Văn học Miền Nam 54-75

vanviet.info

Phạm Thiên Thư

5 Tháng Ba, 2021

Nguyễn Đức Tùng

gởi Kathy Hoang

Post by Sơn râu 22 May 2024

Kỳ 8

Thơ Phạm Thiên Thư là thơ để ngâm, để hát, là chanson poétique.

Tiếng em hát giữa giáo đường

Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng

Đúng ra, thơ ông có điệu nói lẫn điệu hát. Là tu sĩ Phật giáo nhưng vẫn nhắc đến Chúa: đó là tinh thần tự do của Phạm Thiên Thư. Nhiều người cho rằng thơ ông được phổ biến là nhờ ca khúc do Phạm Duy phổ nhạc, hoặc vì ông là thi sĩ kiêm thiền sư, những cái ấy đều có thể đúng cả, nhưng thơ không hay thì không ai nhớ. Vậy phải có mấy thứ cùng lúc: văn hóa và văn bản. Nhà phê bình Đặng Tiến có một nhận xét thú vị rằng câu “rằng xưa có gã từ quan” là câu thơ được nhớ nhiều nhất. Điều đó quả nhiên đúng, nhưng tôi nghĩ có lẽ vì nó được phổ nhạc, và là câu mở đầu của bài hát. Nếu Phạm Duy chọn câu khác, ví dụ câu thứ nhất của Động hoa vàng “Mười con nhạn trắng về tha”, thì biết đâu câu ấy lại nổi tiếng hơn?

Bạn nói vậy hoá ra câu “rằng xưa” ấy không có giá trị gì? Cũng không phải thế. Đó là câu nghe qua cũng tầm thường, nhưng với lối nói lửng lơ, nhiều hư từ, của người Việt, nó lại gợi ra nhiều thứ. Nó mở ra, mông lung. Bùi Giáng có nhiều câu như vậy. Một chữ thành công phải đúng thời điểm, mở đúng cánh cửa. Mà một cánh cửa chỉ có một người mở. Nhưng trước hết nó phải kết tụ tiếng nói của dân tộc, như một thứ “tổng kết thời đại.” Ở miền Nam ai không thấy cảnh nữ sinh áo dài tha thướt ùa ra cổng giờ tan trường, nhưng phải đến Phạm Thiên Thư, thơ mới bật ra bốn chữ:

Em tan trường về

Cũng một trường hợp khác, ví dụ, Nguyễn Tất Nhiên, với:

Có còn hơn không

Mà ông thường có những câu những chữ như thế. Đây là một ví dụ khác:

Thì thôi mù phố xe đường

Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

Nhiều hư từ. Nhưng trong lần đọc đầu tiên, tôi nhớ liền. Những chữ như thế xưa nay vẫn dùng, nhưng khi kết hợp lại, chúng trở nên mới.

Có ngần ấy thôi

Tất nhiên là từ câu Kiều;

Ái ân ta có ngần này mà thôi

Nhưng tám chữ ấy tuy hay thì hay thật, Nguyễn Du mà không hay?, lại rõ ràng, cay đắng quá. Cắt ra bốn chữ: thành mơ hồ. Cái gì ngắn cũng mơ hồ. Chỉ có một chữ thần tình phải giữ lại, chữ ngần. Chữ ấy được ông dùng tới vài lần nữa. Phạm Thiên Thư láy ca dao:

Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng

Động tác leo trèo là quan trọng nhất, trèo lên cây bưởi hái hoa, chứ không phải chữ, vậy nên thi sĩ đổi phắt chữ trèo trong ca dao thành leo, miễn nó hợp vần. Một câu thơ hay không bao giờ để chúng ta yên. Nó đánh thức người ta như tiếng chuông. Đang ngủ, nó dựng bạn dậy. Ủa, tiếng chuông văng vẳng đâu vậy kìa?

Ngày xưa anh đón em

Nơi gác chuông chùa nọ

Có bạn còn tưởng mình đang ở Tô Châu, gần chùa Hàn San.

Thì ra sự nối kết của loài người lớn hơn nỗi cô đơn của họ.

Tôi cần nhấn mạnh rằng mặc dù tạo ra chữ mới hay tập hợp các chữ mới là một đóng góp của Phạm Thiên Thư, chính khuynh hướng thẩm mỹ của ông, tư duy nghệ thuật của ông, phù hợp với thời đại của mình, mới là nguyên nhân làm cho thơ ông có giá trị lâu dài. Ngay những bài thơ đầy hoài niệm cũng biết lay gọi, đặt câu hỏi. Những câu hỏi kín đáo, xa vời, nhưng ám ảnh. Bài thơ đầu tiên của Phạm Thiên Thư là bài tôi vừa nhắc, Vết chim bay:

Ngày xưa anh đón em

Nơi gác chuông chùa nọ

Con chim nào qua đó

Còn để dấu chân in

Anh một mình gọi nhỏ

Chim ơi biết đâu tìm

Mười năm anh qua đó

Còn vẫn dấu chân chim

Anh một mình gọi nhỏ

Em ơi biết đâu tìm

Ngày xưa anh đón em

Trên gác chuông chùa nọ

Bây giờ anh qua đó

Còn thấy chữ trong chuông

Anh khoác áo nâu sồng

Em chân trời biền biệt

Tên ai còn tha thiết

Trong tiếng chuông chiều đưa

Ngày xưa em qua đây

Cho tình anh chớm nở

Như chân chim muôn thuở

In mãi bậc thềm rêu

Cõi người có bao nhiêu

Mà tình sầu vô lượng

Còn chi trong giả tướng

Hay một vết chim bay!

Nhịp năm chữ. Bài này được Cung Tiến phổ nhạc, hình như trước Phạm Duy với Ngày xưa Hoàng Thị, nhịp bốn chữ. Nếu là bài thơ đầu tiên thì cũng hợp lý, vì ngôn ngữ mộc mạc, không tài hoa như bài kia. Tuy vậy đã lộ ra phong cách riêng trong những câu như:

Cõi người có bao nhiêu

Mà tình sầu vô lượng

Những chữ như “vô lượng” hay “giả tướng” của nhà Phật lần đầu được đưa vào thơ, mà đưa tài tình. Nghệ thuật của Phạm Thiên Thư nhấn mạnh ở sự lặp lại. Âm nhạc là lặp lại, hay trùng điệp. Trong một bài thơ ngắn, chữ chim xuất hiện năm lần, chữ chuông bốn lần. Trùng điệp (repetition) là thứ dễ nhất mà cũng khó nhất trong nghệ thuật tu từ. Bên cạnh chữ và nhạc điệu, thơ Phạm Thiên Thư có hình ảnh đẹp, nhưng mang tính tượng trưng. Chẳng hạn, hoa trong thơ ông, hoa đào, hoa lan, hoa vàng, cũng nhiều như hoa trong Thơ mới, trong thơ Chế Lan Viên sau này, nhưng chúng hiện hữu như biểu tượng: nhà thơ không mô tả một bông hoa cụ thể; không cảm xúc vì một cái bông riêng biệt nào; chúng xuất hiện như cái phông (background) hay như một đại diện, gây ra các liên kết. Con người khác nhau, cô đơn, nhưng đó chỉ là những quan sát bề mặt, vì từ trong sâu xa họ chỉ là một.

Lần lưng còn một hạt đào

Quyết đem hạt nọ ương vào vườn kia.

Nguyện sau cây lớn xum xuê

Bên đường cho khách đi về nghỉ ngơi.

Nguyện xin trái thẫm hoa tươi

Lợi riêng nhưng để người người hưởng chung.

Bốn câu trên là thơ, hai câu dưới là kệ. Nhờ liên kết trong không gian mà chúng ta có thế giới, nhờ liên kết trong thời gian mà chúng ta có lịch sử. Mối quan hệ giữa tính nghệ thuật và tính thông điệp không phải dễ giải quyết. Trước hết bài thơ phải được bạn yêu mến, sau đó nó mới có thể làm bạn thay đổi. Thơ lục bát là loại thơ có hệ toạ độ, người đọc có thể đóng vai người viết và ngược lại: không có sự khác biệt lắm giữa sáng tạo và thưởng thức. Trong nghi lễ và phong tục, con người trở lại với nhạc điệu, vì vậy mà có hai chữ thơ ca, làm sống lại tình yêu đối với cuộc sống. Thơ Phạm Thiên Thư, cũng như nhiều nhà thơ ở miền Nam thời ấy, sử dụng nhiều thơ có vần. Thực ra, về hình thức, như thế là cũ. Chim chóc, suối, hoa, rừng, cũng là những hình ảnh không có gì mới, nhiều thi nhân đã nói, nhưng đến Phạm Thiên Thư chúng trở thành thiêng liêng.

Lớn lên giữa núi xanh rì

Cỏ hoa như thể tứ chi cận kề

Chữ tứ chi cũng là thần tình. Ẩn dụ là liên kết hình ảnh có tính linh cảm giữa hai sự vật, là hoạt động vô thức, bạn không biết tại sao, có những mạch ngầm bên dưới không hiểu được, những mạch ngầm ấy được chia sẻ bởi nhiều người. Phép ẩn dụ vừa cần mới lạ, gây ngạc nhiên, nhưng cũng phải chừng mực, dễ hiểu. Không những “động hoa vàng” là câu chuyện về “gã” bỏ quan trường về, mà còn là hình ảnh của con người bơ vơ đi tìm nguồn cội. Ẩn dụ của Phạm Thiên Thư lớn, đẹp, hòa hợp với tâm thức người Việt, trong một xã hội loạn lạc.

Ngày xưa áo nhuộm hoàng hôn

Dáng ai cắp rổ lên cồn hái dâu

Tiếng nàng hát vọng đôi câu

Dừng tay viết mướn lòng sầu vẩn vơ

Lều tranh còn ủ chăn mơ

Mối tình là một bài thơ vô đề

Ẩn Lan ơi! Mái tóc thề

Gió Xuân nay có vỗ về suối hương

Đêm nao ngồi học bên tường

Nến leo lét lụi, chữ vương vắt chìm

(Đoạn trường vô thanh)

Thơ tình không tạo ra niềm hy vọng giả dối nào: chúng đều buồn. Vì hầu hết tình yêu sẽ thất bại. Con người chấp nhận thất bại trước số phận nhưng không bỏ cuộc, mà suốt đời săn đuổi ý nghĩa của tồn tại, ý nghĩa của tình yêu, của đau khổ. Một chủ đề thường xuyên của Phạm Thiên Thư là mối quan hệ giữa tình yêu và cái chết, cuộc sống và sự lụi tàn. Xoay quanh chủ đề ấy, phong cách nghệ thuật của ông ngày càng rõ nét.

Hè sang phượng nở

Rồi chẳng gặp nhau

Ôi mối tình đầu

Như đi trên cát
Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng nhòa mau
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ
Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng ráng đỏ
Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu?

Bài thơ nói về sự vô vọng, sự trống rỗng, cuộc trò chuyện giả tưởng giữa hai người. Thực ra chưa phải là tình yêu mà là ước muốn, theo đuổi, tìm kiếm, chia ly, sự im vắng của kỷ niệm được ngôn ngữ bắt giữ, trở thành một thế giới không thể hiểu được, trở thành lời thì thầm độc thoại. Đôi khi bài thơ tựa như cách diễn tả những cảm xúc khác nhau, thăm dò những tình huống trái ngược, nhờ vậy tạo ra đáp ứng ở người đọc. Chủ nghĩa lãng mạn vẫn còn là khuynh hướng lớn của thơ miền Nam thời kỳ Phạm Thiên Thư, bên cạnh khuynh hướng hiện thực và khuynh hướng hiện sinh. Trong khi ở ngoài Bắc cùng thời nó đã bị thay thế bởi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, thì trong Nam sau một thời gian lùi bước, có sự quay trở lại của phong cách lãng mạn, mà Phạm Thiên Thư là tiêu biểu. Nhưng đó là một chủ nghĩa lãng mạn mới, hiện đại hơn; và tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư cũng pha màu siêu thực, là những thử nghiệm: tình yêu tuổi học trò ở một người đã qua giai đoạn ấy, tình yêu trần tục ở một thiền sư, tình yêu của cổ nhân trong con người hiện đại. Đó là tình trạng hưng cảm kèm với lo âu, lo âu về bản thân mình và về đối tượng hướng tới, bề ngoài gần gũi với thiền, mà bên trong là sự lo lắng. Thực ra:

anh trao vội vàng

chùm hoa mới nở

là những câu phi thời gian. Không còn cũ hay mới. Cũng như:

nhưng mỗi năm mỗi vắng

người thuê viết nay đâu

(Vũ Đình Liên)

Nhiều nhà thơ đương đại tránh xa xúc cảm. Kể ra cũng phải, thế giới ngày nay đòi hỏi một cách biểu hiện khác cho những tình cảm mới, giữa những người sống không quá khứ, không lý tưởng, quay đảo trong cơn lốc của chủ nghĩa tiêu thụ, ngày càng xa nguồn cội. Trong hoàn cảnh ấy, Phạm Thiên Thư là người đại diện cuối cùng của một không khí tiền chiến kéo dài. Kỳ lạ thay, ngay trong chiến tranh, cận kề cái chết, con người có thể sống đẹp như huyễn mộng. Có một cố gắng phối hợp giữa các ý tưởng luân lý hay triết học và sự giản dị có tính thơ ca, nhưng không phải khi nào Phạm Thiên Thư cũng thành công và đạt đến sự hài hòa.

Con ơi con ngủ cho lành
Chắt chiu nguyện ước gửi vành trăng non
Mẹ nghèo còn tấm lòng son
Giờ gieo câu đố, con tròn mộng sau
Thẳng gì hơn những thân cau
Mềm gì hơn những dây trầu leo quanh

(2009)

Tuy vậy, mười bài Đạo ca của ông là một thành tựu xuất sắc, được Phạm Duy phổ nhạc, và nghe nói Thái Thanh thích hát nhất.

Xưa em là kiếp chim

Chết mục trên đường nhỏ

Anh làm cội băng mai

Để tang em, chờ mấy thuở

Xưa em là chữ biếc

Nằm giữa lòng cuốn kinh

Anh là thiền sư buồn

Ngồi tụng dưới ánh trăng

Tình cảm tác giả chất phác, mà ngôn ngữ thì không.

Cái chết không chỉ là sự chấm dứt đời sống mà còn là khởi đầu của một loại thời gian khác. Chúng ta đến đó, gần bờ vực, biết rằng bên kia mọi việc đã thay đổi, có người than khóc, có người kể chuyện, hát những bài hát. Bài Em đi lễ chùa của Phạm Thiên Thư là một trong những bài thơ đặc sắc nói về cái chết. Hình như người kể là một tu sĩ trẻ, và nhân vật nữ là có thật. Nó nhắc tôi nhớ đến bài của Huyền Kiêu:

Hạ đỏ có chàng tới hỏi

Em thơ chị đẹp em đâu

Chị tôi hoa trắng cài đầu

Đi bắt bướm vàng ngoài nội

Tất cả sức nặng của tình yêu, chiều sâu của cái đẹp, sự tiếc nuối, lòng thương xót, quyện vào nhau. Bài thơ là lời ai điếu cho người ra đi, nhưng cũng là tiếng cầu kinh, giúp một linh hồn sớm về cõi khác. Về đâu?

Sao ta biền biệt chưa về

Lưng đồi sim tím bốn bề chim ca

Joseph Huỳnh Văn viết trong tập Động hoa vàng: “Tìm về cái muôn thuở- muôn nơi cũng có nghĩa là không về đâu cả, nên trong thơ, người thi sĩ biết rõ điều nghịch lý đó, hiểu rằng chỉ còn có cách về, chỉ còn có những lời đẹp cho giấc mộng không bến bờ. Những chữ tìm tới giấc mộng không bến bờ không ràng buộc thường có vẻ đẹp hững hờ đạm bạc.” Thơ Phạm Thiên Thư thực ra có nhiều chữ và cách nói cũ, sáo, chứa một thứ triết lý đạo Phật bình dân; mà ông cũng không cố tỏ ra là bậc chân tu biết nhiều hiểu rộng. Sự việc một thiền sư làm thơ tình và thơ hay đã gây dư luận sôi nổi một thời. Sau Phạm Thiên Thư, hiện tượng ấy không lặp lại. Thơ ông là một thứ thơ thiền nổi loạn. Câu mở đầu của tập Động hoa vàng trong đoạn đánh số một:

Mười con nhạn trắng về tha

Như lai thường tụ trên tà áo xuân

Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền

Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm

Thơ thiền mà tình tứ, không những tình tứ mà nhục thể, gợi tình, táo bạo. Độc giả lúc nào cũng thích ăn trái cấm. Nguyễn Du từng dạy: tu là cội phúc, tình là dây oan, nhưng vị thiền sư này làm ngược lại, ông kết hợp hai thứ. Ông nổi tiếng một phần vì vậy. Nhưng ta cần nhớ rằng những tài năng thực sự cao hơn dư luận. Trong khi tác giả nói về tình yêu thì cũng nói về tính nguyên thủy của tạo vật.

Đoạn trường

Sổ gói tên hoa

Xưa là giọt lệ nay là hạt châu

Đây là Đoạn trường vô thanh, ra đời năm 1972, được tặng giải thưởng văn chương toàn quốc 1973. Tác giả viết tiếp Đoạn trường tân thanh, như một tri âm của Nguyễn Du đến sau mấy trăm năm. Mê Kiều đến thế là cùng. Năm 1992, Phạm Thiên Thư viết: “Một đêm nằm mơ, ở đất Tân Bình – gặp Người Đẹp tặng tấm gương soi và cây bút. Tỉnh dậy, mới biết ấp trang Vô Thanh trên ngực mà ngủ quên – Tự nghĩ mặt mày mỗi ngày còn phải rửa lại, huống chi là hư truyện đã viết cách nay trên hai mươi năm – đọc lại lắm chỗ chẳng được như lòng… Nên đêm nay, khêu đèn dầu hao, tựa mảnh trăng tròn hơn ngoài cửa, mượn Người Đẹp ngọn ý bút, nhuận sắc lại Vô Thanh, cốt để tự soi mình vậy – Nay thêm đôi dòng tạ tội. 21-4-1992”.

Non Hồng núi Tản chim ca

Sông Hà sông Cửu la đà dòng xuôi

Núi sông chiếu diện tinh khôi

Ngọc lên mặt biển, vàng trôi mạch rừng

Mừng Người Trời Đất tưng bừng

Ruộng Lam trâu kéo một vừng long lanh

Những câu thơ cuối nhắc lại niềm mơ ước của thi sĩ: đất nước hòa bình, xã hội thanh bình, thiên hạ thái bình. Phạm Thiên Thư viết rất nhiều thơ trong một giai đoạn ngắn, những năm bảy mươi, điều này làm  người đọc khó theo dõi. Tôi liệt kê lại cho những bạn quan tâm:

– Động hoa vàng (1970)

– Hội hoa đàm (1971)

– Đạo ca (1972)

– Đoạn trường vô thanh (1972)

– Suối nguồn vi diệu – Kinh thơ (1973)

– Ngày xưa người tình (1974), trong đó có các bài Ngày xưa Hoàng Thị và Em lễ chùa này.

– Trại hoa đỉnh đồi (1975)

– Những lời thược dược (2007)

– Hát ru Việt sử thi (2009)

Sau năm 1975 ông ít xuất hiện, thế hệ sau chỉ biết đến ông qua vài ca khúc được Phạm Duy phổ nhạc; nhạc ấy cũng bị cấm phổ biến nhiều năm. Đối với nhiều người khác, thơ ông quá cảm xúc, trong khi thời đại ngày trở nên khách quan, hài hước. Thế giới của ông là một thế giới đẫm vị thiền, phảng phất tình yêu thơ mộng, sầu muộn nhưng không thảm khốc. Tôi nhớ tập thơ Động hoa vàng khổ nhỏ màu vàng trong sáng, do một người bạn gái tặng, có in lời của Thích Minh Châu và bìa sau vẽ minh họa thiền sư Phạm Thiên Thư thật đẹp.

Thời thế thay đổi, chàng thi sĩ của Hoàng thị cởi áo cà sa hoàn tục; người yêu thơ không mấy khi thấy ông nữa. Điều đó chứng tỏ thơ Phạm Thiên Thư cũng như nhạc Phạm Duy là sản phẩm của một hoàn cảnh xã hội, một thứ kỳ hoa dị thảo chỉ nở trong một giai đoạn khi những giấc mơ được phép sống lại, các thế giới được phép giao thoa. Thực ra Phạm Thiên Thư cũng có cố gắng viết theo yêu cầu mới, sau 75, nhưng không được chú ý mấy. Tôi thấy tiêu biểu là mấy bài như sau đây.

Trong lòng đất thâm sâu

Thốt một nhành thược dược

Đóa hoa như giọt nước

Lóng lánh hồn thiên thâu

Từng cánh hồng đan nhau

Xòe những lời bất tận

Lòng đất già lận đận

Ướp thơm những chùm hoa

Hoa nhiệm mầu trong ta

Đất nhiệm mầu trong nụ

Cây dương cầm vũ trụ

Đất góp khúc tình ca

Thược dược hồng môi hát

Gió tơ trời bay đi

Cây đàn tình xanh ngát

Mười ngón đời vân vi

Ai biết đất nói chi

Trong những lời thược dược

Đóa hoa như giọt nước

Lóng lánh hồn thiên thâu

Trên môi nàng ca sĩ

Những cánh tình bay mau

(Những lời thược dược. 19-12-1988)

Mai em ra trường

Đi xa dạy học

Hứa dạy trẻ đọc

Trang sử đấu tranh

Của dân tộc mình

Miệng cô xinh xinh

Giảng về cách mạng

Và trên vầng trán

Ngời ánh quang vinh

Em đem bình minh

Về từng mắt trẻ

Anh tưởng tượng thôi

Đã rưng nghẹn lệ

Yêu em vô kể

Cô giáo ngày mai

Con đường tương lai

(Ngày mai) (1)

Thơ như thế thì cũng chưa phải là cách mạng lắm. Có lẽ Phạm Thiên Thư giống những trí thức miền Nam trước, ngây thơ, thánh thiện, cũ. Không khí lãng mạn đã chết, thiết chế xã hội nâng đỡ nó không còn, một vài nhà văn vẫn viết nhưng Phạm Thiên Thư gần như đã xong, dù có xuất bản vài tuyển tập khác, và có lần xuất hiện bên cạnh Phạm Duy, trong một chương trình sân khấu rực rỡ. Vậy, thơ giúp người ta sống cuộc đời mình như thế nào?

Một đêm nằm ngủ trong mây

Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời

Bài thơ tựa như người được đánh thức, giây phút bừng sáng chiếu rọi khắp trang giấy. Bất chấp những ý niệm cũ, những chữ đã được dùng nhiều lần, trở nên mòn sáo, sự quyến rũ của Phạm Thiên Thư vẫn còn đó. Ông nhiều lần nhắc đến hình ảnh từ quan:

này mộng ảo trả về mộng ảo

khăn gói lên, treo ấn từ quan

Một bài thơ hay làm ta thao thức, trở đi trở lại, tự hỏi, đặt ta vào dòng chảy của đời sống. Thơ giải phóng con người khỏi thế giới đầy tin tức, những ứng dụng hữu ích, ở đó con người đầu hàng các phương tiện, trở thành một phần của các phưong tiện ấy. Thơ đi ra từ nhịp điệu vũ trụ, bốn mùa, nhịp điệu cơ thể. Thơ làm cho những kinh nghiệm riêng tư chốc lát trở nên có thể hiểu được và tái lập được. Tái lập là điều quan trọng trong các thí nghiệm khoa học và cũng quan trọng không kém đối với nghệ thuật. Một bài thơ hay mang lại cảm giác tương tự, dù bạn đọc ở đâu, lúc nào. Thơ mang chúng ta vượt qua ranh giới giữa hữu thức và vô thức, giữa quá khứ và hiện tại, giữa người nói và người nghe.

Đầu mùa Xuân cùng em đi lễ

Lễ chùa này – vườn nắng tung bay

Và ngàn lau – vàng màu khép nép

Bãi sông bay – một con bướm đẹp

Cái chết là ngưỡng cửa, không những cho người chết mà còn cho người sống. Người sống mới là nạn nhân của cái chết. Kẻ thương tiếc nhận ra cái bóng của sự chết, như nhìn thấy vực thẳm, chia lìa, đoán trước được nó, và sự tiên đoán ấy làm họ lo âu, khốn khổ.

