nghẽn như cái kèn đồng bị đổ nước.

– Này, bắn đi.

Cái kèn đồng chiều nay trơn tru, với tay lấy gói thuốc lào ba số 1, nhãn đề bán ở cửa hiệu Lý Thái Tổ, vo, se nhồi rồi đưa tôi đốt. Tôi bắt chước Tam tập hút từ hơn một năm nay. Từ khi “chạm” thuốc ta, tôi đâm mê mẩn, hút thuốc điếu không còn thấy ngon. Ðóm thuốc xòe lên, ngọn lửa vừa tắt thì gót chân tôi cũng tê rần. Trong cái bải hoải rã rời của tứ chi, mạch máu nở ra, tôi loáng thoáng nghe tiếng ríu rít như chim hót từ chiếc điếu cày trên tay Tam. Tiếng kêu của điếu cày nghe thật hay, khi buồn nghe như giọng thút thít của người con gái nức nở đêm tân hôn tấm tức khóc cho mối tình đầu, lúc vui vẻ nghe như con gà trống gân cổ gáy, khi giận thì chẳng khác mấy mụ nạ dòng đang rít qua kẽ răng. Thuốc lào không chỉ là thuốc, mà là cả một nền văn minh! Tam mạnh mẽ phát biểu trong lúc tôi lờ đờ. Bao nhiêu sáng tạo, thử thách, kinh qua để rồi mới chiêm nghiệm phải châm bằng đóm mới ngon. Ðốt thuóc lào bằng quẹt ga thì hỏng. Bằng diêm quẹt cũng hỏng nốt. Châm bằng Zippo thì chẳng khác mọi rợ mán mường. Ðem thuốc ngoại, thuốc tẩu mà nhồi thì hút không thấy hơi, bã bèn bẹt chả ra đâu vào đâu. Bởi thuốc lào sấy nắng, bao nhiêu gio’ sương nắng nôi của đất nước làm thành.

– Cậu ếm cả nắng gió quê nhà vào buồng phổi thì thấy, không có cái say nào bằng say quê hương!

Tam thở khói. Tôi gật đầu, còn lơ đãng trên những cánh đồng ruộng lúa ở nơi đâu, chưa đứng dậy được. Tam đã giở đùi heo đem xuống cạo, chặt thái hình quân cờ, rồi bóp riềng mẻ mắm tôm. Nồi thịt tím ngắt hoa cà. Cậu đem hầm đi, mình chuẩn bị thức ăn chơi. Tam rửa tay, lại sục vào chạn bát. Tôi lễ mễ bưng nồi thịt đặt lên bếp, lửa ga phừng phừng đến nóng mặt. Mười đầu ngón chân tôi hãy còn tê. Chỉ có một chút khói quê hương sao mà say.

Cái bàn sắt tôi với Tam khệ nệ khiêng ra sân sau. Ðêm hè gió mát rượi làm khô những giọt mồ hôi chỉ mới rịn trên da vụt tan ngay. Tôi đi đốt đèn dầu, không phải cúp điện, nhưng tôi với Tam vẫn ưa thứ ánh sáng tù mù vàng võ bâng khuâng, cháy èo uột của những đêm mưa, hay những đêm ngoại ô bắc ghế đẩu ngồi tán chuyện. Ánh đèn Hoa Kỳ hắt loang xuống thềm. Tôi khui rượu. Tam bày hai đĩa tiết mới đánh. Không có tiết vịt, đành đánh tiết heo. Tiết heo bán đong chai, một lít pha được không biết bao nhiêu đĩa. Tôi vắt chanh, ngắt rau thơm, cắn một miếng mề, nhai một quả ớt, rồi nhấm thêm một mẩu gan, bao nhiêu chất ngọt của tiết hòa vào mạch máu mát mẻ đến sảng khoái. Tôi rót rượu liền tay. Chiếc bóng của Tam ngả hẳng người ra bàn, mặt anh ửng đỏ trông như mặt Quan Công về hưu. Tam bắt đầu ngà. Ở Hà Nội lạ lắm. Mai mốt cậu về chơi sẽ thấy. Có những ngôi nhà cũ không tưởng tượng, rêu ẩm bám đen từ mặt trong ra mặt ngoài. Ngủ đêm cứ rờn rợn. Miền Nam mới quá, không dấu ấn của lịch sử. Nhưng ở Hà Nội, lắm lúc lịch sử cứ sờ sờ ra đó, bình thường mình không để ý, nhưng đêm nằm có lúc thảng thốt chợt nhận ra đầu ngõ là chỗ Chiêu Thống đón Tôn Sĩ Nghị chứ đâu xa, có khi cả cái nhà mình cũng là nhà của Nguyễn Hữu Chỉnh lúc trước. Nằm cứ toát mồ hôi. Mới hôm qua chứ bao lâu! Cái đất Thăng Long lạ. Ði xa như Nguyễn Hữu Chỉnh rồi cũng phải về chết ở đó. Mà chết tan xương nát thịt mới đau.

– Nguyễn Huệ không biết dùng người! Tự chặt tay chân mình thì sống với ai?

Tôi vét nốt đĩa tiết, tự nhiên thấy mình nóng nẩy vô lý. Tam đang đơm bún vào bát, ngắt rau húng, chan xâm xấp giả cầy, ngửng nhìn tôi ngạc nhiên:

– Ai bảo cậu thế?

– Chẳng ai bảo, nhưng thảm kịch của đất nước là từ khi Nguyễn Huệ tự ý đại cử Bắc phạt đấy thôi? Nồi da xáo thịt tự đó mà ra.

Không phải!

Tam đập mạnh ly xuống mặt bàn, rượu sánh cả ra ngoài. Những vũng rượu vang đỏ thẫm. Tôi cũng biết rượu vào lời ra nhưng không ngờ Tam cáu kỉnh đến thế. Anh nhai ớt rồn rột:

– Bi kịch của đất nước này xãy ra ở làng Hạ Lôi, cậu biết chưa? Cái làng ấy có tay Lý Trần Quán làm Thiêm Sai, lúc Chúa Trịnh chết thì tự chôn mình, chết ngu xuẩn thế mà người đời cứ xem như bậc nghĩa khí!

– Trung thế thôi anh còn đòi?

Tôi cắn một miếng riềng, nhất quyết không chịu thua. Gì chứ chuyện lịch sử, tôi thuộc làu làu, lúc còn đi học trả bài bao giờ cũng được điểm cao. Trời sụp tối hẳn. Cái bàn sắt của hai chúng tôi nhô ra vườn trông như boong tàu thắp sáng lênh đênh trôi dập dềnh ngoài đêm. Mà chúng tôi cũng lênh đênh dập dềnh thật. Mấy tàng lá xum xuê trên đầu cứ ngả nghiêng chờn vờn, lất phất đong đưa như chỉ chực rớt xuống bàn. Bữa rượu đã lên tới tột đỉnh. Tam ném vỏ chai vào một góc vườn, khật khưỡng khui thêm chai nữa. Nắm tay anh xoay theo cái vặn quả quyết:

– Trung với ai, chứ với cái nhà chúa Trịnh thì mình ngờ lắm!

Bọn viết sử khen chê không đúng chỗ! Sao không nhắc cái công tôn phò nhà Lê hai trăm năm? Bằng chứng: Chúa vong thì Lê mạt!

-Ừ thì Lê mạt. Nhưng Hiển Tông, Chiêu Thống là cái gì? Nhà Tây Sơn mới là cuộc cách mạng đích thực! Tay Lý Trần Quán đổ tiến sĩ nhé. Mẹ chết thì ở nhà mồ ba năm, không ăn thịt cá? Hắn làm thế để làm gì? Sao không ra giúp Nguyễn Huệ lại tự chôn sống mình? Làm màu à? Thảm kịch của đất nước là bởi bọn “trung trinh tiết tháo” kiểu ấy. Cho ăn học phí đi! Hai trăm năm rồi mà ở Hà Nội lẫn Saigon cứ còn đường Lý Trần Quán, người ta theo tấm gương ấy đến độ đất nước lụn bại!

Tam nói một hơi. Chất rượu trong người anh bốc ra như giông gió. Tôi cũng say lắm, miệng lúng búng bún lẫn giả cầy. Vài miếng măng thái, ít củ chuối, hai ba miếng da lợn cháy vàng nổi lên mặt bát. Tôi và cho hết chén, làm cạn ly rượu, rồi phản pháo:

– Thiết tha, trăn trở cho bi kịch đất nước, thế sao anh còn qua đây làm gì?

Sắc màu hồng đỏ au trên da mặt Tam vụt trở nên xám lại. Tôi chỉ hỏi câu châm biếm, ai ngờ, ai ngờ cả thân mình anh cứng lại. Vai Tam nhô lên cao lắm, như thể anh muốn rụt đầu trốn tránh. Trông anh như bức tượng tội nghiệp hôm nào, và cái vệt cắt trên da mặt – cái vết chém từ bên trong – Tôi đã trong thấy một lần ở sau bếp khi hỏi Tam về trại Cấm Hồng Kông, cái vệt chém đó như bất ngờ mọc ra trở lại, năm ngón tay Tam cũng cứng lại làm rơi đôi đũa. Tam ngồi bất động, như trớ lưỡi, tròng mắt anh vừa ngượng nghịu, nửa xấu hổ, nửa giận hờn tại sao tôi lại hỏi như vậy? Vẻ mặt Tam lúc đó tôi không quên được, song tôi không dám ngó anh lâu, không khí đang hăng của bữa tiệc bỗng chùng hẳn xuống. Tam bất chợt cười ngúc ngắc, tiếng cuời như khóc của cái loa kèn nghẽn nước.

– Qua thì sao? Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu cũng lưu vong mà?

– Các cụ có làm được gì đâu?

Tam im lặng. Biết anh không muốn trả lời, tôi lảng chuyện bằng cách rót thêm rượu vào ly. Tam nạp liên tục như muốn khỏa lấp. Một, hai, ba, rồi bốn, năm ly, chẳng mấy chốc anh đổ kềnh ra ghế.

Tam “lật” rồi tôi mới thấy mình lạc lõng. Khu vườn rộng hẳn, dài mênh mông gấp bội. Một đống vỏ chai, thau bún rỗng, nồi giả cầy cạn, nhưng còn rượu. Giá tôi đừng hỏi điều ấy, chắc bữa rượu hãy còn vui. Lần đầu, tôi trông thấy tận mắt đau khổ của một kiếp người. Tôi khui hết những chai rượu còn sót. Uống một mình. Từ năm 78, tôi đã uống hết bao nhiêu chai rồi?

1988

© Copyright Trần Vũ

Trò chuyện với nhà văn Trần Vũ

dutule.com

20 Tháng Hai 2011

Post by Sơn râu 20 May 2024

Kỳ 2

2 – Đoàn Vũ: Tình dục trong tác phẩm của ông được “tiểu thuyết hóa” hay “đời hóa”? Vì sao ông chi tiết nó?

Nhà Văn Trần Vũ trả lời: 

Chào anh Đoàn Vũ. Tất nhiên là tiểu thuyết hóa. Tôi chia sáng tác của mình làm hai thể loại: Ký và truyện ngắn. Khi viết Ký về bản thân và gia đình mình, tôi viết ra những gì ký ức tôi lưu trữ, không hư cấu, tính chất nhân chứng lấn át mọi tiêu chí khác. Mình nhìn thấy đất nước mình như thế nào, từ trong gia đình mình nhìn ra ngoài đường phố, và tâm trạng mình ra sao khi trở về nhà sau bao năm ly cách, tôi cố gắng ghi lại trung thực những gì tôi chứng kiến và suy nghĩ. Bi kịch của Việt Nam chồng chất, chỉ cần nhặt lên những miểng chai quá khứ là chúng lập tức cắt đứt tay và làm ứa máu. Trong máu lấp lánh trở lại thứ ánh sáng kinh dị mang ánh mắt của chính mình. Không cần thêm gì nữa, chỉ cần miêu tả cho hết nỗi đau câm là đủ thành một văn bản khác thường. Bước chân vào thế giới truyện ngắn, ngược lại, là bước chân vào một thế giới giả định. Tôi giả định tất cả trong truyện. Không chi tiết nào thật, từ cảm xúc đến màu sắc, từ cốt chuyện đến nhân vật, tôi tưởng tượng ra và không quan tâm đến những mảng tường hiện thực. Tính dục trong thế giới này, do vậy cũng giả định. 

Vì sao chi tiết? Nguyễn Mộng Giác, tác giả Mùa Biển Động từng viết: “nhiệm vụ của người viết tiểu thuyết là đi tìm chi tiết.” Tôi tin vào lời khuyên này, chính chi tiết đem đến từ vựng và chi tiết kết nối nhân vật. Chi tiết làm nền cho thời gian luân lưu trong truyện. Sau nữa, tình dục là phương cách giúp chúng ta tiếp xúc với một con người sát nhất, gần nhất, nhìn thấy nhiều chi tiết nhất trên thân thể của người đó. Giả định kỹ lưỡng mới diễn tả được sức mãnh liệt của ham muốn. Ham muốn thật, là ham muốn mãnh liệt.

Còn gì nữa? Nhìn một cách quá khích: chính tình dục dẫn giắt nhân loại.

The Tears of My Soul 

1993 by Kim Huyn Hee

Post by Sơn râu 20 May 2024

Chương 9
Khi đó, tôi cảm thấy thời gian trôi qua vô cùng chậm chạp, nhìn lại như thể ngày tháng dính liền vào nhau. Tôi bồn chồn và hồi hộp, không thể tập trung vào bất cứ việc gì. Trên chuyến bay sang Moscow, vì không có việc gì khác nên tôi đọc đi đọc lại kế hoạch mà chúng tôi phải thực hiện. Khi xuống máy bay, tôi đã thuộc lòng từng chi tiết của cuộc hành trình dài:
* Mục tiêu: Tiêu diệt chuyến bay số 858 của Hãng Hàng không Nam Hàn; máy bay xuất phát từ Baghdad ngày 29-11 và bay qua Băng Cốc về Hán Thành.
* Tổ hành động: điệp viên đặc biệt Kim Song Ir, trưởng đoàn; điệp viên Kim Okhva, trợ thủ.
* Tổ trợ thủ: điệp viên đặc biệt Chu Jong Su, trưởng đoàn; điệp viên Cho Hong Nark.
* Diễn tiến cuộc chiến đấu: Khởi hành hồi 8 giờ 30 phút ngày 12-11-1987 từ sân bay Sunan (Bình Nhưỡng) sang Moscow. Ở hai ngày tại tòa đại sứ Bắc Triều Tiên ở Moscow, mua vé máy bay hãng Aeroflot-chuyến Bay sang Budapest, khởi hành hồi 9 giờ ngày 15-11-1987.
* Ngày 15-11: Khởi hành từ Moscow, đến Budapest lúc 11 giờ 4 phút. Ở ngày tại Budapest tại căn cứ an toàn của cơ quan tình báo ngoại quốc, đi tiếp sang Áo. Nhập cảnh Áo mà không cần hộ chiếu, với sự trợ giúp của các điệp viên địa phương. tại Vienna, tổ hành động sẽ ngụ tại Khách sạn Ampak, và liên lạc bằng mật khẩu Nakayama. Ở Vienna, tổ hành động dùng hộ chiếu Nhật tại mọi nơi mọi chỗ, và mua hai bộ vé máy bay khác nhau:
1. Vé thứ nhất theo lộ trình Vienna – Beograde – Baghdad – Abu Dhhabi – Băng Cốc – Hán Thành.
2. Vé thứ hai theo lộ trình Vienna – Beograde – Baghdad – Abu Dhhabi – Bahrein. Những vé này chỉ được dùng trong trường hợp bị bắt buộc hoặc nguy hiểm, để đánh lạc hướng.
Những vé lượt về qua Amman và Roma sẽ được mua riêng tại Abu Dhabi. Sau khi mua được bộ vé thứ nhất, tổ hành động gọi điện cho điệp viên đặc biệt Cho tại Baghdad. Trong thời gian còn lại ở Vienna, các thành viên nhóm hành động đóng vai hai du khách Nhật.
* Ngày 24-11: Đi từ Vienna lúc 11 giờ và đến Beograde vào hồi 14 giờ. Ở bốn đêm tại Khách sạn Matropolitan. Các thành viên tổ hành động lại nhập vai du khách.
* Ngày 28-11: Khởi hành từ Beograde lúc 14 giờ 30 phút, đến Baghdad 20 giờ 30 phút. Tổ hành động chờ chuyến bay số 858 của Hãng Hàng không Nam Hàn Giữa chừng, tổ hành động gặp gỡ tổ trợ thủ và nhận bom nổ chậm để tiêu hủy máy bay. Sau cuộc gặp mặt, cần đặt trái bom sao cho nó nổ sau đấy 9 tiếng, nhưng điều này còn phụ thuộc vào tình hình thực tế. Bom sẽ do Kim Song Ir đặt định giờ, nhưng nếu vì lý do gì đó mà Song Ir bị ngăn cản thì Kim Okhva cần thực hiện việc này.
Lúc 23 giờ 45 phút, sau khi lên chuyến bay số 858, tổ hành động đặt bom ở ngăn đựng hành lý phía trên ghế ngồi. Tổ hành động xuống máy bay tại Abu Dhabi, để lại bom trên máy bay. Nếu bom bị phát hiện trước khi tổ hành động xuống máy bay, cần trả lời rằng bom không phải của tổ hành động.
* Ngày 29-11: Đến Abu Dhabi vào hồi 2 giờ 50 phút sáng, chuyển sang chuyến bay tuyến Amman – Roma. Tại Roma, tổ hành động đăng ký một khách sạn và trong vài ngày lại thủ vai du khách Nhật.
* Ngày 1-11: Khởi hành từ Roma sang Vienna. Tổ hành động cự ngụ nhiều ngày một cách bí mật tại tòa đại sứ Bắc Triều Tiên, rồi theo hướng dẫn của bộ phận địa phương, sẽ trở về Bình Nhưỡng.
Sau khi đã học thuộc lộ trình, tôi chuyển sang học cách đặt giờ cho trái bom nổ chậm.
Chỉ dẫn đặt nổ (loại đài Panasonic loại RF-082):
* Cách đặt giờ trái bom nổ chậm để bom nổ sau đó 9 giờ:
1. Hãy xoay 4 nút ở dưới đáy chiếc đồng hồ kỹ thuật số, ở bên phải quả bom – đài.
2. Hãy xoay nút báo động về giữa từ Radio để bom nổ 9 tiếng sau khi được đặt giờ.
* Đặt giờ để bom nổ sau một khoảng thời gian nhất định khác:
1. Làm theo như điểm 1.
2. Chỉnh thời gian chính xác bằng cách bấm 3 nút ở dưới chiếc đồng hồ kỹ thuật số.
3. Bấm nút Màn hình ở phía bên phải đồng hồ kỹ thuật số.
4. Chỉnh thời điểm muốn cho bom nổ bằng cách bấm 3 nút nằm ở phía bên phải.
5. Làm theo điểm 2 ở phần trên.
Trên máy bay, có cả một điệp viên của cơ quan tình báo ngoại quốc; giữa đường, ông này đã gọi tôi và Song Ir lên đầu khoang ông ta ngồi để bàn bạc thêm một lần nữa về những chi tiết của “phi vụ” này. Chúng tôi đi máy bay riêng, hầu như trống rỗng, và sau khoang dành cho phi công có một phòng để trò chuyện, được bày biện thoải mái, có quán bar và đầu máy video.
Tên điệp viên đó là Chhon. Ông ta trạc năm mươi, béo lùn phục phịch, mái đầu bạc và hói và gương mặt khá tức cười, như thể lúc nào cũng mủm mỉm. Thoạt tiên, chúng tôi nhắc lại lộ trình mà trước đó mấy phút tôi đã nghiền ngẫm lại. Nhưng sau đó, ông ta nói thêm về một số chuyện đáng lo ngại mà đến nay vẫn chưa ai đả động tới.
– Chính phủ hoàn toàn tin tưởng vào các đồng chí – Chhon nói. – Tuy nhiên, không thể hoàn toàn loại trừ khả năng thất bại, cho dù khả năng này nhỏ đến mức nào đi nữa. – Ông ta rút ra 2 bao Marlboro rồi đưa cho Song Ir và tôi. – Các đồng chí sẽ thấy, trong hai bao thuốc là sẽ có 2 điếu được đánh dấu bằng mực đen. Ở phần lọc của hai điếu đó, được tẩm một loại chất độc lỏng. Nếu các đồng chí cắn vỡ điếu thuốc, chất này sẽ biến thành hơi và lập tức lùa vào tuần hoàn máu của các đồng chí. Hầu như các đồng chí sẽ chết tức khắc! – Ôn ta liếc nhìn tôi và tất cả những chuyện này có vẻ như một trò đùa. – Nếu bất cứ ai trong hai đồng chí bị bắt, lập tức phải cắn điếu thuốc độc này, trước khi bị hỏi cung. Bằng mọi giá, các đồng chí phải giữ bí mật nhiệm vụ này. Các đồng chí hiểu không?

