Tạ Tỵ
Post by Sơn râu 20 May 2024

Chương IV: Suối độc rừng thiêng
Phần 13
Bữa nay, chúng tôi lại làm công tác sửa đường.
Cái cảnh nữ tù diễn hành mỗi sáng vẫn xẩy ra như thường lệ. Nhìn mãi hóa nhàm! Chiếc bánh từ lâu không được vứt vào bụi cây nữa, chắc lúc này khó khăn, cô gái không còn khả năng, tuy họ vẫn cười suông với nhau mỗi buổi. Nhưng anh kia đã có một luống “cải thiện” nên cũng đỡ. Đoạn đường sửa ở phía trên Trại nữ tù. Khi chúng tôi đi ngang qua đó, thấy một cô gái, xỏa tóc ngồi bên gốc chuối, khóc tỉ tê mồm nói lải nhải:
– Tại sao ông đánh tôi. Tôi là con gái mà, tôi có tội mới phải đi cải tạo để ông giáo dục chứ? Nếu tôi có lầm lỗi, ông dạy bảo, chứ sao ông lại đấm đá tôi? Tụi nó cởi truồng tắm không sao? Tôi tắm truồng ông lại bắt lỗi, vì không có quần áo thay, tôi mới tắm truồng chứ?
Cô vừa khóc vừa nói cà kê dê ngỗng! Cách xa độ mười thước, một nữ Công An, chống tay vào hông đứng nhìn cô gái. Đôi mắt tên Công An quắc lên, nói gằn giọng:
– Chị Cúc, tôi nói đi vào, chị không nghe hả?
Cô gái cứ khóc, nói:
-Tôi vào để ông ấy đánh chết tôi hả? Không, tôi không vào đâu! Muốn giết tôi, ra đây mà giết!
Tên Công An thấy chúng tôi đi chậm bước để nhìn cái cảnh đó, quát:
– Đi mau lên!
Tôi nhận thấy, tụi Công An ít nói ngọng chữ L thành N hơn bộ đội, tuy cũng thuộc giai cấp nông dân, có lẽ Công An được chọn lựa và có huấn luyện về văn hóa!
Chúng tôi rảo bước lên con dốc. Những ruộng mía trải dài trước mặt. Xuống hết con dốc, thấy đoạn đường bị lở do nước mua, tên Công An cho lệnh làm việc.
Những nhát cuốc bổ xuống; những tảng đất đỏ quạch được bưng lên đắp vào chỗ đường lộ. Mặt trời ló khỏi đám mây dầy soi những dòng nắng ấm áp, lúc này trời đỡ lạnh. Lao động một hồi thấy nóng, tôi cởi chiếc áo Dù đã bạc thếch để trên lùm cỏ. Đã mấy tháng, bữa nay tôi mới cảm thấy thân xác nhẹ nhỏm vì không phải mang nhiều áo trên người. Làn gió thổi nhè nhẹ, hây hây. Một đàn chim sẻ sà xuống bãi mía. Tiếng kêu ríu rít vọng đến làm không khí đỡ tẻ nhạt. Đàn chim vụt bay lên. Những chiếc cánh chấp chới dưới ánh năng đẹp vô cùng, nhưng chỉ một thoáng, chúng đã biến mất ở cuối bãi. Đây là vùng lòng chão rộng, nhiều đồi trọc hơn núi rừng nên ít có chim. Đêm ngủ, ít nghe tiếng thú rừng như ở Yên Bái, Nghĩa Lộ.
Khi làm xong, trở về qua Trại nữ tù, tôi không còn nhìn thấy cô gái nữa. Nhưng tôi biết, ở đằng sau chiếc hàng rào nứa kia, cô đang chịu những hình phạt xứng đáng với lời chửi rủa của cô lúc nãy .
Buổi lao động chiều, chúng tôi lại làm gạch. Mọi người đang đi theo đội hình bỗng có bóng người từ trong hàng chạy vọt ra. Đó là Linh Mục Khuê, ông cúi nhặt chiếc hoa chuối mầu đỏ sẩm nằm ngay đường mương.