Trời cuối thu rồi em ở đâu

Nằm trong đất lạnh chắc em sầu

(Đinh Hùng)

Thơ Phạm Thiên Thư khác thế, cũng dẫn người đọc đi qua mất mát, đi qua cái chết ấy, nhưng hồi tưởng mà không sợ hãi. Đó là thơ của sự đau buồn sâu xa nhưng dịu dàng, sự kháng cự số phận theo kiểu khác. Nhà thơ mang lại hình ảnh luân chuyển của sự sống và cái chết, của hạnh phúc và đứt gãy, như nhịp tuần hoàn vũ trụ. Sự lặp lại của các chữ trong thơ khi nói về cái chết chính là sự lặp lại của mùa.

Tàn mùa Đông vào chùa bỡ ngỡ

Tiễn đưa em trong áo quan này

Từng cội hoa – trầm lặng thương nhớ

Tóc em xưa – tơ óng như mây

Bài thơ của Phạm Thiên Thư có đủ bốn mùa xuân hạ thu đông.

Cho đến khi nào chúng ta chấp nhận nó, cái chết, chấp nhận thua cuộc, chúng ta chịu lìa bỏ hạnh phúc tạm bợ trần gian, lúc ấy mới có thể có thức tỉnh. Tuy là một thiền sư, Phạm Thiên Thư không nhắc nhiều đến các lý thuyết Phật giáo, và về mặt này, ông hồn nhiên. Nếu có ý thức làm một tu sĩ, ông sẽ có những câu thơ nặng rao giảng, khuyên nhủ, cũng như trường hợp các thiền sư khác, như thơ Nhất Hạnh. Nhưng thơ không phải là tiếng nói của triết học. Khác với một số nhà thơ đi trước, ông không đẩy tình cảm của mình, yêu ghét, hạnh phúc, đau khổ, lên đến cực điểm. Không có những câu ca ngợi diễm ảo:

Anh nhớ em ngồi đây tóc ngắn

Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh

(Nguyên Sa)

Thơ tình Phạm Thiên Thư cũng không nặng về nhục thể như Bích Khê, không thần bí như Đinh Hùng, không đau đớn như Du Tử Lê, không bất cần như Nguyễn Tất Nhiên. Đó là sự cân bằng giữa thực và ảo, giữa hiện thực và siêu thực, một thứ chủ nghĩa lãng mạn hiện đại. Trong một vài năm ngắn ngủi, Phạm Thiên Thư trung thành với câu chuyện tình yêu của mình. Nhưng có khi ông càng viết, người đẹp của ông càng trở nên một thánh nữ:

Khép mắt ta nhìn em

Thấy hình hài diễm lệ

Đứng trên ngàn sóng bể

Trấn át ngàn phong ba

Hình ảnh ấy không thuyết phục. Tôi e rằng nàng thơ (Muse) của các thi nhân không thích cái gì quá siêu phàm, mà chỉ thích bay la đà mặt đất? Bốn chủ đề: tình yêu, đạo pháp, cái chết và thời gian, thiên nhiên và giấc mơ thái bình. Ngôn ngữ Việt trong thơ ông trở lại với sự trong sáng của thơ có vần, đôi khi như lời hát ru, đôi khi mạch lạc như sự thức tỉnh. Một thứ chủ nghĩa sinh thái nguyên sơ, gần với tôn giáo nguyên thủy.

nền chợ xưa giờ họp lách lau

hỏi cô hàng xén giạt về đâu

đêm đêm bầy đóm xanh từng chiếc

tụ giữa nền hoang nhóm lửa sầu

(Đom đóm)

Tình yêu dưới mái hiên chùa là sự táo bạo vừa phải, cũng thách thức xã hội nhưng được dư luận chấp nhận, vì hình như đó chỉ là tình hư ảo. Việc dùng nhiều điển tích hoặc giai thoại cũng là một đặc điểm thú vị.

Ván cờ bày trắng bông đào

Sao lên núi thẳm trăng vào chén không.

Thiên nhiên có mặt thường trực. Dù viết về đề tài gì, thơ ông cũng được đặt vào phong cảnh, cây cối, chim chóc, đất trời, bằng một ngôn ngữ có phần tượng trưng. Không thấy rõ trong thơ các ý thức về xã hội chính trị, thậm chí chiến tranh cũng chỉ hiện ra thấp thoáng. Thế nhưng niềm mơ ước đối với hòa bình ở ông thật lớn. Có ba khái niệm khác nhau: hòa bình là để phân biệt với chiến tranh, không có chiến tranh tức là hòa bình, không có hòa bình tức là chiến tranh. Thanh bình tất nhiên phải có hòa bình nhưng là một tình trạng tốt đẹp hơn, không có xáo trộn, chính sự phiền hà. Nhưng thái bình mới là tình trạng lý tưởng, ngày xưa được hiểu như thời thịnh trị, chính quyền liêm chính, trí thức trong sạch, người dân sống tự do, vui vẻ, lành mạnh. Thơ ông là niềm ao ước về một xã hội thái bình như vậy, lời kêu gọi trở về nguồn cội, đi tìm cái vĩnh viễn trong sự chuyển dời, là lời cầu nguyện dành cho quê hương. Đó là một trong vài chủ đề lớn nhất của Phạm Thiên Thư. Kết thúc trường thi Động hoa vàng, tác giả nói lại giấc mơ của mình lần nữa, về non nước cũ.

Mai sau trời đất thái bình

Về lưng núi phượng một mình cuồng ca

Gây dàn thiên lý vàng hoa

Lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây

Phạm Thiên Thư là một trường hợp đặc biệt, về xuất thân và thi pháp. Thơ ông giàu nhạc tính, di chuyển giữa những trầm tư, giấc mộng, độc thoại và đối thoại, ngôn ngữ thơ ấy giản dị nhưng không chất phác, vần điệu cũ nhưng phối hợp chữ rất mới, và ý tứ thoáng đãng, tác động đến người đọc trong mênh mông các liên kết văn hóa. Người đọc về sau còn nhớ đến thơ ông vì đó là suối nguồn trong lành tắm mát cái tôi của họ. Cái tôi trong chủ nghĩa lãng mạn tiền chiến là cái tôi cô độc lẻ loi, với trục tọa độ một chiều, thời gian qua đi không trở lại. Lòng yêu đời là sự khao khát vội vã, tiếc nuối vì thời gian vụt mất, chóng mặt:

Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi

(Xuân Diệu)

Cái tôi trong chủ nghĩa lãng mạn mới như trường hợp Phạm Thiên Thư là cái tôi trở lại với thời gian như những chu kỳ, có sinh có diệt, có được có mất, trong lẽ tuần hoàn. Thấy được như thế nên thi nhân tiếc nuối mà không đau đớn, yêu đương mà không vội vã. Đối với cái chết, cái mất mát, những bi kịch con người, câu trả lời của đạo, của thơ là trở về với uyên nguyên. Nhà thơ có lần tâm sự: “Trước khi viết, tôi ăn chay, nhập thiền, cầu nguyện và viết. Tôi không nghĩ đó là thứ ngôn ngữ của mình mà cảm giác có một phép mê dụ, ảnh tượng vô hình nào đó dụ dẫn. Khi tĩnh tâm đọc lại từng trang thơ, tôi không nghĩ là mình có thể viết được như vậy”. Nhờ những điều kiện xã hội thời ấy, đầu những năm bảy mươi thế kỷ trước ở miền Nam, Phạm Thiên Thư đã viết được một loại thơ phi chính trị, phi lịch sử, “như có một phép mê dụ”. Cõi thơ bát ngát của ông đặt trong bối cảnh loạn lạc ấy vốn đã là một thứ gì siêu thực.

Tường thành cũ phiến bia xưa

Hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay

Chiều xanh vòng ngọc trao tay

Tặng nhau khăn lụa cuối ngày ráng pha

Nhà thơ tìm ra tiếng nói của mình trong tự do, tìm thấy căn nhà của mình trong chính ngôn ngữ thơ ca mà ông sáng tạo. Mất ngôn ngữ ấy, mất căn nhà ấy, ông không còn là ông nữa.

Ông chuyển qua làm nghề hốt thuốc chữa bệnh.

Ngày xưa có tục con cầu
Khẩn xin Trời Phật cho đầu thai nhi
Lòng thành như ngọc lưu ly
Làm lành lánh dữ suốt kỳ mang thai

Phạm Thiên Thư chưa bao giờ tỏ ra có ý định làm mới nghệ thuật. Mặc dù trong một cuộc phỏng vấn đâu đó, thi sĩ ngụ ý rằng ông vào chùa là để trốn quân dịch, và quả thật sau 75 cũng đã hoàn tục, nhưng thơ ông thấm đẫm sâu sắc vị đạo, hương thiền. Dòng thơ ấy mở rộng cánh cửa cho mọi người bằng ngôn ngữ nhiều giao tiếp, chính xác, đẹp. Người đọc không cần phân vân suy nghĩ. Đó là loại thơ giả tưởng rằng người đọc và kẻ sáng tạo cùng trong một truyền thống văn hóa. Cũng do đó sức hấp dẫn do tác động liên văn bản là sâu xa. Nhân vật và tác giả đổi chỗ cho nhau. Đừng quên rằng thơ viết trong thời kỳ lửa đạn, vì vậy còn cảm giác thanh bình tạm bợ, giữa sự đứt gãy của chủ nghĩa hiện đại, sự phân rã xã hội, vết thương tình tự dân tộc. Còn lâu Phạm Thiên Thư mới tới gần chủ nghĩa hậu hiện đại, nhưng hoàn cảnh của một xã hội dịch chuyển mang lại cho thơ ông tính chất vô trung tâm, tính rời rạc, không cố định, gần như vô mục đích.

Thơ hôm nay đã đi xa hơn thời của Phạm Thiên Thư, tất nhiên, vì thời đại thay đổi, đa dạng hơn, mặc dù thế người đọc sẽ còn nhớ đến ông, nghe nhạc phổ thơ, đọc lại, vì họ tìm thấy ở đó dấu vết của một đời sống khác, ngôi nhà của một tâm thái khác, không phải chỉ nhớ tiếc mà còn là tham chiếu cho những giá trị hiện tại. Chúng ta chứng kiến sự trở lại trong thơ Việt ngày càng rõ cái tôi trữ tình sau một thời kỳ dài vắng mặt trước các hồi ký, tiểu thuyết, trường ca, thơ phản ảnh hiện thực nông cạn, lời kêu gọi; cái tôi này sẽ làm nên giọng điệu chính của thơ hôm nay, và không phải là không có một mối liên hệ ngấm ngầm nhưng sâu sắc giữa nó và thơ thời kỳ những năm sáu mươi bảy mươi ở miền Nam. Sau mỗi khúc quanh, thơ hình thành một dòng chảy mới, mang theo nó những yếu tố nhận được từ gia tài quá khứ. Việc nhớ lại Phạm Thiên Thư chỉ bằng một vài ca khúc là điều đáng tiếc, người đọc thơ cần đọc ông nhiều hơn, một trong những nhà thơ quan trọng của nền văn học chiến tranh mà ở ngoài chiến tranh. Thơ Phạm Thiên Thư không mới lắm, mà có lẽ ông cũng không có ý định làm mới, nhưng trước ông và sau ông, chẳng ai viết thế. So với nhiều nhà thơ cùng thời, những thành tựu của ông khó nắm bắt hơn, khi miền Nam phải đối diện với những vấn đề lớn như chiến tranh, hỗn loạn. Đó là tiếng hót của loài chim quý, tiếng hót ngắn ngủi, cuối cùng, ngân lên trong những ngày cuối, vì vậy mà buồn đau, ngọt ngào, thương xót. Cùng thời với Phạm Thiên Thư là Du Tử Lê; cả hai đều viết thơ tình. Cần nhớ rằng trong suốt một thời gian dài thơ miền Nam chính yếu không phải là thơ tình, mà là thơ về thân phận, quê hương, chiến tranh. Sau những năm thanh bình đầu tiên thời đệ nhất Cộng hoà, của Mùa thu Paris, Áo lụa Hà Đông, thơ chỉ còn là dằn vặt khôn nguôi về số phận, đất nước, nội chiến. Không phải tình cờ mà ông và Du Tử Lê cùng được trao giải thưởng văn chương toàn quốc VNCH năm 1973, về bộ môn thơ (chính xác là Du Tử Lê về thơ, Phạm Thiên Thư về trường thi). Nếu tôi không lầm, đây là giải thưởng toàn quốc cuối cùng. Như điềm báo hiệu:

Cuối xuân ta lại tìm qua

Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn

Sớm thu ta đánh đò sang

Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa

Thân xác của người nữ hay của giấc mơ tự do?

Thơ Phạm Thiên Thư còn là lời tri ân đối với đời sống. Nhớ lại tức là sống, quên đi tức là kết thúc. Khi một người chết đi, không được ai nhớ lại, đó là biến mất vĩnh viễn. Khi một người chết đi, được người khác nhắc lại, đó là lúc người ấy trở về. Không cách nhớ nào đẹp bằng cách nhớ của thơ ca. Vì ký ức ấy là ký ức bền vững, chưng cất, thăng hoa. Chúng ta nhớ lại một người tình, một quãng đời, một xã hội, một bài thơ, hầu hết là vì ân huệ mà người ấy, quãng đời ấy, nguồn thơ ấy, bầu khí quyển ấy, trong đó ta hít thở như khí trời, đã từng ban tặng cho ta.

Nguồn tham khảo:

(1) Toàn bài Ngày Mai. Phạm Thiên Thư, Ngày xưa người tình, NXB Văn nghệ, 2006.

(2)Tiểu sử:

“Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh ngày 1-1-1940 xuất thân trong một gia đình Đông y. Quê cha: xã Đình Phùng, Kiến Xương, Thái Bình. Quê mẹ: xã Trung Mẫu, Từ Sơn, Bắc Ninh. Sinh quán: Lạc Viên, Hải Phòng. Trú quán: Trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương (1943-1951), Sài Gòn – Tp.Hồ Chí Minh (1954 đến nay).
Từ 1964-1973: Tu sĩ Phật giáo, làm thơ. Năm 1973, đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu Kiều – Đoạn trường vô thanh. Năm 1973-2000: Nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn Dưỡng sinh Điển công Phathata (viết tắt chữ Pháp-Thân-Tâm).
Tác phẩm đã in: Thơ Phạm Thiên Thư (1968); Kinh Ngọc (thi hoá Kinh Kim Cương); Động Hoa Vàng (thơ, 1971); Đạo ca (Nhạc Phạm Duy); Hậu Kiều – Đoạn trường vô thanh (1972); Kinh Thơ…

(https://www.thivien.net/Ph%E1%BA%A1m-Thi%C3%AAn-Th%C6%B0/author-zUJYhrTgVIBip1y-0rpXeA)

(3) Đặng Tiến: Ngày xuân tìm động hoa vàng (http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c300/n14236/Ngay-xuan-tim-Dong-hoa-vang.html)

(4) Vĩnh Hảo: Đọc thơ Phạm Thiên Thư (https://thuvienhoasen.org/a18370/doc-tho-pham-thien-thu)

Nguồn: https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=26068

Văn học Miền Nam 54-75

vanviet.info

Phạm Thiên Thư

 1 Tháng Ba, 2021

Trương Văn Dân

Post by Sơn râu 22 May 2024

Kỳ 7

Chàng lãng tử và nhà thơ thiền

Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.

Đó là câu chuyện về hai người bạn có tính cách và số phận rất đỗi khác nhau. Trong khi Narcissus là một thanh niên duy lý, coi trọng tri thức, sống trong tu viện và có ít quan hệ với đời thường nên ít hiểu ý nghĩa thực của cuộc sống; còn Goldmund thì được người cha gà trống nuôi con muốn nó phải hiến dâng cuộc đời cho Chúa để bù đắp tội lỗi của người mẹ Di-gan hoang đàng. Hai nhân vật là đôi bạn nhưng có hai lối sống trái ngược và bổ sung nhau như hai phần đen trắng trong một con người. Một bên nghiêm túc, kỷ luật, bên còn lại buông thả, lãng mạn đậm chất nghệ sĩ.

Chính Narcissus đã giúp Goldmund nhận ra rằng cuộc sống của nhà tu không phải dành cho anh và sau đó Goldmund trốn khỏi tu viện.

Nhớ và tự nhiên liên tưởng đến tác phẩm của Hesse vậy thôi chứ hai người đi trên xe máy này không ai khổ hạnh và cũng chẳng lang thang. Vì, nếu nói cho đúng thì có lẽ đây là một gã lãng tử, và nhà thơ thiền, một nhà tu hoàn tục. Gã lãng tử hở cứ vác ba lô lên vai là đi, một mẫu “Típ-phờ-nờ”[1] đã từng làm biết bao nhiêu trái tim loạn nhịp còn nhà thơ thì cũng một thời đa đoan.

Hai người đó là Lê Viết Yên và Phạm Thiên Thư.

Hình như định mệnh chỉ vận vào Lê Viết Yên có một nửa: Trong tên anh có chữ “Viết”, nhưng tính thích rày đây mai đó, khoái… “Lê”… la, nên không thể ngồi “Yên”. “Viết” là phải kiên nhẫn ngồi hằng giờ trước trang giấy thế mà đôi chân cứ ngọ nguậy, hễ nghe tiếng máy xe gầm gừ cám dỗ thì chữ nghĩa khó mà tuôn chảy. Thế nên định mệnh chỉ vận vào anh theo một hệ luỵ gián tiếp: Đó là sách. Có thể nói hiếm người yêu sách như Lê Viết Yên. Trong chiếc ba lô cuả anh, ngoài bộ ấm trà lúc nào cũng có sách, sách để cho, ba lô để nhận. Anh được rất nhiều bạn bè tặng sách, mà đáp lại anh cũng thường mua sách mới in của bạn bè để giới thiệu hay phát hành giúp. Ai trả tiền thì lấy, “quên” cũng chẳng sao. Hễ nhìn thấy sách quý hiếm là anh hỏi “xin”, không thì mượn, photocopy lại, cưng như của quý nhưng ít khi giữ được lâu, ai hỏi cũng lắc đầu “em chả, em chả” nhưng phụ nữ hỏi xin, mủi lòng, cho tuốt.

Lê Viết Yên quảng giao, thích kết nối bạn bè trong Nam ngoài Bắc, vùng thấp miền cao, tạo cơ duyên gặp gỡ để mọi người quen nhau, nối vòng tay lớn. Trên mạng xã hội anh vô tư chia sẻ các bài viết hay, từ văn học nghệ thuật đến triết học tôn giáo, nhưng đề tài yêu thích vẫn là… “tdh”[2].

Bản tính ham vui, thích chọc trời khuấy nước để… vui là chính nên có bạn khắp các vùng miền, và hễ bình xăng đầy mà bạn rủ, là đi. Hết lòng bênh vực và không bỏ rơi bạn trong những lúc khó khăn. Tính cương trực, không ưa thì nói thẳng, tuy vậy khi không vừa ý thì rất… dễ hờn, mà giận buổi sáng, chiều hôm đã cười xoà!

Những năm gần đây… số phận của chàng lãng tử Lê Viết Yên hình như gắn liền với nhà thơ Phạm Thiên Thư. Có nhiều chuyện không vui trong cõi trọ trần gian, sức khoẻ kém, lại bị mất ngôn ngữ nên nhà thơ hoàn toàn bị cô lập. Mỗi sáng ngồi dưới quán cà phê, ngậm ống điếu nhìn người qua kẻ lại với ánh mắt sâu hun hút… Chàng lãng tử, dù ở rất xa, vẫn chạy xe, băng từ đầu này qua đầu kia thành phố để ngồi với nhà thơ, để ông bớt cô đơn. Có khi đi một mình, có khi chàng nhắn tin hay gọi điện mời thêm nhiều bạn bè cho đông đủ.

Những khi trong thành phố có sự kiện văn nghệ chàng lãng tử chạy lên chở nhà thơ đến, xong lại đưa về. Tiêu pha nhiều thời gian và tiền bạc: chỉ để giúp nhà thơ bớt cô độc giữa cõi đời.

Bảy tám năm trước tôi và Elena cũng được hội ngộ lần đầu với nhà thơ Phạm Thiên Thư, cũng qua sự kết nối của Lê Viết Yên. Giới thiệu xong, ông như đang bận theo đuổi một ý nghĩ nào đó, lơ đãng quay nhìn vào khoảng không trước mặt. Tôi còn đang lúng túng thì bất ngờ thấy ông quay lại nhìn với nụ cười thật hiền và nói: “Tớ mất ngôn ngữ… nên cậu thông cảm… đừng buồn nhé !”

Sau những phút ngắm cõi hư không qua những vòng khói, nhà thơ bảo người nhà đem ra mấy tập thơ, bảo tôi viết tên lên một tờ giấy để ông chép lại cho đúng rồi ký tặng. Ngoài mấy tập thơ, ông còn tặng cho tôi các bài báo viết về ông như nhà văn hoá Unesco, về kỷ lục gia hay nói về trường sinh học, nhân điện và sách viết về các phương thuốc trị bệnh.

Những lần sau đến thăm tôi vẫn thấy nhà thơ ngồi bình dị như một nông dân, phì phèo ống píp, ngắm mây trời, bên cạnh lúc nào cũng có một chiếc túi vải màu nâu mà các nhà sư thường dùng, trong đó đựng sách, các tập thơ, thuốc xắt và các thứ linh tinh.

Tuy nhà thơ không nói chuyện nhiều nhưng ông rất thân tình, dễ mến. Đặc biệt là đôi mắt và nụ cười thật hiền. Những lần không gặp ông đều hỏi tin tức về vợ chồng tôi và nhờ Lê Viết Yên chuyển lời thăm.

Nhà thơ tự cho mình có khả năng ngoại cảm, có khi gặp ai, anh nheo mắt nhìn và phán một câu kèm một nụ cười bí hiểm: ” Anh (chị)… hai, ba… ngày nữa sẽ có tiền…” hay “sẽ có tin vui…”.

Tôi thường ngồi nghe và không khi nào kiểm chứng, nhưng câu phán về nhà thơ Đoàn Văn Khánh lúc còn độc thân thì tin vui xảy ra thiệt: Hết cô đơn và có được vợ hiền Carol Kim chăm sóc!

Khi ngồi với nhau thân tình hơn, những lúc cao hứng, ông nói về sự tương đồng của ông với Nguyễn Du: Cùng sống qua hai chế độ, mỗi người có bốn người con, nhưng trọng tâm vẫn là “Tớ có ba bà vợ, cụ Nguyễn Tiên Điền cũng chỉ có vậy, không hơn!…” Nói xong ông gõ gõ ống pip lên bàn, cười tít mắt làm ai nghe cũng phải bật cười.

Ông thích so sánh thế vì có lẽ là nhà thơ hậu bối dám viết “Đoạn trường vô thanh” một tác phẩm xem như hậu Truyện Kiều.

Khi các em tôi Đạo, Nguyệt từ Australia về, vì Đạo thường hát “Anh theo Nguyệt về…” nên tôi đưa hai em đến thăm ông, sau có bạn mang guitar đến nên mọi người ca hát rất vui. Từ quán cà phê vang vang lên giai điệu mượt mà: “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về…” làm mọi người như đang nhìn thấy một con đường trải nắng có cậu học trò si tình lẽo đẽo theo sau cô nữ sinh mặc áo dài trắng, tay ôm cặp, tóc xoã ngang vai… và đêm về chàng viết lại những vần thơ lung linh như thấm vào lòng nhiều thế hệ:

…Em tan trường về

Cuối đường mây đỏ

Anh tìm theo Ngọ

Dấu lau lách buồn…

…Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ

Trao vội chùm hoa

Ép vào cuối vở…

Có thể nói rằng, vào những năm của thập kỷ 70, bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị” nhờ nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc nên được nhiều người biết và yêu thích.

Ca hát xong chúng tôi cùng nhà thơ Tâm Nhiên đi đến quán cơm chay, nói tiếp chuyện thơ ca.

Mỗi lần “gặp nhau bên động hoa vàng” ngoài nhà thơ và Lê Viết Yên, thường có các bạn văn như Hoàng Kim Oanh, Nguyên Tâm, Tuệ Lãng, vợ chồng Đặng Châu Long, vợ chồng Nguyên Cẩn… bạn bè nói cười rôm rả… vẫn biết Phạm Thiên Thư như một hiền sĩ ngồi bên lề của đời sống ta bà, nhưng khi chia tay thường để lại trong lòng tôi một nỗi buồn man mác.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư sinh trong một gia đình bố mẹ làm nghề bốc thuốc nhưng từ nhỏ rất thích thơ văn. Lớn lên ông đi tu, làm thơ, hoàn tục và sống trong cội quán café Hoa Vàng.