Tôi cảm thấy lòng dạ bị khuấy đảo khi liếc nhìn điếu thuốc được giơ ra, chứa trong mình cái chết đột ngột. Kim Song Ir gật đầu, và điệp viên Chhon tiếp tục thông báo.
– Các đồng chí sẽ nhận 10 ngàn USD để trang trải mọi chi phí. Các đồng chí phải tiêu xài một cách sáng suốt. Nữ đồng chí Okhva, tôi giao cho đồng chí nhiệm vụ chỉ đạo phần tài chính của nhiệm vụ này. Đồng chí hãy cất giữ tiền ở nơi đảm bảo và khi nào cần, hãy đổi ra các loại ngoại tệ khác. – Thò tay vào túi, ông ta rút ra một tập tiền toàn 100 USD dày cộp. Tôi thận trọng cầm lấy xấp tiền và cho vào túi xắc.
– Cuối cùng – Chhon nói – Okhva, đồng chí còn có nhiệm vụ kiểm tra xem đồng chí Kim Song Ir có uống thuốc chưa. – Lúc đó, ông ta mới nở nụ cười thực sự và quay sang nhìn người chiến sĩ lão thành. – Tôi biết, đồng chí ngán vị thuốc lắm, Song Ir ạ, nên tôi không hề tin tưởng vào đồng chí. Mà chúng tôi thì cần đến sức khỏe của đồng chí.
Kim cười, nhún vai. Ông quay về phía tôi.
– Okhva, cô để chúng tôi trao đổi riêng một phút nhé?
– Vâng, tất nhiên – tôi đáp. Tôi đứng lên và trở về chỗ của mình. Trong phòng, tôi nghe thấy hai người tranh luận to tiếng. Nếu tôi hiểu đúng, Song Ir chê lộ trình.
– Ngu xuẩn! – ông nói to. – Chúng tôi sẽ lọt vào giữa vùng chiến địa chó chết. Iran và Iraq vẫn đang tuyên chiến với nhau, không sao đem bom vào phi trường Baghdad được. Nếu có gì xảy ra, chẳng những tôi và Okhva gặp nguy hiểm. Cả dân tộc sẽ trở thành trò cười! Đồng chí không hiểu hay sao?
– Đồng chí ạ – Chhon vạc lại -, tôi được nhận lệnh như thế. Nếu đồng chí muốn kêu ca gì, hãy gặp giám đốc mà kêu.
– Nhảm nhí! – Kim lẩm nhẩm trong họng. – Tôi đã bảo ngay từ lúc ở Trung tâm. Bây giờ thì chịu rồi. – Một phút sau, ông trở về chỗ ngồi. Trước khi chúng tôi lên đường, Kim bị mổ dạ dày; người ta đồn là ông bị ung thư. Khuôn mặt ông trong nhợt nhạt và ốm yếu, dáng đi của ông cũng hơi loạng choạng. Ông tiến đến nhà tắm ở cuối máy bay rồi đóng sầm cửa lại.
Khi ấy, đồng chí Chhon đến chỗ tôi, ngồi xuống bên tôi và nói nhỏ:
– Trong chuyến đi này, nhiệm vụ quan trọng nhất của đồng chí là chăm sóc sức khỏe cho Kim Song Ir. Nếu có gì xảy ra với đồng chí ấy, đồng chí phải thay thế để tiếp tục nhiệm vụ.
– Song Ir đứng còn không vững nữa là… – tôi thì thầm.
– Một phần, là vì đồng chí ấy đang phải điều trị – Chhon giải thích. – Đồng chí Kim có lẽ sẽ còn sống được nhiều năm nữa, có điều nhiệm vụ này đã khiến đồng chí ấy mệt mỏi. Và vì thế, sức khỏe đồng chí ấy suy sụp. Hãy chăm sóc đồng chí ấy, Okhva ạ. Đồng chí ấy sẽ cần đến cô…
Tôi gật đầu.
– Đồng chí chớ lo, tôi sẽ giải quyết được. – Tôi nói một cách quả quyết hơn nhiều, so với sự tự tin mà tôi có trong mình.
Ông nhìn tôi một lượt, trước khi đứng dậy, cơ mặt giật giật và trở lại phòng trò chuyện. Vài phút sau, Kim cũng về chỗ, mặt mũi nhợt nhạt hơn bao giờ hết và ngồi xuống chiếc ghế đầu của hàng hai.
– Bọn chết tiệt! – ông lẩm nhẩm rồi nhắm mắt và ngả đầu ra ghế dựa.
Tôi cố gắng ngủ nhưng không sao chợp mắt được. Càng ngày, tôi lại càng nhớ lại những giây khắc trước giờ khởi hành, tại Bình Nhưỡng, khi tôi và Kim thực hiện lời tuyên thệ trung thành bắt buộc trong những dịp như vậy.
Cả dân tộc ta được bao trùm bởi đỉnh cao trí tuệ của chủ nghĩa xã hội. Tại Nam Triều Tiên, bất cứ lúc nào, có thể nổ ra cuộc cách mạng XHCN, kẻ thù của chúng ta đang sống những giờ tận thế. Nhận nhiệm vụ này, chúng tôi xin thề:
Trong khi làm nhiệm vụ, không một phút nào chúng tôi dám quên niềm tin của đảng dành cho chúng tôi, sự quan tâm của đảng với chúng tôi. Chúng tôi xin thề sẽ tuân thủ những quy luật của cách mạng, và toàn tâm toàn ý cùng nhau thực hiện mục tiêu của chuyến đi này.
Dù phải hy sinh, chúng tôi cũng nguyện bảo vệ sự bất khả xâm phạm của Lãnh tụ Kính yêu.
Kim và tôi phải đọc to lời thề này, và còn phải ký vào văn bản.

Tôi mở mắt và liếc sang Kim. Dường như ông đang ngủ, thở qua miệng, tiếng thở khá to. Đột ngột, tôi cảm thấy thương ông vô cùng, tôi muốn phải xoa gương mặt ông.
Kim Song Ir là cha của bảy đứa con. Con gái trẻ nhất của ông cũng đã 30 tuổi, đã có chồng. Từ năm 1984, Song Ir đã về hưu và chấm dứt hoạt động tại cơ quan tình báo đối ngoại, nhưng đầu năm nay người ta lại đề nghị ông làm tiếp. Những năm gần đây, ông bị căn bệnh sỏi mật hành hạ, nhưng trong chuyến đi đầu tiên của chúng tôi năm 1984, ông còn tương đối khỏe. Vài ngày nay, ông hay kể về những ngày về hưu, ông làm gì, và câu cá mỗi sáng ở ao chứa nước gần nhà như thế nào. Tôi biết rằng ông cũng hạnh phúc đến mức nào nếu qua được chuyến đi này, hệt như tôi.
Rồi tôi lại chợt nhớ đến hôm tôi rời trại ra đi. Tôi phải thu xếp đồ đạc rất nhanh, hầu như chả còn thời gian để chào hỏi. Tôi chúc Sukhi nhiều may mắn với hy vọng sẽ còn được thấy nhau, rồi đi tìm Vulchi. Bà nấu bếp ra phòng khách và thoạt tiên, bà ôm chầm Song Ir, tình cảm.
– Ông à, cố gắng bảo trọng mà về nhé! – bà nói, mắt đẫm lệ. Rồi bà quay sang tôi, nhìn tôi thật lâu. Cuối cùng bà nói: – Okhva, hãy sống hạnh phúc cháu nhé. Bác sẽ rất nhớ cháu!
Câu nói ấy hơi khiến tôi sợ hãi.
– Nhưng có phải cháu đi mãi không về đâu bác?
Bà nắm tay tôi, đưa tôi vào bếp sau khi đã bảo đám đàn ông hãy chờ đợi. Khi chỉ còn hai bác cháu, bà ôm ghì tôi:
– Okhva ạ, bác nghĩ rằng nếu cháu không đẹp thế này, đời cháu sẽ dễ chịu hơn. Có điều, cháu vừa đẹp, vừa thông minh nên làm sao họ bỏ qua cho cháu được! Nhưng bác hy vọng rằng, sẽ có ngày người ta cho phép cháu đi lấy chồng và được sống yên lành. – Bà thả tôi ra và nhìn vào mắt tôi. – Bác cháu mình sẽ không còn bao giờ gặp nhau nữa. Chúc cháu may mắn!
Khi ấy tôi cũng rơm rớm nước mắt, không nói được lời nào, cứ thế tôi đứng im lặng cho đến khi đi ra. Tôi biết, nếu còn ở lại dù chỉ một phút, tôi sẽ không còn chút tự chủ nào.
Những suy nghĩ lại đưa tôi về hiện tại, tôi thở dài thật to. Những năm tháng qua, tôi đã quen bao người tuyệt vời. Điều này càng thúc giục tôi phải thực hiện thật tốt nhiệm vụ được giao. Tôi hy vọng sẽ đủ khả năng để thỏa mãn sự mong đợi của các đồng chí. Dường như cả cuộc đời tôi, từ giây phút chào đời đến phút ấy, chỉ còn phụ thuộc vào thành công của nhiệm vụ này…
*
Vài ngày sau đó trôi đi thật chậm chạm đến mức não lòng. Đâu đó trong lãnh thổ Liên Xô, giữa đêm, chúng tôi dừng lại để tiếp nhiên liệu. Tuyết phủ trắng đường xá, chỉ vài ngọn đèn của thành phố nhỏ lập lòe về phía chúng tôi khiến tất cả nơi này càng trở nên hoang vu. Rồi chúng tôi đi tiếp đến Moscow, tại đó chúng tôi chỉ ở lại một ngày phiền muộn duy nhất trước khi đi tiếp sang Budapest.
Cũng như Moscow, Budapest đang trong tiết giữa đông. Chúng tôi đến vào đêm khuya, hóa ra không ai tại tòa đại sứ ở đó biết đến chúng tôi. Rõ ràng là nhiệm vụ của chúng tôi bí mật đến mức chỉ rất ít người được biết tới nó. Kim gọi điện đến tòa đại sứ, ông nói mật khẩu và được trò chuyện với một điệp viên. Nửa giờ sau, một người lái xe đến từ tòa đại sứ, ông ta có nhiệm vụ đưa chúng tôi đến một nơi an toàn mà chúng tôi sẽ ở đó trong vài ngày sau đó. Tuy nhiên, ít phút sau, ông tài xế thú nhận rằng ông là “lính mới” và không mấy thạo phố xá Budapest. Tuyết rơi vần vũ, chúng tôi thì mò mẫm nhiều giờ trong những phố xá vắng vẻ cho đến khi tìm được ngôi nhà an toàn. Lúc ấy đã là 3 giờ đêm. Kim và tôi lập tức lăn ra ngủ.
Vài ngày ở Budapest nhàm chán đến mức không thể chịu nổi. Kim Song Ir yếu và mệt đến mức hầu như ông không đi đâu nổi, và vì khi ấy chúng tôi chưa phải nhập vai du khách, chúng tôi chả có việc gì hay ho phải làm. Đôi lúc tôi đi dạo ở gần nhà để cảm thấy bầu không khí của một thành phố mới, nhưng thời tiết quá khắc nghiệt và bất giác, sự rã rời lại ngự trị tôi. Vô tuyến cũng không làm tôi vui lên, tôi chả hiểu chút gì tiếng Hung cả.
Điệp viên có nhiệm vụ lo cho chúng tôi tại Budapest là một người đàn ông trung niên, tên là Chang. Vợ ông là một phụ nữ tuyệt vời, bà hay nấu cho chúng tôi những món ăn Tây là lạ. Tôi trò chuyện nhiều với bà, có điều chúng tôi phải giữ bí mật nên chúng tôi chỉ có thể “tám” được về những chuyện hời hợt.

Vấn đề lớn nhất mà chúng tôi phải giải quyết là làm sao nhập cảnh nước Áo mà không có thị thực. Phải làm sao thực hiện được điều đó mà không để ai phát hiện ra, nhưng đến khi đó vẫn không ai bảo chúng tôi biết họ hình dung thế nào. Các “sếp” của chúng tôi ở Bình Nhưỡng không hề đưa ra một chỉ thị nào liên quan đến nhiệm vụ này, điệp viên đặc biệt Chang có bổn phận phải xoay sở bằng một giải pháp nào đó.
Trước ngày chúng tôi khởi hành một buổi, Chang rời ngôi nhà chúng tôi ở từ sớm để “tìm hiểu tình hình”. Kim đã cảm thấy đỡ ốm, ông đề xuất rằng chúng tôi hãy nhìn ngó một chút thành phố và Liau, bà vợ của Chang, cũng đi cùng chúng tôi. Cứ gặp bất cứ tiệm cà phê nào trên đường đi, Kim lại dừng chân và bảo ông khát. Thất vọng, tôi nhận xét rằng, một phần, lẽ ra ông có thể đem theo một bình nước, phần khác, ai đã bị đau dạ dày như ông lẽ ra không được phép uống cà phê.
– Nghe đây cô! – ông giận dữ bảo tôi. – Tôi sống quá đủ rồi. Hãy để tôi muốn uống gì thì uống, nếu đằng nào cũng phải chết.
Nhưng rồi chẳng mấy chốc, Kim đã mệt và chúng tôi lại phải về nhà. Chang cũng trở lại và ông đắc thắng thông báo rằng ông đã nghĩ ra cách để chúng tôi sang Áo.
– Nhưng để đến mai đã, rảnh mà – ông nói thêm. – Tối nay chúng ta ăn cơm Tây tại Khách sạn Hilton.
Trên đường đi ăn bữa tối, tôi có dịp ngắm cảnh Budapest nhiều hơn. Mặc dù trong nhiều năm ròng, Hungary là một nước cộng sản, song trong những năm qua, nhờ kết quả của quá trình cải tổ (perestroika), trong một chừng mực nhất định, nước này đã chuyển sang nền kinh tế thị trường. Hungary có nhiều đồ ăn thức uống, quần áo và các loại hàng sang trọng hơn hẳn Bắc Triều Tiên và tôi đã trải qua một trong những khoảnh khắc sững sờ nhất trong đời khi tôi đến chợ trời ở đây. Tôi kinh ngạc theo đúng nghĩa của từ này khi thấy có biết bao hàng hóa ở đó và, từng thứ một, tôi lần lượt sờ nắn chỉ để có cảm giác khoái trá là được đụng chạm đến chúng. Có lẽ Kim cảm thấy điều gì đang diễn ra trong tôi vì ông mua cho tôi một bộ quần áo, còn tôi thì nghĩ thầm trong lòng, giá tôi gửi được quần áo cho mẹ và Hyonok. Hẳn là Liau đọc được suy nghĩ của tôi, bà bảo bà mua thêm một bộ đồ nữa và sẽ gửi cả hai bộ về Bình Nhưỡng. Tôi nhảy lên ôm chầm lấy cổ bà vì vui sướng, và trong tôi nảy ra ý nghĩ, khi nào mới đến lúc mức sống ở Bắc Triều Tiên cao được như thế!
Bữa tối thật là vương giả, những món ngon và hảo hạng như thế ngay cả những cán bộ cao cấp nhất ở Bắc Triều Tiên cũng chưa bao giờ được ăn và đến khi đó, tôi đã thấy thích chuyến đi như trong cuộc hành trình đầu tới Châu Âu lần trước.
Ngày hôm sau, trời lạnh lẽo và mưa dầm. Chang giải thích rằng ông sẽ đưa chúng tôi sang Áo bằng xe hơi biển số ngoại giao, với hộ chiếu ngoại giao. Như thế, chúng tôi rất có khả năng qua biên giới mà không gặp bất cứ một phiền hà gì.
Chúng tôi đi ngang miền quê đến biên giới và dừng xe ở điểm kiểm tra của Hung. Chang đưa cho người lính biên phòng 3 cuốn hộ chiếu, trong số đó cuốn của ông ta ở trên cùng, và người lính khoát tay cho chúng tôi đi tiếp. Vài phút sau, chúng tôi dừng ở nơi có toán biên phòng Áo rồi chờ đợi thêm mấy phút nữa để vào hẳn lãnh thổ Áo.
Tôi cảm thấy nhẹ nhõm hẳn trong lòng. Chang trao cho chúng tôi hai cuốn hộ chiếu Nhật để từ phút đó chúng tôi phải dùng. Giữa đường, tôi ngắm nghía những tòa nhà xây theo kiểu Tây, có vẻ to và bền vững hơn nhiều so với nhà của Triều Tiên. Phong cảnh thật tuyệt vời, ở lần đi trước, tôi cũng đã bị vẻ đẹp của vùng Alples hớp hồn.
Tại Vienna, chúng tôi tới một công ty du lịch: Kim muốn kiểm tra phòng chúng tôi đã đặt ở Khách sạn Ampak. Kim đã vào được hơn nửa giờ, Chang và tôi bắt đầu lo lắng. Chẳng lẽ Kim bị lử trong đó? Hay ông ấy bị bắt rồi? Chang đã muốn vào kiếm Kim khi chúng tôi thấy Kim đình huỳnh bước ra và đủng đỉnh ngồi vào xe. Không hề buông lời giải thích, ông chỉ thị ngắn gọn cho Chang đưa chúng tôi về khách sạn.
Khi chúng tôi làm xong các thủ tục đăng ký, Song Ir gần như đứng không vững. Vừa lên đến phòng, ông lăn ra giường và một giây sau, đã ngủ vùi. Tôi bỏ hành lý ra và xem những tờ bưu thiếp mang đi từ Bình Nhưỡng. Kim còn ngủ thêm một giờ nữa và khi tỉnh dậy, ông còn thời gian nhận vé.

