Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 20 May 2024

Chương IV: Suối độc rừng thiêng

Phần 12

Chỉ còn đêm nay, mai chúng tôi lại phải lao động như thường lệ. Nghĩ đến những quả đất và bãi dắt trâu dầm, tôi lại rùng mình. Con trâu trốn lao động để bị làm thịt, một con trâu “mới vực” được thay thế. Con trâu này tuy trẻ, nhưng cũng khôn lắm. Khi nào mệt không muốn làm, nó nằm ngay xuống bùn, đánh thế nào, cũng không đứng. Con người cứ mắng nhau: đồ ngu như súc vật, nhưng tôi thấy câu mắng đó không đúng, phải nói lại: đồ ngu như con người! Trong đời, quả có nhiều người ngu lắm, như trường hợp một trong hai anh tù hình sự “tự giác”, người đã cho tôi chiếc bánh lá hôm nào.Tối 30 Tết, anh rủ vài “bạn tù” khác bắt trộm heo con của Trại, mang vô rừng đốt lửa quay để nhậu với rượu đế giữa đêm Giao Thừa. Lửa cháy to quá, tụi Công An vũ trang đi tuần, sợ tù chính tri trốn, chỉ không ngờ có chuyện trộm heo. Nhìn thấy lửa , tưởng cháy rừng, mò lên, bắt được trọn ổ. Từ đó, anh hết “tự giác” phải quay về Trại tù hình sự. Cũng kể từ đó, tôi không nhìn thấy anh nữa. Cái án hiếp dâm 20 năm, anh mới trả được quá nửa. Hoàng đã nói cho biết, hồi chiều qua, khi tôi sang thăm.

Buồng của Hoàng, đối diện với buồng tôi, cách nhau vài bước chân, những ngày Tết không sao, chứ ngày thường tụi Công An bắt được là có chuyện! Hoàng còn cho biết, căn buồng này đã giam các “giặc lái Mỹ” trong thời gian Mỹ ném bom miền Bắc. Hoàng chỉ cho tôi hàng chữ viết bằng tiếng Mỹ và cả những chữ ký còn hiện lờ mờ trên nắp gỗ, nơi để tư trang của mỗi người. Tôi nhìn một hàng tên : John, Robert, William, Bernard, Henry, Bob, v v…tuy thời gian có làm mờ phai nét mực! Tôi chẳng biết bây giờ họ ở đâu, họ đã được trao đổi theo Hiệp Đinh Paris năm 1972, ký kết giữa 4 bên chưa? Người nào còn sống đã trở về quê hưong bản quán, người nào đã gửi nắm xương tàn tại nơi rừng thiêng, suối độc này?

Trại Cải Tạo Trung Ương số 1, nằm trong khu lòng chão khá rộng, xung quanh toàn đồi trà và những dẫy đồi hoang vu khác. Xa hơn chút nữa, núi rừng trùng điệp. Khu có 2 Trại tù lớn, một thuộc quận Thanh Phong, một thuộc quận Xuân Phong, cơ sở hành chính là Lào Cai. Nền trời ở đây ít khi trong xanh, vòm cao lúc nào cũng đặc sệt mây. Dưới đất có rất nhiều hầm hố đào từ thời chiến tranh chống Mỹ đến nay chưa lấp. Chỉ có một con đường duy nhất để di chuyển, do đó đứng về mặt quân sự, nó là nơi hiểm yếu, dễ phòng thủ, khó tấn công. Rất thuận lợi cho việc đánh du kích nếu cần.

Tuy nằm, nhưng trong đầu tôi luôn luôn có những chuyện gì đâu làm nghĩ ngợi. Tư không phải đánh thức, tai tôi đã nghe thấy tiếng mở chốt cổng. Chúng tôi ngồi tại chỗ, chờ đợi.

Tên Công An mở khóa cửa, vô buồng đếm số người ở nhà xong hắn quay ra cho lệnh anh em vô. Lại tiếng khóa kêu lách cách quen thuộc. Chờ tên Công An cài cổng ngõ xong, anh em mới nói chuyện ào ào về chương trình văn nghệ. Họ khen ngợi một nữ tù hát hay như ca sĩ chính cống. Mấy bữa nữa, họ mời một số tù nam qua Trại nữ, tham dự Văn Nghệ. Trong số được mời có Linh Mục Cao, giỏi về nhạc lý làm quản ca Đội tôi. Vị Linh Mục này cao ráo, đẹp trai, mỗi chiều chắp tay trước ngực cầu Chúa, đi vòng quanh sân tù. Tôi nhìn Linh Mục nói đùa: “Khoái nhé! đêm nay tha hồ nằm mơ”. Ông cười: “Bác này lắm chuyện, ngủ đi!”