Có người kể là năm 1964, nhà thơ đã xuống tóc, đi tu với Pháp danh là Thích Tuệ Không. Trong 9 năm tu hành (1964-1973), ông đã chứng kiến một cuộc tình giữa chú tiểu và một cô bé Phật tử. Chú tiểu và nàng đều rất trẻ và tình yêu của họ chớm nở tự nhiên như những bông hoa sau sân chùa. Trong những lời khấn nguyện, cô gái thường cầu xin cho hai người được bên nhau mãi mãi… Chiến tranh loạn lạc, cô bé chết trong lúc chạy tránh đạn bom trên đường di tản. Trong mưa bay và gió lạnh, chú tiểu gạt nước mắt đưa tiễn người đi trong một ngày thật buồn: Gia đình đưa xác cô an táng sau chùa, nơi có những cụm hoa đang nở. Mỗi buổi chiều, chú tiểu đến bên mộ, thắp hương và ngồi mãi cho đến khi hoàng hôn buông xuống…

Nhà thơ Phạm Thiên Thư xúc động và sáng tác bài thơ nổi tiếng “Thoáng hương qua”. Sau này, nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành nhạc phẩm “Em lễ chùa này” và ca khúc đã đi vào lòng người cho mãi đến giờ.

Có người nói là Phạm Thiên Thư chứng kiến, nhưng cũng có ý cho rằng chú tiểu đa tình ấy chính là ông[3], không biết thực hư thế nào, hay chỉ là một giai thoại được dựng lên như nhiều chuyện viết trên báo mà không chính xác?

Tuy vậy bài thơ được phổ nhạc… là có thật:

Em vừa nằm xuống đất này

Vườn trong có bông đào nở

Con bướm chập chờn hương bay

Quơ sợi râu vàng bỡ ngỡ

Nắm đất nào vừa lấp mộ

Có con chim hót đầu cành

Tiếng tan trên giòng suối xanh

Nước ơi sao buồn nức nở.

Về câu chuyện “gã từ quan” coi thường danh lợi, chán ghét những tranh giành trong cõi đời để tìm về với thiên nhiên, nhà thơ đưa ta đến không gian siêu thực tựa cõi tiên của động hoa vàng. Bài thơ được sáng tác vào đầu thập niên 1970 trong giai đoạn quê hương đầy khói lửa nên xuất hiện như một giấc mơ thoát tục để hướng về một thuở thanh bình. Câu chuyện hoà quyện giữa Đời và Đạo “tu là cội phúc tình là dây oan” nhưng gã từ quan cứ vương vấn, chơi vơi giữa tình yêu và đạo pháp nên làm sao thoát khỏi nghiệp chướng đoạn trường:

Thì thôi tóc ấy phù vân

Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương

Thì thôi mù phố xe đường

Thì thôi thôi nhé đoạn trường thế thôi

Thơ Phạm Thiên Thư nặng tính tâm linh nên thường làm cho độc giả lãng đãng và ngẩn ngơ. Ông viết về tình yêu bằng ngôn từ thánh thiện, kín đáo, nhẹ nhàng trong một cõi thi ca trữ tình độc đáo. Nhà thơ Phạm Thiên Thư còn được biết đến như người đã thi hóa Kinh Phật, ông xuất hiện trong làng thơ như một người tu sĩ, rao giảng Phật Pháp bằng thi ca như Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ, Chiêu Hồn Ca, Đoạn Trường Vô Thanh,… ông sáng tác những thi phẩm hay và đẹp thuộc diện hiếm trong văn học Việt Nam… Thơ của ông được nhiều người có tên tuổi trong giới và rất nhiều bạn đọc mến mộ…

Thế nhưng cũng có người cho rằng Phạm Thiên Thư đi tu mà lòng vẫn hướng về cõi tục. Ông đáp lại bằng một nụ cười:

“Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình” rồi ông viết chính con vạc cũng ghẹo tôi nữa là:

Hỏi con vạc đậu bờ kinh

Cớ sao lận đận cái hình không hư

Vạc rằng: Thưa bác Thiên Thư

Khoác chi cái áo thầy tu ỡm ờ

Trước 1975, Phạm Thiên Thư đã rất nổi tiếng nhờ những bài thơ của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, ngoài ra tác phẩm “Đoạn trường vô thanh” của ông còn được giải nhất văn chương MIỀN NAM.

Với một người nổi danh như thế thì khó mà có được một cuộc sống an lành: ganh ghét và đố kỵ, mượn danh và lợi dụng tất cả những sỏi đá đó thường vung vãi trên con đường ông đi, mang theo hệ luỵ là vinh quang và cay đắng.

Nếu có những người yêu thơ, tìm nhà tài trợ để tổ chức các đêm: Thơ Phạm Thiên Thư – Nhạc Phạm Duy, để gây quỹ từ thiện, có giới làm sách báo & phát hành những ấn phẩm của Phạm Thiên Thư… thì cũng có những bài báo kiểu Phạm Thiên Thư trả lời phỏng vấn, với lời lẽ tung hô, kỷ lục, phô trương… trong khi ông đang bị mất ngôn ngữ, mấy năm trước còn bị tai biến, phải vào chùa rồi rời xa quán Hoa Vàng… hiện chỉ nói được những câu ngăn ngắn; có người còn dùng tên tuổi Phạm Thiên Thư như một nhà tiên tri, thầy thuốc trị được bá bệnh… bao chuyện hư hư thực thực…

Có lẽ cái nghiệp của Phạm Thiên Thư là vậy. Chàng lãng tử Lê Viết Yên cho hay là khi có chuyện không vui ông chỉ cười trừ hay một đôi lần bộc bạch: “Hãy tha thứ! Tha thứ cho những người đã làm điều sai trái, tha thứ cho cả những người đã gây khổ đau cho mình”.

Rồi ông đọc:

Phật – Tôi nào khác chi nhiều

Một người đã ngộ ra điều sắc không

Một kẻ còn đang lông bông

Nhưng rồi sớm muộn cũng mong trở về.

Mấy năm trước cũng chính chàng lãng tử Lê Viết Yên đã đề nghị Tập san Quán Văn làm số 32 Tháng 8 năm 2015 Phạm Thiên Thư & Ngày xưa Hoàng thị… Chân dung văn học cho Phạm Thiên Thư, và ngày ra mắt sách, thân hữu, người hâm mộ, bạn bè đến chung vui, hát ca đông vui nhất.

Tuy không “viết” nhưng Lê Viết giúp tập san Quán Văn phát hành, không chỉ vài ba số mà nhiều khi trọn bộ 30, 40 số. Cũng chính Lê Viết Yên, theo mong muốn của nhà thơ Phạm Thiên Thư, đề nghị nhà thơ Nguyên Cẩn và vợ chồng tôi trích chuyển ngữ tập thơ Huyền Ngôn Xanh ra tiếng Anh, tiếng Ý và tiếng Pháp để in với số lượng hạn chế, giới thiệu với các bạn yêu thơ.

Rồi hôm nay cũng chính chàng lãng tử Lê Viết Yên đứng ra kêu gọi bạn bè hùn chữ, hùn giấy mực,để in một tập sách bạn bè viết về Phạm Thiên Thư, lấy tên là “Gặp nhau bên Động Hoa Vàng” nơi mà nhiều bè bạn quây quần bên ông để thăm hỏi, cùng về một nơi để trầm tư, thanh lọc tâm hồn sau những mệt mỏi về cuộc sống đầy bon chen, bụi bặm. Chàng lãng tử Lê Viết Yên nói một câu làm tôi xúc động:
“Phải làm sớm, ông Phạm Thiên Thư đã U.80, yếu dần theo thời gian, trễ nữa là không kịp!”

Thời gian, và tấm lòng! Dù vẫn biết, làm được hay không, đối với thiền thi Phạm Thiên Thư thì đâu có chi mà quan trọng!

Nhờ bản tánh hiền lành, khiêm tốn và dễ hòa đồng cho nên Phạm Thiên Thư được nhiều bạn bè và anh em văn nghệ sĩ mến thương.

Mỗi lần nhớ đến Phạm Thiên Thư, tôi thường hình dung đến những buổi sáng tinh mơ ông ra ngồi một mình dưới quán café Hoa Vàng mong chờ bạn đến. Ông mỉm cười khi thấy các bạn đến ngồi quanh, nheo mắt nhìn mọi người, gỡ ống píp khom khom gõ nhẹ xuống bàn, dáng dấp cong cong như con rùa mắc cạn đang mừng vui vì con nước tới:

Có con rùa nhỏ ngoài khe,

Từ lâu đợi suối trở về, nằm đây.

Ẩn mình dưới chiếc mai dày,

Ngó bờ rêu lục tưởng ngày xa xưa…

Những lúc ấy tuy chẳng nói nhưng tôi biết ông vui, lạ một cái là ánh mắt đang chiếu sáng niềm vui thì bất chợt khép lại, trầm tư: có thể là ông đang hồi tưởng lại thời con người biết mơ mộng, theo chân cô Ngọ, sống bình dị cùng thiên nhiên… hay thuở đi tu, hoàn tục, theo chân Từ Thức… đã trôi qua, không bao giờ trở lại. Một phản diện tích tắc đầy bí ẩn bên trong tâm thức một con người kỳ lạ: rất… Phạm Thiên Thư.

T.V.D

Mùa dịch Covid.19

Milano 10-2020

Nguồn: sách “Gặp nhau bên Động Hoa Vàng” do Lê Viết Yên chủ biên (NXB Hồng Đức 2021)


[1] TYPN – Tôi Yêu Phụ Nữ.

[2] Tình dục học.

Văn học Miền Nam 54-75

vanviet.info

 26 Tháng Hai, 2021

Lê Hữu Khóa

Hiếu Tân dịch từ tiếng Pháp

Post by Sơn râu 21 May 2024

Tình Thương Cõng Tình Yêu trong Thơ Phạm Thiên Thư

Kỳ 6

Phạm Thiên Thư: Nếu Từ Bi Mong Muốn Tình Yêu…

Trong nền thơ hiện đại Việt Nam, là một nhà thơ đứng riêng mình một cõi, Phạm Thiên Thư phải xoay sở vất vả với việc buông bỏ theo nghĩa của Phật giáo và sáng tác thơ về tình yêu. Để làm cho nghịch lý này kéo dài và rồi cho nó nổi lên như một mâu thuẫn ít nhiều nan giải chính là sự thông tuệ của vũ trụ thơ ca của ông, khác xa với sự gò bó của các học thuyết tôn giáo và các trường phái văn học. Tình yêu đứng giữa sự buông bỏ bất khả và sự dính mắc khó chơi, sẽ dẫn dắt ta tìm hiểu về nhân vật kỳ lạ này, hy vọng kết cuộc sẽ xây dựng một tư tưởng thơ ca liên kết thế kỷ 20, với các cuộc chiến tranh tàn phá của nó, trong đó Phật giáo vẫn là một trong những mũi đạo lý chính yếu trong sự nghiệp bảo vệ tâm hồn Việt Nam, và thế kỷ 21, khi linh hồn này đang lạc lõng giữa một Việt Nam bị xô đẩy giữa chủ nghĩa toàn trị và toàn cầu hóa, giữa một xã hội tiêu thụ “ăn liền” và chủ nghĩa cá nhân của người Việt mà không có hệ quy chiếu nào nổi bật. Về phần tôi, tôi cố gắng hiểu, bằng cách thử đặt một giả thuyết trong bài tiểu luận nhân học này về cuộc du ngoạn văn chương, thử đặt cái việc bất khả đối với thi sĩ, là từ bỏ tình yêu- chắc chắn là đầy nhục cảm và đáng bị Phật giáo lên án – vào trong sự buông bỏ của ông hướng đến lòng từ bi cao cả, chắc chắn là bao dung và được chính Phật giáo khích lệ. Tuy nhiên, khi bước vào thế giới của Phạm Thiên Thư, để bản thân được chính ông dẫn đi, chấp nhận ở lại lâu trong hành trình thơ của ông, tôi đã phát hiện ra một giả thuyết khác: nếu lòng từ bi của Phật giáo được định nghĩa là tình yêu phổ quát, không giới hạn và không phân biệt, của tất cả chúng sinh trong đau khổ, thì vũ trụ suy lý của ông và sự thực hành thường hằng của ông, lại đòi hỏi một lòng vị tha rộng mở; mà tình yêu vẫn là công việc của hai linh hồn muốn cùng nhau xây dựng một thế giới mới, tạo nên một Cặp Đôi duy nhất lánh xa lòng từ bi bao trùm toàn nhân loại. Vì vậy, tác phẩm của Phạm Thiên Thư rất quý giá trong nhân học suy tư về lòng trắc ẩn, vốn cần tình yêu làm một bằng chứng và một thử thách về lòng vị tha rộng mở, ở đó lòng tốt đi đôi với lòng tận tụy, hào phóng và khoáng đạt. Tuy nhiên, thơ của ông liên tục xóa đi và vẽ lại những lãnh thổ khác biệt giữa lòng trắc ẩn và tình yêu, và những kẽ hở căn bản giữa chúng, cái này thì phát triển lòng thiện để xóa bỏ dục vọng, cái kia tập trung vào dục vọng để đào sâu hơn vào bí ẩn của khoái lạc. Mâu thuẫn này nuôi dưỡng thơ Phạm Thiên Thư, ông chìm sâu vào mâu thuẫn này bằng những trò chơi trí tuệ giữa hai người để đi đến ý tưởng rằng nếu lòng trắc ẩn muốn có tình yêu, thì con người sẽ có được nhân tính khác, mới lạ và không ngờ, cho phép xóa đi ranh giới giữa hai người, cái ranh giới có lẽ, theo nhà thơ, thường là tùy tiện. “Cái áo không làm nên thầy tu”, nhà thơ của chúng ta quá hiểu câu ngạn ngữ này, người Việt Nam phá cách, đòi hỏi: “Đi với sư mặc áo cà sa”, một câu ngạn ngữ đặt ra tiêu chí từ bỏ cái bề ngoài, ranh giới giữa lòng trắc ẩn và tình yêu luôn ở đó, Phạm Thiên Thư đã ý thức điều này, trong bài thơ Câu chuyện tình của ông:

Rằng: tình thương càng nhiều

khó đi chung hiểu biết

Tình yêu là tự giết

Héo hắt dần con tim.

Phạm Thiên Thư làm thế nào để vượt qua thử thách kép này: nhục cảm của tình yêu không bị bóp nghẹt bởi sự buông bỏ nhân danh lòng trắc ẩn, mà chất thơ của tình yêu không bị hy sinh bởi lòng vị tha rộng mở nhân danh cuộc chiến chống lại đau khổ, một lòng vị tha phủ nhận sự hiện diện trước mặt mình vẻ đẹp của người khác, đánh thức mọi ham muốn, nhục cảm rồi thân xác. Cái được-mất trong nỗi thống khổ sâu xa toát ra từ mỗi chữ của bài thơ:

Tôi sợ cả chiêm bao

Sợ cả thơ cả đạo.

Đạo, được dịch là ‘con đường’, không tự giới hạn ở con đường tôn giáo, mà là một cách thức đào sâu đức lý để làm cho một trật tự đạo đức đúng đắn chiến thắng. Trường hợp của Phạm Thiên Thư dường như là dịp tuyệt vời để xem xét lại nhân học văn học của Việt Nam, một nhân học biết – hay chưa biết – tạo ra một không gian tự do, để hiểu rõ hơn những cội nguồn của tình yêu rồi thử nghiệm những phương sách của lòng từ bi, từ đó vượt ra khỏi những giáo điều của các giới luật cứng nhắc của lễ nghi tôn giáo. Như vậy, vấn đề đặt ra là xây dựng một không gian văn hóa hay không gian tập thể bảo tồn quyền tự do cá nhân trong những quãng cách của những mâu thuẫn với các quy phạm xã hội tại chỗ. Vậy mà, Phạm Thiên Thư tiến lên hàng đầu và sống thử thách tình yêu của chính mình, hết bài thơ này đến bài thơ khác:

Yêu người như tìm đạo

Khó mà khôn nguôi.

Đưa tình yêu – từ cảm giác nhục dục – lên mức độ tối cao của đạo bằng cách hoàn toàn chấp nhận thách thức này không chỉ do Phật giáo mà cả Khổng giáo và Đạo giáo đặt ra trong bối cảnh khốc liệt giữa những hệ tư tưởng cứng ngắc nhất từng đụng độ nhau trên mảnh đất Việt Nam nửa sau thế kỷ XX, nơi mà Phật giáo Việt Nam đặc biệt hứng chịu những hy sinh đau thương nhất trong lịch sử vì hòa bình của đất nước, đây là con đường mà nhà thơ này đã chọn.

Tình yêu giữ trong tay.

Giữ (maintenir) theo nghĩa ‘nắm giữ bằng tay’ (main-tenir), bàn tay hành xử trong bàn tay, gắn bó với nhau bằng cách đưa tay người này cho người kia và ngược lại. Trong câu nói của Mallarmé “cuối cùng cái ngẫu nhiên đã được cố định …”, cái ngẫu nhiên của tình yêu được cố định trên một liên kết cũng mạo hiểm như cái ngẫu nhiên thuần túy. Mà, giữ tình yêu là, sau một cuộc gặp gỡ, dấn vào một sự kiện khám phá ra sự thật mới về bản thân và về người kia, để từ đó xây dựng một sự thật khác về Đôi lứa. Cái ngẫu nhiên tuyệt đối của gặp gỡ này giờ đây lộ ra như lời báo trước của một vận mệnh mới, đoạn vượt từ cái ngẫu nhiên đến vận mệnh mới này khiến vận mệnh trở nên nguy hiểm, đau khổ có lẽ đã ở cuối đường hầm. Tuy nhiên, nỗi kinh hoàng không xóa đi được niềm vui, sự hoảng sợ không bóp nghẹt mong muốn biết số phận mới của nó. Là một tu sĩ trong thế giới từ bỏ giác quan, Phạm Thiên Thư công khai tuyên bố rằng ông chờ đợi tình yêu và tin chắc rằng tình yêu sẽ đến. Trong bài thơ Chia cách của ông, tình yêu này chắc chắn là nhục cảm và giấc mơ có cái giường của nó:

Bao giờ em sẽ tới…

Cho mộng chung một giường

Trạng thái của một bài thơ là gì? Vẫn là Mallarmé trở lại với tình cờ: “Bài thơ, sự tình cờ đắc thắng trong từng chữ”. Còn đối với tình yêu, nếu nó tồn tại lâu dài, nó sẽ chinh phục sự may rủi ngày này qua ngày khác trong việc tạo ra một dự án sống lâu dài, cái hiện tại biến thành cái mãi mãi. Thế mà, từ tư thế (không thể) của buông bỏ khỏi nhục cảm của một tu sĩ Phật giáo lại sinh ra toàn bộ nghịch lý của Phạm Thiên Thư. Trong một sự chờ đợi vô tận, vị tu sĩ biết yêu này biết cái giá của sự đau khổ trong sức nặng của tình yêu, như vậy cái từ định vị bài thơ của ông là niềm hy vọng rất không chắc chắn trong sự chờ đợi kéo dài, tuy vậy ông vẫn chấp nhận thử thách rằng tình yêu vẫn cư ngụ lâu dài nơi chân trời không rõ ràng của nó:

Đón em như ngóng chim trời.

Sự tương cận giữa thơ và những tuyên ngôn tình yêu đã được biết rõ. Ở đây, lời nói có những hiệu lực của nó, chúng làm nên sự tồn tại bấp bênh, những từ ngữ dù đơn giản phô ra và tác động của chúng gần như không thể chịu nổi. Chúng biến tình cờ thành dài lâu, cam kết tự nguyện thành ngoan cố; tình yêu có tất cả sức mạnh duy trì ấy. Trong xã hội học của mình về mối quan hệ tình cảm, Elias có công thức này: “chặt đứt cái phù du và bảo vệ cái lâu bền”. Ở đây một lần nữa, Phạm Thiên Thư bị “đảo lộn” bởi tâm thế Phật giáo của ông ca ngợi sự buông bỏ cảm giác chạm trán với mong muốn được gặp gỡ tình yêu. Đạo Phật không tin vào sự may rủi mà tin vào luật nhân quả theo đó mỗi kết quả được định sẵn đều có một nguyên nhân quyết định nó, đạo Phật không tin vào sự trường cửu mà tin vào lẽ vô thường, theo đó mọi thứ đều suy tàn, cái phù du ngự trị trên tồn tại; nhà thơ của chúng ta hoàn toàn biết rõ hai luật nhân quả và vô thường này. Nếu những lời khuyên của Đức Phật trong các pho Kinh của ngài vẫn là một nguồn mạch lưu thông trơn tru không vướng cản, thì các trang của chúng đã trở nên nhẹ nhàng đến mức chúng dễ dàng bay đi như những làn khói gần như sắp biến mất trước tình yêu:

Tụng dòng kinh tuệ

Trên tờ khói bay

Tại sao?
Bởi theo Phạm Thiên Thư, tình yêu được trải nghiệm và duy trì một cách mãnh liệt trong suy nghĩ của ông, tức là trong thời gian trước khi gặp gỡ. Ở thượng nguồn khát vọng của nó, tình yêu được xây dựng như một sức mạnh tuyệt vời, một sức mạnh đơn phương, được triển khai một cách chủ quan giống như cơ may trong những cơ may. Nếu một ngày sức mạnh này trở thành song phương, hạnh phúc tình yêu sẽ vẫn là bằng chứng cho thấy có thể biến vận may này thành hiện thực bao trùm cả cuộc đời. Bất chấp tất cả, nhà thơ này – cũng vậy, hay ngược lại – ý thức rằng, với tư cách là một tu sĩ, tình yêu cũng là một ngục tù, ngay cả sau một cuộc gặp gỡ thoáng qua:

Gặp em một lần

Mà nhớ chung thân.

Theo Plato, tình yêu tạo ra một sức vươn mang mầm mống của vũ trụ, mà sự trải nghiệm nó tạo nên tư tưởng, tư tưởng về Cái đẹp của một cơ thể, một khuôn mặt, một con người. Trải nghiệm này vẫn duy nhất ở chỗ có thể xảy ra một sự tình cờ độc nhất của cuộc gặp gỡ với sự vươn lên của một giá trị phổ quát, thế nhưng, Phạm Thiên Thứ đã dám tạo ra lời ca tụng tình yêu của mình bằng cách tôn vinh thân thể của người kia bằng những lời lẽ về lòng trắc ẩn mà hệ tư tưởng tôn giáo sử dụng để xua đuổi tình yêu nhục dục. Ông công khai viết rằng lòng trắc ẩn chỉ đợi tình yêu để phát ra sức mạnh biểu hiện của nó, và ông sẽ vẫn là nhà thơ đầu tiên của đất nước dám kết nối sắc dục xác thân với bông hoa của lòng trắc ẩn:

Ngón chân em nở cánh hoa đại từ.

Như vậy, Phạm Thiên Thư rõ ràng trải nghiệm sự đặt cược này vào sức mạnh của tình yêu, nhưng được bao quanh bởi những lời khuyên của Phật lên án các giác quan. Nhưng nhà thơ của chúng ta tỏ ra bất lực không lìa bỏ được sức mạnh nhục cảm của tình yêu. Ông hầu như biết rằng tình yêu gắn kết hai con người với nhau bằng tính chủ quan mở rộng của họ, bằng cách trước tiên tạo ra sự khác biệt giữa hai người, thậm chí là sự tách biệt với những tư thế riêng biệt trong một Cặp đôi cần được xử lý và đảm đương. Tình yêu cho Hai người này sống trong một thế giới mới lạ, nơi tình cờ gặp gỡ kéo theo ngẫu nhiên sống những ngày sau đó, buộc mỗi người phải tự giữ mình để bảo vệ tình yêu như một sự kiện không ghi khắc trong logic trực tiếp của cuộc sống. Nhưng anh ta sẽ giấu lời hứa trinh tiết của mình ở đâu trong cuộc sống độc thân “vĩnh viễn” với sự dứt khoát dửng dưng theo nghĩa được áp đặt trong giới tu sĩ? Cặp đôi trong tình yêu này dường như ngay từ bây giờ là không thể, nhưng Cặp đôi này theo đuổi nó và tạo ra với nó một thể thơ “riêng biệt” trong một Việt Nam của thế kỷ XX đầy chiến tranh bạo lực và đàn áp dã man, nơi con người cần lòng trắc ẩn để chấm dứt cuộc giết chóc. Tuy nhiên, lòng trắc ẩn này – quá dễ dàng và quá nhanh chóng – liên hợp với sự dửng dưng với tình yêu Đôi lứa. Trong những điều kiện lịch sử đó, hành trình thơ tình của Phạm Thiên Thư rõ ràng đi vào một cấu trúc gần như bất khả, ông dám – một lần nữa – lấy điều bất khả này để tạo ra chất thơ “không thể tưởng tượng” của mình về tình yêu như một sức mạnh của tự do của con người. Trước hết chúng ta hãy quay trở lại những năm giữa thế kỷ XX đẫm máu đối với Việt Nam để xem xét rõ hơn cách mà các giáo điều và sự kiểm duyệt theo tinh thần thanh tịnh khắc khổ đối chiếu tình yêu Đôi lứa với sự dâm ô chìm đắm trong tình dục không kiểm soát, mà tinh thần khắc nghiệt đồng hóa với các nguyên nhân của bệnh tật, bệnh dịch, cái chết, sự đồi trụy, gian lận… Tuy nhiên, không gian tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư được kết cấu từ đầu đến cuối như không gian của những định nghĩa về tự do nó nâng đỡ tự do của các cá nhân. Nhà thơ của chúng ta thoát khỏi mọi mầm mống của sự loại trừ được tổ chức bởi các hệ tư tưởng khắc nghiệt, bất kể bản chất tôn giáo hay chính trị của chúng. Ông vẫn đi đúng hướng bằng cách đặt câu hỏi thơ trung tâm của mình: liệu tầm vóc của lòng trắc ẩn có đủ sức mang và bảo vệ tình yêu Đôi lứa này không? Trong những năm tháng chiến tranh ấy, nhà thơ này và những người đồng bào của ông biết rằng những diễn ngôn xung quanh vấn đề tình dục luôn mang hai thái cực: đạo đức thuần túy và điên loạn trong giải thích nhằm đánh lộn sòng tình yêu nhục cảm và tình dục phóng đãng để áp đặt nặng hơn kiểm soát của họ lên xã hội (tôn giáo, gia đình, tập thể…), mà không quên các chuẩn mực tình cảm mở rộng từ sự chung thủy vợ chồng đến sự bền vững của gia đình. Như vậy, tình yêu nhục cảm trong suy nghĩ của một tu sĩ dường như rất gần với thứ tình dâm ô đáng sợ, nơi mà những bước trượt của dục vọng có thể khiến các cá nhân xài tình yêu như một thứ đồ vật trong đó sự dịch chuyển ranh giới của sự thầm kín vẫn còn là một mối nguy hiểm cho toàn xã hội. Ở đây, với tư cách độc giả, chúng ta có nên đọc khác đi những từ ngữ nhạy cảm (nhục cảm) trong thơ tình của Phạm Thiên Thư không? Tình yêu có khao khát và nỗi khao khát yêu trộn lẫn với nhau trong cách diễn đạt của ông, được duy trì một cách điềm tĩnh. Trong thơ của ông, tình yêu và dục vọng phải được định nghĩa lại như những cái mới của đạo đức học, chúng gắn liền với việc thực hành lòng trắc ẩn, những sáng kiến cá nhân và những phong trào xã hội có thể được thực hiện bằng tự do hiện hữu, theo nhà thơ, là hành động (có tính) người nhất của con người. Một sự tự do có khả năng định hướng tình yêu và ham muốn trong sự hiểu biết đúng đắn về dục vọng, như một sự chắc chắn của con người về vấn đề chung sống giữa tình yêu và lòng trắc ẩn, và không để cho mình bị át tiếng bởi những diễn ngôn xung quanh sự buông bỏ theo nghĩa được khích lệ bởi Phật giáo, một tôn giáo được coi là đặc biệt ôn hòa. Nhà thơ của chúng ta biết lượng giá tình yêu theo cách riêng của mình, biết rằng tình yêu có thể biến một cuộc gặp gỡ thành sự hợp nhất, một khoảnh khắc chắc chắn là kỳ diệu, mang đến cho thế giới như nó vốn có một vẻ ngoài mới lạ. Sự mở ra này là kỳ diệu bởi vì, đến một cuộc gặp gỡ hợp nhất, nó bắt được nhịp độ mạnh mẽ của sinh tồn. Phạm Thiên Thư cũng ý thức được rằng hành trình của tình yêu thường không thiếu những rủi ro. Vì vậy, tình yêu thương của cha mẹ, bao hàm sự bảo vệ mạnh mẽ của gia đình, bất lực khi đối mặt với cuộc gặp gỡ tình cờ làm mọi thứ trở nên bấp bênh, làm thay đổi hoàn toàn suy nghĩ hiện sinh của ông. Tình yêu tin tưởng vào ngẫu nhiên mà thế giới được hiểu và coi như từ sự khác nhau chứ không chỉ từ sự giống nhau, nó loại bỏ sự trao đổi đơn giản những mối lợi qua lại dựa trên tính toán lợi ích, nó tỏ ra là một phản-tínhtoán, một phản-đầu tư có ý thức và sinh lợi. Người yêu vẫn là người muốn trải nghiệm thế giới từ quan điểm khác biệt trong trực giác để biến cái tình cờ thành điều chủ yếu duy nhất. Phạm Thiên Thư muốn là tu sĩ đầu tiên trải nghiệm tình yêu này để cho lòng từ bi nảy nở theo cách khác, theo cách nhô ra che bên trên những trò chơi tranh luận về sự bắt buộc từ bỏ theo nghĩa Phật giáo:

Tiếng nàng vỡ bạc thành thơ

Chúng ta hãy quay trở lại với hai thuật ngữ tiếng Việt định nghĩa lòng nhân ái (từ bi): tình thương, nhấn mạnh tình yêu thương phổ quát đối với tất cả chúng sinh đang đau khổ, khác với tình yêu là cái bị giam cầm trong sự đối diện của nó, bằng cách đi sâu vào cõi không cùng, tạo ra hình ảnh của một lòng trắc ẩn bao trùm tất cả các loại hình tình cảm. Đạo Phật bổ sung định nghĩa về lòng từ bi này bằng hai lý lẽ mạnh mẽ khác về việc “cứu vớt tình yêu” trong triển khai thực tế của nó: Cứu độ muôn loài như cứu chính mình trong một logic của sự thống nhất của cuộc sống: một là tất cả, và tất cả là một. Phạm Thiên Thư cũng là tác giả của chùm thơ về chủ đề này được Phạm Duy phổ nhạc rất hay, nhan đề Đạo ca. Tuy nhiên, Đạo, như chúng ta đã thấy, được chúng tín hữu định nghĩa là một tôn giáo, nhưng sự chính xác về mặt ngữ nghĩa của châu Á bị Hán hóa, nơi Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo cùng tồn tại, không cho phép dịch chữ “Đạo” thành “tôn giáo”; cho dù trong thực tế, Phật giáo có thể dễ dàng được coi là một tôn giáo bởi các nghi lễ sùng kính của nó. Về những bài thơ của Phạm Thiên Thư, độc giả có thể thấy rằng không quá khó để nhận thấy trong chữ Đạo của ông có hai nghĩa được diễn đạt theo một chuyển động tự nhiên đi-lại; con đường “đi” hàm ý việc dùng tiếng gõ của tình yêu để đánh thức tầm sâu rộng của lòng trắc ẩn, con đường “trở lại” hàm ý việc tái tạo lại trên tầm cao của lòng trắc ẩn để xác định lại độ sâu của tình yêu.

Tình yêu suy tính (délibérer)/ và tình yêu thanh thoát (libérer)

Tình yêu áp đặt định nghĩa của nó về tự do yêu đương đối lại với mọi sự thỏa thuận của gia đình hay xã hội, nó chấp nhận những bi kịch, nhưng tự do này áp đặt cho tình yêu một cuộc đấu tranh mà nó phải chiến thắng sự chia lìa là cái kết thúc của tình yêu. Vậy, cái kết thúc của tình yêu mà Phạm Thiên Thư lo sợ không chỉ nằm ở mối quan hệ đôi lứa giữa hai người yêu nhau, bối cảnh của nó rất khác, nó mở rộng ra đến cả một đất nước, nơi mà bạo lực chiến tranh ngự trị.
Trong bối cảnh chiến tranh này, sự tàn bạo đã bén rễ trong lòng xã hội, những lời tuyên bố về tình yêu bị tê liệt, bị che giấu, lặng câm, và trong tư cách một tu sĩ mà dám nói rằng mình là một người si tình ắt là đi vào con đường nhất định không thể tha thứ. Chúng ta hãy quay trở lại bối cảnh từ năm 1964 đến năm 1973, khi nhà thơ của chúng ta được biết đến như một tu sĩ trong thời kỳ tàn khốc giữa sự can thiệp của Mỹ và những nhà độc tài quân sự ở miền Nam, Phật giáo Việt Nam đã trải qua những thời khắc tồi tệ nhất trong lịch sử của mình. Cùng thời kỳ này chứng kiến sự ra đời của phong trào Phật giáo nổi bật so với các phong trào xã hội truyền thống khác bởi tiêu chí đạo đức ba mặt của nó: bi (từ bi) trí (trí tuệ) dũng (dũng khí) thường được cụ thể hóa bằng tự thiêu của các nhà sư Phật giáo. Ngọn lửa này, biểu tượng của lòng từ bi, minh chứng cho sự chia sẻ đau khổ khi đối mặt với sự đàn áp và chống lại sự tàn sát, ngọn lửa biểu thị sức mạnh thức tỉnh soi sáng lương tâm nhân loại trong thời kỳ đen tối của chiến tranh. Tự thiêu được coi là hình ảnh hoàn hảo của lòng dũng cảm là nét đặc thù của sự dấn thân của các Phật tử, luôn đi đầu trong các cuộc đấu tranh hòa bình chưa bao giờ ngừng cổ vũ bất bạo động chống lại sự tàn phá tâm hồn con người trong cuộc chiến lâu dài này. Thế mà, trong chính thời kỳ này, nhà thơ của chúng ta đã cho phép mình triển khai tất cả sự nhạy cảm của mình đối với tình yêu:

Môi em còn nụ

Tươi hồng trong thơ

Nhưng, nhà thơ – tu sĩ của chúng ta không được nhầm lẫn về hành vi của tình yêu, bởi vì tình yêu, như một thủ tục của chân lý, bao gồm những khủng hoảng tàn bạo, những đau khổ mạnh mẽ, và những chia cắt đôi khi không vượt qua nổi. Bởi vì, một tình yêu quỳ gối có lẽ không phải là một tình yêu thực sự. Tình yêu tự nó được duy trì như một chế độ của sự mâu thuẫn, mang bi kịch nội tâm khi nó được thúc đẩy bởi xung năng tương đồng của một người trong những xung đột của sự dị biệt với người kia. Tình yêu thường đi ngược hướng với lòng trắc ẩn, là cái tìm cách giải tỏa căng thẳng, giảm áp lực. Phạm Thiên Thư có thể được nhận ra trong tình yêu giữa nỗi sợ đau khổ và niềm vui thích để bản thân bị bao vây bởi khao khát:

Ta nghe hồn tê dại

Những sợi tình vây quanh

Phạm Thiên Thư chắc chắn biết bài học so sánh của nhà Phật: “nắm muối trong ly thì giữ được mặn, còn nắm muối trong sông thì hết mặn”, có thể hiểu như sau: cái ly tượng trưng cho tình yêu ích kỷ, và dòng sông, hình ảnh rộng mở của lòng trắc ẩn.
Do đó, Mayahana Việt Nam (tông phái Phật giáo đại thừa) tự cho phép mình khái quát: trái tim nhỏ khổ nhiều hơn và trái tim lớn khổ ít hơn để ca ngợi lòng từ bi. Các nhà tu hành Phật giáo cũng tin rằng lòng từ bi hoàn toàn có khả năng bao trùm toàn thể nhân loại, bên cạnh đó tình yêu chỉ là vấn đề bản ngã bị mất phương hướng bởi lụy (lệ thuộc vào dục vọng) đến từ tình (vũ trụ của tình yêu), sớm hay muộn cũng gây ra sầu (giam cầm trong nỗi buồn) và cuối cùng dẫn đến khổ (hiện diện thực sự của khổ đau).
Tuy nhiên, công việc thực sự của lòng trắc ẩn dường như phức tạp hơn, nó nằm trong vấn đề kiến thức, nơi sự hiểu quyết định trước hết là ý thức và sau đó là hành động. Đặc tính không thể tách rời của sự thấu hiểu và những thực hành trong trắc ẩn có trong thành ngữ: “hiểu được mới thương được”, do đó xác định nhu cầu chính của mỗi người là hình thành những mối liên hệ với người khác để thỏa mãn nhu cầu tình cảm của mỗi người: “cần được hiểu để cần được thương”.
Nhà thơ của chúng ta tin chắc rằng tình yêu vẫn là một trong những chìa khóa của tri thức, một trong những chìa khóa của sự hiểu, rằng ông sẵn sàng nhận lấy vị trí của mình trong tình yêu đối mặt với những định nghĩa thanh tịnh về lòng từ bi. Do đó, lòng từ bi chân chính biết cách thoát khỏi những biện pháp gò bó nhốt nó trong giới hạn chật hẹp, nó biết cách vượt qua những ràng buộc này để vô hiệu hóa sự kỳ thị tình yêu, nỗi khổ của những đau khổ. Về mặt ngữ nghĩa trong tiếng Việt đơn âm, khổ được thể hiện qua hai liên tưởng riêng biệt; một là đau khổ (nỗi đau – bất hạnh) trong trường hợp này, nỗi khốn khổ thực sự phải chịu đựng gây ra bất hạnh thực sự; và hai là khổ đau (bất hạnh-nỗi đau) ở đây nỗi khốn khổ thực sự phải chịu đựng đã trở thành cái vĩnh viễn mang tổn thương trực tiếp đến cuộc sống của con người. Theo nhà thơ, sự thiếu vắng tình yêu là một trong những nỗi khổ đầu tiên trong cuộc đời đầy đau khổ này; ở đây tình yêu đương nhiên có vị trí của nó “yêu những gì bạn sẽ không bao giờ nhìn thấy hai lần”. Cũng cần phải phân biệt tình yêu với ghen tuông vốn chỉ là vật ký sinh của tình yêu ích kỷ và không có tư cách thực sự trong việc mở ra định nghĩa về tình yêu. Tình yêu đích thực có giá trị riêng của nó, nó vô tư như việc vạch trần một sự thật, nó vượt lên trên những tính toán thiệt hơn trước mắt. Uy mãnh của nó thuộc loại sự kiện không thể quy giảm thành bất kỳ luật nào, vì tình yêu thử nghiệm một thế giới ngoài mọi sự kiểm soát có tính cách xã hội hoặc tôn giáo. Thường được quán xuyến bởi trí tưởng tượng, tình yêu cũng nằm giữa ước muốn và huyền thoại, đôi khi được giàu có lên nhờ di sản của sự sùng bái, cuộc phiêu lưu của nó được cảm nghiệm như một sự thiêng liêng. Vậy mà, sự thiêng liêng này, như chúng ta biết, thường đi đôi với sự hỗn loạn trong nghệ thuật và văn học. Bởi vì tình yêu không tuân theo các chuẩn mực xã hội, nên nó không bao giờ bị xã hội thuần hóa hoàn toàn. Nhưng trong vũ trụ của Phạm Thiên Thư, tình yêu tiến lên theo cách riêng của nó bằng công việc của chính nó, bằng sự vật vã suy tư, chuẩn bị, đề xuất, quyết định, hành động…, luôn trên khoảng trống giữa lời nói ra và những điều cấm kỵ của thế giới Phật giáo của mình. Tình yêu này dường như in dấu ấn bằng sự căng thẳng yêu đương giữa hai người, bởi sự ngăn cấm của nó, nguồn gốc của những thử thách hàng ngày trong một thế giới mới nửa sáng nửa tối, nguồn gốc đầy xung đột của tồn tại bất khả. Tuy nhiên, rung động của một người có thể mang lại niềm vui cho người kia trong tình yêu, và nhà thơ kể trong bài thơ Uống rượu của mình, rằng ông nghĩ mình đã phạm giới hai lần, phạm đúng hai điều mà Phật giáo nghiêm cấm: say rượu và say tình:

Dan díu bàn tay

Lòng anh ngây ngất

Tình yêu biến cuộc gặp gỡ với người kia thành một sự kiện được coi là bí hiểm và trở thành hiện thực vừa trong dự tính của cuộc sống vừa trong những hậu quả của nó trong thế giới thực. Đó là một mệnh đề hiện sinh được dệt nên từ cái khác, biết rằng cái mình chấp nhận được tách khỏi những tính toán thiệt hơn và khỏi động lực sống còn của nó. Tình yêu khi đó vượt ra khỏi kinh nghiệm cá nhân để đạt đến một công trình bằng cách dựa trên cái khác. Khi đó, cái “tôi” nhìn thấy một thế giới khác, cao hơn hoặc sâu hơn, rộng hơn hoặc mênh mang hơn, tình yêu được dệt nên trên cái nghịch lý về sự khác biệt hứa hẹn tồn tại và chia sẻ.
Phạm Thiên Thư, người vẽ bản đồ mới của Lãnh địa tình yêu, dám sửa đổi, sau đó vẽ lại và cuối cùng, nếu cần, xóa bỏ ranh giới giữa tình yêu và lòng trắc ẩn.
Nhưng với cái gíá nào?
Ông mạnh mẽ khẳng định vị trí nhân đôi của tình yêu trong thế giới buồn bã này, giữa nước mắt và cơn say:

Em là nụ lệ

Là hạt rựơu say

Giữa chán chường này

Tình yêu (tỉnh) thức

Trong thực hành hàng ngày, Phật giáo thường quay trở lại cơ chế tinh thần trong biểu hiện của lòng từ bi bằng cách nhấn mạnh sự bất an nào đó ban đầu khi đối mặt với đau khổ của người kia; trên đường đi, cảm giác này tạo ra một ý muốn giao tiếp, đánh dấu sự khởi đầu của hành động đi về phiá người kia với sức mạnh tinh thần và khả năng thức tỉnh, đây là một quyết tâm mới, chưa từng có, trong cuộc sống thường ngày của mỗi người.
Sự ra đời của ba khái niệm này làm rõ sự khám phá về lòng từ bi của thế giới Phật giáo Việt Nam:
giác ngộ (tỉnh thức mang lại sự hiểu biết)
cho phép: tuệ giác (ý thức có khả năng duy trì sự tỉnh thức),
khi đó con người có thể sống trong:
cõi giác (vũ trụ của sự thức tỉnh).
Phật giáo tin vào tầm quan trọng của việc rèn luyện sự tỉnh thức thông qua thiền mà nó định nghĩa như một môn huấn luyện tinh thần: thân giáo (tự giáo dục của cơ thể).
Một nhà thơ muốn làm một tu sĩ phải làm gì trong cái thế giới thức tỉnh này nó lên án cảm giác – nguồn và phương sách – của tình yêu?
Vì sớm muộn gì cảm giác này cũng sẽ là nguồn gốc của đau khổ. Phạm Thiên Thư không che giấu cái thẳng thắn trong thơ ông mà tình yêu mang đến, ông biết rằng tình yêu khiến ta không thể phân biệt được giữa thân và tâm trong cuộc hòa quyện yêu đương, một tình yêu sở hữu ngay lập tức nơi ý thơ trở thành bằng chứng vật chất của thân. Pessoa không ngần ngại nói rằng “tình yêu là một ý nghĩ”, một ý nghĩ đến từ ham muốn, từ cơ thể, từ xúc động, dường như nằm ngoài mọi lý lẽ hợp lý của một ý nghĩ. Thi sĩ của chúng ta biết rằng cái được mất của tình yêu còn hơn cả một trò chơi, tình yêu không kéo dài từ mùa này sang mùa khác, không thể hái nó khi bạn muốn, bạn phải biết nắm bắt nó bằng cách liên kết kiên nhẫn và mong muốn để không bỏ lỡ nó, để đặt cược tốt hơn vào thời gian:

Đợi nhau tàn cuộc hoa này

“cuộc” có nghĩa là thời gian của một ván, một hiệp trò chơi, của một vụ cá cược, nhà thơ – tu sĩ này trên hết muốn tình yêu tìm ra quan niệm của riêng của nó về độ dài lâu của nó trong cuộc đời. Thử thách đầu tiên của tình yêu là cư ngụ hoàn toàn trong một thời gian tính mới, chủ ý yêu đương nằm trong ước muốn bền lâu; việc thực hiện ước muốn này vượt qua giai đoạn tỏ tình để đạt đến giai đoạn thực hiện nó. Sự kiện này dường như đang dần bị thay thế bởi sự kiện gặp gỡ. Sự chờ đợi dành cho người yêu dần dần chuyển thành một giấc mơ mà nhà thơ của chúng ta nắm bắt và điều khiển từ đầu đến cuối, niềm mong đợi của giấc mơ và giấc mơ của sự chờ đợi hợp nhất với nhau, sự chờ đợi từ bỏ trạng thái thụ động của nó dẫn đến sự dày vò tinh thần trong bất động, ở đây tình yêu tái tạo sự chờ đợi bằng cách tạo cho nó một trạng thái sống động khác, khoái cảm:

Đợi người cuộc mộng thâu đêm

Tình yêu được xây dựng trong những bằng chứng để sau này trong một trò chơi của sự thật, một sự thật cho Hai người. Đó là việc chấp nhận thử thách, kiến tạo độ bền lâu và từ sự khác biệt giữa hai bản thể tạo ra một trải nghiệm mới về một sự thật chưa từng có. Tình yêu đảm nhận việc chuyển từ sự khác biệt đến ý thức hiệp nhất thông qua các hành vi được chia sẻ bằng cách tạo ra những bằng chứng mới về khoảng trống của sự thật này. Tình yêu in dấu bằng những chứng cứ của thể xác, mà cộng hưởng của nó trong niềm lạc thú thân xác sẽ đặt nó lên nấc thang cao nhất. Vì vậy, nó hoàn toàn tách rời khỏi tình bạn. Tình yêu này, muốn lâu dài, liên quan đến sự toàn vẹn bản thể của người-kia, và sự từ bỏ thể xác là dấu hiệu cụ thể của sự toàn vẹn này. Tình yêu có thể mang lại một bộ mặt khác cho ham muốn phù du, và nghi lễ xác thân củng cố bằng chứng vật chất của lời hứa, do đó trở thành nguồn của một sự tái tạo cuộc sống, tránh xa trò chơi tranh cãi của một ham muốn tình dục được che bọc sơ sài, hoặc của một mưu mẹo xảo quyệt của sự tái sinh sản giống loài. Phạm Thiên Thư nhiều lần bộc lộ trong các bài thơ của mình về việc tình yêu đôi lứa không thể có trong vũ trụ quan Phật giáo, vốn loại trừ khát vọng tình yêu; đặc biệt là trong bài thơ Vết chim bay:

Anh khoác áo nâu sồng

Em chân trời biền biệt

Kết cục là thảm họa trong tình yêu dù những lời biện bạch có đưa ra nguyên nhân gì chăng nữa.

Sự từ bỏ được cảm nghiệm như một lỗi của tình cảm và lương tâm, cảm giác tội lỗi dường như không thể so sánh được, và cái tình cờ của gặp gỡ, trên thượng nguồn của tình yêu, không còn tự biến mình thành một bình diện vĩnh hằng cố định thời gian cho cả một đời người. Tình yêu áp đặt quy luật tuyên bố sự vĩnh cửu này được trải nghiệm như là sự đi xuống của một đời người trong thời gian.