– Ê, anh kia bỏ xuống mau!
Vị linh mục vội vứt xuống, mặt mày bẽn lẻn như đứa trẻ bị bắt quả tang nghịch bậy! Chiều nay, Đội được về sớm trước 1 giờ để đi suối tắm rửa. Lúc này Trại không có nước, máy bơm chưa sửa xong, tuy đã trên một tháng. Khi sắp qua Trại, tới con đường ra suối, tên Công An Kỳ cho lệnh tôi về buồng, khỏi đi tắm. Nghe lệnh, tôi linh cảm có chuyện gì không tốt cho riêng mình.
Khi vào đến buồng, tên Kỳ cho lệnh Linh Mục Cao, lúc này làm công tác vệ sinh buồng.
– Anh Cao, mang hết đồ của anh này ra đây!
Trong lúc, Linh Mục Cao đang tìm đồ của tôi mang ra, tên Kỳ lừ mắt hỏi:
– Anh có giấu tôi điều gì không?
– Dạ, không!
– A, anh không thành thực, nếu còn cố tình giấu diếm, tôi sẽ khám tư trang. Trước hết, anh hãy cởi quần áo ra.
Tôi nghe lời, cởi quần áo, còn mặc chiếc xà-lỏn. Tên Kỳ nắn hết túi áo, lẫn cạp quần xong, hét:
– Cởi nốt quần đùi ra!
Tôi bẽn lẻn, từ từ kéo xuống. Vừa tụt đến lưng chừng, tên Kỳ nghĩ sao, cho lệnh kéo lên.
– Nếu anh ngoan cố, tôi khám thấy, sẽ thi hành kỷ luật tối đa đối với anh.
Tôi nghĩ ngay đến chiếc Zippo mà tụi Công An mê lắm. Mấy hôm trước, một anh thuộc Đội 7 cùng làm chung ở hiện trường, sơ ý dùng chiếc Zippo để hút thuốc lào. Tên Bàng, Công An quản lý Đội, nhìn thấy tịch thu, dùng khơi khơi! Vì thèm bật lửa Zippo, tên Kỳ dò hỏi, biết tôi có nên cố ý lấy. Tôi biết có người mách. Thấy giấu không được, đằng nào cũng mất, lại còn mất thêm nhiều thứ nữa như con dao nhỏ, tôi thường dùng cắt bánh, cái kéo để cắt tóc và may vá, mấy hộp quẹt cây dự trữ khi không có xăng và đá lửa v.v… Linh Mục Cao khệ nệ ôm gói đồ của tôi ra ngoài hiên, đặt trước mặt tên Kỳ.
– Tôi có chiếc bật lửa.!
Nói xong, tôi cúi xuống moi túi đồ, lấy chiếc Zippo.
Tên Kỳ mắt sáng lên:
– A, có thế chứ. Tại sao anh giấu tôi, bây giờ mới chịu đưa?
Hắn đưa tay cầm chặt chiếc bật lửa. Trong lúc ấy, anh em người nào có ở nhà, lấm lét nhìn.
– Nay, anh nhớ không? Vì sức yếu, anh không lao động như anh Khuê, anh Cường, anh Trước. Anh đã xin tôi cho làm việc nhẹ, đúng không?
Tôi trả lời:
– Đúng, vì tôi không còn sức để lao động nặng nên mới phải xin cán bộ!
Tên Kỳ cứ cầm chiếc Zippo trong tay không nói gì. Tôi nhớ, hôm đó, ngồi trước mặt tên Kỳ, tôi cảm thấy uất ức và tự hỏi vì sao chúng tôi thua trận? Vì sao tôi không có hoàn cảnh để di tản trước ngày 30-4-75? Tại sao Đại Tá Anderson vì mến tài đã cố tìm nơi tôi ở để đưa tôi qua Mỹ trước giờ Cộng Sản chiếm Sàigòn nhưng không tìm ra nhà, hỏi không ai biết!? Vì thế, giờ này tôi mới phải chịu muôn vạn đắng cay nhục nhã tuy đã giải ngũ từ tháng 9 năm 1974. Tôi không có trách nhiệm gì về cuộc thất trận nay, sao tôi phải gánh chịu và gánh chịu đến bao giờ?