Đây là biến cố quan trọng nhất trong cả quãng thời gian chúng tôi ở Vienna. Một nhân viên của bộ phận tình báo đối ngoại đã đặt vé cho chúng tôi từ trước và trong ngày, chúng tôi còn phải gặp một điệp viên hoạt động tại địa phương.
Chúng tôi giương ô đi dưới trời mưa tuyết. Không xa, chúng tôi đã tìm thấy một bốt điện thoại; Kim móc túi tìm danh bạ điện thoại. Trước khi đi, Chang đã trao cho chúng tôi một danh sách gồm các số điện thoại “an toàn” mà chúng tôi có thể gọi được các nhân viên bộ phận tình báo đối ngoại ở mọi nơi. Kim gọi số máy đặc biệt của tòa đại sứ Bắc Triều Tiên ở Vienna, ông nói ngắn gọn rồi đặt máy.
– Nửa tiếng nữa – ông cho biết khi đã ra khỏi bốt điện thoại. – Ông chỉ sang một công viên ở phía bên kia đường. – Giữa công viên này có một con suốt chảy dọc. Chúng ta phải ngồi đợi điệp viên địa phương tại chiếc ghế gần cây cầu nhất.
Chúng tôi sang đường và đi dạo vào công viên. Lá cây đã rụng hết từ lâu, trong công viên chẳng có một bóng người. Nhanh chóng, chúng tôi nhận ra con suối và dọc theo nó, chúng tôi cứ đi đến khi tìm thấy chiếc cầu đá nhỏ vắt qua suối. Gần đó, có một chiếc ghế. Chúng tôi ngồi xuống và chờ đợi trong cái lạnh ẩm ướt.
Hai mươi phút sau, một phụ nữ ăn vận sang trọng, đội mũ rộng vành đi qua cầu và tiến đến chỗ chúng tôi. Khi bà đến gần, tôi nhận ra đó là một người Cao Ly. Không dừng chân, bà đi ngang chúng tôi nhưng khi đến cạnh chúng tôi, tôi nghe bà nói từ Nakayama. Song Ir không nhìn người phụ nữ, chỉ nhắc lại mật khẩu. Người phụ nữ đi tiếp, nhưng giữa đường bà ném cái gì đó vào sọt rác ở gần đó. Chẳng mấy chốc, bà đã biến khỏi tầm mắt của chúng tôi.
Kim còn chờ vài phút rồi bảo chúng tôi có thể đi. Cũng trên con đường mòn mà người phụ nữ đã đi, chúng tôi lần bước và khi đến cạnh sọt rác, Kim nhanh nhẹn nhìn quanh, đột ngột thò tay vào sọt và lấy ra một phong bì to màu nâu. Chúng tôi đi tiếp, rồi Kim mở phong bì và ngó vào.
– Tuyệt hảo! – ông nói. – Có lẽ chúng ta vẫn thoát nạn nhỉ?

Trong mấy ngày sau đó, chúng tôi đi thăm thú Vienna. Đi đến đâu, chúng tôi cũng chụp ảnh như những du khách thứ thiệt. Và điều này không chỉ quan trọng vì chúng tôi cần giả hiệu khách du lịch, mà còn vì, khi về lại Bình Nhưỡng, chúng tôi phải đệ trình cho các “sếp” để họ tin rằng chúng tôi đã tuân thủ chính xác các mệnh lệnh, không bỏ phí thời gian trong các cửa hiệu xa hoa và không bị sa vào lưới đồi bại của tư bản.
Một chiều, chúng tôi ăn tại tiệm Tàu và tôi mừng vì rốt cục, đã không phải ăn đồ Tây. Không phải tôi không thích các món châu Âu, nhưng cả tuần chúng tôi chỉ ăn đồ Tây và lúc đó, tôi khoái vì được ăn cái gì đó thân thuộc.
Giữa bữa trưa, Kim chợt ôm dạ dày và chỉ thiếu chút nữa là ông lăn quay khỏi ghế.
– Mayumi – ông nói, vì trong cuộc hành trình chúng tôi không được dùng tên Cao Ly -, tôi không đi được rồi.
Tôi đi vòng qua bàn để đỡ ông.
– Shinichi, phải cố bác ạ, bác cũng biết là chúng ta không thể gọi cấp cứu được mà.
Tôi giúp ông đứng dậy. Sau khi trả tiền, tôi đưa Kim về lại khách sạn. Gần như tôi phải vác cả sức nặng của ông, ông hổn hển thì thiếu dưỡng khí. Tôi sợ ông có thể chết ngay tại đó, nhưng rồi khi về đến khách sạn, ông bảo đã đỡ hơn rồi.
Kim tự lê chân đi ngang căn tiền sảnh vì không muốn hướng sự chú ý của bất cứ ai về chúng tôi. Khi đến phòng, ông lăn ngay ra giường. Tôi lấy thuốc và buộc ông phải uống. Chẳng mấy chốc, ông đã ngủ vùi. Còn tôi thì cảm thấy nhẹ nhõm biết bao!
Buổi chiều, tôi xem TV của Áo và giữa chừng ngủ gà ngủ gật. Đến tối, Song Ir bừng tỉnh và đủ sức để đi ăn một bữa tối nhẹ. Sau bữa tối, chúng tôi thực tập trong phòng với trái bom giả.
Ngày cuối cùng ở Vienna, chúng tôi đi mua sắm. Theo thông lệ thì chúng tôi phải mua quà cho các quan chức cấp cao trong chính phủ để khi về còn có cái tặng họ. Kim và tôi có thể tiêu 200 USD cho mỗi người, nhưng chẳng mấy chốc chúng tôi nhận ra là ở Vienna với ngần ấy tiền chả mua được gì mấy! Chúng tôi đi từ cửa hiệu này sang hiệu khác và giữa những phụ nữ châu Âu ăn vận sang trọng áo lông chồn, chúng tôi mới thấy hổ thẹn xiết bao: nhập vai những du khách Nhật giàu có mà như thế, bởi lẽ khách du lịch Nhật trong thực tế phải giàu có ít như là châu Âu chứ? Đa số quần áo đều to với tôi và rốt cục, chúng tôi chỉ mua vài thứ nho nhỏ vô giá trị: pin cho đồng hồ của Song Ir và 5 đôi tất chân cho tôi.
Tôi không buồn khi phải rời Vienna. Đó là một thành phố tuyệt vời, nhưng chúng tôi không có việc gì ở đấy. Chỉ chờ cho qua thời gian và vì chúng tôi đến từ một xứ sở XHCN, thú vị là chúng tôi cảm thấy lạ lùng khi ở lâu như thế tại Tây Âu.

Belgrade thì hứa hẹn những điều khác. Cho dù Nam Tư đã xa rời các quốc gia trong khối Xô-viết, nhưng xứ này vẫn là nước XHCN và mọi người bảo rằng nam Tư phát triển hơn nhiều so với Bắc Triều Tiên. (Mà dĩ nhiên, cứ nói đến nước nào thì tôi lại được nghe là phát triển hơn nhiều so với Bắc Triều Tiên).
Tôi hơi lo vì chúng tôi đến một nước XHCN mà lại dùng hộ chiếu Nhật, tôi sợ sẽ bị để ý hơn. Bởi lẽ, một nhà nghiên cứu thuộc cơ quan tình báo đối ngoại ở Bình Nhưỡng nhận định, ở Belgrade có du khách Nhật nhưng con số này rất nhỏ. Ngay cả thượng cấp của chúng tôi cũng thừa nhận rằng chặng này của cuộc hành trình chúng tôi có thể sẽ gặp khó khăn.
Nỗi sợ hãi của tôi chỉ càng tăng khi trên chiếc máy bay đến Belgrade, chỉ có hai chúng tôi là “Nhật”. Ở Vienna, chúng tôi phải tránh gặp dân châu Á, còn ở đây sự hiện diện của chúng tôi quả là rất lộ liễu. Tôi cũng nhắc điều này cho Song Ir, và ông thì tuyên bố rằng kế hoạch trong chuyến đi này là sai bét từ đầu chí cuối (không phải lần đầu ông nói thế).
Tuy nhiên, chúng tôi đến Belgrade mà không gặp vấn đề gì và tại phi trường, hàng tá taxi còn tranh giành để chở chúng tôi đi. Trên đường đi xe về Khách sạn Intercontinental, cảm tưởng đầu tiên của tôi về Belgarde là đô thị này bẩn thỉu, xấu xí, và chán chường hơn nhiều so với Vienna. Thời tiết thì xấu, thành phố khá hỗn loạn và đối với tôi, cảnh tượng và các tòa nhà ở đây không có gì là thú vị cả.
Thời gian ở Belgrade còn buồn tẻ hơn khi ở Vienna. Kim ốm yếu, nhưng hàng ngày vẫn ra đường được vài tiếng. Một bận chúng tôi vào một cửa hàng và Kim thử mũ đến gần một tiếng. Giữa chừng, tôi sang chỗ bán đồ lót, tại đó, tôi ngạc nhiên vì những mặt hàng mang tính thách thức, lãng mạn và… nóng hổi vì tính dục! Tôi hai mươi lăm tuổi, còn trinh bạch và không có vẻ gì là sẽ được lấy chồng nhanh chóng (nếu không muốn nói là chả hiểu tôi có được làm điều đó hay không).
Tính dục là một vấn đề bí hiểm đối với tôi. Cả tôi, cả những người phụ nữ mà tôi được biết tới trong đời, chúng tôi đều biết là tồn tại sự hấp dẫn tính dục giữa đàn ông và đàn bàn; có điều, từ thuở nhỏ, tôi đã được dạy là không thể có tính dục ngoài hôn nhân. Trong trường học, nam và nữ cũng bị tách riêng. Nếu một cặp nam nữ lấy nhau, tính dục chỉ được phép khi cần duy trì nòi giống, vì ngoài ra thì xã hội XHCN của chúng tôi thấy tình yêu không có ích lợi gì khác. Xã hội Bắc Triều Tiên vô cùng xa lạ với cảm xúc, phần nào tôi cũng chịu ảnh hưởng về điều này. Nhưng tức cười là thượng cấp muốn các nữ điệp viên chúng tôi phải quyến rũ đàn ông và phải “chài” họ khi thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, dù được dạy dỗ như thế, tôi vẫn hiểu về những khả năng tính dục giữa hai giới tính, đôi lúc tôi bị cảm giác ham muốn xâm chiếm, lúc khác thì lại thấy rất cô đơn.
Tôi mua vài đồ lót thêu ren, những thứ không thể mua được ở Bắc Triều Tiên, rồi đi tìm Kim Song Ir. Chả thấy ông đâu cả. Khi đang len lỏi giữa những giá treo quần áo, một lão già dở người nào đó nhào vào tôi và gào lên những từ ngữ thô tục (ít nhất là tôi nghĩ như vậy); lão còn giơ ô quật tôi. Tôi hoảng hốt vì tự nhiên lại bị lão già hướng sự chú ý của mọi người vào mình và lập tức, như một phản xạ, tôi áp dụng những gì đã được học. Bắt lấy tay đang cầm ô của lão già, tôi lên gối vào bụng dưới của lão. Đồng thời, tôi bẻ quặt tay lão và đè xuống đất. Ngay lập tức, tôi quỳ bên lão, giơ tay định nện cho lão một quyền, nhưng rồi thấy lão co rúm người lại ôm bụng nên tôi thôi. May mà chúng tôi bị đống quần áo phủ kín, không ai thấy chúng tôi cả. Tôi nhặt túi xách và lẩn khỏi cửa hàng. Tôi cũng không hề đoán được là Kim ở đâu.
Trong khi gần như tháo chạy về khách sạn, tôi tuyệt vọng nghĩ, bất cứ điều gì cũng đã có thể xảy ra đối với Kim. Ông có thể bị lên cơn đau tim, bị bắt giữ – hoặc có thể đơn thuần ông đã bỏ mặc tôi! Tôi giận dữ và cáu kỉnh, tôi hoảng sợ với suy nghĩ phải tiếp tục nhiệm vụ một mình.
Về đến phòng, tôi đã thấy Kim ở đó, ông đang bỏ thực phẩm ra. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm đi rất nhiều, nhưng niềm vui của tôi lập tức biên thành nỗi bực tức.
– Bác biến đâu vậy? – tôi gào lên với ông và quẳng túi đồ lỉnh kỉnh xuống giường. – Cháu tìm bác ở mọi nơi! Sao bác lại bỏ cháu một mình ở đó?!
Dễ thấy là Kim khoái trá khi thấy tôi cáu giận và để trả lời, ông chỉ xuống bàn.
– Tôi mua xúc xích và bánh mỳ mà. Mình ăn đi, khi còn nóng.
Tôi càng bực bội. Đã bỏ mặc tôi, Kim còn không thèm để ý là tôi đang nổi cơn lôi đình, điều này khiến tôi thêm cáu kỉnh. Nhưng ông vẫn mỉm cười và giơ tay.
– Mayumi, tôi cũng đi tìm cô mà. Khi đã mua xong mũ rồi, tôi có thấy cô đâu? Tôi tin rằng cô đủ thông minh để trở về khách sạn. Rồi tôi cũng về đây. Giữa đường, thấy họ bán xúc xích, tôi mua… nhưng nó nguội mất rồi khi chúng ta cứ đôi co thế này. – Ông đưa tôi miếng bánh mỳ. Tôi cầm lấy và nhét ngay vào miệng. Kim vui vẻ nhìn tôi phá lên cười. Đùa ông, tôi phóng một cước về phía mặt ông; dù đã có tuổi, Kim vẫn kịp lùi ngay về sau và xuống tấn.
– Hâm thế không biết! – miệng đầy thức ăn, tôi lẩm nhẩm rồi vừa nhá miếng bánh mỳ, tôi cũng vừa bật cười. – Cháu đã lo cho bác quá!
*
Ở Belgrade, chúng tôi tiêu thời gian bằng cách chuẩn bị cho chuyến đi Baghdad. Hàng ngàn lần, chúng tôi luyện đặt giờ trên trái bom giả và khi lên đường, trong mơ tôi cũng có thể làm được điều đó. Ngày xuất hành, chúng tôi xếp hành lý cẩn thận và kiểm tra hai lần xem có để lại dấu vết gì khiến người ta có thể mò ra chúng tôi hay không.
– Mayumi ạ, phải làm như thế! – Song Ir nói khi ông đóng cánh cửa sau lưng chúng tôi và hai người đi về phía thang máy. – Chiến dịch bắt đầu rồi đó!