Tên ai còn tha thiết

Trong tiếng chuông chiều đưa

Tiếng chuông chùa, biểu tượng của sự thức tỉnh trong yên bình của tâm, trong tĩnh lặng của thân, trong thanh thản của thiền, tuy rung động và vẫn mang âm hưởng của tình yêu. Hơn hết, nhà thơ muốn tình yêu này càng lan tỏa càng tốt, âm thầm xâm chiếm toàn vũ trụ. Theo Augustine, chúng ta yêu tình yêu, nhưng chúng ta cũng yêu những người khác đang yêu. Tuy nhiên, đối với nhà thơ-tu sĩ của chúng ta, tình yêu không phải là một vấn đề của sự lựa chọn, bởi vì tình yêu được trao đi không giới hạn ở những người nào đó, ở những khuôn mặt nào đó:

Tôi yêu như dòng sông

Nhận cả tình rác rưởi

Không một nhà sư nào dám phát triển cấu trúc gây tranh cãi này, nhưng Phạm Thiên Thư còn muốn đi xa hơn nữa trong quan niệm về tình yêu của mình, thoát khỏi mọi định nghĩa hiện có về lòng từ bi. Chúng ta hãy quay trở lại thành ngữ tiếng Việt Tình rác rưởi với nghĩa xấu nói đến những hạng người nhất định trong xã hội. Nó cũng chỉ ra một tình yêu không có sự kiểm soát về mặt đạo đức, phát triển tự do tình dục có khả năng đe dọa trật tự xã hội Nho giáo vốn đã cùng chung sống lâu dài với đạo lý buông bỏ của Phật giáo, tất cả đều được phục hồi bởi chế độ độc tài quân sự ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 và độc đảng toàn trị sau năm 1975, kể từ khi đất nước thống nhất. Nhà thơ của chúng ta sống trong những chế độ chính trị và xã hội định hình và kiểm soát tình yêu và tình dục nhằm duy trì trật tự xã hội trước sự ham muốn. Thân xác của người-kia và thú vui tình dục trong tình yêu vẫn là điều cấm kỵ trong đời sống xã hội vốn ủng hộ những điều cấm đoán, bằng cách bóp nghẹt mọi ý kiến về nhục cảm. Nhưng tình yêu có mặt khắp nơi trong thơ Phạm Thiên Thư. Nhục cảm hầu như không được bộc lộ, tình dục chắc chắn không có, nhưng khao khát vẫn tràn ngập, bởi vì ông không bao giờ muốn vượt sang mảng gợi tình của thơ ca. Một khao khát khoáng đạt trong một trật tự Phật giáo lên án sự buông thả của cảm giác, là con đường mà nhà thơ đã cố ý chọn làm “đạo” của mình.

Chúng ta hãy quay trở lại “hướng dẫn của bồ tát cho cuộc sống”, để khảo sát lại lòng từ bi vượt qua tất cả bằng phương pháp “san bằng và trao đổi bản thân với người khác”, theo logic “bản thân và người khác đảo ngược vai trò” nơi tất cả chúng sinh làm việc cho cùng lợi ích: để có được hạnh phúc mà không đau khổ, để cuối cùng nắm bắt được sự từ bỏ những ý tưởng về sự chia cắt và phân biệt giữa tôi và nàng, ta và họ. Người tốt được kết hợp với điều tốt của người khác, mọi người đều phụ thuộc vào sự hợp tác và tình thương của người khác, vì vậy việc đảo ngược lập luận là hoàn toàn có thể xảy ra: điều tốt làm cho người khác sớm hay muộn đều tác động lại bản thân. Logic này hợp nhất sự khôn ngoan, lòng vị tha và lòng từ bi mà Phật giáo không tách rời trong việc giảng dạy về giác ngộ và thiền. Vậy đấy, tình yêu đã biến cuộc gặp gỡ thành một mối quan hệ mới tránh khỏi sự áp đặt của thế giới thực tại, bởi vì cuộc gặp gỡ này đã đặt một điểm hòa nhập tạo ra một liên kết mật thiết giữa tình yêu và thế giới của Hai người, bên ngoài thế giới thực, nhưng cũng thật như bất kỳ thế giới nào, để nuôi dưỡng mối quan hệ mới này. Như vậy, tình yêu được xây dựng với ý nghĩ về thời hạn của riêng nó, trong hay ngoài thế giới thực, nó là phiêu lưu nhưng cũng là sự bướng bỉnh của một công trình bền vững. Nếu không có sự bướng bỉnh này, tình yêu sẽ bị đe dọa biến dạng. Nhà thơ của chúng ta tự biện minh cho mình bằng cách so sánh lần này trái tim yêu thương không giới hạn với những chương hạn chế của Kinh:

Một trái tim vĩ đại

Gói sao vừa đôi chương

Chắc chắn có một vấn đề trong thuật ngữ về những mức độ và trình độ trong sự hiểu của ý thức để xem xét và sau đó đánh giá sự đối diện giữa tình yêu và lòng trắc ẩn. Phật giáo đã chọn chỗ đứng của mình trong việc thử trả lời bằng một lý lẽ hướng theo lòng từ bi, và dĩ nhiên trên suy niệm cốt lõi này, nó phân biệt với Khổng giáo và Lão giáo.

Loại hình lòng trắc ẩn (từ bi) này một khi được tạo ra đã thổi luồng sinh khí mới vào định nghĩa của trí tuệ Phật giáo: loại trắc ẩn đầu tiên được thúc đẩy bởi một cái nhìn xác thực về bản chất tối hậu của thực tại đau khổ ở trung tâm cuộc sống, loại thứ hai liên quan đến sự hiểu về bản chất vô thường của tồn tại, loại thứ ba được tạo ra bởi nhận biết về những đau khổ cảm nghiệm bởi những tạo vật có cảm giác. Mức độ tiến hóa của chúng tham gia tích cực vào việc củng cố sâu xa của cái nhìn vào bản thể, và đến lượt mình cái nhìn này lại xây dựng – hoặc đào sâu – những trình độ lý giải khác cho việc thực hành lòng từ bi của chính nó. Khi đó, giác ngộ được định nghĩa bằng lòng từ bi tự nhiên ở lại trong thế giới đau khổ của tất cả chúng sinh, giống như một cõi niết bàn sống trong lòng thế giới hiện tượng, trong một lôgic thực sự của sự phụ thuộc lẫn nhau giữa con người. Bi (từ bi) được hỗ trợ liên tiếp bởi Từ (lòng thương người), Hỉ (vui) và Xả (khả năng tha thứ) tạo thành “tứ tâm” khiến chúng ta có thể vượt qua mọi dính mắc và do đó mọi khổ đau. Những tấm lòng từ bi còn được gọi là “tứ vô lượng tâm” (bốn tấm lòng không biên giới), chúng có khả năng ôm trùm tất cả chúng sinh, vượt xa tình yêu dành cho Đôi lứa. Lòng từ bi này giống như một tình yêu phổ quát trong niềm vui, một tình yêu không đau khổ, một tình yêu đích thực đáng để sống và truyền bá. Lòng từ bi bao la này của Phật giáo Đại thừa của khu vực thế giới chịu ảnh hưởng của Trung Hoa nổi bật so với Tiểu thừa của khu vực chịu ảnh hưởng của Ấn Độ tin vào sự giải thoát phổ quát nhưng riêng lẻ, chỉ giới hạn trong thế giới của các tu sĩ và lý tưởng về sự thánh thiện khổ hạnh. Ở đây, Phạm Thiên Thư khẳng định lại rằng tình yêu mà ông đang tìm kiếm cũng có thể có nguồn gốc từ những thất vọng hiện sinh, những tàn nhẫn và bạo lực, do độ chênh về mức độ và trình độ giữa hai con người cảm nghiệm khác nhau cường độ và tiềm năng của tình yêu của họ. Tình yêu dựa trên sự khác biệt giữa hai bản thể, để đảm bảo sự sống còn của tình yêu này, họ phải phát minh ra một sinh tồn sáng tạo, chấp nhận bị những bi kịch rình rập, mà không có kẻ thù trước mặt; sự sống còn của tình yêu chỉ phụ thuộc vào trò chơi tạo ra một thế giới khác. Tình yêu cũng biết đến một mối đe dọa khác mang lại cho nó hình hài độc nhất vô nhị của niềm vui thích bằng cách đưa biến thể của khoái cảm vào thử nghiệm, cho nó cái khả năng trong những khoảnh khắc hiếm hoi khẳng định sức mạnh của nó có thể khám phá ra kinh nghiệm độc đáo nhất của bản thể người trong cuộc gặp gỡ đích thực với tính khác biệt. Nếu tình yêu là sự khác biệt, nhà thơ-tu sĩ sẵn sàng chấp nhận bị đẩy lùi xuống hàng thứ hai:

Tình anh là bóng đêm

Chìm cho vì sao nổi

Tình yêu có tất cả những căng thẳng để trải nghiệm và sau đó điều hướng giữa ham muốn như sự ngông cuồng tự nhiên của tình dục và lời ca ngợi một sức vươn tinh thần quy định dứt khoát mọi cái nhìn về thế giới, một cơ sở để tiếp cận tới cõi trên.

Tình yêu (tái) tạo

Đối với Rimbaud: “Tình yêu phải được sáng tạo lại, chúng ta biết điều đó”, bởi vì tình yêu, ngay khi nó có thể, tự thoát khỏi hành động tự do vô chính phủ coi tình yêu đích thực là một mạo hiểm vô ích, hoặc hành vi tình dục phóng túng, và cái thú trong trò chơi tiêu dùng dễ dãi dường như có khả năng loại bỏ thử thách tình cảm bằng cách giết chết niềm đam mê thực sự. Tình yêu có thể bị bao vây, và vì sự sống còn của chính nó, nó phải nghĩ ra những cuộc phiêu lưu mới và do đó, những rủi ro mới, luôn đối mặt với sự đổi mới về sự an toàn và thoải mái. Tình yêu mang lại cho cuộc sống sức mạnh và ý nghĩa, thế nhưng Phật giáo can ngăn điều thứ nhất và mời gọi tương đối hóa điều thứ hai, và để tương đối hóa thì phải dè chừng tình yêu nó áp đặt cho con người lối sống mạo hiểm, mạo hiểm đau khổ, trong tình yêu không có cái gọi là “độ rủi ro bằng không”.

Phạm Thiên Thư đã hơn một lần dám nhận cái mạo hiểm này, ông nhìn thấy nhục cảm trong cơ thể một ni cô, dù đã trong giới buông bỏ:

Ni cô hiện giữa ta bà

Búp tay hồng ngọc nâng tà áo trăng

Cái mong muốn tìm kiếm trong một sinh thể khác những biểu hiện ít nhiều mang tính bái vật giáo (thân mình, ngực, mông, v.v.), nhà thơ của chúng ta coi trọng đôi bàn tay, nhưng tình yêu của ông muốn nói với người-kia niềm vui gặp gỡ của ông, cho đến khi tái tạo lại cái nhìn riêng của ông đối với người-ấy. Tình yêu có lẽ tỏ lộ trong cái ngất ngây của cuộc gặp gỡ, nhưng nó cũng biết cách vượt qua ảo tưởng để đi đến xây dựng chân lý, đòi hỏi sự mở rộng cuộc sống, phải tồn tại giữa khát khao chia sẻ và thử thách của đợi chờ, cuối cùng ông đã biết cách trải nghiệm tình yêu như một phẩm chất đa định (chịu rất nhiều chi phối):

Cả khu rừng yêu thương

Người chớ đưa tay hái

Trong bài thơ Giai nhân tình yêu tạo ra chủ đề duy nhất của nó, Chủ đề tình yêu, từ hai tạo vật khác nhau mở ra để một thế giới mới được sinh ra để chuẩn bị cho sự ra đời của một sự kết hợp. Không có tình yêu thì chỉ còn lề thói quen thuộc hoặc sự lặp lại của thế giới đã có sẵn:

Mắt em cong thuyền rồng

Chở mặt trời trái mật

Giữa sự từ bỏ dục vọng do Phật giáo chủ trương và việc tìm kiếm vẻ đẹp thân thể trong tình yêu, nhà thơ của chúng ta đã chọn, vì sắc đẹp vừa là mật, vừa là mặt trời. Những công thức tình yêu mới này được coi là những hành vi chống lại truyền thống mà các nhà thơ ca ngợi tình yêu thường sử dụng để chống lại những xu hướng bảo thủ. Nhưng, “trận chiến đấu thực sự” của Phạm Thiên Thư không phải ở vấn đề từ bỏ cảm giác mà ở việc xóa hình phạt cho quan niệm về tình yêu, đánh giá nó là cản trở định nghĩa của lòng từ bi. Nó (trận đấu ấy) không nằm trong cuộc tranh luận giữa khoái lạc và khả năng sinh sản, bởi vì nếu khoái lạc là được thua (enjeu), thì khả năng sinh sản là chịu chơi (en jeu), ngụ ý được thua của sự sống và cái chết, như vậy đe dọa phả hệ của xã hội. Ông biết rằng yêu sách yêu đương động viên ham muốn, đam mê, khoái lạc thoát khỏi yêu cầu đạo đức của xã hội, công khai lánh xa những kết án của tôn giáo, đặc biệt là xa lạ với việc chính trị hóa tính dục của chế độ độc tài. Điều ông muốn – và điều ông tha thiết – là có thể mở rộng tình yêu thương để nâng cao tầm nhìn của lòng trắc ẩn. Vẻ đẹp xanh rờn của tình yêu của ông cần đến sải cánh của một con hạc có khả năng bay cao và vượt qua mọi giới hạn, liệu lòng trắc ẩn có được tầm vóc đó?

Thấy em xanh thảm mạ

Anh xòe cánh hạc bay

Cấu trúc thơ của Phạm Thiên Thư ngày càng đi xa khỏi cái khuynh hướng được định nghĩa bằng lòng trắc ẩn. Như vậy, từ tư thế tinh thần đến cử chỉ của quan hệ xã hội, lòng từ bi của Phật giáo quan niệm cấu trúc tinh thần như một trạng thái tâm bất bạo động, thẳng thừng lên án cảm giác, đặc biệt là nhục cảm, nguồn gốc của đau khổ, để thấy con người tự giải thoát mình khỏi những thất vọng, cần đến một cam kết cá nhân bao hàm trách nhiệm cá nhân trước những trò chơi cám dỗ của cảm giác. Sau đó, trong việc xem xét gốc rễ của đau khổ, Phật giáo dạy rằng việc lên án đau khổ, phần lớn là lên án ham muốn. Và trong số các hình thức ham muốn khác nhau, ham muốn tình dục là mạnh mẽ nhất, vì nó đòi hỏi sự dính kết đồng thời của năm đối tượng giác quan: dáng, hương, vị, thanh và xúc. Tuy nhiên, cũng theo lời dạy này, đau khổ không phải là cái chết cũng không phải là cái ác, nó có trước dấu hiệu, triệu chứng của một nguyên nhân, có thể là do sự hiểu sai về thực tại, sự ngu dốt biểu hiện ra trong sự thất vọng, bằng sự thiếu thốn, thậm chí bởi sự thúc đẩy của một cái tôi được đánh giá quá cao. Cái tôi quá cỡ thì không, nhưng sự thất vọng thì có thể! Phạm Thiên Thư kể lại sự thất vọng ấy:

Em nằm ngó cội cây xanh

Môi ôm đào lý một nhành đôi mươi

Như vậy, theo Phật giáo, bản ngã (cái tôi) có thể bi kịch hóa đau khổ, bởi vì điều này khiến chúng ta đồng nhất với một cái tôi tin rằng anh ta sống trong sự thiếu thốn khiến anh ta đau khổ. Nhìn từ góc độ như vậy, cái tôi này là nguồn gốc của nỗi đau tinh thần, là sự phản ánh hoàn hảo công thức của Đức Phật: “đời là bể khổ”; tâm an lạc được định nghĩa là niết bàn, nơi thoát khỏi mọi khổ đau vẫn chưa được chú ý đến. Lúc đau khổ vì yêu là lúc khám phá ra những ảo tưởng, hiểu lầm và chấp trước đưa con người ra khỏi trạng thái bình thường của anh ta, và chỉ có thiền mới đưa được anh ta trở lại trạng thái ấy. Phạm Thiên Thư kể về việc ông đau khổ như thế nào vì thiếu tình yêu, sự thiếu thốn kéo dải hết mùa này đến mùa khác, đồng thời bao trùm cả vũ trụ của ông:

Con chim mùa nọ chưa chồng

Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu

Tình yêu suy niệm

Theo Jacques Lacan, tình yêu phân biệt với tình dục, thông qua trung gian của cơ thể người kia, tìm kiếm lạc thú trong sự hưởng thụ của bản thân; tình dục như một lạc thú duy nhất có thể khiến chúng ta xa cách người kia, thực tế của nó là lòng ái kỷ (narcissique), mối ràng buộc tối cao của tình yêu sau đó có thể trở thành hư ảo. Mà trong tình yêu, cái tôi của người này, vượt ra khỏi lòng ái kỷ, cố gắng tiếp cận cái tôi của người kia, trung gian của người kia không còn là phương tiện nữa mà thành trung tâm để tìm kiếm người kia, để khiến nó tồn tại với mình, vượt qua thực tại của giới tính. Phạm Thiên Thư đặt lời yêu thương cho người kia vào trong trầm tư sâu lắng, tĩnh tâm thấu hiểu, chú tâm suy niệm. Trong bài thơ Giọt mật của mình, ông kể rằng ông thấy con người dường như rất nhỏ bé khi đối mặt với tình yêu của người kia:

Lời em như giọt mật

Anh lặng nghe bằng tim

Thấm từng lời mật đó

Anh thành con còng nhỏ

Yêu hạt bụi vô cùng

Như vậy, ông tự đặt cho mình một thử thách mới trong thơ, và có lẽ muốn được ở một mình lâu dài trong nghịch lý này: ông để người yêu mình sống tình yêu, còn ông, nhà tu hành, phải âm thầm “suy ngẫm” về tình yêu này. Tuy nhiên, tình yêu không phải là một khả năng dễ xoay sở, tình yêu áp đặt một sức mạnh để vượt qua một điều gì đó dường như không thể, nằm ngoài mọi lý do thông thường. Vượt qua điều không-thể này đánh dấu sự bắt đầu của tình yêu, đồng thời tạo ra vũ trụ niềm tin của riêng mình. Tuy nhiên, sức mạnh của tình yêu nằm trong trật tự trần thế; nó ‘ở đây và bây giờ’, theo Claudel, nó không ‘ở đằng kia’. Sự hiểu trực tiếp này là sức mạnh của nó trong vũ trụ của các mối quan hệ tình cảm, như Kant nói, nó là nền tảng của đạo đức.
Nhận thức được sự mong manh này của con người khi đối mặt với những thử thách của cuộc sống, Phật giáo xử lý vấn đề đạo đức này theo cách khác: nó giới thiệu sự tương ứng giữa tạo vật sống và tạo vật có cảm giác trong cùng một thế giới để nhận rõ hơn cảm giác của con người không thể chịu đựng được trước đau khổ của người khác, và từ đó nêu lên một sự tương ứng khác giữa đau khổ và từ bi:
càng hiểu rõ về đau khổ, chúng ta càng thâm nhập tốt hơn về cấp độ, mức độ và chiều sâu sự hiểu biết về từ bi. Chỉ có mẫu hình giáo dục này mới có thể giữ cho tâm trí tỉnh thức, dựa trên nền tảng của đạo pháp (con đường đúng đắn sẽ rèn luyện phương pháp hành động). Như vậy, khi hiểu biết thay thế cho lời dạy bảo, con đường này sẽ có thể tổ chức tâm lý chung của thời kỳ, và theo đó, môi trường văn hóa bao quanh trong giáo dục tập thể để vượt qua đau khổ. Cái “dũng” phát triển trong bối cảnh lịch sử đầy bạo lực này có sức mạnh của lòng vị tha ngăn cản nó khỏi rơi vào tuyệt vọng. Hơn cả một sức mạnh bên trong của ý thức, lòng từ bi tự bộc lộ ra như một quyết tâm không gì lay chuyển được, chìa khóa để vượt qua cơn loạn trí do chán nản mất hết tinh thần.

Nhưng tình yêu lứa đôi của Phạm Thiên Thư phải sống hết tầm cỡ của nó với những tính nhị nguyên khi không thể quản lý được, với những căng thẳng dữ dội nhất và những chia ly không thể vượt qua được; chiều kích kinh ngạc này giữa hai người khác nhau tạo nên cái ngạc nhiên của tình yêu, có những trải nghiệm riêng về thế giới trong cuộc sống của Hai người được tạo ra và có nguy cơ làm sáng tỏ do những xung đột nảy sinh từ những tính nhị nguyên này. Nhà thơ-tu sĩ của chúng ta nói về tình yêu này là trọng tâm của thơ ông: nỗi khao khát và kiểu mưu mô của nó trong tình yêu, và suy niệm đã chọn đứng về phía các khuôn mẫu của lòng từ bi. Đầu tiên, khả năng nhận diện một khuôn mặt, một dáng vẻ, một hình thức… mời gọi xem xét những thăng trầm của nghiệp của người kia và nếu đau khổ xuất hiện, người kia có thể bước vào cuộc chuyển hóa, một sự biến đổi tạo ra một đột biến thuận lợi hướng tới một tương lai dễ chịu hơn. Sự bất an (thiếu yên tĩnh) trong tình yêu của hai người nhấn mạnh xa hoặc gần đến sự mất thanh thản trong cuộc sống hàng ngày, nó đòi hỏi sự xuất hiện những nền tảng hòa ái của điều thiện và sự hài hòa, do đó thiền mang lại cho mỗi người chánh niệm (tỉnh thức đầy đủ trong hành động). Bản thể này được kiểm soát xuyên suốt những gì đang xảy ra và hậu quả của nó trong tương lai gần, và chính tinh thần nhất quán này đã buộc nhà thi sĩ tu hành của chúng ta rời xa tình yêu toan tính. Liệu ông có biết rằng mỗi khi ông rời xa khỏi thiền, là ông đang lang thang trong những toan tính của tình yêu?
Ông cố gắng trả lời câu hỏi này trong bài thơ Ráng chiều (lúc hoàng hôn):

Em ngồi cùng anh

Bên trên nấm mộ

Phiếm đá rêu xanh

Thở dài thiên cổ

Thôi hãy cầm tay

Thoả lòng tản bộ

Mai có như ai

Trở về một chỗ

Ta không thở dài

Nhà thơ biết rằng tình yêu của mình đang rời xa khỏi tình yêu an toàn, khỏi lạc thú riêng không bất trắc, khỏi tình yêu tự tin dựa trên sự ích kỷ, một tình yêu thoải mái. Sự đảm bảo và sự thích thú chỉ là những giới hạn được thiết lập bởi những tính toán về lợi ích trong đó khoái cảm tức thì thay thế tác động của cuộc gặp gỡ. Giới luật thiền ở đó và khuyên ông từ bỏ tình yêu mạo hiểm này: thiền không phụ thuộc vào cuộc sống hàng ngày, nhưng cuộc sống hàng ngày phụ thuộc vào thiền. Phép thiền này coi trọng điều kiện đầu tiên để bước vào không gian thiền bằng nhập thiền tức là tách mình khỏi tình yêu nhục cảm bằng con đường tịnh tâm (giữ tâm ắng lặng) kèm theo định tuệ (giữ cố định trạng thái tỉnh thức). Không có sự tách biệt tuyệt đối giữa thức tỉnh và ảo ảnh, người ta thức tỉnh khỏi ảo ảnh từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác. Sự tỉnh thức như vậy chỉ có thể tồn tại trong mối quan hệ với ảo ảnh và xen kẽ với nó, như sự gắn bó (dính mắc) và trống rỗng (buông bỏ) thay thế nhau. Thiền lại càng có sức mạnh hơn khi chúng ta sống trong vật chất, trong thế giới hiện tượng, nơi tất cả chỉ là trống không. Nhận thức về tính không của thế giới hiện tượng đánh dấu sự thể hiện tối thượng của tinh thần buông bỏ, được cố định trong hai dạng thiền định (định tâm trong suy niệm để tự tu sửa) và thiền hành (đưa suy niệm vào thực hành), từ đó có yếu quyết Việt Nam gần như về thể xác, đơn giản nhưng hiệu quả, từ tiếng Việt ‘tọa thiền’: ngồi thật yên thở thật sâu. Nếu một người biết cách tự quan sát, quên đi chính mình và hòa nhập vào chân lý vũ trụ buông bỏ mọi nhu cầu, thì ý thức sẽ trở thành ánh sáng và tỏa sáng vượt qua mọi đối lập giữa mình và vật; do đó có thể đạt được sự từ bỏ mọi dính mắc vào thân và tâm. Sự hiệp thông sâu sắc này mà Phật giáo gọi là thực tại sống động, cho phép hiểu biết sâu sắc và do đó cuối cùng là lòng đại bi; nó cũng là công thức để từ bỏ thứ tình yêu toan tính, tình yêu xui khiến con người lao vào dục vọng không kiểm soát. Chính tình yêu này đã kích hoạt nhà thơ tu hành của chúng ta, vì giai đoạn thẩm mỹ đầy cám dỗ của ông đã đi đến chỗ bao bọc sự từ bỏ. Khi đã đến giai đoạn đạo đức này, tình yêu bộc lộ sự cam kết lâu dài thực sự của nó, có khả năng hướng đến cái tuyệt đối như một giai đoạn tối cao với giá trị thiết yếu của nó là cố định đích đến chung được chia sẻ trước những nguy cơ lang thang bất định. Ở đây, Phạm Thiên Thư dám đặt tình yêu này vào phật tâm, ông không còn hoài nghi nữa: khát vọng tình yêu hoàn toàn có vị trí trong tâm từ bi:

đôi chim nho nhỏ trên cành

giục nhau đan tổ cỏ xanh bên đường

nửa đời mây nước du phương

thiền sư ngắt cỏ cúng dường phật tâm.

Nhà thơ tin chắc rằng sự biến hình cuối cùng của tình yêu đưa con người vào khám phá sức mạnh của chính mình làm bén rễ một thực tại ổn định qua một cuộc sống bên ngoài sự cám dỗ, đó cũng là thời điểm để dành cho tình yêu một vị trí trung tâm trong các trang Kinh:

Em đoá hồng nhung

Trong hồn anh tĩnh vật

Em hiện thân sự thật

Trang tâm kinh tuyệt vời

Nhưng Phật giáo không bỏ cuộc khi đối mặt với tình yêu mạo hiểm này, lần này nó sử dụng lòng nhân từ để phóng thoát sự buông bỏ cảm giác, nhằm ngăn chặn lòng khát khao nhục cảm bằng cách đối xử với nó trong mối quan hệ giữa lòng nhân từ sinh ra từ thiền định và lòng trắc ẩn xác định trên mọi xã hội loài người, không gì khác hơn là nền tảng của hy vọng con người, cội nguồn và sự đảm bảo cho tương lai của con người. Được định nghĩa là sự tìm kiếm tỉnh thức hoàn toần, thiền đi tìm kiếm một thực tại sâu xa hơn thoát khỏi chúng ta trong cuộc sống hàng ngày, trong cuộc gặp gỡ với chính mình, trong một cuộc chuyển giao thực sự từ chính mình đến chính mình.

Sau đó, nó dẫn đến một cảnh giới khác, nơi thiền biết thoát khỏi khổ hạnh mà tiến đến sự không lệ thuộc (về cảm giác) để tạo ra sự hợp nhất toàn diện giữa thân và tâm với thực tại, như nó đang hiển hiện ở đây và bây giờ, vì vậy chú tâm hoàn toàn vào đây và bây giờ. Về phần Phật giáo Việt Nam, nó tin tưởng vào hai lợi ích của thiền trong việc chuẩn bị tinh thần trong sự khai mở đầy hiệu quả của nó: thanh tịnh và tinh khiết để tiếp cận tốt hơn sự vô-niệm (la non-pensée). Thiền đạt đến độ sâu kín của không suy nghĩ bằng cách quan sát những ý nghĩ xuất hiện mà không theo đuổi chúng cũng không muốn xóa bỏ chúng. Chỉ là nhìn thấy những gì đang có, không dừng lại ở cái gì, khi đó tinh thần tự do thoát khỏi sự cố ý, đạt được tự do thực sự vượt ra bên ngoài mọi tính nhị nguyên. Sự không suy nghĩ là có thể để cho nảy sinh và rồi để cho qua đi, không níu giữ ý nghĩ, đó là một việc thoát khỏi cơ chế thường xuyên và tự nguyện của ý muốn theo dự định hoặc bằng suy luận. Phải làm gì với nhà sư yêu thương của chúng ta trong thế giới Phật giáo sáng suốt này khi đối mặt với tình yêu không suy nghĩ, không đau khổ này?

Ôm ấp, Yêu hay thương?

Từ tình thương (lòng nhân ái), tiếng Việt trong cấu trúc đơn âm gợi ra trật tự logic của lòng nhân ái. Trong cách diễn đạt thương mình (tự yêu mình), cảm giác bảo vệ cá nhân của bản thân sẽ là cơ sở thiết yếu để nắm bắt thương người (yêu người khác), toàn bộ được liên kết trong một suy luận tự nhiên có hiểu mới thương. Từ đó xuất hiện một thực tế có sức thu hút đối với nhân học ngôn ngữ, đó là sự xuất hiện của hàng loạt thuật ngữ đặc trưng của Phật giáo, ngay lập tức được chấp nhận và sau đó dễ dàng truyền bá trong văn hóa Việt Nam, vượt ra khỏi định nghĩa tóm tắt về tình thương. Những thuật ngữ này có thể dễ dàng nhận biết trong những phản xạ miệng, tự động hoạt động trong lời ăn tiếng nói của người Việt Nam.

Từ ngữ thứ nhất: chúng sinh (quần thể sống), nhấn mạnh giá trị sống bình đẳng giữa con người và động vật, kéo theo từ ngữ thứ hai: muôn loài (tất cả các loài sống) khẳng định giá trị nhất thể này đối với sự sống, với sự xuất hiện của thuật ngữ thứ ba: đại chúng (khối sống vĩ đại), bằng chứng của lòng từ bi bao trùm tất cả mọi vật sống, bất kể hình dáng của chúng. Phạm Thiên Thư, người đã sống qua những thời kỳ khó khăn của đất nước Việt Nam trong các cuộc chiến tranh của thế kỷ XX cũng đã biết viết nên những trang viết đẹp nhất về lòng từ bi trên nền thơ Việt:

Muôn loài như sương rơi,

xin làm hoa trắng đỡ.

Đừng quên rằng nhà thơ-tu sĩ của chúng ta không ngừng muốn tận hưởng tình yêu để bộc lộ lòng trắc ẩn, ông muốn tìm kiếm cái khôn lường của tình yêu nhục cảm để làm mạnh thêm tính khôn lường của khát vọng tình yêu. Trong cuộc đời làm thơ của mình, đôi khi ông tự giễu mình, nhưng chưa bao giờ ông giễu cợt tình yêu, và khi ông giễu cợt ông, chính là thói quen tu sĩ của ông đã bật thành tiếng cười:

Hỏi con vạc

đậu bờ kinh

cớ sao lận đận cái hình hư không

vạc rằng:

thưa bác Thiên Thư

mặc chi cái áo

thiền sư ỡm ờ

Theo ông, cách ăn mặc của ông, cái dáng vẻ từ bỏ cảm giác của ông, càng nực cười hơn và ông hiểu rõ hơn bất kỳ ai rằng thực ra ông chỉ tìm kiếm tình yêu của dục vọng. Nhưng sự chuyển giao từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI cũng làm nảy sinh một vấn đề khác xung quanh động từ ôm. Để hình thành nên thiền ôm do thiền sư vĩ đại nhất Việt Nam Thích Nhất Hạnh chủ trương hiện nay, thông điệp về tình yêu và thương giữa hai con người phải được thực hiện trong im lặng để tìm kiếm lòng từ bi đích thực.
Cuộc gặp gỡ giữa hai thân thể, giống như cuộc gặp gỡ giữa hai nghiệp trong sự sẻ chia đau khổ, tìm cách vượt qua những hiểu lầm, ngờ vực, ngộ nhận… về tình yêu của họ, chỉ bằng cách ôm hôn. Ôm nhau là bộc lộ, xác nhận, nâng cao tình yêu nhau.
Như vậy, hành động ôm, được thúc đẩy bởi sức mạnh của cảm giác, hoàn toàn tỉnh thức, cho phép vượt ra khỏi những bức tường vô hình của lòng kiêu hãnh của mỗi bên, để hợp nhất trong cùng một lòng trắc ẩn dành cho nhau.
Tôn trọng tất cả các quy tắc của thiền, Ôm cho phép rời bỏ vào lúc này cái tư thế cá nhân thông thường, trong sự đơn độc của thiền, “luôn luôn một mình”.
Nhưng tiếc thay (– hay may thay –) động từ ôm hoàn toàn vắng bóng trong thơ tình của Phạm Thiên Thư!
_____________________________________

Nguồn: Sách “Gặp nhau bên Động Hoa Vàng” do Lê Viết Yên chủ biên (Thư viện Huệ Quang, Sài Gòn 2021)

Văn học Miền Nam 54-75 

vanviet.info

Phạm Thiên Thư

22 Tháng Hai, 2021

Đặng Tiến

Post by Sơn râu 21 May 2024

Kỳ 5

Ngày xuân tìm Động hoa vàng

Nhà thơ Phạm Thiên Thư là một tác giả dồi dào, đã in ra hằng vài ba trăm ngàn câu thơ, có lẽ là kỷ lục về số lượng trong nền văn chương tiếng Việt, vượt xa Bùi Giáng. Nhưng câu thơ được biết nhất, trước sau vẫn là:

rằng xưa
có gã từ quan
lên non tìm động hoa vàng ngủ say



Văn học Miền Nam 54-75

vanviet.info

Phạm Thiên Thư

8 Tháng Hai, 2021

Post by Sơn râu 21 May 2024

Kỳ 4

“Động hoa vàng” của Phạm Thiên Thư

Yến Trinh – Tiến Long

Những ai say đắm bài thơ Động hoa vàng của nhà thơ Phạm Thiên Thư chắc sẽ bất ngờ khi biết nhiều ý tứ về “động hoa vàng” được ông lấy cảm hứng từ căn gác gỗ ở khu cù lao Phan Xích Long.

Một người hàng xóm của nhà thơ Phạm Thiên Thư kể về khu xóm ngày xưa và “động hoa vàng” nay biến thành căn nhà ba tầng – Ảnh: TỰ TRUNG

“Rằng xưa có gã từ quan/ Lên non tìm động hoa vàng ngủ say…”.

Có thể nói một cách nào đó, khu cù lao Phan Xích Long chính là “động hoa vàng” của Phạm Thiên Thư. Ở nơi đây, ông đã trải qua những năm tháng sáng tác rực rỡ nhất trong cuộc đời mình.

Khu cù lao còn là nơi cư ngụ của nhiều văn nghệ sĩ như Trụ Vũ, Thụy Long, cũng là nơi lui tới bàn chuyện con chữ thế sự của Phạm Duy, Sơn Nam…

Ngẫm về chốn cũ

Chúng tôi tìm gặp nhà thơ Phạm Thiên Thư khi ông đã chuyển về sống cùng người vợ thứ ba trong căn nhà nhỏ trên đường Hồng Lĩnh, thuộc khu cư xá Bắc Hải (Q.10).

Tầng dưới của ngôi nhà ông mở quán cà phê đặt tên Hoa Vàng, luôn vang tiếng dương cầm réo rắt. Phía trước quán, ông để vài cái ghế, và đó cũng là chỗ ngồi thường xuyên của ông.

Gặp Phạm Thiên Thư bây giờ, thật đúng như hình dung của chúng tôi về một nhà thơ – tu sĩ khi tuổi đã về già. Mặc bộ đồ giản dị, ông ngồi dưới giàn dây leo râm mát với một cuốn sách cũ, cặm cụi ghi ghi chép chép. Trước mặt ông đặt một tảng đá, cắm những bông cúc vàng.

Có lẽ cuộc đời người thi sĩ hằn sâu, ấn tượng với cảnh hoa vàng, nên mỗi địa điểm cư ngụ ông đều để hoa vàng như một biểu tượng của ký ức. Trong số đó có căn nhà trong hẻm Trần Kế Xương, P.2, Q.Phú Nhuận mà ông gắn bó nhiều năm.

Phạm Thiên Thư trong đêm thơ nhạc của ông và Phạm Duy năm 2011 – Ảnh nhân vật cung cấp

Có thể nói hình ảnh hoa vàng xuất hiện dày đặc trong thơ Phạm Thiên Thư. Nó trở thành một biểu tượng xuyên suốt, một nỗi hoài niệm.

Ông kể: “Năm 1942 khi cả gia đình còn ở xã Chi Ngãi, huyện Chí Linh (Hải Dương), bố tôi mua hẳn ngọn đồi Phượng Hoàng. Hoa cúc dại vàng mênh mông, bát ngát chạy dài che khuất đường chân trời”.

Năm 14 tuổi, ông theo mẹ di cư vào miền Nam, ngụ tại khu Tân Định. Sau khi học xong tú tài, khác với nhiều người Phạm Thiên Thư chọn cửa Phật làm chốn dừng chân. Ông theo học Trường Phật học Vạn Hạnh, gửi hồn trong lời kinh tiếng kệ.

Năm 1968, gia đình nhà thơ mua 400m2 đất ở khu cù lao. Rồi ông sáng tác thi phẩm Động hoa vàng với 100 đoạn thơ.

Mỗi đoản khúc là một tiếng hót của loài dị điểu, sẵn sàng yêu và chết, và để tiếng hót của mình rơi rụng trên sông.

Trong thời gian sống cùng bà Tuệ Mai (con gái Á nam Trần Tuấn Khải), ông bà thường đọc thơ cùng nhau ở nơi này. Lúc đó Phạm Thiên Thư đã nổi tiếng với tác phẩm Đoạn trường vô thanh. Ông từng tu hành 7-8 năm ở chùa Vạn Thọ, gần kênh Nhiêu Lộc.

Động hoa vàng trong ký ức

Chính vì tuổi cao, lại trải một qua cơn bệnh cách đây chưa lâu, nhà thơ Phạm Thiên Thư không còn nhớ được nhiều. Nhưng khi nghe nhắc về “động hoa vàng” ở căn nhà cũ nơi cù lao thơ mộng, nhà thơ gọi tên người bạn thân thiết: tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã.

Theo lời kể của tiến sĩ Nguyễn Nhã, ông và Phạm Thiên Thư biết nhau từ những năm tháng tuổi đôi mươi, khi bắt đầu chung nhóm nghiên cứu về văn hóa.

Có lần cha của tiến sĩ qua cầu bị té xuống kênh, chính Phạm Thiên Thư vì nhà trổ cửa nhìn ra sông trông thấy nên hô hào người dân kéo lên bờ. Tiến sĩ kể nhà ông và nhà Phạm Thiên Thư ở gần nhau.

Khi nghe nhắc về cây hoa vàng, tiến sĩ Nhã xác nhận đúng là trước đây ở đầu ngõ nhà của nhà thơ có cây hoa vàng rực, khung cảnh nên thơ vô cùng.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư lúc còn trẻ chụp trước căn nhà có cây hoa vàng trong khu cù lao Phan Xích Long, P.2, Q.Phú Nhuận mà ông gắn bó nhiều năm – Ảnh: TỰ TRUNG chụp lại từ album riêng

Năm 1968, nơi này gọi là đường Hàng Keo. Nhà Phạm Thiên Thư có hình chữ L, ở cuối xóm. Ông làm một cái gác nhỏ, nhìn ra hướng sông.

Ông nói đó là động hoa vàng, có chuẩn bị hoa cỏ, đèn dầu, thuốc lá cho bạn bè thân hữu mỗi khi ghé chơi (Phạm Duy, Trụ Vũ, Bùi Giáng, Sơn Nam, Nguyễn Nhã…).

“Căn gác gỗ của Phạm Thiên Thư rất thơ mộng, cửa sổ trổ ra bancông, nhìn về hướng mặt trăng. Căn gác trang trí mây tre cũng là sự hữu ý của Phạm Thiên Thư vì nhà thơ rất đề cao tính truyền thống, yêu thích hình ảnh cây tre khi gió mạnh thì cúi rạp người nhưng khi cần chiến đấu thì có thể chặt thành từng đoạn cắm dưới lòng sông” – tiến sĩ Nhã kể.

Thi thoảng, tiến sĩ Nguyễn Nhã cũng ghé đến quán cà phê Hoa Vàng hiện nay để thăm người bạn già Phạm Thiên Thư. Trong mắt ông, Phạm Thiên Thư là người giản dị, yêu sâu đậm đất nước qua những vần thơ giàu tính truyền thống, hòa nhã với bạn bè thân hữu.

Duyên kỳ ngộ Phạm Thiên Thư – Phạm Duy

Trong những năm sống ở khu cù lao, Phạm Thiên Thư và nhạc sĩ Phạm Duy có mối liên hệ mật thiết. Cách đây hơn 40 năm, Phạm Duy đã lui tới căn gác của Phạm Thiên Thư để phổ nhạc một số bài thơ của ông.

Năm 1971, Phạm Duy đã phổ nhạc 10 bài đạo ca của Phạm Thiên Thư mà chính nhà thơ đã nhận xét rằng cách phổ nhạc rất hay.

Tiến sĩ Nguyễn Nhã cho biết thi thoảng khi ghé nhà Phạm Thiên Thư, ông cũng gặp nhạc sĩ Phạm Duy. Nhạc sĩ và nhà thơ bàn về nhạc, về thơ say sưa, tâm đầu ý hợp.

Tính đến nay, nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ khá nhiều bài thơ của Phạm Thiên Thư, có thể kể đến Động hoa vàng, Ngày xưa Hoàng Thị, Em lễ chùa này, Gọi em là đóa hoa sầu… Thậm chí giữa Phạm Thiên Thư và người nhạc sĩ hơn ông 20 tuổi đã có mối tri kỷ từ những ngày đầu mới gặp.

Khi Phạm Thiên Thư còn tu tập trong chùa, nhạc sĩ Phạm Duy có ghé vào thăm. Họ cũng đã nhiều lần chia sẻ những dự định, những trăn trở về đường sáng tác, về nỗi cô đơn trong cuộc đời.

Khu vực cù lao còn là nơi cư ngụ của nhà thơ Trụ Vũ – tác giả bài thơ Quasimodo nổi tiếng. Quê ở Huế, ông vào Sài Gòn từ năm 1949, đến năm 1961 sống ở khu Phan Xích Long này. Theo lời nhà thơ, khung cảnh, vị trí của Phú Nhuận khiến nhiều nhà thơ tìm đến cư ngụ vì thuận tiện để đi lên khu vực trung tâm, giá cả sinh hoạt lại rẻ. Ngày xưa Phan Xích Long có xóm Mã Đen, nhiều mồ mả. Xóm này thuộc ấp Đông Ba, quanh xóm tre trúc mọc đầy. Người nghèo, cả người tị nạn cũng rúc vào khu này sinh sống. Còn vùng cù lao (giờ là khu vực đường Hoa Sứ, Hoa Lan…) ngày trước cỏ lau mọc trải dài tới khu vực bờ kè. Ông kể ngày xưa muốn tìm không gian yên tĩnh, ông thường ra đó. Ông còn kể rằng khi giao thiệp với nhà thơ Hoàng Cầm, có một lần nhà thơ Hoàng Cầm vào Sài Gòn chơi, Trụ Vũ nhờ người em kết nghĩa tên Diệu Tiên dẫn về nhà ông. Nhưng họ bị lạc nguyên một ngày mới tìm ra nhà Trụ Vũ! Căn nhà của ông còn là nơi lui tới của Phạm Thiên Thư thời trẻ, của Sơn Nam, Thụy Long… và nhiều văn nghệ sĩ, giới trí thức Sài Gòn.

Nguồn: https://tuoitre.vn/dong-hoa-vang-cua-pham-thien-thu-1230469.htm

Chuyện nhân duyên

baotreonline.com

Ian Bùi

April 20th, 2024

Post by Sơn râu 21 May 2024

Sảnh đường Allen PAC trước giờ mở cửa, nhiều cha mẹ cho con mặc áo dài đi nghe “Dòng Chuyển Của Âm Thanh.” (Bảo Huân/TRẺ)

Chiếc xe đò Trí chất đầy người và hành lý. Gọi là đò, thiệt ra là chiếc Honda minivan cũ nhưng êm. Trên xe, ngoài bà chủ Quỳnh Thi và cậu con trai Jayden, còn có: nhạc sĩ Lê Văn Khoa và hiền thê Ngọc Hà đến từ Nam Cali, nhà báo Mạnh Kim từ Virginia xuống, nhạc sĩ Tuấn Khanh từ Việt Nam qua, và tôi.

Tình cờ, không hề hẹn trước, cả bọn cần quá giang từ Dallas xuống Houston sau khi xem chương trình nhạc giao hưởng tại thành phố Allen đêm trước. Mỗi người có việc riêng của mình, như tôi phải dự đám tang người anh mới mất. Chiếc minivan ngày thường Trí dùng chở con đi học bỗng dưng biến thành con đò dọc ắp khẳm duyên kỳ ngộ. Một cái duyên mà, như Mạnh Kim nói, ở Mỹ này khó làm sao kiếm ra.

Hẹn nhau ở “bến” SuTi, lai rai vài sợi trước khi lên đường. Từ trái: Ian Bui, Đinh Yên Thảo, Tuấn Khanh, Mạnh Kim (ianbui/TRẺ)

Câu chuyện bắt đầu cách đây gần 2 năm. Lần đó tôi cùng vợ chồng Suý Đinh, chủ lò rượu đế SuTi, xuống Houston dự bữa tiệc thường niên của hội chiến binh người Mỹ gốc Việt (VAUSA). Hôm sau, khi đang ăn tối tại nhà hàng Jasmine ở Bellaire chợt nghe một giọng hát quen quen cất tiếng hát bài ‘Hải Ngoại Thương Ca’. Nhìn lên thấy đúng cô Ngọc Hà, biết ngay là phải có bác Khoa đâu đây. Hết bài, tôi nhào qua chỗ bác ngồi cách đó hai bàn để chào và hỏi thăm sức khoẻ.

Ông cụ, bấy giờ đã 89 tuổi, thổ lộ ước nguyện là làm sao có một chương trình nhạc giao hưởng thật quy mô và đúng nghĩa, không những để chúng ta có quyền hãnh diện về văn hoá của mình với người Mỹ, mà quan trọng hơn nữa là để thế hệ trẻ lấy đó làm cảm hứng mà tiếp nối dòng nhạc Việt trên khắp thế giới. Tôi bèn hứa (liều) rằng sẽ cố gắng làm chuyện đó cho bác, mặc dù chưa biết sẽ làm bằng cách nào.

Duyên kỳ ngộ tại Houston. Từ trái: Ngọc Hà, Ian Bui, Lê Văn Khoa, Suý Đinh (ianbui/TRẺ)

Trước đó ít tháng, nhờ làm việc lâu năm với ban thanh nhạc của học khu Allen và ban hợp xướng của thành phố, Diễm Tú và tôi được mời vào ban quản trị của Allen Philharmonic Symphony Orchestra. Sau lần gặp bác Khoa, trong một buổi họp tôi mạo muội đề nghị APSO tổ chức một chương trình nhạc Việt nhằm mục đích giao lưu văn hoá. Họ chấp thuận ngay vì cách đó không lâu họ đã làm một chương trình cho cộng đồng Ấn Độ rất thành công. Thế là chuỗi chương trình Cultural Connections ra đời.

Bắt tay vào việc, 3 người đầu tiên tôi nghĩ phải có trong chương trình là Teresa Mai, Patrick Vũ và Jon Lê Culpepper. Họ đại diện cho lớp nghệ sĩ thế hệ thứ nhì, thứ ba, sinh trưởng hoặc lớn lên hoàn toàn ở Mỹ. Teresa Mai, như mọi người biết, là người Việt đầu tiên thắng giải Grammy. Tôi quen Teresa nhờ theo SuTi xuống Austin dự đêm nhạc Trịnh Công Sơn do phu quân của cô là anh Trịnh Hoàng Hải tổ chức. Patrick thì là cựu học sinh Allen HS, hiện đang lấy bằng cao học về Âm Nhạc tại Texas Tech. Còn Jon là người sáng lập ca đoàn chuyên nghiệp Dallas Chamber Choir người Mỹ. Qua sự giới thiệu của Jon, tôi mời thêm được Dylan Trần, một nhà soạn nhạc trẻ sống ở vùng New Orleans.

Dợt bài Dạ Cổ Hoài Lang. Từ trái: Ian Bui, Chí Tâm, Hải Yến, Liên Hà. (Lily Nguyen)

Từ bác Khoa tôi quen thêm Hải Yến chuyên về cổ nhạc. Nhờ làm dịch giả cho cuốn hồi ký của Kiều Chinh, tôi quen với nghệ sĩ cải lương Chí Tâm. Và nhờ phụ tổ chức Tết Âm Lịch cho thành phố Allen, tôi quen thêm Liên Hà dạy đàn tranh. Kết nối những mối nhân duyên đó, tôi mời bộ ba tham gia chương trình và bắt đầu thiết kế kịch bản, chọn nhạc, soạn lời v.v.