Hôm sau, cơ nào đội ấy lại lãnh 50gr khoai luộc, phần ăn sáng, lại mặc bộ quần áo lao động cứng như mo vì kết mồ hôi và bụi đất. Sau khi nghỉ mấy ngày, đi lao động ai cũng chán. Chiếc sân chứa gần 1000 người vẫn còn rộng. Số người chỉ ngồi hết nửa sân. Mỗi Đội lại đựợc gọi số, tuần tự đứng lên đi ra cổng đã có tên Công An vũ trang chờ sẵn. Tụi Công An vũ trang thay đổi Đội luôn, vì tụi nó cũng sợ nếu ở lâu có thể bị tù “móc nối”

Hiện trường đã ở trước mặt. Chiếc lò gạch không hoạt động nằm im lìm trơ vơ giữa khu đất mênh mông.

Những quả đất đã đạp xong, nghỉ Tết chưa dùng tới, che bằng những tấm liếp nứa dùng lâu ngày đen đúa. Những luống rau “cải thiện” đã xanh um. Chủ nhân mừng ra mặt. Mỗi ngày thu hoạch một gô,”cải thiện” đỡ đói lắm!

Vì còn nhiều đất để lại từ trong Tết, nên sáng nay chúng tôi phải chuyển gạch đã khô, vô bãi cát, chờ nung. Công việc khá nặng nhọc, mỏi cả chân lẫn tay.

Ít bữa sau vì sức yếu, tôi được chỉ định nấu nước cho anh em uống. Mỗi ngày, tôi phải xin phép tên Công An vũ trang ngồi trên chòi cao, lên đồi hái trà. Hắn cho phép với điều kiện không được đi xa, để lúc nào hắn cũng có thể nhìn thấy. Tôi lội qua dòng suối dơ dáy, chứ không đẹp và sạch như ở Nghĩa Lộ, leo lên đồi trà. Tuy bỏ hoang vì quá già, nhung vẫn hái được búp non và lá xanh vì mùa xuân có mưa phùn, thời tiết thuận lợi cho cây cỏ. Trời vẫn rét như cắt ruột, gió thổi như rứt từng mảnh thịt. Mấy bữa cơm thịt đã tiêu hóa cả rồi, nên lúc này lại đói. Tôi leo lên đồi, tai ù ù, chứng tỏ mỏi mệt. Người ta nói:”mệt bỡ hơi tai” là thế sao? Sau khi hái, được lưng nón lá, tôi quay về, lại phải nghiêm chỉnh báo cáo với tên Công An vũ trang: “Thưa cán bộ, tôi đã về!”, và lại xin đi gánh nước ở chiếc giếng dành riêng cho tụi Công An dùng. Gánh nước, tôi phải chờ một anh nữa, cùng khiêng. Tự mình phải kiếm củi, tổ chức chỗ đun. Đun xong, chia đều cho mấy chục người, cũng khá vất vả!

Việc này tôi làm chừng một tháng, bỗng một buổi tên Công An Kỳ gọi tôi lên chỗ hắn làm việc hỏi:

– Tại sao anh hái trà, lại để dành búp cho riêng anh uống, còn anh em uống lá? Có người báo cáo như vậy !

Thấy đúng quá, tôi không trả lời được, nhưng trong lòng thắc mắc, không hiểu ai đã báo cáo? Khi hái trà, tôi lấy ít búp, phơi khô để dùng, vì trót nghiện trà từ mấy chục năm, quen uống Long Tỉnh và Thiết Quan Âm. Nay đi tù không có, thèm quá, phơi ít búp uống đỡ thôi, có đáng gì đâu mà phải báo cáo? Uống trà cái kiểu đun bằng thùng sắt tây, có trà trời cũng không ngon nữa là vài cái búp? Như vầy tên Kỳ có ăng-ten, nhưng ai? Sau, tôi biết, hiện hắn vẫn còn tù! Tên Kỳ cho lệnh tôi nghỉ, cử tướng Cao thay thế! Ông Tướng này cũng nấu như tôi thôi, đun lá trà trong thùng sắt 20 lít, thế mà Đội trưởng khen: “có khác”! Tiên sư cái lưỡi!

Nhưng Tuớng Cao chỉ nấu có vài ngày, trở về buồng, làm công tác cũ.