Tên Kỳ cầm chiếc bật lửa, hỏi:
– Bây giờ anh muốn làm biên bản hay không?
– Tùy cán bộ.
Tôi biết, nếu làm biên bản, tôi sẽ phải thi hành một hình thức kỷ luật nào đó, vì vi phạm điều cấm của Trại, chiếc bật lửa sẽ do Trại quản lý. Còn không, tên Kỳ sẽ được hưởng chiếc Zippo, tôi coi như vô tội.
Tên Kỳ cho lệnh tôi mang đồ vô, rồi hắn bước nhanh ra cổng. Nhìn kẻ báo cáo tôi có bật lửa, ngồi trên sạp, tôi muốn nhổ một bãi nước miếng vô mặt hắn, nhưng cố nén giận, tôi ôm đồ đến chỗ ngủ xếp lại.
Hôm sau, tôi thấy tên Kỳ châm thuốc lá bằng chiếc Zippo, nó còn tung lên, bắt lại, như khiêu khích. Mầu sáng bạc lấp lánh dưới ánh nắng!
Câu chuyện đó cũng qua đi, tôi đành dùng mấy hộp quẹt cây để hút thuốc ban đêm, ngày châm bếp lửa, chứ không như trước, mỗi lần hút, bật Zippo kêu tanh tách.
Tôi nhận được 2 gói quà một lúc, do gia đình gửi từ trong Tết, không hiểu sao giờ này mới đến. Tên Kỳ mở đồ khám quà, tịch thu luôn 2 vỉ đá lửa hiệu Ronson tất cả 18 viên. Tôi nghĩ, cái số nó may, vừa có bật lửa lại có ngay 2 vỉ đá. Tụi Công An thường chó má như nhau, chẳng mấy đứa tử tế. Ngay cả người dân miền Bắc đã sống mấy chục năm dưới chế độ, vẫn chửi Công An như điên.

mạnh hải flickr
Vì nhu cầu lương thực, chúng tôi phải học tập phương pháp trồng sắn. Khi trước sắn được coi như thực phẩm không tính vào tiêu chuẩn cơm, nay nó được đánh giá 3 kí-lô sắn bằng 1 kí-lô gạo. Do đó, vấn đề trồng sắn là một nhu cầu cấp thiết. Tên Công An lo về sản xuất trình bầy phương pháp trồng mới, qua kinh nghiệm địa phương, thu hoạch nhất định vượt múc kế hoạch. Nào cách đào theo hình bình hành, cách bỏ phân, cách đặt hom sắn thế nào! Sau khi học xong, chúng tôi thực hành.
Công việc gạch ngói vẫn tiếp tục bình thường. Nhưng buổi sáng chủ nhật lao động Xã Hội Chủ Nghĩa, tất cả đi đào hố sắn.
Tên Công An Kỳ dẫn chúng tôi đi vòng phía sau Trại, qua một con suối nhỏ nước chẩy xiết . Chính chỗ này có đặt chiếc máy bơm đang được tháo tung để sửa. Tên Công An vũ trang lầm lì đi sau. Con đường từ Trại đến chỗ lao động khá xa, phải leo qua nhiều quả đồi, đã ươm hom. Đường đi đã hết hơi, còn sức đâu lao động? Nhưng muốn hay không, chúng tôi vẫn phải leo lên lưng chừng quả đồi để cuốc hố. Đội được chia làm 2 toán, mỗi toán phụ trách một quả đồi. “Chén chè Xã Hội Chủ Nghĩa” đã tiêu mất trong dạ dầy từ hồi nào, nhưng công việc giờ này mới bắt đầu. Tôi cuốc theo đúng kích thước đã học tập. Mỗi hố làm lâu gấp 5 lần thể thức cũ. Khi ở Nghiã Lộ, chúng tôi chỉ cuốc vài nhát, cắm nghiêng khúc hom, vùi đất là xong. Nay phải làm cẩn thận theo ni tấc. Tên Kỳ lại quan sát kỹ và ra chỉ tiêu, mỗi người 50 hố. Tôi nghĩ thầm, đào kiểu này đến tối chưa xong, nói gì một buổi sáng.
Nhìn sang đồi bên cạnh, anh em cuốc lơ là, cười nói hồn nhiên, coi công tác như sự giải trí buổi sáng chủ nhật. Tên Kỳ đi lại phía ấy, leo lên. Từ xa, tôi không nghe rõ hắn nói gì, nhưng nhìn thấy tất cả vác cuốc đi xuống. Tên Kỳ cho lệnh, họ bỏ cuốc xuống, rồi đứng nghiêm, nhìn lên chỗ chúng tôi lao động. Tôi không hiểu chuyện gì, chắc họ sẽ nghe xỉ vả. Nhưng không, họ chỉ đứng nguyên như vậy, và tên Kỳ trước khi trèo lên chỗ chúng tôi đang cuốc, nói với một câu:
– Các anh không muốn lao động cũng được, tôi cho các anh đứng xem người khác lao động!
Tội nghiệp, mấy chục con người đứng thẳng như những cây gỗ trồng giữa trời, nhìn lên phía chúng tôi làm.
Xung quanh, cảnh núi đồi chập chùng bát ngát, không một mái nhà, không một tàng cây, dưới ánh nắng hanh hanh của một ngày chớm hạ, trông thật thiểu não.
Họ có vẻ mệt mỏi, có lẽ còn mệt mỏi hơn chúng tôi nữa. Có người nhìn ra xa, có người nhắm mắt, như muốn khước từ hiện tại.
Họ cứ đứng ở cái thế nghiêm như vậy, cho tới hết giờ lao động, khoảng 3 tiếng đồng hồ. Những giọt mồ hôi thấm ướt áo. Khuôn mặt người nào cũng rắn đanh lại như tủi hận, căm hờn. Nếu có động cơ nào đó đột nhiên thúc đẩy, tôi chắc họ sẽ băm xác tên Kỳ thành một đống bầy nhầy ngay lập tức. Nhưng không, họ vẫn là những tên tù nhẫn nhục “nín thở qua sông,” chờ chính sách 3 năm thực hiện. Cho tới giờ phút này, chúng tôi đang ở vào khoảng 4 giờ 30 sáng. Chỉ còn 1 giờ 30 phút phù du nữa, chúng tôi sẽ có Tự Do, sẽ có tất cả!
Trước khi đưa Đội về, tên Kỳ còn sỉ nhục toán bị phạt một lần nữa. Tên Công An vũ trang điểm số tù trước khi chúng tôi vác cuốc lên vai men theo lối cũ.
Vế đến buồng, câu chuyện bị phat được bàn tán thêm nhưng không ai dám công khai chửi tên Kỳ vì sợ đến tai nó, vạ thêm!
Dạo này, anh em bị mất bánh để dành trong chiếc tủ lưới đặt cạnh nhà ăn. Chiếc tủ như chiếc Gác- măng-giê, theo nội quy dùng để chén đũa, muỗng của mỗi Tổ cho sạch sẽ và thứ tự. Có vài người ăn dè, để lại một chút, phòng lúc lao động về, đói sẽ ăn. Nhưng đau thay, khi về, mẩu bánh không cánh đã bay.
Buồng chỉ có ông Tướng và vài người bệnh nằm nhà nên chẳng biết nghi cho ai? Sự mất này gây rất nhiều khó chịu vì chỉ một người ăn cắp, nhiều người bị nghi ngờ. Cái đói quả ghê gớm thật, nó làm mờ lương tri, tàn bạo hơn thú vật. Anh em ai cũng có phần bằng nhau. Kẻ để dành vì lo xa chưa chắc là kẻ dư thừa. Thế mà có đứa khốn nạn đến nổi chỉ nghĩ đến mình, quên luôn cái đói của người khác!