Ngay từ đầu, tôi muốn chương trình phải có trường ca Hòn Vọng Phu vì tác giả Lê Thương là người thầy xưa ở trường Quốc Gia Âm Nhạc. Tôi bỏ ra 2 tháng trời soạn lời tiếng Anh cho ca đoàn Mỹ hát. Ngoài ra, tôi còn soạn thêm lời tiếng Anh cho bài ‘Ca Ngợi Tự Do’ của bác Khoa, và dịch tất cả các lời nhạc Việt sang tiếng Anh để khán giả, nhất là con em các gia đình người Việt, có thể đọc và hiểu nội dung. Như Hương Xưa, Diễm Xưa, Việt Nam Việt Nam v.v.

Hai nhạc sĩ trẻ Duy Trần (trái) và Dylan Trần lắng nghe nhạc khúc “Chiều Về Trên Làng Tôi”, sáng tác của Dylan được công diễn lần đầu. (Ianbui/TRẺ)

Qua Teresa Mai và anh Hoàng Hải, tôi quen thêm 3 nghệ sĩ trẻ nữa là ca sĩ Phạm Hà, guitarist Đức Đạt, và nhà sản xuất Duy Trần từ Cali. Anh Hải đã giúp rất nhiều trong việc mang những nghệ sĩ này vào với chương trình. Đã vậy, anh và Teresa còn thuyết phục được ca sĩ Hilá Plitmann (2 Grammys), nhà soạn nhạc Danaë Xanthe Vlasse (1 Grammy), và pianist Robert Thies tham dự, đưa chương trình lên một tầm cao mới, với những yếu tố của Opera mà cả tôi lẫn bác Khoa lúc đầu hoàn toàn không (dám) nghĩ tới. Duy thì giúp rất nhiều về mặt soạn lại tổng phổ các bài nhạc và điều khiển chương trình.

Cơ duyên đưa đẩy, nội dung chương trình ngày càng phong phú. Nào là vọng cổ do anh Chí Tâm đảm nhiệm, đến 2 bài “world premiere” của Patrick và Danaë, tới màn cello của Sumo đã khiến một khán giả trẻ lớp 9 vô cùng ngưỡng mộ. Nhưng như bác Khoa nói từ đầu, âm nhạc không chưa đủ. Cần có một yếu tố quan trọng nữa là tài chánh. Chính nhờ những mối quan hệ cá nhân mà một số doanh nghiệp trong vùng đã sẵn sàng bảo trợ cho chương trình. Đặc biệt có một vài người ủng hộ rất tận tình nhưng xin được ẩn danh.

Hai nhạc sĩ nhỏ tuổi nhất trong chương trình, Patrick Vũ (piano) và Sumo Bùi (cello) trong bài “Đừng Đứng Bên Mộ Tôi Và Khóc”, sáng tác của Patrick công diễn lần đầu. (Hynn Tran)

Không chỉ tiền bạc, nhiều nơi còn hỗ trợ bằng cách giúp quảng cáo. Cô Quỳnh Thi, quản trị đài VietTV đã từ Houston lên xem chương trình và đóng góp bằng hình thức cho người đến quay phim, làm phóng sự. Thú thật, đến giờ phút chót ban tổ chức vẫn không biết đêm hôm đó chương trình có được ai thâu lại hay không. Song về mặt tổng thể thì có thể xem “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” như một bước đầu thành công. Một anh bạn vong niên, tình cờ gặp lại nhờ đi xem đêm nhạc, khuyên “Đừng tiêu cực. Nhìn những gì mình đã làm được và lấy đó làm động lực cho tương lai.” Rồi anh nói thêm, “Nếu biết sớm thì tôi đã nhảy vào giúp anh một tay, và còn tài trợ cho chương trình nữa!”

Trên chuyến đò xuôi Nam, ai cũng hỏi khi nào sẽ có chương trình kế tiếp. Tôi đành mượn câu nói bất hủ của anh Chí Tâm, “Mọi sự tuỳ duyên.” Đêm nhạc này có được là nhờ cơ duyên. Nó đã hoàn thành nhiệm vụ mở ra một cánh cửa, một hướng đi mới cho thế hệ sau. Việc còn lại là nhiệm vụ của các bậc phụ huynh, của những ai còn quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy văn hoá Việt tại hải ngoại. Như anh Thái Hoá Lộc nói, “Nó phải là trách nhiệm chung của cộng đồng.”

IB

Đường vào Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

March 9th, 2023

Là một trong những học viện danh tiếng của Hoa Kỳ, ngôi trường xuất thân của không ít tướng lãnh và chính khách Hoa Kỳ, Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy- USNA) hay Học Viện Không Quân và Quân Sự West Point là những đại học mơ ước của nhiều học sinh mang tinh thần phục vụ quốc gia và có ý hướng đi theo binh nghiệp. Việc tuyển chọn huấn luyện những học sinh tài ba và có lý tưởng vào các học viện này có phần khác biệt và khó khăn hơn so với các đại học dân sự, kể cả nhóm Ivy League. Trên số báo hôm nay, qua câu chuyện của em Thomas Võ Gia Bảo tại Texas vừa được nhận vào Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ, chúng ta có thể biết thêm việc tuyển chọn các sĩ quan tinh hoa tương lai cho Hoa Kỳ như thế nào.

Thông báo bổ nhiệm tân sinh viên sĩ quan từ Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ     

Gặp Võ Gia Bảo bên ngoài, em là một thanh niên khôi ngô, tráng kiện hơn trong các hình ảnh tôi đã thấy hay từng gặp em vài năm trước. Chuẩn bị để đi gym tập thể dục ngay sau cuộc trò chuyện với tôi, trong chiếc áo thun màu xanh lính, trông em đã ra dáng một tân binh hơn là một học sinh trung học. Tất nhiên là vậy, một tay quần vợt và cử tạ có hạng trong đội tuyển trường, cũng như thích chơi trượt tuyết và thể thao, Gia Bảo có đủ thể chất vượt trội như một điều kiện tiên quyết cho sự tuyển mộ vào quân đội, đặc biệt là các học viện quân sự danh tiếng của Hoa Kỳ như Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (USNA) mà em vừa được thu nhận.

Vẫn mang âm giọng Mỹ như các em gốc Việt sinh ra và lớn lên tại Mỹ, nhưng bằng một tiếng Việt khá lưu loát đủ trong giao tiếp thông thường, Gia Bảo bắt đầu kể tôi nghe về quá trình nộp đơn và tuyển chọn gắt gao của USNA như thế nào.

Gia Bảo trả lời rằng, có nhiều lý do để em muốn gia nhập quân đội bởi đó là một giấc mơ từ nhỏ của em và trở nên xác quyết hơn khi bước vào trung học.

Ðầu tiên là em muốn có sự thách thức bản thân về ý chí và thể lực bởi em tin rằng một cá nhân sẽ không thăng tiến nếu không trải qua thử thách, đớn đau. Mặt khác em muốn tiếp bước cả ông nội lẫn ông ngoại, là những cựu sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã đến Mỹ qua chương trình HO vào đầu thập niên 90s. Em cũng bảo rằng con đường binh nghiệp tại Mỹ là một con đường ổn định và nhiều cơ hội cho em và gia đình trong tương lai. Nhưng trên hết, Gia Bảo mang lý tưởng phục vụ quốc gia khi trở thành một sĩ quan Hoa Kỳ.

Gia Bảo cùng cha mẹ, Võ Thiên Phượng-Trần Phương Nhã trong ngày chị gái vào trường Y.

Có lẽ chính vì vậy mà Gia Bảo đã chuẩn bị và  tham gia chương trình huấn luyện quân sự trừ bị học đường của Hải Quân (NJROTC) trong những năm trung học và chơi thể thao, rèn luyện thể lực rất nhiều. Có lẽ tìm hiểu khá kỹ càng về các yêu cầu thể lực rất cao của Học Viện Hải Quân, Gia Bảo thường xuyên đi gym, tập tạ và mang áo vài chục cân nặng để chạy bộ.

Chính nhờ vậy mà Gia Bảo đã vượt qua cuộc sát hạch thể lực, khi các ứng viên phải hít đất, hít xà, chạy tốc độ và mang áo giáp nặng 40 cân để chạy suốt quãng đường 8 dặm đường  không nghỉ. Trên một trăm em trong vùng nộp đơn và được đề cử vào các học viện quân sự nói chung tham gia cuộc kiểm tra thể lực này, chỉ hơn 10 em vượt qua được cuộc thi thể lực này.

Khác với các em gia nhập quân đội sau đó nhận học bổng GI để theo học đại học hay những em đã tốt nghiệp đại học và xin học bổng quân đội để tiếp tục theo học chuyên môn rồi phục vụ trong quân đội theo thời gian cam kết, việc tuyển chọn vào các học viện quân sự như USNA hay West Point đưa ra những yêu cầu rất cao như vậy bởi đây là những nơi huấn luyện các sĩ quan ưu tú thực thụ, có chuyên môn và kỹ năng tác chiến hay khả năng trở thành cấp lãnh đạo cho quân lực Hoa Kỳ trong tương lai.

Ðược thành lập năm 1845 tại Annapolis thuộc tiểu bang Maryland, Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ thu nhận các tân sinh viên sĩ quan là công dân Hoa Kỳ trong độ tuổi từ 18 đến 23. Các em phải có thể lực vượt trội, có khả năng toàn diện và tư chất lãnh đạo cao. Các sinh viên được huấn luyện chuyên môn chú trọng về kỹ thuật, toán và khoa học và quân sự trong bốn năm trời. Các sinh viên sĩ quan ra trường với bằng Cử Nhân Khoa Học cùng cấp bậc Thiếu Úy, sẽ phục vụ trong Hải Quân hay Thủy Quân Lục Chiến tối thiểu là 5 năm. Cựu Tổng Thống Jimmy Carter, cố Thượng Nghị Sĩ John McCain cùng một số tướng lãnh, Ðô Ðốc Hải Quân Hoa Kỳ, phi hành gia NASA… cũng đã xuất thân từ học viện này.

Gia Bảo cùng đôi găng tay tỏa nhiệt do mình sáng chế.

Trong hàng chục ngàn em học sinh xuất sắc và tự tin mình có đủ khả năng để nộp đơn vào học viện này thì hàng năm USNA chỉ chấp nhận một tỉ lệ vào khoảng 8.5% hồ sơ. Bởi không chỉ việc sát hạch thể lực và trải qua cuộc kiểm tra y tế gắt gao mà quá trình chọn lọc chung cũng đầy khó khăn không kém.

Ðầu tiên là bộ hồ sơ 30 trang, mà Gia Bảo kể rằng chỉ có hai trang là về học vấn còn lại 28 trang là các câu hỏi và tiểu luận để học viện đánh giá về tính cách, lý tưởng và tinh thần phục vụ cùng tư chất lãnh đạo qua các hoạt động của các học sinh. Thêm vào đó là các thư giới thiệu từ các thầy cô trong trường. Rồi một cuộc kiểm tra về toán và Anh ngữ.

Song song với quá trình xét chọn tại học viện là việc nhận được thư tiến cử từ các vị dân biểu, hay hiếm hoi hơn là từ Phó Tổng Thống Hoa Kỳ. Các học sinh cũng nộp hồ sơ và được xem xét, phỏng vấn. Gia Bảo kể rằng em được Dân Biểu Marc Veasey trong địa hạt cử tri của em, là địa hạt 33rd phỏng vấn. Theo sau là cuộc phỏng vấn do 5 sĩ quan cấp tá xuất thân từ West Point, Học Viện Không Quân và Hải Quân Hoa Kỳ thay phiên đặt câu hỏi trong khoảng 90 phút.

Gia Bảo đã có được một hồ sơ học vấn và hoạt động lý tưởng theo các tiêu chuẩn của học viện. Duy trì điểm học 4.0 trong suốt 4 năm trung học với hầu hết các lớp nâng cao (AP), Gia Bảo là Phó Chủ Tịch hội học sinh trong khóa, Thư Ký Hội Học Sinh toàn trường, là Phó Chủ Tịch DECA, một hiệp hội sinh viên học sinh khuyến khích các kỹ năng thương mại và lãnh đạo, là người duy trì trang mạng, hình ảnh, dữ liệu của National Honor Society và Spirit Team, không kể các hoạt động ngoại khoá như tham gia band, đội tuyển tennis, cử tạ của trường hay phụ giúp các thầy cô giáo, dạy kèm các học sinh khác.

Gia Bảo cùng Dân Biểu Liên Bang Marc Veasey

Gia Bảo còn giành được giải thưởng quốc gia của DECA, một tổ chức quốc tế phi lợi nhuận cung cấp các chương trình giáo dục và huấn luyện việc khởi nghiệp cho sinh viên học sinh qua một dự án mang tên Reheats mà Gia Bảo đã tự chế ra loại găng tay sưởi ấm chưa có trên thị trường. Gia Bảo kể rằng, ý tưởng đó đến từ việc giúp cha em sửa nhà trong mùa Ðông lạnh cóng mà găng tay thông thường không đủ giúp cho người thợ xây dựng đủ ấm tay hầu tiếp tục công việc.

Nhưng điểm mạnh của Gia Bảo không chỉ với các hoạt động và thành tích nói trên mà việc em từng tham gia chương trình quân sự trừ bị học đường đã cho thấy ý nguyện và sự xác quyết muốn gia nhập binh ngũ đã nằm trong em từ rất lâu.

Sau cuộc trò chuyện với Gia Bảo, tôi vào Nha Học Chánh Irving ISD để nghe cuộc trò chuyện về tinh thần và kỹ năng lãnh đạo giữa Giám Ðốc Nha Học Chánh và em, sự tự tin, cách trò chuyện cùng suy nghĩ của em quả xứng đáng và đủ phẩm cách để trở thành một sĩ quan ưu tú tương lai.

Cũng trong cuộc trò chuyện này, Gia Bảo thú nhận rằng dù hoạt bát, hoạt động và giao tiếp rất nhiều, em lại là một con người nội tâm. Em ghi ơn cha mình cùng ông Nội là những người đã tạo ra những ảnh hưởng về vấn đề học vấn và đời sống của mình. Em cảm ơn mẹ đã giúp đỡ trong nhiều việc như mẹ vẫn thường làm. Chính vì vậy mà vài năm qua, kể từ khi mẹ bị đau tay, Gia Bảo đã thay mẹ lau nhà và giúp cha mọi chuyện trong gia đình như một đứa con ngoan. Gia Bảo không chơi game như phần lớn bạn bè đồng lứa. Ðơn giản là em không đủ thời gian.

Gia Bảo đang kể lại quá trình vào học viện cùng tác giả.

Chi phí huấn luyện hay học bổng cho mỗi sinh viên được thu nhận vào Học Viện Hải Quân này là nửa triệu đô la cho mỗi sinh viên. Với Gia Bảo, em còn có thêm một học bổng 250,000 đô la dự phòng khác từ Bộ Hải Quân Hoa Kỳ để theo học tại các đại học dân sự, sau đó phục vụ cho quân đội tối thiểu là 5 năm, trong trường hợp nếu không được thu nhận vào học viện Hải Quân.

Việc được thu nhận vào Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ được xem là một thành tích vượt bực và đáng hãnh diện, không chỉ cho bất cứ học sinh hay gia đình nào mà cả cho trường học, Nha Học Chánh khi tất cả các nơi này đều gởi thông báo hay tin nhắn chúc mừng ra toàn học khu. Kể cả văn phòng dân biểu tiểu bang trong khu vực 103 của em cũng biết tin và gởi thư chúc mừng. Trường Nimitz High School nơi em theo học sẽ tổ chức một bữa tiệc toàn trường để chúc mừng và chia tay Gia Bảo nhập ngũ.

Gia Bảo bảo tôi rằng, ý nguyện của em là sẽ tiếp tục học Cao Học và theo đuổi binh nghiệp ít nhất là 20 năm, thời gian đủ tiêu chuẩn về hưu trong quân đội Hoa Kỳ.

Mọi chuyện chỉ mới bắt đầu và tương lai là điều ở phía trước. Những em gốc Việt thuộc thế hệ tiếp nối như Gia Bảo sẽ góp phần định hình lại một cộng đồng gốc Việt một cách tích cực và mạnh mẽ hơn. Tôi nhìn thấy ở em một khả năng, phẩm cách và ý chí để trở thành một sĩ quan xuất sắc của quân lực Hoa Kỳ trong tương lai.

Xin chúc mừng Thomas Võ Gia Bảo và gia đình, trường học của em.

ĐYT

Cuối năm Ta nói chuyện rượu Tây

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

Post on January 12th, 2023

Post by Sơn râu 21 May 2024

Những ngày cuối năm, được một anh bạn mời đi thử rượu quả cũng học được đôi điều thú vị. Tôi vẫn thích có những dịp được nghe và biết thêm về rượu từ chính những người trong nghề giới thiệu hay quảng bá. Không chỉ được nghe những câu chuyện lịch sử, khoa học hay nghệ thuật, công phu của nghề, mà thưởng thức rượu cũng là thú vui tao nhã và thi vị. Há không phải Nguyễn Bính đã từng viết “đời say men rượu thơm hoa rụng” hay sao?

Tác giả tại hãng rượu Johnnie Walker   

Ðã từng dự dăm cuộc nếm rượu cognac hay rượu vang, nhưng lần đầu tiên tôi mới có dịp thử rượu whisky từ chính hãng giới thiệu. Sẵn chuyện nếm rượu này, viết lại đôi điều về kỹ nghệ rượu của thế giới hiện nay, tôi đoán có lẽ cũng là điều thú vị với dăm bạn. Uống hay không, hiếm nhà nào không có sẵn một đôi chai rượu trong nhà, nhất là dịp Tết đang về.

Tiệc thử rượu mà tôi dự là từ hãng Johnnie Walker của Scotland, hay Tô Cách Lan với một số người muốn gọi tên Việt. Nói đến whisky thì phải nói đến Scotland và ngược lại. Bởi Scotland là quốc gia cung cấp rượu whisky nhiều nhất thế giới, theo sau những quốc gia sản xuất không kém phần mạnh mẽ khác như Mỹ, Canada, Ireland, Nhật… Mỗi năm, Scotland xuất cảng khắp thế giới khoảng 1.3 tỉ chai rượu. Ðúng vậy, hơn cả tỉ chai rượu. Thị trường xuất cảng lớn nhất vẫn là Mỹ, quốc gia sản xuất whisky chỉ thua sau Scotland. Theo sau là Pháp, nơi nổi tiếng thế giới về rượu cognac và vang đỏ, vốn đầy cạnh tranh với whisky.

Tại sao Pháp vốn tự hào về rượu mạnh cognac và vang đỏ của mình vẫn là nước nhập cảng whisky nhiều. Vậy whisky khác với cognac thế nào?

Câu hỏi này ắt là điều căn bản với hầu hết người uống rượu. Chỉ nhắc lại dăm điều nếu bạn chưa có dịp để ý. Cognac là rượu mạnh của Pháp và chưng cất từ nho trắng còn whisky của Scotland hay các nước khác là từ ngũ cốc như lúa mạch, lúa mì, bắp… Quá trình lên men, chưng cất và ủ rượu cũng khác nhau đã tạo ra mùi vị riêng biệt và độc đáo cho hai loại rượu này hay mỗi hãng, mỗi loại rượu cùng loại nói riêng.

Nhãn Blue Label con Thỏ năm Mèo – nguồn Forbes

Nếu bạn hỏi tiếp, thế rượu nào ngon hơn, cognac hay whisky thì câu hỏi này sẽ khó có câu trả lời chính xác vì nó tùy thuộc vào thói quen, khẩu vị của những người uống rượu. Cognac dịu ngọt, tỏa mùi hương hoa và trái cây nhè nhẹ trong khi whisky cay nồng mùi khói gỗ lẫn các hương vị pha trộn. Giới trẻ, người Mỹ cùng phương Tây nói chung lẫn người thích uống rượu vẫn thích whisky hơn cognac bởi nó “bốc” và có thể tận hưởng những hương vị độc đáo của whisky, nhưng người không quen thì cognac vẫn là chọn lựa dễ chịu và an toàn.

Quay lại chuyện thử rượu. Johnnie Walker là Scotch whisky, có nhiều nhãn, từ Red, Black, Double Black, Green, Gold, Platinum và Blue Label. Chúng khác biệt từ số năm ủ rượu trong thùng cho đến cách pha trộn khác nhau. Red Label là loại rẻ tiền nhất, tăng dần đến Blue Label ngon và đắt tiền nhất.

Khác với vài cuộc thử rượu tôi đã dự, các hãng thường mời nếm các loại rượu khác nhau, các nhân viên quảng cáo và bán hàng của Johnnie Walker mà tôi dự chỉ mời khách tham dự uống giới hạn chỉ vài loại gắn nhãn Blue Label. Có thêm cả loại đặc biệt, đưa ra thị trường nhân Tết con Mèo năm nay (hay con Thỏ theo lịch người Hoa) vì hàng năm Johnnie Walker cũng cho ra một số chai rượu giới hạn trong dịp Tết Âm Lịch.

Người giới thiệu rượu bảo trong 10,000 thùng rượu Johnnie Walker, những bậc thầy nếm rượu, Master Distiller, của hãng mới chọn ra được một thùng để đóng chai các loại Blue Label. Nghe hơi khó tin, hoặc nghĩ rằng bất quá chỉ 1,000 thùng, nên về nhà tìm đọc lại thì đúng là 10,000 thùng, theo như giới thiệu từ trên trang mạng của hãng Johnnie Walker.

Đại diện Johnnie Walker chuẩn bị rượu thử

Và lại đọc thêm câu  chuyện thú vị khác. Lần đầu tiên trong lịch sử hơn 200 năm của hãng rượu whisky danh tiếng nhất thế giới này có “thợ cả” – người đứng đầu việc pha chế rượu là một phụ nữ. Ðó là bà Emma Walker, người có họ trùng với dòng họ sáng lập.

Gọi “thợ cả” là nói nôm na kiểu tiếng Việt chứ đây là danh hiệu của “Master Blender”, người chịu trách nhiệm pha trộn các loại rượu để cho ra một loại rượu riêng biệt (blended whisky). Hãng rượu có hai “bậc thầy” chính, một là Master Blender nói trên và Master Distiller, người chịu trách nhiệm về quá trình tinh cất rượu. Sự độc đáo, ngon lạ hay riêng biệt của các loại rượu là từ những bậc thầy này.

Những “thợ cả” không chỉ là những người nếm hay pha chế rượu lành nghề và lâu năm như ngày xưa mà họ xuất thân là những khoa học gia có học vị. Vị Master tiền nhiệm của Johnnie Walker cùng kỹ nghệ rượu whisky là một tiến sĩ hóa và làm cho Johnnie Walker 20 năm trước khi nhận được danh hiệu “Master Blender” trong hơn 20 năm qua.

Ông về hưu năm qua và truyền “ngôi” lại cho môn đệ của mình là Tiến sĩ Emma Walker, người đã làm 12 năm cho Johnnie Walker mới được nhận được danh hiệu này. Bà cũng là người đã tạo ra những pha trộn và hương vị cho một số loại Blue Label hiện nay. Cũng nói thêm, kể từ ngày thành lập hơn 200 năm qua, hãng này chỉ có sáu vị “thầy” như vậy.

Gọi là “truyền ngôi” cũng không quá lời vì như hãng có một ban 12 người có học vấn cao, có chuyên môn và tài năng đặc biệt trong ngành rượu và vị Master là người đứng đầu của “nội các” quan trọng của hãng rượu. Hôm trước dự thử rượu, người đại diện của Johnnie Walker bảo rằng những người được chọn vào những ban nếm và pha chế rượu thì trong 5 năm đầu tiên, nhiệm vụ của họ chỉ là ngồi nghe và ghi chép chứ không góp ý về quá trình hay cách pha chế rượu.

Mỗi nghề có những công phu như vậy và lần đầu tiên một nữ “sư phụ” được chọn làm người dẫn dắt hương vị độc đáo của Johnnie Walker trong một kỹ nghệ vốn dành riêng cho nam giới hay áp đảo quả cũng là điều đáng chú ý trong năm nay.

Rượu bia bị lạm dụng nhiều, trở thành một vấn nạn xã hội về lãng phí và an toàn cùng tệ nạn xã hội và tất nhiên có ảnh hưởng đến sức khoẻ. Nhưng rượu cũng là một trong những khoa học kỳ diệu mà con người đã phát minh. Nếu xem việc uống rượu như một thú vui tao nhã như người xưa thì rượu sẽ trở thành một thứ khác hơn.

Cuối năm hay những ngày Tết, mà cũng có thể là trong bất cứ dịp vui nào đó, nhấp đôi chén rượu thanh tao, thù tạc chuyện thế sự hay ngẫu hứng với dăm bằng hữu, há không phải là điều thú vị hay sao?

ĐYT

Cay mắt

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted on 19/10/2015 

Post by Sơn râu 21 May 2024

Luật sự Jenny Đỗ

Chị Jenny à
hãy xem tôi là trẻ mồ côi
lớn lên từ Friends of Huế
mường tượng tôi từng vày vò
lá khuynh diệp vụn vỡ
như chị đã xanh tay

tôi không tin chữ viết
có thể làm thay đổi điều gì
nhưng mãi tin tấm lòng
người gói kín
trong mẫu tự vừa trải ra

mùa đông lạnh chăn không đủ ấm
sưởi thân cũng có cả vạn nguồn cơn
“răng bữa ni tụi con đã hết rét run?”
ôi vô lượng hiện mọc giữa đời thường

mắt ai cay vì lá
khuynh diệp ứa nước
ai khỏi bệnh
khi dầu khuynh diệp
làm nóng thân
người ta mồ côi đơn giản vì
lỡ sống với bạc ác
ở một nơi trơ trụi
chẳng có bóng lá reo
không ai mồ côi
khi đi trên đường khuynh diệp
chị bỏ công vun bồi

tôi bỏ Huế đi xa
lâu hung vẫn mồ côi lòng dạ
bây chừ hít hương khuynh diệp
để lay tỉnh phận thấp hèn
lòng nhân chị như triều lên con nước thấp
ở bến lở tôi ngó ra một đắp bồi

ai hân hoan bên kia triền cát ẩm
giạt bên này tôi cúi mặt hổ ngươi
đứa mồ côi mấp máy môi tự nhận
đau khôn cùng một khúc hát đứt ngang

cám ơn cuộc lữ
khuynh diệp chị hành hương
cám ơn anh Giao Chỉ
sáng nay đưa nguồn

xin niệm tình tha thứ
a di đà Phật.

Hồ Đình Nghiêm

Biết mưa và nắng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 23/08/2015 

Post by Sơn râu 21 May 2024

Hồ Đình Nghiêm và Đinh Cường

“thôi thì cho biết mưa và nắng
mới đó mà xa ôi rất xa
”.
Đinh Cường

Thập niên 80, mình rất sung. Theo ngữ điệu ngày nay, ăn chơi không sợ mưa rơi. Viết tơi bời hoa lá chẳng ngơi, mê muội dầm thân trong thứ “vũ lượng” thoạt cuồng nộ thoạt rơi chẳng ướt đất. Mình gửi bài liên tục cho hầu hết các tạp chí văn học hải ngoại. Do tôn trọng các diễn đàn bốn phương nên mình bỏ công đi thơ thẩn tới chợ trời, tậu được cái bàn máy chữ nhỏ nhắn hiệu Olivetti giá hai chục bạc chưa đui què mẻ sứt. Khi thi triển nhất dương chỉ, những mặt chữ rướn thân vồ dập lấy giấy phát tiếng dòn dã đáp trả, sướng rêm.

Lóc cóc suốt canh thâu chẳng biết cách vặn nhỏ âm thanh để khỏi phiền lòng hàng xóm. Người ta dễ ngủ khi đêm ngoài trời có mưa rơi về sáng, đôi khi người ta trằn trọc ngủ không êm vì lỡ lậm nhớ thứ tiếng động dịu dàng kia. Lóc cóc một hai ba, lóc cóc bốn năm sáu, chuông kinh cong báo hiệu đã cuối đường, gạt cần sang số xuống hàng rồi lại đắm đuối ghi những tự tình của các mẫu tự lên giấy mỏng tang số phận. Loay hoay chong đèn bỏ dấu tay, vỗ về những trang cho ngay rồi mang ra bưu điện gửi cái phong thư vàng (nặng tợ ngàn cân treo sợi tóc). Thư tình gửi par avion cho người xa mặt cách lòng cước phí chỉ tính bằng xu, nhưng một “tác phẩm” dẫu chưa tượng hình, nhân viên bưu cục sẽ thu thuế bằng đơn vị đồng. Năm đô la chín mươi chín xu, xin vui lòng. Lè lưỡi ra dán tem cò, thảy nó vào cái bao bố nằm chờ phía sau lưng, kêu cái xoạch: Chúc ông một ngày tốt lành. Miệng nói trong khi thối lại một xu đen. Rồi nó sẽ được bay đến một vùng trời ít khi có tuyết rơi, nó thoát xác và độ chừng hơn tháng sau nó lại hiện về với một hồn ma chứa đựng linh hồn.

Phụ Nữ Diễn Đàn ở Mỹ, Làng Văn và Sóng ở Canada chơi bảnh có trả nhuận bút. Năm bảy chục bạc cho mỗi bài. Tuy muối bỏ biển nhưng đã là hạt muối thì nó muôn năm vẫn mặn mòi. Lần này không ra bưu điện mà tới nhà băng, sắp hàng đổi tấm ngân phiếu trả công thức khuya dậy sớm. Huýt gió mồm tìm ngay một quán cà phê thật gần để ngồi rung đùi thưởng thức giọt nước đắng, mơ màng đốt thuốc lá nghĩ tới cái máy cày Kubota. Muốn nó chạy quờ quạng ra cánh đồng trước tiên ta phải châm dầu cặn diesel vào bình chứa, muốn có bài cho hai ba tờ báo ở tháng tới mình buộc phải dung nạp năng lượng kích thích tố cà phê thuốc lá, chất phát quang nọ sẽ khiến mình sáng dạ hòng đáp trả cuộc chơi “Vui thôi mà”.

Nhà văn Nguyễn Đông Ngạc, nay đã về chốn xa xăm, người từng bỏ ra mười mấy lượng vàng để thực hiện bộ sách giá trị: “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta”, có làm bốn câu thơ riêng tặng “người bạn trẻ” ngày ngồi nhậu cùng nhau ở An lạc cốc trên Montréal tơi bời cõi mộng:

“Óc tim thượng giới trả lời
Bút tiên mực máu gửi người trần gian
Riêng mình còn mỗi cái thân
Chỉ ham sống với giai nhân cợt đùa
”.

Mình thích đùa cợt với giai nhân chăng? Mình ưa cảnh vườn khuya trăng lạnh chăng? Mình khoái chòng ghẹo một cành hoa lả lơi ngày trở gió? Không biết. Một vài trường hợp gây ra ngộ nhận cũng nên xem là cực khoái. Chưa đi với gái ăn sương mà tả chi ly cảnh giường chiếu khiến ai kia đỏ mặt, há không phải là điều thậm sướng ru? Mình có nhận được đôi ba lá thư của độc giả gửi (nhờ toà soạn chuyển), họ tuyệt không phê bình những văn cảnh đồi truỵ nọ. Họ hỏi: Anh có bà con chi với nhạc sĩ Hồ Đình Phương? Dạ thưa không? Thế có họ hàng gì với giáo sư Hồ Đình Chữ? Dạ, có nghe tên mà chưa hân hạnh diện kiến. Cũng may mình lót chữ Đình, lặng thinh giạt đứng một mình vô can. Giả thử mà lót chữ Chí, ra đường e thưa gửi lí nhí. Chú Hồ này vốn rất bé tí.

Người đọc thưa dần chuyện vấn an và chẳng một ai để tâm đến “lý lịch” mình. Yên lặng kéo dài, kéo dài cho tới hồi có người phát hiện: Hoá ra ông là em vợ của hoạ sĩ Đinh Cường và nhà văn Dương Nghiễm Mậu. Sao bấy chầy cứ mãi im re? “Năm đi tháng lại bù trừ, ngày đi vĩnh viễn anh ừ cho anh”. Bùi Giáng đã ngôn thế. Thưa thật rằng: Ba Mạ mình nhờ trời có lắm con. Đẻ ra toàn nam, duy chỉ có được hai o con gái. Chị đầu lấy hoạ sĩ làm chồng, chị sau chọn nhà văn để sống đời phu thê. Một Nam một Bắc lỡ yêu giọng Huế của hai thiếu nữ làm nghề gõ đầu trẻ và một sớm một chiều, họ đến nhà “tha” hai o đi mất. Ba Mạ mình rất thông thoáng, rất cởi mở, rất dân chủ, rất biết lắng nghe ý kiến “tâm tư nguyện vọng” của con gái chứ không giống lối hành sử của đa số các bậc phụ huynh khác của một Huế “phong kiến” bảo thủ kiên cố. Thời mình học trường Mỹ Thuật đến nhà cô bạn gái học đệ nhị trường Đồng Khánh bị ông bố chận đầu hỏi chuyện với khuôn mặt lộ rõ sự ác cảm: Tương lai cậu là hoạ sĩ à, liệu nhắm có nuôi nổi thân cậu không? Mình không nói, mình cười nhạt và mình lễ độ xin kiếu từ. Dĩ nhiên đó là thứ “chuyện tình không đoạn kết”. Mình thua, toe tua, ngay tự khởi thuỷ. Tình chết trong trứng nước. Danh ngôn Tây phương có câu: “Làm nghệ thuật tức là phơi mặt ra với đời, điều đó có nghĩa bạn là người dũng cảm”. Hà hà, có khi bạn phải dũng cảm ngay từ khi chưa làm được nghệ thuật cơ đấy! Mình đã dũng cảm cắn răng quay lưng với “con gái nhà người”, cúi đầu thầm đọc thơ Đinh Hùng: “Người đi bạt dấu chân hài xảo, vạt áo chàm xưa có nhạt mầu!”.

Có văn hữu làm cuộc phỏng vấn bỏ túi: Vậy thì bạn có thu thập học hỏi được điều gì ở hai người anh rể tài hoa kia? Học hỏi trước mắt là thi vào trường Mỹ Thuật rồi sau này đổi món, tập tành viết văn. Chỉ có bấy nhiêu thôi đã nghe hao mòn cuộc lữ và một lần nữa, dũng cảm để khẳng định, mình luôn là đứa học trò kém cỏi. Bởi Leonardo Da Vinci đã nói: “Học trò kém là người không thể vượt nổi thầy mình”. Ôi! Làm sao vượt qua được, thứ hậu sanh khả ố kia! Câu hỏi kế tiếp: Vậy anh còn giữ được những kỷ niệm đáng nhớ với hai anh ấy không? Kỷ niệm à? Biết sao thưa thốt cho vuông tròn, cho khỏi bị quở “áo thụng vái nhau”. Hoạ sĩ Đinh Cường có lần phân bua: “Viết về nhau có người trách là áo thụng vái nhau, giản dị chúng tôi chỉ xem chiếc “áo thụng” ấy có khi lại che cho nhau qua một cơn mưa”.

Nhớ ngày nọ, khi hoạ sĩ Đinh Cường khởi sự định cư ở Huế để làm người anh rể, mình học đệ Lục trường Hàm Nghi, mang tật ngứa tay bèn lấy cọ màu của anh Đinh Cường luôn bày sẵn ra đó để vẽ bức tranh lập thể lên đôi giày Bata vải rồi làm con gà trống ưỡn ngực ra, mang “bức tranh di động” kia đi ciné cùng thằng bạn. Xuất trưa, phim hành động dài gần hai tiếng, vãn tuồng tầm 3 giờ thì hai đứa học trò học bè ngây thơ vô tội liền bị hai ôn cảnh sát mặt mày bặm trợn hùng hổ chộp cổ lôi về đồn bót dưới Chi Lăng. Một ôn quát: Mụ cô mi, khai mau, đồng bọn của mi đóng chốt ở mô? Tên chi? Trai hay gái? Vải sưa mà che mắt thánh hả thằng làm nhiệm vụ giao liên. Mi mang đôi giày nỏ giống ai, dị hình dị tướng nớ là thế mật khẩu để trao đổi tin tức cùng đồng bọn? Nói rứa có đúng không? Ông cảnh sát độ chừng ngoài ba chục tuổi xắn tay áo: Để tao tẩn cho mi một trận, lâu hung rồi tay buồn chưa tẩm quất ai. Ngứa ngáy thiệt cực chẳng đã!

Nước mắt bắt đầu tuôn đổ, hàng lệ hàng. Mình khóc vì quá sợ hãi. Bao thước phim vừa xem trong rạp chiếu bóng Châu Tinh lại hiện ra, múa may rõ nét cảnh lấy khẩu cung đầy máu me, đầy bạo lực có trong một trụ sở cảnh sát nằm giữa kinh thành ánh sáng Paris. Trời ạ, nó đánh con mồi không nương tay, bầm dập hơn một miếng giẻ rách. Thằng cảnh sát nọ có con bồ rất mướt, rất văm, rất khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang. Và con bồ chu mỏ nói cùng hàng chữ phụ đề hiện dưới màn ảnh: Em trông anh cũng bô giai, có vẻ con nhà tử tế, có học thức, vậy chớ cớ mần răng anh lại đi làm cớm? Một cái nghề mà ta bà chúng sinh thảy đều ghét có cay có đắng. Đều cạy mặt.

May mà mấy ôn cảnh sát người Huế có lẽ xuất thân là gia đình Phật tử? Họ xắn tay áo để moi thuốc Ruby ra hút, ưa giựt le rứa thôi chớ những ngón ám vàng khói thuốc ấy chưa giở trò xin tí huyết. Dù sao thì mình bắt đầu lạy lục cúc bái, mình van lơn xin được tha mạng, mình bù lu bù loa oan ôi ông Địa, nước mắt nước mũi lòng thòng: Dạ mấy bác làm ơn cho người chạy u vô nhà con thông báo cho gia đình một tiếng thì mọi chuyện sẽ rõ trắng đen ạ. Khoảng 6 giờ chiều, chạng vạng dâng đầy con phố gầy thì Mạ mình đóng vai bà tiên giáng trần. Mạ mặc áo dài nâu, quần vải mỹ á hay xa tanh đen? Tuy sầu muộn nhưng đó là thứ sắc màu biểu tượng của sự phát quang, ngời sáng cả đồn cảnh sát Gia Hội. Con tui hắn chỉ biết ăn biết học, biết đi thưa về trình, gọi dạ bảo vâng, kính trên nhường dưới, môn công dân giáo dục lúc mô cũng được điểm cao. Mặt mày con người ta hiền lành thiệt thà như rứa đó mà cả gan vu oan giá hoạ đổ hô cho hắn là Việt cọng. Chừ đề nghị mấy anh bắt nhốt tui luôn một lượt cho có mạ có con, cho tiện việc sổ sách. Chơi kiểu chi mà nghiệt quá, già như tui không nói chi, chớ nhỏ nhoi như hắn thì chịu đời chi thấu mấy anh!

Mình để lại đôi giày “nghệ thuật tạo hình” ở trụ sở cảnh sát, đi chân đất nắm chặt tay mạ ra tới ngoài đường gió thổi mát rượi, đã nhất trần đời. Mạ vấn thuốc cẩm lệ bặp một hồi cho nguôi cơn giận, nhai miếng trầu cau cho khỏi đắng họng rồi kêu chiếc xe xích lô: Chở hai mạ con tui vô thành nội. Mi đã tởn chưa? Mạ hỏi. Tởn. Mi còn ngứa tay vẽ vời lung tung nữa thôi? Dạ thôi. Nói dại miệng chớ mạ cũng lo, lỡ họ mang nhốt con bên lao Thừa Phủ thì rắc rối hung, dính vô chữ Việt cọng, mạ nghe bắt ớn. Dạo đó hai mạ con ở chung trong căn nhà thuê ở đường Hoà Bình. Chị mình sinh cháu đầu lòng và mạ mình kề cận mong giúp đỡ chị, người mẹ trẻ thiếu vắng những am hiểu về lãnh vực “đi biển mồ côi”. Anh Đinh Cường lúc nọ đã vang danh ở Huế qua những lần trưng bày tranh thành công ở phòng Thông Tin phía tả ngạn, ở Hội Việt Mỹ phía hữu ngạn mà sông Hương là thanh bảo kiếm xẻ ngọt ra đôi bờ. Anh vẽ tranh miệt mài, thầm lặng, ít nói. Hút thuốc Bastos de luxe, nhẹ hơn Bastos xanh. Bạn bè anh nhiều, thường ngồi cà phê Tôn ban ngày và đêm về thường tấp vào quán cô Dung. Đó là hai nơi mà hầu như những đứa con trai của Huế đều phải ghé qua, ít nhất một lần. Nó giữ riêng một thứ không gian đặc thù mà khi lỡ xa, nó tạo nên một ma lực buộc phải nhớ đến, tìm về. Nó tựa chiếc chìa khoá đầu tiên giúp người ta mở ra cánh cửa thứ nhất để sau đó những kỷ niệm hoen mờ có cớ dồn dập đổ tràn về.

Khi mình lớn lên, tập tành cà phê thuốc lá, lao đao với những mối tình vụng dại, quán cô Dung đã đóng cửa, chỉ còn cà phê Tôn. Ông chủ có sắm cuốn vở học trò và tên thằng người chẳng liên hệ với nhạc sĩ Hồ Đình Phương, giáo sư Hồ Đình Chữ thì mãi còn ghi bút mực đỏ trong đó với số tiền mắc chịu dài lê thê e phải kiếp sau mới trả được nợ người. Anh Đinh Cường có khi giúp mình trả bớt phần nào những ân tình mình lỡ vướng mang. Những bận bày tranh ở xa, khi về lại Huế thường mang theo những món quà tỷ như đôi giày đóng ở Trinh, tiệm giày nổi tiếng trên đường Hai Bà Trưng đối diện nhà thờ Tân Định. Một đôi giày hoàn hảo điệu đàng mà lỡ có vẽ màu dầu vằn vện lên chẳng ai có thể nghĩ ra chủ nhân ông là một tên giao liên Việt cọng như ngày cũ.

Qua anh Đinh Cường, mình được cơ hội lân la tiếp cận với hầu hết các văn nghệ sĩ từ phương xa ghé thăm hay “đặc sản” đất Thần kinh, những người ưa trải lòng qua chữ viết và cọ màu. Sao những đấng phụ huynh học sinh ưa nhồi nhét, bôi trét vào đầu óc con cái họ toàn cả sắc xám trong khi với mình đó là một đội ngũ vượt ra ngoài những định nghĩa thông tục. Họ đắm thân trong huyễn mộng và họ chỉ cho ta thấy đâu là vẻ đẹp của trần gian chật chội này. Thử tưởng tượng cõi nhân sinh một ngày nọ thiếu vắng họ, bạn ra đường va vấp toàn cả bác sĩ kỹ sư? Chỉ nghĩ thôi đã thấy oải, đã thấy thiếu dưỡng khí. Khi không có thơ văn nhạc hoạ… e lúc đó cả “bầu trời sụp đổ” cũng vừa.

Tình bạn là thứ mà hoạ sĩ Đinh Cường luôn đặt nặng, bạn bè anh nhiều và tất thảy đều có chung một nhận xét về người hoạ sĩ ấy: Hiền lành, ít nói, chẳng để tâm tới những lỗi lầm mà kẻ khác mắc phải. Trịnh Cung là một bằng chứng, người bỏ công viết bài dài gửi đăng ở trang Da Màu với những quy chụp rất dễ gây phương hại tới bạn mình. Rất bạc ác, rất hung hiểm, rất không phải cái tâm của một nghệ sĩ. Hoạ sĩ Đinh Cường nói, như cách mà Trinh Công Sơn từng nói: Thây kệ! Anh khiêm nhượng tới độ khi làm thơ đã phải xin lỗi người đọc:

“các bạn nói dạo này tôi … làm thơ nhiều
tôi có lời xin lỗi vì không là… nhà thơ
”.

Không là nhà thơ nhưng Thư Ấn Quán đã in cho anh tập “Cào Lá Ngoài Sân Đêm (2014). Và giờ này, 2015, anh vừa có thêm cuốn “Đi Vào Cõi Tạo Hình” do nhà Văn Mới xuất bản với lời thưa: “Đây là những đoạn ghi (như các đoạn ghi gọi là thơ) về cõi tạo hình… Không phải là sách chuyên môn có phân tích và nhận định mà chỉ thuần tình cảm chủ quan của tác giả với các hoạ sĩ đã từng gặp, đã từng tiếp xúc…). Sách in và phần trình bày các trang bên trong quá đẹp do bởi sự tiếp tay của hai hoạ sĩ Nguyễn Đồng- Nguyễn Thị Hợp và theo mình, đây là cuốn sách hay nhất trong năm, đáng đọc nhất trong cái thị trường sách vở eo xèo đến tủi hổ. Những ai từng bỏ công tìm hiểu về hội hoạ nước nhà sẽ lấy làm “buồn ngủ mà gặp chiếu manh” khi thủ đắc được cuốn sách này. Một thứ tư liệu thoát ra khỏi vỏ bọc khô cứng như nó vốn mang, thay vào là giọng kể lôi cuốn của một người trong nghề (đồng bệnh tương lân), yêu nghề và yêu cả thơ văn. Mình chưa bao giờ trả lời người hỏi: Bạn có hãnh diện chăng? Bây giờ nói hãnh diện vì có ông anh như thế, hẳn chưa muộn, nhỉ? Không quên nhắc ở đây, đã có bài giới thiệu sắc sảo của nhà văn Phạm Phú Minh trên Diễn Đàn Thế Kỷ, và nhà văn Phan Tấn Hải trên Sáng Tạo với một nhận định tinh tế, chừng mực, nhẹ nhàng và tài hoa.

Antoine de Saint-Exupéry (1900-1944) có phát biểu: “Ý nghĩa của sự vật không ở trong sự vật, mà ở trong thái độ của chúng ta đối với sự vật”. Hơn ai hết, hoạ sĩ Đinh Cường đã từng chiêm nghiệm về điều ấy và anh đã bày tỏ cho chúng ta rõ thái độ của anh khi viết xong cuốn sách này. Rất trân trọng, rất nên thơ, rất trìu mến, rất uy tín.

Mình nhớ nhà văn Phạm Thành Châu có đoản văn vui nhộn nói về Đinh Cường. Ai đó đã hỏi nhà văn, anh hay đi cùng hoạ sĩ Đinh Cường, vậy chớ diện mạo ông ấy ra sao? Nhà văn đáp, ông có sẵn tờ giấy bạc 100 đô trong túi không? Chẳng để ý hả, họ dùng chân dung của ông Đinh Cường để in trên đó. Ở Canada, mình nhà quê chưa thấy qua chân dung “anh 100 đô” Mỹ, nhưng mình tin với nhãn quang tinh tế của một nhà văn, anh Phạm Thành Châu có thể không nhầm lẫn khi tả diện mạo người hoạ sĩ. Đúng hay sai thì dù gì nó cũng trao tới mình sự liên tưởng, hoạ sĩ Đinh Cường là một đại gia, hiểu ở mặt anh sở hữu một gia tài đồ sộ về nghệ thuật tạo hình, về ký hoạ, về phát thảo chân dung, về chì, than, mực xạ, màu nước, sơn dầu. Tranh vẽ bạn bè thân sơ, tranh cho người ta làm phụ bản, làm bìa sách. Rộng lượng, hào sản. Vui thôi mà!

Giờ này, theo thứ định luật bất biến chẳng thể tranh cãi được, anh Đinh Cường và mình đã thôi sung như dạo nọ, đã ngập chìm trong thứ khí hậu của Thanh Tâm Tuyền: “mùa hiu hắt thổi hoang vu quyện, lòng ta quạnh vắng như cỏ cây”. Đã nhuốm thứ tâm trạng như Đồng Đức Bốn: “tôi giờ xa cách bao nhiêu, đem thơ đổi lấy những chiều tương tư”. Hết sung, nhưng không có nghĩa là sáng sân trước, chiều vườn sau để nghe “chim kêu vượn hú biết nhà má đâu”. Rất biết, rất minh mẫn, bởi vì dù sao thì chúng ta sắp đón nhận cuốn số hai của hoạ sĩ Đinh Cường viết về thời kỳ “Hội Hoạ Sĩ Trẻ” ngang trang lứa với anh. Mong anh Đinh Cường luôn an mạnh để tô lại lớp sơn mới trên câu danh ngôn mà chúng ta từng tâm đắc: “Cái đẹp lụn tàn trong cuộc đời, nhưng không lụn tàn trong nghệ thuật”.

“không biết vì sao cứ nhớ hoài kỷ niệm
tại vì rừng thông bốn mùa luôn xanh lá
không như chúng ta tan tác những phương trời
và từng ngày không trốn nổi bóng cô đơn
”
(Đinh Cường).

Hồ Đình Nghiêm