Tôi lại đạp đất. Sao trời lạnh mãi thế này? Đói và lạnh làm người khô héo dần. Ngày tháng qua hờ hững giữa cảnh đồi núi âm u vây chặt oán thù!

Lệnh đổi tiền được loan ra. Ai có tiền Ngân cũ, mang đổi tiền mới. Tôi còn 10 đồng, nghĩ không thể đem đổi được vì nội quy đã cấm tù không được giữ tiền Ngân. Tôi xé nát vứt đi. Trong buồng, có anh tiếc của đem đổi, y như rằng, vừa mất tiền lại còn bị làm kiểm điểm nhận tội.

Trong Đội tôi, may mắn, có anh được thăm nuôi. Người mẹ già và cô em gái sau mấy chục năm, khi gặp không nhận ra nhau. Chiều hôm trước, anh đang ngồi nắm than đốt lò gạch bên lề đường, có bà cụ và cô gái gánh một gánh nặng đi ngang, dừng lại, hỏi thăm đường vào Trại.

– Thưa cụ, tìm ai trong đó?

– Tôi đến thăm nuôi đứa con tên Cát đang cải tạo.

Anh mở tròn mắt nhìn bà cụ, cô gái, rồi thét lên:

– Con đây mẹ, và cô Thủy phải không?

Hai mẹ con ôm nhau khóc. Cô gái cũng khóc luôn. Tên Kỳ nhìn thấy, đến hỏi, rồi đưa bà cụ cùng cô gái đi ngược lên, nơi căn nhà dành cho thân nhân những người cải tạo, sau lùm cây soan. Anh là người được thăm nuôi đầu tiên, cũng là người cuối cùng, từ lúc đến đây tới khi rời Trại. Tôi cảm phục bà mẹ và cô gái, vì tình thương con, thương anh đã mất bao nhiêu thì giờ để xin được cái giấy phép và cố lặn lội tìm đến nơi đèo heo hút gió này để thăm nuôi đứa con, người anh đã thuộc thành phần phản động, đối tượng chính trị nguy hiểm của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa.

mạnh hải flickr

Anh Cát,người lùn mập vẫn tự nhận mình là hề Thanh Việt nhưng anh khôi hài rất vô duyên. Tuy biết trước nhưng sáng hôm sau, anh vẫn ngồi tập họp chờ đi lao động. Tên Công An trực gọi tên anh, được thăm nuôi. Gần 1000 cái đầu quay về phía Đội tôi ngồi, vì có người vừa đứng lên ra khỏi hàng. Chừng một giờ sau, khi chúng tôi đang lao động, nhìn ra phía đường, thấy Cát ăn mặc chỉnh tề đi theo tên Công An về phía nhà thăm nuôi!

Quanh đi quẩn lại một lúc đã thấy anh về, khệ nệ khiêng một bao tải đầy. Tên Công An đi sau, hai tay khoanh sau lưng. Chao ôi! đi bao nhiêu dậm đường, sau mấy chục năm xa cách, mà buổi gặp gỡ thâm tình phút chốc đã phải chia tay! Buồn thật! Tôi nhìn anh lê những bước chậm chậm một phần đồ nặng, một phần chắc trong lòng còn nhiều vương vấn! Một tiếng nói cất lên đâu đó.

– Thế là no rồi!…

Buổi trưa lao động về, thấy anh đang soạn quà. Hàng đống bánh chưng cùng nhiều gói khác bầy đầy chỗ nằm còn lan sang bên cạnh. Bữa trưa, anh biếu phần ăn cho người nằm kế bên. Anh này mừng húm. Thấy anh có quà, vài người tò mò nhòm ngó, thèm thuồng, nhưng trong hoàn cảnh này, ai có nấy hưởng, có nhòm chỉ thêm khổ, chẳng ích lợi gì?

Trong bữa cơm chiều, anh em vô cùng ngạc nhiên khi thấy Cát tặng mỗi Tổ một chiếc bánh chưng. Tất cả đều vui vẻ, khen nức nở. Sau khi cho xong, anh nói:

– Tôi biết, có thể bán, có thể đổi, có thể cho vay, để khi cần đòi lại, nhưng không làm vậy ! Tôi muốn, anh em cùng vui với tôi hôm nay!