The Tears of My Soul 

1993 by Kim Huyn Hee

Post by Sơn râu 20 May 2024

Chương 8
Chiếc xe Mercedes phóng nhẹ nhàng trên đường phố vắng vẻ ở Bình Nhưỡng. Mưa vẫn rơi lộp độp như tiếng trống nho nhỏ trên nóc xe. Đường phố không có một bóng người, thành phố còn trong giấc ngủ.
Chúng tôi hầu như không trò chuyện gì. Chang ngồi phía trên cùng ông tài-xế, đó là một người đàn ông mập lùn, vạm vỡ, cặp mắt ti hí vẻ từng trải, nét mặt như thể lúc nào cũng ủ rũ. Tôi ngồi sau với Kim Song Ir, ông dán mắt vào cửa xe, chìm đắm vào những suy tư.
Cuối cùng, chúng tôi vào chỗ đậu xe ngầm dưới đất của trung tâm tình báo ngoại quốc. Tòa nhà này không có gì khác những tòa cạnh nó, nhưng khi đặt chân vào đây chúng tôi phải qua một sân nhỏ có gắn camera an ninh, rồi cùng hai lính gác vũ trang vào cửa chính.
Tuy nhiên, trong buổi tối hôm ấy, chúng tôi lên tầng ngay từ chỗ đậu xe. Trong tòa nhà, tuy đã muộn mà vẫn đông nghịt người. Tình báo là công việc đòi hỏi làm suốt ngày đêm. Chang đưa chúng tôi đến thang máy, ông ta bấm nút số 6 và chúng tôi chờ đợi để lên đến nơi.
– Đồng chí sẽ gặp một nhân vật rất quan trọng – Chang nói trong khi ông ta nhìn tín hiệu các tầng trong thang máy. – Đồng chí Kim đã gặp ông ấy nhiều lần rồi, nhưng đồng chí thì đây là lần đầu. Hy vọng đồng chí sẽ khiến ông ấy hài lòng.
– Vâng, thưa đồng chí – tôi đáp. Lúc đó tôi đã rất sốt ruột vì nhiệm vụ mới.
Đến tầng 6, chúng tôi ra khỏi thang máy. Chang dẫn chúng tôi đến một tiền sảnh quét vôi trắng, không có gì đặc biệt, tại đó có một lính gác ngồi bên chiếc bàn làm việc. Sau bàn là một cánh cửa đóng. Khi chúng tôi đến, người lính đứng dậy và Chang cho anh ta xem giấy tờ. Người lính gật đầu và mở cánh cửa.
Chúng tôi bước vào một văn phòng rộng rãi, một đầu có bàn làm việc, đầu kia là bàn uống cà phê. Căn phòng không có cửa sổ và chìm trong ánh đèn nê-ông lạnh lẽo như thể là một phòng thí nghiệm gì đó. Một người đàn ông trung niên, cao ráo tiếp chúng tôi, ông ta cử động nhanh nhẹn như mèo khiến tôi nghĩ rằng hẳn đã có nhiều năm trong nghề.
– Okhva, Song Ir – Chang giới thiệu -, đây là đồng chí giám đốc. Các đồng chí có mặt tại đây theo chỉ thị của giám đốc.
Tôi cúi đầu chào. Ông giám đốc nói vài câu với Song Ir, hẳn là họ đã quen nhau từ lâu, rồi ông mời chúng tôi ngồi bên chiếc bàn uống cà phê. Nhưng Chang thì đi về phía cửa.
– Chúc các đồng chính thành công! – ông ta nói. – Đây là một nhiệm vụ tuyệt mật, tôi không có phận sự được biết. Vậy xin chào các đồng chí. – Rồi ông ta đi.
Chúng tôi ngồi xuống bàn. Ông giám đốc nhẹ nhàng và chầm chậm rút ra một bao thuốc lá rồi mời Song Ir và tôi. Song Ir nhận một điếu, còn tôi từ chối. Không bao giờ tôi hút thuốc, ngoài ra tôi hồi hộp đến mức chỉ muốn cuộc gặp mặt chấm dứt càng nhanh càng tốt.
Ông giám đốc châm thuốc cho Song Ir và cho mình, rồi thoải mái ngồi xuống.
– Các đồng chí – ông vào đề. – Đầu tiên tôi sẽ nói về cái đích cuối cùng. Nhiệm vụ của các đồng chí là làm nổ một chiếc máy bay Nam Triều Tiên. – Ông ngừng một chút để chúng tôi nắm bắt được vấn đề. Tôi nhìn ông, bụng nôn nao. – Một điều không kém phần quan trọng; chỉ thị này, không phải ai khác, ngoài Lãnh tụ Kính yêu của chúng ta, đồng chí Kim Chính Nhật đặt bút ký. Đặt bút ký. – Ông lại ngừng một chút để chúng tôi thấm nhuần tầm quan trọng của thông tin. Tôi nghe ông trong tâm trạng căng thẳng. Nếu chính đồng chí Kim Chính Nhật đặt bút ký thì quả thực, nhiệm vụ này là vô cùng quan trọng.
– Toàn bộ nhiệm vụ này quả thực là sáng kiến của Lãnh tụ Kính yêu – ông giám đốc nói tiếp. – Tôi nghĩ rằng đây là nhiệm vụ quan trọng nhất mà trước nay, lực lượng tình báo đối ngoại chúng ta được nhận. Tương lai toàn thể dân tộc ta và số phận của chúng ta phụ thuộc vào nó.
Tóm lại: các đồng chí phải tiêu diệt một chiếc máy bay Nam Triều Tiên. Ở đất nước ấy, như các đồng chí cũng biết, thời gian gần đây tương đối bất ổn. Bầu không khí chính trị biến đổi nhiều nhất kẻ từ cuộc chiến tranh độc lập dân tộc của chúng ta. Hiến pháp được sửa đổi và cuối năm sẽ có bầu cử tổng thống. Mục đích của việc tiêu hủy chiếc máy bay đó là để làm tăng sự lộn xộn và bằng hành động này, chúng ta sẽ ngăn cản việc Hán Thành tổ chức Thế vận hội. Các nước khác sẽ không mạo hiểm tính mạn các vận động viên của họ, vì họ sẽ lo ngại rằng hoặc các máy bay sẽ bị đặt bom mìn, hoặc nếu các vận động viên đã đến Hán Thành thì sẽ bị quân khủng bố tấn công tại đó.

Nhưng đây chỉ là khởi đầu. Nếu chúng ta ngăn chặn thành công Thế vận hội ở Hán Thành, nếu chúng ta làm tăng được sự hỗn loạn, chúng ta sẽ có khả năng lớn để thống nhất đất nước. Và như các đồng chí cũng biết, đây là mục tiêu lớn nhất của thế hệ chúng ta. Nếu các đồng chí thực hiện thành công nhiệm vụ này, chắc chắn các đồng chí sẽ trở thành những anh hùng của dân tộc chúng ta.

Tôi không tin vào tai mình. Trong tôi, sự cảm động và nỗi lo âu bao trùm. Tôi thực sự chấn động vì được trao một nhiệm vụ như thế.
Và phải nói thực rằng, tôi không hề nghĩ đến bất cứ vấn đề đạo đức nào, cho dù chỉ trong khoảnh khắc: rằng, có thể tôi phải giết hàng trăm người. Cho dù là đạo đức cá nhân, hay một khái niệm đạo đức rộng hơn. Phá hoại được coi như một vấn đề kỹ thuật thuần túy, là một bàn đạp hướng tới mục tiêu lớn lao là thống nhất Cao Ly. Nếu nghĩ đến thứ giáo dục mà tôi được nhận từ khi sinh thành đến khi đó, làm sao tôi có thể suy nghĩ khác: tuy nhiên, ngày nay tôi đã phải ngẫm nghĩ, nếu chúng ta hành động vô ý thức và ngu xuẩn thì điều đó có làm giảm trách nhiệm đối với những gì chúng ta đã làm?
– Bây giờ, tôi chưa cần phải thông báo kỹ lưỡng về những gì các đồng chí sẽ phải làm – ông giám đốc nói tiếp -, nhưng kế hoạch là như thế này, về căn bản. Từ Bình Nhưỡng, các đồng chí sẽ sang Moscow, từ đó đi tiếp sang Budapest, rồi Vienna; tại đó, các đồng chí lại thủ vai cha và con, như những du khách Nhật trong kỳ nghỉ ngơi. Từ Vienna, các đồng chí đi tiếp sang Beograde, ở đấy các đồng chí vẫn đóng vai khách du lịch. Như thế, trong hộ chiếu của các đồng chí sẽ có nhiều dấu nhập cảnh, đó cũng là một phần của sự trá hình.

Từ Beograde, các đồng chí sang Baghdad, máy bay khởi hành ở đó. Tại đấy, các đồng chí sẽ gặp hai điệp viên nằm vùng của chúng ta, họ sẽ trao cho các đồng chí loại bom cần thiết để làm nổ máy bay. Trước khi rời Baghdad, các đồng chí sẽ đặt bom lên khoang để hành lý trên chỗ ngồi, sau khi đã đặt để bom nổ sau 9 tiếng. Lộ trình của máy bay là Abu Dhabi – Băng Cốc và cuối cùng là Hán Thành. Các đồng chí sẽ xuống tại Abu Dhabi và chuyển sang một máy bay khác, chiếc này đi qua Amman đến Roma. Từ Roma, các đồng chí đi tiếp sang Vienna, tại đó các đồng chí sẽ ở mấy ngày trong tòa đại sứ Triều Tiên, rồi trở về Bình Nhưỡng.
Tôi hít một hơi dài và sâu, rồi liếc sang Kim Song Ir; ông cũng nhìn tôi. Tôi nhớ rằng trong mắt ông, tôi nhận thấy một biển kiến thức, đi kèm rất nhiều kinh nghiệm và sự sáng suốt chỉ có được khi con người ta đã cao tuổi. Tôi hơi cảm thấy bình tâm khi được đi cùng ông. Trong giây phút đó, tôi nghĩ rằng hai chúng tôi có thể làm được mọi sự.
– Còn một điều nữa – ông giám đốc nói tiếp. – Bởi lẽ nhiệm vụ này là tuyệt mật và tối quan trọng, đối với cả hai đồng chí, đây là lần cuối cùng. Sau dịp này, sự có mặt của các đồng chí trong nghề là nguy hiểm, và quan trọng hơn nữa, bằng nhiệm vụ này, các đồng chí sẽ có dịp phục vụ tối đa tổ quốc chúng ta. sau chiến dịch, các đồng chí sẽ được nghỉ hưu như những anh hùng, và sẽ được nhận tất cả những gì mà Đảng có thể cho các đồng chí. Và đồng chí, Okhva, đồng chí sẽ được về với gia đình. – Ông ngừng lại và liếc nhìn tôi một cách lạ lùng. Tôi không đoán nổi là ông đang nghĩ gì. – Vì đồng chí mong mỏi điều đó, có phải không?

Ông nhìn tôi trừng trừng. Tôi muốn nhảy chồm lên, trong người có cảm giác hồi hộp chưa từng thấy; mặc dầu, tôi hơi lo âu vì ông đi guốc trong bụng tôi. Nhiệm vụ này không chỉ đầy hứa hẹn đối với tổ quốc tôi, mà đối với tôi cũng thực sự tràn trề hy vọng. Trong khoảnh khắc ấy, tôi cảm thấy mạnh mẽ đến mức có thể làm bất cứ điều gì. Tôi thấy tự hào và vinh dự không kể xiết vì được Lãnh tụ Kính yêu đích thân lựa chọn cho nhiệm vụ này; và dù tôi không hiểu lắm rằng chiến dịch này làm sao lại dẫn đến sự thống nhất Cao Ly – cho đến nay, tôi vẫn không hiểu cái lô-gích ấy -, nhưng tôi tin tất cả những gì ông giám đốc nói. Như thế, bằng một chiến dịch duy nhất, tôi có thể phục vụ đất nước và mang lại sự đoàn kết trong gia đình.
– Đồng chí giám đốc, xin đồng chí hãy tin tưởng ở chúng tôi – tôi nói một cách quả quyết và nhìn thẳng vào mắt ông. – Chúng tôi sẽ không thể thất bại!



The Tears of My Soul 

1993 by Kim Huyn Hee
Post by Sơn râu 20 May 2024

Chương 7
Tuần sau đó, tôi không thể tập trung vào kỳ huấn luyện. Tôi thực hiện như máy mọi động tác, trong những đợt hành quân xa tôi thường bị lạc nhịp. Tôi không làm sao đưa hình ảnh gia đình khỏi đầu.
Cố nhiên cái chết của Bamso khiến tôi rất thương cảm, nhưng tôi nghĩ đến cha mẹ nhiều hơn. Hành động của cha tôi đối với điệp viên Chang khiến tôi bực mình, nhưng trong tận cùng trái tim, tôi hiểu và biết rằng ông có lý. Gia đình tôi đã tan vỡ, có lẽ là mãi mãi, và vì cha thương tôi, ông đau khổ biết chừng nào khi phải để tôi ra đi.
Thứ Bảy, tôi ra một quyết định. Chủ nhật là ngày rảnh rỗi duy nhất của chúng tôi và chúng tôi có thể nghỉ ngơi ra sao cũng được. Khôn phải luyện tập, không phải nghe giảng hay thuyết trình. Nếu có thể thuyết phục được Vuchi đừng trình báo, người ta sẽ không nhận ra là tôi vắng mặt ngày hôm ấy.
Khi chương trình huấn luyện trong ngày kết thúc và bóng tối đã phủ xuống khu trại, tôi tìm gặp Vuchi trong nhà bếp. Bà chào hỏi tôi nhiệt tình như thường lệ. Trong số các nhân viên của doanh trại, bà là người niềm nở nhất.
– Bác Vulchi, cháu nhất định phải về thăm gia đình – tôi bảo bà. – Tối nay, lúc trời tối là cháu lên đường. Tối mai cháu sẽ trở lại. Cháu xin bác đừng báo cáo là cháu sẽ không có mặt ở bữa sáng nhé.
Bà nhìn tôi hoảng hốt.
– Okhva ạ, bác sẵn sàng giúp cháu giữ bí mật thôi, nhưng thượng cấp thế nào cũng có thể sẽ phát hiện ra. Và cháu biết là khi ấy thì điều gì sẽ xảy ra mà…
Tất nhiên là tôi biết. Tôi không được phép rời doanh trại và nếu người ta phát hiện ra, lập tức tôi sẽ bị đưa đi cải tạo lao động ở vùng cực Bắc của đất nước, rồi có thể bị ở đó cả đời. Có khi, người ta còn tử hình tôi cùng gia đình cũng không biết chừng.
Nhưng tôi không sao yên lòng được. Có thể tôi lại phải xa gia đình nhiều năm ròng và tôi không sao chịu được cảnh cha mẹ tôi phải chờ đợi bao năm mà không thể làm sáng tỏ được câu chuyện đau buồn hôm trước. Phải mất nhiều thời gian tôi mới nhận ra, nhưng giờ tôi đã biết, rằng đối với tôi, gia đình vẫn quan trọng hơn Đảng và Chính phủ. Khi được Đảng lựa chọn, tôi đã tự hào biết nhường nào. Nhưng khi nhớ lại những năm tháng tuổi thơ, khi tôi ở Cuba và Bình Nhưỡng, trong tôi, không gì quý báu hơn gia đình. Đồng thời, tôi tự hào vì được Đảng lựa chọn và có thể làm bất cứ điều gì cho sự thống nhất đất nước. Có điều, tôi không sao kìm được tình thương với gia đình.
– Cháu không thể làm khác, bác ạ – tôi nói với Vulchi. – Em trai cháu vừa mất và bố cháu bất hạnh lắm. Cháu phải nói chuyện với ông cụ…
Vulchi thở dài, trên gương mặt bà lộ rõ vẻ lo âu. Bà chỉ giúp tôi đến vậy được thôi, mọi thứ khác thì phụ thuộc vào may rủi.
– Nếu cháu thấy đó là giải pháp tốt nhất, cháu cứ đi đi – bà nắm tay tôi. – Nhưng cháu phải thật cẩn thận đấy, Okhva. Bác không muốn cháu bị làm sao…
Vulchi siết chặt tay tôi rồi tôi trở về phòng. Tôi nói cho Sukhi biết ý định của mình. Sukhi cũng có những lo ngại như của Vulchi.
– Cậu này – tôi bảo cô -, Chủ nhật hầu như chả bao giờ chỉ huy đến đây. Nhưng nếu ông ta đến, hãy bảo ông ta rằng buổi sáng khi mở mắt, cậu đã không thấy tớ rồi và không biết tớ đi đâu.
Sukhi gật đầu nhưng tôi thấy cô không yên lòng. Hẳn cô nghĩ rằng nếu tôi thực hiện ý định của mình, cô cũng có thể bị nguy hiểm. Tôi ngồi xuống giường cô, hai tay đặt lên đầu gối Sukhi.
– Họ sẽ không làm gì cậu đâu, Sukhi ạ – tôi tìm cách trấn an cô. – Chỉ cần nói rằng cậu chẳng biết gì cả.
Sukhi quay đầu, thở dài trong một thoáng, rồi nhìn tôi mỉm cười.
– Đừng lo -, cô nói -, tớ sẽ im như thóc!
– Cám ơn cậu.
Tôi ôm chầm lấy Sukhi rồi nhanh chóng gói ghém những thứ cần mang đi đường. Vì muốn di trong đêm, tôi không cần quần áo, và cũng không muốn mang ba-lô vì sợ vướng víu. Tôi mặc bộ đồ sẫm màu nhất, và mang theo ít tiền cùng giấy chứng minh. Buộc tóc ra đằng sau, tôi sùm sụp chiếc mũ quân đội màu đen.
Tiến đến cửa sổ, tôi nhìn ra ngoài. Trời đã tối hẳn, lên đường được rồi.
Sukhi đứng dậy và ôm tôi một lần nữa.
– May mắn cậu nhé – cô nói -, và nhớ là cẩn thận.
– Cám ơn cậu, tớ sẽ vậy mà – tôi mỉm cười và rón rén rời căn phòng, và tòa nhà.