Buổi tối sinh hoạt, phê bình kiểm thảo, có anh Trung tá Không Quân phát biểu:
– Thưa quý bác, quý anh, tuy còn trẻ, nhưng tôi thấy có bổn phận phải nói thật, nói thẳng, nói hết những gì, mong quý bác, quý anh thông cảm và bổ khuyết cho, nếu sai lầm. Trong những ngày sống ở đây, tôi nhận thấy, các đàn anh bê bối quá, làm nhiều điều không xứng đáng với cương vị và tuổi tác mà chúng tôi hằng kính trọng. Do đấy, chúng tôi lấy gì làm gương mẫu để noi theo? Chúng tôi còn trẻ, mong được học tập và tiếp thu những cái tốt do quý bác, quý anh chỉ dạy, nhưng chúng tôi vô cùng thất vọng khi nhìn thấy qua thực tế, những gì đã gây cho chúng tôi nỗi đau đớn và tủi nhục ngoài vấn đề cải tạo, lao động…
Anh nói một hơi dài, không ai trả lời. Gian buồng im phăng phắc. Tôi nghĩ, anh nói đúng quá, cần nói mạnh hơn nữa để cảnh tỉnh những ai có tinh thần hèn hạ, khốn nạn bán xác anh em mưu lợi riêng, ăn cắp của nhau. Nhưng đau thay, trong lớp tuổi và cấp bậc cùng quân chủng với anh, cũng có người ăn cắp như máy, làm những điều đê tiện như quân vô học và anh bạn tù trẻ vừa mạnh dạn phát biểu, ít lâu sau cũng bị hộc máu vì quá hăng say lao động vẫn chưa thấy được về sớm! Sau cùng, tất cả đều buông xuôi theo giấc ngủ!
Tính ra, tôi đã sống ở Trại Cải Tạo Trung Ương số 1 này được gần 8 tháng rồi đó. Qua mùa lạnh ghê gớm, và đang gánh chịu mùa nắng đổ lửa. Các vườn rau cải thiện đã bị phá bỏ vì tụi Công An cho rằng, tù chỉ lo tưới rau cải thiện, chứ không chịu lao động. Anh em lại đói dài. Trong những ngày gần đây có một số đông “tù tự giác” hình sự cũng lao động nơi hiện trường. Tội của họ, phần đông: ăn cắp, ăn trộm, đâm chém người, hiếp dâm, buôn chui v.v… Thường ra, họ bị xử rất nặng, ít có án nào dưới 10 năm. Có một tên còn trẻ lắm, tôi hỏi:
– Vì sao em bị tù?
– Em chém một thằng trong xóm vì nó chuyên báo cáo Công An hại xóm giềng.
– Em chém, nó có bị thương nặng không?
– Em mới chém được 2 dao, nó chạy thoát!
– Em bị xử bao nhiêu năm?
– 15 năm! Khi được ra, em sẽ tìm chém nữa, kỳ bao giờ nó chết mới thôi.
– Em ở mấy năm rồi, năm nay bao nhiêu tuổi?
– Em ở được 5 năm rồi, năm nay vừa đúng 20, khi được tha, mới 30 tuổi, còn đủ sức.
Tôi nhìn nó, vì thiếu ăn, nên thân hình quắt lại trông như mới 15, nhưng nó khiêng gạch rất giỏi.
Bỗng một tên tù khá lớn tuổi, nói:
– Cứ tưởng mấy anh “giải phóng chúng tôi” chứ ai ngờ tụi nó “giải phóng các anh!” Như vậy là thế nào? Phải sống dưới chế độ này suốt đời à?
Tên khác nói ngu ngơ:
– Không suốt đời thì cũng hết án 20 năm!
Chúng cười ồ.
Tôi cũng gặp cả những chiến sĩ Biệt Kích bị bắt cả mười mấy năm nay, đã trở thành công nhân viên của Nhà nước Cộng Sản! Họ đối với chúng tôi rất tốt, đôi khi mua hộ đường, nước mắm nếu ai có tiền. Theo họ nói, nếu không chịu ký làm công nhân viên tình nguyện cho Nhà Nước, bị tù hoài, không hy vong được tha! Người làm điện, kẻ sửa máy và mọi công tác khác hợp với khả năng. Tất cả đều chưa vợ. Chắc họ muốn, Nhà Nước cũng không cho.
Ngày tháng qua đi, một chiều, chúng tôi ngôi xổm trước cửa “chuồng” chờ giờ điểm số. Tên Công An xách chùm chìa khóa đi vô, hắn cho lệnh mang tất cả áo quần đang phơi vô nhà, bất luận đã khô hay còn ướt. Anh em đứng dậy, đi gỡ hết quần áo. Chúng tôi đoán biết có sự gì sẽ xẩy tới trong đêm nay hoặc sớm mai. Sau khi vô “chuồng”, cánh cửa đã khóa được một lúc, anh em đang bàn tán về chuyện không cho phơi quần áo ngoài sân ban đêm, bỗng có tiếng mở cổng ngõ. Từ trong “chuồng” anh em nhìn qua chấn song, những chiếc cửa không có cánh, nên mùa rét vừa qua, chúng tôi đã phải che bằng những tấm nylon và áo mưa để cản gió.

mạnh hải flickr
Nay mùa nóng để trống. Có năm, sáu bóng người đi vô, người nào cũng mang theo tư trang nặng l ặc lè. Tên Công An đi trước mở khóa. Khi cánh cửa mở, Đội trưởng nằm ngay đó, nhổm dậy. Tên Công An nói:
– Đội của anh thêm 5 người.
Nói xong hắn cho lệnh 5 người mang đồ vô. Tiếng khóa lại lách cách. Chờ tiếng chân đi xa, anh em mới xô đến hỏi chuyện những người mới đến. Họ cho biết, mới chuyển từ Trại B, tức Trại lúc đầu tôi đến, qua đây từ hồi chiều, đi 3 cây số, mang nặng, nên giờ này mới tới.
– Có nhiều người cùng chuyển không?
– Không, chỉ có tụi tôi!
Như vậy đã quá rõ ràng. Sáng mai, chúng tôi sẽ chuyển Trại cùng mấy “trự” này. Anh em không ai ngủ, đều lục cục xếp đồ vô túi, nhưng còn đồ gửi trong kho làm sao lấy ra? Mọi người nhao nhao hỏi, nhưng không ai trả lời được. Tướng Cao, người giữ chìa khóa nói:
– Các anh cứ yên tâm, khi có lệnh, tôi mở kho ngay, của ai để đâu, tôi biết cả mà!
Có tiếng nói mỉa mai:
– Ông biết, sao để mất chiếc quần “vía” của tôi gửi trong đó mà không hay?
Tướng Cao không trả lời.
Cuộc sửa soạn đến nửa khuya, anh em lăn ra ngủ, vì dù sao, đây cũng chỉ là phỏng đoán thôi.
Tôi vừa chợp mắt một lúc, tiếng mở khóa làm thức giấc. Những vệt đèn pin chiếu vào buồng loang loáng. Ba tên Công An vô buồng trong đó có tên Kỳ. Một tên cầm trong tay tờ giấy, chiếu đèn pin rọi chỗ này, chỗ khác. Mọi người đều ngồi dậy, ngơ ngác nhìn.
– Các anh chú ý, tôi gọi tên anh nào, anh ấy nói “có mặt” phải sửa soạn ra khỏi buồng, trong 15 phút.
Tất cả có 5 người được gọi tên, trong đó có tôi, Tướng Cao, Thiện (Tổ trưởng), Hy và Cát đúng với số người vừa được đưa đến buổi tối.
Chúng tôi sửa soạn vội vàng, gấp mùng mền cùng vài ba thứ lặt vặt khác. Có mấy hộp quẹt cây, tôi giấu trong hốc, moi mãi không được, đành để lại.
Mọi người mang đồ ra sân. Tướng Cao mở khóa kho cho anh em lấy đồ. Tên Kỳ giục giã liên hồi. Trong bóng tối mênh mông, ai nấy ấn bừa vô, bất kể trời đất. Ra đến ngõ, chợt nhớ quên chiếc nón, tôi xin quay vào lấy, tên Kỳ nhất định không cho.
Hôm ấy là 16-7-78. Thời hạn 3 năm theo chính sách đã qua đúng 1 tháng.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.