Văn học Miền Nam 54-75 

vanviet.info

Duy Lam

21 Tháng Mười, 2020

Post by Sơn râu 25 May 2024

Kỳ 690

Cái Lưới – Kỳ 6

Tô kéo nhẹ áo mẹ, ra hiệu mẹ ngồi xuống ghế cạnh hắn. Hắn uống cà phê, từng ngụm nhỏ và kín đáo nhìn ngắm kĩ càng từng nét răn trên khuôn mặt hốc hác của mẹ.

Tiếp tục viết được một lúc, Tô chợt hỏi:

“Me! Lan thức hay ngủ?”

“Còn thức con ạ!”

“Lan có khóc không?”

Bà Hạ lắc đầu. Những tình cảm khắc khoải lại thấp thoáng trong cặp mắt Tô.

Hắn đưa ngón tay trỏ lên vuốt nhè nhẹ theo sống mũi, đoạn đứng dậy lặng lẽ và cả quyết:

“Con vào nói chuyện với Lan một chút.”

Bà Hạ ngập ngừng:

“Con nên nương nhẹ em… Lan như mất cả hồn người… Me sợ…”

Tô đi thẳng vào phòng trong. Một phút sau, tiếng Tô vẳng lên: “Lan! Nhìn anh đây này! Em phải nghe anh nói đến Thắng cho xong.”

Tiếng Lan nửa trách móc, nửa van lơn:

“Không! Không anh! Em xin anh! Em không muốn nghe tất cả. Anh để em yên…”

Ông Hạ cau mặt. Tô quả thật đã đi quá giới hạn.

Ông Định lên tiếng can thiệp, thời Lan đã tiếp:

“Tại sao anh cứ muốn mọi người như anh? Không phải vì yêu em mà anh làm thế! Anh nói đi! Em đau đớn chưa đủ cho anh hay sao?”

Im lặng.

Tiếng Tô vụt cất lên, hơi run.

“Xin lỗi Lan! Em nói phải, anh không có quyền gì hết, ngay cả đến giúp em.”

Tô trở ra, ngồi vào bàn, hay tay thít chặt lấy nhau.

Hắn đã lầm tưởng sự đau khổ của hắn và Lan, cùng về một người, mặc dầu bản chất khác nhau, sẽ ràng buộc hai anh em hắn chặt chẽ hơn. Hắn đâu ngờ khi mang một người chết trong xương tủy, người ta lẻ loi vô kể.

Tô trở về gia đình vào chiều thứ bảy. Suốt ngày chủ nhật Lan không đi đâu, làm những công việc trong nhà như cái máy, đến bữa ăn lưng bát cơm, không cười hay trò chuyện với bất cứ ai – kể cả Tô – và nhiều lúc ngồi một mình, mắt nhìn vào khoảng không, miệng mím chặt.

Ngày thứ hai, thứ ba Lan không đi học, bỏ cơm, ngồi như tượng tại một chỗ, không buồn cử động đi lại, và hình như nửa mê nửa tỉnh, lúc nhận ra mọi người xung quanh, lúc thì không.

Ngày thứ tư Lan nằm liệt giường.

Từ ngày thứ năm trở đi tay Lan yếu đến nỗi không cầm nổi bát cháo. Bà Hạ lấy thìa xúc thức ăn đưa vào miệng Lan. Bắt ép Lan mới ăn lưng bát cháo, nếu bỏ mặc dám chắc Lan nhịn ăn mà cũng không tự biết. Tuy thân hình Lan không run rẩy nhưng hễ Lan đặt chân xuống đất là khuỵu ngã, không đi nổi lấy một bước.

Nếu mọi người để Lan nằm, Lan nằm; nếu đỡ Lan ngồi dậy dựa vào thành giường, Lan ngồi yên như vậy giờ này sang giờ khác. Nhưng nằm hay ngồi, Lan cũng không chịu rời tay khỏi tập thư. Có lần đỡ Lan dậy, tập thư rơi khỏi tay Lan rớt xuống đất. Lan rên lên một tiếng nhỏ, vươn tay cố với, trông thật thương.

Một buổi chiều ông Hạ đi làm về, vừa bước chân qua cửa, ông sửng sốt suýt kêu lên, vì thấy Lan nửa người ngồi xệp xuống đất, nửa người ngã lên thành đi văng. Tô có việc đi đâu vắng, bà Hạ bận làm cơm dưới bếp, Lan cố gắng lết ra ngoài làm chi? Ông gọi vợ và hai vợ chồng đỡ Lan trở vào nhà trong. Lan cưỡng lại, mắt hướng về phía đi văng. Bà Hạ lo ngại thầm thì, “Lan đòi gì thế mình?”

Ông Hạ lắc đầu. Ông cũng không biết gì hơn vợ.

Cho đến hôm Lan bình phục, Tô nhường chỗ nằm của nó trên đi văng cho Lan.

Lo ngại trước tình trạng sức khoẻ càng ngày càng sút kém của Lan, bà Hạ mời một bác sĩ quen đến thăm bệnh cho Lan, bắt mạch. Khi tiêm cho Lan một ống thuốc an thần, Lan cũng ngoan ngoãn giơ tay như một đứa trẻ. Nhưng, khi mũi tiêm vừa được rút khỏi tay, tình cờ Lan nhìn thấy mấy giọt máu – của chính nàng – rướm trên vết tiêm, người Lan vụt cứng nhắc, môi run run, ánh mắt kinh hãi, miệng rên rỉ “Không! Không! Máu… máu! Anh Thắng…! Máu!”

Bác sĩ lắc đầu, chịu không tìm nổi căn nguyên cơn bệnh kỳ lạ của Lan.

Trong gia đình, Lan cũng giống bà Hạ và Tô, đêm ngủ hay nằm mê nói lảm nhảm. Ông Hạ trái lại không bao giờ ngủ mê. Ban ngày, Lan mê muội không nói không khóc, nhưng đêm đến cả nhà nhiều phen sực tỉnh vì những tiếng kêu hét của Lan. Lan người run rẩy, quằn quại, quấn tròn người trong chăn. Bà Hạ lay Lan thức tỉnh. Dưới ánh nến khuôn mặt Lan tái mét, ràn rụa nước mắt.

Tô thường khi bình tĩnh, vào giây phút ấy, nhìn khuôn mặt méo mó của em, cũng phải rùng mình xúc động.

Bà Hạ lấy khăn mặt ướt đắp lên vừng trán nóng bỏng, đẫm mồ hôi của Lan, và ngồi cạnh Lan cho đến khi Lan mệt lả, thiếp ngủ. Tô đứng, đầu hơi cúi cạnh giường em, bàn tay nhẹ nhàng vuốt mi mắt còn mấp máy rung động của Lan. Đột nhiên hắn nói giọng bực bội:

“Tại sao Lan bướng thế không biết! Nó là đàn bà mà! Phải để cho những tình cảm đau đớn thoát ra mới được chứ? Con đã khuyên me lôi Lan đi dự đám ma Thắng, me không nghe… Phải để con kể hết những chi tiết dù kinh hãi. Thắng chết ra sao, làm khổ Lan bằng ‘sự thật’. Thật xấu hổ khi đau khổ trong mê muội!”

Bà Hạ yếu ớt cãi:

“Nhưng Tô, con có nói Lan cũng không hiểu con nói gì.”

Mặt Tô đanh lại:

“Không hiểu! Thời phải tìm đủ mọi cách, dù phải bó buộc. Đằng nào cũng một lần.”

Lần đầu tiên khi nói với Tô, bà Hạ có một giọng trách móc chua chát:

“Con muốn giết em con hay sao?”

Tô mỉm một nụ cười nhợt nhạt, khó hiểu.

“Me không biết rõ Lan! Hạng người say mê tha thiết với đời sống như nó đâu dễ mấy lúc chết vì tuyệt vọng. Rồi me xem…”

Vào buổi sáng ngày thứ mười, bà Hạ đang dọn dẹp nhà cửa, Tô ngồi viết ở bàn trước cốc cà phê, Lan tì tay ngồi dậy, lặng lẽ nhìn mọi người hồi lâu, đoạn tự nhiên bật nói:

“Me! Con đói me ạ!”

Bà Hạ quay phắt lại, nhìn Lan, sững sờ. Tô ngửng đầu lên, mỉm cười.

“Me có sẵn thức gì cho con ăn không?”

Khuôn mặt bà Hạ rạng rỡ. Lan đã tỉnh! Bà lại gần con gái, miệng lắp bắp:

“Con thấy trong người thế nào? Trời! Con không biết chứ, con nằm liệt giường liệt chiếu, mê man gần mười hôm nay.”

Vẻ mặt hơi tối lại, Lan yếu ớt lẩm bẩm:

“Mê man gần mười hôm? Con cũng chẳng biết nữa…”

Lan lắc lắc cái đầu như muốn xua đuổi cơn ác mộng vừa qua, định đứng dậy. Bà Hạ vội giơ tay ngăn đoạn quày quả xuống bếp nấu cháo. Tô đến ngồi bên em, nhìn sâu vào cặp mắt quầng đen của Lan. Môi Lan vẫn bất động, nhưng một ánh cười thoáng hiện trong cặp mắt. Tô đưa tay lên vuốt mấy sợi tóc mai loà xoà trên trán em.

“Lan mê hoảng nhiều lắm đấy! Lan mê những gì vậy? Kể anh nghe xem nào.”

Giọng Lan trách móc:

“Anh…! Anh vẫn vậy! Em vẫn còn giận anh. Anh cứ liệu hồn!”

Tô cười:

“Chà! Vừa tỉnh giấc đã lại dữ rồi!”

Lan quay người, ngắm mấy bông hoa cắm trong lọ trên chiếc bàn nhỏ cạnh giường. Lan giơ tay mân mê những cánh hoa mịn màng. Lan nhìn bàn tay mình, trắng xanh nổi mờ mờ mấy đường gân, xen lẫn giữa những bông hoa, thầm thì, giọng nghẹn ngào:

“Hoa đẹp quá! Em tưởng như đã lâu lắm không biết đến hoa là gì. Chắc anh Vĩ tặng?”

Tô gật đầu, rút thuốc lá, châm hút. Lan nhìn theo làn khói uốn éo, hít hít nhẹ, mắt lim dim.

“Ngay cả đến khói thuốc của anh ngửi cũng dễ chịu.”

Hai anh em im lặng. Tô ngồi cho một chân lên giường, dáng điệu uể oải, như một con báo phơi nắng, chờ đợi. Lan bừng mở mắt, hỏi anh:

“Anh Thắng chôn ở nghĩa địa nào hả anh?”

Từ ngày Tô về, mang theo hung tin, đây là lần đầu tiên Lan nhắc đến Thắng. Tô không đáp ngay, cặp mắt soi mói nhìn em đăm đăm. Lan cầm tập thư đặt cạnh gối lên, nhìn một giây mấy vết máu, đoạn nói khe khẽ như trả lời câu hỏi thầm kín của anh.

“Em muốn thăm mộ anh Thắng. Bây giờ, em nhớ lại rõ mồn một, cạnh mộ anh Thắng là một dàn hoa xác pháo.”

Ánh mắt Tô thoáng nghi ngờ, lo ngại.

“Em mơ phải không anh? Em muốn tin như vậy, nhưng nhiều khi em sợ hãi: em khó lòng phân biệt nổi cái gì là thật, cái gì là mơ… Em chóng mặt, ngây ngất! Em đã đi đưa đám anh Thắng và anh Thắng chết là thật? Hay cả hai chuyện đều là mơ?”

“Thắng chết rồi và chôn ở nghĩa trang Hợp Thiện!”

Lan không lưu ý đến câu nói khô khan trần trụi của Tô. Lan thu nhỏ người.

“Em đi sau chiếc xe bò chở quan tài anh Thắng, một con ngựa gầy kéo, không người cầm cương. Rất nhiều người, không trông rõ mặt quây chung quanh em. Gần huyệt anh Thắng, một dàn hoa xác pháo vàng thắm. Khi hạ huyệt, nắp quan tài bật ra và em thấy rỗng không, chẳng có gì. Em hét lên, khóc nức nở…”

Khuôn mặt Lan ràn rụa nước mắt. Tô rút khăn mùi xoa, trao cho Lan. Sau một phút yên lặng. Tô đặt một tay lên vai em, không cất cao giọng nói, nhưng dằn vào từng tiếng:

“Lan! Khi nào em đi vững, anh và Lan sẽ đi thăm mộ Thắng. Cạnh mộ, không hề có dàn hoa xác pháo; còn xác Thắng, anh đã từng ôm trong tay gần tiếng đồng hồ. Em xem…”

Lan bất giác rùng mình.

“Em muốn tin anh… Em muốn lắm! Vâng… em khoẻ, sẽ đi thăm mộ với anh.”

Tô nói như dỗ dành:

“Em ngoan lắm! Em sẽ không mê hoảng nữa! A, me mang cháo lên đây rồi.”

Ăn xong cháo, Lan có vẻ tỉnh táo hơn, hai gò má thoáng hồng. Tô thản nhiên hỏi:

“Me! Con và Lan định dăm ba hôm nữa sẽ đi thăm mộ Thắng. Me có đi không?”

Bà Hạ liếc nhìn khuôn mặt trầm ngâm, nghiêm trang của con gái, gật đầu.

Lan bình phục rất chóng và tịnh không đả động đến những giấc mơ hoảng trong thời kỳ nằm liệt giường.

Nửa tháng qua. Lan hầu như bình phục hẳn. Sau buổi đi thăm mộ Thắng cùng anh và mẹ, không mặt Lan lại càng thêm đăm chiêu, u tối. Trong nhà vắng hẳn tiếng cười ròn rã, trêu cợt của Lan. Tuy nhiên, Lan cũng đi học trở lại và tiếp tục một cuộc sống, bề ngoài không khác trước bao nhiêu.

Một buổi chiều ông đi làm về, bà Hạ cho ông rõ hồi trưa me Thắng hớt hải tìm đến nhà, gặp Lan Tô về chuyện hai đứa con của Thắng. Ông ngạc nhiên, Thắng có con? Tại sao chính bà mẹ lại không hay biết mà phải hỏi đến người ngoài. Bà cũng thắc mắc không kém ông và lại còn cho biết thêm một chi tiết khó hiểu hơn nữa: Lan lên xe hơi của mẹ Thắng, dẫn bà ta và Tô đến “chỗ ở”của các con Thắng. Hai vợ chồng ông Hạ đồng ý sẽ hỏi Tô Lan cặn kẽ hơn.

Sau bữa cơm tối, ông hỏi thẳng Tô:

“Ba nghe nói hồi chiều Lan và con dẫn me Thắng đến nhà hai con Thắng ở. Thế là nghĩa thế nào? Thắng lấy vợ giấu gia đình hay đấy chỉ là những đứa con hoang?”

Cặp lông mày của Tô nhíu lại.

Tô lộ vẻ khó chịu, nhưng cũng trả lời:

“Không phải con hoang! Trong khai sinh, bố chúng là Thắng. Tên mẹ không thấy ghi.”

Bà Hạ liếc nhìn Lan, rụt rè:

“Còn… mẹ chúng?”

“Con cũng chưa gặp lần nào. Thắng có kể cho Lan biết gì về người đàn bà đó không?”

Lan lắc đầu.

“Cô ta là gái nhảy thì phải. Trước đây có sống với Thắng hơn một năm.”

Ông Hạ nhìn khuôn mặt không đổi sắc của Lan, hỏi:

“Hồi Thắng đi Quân thứ Lưu động với con, hai người còn ở với nhau không?”

Tô lắc đầu, giọng thoáng chế riễu, hắn nói đến Thắng như nói tới một người hiện còn sống:

“Cái thằng ấy kỳ khôi! Cách đây một năm, sau khi cho cô ta một số tiền khá lớn, Thắng tống cổ tình nhân khỏi nhà, giữ hai đứa con lại.”

Lan tự nhiên bật nói:

“Tại sao đuổi?”

Ông Hạ nhìn Lan, ngạc nhiên: ông tưởng Lan phải biết rõ đời tư của Thắng hơn Tô chứ. Chứng cớ Lan biết chỗ ở của hai con Thắng, Tô thời không.

Tô đưa ngón tay trỏ lên vuốt theo sống mũi.

“Tại vì hắn thích làm thế! Lan còn lạ gì tính Thắng.”

Lan nói nho nhỏ:

“Phải! Đàn bà đâu giữ nổi anh ấy.”

Tô nhếch một nụ cười, tiếp lời Lan:

“Nhất là một người đàn bà hắn không yêu. Còn tại sao không yêu mà lại sống với nhau hàng năm trời, nếu anh nhớ không lầm, Thắng đã có lần giải thích: ‘Tao không thể ngủ một đêm không có đàn bà.’”

Ông Hạ cau mặt, bà hơi ngượng, còn Lan mím môi, hàng mi cong dài cụp xuống cho đến cặp mắt. Khó mà đoán biết Lan nghĩ gì trước sự phát giác sống sượng của Tô về Thắng.

Ông Hạ lẳng lặng đứng dậy vào nhà trong, cầm theo cuốn sách. Từ dạo đi Quân thứ lưu động, Tô có một lối ăn nói tàn nhẫn ông không ưa. Giã dĩ sự trò chuyện về Thắng và đời tư của Thắng không liên can gì đến ông.

Tô quay sang phía me, nụ cười thú vị vẫn chưa rứt trên môi.

“Me biết không? Hai đứa con Thắng lại là con sinh đôi mới khôi hài chứ, một trai một gái. Trông rất dễ thương và thông minh.”

Lan đột ngột lên tiếng:

“Lan muốn nuôi chúng! Lan yêu chúng!”

Tô nhìn em hỏi:

“Chắc Thắng đã nhiều lần dẫn Lan đến thăm các con hắn. Con hắn dễ thương như vậy, nhưng không hiểu sao hắn không yêu, và hắn cũng không chịu cho mẹ biết là bà có hai đứa cháu nội.”

Lan ngửng đầu.

“Lan đâu biết anh Thắng giấu mẹ! Lan vẫn tưởng bà ta biết mình có cháu nội, nhưng anh Thắng chắc vì một lý do nào đó, không muốn các con sống với mẹ mình.”

Bà Hạ ngẩn ngơ. Câu chuyện càng ngày càng rắc rối!

Tô nhìn Lan đăm đăm.

“Thắng không kể cho Lan rõ những chuyện bí ẩn giữa mẹ Thắng và ‘chú Sâm’ à?”

“Không! Chú Sâm có phải cái ông gầy gầy hồi chiều lái xe cho me Thắng đến đây phải không?”

“Đúng vậy! Chính hắn đấy – ‘Dượng ‘ của Thắng!”

Lan mặt sa sầm.

“Dượng nào của anh Thắng! Mẹ Thắng gọi ông ta bằng ‘chú’ và xưng chị cơ mà.”

Tô không đáp, nhỏm dậy ra đứng cạnh cửa sổ vắt hai tay phía sau lưng, mặt lầm lì.

Bà Hạ lên tiếng hỏi:

“Ông Sâm có họ hàng gì với ba hoặc me Thắng không?”

Giọng Tô lạnh lẽo:

“Không có họ hàng gì hết! Em nuôi của ba Thắng. Ba Thắng nuôi hắn ăn học từ khi hắn mới mười mấy tuổi. Hồi hoạt động cách mạng, hắn là thư ký riêng của ông, và…”

Tô bỏ lửng câu nói, quay trở về ghế, ngồi xuống, hai tay khoanh trước ngực. Sau một phút yên lặng, Tô ngửng đầu nhìn Lan, mắt lờ đờ chẳng khác cặp mắt của một bức tượng đá, cạnh môi hơi nhếch một chút. Hắn cười?

Thân hình Lan chợt cứng nhắc trước cái nhìn kỳ lạ của anh. Lan mở miệng định nói, nhưng rồi lại thôi. Tiếng Tô vang lên, khô khan:

“Và là tình nhân của mẹ Thắng! Dĩ nhiên là thế rồi… Lan! Em đã hiểu tại sao Thắng ghê tởm mẹ và không muốn con mình sống cạnh một người đàn bà như vậy không?”

Cặp mắt đẹp của Lan rực sáng.

“Em cũng đã nhiều lần cãi nhau và không đồng ý với anh Thắng về chuyện này. Dạo đó, em không hay biết câu chuyện dan díu giữa mẹ anh Thắng và ông Sâm. Vì vậy em đã nhất định cho rằng mẹ anh Thắng yêu và chìu anh Thắng hết mực, chỉ mong mỏi con lấy vợ để cho mình vài đứa cháu, thời không có lý gì anh Thắng lại giấu mẹ. Em nhớ, hễ bị em dồn đến chỗ bí là anh Thắng cau có, bực tức với em, lảng sang chuyện khác.”

Tô ngắt lời:

“Bây giờ em biết rõ về tư cách mẹ Thắng rồi, em nghĩ sao? Em có cho Thắng cư xử như vậy là phải không?”

Lan ngẫm nghĩ, đoạn đáp:

“Em cũng không biết nữa… Nhưng, câu chuyện lăng nhăng giữa bà ta và ông Sâm có thật không? Có phải nhờ anh Thắng kể lại anh mới biết hay do một người khác đồn đãi?”

Tô mỉm cười:

“Em vẫn không tin là Thắng có thể giấu em một chuyện gì phải không? Em yêu Thắng! Nhưng có những chuyện một người đàn ông không thể kể cho một người đàn bà, dù là người yêu đi chăng nữa. Kể cho bạn trai thì được.”

Một ánh uất ức, bối rối thoáng hiện trong cặp mắt to của Lan. Giọng Lan hơi run.

“Em hiểu rồi! Các anh thật ác! Các anh lúc nào cũng muốn dành riêng cho mình cái quyền hành hạ những người đàn bà yêu các anh. Cứ cho rằng chuyện anh Thắng kể cho anh về bà mẹ đúng sự thật đi, em thử hỏi anh có quyền gì kết tội mẹ anh Thắng! Ngay cả anh Thắng, tại sao lại ghê tởm chính mẹ mình…? Các anh biết gì về đàn bà mà dám lên giọng khinh rẻ đàn bà? Các anh thật bất công!”

Tô để mặc Lan nói, cặp mắt dịu dàng đầy hiểu biết của hắn vẫn nhìn em. Lan ngừng bặt, má ửng đỏ, nhưng môi mím lại và không xin lỗi anh. Tô hỏi em:

“Bây giờ đến lượt em chê trách thái độ của bọn anh phải không?”

Lan im lặng.

“Anh không giận em đâu. Anh biết em chỉ thẳng thắn nói những điều em nghĩ. Tuy nhiên, em còn lạ gì anh! Xưa nay, có bao giờ em thấy anh đưa vào những ý niệm luân lý cứng nhắc để phán đoán những đau khổ thực sự sâu đậm của người khác, bất kể là đàn ông hay đàn bà. Đối với anh, khi người ta đau khổ… người ta đau khổ. Tất cả gói tròn chỉ có vậy. Rất đầy đủ, thêm cái gì vào là thừa cái ấy, kể cả luân lý. Người ta có thể e ngại, cố tránh đau khổ, hay gán cho nó nhiều ý nghĩa khác nhau, nhưng, người ta không thể phủ nhận nó…” Giọng Tô đổi sang cứng rắn: “Trong trường hợp me Thắng: Anh công nhận me Thắng yêu con, khổ vì con. Làm sao lòng thương yêu Thắng của me Thắng lại khiến anh kinh tởm, khinh bỉ bà ta cho được? Gác vấn đề đó sang một bên, me Thắng – theo ý anh – rất đáng trách và đáng khinh, không phải hồi ba Thắng còn sống me Thắng đã dan díu phạm tội với một người trẻ hơn chồng mình. Anh không hồ đồ kết tội những người anh biết rất ít. Lỗi tại ba Thắng thờ ơ với vợ, không yêu vợ? Lỗi vì me Thắng lẳng lơ? Ai biết được! Chỉ biết một điều: Anh không thể tha thứ cho một quả phụ lợi dụng danh tiếng và cái tên rất đáng kính của một người đã chết. Lợi dụng một người sống còn khả trợ, vì người sống còn có thể phản ứng lại mạnh mẽ, hay khiếp nhược và bất lực (đó cũng là một thái độ), nhưng trơ trẽn đến độ bám vào tên chồng mình để làm affaires, đi đâu cũng mang tên chồng ra để xin xỏ nhờ vả những người bạn cũ có thế lực của chồng mình.” Tô nhăn mặt, “Là điều anh khinh bỉ nhất trên đời. Người chết không nói được, không thể có thái độ. Hãy để họ yên nghỉ!”

Anh cũng không chối cãi me Thắng còn trẻ đẹp, còn cần phải thoả mãn nhiều đòi hỏi về sinh lý cũng như tình cảm.

Mắt Tô long lanh sáng, giọng cất hơi cao, sắc giận lộ rõ trên nét mặt. Không giống Di, hễ giận là mặt méo mó mắt bốc lửa, giọng hằn học và làm nhiều cử động mạnh, khi giận Tô trái lại kìm giữ những bộc lộ tình cảm đến độ tối thiểu.

“Nếu vậy thì tại sao không lấy ‘chú Sâm’ làm chồng ngay sau khi chồng nằm xuống, có phải giản tiện và minh bạch hơn không? Đổi tên mình đi! Bà ‘quả phụ’ Hừ! Giả dối đến thế là hết. Người đàn bà đã vậy nhưng còn người đàn ông trong câu chuyện này mới càng tệ hơn. Thú thật, anh không hiểu cái anh chàng Sâm là hạng người gì? Hắn mang tiếng đàn ông chỉ làm nhục cho phái đàn ông. Hắn còn trẻ, có địa vị, sao không chịu lấy vợ? Thắng còn cho biết, từ bao năm nay Sâm không hề có cảm tình hay tán tỉnh lăng nhăng với một cô gái nào cùng tuổi. Hắn chỉ sống trung thành với một người đàn bà độc nhất: Vợ ân nhân của hắn. Mối liên hệ giữa cặp tình nhân này thật kỳ khôi!”

Tô ngừng nói, khuôn mặt trở lại đăm chiêu, bí ẩn. Ánh giận dữ trong mắt hắn mất đi đột ngột cũng như khi xuất hiện. Lan bứt rứt ngồi không yên, liếc nhìn khuôn mặt khép kín của anh. Nàng có cảm tưởng anh chưa nói hết lời. Tất cả những gì Tô vừa nói mới chỉ là phần nhập đề. Lan, hai tay xoắn lấy nhau miệng mấp máy:

“Anh Thắng… chắc anh ấy phải khổ lắm…! Làm sao một người như anh ấy sống nổi trong một tình cảnh oái oăm như vậy. Anh Thắng rất yêu và phục ba. Nhưng, tại sao anh Thắng không chịu thổ lộ với em.”

Lan ngoảnh mặt đi, cố dấu những xúc động hiện quá rõ trên khuôn mặt hốc hác.

“Mà tại sao nhất định mang theo lòng oán hận ghê tởm đàn bà, mẹ anh ấy, xuống mồ? Em hoá ra chẳng là cái quái gì?”

Tô nhẹ nhàng:

“Lan đừng vội trách Thắng không chịu tâm sự với em. Như thế, em không hiểu rõ cho lắm về con người thật của Thắng. Anh không tin Thắng khổ sở lâu vì bất cứ ai. Thắng không phải hạng người hay nung nấu, sống với những tình cảm oán hận, cay đắng, làm khổ mình trong những suy tưởng dai dẳng, trừu tượng. Thắng rất giản dị! Đối với hắn, chỉ có hành động. Nhờ hành động, hắn có thể thoát khỏi bất cứ tình trạng nào dù khúc mắc đến đâu. Khi ba hắn bỏ nhà theo Việt Nam Quốc dân đảng lên Vĩnh Yên, tình cờ một buổi tối hắn bắt gặp Sâm và mẹ hắn ôm nhau trong phòng ngủ của ba me hắn, hắn rời ngay gia đình, theo đoàn tự vệ đánh Pháp. Lan cũng đừng vội nhầm tưởng hắn tìm quên trong hành động, trốn tránh thực tại trong hành động! Vì thực ra trong trường hợp hắn, hành động có tác dụng kỳ lạ là bao trùm lên tất cả mọi thứ, làm lu mờ tất cả. Hắn với hành động hoà với nhau làm một! Khi ba hắn chết, Thắng quay trở về với mẹ và sau một trận cãi nhau dữ dội với Sâm và mẹ, Sâm đã bắt buộc phải rời khỏi gia đình hắn. Hắn sống với tình nhân, nhưng khi tình nhân tỏ ra nhiều dấu hiệu muốn lợi dụng, làm tiền hắn, hắn đuổi phăng. Còn tại sao hắn không chịu mang con về sống với mẹ hắn, là vì mẹ hắn vẫn không chịu theo lời hắn đoạn tuyệt hoặc lấy hẳn Sâm, vẫn tiếp tục dan díu vụng trộm với Sâm, lợi dụng tên ba hắn làm affaires. Hắn đã thuê một căn phòng riêng, mượn người trông nom con hắn, không cho một ai hay biết… Và ngay cái hành động cuối cùng của hắn: Chết, cũng đúng là hắn. Có ai bắt buộc hắn trở lại đoàn Quân thứ Lưu động đâu? Hắn về Hà Nội đi nhảy, uống rượu, yêu em, và rồi đùng đùng hắn xếp va li, lùng đoàn Quân thứ Lưu động hàng mấy ngày, qua bao nhiêu làng, mới thấy. Gặp hắn anh hỏi ‘Mày còn đến đây làm gì?’ Hắn đáp cộc lốc ‘Tao nhớ mày, tao trở lại đoàn.’ Anh cũng không tin vì ‘nhớ’ anh, hắn trở lại. Hắn không chịu ngồi yên một chỗ, không hành động thì đúng hơn, bất cứ hành động gì đều tốt hơn kéo dài một tình trạng đều đều…”

Giọng Tô trở nên mơ màng, thoáng khắc khoải:

“Đôi khi, anh thèm muốn được như Thắng. Có lẽ sống chỉ là hành động. Giản dị biết bao. Nhưng thèm muốn mà không thể lựa chọn một lối sống như vậy. Không thể là không thể! Anh có đời sống của anh, cách sống của anh.”

Lan lắc lắc đầu, ánh mắt thoáng say mê.

“Không! Em không tin anh nói đúng! Anh Thắng khác thế! Anh than với anh Thắng, hoạt động bên anh ấy, nhưng em, em yêu anh Thắng! Anh Thắng mà anh biết, không phải người em yêu. Các anh đàn ông thật kỳ khôi, các anh hình như hiểu lầm nhau. Em không ưng anh, gói tròn cả cuộc đời anh Thắng trong có mấy câu. Anh Thắng đâu chỉ biết có hành động, ngoài ra không biết đau khổ, thất vọng, buồn bã, yếu mềm là vì đối với em, anh Thắng gần gũi hơn bao nhiêu. Em không thể thuật lại rõ ràng những điều em cảm thấy, trong những phút sống bên anh Thắng. Trời ơi!”

Lan ngừng lại lúng túng, xúc động.

“Khổ quá, làm sao diễn tả để anh hiểu. Khi nhớ đến anh Thắng, em hình dung rõ trước mắt cặp mắt nóng nảy của anh ấy, thân hình rắn chắc của anh ấy, cặp đôi môi khi bĩu ra dễ thương lạ lùng, bàn tay anh ấy, làn da, giọng nói tiếng cười… Và bây giờ, được anh cho biết thêm về thảm kịch gia đình của anh Thắng, em càng yêu anh ấy hơn. Những giây phút đau khổ dằn vặt anh ấy đã trải qua, chắc đã khiến anh Thắng khóc, điên lên được.”

Tô nhẹ nhàng ngắt lời:

“Thắng mà khóc! Anh không tin.”

“Anh im đi! Các anh lúc nào cũng chỉ muốn tỏ ra mình cứng rắn, trơ trơ. Ừ thì các anh kìm giữ được nước mắt! Nhưng trong thâm tâm các anh vẫn muốn khóc lắm đấy! Thế cũng chẳng khác gì khóc oà lên thành tiếng! Chính anh Thắng hôm rời Hà Nội quay trở về đoàn Quân thứ Lưu động với anh, đã thú thật với em, anh ấy rất đau đớn khi phải xa em. Anh thấy chưa! Đấy, em yêu cái anh Thắng biết đau đớn, biết giận hờn, đôi khi đòi hỏi đến điều, không được cũng biết cáu kỉnh như một đứa trẻ thơ và thật là bướng, thật là ngang tàng độc đoán, chế ngự được em, làm em sợ, run rẩy vì tức, vì yêu”

Bà Hạ lo ngại nhìn con gái. Mắt Lan sáng quá, hơi khác thường. Lời lẽ mê mải quá bạo dạn đối với tâm tính Lan khiến bà ngại Lan vừa bình phục xong không nhẽ một lần nữa, lại rơi vào tình trạng mê hoảng, kích thích quá độ. Bà nắm lấy bàn tay run run của Lan, miệng dỗ dành:

“Lan con! Con đừng nói nhiều, không tốt. Con hãy đi nằm nghỉ.”

Tô khuôn mặt đăm chiêu lẩm bẩm:

“Có lẽ Lan nói đúng! Anh có cái tật tệ hại là hay tìm cách xếp hạng mọi người, mọi sự. Không chừng anh biết rất ít về Thắng.”

Một tư tưởng thoáng qua trí óc Tô: “Có lẽ mình không bao giờ quên nổi chính mình, muốn soi thấu tâm hồn người khác, người ta phải hy sinh phần nào bản ngã của mình?”

Nhưng, Lan đâu còn nghe anh, dựa đầu vào vai mẹ, mắt nhắm lại, khuôn mặt xanh lướt. Bà Hạ dìu Lan lại đi văng, đỡ Lan nằm xuống, đắp chăn lên người con.

Quay về chỗ ngồi cạnh con trai, bà ngẫm nghĩ đoạn hỏi:

“Tô à! Ai cho me Thắng biết Thắng có con? Theo con, Thắng giấu mẹ kia mà?”

Tô lơ đãng đáp:

“Tình nhân của Thắng! Đọc tin Thắng chết trong báo cô ta tìm đến me Thắng định xoay ít tiền, viện cớ để nuôi con. Dĩ nhiên, em Thắng mừng rỡ hết sức và sẵn lòng đổi bao nhiêu tiền cũng được, miễn lấy lại được mấy đứa cháu. Nhưng khi nghe me Thắng đòi mang các cháu về nuôi, cô ta lúng túng, không biết cả chỗ ở của con mình. Hiện giờ con Thắng sống với bà nội.”

“Còn cô tình nhân của Thắng?”

Tô nhún vai không đáp. Câu chuyện chấm dứt ở đấy.

Mấy hôm sau vào buổi chiều Lan đến thăm me Thắng, đón hai đứa con Thắng về nhà. Cả hai đứa trẻ, nhất là đứa con trai cứ quấn lấy “cô Lan” không rời nửa bước. Đứa con trai giống bố như lột, cũng cặp mắt lim dim dưới hàng lông mày dậm, vừng trán nhô ra bướng bỉnh, mái tóc đen mượt, chân tay hơi gầy nóng nảy luôn luôn cử động không chịu để yên. Hễ giận dỗi, nó dậm chân xuống đất nghe bành bạch và la hét vỡ nhà cửa. Đứa con gái tròn trĩnh như hòn bột, khuôn mặt phảng phất vài nét hơi nặng nề, chắc thừa hưởng của người mẹ thuộc một giai cấp hơi thấp kém; tuy nhiên đôi môi chum chúm đỏ chót cặp mắt một mí đen láy, chiếc mũi nhỏ hơi hếch ngộ nghĩnh khiến nó có một vẻ đẹp sắc sảo, hơi thiếu phần thông mình thanh tú, nhưng bù lại rất lôi cuốn.

Lan thiên vị đứa con trai ra mặt. Lan trêu chọc nó, làm bó hét lên vung tay đập vào người Lan bồm bộp, để rồi lại ôm nó thật chặt nâng niu. Tô trái lại chỉ lưu ý đến đứa con gái, bế nó, hôn không chán cặp má phính, đặt nó ngồi vắt vẻo trên vai hay dắt nó tung tăng dạo chơi dọc theo hè phố.

Ngắm hai đứa trẻ dễ thương, lòng ông Hạ cũng nao nao.

Giá Tô đi lấy vợ đẻ con, ông sẽ có mấy đứa cháu quấn quít bên mình. Đối với một người đàn ông, khi con cái đã trưởng thành, tự nhiên phần nào chúng không còn là con mình nữa. Hiện nay, cha con ông chỉ là những người lớn chống đối nhau, khinh ghét hoặc khâm phục nhau, những sự ràng buộc ruột thịt đã hầu mất hẳn! Những kỷ niệm cũ mờ mịt không còn có thể gây cho ông những xúc động êm dịu thành thật.

À! Nếu các con ông mang lại cho ông vài đứa cháu, không chừng cuộc sống gia đình sẽ dễ thở, thoải mái hơn.

Ông hỏi Lan, đang ngồi trên mặt đất, nhìn đăm đăm mặt đứa con trai, như cố tìm vài nét hay dáng quen thuộc của người yêu:

“Bao giờ bà chúng lại đón?”

Lan ôm ghì đứa trẻ vào ngực, miễn cưỡng đáp:

“Đến tối ba ạ! Con muốn giữ chúng ở lại đây mãi mãi.”

Ông Hạ vuốt làn tóc mượt đứa con trai, bàn tay ngập ngừng. Có lẽ ông nên vuốt sang cả làn tóc dài của con gái ông, ngay trong tầm tay. Giọng ông dịu dàng:

“Đâu có được! Bà chúng chỉ còn có chúng ở trên đời. Đời nào bà chịu rời bỏ. Con đừng nghĩ ngợi, mong ước vẩn vơ làm chi.”

Lan bật nói:

“Anh Thắng không bao giờ ưng con anh ấy sống với bà và cái anh chàng S… Anh Thắng có lý!”

“Nhưng Thắng chết rồi!”

Khuôn mặt Lan sa sầm, Lan ôm đứa trẻ đứng phắt dậy.

“Vâng, anh Thắng chết rồi. Nhưng con tin chắc nếu còn sống, không ai có thể khiến anh ấy đổi ý.”

Tuy không muốn, giọng ông Hạ tự nhiên vẫn thoáng nghiêm khắc:

“Lan! Con nhớ rằng đối với gia đình Thắng, con chỉ là một người xa lạ! Dù con muốn, con cũng không thể làm gì hơn được!”

Hàng lông mi cong dài của Lan cụp xuống. Lan không trả lời bố, lẳng lặng bế đứa trẻ ra ngoài hiên.

Bà Nam – me Thắng – đến đón các cháu vào khoảng 8 giờ tối. Bà vào nhà cùng với một ả sẫm chắc mới mướn để trông nom hai đứa trẻ. Không thấy anh chàng Sâm.

Chỉ nghe lời Tô thuật về me Thắng, ông Hạ đã tưởng nếu gặp bà, ông không tránh được khinh ghét. Nhưng sự thật xảy ra trái hẳn lại; sau vài câu chuyện xã giao, ông khám phá ra một sự kiện khá ngạc nhiên. Riêng cá nhân ông, quả ông khó ghét được me Thắng.

Đó là một người đàn bà hiếm khi ông gặp trong xã hội. Bà Nam khéo đủ mọi đường. Ăn mặc khéo, nền nếp và sang trọng; ăn nói khéo mềm mỏng lịch thiệp, đi đứng khéo, nhẹ nhàng khoan thai.

Mới gặp lần đầu, bà Nam đã chinh phục ngay được cảm tình của vợ chồng ông Hạ.

Ông kín đáo quan sát bà Ban khi bà trò chuyện về những kinh nghiệm nuôi trẻ với vợ. Ông thắc mắc tự hỏi, “Có phải chính người đàn bà ngồi kia đã phạm tội ngoại tình? Thật khó tin!” Nếu không được vợ ông kể lại câu chuyện mâu thuẫn của bà Nam, làm ông dám nghi ngờ một người đàn bà bề ngoài đoan trang như vậy.

Me Thắng cũng nhắc lại mấy kỷ niệm về Thắng hồi nhỏ và khóc ngay được, cũng rất khéo. Cũng hơi lạ, Thắng được mẹ nuông chiều đến thế – mùa hè chạy ra đường chơi luôn luôn có người nhà theo bén gót để quạt và lau mồ hôi – tại sao lớn lên hắn lại tỏ ra quá cứng rắn đối với mẹ?

Khi bà Nam từ biệt ra về, ông bà Hạ tiễn ra tận ngoài cửa? Tô bế đứa con gái Thắng trên tay, me Thắng ôm đứa con trai, Lan khuôn mặt lãnh đạm chỉ hơi gật đầu chào bà ta, không nói một lời.

“Chú Sâm”vội xuống xe, mở cửa hàng ghế trước để me Thắng bước lên. Sâm người dong dỏng cao, khuôn mặt thông minh, trán cao, mũi thẳng, cặp mắt lạnh lẽo lấp lánh sau cặp kính cận. Cách phục sức của Sâm hơi khắc khổ, toàn những màu xẫm. Nhìn hắn, không hiểu sao người ta liên tưởng đến một thầy tu vừa bỏ đạo, quay về với đời sống trần tục.

Sâm giúp me Thắng lên xe, đóng cửa, vòng sang phía biên kia trèo lên xe ngồi vào trước tay lái, cử chỉ điềm đạm thận trọng. Hắn không chào bất cứ ai trong gia đình ông Hạ và hình như chỉ quan tâm đến sự có mặt của mỗi bà Nam.

Bà Nam trao đứa trẻ cho ả Sẩm ngồi ở hàng ghế sau, vén áo ngồi dịch lại gần Sâm và hơi nghiêng đầu nói khẽ với Sâm một câu. Đầu hai người sát vào nhau. Cử chỉ rất tự nhiên đó hơi quá thân mật – không lọt khỏi những cặp mắt quan sát soi mói của Lan và Tô.

Chẳng biết Sâm trả lời ra sao, mẹ Thắng vội quay người về phía sau và vì trong xe tối nên mọi người không thể theo rõi những biến chuyển trên vẻ mặt của người đàn bà ấy. Mãi đến khi bà ta ló đầu ra ngoài cửa xe, giơ bàn tay vẫy chào, mọi người mới thoáng nhận thấy một vẻ ngượng ngập và thiếu tự nhiên trong câu nói tha thiết một cách quá đáng, nên thành giả tạo của bà Nam:

“Xin kính chào ông bà! Hôm nào rảnh mời ông bà lại thăm chúng, lại thăm tôi và các cháu.”

Chiếc xe của bà Nam đã khuất ở đầu phố. Tiếng Lan từ trong hiên vẳng ra nhẹ nhàng nhưng cay độc:

“’Lại thăm chúng tôi và các cháu’. Thật khéo nói!”

Tô mỉm cười trước nhận xét sắc mắc của cô em gái. Hắn giơ tay lên xoa xoa chiếc cằm, nói một mình:

“Chà! Thói quen tai hại thật!”

Tô nhẹ nhàng mở cửa. Chìm trong khoảnh tranh tối tranh sánh, căn phòng đã vắng lại vắng thêm. Lan chắc đi học chưa về. Ông bà Hạ đi thăm một người trong họ từ hồi chiều. Tô bỏ chiếc chìa khoá vào túi, đến cạnh chiếc ghế bành cũ độc nhất trong nhà, lặng lẽ ngồi xuống, ôm đầu nghĩ ngợi.

Ngồi được một lúc khá lâu, Tô chợt ngửng đầu. Hình thù trắng nhạt của một người đàn bà xuất hiện từ lúc nào trong khung cửa thông xuống nhà dưới. Tô lên tiếng, giọng hơi khô.

“Ai đấy…?”

“…”

“Lan phải không? Em về từ bao giờ vậy? Sao không thắp đèn lên?”

Lan lại gần anh, dáng điệu hơi cứng, Tô giương mắt, cố phân biệt những nét trên khuôn mặt mờ ảo của em gái.

“Lan! Em vừa khóc đấy à?”

Lan ghé ngồi xuống phản, người hơi nghiêng về phía trước. Lan gật gật đầu.

“Em đã nghĩ đến Thắng? Chắc vậy?”

Lan ngồi thẳng hẳn dậy, cặp môi nhỏ ngậm chặt một lọn tóc đen. Sáu phút im lặng, Tô lại nói, giọng hơi lạc đi.

“Lan à! Em có muốn biết trong những giây phút cuối cùng Thắng có nói gì không? Nhắc đến tên em chẳng hạn?”

Lan thở dài nhẹ, thu hai đầu gối vào ngực, cằm tì lên hai bàn tay, giọng yếu ớt trong hơi thở:

“Vâng, anh cứ nói đi! Đằng nào cũng một lần em phải nghe anh cho đến hết.”

Mấy thớ thịt nhỏ bên cạnh môi Tô rung nhẹ. Cặp mắt hơi khép lại. Hắn ngập ngừng:

“Nhưng, trước hết anh muốn hỏi em một điều. Tình yêu của em có giảm bớt phần nào, sau khi Thắng chết hay không? Hay em càng yêu hắn hơn?”

Lan đưa hai tay lên áp chặt lấy má, bắt đầu nói, những âm thanh chập chững?

“Vâng! Trong những ngày gần đây, em cũng đã nhiều lần băn khoăn tự hỏi như vậy. Nhưng, càng băn khoăn, em càng cảm thấy ngây ngất. Tất cả quay lộn như trong cơn bão lốc. Đúng thế, bão lốc. Em chỉ biết, hình như trong em một cái gì vừa đứt đoạn không thể chắp nối lại được, và cũng chẳng biết đầu mối ở đâu. Sau cái phút anh báo tin anh Thắng chết, người em rã rời từng mảnh. Không còn gì là quan trọng nữa. Bây giờ, anh có kể lể tỉ mỉ, ngày này qua ngày khác, về những giây phút hấp hối ghê khiếp của Thắng, em chắc sẽ cảm thấy đau đớn, những đau đớn vô vọng, không vì một cái gì cả.”

Tô chậm rãi:

“Em nói phải. Chỉ còn sự đau khổ của em!”

Lan cười khan một tiếng:

“Anh muốn em làm gì với sự đau khổ của em? Để đẩy em đến chỗ tự tử chết theo anh Thắng hay sao?”

Tô hơi rùng mình.

“Thật Lan có ý định…?”

Nước mắt trào ra hai bên khoé mắt Lan, nhưng trước sự lo ngại của anh, Lan vội tiếp:

“Không! Em chỉ nói vậy thôi. Em đâu có bán được sự đau khổ của em để lấy tiền giúp me, giúp các anh, phải không anh!”

Tô mỉm cười, một ánh khâm phục thoáng hiện trong cặp mắt. Tô dịu dàng nhìn em.

Hai anh em yên lặng một chút, đoạn Lan hỏi:

“Em thấy anh có vẻ buồn. Cũng vì anh Thắng hay sao?”

Tô khoanh hai tay trước ngực, đẩy ghế ngả về phía sau, người đu đưa, mắt đăm đăm nhìn vào một điểm vô hình trong không gian.

Lan cúi đầu giọng thì thầm:

“Anh nói đi! Thà nghe anh nói đến anh Thắng còn hơn. Để mặc em nghĩ ngợi miên man, em điên lên mất.”

Tô ngừng đạp chân, người cứng nhắc. Hắn hình như không nghe Lan. Cặp mắt Tô thoáng một vẻ nửa sợ hãi, nửa thách thức khó tả. Với cặp mắt đó, Tô đang chú mục vào một cái gì chỉ riêng hắn thấy và chỉ khiến chính hắn sợ hãi mà thôi. Tiếng hắn như phát ra ở ngực.

“Em yêu Thắng. Thắng chết! Em mang sự đau đớn của em ở đây, trong tim. Anh ưa cái lối đau khổ của em, của đàn bà. Đau bằng tim, bằng da thịt, tình cảm.”

Em đau, vì khi hồi tưởng lại những kỷ niệm say sưa, em hối tiếc tuyệt vọng. Nhưng, không hề tìm hiểu ý nghĩa cái chết của tất cả mọi người và cả chính em. Nghĩ, suy luận về cái chết hoàn toàn xa lạ đối với em. Phải vậy không?”

Đôi mắt xếch của Lan hơi cau lại. Lan cố gắng tập trung tư tưởng, theo dõi những câu trừu tượng của anh.

“Cái chết của Thắng gây cho em cảm tưởng ‘một cái gì đứt đoạn’, nhưng đối với anh – thật kỳ khôi và bất ngờ – Thắng chết lại đánh thức những ám ảnh ray rứt, ngủ say trong anh từ bao năm nay. Hồi anh 17, 18, yêu đời, lý tưởng, hăm hở muốn cắn vào đời sống, ôm đời sống trong vòng tay tham lam, anh cũng đã nhiều phen băn khoăn nghĩ ngợi cho đến rục đầu choáng váng về cái chết của anh. Chết là thế nào, kết liễu tất cả? Không còn được nghĩ, được lo lắng, e sợ, ham muốn? Anh muốn kêu lên. Anh muốn kêu lên. Em còn nhớ dạo ấy, cái bà già ở cùng với nàng dâu, cạnh nhà mình? Bà ta chửi mắng, rỉa róc con dâu suốt ngày, nhưng đến thời kỳ nằm hấp hối một mình, không còn sức chửi mắng, bà ta nằm ngửa, mắt nhắm và nghiến răng ken két suốt mấy ngày mấy đêm. Cả khu phố sợ tiếng nghiến răng của bà ta. Con dâu bế con sang hàng xóm ngủ nhờ, không dám nằm cùng phòng với mẹ. Anh, có lần đi qua cửa nhà bà ta, đã đứng lại lắng nghe tiếng nghiến răng, anh vẫn tiếp tục nghe thấy những âm thanh quái ác đó, mãi mãi về sau, trong anh…”

Tô mỉm cười buồn, hỏi Lan:

“Có lẽ anh đã nghĩ đến cái chết sớm quá đối với tuổi đó chăng? Tuy nhiên, lớn thêm vài tuổi nữa, cuộc đời quyến rũ đã mạnh hơn, làm mờ nhạt những ám ảnh cũ, cuộc đời rõ nét, và không luẩn quất hình bóng cái chết! Trong những năm gần đây, anh đã tưởng ám ảnh đó không ‘có’ nữa, biến mắt không dấu vết. Anh còn mãi bận bịu về những vấn đề sống, hành động, yêu ghét, gần gũi hơn, cấp bách hơn. Cho đến đêm, ôm thân hình quằn quại, đẫm máu của Thắng trong tay, tất cả những ám ảnh cũ ùa đến, không làm sao ngăn nổi. Anh nhìn Thắng nhăn nhó, chống cự với cái chết. Hắn cố mỉm cười, hổn hển nói ‘Merde! Tao đen quá, phải không mày!’ Với bàn tay anh, anh đã sờ thấy, theo rõi cái chết lấn dần, lấn dần. Chân lạnh, rồi đùi, rồi bụng. Thắng nhắm mắt một lúc lâu, anh tưởng hắn ngất đi. Bất chợt, hắn mở mắt nhìn thẳng vào mặt anh. Không bao giờ anh quên nổi tia mắt Thắng, vào giây phút ấy. Thắng không dối dăng một câu, chỉ nhìn anh. Chỉ một người sắp chết nhìn một người đang sống, ánh mắt mới như vậy! Và anh, anh cũng không nói một câu. Không phải cổ họng anh tắc nghẹn mà vì đúng như em nói hôm nào, dù nói gì chăng nữa cũng vô ích. Tất cả đều vô ích! Dù anh muốn phản đối, điên lên, dù em có mặt cạnh Thắng với tất cả lòng say mê cuồng nhiệt của em, không ai ngăn nổi Thắng chết! Tuy vậy, suốt trong khoảng thời gian quen biết, sống cạnh nhau, chưa lúc nào anh cảm thấy gần gũi Thắng như trong những giây phút cuối cùng đó của Thắng. Hai người lặng lẽ nhìn nhau. Cũng cái chết trói buộc một kẻ hấp hối và một kẻ còn sống, nhưng cũng cái chết ngăn cách muôn trùng. Thật mâu thuẫn và phi lý phải không em? Nhưng mọi sự phải như vậy. Mặc dầu tất cả, người ta vẫn phải chết cái chết của riêng mình.”

Lan rùng mình, ngập ngừng:

“Anh đã… Anh đã cảm thấy sợ?”

Trán Tô nhăn lại.

“Anh không nghĩ là chỉ có sự sợ hãi không thôi, tệ hại hơn thế trăm lần: Anh còn cảm thấy cô độc, chơ vơ. Không còn gì có nữa đối với anh, ngoại trừ mình anh và cái chết.”

Lan lắc lắc cái đầu. Tô ngừng nói, nhìn em.

“Em không giống anh! Em cũng đã cảm thấy sợ hãi, trước cái chết của anh Thắng, nhưng em không cô độc. Còn các anh, me, mọi người chung quanh em, mà em yêu. Thú thật, em cũng có lần nghĩ đến chuyện tự tử. Nghĩ suông vậy thôi. Bây giờ em thấy em khó lòng có đủ can đảm hủy hoại thân mình, dù em muốn lắm đi chăng nữa.”

Tô không tiếp lời em gái. Hai người ngồi yên lặng trong bóng tối khá lâu. Đoạn Lan đứng dậy, vào nhà trong, thắp chiếc đèn Hoa Kỳ, mang đặt lên chiếc bàn giữa phòng ngoài.

Lan nhìn khuôn mặt khắc khổ của anh, giọng êm dịu:

“Anh Tô à!”

Tô ngước mắt lên.

“Anh không hiểu…”

“Tại sao anh cứ sống một mình với anh nhiều như thế? Không tốt đâu.”

“Cám ơn lời nhắc nhở của em!”

Lan không lưu ý đến ý nghĩa chua chát trong câu nói của Tô, tiếp luôn, giọng nồng nhiệt:

“Không hiểu sao em lại có cảm tưởng anh không giống một ai trong gia đình. Anh không giống me, em; anh cũng không giống anh Di. Anh…”

Tô mỉm một nụ cười khó hiểu. Miệng cười nhưng ánh mắt xa cách.

“Em nói thật câu này, anh đừng cười…”

“Em nói đi! Úp mở hoài.”

“Em muốn nói, anh Di mặc dầu say mê dữ dội như vậy, nhưng anh Di… không! Me và em vẫn cảm thấy gần gũi anh Di hơn anh.”

“Tại sao em không nói thẳng ra là em và me yêu Di hơn anh.”

Khuôn mặt đẹp của Lan thoáng lộ vẻ bất mãn. Lan khoa tay làm một cử chỉ nóng nảy, giọng trách móc:

“Anh ác lắm! Chỉ thích bắt nọn và dồn người ta vào chỗ bí. Em cảm thấy gần gũi anh Di không thể có nghĩa là em yêu anh Di hơn anh!”

“Em bào chữa khá đấy!”

Lan mắt long lanh sáng, lặng lẽ nhìn anh một giây, đoạn tự nhiên nghiêng người về phía anh, đặt nhẹ một bàn tay trắng xanh lên bàn tay ngón dài dám nắng của Tô. Tô mỉm cười, nắm ngón tay út của Lan giơ lên, nghịch ngợm:

“Này cô bé! Cái gì cậy?”

Lan rút tay về, nói nho nhỏ.

“Em biết mà! Anh có bao giờ cần đến ai đâu.”

Khuôn mặt Tô thoáng vẻ sững sờ. Hắn nói như một cái máy:

“Thật thế ư em?”

Lan gật đầu khe khẽ, giọng đầy tin tưởng:

“Vâng! Từ xưa đến nay, anh vẫn sống không cần đến một ai.”

“Căn cứ vào đâu mà em lại có ý nghĩa kỳ khôi vậy? Anh tưởng anh cũng yêu mọi người trong gia đình không kém bất cứ ai. Có lẽ nhìn bên ngoài, anh có vẻ lạnh lẽo hơi cứng rắn nhưng anh thừa biết cũng nhiều tình cảm và dễ xúc động. Đâu đến nỗi tệ!”

“Anh yêu mọi người, nhưng anh vẫn không cần đến mọi người. Em không có tài lý luận như anh và anh Di, em chỉ biết nói những điều em cảm thấy. Anh thường chẳng vẫn khuyên em phải thành thật là gì.”

Tô ngẫm nghĩ. Lan chớp mắt nhẹ, hai bàn tay nóng nảy.

“Thôi! Chúng mình nói chuyện khác đi anh. Em biết là đã nêu vấn đề này ra…”

Tô thẳng thắn:

“Em làm thế là phải! Nhận xét của em đúng đấy chứ.”

Ánh sợ hãi thoáng qua cặp mắt to đen của Lan.

“Vì, vì em biết em đúng nên em càng cảm thấy có lỗi. Em không nên…”

“Em muốn hỏi anh, anh có quan niệm sống là phải cảm thấy mình cần đến mọi người, và mọi người cũng cần đến mình hay không?”

Tô đáp ngay:

“Đến một giới hạn nào thôi!”

Lan chắp hai tay vào nhau.

“Đấy! Anh khác em và mọi người ở chỗ ấy! Riêng em, em không thể nghĩ ra được một cách sống nào khác là cần đến mọi người và mọi người cần đến em. Em sẽ khổ sở đến chết được, nếu không một ai trên đời.”

Giọng Lan nghẹn ngào, Lan ngừng lại.

“Em không thể quên câu chuyện giữa anh Di và em hôm nào. Anh ấy đã bảo em: ‘Em không hiểu cảm thấy mình lệ thuộc vào những người mình yêu nó kinh tởm đến mức nào’. Em thấy anh Di thật tội nghiệp. Anh Di khổ sở vì yêu mọi người quá đáng. Mặc dầu ngoài miệng anh ấy oán trách mọi người không yêu trả anh ấy mãnh liệt, và khinh bỉ chửi rủa sự yếu mềm đa cảm của chính mình. Nhưng, em không giận anh Di chút nào, vì em biết anh Di luôn cần đến mọi người. Em sợ cho anh Di!”

Giọng Tô thoáng chế giễu:

“Em thương và sợ cho Di, nhưng anh sợ thay cho những kẻ chẳng may yêu phải thằng Di.”

“Anh hơi quá lời đấy! Trong chuyện anh Di và Thủy, em thấy chỉ anh Di là thiệt thòi.”

“Anh không nghĩ vậy! Thủy đuổi Di ra cửa, không cho Di tất cả là phải lắm. Vì cho Di, để rồi được cái quái gì? Di nằm trong tù, mơ tưởng, ham muốn một người đàn bà, vừa được tự do hắn yêu luôn người con gái đầu tiên hắn gặp là vì hắn tưởng hắn sẽ tìm thấy tình yêu tuyệt đối ở một người đàn bà. Ảo tưởng! Dù chiếm được Thủy, hắn cũng sẽ chán Thủy rất chóng! Rồi đây em xem…! Thực ra, Di chỉ khoái sự say sưa hắn tìm thấy trong tình yêu. Hắn không yêu Thủy, và hắn cũng không thể yêu bất cứ người đàn bà nào.”

Lan thốt lên, nghẹn ngào:

“Kể ra anh Di và anh Thắng giống nhau à?”

“Không đúng lắm! Di tìm tuyệt đối trong tình yêu, mọi sự, không được hắn khổ sở, nổi loạn, oán hận. Còn Thắng, hắn giản dị nhiều hơn. Hắn chẳng có chú ý tìm cái quái gì hết! Vì thế Thắng không khổ sở như Di. Hơn nữa Thắng với anh, chơi với nhau ngang tàng.”

‘Sống cạnh anh nhưng không bao giờ Thắng tỏ vẻ cần đến những lời khuyên của anh. Thắng cũng không hề dập hành động, suy tưởng, coi anh như một người mẫu, và hắn cũng không cần anh phải công nhận hắn sống thế này là phải là hay, như Di. Còn Di, tại sao nó cần đến anh mới được chứ! Đàn bà cần đến anh, em và me chẳng hạn, còn được đi. Nhưng đàn ông mà bám víu vào anh, anh không chịu nổi. Nhất là Di!’

Lan ngạc nhiên, ánh mắt thắc mắc.

“Anh biết anh Di cần đến anh mà anh lại cứng rắn như vậy với anh Di. Em không hiểu…”

Tô dằn giọng.

“Dĩ nhiên anh vẫn biết. Nhưng mặc xác nó! Đã đến lúc Di phải sống cho ra một người đàn ông. Anh rũ bỏ hoàn toàn mọi trách nhiệm về hắn.”

Lan nhìn anh. Tô nhìn lại em trong một giây đoạn đưa tay lên bóp trán.

“Anh biết em nghi ngờ câu nói cả quyết của anh.” Tô thở dài nhẹ, “Không dễ mấy lúc rũ bỏ nổi trách nhiệm về một người nào. Em cũng như nhiều người cho rằng rũ bỏ trách nhiệm là hèn nhát. Tuy nhiên, đôi khi rũ bỏ một trách nhiệm còn khiến anh đau đớn hơn chấp nhận nó. Nhất là, anh lại tự biết – nếu anh muốn – anh sẽ có thể làm trách nhiệm đó không đến nỗi dở.”

Lan nhìn anh, làm như lần đầu tiên Lan gặp anh. Tô đứng dậy, chậm dãi lại gần cửa sổ tì khuỷu tay lên thành cửa, nhìn vu vơ ra ngoài trời đêm. Một lúc sau, Tô quay lại, tay nghịch với một chiếc lá khô vàng. Khuôn mặt xương xương của Tô, lẫn lộn bóng tối ánh sáng và những nét đầy sắc của đường mũi, gò má nổi bật lên. Tô nói với em giọng trầm trầm.

“Nhờ buổi nói chuyện với em, anh mới khám phá ra một điều anh không ngờ tới, hay không lưu ý tới, ở anh: Anh yêu mọi người nhưng, theo một lối riêng biệt của anh. Hình như, vì cái hình thức yêu của anh kỳ khôi sao ấy, nên anh có cảm tưởng anh càng yêu mọi người anh càng làm mọi người oán anh hơn, Di chẳng hạn! Và cả em nữa.”

Lan lắc lắc đầu. Giọng Tô thoáng bí ẩn.

“Em cứ tin anh đi. Anh có tài làm những người anh yêu quay lại oán anh mà!”

“Em ghét anh khi anh cứ cố ý nói những lời cay đắng và cứ làm ra bộ mình tiên tri được hết mọi sự.”

Tô cười khẽ. Câu chuyện giữa Tô Lan chấm dứt ở đấy.

Khoảng một tuần sau ngày bà Nam đến thăm, buổi chiều đi làm về, ông Hạ lên tiếng gọi, khi thấy nhà cửa vắng lạnh.

“Mình có dưới nhà không đấy? Chúng nó đi đâu cả rồi?”

Câu trả lời của bà Hạ vẳng lên:

“Tô đến thăm anh Bằng. Chắc nó cũng sắp về.”

Ông lắng tai. Bà Hạ không nhắc đến Lan. Ông cau mặt khô khan:

“Còn Lan?”

“Hồi chiều anh Vĩ có lại chơi, chắc Lan đi nhờ xe ra phố mua hộ tôi mấy thứ lặt vặt.”

Ông kéo mạnh một chiếc ghế, giọng gắt gỏng:

“Bà để mọi thứ đấy! Lên đây ngay tôi hỏi cái này.”

Bà Hạ lên nhà trên. Bà không nhìn ông, khuôn mặt thoáng đăm chiêu.

“Tại sao tôi đã căn dặn nhiều lần, bà vẫn cứ để Lan đi chơi với Vĩ là nghĩa thế nào? Vĩ có vợ, vợ hắn lại không phải tay vừa. Hừ! Còn cái con Lan, người tình vừa chết bất đắc kỳ tử đã lại cặp kè ngay với thằng khác. Được! Tôi sẽ ‘chỉnh’ cho ‘ông luật sư’ một trận.”

Bà Hạ nhìn ông mà hình như không nhìn thấy ông, môi mấp máy, ngập ngừng. Ông giục:

“Bà biết gì, nói ra đi!”

“Ông, ông có thấy dạo này Lan làm sao ấy không?”

“Làm sao? Nó khoẻ hẳn rồi mà!”

Đầu bà Hạ lắc nhè nhẹ.

“Vẫn biết Lan khỏi rồi, đêm ngủ không mê, nhưng nó hình như chẳng lưu tâm đến làm ăn, học hành. Nó lầm lầm lì lì, tôi có gợi chuyện nói vùng vằng, đôi khi gắt cả với tôi. Ông có để ý đến lối cười của nó không?”

Ông gạt đi:

“Bà chỉ lẩn thẩn! Tôi thấy nó vẫn vậy!”

Ông Hạ ngẫm nghĩ. Ông thầm đồng ý với nhận xét của vợ. Lan đã bắt đầu cười trở lại, tuy nhiên lối cười gay gắt, vụt vẳng lên để rồi tắt đi bất chợt, khác hẳn trước, như chọc vào tai ông, khiến ông khó chịu, bực bội, Lan cười như thách thức mọi người chung quanh. Cử chỉ bộ điệu nóng nẩy bứt dứt, ngồi chưa ấm chỗ đã đứng dậy, cầm cuốn sách lật vài ba trang đã quay đi.

Lan không nhắc đến Di. Lan quên có người anh là Di, bỏ nhà đi biệt? Lan lại hay đi chơi riêng với Vĩ, những buổi chiều đi học về sớm và ông đi làm chưa về. Ông Hạ nghi ngờ dám Lan gây áp lực, đòi Vĩ chiều theo ý muốn của Lan.

Đột nhiên ông bật nói:

“Đã đến lúc lo gả chồng cho Lan thì vừa. Lấy chồng là hết rắc rối. “

Bà Hạ bất mãn:

“Gả chồng? Đâu có được. Thắng chết đã làm Lan suýt điên dại, ông không thấy hay sao?”

Ông mỉa mai:

“Khối đứa con gái điên thật ra đấy mà gả chồng còn khỏi nữa là.”

Người bà Hạ cứng đờ, hai bàn tay lóng ngóng chùi vào chiếc khăn quàng ngang người, liếc nhìn ông rất nhanh. Ông có cảm tưởng bà e ngại ông. Ông nói tiếp và tuy không cố ý, giọng vẫn dịu lại, như muốn bào chữa biện minh.

“Đấy là tôi bàn với bà thôi, chứ chuyện gả chồng cho Lan đâu dễ thực hiện ngay được.”

Bà Hạ cúi nhìn xuống đất, giọng âm thầm, oán trách.

“Nhưng… Tại sao ông lại nghĩ đến chuyện đó vào lúc này? Ông không yêu con cái hay sao?”

Cơn giận bừng lên trong tâm hồn ông Hạ.

“Bà, bà thật quá quắt! Hễ tôi đả động đến các con bà là bà bênh chầm chập.”

Bà Hạ ngẩng đầu nhìn ra phía cửa. Có tiếng xe hơi đỗ, cửa mở và Lan bước vào nhà, tay cầm một bọc hàng gói giấy xanh đỏ. Lan mặc một chiếc áo dài mới, hàng đắt tiền mà ông bà Hạ trông thấy lần đầu. Khuôn mặt đẹp đẽ hơi xanh xao của Lan thoáng mệt mỏi. Lan nhìn qua khuôn mặt cau có của bố và khuôn mặt lo ngại của mẹ, Lan hơi mỉm cười.

Ông Hạ hất hàm, gay gắt:

“Đi đâu bây giờ mới về? Vĩ đâu? Sao hắn không vào?”

Trước câu căn vặn của bố, Lan ngước đầu nhìn ông một giây. Lan trả lời, giọng bình thản.

“Anh Vĩ trở lại văn phòng lo một vụ kiện dở dang. Ba cần gặp anh ấy à?”

Lan trao gói đồ cho mẹ.

“Me mở ra đi! Anh Tô chưa về hở me?”

Bà Hạ đỡ lấy, nhìn chồng, ngần ngại.

“Cái gì đây hở Lan?”

Ông Hạ tiến lại gần vợ và Lan, giơ thẳng tay ra, dằn giọng:

“Đưa gói ấy cho tôi!”

Bà Hạ nhìn Lan. Lan giọng mệt mỏi, dịu dàng.

“Me cứ đưa cho ba đi! Chỉ có mấy hàng áo của me và con.”

Ông Hạ xé mạnh lần giấy bọc ngoài. Ông nhìn chăm chăm mấy hàng áo len đắt tiền, cổ họng nghẹn ngào. Một giọng nói cay đắng vẳng lên trong tâm hồn, “Con gái ông nhận quà biết đắt tiền của người đàn ông. Nó đã mất hết tư cách! Thật nhục nhã! Không chừng nó đã nhận tiền là khác. Làm tiền. Con gái ông làm tiền.” Hàm răng ông thít lại, hai bàn tay nắm chặt lấy chất len mềm mại. Ông muốn xé nát, vứt xuống đất, gí chân lên.

Ông quắc mắt, giọng hằn học, đe doạ, khinh bỉ.

“Tao còn sống đây mà mày dám làm thế à? Thật như chửi vào mặt tao!”

Bà Hạ bất giác bước lại gần Lan, như muốn che chở bênh vực. Lan mặt hơi tái, cặp mắt mở rộng nhìn khuôn mặt bố, bàn tay bố nắm chặt mấy hàng áo. Ánh mắt Lan kinh hãi, xa lạ.

Một cảm giác tuyệt vọng, giận dỗi, ghê tởm đến buồn nôn xâm chiếm lấy ông Hạ. A không! Ông sẽ không đánh Lan, cô con gái rượu mà ông đã yêu chiều.

Tuy nhiên ông Hạ vẫn làm một cử chỉ hơi trẻ con. Ông ném mạnh mấy hàng áo vào người vợ và Lan.

“Đem trả ngay mấy hàng áo khốn nạn này! Và cởi ngay cái áo mày đang mặc kia ra! Bẩn mắt lắm! Xấu hổ lắm!”

Hai gò má Lan ửng đỏ, mắt long lanh sáng, môi mím lại. Chiếc đầu nhỏ hơi ngửa về phía sau, cầm hất lên, ngực phập phồng; Lan nhìn bố lặng lẽ không chớp mắt.

Ông Hạ giận dữ quay đầu sang phía khác, tránh tia mắt Lan. Ông kéo một chiếc ghế ngồi phịch xuống. Ông nửa muốn cắt ngang mọi sự ở đây, nửa muốn tiếp tục đi xa hơn, gay gắt thô tục hơn. Đối với ông, lựa chọn thái độ lúc này thật nặng nhọc. Ông thầm mong Lan lộ vẻ sợ hãi, hối hận, vợ ông khuyên nhủ Lan vâng lời ông. Ông sẽ dễ xử trí.

Nhưng Lan làm một hành động ông không thể tha thứ. Lan từ từ cúi người và tuy cử chỉ hơi cứng, bàn tay run nhẹ, Lan vẫn cố gắng làm ra vẻ ung dung thản nhiên, và cư xử y như tất cả những sự ồn ào la lối của bố đã không hề xảy ra, ông Hạ không có mặt trong phòng.

Lan lần lượt nhặt từng hàng len, đứng thẳng người, không nhìn bố, chọn lựa đoạn trao cho mẹ một hàng mầu vàng xẫm.

“Hàng này anh Vĩ biếu me. Màu này mặc vừa ấm vừa nhã.”

Bà Hạ sững sờ, hai tay buông xuôi hai bên sườn, mắt chớp chớp. Lan cầm một bàn tay mẹ lên, đặt hàng áo vào, nhẹ nhàng thúc giục:

“Kìa me cầm lấy đi chứ!”

Đột nhiên bà Hạ đưa hai tay lên bưng lấy mắt, nức một tiếng nhỏ, quay người đi thẳng xuống nhà dưới, bước chân như chạy trốn, để mặt hai bố con đối diện với nhau.

Lan vội vã theo gót mẹ, tay vẫn cầm hàng áo. Tuy nhiên, trước khi ra khỏi phòng, Lan ngoái lại nhìn ông Hạ rất nhanh, ánh mắt kết tội và oán hận.

Ông Hạ ngồi một mình trong căn phòng vắng lặng, thật giận dữ và cũng thật lẻ loi. Ông nhổ mạnh một bãi nước bọt xuống sàn nhà. Ông muốn phỉ nhổ lăng nhục cuộc đời. Với tất cả những tình tiết phức tạp trớ trêu của nó – trong sự biểu lộ hơi kém phần thanh nhã đó. Đồng thời, ông cảm thấy khổ sở vì thái độ này của ông.

Có tiếng cửa mở. Ông quay đầu. Tô về.

Tô lại gần bàn làm việc, đặt xuống một tập giấy. Hắn ngồi xuống ghế coi giấy. Dạo này Tô gầy đi nhiều, mắt trũng sâu. Hắn hay làm việc rất khuya trước một tách cà phê đậm và bao thuốc lá đen. Mọi người trong nhà không ai rõ Tô viết lách những gì, vì tất cả những giấy tờ của hắn, hễ làm việc xong Tô đều cất vào một ngăn kéo, tự tay khoá lại.

Nhìn thấy hàng áo vứt ngổn ngang trên mặt bàn, Tô cầm lên ngắm nghía. Ông Hạ rình mò, chờ đợi phản ứng của Tô.

Tô gọi:

“Lan! Lên đây anh bảo.”

Lan xuất hiện, bước chân thoăn thoắt, tay bưng một cốc nước chè đặc bốc khói. Lan vẫn mặc nguyên chiếc áo dài mới may.

Tô đỡ cốc nước, nhìn Lan từ đầu đến chân, đoạn hất hàm về phía mấy hàng áo, hỏi em:

“Lại của mexừ luật sư tặng phải không?”

Lan môi dưới hơi bĩu, tựa người vào thành bàn, nhìn thẳng vào mặt anh.

Tô uống nước, một tay nghịch nghịch với những đầu ngón tay trắng muốt của Lan. Tô suy nghĩ một chút, đoạn lơ đãng cầm mấy hàng áo trao cho em, giọng thản nhiên:

“Em cất đi chứ! Em bầy bừa ra bàn, anh lấy chỗ đâu mà làm việc.”

Lan hơi ngạc nhiên, ông Hạ cũng vậy.

Ông Hạ bực bội, lên tiếng:

“Đấy! Anh về mà xem cô em gái yêu quí của anh. Thằng bố già này xin chịu thua rồi. Con gái lớn, con nhà, ai lại cứ cặp kè với thằng có vợ. Không biết nhục!”

Tô ngửng đầu lên, cặp lông mày hơi cau lại. Hắn lấy bao thuốc trong túi ra, rút một điếu, châm hút, cử chỉ điềm đạm như trêu tức ông Hạ. Đoạn, Tô khô khan nói:

“Nếu ba muốn bàn chuyện với con, ba đừng nóng và cũng đừng vội dùng lời lẽ quá nặng nề. Cãi nhau to tiếng, quan trọng hoá một việc nhỏ nhặt chỉ tổ thêm hiểu lầm nhau.”

“Hừ! Anh em chỉ được cái che đỡ cho nhau là giỏi. Chuyện đó mà coi là nhỏ nhặt được à? Anh là anh nhớn, anh phải bảo nó chứ?”

Tô cầm một hàng áo lên, mỉm một nụ cười cay đắng.

“Ba đã hỏi con, con cũng xin hỏi lại ba một câu. Ba thử nhìn Lan đây này! Có phải Lan đã lớn…và đẹp hẳn ra hay không? Vậy mà thử hỏi cả ba, cả con, thằng Di, ba người đàn ông trong gia đình này, đã ai mua nổi cho Lan một hàng áo đẹp và đắt tiền như thế này không?”

Tô đẩy ghế, đứng dậy lại gần chiếc cửa sổ trông ra đường. Đến lượt ông Hạ ngỡ ngàng: Câu chuyện xoay hẳn sang một hướng ông không ngờ tới.

Tô giơ tay vịn vào chấn song cửa, những đường gây nổi hẳn, nói rõ từng chữ:

“Trong một gia đình, bất cứ chuyện gì xảy đến, lớn hay nhỏ, đều là lỗi của người đàn ông!”

Giọng hắn chợt trầm xuống, khắc khoải.

“Khi người ta có một trách nhiệm, đừng bao giờ tìm cách trốn tránh. Vì, nếu vậy, sẽ phải chịu một cực hình kéo dài.”

Ông Hạ ấm ức bực bội trước lối suy luận của con trai. Ông bảo Tô:

“Nói như anh không nghe được! Bố mẹ không nuôi nổi con cái không phải lý do để con cái vịn vào để làm đĩ, trộm cắp.”

Tô quay người lại, buông một câu:

“Nếu thế ba đừng lên giọng mắng mỏ, kết tội các con! Ba không làm tròn trách nhiệm về Lan thời ba cũng phải có can đảm đừng đụng chạm đến sự tự do của Lan chứ?

Câu nói của Tô vừa khiến ông Hạ căm giận, vừa e ngại. Ông nói gần như quát:

“Không đời nào! Tao còn là chủ cái nhà này, tao còn có quyền đụng đến chúng mày. Muốn tự do thì bước khỏi đây rồi tha hồ tự do. Mày khinh bố mày đến thế kia à? Mày coi tao là một thứ bù nhìn hay sao?”

Tô không quan tâm đến lời lẽ hàm ý hăm doạ của bố. Tô nhìn Lan giọng chua xót.

“Ba có biết không? Thằng Di có lần nói với con ‘Điều khó không phải là ra đi rứt bỏ, mà là ở lại”. Vậy mà hắn đã chọn con đường dễ dàng. Chính con, đôi khi, cũng cảm thấy nên bắt chước Di.”

Ông Hạ vùng dậy, mắt trừng lên giọng đanh thép:

“Đứa nào bước chân ra khỏi cái nhà này, không còn là con tao nữa!”

Ông Hạ đi thẳng vào nhà trong.

Khi ông Hạ đã rời khỏi phòng, Tô lại gần em, ngồi xuống một chiếc ghế. Sau một phút yên lặng, Lan lên tiếng:

“Em tin chẳng chóng thì chầy anh Di sẽ trở về nhà.”

Tô cười nhẹ, giọng châm biếm.

“Di bỏ đi nguyên nhân chỉ vì một người đàn bà, anh hùng thật! Hắn đã tự ý đi thời để mặc hắn tự ý về. Anh chắc chắn không bao giờ mắt công đi tìm. Dù điều đó làm phiền lòng me.”

Ánh mắt Lan trở lại tinh ranh, nghịch ngợm như trước đây.

“Anh giận anh Di lắm phải không?”

“Dĩ nhiên là tôi giận nó rồi! Còn cô nữa đấy, cô Lan ạ! Cô thừa biết nếu cô muốn nô lệ cho sắc đẹp của cô, để mặc sắc đẹp của cô lôi cuốn cô, thời đó là cô muốn vậy. Vậy tôi không ngăn cấm cô đâu! Dù tôi sẽ có thể giận cô.”

Khuôn mặt Lan tối lại. Lan liếc nhìn anh, nghi kỵ.

“Em… em không hiểu anh lôi sắc đẹp của em vào câu chuyện để làm gì?”

Tô ngần ngại. Lan tiếp luôn, vừa thách thức vừa ngây thơ vô tội.

“Thế anh không muốn em đẹp hay sao? Em đẹp đâu lỗi tại em! Ba me sinh em ra vậy kia mà!”

Tô không cười.

“Anh đâu có điên mà chê trách em đẹp! Sắc đẹp của đàn bà là điều rất đáng để say mê…,” giọng Tô đổi sang khinh bỉ. “Nhưng, có nhiều hạng đàn bà suốt đời chỉ là nạn nhân, hoặc tệ hơn nữa, nô lệ cho sắc đẹp của mình. Sắc đẹp chẳng khác con dao hai lưỡi. Nếu cố gắng sẽ hy vọng làm chủ được nó, nếu để mặc nó sẽ cứa những vết sâu vào tâm hồn mình. Tuỳ ở mình hết! Em rõ chưa?”

Lan mở to cặp mắt nhìn anh, không nghĩ đến đối đáp vặn hỏi. Tô quay sang phía em, nét mặt dịu xuống.

“Lan à! Anh không làm em buồn đấy chứ! Em bận tâm về những lời nói của anh làm chi.”

Lan thở dài, trách móc.

“Anh thật dễ ghét! Anh nêu ra những điều khiến người ta đau lòng thắc mắc, rồi anh bảo ‘Đừng suy nghĩ bận tâm!’ Thật khó chiều nổi anh!”

“Anh đâu có bó buộc em, hay bất cứ ai, chiều theo ý muốn của anh.”

Lan cười hơi gắt.

“Cái lối không bó buộc của anh còn ác hơn anh ra mặt bó buộc!”

Tô lảng sang chuyện khác.

“À! Còn cái anh chàng Vĩ của Lan dạo này ra sao? Khổ nhiều hay ít hơn trước?”

“Anh, thế ra anh vẫn nhất định cho rằng anh Vĩ rất khổ khi yêu phải em?”

“Anh không rõ lắm! Nhưng nếu hắn sung sướng nổi nông một tình yêu như vậy thời rất đáng ngạc nhiên!”

Lan tiếp luôn:

“Và chắc anh cũng thầm trách em, ‘Cái con bé đến tệ, biết rằng làm người ta điêu đứng mà vẫn đùa rỡn với tấm tình chân thật của người ta.’?”

Tô nhún vai.

“Có lẽ!”

Lan ngồi thẳng người, kiêu hãnh:

“Em không phải hạng con gái như Thủy!”

“À ra thế! Cô em bé hành động cũng có chủ đích hẳn hòi. Càng hay!”

Gò má Lan ửng hồng trước câu nói ám chỉ ngụ ý xúc phạm của anh. Hai bàn tay Lan nóng nẩy siết vào nhau.

“Có thực anh nghĩ em cậy em đẹp, lợi dụng anh Vĩ?”

Tô hơi ngượng nhưng hắn nhún vai, nhìn em chăm chắm.

Lan cất cao giọng:

“Cứ ví dụ là em lợi dụng anh Vĩ đi, anh cũng để mặc em à?”

Tô gật đầu. Giọng Lan lạc đi, xúc động:

“Ra đấy là sự tự do anh dành cho em?”

Tô chữa lại:

“Không riêng cho em mà cho tất cả mọi người.”

Ngực Lan phập phồng, giận dỗi, giọng như sắp khóc:

“Nhưng, nếu em không muốn thế? Em muốn anh khuyên bảo em, chỉ dẫn, bắt ép em…”

Vẻ mặt Tô buồn bã, giọng cay đắng.

“Miệng em yêu cầu anh, nhưng thực ra đâu có chịu để anh ép buộc.”

Tô lẩm nhẩm một câu tiếng Pháp:

“Reconnaitre la liberté d’un autre, c’est lui donner raison contre sa propre souffrance…”

Lan thu người, đầu cúi nhìn những ngón tay nàng đan vào nhau, vẻ giận dỗi đòi hỏi, lẫn lộn van xin, dần dần mờ nhạt trên khuôn mặt Lan.

Lan ngửng đầu lên, hơi mỉm cười, giọng bình tĩnh:

“Anh nói thế mà có lẽ đúng! Em thú nhận nhiều lần trong những ngày gần đây, em suy nghĩ rất nhiều về thái độ của các anh đối với em, và em cảm thấy rằng sau khi anh Thắng chết đi, chẳng trước thì sau em cũng sẽ có ngày làm những chuyện khiến các anh phiền lòng.”

Lan càng nói, giọng càng lưu loát. Hình như nàng đã suy nghĩ kĩ càng đến những chuyện nàng đang giãi bày cùng Tô.

“Từ dạo em lớn lên đến nay, mọi người trong gia đình không hiểu sao cứ vẫn tiếp tục coi em như một con bé con, ích kỷ, cứng đầu cứng cổ, hay đòi hỏi và thích làm đỏm. Các anh cũng không chịu cho em dự vào việc lo lắng cho gia đình. Hễ em đề nghị điều gì là các anh đã phản đối. ‘Lan mà đi làm ấy à? Anh còn đây, Lan không thể làm công cho ai được.’ ‘Lan mà học đánh máy chữ? Điên đấy ư? Nữ thư ký xinh đẹp như Lan dễ bị lợi dụng lắm. Với lại, tay em đẹp thế kia, đánh máy hỏng đi’. Các anh yêu chiều em quá đến nỗi thấy những tính xấu của em cũng đáng yêu. Em lười biếng,các anh bảo ‘lười đẹp như mèo xiêm’, em vụng về các anh bảo ‘vụng về một cách quí phái’. Em vừa khen một hàng áo đẹp. Dĩ nhiên em thèm muốn được may, nhưng nếu em biết trước anh cậy cục đi Quân thứ Lưu động mấy tháng trời mới để sang bên được một số tiền mua mấy hàng áo cho em và mẹ, thà em câm còn hơn. Em biết lắm, mua cho me được món quà các anh sung sướng không kém em. Các anh dắt em đi ngoài phố để mọi người ‘chiêm ngưỡng’ sắc đẹp vô ích của em và tự hào với nhau ‘Tha hồ thiên hạ giầu. Chúng ta vẫn đẹp và cao quý hơn họ’. Kiêu mà làm gì! Anh Di sống bám vào một người đàn bà, me thì sức khoẻ càng ngày càng sút kém, già hẳn đi. Rồi đây, me sẽ chịu nổi không, nếu gia đình nghèo mãi?”

Lan ngừng lại, mắt long lanh sáng hướng vào anh. Tô không ngắt lời, tiếp tục hút thuốc, cạnh môi hơi trễ xuống.

“Các anh đàn ông. đâu rõ có nhiều chuyện đàn ông không thể hiểu được. Em vẫn dấu, sợ nói ra các anh sẽ chê em tầm thường. Đó là những chuyện nợ nần vay mượn của me. Các anh tuy vẫn cố gắng giúp gia đình, nhưng các anh lo lắng nó ‘đàn ông’ thế nào ấy. Me và em lo lắng khác! Các anh chỉ tìm cách kiếm thêm tiền, trầm ngâm suy nghĩ hay lao đầu vào những chuyện đâu đâu. Chỉ có thế thôi! Sự lo lắng của các anh vẫn xa xôi, nghĩa là…”

Lan lúng túng, ngập ngừng.

“Em nói chưa được rõ phải không? Chẳng hạn, các anh chỉ lo đưa tiền để me làm bếp, nhưng các anh đâu có biết làm bếp khó chịu bẩn thỉu đến mức nào. Các anh ăn, khen ngon, em me hả dạ, nhưng me và em mệt chết người. Các anh đâu có phải rờ tay vào soong chảo bù đầu toát mồ hôi trong bếp.

Chuyện vay nợ của me cũng từa tựa như vậy. Me đẹp, me hiền, cao quý nền nếp như thế mà anh có thể tưởng tượng được không, đã phải hạ mình van vỉ nói khó với những con mẹ buôn bán bần tiện, chỉ đáng làm công cho mình, để vay tiền, chăm sóc bù đắp cho các anh và em. Mới đầu, em ghét đi theo me vì sợ phải nhìn mặt họ. Thật kinh tởm! Me thời không kể, me càng nhẫn nhục me càng đáng yêu hơn.

Nhưng về sau, em thấy em có bổn phận phải kèm theo me, chia sẻ những nỗi nhục nhã đến cùng cực đó mà chỉ đàn bà mới cảm thấy thấm thía những nỗi chua chát.

Nhiều khi em khóc thầm, chẳng phải vì buồn hay tuyệt vọng mà đúng ra vì điên lên tức giận. Tại sao mọi sự lại bất công như vậy! Các anh đáng nhẽ phải được đi học, lo những chuyện lớn lao, công danh sự nghiệp. Vướng me và em, các anh đành luẩn quẩn trong gia đình, bận chân cướng cẳng trong những mối lo sinh kế tủm mủn. Nếu như thế này mãi các anh sẽ ra sao! Me! Và, còn em nữa chứ? Em chán nghèo lắm rồi! Làm bếp, giặt rũ mãi, em dần dần thấy em mụ người đi, ngớ ngẩn.”

Môi Lan hơi run run, giọng cảm động.

“Ngoài ra, em cũng không còn có thể mơ mộng hão huyền, chờ mong người tình lý tưởng đến với mình như trước kia. Anh Thắng chết, em già dặn hẳn lên. Thật vậy mà, em cảm thấy em lớn thêm hàng chục tuổi, anh đừng cười. Nhưng, điều…khiến em đau khổ lại không phải là ôm ấp hình ảnh một người yêu đã mất, mà là cảm thấy mình ham sống hơn bao giờ. Cứ nghĩ vậy, em lại xấu hổ…”

Tô ngắt lời, nồng nhiệt:

“Em lẩn thẩn tệ! Ham sống có gì đáng xấu hổ! Chỉ trừ khi em hèn nhát, trốn tránh thực tại trong những kỷ niệm, than khóc vật vã, trách trời trách đất một cách ngu xuẩn mới đáng khinh.”

Lan ngây thơ.

“Nhưng cũng phải lâu lâu một chút chứ, đâu chóng như vậy được?”

Tô nhìn thân hình nẩy nở của em gái, tủm tỉm cười.

“Nồng nàn như em, chóng thế đâu có gì đáng ngạc nhiên.”

Khuôn mặt Lan ửng hồng nhưng nàng không lộ vẻ giận trước câu nói sống sượng của anh.

Lan thẳng thắn nói:

“Anh nói cũng đúng, nhưng có điều là em ham sống không có nghĩa là em chóng quên. Ngay vào giây phút này, em vẫn có cảm tưởng rõ rệt là anh Thắng đang sống tại một nơi nào đó, mà vì một số lý do không thể hiểu nổi, em không còn được liên lạc gặp lại anh Thắng. Anh Thắng hình như lúc nào cũng luẩn quất trong tâm hồn em mà không bao giờ gặp lại! Em như bị đánh lừa, bội phản… còn người nào bội phản em không rõ.”

Bối rối Lan ngừng lại, nhìn anh cầu cứu. Tô ngẫm nghĩ, cặp mắt lờ đờ, ngón tay gõ gõ trên mặt bàn. Mãi sau hắn mới lên tiếng.

“Có lẽ sau khi cuộc đời đập vào đầu mình một cái choáng người, người ta thường có cảm tưởng bị đánh lừa. Anh cũng đã tơi vào một tình trạng như vậy, khi ôm xác còn nóng của Thắng trong tay. Nhưng giữa hai trường hợp anh và em có điều khác biệt. Em oán hận cuộc đời vì đã cướp mất, cắt đứt ngang mối tình cảm của em, còn anh là vì trong một khoảng khắc ngắn ngủi, anh đã từ chối, không dám nhìn thẳng vào thực tại. Anh đã…”

Hàm Tô cứng lại, không thể tiếp lời. Khuôn mặt Tô thoáng hiện nét đau đớn. Tô nặng nề giơ tay lên bóp trán.

Trước ánh mắt dò hỏi, thoáng lo ngại của em, Tô ngồi thẳng dậy khoa tay như muốn xua đuổi những ám ảnh thầm kín và trở lại câu chuyện dở dang.

“Nãy đến giờ anh nghe em giải thích hơi nhiều rồi đấy! Bây giờ chắc em sẽ cho anh biết ý kiến và kết luận của em.

Lan nhìn xuống chân giọng nhỏ nhưng bình tĩnh.

“Em sắp đi làm! Em sẽ nghỉ học hẳn.”

“Làm thư ký riêng cho luật sư Vĩ?”

Lan thở dài, nhìn anh trách móc.

“Anh đoán lại sai rồi! Em sẽ làm thư ký tại văn phòng Chương, nơi anh Vĩ đang tập sự.”

Ngừng lại một chút, Lan tiếp:

“Anh đừng nghi ngờ anh Vĩ xui đẩy gì em. Chính em nẩy ra ý kiến đi làm và chính em yêu cầu anh Vĩ giới thiệu giúp.”

Tô khoanh hai tay trước ngực. Vẻ cứng rắn lẫn lộn mỉa mai thường xuất hiện trên khuôn mặt Tô trong những ngày gần đây, biến hẳn không để lại dấu vết. Tô có vẻ buồn rầu và lơ đãng một cách khác thường.

Lan rụt rè.

“Anh… anh bằng lòng cho em đi làm chứ?”

Khuôn mặt Tô không lộ một dấu hiệu chứng tỏ hắn nghe thấy câu hỏi của Lan.

Lan đặt một tay lên vai anh lay khẽ, thúc giục:

“Anh nói đi chứ anh! Anh mãi nghĩ gì vậy?”

Tô cau mặt, mệt mỏi ngả mình dựa vào lưng ghế, giọng hơi gắt gỏng:

“Em đã quyết định rồi, em còn muốn gì nữa! Thôi! Thế cũng xong!”

Tô uể oải đứng dậy và cũng không buồn ngó đến khuôn mặt ngỡ ngàng của em gái, lặng lẽ lại gần phản, nằm xuống, mắt nhắm lại.

Lan ngồi thẳng trên ghế, môi run run, cặp mắt mở to long lanh giận dữ. Lan liếc nhìn mấy hàng áo trên bàn, khuôn mặt đẹp đẽ đau đớn, kinh tởm. Hai hàng nước mắt từ từ chạy xuống gò má.

Chiếc lá cuối cùng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 22/10/2015 

Post by Sơn râu 25 May 2024

Nhà thơ Phan Huyền Thư. (Ảnh: Hoàng Hà)

Đôi vợ chồng bước vào phòng trưng bày tranh, đập vào mắt họ là bức thiếu nữ khoả thân mà trên người chỉ sót duy một chiếc lá che đậy hững hờ ở khu vực “rừng lá thấp”. Người vợ tỏ vẻ không thích, liền bỏ đi, quay lui vẫn thấy ông chồng đứng trân trối trước tấm tranh. Vợ hỏi: Anh còn chờ gì nữa? Chồng đáp: Anh chờ mùa thu.

Việt Nam hình như chỉ có hai mùa mưa nắng? Bậy nào, cũng đủ bốn mùa xôm tụ như ai kia. Và dung nhan mùa thu, hiện ra rõ nét nhất ở hai địa phận: Huế, Hà Nội. Thu Hà Nội năm nay có chiếc lá vàng hoành tráng mang tên Phan Huyền Thư. Nếu cảnh sắc mùa thu Hà Nội không gây được ấn tượng cho khách nhàn du thưởng lãm thì kẻ rách việc đi dã ngoại đã có ngay mục tiêu điền thế: Mùa Phan Huyền Thư. Mùa xao xác bao trận cuồng phong chợt dấy, mùa lá bàng rụng. Mùa trong áng văn nổi tiếng của Tự Lực Văn Đoàn: “Gió lên, lạy trời gió nổi lên…”
Bạn hỏi: Rứa thì o Phan Huyền Thư có phải là vị lãnh đạo tuổi trẻ tài cao con ông cháu cha chỉ mới 30 tuổi đã vừa nắm giữ một bộ phận không nhỏ trong guồng máy cửa quyền? Mình xin “đạo” giọng nói ngọt ngào du dương của người thủ đô ngàn năm văn vật để thưa: Đéo phải, cái Thư nầy là thi sĩ ông ạ, kỹ sư tâm hồn chứ không đùa, nhớ. Trông mặt cũng xinh đáo để, nom ngây thơ vô số tội ra phết. Cô ấy vừa đoạt giải thưởng của Hội Nhà Văn Hà Nội nhờ vào tập thơ “Sẹo Độc Lập” đấy bố ạ! Không đùa đâu, chớ có tơ lơ mơ nhé.

Làm thơ hay mà nguyên cả hội đều công nhận để trao giải thưởng là lẽ thường, tại làm răng lại sinh chuyện làm náo động thiên cung? Bố ạ, bất bình thường nằm ở vấn nạn có anh nhà báo phát hiện cô đạo thơ, khuân hình hài bài “Buổi sáng” của bà Phan Ngọc Thường Đoan về tô son điểm phấn lại rồi gọi tên “Bạch lộ”. Thật là biết “ngạo với nhân gian một nụ cười”!

Bạn phán: Ở một nơi mà “chúng ăn không từ một thứ gì” thì “xơi” chỉ một bài thơ e chẳng nên xem đó là việc hệ trọng. Huống hồ xưa nay ta vẫn xem thơ văn là thứ rẻ như bèo, làm ra cốt để ngó thôi thứ bỏ mồm nào được đâu? Thấm béo gì, lãng phí cả sức lao động. Ai cũng ngôn như bác thì chả còn mọc ra bọn người sính thơ văn giỡn hoa ghẹo trăng, trăng Trung quốc tròn hơn trăng nước Mỹ, đồng hồ Liên-xô tốt hơn đồng hồ Thuỵ Sĩ. Khổ thế! Nhà cháu nói cho bác biết nhé, có người ngứa mồm bảo rằng: Sau nạn lâm tặc thì đến nạn đinh tặc, tới khuyển tặc, tới mông tặc và bi chừ thì chúng ta gặp thơ tặc.

Kẻ bị uýnh ngậm bồ hòn làm ngọt hay đương sự có đưa ra lời trần tình nào không? Nghe chúng bình loạn rằng bản tính của nạn nhân vốn cương cường, kẻ có bản lĩnh. Cô ấy bảo: Nhà cháu chỉ có mỗi tội, ấy là viết sau họ thôi. Phục cho cái Thư, cô ấy hồn nhiên tới bến. Nên thông cảm cho nhà thơ bạn à, đi sau bao giờ cũng bị thiệt thòi. Tôi đưa một ví dụ, tỉ như phở, hương vị nó, nguyên vật liệu tạo ra nó đa phần đều giống nhau, sao chẳng nghe hàng quán này hô hoán thằng phở bò kia “đạo” món phở của tớ? Thương hiệu phở nhà cháu ngon không kém phở mắng, phở chửi, phở quát, chỉ mỗi tội vì kinh doanh sau họ nên hơi bị ế, nhỉ?

Bạn trầm ngâm một đỗi rồi bất ngờ đưa ra câu hỏi: Việt Nam có hơn 24.000 tiến sĩ, vậy thì có mấy mươi ngàn đã đạo luận văn? Xời, sao ác với nhau thế, tớ đâu đoạt giải nobel toán học mà đưa ra thứ bổ đề hóc hiểm ấy? Tôi chẳng rành lãnh vực văn nghệ văn gừng nhưng cứ đưa ra nhận xét, ấy là nhan đề “Sẹo Độc Lập” của Phan Huyền Thư e có chứa vấn đề? Bố công tác ở cơ quan tuyên giáo à? Là an ninh văn hoá? Sao đâm méo mó nghề nghiệp thế. Độc lập tự do hạnh phúc thì cũng phải đánh đổi bao máu xương mới có được. Mỗi khi vết thương đã thành sẹo thì nên ăn mừng thành quả chứ? Ca cẩm nỗi gì? Nghe nó làm sao ấy, như danh xưng của một anh xã hội đen hoặc giả đó là hồ sơ chuyên án hình sự của công an hơn là nhãn dùng cho một thi tập. Đồng ý với bác, nhà cháu nghĩ đó cũng là cách tránh đụng hàng, dễ gây ấn tượng hòng khêu gợi trí tò mò của kẻ lơ là thơ văn nước nhà. Mở hàng phở mà lấy tên Thuỳ Mị hoặc phở Nết Na thì có chó mới vào kéo ghế, chúng sang sắp hàng bên phở quát phở mắng là phải đạo thôi.

Bạn hỏi: Chuyện bên tách trà xanh của chúng ta nãy giờ vẽ ra được hoạt cảnh gì? Theo trí tưởng của nhà cháu thì hội nhà văn Hà Nội vừa mở ra một phòng trưng bày tranh mà Phan Huyền Thư là bức thiếu nữ khoả thân giữ cho cơ thể mình vỏn vẹn một chiếc lá. Bá tánh vào ra, trông cho gió thổi lộng để lá rơi, để mãn nhãn. Khi ấy, không cứ là bọn đàn ông phàm phu tục tử thích ngắm, mà còn có khối bà sẽ chen chân để nghía xem mặt ngang mặt dọc nó lớn bé thế nào. Nó trân tráo bày hàng hay nó e lệ ngượng đỏ?

Tuần trà chấm dứt, đôi bạn sửa soạn chia tay thì tin giờ cuối ập về: Sau buổi họp khẩn tại Hà Nội mùa thu lá bay, những chức sắc quyền hành đã thống nhất đi tới giải pháp thu hồi giải thưởng Hội Nhà Văn Hà Nội đã trao cho tác giả Phan Huyền Thư. Lý do: Đạo thơ quá lộ liễu. Hai bài đặt cạnh ngó y như hai giọt nước.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, phó chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam nghe tin, lấy làm bức xúc: Thu hồi giải thưởng của Phan Huyền Thư là không hợp lý! Ông viện dẫn, vì cho đến giờ, tác phẩm của hai nhà thơ nữ kia (đều là hội viên hội nhà văn VN) chẳng rõ là ai đạo ai, chúng ta chưa nắm rõ vấn đề. Cuối cùng, mặt lộ vẻ buồn, ông phó chủ tịch bảo: Câu chuyện này là câu chuyện thật rất buồn và xấu hổ!

Hết thầm thà thậm thụt, phải diễn cảnh tạ từ, nhà cháu tức cảnh sinh tình, đưa tiễn bác ra cổng bằng câu thơ:

“Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
làm lỡ tình duyên cũ mất rồi”.

Bác trợn mắt: Mi nói hộ tấm lòng Phan Huyền Thư đó hở? Răng mi lại nhẫn tâm đi đạo thơ của TTKH rứa?

Bác tha cho nhà cháu nhờ, ngay cả tiêu đề “Chiếc lá cuối cùng” bên trên e cháu cũng lỡ thuổng từ một bài hát, hay một tuồng vọng cổ năm xưa. Vạch lưng làm gì cho gió luồn gai lạnh hở bác! Thu xao xác lá vàng buồn vương cây ngô đồng ngoài ấy. Bọn xấu mồm thời đại nào cũng nhiều, bác nhẩy? Ai xúi mà chúng đặt điều: Người Việt không biết nói chữ xin lỗi và tuyệt chẳng biết xấu hổ. May thay, ta có nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa gióng tiếng cải chính. Mong bác tâm thân an lạc. Ra về coi chừng xe đụng, nhớ?

Hồ Đình Nghiêm

Tìm Nghĩa trong Chữ

baotreonline.com

Trần Vũ

Post on September 15th, 2019

Kỳ cuối

Tôi yêu biết bao người Lý, Lê, Trần và còn ai nữa

Những anh hùng của thời xa xưa

Những anh hùng của một ngày mai…

Khuôn hẹp của một hầm rượu không cho phép giới thiệu hết các nghiên cứu về gốc gác xưa của chữ quốc ngữ, bạn đọc tuần san Trẻ có thể tham khảo trang nhà của Trung Tâm Ngày Ngày Viết Chữ  qua đường link phía dưới thân bài. [Trần Vũ]

Lãnh tụ

Dân mình hay nói “lãnh tụ”. Từ “lãnh tụ” này gốc gác là gì?

“Lãnh tụ” là từ gốc Hán, viết là  về mặt từ nguyên thì rất đơn giản, nó xuất phát từ cái áo mà chúng ta thường mặc:

– “lãnh” là cái cổ áo;…

– “tụ” là ống tay áo.

Ðây là hai bộ phận đầu tiên mà khi mặc áo người ta đụng chạm đến, sau này dùng để chỉ người đứng đầu, người quan trọng nhất của một tổ chức hay phong trào. Bạn cũng có thể thấy là mặc áo thì dù thân áo có nhăn nhưng cổ áo phải thẳng, ống tay áo phải vào nếp đàng hoàng, thế mới chỉn chu, ra dáng. Ðại khái thì lãnh tụ phải đường hoàng, có đường lối tư tưởng rõ ràng đâu ra đấy mới thành công. Ngày nay thì chúng ta ít dùng chữ “lãnh tụ”, có lẽ vì hiếm nhân vật…Thay vào đó dùng từ có vẻ bình dân hơn chút đỉnh, là “lãnh đạo”.

Rối ren

Là từ ghép, và là một từ gốc Hán. Không biết mọi người còn nhớ không, rằng mình từng nói âm Hán Việt hiện đại không có từ nào bắt đầu bằng phụ âm “R”, dễ thấy nhất là những người xung quanh chúng ta có rất ít người tên bắt đầu bằng chữ “R”, đó là bởi những chữ bắt đầu bằng phụ âm “R” thường mang tính thuần Việt, đặt tên nghe không sang. Ấy là diện mạo tiếng Việt hiện đại. Chứ diện mạo tiếng Việt xưa thì có chút khác. Khi xưa, xưa ơi là xưa, tiếng Việt vẫn có những từ gốc Hán bắt đầu bằng phụ âm “R” và “rối ren” là một ví dụ.

– rối là âm Hán Việt cổ của chữ  âm Hán Việt hiện đại là “lỗi”, nghĩa là chỗ dây xoắn lại không gỡ ra được, chỗ nút thắt của dây nhợ các loại;

– ren là âm Hán Việt cổ của chữ  âm Hán Việt hiện đại là “liên”, nghĩa là dính liền, nối liền vào nhau, hợp lại với nhau (chính là chữ liên trong liên kết, liên minh).

“Rối ren” là từ ghép gốc Hán xưa ơi là xưa của tiếng Việt, thường dùng để chỉ những chuyện… rối ren.

Ăn mày

Ăn mày” là ăn cái gì? Người ăn xin trong tiếng Anh là “beggar”, xuất phát từ động từ “beg” nghĩa là “cầu xin”; từ Hán Việt là “hành khất” (khất cái, cái bang). Vậy còn “ăn mày” là ăn cái gì?

– “mày” là lớp vảy vỏ nhẹ của hạt ngô, hạt gạo, hạt kê, lúa mạch,… thu được khi xay xát, nghiền nhỏ.

– “mày” không hữu dụng như gạo vụn, gạo tấm, thua cả lõi ngô, trấu đun bếp, cám, ngô lép còn để chăn nuôi nhưng “mày” chỉ một thứ bụi vụn nhỏ, nhẹ hay lẫn vào trấu cám, không mang lại ích lợi gì, nói chung là vô dụng.

– người “ăn mày” là để chỉ những người nghèo đói muốn xin chút bạc lẻ, chút gạo lẻ của những người có điều kiện hơn, vì chút bạc chút gạo vụn vặt đó cũng chẳng quý báu gì đối với những người kia, giống như lớp bụi mày của gạo của ngô mà thôi, cho đi cũng không sao cả.

Ngày nay, “ăn mày” được dùng trong nhiều trường hợp hơn, ví dụ: ăn mày quá khứ (ăn mày dĩ vãng), ăn mày sân khấu, ăn mày văn chương, ăn mày cửa Phật. Ðây là cách nói (hoặc tự khiêm nhường hoặc bị chê bai) về một việc, một ngành nghề liên quan. (Kiểu như tụi tui là những đứa ăn mày văn chương, bám víu vào chút chữ nghĩa mà sống vậy đó, điều này nếu tự mình nói thì là khiêm nhường, còn bị người ta nói là “đồ ăn mày văn chương” thì là bị chê bai rồi).

Gay go

là tiếng Nôm, trong đó:

– gay là làm cho chèo kéo, khúc mắc, như “nói gay” là nói móc, nói người này mà chèo kéo, động tới người khác;

– go là khốn khổ, quanh co,

“Gay go” là từ ghép (không phải láy) để diễn tả một việc gì đó khó khăn, chưa thông thuận, không trôi chảy. Thi tú tài có “gay go” không?

Làm lụng

“Làm lụng”, là từ ghép đẳng lập (hay còn gọi là ghép tổ hợp), trong đó:

– làm là gây ra việc, ra tay, ra công, hành sự một việc gì đó…

-lụng, vốn phải là “lộng”, cũng có nghĩa là “làm”, ví dụ “lộng phạn” là “làm cơm”, “lộng hoại” là “làm hỏng”. Sở dĩ “lộng” biến thành “lụng” là do hiện tượng biến âm đã biến – ông thành – ung (như “tông tích” biến thành “tung tích). Như vậy, “làm lụng” là từ ghép trong đó cả hai tiếng “làm” và “lụng” đều có nghĩa.

Thô thiển

Từ ghép gốc Hán, viết là  phiên âm là /cūqiǎn/, trong đó:

– thô là to, là không nhẵn nhụi không tinh tế;

– thiển là cạn, nông cạn, như “thiển cận” nghĩa là (tầm nhìn) hạn hẹp, non kém, cái gì không giỏi, hiểu biết còn ít thì gọi là thiển, như “học thiển” là học nghệ chưa tinh.…

“Thô thiển” là từ ghép thường dùng để chỉ người không tinh tế, vụng về và còn kém cỏi, nông cạn. Ngày nay, nghĩa “thiển” thường bị mờ đi và người ta dùng “thô thiển” để chỉ những người vụng về, không nhã nhặn, đôi khi tục tĩu.

Hô hoán

Từ ghép gốc Hán (không phải láy), tiếng Hán viết là  phiên âm là / trong đó:

– hô là thở ra, gọi, kêu to, gọi to;…

– hoán là kêu, gọi.

“Hô hoán” nghĩa là kêu gọi, hiệu triệu, cũng có nghĩa là kêu gào, kêu to, gào to, hiện nay lớp nghĩa này được sử dụng phổ biến hơn lớp nghĩa kêu gọi, hiệu triệu.

Chim ra ràng

Có bạn hỏi mình “chim ra ràng” (như cu đất mới ra ràng, bồ câu mới ra ràng) thì ra “ràng” là ra cái gì?

“Ràng” là âm Hán Việt xưa rất xưa của chữ  âm Hán Việt hiện đại đọc là “linh”, nghĩa là lông, lông chim, lông cánh của loài chim, nên chim ra ràng là chim mới ra lông.…

Châm chước

Từ ghép, tiếng Hán viết là  phiên âm là /zhēnzhuó/, trong đó:

– châm là rót như rót nước, rót trà hay rót rượu.

– chước thì có nghĩa là rót rượu. …

Lẽ thường, rót nước rót trà rót rượu thì phải lường trước độ nông sâu của ly mà rót cho vừa phải, cho nên “châm chước” được dùng để chỉ sự gì cần thương lượng, cần định liệu giữa các bên sao cho phù hợp nhất, kiểu “em nó còn nhỏ dại, có chuyện gì mong ngài châm chước cho”.

Thi thố

Từ ghép gốc Hán, tiếng Hán viết  đọc là /shīcuò/, trong đó:

– thi là thực hiện, tiến hành, bày ra, đặt ra, thể hiện ra, làm ra cái gì đó gọi là “thi”, kiểu như thi công, thi lễ, thi hành,…

– thố là bắt tay vào làm, sắp xếp, lo liệu, đặt để các thứ, đây cũng là chữ “thố” trong “thất thố”.…

“Thi thố” nghĩa là đem sức mình thể hiện ra, lấy tài năng mà bày ra cho người khác thấy.

Rầy rà

Là từ ghép, và còn là một từ ghép đặc biệt, nửa Nôm nửa Hán, cụ thể:

– “rầy”, chữ Nôm, nghĩa là quở mắng, cũng có nghĩa là nói om sòm, chát tai;

– “rà”, gốc Hán, nghĩa là la lối, cũng có nghĩa là nói om sòm. …

“Rà” là một âm Hán Việt cổ của chữ  âm Hán Việt hiện đại của nó là “la”, nghĩa đương nhiên cũng là nói om sòm, làm rùm beng hay… la lối. “Rầy rà” cũng chính là “rầy la” hay “la rầy”. (Ðây không phải là chữ “rà” trong “rề rà” hay “rà soát” các bạn nha, chữ “rà” này thì viết  âm Hán Việt hiện đại của nó cũng là “la”.)

Lật tẩy

“Tự Vị Tiếng Nói Miền Nam” của Vương Hồng Sển giảng “lật tẩy là tiếng lóng trong giới cờ bạc: Tẩy là lá bài úp lại theo lối đánh phé (tức poker), khi nào lật ngửa lá bài ấy để biết bên nào bài lớn điểm là bên ấy thắng thì gọi lật tẩy.” Sau này, “lật tẩy” được dùng để chỉ “biết bí mật của bên địch”, ta cũng nói là “biết tẩy”, như biết hết tẩy của nó rồi, hay trò đó đã sớm bị lật tẩy.…

Bóp – Ví

Có bạn hỏi, tại sao trong Nam kêu cái bóp còn ngoài Bắc kêu cái ví. Xin thưa rằng bóp và ví đều dùng để chỉ dụng cụ đựng giấy tờ tuỳ thân, tiền bạc nói chung, nhưng nguồn gốc chúng khác nhau.

– Bóp là từ gốc Pháp, là từ chữ “portefeuille” mà ra. Hồi xưa có khi người ta chưa rút gọn chữ này mà đọc là “bóp-phơi”.

– Ví là từ gốc Hán, bắt đầu từ chữ  đọc là /wéi/, âm Hán Việt hiện đại là “vi”, nghĩa là cái túi thơm, tức cái túi đựng hương liệu mà các bạn thường thấy trong phim cổ trang ấy.

Tìm Nghĩa trong Chữ

baotreonline.com

Trần Vũ

September 8th, 2019

Post by Sơn râu 25 May 2024

Kỳ 6

Tôi yêu bác nông phu, đội sương nắng bên bờ ruộng sâu

Vài ngàn năm đứng trên đất nghèo

Mình đồng da sắt không phai mầu

Tấm áo nâu! Những mẹ quê chỉ biết cần lao

Những trẻ quê bạn với đàn trâu, áo ơi

Tấm áo nâu! Rướn mình đi từ cõi rừng cao

Dắt dìu nhau vào đến Cà Mau, áo ơi…

Tháng 5-1975 tôi trong đám nam sinh Lasan Taberd chứng kiến cán bộ Mặt trận Giải phóng Miền Nam vào tiếp thu trường, hò hét và quát tháo các sư huynh. Cả sân trường im phắt chịu đựng. Cùng với họ là thứ ngôn ngữ kỳ dị mà chúng tôi chưa hiểu. Tan trường lội bộ về nhà vì không còn xe trường, tôi lại nghe thứ ngôn ngữ ấy của họ hàng từ Bắc vào thăm. Cậu tôi từ Hà Nội mới vào, nói với mẹ tôi: “Em báo cáo cho chị nắm, là con cả của em sắp đứng ra tổ chức.” Mẹ tôi sinh ở phố Hàng Đào trước di cư, nhưng bà không hiểu cậu muốn nói gì. Mãi rồi chúng tôi mới hiểu là sắp đám cưới. Hiểu, nhưng tôi vẫn thắc mắc vì sao tổ chức lại là đám cưới? Phải đến hôm qua, đọc các diễn giảng của Trung Tâm Ngày Ngày Viết Chữ, tôi mới biết: Tổ là xếp các sợi dây nằm dọc; Chức là dùng các sợi dây ngang đan vào các sợi dây dọc. Tổ chức là cùng nhau làm một việc, sắp xếp kết hợp với nhau. Là từ ngữ gốc Hán. [Trần Vũ]

“Tự sướng” hay “Tự xướng”?

Hôm qua mình hỏi mọi người, tự chụp hình (selfie) thì mọi người kêu là “tự sướng” hay “tự xướng”? Cái này chẳng qua chỉ để làm tiền đề cho bài viết hôm nay thôi, chứ không cần hỏi thì cũng biết mọi người đa số dùng “tự sướng” rồi. Báo chí cũng dùng như thế!

Nhớ lại độ bốn năm năm về trước, khi “tự sướng” theo nghĩa tự chụp hình …mới manh nha, có vài lần mình được nghe người khác bàn về hai chữ này. Theo đó, các ý kiến đều cho rằng không nên dùng “tự sướng” để chỉ việc tự chụp hình, vì nó vốn dính líu đến một nghĩa, được coi là nghĩa gốc của từ này, là tự thủ dâm. Lúc đó, có người nói với mình, rằng nên dùng “tự xướng”. “Xướng” ở đây là khởi xướng, nó có nghĩa là “nêu ra, nêu lên, phát động, bắt đầu việc làm gì đó.”

Giả sử chữ nên dùng là “tự sướng”, thì chúng ta hiểu rằng tự chụp hình mình là một việc khiến mình thích, mình sướng, nên tự chụp thì gọi là “tự sướng”. Vậy, “tự sướng” là gọi theo cảm xúc.

Giả sử chữ nên dùng là “tự xướng”, thì chúng ta hiểu rằng đó là hành vi tự mình giơ điện thoại lên và bấm máy. Hành động giơ điện thoại lên và bấm máy này chính là “xướng”. Một cách không quá khắt khe, có thể nói vui câu “phu xướng phụ tùy” là anh giơ điện thoại lên là em liền giơ hai ngón tay hình chữ V làm duyên với camera trước. (Ðấy là nói vui thôi nha chứ cái câu “phu xướng phụ tùy” tất nhiên đẹp và ý nghĩa hơn thế nhiều.) Vậy, “tự xướng” là gọi theo hành vi.

Vậy nên dùng từ nào? Nên dùng từ nào thì cũng chẳng dám khuyên các bạn. Nhưng nếu hỏi mình lựa chọn từ nào trong hai từ này, thì mình xin chọn từ “tự xướng”. Lý do thì chắc các bạn cũng đoán ra rồi, vì “tự sướng” vốn cũng mang nghĩa nhạy cảm. Có người nói – thủ dâm – tạm coi là nghĩa đầu tiên của “tự sướng” – là một nhu cầu sinh lý của con người, có phải chuyện gì xấu xa đâu mà nhạy cảm, mà kỳ thị. Lý lẽ này cũng coi như phải. Nhưng mà, cũng như những từ ngữ nhạy cảm – những từ liên quan “phụ khoa” và “nam khoa” – nó cũng chỉ là tên gọi các bộ phận cơ thể hoặc hành vi quan hệ tình dục, chả có gì xấu xa, nhưng mình cũng không muốn dùng đó thôi. Ấy là do mình lựa chọn thế.

Tiếc là năm đó, khi mình được nghe người khác bàn về hai chữ “tự xướng”, thì cả người nói và người nghe là mình cũng không có động thái hay sức lực gì để phổ biến từ này ra rộng rãi. Giờ thì lại càng không đủ sức vì người người, nhà nhà dùng “tự sướng” rồi.

Chính tả, hiểu nôm na là cách viết được cộng đồng người sử dụng chấp nhận một cách chính thức (có văn bản của Bộ Giáo dục chẳng hạn) hoặc rộng rãi. Nên nếu theo tình hình này thì “tự sướng” đã thành chính tả rồi. À, trên là nói nếu bắt buộc giữa hai từ “tự xướng” và “tự sướng”, còn nếu không bắt buộc thì mình dùng “tự chụp”, “ảnh tự chụp” cho nó vừa rõ nghĩa vừa chẳng sai.

Ờ, tính viết sương sương vài dòng mà cũng dài dòng quá hén. Nói chứ bài viết này không nhằm mục đích khuyên mọi người dùng “tự xướng” thay cho “tự sướng”. (Ai thấy dùng chữ nào thì dùng.) Bài viết này chỉ để góp một tiếng nói xíu xiu, rằng sau này có sáng tạo ra chữ gì, chúng ta nên cẩn thận một chút, dụng tâm một chút, thế mới tạo ra được những từ vừa đẹp vừa hay, tránh chuyện nhập nhằng giữa “tục” và “nhã”.

Chiềng làng chiềng chạ

“Chiềng làng chiềng chạ

Thượng hạ Tây Ðông

Con gái phú ông…

Tên là Mầu Thị

Tư tình ngoại ý

Mãn nguyệt có thai

Già trẻ gái trai

Ra đình ăn khoán.”

Ðây là lời rao của mõ trong vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính. Xưa mỗi khi làng có việc, thằng mõ lại vác loa đi loan báo. Lời mở đầu thường là “Chiềng làng chiềng chạ”. Thế “chiềng” là gì?

“Chiềng” là âm cổ của “trình”. “Chiềng làng chiềng chạ” tức là “trình làng trình chạ”. Có nhà nghiên cứu cho rằng, “chạ” ở đây tức là xã, “chiềng làng chiềng chạ” là “trình làng trình xã”, nhưng cũng có ý kiến cho rằng không phải. Mình chưa đủ cơ sở nên xin phép miễn bàn chữ “chạ” trong nội dung bài này.

Về mối quan hệ chiềng – trình, nó cũng giống như mối quan hệ giữa (mắt) kiếng – (mắt) kính, (tháng) giêng – chinh* (nguyệt), chiêng – chinh (một loại nhạc khí), (thiêng) liêng – linh (thiêng).

Truyện Kiều của Nguyễn Du, sau khi Thúy Kiều bán mình cho Mã Giám Sinh, nhờ Thúy Vân và gia đình trả tình trả nghĩa cho Kim Trọng có câu:

“Lạy thôi nàng mới thưa chiềng:

Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xuôi.”

“Thưa chiềng” nghĩa là thưa trình.

Ờ, ờm, như nhiều lúc khác, mỗi khi cần ví dụ cho cái hay, cái đẹp, cái nét xưa của tiếng Việt, giở “Truyện Kiều” ra xem là có.

(*) Chinh nguyệt, tức  thường được biết đến là “chính nguyệt”, tức tháng Giêng. Chữ  có ba âm, chính/chánh/chinh. Âm “chinh” ít phổ biến nên ít người biết. Theo An Chi và một số học giả khác, âm đúng của  phải là “chinh nguyệt” chứ không phải “chính nguyệt”.

Thất bát

Tại sao ‘thất bát’ lại dùng để nói làm ăn thất bại?

Xem Ðại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của thì thấy có giải thích rằng “thất bát” là “lạc mất, không toàn vẹn, ấy là nghĩa câu chữ ‘thất linh bát lạc’.”

“Thất linh bát lạc”, chữ Hán viết  dịch nôm na là “bảy lẻ tám rụng”, là một thành ngữ chỉ sự phân tán rải rác, không tập trung. “Linh” là lẻ tẻ, vụn vặt (như mình nói hai nghìn linh ba tức là hai nghìn lẻ ba). “Lạc” là rơi rụng (âm Nôm của chữ này là “rác” trong rơm rác, rác rưởi, chỉ những thứ vụn vặt rơi rụng không giá trị).

Từ “thất linh bát lạc” đến “thất bát”, chữ này thường dùng trong nông nghiệp, chỉ sự mất mùa, thu hoạch không như mong đợi. (Ca dao có câu “Ðược mùa chớ phụ ngô khoai, Ðến khi thất bát lấy ai bạn cùng”.) Ngoài ra, “thất bát” cũng dùng để chỉ làm ăn thua lỗ, như “làm ăn thất bát”.

Khúc mắt

Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: “Khúc” là “vạy (*), đoạn, khoản, có mắt, có lóng” và cho ví dụ “Khúc mắt” là “mắt mỏ; có nhiều đoạn nhiều mắt. Chuyện khúc mắt là chuyện rất khó gỡ; người khúc mắt thì là người thiểm thước (**)”.

Chiếu theo trên thì trong hai từ “khúc mắt” và “khúc mắc”, có lẽ “khúc mắt” mới là từ gốc. “Khúc mắt” là từ được tạo ra từ thiên nhiên quanh ta,… hình tượng như một thân tre trúc, nhiều khúc nhiều mắt, không thẳng một đường, không trơn tru.

Kỳ thực, ngôn ngữ nước ta có rất nhiều từ đi ra từ thiên nhiên, bao gồm thế giới thực vật (như “tảo tần”) và động vật (như “do dự”). Ngoài ra, còn vô số từ đi ra từ hai nền kinh tế nông nghiệp (như “mầm mống”) và tiểu thủ công nghiệp (như “mực thước”). Cho nên, cũng không có gì lạ trong trường hợp dùng thân cây nhiều khúc nhiều mắt để chỉ chuyện gì đó còn chưa thông thuận

Thế nhưng, chính tả thì thay đổi. Ngày nay chúng ta dùng “khúc mắc” theo nghĩa có “khúc khuỷu và vướng mắc” chăng? Ðiều này cũng không sao cả. Chính tả, suy cho cùng không phải đúng hay sai mà là sự lựa chọn của thời đại. Thời đại chọn từ nào thì từ đó đúng.

Và thời đại này chọn “khúc mắc”, vậy “khúc mắc” đúng. Người yêu ngôn ngữ thì nên biết thêm “khúc mắt” cho nó phong phú cái biết của mình vậy thôi.

(*) vạy cũng có nghĩa là đoạn, lóng.

(**) thiểm thước nghĩa là mập mờ, úp mở, không rõ ràng không thẳng thắn.

Tảo tần

Từ ghép, chữ Hán viết là  giản thể viết  phiên âm là , trong đó:

– tảo là một loại cỏ nước, cũng kêu là rong hay rau tảo;…

– tần cũng là một loại cỏ nước, còn kêu là rau tần.

Người xưa dùng rau tảo rau tần để hiến tế, để cúng gia tiên. Ngoài “tảo tần” ta còn dùng là “tần tảo”. Từ này dần dần dùng để chỉ đức hy sinh của người phụ nữ, vì việc kiếm rau tảo rau tần thường do phụ nữ làm.

Tinh tế

Từ gốc Hán, viết là trong đó:

– tinh là gạo giã cho trắng sạch, những thứ đã lọc hết tạp chất gọi là tinh;

– tế là những vật, những thứ nhỏ, mịn.

“Tinh tế” là từ ghép đẳng lập (như mọi khi, những thứ có vẻ là từ láy lại không phải là từ láy) dùng để chỉ những thứ, những cảm xúc tỉ mỉ, kỹ lưỡng, chi tiết, sâu sắc, mang yếu tố tinh túy.

Tìm Nghĩa trong Chữ

baotreonline.com

Trần Vũ

August 31st, 2019

Post by Sơn râu 25 May 2024

Tôi yêu đất nước tôi

Nằm phơi phới bên bờ Biển Xanh

Ruộng đồng vun sóng ra Thái Bình

Nhìn trùng dương hát câu no lành…

Đất nước tôi

Dãy Trường Sơn ẩn bóng hoàng hôn

Đất Miền Tây chở sức người vươn

Đất ơi!

Đất nước tôi

Núi rừng cao miền Bắc lửa thiêng

Lúa miền Nam chờ gió mùa lên! Lúa ơi!

Tôi yêu những sông trường

Biết ái tình ở dòng sông Hương;

Sống no đầy là nhờ Cửu Long;

Máu sông Hồng đỏ vì chờ mong…

Trung tâm Ngày Ngày Viết Chữ tìm hiểu ý nghĩa và gốc gác của 10 địa danh quê hương với nhiều kỳ thú.

[Trần Vũ]

Kỳ 5

Mỹ Tho

Ðịa danh gốc Khmer, Mỹ Tho là phiên âm của “mi so” trong cụm “srock mé sa mi so”, nghĩa là “xứ có người con gái nước da trắng.” (theo Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, “Khảo Về Tiếng Ta”, 1943)

Bến Tre

Dân gian thường nói… vui, Bến Tre là xứ dừa sao không gọi Bến Dừa mà gọi là Bến Tre. Thật ra, “Tre” trong Bến Tre không phải là cây tre mà có nghĩa là “cá”.

Ban đầu, người Khmer gọi Bến Tre là Srok Trey (đọc là Sóc Tre). Trong đó:

– Srok nghĩa là xóm, làng (trong Sóc Trăng, Sóc Bom Bo).

– Trey (cũng phiên âm thành Treay) nghĩa là cá.

Srok Trey có nghĩa là Xóm/Làng Cá. Một số tài liệu giải thích rằng do vùng này nhiều cá nên có nhiều ghe (*) chài lưới, mà có ghe thì phải có bến, thành thử Sóc Tre dần dần biến thành Bến Tre (xóm cá biến thành bến cá). Nói tóm lại thì “Tre” trong Bến Tre là “cá” nha mọi người.

(*) ghe tức thuyền, cũng là một từ Việt gốc Khmer.

Cà Mau

“Cà Mau” là từ gốc Khmer, phiên âm tiếng Khmer là “Tưk Khmâu”, trong đó:

– “Tưk” là “nước”;

– “Khmâu” là “đen”

“Tưk Khmâu” nghĩa là “nước đen”. Từ này khi Việt hoá “Kh” biến thành “Cà”, còn “Mâu” biến thành “Mau”, âm tiết “Tưk” thì bị rụng rơi mất. Sở dĩ nước ở vùng này đen là vì lá mục của các cây như tràm, dừa nước… làm nước tối màu.

Đà Lạt

“Ðà Lạt” là từ gốc Cơ Ho (cũng dùng Cờ Ho, Kơ Ho, K’Ho), trong đó:

– “Ðà” (cũng dùng là Ðạ, Da, Dak) là “nước” hay “sông, suối”;

– “Lạt” (cũng dùng là Lat, Lát, Lạch, M’lates) nghĩa là “rừng thưa”, “đồi cỏ”, rồi chuyển sang tên một nhóm người thuộc dân tộc Cơ Ho sống ở khu rừng thưa này.

“Ðà Lạt” nghĩa là “Dòng suối của người Lạt” hoặc là “nước của người Lạt”. Nghe nói dòng suối này chính là dòng suối Cam Ly (mà ta hay biết tới là thác Cam Ly) hoặc là một phần của Cam Ly.

Cần Thơ

“Cần Thơ” là từ gốc Khmer, phiên âm tiếng Khmer là “Kìn Tho”, cũng còn gọi là “cá lò tho”, nghĩa là “Cá Sặt Rằn”. Sở dĩ có tên gọi này là do ở đây sông rạch có nhiều cá này.

Cũng có thuyết nói “Cần Thơ” là từ “Cầm Thi (giang)” hay “Cần Thơm” nói chệch, là không có cơ sở. Và cũng như “Cần Thơ”, các địa danh có chữ “Cần” như “Cần Ðước”, “Cần Giuộc”, “Cần Giờ” đều là từ gốc Khmer.… Có nhiều loại cá sặt, sặt rằn, sặt bướm, và người dân miền Tây thường gọi chung hết là “cá sặt”. Loại cá này thường nhỏ, mình dẹp, nhiều xương. Hồi nhỏ, mỗi lần đi học về giở gác-măng-giê ra lục cơm ăn, thấy nồi cá sặt kho khô là mình nước mắt ngắn dài vì ăn không ngon gì hết. Sau này lớn lên xa quê, muốn ăn cá sặt kho khô cũng không có mà ăn. Nói vậy chứ món “khô cá sặt” thì hơi bị đắt và được mấy ông nhậu thích lắm đó.

Về chữ “sặt” trong “sặt rằn”, mình nhận thấy là hầu hết các trang mạng, kể cả Wikipedia đều viết là “sặc rằn”, “cá sặc”. Mình không hiểu sao lại có sự nhầm lẫn phổ biến đến dường này. Lẽ nào mọi người nhầm với “sặc” là bị nghẹt hơi thình lình trong lúc ăn uống sao? Ðành rằng dân gian vẫn thường truyền nhau câu đố vui: Tại sao con cá sặt tên là cá sặt? Tại vì nó ham ăn hốc uống nên bị sặc (người Nam Bộ phát âm “sặt” và “sặc” giống nhau). Nhưng đây chỉ là cách nói vui thôi chứ tên cá phải là “sặt”. Ðại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: “Sặt là loài cá đất bưng (bưng là vùng đất thấp ngập nước, đầy cỏ rác), dẹp mình mà nhỏ”.

Không liên quan nhưng ở Cần Thơ có một quận gọi là quận “Cái Răng”, đố mọi người “Cái Răng” nghĩa là gì?

Cái Răng

Chuyện xưa tích cũ kể, hồi đầu thời khẩn hoang, có con quái thú (mà thường kể là con cá sấu) rất lớn dạt vào đây, răng của nó rất lớn, cắm vào miệng đất này nên đất này gọi là “Cái Răng”. Tuy nhiên, đây là cách giải thích của dân gian về một tên gọi, một cách dùng từ, mà không có cơ sở khoa học ngôn ngữ. Vậy “Cái Răng” thật ra là gì?

“Cái Răng” là từ gốc Khmer, trong đó “Cái” nghĩa là “Rạch”, tức con sông nhỏ. Còn “Răng” là từ chữ “Kran”, nghĩa là “cà ràng”.

Cà ràng là gì? Ðây là một kiểu bếp lò của người Nam Bộ. Trong “Tự vị tiếng nói miền Nam”, học giả Vương Hồng Sển miêu tả: “Cà ràng hình thù như con số 8 để nằm, một đầu là ba ông Táo lú đầu lên cao để đội nồi ở siêu trách, còn một đầu kia nắn cái bụng chang bang dài dài vừa vặn với cây củi chụm, bụng này chứa được tro nhiều không rơi rớt ra ngoài, lại ấm cúng che kín gió, mau chín mau sôi”. Ðây là hình dạng cơ bản chứ cà ràng mỗi vùng tuỳ theo tình hình gió nước mà cà ràng khác nhau chút đỉnh, mục đích là để tránh gió tránh nước. Vương Hồng Sển cũng cho biết, ngày trước, người Khmer “chuyên làm nồi đất và “karan” chất đầy mui ghe lớn rồi thả theo sông Cái đến đậu ghe nơi chỗ này để bán, năm này qua năm nọ, chầy ngày người mình phát âm “karan” biến ra “Cái Răng” rồi trở nên địa danh thiệt thọ của chỗ này luôn”.

Theo thuyết này, “Cái Răng” là từ Kran, tức cà ràng. Nhưng xét ở góc độ ngôn ngữ, K- thường biến thành Cà (Crème >> Cà rem) chứ không biết thành “Cái”. Các nhà ngôn ngữ cho rằng, “Cái” phải có nghĩa là sông rạch. Như “Cái Bè” (Tiền Giang) là rạch có nhiều vựa cau khô, trầu, cây đước,… chở bằng bè sang Campuchia bán, sau dần thành địa danh Cái Bè.

Như vậy, “Cái Răng” nếu xét về lịch sử vùng đất và góc độ ngôn ngữ thì có nghĩa là “Rạch Cà Ràng”.

Không liên quan nhưng hồi trước thầy của mình có kể một tạp chí du lịch tiếng Anh khi nhắc đến Cái Răng đã dịch thành “The Tooth”. Nghiệt ngã quá!

Bà Rịa

Có hai thuyết giải thích ý nghĩa tên Bà Rịa. Một là có một bà tên Rịa có công với vùng này nên được đặt tên cho địa phương. Nhưng thuyết này thiếu tư liệu lịch sử nên không có cơ sở khoa học.

Thuyết thứ hai giải thích “Bà Rịa” là tên phiên âm một vị thần người Chăm là Po Riyak, nghĩa là “Thần sóng biển” (cũng dùng “Thần đại dương”). Thuyết này được cho là có lý hơn vì có cơ sở ngữ âm và văn hoá lịch sử.

Trong văn hoá Chàm, Po Riyak là một vị thần quan trọng, thông minh, đức độ. Có nhiều thuyết kể về vị thần này, mình xin kể đại để ra đây một thuyết để tham khảo:

Truyện cổ của người Chàm có kể về chàng Eh Wa, con một gia đình nông dân nghèo đã rời quê hương qua xứ Ả Rập tìm thầy, học đạo. (Cũng có thuyết nói chàng đến xứ Serambi Makah, tức tiểu vương quốc Kelantan của Mã Lai). Lúc đang học thì nghe tin quê hương bị xâm chiếm (nghe đâu chính là Việt Nam đánh Chàm đó) nên chàng xin thầy về quê mà thầy không cho vì đoán được chàng mà tham gia cuộc chiến thì lành ít rủi nhiều. Nhưng mà chàng không nghe thầy, nhân lúc thầy ngủ lén lấy tấm ván của thầy kết làm bè và lên chiếc bè vượt sóng biển trở về quê hương. Thức dậy thấy mất tấm ván, ông thầy đoán ra mọi chuyện, thầy giận quá nguyền rủa đứa học trò không nghe lời: “đi đường bộ sẽ bị rắn cắn, hổ vồ; đi đường biển sẽ bị sóng dập, cá ăn”.

Và lời nguyền của thầy linh thật. Khi Eh Wa gần tới đất liền, bỗng sóng nổi lên đánh vỡ tan chiếc bè, còn chàng Eh Wa thì bị cá mập nuốt sống. Tuy bị chết, nhưng hương hồn Eh Wa nhập vào cá voi (dân gian kêu cá ông) để cứu vớt những ngư dân gặp nạn đắm thuyền. Do bị chết vì sóng nên dân gian truyền tụng và tôn thờ Eh Wa là Po Riyak nghĩa là thần sóng.

Thầy lợi hại quá chàng chưa chết vì chiến tranh đã chết vì bị thầy rủa… Cơ mà nói vậy thì Bà Rịa không phải là Bà nào cả mà là đàn ông mọi người ạ.

Tri Tôn

Là một huyện miền núi có diện tích lớn nhất và dân cư thưa thớt nhất tỉnh An Giang, thị trấn Tri Tôn cách Long Xuyên 52 km về phía tây, cách Hà Tiên 83 km về phía đông, và cách Châu Ðốc 44 km về phía tây nam.

Mọi người nghe hai tiếng “Tri Tôn” thấy có sang không? Giống như “hiểu biết tôn trọng” vậy. Cơ mà nghĩa gốc của nó thì bình dân lắm, giống như đại đa số địa danh của Nam Bộ nói chung.
“Tri Tôn” là gốc Khmer, phiên âm tiếng Khmer là “Sva Téanh” hay “Sva Tôn” mà thường đọc là Xà Tón, nghĩa là “khỉ níu kéo”. Tương truyền xưa kia vùng này hoang dã, khỉ thường quấy rối, trêu chọc khách qua đường.
Sở dĩ Xà Tón bị nói chệch thành Tri Tôn là do hiện tượng “mượn âm” của tiếng Việt. Thường thì, những từ ngữ trong ngôn ngữ khác khi được người Việt sử dụng mà có âm na ná tiếng Việt thì nó sẽ được gán cho cái “vỏ ngữ âm” của tiếng Việt. Ví dụ: Huyện “Kế Sách” (Sóc Trăng) vốn chẳng có nghĩa là mưu mô hay dự tính kế hoạch chính sách gì hết. “Kế Sách” là tiếng Khmer, phiên âm là “Ksach” nghĩa là “cát”. Hay kiểu như khe suối “Bò Ðái” ở Nam Ðàn (Nghệ An). Vốn dĩ nó tên là “Bó Ðảy”, là từ gốc Tày Nùng, nghĩa là “nguồn nước có cây nứa tép”, người Việt đã mượn âm để biến nó thành Bò Ðái.
Nói chung, “Tri Tôn” là một hiện tượng mượn âm, chứ không phải từ tiếng Việt hay âm Hán Việt gì cả.

Giáo Sĩ

tranvu.free.fr

Trần Vũ
Post by Sơn râu 25 May 2024

Alexandre Lucien Abel de Rhodes mang gương mặt thống khổ và si mê của oan hồn chưa hề biết đến tình yêu. Những ai bắt gặp giáo sĩ những năm thánh chiến, thảng thốt nhận ra bóng ma mang nỗi buồn chín thối ruột gan của một người đàn ông chưa toại nguyện thân xác. Hôi thối đến nỗi những người lính Marốc của tiểu đoàn 10 Tabor tăng cường cho trung đoàn 3 Lê Dương phải bịt mũi trước xú uế nồng nặc bốc toả từ nhà thờ chính toà Cao Bằng. Thời kỳ đường thuộc địa số 4 chưa bị cắt, con đường hun hút treo vắt qua những triền núi thăm thẳm, các chuyến quân xa hãy còn tấp nập đổ những đám lính say rượu ầm ĩ xuống xóm nhà thổ, pháo đài đầy rẫy hiện tượng. Mỗi khi Alexandre de Rhodes thăm các họ đạo, các ruộng mạ mới xanh mơn mởn bỗng dưng héo úa hoá ra cằn cỗi rồi đổ rạp xuống thành đống rạ cũ mốc như đã cháy khô từ bao kiếp nào. Các gốc sữa chai sần không thể trổ hoa và ngay đến con sông Hiểm nổi tiếng hung dữ, mặt nước bình thường cuộn siết xoáy nhận chìm biết bao bè gỗ cũng vụt trở nên lặng lờ thiu chảy. Nỗi buồn thống thiết trống vắng tình yêu ở cha cố lây lan đến khắp vạn vật, kể cả con người. Mỗi sáng chúa nhật rước lễ, trông thấy De Rhodes hiện hình trên bục giảng, các con chiên giáo xứ oà khóc vật vã tức tưởi như vừa trông thấy chính đấng Chirst đang chịu thương khó trên thập tự giá. Chứng trầm uất Thừa Sai phủ trùm lấp pháo đài đến mức những tháng sau cùng trước trận đánh đường biên giới, đại tá Antoine Marie Pierre Charton chỉ huy trung đoàn 3 Lê Dương và cố thống chế Ney tư lệnh khu biên thùy đông bắc phải nghiêm cấm các binh sĩ lui tới nhà thờ để tránh hội chứng cô buồn giáo sĩ. Ðó là thời kỳ Cao Bằng thác loạn với những trận làm tình thâu đêm của lính Lê Dương, những trận cười suốt sáng ở xóm thổ, những viên thuốc tẩy não vong bác sĩ Louis Pasteur phát cho các đứa bé mắc chứng trừu run chân, của bệnh viêm khứu giác Marốc không chịu nổi xú uế, của những cô gái Mèo khâu vá màn trinh vội vã và của cả những linh hồn sĩ quan da trắng thất lạc trong kế sách bình định của tổng chỉ huy Carpentier.

    Vương cung thánh đường thị xã mang kiến trúc Y Pha Nho thời Phục Hưng pha lẫn kiến trúc nặng nề Áo Phổ. Thời đó, các xóm lương đã gọi giáo đường là Lăng Cha Cả, ai cũng biết giáo sĩ De Rhodes chết từ lâu lắm, vong hồn chưa siêu thoát, còn đợi ngày phán xét cuối cùng chưa xẩy đến, hãy còn quyến luyến Ðông Dương vùng đất ông đã đến truyền giáo và lập chữ viết bản xứ. Tất cả giáo dân kính trọng quyết định của toà thánh, cho phép vong giáo sĩ trở về cai quản địa hạt Cao Bằng, nhưng nhà thờ chính toà đã mục nát lắm. Ngoài mùi xú uế xông từ nỗi buồn chín thối ruột gan của cha cố, hình như không còn thứ gì tươi tốt. Từ những nhành huệ đã tàn rữa rụng chậm chạp, những trang kinh thánh đã hoá tro, các chân nến đã hết sáp nhưng vẫn tiếp tục cháy ngọn lửa leo lét mà không ai hiểu vì sao, đến các băng gỗ cũ mục mối mọt kê dưới chân tượng thánh Michel đã bắt đầu nổi ghẻ và tháp chuông thẳng đứng cao vút cũng chìm trong vũng mây xiêu đổ hoang tàn. Alexandre de Rhodes chui rúc trong nhà nguyện. Giáo sĩ mặc cảm với tất cả mọi đàn bà sinh sống trong pháo đài từ lúc nhận chân ông đã bị thượng đế tước mất chức năng đàn ông, từ lúc khám phá rặng sữa sau nhà thờ không bao giờ có thể đơm hoa trắng và vườn cà ông trồng đã ba trăm năm không thể cho trái. De Rhodes chỉ còn một nỗi đam mê cuối cùng duy nhất. Nỗi đam mê tiểu thuyết.

    Hiếm ai biết những cuốn tiểu thuyết An Nam diễm tình dịch sang tiếng La Tinh và Bồ Ðào Nha bày bán ở hiệu sách Tôn Thọ Tường những tháng đầu năm 1950 do chính tay Alexandre de Rhodes chuyển ngữ. Giáo sĩ kinh hoảng khám phá thứ chữ ông ký âm ba thế kỷ trước đã trở nên lúc nhúc đông đúc thoát ra khỏi quy tắc văn phạm do chính ông thiết lập trong tự vị Việt Bồ La. Lúc sinh tiền, De Rhodes đã nhận ra mọi thứ biến hoá cấp kỳ ở An Nam. Lần chứng kiến cố Du tử đạo, De Rhodes đã để ý những khóm dứa trồng quanh pháp trường chỉ cao bằng đọt măng tây, đã lớn nhanh như thổi từ lúc đao phủ của Chúa Nguyễn hươi đao cho đến khi chặt thủ cấp cố Du, đã đơm trái chín vàng ngọt rụng xuống các gánh hàng rong xăm que bán cho khách đi xem hành quyết. Mãi về sau ông mới hiểu, khóm dứa nhờ thấm phân cố Du quá sợ hãi vãi đái mà lớn nhanh như vậy. De Rhodes cũng chứng kiến sắc tộc Kinh có khả năng học ngoại ngữ rất nhanh. Những ngày ở Ðàng Trong, khuyến khích các con chiên vừa mới theo đạo xưng tội, De Rhodes để ý các cô gái chỉ biết khai bằng tiếng Khmer ông không sao hiểu, nhưng cũng các cô gái đó, khi lập gia đình đến nhờ ông làm phép giao, đã nói lưu loát tiếng Trung Hoa và khi De Rhodes rửa tội cho đứa con đầu lòng, các cô dâu trẻ đã biết nói merci  và xin pourboire.  Thời kỳ trông coi giáo phận Cao Bằng, De Rhodes quyết tâm dành hết thời gian khám phá những bí ẩn trong con người An Nam. Ông không còn ăn bổng lộc của hội Thừa Sai và có đủ thời gian cần thiết cho đến ngày chúa sống lại. De Rhodes tin bí mật sắc tộc Kinh chỉ có thể phô diễn và lưu lại qua chữ viết. Ông bắt đầu lùng sục những chợ sách, nhưng rất nhanh De Rhodes ngạc nhiên thấy tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh in hệt tiểu thuyết Pháp, tiểu thuyết Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Trọng Quản không khác mấy thời ông viết Phép Giảng Tám Ngày và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng châm biếm nhức nhối ông không sao hiểu hết. Giáo sĩ bắt đầu tuyệt vọng, ông ợ hơi thum thủm và nỗi buồn chín thối ruột gan càng lúc càng nồng nặc thối hoăng khắp vùng. Các họ đạo xa lánh dần nhà thờ, mỗi lúc làm lễ De Rhodes phải giảng kinh Sám Hối ven sông Bằng Giang để gió xua bớt mùi thối. Giáo đường mỗi lúc một hoang vắng, ngay cả dì phước Louise Marie de Bourbon, nữ tu không còn chức năng đàn bà, cũng không dám thường xuyên đến chăm sóc cha cố, chỉ liên lạc với cố đạo qua thư tín. Tấm áo chùng gai của Alexandre de Rhodes không còn được dì Louise giặt giũ, mỗi lúc một cũ nát, bẩn thỉu và chảy nước vàng của chứng thối ruột. Nhà thờ chính toà trở nên thê lương, mối ăn ruỗng các cột quân và vòm mái đìu hiu leo lét tim đèn không còn dầu. Các xóm đạo chung quanh đã phải dọn đi vì sợ giáo đường sụp đổ bất cứ lúc nào. Cho đến ngày vong cố Du Paul Marchand ghé thăm, thâm tạ De Rhodes đã tiễn đưa ra pháp trường Thọ Ðức lúc lâm chung, đã mách chỉ cho giáo sĩ thư viện to lớn cổ xưa của nhà thờ xây chìm sâu trong một căn hầm đá, lúc đó, Alexandre de Rhodes mới khám phá ra Tự Lực Văn Ðoàn.

    Alexandre Lucien Abel de Rhodes đọc miên man những cuốn tiểu thuyết diễõm tình. Giáo sĩ không ra khỏi hầm đá, ăn uống tiêu tiểu ngay bên cạnh giá sách Tự Lực. Thậm chí ông không có thì giờ vén áo chùng mỗi khi đại tiện. De Rhodes đọc đi đọc lại những cuốn tiểu thuyết, đọc hết chương này sang chương khác, đọc hết cuốn này sang cuốn khác, ông vừa tra tự vị mỗi khi gặp những chữ mới không do ông ký âm, vừa phiên dịch sang tử ngữ La Tinh và tiếng Bồ Ðào Nha, ông bắt gặp trở lại niềm đam mê cuồng nhiệt nồng thắm ngôn ngữ thời trẻ, và càng đọc De Rhodes càng cảm văn phong trong sáng rất gần gũi Tây Phương vừa đầy tâm lý ý nhị An Nam. Giáo sĩ dịch bốn cuốn Bướm Trắng, Ðôi Bạn, Anh Phải Sống và Gánh Hàng Hoa gởi cho các nhà xuất bản Âu Châu nhưng ông chỉ nhận được những hồi âm thờ ơ của nhà Pléïade cho biết thị trường tiểu thuyết Ðông Dương không chạy, nhà xuất bản Plon trả lời thẳng truyện dài An Nam còn quá phôi thai chỉ sao chép lại tiểu thuyết Pháp, và nhà Flammarion chê bản dịch chưa chuẩn. Nhưng giáo sĩ không nản chí, ông gởi bán ở hiệu sách Tôn Thọ Tường bên hông Pharmacie de Garde thị xã. Thỉnh thoảng De Rhodes cũng nhận được thư độc giả của các sĩ quan trung đoàn 3 phê bình này nọ. Thư của cố hải quân thiếu tá Henri Rivière khen ngợi văn rất mạch lạc, gẫy gọn, khúc chiết, chỉ ít scène gây cấn. Thư của cố hải quân đại úy Francis Garnier nhận xét nếu thêm chút dâm dục, da diết, dữ dội và loạn luân sẽ lôi cuống hơn. Thư dì phước Louise thích đặt biệt truyện Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài hơn hết… Các thư độc giả khiến De Rhodes càng hăng say mê mẩn, ông đọc Ðời Mưa Gió như sống một mối tình thật sự. Lần đầu tiên giáo sĩ khám phá trong tiểu thuyết ghi chép những điều mà kinh thánh không hề nhắc đến. Ðời Mưa Gió ghi chép tất cả tâm trạng con người khi yêu mà De Rhodes chưa hề thấy trong Tân Ước, Cựu Ước. Ông si mê Ðời Mưa Gió đến quên đại tiện, quên lễ mifa, quên cả làm phép sức dầu ở nhà xác thị xã cho toán lính Marốc vừa tử trận. De Rhodes dịch mê man Ðời Mưa Gió, ông viết thoăn thoắt tựa như chữ đã nhập vào mình, tựa ông đã sống ở phố Quan Thánh nơi nhân vật Chương sinh sống, tựa đã trông thấy Tuyết uống champagne và khiêu vũ. De Rhodes viết đêm ngày, trăng lên trăng xuống ông không hay, mưa bão ông không hề biết, viết đến rách giấy, viết đến thủng bàn gỗ cẩm lai khiến ý văn tung toé, chảy lai láng trên mặt đất. Thậm chí bình mực đã cạn giáo sĩ vẫn tiếp tục chấm, tiếp tục viết đến lúc ngòi bút cùn vẹt, cán bút lụn dần rồi biến mất mà mực vẫn cứ tiếp tục trào ra chảy ở đầu ngón tay ông sưng đỏ như quả ớt.

    Những năm thánh chiến, ở Cao Bằng xuất hiện một hiện tượng kỳ quái, không liên quan đến giáo sĩ, mỗi cuối tháng ở nghĩa địa đất thánh Tây ùn lên một đám mây xám ẩm ướt lạnh lẽo phủ trùm khắp hai bờ sông Hiểm. Chính một trong những áng mây nặng chì u uất xám lạnh này đã len lỏi bay xuyên qua vách tường đá của căn hầm thư viện. Nhưng De Rhodes không trông thấy, ông vừa dịch đến câu chữ cuối, đóng bản thảo rồi lim dim mắt. Chưa bao giờ giáo sĩ hài lòng đến vậy suốt kiếp ma khắc khoải không lối thoát. Ông vừa hoàn tất công trình phiên dịch văn chương trác tuyệt, vừa cho các nhân vật tiểu thuyết Tự Lực một kiếp đời khác, trong một ngôn ngữ khác. De Rhodes nhắm mắt sung sướng, gương mặt ông phản chiếu trong mây nỗi hân hoan nhẹ nhàng của cậu bé Alexandre khi rước lễ thành niên lần đầu trong thành Goa. Ðã lâu lắm De Rhodes quên ngủ. Từ sau khi chết ba trăm năm, ông không còn phân định được tương lai, thực tại hay quá khứ. Nhưng buổi sáng đó, buổi sáng ngập mây xám trong tầng hầm vách đá của nhà thờ chính toà Cao Bằng, cha cố bất chợt nhớ đến thời trẻ đã có lần trông thấy một thiếu nữ tuyệt đẹp, đội khăn vành trắng không rõ mặt nhưng ánh mắt đen tuyền lấp lánh nghịch ngợm và mái tóc đen bóng của đàn bà Bồ Ðào Nha đã để lại trong lòng cậu bé Alexandre nhiều luyến tiếc. Alexandre đã ước mơ được đi theo thiếu nữ, sau rước lễ, cùng sóng đôi rảo bước trên những con đường lát đá cổ xưa của bến cảng trông ra đại dương mênh mông xa vắng, cùng nắm tay trong các lối đi quanh co nhỏ hẹp giăng hoa, treo cờ ngũ sắc và thắp đèn lồng của ngày kiệu Maria. Alexandre cảm giác anh đứng gần lắm thiếu nữ, gần có thể chạm được vào những đầu ngón tay thuôn mảnh dẻ nhú ra ở ống tay áo mỏng, gần đến mức có thể nghe được làn da cô gái đang hô hấp, gần sát đến nỗi anh trông rõ hàng mày đen tinh nghịch đang nhíu cong trông đợi. Alexandre nghĩ anh đang đứng cạnh đức mẹ Maria thời còn con gái. Cả hai chờ đợi nhau lâu lắm, chờ đợi tiếng thở của mỗi người lên xuống trong lòng ngực tràn máu ấm. Thiếu nữ chỉ đợi anh mời lôi kéo vào điệu vũ rước đám đang tưng bừng trẩy hội, để ngã mình xoay trong vòng tay đưa đón của Alexandre điệu múa của sóng biển. Song vũ trụ bất động. Chiếc bánh thánh còn ngậm trong miệng khiến Alexandre không thể cất tiếng. Ðức hồng y Richelieu của hội đồng giáo phẩm tối cao toà thánh đã không ngừng răn đe: Các con chiên không được nhai nuốt bánh thánh, chỉ có quyền ngậm cho đến khi mình thánh Chúa hoá thân thành xương thịt của mỗi con chiên, nếu không lửa thiêng sẽ đổ xuống trái đất đời đời. Alexandre nhắm mắt, nước mắt anh chảy ra vì đau đớn, cho nỗi đau bẩm sinh tật nguyền của một thiếu niên mười bốn. Ðến khi chiếc bánh thánh tan di, Alexandre mở mắt, cô gái đã biến mất. Alexandre còn trở lại giáo đường nhiều lần nữa với hy vọng gặp lại thiếu nữ, anh đã trở lại nhiều lần đến nỗi thuộc lòng hết bốn ngàn bản thánh ca, thuộc lòng tất cả những bài giảng của các linh mục, thuộc lòng toàn bộ kinh thánh và trở thành cha xứ Dòng Tên lúc nào anh cũng không hay. Alexandre trông coi nhà thờ Goa trong nhiều năm, với hy vọng gặp lại thiếu nữ có đôi mắt đen láy đầy khát khao sự sống, đến lúc gần tuyệt vọng, anh được tin người đàn bà đã kết hôn và theo chồng đi khai trí Châu Á. Cha xứ De Rhodes dấn thân vào hành trình truyền giáo Phương Ðông kể từ lúc đó, nhưng mãi mãi, giáo sĩ sẽ không bao giờ còn gặp lại người đàn bà của thành Goa.

    Buổi sáng đó, buổi sáng có những khúc lụa bay chậm rãi trong giấc ngủ thiu thiu, De Rhodes có cảm giác một làn sương sớm tinh khiết thơm cây trái đang phả suốt hầm. Hương hoa mỗi lúc một toả ngát đậm đặc lấn át dần mùi xú uế. Cha cố tỉnh ngủ hẳn. Ông nhìn trân trối đoá hồng đỏ gắt đang mọc nhú từ từ, trổ từ bức tường lâu năm ám khói, thứ hồng đỏ gắt rực rỡ Nhật Tân mà có lần De Rhodes đã trông thấy ở xứ bảo hộ Bắc Kỳ. Cha cố kinh ngạc không hiểu vì sao khóm hồng đỏ lịm đã có thể đâm xuyên thủng trần hầm thư viện. Nhưng rõ ràng các đài hoa đang nứt rạn vách đá. Trong một phút, ngôi huyệt cổ đơm chi chít mẫu đơn, glạeul và hồng tía, tựa nhà thờ sắp có lễ giao. De Rhodes lấy tay phủi mây để nhìn cho rõ và ông chết cứng khi ấy, khi tay hãy còn nắm níu những cọng mây đang trôi lơ lửng.  

    Alexandre chết sững. Người đàn bà có đôi mắt thông minh của thành Goa đang ngồi trước mắt anh, chỉ cách một mặt bàn. Vẫn thiếu nữ nở nang khoẻ mạnh của đêm kiệu Maria, vẫn mái tóc đen loang loáng bóng tối loã xoã trước sống mũi tinh nghịch. Alexandre nghe hơi thở của thiếu nữ lên xuống trong lồng ngực đã qua tuổi dậy thì bung nở kiêu hãnh, nghe hơi thở hổn hển của chính anh, của vong hồn đã tắt thở ba trăm năm. Anh muốn hỏi, nhưng không sao cất tiếng. Muốn thốt lên nỗi nhớ mong da diết diệu vợi của một trăm ba mươi ngàn ngày xa cách nhưng anh chỉ có thể lắp bắp.

    – Blời ơi!

    Alexandre muốn nói anh đã tìm cô gái suốt từ bấy, từ đêm kiệu Maria chấm dứt anh đã hốt hoảng chạy suốt đêm trong thành Goa tìm kiếm, từ năm 1624 khi anh bước chân xuống những thương thuyền Bồ Ðào Nha vượt đại dương đi tìm chân lý của sự sống, từ những tháng ngày lang thang lếch thếch giảng kinh ở các xóm đạo Ấn Ðộ, Mã Lai, Ma Cao, Hồng Kông, Qui Nhơn, Quảng Ngãi, đến đâu Alexandre cũng chỉ hỏi thăm một người đàn bà duy nhất, mong có ai thấy. Cho đến phút lâm chung trút hơi thở cuối cùng, trên giường bệnh trong thành Ba Tư, Alexandre vẫn hãy còn kêu tên người đàn bà mà anh chưa hề biết. Nhưng anh không tìm ra chữ. Không sao diễn tả thứ tình cảm vĩnh cửu nhân loại còn dai dẳng hơn cả sự sống hứa hẹn đời đời trên nước Chuá. Anh không thể thốt lên lời tỏ tình chưa ghi chép trong kinh thánh. Alexandre nhận ra miệng anh vẫn hãy còn ngậm chiếc bánh thánh ngày nào. Chiếc bánh thánh chưa bao giờ tan, chưa hề tan, chưa hoá thành máu thịt, còn ở nguyên trên lưỡi anh vị nhạt nhẽo của bột lúa mạch xây nhuyễn. Thiếu nữ cũng nhìn anh trừng trừng trân trối, cho đến khi cô gái chắp hai tay vái:

– Vâng em là Tuyết của Ðời Mưa Gió, của Nhất Linh và Khái Hưng trong Tự Lực Văn Ðoàn, người chịu ơn của anh!

    Alexandre Lucien Abel de Rhodes chỉ kêu lên được hai chữ thảng thốt Blời ơi rồi ngất đi. Chữ Blời mà cách đây ba thế kỷ, giáo sĩ đã nhạy cảm hiểu trong ngôn ngữ bản xứ mang cùng một ý nghĩa Ðức Chúa Cha trong kinh thánh.

*

    Trung úy Bernard de Lattre de Tassigny là một trong những sĩ quan trẻ còn sống hiếm hoi của trung đoàn 3 Lê Dương. Khác với đồng đội, đa số đã quá cố nhưng vẫn tiếp tục hiện dịch, Bernard mang trên mình sức sống còn trinh nguyên của những bông lys trắng chưa héo uá. Viên trung úy trẻ mang vẻ đẹp cao sang quyền quý của những tử tước thời trung cổ, vừa vương giả, vừa tinh khiết của các cô dâu ngày cưới. Nét đẹp của Bernard de Lattre trong trắng đến mức quân phục của anh không bao giờ có thể lấm lem, ngay cả những khi viên trung úy lội sình bùn dẫn một trung đội đi phục kích ở làng Trà Linh, sát cạnh biên giới Trung Hoa. Suốt một đêm ngâm trong sình lỏng, hỗn chiến ác liệt lúc chạm súng, đám lính Lê Dương cáu bẩn bê bết máu, nhưng trung úy De Lattre thẳng thớm như vừa bước chân ra khỏi hiệu giặt ủi. Nhưng khác hẳn đại tướng Jean de Lattre, Bernard không đi tìm hào quang chiến thắng, không ước muốn chinh phục Ðông Dương, anh chỉ mang một khát vọng duy nhất, đơn sơ, thầm kín, tìm thấy tình yêu lứa đôi trong đời sống. Trung úy De Lattre là sĩ quan duy nhất không xuống xóm nhà thổ, anh tin vào thượng đế và giữ mình cho tình yêu lớn sau này. Nhưng đó là chuyện của một năm trước, khi đồn Phủ Tổng Hoà chưa thất thủ, khi đường thuộc địa số 3 chưa bị cắt. Thời gian Cao Bằng bắt đầu bị vây hãm, tựa tên khổng lồ bị chôn giữa rừng, chỉ còn nhô chiếc đầu cổ quái khổng lồ lên nhìn ngắm núi đá, hai tay, một níu Bắc Cạn đã bị chặt, một níu Lạng Sơn cố gắng vung chiếc chùy sắt đập lũ dơi đang hút máu, Bernard de Lattre chỉ còn là một thân xác tuyệt vọng sống đợi chết.

    Buổi trưa khi đồn Phủ Tổng Hoà thất thủ và mẹ bề trên Thérèse đã một trăm tuổi, đã mù loà của chủng viện Các Thánh Anh Hài bất chợt nằm ác mộng trông thấy đám giặc Cờ Ðen vây đốt tu viện, không biết ở đâu có tin đồn trung úy Bernard de Lattre sắp làm lễ cưới. Tin đồn rùm ben đến nỗi, đại tướng De Lattre khi ấy còn chỉ huy đệ nhất lộ quân sông Rhin, từ Âu Châu đã phải gởi thư khuyên nhủ con trai chọn hôn phối phải có phẩm hạnh, gốc gác. Tin đồn nhiều đến mức Bernard de Lattre cũng tin là anh sắp thành hôn khi thấy các trại lính kết hoa và câu lạc bộ sĩ quan trải khăn ăn trắng muốt. Trong pháo đài chỉ có một người đàn bà da trắng duy nhất, nữ tu Louise Marie de Bourbon, phẩm hạnh và xinh đẹp. Bernard đã đến hỏi Louise cho ra lẽ, có phải dì phước đã xin rút phép thông công, thôi ân cách để thành thân với anh? Mãi cho đến lúc hy sinh ngoài mặt trận, Bernard vẫn hãy còn hối tiếc đã hỏi câu hỏi quá ngu xuẩn, dì Louise bị xúc phạm tột độ đã đóng sầm cửa tu viện để không bao giờ còn tiếp anh. Thời gian Bắc Cạn triệt thoái, các đơn vị tiền phương của sư đoàn 308 tiến đến sát bờ sông Hiểm, trung úy De Lattre bất chợt khám phá anh không thể nào tìm ra tình yêu lứa đôi trong cuộc đời, vì một lý do duy nhất, anh không thể định nghĩa được tình yêu, do đó, không thể tổng hợp những tiêu chuẩn cần thiết tối thiểu để chọn ý trung nhân. ý thức tình yêu không thể tìm thấy, rất khó hiện hữu, bỗng khiến Bernard hối tiếc anh chưa bao giờ xuống xóm thổ, chưa bao giờ ân ái với phụ nữ. Viên trung úy đi ngay xuống xóm yên hoa ven sông Hiểm, bất chấp những ổ phục kích đêm của Việt Minh, nhưng Bernard de Lattre khám phám thêm một điều kinh khủng, anh hoàn toàn bất lực, không có khả năng sinh lý, dù nhỏ nhoi, hiếm muộn.

    Thời kỳ đó, ở Cao Bằng lại thêm tin đồn trung úy De Lattre, con trai tân tổng tư lệnh quân đoàn viễn chinh tương lai, sắp tử vong. Nhưng kỳ quặc, khác với tin đồn thất thiệt lễ cưới, do các sĩ quan Pháp chòng ghẹo chế riễu, chính dân bản xứ kháo nhau đám tang sắp đến của Bernard sẽ đi qua phố Chả Cá, bên hông nhà thờ chính toà. Tin đồn nghiêm chỉnh đến độ mỗi lần Bernard xuống phố, các sắc tộc thiểu số Nùng, Mông, Mán, cả người Kinh đều cúi đầu vái lạy anh như đi điếu. Viên trung úy bắt đầu thắc mắc, nỗi nghi ngờ tăng dần lên sau mỗi khi xin xăm, gieo quẻ ở các ngôi đền An Nam. Khác Francis Garnier, khác Henri Rivière, Bernard yêu thích đặc biệt kiến trúc gỗ Á Ðông. Anh lui tới thường xuyên các chùa chiền và khám phá tục bói toán An Nam. Thời kỳ đó, những ngôi chùa lớn nhất của Thăng Long đều có văn phòng đại diện tại Cao Bằng, Bernard đã viếng hết những văn phòng chùa cổ nổi tiếng nhất, đã đến chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc, chùa Quan Thánh, chùa Trấn Võ, Văn Miếu Quốc Tử Giám và lần nào lấy lá số tử vi, các thầy An Nam cũng đều quả quyết anh sẽ chết ở Ðồng Khê, một trăm thầy như một, nhất quyết anh sẽ chết ngày 30 tháng 5 năm 1950. Thậm chí có quẻ còn cho cả giờ chết, là giờ Thần Trùng khiến sau này anh sẽ bắt đi đại tướng Jean de Lattre de Tassigny, khi ông đang ở trên tột đỉnh vinh quang của danh vọng sau chiến thắng Vĩnh Yên. Ban đầu, Bernard đầy nghi hoặc, đã điện về phòng quân số của bộ tư lệnh Bắc Phần, đích thân tướng Alessandri đã trấn an, khuyên anh yên tâm sẽ không chết ở Ðồng Khê, vì tất cả các phúc trình báo cáo đều ghi rõ tìm thấy xác trung úy Bernard de Lattre tại Ninh Bình, trong trận bờ sông Ðáy, ngày 30 tháng 5.1951, đúng một năm sau đó. Suốt mấy tháng liền, Bernard rất hoang mang, anh không biết đâu là sự thật, đôi lúc tin vào quân sử, vào thực tế hiển nhiên, đại tướng De Lattre chưa sang Ðông Dương, chưa có trận Vĩnh Yên làm sao có trận Ninh Bình, và tổng chỉ huy đương nhiệm vẫn hãy còn là tướng Carpentier, nhưng tất cả các quẻ xin xăm ở đền An Nam đều mang một thông điệp trái ngược rùng rợn: Ðồng Khê mạng vong lúc 9 giờ sáng.

    Buổi trưa đến nhà thờ chính toà thị xã, để từ giã vong hồn cha cố, trung úy De Lattre đã xuống tinh thần lắm. Ðã mùng 9 tháng 4, chỉ còn đúng 7 tuần nữa là đúng ngày thần Trùng đến bắt người, mà De Lattre tin chắc anh có tên trong danh sách. Trung úy De Lattre cũng khám phá cơ thể anh đang biến dần thành xác chết, da mặt anh xanh tái, môi thâm và tròng mắt càng lúc càng trắng đục. Bernard cố đổ lỗi do anh mất ngủ, hút thuốc lá quá nhiều và sợ hãi, nhưng rõ ràng là da thịt anh đang chết đi từ từ, chết dần dần đến nỗi anh ăn uống không còn cảm thấy vị giác gì nữa, hai bàn tay lúc nào cũng lạnh ngắt như bàn tay xác chết. Bernard cũng bắt đầu có những dấu hiệu mắc hội chứng buồn thối ruột giáo sĩ. Thứ chứng bệnh chỉ xẩy đến cho đàn ông không toại nguyện thân xác. Anh đã bắt đầu ợ hơi thum thủm và mỗi khi đánh rắm, mùi xú uế thối kinh dị. Bernard tin chắc anh sắp chết, không ai có thể cứu nỗi. Anh muốn đến viện Pasteur khám, nhưng trông thấy những đứa trẻ mắc chứng trừu run chân uống thuốc tẩy não, tuy hết bệnh, nhưng tròng mắt ngô nghê, đầu óc trống rỗng, cứ cười toét miệng khiến anh kinh hoảng. Những tuần lễ sau cùng, các quẻ xăm trở nên khẩn cấp, các tờ chú giải chỉ in đậm một chữ duy nhất, tử vong, nhấp nháy liên hồi như muốn báo nguy hiểm.

    Buổi trưa đến chào cố đạo, viên trung úy trông thê thảm. Quần áo anh dơ bẩn, vấy ố, tựa vẻ đẹp trắng trong đã bị chứng thối ruột gan ăn nhấm. Bernard vừa nhận được lệnh thuyên chuyển đơn vị đi đóng đồn Ðồng Khê, nơi anh sắp chết. Trung úy De Lattre thấy rõ, anh đang bước dần đến định mệnh, không thể thoát, không thể tránh khỏi. Buổi trưa nắng gay gắt, nắng ran trên mái lô cốt của hàng rào phòng thủ, Bernard de Lattre trang bị rất nhiều vũ khí, ngoài súng colt chỉ huy, anh còn mang bazooka và mìn chống chiến xa, viên sĩ quan luôn sợ hãi chạm trán thần chết, bắt gặp thần Trùng ở mỗi góc phố. Bernard muốn chết trong danh dự, chiến đấu đến phút cuối cùng của đời binh nghiệp ngắn ngủi. Anh cũng không dám đi một mình, sợ thần chết kéo cả bầy. Cùng đi với anh có toán lính da đen lực lưỡng cầm trung liên nồi mở đường. Ðám lính đi qua những con ngõ im ỉm, tất cả mọi cửa sổ, cửa cái của các hiệu thương buôn đều đóng kín, cả những gánh hàng rong cũng vất lây lất, không kẻ mua, người bán, chỉ nổi những váng nước vối tím tái. Ðám lính đi qua lối đi ngoằn ngèo, giữa trưa im phắc, không tiếng động, không một chút âm thanh nào khác ngoài tiếng cựa mình của bụi. Tất cả phố xá đều mang dấu hiệu một lễ tang của những ngày sau hoả thiêu, một nhà mồ. Nhưng khác mọi khi, các gốc sữa phía sau nhà thờ xum xuê rậm rạp trổ hoa trắng khác thường, tiết ra mùi sữa bột Guigoz nhờn nhờn của khi vừa trộn nước sôi và vườn cà đã ba trăm năm chưa cho trái chen chúc, lúc nhúc những quả cà to bằng trái bí rợ nằm lổn ngổn trên đất. Bernard bỗng cảm thấy thấy sợ. Tất cả mọi thứ đều khác lạ, làm như có bàn tay vô hình lướt qua vạn vật. Chỉ có thể là thần Trùng.

    – Ối anh đừng bắn! Em lạy anh đừng bắn.

    Thiếu nữ rên lên hốt hoảng lúc viên trung úy tông cửa. Bóng tối của giáo đường vỡ oà với ánh sáng ập vào nền đá như rải lửa. Dưới tượng Ðức Mẹ cũng đang hốt hoảng, Bernard chết sững. Cô gái chắp hai tay vái không ngớt.

    – Ối anh đừng bắn! Em là Tuyết của Ðời Mưa Gió, người chịu ơn của anh!

    Mãi về sau, trung úy De Lattre vẫn hãy còn nhớ đã choáng váng, lảo đảo như trúng sét. Anh vừa trông thấy rõ rệt định nghĩa tình yêu bấy lâu tìm kiếm, chép đầy đủ trên thân thể cô gái không sót một hàng, một chữ nào. Bernard đánh rớt quả mìn chống chiến xa lúc đó, trong hồi tưởng anh hoàn toàn không nghe thấy tiếng chân hối hả của đám lính ngã bổ hứng quả mìn sợ bật kíp bung nổ. Cả tiếng hỏi nhốn nháo quát tháo và tiếng động gạt tung các tấm phên chắn trước phòng xưng tội lùng sục đặc công Việt Minh và tiếng cơ bẩm lên đạn lục soát một vòng những băng gỗ cầu nguyện của toán cận vệ. Anh nhớ đã rất ngạc nhiên vì những người lính không trông thấy cô gái, đang quỳ trước mặt anh van vái. Bernard nhớ rõ, thiếu nữ in hệt người đàn bà trong trí tưởng bấy lâu anh lùng kiếm, đôi mắt lá răm cuống quýt, mái tóc đen bóng tối, nước da ửng mật giữa trưa nóng, cô gái mang suốt thân thể những bí ẩn của tình yêu và điều kỳ lạ, anh đọc được hết tất cả những mật mã ghi chép tường tận trên da mặt cô gái, viết chi chít ở vành môi dầy và lan xuống đến hai vai, ở bắp tay thuôn nõn săn chắc, đầy ắp ở lồng ngực lên xuống chỉ bị che khuất bởi vạt áo lụa đang trải ra trước mắt. Bernard nhớ anh đã vật cô gái ra đất, xé toạc áo sống để nhìn cho rõ những nguyên lý thầm kín của tình yêu chép nắn nót trên hai bầu ngực, viết quanh rốn, xâm từng chữ ở hai đùi và chính giữa bụng thiếu nữ. Và kỳ diệu, mỗi khi đọc đến đâu, xác thân anh sống lại, hai bàn tay ấm dần, tròng mắt trong xanh và môi không còn thâm tím. Bernard đọc ngấu nghiến tất cả những chữ viết xoắn xít trên mình thiếu nữ, anh không thể nhớ đó là chữ La Tinh, An Nam hay Tây Ban Nha, chỉ nhớ anh có thể hiểu hết tất cả, những định nghĩa tình yêu đang chảy đột ngột tuôn vào người anh như sấm sét.

    Cái chết đột ngột của trung úy Bernard de Lattre de Tassigny ngay sau đó, ở trận tổng công kích Ðồng Khê khiến không ai rõ chuyện gì đã xẩy ra trong nhà thờ chính toà, nhưng những năm sau thánh chiến, đám lính da đen ít ỏi còn sống sót kể những câu chuyện lạ lùng. Buổi trưa vong giáo sĩ De Rhodes bay đi giảng kinh ở các bản làng Nùng, Thổ, trung úy De Lattre đến nhà thờ và hoá điên. Ðám lính da đen trông thấy ông vật lộn một mình với khoảng không, tuồng ông rơi vào trạng thái động kinh tâm thần, toán lính cận vệ ngỡ ông sắp sốt xuất huyết, vội vã chích huyết thanh, nhưng De Lattre đã giận dữ đuổi cổ tất cả ra khỏi nhà thờ. Ðứng ngoài cổng những người lính châu Phi nghe rõ viên trung úy thở hào hển, hối hả gục mặt xuống đất hôn như mưa lên nền đá hoa cương, đôi lúc đối thoại bí mật với một người đàn bà nào đó, có lúc gần như tỏ tình đắm đuối đến kiệt sức. Suốt buổi chiều Bernard de Lattre ở trong nhà thờ, cho đến khi bước ra, gương mặt ông mang nỗi si mê kỳ dị. De Lattre vứt bỏ vũ khí, cởi quần áo, nhảy xuống sông Bằng Giang bơi đến tận nguồn, mãi đến tối mịt ông mới bơi trở về, và chuyện lạ hiếm có, lần đầu tiên ông dẫn cả đơn vị xuống xóm thổ, đãi bia và thuê bao tất cả những cô gái điếm kinh nghiệm. Suốt đêm đó, cả thị xã không ai ngủ được vì tiếng rên la thoả mãn không đứt quãng của các cô gái nối tiếp nhau thay phiên làm tình không ngơi nghỉ với viên trung úy. Tiếng kêu la khoái lạc vọng đến sáng và rất đông đã có thai sau đó. Nhiều năm sau chiến tranh vẫn còn nhiều cô gái giắt con đến đại sứ quán Pháp ở phố Lý Quốc Sư, xin mang họ De Lattre, xin nhập tịch và lãnh trợ cấp trong lúc chờ đợi định cư ở mẫu quốc.

    Tin trung úy De Lattre tìm thấy định nghĩa tình yêu loan rất nhanh, trở thành hiện tượng trong những ngày trước trận đánh thảm khốc đường biên giới. Ai gặp De Lattre cũng hỏi xin định nghĩa tình yêu nhưng viên trung úy bảo mật cho đến phút chót, cho đến khi lên quân xa dẫn đại đội đi đóng đồn Ðồng Khê. Câu chuyện của toán lính da đen chấm dứt ở đó. Những kẻ tò mò muốn biết bí mật của nhà thờ chỉ nghe kể, khi tiểu đoàn thủy binh từ bờ sông Ðáy được lệnh bằng mọi giá tái chiếm núi đá vôi Ninh Bình, trung đội khinh binh đi đầu đã tìm thấy xác Bernard de Lattre hãy còn tươi nguyên, còn giữ nguyên trong tròng mắt chưa khép những hàng chữ viết li ti chi chít một thứ ngôn ngữ kỳ dị nào đó mà không ai có thể hiểu. Ðó là thời lính Lê Dương ưa hát những bản nhạc của quỷ:

Louise Marie où vas tu dans le monde?

Je vais où vont les soldats

Louise Marie qui aimes tu?

J’aime celui qui va mourrir

et le diable en rit, Ha, Ha, Ha, Ha

    Cũng là thời Tuyết dứt khoát thôi ăn ở với Chương trong Ðời Mưa Gió.

*

    Ban đầu là tiếng sầm sầm như nhà thờ có gió lộng. Tiếng gió vần vũ mỗi lúc một lớn khiến Tuyết thức giấc. Tiếng gió sồng sộc thổi tốc các viên ngói bay thốc tháo ở phố Tây làm rung các tấm tôn của phố Chả Cá vang lên như tiếng kêu của thú rừng. Tiếng gạch đá lăn bị gió quất lên vách nhà thờ từng chập nghe rõ mồn một. Tuyết bật dậy bước ra khỏi chồng bản thảo cha cố xếp ngay ngắn bên cạnh tiểu thuyết Ðời Mưa Gió. Tối qua cả hai ngủ muộn. Tuyết đã xưng tội với giáo sĩ suốt đêm đến gần sáng. Trong suốt cuộc đời của một nhân vật tiểu thuyết Tuyết chưa bao giờ sống một buổi tối kỳ lạ như thế. Quá khứ của nàng cứ lần lượt trôi qua trong đôi mắt xanh thăm thẳm của giáo sĩ. Kể cả những ngày mới gần đây sống bên cạnh cha cố, tất cả cử chỉ của một người đàn ông vô cùng thông thái, lịch duyệt và cưng chiều nàng hết mực cũng diễn ra chậm chạp. Ðến suy nghĩ của chính nàng, Tuyết cũng trông thấy lại. Tuyết không sao hiểu nỗi đức cha có thể sống với chứng bệnh buồn bã thối chín ruột gan, thường trực chảy nước vàng ở dương vật. Ngay hôm đầu tiên Tuyết đã quyết định nấu nước cho giáo sĩ tắm. Trong lúc ông ngâm trầm hương trong chiếc lu cổ, Tuyết đem hết tất cả những tấm áo chùng bẩn thỉu đi giặt giũ. Tuyết đã rất ngạc nhiên khi không có ai trong hiệu giặt ủi cao cấp đô thị trông thấy nàng, mặc dù Tuyết đã lên tiếng gọi nhiều lần, cuối cùng, Tuyết đành bỏ chung giỏ đồ giặt của khách và hôm sau lẳng lặng đến lấy. Mỗi tối Tuyết dọn ăn trong phòng riêng của cha cố. Tuyết hay hầm chuột sốt vang với mận Tây Bắc, ngâm với lá nguyệt quế, có khi băm nhỏ chục vắt tươi với hành sống tưới mật trộn sữa làm gỏi, những món cha cố rất thích. Chính lúc trông thấy lại cảnh chính tự tay nàng lột da cóc, Tuyết mới sực nhớ đã quên lạng lấy mật vất bỏ, nhưng rất may giáo sĩ đã chết, nên khi ăn trúng mật cóc ông không chết nữa. Những ngày sống trong nhà thờ, vào ra trên khoảng sân lát đá xanh, trông thấy chiếc bóng của chính nàng nhập vào với bóng Ðức Mẹ, Tuyết không ngớt suy nghĩ. Tự trong thâm tâm Tuyết biết De Rhodes lầm lẫn nàng với người đàn bà thành Goa, lỗi do Khái Hưng và Nhất Linh đã không miêu tả nàng rõ rệt, khiến De Rhodes đã chuyển hoán trong vô thức của một bóng ma, nét đẹp riêng của người đàn bà ông si mê thời trẻ lên nhận vật nữ chính của Ðời Mưa Gió. Trong thâm tâm Tuyết cũng chịu ơn sâu sa giáo sĩ đã cho nàng thêm một kiếp sống, một kiếp đời, trong một ngôn ngữ khác. Giáo sĩ đã dạy nàng biết thêm tiếng La Tinh và Bồ Ðào Nha, cho phép nàng trông thấy những người đàn ông da trắng. Tuyết đã quyết định thôi ăn ở với Chương và ở lại nhà thờ một thời gian phụng dưỡng cha cố, cùng phụ với ông hầu việc Chúa, ít nhất cho đến khi De Rhodes hết chứng bệnh thối ruột gan.

    Hôm đầu tiên Tuyết đã ngỡ ngàng trước ánh mắt si mê của giáo sĩ. Ánh mắt đắm đuối của những xác chết không được vuốt mắt, đã khiến nàng đỏ mặt, cùng lúc cảm động vì từ ngày Khái Hưng và Nhất Linh bỏ đi, chưa một người đàn ông nào yêu nàng nhiều như vậy. Trong thâm tâm Tuyết không yêu Chương, và tự trong thâm tâm Tuyết cũng biết Chương không yêu nàng, cả hai đã bắt buộc phải sống chung trong ngôi biệt thự số 84 đường Quan Thánh chỉ vì một lý do duy nhất, Nhất Linh đã bắt buộc họ ăn nằm với nhau. Tuyết đã thù Nhất Linh biết chừng nào, người đàn ông có cái tên Nguyễn Tường Tam mà nàng vẫn hãy còn yêu, còn kính phục và vẫn hãy còn hờn giận đến phút này. Ngay khi mở mắt, bước vào đời, Tuyết đã trông thấy gương mặt ấy, gương mặt đàn ông rắn rỏi, cương nghị và vô cùng trí thức của Nguyễn Tường Tam. Tuyết nhớ nàng đã đưa một bàn tay vuốt nhè nhẹ gò má xương của Nhất Linh, và hình như lúc đó Nhất Linh cũng đã cười nhẹ nhàng. Chính Nhất Linh đã dạy cho nàng cách đi đứng, ăn nói. Chính câu nói Vâng em là Tuyết người chịu ơn của anh,  mà Tuyết đã thốt lên với giáo sĩ ngay hôm đầu tiên, do chính tay Nhất Linh viết ở dòng thứ 13 của trang 35 và bắt nàng học thuộc lòng để ứng xử trong mọi tình huống. Tuyết biết nàng đã yêu Nguyễn Tường Tam ngay từ những giòng chữ đầu tiên của Ðời Mưa Gió. Thứ tình yêu đầu đời của nữ sinh với thầy giáo, của một cô gái với phụ thân, của một cô em với anh trai, và của cả nhân vật nữ với tác giả. Thứ tình cảm tuyệt đẹp của mọi tình cảm gộp lại gọi là tình yêu. Thời toà soạn còn ở phố Cổ Ngư, Nhất Linh hay đến xem qua bản thảo chưa hoàn tất, Tuyết luôn ngã vào lòng Nguyễn Tường Tam hôn say đắm đôi môi thơm thuốc tẩu, Tuyết sẵn sàng dâng hiến cho Nhất Linh lúc đó, thậm chí những khi Nhất Linh ngồi trước bàn viết, Tuyết chỉ mặc chiếc áo pyjama duy nhất của anh vắt trên thành ghế, không cài cúc đứng tựa bên cạnh xem Nhất Linh miêu tả canh bạc đương diễn ra ở nhà bà Phủ Thanh. Có những đoạn đã khiến nàng cười ngất, cười đến ngã hẳn vào lòng anh Tam, những lúc đó cánh áo pyjama bung mở phô bày thân thể nàng, Tuyết đã chờ dợi biết bao lần anh Tam áp mặt vào ngực mình, hôn lên chiếc bụng phẳng, ôm hôn âu yếm thân thể do chính anh tạo ra, nhưng lần nào Nhất Linh cũng gỡ tay, đỡ nàng dậy, cài lại năm cúc áo và khuyên nàng đi nghỉ. Mấy ngày sau, anh Tam giới thiệu với Tuyết một người đàn ông khác. Ngay hôm gặp gỡ, Tuyết đã bị nụ cười trữ tình của Khái Hưng quyến rũ. Khác Nguyễn Tường Tam, Trần Khánh Dư lãng mạn hơn rất nhiều, chính Khái Hưng đã giắt Tuyết đi mua sắm váy đầm, nước hoa, ví cầm tay và cả đồ lót. Chính Khái Hưng đã dạy cho nàng cách vén chéo áo, cách trang điểm, vẽ mắt, tô môi và truyền dạy tất cả nghệ thuật phân tích tâm lý đàn ông. Ở Khái Hưng sức sống toát ra mời gọi, không câu nệ, cân nhắc và cứng nhắc như Nhất Linh, đặc biệt Khái Hưng cho phép nàng bỏ Chương đi chơi thỉnh thoảng ở đồng quê, không nhất thiết phải ngủ đêm lại ngôi biệt thự số 84 Quan Thánh. Thời kỳ ở Cao Bằng Tuyết vẫn chưa biết rõ mình yêu ai nhiều hơn giữa hai người đàn ông cùng tài hoa lỗi lạc này. Tuyết chỉ biết rõ nàng yêu cả hai, mối tình duy nhất, và Tuyết cũng biết nàng bị ruồng rẫy. Buổi chiều Khái Hưng đến phố Cổ Ngư viết thay cho Nhất Linh và thông báo cho nàng một tin quan trọng, Tuyết phải ăn nằm với Chương tối đó. Tuyết đã khóc hết nước mắt, đã ôm chầm lấy Trần Khánh Dư.

– Anh Dư hãy ngủ với em đi, em muốn người đàn ông đầu tiên là một trong hai anh!

– Tuyết, anh xin lỗi. Anh không thể làm khác, cốt truyện là của anh Tam, anh chỉ được mời viết chung những chương tả tình. Buồi chiều đó hình như Khái Hưng đã xúc động rất nhiều. Tuyết còn nhớ anh Dư đã hôn môi nàng thật lâu, đã mân mê và hôn đầu ngực nàng thật lâu trước khi dứt khoát đứng lên, bắt nàng vận áo và kêu xe đưa đến số 84 Quan Thánh để ngủ với Chương.

    Tuyết bần thần nhặt chiếc khăn san và mặc lại chiếc áo dài thâm tối qua cha cố đã vụng về làm đứt mất một cúc. Những hình ảnh của buổi tối xưng tội vẫn chưa ra khỏi tâm trí. Suốt tối giáo sĩ đã làm phép rửa tội cho nàng vào đạo. Những hôm trước đi chợ lồng thị xã, Tuyết đã nghe một số giáo dân nói giáo sĩ có biệt tài đọc hết quá khứ của những con chiên đến xưng tội, không ai có thể dấu giếm tội lỗi đã phạm. Nàng đã nghĩ xóm đạo nói quá, lúc trả tiền nhưng không ai lấy, đến nỗi nàng phải lấy trộm rau cải, Tuyết hãy còn nghe kể giáo sĩ đọc được cả quá khứ của người chết. Ðến tối, quỳ gối trong nhà kín xưng tội, trước tấm lưới chỉ vang hơi thở kiên nhẫn của giáo sĩ, Tuyết hãy còn phân vân không biết bắt đầu từ đâu cuộc đời của một nhân vật tiểu thuyết mà Nhất Linh đã bắt chung chạ với mọi đàn ông. Cho đến lúc tiếng thở cảm thông của De Rhodes trở nên gần sát, ngẩng lên, Tuyết bàng hoàng trước hình ảnh của quá khứ đang ào ạt trở về diễn ra rõ mồn một trong đôi mắt cha cố, đôi mắt chứa chan quá khứ của chính nàng và xanh biếc tất cả những đại dương giáo sĩ đã vượt qua trong suốt hành trình truyền giáo. Chính lúc đó Tuyết đã thảng thốt trông thấy lại cảnh nàng tát tai Nguyễn Tường Tam khi Nhất Linh đến cuối truyện bắt nàng ho lao và trở thành một con điếm.

    – Anh đối xử với đàn bà một cách khốn nạn!

    Tuyết mắng chửi. Nàng đã tát Nhất Linh tàn nhẫn mạnh đến nỗi đến bây giờ Tuyết hãy còn đau nhức các đốt xương mỗi khi trời trở gió. Tuyết còn muốn tát nữa, nhưng Nguyễn Tường Tam đã chụp lấy tay nàng khoá cứng và mắng bằng giọng đanh thép phũ phàng.

    – Cô chỉ là luận đề của tôi, cô không có quyền gì hết để đòi hỏi. Tôi cho cô đi làm điếm là may, để cho cô có một nghề sinh sống, hay cô muốn đi theo Việt Minh? Từ nay trở đi cô đừng tìm tôi nữa, tôi đã xong luận đề của mình. Tôi không có bổn phận gì đối với cô. Thôi cô về đi.

    Tuyết đã khóc tức tưởi, như nàng đã khóc hết nước mắt ngày Khái Hưng tản cư. Anh Dư không cho phép nàng đi theo và mãi mãi Tuyết không bao giờ còn gặp lại người đàn ông kỳ tài của tiểu thuyết An Nam này nữa.

    Những ngày sau Tuyết làm tình với Hoàng Ðạo ở phố Cổ Ngư để trả thù Nhất Linh. Anh Tam bỏ nàng, rời Hà Nội sang Trung Hoa đi làm một cuộc cách mạng nào đó mà Tuyết không sao hiểu. Buổi tối khuya khoắt có những cánh đào dịp Tết đang rụng rơi, Tuyết bắt gặp Hoàng Ðạo đang đọc Ðời Mưa Gió. Trong lòng Tuyết hãy còn đầy rẫy những giận dữ thù hận Nhất Linh đã tệ bạc, xúc phạm và nhất quyết phải trả thù làm một điều gì hoen ố thanh danh của Nguyễn Tường Tam. Tuyết ngắm Hoàng Ðạo thể thao và khoẻ mạnh. Không đợi người thanh niên lên tiếng, Tuyết cởi bỏ y phục, chiếc áo dài Cát Tường Nhất Linh luôn bắt nàng mặc mỗi khi ra phố, chiếc quần lót kiểu Tây mỏng manh Khái Hưng mua tặng, Tuyết thích khoả thân trước sự kinh ngạc của đàn ông và biết rõ thân thể nàng toát ra cám dỗ dâm dục vì đã được tạo ra cho một luận đề đả phá dâm đãng. Tuyết đã chống hai tay xuống bàn viết của Nhất Linh, cho Hoàng Ðạo xâm nhập. Tuyết thích làm tình với những người đàn ông không thấy mặt, cho phép nàng mường tượng đến gương mặt của anh Tam, anh Dư. Hoàng Ðạo sau ân ái, gấp sách bỏ đi lặng lẽ, Tuyết lau những vết sữa trên đùi bằng chiếc khăn tay của Thạch Lam, người em trai khác của Nguyễn Tường Tam. Một lần Tuyết đã bắt gặp Thạch Lam trên chiếc giường của Nhất Linh. Thạch Lam đọc say mê những phác thảo của anh Tam. Thạch Lam mang nét trong trắng, hồn nhiên vô tư của những nụ cúc còn e ấp. Tuyết theo dõi kín đáo người thanh niên trẻ tài hoa, mà nàng biết, chỉ cần nhìn thoáng qua, chưa hề biết đến thân xác phụ nữ. Trên chiếc giường trải drap trắng tinh của anh Tam, Thạch Lam đọc miên man Ðời Mưa Gió. Lúc đó Tuyết đã bắt đầu có kinh nghiệm, mỗi khi người đọc say mê tiểu thuyết, cảm nhân vật, nàng có thể hoá thân trở thành người thật. Tuyết đã hiện ra dưới chân giường Nhất Linh mà Thạch Lam không trông thấy. Gương mặt anh mang nét xanh xao của những người ốm nặng. Tuyết có nghe anh Tam than Nguyễn Tường Lân ho lao, nhưng chứng kiến tận mắt đôi môi khô khốc, tròng mắt võ vàng của tuổi trẻ khiến nàng não lòng. Thạch Lam đọc chăm chú đoạn nàng ăn nằm với Chương. Tuyết bỉ ổi anh giáo Chương nhưng cùng lúc cảm nhận ở Thạch Lam một đòi hỏi thân xác mà nàng biết, chưa hề toại nguyện. Tuyết đặt tay lên ống chân của Thạch Lam, ống chân thẳng, ốm, mà nàng biết đã đi khắp cùng ba mươi sáu phố phường. Tuyết vuốt ve Thạch Lam cho đến khi thân thể anh trở nên mạnh mẽ, gân guốc tuồng như Thạch Lam chưa bao giờ đau yếu. Lúc uống chất lỏng ấm trào ra từ thân thể người thanh niên, Tuyết có đôi chút mặc cảm phạm tội, nhưng Nhất Linh đã muốn nàng làm một con điếm thì trước nhất anh Tam phải chấp nhận nàng là một con điếm của gia đình anh. Vị sữa của Thạch Lam khác với Hoàng Ðạo, trong trẻo, thơm hương bún chả Hàng Mành, xôi gấc Cấm Chỉ, và ốc nóng Hàng Gai, tất cả hoà quyện tuồng mùi vị thức ăn. Thạch Lam mất đi, Tuyết chẳng bao giờ còn được nếm vị bún thanh cảnh của Hà Nội nữa.

    Tiếng gió ầm ào trổi lên mạnh mẽ, rõ ràng có một vật nặng trĩu đang rơi xuống nóc nhà thờ với sức hút nghiệt ngã của trọng lực. Gió mỗi lúc một thổi thốc, gào rú, kéo đập những tấm phên rền rĩ như nhà thờ có đám. Tuyết quyết định lên gác chuông để trông cho rõ những gì đang xẩy ra trong pháo đài. Một ánh lửa đỏ loé qua ô cửa tò vò khiến nàng hốt hoảng. Tia chớp hực lửa nháng lên gương mặt đấng Chirst đang đau đớn vùng vẫy trên thập tự giá, nỗi đớn đau kinh dị của thân xác bị đóng đinh. Nỗi đau của Jésus Christ khiến Tuyết hãi hùng hụt chân. Các nấc thang gỗ cổ xưa vang những tiếng rên như giam hãm những linh hồn khẩn khoảng van nài trên mỗi bậc thang càng làm nàng sợ hãi. Cha cố đã kể nhà thờ Cao Bằng xây bằng những viên gạch đã có từ lâu lắm, từ những thành luỹ của Mạc Ðăng Dung, mỗi thỏi gạch đều chứa mang âm hồn An Nam tắm máu chiến tranh và máu người. Tuyết cố gắng đi thật nhanh lên nóc chuông nhưng những bậc thang trơn trợt nhấp nhô rung chuyển tựa có những bàn tay vô hình cứ nắm chắc lấy cổ chân nàng. Tuyết bắt đầu trông rõ những cuồng lửa từ những đỉnh núi phía tây sông Hiểm đang bay đến nhà thờ. Tuyết linh tính chuyện gì đó sắp xẩy đến, chắc chắn sắp xẩy đến một chuyện gì như đã xẩy đến cho nàng cách đây vài tuần khi trung úy De Lattre bước chân vào nhà thờ.

    Tuyết đã nhận ra ngay viên sĩ quan sắp chết. Chỉ có những người đàn ông sắp chết mới không còn một chút ham muốn tình dục nào trong ánh mắt. Chỉ có những người đàn ông sắp mệnh chung mới mang vẻ sầu thảm buồn rủ rượi và dương vật suy dinh dưỡng mềm lả như vậy. Sau lúc hốt hoảng, Tuyết đã giải bầy cho Bernard De Lattre hiểu lá số tử vi An Nam còn phải đi kèm với tướng mạo, đức năng, chỉ tay và đức năng có thể thắng số. Các thầy An Nam không thể coi tướng Tây dựa trên chuẩn Á Ðông, đo nhân trung Tây Phương bằng thước đo Trung Hoa. Tuyết chỉ không thể giải thích được những quẻ xăm kỳ lạ mang cùng một chú giải, nhưng nàng thấy rõ đã giải thoát viên sĩ quan khỏi nỗi sợ hãi chết chóc. Thật sự Tuyết cũng không biết mình trúng hay sai và Bernard sẽ chết hay không, nàng chỉ biết cần phải giúp đỡ người thanh niên da trắng thoát khỏi cơn tuyệt vọng khốn quẫn. Buổi trưa đó, bằng kinh nghiệm của Ðời Mưa Gió, Tuyết giúp Bernard de Lattre tìm lại khả năng giao hợp mà nàng biết, với những người đàn ông trẻ đi tìm tình yêu thân xác lần đầu tiên, xóm thổ không phải là chốn thích hợp. 

    Lúc làm tình với trung úy De Lattre, Tuyết cảm thấy thật sung sướng, đã lâu nàng chưa làm tình với ai từ khi lên thị trấn Cao Bằng sống trong giáo đường hoang vắng. Nhưng Tuyết sung sướng hơn hết vì đã có một người khác, ngoài cha cố trông thấy nàng. Tuyết linh cảm kiếp đời mà giáo sĩ đem đến cho nàng, sẽ phong phú bất ngờ hơn rất nhiều kiếp đời cũ. Tuyết cũng khám phá đàn ông da trắng làm tình khác hẳn những gì nàng đã biết. Trước đây, Tuyết không hề cảm giác gì rõ rệt mỗi khi luyến ái với Chương, do Nhất Linh và Khái Hưng không miêu tả kỹ. Làm tình với Bernard, Tuyết thấy rõ người thanh niên, dù chỉ mới lần đầu đã kiểm soát hơi thở của anh, đã chờ đợi chia sẻ thân xác của cả hai, tựa cả hai cùng chống một chiếc thang hai chân giữa khoảng không chơi vơi, cùng leo lên, cùng đợi nhau và cố nghiêng ngả kềm hãm bấu víu lẫn nhau để chiếc thang khỏi chao đảo ngã đổ, để cùng đi lên đến tận trời. Lần đầu tiên Tuyết nếm vị sữa đậm sệt như cặn rượu chát.

    Vị sữa của Bernard khác hẵn vị sữa của cha cố. Một hôm mang thức ăn vào phòng giáo sĩ, Tuyết nhận ra áo chùng dù được giặt ủi thơm tho đã bắt đầu khắm. Từ hôm Tuyết bước chân ra khỏi Ðời Mưa Gió, đức cha đã vui hơn, chứng bệnh buồn chín thối ruột gan đã thuyên giảm, nhưng chưa dứt hẳn, nước vàng vẫn chảy ra ở dương vật. Những lần phụ Alexandre phiên dịch tiểu thuyết, Tuyết cảm ở giáo sĩ một ước muốn thầm kín mà ông không thể nói ra, không thể viết thành lời, không thể diễn tả cách nào khác ngoài dịch tăm tắp trên các trang giấy những điều văn chương diễn tả mạch lạc, những điều mà anh Dư đã nói với Tuyết rất nhiều lần. Chức năng của một nhân vật nữ ngoài hấp dẫn bạn đọc, còn phải thoả mãn ẩn ức sinh lý của tác giả. Những lúc đó, cha cố chỉ dám ngửng lên nhìn Tuyết lén lút, lâu lâu kêu Blời ơi, rồi lại ngã vật xuống đất ngất xỉu. Những lúc đó, Tuyết cố gắng đỡ đức cha lên giường, bôi dầu con hổ, đánh gió và xoa bóp cho ông, cho máu huyết chảy đều lại, mặc dầu chính nàng cũng tự hỏi không biết trong xác chết cha cố còn giọt máu nào không nữa. Những lúc Alexandre de Rhodes bất tỉnh, Tuyết khám phá điều kỳ lạ, bàn tay nàng xoa nắn đến đâu da dẻ ông căng  trở lại, từ vết nhăn ba trăm năm đến nếp thịt bủng nhão nhoẹt cứ ngón tay nàng chạm vào vụt thẳng ra, săn chắc, cứng cáp, cả vẻ mặt cha cố cũng trẻ ra cho đến khi ông trở thành một thanh niên cao lớn không còn khòm lưng nhưng mang vẻ đẹp quyến rũ của hiệp sĩ Thập Tự thời xa xưa. Cả mái tóc rủ bạc trắng xoá của giáo sĩ, chỉ cần Tuyết vuốt lên trở thành óng ánh sắc vàng tươi lấp lánh kỳ lạ. Nhưng tất cả trẻ trung đó suy giảm dần trong ngày, đến chiều tối trở nên già nua cũ kỹ và nhăn nheo của một ông lão đã chết lâu. Cứ thế mỗi tối, Tuyết xoa bóp tẩm quất cho cha cố trở lại cường tráng trong 24 tiếng, cho đến một đêm, Tuyết quyết định chữa dứt di căn của chứng bệnh thối ruột gan, như nàng đã chữa cho trung úy De Lattre. Tuyết mút dương vật cha cố, hút hết các chất lỏng vàng hôi thối rồi nhổ xuống chậu gốm, cho đến khi chậu gốm đầy ắp phải đem đổ ở gốc sữa. Mỗi tối Alexandre de Rhodes rên la vì thân thể ông căn phồng lên đến mức áo chùng rách bươm, và mỗi khi Tuyết mút quá mạnh, bụng giáo sĩ teo tọp hẳn lại tựa tất cả ruột gan đều trôi vào miệng nàng. Tuyết cũng xấu hổ, biết nàng làm chuyện dơ bẩn, thiếu kính trọng, thiếu đạo đức của một con chiên, nhưng Tuyết quyết tâm chữa cho bằng hết chứng cô buồn giáo sĩ. Nhất Linh đã bắt nàng làm một con điếm không nhân cách, nhưng Tuyết vẫn là một người đàn bà giàu tình thương, lòng trắc ẩn. Tuyết muốn trả ân nghĩa đã thọ ơn cha cố. Mỗi tối nàng miệt mài hút hết chất nước vàng cho đến một đêm chất lỏng trở nên trắng ấm thơm mùi lúa mạch nhuyễn bột như vị bánh thánh Alexandre de Rhodes vẫn cho nàng ngậm mỗi sáng chủ nhật rước lễ trong nhà nguyện. Kể từ sau đêm ấy, giáo sĩ hoàn toàn khỏi bệnh, ông trở nên khoẻ mạnh và trẻ măng như một vị linh mục vừa tốt nghiệp trường thần học.    

    Về sau khi thành thân trong âm thầm lén lút với cha cố, Tuyết vẫn không quên tiếng chuông kinh hoảng của buổi sáng đó. Buổi sáng có những gào la thống thiết trầm thống của gió và tiếng chuông co giật từng cơn tựa các quả chuông phát khùng đánh loạn lẫn nhau. Tiếng chuông nhức nhối tuông những bài kinh La ngữ hỗn độn. Tiếng chuông ma quái khiến người nghe ý thức rõ rệt cuộc đời mình trước và sau đó. Trước, Tuyết có một quá khứ tiểu thuyết An Nam, sau, nàng trở thành một nhân vật lấy Tây và không còn gì giống như trước nữa.

    Tất cả xẩy đến khi Tuyết bước chân lên bậc thang chót, những quầng lửa bay đến sát nhà thờ đến nỗi nóc chuông đỏ như được thắp sáng nến. Tuyết cất tiếng gọi Alex? nhưng chỉ có tiếng gió bật tiếng kêu của chính nàng rơi vỡ vụn trên các nấc thang. Chính lúc đó Tuyết nghe thấy tiếng chuông gióng từng cơn, rũ từng hồi điên dại làm như các quả chuông vụt lên cơn động kinh va đánh vào nhau liên hồi. Tiếng chuông ray rứt, phạm tội, đầy kinh động, đặc biệt vang vọng sám hối của con người trước thuợng đế. Tuyết lấy hết can đảm bước qua ngạch đá. Quang cảnh diễn ra hãi hùng như quang cảnh ở địa ngục. Các quầng lửa gào xé chung quanh vòm mái, các tia lửa bắn xẹt vung vãi cháy rơi rớt gió thổi tốc lên từng làn tro thiêu đốt các tấm rèm nhung đang oằn xém. Lẫn trong khói than mù mịt bên dưới quả chuông chao đảo là thân thể trần truồng của Alexandre de Rhodes đang trì kéo sợi dây thừng.

    – Blời ơi! Tận thế rồi!

    Alexandre kêu lên tuyệt vọng. Tiếng chuông xô đẩy inh ỏi tựa muốn đập vỡ nhà thờ, rạn nứt các vách đá. Tuyết trông thấy rõ Alexandre không còn kiểm soát nổi đôi tay của anh, lúc này đang treo níu vào dây chuông từng lúc nhấc bổng đong đưa rồi thả xuống kéo lê liên tục. Không khí nồng nặc mùi thiên tai, thứ mùi khét mà Tuyết ngửi ra ngay tức khắc ở làn hương đầu tiên. Tuyết lao đến ôm Alexandre cố kéo anh thoát khỏi cơn động kinh của quả chuông. Lúc ôm vòng lấy lưng, dù kinh hãi, Tuyết vẫn kịp nhận ra nàng đang ôm xương thịt tươi rói đã lấp đầy vong hồn giáo sĩ.

    Ðó là buổi sáng mà tất cả mọi giáo dân sinh sống trong pháo đài đều bị đánh thức bởi tiếng chuông tận thế đổ dồn ầm ĩ từ nhà thờ chính toà Cao Bằng. Cũng là buối sáng mở màn chiến dịch đường biên giới. Nhưng ít ai lúc đó có khả năng mường tượng hậu quả của trận đánh, tất cả chỉ thức giấc trong kinh sợ của tiếng chuông gọi hồn. Ðó là buổi sáng tin Ðồng Khê thất thủ réo về thị trấn như một lời nguyền.

*

    Thật ra tin căn cứ Ðồng Khê với hai đại đội tán binh Marốc, một đại đội thân binh An Nam, tăng cường đại đội Lê Dương của trung úy Bernard de Lattre bị tràn ngập đã bay về bộ chỉ huy pháo đài từ chiều hôm trước. Suốt đêm, các sĩ quan tham mưu của trung đoàn 3 Lê Dương sửng sốt chứng kiếng một cảnh tượng lạ lẫm. Các áng mây đen ở đâu cứ trôi đùn vào bộ chỉ huy, mỗi lúc một nhiều, theo cường độ của các bản tin hấp hối đánh đi từ Ðồng Khê. Ðến chiều tối trở thành cơn mưa bão gió gào, sấm chớp liên tục. Ðại tá Antoine Marie Pierre Charton, lãnh chúa Cao Bằng, tư lệnh trung đoàn ngồi chết lặng dưới cơn giông mỗi lúc một lớn. Sấm sét mây đen vần vũ với những tia chớp loé không ngừng trút nước từ trần bê tông kiên cố dầy năm thước của căn hầm chỉ huy chôn chìm sâu dưới lòng đất. Charton ngồi bất động dưới cơn mưa tầm tã trước phóng đồ hành quân. Gương mặt ông biến dạng móp méo thay đổi từng lúc trước các báo cáo tự động sang trang, lật mở từng phúc trình tối tăm mà không một ai đụng đến. Suốt đêm viên đại tá chứng kiến những hiện tượng quái dị. Vong các sĩ quan tử trận Ðồng Khê cứ lần lượt lê lết hiện về, trình diện cấp bậc, đưa bảng trận liệt khai báo quân số tử vong, mất tích, rồi đưa giấy khai tử chờ ký nhận tử tuất. Bàn làm việc của đại tá Charton bê bết máu, làm như tất cả thương vong ở Ðồng Khê đều đã xẩy ra trên bản đồ tham mưu. Có lúc viên đại tá cũng bất ngờ trông thấy cố thống chế Ney, tư lệnh khu biên thùy đông bắc từ Lạng Sơn cũng hiện ra từng lúc, bất chợt hối thúc phản kích rồi đột ngột biến mất. Tự trong thâm tâm Charton không phục Ney, mặc dù viên thống chế đã tham dự các trận đánh lẫy lừng Iéna, Austerlitz bên cạnh hoàng đế Napoléon đệ nhất. Nhưng Ney không sao hiểu cách chuyển quân như sóng rừng của sư đoàn 308, không còn di chuyển đội hình ô vuông ban ngày, và Ney cũng không hiểu những quy ước chiến tranh do vong hồn Karl Von Clausewitz đang tiếp tục giảng dạy tại các trường đại học quân sự Tây Phương đã không còn được Việt Minh tuân thủ. Charton tin chỉ một mình ông khám phá ra chiến thuật Việt Minh. Lối đánh Phật giáo, chết đi sống lại luân hồi liên tục, khiến với quân số không tăng viện, trung đoàn Thủ Ðô vẫn có thể xung phong biển người, hết lớp này đến lớp khác, mà các đại liên Bren, Browning, Hotchkiss bốn nòng không thể chận đứng. Bộ đội Việt Minh không thể tử vong.

    Gương mặt Charton tím tái. Các sĩ quan ban 3 có cảm giác mây đen đang bốc từ đầu ông, cả những lằn chớp sấm sét cũng nháng lên từ nỗi giận dữ phẫn uất bên trong mình ông. Chỉ cơn mưa lạnh lẽo trút nước chảy ra từ nỗi sợ hãi vãi đái mà viên đại tá cố dấu, nhưng không sao kềm hãm. Ðồng Khê là cánh cửa cuối cùng trước Cao Bằng. Chiếm Ðồng Khê, Việt Minh chặt nốt cánh tay nối Lạng Sơn biến pháo đài thành tên khổng lồ trần trụi chỉ còn trơ chiếc đầu nhô lên khỏi mặt đất đợi chém. Chưa bao giờ Charton cảm thấy ngày tận thế gần gũi, kề cận. Phòng nhì buổi chiều báo cáo, có tin Jésus Christ sống lại ở Ðồng Ðăng, điều đó có nghĩa ngày phán xét cuối cùng sắp xẩy đến. Viên đại tá chết cứng dưới cơn mưa bão, ông cố nhớ xem mình có phạm tội lỗi gì với các sắc tộc thiểu số Mường, Mán, Nùng, Thổ, nhưng ông không sao cử động nhúc nhích tay chân hay ban một mệnh lệnh nào, cho đến lúc nước mưa dâng từ từ ngập đến gối, quá thắt lưng, rồi dâng kín trần hầm đến mức các sĩ quan tham mưu phải thở bằng ống hút rồi dùng bình dưỡng khí dành riêng cho biệt kích thủy. Chỉ đến tảng sáng, khi thiếu tá Forget tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn III/ 3è REI bất ngờ xuống hầm chỉ huy xin lệnh, mở cửa khiến nước thoát ra ngoài giải cứu tất cả, cùng lúc đem theo những ráng hồng rạng rỡ đầu tiên của ngày, đại tá Charton mới bừng tỉnh. Ðã từ lâu, theo thói quen trong chiến tranh Ðông Dương, đêm thuộc về Satan, ngày thuộc về thượng đế, và thượng đế đứng về phiá quân đoàn viễn chinh.

    Antoine Marie Pierre Charton lấy lại tinh thần, ông quyết định phản kích tái chiếm Ðồng Khê bằng tiểu đoàn Trận Vong của cố thiếu tá Henry Rivière, sĩ quan thâm niên kinh nghiệm trận mạc và nổi tiếng can trường. Chính lúc đó, khi bước chân ra khỏi hầm, vắt bộ quân phục còn ướt mưa và khắm nước tiểu, đại tá Charton đã bàng hoàng nghe thấy tiếng chuông lanh lảnh buốt sắc đổ thốc tháo từ nhà thờ Cao Bằng. Tiếng chuông lạnh lẻo gọi hồn của địa ngục mà Charton biết dành riêng cho linh hồn ông. Lúc đó xẩy ra một hiện tượng kỳ quái. Linh hồn đại tá Charton quá sợ hãi đã xuất ra khỏi xác chạy trốn tìm chỗ trú ẩn dưới hầm trú pháo. Các sĩ quan tham mưu đã phải rượt theo bắt lại và vất vả nhấn linh hồn viên đại tá trở vào trong thân xác của chính ông. Phải mất nhiều phút đại tá Charton mới hoàn hồn và lấy lại phong thái chỉ huy. Buổi sáng đó, nhật ký hành quân trung đoàn ghi rõ, tin thất thủ Ðồng Khê bay về pháo đài khiến bộ chỉ huy trung đoàn hoàn toàn tê liệt, nghẹt thở. Cũng buổi sáng đó, Vương Thừa Vũ, tư lệnh sư đoàn 308 đã điện lên tổng bộ Việt Minh tin chiến thắng: Ðại Ðoàn Quân Tiên Phong giáng những đòn sấm sét vào Ðồng Khê khiến sĩ quan Pháp mất hồn. Ðó là sáng 30 tháng 5, ba ngày sau trận Ðồng Khê khai diễn. Cũng là buổi sáng tin đấng Christ xuất hiện ở Ðồng Ðăng được kiểm chứng.

*

    Louise Marie de Bourbon là người đàn bà thứ hai trong pháo đài nghe thấy tiếng chuông nhà thờ. Ngay tiếng chuông đầu tiên, dì phước đã biết đó là tiếng chuông ma quỷ. Tiếng chuông mênh mang đánh đi thật xa vang vọng đến mất hút rồi trở về co giật dạ con từng cơn của một cổ tử cung nào đó đang co thắt sinh nở. Tiếng chuông nức nở tựa tiếng khóc, đôi lúc gấp rút hối hả liên tục rồi chửng lại bất ngờ thành khoảng trống âm u. Giữa hai khoảng chuông chen tiếng rên la quái dị, nửa đau đớn, vừa thích thú khoái lạc của sự sống đang dẫy dụa cựa quậy trong tử cung một người đàn bà. Louise choàng ra khỏi giấc ngủ ác mộng. Dì phước cũng không hiểu vì đâu dì đã nghe ra trong tiếng chuông những hình ảnh quái thai ghê rợn. Tối qua, cho đến trước tiếng chuông, Louise đã chiêm bao thật đẹp. Hình ảnh đấng Christ hiển linh trở về đứng trước đầu giường thật đến nỗi Louise tưởng chừng chỉ cần đưa tay ra, nàng có thể chạm vào thân thể còn in vết gai, lỗ chỗ vết giáo đâm xuyên hông. Ánh mắt Jésus buồn rười rượi, nỗi buồn nén lặng mà dì phước đã có lần trông thấy trong đôi mắt cha cố, thứ nỗi buồn tê tái, chín dại ruột gan không thành lời. Louise tỉnh giấc khi hình ảnh đấng Christ vỡ vụn bởi tiếng chuông. Tất cả thân thể Jésus tan rã trong tiếng ngân nga, làm như quả chuông đánh vào đâu, mình thánh chúa vỡ tan đến đó. Louise vã mồ hôi. Ðã lâu Cao Bằng không có những trận nóng sáng hầm hơi thiêu đốt. Ðã lâu Louise không có những giấc ngủ khắc khoải ham muốn thầm kín. Từ rất lâu nàng không còn trông thấy lại cảnh Jésus Christ đứng ở đầu giường mình đưa tay giắt đưa vào cuộc đời nữ tu buồn chán. Lúc còn thiếu nữ, Louise đã trông thấy đấng Christ thường xuyên, sáng ngời hào quang, hằng đêm đón đưa, đều đặn mỗi tối, đến nỗi nàng không cần có bạn trai, chỉ cần đợi đến khuya, Jésus hiện ra và nàng có thể tâm sự với Chúa thâu đêm.

    Những ngày trước tiếng chuông, ở Cao Bằng, có tin đồn Jésus Christ sống lại. Tin đồn vang rân khiến dì phước hoang mang, đến nỗi dì Louise phải xuống sở mật thám Pháp hỏi cho ra lẽ. Chính cố đại úy De La Marek, chánh phòng nhì Cao Bằng, viên sĩ quan đã từng si mê đeo đuổi dì phước suốt mấy năm, đã đưa cho Louise xem các phiếu tối mật ghi chép cùng một sự kiện. Từ hôm Ðồng Khê bị vây, giáo dân sinh sống dọc đường số 4 trông thấy một người đàn ông Trung Ðông tóc vàng đứng đón xe ở ngã ba Ðồng Ðăng. Người đàn ông thuộc chủng tộc Do Thái, mặc áo sô, đội mũ gai, có mái tóc dài toả chiếu tất cả nắng của buổi chiều. Mái tóc vàng kim óng ánh phát ánh sáng thay mặt trời và trong đôi mắt xanh chứa chan bình an của sự vật, mỗi khi nhìn về hướng nào, tất cả chim muông từ muôn phía bay xuyên suốt cây rừng về đậu nơi hướng ấy. Cả những quả mìn đắp mô cũng bật kíp lăn đến cạnh bầy chim vô hại. Các xóm đạo đã thay nhau đem thức ăn đặt dưới chân, nhưng trái cây không hề vơi, chỉ nhiều thêm và cũng không hề uá. Người đàn ông kiên nhẫn đợi xe dưới mưa suốt nhiều ngày mặc dù đường thuộc địa số 4 bị Việt Minh chốt chặn tắt nghẽn không còn xe qua lại. Ðến ngày thứ sáu, người đàn ông tóc vàng trạc ba mươi ba tuổi, đã khiến mưa bão chấm dứt bằng cách xua tan những cuộn mây den. Nền trời trở nên trong vắt, xanh biển, cho phép các khu trục cơ P-39 King Cobra từ Hà Nội lên đánh bom giải toả áp lực Việt Minh. Ngày thứ bảy, người đàn ông áo trắng lên chuyến quân xa của binh đoàn tác chiến Le Page với bốn tiểu đoàn Tabors từ Lạng Sơn, vượt Kỳ Lừa đánh lên giải vây cho Ðồng Khê. Binh đoàn Le Page bị chận đánh ở Thất Khê, không một tiểu đoàn nào qua lọt đèo Lủng Phài. Ðiều kỳ quặc chiếc GMC bị phục kích tan nát ở khúc Ngườn Kim, xác tài xế và binh lính Marốc ngổn ngang nhưng vẫn tiếp tục chạy xuyên rừng núi cho đến tận Cao Bằng. Quân cảnh Lê Dương tìm thấy xác chiếc quân xa vất ở trước cửa chợ lồng thị xã với bốn bánh xe cháy đen đủi, còn bốc khói, nhưng không một dấu vết nào của đấng Kitô.

    Louise tin chắc Jésus đã đến Cao Bằng. Không phải ngẫu nhiên đấng Christ xuống thế gian làm người cứu chuộc nhân loại lần nữa giữa lúc pháo đài bị vây hãm và Việt Minh sắp tổng tấn công. Bằng bản năng nữ tu, Louise tin tưởng trong sâu kín, việc đấng Christ sống dậy liên quan mật thiết đến tiếng chuông ma quỷ của nhà thờ. Những ngày gần đây, dì phước không còn nhận ra cha cố, giáo sĩ đã thay đổi hoàn toàn, từ phục sức thanh lịch thơm tho, dáng dấp trẻ trung tươi mát, đến nụ cười thường khi héo hắt của đức cha cũng trở nên nồng thắm làm như có dính vết son môi. Giống có kẻ nào khác đội lốt cha cố, chỉ có thể là Satan, đã ngự trị nhà thờ. Hôm đến thăm cha De Rhodes, Louise đã lạ lẫm nhìn tượng Ðức Mẹ sáng lóng lánh được chùi rửa sơn phết cẩn thận, và đặc biệt có ai đã tỉ mỉ trang điểm cô dâu cho gương mặt đức mẹ Maria bình thường không son phấn. Giác quan thứ sáu khiến Louise linh tính có sự hiện diện của một người đàn bà nào đó sinh sống trong nhà thờ mà cố đạo che dấu. Chỉ cần ngửi thoáng rèm nhung, dì phước cũng có thể đoán được mùi nước hoa đĩ thõa của một phụ nữ quyến rũ vừa bước qua, chưa khuất, còn đâu đó.

    Tiếng chuông vẫn đổ từng cơn khủng hoảng trộn lẫn những rên la gần như tiếng kêu đau trào mật của sản phụ đang sinh nở. Tiếng chuông bấu chặt tưởng chừng có thể rứt từng đường gân dưới chân tóc. Louise bước nhanh ra khỏi giường. Dì phước mặc vội áo tu, lúc đội khăn, không hiểu do đâu dì Louise nhìn ngắm mình kỹ hơn trong gương, mái tóc hung óng mượt cô bé Louise Marie đã cắt đi ngày quyết định bước chân vào sống vĩnh viễn giữa bốn bức tường đá đã mọc dài trở lại. Hai tháng nay, từ lúc các cô gái Mèo, sau khi làm tình với trung úy De Lattre nôn mửa rồi thụ thai, dì phước không ngớt phải đi thăm thai đến không còn thì giờ cắt tóc. Mái tóc hung óng lượn trong gương khiến Louise vụt thấy mình trẻ lại, còn nguyên vẹn thể xác xinh đẹp của thời con gái. Ðã biết bao lần, Louise nhìn lên tượng Chúa tự hỏi tại sao? Và cũng biết bao lần ngẩng đầu nhìn ngắm đấng Christ dang hai tay trong nỗi đớn đau cùng cực của thân xác, Louise đều bằng lòng với chọn lựa của chính mình. Trong sâu thẳm, dì phước yêu xót xa người đàn ông có gương mặt rất lành cùng khôi ngô tuấn tú chịu thương khó, cùng trong sâu kín tận đáy linh hồn, Louise không bao giờ quên cách nắm tay thân mật ấm áp, dìu dặt yêu thương, nhẹ nhàng của Jésus khi bước chân vào phòng nàng hằng đêm thiết tha, khẩn nài nàng hiến dâng cho Chúa. Ngày đó, cô bé Louise Marie ngây thơ đã xiêu lòng cắt đi mái tóc hung như một thề uớc.

    Tiếng kêu rú kinh hãi của mẹ bề trên vang lên từ trong vách tường khiến Louise hốt hoảng đâm bổ sang phòng bên. Dì phước sửng sốt trước cảnh mẹ Thérèse đã trăm tuổi, bán thân bất toại, không còn đi đứng được đã có thể tự mình rời ghế lăn chui xuống gậm giường trốn tránh. Lúc dì phước cúi xuống, mẹ Thérèse chắp hai tay van vái những kẻ nào đó vụt thoáng hiện về trong trí não đã cũ kỹ, tưởng chừng đã tắt lịm chỉ còn ánh lên chút tinh anh từng lúc, từng chập mỗi khi Louise đút sữa cho mẹ ở mỗi bữa ăn. Chỉ trong giây khắc, dì phước nhận ra chính tiếng chuông quỷ ám đã xô đẩy mẹ bề trên vào tình trạng hổn loạn tâm thần. Chính tiếng chuông ma quái đã đánh thức những hình ảnh loã lồ cách đây tám mươi năm khi mẹ bề trên hãy còn là nữ truyền giáo thơ ngây cùng bước chân xuống chiến hạm l’Espingole với hải quân đại uý Francis Garnier và cùng rơi vào ổ phục kích của quân Cờ Ðen dưới chân Ô Cầu Giấy. Mẹ Thérèse trong những phút tỉnh táo hiếm hoi thường kể lại cảnh đại úy Garnier bị chém đứt đầu, cắt đứt hai bàn tay bày trên lòng đường trong lúc nữ truyền giáo trẻ bị Lưu Vĩnh Phúc và quân Cờ Ðen bắt về hang động Hạ Long thay nhau hãm hiếp suốt chín ngày chín đêm, cho đến lúc đám giặc không còn sức ngất xỉu, và cô truyền giáo Thérèse đã trốn thoát đi bộ một trăm hai mươi cây số về đến Ô Quan Chưởng tá túc nhà lái buôn Jean Dupuis. Chính mẹ Thérèse cũng không hiểu làm sao mẹ đã có sức khoẻ để chịu đừng ngần ấy giặc Cờ Ðen, rồi đi bộ một mình không ăn uống, không ngơi nghỉ. Chỉ có thể giải thích nhờ đàn ông Á châu nhỏ người yếu sức, nhưng mẹ Thérèse vẫn tin tưởng chính nhờ ơn trên đã thêm sức cho mẹ đủ nghị lực vượt thoát. Chính niềm tin vào đấng tối cao đã khiến mẹ quyết tâm tu ở dòng Carmen cho đến ngày được giáo hội La Mã điều lên Cao Bằng rồi già nua bệnh tật.

    Dì Louise cúi khom cố lôi mẹ ra khỏi gậm giường.

    –  Em lậy anh Phúc! 

    Mẹ Thérèse rên lên, không ngớt lập đi lập lại tên của người đàn ông da vàng thô bạo, nỗi ám ảnh kinh hoàng của mọi kiều dân Pháp. Lưu Vĩnh Phúc, kẻ đã chém chết thiếu tá Rivière và đại úy Garnier mà Louise vẫn thường nghe nhắc. Không hiểu vì đâu, lúc đó, những hình ảnh vùi dập xâu xé hãm hiếp tập thể đang diễn ra trong đôi mắt khiếp hãi của mẹ Thérèse bình thường mù loà không còn ánh sáng, đã khiến dì phước vụt đỏ mặt. Louise vội vã bế mẹ lên ghế, đắp chăn bông, lấy khăn thấm nước mát đắp lên mặt, cố dỗ giấc cho mẹ thiu thiu ngủ trôi vào khoảng không hư vô, không thời gian, không tương lai, không thực tại.

    Louise bước ra khỏi chủng viện khi trời hừng đông.

*

    Ðó là buổi sáng Alexandre Lucien Abel de Rhodes chép trong nhật ký ba chữ La Tinh Aléa Jacta Est ! mang nghĩa định mệnh đã an bài mà những ai tham khảo thư khố toà thánh La Mã về sau, hãy còn nhận ra nét chữ thảo tài hoa, rắn rỏi vừa bay bướm của giáo sĩ. Nhật ký Hành Trình Truyền Giáo của De Rhodes sau này được xuất bản, chỉ bao gồm ba phần Goa, Xứ Ðàng Trong và Xứ Ðàng Ngoài, khởi đi từ năm 1619 khi ông gặp thiếu nữ có mái tóc đen và chấm dứt lúc ông rời An Nam vĩnh viễn. Những đoạn sau khi chết, chiếm 4/5 tập nhật ký, đặc biệt thời gian ở Cao Bằng hoàn toàn bị hội Thừa Sai dập xoá. Trong bản gốc, số đăng ký quốc hội Vatican, các chương ghi lại đời sống vợ chồng với Tuyết, chỉ còn mỗi ba chữ Aléa Jacta Est, các ký tự khác đều bị thuốc tẩy giặt trắng xoá loang lổ ố vàng. Những chữ li ti, chi chít, khi mất khi hiện, gần như được viết trên bụi mà nửa thế kỷ sau, chỉ những nhà văn am tường kỹ thuật hiện thực huyền ảo mới còn có thể chú giải.

    Nhưng buổi sáng đó, Alexandre de Rhodes đã viết tăm tắp trong nhật ký, những sự kiện dồn dập xẩy đến trong kiếp ma của kiếp đời ông. Từ ngày thiếu nữ thành Goa xuất hiện, đầy rẫy những hiện tượng mà De Rhodes không sao có thể giải thích. Từ những cánh buồm trắng Y Pha Nho lộng gió của các chiến thuyền cổ xưa trí súng đại bác đồng đen, không biết ở đâu trôi đến, thả neo ven sông Hiểm mỗi khi giáo sĩ xuống các xóm chài giảng kinh, đến những lần ra nhà sách Tôn Thọ Tường chầu chực đợi thu tiền sách, dù các chủ hiệu sách sau khi khấu trừ 50% hoa hồng vẫn ít khi sòng phẳng, De Rhodes đã rất ngạc nhiên chứng kiến cảnh những đoàn kỵ sĩ mũ nồi thập tự giá, rầm rập phi nước kiệu ngang qua phố chính thị xã. Tiếng hò reo của lũ trẻ An Nam vang dậy theo tiếng vó ngựa thập tự chinh vang lừng xuyên suốt khắp pháo đài đến nỗi, lính Lê Dương ở các trạm gác cũng ngỡ đã có quân viện từ chính quốc. Rất đông các sĩ quan Pháp đã tin tưởng lữ đoàn kỵ binh giáp sắt sẽ xuất hiện chống trả Việt Minh ngày Cao Bằng bị tấn công, chỉ cần cha cố rao giảng phúc âm ở tuyến đầu. Hiếm ai lúc đó không tin tưởng vào nhà thờ, như niềm tin chiến thắng cuối cùng.

    Giáo sĩ cũng ghi chép cẩn thận giai đoạn ông gặp khủng hoảng, khi thiếu nữ thành Goa chưa bước chân ra khỏi cuốn tiểu thuyết An Nam. Thứ khủng hoảng oan nghiệt của một oan hồn, ngày cũng như đêm chui rúc trong các xó hốc, cho đến một hôm, quá tuyệt vọng ông đã treo cổ tự tử dưới đà ngang nhà thờ. Cha cố đã đau đớn dẫy dụa oằn oại hàng giờ, đã trông thấy chiếc lưỡi của ông dài ngoằn đến gối, đã đau đớn phạm điều răn đức chúa trời, nhưng ông không chết được. Sáng đó, dì Louise vào lễ, dâng hoa, đã hốt hoảng ngất xỉu trông thấy giáo sĩ treo cổ dưới tượng Chúa mặt mũi tím bầm và ruột phân lòng thòng trên đất. Ðại tá Charton đã phải cho lính bắt thang lên cắt dây thừng đỡ ông xuống, những lúc đó giáo sĩ ê chề xấu hổ và mang trong mình nỗi bất lực oan khiên của bóng ma. Sự sống không còn, cái chết chưa hết, nhưng con người không có một chút quyền tự do định đoạt phần số của chính mình, tất cả tùy thuộc thượng đế.

    Cứ thế, cha cố ghi chép miên man, chỉ cần ông nhiễu một giọt mực, chữ sẽ đen đặc. Trong suốt nhật ký, trừ chương thành vợ chồng với Tuyết, mà giáo sĩ luôn đỏ mặt ngượng nghịu ít dám đọc lại, cha cố hài lòng hơn hết những chương đầu tiên khi ông mới đặt chân đến An Nam, còn mang trong mình sứ mệnh thiêng liêng cùng đức tin sáng thế ký.

    Khi đến Gia Ðịnh lần đầu tiên, De Rhodes đã biết ông đặt chân tới một vùng đất kỳ bí. Hơi nóng ngùn ngụt như thiêu, đốt liên tục suốt ngày sắc xanh hực gai góc của những cánh rừng trùng điệp ngút ngàn mà dù đứng xa ông vẫn nghe thấy tiếng trò chuyện râm ran của vạn vật. Tất cả thanh âm An Nam bật lên dưới nắng sức sống mãnh liệt hừng hực hắt dội lửa dâng lên khắp mặt đất, không chỗ nào không có tiếng nói, ngợp bóng người, như thể mỗi người đàn ông An Nam là một cây chuối xanh biết đi đứng, mỗi người đàn bà An Nam là một buồng chuối xum xuê quả. Mãi sau nhiều ngày De Rhodes mới hiểu do người An Nam chết yểu, chết sớm quá nhiều nên phải tận lực sinh sản. Và lý do tử tuất cao lẫn tiếng động không ngớt ầm ĩ, không ngơi nghỉ, từ sáng đến trưa, suốt chiều, đêm khuya cho đến thâu đêm, phát sinh ở thảm kịch sắc tộc Kinh thiếu chữ viết để ghi nhớ những chuyện cần nhớ. Tất cả dân bản xứ đều phải kể chuyện huyên thuyên, nói thật to, bất kể người đang ngủ cần yên tĩnh, để những điều cần nhớ được lập đi lập lại không dứt và truyền bá rộng rãi, cho phép những người đã quên có thể nhớ lại, và lưu truyền cho con cháu. Ðến mức nhiều gia trưởng lập đi lập lại lời trăn trối của tổ tiên cho đến khi tắt hơi qua đời, và kẻ thừa kế được dòng họ nuôi nấng chỉ để học thuộc bí kiếp gia truyền và lẩm nhẩm trả bài trước bàn thờ cho đến lúc kiệt sức và cứ thế con cháu thay nhau lập lại một suy nghĩ đã có từ nhiều ngàn năm trước. Ðến nỗi trong buổi giảng đầu, De Rhodes không sao truyền bá thánh kinh, vì những kẻ tò mò đến xem, không ngớt lập lại những điều gia đình căn dặn, để đừng quên, sau khi tan lễ phải ra chợ mua bao nhiêu lạng hành tỏi, gà, rau, đậu, mắm, và ghé đến nhà ai mời giỗ, thu họ, đóng hụi chết, bao nhiêu xâu tiền kẽm, khiến buổi ra mắt sách Cựu Ước thứ nhất của De Rhodes ồn ào như một chợ cá. Chính lúc đó De Rhodes quyết định ký âm thứ ngôn ngữ kỳ lạ lảnh lót như tiếng họa mi ríu rít, với mục đích giúp dân bản xứ có thể ghi chép những điều thường nhật cần nhớ, sẽ rảnh rỗi im lặng hơn khi nghe giảng kinh, và đặc biệt thôi lập lại những điều Thiên Tử ban truyền ngăn cấm giáo hội. Chỉ một thời gian ngắn, giáo sĩ nhận ra ông đã thành công. Từ khi có chữ viết, số tử vong vì kiệt sức giảm hẳn, sắc tộc Kinh thông tin cho nhau dễ dàng việc đồng áng, lúa gạo nhiều hơn, khiến thanh niên An Nam lớn nhanh như thổi, cao đến đầu gối, rồi đến bụng, cuối cùng đứng ngang tầm ngực ông, nhưng ngưng ở đó, vì dân bản xứ có truyền thống ăn rau sống với bánh tráng cuốn ruồi nhặng chấm nước dòi, đưa đến bệnh tiêu chảy triền miên làm teo tọp thân thể. Chính các Chúa Nguyễn thời đó cũng không sao ngăn cấm được thứ chữ do De Rhodes ký âm, vì rất ít ai đọc được các sắc chỉ dụ viết bằng tiếng Trung Hoa, nên không hiểu các Chúa muốn gì.   

    De Rhodes cũng khám phá, sức mạnh của sắc tộc Kinh nằm trong những đứa trẻ, đông đúc chiếm hai phần ba dân số, một phần do những cụ già yểu thọ, một phần do phụ nữ An Nam mắn đẻ, chỉ cần ăn hơn một rổ khế chua đã có thể thụ thai. De Rhodes luôn luôn ngạc nhiên trước những đứa trẻ cực kỳ thông minh, linh hoạt, sinh động và gần như không bao giờ già đi, chỉ chết non vì chiến tranh. Giáo sĩ nhớ rõ, ông đã gặp một cậu bé khôi ngô, chỉ trong một tuần lễ đã dạy ông cách phát âm của mọi miền đất An Nam với tất cả thanh sắc. Cậu bé thông thạo mọi thứ, biết hết mọi chuyện, từ cách đổi tiền quan ra tiền kẽm, lãi thấp, đến cách thuê trâu giúp ông di chuyển, đến mọi thứ trái cây, đồ tế nhuyễn bản xứ. Chỉ trong một đêm cậu bé đọc vanh vách kê khai tất cả mọi món ngon vật lạ ở An Nam, và tuyên bố đã ghi chép trong hai cuốn sách do chính cậu viết. Ðiều kỳ lạ, thiếu niên không biết tiếng Pháp, nhưng hiểu hết những điều giáo sĩ nói, chỉ qua cử động của đôi môi. Chính De Rhodes cũng đã tiếp thu toàn bộ văn hoá An Nam qua những điều thiếu niên kể. Mãi sau, khi rời Gia Ðịnh lên Quy Nhơn, rồi ra Kẻ Chợ, giáo sĩ mới biết thiếu niên tên chữ Lê Quý Ðôn, về sau chết trong trận giặc sông Gianh rồi đầu thai theo quốâc giáo, và cho xuất bản hai bộ sách Phủ Biên Tạp Lục cùng Vân Ðài Loại Ngữ.

    Alexandre de Rhodes buông bút. Tiếng gió hú lê thê trong cầu thang trôn ốc xoáy gọi những tiếng kêu lạnh lẽo khiến giáo sĩ ngẩng lên. Căn hầm đá bất chợ lạnh căm căm. De Rhodes thở ra khói. Ông nghe tiếng rơi của một vật nặng đang lao xuống nhà thờ. Sức hút trọng lực khiến gió đẩy bật những cánh cửa va đóng vào nhau rầm rập như nhà thờ có kẻ phá. Tất cả trần vách rung chuyển rùng rợn như có đám đông đang chạy rần rật huỳnh huỵch trên mái. Tiếng ngói lăn thông thốc từng lúc, giáo sĩ quyết định đóng nhật ký, ông chỉ kịp viết ba chữ Aléa Jacta Est cho một mặc cảm chịu tội sắp xẩy đến, mà đã từ lâu giáo sĩ biết ông bị khai trừ khỏi hội thánh.

    Tiếng gió hú the thé mỗi lúc một lạnh buốt khắp châu thân, cùng lúc mang hơi lửa bỏng rát phả vào mặt giáo sĩ. Alexandre vừa thở ra khói vừa nóng hổi. Anh nhận ra những dấu hiệu của tận thế khi lửa và băng cùng xẩy đến một lúc.

    Alexandre bước lên tháp, anh trông thấy gió giật những dây chuông va đánh vào nhau. Các quả chuông chạm nẩy nhau nhưng không phát tiếng động. Thời đó ai sống ở Cao Bằng cũng biết đức tính hiếm quý của những quả chuông, mỗi khi đánh không phát âm thanh, không có tiếng động nào, nhưng tiếng chuông lại ngân lên ở Ðồng Khê, cách đó 28 cây số. Phải mất nhiều phút tiếng chuông váng âm từ Ðồng Khê mới vọng trở lại, đổ dồn về thị xã. Hiện tượng kéo dài và chính xác đến độ Alexandre phải thức sớm những sáng chủ nhật và đánh chuông trước vài phút cho kịp lễ. Những ngày sau cùng, khi Ðồng Khê bị vây, antenne truyền tin của căn cứ bị pháo sập, đại tá Charton đã phải nhờ giáo sĩ đánh chuông gởi đi những bản tin mã hoá. Sáng đó các dây chuông co giật không âm thanh, trông như bầy rắn múa máy. Alexandre cảm thấy sợ, nhưng anh cũng cố gắng bước đến nắm lấy dây chuông giữ cho đừng múa lượn. Chính lúc đó các quầng lửa cuốn về nhà thờ cháy sáng lầu chuông và các tia lửa vây lấy mình anh. Trong khoảng khắc tiếng chuông ngân từ Ðồng Khê réo về Cao Bằng như tiếng sấm rền. Lẫn trong tiếng chuông Alexandre còn nghe rõ cả tiếng đại bác bắn vào đồn Ðồng Khê, tiếng súng cối của Việt Minh câu dòn dã, tiếng kèn thúc quân và cả tiếng hô xung phong của trung đoàn Thủ Ðô. Tiếng chuông làm vỡ tan hoang gạch ngói rơi rớt lả tả chung quanh đỉnh tháp nhà thờ. Cứ vài phút tiếng chuông đổ dồn về gióng ào ạt ầm ĩ kinh động những rên la của lính viễn chinh bị thương ngoài mặt trận. Các dây chuông co giật như phát điên, quấn lấy đôi tay Alexandre như những vòi bạch tuột nghiến thắt, khiến anh không sao giữ thăng bằng, cả người Alexandre bị nhấc bổng lên không trung theo điệu múa quỷ quái của quả chuông rồi kéo lê lết đến tận bao lơn tháp trước khi chịu lôi giật về hướng ngược lại. Ở mỗi cơn động kinh Alexandre bị các cuồng lửa bắt xém vào áo chùng làm phỏng rộp thịt da cho đến lúc tấm áo cháy tiêu và thân thể anh hoàn toàn trần truồng. Chính lúc đó Tuyết xuất hiện ở cửa tháp. Chính lúc đó Alexandre tin chắc ngày cuối cùng đã đến và Thiên Chúa sống dậy phán xét loài người.

–      Blời ơi! Tận thế rồi!

    Tuyết ôm chầm lấy giáo sĩ lúc đó.

*

    Về sau khi gặp lại Nhất Linh trong căn biệt thự ở Ðà Lạt, bên suối Ða Mê, Tuyết còn khóc òa kể với anh Tam những thiên tai bất hạnh của mối tình phóng đãng với giáo sĩ. Tuyết đã không ngờ anh Tam cực xấu hổ, tê tái, nhục nhã và quyết định tự vẫn sáng hôm sau. Nhất Linh đã không muốn mang trách nhiệm của một nhà văn cha đẻ một nhân vật phạm thánh. Anh Tam đã lấy cái chết của chính mình để nói với người đời Nhất Linh là một nhà văn trong sáng. Tuyết đã khóc hết nước mắt trong chuyến xe tang không kèn trống, đông đảo độc giả đi đưa trong âm thầm lặng lẽ. Tuyếât đã khóc hết nước mắt lúc hạ huyệt, chôn sâu trong lòng vĩnh viễn mối tình đầu, và đã khóc nghẹn ngào cho buổi sáng thác loạn với cha cố.  

    Lửa của buổi sáng đó cũng bắt vào hai vạt áo dài của Tuyết khiến cháy tiêu quần áo trên mình nàng. Tuyết khám phá ra nàng không thể chết. Nàng là một nhân vật tiểu thuyết không có khả năng chết. Gió xô đẩy cả hai đến sát bao lơn, Tuyết khiếp hãi co chân quắp lấy mình Alexandre, cho trĩu thêm sức nặng để cả hai đừng rớt ngã xuống khoảng trống chơi vơi sâu hút. Chính lúc đó trong sâu chín sợï hãi Tuyết đã cảm ra da thịt giáo sĩ tươi rói cứng cáp đâm thẳng vào cửa mình nàng đột ngột bất ngờ như tiếng chuông bỗng hét lên tiếng rú rách trời. Tuyết đã kêu lên đau đớn tưởng chừng nàng có thể ngất đi vì sướng. Chưa bao giờ Tuyết làm tình với một người đàn ông rắn chắc khỏe mạnh như với giáo sĩ, tuồng thân thể anh là chiếc gậy chống của Mọse, cây gậy chống dài có thể xẻ đôi Hồng Hải. Tuyết rên la từng cơn, mỗi lúc lửa vây lấy cả hai cháy rực các bức rèm nhung có ngọn, mỗi lúc Alexandre xâm nhập vào sâu trong thân thể nàng làm như anh cũng hoảng sợ cố bám víu vào thân xác Tuyết di truyền một giọt máu. Tuyết kêu la không ngớt, bấu chắc lấy cần cổ Alexandre đánh đu dưới quả chuông đong đưa, theo nhịp giật của dây thừng kéo lôi cả hai từ bao lơn này đến bao lơn khác, hết vực sâu này xuống vực sâu khác, rơi từ vực thẳm của sung sướng xuống những mái nhà ngói đỏ li ti rồi nhảy giật lên tháp trong tiếng rên la của thân xác.

    Chính lúc đó Tuyết trông thấy bóng Bernard de Lattre ngã xấp ven sông Hiểm. Viên trung úy chứng kiến suốt ba hôm, cảnh tượng kinh khủng của các lớp sóng Việt Minh tràn lên, lớp lớp mà súng liên thanh không sao có thể quét hết, thậm chí cả đại bác chống chiến xa đặt ở hầm chỉ huy bắn đạn xuyên xoáy cũng không thể khoan thủng bức tường Việt Minh dầy đặc chuyển động như cánh rừng. Ðồng Khê thất thủ khi những trái đạn lân tinh chót cùng và những quả đạn nổ cao của pháo 105 ly cạn kiệt. Ðại úy Casanova tử thương, đại úy Brun bị bắt sống và trung úy Brondel chết ngay ở giao thông hào. Suốt đêm trung úy De Lattre dẫn đại đội sống sót mở đường máu, dẫm lên những xác chết mà De Lattre kinh hoảng khám phá đang đầu thai từ từ, chậm chạp ngồi dậy, thậm chí có những xác quân chủ lực Việt Minh chồm lên, tròng mắt trắng dã, la hét chụp lấy mã tấâu chém xối xả vào đội hình lính Pháp mà chỉ mới một phút trước đây đã bị tiểu liên của binh sĩ Lê Dương cắt đứt đôi người. De Lattre thương tích khắp mình mẩy, nhưng anh xăm xăm trong bóng tối nhất quyết trở về Cao Bằng để gặp lại người đàn bà của nhà thờ. Suốt đêm đại đội De Lattre bị Việt Minh truy kích tiêu diệt không còn ai sống sót. Chính viên trung úy cũng ngạc nhiên không hiểu động lực nào đã giúp anh vượt hai mươi tám cây số đường rừng. Chính lúc đó, khi viên sĩ quan vừa trông thấy hai nhánh sông Hiểm và sông Bằng Giang êm ái bao lấy pháo đài, lịch sử quân đội nhân dân An Nam ghi rõ, chiến sĩ Phan Ðình Giót của tiểu đoàn Hoàng Diệu đã dùng lưỡi lê đâm thủng ngực De Lattre. Dưới những ráng hồng đầu tiên Bernard ngã xuống. Anh vẫn không hiểu vì sao anh đã không đau đớn, trong lúc bộ đọâi Việt Minh vẫn tiếp tục lấy lê đâm xóc vào mình. Bernard không còn sức kháng cự, anh quá mệt lả vì mất máu và đi bộ nhiều. Bernard nằm yên nhìn ngắm lính An Nam thấp như những đứa bé đang thay nhau tháo nhẫn, đồng hồ và lục khắp các túi quần anh. Cho đến lúc Phan Ðình Giót cắt mạn sườn viên trung úy, thích gan cho vào bình rượu thuốc, viên sĩ quan vẫn hãy còn tỉnh táo và hài lòng đã tiêu hết lương tháng dưới xóm thổ. Tiếng chuông ngân lên lúc đó, bao la và say đắm, tựa tiếng kêu của thiếu nữ lúc ân ái, gọi anh xuất tinh để cùng thỏa mãn. Bernard nhỏm dậy, anh vụt hiểu, vì đâu anh không thể chết. Chính tình yêu tạo ra sự sống và nuôi dưỡng sự sống, giản dị như định nghĩa ghi chép trên mình thiếu nữ. Nguyên lý cơ bản của sự sống khởi đi từ tình yêu và trung úy De Lattre đang yêu không thể chết. Tiếng chuông chín tiếng, như chín lần thiếu nữ gọi anh trở về. Bernard phát lên cười khanh khách, trước sự ngạc nhiên của Phan Ðình Giót. Trung úy De Lattre vừa nhớ đến những quẻ xăm rùng rợn chú giải: Ðồng Khê mạng vong lúc 9 giờ sáng. Bernard cũng nhớ ra những lời Tuyết ân cần khuyên nhủ, đức năng thắng số, nhân trung Trung Hoa với nhân trung Tây khác nhau, không thể đo cùng một thước. Chết không dễ dàng như con người muốn. Bernard chỉ thắc mắc, vì đâu các thầy An Nam tinh thông lý số, kinh dịch, không thể bói ra tình yêu đến với anh bất ngờ. Viên trung úy còn thắêc mắc vì sao sắc tộc Kinh, lưu trữ bốn ngàn năm quá khứ đã không coi trọng tình yêu, thứ tình cảm đầu tiên và cuối cùng của kiếp người. Viên sĩ quan cũng nhớ, giáo sĩ De Rhodes đã có lần nói với anh, do thiếu chữ viết, người An Nam đã không ghi được những suy nghĩ trừu tượngï của họ truyền cho con cháu, chỉ có thể truyền khẩu những chi tiếât hiện thực, cụ thể. Lúc chiến sĩ Phan Ðình Giót đâm mỏi tay, văng tục rồi bỏ đi, Bernard de Lattre de Tassigny trông thấy những quầng lửa kéo nhau về Cao Bằng. Các tia lửa đỏ thắm trời mà anh nghĩ chính là máu của anh đang chảy về với Tuyết. Anh chỉ không hiểu ra vì đâu mặt nước sông Hiểm êm đềm đến vậy, khi chung quanh vạn vật hỗn chiến và lùng giết nhau cho những điều không liên quan đến tình yêu.

    Buổi sáng có lửa Satan và phép màu cùng xẩy đến, dì phước là người đàn bà thứ hai trong pháo đài trông thấy Jésus Christ. Suốt đời Louise sẽ không tha thứ nàng đã trang điểm quá lâu trước tủ gương đến trễ hẹn. Sáng đó, khi những thanh âm hào hển rềân rỉ của quả chuông rưới lên mái tu viện những xúc cảm bồi hồi, dì phước đã đội lên tóc chậm rãi khăn vành trắng, cẩn thận ngắm nghía từng nếp khăn chùm tu, vẫn trong trắng như thân thể hãy còn đồng trinh của dì. Khăn vành trắng đẹp như tấm voan ngày cưới mà Louise đã kiêu hãnh phủ trùm suốt đời tu hành. Dì chỉ ra khỏi chủng viện khi tiếng chuông thúc hối, lúc lửa Satan thắp sáng quảng trường và lầu chuông gióng những tiếng chuông cuối cùng. Trong bụi khói, gỗ đá, Louise trông thấy đấng Christ khi đó, vẫn người đàn ông của ngày xưa, của những đêm trăng thiết tha bước vào phòøng nàng cúi xuống đặt lên môi cô bé Louise một nụ hôn tinh khiết. Louise đã muốn chạy đến khi ấy, bất kể lửa Satan lan đến làm cháy rụi rặng sữa. Dì phước chỉ hốt hoảng lúc gió tốc cao váy tu phô đôi chân dì trắng trẻo đến đùi trước cặp mắt thèm muốn của các phu xe kéo. Louise phải ngồi thụp xuống túm lấy cổ chân giữ cho váy áo đừng tung bay. Thật ra Louise đã có thể vất tung hết tất cả, kể cả tấm áo dòng bấy lâu không thay đổi, nhưng chính vì dì phước trông thấy Jésus đang nắm lấy tay một kẻ nào đó, mà giác quan giúp dì cảnh giác chỉ có thể là người đàn bà thơm hương nước hoa đĩ thõa hôm nào đã quyện ám trên những bức rèm nhung nhà thờ. Louise đã chứng kiến đấng Christ im lặng, nỗi im lặng sâu thẳm mà dì phước không đoán nỗi, thứ im lặng đớn đau của một người đàn ông bất lực. Dì phước không hiểu, chỉ cảm thấy thỏa mãn, thứ thỏa mãn của người cùi mọc lại đốt tay khi dì đã dằn lấy tay chúa ra khỏi bàn tay của người đàn bà vô hình mà dì không trông thấy. Trong lòng Louise còn muốn níu thân áo trắng của người đàn ông còn phất sau cửa nhà thờ. Linh hồn Louise đã tất tả chạy lao qua quảng trường, bước lên các bậc tam cấp rồi ngã phục trên nền đất. Louise đã sững sờ chứng kiến người đàn ông nàng vừa trông thấy bằng xương thịt đã bị treo trên thập giá và ánh mắt hóa thạch bất động trên hai tay còn chảy máu ở lổ đinh vừa đóng.

    Chính trước đóù Tuyết trông thấy Jésus Christ. Buổi sáng có lửa Satan và phép màu cùng xẩy đến. Tuyết cảm giác rất rõ rệt nàng đang băng huyết xối xả lúc giao hợp với Alexandre. Không phải do Tuyết có kinh sớm, nhưng là máu của viên trung úy đang tuôn chảy tướp khắp đùi nàng. Tuyết đau thắt tử cung, thứ nỗi đau thường xuyên xẩy đến những ngày cuối cùng khiến nàng phải gập mình ôm bụng khóc trong lặng lẽ. Những ngày ở Cao Bằng Tuyết chiêm nghiệm rất nhiều điều, đàn ông da trắng hay An Nam yêu rất dễ dàng, quên rất nhanh, miễn sao họ còn ham muốn thân xác. Tuyết chỉ không hiểu do đâu nàng có khả năng ân ái với mọi đàn ông, nhưng không thể yêu ai từ sau ngày anh Tam bỏ đi. Ðôi lúc Tuyết yêu vô vàn nét trẻ thơ của Alexandre mỗi khi anh phát âm ngọng nghịu Quy Nhin, Quẩm Ghĩa, hoặc vẻ chân thật của mỗi khi anh khăng khăng bào chữa phát âm chuẩn theo lối nói cổ của sắc tộc Kinh. Nhưng Tuyết cũng nhớ đến đôi môi say đắm của Bernard mà anh hôn không rời, những cuồng si không dứt mà hồi tưởng Tuyết hãy còn đau nhói dạ con. Bao nhiêu ngày, Tuyết thầm hỏi nàng yêu ai, và bao nhiêu đêm Tuyết ý thức nàng vĩnh viễn thuộc về Nhất Linh.

    Tiếng rú của một vật nặng đinh tai nhứt óc. Tiếng xoáy lanh lãnh mà đang ôm Alexandre Tuyết phải bưng kín lấy tai sợ rách màn nhĩ. Tuyết linh tính biết tai ương sắp xẩy đến. Chính Alexandre cũng cảm giác điều ấy nên anh xuất tinh không dứt, như một ước muốn chót cùng hối hả tạo ra sự sống trước khi xuống hỏa ngục đời đời. Bao nhiêu tin đồn lửa thiêng sẽ đổ xuống thị trấn khiến cả hai biết tận thế gần kề. Chiều hôm trước, cố đại úy De La Marek hãy còn đến xưng tội với Alexandre và kể một câu chuyện thật lạ. Khi binh đoàn tác chiến Le Page rơi vào ổ phục kích, chuyến quân xa tắt nghẽn trên đỉnh đèo Lủng Phài. Bộ đội Việt Minh xung phong biển người, các toán quyết tử ôm bộc phá đánh bom từng chiếc GMC một. Lúc đó, người đàn ông áo trắng đứng trên mui xe đã chỉ tay xuống vực thẳm, trổi lên một trận lốc kinh thiên cuốn văng tất cả tiểu đoàn Nguyễn Tri Phương xuốâng hố mà không một binh sĩ Marốc nào hề hấn. Chính các cố vấn Mỹ về sau nghiên cứu phúc trình Le Page trong trận đánh đường biên giới, đã triển khai phương pháp và cho sản xuất mìn Claymore định hướng. Nhưng Tuyết không sao biết, phải đợi đến sau này vào Nam, cuộc thánh chiến tiếp diễn, khốc liệt, nghe kể về loại vũ khí mới, Tuyết mới liên tưởng đến những chuyện đã xẩy ra ở Cao Bằng.

    Tiếng hú khi ấy, vít đinh vào sọ não, mỗi lúc một lớn tựa nguyên một tảng trời đang sập. Tiếng hú xé óc cho đến lúc ngưng bặt. Tuyết còn trông rõ trái phá chọc thủng mái nhà thờ. Tất cả vỡ oàng ngay sau đó, trong tiếng nổù khủng khiếp của quả chuông đứt dây lao cắêm xuống mặt đất. Tuyết đã hãi hùng rơi trong lòng quảû chuông xoay tít, hãi hùng trông thấy gương mặt của các sĩ quan Pháp từ dưới quảng trường chính thị xã, lớn phồng lên, cả nỗi xanh tái khám phá Việt Minh đã kéo pháo lên đỉnh núi cũng to tướng dần. Cùng lúc Tuyết hãi hùng nhận ra cơ thể nàng tiếp tục đòi hỏi giao hoan không thể dứt ra khỏi mình Alexandre trong khi cả hai ngã bổ xuống thang lầu gẫy tung các đà gỗ và rơi không kềm hãm. Chính khi ấy Tuyết trông thấy Jésus Christ, khi nhà thờ phát nổ, đỏ ối một quảng trời, gạch ngói long lở và mái tháp đổ ụp xuống thị xã.

    Phải khó khăn lắm, Tuyết mới chui ra khỏi quả chuông. Tất cả hỗn độn, ầm ĩ, hỗn mang của gạch đá khói đen đầy bụi tắt lịm cùng với tiếng chuông đứt đoạn đột ngột. Tuyết gọi Alex? nhưng không có ai trả lời. Tiếng kêu của chính nàng thất thanh suốt quảng trường rồi vang trở về, làm như tiếng gọi cũng đã đi tìm cha cố. Có bóng người đi tới, Tuyết xấu hổ lấy tay che ngực, nhưng không ai đếm xỉa đến nàng, cả những toán cứu thương chen lấn chạy vào phố Chả Cá đang bốc cháy, xô đẩy, va chạm phải mình nàng cũng không xin lỗi. Tuyết nghe loáng thoáng cha cố gẫy hai chân phải đi cấp cứu. Nàng hối hận đã đem đến tình yêu hồi sinh khiến Alexandre hóa nửûa người, nửa ma, chịu thương tích.

    Người đàn ông nắm lấy tay nàng khi ấy.    

    Jésus mang vẻ đẹp trần thế, trầm thống và cô buồn của nhân gian tội lỗi, vẻ đẹp khác thường mà Tuyết chưa hề trông thấy. Vẻ đẹp của thiên nhiên tạo hóa. Từ thân thể trong vắt những dòng suối uốn khúc ở cổ chân, đến bầøy chim ríu rít hót mà Tuyết đoán đang đậu kín dưới thân áo. Cả vẻ đẹp u uất của những cánh rừng rũ cội hiu hắt. Tuyết nhận ra ngay người đàn ông trong Tân Ước. Jésus mang tất cả nhân dáng của nhân loại, đến nỗi nàng nhận ra ngay ánh mắt nghiêm khắc của Nhất Linh, hàng mày cong của Khái Hưng, sóng mũi thẳng của Alexandre và khóe môi hơi mỏng của Bernard de Lattre. Ðấng Christ tựa một người đàn ông nàng đã trông thấy nhiều lần mỗi ngày màø chưa hề gặp. Ðiều kỳ lạ sự dị biệt đó không tách bạch nhưng hòa quyện lẫn nhau đến mức vừa quen thuộc, đầy lạ lẫm. Tuyết nhận ra tất cả những điều Alexandre đã kể với nàng đều có thật. Jésus mang thân thể không trọng lượng, có khả năng đi bộ băng ngang qua những đại dương bão tố trên trái đất.

    Lúc đó, phép màu xẩy đến mà không một ai có thể ngờ. Tất cả mọi đám cháy đều tắt ngấm khi Jésus Christ đi qua, trận pháo kích cũng trệch ra khỏi pháo đài, tất cả những quả đạn đều rơi vãi xuống sông Hiểm. Các đống gạch đá vỡ nát bỗng dưng nguyên vẹn xếp ngay ngắn chờ đợi tái thiết, dẫy mái tôn bị pháo xụp ở phố Chả Cá thốt nhiên lợp mới trở lại có dằn bao cát chống đỡ cho trận pháo kích kế tiếp, và đất ở đâu đùn lên các nắp hầm lính Pháp dầy thêm nhiều thước. Tuyết chứng kiếng rõ rệt người đàn ông đứng ở giữa quảng trường và vạn vật chung quanh trôi đến. Không phải Jésus Christ đi đến, nhưng sự vật trôi đến trước chân đấng Kitô. Từ những đám mây trong trôi ào ạt đến quảng trường xua đuổi khói than mù mịt, những tia nắng bị hút hết vào trong mái tóc Jésus sáng rỡ, những đứa bé mắc chứng trừu run chân bu đến và cả nhà thờ chính tòa đồ sộ nguy nga sập mái cũng trôi đến dần dần. Mặt đất thu hẹp lại và vạn vật thu về một hướng. Chính Tuyết cũng trôi đến trước chân chúa, dù nàng không hề cử động hay nhúc nhích, nhưng vẫn chuyển dịch chậm rãi cho đến khi người đàn ông nắm lấy tay nàng.

    – Lạy chúa tôi! Danh Cha cả sáng!

    Tuyết thốt lên lời kinh ấy. Nàng quỳ gập người, không hiểu vì sao bài kinh La ngữ Alexandre truyền dạy cho nàng trổi lên lúc đó. Như máu huyết từ huyết quản dồn lên tim, dâng lên môi và Tuyết không thể nói lời nào khác hơn những giọt máu đang chảy trong tim nàng. Lúc ngửng lên, Tuyết bắt gặp ánh mắt đấng Christ toát ngời những hình ảnh khủng khiếp của muôn kiếp người. Khác với Alexandre de Rhodes, đôi mắt của Jésus không chỉ phản chiếu quá khứ, nhưng cả tương lai, và của cả nhân loại trong cùng một lúc. Tuyết đã bàng hoàng trông thấy cơn mưa sáng gai góc sắc buốt nhểu xuống khu vườn lan rũ úa bên suối Ða Mê, đã sửng sốt chứng kiến Nhất Linh già đi, ốm yếu, uống từng giọt độc dược đắng, đen, như những giọt mực anh đã dùng viết tiểu thuyết. Nhất Linh đã uống cạn ve thuốc độc như muốn nuốt trôi hết tất cả chữ nghĩa đã viết. Tuyết cũng trông thấy Trần Khánh Dư bị thủ tiêu bắn chết ở một miền quê hẻo lánh. Anh Dư khi chết đã cười thật tươi như anh đã luôn xem cuộc sống chỉ là những tình cảm nhẹ nhàng. Anh Dư chết như anh đã muốn đi tìm một kết thúc tiểu thuyết bí hiểm mà người đời không một ai rõ. Tuyết còn trông thấy ngày Cao Bằng thất thủ, bộ đội Việt Minh vào tiếp quản, vong thiếu tá Rivière và đại úy Garnier ra trình diện học tập ở ủy ban quân quản thị xã. Tuyết đã hét lên lúc trông thấy Alexandre bị tập trung cải tạo rồi hình ảnh biến mất, trống rỗng.

    Tuyết đã khóc ngất trong buổi sáng có lửa Satan và phép màu cùng xẩy đến. Khóc cho thân phận một nhân vật tiểu thuyếât, không có quá khứ, tương lai, trong đôi mắt đấng Christ. Về sau tòa thánh La Mã không chứng nhận, không xác chứng Jésus Christ đã tái thế, chỉ vì nhân chứng duy nhất, dì Louise bị tước phép thông công do đánh mất phẩm hạnh. Nhưng sáng đó, buổi sáng có mây trong và những khóm dâu đỏ huyết đan kín các lối đi ven rừng, các họ đạo đã khắc ghi vĩnh viễn hình ảnh nhà thờ bốc cháy. Nhiều năm sau, Tuyết cũng không còn nhớ rõ đấng Christ đã xuất hiện trước hay sau trận pháo kích. Tuyết chỉ nhớ đã khẩn khoản van nài thiên chúa cứu chuộc linh hồn nàng. Sáng đó đã xẩy ra hiện tượng thần bí. Những trang giấy to bản chép đầy chữ Hébreu, ở đâu bay đến sáng lóa và vây lấy Jésus. Từng trang đặc chữ Do Thái cổ óng ánh giát vàng lần lượt xuất hiện trước đấng cứu thế rồi biến đi, cứ tiếp tục bay đến, trang này sau trang khác, rợp trời rồi mất hút. Trên không chỉ còn lại dư âm của gió và thứ bụi vàng rây rắc gieo xuống những khóm mai yếu ớt, vừa hé nở, thắm thiết, mà không ai rõ vì sao ở cuối tháng năm khi những trận bão rừng bắt đầu đổ về miền biên giới. Tuyết hiểu nàng không có tên trên danh sách loài người khi Jésus Christ gỡ tay. Vì sao thiên chúa ngôi hai với đôi mắt chứa chan nhân ái đã im lặng, không thể cứu rỗi. Sáng đó, gương mặt Jésus buồn đắm. Sáng đó Tuyết đã khóc thật nhiều vì vụt hiểu ra nàng chỉ có thể hiện hữu bằng tình yêu khai hoá duy nhất của Alexandre Lucien Abel de Rhodes.

Ðó là thời kỳ ở Cao Bằng không còn một ai tin vào chiến thắng của quân đoàn viễn chinh Pháp và lính Lê Dương vẫn hát những bài ca của quỷ:

Louise Marie où vas tu dans le monde?

Je vais où vont les soldats

Louise Marie qui aimes tu?

J’aime celui qui va mourrir

et le diable en rit, Ha, Ha, Ha, Ha  

Trần Vũ

Défunts 2/ 11/ 2002

Lễ Người Chết Công Giáo

–      Trung Ðoàn 3 Lê Dương: 3ème Régim

Ghi chú quân sự:

ent Etranger d’Infanterie (3 R.E.I)

–      Binh đoàn tác chiến Le Page: Groupement des Tabors Marocains (G.T.M), từ 5/1950 cải danh Chiến Ðoàn Bayard (Groupement tactique Bayard), bao gồm 4 tiểu đoàn Tabors, về sau tăng cường tiểu đoàn 1 B.E.P.

–      Binh đoàn tác chiến Charton: Groupement Tactique Charton, bao gồm tiểu đoàn 3 Lê Dương, tiểu đoàn 10 Tabor và tiểu đoàn phụ lực quân Bataillon Lèger de Supplétifs Militaires (B.L.S.M). Tháng 9.1950 tiểu đoàn 3 Tabor thay thế tiểu đoàn 10 Tabor bằng không vận. Về sau tăng viện tiểu đoàn 3 B.C.C.P thả dù xuống Thất Khê.

–      Tabor Marocain: Danh xưng chính thức của các tiểu đoàn sơn cước Marốc, mỗi Tabor gồm 4 Goums, mỗi Goum tương đương một đại đội, lính tuyển mộ cùng một bộ lạc miền núi.

–      1er B.E.P: Bataillon Etranger de Parachutistes, tiểu đoàn 1 Nhảy Dù Lê Dương.

–      3ème B.C.C.P: Bataillon Colonial de Chasseurs Commandos Parachutistes, tiểu đoàn 3 Thuộc Ðịa Săn Giặc Biệt Kích Dù.

–      Sư Ðoàn 308 Ðại Ðoàn Quân Tiên Phong: Ðại đơn vị đầu tiên của quân đoàn chủ lực Việt Minh do tướng Vương Thừa Vũ chỉ huy, bao gồm các trung đoàn 88, 102 và trung đoàn Thủ Ðô, đơn vị mũi nhọn thành lập từ các tiểu đoàn Cứu Quốc Tự Vệ Thành Hà Nội chính quy hóa.

–      Ðại tá Charton, đại tá Le Page bị bắt làm tù binh, tháng 10.1950, trao trả sau hiệp định Genève

–      Hải quân thiếu tá Henry Rivière, tử trận 01.05.1882 tại Ô Cầu Giấy

–      Hải quân đại úy Francis Garnier, tử trận 21.12.1873 tại Ô Cầu Giấy

–      Ðại úy De La Marek, tử trận 25.02.1861 tại Chí Hòa

–      Trung úy Bernard de Lattre de Tassigny, tử trận 31.05.1951 tại đồn Yên Cư Hạ, Ninh Bình.

–      Ðại tướng Jean De Lattre de Tassigny, cao ủy kiêm tổng tư lệnh, mất 11.01.1952 sau chiến dịch Hòa Bình.

–      Hồng y Armand Jean du Plessis de Richelieu 1585-1642, thủ tướng triều Louis XIII.

–      Tham mưu trưởng lục quân Phổ Karl Von Clausewitz 1780-1831, lý thuyết gia chiến lược quân sự.

–      Thống chế Michel Ney 1769-1815, chỉ huy cánh quân Pháp đánh chiếm Mạc Tư Khoa.

© Copyright Trần Vũ

Trò chuyện với nhà văn Trần Vũ

dutule.com

3 Tháng Ba 2011

Post by Sơn râu 25 May 2024

Kỳ 7

Vo Duy Nhien:

Để có thêm thông tin cho việc đặt câu hỏi, tôi đã thử cố gắng đọc một vài truyện của ông và nhận thấy ông đã cố “làm đẹp” bằng cách tráng men cho mượt mà lóng lánh những cuộc mây mưa nhầy nhụa giữa những người đàn bà có chồng chung, giữa tu hành và phàm tục, thậm chí giữa hai chị em cùng huyết thống… Xin ông cho biết có phải ông muốn tung hô vạn tuế sự vô luân?

Nhà văn Trần Vũ trả lời: 

Dường như Nhiên rất lý tưởng? Nhiên không nghĩ là những sự việc này xảy ra trong đời thật? Phụ nữ có chồng chung là việc từ ngàn năm và vẫn đang xảy ra. Tình dục giữa tu sĩ với dân chúng …lên báo hàng tuần. Bên Pháp không còn đếm xuể những vụ kiện cha sứ xâm phạm trẻ em. Lâu lâu người ta lại tìm ra hài cốt trẻ sơ sinh chôn trong những chủng viện của các nữ tu. Ở Việt Nam thì vẫn có sư hổ mang. Loạn luân càng không hiếm nhưng thường bị dấu nhẹm trong gia đình, trừ khi án mạng xảy ra. Tuy vậy, cảnh sát vẫn phát giác.

Còn tung hô vạn tuế sự vô luân? Một tác giả không nhất thiết phải luôn đồng ý với những gì xảy ra trong tiểu thuyết của mình. Đối với một tác giả viết truyện sát nhân, Duy Nhiên không cho là họ có tâm tính sát thủ chứ? Cựu tổng thống Pháp Giscard d’Estaing khi về hưu cho xuất bản tiểu thuyết La Princesse et le Président  kể lại mối tình của một tổng thống đương quyền với công nương Diana. Dân Pháp ai cũng hiểu là hư cấu, không hề có chuyện Giscard d’Estaing ngoại tình với Lady Di, hay cựu tổng thống đạo mạo này tung hô vạn tuế sự vô luân. Lady Di, khi sinh tiền đã nhiều mối tình trong lúc còn là công chúa xứ Galles, hoàng hậu tương lai của Anh quốc. Lady Di là týp đàn bà có chồng chung mà Duy Nhiên phê phán, nhưng khi Lady Di qua đời dân chúng Anh đã nhiều thương tiếc. Đã sang thế kỷ 21, các xứ Bắc Âu đã cho các cặp đồng tính luyến ái làm giá thú kết hôn với nhau. Bên Pháp thì từ lâu vẫn dành những khu bãi biển cho dân chúng tắm truồng và cắm trại trần truồng. Các Club trao đổi bạn tình được cấp môn bài hành nghề. Tuổi trẻ Tây phương phát minh ra công thức Sexe Friends là bạn tình dục, mà không tình yêu, không yêu đương, chỉ gặp nhau để làm tình và đây đang là phong trào trong giới trẻ. Còn loạn luân Việt Nam? Chúng ta vẫn kính trọng các vua Trần và đức Trần Hưng Đạo, gọi ông là Đức Thánh Trần. Có nghĩa là ông …có đức độ. 

Còn tráng men: Tôi cố gắng tránh sự dung tục.

Trò chuyện với nhà văn Trần Vũ

dutule.com

1 Tháng Ba 2011

Post by Sơn râu 25 May 2024

Kỳ 6

Võ Duy Nhiên

Trả lời cho câu hỏi của độc giả Đoàn Vũ, ông nói tình dục trong truyện của ông được “tiểu thuyết hóa”; bấy lâu nay, do tuổi đời còn ít, tôi tưởng cái gì được tiểu thuyết hóa đều đẹp hơn đời sống thật, nhưng đọc phải những đoạn ông tả cảnh làm tình tôi thấy rất nhợn. Ông có lường trước sự phản tác dụng của việc “tiểu thuyết hóa” theo cách thức của ông?

Nhà văn Trần Vũ trả lời:

Chào Duy Nhiên.Nếu “tiểu thuyết hóa” là làm đẹp hơn đời sống thật như Nhiên viết, thì chắc là đã không có những tiểu thuyết kinh dị, án mạng, vụ án hoặc thảm kịch… Xin lỗi đã làm Nhiên nhợn và cách tôi viết truyện đã gây dị ứng cho Nhiên. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ tôi hư cấu không mạnh tay so với nhiều tác giả Việt Nam khác. Với Tây phương, càng không bằng. 

Về câu hỏi của Nhiên là tôi có lường trước sự phản tác dụng hay không? Thật sự là không. 

Làm sao vừa ý sở thích của từng người đọc và biết rõ cảm nhận của mỗi người đọc, nhất là khi những cảm nhận cùng sở thích này thay đổi theo thời gian và tùy thuộc vào tuổi tác cũng như vào văn hóa, tập quán, phong tục của vùng đất người đọc ấy sinh sống. Điều này đúng cho cả người viết. 

Chính vì vậy trong lĩnh vực tiểu thuyết có nhiều khuynh hướng, nhiều trường phái, nhiều thể loại và thủ pháp của hằng hà sa số các tác giả khác nhau làm nên sự phong phú cho người đọc có thể chọn lựa.

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 25 May 2024

 Chương V: Về xuôi

Phần 9

Vấn đề thăm nuôi vẫn điều hòa và những tin đồn vẫn phấn khởi. Thời gian thăm nuôi vẫn tùy theo trường hợp được Ban Giám Thị ban phát đặc ân, nhưng thường thường là 2 tiếng. Có người vợ đi từ Nam ra Bắc chỉ mang theo 1 lon gạo, muợn nồi nấu cơm. Hai vợ chồng ăn với nhau một bữa, rồi anh lại vào tù, em lủi thủi trở về bằng dòng nước mắt tủi hờn! Có người ra thăm chồng mang theo đứa con nhỏ. Trong lúc hai vợ chồng đang to nhỏ những lời nhớ thương đằm thắm, qua những giọt lệ ngắn dài, bỗng đứa bé nắm tay bố nói: “Bố ơi, ở nhà mẹ đẻ em bé xinh lắm!” Anh bố bất chợt nghe câu đó, sững người, nhìn hết vợ đến con một lúc, rồi bỏ về trại, không mang theo quà thăm nưôi. Chị vợ ôm mặt khóc ngất! Trong khi đó, người chồng mới của chị, đang ngồi chờ trong chiếc xe vận tải, tay cầm chiếc mũ két giơ ra ngoài, để tù lao động gần đấy muốn gửi “thư chui”, cứ bỏ vô, anh mang về Nam gửi dùm. Sở dĩ chuyện này vỡ lở, cũng do các bà đi thăm nuôi nói lại.!

Chiều nay, tôi lại được gọi thăm nuôi. Vợ tôi cùng hai em và người anh ruột đến thăm. Cũng hôm đó, có vợ của Ánh và gia đình Đại Tá Thọ, Lữ Đoàn Trưởng Dù bị bắt tại mặt trận Hạ Lào năm 1971. Chị Ánh năm nay chừng ngoài 40, khá xinh đẹp. Tôi nghĩ bụng tên Cộng Sản mê chị cũng có lý lắm. Ánh giới thiệu vợ với tôi, khi tôi đang đứng nói chuyện với Đại Tá Thọ. Chị Ánh cười, nụ cười hồn nhiên, đôi môi đỏ hồng mầu mận chín. Hàm răng đều trắng muốt lấp lánh qua ánh sáng. Chị quả thực vừa có duyên, vừa đẹp. Tôi chỉ dám nghĩ đến như vậy. Vợ tôi kéo tôi đến chiếc bàn để nói chuyện gia đình. Tên Công An ngồi ở chiếc bàn kê gần đấy. Căn phòng thăm nuôi hôm nay đầy người. Vợ chồng tôi đưa nhau đến nơi đầu bàn, còn vừa hai chỗ để dễ nói chuyện. Sau hơn 4 năm xa cách, vợ chồng nhìn nhau bằng những con mắt tràn ngập xót thương. Chúng tôi đã quá tuổi để có thể làm những cử chỉ vồ vập nhằm thổ lộ nỗi nhớ thương như những người còn trẻ. Vợ tôi đưa chiếc khăn nhỏ lên lau nước mắt. Anh và các em tôi cũng vậy. Tôi nói:

– Chúng ta không có nhiều thì giờ để khóc. Hãy nói chuyện nhà đi. Có những gì thay đổi sau 4 năm “đổi đời”?

Vợ tôi, nói nhỏ cho nghe tất cả những gì đã xẩy ra. Sở dĩ đến hôm nay mới ra thăm được vì tụi Công An quận không chịu cấp giấy phép, sau phải mất $300 mới có đó. Tụi nó cứ chê mình thối nát, tham nhũng, nay nó bằng trăm! Chúng tôi vừa nói, vừa coi chừng tên Công An phụ trách thăm nuôi! Vợ tôi còn lo cho đứa con gái út vượt biên, hiện nó đang ở Pulau Bidong, thằng con trai trốn trại vượt biên, bị bắt, nhưng nó lại trốn thoát lần nữa!

Thời gian qua đi rất mau, chưa nói hết chuyện, tên Công An nhắc: hết giờ! Vợ chồng, anh em tôi, nắm chặt tay nhau, chẳng muốn rời. Đại Tá Thọ và Ánh cũng chia tay với gia đình họ. Tôi và Ánh xếp đồ vào chiếc xe “cải tiến”, chiếc xe bò nhỏ, làm toàn bằng sắt, kéo rất nặng, kêu lọc cọc trên mặt lộ đá. Tôi có ấn tượng như nó đang nghiến nát từng mảnh đời của mỗi chúng tôi xuyên qua những ý nghĩ thầm kín của mỗi người gói trọn trong đáy sâu lòng mình không hề than thở! Đêm hôm ấy, tôi mất ngủ! Một đêm trắng trôi qua với những hình ảnh thoáng hiện, thoáng mất trong đầu. Bây giờ tôi nằm đây, trong cái nhà tù này, bốn bề quây kín bằng những bức tường đá, những chiếc chấn song sắt, mầu vôi trắng không còn nữa, nó biến thành 4 bức tường máu rệp, thâm xịt. Vợ tôi và anh em tôi, giờ này đang thức hay ngủ nơi căn nhà thăm nuôi, cách xa tôi khoảng trên 1 cây số. Tôi ngồi dậy, nhìn qua chấn song. Ánh trăng bên ngoài sáng lắm, tuy không nhìn thấy trăng, chỉ có làn ánh sáng dịu dàng tỏa xuống nơi chiếc sân rộng, làm lòng tôi dịu xuống. Cái hoàn cảnh khốn khổ này, tôi đang gánh chịu cùng hàng trăm ngàn người tù và 25 triệu đồng bào miền Nam, cũng chỉ vì sự quyết định lầm lỡ của một vài người, và cũng vì tham vọng của một số người khác. Tụi Cộng Sản thường cho chúng tôi, thuở trước được hưởng “đặc quyền, đặc lợi”. Nhưng Cộng Sản nói vậy là vơ đũa cả nắm, chứ đâu phải hễ sĩ quan là được hưởng đặc quyền, đặc lợi? Trong Quân đội Miền Nam, sự thực có nhiều Hạ Sĩ Quan và binh sĩ, có uy quyền hơn sĩ quan nếu họ có “gốc lớn”!

Tôi thầm tiếc mấy ngàn cuốn sách đã bị “hiến” trong đợt đánh văn hóa đồi trụy. Còn những “tin thăm nuôi” đều không đúng, vợ tôi khẳng định! Anh em hồi chiều có hỏi, vì không muốn để anh em tuyệt vọng, tôi chỉ cười không xác nhận, cũng chẳng phủ nhận.

Sáng hôm sau, tôi được nghỉ lao động, như mọi lần thăm nuôi, để thu xếp quà bánh. Theo lệnh chung, tất cả quà phải để ở ngoài, không được mang vô “chuồng”. Cũng vì để ở ngoài, nên sáng nào cũng có anh em kêu mất đồ, do tụi Công An đi tuần lấy cắp. Thường chúng chỉ lấy sữa và bánh. Lon sữa và giấy bao, vứt ngay dưới chân tường. Dù thùng có khóa hay không cũng vậy! Ban đêm, tù nào được ra? Chắc tụi Công An cũng đói lắm, nên một buổi lao động, trong lúc giải lao, tên thiếu úy Quản giáo đã than thở:

– Các anh không biết đấy chứ? Được hai chữ “anh hùng”, nhưng đói bỏ mẹ! Các anh đói còn có gia đình thăm nuôi, chúng tôi, đói đành chịu! Muốn may một chiếc sơ-mi phải để dành 5 tháng, không dám tiêu phí đồng nào. Muốn mời anh em bữa cơm, phải để đành tiêu chuẩn cả tháng! Sung sướng nỗi gì đâu mà ham! Tôi chỉ mong “các ông nhà nước” nghĩ lại cho dân nhờ. Chứ kéo dài, chắc chết quá!

Tôi ngạc nhiên, khi thấy một cấp sĩ quan Công An lại nói với tôi bằng luận điệu mất lập trường như vậy? Nhưng càng ở lâu, tiếp xúc nhiều, mới biết tụi Công An trừ một số trung kiên cuồng tín, còn phần đông, tuy không nói ra, nhưng tinh thần đã chao đảo, nếu có cơ hội, sẵn sàng bỏ Đảng và Nhà Nước, để mưu cầu quyền lợi riêng của cá nhân!

Quanh quẩn mùa lạnh lại tới! Mùa lạnh nay, mùa thứ tư tôi gánh chịu tai miền Bắc, và là mùa thứ hai tại trại Nam Hà. Gió thổi hun hút, đêm nằm đã đắp mền, đi làm phải mặc áo ấm! Lao động vẫn đều đều, thỉnh thoảng lại đi trốn khi có “khách” tới thăm trại. Cái gì mãi cũng thành quen, ngay cả chuyện điểm nghiệm. Các Đội đi làm về, bị khám đã đành, có Đội vừa ra khỏi trại bị gọi đứng lại, chờ. Khi các Đội đi hết, Đội đứng lại, được lệnh, mỗi người đứng cách nhau 1 thước, để múa điệu “phượng hoàng”. Ngoài việc xù đầu, há mồm, lần lưng, móc túi như thường lệ, mọi người còn phải tụt quần, chổng mông cho tụi Công An nhòm xem có gì dấu nơi hậu môn không? Mỗi lần khám đột xuất như vậy thế nào cũng có người mất thư, mất tiền, lúc về còn phải làm kiểm điểm! Anh em đi làm, thường mang theo thư, để nhỡ khi gặp bà con thăm nuôi là gửi chui. Sau này tụi Công An có nhận gửi thư chui, lđ/1lá. Nhưng thư chỉ gửi đi, chứ nhận thì không ! Sự khám xét nghiêm ngặt như thế, không hiểu sao, anh em trong Buồng, vẫn có rượu uống! Rượu trong tù quý lắm. Có chút “nước mắt quê hương” để tiêu sầu giải buồn cũng đỡ khổ. Chiều ngày 24-12, lúc đi làm về, tụi Công An trực khám rất kỹ. Đêm nay Noël, tụi nó tăng cường an ninh, đầy Công An vũ trang. Nhưng không phải Đội nào cũng bị khám, chỉ riêng những Đội có tên trong “sổ đen” thôi! Chiều hôm đó tất cả mọi bi-đông và lon gô thuộc Đội tôi, đều phải mở nắp, đổ hết nước. Mọi người đi qua mặt tên Công An phải dốc ngược lên, chứng tỏ không có gì bên trong. Khám như vậy quá kỹ, làm sao lọt được. Nhưng sự thực rượu không đi qua ngả đó, nó được chính Công An đưa vô cho tù uống, lẽ dĩ nhiên giá đắt. Đêm Giáng Sinh, vị Linh Mục cũng tổ chức thánh lễ. Tiếng cầu kinh lầm rầm, âm u trong kích thước không gian tù ngục, nghe nó buồn thảm lam sao! Trong thời gian làm lễ, có người canh gác, phòng khi tụi vũ trang đi tuần, thì báo động kịp thời, lúc đó buổi thánh lễ trở thành cuộc nói chuyện vui.

– Ê, sao giờ này mấy anh chưa ngủ? kẻng lâu rồi!

mạnh hải flickr

– Dạ, đi ngủ ngay đây, cán bô!

Tuy nói vậy, nhưng anh nào vẫn ngồi chỗ đó, chờ tụi nó đi khỏi, lại sinh hoạt như cũ. Đêm Noël trong trại tù Nam Hà làm tôi nhớ đến đêm Noël tại Suối Máu. Cha và con chiên bị đuổi bắt, chạy như vịt.

Tinh thần anh em nói chung đã khá hơn những năm đầu vì thấy thời gian ấn định 3 năm đã trôi qua lâu mà ánh sáng cuối đường hầm chưa bật! Anh em đã đoàn kết và dám chống trả với áp bức của những tên Công An ác ôn. Khi cần, anh em đã biết bảo nhau cùng “xù”. Một bữa, có một anh, không hiểu sao bị tên Công An lao động trói. Anh em toàn Đội phản đối bằng cách “xù” không làm việc. Tên nay tức quá, tập họp lại nói:

– Anh nào chống đối lao động ra khỏi hàng!

Không ai nhúc nhích. Nó tiếp:

– Anh nào chịu lao động, ra khỏi hàng!

Cũng không ai nhúc nhích. Nó không biết giải quyết làm sao, cứ đứng la lối. Vừa lúc ấy, có Công An “cấp cao” đi qua, hỏi chuyện gì? Đội trưởng nói nguyên do. Tên Công An nghe xong, giải thích, không nên lãng công như thế, vi phạm nội quy, chống đối chính sách, đường lối của Đảng và Nhà Nước, làm vậy nguy hiểm. Có gì nên trình “Trên” để giải quyết.

Nói xong, nó đến mở dây cho anh bị trói! Hôm sau, tên Công An quản lý lao động bị thay thế! Nhưng vẫn có những tên tù khốn nạn, cho đến phút này, vẫn chưa chịu mở mắt, như tên Cang. Hắn, mang cấp Thiếu Tá, giải ngũ từ lâu, đi làm cho hãng ESSO, hắn đi tù vì can tội vượt biên. Hắn dám mở miệng nói với tên Công An Buồng những câu như:

– Thưa cán bộ, nếu được sự khoan hồng của Đảng và Nhà Nước tha cho về sinh sống với vợ con. Khi qua Hà Nội , thế nào tôi cũng xin phép, để được đến tận “Lăng Bác” tạ tội, vì sau mấy chục năm làm tay sai cho Mỹ Ngụy, đã gây nhiều thiệt hại cho Cách Mạng, cho nhân dân. Đáng tội chết lắm, nay được tha xin đến tạ tội, cầu mong “Bác” tha thứ!

Khi lao động, nếu cần, hắn thọc tay vào hố phân moi lên chứ không cần vá! Chính vì có những tên tù thiếu nhân cách như vậy, nên tụi Cộng Sản mới khinh chung cả lũ. Thục tế, tên Cang có sợ Cộng Sản thật hay không, chỉ riêng hắn biết, nhưng dù sao những lời nói và hành động đó quả thực không đẹp đối với một con người, dù con người thua trận!

Mùa lạnh đá thực sự biểu dương uy quyền của mình bằng những ngày và đêm dài mưa gió triền miên. Mưa làm cho đường lầy lội, trơn trợt. Nơi hiện trường bùn đất bẩn thỉu, nhưng mưa không đủ lớn để nghỉ. Một loại mưa làm đẹp cảnh vật. Gió thổi như tạt vào da thịt từng xô nước đá. Nắng khổ đàng nắng, mưa khổ đàng mưa. “Nắng không ưa, mưa không chịu” ở cảnh ngộ này quá đúng!

Lao động khổ sai, hơn 4 năm rồi, còn bao lâu nữa? Sức người có hạn, nên nhiều anh em phải chuyển ra Mễ, một trại gần Phủ Lý chuyên nhốt tù bệnh nặng, ngoài khả năng chữa trị của Bệnh xá Nam Hà! Tù có đủ mọi loại bệnh, nặng có, nhẹ có. Nhưng dù nặng, dù nhẹ cũng phải có thuốc chữa, thuốc ở đây lại hiếm như vàng.

Căn buồng tôi ở, sát ngay bệnh xá, từ trên lầu, có thể nhìn sang dễ dàng. Tên tù hình sự ở đây cũng là một y tá, can tội buôn chui thuốc tây bị tù, nhưng các “tu-bíp” cứ nhất định gọi là bác sĩ. Nó nuôi một con khướu trong chiếc lồng treo nơi hiên Bệnh xá. Chẳng biết con khướu bị nhốt từ bao giờ, thỉnh thoảng nó cất tiếng hót lảnh lót, réo rắt, quyến rũ! Mỗi trưa, có con khướu mái, mồm ngậm con mồi, chờ đến khi cửa “chuồng” Bệnh xá khóa, nó mới bay tới mớm cho con khướu trống. Trưa nào cũng vậy, tôi quan sát cả tuần, và mỗi chiều, con khướu mái đậu trên nóc nhà tù, đối diện với chiếc lồng khướu. Nó nhìn bằng con mắt buồn bã về phía “người tình”. Qua hình ảnh đó, tôi thầm nghĩ đến nhiều người đàn bà miền Nam trong giai đoạn này, cũng cùng cảnh ngộ với con khướu, tuy không được ở gần, nhưng tình cảm luôn luôn hướng về người chồng đang lâm vòng tù tội. Nhưng cũng có người, nhân dịp này phụ rẫy chồng con, đi theo tiếng gọi của vật dục, thỏa mãn thú tính. Loại đàn bà thứ nhì này, không bằng súc vật!

Trong buồng tôi, có 4 anh, nuôi 4 con chim khác nhau. Một con sáo, 1 con chích chòe, 1 con chào mào và l con cuốc. Con cuốc được nuôi trong chiếc lon ghi-gô, có châm lỗ ở hai đầu, nó được đặt tên: Anh hùng Phạm Tuân phi hành gia, đi dép lốp lên tàu vũ trụ! theo thơ của Tố Hữu. Cuốc là loại chịm lủi rất nhanh, nếu buộc không kỹ, nó thoát được, rất khó bắt lại. Nó vừa biết bay vừa biết bơi, đôi giò cao lênh khênh như hai chiếc “cà kheo”. Hàng ngày nó theo chủ đi lao động.

Còn 3 con chim kia thì con sáo và con chào mào rất thân nhau. Mỗi lần con chào mào bay lượn như chiếc trực thăng để săn mồi, khi săn được mồi, thường nhường cho con sáo ăn. Vì bị cắt cánh, nên sáo không bay cao và xa đươc, nhưng nó rất khôn ngoan. Một hôm có anh tù loay hoay đang thái miếng thịt vừa mua đươc, nó lỏn từ phía sau đớp một miếng xong chạy. Anh kia cầm que đuổi cùng sân, cả giờ vẫn không sao lấy lại được, đành mất. Mỗi buổi trưa, nó chờ có ai phơi mùng bắt rệp, nó mổ rệp ăn ngon lành. Mỗi chiều anh em ngồi chờ điểm số vô “chuồng”, nó cũng đứng chờ. Khi tù vào, nó nhẩy theo, chui vô chiếc lồng đã để ngỏ cửa sẵn. Nếu tù chưa vô, đố ai bắt được nó vô lồng! Còn con chích chòe, mỗi tối lại tự nhẩy lên khuôn cửa sổ trên cao, đậu trên chiếc chấn song, sáng nào cũng hót líu lo, như báo thức mọi người.

Nhưng một buổi, con chào mào đang đậu trên bờ tường cao, một anh ở buồng khác nhìn thấy, tưởng chim trời, cho một gậy, chết tốt. Nếu chim trời thực, làm sao anh kia đập được nó? Con cuốc cũng sút dây lủi mất. Con sáo cánh mọc đã dài, bay luôn. Con chích chòe cũng vậy! Không biết có nên tin dị đoan không, từ ngày mất 4 con chim đó, buồng tôi luôn luôn gặp chuyện không may, hết chuyện này đến chuyện nọ. Nào khám xét bắt bớ lung tung, anh em trong buồng cãi lộn! Nhưng một khi đã sống dưới Đáy Địa Ngục rồi, chuyện gì xẩy ra cũng vậy thôi! Tù sướng ở chỗ đó, khi ở ngoài, còn sợ, khi đã bị tù, hết sợ, vì không còn hình phạt nào nặng hơn tù khổ sai không án!

Mấy bữa nay, chúng tôi được biết tin tức Thế Giới Tự Do qua chiếc radio. Lẽ dĩ nhiên, phải có sự thông đồng của tên Công An nào đó, cũng vì quyền lợi riêng tư, nó hành động! Lúc trước, khi chưa có đài, anh em đều nghe “tin thăm nuôi”, nay mỗi tối nghe 3 đài: Trung Cộng, BBC và VOA nên mọi tin tức đều xác thực, nhất là những tin về vượt biên, bao nhiêu người được cứu sống ở giữa biển Đông! Mỗi tối thứ Năm, được nghe Tuần Báo Á Châu nói về Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản. Từ lúc ấy, anh em mới hết tin Mỹ mua tù và tin thăm nuôi cũng mất hết giá trị, trừ tin trong nước. Cũng vì chiếc Radio, mỗi sáng, các phòng cử người đến buồng tôi để nghe nói lại các tin tức đêm qua, xong về phổ biến cho toàn buồng trong giờ nào thuận tiện nhất. Mỗi buổi sáng, chiếc sân trước buồng tôi đông đảo, nhộn nhịp như các buổi họp báo của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị tại Saigon lúc trước, nói về tin tức chiến sự cho các phóng viên trong nước và quốc tế nghe. Tôi nghĩ thầm, cứ thế này kéo dài, tụi Công An họa là mù và điếc hết, mới không biết! Nhưng đúng, tụi nó mù và điếc thật, trong thời gian này. Một hôm, tên hung thần Thịnh gọi một anh trong Đội tôi lên phòng trực. Tưởng chuyện radio, anh này đã chuẩn bị mọi câu trả lời để tránh né. Nhưng không, lúc trở về mặt mày tươi rói. Anh nói cho biết, bữa nay tên Thịnh nói năng tử tế, yêu cầu anh mua dùm cặp gà, vì vợ con nó đang ốm đau, không tiền mua thuốc. Anh cười, chửi:

– Đù má nó, ngày thường hách xì-xằng thế, sao bữa nay nó nói với mình ngọt như mía lùi. Nào “anh thông cảm”, nào “vì nhiệm vụ”, chứ nó đâu muốn thế! Cái miệng lưỡi Công An ghê thật!

– Rồi ông có mua không?

mạnh hải flickr

– Dĩ nhiên phải mua rồi. Cặp gà gầy trơ xương, già khằn, phải trả 150 đồng, có đau không? Nhưng nhờ thế, che chở được cái radio đấy!

Trời mấy bữa nay lạnh khan. Trần mây thấp, nặng chĩu hơi nước, nhưng không mưa, chỉ có gió. Tôi nhìn lên lưng chừng núi, nhiều thân cây trụi lá trông như bộ xương khô. Mầu lá úa vàng lốm đốm đó đây như những miếng vá vụng giữa mầu xanh trùng điệp.

Bữa nay chúng tôi phải làm công tác chữa kho, gần khu tụi Công An vũ trang ở. Một đứa con gái, ngồi ngay bậc cửa vén quần gãi đùi, chiếc đùi no tròn, trắng muốt như chiếc ngà voi. Nó đưa mắt nhìn tù, con mắt lá răm nhỏ tí teo, như khiêu khích. Tôi chẳng biết nó muốn gì trong cái nhìn ấy, chỉ biết, nó cho tay kéo ống quần xuống, đứng lên đi vào, trước những con mắt thèm thuồng của lũ tù đói da thịt lâu ngày.

Tù kể cũng lạ. Khi đói chỉ nghĩ đến ăn, ngoài vấn đề ăn không còn tha thiết thứ gì kể cả đàn bà. Nhưng nay, sau thời gian được thăm nuôi, tương đối no đủ, nên đêm đêm đã bắt đầu nói đến đàn bà và những chuyện dâm dật!

Chiều qua, tù được nghỉ lao động để điều chỉnh hồ sơ. Nữ Công An, tên Liên, ngồi nơi bàn với chồng hồ sơ cao nghệu. Trông cũng dễ coi, ngực nở nang, cô mặc chiếc áo cánh, cổ may khá rộng. Từng người được gọi lên.

– Anh sanh ở đâu, năm nào, có biết bị tội gì không?

– Dạ, không?

– Tội vượt biên! Còn anh này, biết tội gì không?

– Không!

– Tội phản Cách Mạng!

– Tôi đâu có theo đâu mà phản? Tù cãi lại.

– Chống lại tức phản đó.

Tên nữ Công An gườm gườm nhìn vào anh đứng gần đó.

– Còn anh này đứng lui ra!

Anh kia cười cười thụt lui mấy bước, trong khi tên nữ Công An cho tay kéo cái cổ áo! Hành động ấy, tuy chả đáng gì, nhưng chứng tỏ vấn đề đàn bà bây giờ đã bắt đầu trở thành một ám ảnh. Ngoài đàn bà, đánh bạc! Họ sát phạt nhau mỗi tối, có khi đánh suốt sáng, mỗi đêm thứ bẩy. Có một số, hình như đã quên hoàn cảnh đích thục của mình giữa cuộc sống nhục nhã, kềm chế này! Chỉ tội nghiệp cho gia đình họ, chắt bóp dành dụm lấy tiền thăm nuôi chồng con, nay chính họ lại đang phụ rẫy cái tình thương vô biên đó, bằng cách nướng hết vào sự đỏ đen. Có anh thua đến nổi bán cả gói mì cuối cùng của chuyến thăm nuôi mới đây!

Không khí trại tự nhiên sôi động hẳn vì mới có sự hiện diện của đoàn tài tử ngành Điện Ảnh từ Hà-nội về, để thực hiện một cuốn phim của ngành Công An, mang tựa đề: Tình và Tội. Các tài tử nam và nữ, đi lượn lờ mỗi ngày, trong vòng đai Trại. Tù nhìn no mắt và có dịp so sánh với các tài tử miền Nam trước đây. Nữ tài tử chính, cũng khá xinh đẹp, dáng người dong dỏng, tầm thước.

Một buổi tối, từ trên “lầu tù”, tôi nhìn sang bệnh xá, nơi đó, tối nay được thực hiện một đoạn phim quan trọng. Nữ tài tử chính, trong vai nữ y tá, có nhiệm vụ cứu chữa cho một anh can tội giết người, cũng là người tình, bằng các thứ lá cây trồng ngay trong vườn Bệnh xá, phần nhiều, loại lá “sống đời”!

Các ngọn đèn pha bật sáng rực. Đạo diễn, kiểm soát lại lần cuối trước khi cho lệnh quay.

– Nay, sao bữa nay, ngực cô lại lép, so với lần quay trước? Tìm cái gì nâng cao lên chứ?

Nữ tài tử vơ vội mấy chiếc khăn treo gần đấy độn vô.

– Chưa đủ, thêm nữa!

Cô lại tìm quanh quẩn vài miếng vải nhồi vào.

– Chuẩn bị, quay!

Đạo diễn vừa hô xong, bỗng nữ tài tử hét to:

– Cục lương khô của em vừa để đây đâu rồi?

Nói xong, cô đứng dậy tìm. Mặt mày ngơ ngác, trước ánh đèn pha sáng rực hơn ban ngày. Tôi nghĩ, giá đoạn phim này, cần phải tập để đóng, chắc khó mà sống động như cảnh nữ tài tử đi tìm cục lương khô bồi dưỡng vừa qua. Mấy năm trước, chúng tôi cũng đã được phát những cục lương khô trên chiếc tầu Sông Hương khi chuyển ra miền Bắc quả thực, nó chẳng ngon lành gì. Điều này chứng tỏ, các tài tử miền Bắc có một đời sống vật chất không mấy khích lệ, dù đã được đãi ngộ hơn những người làm công tác khác! Tôi nghĩ đến miền Nam trước đây, phương tiện dư thừa, mà chẳng làm nên việc gì đáng giá, để đóng góp cho Việt Nam những giá trị cao thuộc bộ môn điện ảnh! Chỉ toàn phim thương mại, rẻ tiền!

Buổi tối đó, họ làm việc tới 2 giờ sáng!

Ngày Tết gần đến, anh em ai cũng nhắc nhở, Tết này phải làm gì cho khác những Tết trước. Mọi người bàn luận rất tự nhiên, coi như chuyện thường ở ngoài đời, chứ không phải trong tù. Trúc cầm bó tỏi, đi chào bán:

– Tỏi giống đây, mua ngay kẻo hết, để dành mấy bữa nấu Tết, mua không ra, lấy gì cải thiện? Mại vô, mại vô!

Trúc vừa nói, vừa lấy tay chùi bồ hóng bám bẩn đen xung quanh bó tỏi. Tôi hỏi:

– Tỏi gì, đen thui vậy?

– Bố ơi! tỏi giống đó, sáng nay tên Công An vũ trang thường đi với Đội mình lúc trước, cần tiền quá, phải bán cả tỏi giống. Nay bố xem, mỗi củ to bằng 2 củ thường, lại chắc nữa! Một đồng, 2 củ, bố mua đi!

Tôi cầm 2 củ tỏi trong tay, móc cặp quần, trả Trúc 1 đồng. Tiền, không ai có quyền giữ. Muốn giữ phải khéo giấu, nếu bị khám đột xuất sẽ mất! Sự giấu tiền có nhiều cách, nhưng cũng may rủi. Chẳng hạn có anh giấu trong thùng vôi nhà cầu, trong cuộc khám xét bất ngờ, tưởng chắc, ai ngờ nó cũng tìm ra, tịch thu. Có người buộc vào nùi giẻ vứt lăn lóc ngay miệng cống lại chẳng sao. Nhưng muốn giấu sao thì giấu, thế nào cũng bị vỡ một lần, nếu không chịu tìm ra lối mới! Tụi Công An tinh lắm, chúng được học rất kỹ về cách khám tù, nên giấu gì, cũng chỉ ít lâu sau là bật mí. Có anh cho vào lòng điếu cầy, hút ro ro vẫn bị xét thấy. Nhưng sự thực tù vẫn có ngàn lẻ cách giấu tiền, chẳng may lắm, mới bi lộ ! Tôi, tuy có giấu tiền trong người, nhưng không bao giờ để quá 5 đồng!

mạnh hải flickr

Trại có phát hành loại “tiền bìa” dùng để mua những gì do Trại bán, nhưng chẳng ai muốn giữ vì đó là tiền giả, anh em thường gọi là tiền âm phủ. Nói cho đúng, đời sống của tụi Công An, lực lượng chính, lo về nội trị, trừ một số cấp cao, có cương vị, có môi trường để tham ô, còn chung chung, đều nghèo đói. Do đó, tuy ngoài mặt làm ra vẻ không cần, luôn luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng hy sinh cho Đảng cả tính mệnh lẫn tài sản, nhưng xét ra cũng chỉ bề ngoài, chứ họ cũng là người, cũng biết thèm muốn tất cả những gì con người hằng mơ ước, như chiếc xe đạp “ngoại”, cái đài tốt, cái đồng hồ 12 cột đèn, 3 bơi chèo, 2 cửa sổ, 2 ống khói, không người lái hiệu Seiko và chiếc bút Parker. Nhưng tất cả 4 thứ nói trên, phần nhiều, chúng chỉ có đồng hồ, loại đồng hồ cũ rích. Tụi Công An rất mê đồng hồ Seiko và Orient của Nhật.

Từ ngày chiếm được miền Nam, các thanh niên miền Bắc chịu ảnh hưởng cách ăn mặc của miền Nam. Nào quần “jin” (Jean) quần “bò” (Cow boy), nào áo ống, dép đế cao, giầy mũi tròn, mũi vuông, nên ai cũng đua đòi để có. Thậm chí, ngay bộ quần áo vàng đồng phục, có tên Công An cũng cắt may theo kiểu quần “bò”. Quần nào không có túi sau, được mua với giá cao. Có tên Công An lao động đã năn nỉ tù, có quần “bò” hay “jin” bán rẻ, để nó mang ra Phủ Lý bán lại kiếm lời! Có tên vợ đẻ không tiền mua tã lót cho con, đã nhờ tù mua giúp 1 kilô trà Bắc Thái. Trà Bắc Thái là loại trà ngon của miền Bắc, mọi người dân không ai được mang quá 100gr, chỉ riêng tụi Công An có quyền mang 1 kilô. Giá chính thức khoảng 30 đ, giá tự do 100 đ mỗi kí. Nói, không ai tin, nhưng chuyện có thật, như nữ Công An tên Nguyệt, giữ tiền thăm nuôi của tù, túng quá tiêu bừa, đến khi cần thanh toán, năn nỉ tù mua dùm con heo.

– Các anh mua dùm Nguyệt nhé! Con heo tốt lắm, Nguyệt bán cho các anh rẻ hơn người ta đấy!

Gớm, sao lúc này nó nói nghe ngoan thế, chả bù lúc không cần, nó coi tù như những tên hủi!

Xưa, khi chưa có dip chung đụng với thành phần hạ từng cơ sở của Cộng Sản, cả Công An lẫn Bộ Đội, tưởng tụi nó trung kiên, sống chết vì Đảng, cho Đảng, nay đụng chạm nhiều mới biết, tất cả đều là bề mặt. Tụi nó cũng tham ô, tư lợi, nhưng kín đáo. Trước đồng tiền, chúng nó cũng mềm yếu như ai. Do đó, tù mới có cơ hội mua chuộc để được hưởng phần nào thoải mái trong lao động cũng như lia chia mua bán linh tinh.

Mỗi sáng đi lao động, tôi thường gặp một tên tù hình sự tự giác mập lùn trông thô kệch, quê mùa mời mua bánh mì luộc, hoặc khoai, sắn. Nó được giữ chuồng heo, tôi chắc nó cũng ăn bớt phần của heo như tôi hồi nào ở Nghĩa Lộ, nên mới có bánh dư để bán. Nhưng đã 2 ngày, tôi không gặp nó. Tôi hỏi người tù nổi tiếng chuyện gì cũng biết:

– Ông ơi, sao mấy bữa nay không thấy thằng tù mập, bán bánh mì đâu nhỉ?

Anh bạn nhìn tôi ngạc nhiên:

– Thế ông chưa biết thật sao

– Chuyện gì đâu mà biết?

– Cha mẹ ơi! thế mà cũng đòi đi tù!

Rồi anh dằn giọng:

– Thưa Bố, nó lại vào tù rồi ạ!

– Sao thế?

– Tối chủ nhật vừa rồi, Trại tổ chức chiếu ciné cho Ban Giám Thị coi. Vì là tự giác, nó cũng được coi. Ngồi gần một nữ Công An có bộ ngực đồ sộ quá. Chắc nhịn lâu ngày, chịu không nổi, nó liều, cho tay bóp vú. Cô kia kêu lên, thế là nó lại vào nằm chung với các bạn nó, sau một hồi ăn đấm đá. Hết tự giác!

Qua câu chuyện, vừa đi tôi vừa ngẫm nghĩ, thì ra con người trước dục vọng ái tình, không còn kể chi đến nguy hiểm, cũng như nó bị 30 năm tù, can tội giết vợ, chỉ tại đêm tân hôn, vợ nó nhất định không cho “động phòng” vì quá sợ cái “búa”!

Hằng đêm, ngoài chiếc radio, trong buồng còn một anh có giọng khá tốt. Mỗi tối, anh rống lên như con heo bị thọc huyết. Nhưng có anh cũng vui, không khí trong “chuồng” đỡ phần tẻ nhạt. Có một tối, đang “hét” nhạc vàng, bị Công An dọa phạt kiên giam. Sợ quá, từ đó không dám hát khuya. Tên thủ trưởng Hà Mạnh Xuyên vẫn mở máy cassette nghe nhạc vàng rầm rầm mỗi sáng, nơi khu nhà nó ở. Tiếng hát của Lệ Thu, Thanh Thúy, Thái Thanh, Khánh Ly vẫn nức nở nghẹn ngào, ngân dài giữa cảnh núi rừng ảm đạm, giữa không khí ngột ngạt của trại tù đói khổ. Nhưng nó nghe thì được, tù hát tụi nó cấm, đó là cái quyền kẻ mạnh. Nhạc vàng có nhiều ca khúc hay, nhưng cũng chỉ hát để nghe chơi cho khuây khỏa. Nó ướt át lê thê làm não lòng, đã buồn lại buồn hơn, đã chán lại chán hơn. Nó chẳng mang một ý nghĩ nào thiết thực cho đời sống trong tù, cần một khích động, một cổ võ để giữ vững ý chí đấu tranh, cuộc đấu tranh tuy âm thầm nhưng cần phải có như các ca khúc của Vũ Hồng, thuộc Đội 20 sáng tác, mang nội dung trầm hùng, tạo nên xúc cảm mạnh, mỗi lần cất giọng.

Này em, anh không quên đâu những ngày tù tội
Này em, anh không quên đâu những ngày tăm tối
Anh chết hôm nay, cho ngày mai em ngửng mặt
Anh chết hôm nay, ngày mai Tổ Quốc vinh quang.

Mỗi lần tiếng hát cất lên, tự nhiên máu trong người như xốn xang, có cảm tưởng như mình sống lại cái thuở nào hào hùng, bất khuất!

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 25 May 2024

Chương V: Về xuôi

Phần 8

Đời sống trong tù, chỉ miếng ăn là quan trọng. Ai có đều lo “thủ” vì sợ lúc hết, vì lý do nào đó, gia đình chưa kịp thăm nuôi hay gửi quà, sẽ đói. Vì vậy, nên có những anh em ở lâu ngày với nhau, hay cùng đơn vị lúc trước, kết thành nhóm vài ba người ăn chung, với mục đích tương trợ, ai có quà trước nuôi trước, ai có sau nuôi sau! Nhưng cũng có vài nhóm tan rã sau thời gian ngắn ngủi thử thách. Những người được thăm nuôi nhiều và đều, có một “tà loọc” để sai bảo, hầu hạ. Người “tà loọc” không kể cấp bậc cũ, miễn được ăn theo người có của, cho đỡ đói. “Tà loọc” có nhiệm vụ đun nấu, rửa chén bát lấy nước, kiếm củi! Thường thường “tà loọc” là người có sức khoẻ, có tinh thần nhẫn nhục, nếu không, chắc chịu đói!

Tối nay, ông bạn ngủ kế bên lại thì thầm bên tai:

– Ông ơi, nghe đồn có một số sắp được tha.

– Ai nói vậy?

– Tên “chèo” Buồng 5. Tên ấy thương tù lắm, thỉnh thoảng nó tiết lộ những tin xác thực như tin biên chế kỳ trước đó, ông nhớ không?

Tôi trả lời gay gắt:

– Ông là chúa hay tin, chèo là gì? là Công An! Công An là gì? là lừa dối để đưa người vào tù. Ông ngây thơ bỏ mẹ, cái gì cũng tin!

– Ô, ông tin hay không tùy, sao lại mắng tôi nhỉ? Nếu mai mốt có tên được về, ông có mắng tôi không?

– Ông quên rồì sao? Mấy tháng trước có tên Công An do Bộ Nội Vụ cử đến đây để thuyết trình về vấn đề Kampuchia đó! Nó nói, vì sao ta phải đánh Pol Pot, Ieng Sary và vì sao ta phải ủng hộ Heng Samrin, vì sao thanh niên ta phải hy sinh tại mặt trận này, mặt trận nọ bên Căm Bốt? Sau cùng nó nói rõ: nếu anh nào được tha về, anh đó trúng số độc đắc! Ông nhớ lại chưa? Tôi chẳng bao giờ tin, có thể trúng số độc đắc, vì cuộc xổ số đó chẳng bao giờ mở!

– Ông bi quan bỏ cha! Nói chuyện với ông chán gớm! Thôi đi ngủ!

Hôm nay trời rất đẹp, không nắng không mưa. Gió thổi miên man từ sóm, từng cơn gió dạt dào thổi rạp những hàng cây nghiêng nghiêng bên vách núi. Nước trong như lọc. Mặt nước lô xô theo chiều gió. Tôi vừa lao động, vừa nhìn cảnh vật trong một ngày rất đẹp ít khi có, báo hiệu mùa thu đã về. Mùa thu đất Bắc, mùa đẹp nhất trong năm, mùa của thi nhân và của những người yêu nhau. Tôi đã sống suốt tuổi hoa niên ở miền Bắc, nên mùa thu đối với tôi rất nhiều kỷ niệm. Suốt mấy năm bị giam cầm tại miền Bắc, tôi chưa thấy một ngày đẹp như hôm nay. Tôi nghĩ, giá không bị tù, nếu mình còn trẻ, lại có một người yêu xinh xinh, nắm tay nhau đi chơi suốt ngày trên những lối mòn có hoa, có lá, có gió thổi dào dạt như thế này, cuộc đời quả thần tiên.

Chúng tôi sẽ hái hoa rừng, bọc đầy vạt áo, đi đuổi bắt những cánh buớm vàng bay lượn đó đây. Khi nào mệt, ngồi trên một phiến đá ngả đầu vào nhau để nghe hơi thở, nghe nhịp đập của trái tim đang rộn ràng theo tiếng gọi của Thần Tình Ái!

– Ê, anh kia, sao không “nao” động, đứng nhìn gì vậy!

Tiếng nói của tên Công An quản giáo lao động lôi tôi ra khỏi dòng mộng. Hai chân tôi ngâm dưới nước lâu nên tê dại. Anh em thông cảm với sức khỏe của tôi nên làm giúp. Như tỉnh cơn mê, tôi lại đưa tay đón những tảng đất sét trơn trợt, nặng chĩu chuyền tay cho anh bên cạnh. Mỗi ngày chúng tôi chuyển trung bình 1,200 cục đất, nặng tối thiểu 5 kí, trên một đường dây dài khoảng 100 thước ! Nhưng mọi ngày, tôi chỉ đứng và chuyển được 300 lần là phải lên bờ tìm chỗ nằm nghỉ mệt!

Chiều nay, trước khi về, tên Công An lao động tập họp toàn Đội để phổ biến lệnh của Ban Giám Thị ấn định lại mức ăn thành 3 hạng: A, B và C. Hạng A ăn18 kí, hạng B giữ nguyên mức cũ 15 kí, hạng C 12 kí.

Vấn đề chia mức ăn nhằm bảo đảm chỉ tiêu lao động. Ai làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít! Nhưng vì tinh thần “đồng tù” anh em yêu cầu giữ nguyên mức ăn đồng đều, vì người khỏe giúp người yếu, không ai phàn nàn gì! Nhưng tên Công An không chịu, buộc mọi ngươì phải đề cử tùy theo khả năng lao động. Sau đó, anh em phải đề cử hai người ăn hạng A, như vậy phải có hai người ăn hạng C để lấy 6 kí bù cho hai người ăn hạng A. Tôi xung phong ăn hạng C, còn một người nữa, chưa ai chịu, vì với 12 kí kể cả phần ăn sáng, sao đủ sống? Thấy không ai có ý kiến, tên Công An chỉ định luôn một anh bị nó trù, ăn hạng C. Thế là xong! Các Đội khác sinh hoạt na ná như vậy để chia mức ăn!

Từ hôm sau, có 3 hạng cơm: 18,15 và 12 kí. Phần ăn của hạng B vẫn vậy, nhưng hạng A nhiều hẳn lên và hạng C trông thật thê thảm, mỗi bữa có già một chén bo bo. Tôi ăn yếu, không sao, chứ anh kia quả tội nghiệp! Có nhiều Đội, vì tinh thần tương trợ, đổ chung phần A và C chia lại, nhưng Đội tôi thì không, ai có nấy hưởng. Những vấn đề này, mỗi tháng đều đánh giá lại, có người C lại lên B, có người B tụt xuống!

Chừng 2 tháng sau, toàn trại đều ăn sụt xuống đồng loạt 12 kí. Mọi người đều chưng hửng. Những người ăn khỏe, lo lắng ra mặt. Bây giờ mọi người mới biết đó là “đòn” của Cộng Sản, muốn bớt khẩu phần, sợ tù phản đối, nên tạo ra hoàn cảnh để dễ hạ mức ăn vì cho rằng, tù lao động như vậy chỉ đáng ăn 12 kí mỗi tháng. Nhưng 12 kí đây, không phải 12 kí toàn cơm mà kể cả bo bo, bắp, sắn khô đều như nhau. Trên lý thuyết 3 cân sắn bằng 1 cân gạo, nhưng ở đây không phân biệt gì, cân nào cũng là cân cả!

Buồng tôi, hôm nay nhận thêm một số tù mới được chuyển đến, trong đó, có một người gãy tay còn bó bột. Anh ta và người bạn nằm kế tôi. Anh gãy tay mang cấp Thiếu Tá, anh kia Đại Úy, Cựu Quận Trưởng miền Trung. Họ đều còn trẻ. Buổi tối, tôi hỏi lý do gãy tay. Anh cho biết:

– Chúng tôi trốn trại, lúc gần qua biên giới lạc nhau, quay lại tìm, bị chó đánh hơi thấy, tụi Công An biết, quay lại, bảo ra hàng. Chúng tôi nhất định không ra, nên chúng bắn. Tôi bị một viên vào cánh tay, đã hơn một tháng nay, chưa khỏi. Xương chưa liền, nhưng may, thịt không thối!

– Hai bạn trốn từ đâu?

– Ở một trại gần biên giới, Hà Bắc. Chúng tôi sở dĩ dám trốn qua biên giới Trung Cộng vì biết tụi nó đã đánh nhau. Chúng tôi chuẩn bị kỹ lắm, đã nghiên cứu địa hình cả mấy tháng trước. Đã tích lũy đầy đủ đồ ăn, thuốc men. Khi bị bắt chúng tôi còn đủ lương thục để sống cả tuần lễ nữa . Chúng tôi đánh lừa tên Công An quản giáo để nó khỏi nghi ngờ trong những ngày sắp trốn trại. Chúng tôi đã tìm được chỗ giấu lương khô và thuốc men ngay tại hiện trường lao động. Anh Nghị bạn tôi đây, Đội trưởng, nên được Công An tin, do đó cũng dễ phần nào. Buổi chiều, hôm chúng tôi dự định trốn, may quá trời mua. Nương theo cơn mưa mù mịt, chúng tôi vượt qua bên kia đồi, nơi có nhiều cây rậm rạp, rồi cứ thế len lách, cố leo qua khỏi quả đồi này trước khi tên Công An quản giáo phát giác. Mưa mỗi lúc một lớn, chúng tôi tin có Thượng đế phù hộ, nên trời mới đổ cơn mưa to và dai như vậy. Chúng tôi mang theo được cả áo jacket để mặc, vì hôm trước chúng tôi khai bệnh, nhưng không nghỉ, cứ đi lao động mặc cả jacket dù trời nóng. Chính vì thế, chúng tôi khỏi sợ lạnh ban đêm giữa núi rừng. Khi vuợt quả đồi, trời vẫn mưa như trút nước, sấm sét rầm trời. Vì thấy chưa tối, chúng tôi bảo nhau cố leo qua con đồi trúc trước mặt, cho chắc ăn. Khi leo tới đỉnh đồi, nhìn xuống, mới biết nó nằm gần con lộ lớn, xe hơi chạy được. Chúng tôi bàn nhau, chỗ này không yên vì gần lộ quá, định vượt qua ngọn đồi này nữa, nhưng sau khi cố gắng leo qua hai quả đồi, đã thấm mệt! Suy tính hồi lâu, chúng tôi chui vào giữa lùm trúc dầy đặc, tạm nghỉ một đêm, mai xét! Cơn mưa ngớt hạt, trời hơi sáng trở lại ! Vắt bám đầy người, chúng tôi gỡ hết con này, con khác lại đeo, sau chán quá, bỏ mặc! Trời sập tối. Cơn mưa hoàn toàn dứt hạt. Chúng tôi không thấy đói, chỉ khát, nhưng cố cầm cự không dám uống nhiều chỉ nhấp nhấp cho đỡ khô miệng, khi nào gặp suối sẽ hay. Vào khoảng 9 giờ tối, chúng tôi nghe tiếng động cơ từ xa vọng lại, biết tụi nó tìm bắt. Tiếng xe gần dần và ánh đèn pha chiếu thẳng vào ngọn đồi trước mặt.

mạnh hải flickr

Bỗng tiếng xe dừng ngay dưới chân đồi, chúng tôi nín thở, quên cả vắt cắn, cố gắng đừng tạo nên tiếng động. Lời nói chuyện qua lại từ duới vọng lên, nghe rất rõ:

– Tụi nó chưa ra khỏi nơi này đâu, các đồng chi rọi đèn cố tìm, sẽ bắt được.

– Tụi nó không dám núp ở đây, đồng chí, gần đường quá, sợ mình bắt, tụi nó đều là sĩ quan mà.

Tuy nói vậy, nhưng chúng cũng sục sạo tìm kiếm những bụi trúc mé dưới chân đồi. Ánh đèn pin nhấp nhoáng, quét vào chỗ nghi ngờ. Cũng may, sau con mưa, đồi trơn trợt lại nhiều vắt, nên chúng ngại. Sau chừng 1 giờ lùng kiếm, tiếng máy xe lại nổ, rồi xa dần! Thế là thoát! Nhưng chúng tôi không đám ngồi ở đấy lâu. Chờ đến đêm, chúng tôi lần xuống đường, để từ đó nhắm hướng di chuyển.

Chúng tôi xuống một thung lũng nhỏ, rồi men theo chân núi, tìm chỗ trú, chờ đêm mai sẽ vượt qua ngọn núi trước mặt, sang phía bên kia.

Đúng như dự đoán, đêm hôm sau, chúng tôi vượt qua ngọn núi, tương đối cũng dễ leo. Qua đến bên kia, lại thung lũng. Chúng tôi vượt qua trong đêm tối, tới quả núi khác. Lại cố vượt vì thấy hãy còn thì giờ. Cứ như vậy một đêm chúng tôi vượt được hai quả núi và một thung lũng cỏ gianh khá rộng. Nếu tính theo đường chim bay, một đêm chúng tôi đã vuợt được chừng 5 cây số. Nhưng ở đây, hoàn toàn an ninh. Tôi lấy đầy nước vào 2 chiếc bi-đông, do dòng nước chảy từ khe núi! Những cây chuối rừng, tàu lá to xanh mướt với những nải chuối vàng tươi trông rất đẹp, nhưng ăn không được vì trong chứa toàn hột. Nếu ăn được, chim và khỉ đã ăn trước rồi! Cứ vậy, ngày nghỉ đêm đi, không dám đốt lửa dù ban ngày. Sau 6 ngày đêm như vậy, chúng tôi có đi qua vài cái bản nhỏ của người dân miền núi trồng đầy bắp, tuy thèm chết được mà không dám lấy, sợ bị bắt uổng công! Cũng may, mấy hôm leo trèo vất vả, ăn uống kham khổ như vậy, chúng tôi vẫn khỏe mạnh. Để đề phòng tụi Công An biên phòng phát giác, chúng tôi di chuyển với khoảng cách an toàn. Đến trưa ngày thứ 7, tôi đã đứng bên con suối rất rộng, nước reo ầm âm. Từ bên này, có thể nhìn thấy mầu áo chàm, và những chiếc nón sơn, to vành, thấp thoáng phía bên kia. Tôi biết, mình đã đến biên giới Việt Hoa. Tôi, núp trong một bụi cây rậm chờ Nghị. Chờ mãi đến chiều không thấy! Ngại quá, tôi quay lại tìm, vì nơi đây tương đối xa khu người ở. Tôi đang đi men theo rặng vầu, bỗng nghe tiếng chó sủa phía dưới. Nhịp tim tự nhiên đập mạnh, cả người nổi gai ốc. Cơn sợ từ đâu xâm nhập làm bủn rủn tay chân. Nhưng tôi cố di chuyển thật nhanh đến nơi có tiếng chó. Tôi mong đây chỉ là loại chó giữ nhà, không đáng sợ. Tiếng chó nghe gần lại. Tôi trèo lên một cành cây, ngó xuống ! Tôi thấy Nghị tay cầm cành lá quất lũ chó đang xông vô cắn. Lũ chó rất khôn, tuy nhỏ con, loại chó miền núi, con trước, con sau tấn công từng đợt, quây tròn Nghị vào giữa. Thấy nguy, tôi vội tụt xuống, bẻ một cành cây, cầm chặt trong tay. Lúc đó, trời đã ngả về chiều. Vì quá vội và xúc cảm, tôi bị té mấy lần, đầu gối đau tê. Những bước chân đã bắt đầu nặng nhọc. Khi gần tới nơi, 2 trong số 5 con chó chồm lại phía tôi, sủa inh ỏi. Tôi quơ cành cây vụt lia lịa, nhưng giống chó này tránh né rất tài tình, tôi toàn vụt vào không khí. Trời sập tối. Đàn chó vẫn không buông tha. Lúc này, tôi và Nghị đã ở bên nhau. Chúng tôi đâu lưng nhau, vừa cầm cự cùng lũ chó, vừa lùi dần vào mé rừng, đề phòng nếu có chuyện gì, lẩn cho dễ. Chừng nửa tiếng sau, nghe tiếng người suỵt chó. Tôi cũng tưởng đó chỉ là người dân miền Thượng gọi chó về. Ai ngờ, nghe tiếng “suyt, suỵt” chúng còn cắn hăng hơn. Có tiếng hô:

– Ai, trong đó ra ngay! Nếu không tôi bắn!

Tiếng kéo cơ bẩm lách cách.

Chết cha! Tụi Công An biên phòng. Loại chó này thuộc loại chuyên môn đã được huấn luyện chuyên săn đuổi kẻ lạ. Do đó, tụi nó mới cắn dai và khôn ngoan như vậy! Tuy nghe tiếng gọi, nhưng chúng tôi cố thủ, không ra. Sau 2 lần gọi nữa, nó bắn 1 băng AK vào bụi. Nghị không sao. Tôi trúng 1 viên vào tay. Lúc này đàn chó ào vô cắn lung tung. Lại có tiếng suỵt ngắn, đàn chó đang hung hản như vậy bỗng ngưng cắn. 3 tên Công An biên phòng chiếu đèn pin, chĩa súng đi thẳng vào chỗ chúng tôi núp, chúng tôi đành ngồi yên không kháng cự.

Thấy tay tôi máu chảy quá nhiều tụi nó lục túi đồ, xé chiếc áo lót của tôi buộc tạm vết thương rồi trói tay dắt đi. Đàn chó chạy vờn xung quanh ngoe nguẩy đuôi như vui mừng đã chu toàn nhiệm vụ! Chúng tôi bước theo sau ánh đèn pin, leo trèo lên xuống. Chừng nửa đêm đến căn nhà sàn nằm vắt vẻo bên suờn núi. Một tên Công An biên phòng nói tiếng địa phương với chủ nhà ở mé hiên. Lát sau chúng tôi được ăn cơm với mắm và khô nai. Ăn xong, chúng cho tụi tôi nằm ngủ, tay vẫn trói, có tên Công An ngồi gác.

Hôm sau, họ thẩm vấn sơ qua rồi giải chúng tôi trao trả cho trại, trên một chiếc xe đi công tác qua đấy.

– Khi về trại, có bị đánh không?

– Không, nhưng bị cùm và bị thẩm vấn liên miên. Bi bỏ đói khát mấy tháng liền. Nếu không nhờ có cuộc chiến tranh biên giới, làm sao chúng tôi được chuyển về đây?

Tôi nhìn cánh tay bó bột cứng ngắc đặt trên ngực. Khuôn mặt xanh xao, gầy guộc như khúc gỗ đẻo . Anh Nghị trông khá hơn vì không bị thương. Tôi nói cho hai anh nghe về sinh hoạt của trại và những gì các anh cần đề phòng đối với tụi Công An, cán bộ Buồng cũng như lao động! Đêm hôm đó giấc ngủ đến với chúng tôi hơi muộn!

Tên Công An lao động Đội tôi quả là một tên hắc ám, rất lưu manh, nó hay khám xét “đột xuất” tù để lấy tiền nếu tìm thấy. Nó bắt cởi hết áo quần, tự tay nó lần mò từng chút để kiếm. Nhiều người mất tiền bất ngờ vì bị khám cái kiểu này. Có một anh, trong giờ nghỉ giải lao, mở ví lấy ảnh vợ con ra coi. Nó nhìn thấy:

– Ê, anh Tửu, đưa chiếc ví cho tôi coi.

Anh này riu ríu đưa. Nó moi móc lôi ra được 20đ tiền Ngân. Nó tịch thu luôn còn bắt anh Tửu làm kiểm điểm. Anh này không phải tay vừa, làm kiểm điểm thành 2 bản: 1 đưa cho nó, 1 đưa thẳng cho Ban Giám Thị qua tên Công An Buồng với mục đích để thông báo lên “trên” nó có lấy của anh một khoản tiền, dù muốn ỉm đi cũng không được!

– Đù mẹ, ông mất tiền, mày cũng không tiêu được. Đéo đứa nào tiêu được, thế là huề!

Buổi trưa nay, trước khi hết giờ lao động, tên Thắng kêu Tổ trưởng Tổ 3, đến căn lều của nó để khám xét. Sau khi khám, thấy không có gì, nó hỏi:

– Tại sao lại nấu nướng trong giờ lao động?

Chẳng biết anh kia trả lời ra sao, nó bắt đứng nghiêm, đầu không nón, dưới ánh mặt trời giữa trưa, suốt 2 tiếng đồng hồ. Anh này, nguyên Trung đoàn Trưởng ở miệt Hậu Giang. Anh đứng như cây cột trồng trơ vơ giữa một bãi bùn đất nhơm nhếch. Tuy trời đã vào thu, mồ hôi vẫn thấm qua vải áo làm thành một khoảng lớn. Không biết xưa kia, khi còn tại chức, anh có phạt người lính nào dưới quyền như vậy không? Anh này thực xui, chưa hề có thăm nuôi, mấy bữa trước vì không dằn được thèm muốn, anh đã dùng chiếc que có buộc mẩu dây kẽm một đầu, lợi dụng đêm khuya, anh khều một bao đồ để ngoài hiên, lấy trộm bịch đường. Chẳng may người có của, thiếu úy Dù, bắt được. Nhưng anh này rất tốt, từng du học tại Pháp hồi nhỏ, tình nguyện vào binh chủng Dù để uýnh Cộng Sản, đã thông cảm, không làm khó dễ nên câu chuyện cũng êm, dù Buồng trưởng đã đưa vấn đề ra tên Công An Buồng để giải quyết. Tội nghiệp hơn nữa, mỗi lần có quà về, anh đều chắp tay lên ngực khấn: Lạy trời, cho con được một gói! Nhưng chẳng có gói nào ông trời dành cho anh! Nghe nói, anh có mấy vợ, nên lúc này chả vợ nào chịu gửi quà, thăm nuôi! Trường hợp này không hiếm trong Cải Tạo! Có anh Thiếu Tá, 3 vợ, vợ nào cũng làm nhà giáo. Anh vẫn tự phong cho mình chức Bộ Trưởng Giáo Dục. Một bữa, tôi hỏi đùa:

– Cậu làm cách nào có nhiều vợ vậy?

Anh ta cười:

– Em chỉ nhờ nói dối!

Anh này chẳng có thăm nuôi cũng như quà, nhưng nhờ có sức khỏe anh làm “tà loọc” cho một anh Trung Tá, đủ no! Cả trại mấy bữa nay đồn rầm về câu chuyện tình của Ánh, nghe giống hệt tiểu thuyết. Ánh, con trai duy nhất của nhà văn Hoàng Đạo. Ánh trông hiền lành, khá bảnh trai. Cách đây mấy bữa, anh được gọi thăm nuôi.

mạnh hải flickr

Sau khi thăm nuôi về, anh xách một túi nhỏ, có vài kí gạo, mấy chiếc bánh chưng và một chiếc áo bông. Anh em xúm lại hỏi, ai thăm mà có ít đồ vậy? Ánh cười, nói:

– Đây, một cán bộ cao cấp, cũng là đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam cho!

Anh em trố mắt, nghĩ rằng Anh đã tìm được “gốc” để che chở, chắc sớm được về. Nhưng Ánh tiếp:

– Tôi có quen biết gì đâu? Hắn nói mới vô Nam thăm vợ tôi, vì khi còn nhỏ, hắn đã yêu vợ tôi. Nhưng từ ngày nàng có chồng, hắn đành ôm mối tình tuyệt vọng. Sau này, hắn được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam và được cử đi học tại Liên Xô. Trước khi đi, hắn được Đảng chọn cho một cô vợ quê mùa, nhưng cũng là Đảng viên, đã đạt nhiều thành tích Cách Mạng! Tuy không yêu người nữ Đảng viên ấy, nhưng trước kỷ luật của Đảng, hắn đành tuân theo, trong thâm tâm vẫn mang hình ảnh người con gái cùng phố. Mối tình đó, hắn ấp ủ trong tim mấy chục năm rồi. Đến nay giải phóng miền Nam, từ Liên Xô nghe tin, hắn muốn trở về nước ngay, nhưng chương trình học chưa xong, phải chờ mấy năm sau. Về đến Việt Nam, nghe tin vợ tôi còn ở lại, chưa di tản qua Mỹ, hắn vội vào tìm và đã gặp vợ tôi mỗi ngày.

Nói đến đây, có lẽ tức qua, anh văng tục:

– Đù má nó, trong lúc mình đang ở tù, nó lại đến thăm vợ mình mỗi ngày, để nhắc nhở kỷ niệm, thế là cái đếch gì? Đéo ai cần nó đến? Sau một tuần lễ, hắn ra lại Hà-nội, tìm đến nhà người yêu cũ của tôi, trước cũng ở cùng phố. Cô gái ấy tôi yêu trước khi lấy vợ, sao hắn cũng biết? Hắn đến nhà cô ta, cố xin một kỷ vật. Nàng nghèo quá, vì mấy chục năm sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, con cái đầy đàn, lấy gì cho? Nàng đành gửi tặng tôi chiếc áo bông cũ.

Nói đến đây, anh giơ cao chiếc áo bông dài, bạc phếch.

– Hắn còn nói: Tôi biết, khi còn nhỏ anh và K. yêu nhau, nhưng gia đình cản trở, chứ không tại hai người. K. đến nay vẫn yêu anh, cũng như tôi vẫn yêu X. vậy! X. là tên vợ tôi, các ông nghe có lọt tai không?

Tuy nói vậy nhưng sáng hôm sau đi lao động, trời chớm lạnh, Ánh mặc chiếc áo bông dài đàn bà xúng xính, trông chả ra làm sao cả!

Câu chuyện đến đây chưa hết, hơn tháng sau, tên Đảng viên đến thăm Ánh lần nữa, lại mang cho Ánh dăm ký gạo, cùng vài thứ lặt vặt khác. Hắn cho biết mới ở trong Nam ra sau chuyến công tác. Vợ Ánh vẫn khỏe mạnh, đang sửa soạn ra thăm nuôi! Lần này, khi trở vô trại mặt Ánh đỏ gay như chưa qua cơn tức giận.

Buổi trưa qua, tên cán bộ Buồng mang xấp thư vô, đưa cho Buồng trưởng gọi từng tên để phát. Từ đầu năm đến bây giờ gần hết tháng 9, mới được phát một lần thư. Sau khi mở ra xem, có cái đề từ tháng 1, tháng 2. Cái sớm nhất cũng đề tháng 5. Chúng tôi nghe nói tất cả thư từ gửi cho tù đều phải qua hệ thống kiểm duyệt gắt gao từ Hà-nội. 10 thư gửi đi, may ra nhận được 1, 2. Do đó, những gì cần biết, đều mất hết thời gian tính! Trong Buồng tôi có anh Trúc, Hạ Sĩ I trước ở Biệt khu Thủ Đô. Sau ngày đứt phim ít lâu, tham gia vào tổ chức chống Cộng, chưa hoạt động, đã bị bắt. Anh được đưa từ Sài Gon ra thẳng đây từ đầu năm 1976. Anh nghèo lắm, phải bán phiếu quà bằng 1/2 kí lô đường. Khi nào nhận quà, anh giao hết cho người đã mua phiếu, vì gói quà tuy mang tên anh, nhưng thục tế, được thực hiện do người khác. Người mua, sau khi nhận quà, sẽ trao cho anh số đường như ước hẹn. Nhưng không hiểu sao, người mua lại tiếc, lằng nhằng không chịu trả, thế là một cuộc uýnh lộn xẩy ra. Kẻ u đầu, người sứt trán, sau ít phút quần thảo! Trúc cũng nhận được một thư nhà. Đọc xong, anh buồn xo! Buổi chiều, khi tên Bảo, Công An vô buồng soát người trốn lao động, tự nhiên Trúc khóc rống lên. Bảo hỏi:

– Sao, có gì anh Trúc khóc?

– Cán bộ thấy không? Khi trước, dù chỉ là lính, tôi nuôi nổi mẹ già, vợ và 3 con. Con tôi ăn học đàng hoàng. Nay dưới thời Cách Mạng, tôi đi tù, vợ tôi làm không đủ sống, các con tôi đi đẩy xe bò từ 4 giờ sáng. Mẹ già không ai nuôi, nhà cửa lại bị cháy ra tro bụi cả rồi!

Vừa khóc, vừa nói, thật thảm thương. Tên Bảo an ủi:

– Này anh Trúc, dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, không phải chỉ có gia đình anh như vậy đâu. Ngay ở miền Bắc này, cũng không thiếu gì trường hợp như vậy. Thôi, nín đi!

Nhưng Trúc vẫn khóc không dứt ! Sở dĩ Trúc được nghỉ lao động từ mấy tháng nay vì bị té ở hiện trường, trẹo khớp xương hông. Chính thực bệnh chẳng có gì, nhưng dễ đóng kịch, do đó, được nghỉ dài hạn. Trúc cứ tập tểnh suốt ngày ra vô. Thông cảm với hoàn cảnh Trúc, anh em mỗi người giúp vài đồng làm vốn buôn bán lia chia, để kiếm lời có tiền gửi về cho vợ con! Kể cũng lạ, trường hợp này hiếm có, vì trong giai đoạn này, người ở ngoài nuôi tù, chứ tù làm cách nào nuôi người ở ngoài? Sự việc này cũng giống như hồi chưa được thăm nuôi, tù gầy ốm, người thăm nuôi mập mạp, nhưng sau vài lần đi lại, từ Nam ra Bắc, từ Bắc vô Nam, người đi thăm nuôi gầy rạc, tù được nuôi, lần hồi mập lại!

Hồi gần đây, ngày nào trại cũng bán rau tươi, do tên tù hình sự phụ trách. Nó bận áo vét-tông, đi giầy da, mồm ngậm “thuốc có cán”, trông ra dáng phong lưu. Sự buôn bán này chính thực, điều động bởi vợ viên trung tá Trưởng Trại nhằm kiếm lời. Tôi đang mua rau bỗng có tên Công An hạch hỏi:

– Ai cho anh mang rau vào trại bán?

Tên tù hình sự đủng đỉnh trả lời:

– Ông ơi! con bán cho “Bà” đấy! Các tỉnh biên giới vui lắm đó, ông ạ!

Nói xong nó cười mỉa mai ! Tên Công An giận tím mặt, nhưng chẳng dám làm gì! Cách đó ít lâu, một hôm, tôi nhìn thấy tên tù hình sự này, chân đi đất, mặt mày ngơ ngác, khăn gói đi vào nhà tù hình sự như các bạn nó, chứ không còn nghênh ngang bận áo vét-tông, đi giầy cồm cộp, mồm ngậm “thuốc có cán”, vênh váo như mọi hôm!

Ở trại lúc này có phong trào buôn bán, đổi chác, ai có dư muốn bán, ai thiếu muốn mua, thứ gì cũng có.

Mỗi buổi trua, một anh, trước là công chức cao cấp ở Bộ Thông Tin, lén đi liên hệ các buồng để mời mua hoặc bán. Nào gạo, mì ăn liền, bột ngọt, xà- bông, thuốc tây v.v… Bao giờ anh ta cũng có câu chào mở đầu:

– Bonjour mes amis, comment allez vous? Aujourd’ hui nous avons des médicaments, du riz, 1 paquet 100gr de Glutamate Monosodium et nous avons aussi du tabac Laotien “3 no 8”. Et, alors, mes amis, voulez vous acheter quelque chose? Aha, Aha! (Chào các Bạn, mạnh khoẻ cả chứ? Hôm nay chúng tôi có thuốc tây, gạo, bột ngọt và chúng tôi cũng có thuốc lào “3 số 8”. Vậy, các bạn, có ai muốn mua thứ gì không?)

Cứ như vậy, trưa nào anh cũng đi khắp 16, 17 buồng để buôn bán lia chia, kiếm lời. Nghe đồn, anh đã có một số vốn khá lớn. Trúc cũng vào nghề buôn bán lia chia với số vốn $10. Nhưng nhờ anh em thương, mua giúp, nào trứng, nào rau, hành tỏi, ớt, chỉ trong vòng 2 tháng sau, số vốn của anh đã lên tới bạc trăm.

Buồng nào cũng có người buôn bán, đổi chác. Chính vì thế, nên quân bình được nhu cầu đời sống của tù. Nhưng không phải ai cũng làm được như vậy. Có người buôn thua, bán lổ, thiếu nợ tùm lum! Khi trại cho thăm nuôi, vấn đề đun nấu được đặt ra. Trại cho lấy củi 2 ngày trong tuần: buổi trưa thứ Ba và thứ Sáu. Lần đầu, mỗi Đội, tụi Công An cho 4 người gánh củi. Lâu dần rút lại còn 2, rồi 1. Một người không được gánh mà phải vác. Khi vác, phải vác một mạch từ cổng trại vô đến buồng mình ở, không được rơi vãi, nếu bị đứt dây hoặc vác không nổi, bỏ xuống nghỉ, bị tịch thu. Khi bị thu như vậy, anh em gọi là “thua”. Cũng vì lý do đó, anh em phải chọn những người thật khỏe để lo vác củi. Mỗi Đội trung bình 50 người, mỗi người lấy 5 kí củi, thành 250 kí. Như vậy một người phải vác trung bình 2 tạ rưỡi củi, từ cổng trại đến buồng, dài ngắn tùy theo nơi ở, nhưng xa nhất khoảng 300 thước.

Lao động đã mệt, nay lại vác nặng và cồng kềnh như vậy, nhiều anh té quỵ ngay bước chân thứ nhất qua cổng, như vậy “thua”. Cái hoạt cảnh này làm cười ra nước mắt, cứ diễn ra như một sỉ nhục định kỳ, mồi tuần 2 1ần.