Ở cổng vào doanh trại, có một nhóm bảo vệ nên tôi phải tránh họ, đi thông qua rừng một đoạn xa rồi mới vòng ra đường. Nhưng tôi còn phải tính đến những nhóm bộ đội tuần tra đi bộ quanh trại. Họ được trang bị súng máy và lũ chó đen to vật vưỡng. Tim đập thình thịch, tôi lao vào cánh rừng thông nối liền với thung lũng và đi theo hướng mà tôi cho là đúng.
May cho tôi là đường rừng được phủ bởi một thực vật mong mỏng, gai mềm. Đêm hôm ấy trời nóng nực, trăng lưỡi liềm khá sáng nhưng không chiếu rọi được xuống rừng cây. Tôi phải rờ rẫn trong bóng tối và cay đắng nghĩ rằng giờ đây, ít nhất tôi cũng sử dụng được chút gì trong số những thứ tôi được huấn luyện nhiều năm ròng.
Tôi cứ đi từng bước như thế được chừng năm chục mét, và đến hàng rào bao quanh trại. Chỗ này cách cổng vào 400 mét, người ta hẳn không nhận ra tôi được nữa rồi. Nhưng tôi còn phải trèo qua hàng rào dây thép gai này.
Tôi ngẩng lên nhìn, cặp mắt đã quen với bóng tối. Những cành thông che khuất bầu trời lấp lánh sao đẹp tuyệt vời. May là cây thông gần tôi nhất cành tương đối thấp, nên tôi có thể trèo lên phía trên hàng rào. Rồi tôi trườn theo cành thông, nó không vươn ra ngoài hàng rào như tôi tính rằng bằng một cú nhảy khéo léo, tôi sẽ vượt sang phía bên kia của rào.
Khi đã trườn xa đến mức có thể trên cành cây, tôi bám lấy một cành khác ở phía trên và vươn thẳng người. Tôi cách hàng rào dây thép gai chừng một thước cả về chiều cao lẫn chiều dọc, và từ đó xuống đất cũng phải dăm mét. Với thể chất của tôi, đây là một cú nhảy lớn nhưng dù sợ thế nào đi nữa, tôi đã quyết tâm rồi.
Tôi hít một hơi dài và nhảy!
Cú nhảy khiến tôi chỉ cách hàng rào chừng vài phân, nhưng khi tiếp đất tôi ngã rất đau. Không để tâm đến cảm giác đau nhói ở chân, tôi ngồi dậy và nhìn quanh. Ngay trong khoảnh khắc ấy, tôi nghe thấy những tiếng chân và sững người.
Địa điểm này là một cánh đồng trống trải, nền cỏ cao, dày và có mấy bụi cây. Tôi nấp trong một bụi cây lớn và không dám thở.
Một thoáng sau, ai đó xuất hiện và dùng đèn phin đi dò cả khu vực. Sau người ấy là một con chó to, lông đen tuyền. Hẳn họ nghe tiếng động khi tôi nhảy xuống vì người này dò la quanh chỗ tôi nấp. Chỉ còn cách tôi một bước, anh ta dừng lại, khua đèn thành một vòng tròn lớn. Tôi dán mình xuống đất và ánh đèn lóe sáng phía trên người tôi một chút. Tim đập dồn dập, tôi cầu trời khấn Phật để con chó khỏi đánh hơi thấy tôi.
Người lính dừng lại khá lâu tại đó và tôi biết rằng, nếu anh ta nhận ra tôi, tôi phải một mất một còn với anh ta; còn nếu anh ta nhận diện được tôi thì không còn cách nào khác là phải hạ sát anh ta. Ánh đèn pin hơi rọi sáng khuôn mặt anh ta, nhưng tôi không thấy quen. Tôi thủ thế để nhảy lên vật anh ta xuống, trước khi bị phát hiện. Cố nhiên, dù vậy vẫn còn con chó ở đó, mà tôi chưa biết phải làm gì với nó.
Nhưng người lính gác đột ngột quay về phía cổng vào của trại. Tôi chờ cho anh ta đi hẳn mới dám thở phào nhẹ nhõm.
Khi biết chắc rằng người lính đã đi xa, tôi nhổm dậy và đi tiếp trên cánh đồng. Tôi đi theo hướng Đông Bắc, làm thành một góc 45 độ với hàng rào quanh trại và hy vọng như thế sẽ ra nhanh đường cái. Phải cẩn thận để khỏi phát ra tiếng động và tôi mừng vì đã được huấn luyện kỹ càng. Đi như thế này không là gì so với việc chúng tôi phải luyện tập bao ngày trời ngoài trời, hay trong những hầm trú ẩn nhỏ.
Mười lăm phút sau, tôi ra tới đường cái. Giữa những bụi cây, tôi ngó ngàng tứ phía, nhưng không thấy ai cả. Thế là tôi lên đường và nhằm hướng con đường dẫn tới Bình Nhưỡng, còn cách chừng 16 cây số.
Được luyện tập với cường độ cao nên tôi có thể đi khá nhanh. Trời ngày một lạnh lẽo và một bầu không khí im lắng bao trùm lên tôi. Những đỉnh núi đen cao vút hướng lên bầu trời dưới ánh trăng tôi thành thật hy vọng sẽ không phải đối mặt với hổ báo. Những năm sống tại các trại tập huấn này khác, chua bao giờ tôi gặp hổ, nhưng tôi đã nhiều lần thấy dấu chân hổ trong những bận hành quân đường rừng. Người ta còn kể rằng một đêm nọ, ở làng gần khu trại nhất, ai đó ra ngoài trời tập thể dục và bị hổ mang đi.
Thời gian trôi đi và tôi cứ đi, đi. Một lần, tôi nghe tiếng xe sau lưng và lập tức ẩn náu. Vài phút sau, một chiếc Mercedes vụt qua trên đường làm bụi bay mù mịt. Tôi chờ khi ánh đèn đỏ sau xe chìm hẳn ở khoảng không xa xôi, rồi mới đi tiếp.
Khi trời rạng sáng, tôi đến con đường dẫn tới Bình Nhưỡng, khi đó bầu trời đã bắt đầu ửng đỏ và đột nhiên trở lạnh. Tôi đầm đìa mồ hôi và run cầm cập. Trên con đường cái, tôi chuyển sáng hướng Đông và đi bộ tiếp. Hai giờ sau, tôi đến ranh giới một thành phố.

Trời sáng hẳn, thành phố đã thức giấc. Tôi rút khỏi túi chiếc kính râm. Tại đây, giữa thanh thiên bạch nhất thế này, tôi còn phải thận trọng hơn nữa.
Giữa thành phố, có một trạm xe buýt nhỏ, tại đó tôi được biết rằng cả ngày chỉ có một chuyến xe đi Bình Nhưỡng, sẽ khởi hành trong vòng một giờ nữa và tôi sẽ về đến thủ đô trong sáng hôm ấy. Một chuyến duy nhất khác sẽ quay lại từ Bình Nhưỡng vào lúc chiều muộn.
Tôi mừng rỡ vì rốt cục cũng được ngồi và còn lim dim nữa. Một vài người dân thành phố đó cũng chờ chuyến buýt này.
Cuối cùng xe cũng tới và chúng tôi cùng lên đường về thủ đô. Giờ đây, chúng tôi qua những vùng quê quen thuộc, hai bên đường là những cánh đồng canh tác, những rừng thông và đồi núi.
Tôi xuống xe buýt, từ đó đến căn hộ mới của gia đình tôi còn phải đi vài con phố. Tôi gõ cửa và chờ đợi.
Mẹ tôi mở cửa và bà kinh ngạc vô cùng khi thấy tôi. Mãi sau bà mới hồi lại và ôm chầm lấy tôi.
– Hyon Hee – bà thì thầm và siết chặt tôi vào lòng. – Con về làm gì thế này? Đồng chí Chang đâu? Không chờ tôi trả lời, bà đã lao vào nhà gọi bố và em trai tôi. – Hyon Hee nhà mình về đây này!
Cha tôi rảo bước từ phòng ngủ ra. Gương mặt ông mệt mỏi và phiền não, nhưng vừa thấy tôi ông đã tươi tắn lên. Dường như một phút chưa trôi qua kể từ lần gần nhất chúng tôi gặp nhau, tôi buột miệng nói ngay câu mà tôi muốn nói:
– Con đã làm gì sai?
Cha tôi bất ngờ vì tôi nổi khùng. Ông tránh ánh mắt của tôi và ngồi xuống ghế. Rồi ông cất giọng:
– Con không làm gì sai cả, Hyun Hee ạ. Có điều, bố khó chấp nhận tình cảnh mới con con quá. Bố không làm sao để những cảm xúc của mình độc lập với con cả…
Giọng ông buồn bã vô cùng, nỗi bực bội của tôi lập tức tan biến.
– Bố hiểu điều đó như thế nào?
– Giờ đây con đã thuộc về Đảng – rồi ông cũng ngẩng lên nhìn vào mắt tôi. – Cố nhiên về mặt con người, con vẫn là con của cha mẹ và mãi mãi là như thế. Nhưng sẽ là ngu xuẩn nếu không nhận ra rằng trong thực tế, con đã là người của Đảng, không còn của gia đình ta. – Ông cười nhợt nhạt, như thể mới nghĩ ra một điều gì vui nhộn trong óc. – Tất nhiên việc con được Đảng lựa chọn, dối với cha mẹ là một vinh dự lớn, nhưng về tình cảm điều này không khiến cha mẹ dễ chịu đựng hơn. Cha mẹ thương yêu con, Hyun Hee ạ, và từ nay sẽ không mấy khi cha mẹ được thấy con. Hồi con còn nhỏ, cha mẹ mong ước rằng rồi mai đây con sẽ có một người chồng tử tế, các con sẽ sống gần cha mẹ và cha mẹ sẽ có các cháu. Giờ thì không thể như thế nữa rồi… Và, nhất là khi Hyonok đã góa chồng… – ông thở dài -, nặng nề lắm con ạ.

Những giọt lệ chảy dài trên mặt tôi. Tôi hổ thẹn vì đã giận cha và tôi lại cảm thấy tôi đã phản bội gia đình khi theo chỉ thị của Đảng. Nhìn lại, giờ đây tôi căm ghét biết chừng nào cái chính phủ Bắc Hàn ấy, đối với nó, cá nhân là con số không, nó sẵn sàng hy sinh mọi nhân tính cho cái lý tưởng trừu tượng “chủ nghĩa xã hội”, “Đảng”, “sự nghiệp chung”… Chúng tôi gọi nhau là “đồng chí” vì những lý do khác hẳn với những người theo chủ nghĩa Marx – Lenin thuở đầu; tại sao người ta lại cấm mọi tình cảm nồng ấm của con người?
Tôi đã phải trả cái giá như thế. Tôi đã là một thành viên đặc biệt của cái giới “tinh hoa” ấy, là thành viên hoàn hảo của Đảng, và đây là mơ ước của mọi người dân Bắc Hàn. Nó hơi giống khi chúng ta là nhà tu hành: có th3ê là một nghề đẹp đấy, nhưng phải trả giá cao vì nó.
Nhũng giờ khắc sau đó, tôi ở với gia đình, chúng tôi cùng xem các tập album ảnh cũ và trò chuyện về tương lai. Không thể có chuyện tôi ra khỏi Đảng, ít nhất là trong một thời gian, vì nếu vậy tôi sẽ khiến cả gia đình phải hổ thẹn. Nhưng tôi biết tôi sẽ héo hon nếu cả đời phải sống trong trại huấn luyện và đã có mấy trường hợp, khi một vài điệp viên sau khi thực hiện một nhiệm vụ thật nguy hiểm, để thưởng cho họ, người ta cho phép họ về nghỉ hưu và trở lại với gia đình.
Như thường lệ, mẹ tôi nấu một bữa trưa rất thịnh soạn để đãi tôi. Bầu không khí trở nên vui vẻ hơn một chút, cha tôi cư xử bình thường, nhưng gương mặt mẹ tôi vẫn đượm nỗi buồn u uất và tôi biết, bà còn đau đớn hơn cha tôi khi tôi phải ra đi.
Chúng tôi đã khóc lúc chia tay. Tôi lê bước ra bến xe buýt và hơi cảm thấy nhẹ nhõm trong người, cho dù chuyến về thăm gia đình khiến tôi bị dày vò ghê gớm. Tôi mừng vì đã về thăm nhà. Cuối cùng thì mọi thứ cũng trở về vị trí của nó, trước mắt là như thế.
Trên xe buýt, tôi ngủ gà ngủ gật. Khi ấy tôi mới bắt đầu ngấm mệt vì quá sức đêm hôm trước. Khi đến thành phố gần trại của chúng tôi nhất, chỉ thiếu chút nữa là tôi ngủ quên. Chân tôi đau nhức, nhưng vẫn phải đi.
Giữa chừng, tôi băn khoăn không biết hôm ấy người ta có nhận ra tôi vắng mặt hay không. Tôi suy luận: nếu nhận ra, hẳn họ đã rượt theo và bắt tôi rồi. Cố nhiên, cũng có thể họ ung dung chờ tôi về và chỉ khi ấy mới bắt. Tôi buồn bã lê bước, cố quên đi cái chân đau nhức. Bầu trời khi sáng còn rất trong xanh, giờ đã bị những đám mây xám xịt bao phủ.

Trời chập tối, mưa càng nặng hạt và trong ít phút, tôi đã ướt như chuột lột. Hai lần tôi nghe thấy tiếng ô tô đến gần, hai lần ấy tôi phải ẩn dưới những bụi cây hai bên lề đường. Trên chân phải tôi, một cái bọc nước khổng lồ bị vỡ khiến tôi đau khủng khiếp. Mưa như trút nước tạo thành một nhịp điệu đơn điệu và tôi biết rằng còn lâu nó mới tạnh.
Khoảng 8 giờ tối, tôi thoáng thấy một điểm kiểm tra ở xa xa và tôi rời đường chính xuống cánh đồng. bầu trời xám xịt không hoàn toàn tối, vì thế thi thoảng tôi phải trườn dưới đất để ẩn náu. Người tôi toàn bùn vì đất dưới chân tôi ướt sũng. Tôi đã mệt đến mức chỉ còn cử động theo thói quen, chân nam đá chân xiêu như một cái máy. Trong đầu tôi chỉ có một ý nghĩ: làm sao về đến nhà, ngâm mình trong bồn tắm nước nóng vài giờ liền!
Đến hàng rào bao quanh trại, tôi dừng lại và ngó nghiêng. Không thấy lính gác đâu cả, tôi đứng dậy và trèo qua hàng rào. Tôi không nghĩ đến chuyện tìm một cây cao để trèo và nhảy đại vào trại như lúc đi, chỉ muốn bằng cách nào đó vượt qua hàng rào dây thép gai. Tôi bám lấy cây cột rào gần tôi nhất, cột này cong vào phía trong trại; cứ thế tôi trèo cho đến đỉnh hàng rào. Ở đó, tôi hít một hơi dài, đứng tấn sẵn sàng, rồi dậm chân nhún mình nhảy vào trong, tay cũng hướng về phía trại. Tôi bay qua hàng rào thép gai, nhưng cú nhảy và lộn nhào quá thành công khiến tôi dập mặt vào một vũng bùn. Kỳ lạ là tôi không bị thương, nhưng phải mất chút thời gian mới hoàn hồn và có sức đi tiếp.
Qua rừng thông, tôi rảo bước về phía ánh sáng le lói giữ những hàng cây. Chẳng mấy chốc tôi đã đến lề trại. May cho tôi là không ai đi lại tại đó, tôi chạy đến cửa tòa nhà và nhào vào trong. Khi ấy, tôi thấy nhẹ nhõm trong lòng đến nỗi chỉ muốn hét lên vì mừng.
Sukhi đang đọc sách trong buồng ngủ. Khi tôi bước vào, cô ngước lên nhìn rồi phá lên cười, hai tay xoắn lấy nhau.

– Có gì đáng cười vậy cậu? – tôi lẩm nhẩm và vội thay quần áo.
Sukhi phải lấy tay che miệng, nhưng càng bật ra tiếng cười.
– Cậu mà thấy cậu nhỉ… – cô nói.
Cáu kỉnh, tôi tiến đến chiếc gương treo trên cửa ra vào, và rồi tôi cũng bật cười. Mặt tôi đầy bùn, tóc thì chọc cả vào mặt dưới chiếc mũ.
– Sukhi này – tôi hỏi khi đã cởi hết quần áo và dùng khăn tắm quấn quanh mình -, có ai nhận ra tớ không có mặt trong trại không?
Sukhi thôi cười, nhưng vẫn cười mỉm.
– Đừng lo, cậu an toàn mà. Cả ngày hôm nay ở đây buồn tẻ lắm. Kể cho tới nghe đi, cậu thế nào?
– Ôi, Sukhi ơi, tớ không thể giải thích cho cậu được đâu. Khó lắm… cậu ạ. Đôi khi tớ cũng không biết tớ ở đây làm gì…
Tôi nằm thư thái trong bồn tắm nước nóng rất lâu. Chỉ thiếu chút nữa là tôi đã chợp mắt vì mệt mỏi và hơi nước nóng. Tôi không muốn ra khỏi bồn, nhưng rồi cũng phải ra. Hơi ngơ ngẩn, tôi trở lại về phòng ngủ và thấy Sukhi bồn chồn đi lại.
– Okhva – cô nói ngay khi tôi bước vào phòng -, may là cậu về kịp. Điệp viên bí mật Chang vừa đến và chờ cậu ở phòng khách.
– Chang à? – tôi cảm thấy hoảng hốt. – Nhưng ông ấy không biết tớ vắng mặt phải không?
– Không, chắc là không – Sukhi đáp. – Ít nhất là tớ cũng không nghĩ như vậy. Có lẽ cậu sẽ được giao một nhiệm vụ mới gì thì đúng hơn. Có một ông gia đi cùng điệp viên Chang nữa. Tên ông ấy là Kim Song Ir thì phải.
– Kim Song Ir?
Sukhi gật đầu.
– Đi đi nào, cậu thay quần áo đi. Tớ đã nói với họ là cậu sẽ xong ngay đấy.
Tôi suy nghĩ liên miên trong khi thay bộ quần áo mới, rồi chải đầu và chạy vào phòng khách. Đồng chí Chang ngồi ở phía bên kia bàn, đang trò chuyện với Kim Song Ir. Khi tôi bước vào phòng, hai người đứng dậy.
– Okhva – Chang mỉm cười với tôi -, đồng chí còn nhớ Kim Song Ir không?
Tôi gật đầu.
– Tất nhiên, cháu vui vì được gặp lại bác. Bác ngồi xuống đi ạ, Song Ir.
Chúng tôi ngồi xuống bàn. Chang lấy ra bao thuốc, mời Kim và họ châm thuốc.
– Thế này – Chang thở ra khói thuốc -, chắc đồng chí tò mò xem chúng tôi đến gặp đồng chí có việc gì? Trưóc mắt tôi chưa thể nói gì nhiều hơn, nhưng tôi muốn 15 phút nữa đồng chí sẽ chuẩn bị xong xuôi để chúng ta lên đường.
– Tôi phải đi ạ? – tôi ngạc nhiên. – Vâng, tất nhiên, nhưng đi đâu và trong bao lâu ạ?
– Đầu tiên tôi trả lời câu hỏi thứ hai của đồng chí – Chang đáp. – Đồng chí sắp xếp tất cả đồ đạc đi vì có lẽ đồng chí sẽ không trở lại đây. – Trong một thoáng, tôi sợ run cả người. Tôi tưởng người ta đã biết về “bài thực tập tự do” của tôi – ở trại, chúng tôi gọi như thế nếu ai rời khu trại mà không được phép. Nhưng tôi hoàn hồn khi Chang nói tiếp. – Về câu hỏi đầu, tôi chỉ có thể nói rằng chúng ta sẽ lên Bình Nhưỡng, đến đại bản doanh tình báo. Đồng chí sẽ nhận nhiệm vụ tại đó.

Trên xe buýt, tôi ngủ gà ngủ gật. Khi ấy tôi mới bắt đầu ngấm mệt vì quá sức đêm hôm trước. Khi đến thành phố gần trại của chúng tôi nhất, chỉ thiếu chút nữa là tôi ngủ quên. Chân tôi đau nhức, nhưng vẫn phải đi.
Giữa chừng, tôi băn khoăn không biết hôm ấy người ta có nhận ra tôi vắng mặt hay không. Tôi suy luận: nếu nhận ra, hẳn họ đã rượt theo và bắt tôi rồi. Cố nhiên, cũng có thể họ ung dung chờ tôi về và chỉ khi ấy mới bắt. Tôi buồn bã lê bước, cố quên đi cái chân đau nhức. Bầu trời khi sáng còn rất trong xanh, giờ đã bị những đám mây xám xịt bao phủ.

Trời chập tối, mưa càng nặng hạt và trong ít phút, tôi đã ướt như chuột lột. Hai lần tôi nghe thấy tiếng ô tô đến gần, hai lần ấy tôi phải ẩn dưới những bụi cây hai bên lề đường. Trên chân phải tôi, một cái bọc nước khổng lồ bị vỡ khiến tôi đau khủng khiếp. Mưa như trút nước tạo thành một nhịp điệu đơn điệu và tôi biết rằng còn lâu nó mới tạnh.
Khoảng 8 giờ tối, tôi thoáng thấy một điểm kiểm tra ở xa xa và tôi rời đường chính xuống cánh đồng. bầu trời xám xịt không hoàn toàn tối, vì thế thi thoảng tôi phải trườn dưới đất để ẩn náu. Người tôi toàn bùn vì đất dưới chân tôi ướt sũng. Tôi đã mệt đến mức chỉ còn cử động theo thói quen, chân nam đá chân xiêu như một cái máy. Trong đầu tôi chỉ có một ý nghĩ: làm sao về đến nhà, ngâm mình trong bồn tắm nước nóng vài giờ liền!
Đến hàng rào bao quanh trại, tôi dừng lại và ngó nghiêng. Không thấy lính gác đâu cả, tôi đứng dậy và trèo qua hàng rào. Tôi không nghĩ đến chuyện tìm một cây cao để trèo và nhảy đại vào trại như lúc đi, chỉ muốn bằng cách nào đó vượt qua hàng rào dây thép gai. Tôi bám lấy cây cột rào gần tôi nhất, cột này cong vào phía trong trại; cứ thế tôi trèo cho đến đỉnh hàng rào. Ở đó, tôi hít một hơi dài, đứng tấn sẵn sàng, rồi dậm chân nhún mình nhảy vào trong, tay cũng hướng về phía trại. Tôi bay qua hàng rào thép gai, nhưng cú nhảy và lộn nhào quá thành công khiến tôi dập mặt vào một vũng bùn. Kỳ lạ là tôi không bị thương, nhưng phải mất chút thời gian mới hoàn hồn và có sức đi tiếp.
Qua rừng thông, tôi rảo bước về phía ánh sáng le lói giữ những hàng cây. Chẳng mấy chốc tôi đã đến lề trại. May cho tôi là không ai đi lại tại đó, tôi chạy đến cửa tòa nhà và nhào vào trong. Khi ấy, tôi thấy nhẹ nhõm trong lòng đến nỗi chỉ muốn hét lên vì mừng.
Sukhi đang đọc sách trong buồng ngủ. Khi tôi bước vào, cô ngước lên nhìn rồi phá lên cười, hai tay xoắn lấy nhau.
– Có gì đáng cười vậy cậu? – tôi lẩm nhẩm và vội thay quần áo.
Sukhi phải lấy tay che miệng, nhưng càng bật ra tiếng cười.
– Cậu mà thấy cậu nhỉ… – cô nói.
Cáu kỉnh, tôi tiến đến chiếc gương treo trên cửa ra vào, và rồi tôi cũng bật cười. Mặt tôi đầy bùn, tóc thì chọc cả vào mặt dưới chiếc mũ.
– Sukhi này – tôi hỏi khi đã cởi hết quần áo và dùng khăn tắm quấn quanh mình -, có ai nhận ra tớ không có mặt trong trại không?
Sukhi thôi cười, nhưng vẫn cười mỉm.
– Đừng lo, cậu an toàn mà. Cả ngày hôm nay ở đây buồn tẻ lắm. Kể cho tới nghe đi, cậu thế nào?
– Ôi, Sukhi ơi, tớ không thể giải thích cho cậu được đâu. Khó lắm… cậu ạ. Đôi khi tớ cũng không biết tớ ở đây làm gì…
Tôi nằm thư thái trong bồn tắm nước nóng rất lâu. Chỉ thiếu chút nữa là tôi đã chợp mắt vì mệt mỏi và hơi nước nóng. Tôi không muốn ra khỏi bồn, nhưng rồi cũng phải ra. Hơi ngơ ngẩn, tôi trở lại về phòng ngủ và thấy Sukhi bồn chồn đi lại.
– Okhva – cô nói ngay khi tôi bước vào phòng -, may là cậu về kịp. Điệp viên bí mật Chang vừa đến và chờ cậu ở phòng khách.
– Chang à? – tôi cảm thấy hoảng hốt. – Nhưng ông ấy không biết tớ vắng mặt phải không?
– Không, chắc là không – Sukhi đáp. – Ít nhất là tớ cũng không nghĩ như vậy. Có lẽ cậu sẽ được giao một nhiệm vụ mới gì thì đúng hơn. Có một ông gia đi cùng điệp viên Chang nữa. Tên ông ấy là Kim Song Ir thì phải.
– Kim Song Ir?
Sukhi gật đầu.
– Đi đi nào, cậu thay quần áo đi. Tớ đã nói với họ là cậu sẽ xong ngay đấy.
Tôi suy nghĩ liên miên trong khi thay bộ quần áo mới, rồi chải đầu và chạy vào phòng khách. Đồng chí Chang ngồi ở phía bên kia bàn, đang trò chuyện với Kim Song Ir. Khi tôi bước vào phòng, hai người đứng dậy.
– Okhva – Chang mỉm cười với tôi -, đồng chí còn nhớ Kim Song Ir không?
Tôi gật đầu.
– Tất nhiên, cháu vui vì được gặp lại bác. Bác ngồi xuống đi ạ, Song Ir.
Chúng tôi ngồi xuống bàn. Chang lấy ra bao thuốc, mời Kim và họ châm thuốc.
– Thế này – Chang thở ra khói thuốc -, chắc đồng chí tò mò xem chúng tôi đến gặp đồng chí có việc gì? Trưóc mắt tôi chưa thể nói gì nhiều hơn, nhưng tôi muốn 15 phút nữa đồng chí sẽ chuẩn bị xong xuôi để chúng ta lên đường.
– Tôi phải đi ạ? – tôi ngạc nhiên. – Vâng, tất nhiên, nhưng đi đâu và trong bao lâu ạ?
– Đầu tiên tôi trả lời câu hỏi thứ hai của đồng chí – Chang đáp. – Đồng chí sắp xếp tất cả đồ đạc đi vì có lẽ đồng chí sẽ không trở lại đây. – Trong một thoáng, tôi sợ run cả người. Tôi tưởng người ta đã biết về “bài thực tập tự do” của tôi – ở trại, chúng tôi gọi như thế nếu ai rời khu trại mà không được phép. Nhưng tôi hoàn hồn khi Chang nói tiếp. – Về câu hỏi đầu, tôi chỉ có thể nói rằng chúng ta sẽ lên Bình Nhưỡng, đến đại bản doanh tình báo. Đồng chí sẽ nhận nhiệm vụ tại đó.


Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 20 May 2024

Chương IV: Suối độc rừng thiêng

Phần 13

Bữa nay, chúng tôi lại làm công tác sửa đường.

Cái cảnh nữ tù diễn hành mỗi sáng vẫn xẩy ra như thường lệ. Nhìn mãi hóa nhàm! Chiếc bánh từ lâu không được vứt vào bụi cây nữa, chắc lúc này khó khăn, cô gái không còn khả năng, tuy họ vẫn cười suông với nhau mỗi buổi. Nhưng anh kia đã có một luống “cải thiện” nên cũng đỡ. Đoạn đường sửa ở phía trên Trại nữ tù. Khi chúng tôi đi ngang qua đó, thấy một cô gái, xỏa tóc ngồi bên gốc chuối, khóc tỉ tê mồm nói lải nhải:

– Tại sao ông đánh tôi. Tôi là con gái mà, tôi có tội mới phải đi cải tạo để ông giáo dục chứ? Nếu tôi có lầm lỗi, ông dạy bảo, chứ sao ông lại đấm đá tôi? Tụi nó cởi truồng tắm không sao? Tôi tắm truồng ông lại bắt lỗi, vì không có quần áo thay, tôi mới tắm truồng chứ?

Cô vừa khóc vừa nói cà kê dê ngỗng! Cách xa độ mười thước, một nữ Công An, chống tay vào hông đứng nhìn cô gái. Đôi mắt tên Công An quắc lên, nói gằn giọng:

– Chị Cúc, tôi nói đi vào, chị không nghe hả?

Cô gái cứ khóc, nói:

-Tôi vào để ông ấy đánh chết tôi hả? Không, tôi không vào đâu! Muốn giết tôi, ra đây mà giết!

Tên Công An thấy chúng tôi đi chậm bước để nhìn cái cảnh đó, quát:

– Đi mau lên!

Tôi nhận thấy, tụi Công An ít nói ngọng chữ L thành N hơn bộ đội, tuy cũng thuộc giai cấp nông dân, có lẽ Công An được chọn lựa và có huấn luyện về văn hóa!

Chúng tôi rảo bước lên con dốc. Những ruộng mía trải dài trước mặt. Xuống hết con dốc, thấy đoạn đường bị lở do nước mua, tên Công An cho lệnh làm việc.

Những nhát cuốc bổ xuống; những tảng đất đỏ quạch được bưng lên đắp vào chỗ đường lộ. Mặt trời ló khỏi đám mây dầy soi những dòng nắng ấm áp, lúc này trời đỡ lạnh. Lao động một hồi thấy nóng, tôi cởi chiếc áo Dù đã bạc thếch để trên lùm cỏ. Đã mấy tháng, bữa nay tôi mới cảm thấy thân xác nhẹ nhỏm vì không phải mang nhiều áo trên người. Làn gió thổi nhè nhẹ, hây hây. Một đàn chim sẻ sà xuống bãi mía. Tiếng kêu ríu rít vọng đến làm không khí đỡ tẻ nhạt. Đàn chim vụt bay lên. Những chiếc cánh chấp chới dưới ánh năng đẹp vô cùng, nhưng chỉ một thoáng, chúng đã biến mất ở cuối bãi. Đây là vùng lòng chão rộng, nhiều đồi trọc hơn núi rừng nên ít có chim. Đêm ngủ, ít nghe tiếng thú rừng như ở Yên Bái, Nghĩa Lộ.

Khi làm xong, trở về qua Trại nữ tù, tôi không còn nhìn thấy cô gái nữa. Nhưng tôi biết, ở đằng sau chiếc hàng rào nứa kia, cô đang chịu những hình phạt xứng đáng với lời chửi rủa của cô lúc nãy .

Buổi lao động chiều, chúng tôi lại làm gạch. Mọi người đang đi theo đội hình bỗng có bóng người từ trong hàng chạy vọt ra. Đó là Linh Mục Khuê, ông cúi nhặt chiếc hoa chuối mầu đỏ sẩm nằm ngay đường mương.

– Ê, anh kia bỏ xuống mau!

Vị linh mục vội vứt xuống, mặt mày bẽn lẻn như đứa trẻ bị bắt quả tang nghịch bậy! Chiều nay, Đội được về sớm trước 1 giờ để đi suối tắm rửa. Lúc này Trại không có nước, máy bơm chưa sửa xong, tuy đã trên một tháng. Khi sắp qua Trại, tới con đường ra suối, tên Công An Kỳ cho lệnh tôi về buồng, khỏi đi tắm. Nghe lệnh, tôi linh cảm có chuyện gì không tốt cho riêng mình.

Khi vào đến buồng, tên Kỳ cho lệnh Linh Mục Cao, lúc này làm công tác vệ sinh buồng.

– Anh Cao, mang hết đồ của anh này ra đây!

Trong lúc, Linh Mục Cao đang tìm đồ của tôi mang ra, tên Kỳ lừ mắt hỏi:

– Anh có giấu tôi điều gì không?

– Dạ, không!

– A, anh không thành thực, nếu còn cố tình giấu diếm, tôi sẽ khám tư trang. Trước hết, anh hãy cởi quần áo ra.

Tôi nghe lời, cởi quần áo, còn mặc chiếc xà-lỏn. Tên Kỳ nắn hết túi áo, lẫn cạp quần xong, hét:

– Cởi nốt quần đùi ra!

Tôi bẽn lẻn, từ từ kéo xuống. Vừa tụt đến lưng chừng, tên Kỳ nghĩ sao, cho lệnh kéo lên.

– Nếu anh ngoan cố, tôi khám thấy, sẽ thi hành kỷ luật tối đa đối với anh.

Tôi nghĩ ngay đến chiếc Zippo mà tụi Công An mê lắm. Mấy hôm trước, một anh thuộc Đội 7 cùng làm chung ở hiện trường, sơ ý dùng chiếc Zippo để hút thuốc lào. Tên Bàng, Công An quản lý Đội, nhìn thấy tịch thu, dùng khơi khơi! Vì thèm bật lửa Zippo, tên Kỳ dò hỏi, biết tôi có nên cố ý lấy. Tôi biết có người mách. Thấy giấu không được, đằng nào cũng mất, lại còn mất thêm nhiều thứ nữa như con dao nhỏ, tôi thường dùng cắt bánh, cái kéo để cắt tóc và may vá, mấy hộp quẹt cây dự trữ khi không có xăng và đá lửa v.v… Linh Mục Cao khệ nệ ôm gói đồ của tôi ra ngoài hiên, đặt trước mặt tên Kỳ.

– Tôi có chiếc bật lửa.!

Nói xong, tôi cúi xuống moi túi đồ, lấy chiếc Zippo.

Tên Kỳ mắt sáng lên:

– A, có thế chứ. Tại sao anh giấu tôi, bây giờ mới chịu đưa?

Hắn đưa tay cầm chặt chiếc bật lửa. Trong lúc ấy, anh em người nào có ở nhà, lấm lét nhìn.

– Nay, anh nhớ không? Vì sức yếu, anh không lao động như anh Khuê, anh Cường, anh Trước. Anh đã xin tôi cho làm việc nhẹ, đúng không?

Tôi trả lời:

– Đúng, vì tôi không còn sức để lao động nặng nên mới phải xin cán bộ!

Tên Kỳ cứ cầm chiếc Zippo trong tay không nói gì. Tôi nhớ, hôm đó, ngồi trước mặt tên Kỳ, tôi cảm thấy uất ức và tự hỏi vì sao chúng tôi thua trận? Vì sao tôi không có hoàn cảnh để di tản trước ngày 30-4-75? Tại sao Đại Tá Anderson vì mến tài đã cố tìm nơi tôi ở để đưa tôi qua Mỹ trước giờ Cộng Sản chiếm Sàigòn nhưng không tìm ra nhà, hỏi không ai biết!? Vì thế, giờ này tôi mới phải chịu muôn vạn đắng cay nhục nhã tuy đã giải ngũ từ tháng 9 năm 1974. Tôi không có trách nhiệm gì về cuộc thất trận nay, sao tôi phải gánh chịu và gánh chịu đến bao giờ?

Tên Kỳ cầm chiếc bật lửa, hỏi:

– Bây giờ anh muốn làm biên bản hay không?

– Tùy cán bộ.

Tôi biết, nếu làm biên bản, tôi sẽ phải thi hành một hình thức kỷ luật nào đó, vì vi phạm điều cấm của Trại, chiếc bật lửa sẽ do Trại quản lý. Còn không, tên Kỳ sẽ được hưởng chiếc Zippo, tôi coi như vô tội.

Tên Kỳ cho lệnh tôi mang đồ vô, rồi hắn bước nhanh ra cổng. Nhìn kẻ báo cáo tôi có bật lửa, ngồi trên sạp, tôi muốn nhổ một bãi nước miếng vô mặt hắn, nhưng cố nén giận, tôi ôm đồ đến chỗ ngủ xếp lại.

Hôm sau, tôi thấy tên Kỳ châm thuốc lá bằng chiếc Zippo, nó còn tung lên, bắt lại, như khiêu khích. Mầu sáng bạc lấp lánh dưới ánh nắng!

Câu chuyện đó cũng qua đi, tôi đành dùng mấy hộp quẹt cây để hút thuốc ban đêm, ngày châm bếp lửa, chứ không như trước, mỗi lần hút, bật Zippo kêu tanh tách.

Tôi nhận được 2 gói quà một lúc, do gia đình gửi từ trong Tết, không hiểu sao giờ này mới đến. Tên Kỳ mở đồ khám quà, tịch thu luôn 2 vỉ đá lửa hiệu Ronson tất cả 18 viên. Tôi nghĩ, cái số nó may, vừa có bật lửa lại có ngay 2 vỉ đá. Tụi Công An thường chó má như nhau, chẳng mấy đứa tử tế. Ngay cả người dân miền Bắc đã sống mấy chục năm dưới chế độ, vẫn chửi Công An như điên.

mạnh hải flickr

Vì nhu cầu lương thực, chúng tôi phải học tập phương pháp trồng sắn. Khi trước sắn được coi như thực phẩm không tính vào tiêu chuẩn cơm, nay nó được đánh giá 3 kí-lô sắn bằng 1 kí-lô gạo. Do đó, vấn đề trồng sắn là một nhu cầu cấp thiết. Tên Công An lo về sản xuất trình bầy phương pháp trồng mới, qua kinh nghiệm địa phương, thu hoạch nhất định vượt múc kế hoạch. Nào cách đào theo hình bình hành, cách bỏ phân, cách đặt hom sắn thế nào! Sau khi học xong, chúng tôi thực hành.

Công việc gạch ngói vẫn tiếp tục bình thường. Nhưng buổi sáng chủ nhật lao động Xã Hội Chủ Nghĩa, tất cả đi đào hố sắn.

Tên Công An Kỳ dẫn chúng tôi đi vòng phía sau Trại, qua một con suối nhỏ nước chẩy xiết . Chính chỗ này có đặt chiếc máy bơm đang được tháo tung để sửa. Tên Công An vũ trang lầm lì đi sau. Con đường từ Trại đến chỗ lao động khá xa, phải leo qua nhiều quả đồi, đã ươm hom. Đường đi đã hết hơi, còn sức đâu lao động? Nhưng muốn hay không, chúng tôi vẫn phải leo lên lưng chừng quả đồi để cuốc hố. Đội được chia làm 2 toán, mỗi toán phụ trách một quả đồi. “Chén chè Xã Hội Chủ Nghĩa” đã tiêu mất trong dạ dầy từ hồi nào, nhưng công việc giờ này mới bắt đầu. Tôi cuốc theo đúng kích thước đã học tập. Mỗi hố làm lâu gấp 5 lần thể thức cũ. Khi ở Nghiã Lộ, chúng tôi chỉ cuốc vài nhát, cắm nghiêng khúc hom, vùi đất là xong. Nay phải làm cẩn thận theo ni tấc. Tên Kỳ lại quan sát kỹ và ra chỉ tiêu, mỗi người 50 hố. Tôi nghĩ thầm, đào kiểu này đến tối chưa xong, nói gì một buổi sáng.

Nhìn sang đồi bên cạnh, anh em cuốc lơ là, cười nói hồn nhiên, coi công tác như sự giải trí buổi sáng chủ nhật. Tên Kỳ đi lại phía ấy, leo lên. Từ xa, tôi không nghe rõ hắn nói gì, nhưng nhìn thấy tất cả vác cuốc đi xuống. Tên Kỳ cho lệnh, họ bỏ cuốc xuống, rồi đứng nghiêm, nhìn lên chỗ chúng tôi lao động. Tôi không hiểu chuyện gì, chắc họ sẽ nghe xỉ vả. Nhưng không, họ chỉ đứng nguyên như vậy, và tên Kỳ trước khi trèo lên chỗ chúng tôi đang cuốc, nói với một câu:

– Các anh không muốn lao động cũng được, tôi cho các anh đứng xem người khác lao động!

Tội nghiệp, mấy chục con người đứng thẳng như những cây gỗ trồng giữa trời, nhìn lên phía chúng tôi làm.

Xung quanh, cảnh núi đồi chập chùng bát ngát, không một mái nhà, không một tàng cây, dưới ánh nắng hanh hanh của một ngày chớm hạ, trông thật thiểu não.

Họ có vẻ mệt mỏi, có lẽ còn mệt mỏi hơn chúng tôi nữa. Có người nhìn ra xa, có người nhắm mắt, như muốn khước từ hiện tại.

Họ cứ đứng ở cái thế nghiêm như vậy, cho tới hết giờ lao động, khoảng 3 tiếng đồng hồ. Những giọt mồ hôi thấm ướt áo. Khuôn mặt người nào cũng rắn đanh lại như tủi hận, căm hờn. Nếu có động cơ nào đó đột nhiên thúc đẩy, tôi chắc họ sẽ băm xác tên Kỳ thành một đống bầy nhầy ngay lập tức. Nhưng không, họ vẫn là những tên tù nhẫn nhục “nín thở qua sông,” chờ chính sách 3 năm thực hiện. Cho tới giờ phút này, chúng tôi đang ở vào khoảng 4 giờ 30 sáng. Chỉ còn 1 giờ 30 phút phù du nữa, chúng tôi sẽ có Tự Do, sẽ có tất cả!

Trước khi đưa Đội về, tên Kỳ còn sỉ nhục toán bị phạt một lần nữa. Tên Công An vũ trang điểm số tù trước khi chúng tôi vác cuốc lên vai men theo lối cũ.

Vế đến buồng, câu chuyện bị phat được bàn tán thêm nhưng không ai dám công khai chửi tên Kỳ vì sợ đến tai nó, vạ thêm!

Dạo này, anh em bị mất bánh để dành trong chiếc tủ lưới đặt cạnh nhà ăn. Chiếc tủ như chiếc Gác- măng-giê, theo nội quy dùng để chén đũa, muỗng của mỗi Tổ cho sạch sẽ và thứ tự. Có vài người ăn dè, để lại một chút, phòng lúc lao động về, đói sẽ ăn. Nhưng đau thay, khi về, mẩu bánh không cánh đã bay.

Buồng chỉ có ông Tướng và vài người bệnh nằm nhà nên chẳng biết nghi cho ai? Sự mất này gây rất nhiều khó chịu vì chỉ một người ăn cắp, nhiều người bị nghi ngờ. Cái đói quả ghê gớm thật, nó làm mờ lương tri, tàn bạo hơn thú vật. Anh em ai cũng có phần bằng nhau. Kẻ để dành vì lo xa chưa chắc là kẻ dư thừa. Thế mà có đứa khốn nạn đến nổi chỉ nghĩ đến mình, quên luôn cái đói của người khác!

Buổi tối sinh hoạt, phê bình kiểm thảo, có anh Trung tá Không Quân phát biểu:

– Thưa quý bác, quý anh, tuy còn trẻ, nhưng tôi thấy có bổn phận phải nói thật, nói thẳng, nói hết những gì, mong quý bác, quý anh thông cảm và bổ khuyết cho, nếu sai lầm. Trong những ngày sống ở đây, tôi nhận thấy, các đàn anh bê bối quá, làm nhiều điều không xứng đáng với cương vị và tuổi tác mà chúng tôi hằng kính trọng. Do đấy, chúng tôi lấy gì làm gương mẫu để noi theo? Chúng tôi còn trẻ, mong được học tập và tiếp thu những cái tốt do quý bác, quý anh chỉ dạy, nhưng chúng tôi vô cùng thất vọng khi nhìn thấy qua thực tế, những gì đã gây cho chúng tôi nỗi đau đớn và tủi nhục ngoài vấn đề cải tạo, lao động…

Anh nói một hơi dài, không ai trả lời. Gian buồng im phăng phắc. Tôi nghĩ, anh nói đúng quá, cần nói mạnh hơn nữa để cảnh tỉnh những ai có tinh thần hèn hạ, khốn nạn bán xác anh em mưu lợi riêng, ăn cắp của nhau. Nhưng đau thay, trong lớp tuổi và cấp bậc cùng quân chủng với anh, cũng có người ăn cắp như máy, làm những điều đê tiện như quân vô học và anh bạn tù trẻ vừa mạnh dạn phát biểu, ít lâu sau cũng bị hộc máu vì quá hăng say lao động vẫn chưa thấy được về sớm! Sau cùng, tất cả đều buông xuôi theo giấc ngủ!

Tính ra, tôi đã sống ở Trại Cải Tạo Trung Ương số 1 này được gần 8 tháng rồi đó. Qua mùa lạnh ghê gớm, và đang gánh chịu mùa nắng đổ lửa. Các vườn rau cải thiện đã bị phá bỏ vì tụi Công An cho rằng, tù chỉ lo tưới rau cải thiện, chứ không chịu lao động. Anh em lại đói dài. Trong những ngày gần đây có một số đông “tù tự giác” hình sự cũng lao động nơi hiện trường. Tội của họ, phần đông: ăn cắp, ăn trộm, đâm chém người, hiếp dâm, buôn chui v.v… Thường ra, họ bị xử rất nặng, ít có án nào dưới 10 năm. Có một tên còn trẻ lắm, tôi hỏi:

– Vì sao em bị tù?

– Em chém một thằng trong xóm vì nó chuyên báo cáo Công An hại xóm giềng.

– Em chém, nó có bị thương nặng không?

– Em mới chém được 2 dao, nó chạy thoát!

– Em bị xử bao nhiêu năm?

– 15 năm! Khi được ra, em sẽ tìm chém nữa, kỳ bao giờ nó chết mới thôi.

– Em ở mấy năm rồi, năm nay bao nhiêu tuổi?

– Em ở được 5 năm rồi, năm nay vừa đúng 20, khi được tha, mới 30 tuổi, còn đủ sức.

Tôi nhìn nó, vì thiếu ăn, nên thân hình quắt lại trông như mới 15, nhưng nó khiêng gạch rất giỏi.

Bỗng một tên tù khá lớn tuổi, nói:

– Cứ tưởng mấy anh “giải phóng chúng tôi” chứ ai ngờ tụi nó “giải phóng các anh!” Như vậy là thế nào? Phải sống dưới chế độ này suốt đời à?

Tên khác nói ngu ngơ:

– Không suốt đời thì cũng hết án 20 năm!

Chúng cười ồ.

Tôi cũng gặp cả những chiến sĩ Biệt Kích bị bắt cả mười mấy năm nay, đã trở thành công nhân viên của Nhà nước Cộng Sản! Họ đối với chúng tôi rất tốt, đôi khi mua hộ đường, nước mắm nếu ai có tiền. Theo họ nói, nếu không chịu ký làm công nhân viên tình nguyện cho Nhà Nước, bị tù hoài, không hy vong được tha! Người làm điện, kẻ sửa máy và mọi công tác khác hợp với khả năng. Tất cả đều chưa vợ. Chắc họ muốn, Nhà Nước cũng không cho.

Ngày tháng qua đi, một chiều, chúng tôi ngôi xổm trước cửa “chuồng” chờ giờ điểm số. Tên Công An xách chùm chìa khóa đi vô, hắn cho lệnh mang tất cả áo quần đang phơi vô nhà, bất luận đã khô hay còn ướt. Anh em đứng dậy, đi gỡ hết quần áo. Chúng tôi đoán biết có sự gì sẽ xẩy tới trong đêm nay hoặc sớm mai. Sau khi vô “chuồng”, cánh cửa đã khóa được một lúc, anh em đang bàn tán về chuyện không cho phơi quần áo ngoài sân ban đêm, bỗng có tiếng mở cổng ngõ. Từ trong “chuồng” anh em nhìn qua chấn song, những chiếc cửa không có cánh, nên mùa rét vừa qua, chúng tôi đã phải che bằng những tấm nylon và áo mưa để cản gió.

mạnh hải flickr

Nay mùa nóng để trống. Có năm, sáu bóng người đi vô, người nào cũng mang theo tư trang nặng l ặc lè. Tên Công An đi trước mở khóa. Khi cánh cửa mở, Đội trưởng nằm ngay đó, nhổm dậy. Tên Công An nói:

– Đội của anh thêm 5 người.

Nói xong hắn cho lệnh 5 người mang đồ vô. Tiếng khóa lại lách cách. Chờ tiếng chân đi xa, anh em mới xô đến hỏi chuyện những người mới đến. Họ cho biết, mới chuyển từ Trại B, tức Trại lúc đầu tôi đến, qua đây từ hồi chiều, đi 3 cây số, mang nặng, nên giờ này mới tới.

– Có nhiều người cùng chuyển không?

– Không, chỉ có tụi tôi!

Như vậy đã quá rõ ràng. Sáng mai, chúng tôi sẽ chuyển Trại cùng mấy “trự” này. Anh em không ai ngủ, đều lục cục xếp đồ vô túi, nhưng còn đồ gửi trong kho làm sao lấy ra? Mọi người nhao nhao hỏi, nhưng không ai trả lời được. Tướng Cao, người giữ chìa khóa nói:

– Các anh cứ yên tâm, khi có lệnh, tôi mở kho ngay, của ai để đâu, tôi biết cả mà!

Có tiếng nói mỉa mai:

– Ông biết, sao để mất chiếc quần “vía” của tôi gửi trong đó mà không hay?

Tướng Cao không trả lời.

Cuộc sửa soạn đến nửa khuya, anh em lăn ra ngủ, vì dù sao, đây cũng chỉ là phỏng đoán thôi.

Tôi vừa chợp mắt một lúc, tiếng mở khóa làm thức giấc. Những vệt đèn pin chiếu vào buồng loang loáng. Ba tên Công An vô buồng trong đó có tên Kỳ. Một tên cầm trong tay tờ giấy, chiếu đèn pin rọi chỗ này, chỗ khác. Mọi người đều ngồi dậy, ngơ ngác nhìn.

– Các anh chú ý, tôi gọi tên anh nào, anh ấy nói “có mặt” phải sửa soạn ra khỏi buồng, trong 15 phút.

Tất cả có 5 người được gọi tên, trong đó có tôi, Tướng Cao, Thiện (Tổ trưởng), Hy và Cát đúng với số người vừa được đưa đến buổi tối.

Chúng tôi sửa soạn vội vàng, gấp mùng mền cùng vài ba thứ lặt vặt khác. Có mấy hộp quẹt cây, tôi giấu trong hốc, moi mãi không được, đành để lại.

Mọi người mang đồ ra sân. Tướng Cao mở khóa kho cho anh em lấy đồ. Tên Kỳ giục giã liên hồi. Trong bóng tối mênh mông, ai nấy ấn bừa vô, bất kể trời đất. Ra đến ngõ, chợt nhớ quên chiếc nón, tôi xin quay vào lấy, tên Kỳ nhất định không cho.

Hôm ấy là 16-7-78. Thời hạn 3 năm theo chính sách đã qua đúng 1 tháng.

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 20 May 2024

Chương IV: Suối độc rừng thiêng

Phần 12

Chỉ còn đêm nay, mai chúng tôi lại phải lao động như thường lệ. Nghĩ đến những quả đất và bãi dắt trâu dầm, tôi lại rùng mình. Con trâu trốn lao động để bị làm thịt, một con trâu “mới vực” được thay thế. Con trâu này tuy trẻ, nhưng cũng khôn lắm. Khi nào mệt không muốn làm, nó nằm ngay xuống bùn, đánh thế nào, cũng không đứng. Con người cứ mắng nhau: đồ ngu như súc vật, nhưng tôi thấy câu mắng đó không đúng, phải nói lại: đồ ngu như con người! Trong đời, quả có nhiều người ngu lắm, như trường hợp một trong hai anh tù hình sự “tự giác”, người đã cho tôi chiếc bánh lá hôm nào.Tối 30 Tết, anh rủ vài “bạn tù” khác bắt trộm heo con của Trại, mang vô rừng đốt lửa quay để nhậu với rượu đế giữa đêm Giao Thừa. Lửa cháy to quá, tụi Công An vũ trang đi tuần, sợ tù chính tri trốn, chỉ không ngờ có chuyện trộm heo. Nhìn thấy lửa , tưởng cháy rừng, mò lên, bắt được trọn ổ. Từ đó, anh hết “tự giác” phải quay về Trại tù hình sự. Cũng kể từ đó, tôi không nhìn thấy anh nữa. Cái án hiếp dâm 20 năm, anh mới trả được quá nửa. Hoàng đã nói cho biết, hồi chiều qua, khi tôi sang thăm.

Buồng của Hoàng, đối diện với buồng tôi, cách nhau vài bước chân, những ngày Tết không sao, chứ ngày thường tụi Công An bắt được là có chuyện! Hoàng còn cho biết, căn buồng này đã giam các “giặc lái Mỹ” trong thời gian Mỹ ném bom miền Bắc. Hoàng chỉ cho tôi hàng chữ viết bằng tiếng Mỹ và cả những chữ ký còn hiện lờ mờ trên nắp gỗ, nơi để tư trang của mỗi người. Tôi nhìn một hàng tên : John, Robert, William, Bernard, Henry, Bob, v v…tuy thời gian có làm mờ phai nét mực! Tôi chẳng biết bây giờ họ ở đâu, họ đã được trao đổi theo Hiệp Đinh Paris năm 1972, ký kết giữa 4 bên chưa? Người nào còn sống đã trở về quê hưong bản quán, người nào đã gửi nắm xương tàn tại nơi rừng thiêng, suối độc này?

Trại Cải Tạo Trung Ương số 1, nằm trong khu lòng chão khá rộng, xung quanh toàn đồi trà và những dẫy đồi hoang vu khác. Xa hơn chút nữa, núi rừng trùng điệp. Khu có 2 Trại tù lớn, một thuộc quận Thanh Phong, một thuộc quận Xuân Phong, cơ sở hành chính là Lào Cai. Nền trời ở đây ít khi trong xanh, vòm cao lúc nào cũng đặc sệt mây. Dưới đất có rất nhiều hầm hố đào từ thời chiến tranh chống Mỹ đến nay chưa lấp. Chỉ có một con đường duy nhất để di chuyển, do đó đứng về mặt quân sự, nó là nơi hiểm yếu, dễ phòng thủ, khó tấn công. Rất thuận lợi cho việc đánh du kích nếu cần.

Tuy nằm, nhưng trong đầu tôi luôn luôn có những chuyện gì đâu làm nghĩ ngợi. Tư không phải đánh thức, tai tôi đã nghe thấy tiếng mở chốt cổng. Chúng tôi ngồi tại chỗ, chờ đợi.

Tên Công An mở khóa cửa, vô buồng đếm số người ở nhà xong hắn quay ra cho lệnh anh em vô. Lại tiếng khóa kêu lách cách quen thuộc. Chờ tên Công An cài cổng ngõ xong, anh em mới nói chuyện ào ào về chương trình văn nghệ. Họ khen ngợi một nữ tù hát hay như ca sĩ chính cống. Mấy bữa nữa, họ mời một số tù nam qua Trại nữ, tham dự Văn Nghệ. Trong số được mời có Linh Mục Cao, giỏi về nhạc lý làm quản ca Đội tôi. Vị Linh Mục này cao ráo, đẹp trai, mỗi chiều chắp tay trước ngực cầu Chúa, đi vòng quanh sân tù. Tôi nhìn Linh Mục nói đùa: “Khoái nhé! đêm nay tha hồ nằm mơ”. Ông cười: “Bác này lắm chuyện, ngủ đi!”

Hôm sau, cơ nào đội ấy lại lãnh 50gr khoai luộc, phần ăn sáng, lại mặc bộ quần áo lao động cứng như mo vì kết mồ hôi và bụi đất. Sau khi nghỉ mấy ngày, đi lao động ai cũng chán. Chiếc sân chứa gần 1000 người vẫn còn rộng. Số người chỉ ngồi hết nửa sân. Mỗi Đội lại đựợc gọi số, tuần tự đứng lên đi ra cổng đã có tên Công An vũ trang chờ sẵn. Tụi Công An vũ trang thay đổi Đội luôn, vì tụi nó cũng sợ nếu ở lâu có thể bị tù “móc nối”

Hiện trường đã ở trước mặt. Chiếc lò gạch không hoạt động nằm im lìm trơ vơ giữa khu đất mênh mông.

Những quả đất đã đạp xong, nghỉ Tết chưa dùng tới, che bằng những tấm liếp nứa dùng lâu ngày đen đúa. Những luống rau “cải thiện” đã xanh um. Chủ nhân mừng ra mặt. Mỗi ngày thu hoạch một gô,”cải thiện” đỡ đói lắm!

Vì còn nhiều đất để lại từ trong Tết, nên sáng nay chúng tôi phải chuyển gạch đã khô, vô bãi cát, chờ nung. Công việc khá nặng nhọc, mỏi cả chân lẫn tay.

Ít bữa sau vì sức yếu, tôi được chỉ định nấu nước cho anh em uống. Mỗi ngày, tôi phải xin phép tên Công An vũ trang ngồi trên chòi cao, lên đồi hái trà. Hắn cho phép với điều kiện không được đi xa, để lúc nào hắn cũng có thể nhìn thấy. Tôi lội qua dòng suối dơ dáy, chứ không đẹp và sạch như ở Nghĩa Lộ, leo lên đồi trà. Tuy bỏ hoang vì quá già, nhung vẫn hái được búp non và lá xanh vì mùa xuân có mưa phùn, thời tiết thuận lợi cho cây cỏ. Trời vẫn rét như cắt ruột, gió thổi như rứt từng mảnh thịt. Mấy bữa cơm thịt đã tiêu hóa cả rồi, nên lúc này lại đói. Tôi leo lên đồi, tai ù ù, chứng tỏ mỏi mệt. Người ta nói:”mệt bỡ hơi tai” là thế sao? Sau khi hái, được lưng nón lá, tôi quay về, lại phải nghiêm chỉnh báo cáo với tên Công An vũ trang: “Thưa cán bộ, tôi đã về!”, và lại xin đi gánh nước ở chiếc giếng dành riêng cho tụi Công An dùng. Gánh nước, tôi phải chờ một anh nữa, cùng khiêng. Tự mình phải kiếm củi, tổ chức chỗ đun. Đun xong, chia đều cho mấy chục người, cũng khá vất vả!

Việc này tôi làm chừng một tháng, bỗng một buổi tên Công An Kỳ gọi tôi lên chỗ hắn làm việc hỏi:

– Tại sao anh hái trà, lại để dành búp cho riêng anh uống, còn anh em uống lá? Có người báo cáo như vậy !

Thấy đúng quá, tôi không trả lời được, nhưng trong lòng thắc mắc, không hiểu ai đã báo cáo? Khi hái trà, tôi lấy ít búp, phơi khô để dùng, vì trót nghiện trà từ mấy chục năm, quen uống Long Tỉnh và Thiết Quan Âm. Nay đi tù không có, thèm quá, phơi ít búp uống đỡ thôi, có đáng gì đâu mà phải báo cáo? Uống trà cái kiểu đun bằng thùng sắt tây, có trà trời cũng không ngon nữa là vài cái búp? Như vầy tên Kỳ có ăng-ten, nhưng ai? Sau, tôi biết, hiện hắn vẫn còn tù! Tên Kỳ cho lệnh tôi nghỉ, cử tướng Cao thay thế! Ông Tướng này cũng nấu như tôi thôi, đun lá trà trong thùng sắt 20 lít, thế mà Đội trưởng khen: “có khác”! Tiên sư cái lưỡi!

Nhưng Tuớng Cao chỉ nấu có vài ngày, trở về buồng, làm công tác cũ.

Tôi lại đạp đất. Sao trời lạnh mãi thế này? Đói và lạnh làm người khô héo dần. Ngày tháng qua hờ hững giữa cảnh đồi núi âm u vây chặt oán thù!

Lệnh đổi tiền được loan ra. Ai có tiền Ngân cũ, mang đổi tiền mới. Tôi còn 10 đồng, nghĩ không thể đem đổi được vì nội quy đã cấm tù không được giữ tiền Ngân. Tôi xé nát vứt đi. Trong buồng, có anh tiếc của đem đổi, y như rằng, vừa mất tiền lại còn bị làm kiểm điểm nhận tội.

Trong Đội tôi, may mắn, có anh được thăm nuôi. Người mẹ già và cô em gái sau mấy chục năm, khi gặp không nhận ra nhau. Chiều hôm trước, anh đang ngồi nắm than đốt lò gạch bên lề đường, có bà cụ và cô gái gánh một gánh nặng đi ngang, dừng lại, hỏi thăm đường vào Trại.

– Thưa cụ, tìm ai trong đó?

– Tôi đến thăm nuôi đứa con tên Cát đang cải tạo.

Anh mở tròn mắt nhìn bà cụ, cô gái, rồi thét lên:

– Con đây mẹ, và cô Thủy phải không?

Hai mẹ con ôm nhau khóc. Cô gái cũng khóc luôn. Tên Kỳ nhìn thấy, đến hỏi, rồi đưa bà cụ cùng cô gái đi ngược lên, nơi căn nhà dành cho thân nhân những người cải tạo, sau lùm cây soan. Anh là người được thăm nuôi đầu tiên, cũng là người cuối cùng, từ lúc đến đây tới khi rời Trại. Tôi cảm phục bà mẹ và cô gái, vì tình thương con, thương anh đã mất bao nhiêu thì giờ để xin được cái giấy phép và cố lặn lội tìm đến nơi đèo heo hút gió này để thăm nuôi đứa con, người anh đã thuộc thành phần phản động, đối tượng chính trị nguy hiểm của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa.

mạnh hải flickr

Anh Cát,người lùn mập vẫn tự nhận mình là hề Thanh Việt nhưng anh khôi hài rất vô duyên. Tuy biết trước nhưng sáng hôm sau, anh vẫn ngồi tập họp chờ đi lao động. Tên Công An trực gọi tên anh, được thăm nuôi. Gần 1000 cái đầu quay về phía Đội tôi ngồi, vì có người vừa đứng lên ra khỏi hàng. Chừng một giờ sau, khi chúng tôi đang lao động, nhìn ra phía đường, thấy Cát ăn mặc chỉnh tề đi theo tên Công An về phía nhà thăm nuôi!

Quanh đi quẩn lại một lúc đã thấy anh về, khệ nệ khiêng một bao tải đầy. Tên Công An đi sau, hai tay khoanh sau lưng. Chao ôi! đi bao nhiêu dậm đường, sau mấy chục năm xa cách, mà buổi gặp gỡ thâm tình phút chốc đã phải chia tay! Buồn thật! Tôi nhìn anh lê những bước chậm chậm một phần đồ nặng, một phần chắc trong lòng còn nhiều vương vấn! Một tiếng nói cất lên đâu đó.

– Thế là no rồi!…

Buổi trưa lao động về, thấy anh đang soạn quà. Hàng đống bánh chưng cùng nhiều gói khác bầy đầy chỗ nằm còn lan sang bên cạnh. Bữa trưa, anh biếu phần ăn cho người nằm kế bên. Anh này mừng húm. Thấy anh có quà, vài người tò mò nhòm ngó, thèm thuồng, nhưng trong hoàn cảnh này, ai có nấy hưởng, có nhòm chỉ thêm khổ, chẳng ích lợi gì?

Trong bữa cơm chiều, anh em vô cùng ngạc nhiên khi thấy Cát tặng mỗi Tổ một chiếc bánh chưng. Tất cả đều vui vẻ, khen nức nở. Sau khi cho xong, anh nói:

– Tôi biết, có thể bán, có thể đổi, có thể cho vay, để khi cần đòi lại, nhưng không làm vậy ! Tôi muốn, anh em cùng vui với tôi hôm nay!

Tiếng vỗ tay ào ào. Chiếc bánh chưng được bóc ngay chia đều. Miếng bánh tuy nhỏ nhưng ngon vô cùng. Đúng mùi bánh chưng, chứ không như chiếc bánh Trại phát hồi Tết, có chiếc sống nhăn, có chiếc không nhân, không thịt, vì bị anh em “làm góp” đã thuồn thịt và đậu vào những chiếc vớ len dài của quân đội, lén mang về dùng riêng. Khi phát giác được, đã mất một số đậu, thịt lợn. Chính vì chuyện ăn cắp này xẩy ra nên buổi sáng thứ hai vừa qua, tên Công An giáo dục đã gay gắt xỉ vả thậm tệ toàn Trại. Hắn chống tay vào mặt bàn nói:

– Khi chúng tôi nhận được tin các anh sắp đến Trại, chúng tôi đã chuẩn bị chu đáo để đón tiếp xứng đáng với cương vị các anh lúc trước. Nhưng sau một thời gian sống gần để tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy, các anh không xứng đáng với cách đối xử của chúng tôi. Các anh làm những điều không tốt đẹp như ăn cắp của nhau, của Trại. Các anh đói ư? Chúng tôi trong mấy chục năm chống Mỹ cứu nước cũng đói lắm, sao chúng tôi không làm vậy? Bây giờ các anh mới chịu thiếu thốn ít năm đã không chịu nổi, làm những chuyện đê hèn, vì thế, hôm nay tôi nói thẳng: Tôi khinh bỉ các anh!

Nói xong hắn lạnh lùng nhìn khắp lượt. Gần 1000 con người không ai có phản ứng. Trong số hiện diện tại đây, có người đến trước, có người đến sau. Nhưng người ở lâu nhất, chưa tới hai năm. Nghị sĩ có, Dân biểu có, cả ông Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Ký giả đã mang bị gậy đi ăn mày chung quanh chợ Sàigòn, làm nhục chính phủ và cũng đóng góp một phần vào sự sụp đổ của miền Nam sau này. Có từ anh Trung sĩ tới ông Đại tá. Đau vô cùng nhưng phải chấp nhận, vì đúng thôi.

Chắc nói đã hả, hắn lui ra, nhường chỗ cho tên Công An trực gọi các Đội đi lao động.

Tối hôm đó, anh Cát còn mời mọi người hút thuốc lào Tiên Lãng. Nhưng chỉ hơn một tháng, chính anh Cát lại đi lượm vỏ khoai lang để ăn cho đỡ đói. Qua năm sau, sống ở Trại Nam Hà trong dẫy núi Chiné, anh đau ốm phải đưa ra Trại Mể, thuộc tỉnh Hà Nam để chữa bệnh đau ruột, nhưng anh đã trút hơi thở cuối cùng tại đó. Trường hợp của Cát y hệt trường hợp của Tư, cũng đã mất tại Lào Cai vào khoảng tháng 4 năm 1978, sau hơn một tháng nằm bệnh. Người ta chở xác Tư vào ban đêm, khi các cửa buồng đã khóa, trên chiếc xe bò, đem chôn sau quả đồi, cách xa Trại khoảng 2 cây số! Tôi được nghe nói lại như vậy.

Trong buồng tôi còn có Hy, không hiểu anh có tội gì nặng với Cách Mạng cũng lẻo đẻo đi theo chúng tôi từ Trại này qua Trại khác. Khi ở Nghĩa Lộ, anh khá mạnh, gánh 20 kilô rau từ dưới suối lên đỉnh đồi, qua khu hậu cần coi như không. Nhưng nay anh bị phù, người chương lên, chân đi không vững. Anh được tên Mìn cho nghỉ lao động và ăn lạt. Mỗi bữa anh được nhà bếp cho một chén nhỏ mật mía. Mật ở đây rất nhiều vì gần Trại, có cơ sở nấu đường. Ruộng mía bạt ngàn. Nhưng tuy đường nhiều như vậy, chúng tôi vẫn thiếu đường. Có tháng phát 100gr, tháng không có. Đôi khi, mấy tháng được “ráp pen”, mấy trăm gram. Mỗi tháng, chúng tôi được nhà nước cho 3 đồng tiêu vặt, cũng chẳng thấy đâu! Thuốc lào, thuốc lá, kem đánh răng, mọi thứ đều không có, nhưng chẳng ai dám thắc mắc? Khi còn ở Nghĩa Lộ, có người đã nêu lên vấn đề, số tiền hơn 12 ngàn đồng góp tại Don Bosco trong ngày đầu trình diện, mới chỉ được ăn vài bữa, nay xin hoãn lại số dư. Tên Trại trưởng nói:

– A, a, vấn đề này các anh không nên đặt ra. “Trên” sẽ giải quyết.

Chờ mấy năm nay, chả thấy ai giải quyết. Thế mà mỗi khi chửi chúng tôi, tụi Cộng Sản cho rằng họ trong sạch, không tham nhũng! Qua những trại tù, tôi nhận thấy tụi Cộng Sản là “vua tham nhũng” chúng ăn chặn lương thực cũng như thực phẩm làm tù đã đói, lại đói thêm.

Anh Hy thèm thịt quá năn nỉ tôi bữa nào có thịt trâu đổi cho anh, tôi lấy chén mật bữa đó. Vì không ăn được thịt trâu, tôi hoan hỉ nhận lời. Có lẽ, một phần vì đó, bệnh của anh không bớt. Trên một năm sau khi chuyển về trại Nam Hà, anh cũng được đưa ra Trại Mể để chữa trị, nhưng định mệnh buộc anh phải giã từ cuộc sống, giã từ vợ con và “người tình” vĩnh viễn.

Tuy đã cuối tháng hai, tiết trời vẫn lạnh. Mưa gió dầm dề. Ban Giám Thị tổ chức học tập chính trị, cán bộ từ Trung Ương gửi lên để hướng dẫn. Số học viên được chọn lựa chừng 200 người. Trong thời gian học tập, các học viên được bồi dưỡng trứng, thịt và đường. Ngày khai giảng, chúng tôi tuy không được “hân hạnh” tham dự khóa học, nhưng mỗi người cũng được một trứng vịt. Trong giờ lao động, căn nhà ăn của mỗi buồng, được dùng làm lớp học. Mỗi toán, do một tên Công An đặc trách trông coi suốt 7 giờ mỗi ngày. Sáng 4, chiều 3. Nội dung bài học cũng là Bản Tự Khai, nhưng tỉ mỉ hơn nhiều, viết lại cả đời người từ năm lên 6 tuổi tới ngày 30-4-1975. Trời rét, tay tê cóng, vẫn phải viết. Mỗi ngày, viết xong bản nháp đưa nộp hết cho tên Công An phụ trách. Hắn mang về đọc sáng mai phê bình. Chỗ nào chưa sát, thiếu thành khẩn, viết lại. Viết xong, lại nộp. Khi viết xong, có bản dầy tới 2,3 trăm trang như một cuốn tiểu thuyết. Các “học viên” phải nộp cả bản nháp lẫn bản chính. Tôi rùng mình, lo sợ ngày nào đến phiên mình phải học tập kiểu này. Khi ở Long Giao, chúng tôi đã làm, nhưng so với bản “Tiểu Sử Lý Lịch” này, nó không thấm vào đâu. Người khai phải viết hết từng ngày, từng tháng, từng năm các công việc đã trải qua. Liên hệ gia đình, ông bà, bố mẹ, nội ngoại, vợ con, anh em, con cháu, họ hàng ngang dọc, làm nghề gì, còn sống hay chết, tham gia đảng phái nào? Thầy học, bạn bè, trưởng lớp. Ai chỉ huy mình, mình chỉ huy ai, cố vấn tên gì? Tham dự bao nhiêu chiến dịch và trận đánh? Bao nhiêu huy chương, vì sao thăng cấp? Giết bao nhiều quân Cách Mạng, ở đâu? Đi nước ngoài bao nhiêu lần? Học những gì ? v.v…

Bản tiểu sử chia làm nhiều đề mục. Mỗi đề mục, một vấn đề nhất định, không thể thiếu sót. Có muốn bỏ bớt cũng không được. Có những vị Đại tá đã về hưu từ lâu, nay đi học tập, phải khai khoảng 60 năm dằng dặc! Chao ôi! 60 năm, một đời người được kể lại chi tiết trong mấy trăm trang giấy! Những người học tập, tuy được ăn bồi dưỡng, không phải lao động dầm nắng dãi mưa, nhưng ai nấy đều bơ phờ, gầy rạc hẳn đi. Mỗi sáng, chiều khi đi lao động tôi đều nhìn thấy họ ôm một xấp giấy đi vô các buồng, có tên Công An theo sau. Trong lòng tôi, thấy bồn chồn, tức tối, uất hận! Tôi nghĩ rồi đây, các tập “tiểu sử” đó sẽ được tụi Công An chuyên môn tra cứu, tìm hiểu, đánh giá và các con cháu của người khai, nếu chưa “chui” ra ngoại quốc được, sẽ chịu ảnh hưởng ít nhất, cũng ba đời…