Tiếng vỗ tay ào ào. Chiếc bánh chưng được bóc ngay chia đều. Miếng bánh tuy nhỏ nhưng ngon vô cùng. Đúng mùi bánh chưng, chứ không như chiếc bánh Trại phát hồi Tết, có chiếc sống nhăn, có chiếc không nhân, không thịt, vì bị anh em “làm góp” đã thuồn thịt và đậu vào những chiếc vớ len dài của quân đội, lén mang về dùng riêng. Khi phát giác được, đã mất một số đậu, thịt lợn. Chính vì chuyện ăn cắp này xẩy ra nên buổi sáng thứ hai vừa qua, tên Công An giáo dục đã gay gắt xỉ vả thậm tệ toàn Trại. Hắn chống tay vào mặt bàn nói:

– Khi chúng tôi nhận được tin các anh sắp đến Trại, chúng tôi đã chuẩn bị chu đáo để đón tiếp xứng đáng với cương vị các anh lúc trước. Nhưng sau một thời gian sống gần để tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy, các anh không xứng đáng với cách đối xử của chúng tôi. Các anh làm những điều không tốt đẹp như ăn cắp của nhau, của Trại. Các anh đói ư? Chúng tôi trong mấy chục năm chống Mỹ cứu nước cũng đói lắm, sao chúng tôi không làm vậy? Bây giờ các anh mới chịu thiếu thốn ít năm đã không chịu nổi, làm những chuyện đê hèn, vì thế, hôm nay tôi nói thẳng: Tôi khinh bỉ các anh!

Nói xong hắn lạnh lùng nhìn khắp lượt. Gần 1000 con người không ai có phản ứng. Trong số hiện diện tại đây, có người đến trước, có người đến sau. Nhưng người ở lâu nhất, chưa tới hai năm. Nghị sĩ có, Dân biểu có, cả ông Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Ký giả đã mang bị gậy đi ăn mày chung quanh chợ Sàigòn, làm nhục chính phủ và cũng đóng góp một phần vào sự sụp đổ của miền Nam sau này. Có từ anh Trung sĩ tới ông Đại tá. Đau vô cùng nhưng phải chấp nhận, vì đúng thôi.

Chắc nói đã hả, hắn lui ra, nhường chỗ cho tên Công An trực gọi các Đội đi lao động.

Tối hôm đó, anh Cát còn mời mọi người hút thuốc lào Tiên Lãng. Nhưng chỉ hơn một tháng, chính anh Cát lại đi lượm vỏ khoai lang để ăn cho đỡ đói. Qua năm sau, sống ở Trại Nam Hà trong dẫy núi Chiné, anh đau ốm phải đưa ra Trại Mể, thuộc tỉnh Hà Nam để chữa bệnh đau ruột, nhưng anh đã trút hơi thở cuối cùng tại đó. Trường hợp của Cát y hệt trường hợp của Tư, cũng đã mất tại Lào Cai vào khoảng tháng 4 năm 1978, sau hơn một tháng nằm bệnh. Người ta chở xác Tư vào ban đêm, khi các cửa buồng đã khóa, trên chiếc xe bò, đem chôn sau quả đồi, cách xa Trại khoảng 2 cây số! Tôi được nghe nói lại như vậy.

Trong buồng tôi còn có Hy, không hiểu anh có tội gì nặng với Cách Mạng cũng lẻo đẻo đi theo chúng tôi từ Trại này qua Trại khác. Khi ở Nghĩa Lộ, anh khá mạnh, gánh 20 kilô rau từ dưới suối lên đỉnh đồi, qua khu hậu cần coi như không. Nhưng nay anh bị phù, người chương lên, chân đi không vững. Anh được tên Mìn cho nghỉ lao động và ăn lạt. Mỗi bữa anh được nhà bếp cho một chén nhỏ mật mía. Mật ở đây rất nhiều vì gần Trại, có cơ sở nấu đường. Ruộng mía bạt ngàn. Nhưng tuy đường nhiều như vậy, chúng tôi vẫn thiếu đường. Có tháng phát 100gr, tháng không có. Đôi khi, mấy tháng được “ráp pen”, mấy trăm gram. Mỗi tháng, chúng tôi được nhà nước cho 3 đồng tiêu vặt, cũng chẳng thấy đâu! Thuốc lào, thuốc lá, kem đánh răng, mọi thứ đều không có, nhưng chẳng ai dám thắc mắc? Khi còn ở Nghĩa Lộ, có người đã nêu lên vấn đề, số tiền hơn 12 ngàn đồng góp tại Don Bosco trong ngày đầu trình diện, mới chỉ được ăn vài bữa, nay xin hoãn lại số dư. Tên Trại trưởng nói:

– A, a, vấn đề này các anh không nên đặt ra. “Trên” sẽ giải quyết.

Chờ mấy năm nay, chả thấy ai giải quyết. Thế mà mỗi khi chửi chúng tôi, tụi Cộng Sản cho rằng họ trong sạch, không tham nhũng! Qua những trại tù, tôi nhận thấy tụi Cộng Sản là “vua tham nhũng” chúng ăn chặn lương thực cũng như thực phẩm làm tù đã đói, lại đói thêm.

Anh Hy thèm thịt quá năn nỉ tôi bữa nào có thịt trâu đổi cho anh, tôi lấy chén mật bữa đó. Vì không ăn được thịt trâu, tôi hoan hỉ nhận lời. Có lẽ, một phần vì đó, bệnh của anh không bớt. Trên một năm sau khi chuyển về trại Nam Hà, anh cũng được đưa ra Trại Mể để chữa trị, nhưng định mệnh buộc anh phải giã từ cuộc sống, giã từ vợ con và “người tình” vĩnh viễn.

Tuy đã cuối tháng hai, tiết trời vẫn lạnh. Mưa gió dầm dề. Ban Giám Thị tổ chức học tập chính trị, cán bộ từ Trung Ương gửi lên để hướng dẫn. Số học viên được chọn lựa chừng 200 người. Trong thời gian học tập, các học viên được bồi dưỡng trứng, thịt và đường. Ngày khai giảng, chúng tôi tuy không được “hân hạnh” tham dự khóa học, nhưng mỗi người cũng được một trứng vịt. Trong giờ lao động, căn nhà ăn của mỗi buồng, được dùng làm lớp học. Mỗi toán, do một tên Công An đặc trách trông coi suốt 7 giờ mỗi ngày. Sáng 4, chiều 3. Nội dung bài học cũng là Bản Tự Khai, nhưng tỉ mỉ hơn nhiều, viết lại cả đời người từ năm lên 6 tuổi tới ngày 30-4-1975. Trời rét, tay tê cóng, vẫn phải viết. Mỗi ngày, viết xong bản nháp đưa nộp hết cho tên Công An phụ trách. Hắn mang về đọc sáng mai phê bình. Chỗ nào chưa sát, thiếu thành khẩn, viết lại. Viết xong, lại nộp. Khi viết xong, có bản dầy tới 2,3 trăm trang như một cuốn tiểu thuyết. Các “học viên” phải nộp cả bản nháp lẫn bản chính. Tôi rùng mình, lo sợ ngày nào đến phiên mình phải học tập kiểu này. Khi ở Long Giao, chúng tôi đã làm, nhưng so với bản “Tiểu Sử Lý Lịch” này, nó không thấm vào đâu. Người khai phải viết hết từng ngày, từng tháng, từng năm các công việc đã trải qua. Liên hệ gia đình, ông bà, bố mẹ, nội ngoại, vợ con, anh em, con cháu, họ hàng ngang dọc, làm nghề gì, còn sống hay chết, tham gia đảng phái nào? Thầy học, bạn bè, trưởng lớp. Ai chỉ huy mình, mình chỉ huy ai, cố vấn tên gì? Tham dự bao nhiêu chiến dịch và trận đánh? Bao nhiêu huy chương, vì sao thăng cấp? Giết bao nhiều quân Cách Mạng, ở đâu? Đi nước ngoài bao nhiêu lần? Học những gì ? v.v…

Bản tiểu sử chia làm nhiều đề mục. Mỗi đề mục, một vấn đề nhất định, không thể thiếu sót. Có muốn bỏ bớt cũng không được. Có những vị Đại tá đã về hưu từ lâu, nay đi học tập, phải khai khoảng 60 năm dằng dặc! Chao ôi! 60 năm, một đời người được kể lại chi tiết trong mấy trăm trang giấy! Những người học tập, tuy được ăn bồi dưỡng, không phải lao động dầm nắng dãi mưa, nhưng ai nấy đều bơ phờ, gầy rạc hẳn đi. Mỗi sáng, chiều khi đi lao động tôi đều nhìn thấy họ ôm một xấp giấy đi vô các buồng, có tên Công An theo sau. Trong lòng tôi, thấy bồn chồn, tức tối, uất hận! Tôi nghĩ rồi đây, các tập “tiểu sử” đó sẽ được tụi Công An chuyên môn tra cứu, tìm hiểu, đánh giá và các con cháu của người khai, nếu chưa “chui” ra ngoại quốc được, sẽ chịu ảnh hưởng ít nhất, cũng ba đời…


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply