Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 25 May 2024

Chương V: Về xuôi

Phần 8

Đời sống trong tù, chỉ miếng ăn là quan trọng. Ai có đều lo “thủ” vì sợ lúc hết, vì lý do nào đó, gia đình chưa kịp thăm nuôi hay gửi quà, sẽ đói. Vì vậy, nên có những anh em ở lâu ngày với nhau, hay cùng đơn vị lúc trước, kết thành nhóm vài ba người ăn chung, với mục đích tương trợ, ai có quà trước nuôi trước, ai có sau nuôi sau! Nhưng cũng có vài nhóm tan rã sau thời gian ngắn ngủi thử thách. Những người được thăm nuôi nhiều và đều, có một “tà loọc” để sai bảo, hầu hạ. Người “tà loọc” không kể cấp bậc cũ, miễn được ăn theo người có của, cho đỡ đói. “Tà loọc” có nhiệm vụ đun nấu, rửa chén bát lấy nước, kiếm củi! Thường thường “tà loọc” là người có sức khoẻ, có tinh thần nhẫn nhục, nếu không, chắc chịu đói!

Tối nay, ông bạn ngủ kế bên lại thì thầm bên tai:

– Ông ơi, nghe đồn có một số sắp được tha.

– Ai nói vậy?

– Tên “chèo” Buồng 5. Tên ấy thương tù lắm, thỉnh thoảng nó tiết lộ những tin xác thực như tin biên chế kỳ trước đó, ông nhớ không?

Tôi trả lời gay gắt:

– Ông là chúa hay tin, chèo là gì? là Công An! Công An là gì? là lừa dối để đưa người vào tù. Ông ngây thơ bỏ mẹ, cái gì cũng tin!

– Ô, ông tin hay không tùy, sao lại mắng tôi nhỉ? Nếu mai mốt có tên được về, ông có mắng tôi không?

– Ông quên rồì sao? Mấy tháng trước có tên Công An do Bộ Nội Vụ cử đến đây để thuyết trình về vấn đề Kampuchia đó! Nó nói, vì sao ta phải đánh Pol Pot, Ieng Sary và vì sao ta phải ủng hộ Heng Samrin, vì sao thanh niên ta phải hy sinh tại mặt trận này, mặt trận nọ bên Căm Bốt? Sau cùng nó nói rõ: nếu anh nào được tha về, anh đó trúng số độc đắc! Ông nhớ lại chưa? Tôi chẳng bao giờ tin, có thể trúng số độc đắc, vì cuộc xổ số đó chẳng bao giờ mở!

– Ông bi quan bỏ cha! Nói chuyện với ông chán gớm! Thôi đi ngủ!

Hôm nay trời rất đẹp, không nắng không mưa. Gió thổi miên man từ sóm, từng cơn gió dạt dào thổi rạp những hàng cây nghiêng nghiêng bên vách núi. Nước trong như lọc. Mặt nước lô xô theo chiều gió. Tôi vừa lao động, vừa nhìn cảnh vật trong một ngày rất đẹp ít khi có, báo hiệu mùa thu đã về. Mùa thu đất Bắc, mùa đẹp nhất trong năm, mùa của thi nhân và của những người yêu nhau. Tôi đã sống suốt tuổi hoa niên ở miền Bắc, nên mùa thu đối với tôi rất nhiều kỷ niệm. Suốt mấy năm bị giam cầm tại miền Bắc, tôi chưa thấy một ngày đẹp như hôm nay. Tôi nghĩ, giá không bị tù, nếu mình còn trẻ, lại có một người yêu xinh xinh, nắm tay nhau đi chơi suốt ngày trên những lối mòn có hoa, có lá, có gió thổi dào dạt như thế này, cuộc đời quả thần tiên.

Chúng tôi sẽ hái hoa rừng, bọc đầy vạt áo, đi đuổi bắt những cánh buớm vàng bay lượn đó đây. Khi nào mệt, ngồi trên một phiến đá ngả đầu vào nhau để nghe hơi thở, nghe nhịp đập của trái tim đang rộn ràng theo tiếng gọi của Thần Tình Ái!

– Ê, anh kia, sao không “nao” động, đứng nhìn gì vậy!

Tiếng nói của tên Công An quản giáo lao động lôi tôi ra khỏi dòng mộng. Hai chân tôi ngâm dưới nước lâu nên tê dại. Anh em thông cảm với sức khỏe của tôi nên làm giúp. Như tỉnh cơn mê, tôi lại đưa tay đón những tảng đất sét trơn trợt, nặng chĩu chuyền tay cho anh bên cạnh. Mỗi ngày chúng tôi chuyển trung bình 1,200 cục đất, nặng tối thiểu 5 kí, trên một đường dây dài khoảng 100 thước ! Nhưng mọi ngày, tôi chỉ đứng và chuyển được 300 lần là phải lên bờ tìm chỗ nằm nghỉ mệt!

Chiều nay, trước khi về, tên Công An lao động tập họp toàn Đội để phổ biến lệnh của Ban Giám Thị ấn định lại mức ăn thành 3 hạng: A, B và C. Hạng A ăn18 kí, hạng B giữ nguyên mức cũ 15 kí, hạng C 12 kí.

Vấn đề chia mức ăn nhằm bảo đảm chỉ tiêu lao động. Ai làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít! Nhưng vì tinh thần “đồng tù” anh em yêu cầu giữ nguyên mức ăn đồng đều, vì người khỏe giúp người yếu, không ai phàn nàn gì! Nhưng tên Công An không chịu, buộc mọi ngươì phải đề cử tùy theo khả năng lao động. Sau đó, anh em phải đề cử hai người ăn hạng A, như vậy phải có hai người ăn hạng C để lấy 6 kí bù cho hai người ăn hạng A. Tôi xung phong ăn hạng C, còn một người nữa, chưa ai chịu, vì với 12 kí kể cả phần ăn sáng, sao đủ sống? Thấy không ai có ý kiến, tên Công An chỉ định luôn một anh bị nó trù, ăn hạng C. Thế là xong! Các Đội khác sinh hoạt na ná như vậy để chia mức ăn!

Từ hôm sau, có 3 hạng cơm: 18,15 và 12 kí. Phần ăn của hạng B vẫn vậy, nhưng hạng A nhiều hẳn lên và hạng C trông thật thê thảm, mỗi bữa có già một chén bo bo. Tôi ăn yếu, không sao, chứ anh kia quả tội nghiệp! Có nhiều Đội, vì tinh thần tương trợ, đổ chung phần A và C chia lại, nhưng Đội tôi thì không, ai có nấy hưởng. Những vấn đề này, mỗi tháng đều đánh giá lại, có người C lại lên B, có người B tụt xuống!

Chừng 2 tháng sau, toàn trại đều ăn sụt xuống đồng loạt 12 kí. Mọi người đều chưng hửng. Những người ăn khỏe, lo lắng ra mặt. Bây giờ mọi người mới biết đó là “đòn” của Cộng Sản, muốn bớt khẩu phần, sợ tù phản đối, nên tạo ra hoàn cảnh để dễ hạ mức ăn vì cho rằng, tù lao động như vậy chỉ đáng ăn 12 kí mỗi tháng. Nhưng 12 kí đây, không phải 12 kí toàn cơm mà kể cả bo bo, bắp, sắn khô đều như nhau. Trên lý thuyết 3 cân sắn bằng 1 cân gạo, nhưng ở đây không phân biệt gì, cân nào cũng là cân cả!

Buồng tôi, hôm nay nhận thêm một số tù mới được chuyển đến, trong đó, có một người gãy tay còn bó bột. Anh ta và người bạn nằm kế tôi. Anh gãy tay mang cấp Thiếu Tá, anh kia Đại Úy, Cựu Quận Trưởng miền Trung. Họ đều còn trẻ. Buổi tối, tôi hỏi lý do gãy tay. Anh cho biết:

– Chúng tôi trốn trại, lúc gần qua biên giới lạc nhau, quay lại tìm, bị chó đánh hơi thấy, tụi Công An biết, quay lại, bảo ra hàng. Chúng tôi nhất định không ra, nên chúng bắn. Tôi bị một viên vào cánh tay, đã hơn một tháng nay, chưa khỏi. Xương chưa liền, nhưng may, thịt không thối!

– Hai bạn trốn từ đâu?

– Ở một trại gần biên giới, Hà Bắc. Chúng tôi sở dĩ dám trốn qua biên giới Trung Cộng vì biết tụi nó đã đánh nhau. Chúng tôi chuẩn bị kỹ lắm, đã nghiên cứu địa hình cả mấy tháng trước. Đã tích lũy đầy đủ đồ ăn, thuốc men. Khi bị bắt chúng tôi còn đủ lương thục để sống cả tuần lễ nữa . Chúng tôi đánh lừa tên Công An quản giáo để nó khỏi nghi ngờ trong những ngày sắp trốn trại. Chúng tôi đã tìm được chỗ giấu lương khô và thuốc men ngay tại hiện trường lao động. Anh Nghị bạn tôi đây, Đội trưởng, nên được Công An tin, do đó cũng dễ phần nào. Buổi chiều, hôm chúng tôi dự định trốn, may quá trời mua. Nương theo cơn mưa mù mịt, chúng tôi vượt qua bên kia đồi, nơi có nhiều cây rậm rạp, rồi cứ thế len lách, cố leo qua khỏi quả đồi này trước khi tên Công An quản giáo phát giác. Mưa mỗi lúc một lớn, chúng tôi tin có Thượng đế phù hộ, nên trời mới đổ cơn mưa to và dai như vậy. Chúng tôi mang theo được cả áo jacket để mặc, vì hôm trước chúng tôi khai bệnh, nhưng không nghỉ, cứ đi lao động mặc cả jacket dù trời nóng. Chính vì thế, chúng tôi khỏi sợ lạnh ban đêm giữa núi rừng. Khi vuợt quả đồi, trời vẫn mưa như trút nước, sấm sét rầm trời. Vì thấy chưa tối, chúng tôi bảo nhau cố leo qua con đồi trúc trước mặt, cho chắc ăn. Khi leo tới đỉnh đồi, nhìn xuống, mới biết nó nằm gần con lộ lớn, xe hơi chạy được. Chúng tôi bàn nhau, chỗ này không yên vì gần lộ quá, định vượt qua ngọn đồi này nữa, nhưng sau khi cố gắng leo qua hai quả đồi, đã thấm mệt! Suy tính hồi lâu, chúng tôi chui vào giữa lùm trúc dầy đặc, tạm nghỉ một đêm, mai xét! Cơn mưa ngớt hạt, trời hơi sáng trở lại ! Vắt bám đầy người, chúng tôi gỡ hết con này, con khác lại đeo, sau chán quá, bỏ mặc! Trời sập tối. Cơn mưa hoàn toàn dứt hạt. Chúng tôi không thấy đói, chỉ khát, nhưng cố cầm cự không dám uống nhiều chỉ nhấp nhấp cho đỡ khô miệng, khi nào gặp suối sẽ hay. Vào khoảng 9 giờ tối, chúng tôi nghe tiếng động cơ từ xa vọng lại, biết tụi nó tìm bắt. Tiếng xe gần dần và ánh đèn pha chiếu thẳng vào ngọn đồi trước mặt.

mạnh hải flickr

Bỗng tiếng xe dừng ngay dưới chân đồi, chúng tôi nín thở, quên cả vắt cắn, cố gắng đừng tạo nên tiếng động. Lời nói chuyện qua lại từ duới vọng lên, nghe rất rõ:

– Tụi nó chưa ra khỏi nơi này đâu, các đồng chi rọi đèn cố tìm, sẽ bắt được.

– Tụi nó không dám núp ở đây, đồng chí, gần đường quá, sợ mình bắt, tụi nó đều là sĩ quan mà.

Tuy nói vậy, nhưng chúng cũng sục sạo tìm kiếm những bụi trúc mé dưới chân đồi. Ánh đèn pin nhấp nhoáng, quét vào chỗ nghi ngờ. Cũng may, sau con mưa, đồi trơn trợt lại nhiều vắt, nên chúng ngại. Sau chừng 1 giờ lùng kiếm, tiếng máy xe lại nổ, rồi xa dần! Thế là thoát! Nhưng chúng tôi không đám ngồi ở đấy lâu. Chờ đến đêm, chúng tôi lần xuống đường, để từ đó nhắm hướng di chuyển.

Chúng tôi xuống một thung lũng nhỏ, rồi men theo chân núi, tìm chỗ trú, chờ đêm mai sẽ vượt qua ngọn núi trước mặt, sang phía bên kia.

Đúng như dự đoán, đêm hôm sau, chúng tôi vượt qua ngọn núi, tương đối cũng dễ leo. Qua đến bên kia, lại thung lũng. Chúng tôi vượt qua trong đêm tối, tới quả núi khác. Lại cố vượt vì thấy hãy còn thì giờ. Cứ như vậy một đêm chúng tôi vượt được hai quả núi và một thung lũng cỏ gianh khá rộng. Nếu tính theo đường chim bay, một đêm chúng tôi đã vuợt được chừng 5 cây số. Nhưng ở đây, hoàn toàn an ninh. Tôi lấy đầy nước vào 2 chiếc bi-đông, do dòng nước chảy từ khe núi! Những cây chuối rừng, tàu lá to xanh mướt với những nải chuối vàng tươi trông rất đẹp, nhưng ăn không được vì trong chứa toàn hột. Nếu ăn được, chim và khỉ đã ăn trước rồi! Cứ vậy, ngày nghỉ đêm đi, không dám đốt lửa dù ban ngày. Sau 6 ngày đêm như vậy, chúng tôi có đi qua vài cái bản nhỏ của người dân miền núi trồng đầy bắp, tuy thèm chết được mà không dám lấy, sợ bị bắt uổng công! Cũng may, mấy hôm leo trèo vất vả, ăn uống kham khổ như vậy, chúng tôi vẫn khỏe mạnh. Để đề phòng tụi Công An biên phòng phát giác, chúng tôi di chuyển với khoảng cách an toàn. Đến trưa ngày thứ 7, tôi đã đứng bên con suối rất rộng, nước reo ầm âm. Từ bên này, có thể nhìn thấy mầu áo chàm, và những chiếc nón sơn, to vành, thấp thoáng phía bên kia. Tôi biết, mình đã đến biên giới Việt Hoa. Tôi, núp trong một bụi cây rậm chờ Nghị. Chờ mãi đến chiều không thấy! Ngại quá, tôi quay lại tìm, vì nơi đây tương đối xa khu người ở. Tôi đang đi men theo rặng vầu, bỗng nghe tiếng chó sủa phía dưới. Nhịp tim tự nhiên đập mạnh, cả người nổi gai ốc. Cơn sợ từ đâu xâm nhập làm bủn rủn tay chân. Nhưng tôi cố di chuyển thật nhanh đến nơi có tiếng chó. Tôi mong đây chỉ là loại chó giữ nhà, không đáng sợ. Tiếng chó nghe gần lại. Tôi trèo lên một cành cây, ngó xuống ! Tôi thấy Nghị tay cầm cành lá quất lũ chó đang xông vô cắn. Lũ chó rất khôn, tuy nhỏ con, loại chó miền núi, con trước, con sau tấn công từng đợt, quây tròn Nghị vào giữa. Thấy nguy, tôi vội tụt xuống, bẻ một cành cây, cầm chặt trong tay. Lúc đó, trời đã ngả về chiều. Vì quá vội và xúc cảm, tôi bị té mấy lần, đầu gối đau tê. Những bước chân đã bắt đầu nặng nhọc. Khi gần tới nơi, 2 trong số 5 con chó chồm lại phía tôi, sủa inh ỏi. Tôi quơ cành cây vụt lia lịa, nhưng giống chó này tránh né rất tài tình, tôi toàn vụt vào không khí. Trời sập tối. Đàn chó vẫn không buông tha. Lúc này, tôi và Nghị đã ở bên nhau. Chúng tôi đâu lưng nhau, vừa cầm cự cùng lũ chó, vừa lùi dần vào mé rừng, đề phòng nếu có chuyện gì, lẩn cho dễ. Chừng nửa tiếng sau, nghe tiếng người suỵt chó. Tôi cũng tưởng đó chỉ là người dân miền Thượng gọi chó về. Ai ngờ, nghe tiếng “suyt, suỵt” chúng còn cắn hăng hơn. Có tiếng hô:

– Ai, trong đó ra ngay! Nếu không tôi bắn!

Tiếng kéo cơ bẩm lách cách.

Chết cha! Tụi Công An biên phòng. Loại chó này thuộc loại chuyên môn đã được huấn luyện chuyên săn đuổi kẻ lạ. Do đó, tụi nó mới cắn dai và khôn ngoan như vậy! Tuy nghe tiếng gọi, nhưng chúng tôi cố thủ, không ra. Sau 2 lần gọi nữa, nó bắn 1 băng AK vào bụi. Nghị không sao. Tôi trúng 1 viên vào tay. Lúc này đàn chó ào vô cắn lung tung. Lại có tiếng suỵt ngắn, đàn chó đang hung hản như vậy bỗng ngưng cắn. 3 tên Công An biên phòng chiếu đèn pin, chĩa súng đi thẳng vào chỗ chúng tôi núp, chúng tôi đành ngồi yên không kháng cự.

Thấy tay tôi máu chảy quá nhiều tụi nó lục túi đồ, xé chiếc áo lót của tôi buộc tạm vết thương rồi trói tay dắt đi. Đàn chó chạy vờn xung quanh ngoe nguẩy đuôi như vui mừng đã chu toàn nhiệm vụ! Chúng tôi bước theo sau ánh đèn pin, leo trèo lên xuống. Chừng nửa đêm đến căn nhà sàn nằm vắt vẻo bên suờn núi. Một tên Công An biên phòng nói tiếng địa phương với chủ nhà ở mé hiên. Lát sau chúng tôi được ăn cơm với mắm và khô nai. Ăn xong, chúng cho tụi tôi nằm ngủ, tay vẫn trói, có tên Công An ngồi gác.

Hôm sau, họ thẩm vấn sơ qua rồi giải chúng tôi trao trả cho trại, trên một chiếc xe đi công tác qua đấy.

– Khi về trại, có bị đánh không?

– Không, nhưng bị cùm và bị thẩm vấn liên miên. Bi bỏ đói khát mấy tháng liền. Nếu không nhờ có cuộc chiến tranh biên giới, làm sao chúng tôi được chuyển về đây?

Tôi nhìn cánh tay bó bột cứng ngắc đặt trên ngực. Khuôn mặt xanh xao, gầy guộc như khúc gỗ đẻo . Anh Nghị trông khá hơn vì không bị thương. Tôi nói cho hai anh nghe về sinh hoạt của trại và những gì các anh cần đề phòng đối với tụi Công An, cán bộ Buồng cũng như lao động! Đêm hôm đó giấc ngủ đến với chúng tôi hơi muộn!

Tên Công An lao động Đội tôi quả là một tên hắc ám, rất lưu manh, nó hay khám xét “đột xuất” tù để lấy tiền nếu tìm thấy. Nó bắt cởi hết áo quần, tự tay nó lần mò từng chút để kiếm. Nhiều người mất tiền bất ngờ vì bị khám cái kiểu này. Có một anh, trong giờ nghỉ giải lao, mở ví lấy ảnh vợ con ra coi. Nó nhìn thấy:

– Ê, anh Tửu, đưa chiếc ví cho tôi coi.

Anh này riu ríu đưa. Nó moi móc lôi ra được 20đ tiền Ngân. Nó tịch thu luôn còn bắt anh Tửu làm kiểm điểm. Anh này không phải tay vừa, làm kiểm điểm thành 2 bản: 1 đưa cho nó, 1 đưa thẳng cho Ban Giám Thị qua tên Công An Buồng với mục đích để thông báo lên “trên” nó có lấy của anh một khoản tiền, dù muốn ỉm đi cũng không được!

– Đù mẹ, ông mất tiền, mày cũng không tiêu được. Đéo đứa nào tiêu được, thế là huề!

Buổi trưa nay, trước khi hết giờ lao động, tên Thắng kêu Tổ trưởng Tổ 3, đến căn lều của nó để khám xét. Sau khi khám, thấy không có gì, nó hỏi:

– Tại sao lại nấu nướng trong giờ lao động?

Chẳng biết anh kia trả lời ra sao, nó bắt đứng nghiêm, đầu không nón, dưới ánh mặt trời giữa trưa, suốt 2 tiếng đồng hồ. Anh này, nguyên Trung đoàn Trưởng ở miệt Hậu Giang. Anh đứng như cây cột trồng trơ vơ giữa một bãi bùn đất nhơm nhếch. Tuy trời đã vào thu, mồ hôi vẫn thấm qua vải áo làm thành một khoảng lớn. Không biết xưa kia, khi còn tại chức, anh có phạt người lính nào dưới quyền như vậy không? Anh này thực xui, chưa hề có thăm nuôi, mấy bữa trước vì không dằn được thèm muốn, anh đã dùng chiếc que có buộc mẩu dây kẽm một đầu, lợi dụng đêm khuya, anh khều một bao đồ để ngoài hiên, lấy trộm bịch đường. Chẳng may người có của, thiếu úy Dù, bắt được. Nhưng anh này rất tốt, từng du học tại Pháp hồi nhỏ, tình nguyện vào binh chủng Dù để uýnh Cộng Sản, đã thông cảm, không làm khó dễ nên câu chuyện cũng êm, dù Buồng trưởng đã đưa vấn đề ra tên Công An Buồng để giải quyết. Tội nghiệp hơn nữa, mỗi lần có quà về, anh đều chắp tay lên ngực khấn: Lạy trời, cho con được một gói! Nhưng chẳng có gói nào ông trời dành cho anh! Nghe nói, anh có mấy vợ, nên lúc này chả vợ nào chịu gửi quà, thăm nuôi! Trường hợp này không hiếm trong Cải Tạo! Có anh Thiếu Tá, 3 vợ, vợ nào cũng làm nhà giáo. Anh vẫn tự phong cho mình chức Bộ Trưởng Giáo Dục. Một bữa, tôi hỏi đùa:

– Cậu làm cách nào có nhiều vợ vậy?

Anh ta cười:

– Em chỉ nhờ nói dối!

Anh này chẳng có thăm nuôi cũng như quà, nhưng nhờ có sức khỏe anh làm “tà loọc” cho một anh Trung Tá, đủ no! Cả trại mấy bữa nay đồn rầm về câu chuyện tình của Ánh, nghe giống hệt tiểu thuyết. Ánh, con trai duy nhất của nhà văn Hoàng Đạo. Ánh trông hiền lành, khá bảnh trai. Cách đây mấy bữa, anh được gọi thăm nuôi.

mạnh hải flickr

Sau khi thăm nuôi về, anh xách một túi nhỏ, có vài kí gạo, mấy chiếc bánh chưng và một chiếc áo bông. Anh em xúm lại hỏi, ai thăm mà có ít đồ vậy? Ánh cười, nói:

– Đây, một cán bộ cao cấp, cũng là đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam cho!

Anh em trố mắt, nghĩ rằng Anh đã tìm được “gốc” để che chở, chắc sớm được về. Nhưng Ánh tiếp:

– Tôi có quen biết gì đâu? Hắn nói mới vô Nam thăm vợ tôi, vì khi còn nhỏ, hắn đã yêu vợ tôi. Nhưng từ ngày nàng có chồng, hắn đành ôm mối tình tuyệt vọng. Sau này, hắn được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam và được cử đi học tại Liên Xô. Trước khi đi, hắn được Đảng chọn cho một cô vợ quê mùa, nhưng cũng là Đảng viên, đã đạt nhiều thành tích Cách Mạng! Tuy không yêu người nữ Đảng viên ấy, nhưng trước kỷ luật của Đảng, hắn đành tuân theo, trong thâm tâm vẫn mang hình ảnh người con gái cùng phố. Mối tình đó, hắn ấp ủ trong tim mấy chục năm rồi. Đến nay giải phóng miền Nam, từ Liên Xô nghe tin, hắn muốn trở về nước ngay, nhưng chương trình học chưa xong, phải chờ mấy năm sau. Về đến Việt Nam, nghe tin vợ tôi còn ở lại, chưa di tản qua Mỹ, hắn vội vào tìm và đã gặp vợ tôi mỗi ngày.

Nói đến đây, có lẽ tức qua, anh văng tục:

– Đù má nó, trong lúc mình đang ở tù, nó lại đến thăm vợ mình mỗi ngày, để nhắc nhở kỷ niệm, thế là cái đếch gì? Đéo ai cần nó đến? Sau một tuần lễ, hắn ra lại Hà-nội, tìm đến nhà người yêu cũ của tôi, trước cũng ở cùng phố. Cô gái ấy tôi yêu trước khi lấy vợ, sao hắn cũng biết? Hắn đến nhà cô ta, cố xin một kỷ vật. Nàng nghèo quá, vì mấy chục năm sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, con cái đầy đàn, lấy gì cho? Nàng đành gửi tặng tôi chiếc áo bông cũ.

Nói đến đây, anh giơ cao chiếc áo bông dài, bạc phếch.

– Hắn còn nói: Tôi biết, khi còn nhỏ anh và K. yêu nhau, nhưng gia đình cản trở, chứ không tại hai người. K. đến nay vẫn yêu anh, cũng như tôi vẫn yêu X. vậy! X. là tên vợ tôi, các ông nghe có lọt tai không?

Tuy nói vậy nhưng sáng hôm sau đi lao động, trời chớm lạnh, Ánh mặc chiếc áo bông dài đàn bà xúng xính, trông chả ra làm sao cả!

Câu chuyện đến đây chưa hết, hơn tháng sau, tên Đảng viên đến thăm Ánh lần nữa, lại mang cho Ánh dăm ký gạo, cùng vài thứ lặt vặt khác. Hắn cho biết mới ở trong Nam ra sau chuyến công tác. Vợ Ánh vẫn khỏe mạnh, đang sửa soạn ra thăm nuôi! Lần này, khi trở vô trại mặt Ánh đỏ gay như chưa qua cơn tức giận.

Buổi trưa qua, tên cán bộ Buồng mang xấp thư vô, đưa cho Buồng trưởng gọi từng tên để phát. Từ đầu năm đến bây giờ gần hết tháng 9, mới được phát một lần thư. Sau khi mở ra xem, có cái đề từ tháng 1, tháng 2. Cái sớm nhất cũng đề tháng 5. Chúng tôi nghe nói tất cả thư từ gửi cho tù đều phải qua hệ thống kiểm duyệt gắt gao từ Hà-nội. 10 thư gửi đi, may ra nhận được 1, 2. Do đó, những gì cần biết, đều mất hết thời gian tính! Trong Buồng tôi có anh Trúc, Hạ Sĩ I trước ở Biệt khu Thủ Đô. Sau ngày đứt phim ít lâu, tham gia vào tổ chức chống Cộng, chưa hoạt động, đã bị bắt. Anh được đưa từ Sài Gon ra thẳng đây từ đầu năm 1976. Anh nghèo lắm, phải bán phiếu quà bằng 1/2 kí lô đường. Khi nào nhận quà, anh giao hết cho người đã mua phiếu, vì gói quà tuy mang tên anh, nhưng thục tế, được thực hiện do người khác. Người mua, sau khi nhận quà, sẽ trao cho anh số đường như ước hẹn. Nhưng không hiểu sao, người mua lại tiếc, lằng nhằng không chịu trả, thế là một cuộc uýnh lộn xẩy ra. Kẻ u đầu, người sứt trán, sau ít phút quần thảo! Trúc cũng nhận được một thư nhà. Đọc xong, anh buồn xo! Buổi chiều, khi tên Bảo, Công An vô buồng soát người trốn lao động, tự nhiên Trúc khóc rống lên. Bảo hỏi:

– Sao, có gì anh Trúc khóc?

– Cán bộ thấy không? Khi trước, dù chỉ là lính, tôi nuôi nổi mẹ già, vợ và 3 con. Con tôi ăn học đàng hoàng. Nay dưới thời Cách Mạng, tôi đi tù, vợ tôi làm không đủ sống, các con tôi đi đẩy xe bò từ 4 giờ sáng. Mẹ già không ai nuôi, nhà cửa lại bị cháy ra tro bụi cả rồi!

Vừa khóc, vừa nói, thật thảm thương. Tên Bảo an ủi:

– Này anh Trúc, dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, không phải chỉ có gia đình anh như vậy đâu. Ngay ở miền Bắc này, cũng không thiếu gì trường hợp như vậy. Thôi, nín đi!

Nhưng Trúc vẫn khóc không dứt ! Sở dĩ Trúc được nghỉ lao động từ mấy tháng nay vì bị té ở hiện trường, trẹo khớp xương hông. Chính thực bệnh chẳng có gì, nhưng dễ đóng kịch, do đó, được nghỉ dài hạn. Trúc cứ tập tểnh suốt ngày ra vô. Thông cảm với hoàn cảnh Trúc, anh em mỗi người giúp vài đồng làm vốn buôn bán lia chia, để kiếm lời có tiền gửi về cho vợ con! Kể cũng lạ, trường hợp này hiếm có, vì trong giai đoạn này, người ở ngoài nuôi tù, chứ tù làm cách nào nuôi người ở ngoài? Sự việc này cũng giống như hồi chưa được thăm nuôi, tù gầy ốm, người thăm nuôi mập mạp, nhưng sau vài lần đi lại, từ Nam ra Bắc, từ Bắc vô Nam, người đi thăm nuôi gầy rạc, tù được nuôi, lần hồi mập lại!

Hồi gần đây, ngày nào trại cũng bán rau tươi, do tên tù hình sự phụ trách. Nó bận áo vét-tông, đi giầy da, mồm ngậm “thuốc có cán”, trông ra dáng phong lưu. Sự buôn bán này chính thực, điều động bởi vợ viên trung tá Trưởng Trại nhằm kiếm lời. Tôi đang mua rau bỗng có tên Công An hạch hỏi:

– Ai cho anh mang rau vào trại bán?

Tên tù hình sự đủng đỉnh trả lời:

– Ông ơi! con bán cho “Bà” đấy! Các tỉnh biên giới vui lắm đó, ông ạ!

Nói xong nó cười mỉa mai ! Tên Công An giận tím mặt, nhưng chẳng dám làm gì! Cách đó ít lâu, một hôm, tôi nhìn thấy tên tù hình sự này, chân đi đất, mặt mày ngơ ngác, khăn gói đi vào nhà tù hình sự như các bạn nó, chứ không còn nghênh ngang bận áo vét-tông, đi giầy cồm cộp, mồm ngậm “thuốc có cán”, vênh váo như mọi hôm!

Ở trại lúc này có phong trào buôn bán, đổi chác, ai có dư muốn bán, ai thiếu muốn mua, thứ gì cũng có.

Mỗi buổi trua, một anh, trước là công chức cao cấp ở Bộ Thông Tin, lén đi liên hệ các buồng để mời mua hoặc bán. Nào gạo, mì ăn liền, bột ngọt, xà- bông, thuốc tây v.v… Bao giờ anh ta cũng có câu chào mở đầu:

– Bonjour mes amis, comment allez vous? Aujourd’ hui nous avons des médicaments, du riz, 1 paquet 100gr de Glutamate Monosodium et nous avons aussi du tabac Laotien “3 no 8”. Et, alors, mes amis, voulez vous acheter quelque chose? Aha, Aha! (Chào các Bạn, mạnh khoẻ cả chứ? Hôm nay chúng tôi có thuốc tây, gạo, bột ngọt và chúng tôi cũng có thuốc lào “3 số 8”. Vậy, các bạn, có ai muốn mua thứ gì không?)

Cứ như vậy, trưa nào anh cũng đi khắp 16, 17 buồng để buôn bán lia chia, kiếm lời. Nghe đồn, anh đã có một số vốn khá lớn. Trúc cũng vào nghề buôn bán lia chia với số vốn $10. Nhưng nhờ anh em thương, mua giúp, nào trứng, nào rau, hành tỏi, ớt, chỉ trong vòng 2 tháng sau, số vốn của anh đã lên tới bạc trăm.

Buồng nào cũng có người buôn bán, đổi chác. Chính vì thế, nên quân bình được nhu cầu đời sống của tù. Nhưng không phải ai cũng làm được như vậy. Có người buôn thua, bán lổ, thiếu nợ tùm lum! Khi trại cho thăm nuôi, vấn đề đun nấu được đặt ra. Trại cho lấy củi 2 ngày trong tuần: buổi trưa thứ Ba và thứ Sáu. Lần đầu, mỗi Đội, tụi Công An cho 4 người gánh củi. Lâu dần rút lại còn 2, rồi 1. Một người không được gánh mà phải vác. Khi vác, phải vác một mạch từ cổng trại vô đến buồng mình ở, không được rơi vãi, nếu bị đứt dây hoặc vác không nổi, bỏ xuống nghỉ, bị tịch thu. Khi bị thu như vậy, anh em gọi là “thua”. Cũng vì lý do đó, anh em phải chọn những người thật khỏe để lo vác củi. Mỗi Đội trung bình 50 người, mỗi người lấy 5 kí củi, thành 250 kí. Như vậy một người phải vác trung bình 2 tạ rưỡi củi, từ cổng trại đến buồng, dài ngắn tùy theo nơi ở, nhưng xa nhất khoảng 300 thước.

Lao động đã mệt, nay lại vác nặng và cồng kềnh như vậy, nhiều anh té quỵ ngay bước chân thứ nhất qua cổng, như vậy “thua”. Cái hoạt cảnh này làm cười ra nước mắt, cứ diễn ra như một sỉ nhục định kỳ, mồi tuần 2 1ần.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply