Tạ Tỵ
Post by Sơn râu 25 May 2024

Chương V: Về xuôi
Phần 9
Vấn đề thăm nuôi vẫn điều hòa và những tin đồn vẫn phấn khởi. Thời gian thăm nuôi vẫn tùy theo trường hợp được Ban Giám Thị ban phát đặc ân, nhưng thường thường là 2 tiếng. Có người vợ đi từ Nam ra Bắc chỉ mang theo 1 lon gạo, muợn nồi nấu cơm. Hai vợ chồng ăn với nhau một bữa, rồi anh lại vào tù, em lủi thủi trở về bằng dòng nước mắt tủi hờn! Có người ra thăm chồng mang theo đứa con nhỏ. Trong lúc hai vợ chồng đang to nhỏ những lời nhớ thương đằm thắm, qua những giọt lệ ngắn dài, bỗng đứa bé nắm tay bố nói: “Bố ơi, ở nhà mẹ đẻ em bé xinh lắm!” Anh bố bất chợt nghe câu đó, sững người, nhìn hết vợ đến con một lúc, rồi bỏ về trại, không mang theo quà thăm nưôi. Chị vợ ôm mặt khóc ngất! Trong khi đó, người chồng mới của chị, đang ngồi chờ trong chiếc xe vận tải, tay cầm chiếc mũ két giơ ra ngoài, để tù lao động gần đấy muốn gửi “thư chui”, cứ bỏ vô, anh mang về Nam gửi dùm. Sở dĩ chuyện này vỡ lở, cũng do các bà đi thăm nuôi nói lại.!
Chiều nay, tôi lại được gọi thăm nuôi. Vợ tôi cùng hai em và người anh ruột đến thăm. Cũng hôm đó, có vợ của Ánh và gia đình Đại Tá Thọ, Lữ Đoàn Trưởng Dù bị bắt tại mặt trận Hạ Lào năm 1971. Chị Ánh năm nay chừng ngoài 40, khá xinh đẹp. Tôi nghĩ bụng tên Cộng Sản mê chị cũng có lý lắm. Ánh giới thiệu vợ với tôi, khi tôi đang đứng nói chuyện với Đại Tá Thọ. Chị Ánh cười, nụ cười hồn nhiên, đôi môi đỏ hồng mầu mận chín. Hàm răng đều trắng muốt lấp lánh qua ánh sáng. Chị quả thực vừa có duyên, vừa đẹp. Tôi chỉ dám nghĩ đến như vậy. Vợ tôi kéo tôi đến chiếc bàn để nói chuyện gia đình. Tên Công An ngồi ở chiếc bàn kê gần đấy. Căn phòng thăm nuôi hôm nay đầy người. Vợ chồng tôi đưa nhau đến nơi đầu bàn, còn vừa hai chỗ để dễ nói chuyện. Sau hơn 4 năm xa cách, vợ chồng nhìn nhau bằng những con mắt tràn ngập xót thương. Chúng tôi đã quá tuổi để có thể làm những cử chỉ vồ vập nhằm thổ lộ nỗi nhớ thương như những người còn trẻ. Vợ tôi đưa chiếc khăn nhỏ lên lau nước mắt. Anh và các em tôi cũng vậy. Tôi nói:
– Chúng ta không có nhiều thì giờ để khóc. Hãy nói chuyện nhà đi. Có những gì thay đổi sau 4 năm “đổi đời”?
Vợ tôi, nói nhỏ cho nghe tất cả những gì đã xẩy ra. Sở dĩ đến hôm nay mới ra thăm được vì tụi Công An quận không chịu cấp giấy phép, sau phải mất $300 mới có đó. Tụi nó cứ chê mình thối nát, tham nhũng, nay nó bằng trăm! Chúng tôi vừa nói, vừa coi chừng tên Công An phụ trách thăm nuôi! Vợ tôi còn lo cho đứa con gái út vượt biên, hiện nó đang ở Pulau Bidong, thằng con trai trốn trại vượt biên, bị bắt, nhưng nó lại trốn thoát lần nữa!
Thời gian qua đi rất mau, chưa nói hết chuyện, tên Công An nhắc: hết giờ! Vợ chồng, anh em tôi, nắm chặt tay nhau, chẳng muốn rời. Đại Tá Thọ và Ánh cũng chia tay với gia đình họ. Tôi và Ánh xếp đồ vào chiếc xe “cải tiến”, chiếc xe bò nhỏ, làm toàn bằng sắt, kéo rất nặng, kêu lọc cọc trên mặt lộ đá. Tôi có ấn tượng như nó đang nghiến nát từng mảnh đời của mỗi chúng tôi xuyên qua những ý nghĩ thầm kín của mỗi người gói trọn trong đáy sâu lòng mình không hề than thở! Đêm hôm ấy, tôi mất ngủ! Một đêm trắng trôi qua với những hình ảnh thoáng hiện, thoáng mất trong đầu. Bây giờ tôi nằm đây, trong cái nhà tù này, bốn bề quây kín bằng những bức tường đá, những chiếc chấn song sắt, mầu vôi trắng không còn nữa, nó biến thành 4 bức tường máu rệp, thâm xịt. Vợ tôi và anh em tôi, giờ này đang thức hay ngủ nơi căn nhà thăm nuôi, cách xa tôi khoảng trên 1 cây số. Tôi ngồi dậy, nhìn qua chấn song. Ánh trăng bên ngoài sáng lắm, tuy không nhìn thấy trăng, chỉ có làn ánh sáng dịu dàng tỏa xuống nơi chiếc sân rộng, làm lòng tôi dịu xuống. Cái hoàn cảnh khốn khổ này, tôi đang gánh chịu cùng hàng trăm ngàn người tù và 25 triệu đồng bào miền Nam, cũng chỉ vì sự quyết định lầm lỡ của một vài người, và cũng vì tham vọng của một số người khác. Tụi Cộng Sản thường cho chúng tôi, thuở trước được hưởng “đặc quyền, đặc lợi”. Nhưng Cộng Sản nói vậy là vơ đũa cả nắm, chứ đâu phải hễ sĩ quan là được hưởng đặc quyền, đặc lợi? Trong Quân đội Miền Nam, sự thực có nhiều Hạ Sĩ Quan và binh sĩ, có uy quyền hơn sĩ quan nếu họ có “gốc lớn”!
Tôi thầm tiếc mấy ngàn cuốn sách đã bị “hiến” trong đợt đánh văn hóa đồi trụy. Còn những “tin thăm nuôi” đều không đúng, vợ tôi khẳng định! Anh em hồi chiều có hỏi, vì không muốn để anh em tuyệt vọng, tôi chỉ cười không xác nhận, cũng chẳng phủ nhận.
Sáng hôm sau, tôi được nghỉ lao động, như mọi lần thăm nuôi, để thu xếp quà bánh. Theo lệnh chung, tất cả quà phải để ở ngoài, không được mang vô “chuồng”. Cũng vì để ở ngoài, nên sáng nào cũng có anh em kêu mất đồ, do tụi Công An đi tuần lấy cắp. Thường chúng chỉ lấy sữa và bánh. Lon sữa và giấy bao, vứt ngay dưới chân tường. Dù thùng có khóa hay không cũng vậy! Ban đêm, tù nào được ra? Chắc tụi Công An cũng đói lắm, nên một buổi lao động, trong lúc giải lao, tên thiếu úy Quản giáo đã than thở:
– Các anh không biết đấy chứ? Được hai chữ “anh hùng”, nhưng đói bỏ mẹ! Các anh đói còn có gia đình thăm nuôi, chúng tôi, đói đành chịu! Muốn may một chiếc sơ-mi phải để dành 5 tháng, không dám tiêu phí đồng nào. Muốn mời anh em bữa cơm, phải để đành tiêu chuẩn cả tháng! Sung sướng nỗi gì đâu mà ham! Tôi chỉ mong “các ông nhà nước” nghĩ lại cho dân nhờ. Chứ kéo dài, chắc chết quá!
Tôi ngạc nhiên, khi thấy một cấp sĩ quan Công An lại nói với tôi bằng luận điệu mất lập trường như vậy? Nhưng càng ở lâu, tiếp xúc nhiều, mới biết tụi Công An trừ một số trung kiên cuồng tín, còn phần đông, tuy không nói ra, nhưng tinh thần đã chao đảo, nếu có cơ hội, sẵn sàng bỏ Đảng và Nhà Nước, để mưu cầu quyền lợi riêng của cá nhân!
Quanh quẩn mùa lạnh lại tới! Mùa lạnh nay, mùa thứ tư tôi gánh chịu tai miền Bắc, và là mùa thứ hai tại trại Nam Hà. Gió thổi hun hút, đêm nằm đã đắp mền, đi làm phải mặc áo ấm! Lao động vẫn đều đều, thỉnh thoảng lại đi trốn khi có “khách” tới thăm trại. Cái gì mãi cũng thành quen, ngay cả chuyện điểm nghiệm. Các Đội đi làm về, bị khám đã đành, có Đội vừa ra khỏi trại bị gọi đứng lại, chờ. Khi các Đội đi hết, Đội đứng lại, được lệnh, mỗi người đứng cách nhau 1 thước, để múa điệu “phượng hoàng”. Ngoài việc xù đầu, há mồm, lần lưng, móc túi như thường lệ, mọi người còn phải tụt quần, chổng mông cho tụi Công An nhòm xem có gì dấu nơi hậu môn không? Mỗi lần khám đột xuất như vậy thế nào cũng có người mất thư, mất tiền, lúc về còn phải làm kiểm điểm! Anh em đi làm, thường mang theo thư, để nhỡ khi gặp bà con thăm nuôi là gửi chui. Sau này tụi Công An có nhận gửi thư chui, lđ/1lá. Nhưng thư chỉ gửi đi, chứ nhận thì không ! Sự khám xét nghiêm ngặt như thế, không hiểu sao, anh em trong Buồng, vẫn có rượu uống! Rượu trong tù quý lắm. Có chút “nước mắt quê hương” để tiêu sầu giải buồn cũng đỡ khổ. Chiều ngày 24-12, lúc đi làm về, tụi Công An trực khám rất kỹ. Đêm nay Noël, tụi nó tăng cường an ninh, đầy Công An vũ trang. Nhưng không phải Đội nào cũng bị khám, chỉ riêng những Đội có tên trong “sổ đen” thôi! Chiều hôm đó tất cả mọi bi-đông và lon gô thuộc Đội tôi, đều phải mở nắp, đổ hết nước. Mọi người đi qua mặt tên Công An phải dốc ngược lên, chứng tỏ không có gì bên trong. Khám như vậy quá kỹ, làm sao lọt được. Nhưng sự thực rượu không đi qua ngả đó, nó được chính Công An đưa vô cho tù uống, lẽ dĩ nhiên giá đắt. Đêm Giáng Sinh, vị Linh Mục cũng tổ chức thánh lễ. Tiếng cầu kinh lầm rầm, âm u trong kích thước không gian tù ngục, nghe nó buồn thảm lam sao! Trong thời gian làm lễ, có người canh gác, phòng khi tụi vũ trang đi tuần, thì báo động kịp thời, lúc đó buổi thánh lễ trở thành cuộc nói chuyện vui.
– Ê, sao giờ này mấy anh chưa ngủ? kẻng lâu rồi!

mạnh hải flickr
– Dạ, đi ngủ ngay đây, cán bô!
Tuy nói vậy, nhưng anh nào vẫn ngồi chỗ đó, chờ tụi nó đi khỏi, lại sinh hoạt như cũ. Đêm Noël trong trại tù Nam Hà làm tôi nhớ đến đêm Noël tại Suối Máu. Cha và con chiên bị đuổi bắt, chạy như vịt.
Tinh thần anh em nói chung đã khá hơn những năm đầu vì thấy thời gian ấn định 3 năm đã trôi qua lâu mà ánh sáng cuối đường hầm chưa bật! Anh em đã đoàn kết và dám chống trả với áp bức của những tên Công An ác ôn. Khi cần, anh em đã biết bảo nhau cùng “xù”. Một bữa, có một anh, không hiểu sao bị tên Công An lao động trói. Anh em toàn Đội phản đối bằng cách “xù” không làm việc. Tên nay tức quá, tập họp lại nói:
– Anh nào chống đối lao động ra khỏi hàng!
Không ai nhúc nhích. Nó tiếp:
– Anh nào chịu lao động, ra khỏi hàng!
Cũng không ai nhúc nhích. Nó không biết giải quyết làm sao, cứ đứng la lối. Vừa lúc ấy, có Công An “cấp cao” đi qua, hỏi chuyện gì? Đội trưởng nói nguyên do. Tên Công An nghe xong, giải thích, không nên lãng công như thế, vi phạm nội quy, chống đối chính sách, đường lối của Đảng và Nhà Nước, làm vậy nguy hiểm. Có gì nên trình “Trên” để giải quyết.
Nói xong, nó đến mở dây cho anh bị trói! Hôm sau, tên Công An quản lý lao động bị thay thế! Nhưng vẫn có những tên tù khốn nạn, cho đến phút này, vẫn chưa chịu mở mắt, như tên Cang. Hắn, mang cấp Thiếu Tá, giải ngũ từ lâu, đi làm cho hãng ESSO, hắn đi tù vì can tội vượt biên. Hắn dám mở miệng nói với tên Công An Buồng những câu như:
– Thưa cán bộ, nếu được sự khoan hồng của Đảng và Nhà Nước tha cho về sinh sống với vợ con. Khi qua Hà Nội , thế nào tôi cũng xin phép, để được đến tận “Lăng Bác” tạ tội, vì sau mấy chục năm làm tay sai cho Mỹ Ngụy, đã gây nhiều thiệt hại cho Cách Mạng, cho nhân dân. Đáng tội chết lắm, nay được tha xin đến tạ tội, cầu mong “Bác” tha thứ!
Khi lao động, nếu cần, hắn thọc tay vào hố phân moi lên chứ không cần vá! Chính vì có những tên tù thiếu nhân cách như vậy, nên tụi Cộng Sản mới khinh chung cả lũ. Thục tế, tên Cang có sợ Cộng Sản thật hay không, chỉ riêng hắn biết, nhưng dù sao những lời nói và hành động đó quả thực không đẹp đối với một con người, dù con người thua trận!
Mùa lạnh đá thực sự biểu dương uy quyền của mình bằng những ngày và đêm dài mưa gió triền miên. Mưa làm cho đường lầy lội, trơn trợt. Nơi hiện trường bùn đất bẩn thỉu, nhưng mưa không đủ lớn để nghỉ. Một loại mưa làm đẹp cảnh vật. Gió thổi như tạt vào da thịt từng xô nước đá. Nắng khổ đàng nắng, mưa khổ đàng mưa. “Nắng không ưa, mưa không chịu” ở cảnh ngộ này quá đúng!
Lao động khổ sai, hơn 4 năm rồi, còn bao lâu nữa? Sức người có hạn, nên nhiều anh em phải chuyển ra Mễ, một trại gần Phủ Lý chuyên nhốt tù bệnh nặng, ngoài khả năng chữa trị của Bệnh xá Nam Hà! Tù có đủ mọi loại bệnh, nặng có, nhẹ có. Nhưng dù nặng, dù nhẹ cũng phải có thuốc chữa, thuốc ở đây lại hiếm như vàng.
Căn buồng tôi ở, sát ngay bệnh xá, từ trên lầu, có thể nhìn sang dễ dàng. Tên tù hình sự ở đây cũng là một y tá, can tội buôn chui thuốc tây bị tù, nhưng các “tu-bíp” cứ nhất định gọi là bác sĩ. Nó nuôi một con khướu trong chiếc lồng treo nơi hiên Bệnh xá. Chẳng biết con khướu bị nhốt từ bao giờ, thỉnh thoảng nó cất tiếng hót lảnh lót, réo rắt, quyến rũ! Mỗi trưa, có con khướu mái, mồm ngậm con mồi, chờ đến khi cửa “chuồng” Bệnh xá khóa, nó mới bay tới mớm cho con khướu trống. Trưa nào cũng vậy, tôi quan sát cả tuần, và mỗi chiều, con khướu mái đậu trên nóc nhà tù, đối diện với chiếc lồng khướu. Nó nhìn bằng con mắt buồn bã về phía “người tình”. Qua hình ảnh đó, tôi thầm nghĩ đến nhiều người đàn bà miền Nam trong giai đoạn này, cũng cùng cảnh ngộ với con khướu, tuy không được ở gần, nhưng tình cảm luôn luôn hướng về người chồng đang lâm vòng tù tội. Nhưng cũng có người, nhân dịp này phụ rẫy chồng con, đi theo tiếng gọi của vật dục, thỏa mãn thú tính. Loại đàn bà thứ nhì này, không bằng súc vật!
Trong buồng tôi, có 4 anh, nuôi 4 con chim khác nhau. Một con sáo, 1 con chích chòe, 1 con chào mào và l con cuốc. Con cuốc được nuôi trong chiếc lon ghi-gô, có châm lỗ ở hai đầu, nó được đặt tên: Anh hùng Phạm Tuân phi hành gia, đi dép lốp lên tàu vũ trụ! theo thơ của Tố Hữu. Cuốc là loại chịm lủi rất nhanh, nếu buộc không kỹ, nó thoát được, rất khó bắt lại. Nó vừa biết bay vừa biết bơi, đôi giò cao lênh khênh như hai chiếc “cà kheo”. Hàng ngày nó theo chủ đi lao động.
Còn 3 con chim kia thì con sáo và con chào mào rất thân nhau. Mỗi lần con chào mào bay lượn như chiếc trực thăng để săn mồi, khi săn được mồi, thường nhường cho con sáo ăn. Vì bị cắt cánh, nên sáo không bay cao và xa đươc, nhưng nó rất khôn ngoan. Một hôm có anh tù loay hoay đang thái miếng thịt vừa mua đươc, nó lỏn từ phía sau đớp một miếng xong chạy. Anh kia cầm que đuổi cùng sân, cả giờ vẫn không sao lấy lại được, đành mất. Mỗi buổi trưa, nó chờ có ai phơi mùng bắt rệp, nó mổ rệp ăn ngon lành. Mỗi chiều anh em ngồi chờ điểm số vô “chuồng”, nó cũng đứng chờ. Khi tù vào, nó nhẩy theo, chui vô chiếc lồng đã để ngỏ cửa sẵn. Nếu tù chưa vô, đố ai bắt được nó vô lồng! Còn con chích chòe, mỗi tối lại tự nhẩy lên khuôn cửa sổ trên cao, đậu trên chiếc chấn song, sáng nào cũng hót líu lo, như báo thức mọi người.
Nhưng một buổi, con chào mào đang đậu trên bờ tường cao, một anh ở buồng khác nhìn thấy, tưởng chim trời, cho một gậy, chết tốt. Nếu chim trời thực, làm sao anh kia đập được nó? Con cuốc cũng sút dây lủi mất. Con sáo cánh mọc đã dài, bay luôn. Con chích chòe cũng vậy! Không biết có nên tin dị đoan không, từ ngày mất 4 con chim đó, buồng tôi luôn luôn gặp chuyện không may, hết chuyện này đến chuyện nọ. Nào khám xét bắt bớ lung tung, anh em trong buồng cãi lộn! Nhưng một khi đã sống dưới Đáy Địa Ngục rồi, chuyện gì xẩy ra cũng vậy thôi! Tù sướng ở chỗ đó, khi ở ngoài, còn sợ, khi đã bị tù, hết sợ, vì không còn hình phạt nào nặng hơn tù khổ sai không án!
Mấy bữa nay, chúng tôi được biết tin tức Thế Giới Tự Do qua chiếc radio. Lẽ dĩ nhiên, phải có sự thông đồng của tên Công An nào đó, cũng vì quyền lợi riêng tư, nó hành động! Lúc trước, khi chưa có đài, anh em đều nghe “tin thăm nuôi”, nay mỗi tối nghe 3 đài: Trung Cộng, BBC và VOA nên mọi tin tức đều xác thực, nhất là những tin về vượt biên, bao nhiêu người được cứu sống ở giữa biển Đông! Mỗi tối thứ Năm, được nghe Tuần Báo Á Châu nói về Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản. Từ lúc ấy, anh em mới hết tin Mỹ mua tù và tin thăm nuôi cũng mất hết giá trị, trừ tin trong nước. Cũng vì chiếc Radio, mỗi sáng, các phòng cử người đến buồng tôi để nghe nói lại các tin tức đêm qua, xong về phổ biến cho toàn buồng trong giờ nào thuận tiện nhất. Mỗi buổi sáng, chiếc sân trước buồng tôi đông đảo, nhộn nhịp như các buổi họp báo của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị tại Saigon lúc trước, nói về tin tức chiến sự cho các phóng viên trong nước và quốc tế nghe. Tôi nghĩ thầm, cứ thế này kéo dài, tụi Công An họa là mù và điếc hết, mới không biết! Nhưng đúng, tụi nó mù và điếc thật, trong thời gian này. Một hôm, tên hung thần Thịnh gọi một anh trong Đội tôi lên phòng trực. Tưởng chuyện radio, anh này đã chuẩn bị mọi câu trả lời để tránh né. Nhưng không, lúc trở về mặt mày tươi rói. Anh nói cho biết, bữa nay tên Thịnh nói năng tử tế, yêu cầu anh mua dùm cặp gà, vì vợ con nó đang ốm đau, không tiền mua thuốc. Anh cười, chửi:
– Đù má nó, ngày thường hách xì-xằng thế, sao bữa nay nó nói với mình ngọt như mía lùi. Nào “anh thông cảm”, nào “vì nhiệm vụ”, chứ nó đâu muốn thế! Cái miệng lưỡi Công An ghê thật!
– Rồi ông có mua không?

mạnh hải flickr
– Dĩ nhiên phải mua rồi. Cặp gà gầy trơ xương, già khằn, phải trả 150 đồng, có đau không? Nhưng nhờ thế, che chở được cái radio đấy!
Trời mấy bữa nay lạnh khan. Trần mây thấp, nặng chĩu hơi nước, nhưng không mưa, chỉ có gió. Tôi nhìn lên lưng chừng núi, nhiều thân cây trụi lá trông như bộ xương khô. Mầu lá úa vàng lốm đốm đó đây như những miếng vá vụng giữa mầu xanh trùng điệp.
Bữa nay chúng tôi phải làm công tác chữa kho, gần khu tụi Công An vũ trang ở. Một đứa con gái, ngồi ngay bậc cửa vén quần gãi đùi, chiếc đùi no tròn, trắng muốt như chiếc ngà voi. Nó đưa mắt nhìn tù, con mắt lá răm nhỏ tí teo, như khiêu khích. Tôi chẳng biết nó muốn gì trong cái nhìn ấy, chỉ biết, nó cho tay kéo ống quần xuống, đứng lên đi vào, trước những con mắt thèm thuồng của lũ tù đói da thịt lâu ngày.
Tù kể cũng lạ. Khi đói chỉ nghĩ đến ăn, ngoài vấn đề ăn không còn tha thiết thứ gì kể cả đàn bà. Nhưng nay, sau thời gian được thăm nuôi, tương đối no đủ, nên đêm đêm đã bắt đầu nói đến đàn bà và những chuyện dâm dật!
Chiều qua, tù được nghỉ lao động để điều chỉnh hồ sơ. Nữ Công An, tên Liên, ngồi nơi bàn với chồng hồ sơ cao nghệu. Trông cũng dễ coi, ngực nở nang, cô mặc chiếc áo cánh, cổ may khá rộng. Từng người được gọi lên.
– Anh sanh ở đâu, năm nào, có biết bị tội gì không?
– Dạ, không?
– Tội vượt biên! Còn anh này, biết tội gì không?
– Không!
– Tội phản Cách Mạng!
– Tôi đâu có theo đâu mà phản? Tù cãi lại.
– Chống lại tức phản đó.
Tên nữ Công An gườm gườm nhìn vào anh đứng gần đó.
– Còn anh này đứng lui ra!
Anh kia cười cười thụt lui mấy bước, trong khi tên nữ Công An cho tay kéo cái cổ áo! Hành động ấy, tuy chả đáng gì, nhưng chứng tỏ vấn đề đàn bà bây giờ đã bắt đầu trở thành một ám ảnh. Ngoài đàn bà, đánh bạc! Họ sát phạt nhau mỗi tối, có khi đánh suốt sáng, mỗi đêm thứ bẩy. Có một số, hình như đã quên hoàn cảnh đích thục của mình giữa cuộc sống nhục nhã, kềm chế này! Chỉ tội nghiệp cho gia đình họ, chắt bóp dành dụm lấy tiền thăm nuôi chồng con, nay chính họ lại đang phụ rẫy cái tình thương vô biên đó, bằng cách nướng hết vào sự đỏ đen. Có anh thua đến nổi bán cả gói mì cuối cùng của chuyến thăm nuôi mới đây!
Không khí trại tự nhiên sôi động hẳn vì mới có sự hiện diện của đoàn tài tử ngành Điện Ảnh từ Hà-nội về, để thực hiện một cuốn phim của ngành Công An, mang tựa đề: Tình và Tội. Các tài tử nam và nữ, đi lượn lờ mỗi ngày, trong vòng đai Trại. Tù nhìn no mắt và có dịp so sánh với các tài tử miền Nam trước đây. Nữ tài tử chính, cũng khá xinh đẹp, dáng người dong dỏng, tầm thước.
Một buổi tối, từ trên “lầu tù”, tôi nhìn sang bệnh xá, nơi đó, tối nay được thực hiện một đoạn phim quan trọng. Nữ tài tử chính, trong vai nữ y tá, có nhiệm vụ cứu chữa cho một anh can tội giết người, cũng là người tình, bằng các thứ lá cây trồng ngay trong vườn Bệnh xá, phần nhiều, loại lá “sống đời”!
Các ngọn đèn pha bật sáng rực. Đạo diễn, kiểm soát lại lần cuối trước khi cho lệnh quay.
– Nay, sao bữa nay, ngực cô lại lép, so với lần quay trước? Tìm cái gì nâng cao lên chứ?
Nữ tài tử vơ vội mấy chiếc khăn treo gần đấy độn vô.
– Chưa đủ, thêm nữa!
Cô lại tìm quanh quẩn vài miếng vải nhồi vào.
– Chuẩn bị, quay!
Đạo diễn vừa hô xong, bỗng nữ tài tử hét to:
– Cục lương khô của em vừa để đây đâu rồi?
Nói xong, cô đứng dậy tìm. Mặt mày ngơ ngác, trước ánh đèn pha sáng rực hơn ban ngày. Tôi nghĩ, giá đoạn phim này, cần phải tập để đóng, chắc khó mà sống động như cảnh nữ tài tử đi tìm cục lương khô bồi dưỡng vừa qua. Mấy năm trước, chúng tôi cũng đã được phát những cục lương khô trên chiếc tầu Sông Hương khi chuyển ra miền Bắc quả thực, nó chẳng ngon lành gì. Điều này chứng tỏ, các tài tử miền Bắc có một đời sống vật chất không mấy khích lệ, dù đã được đãi ngộ hơn những người làm công tác khác! Tôi nghĩ đến miền Nam trước đây, phương tiện dư thừa, mà chẳng làm nên việc gì đáng giá, để đóng góp cho Việt Nam những giá trị cao thuộc bộ môn điện ảnh! Chỉ toàn phim thương mại, rẻ tiền!
Buổi tối đó, họ làm việc tới 2 giờ sáng!
Ngày Tết gần đến, anh em ai cũng nhắc nhở, Tết này phải làm gì cho khác những Tết trước. Mọi người bàn luận rất tự nhiên, coi như chuyện thường ở ngoài đời, chứ không phải trong tù. Trúc cầm bó tỏi, đi chào bán:
– Tỏi giống đây, mua ngay kẻo hết, để dành mấy bữa nấu Tết, mua không ra, lấy gì cải thiện? Mại vô, mại vô!
Trúc vừa nói, vừa lấy tay chùi bồ hóng bám bẩn đen xung quanh bó tỏi. Tôi hỏi:
– Tỏi gì, đen thui vậy?
– Bố ơi! tỏi giống đó, sáng nay tên Công An vũ trang thường đi với Đội mình lúc trước, cần tiền quá, phải bán cả tỏi giống. Nay bố xem, mỗi củ to bằng 2 củ thường, lại chắc nữa! Một đồng, 2 củ, bố mua đi!
Tôi cầm 2 củ tỏi trong tay, móc cặp quần, trả Trúc 1 đồng. Tiền, không ai có quyền giữ. Muốn giữ phải khéo giấu, nếu bị khám đột xuất sẽ mất! Sự giấu tiền có nhiều cách, nhưng cũng may rủi. Chẳng hạn có anh giấu trong thùng vôi nhà cầu, trong cuộc khám xét bất ngờ, tưởng chắc, ai ngờ nó cũng tìm ra, tịch thu. Có người buộc vào nùi giẻ vứt lăn lóc ngay miệng cống lại chẳng sao. Nhưng muốn giấu sao thì giấu, thế nào cũng bị vỡ một lần, nếu không chịu tìm ra lối mới! Tụi Công An tinh lắm, chúng được học rất kỹ về cách khám tù, nên giấu gì, cũng chỉ ít lâu sau là bật mí. Có anh cho vào lòng điếu cầy, hút ro ro vẫn bị xét thấy. Nhưng sự thực tù vẫn có ngàn lẻ cách giấu tiền, chẳng may lắm, mới bi lộ ! Tôi, tuy có giấu tiền trong người, nhưng không bao giờ để quá 5 đồng!

mạnh hải flickr
Trại có phát hành loại “tiền bìa” dùng để mua những gì do Trại bán, nhưng chẳng ai muốn giữ vì đó là tiền giả, anh em thường gọi là tiền âm phủ. Nói cho đúng, đời sống của tụi Công An, lực lượng chính, lo về nội trị, trừ một số cấp cao, có cương vị, có môi trường để tham ô, còn chung chung, đều nghèo đói. Do đó, tuy ngoài mặt làm ra vẻ không cần, luôn luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng hy sinh cho Đảng cả tính mệnh lẫn tài sản, nhưng xét ra cũng chỉ bề ngoài, chứ họ cũng là người, cũng biết thèm muốn tất cả những gì con người hằng mơ ước, như chiếc xe đạp “ngoại”, cái đài tốt, cái đồng hồ 12 cột đèn, 3 bơi chèo, 2 cửa sổ, 2 ống khói, không người lái hiệu Seiko và chiếc bút Parker. Nhưng tất cả 4 thứ nói trên, phần nhiều, chúng chỉ có đồng hồ, loại đồng hồ cũ rích. Tụi Công An rất mê đồng hồ Seiko và Orient của Nhật.
Từ ngày chiếm được miền Nam, các thanh niên miền Bắc chịu ảnh hưởng cách ăn mặc của miền Nam. Nào quần “jin” (Jean) quần “bò” (Cow boy), nào áo ống, dép đế cao, giầy mũi tròn, mũi vuông, nên ai cũng đua đòi để có. Thậm chí, ngay bộ quần áo vàng đồng phục, có tên Công An cũng cắt may theo kiểu quần “bò”. Quần nào không có túi sau, được mua với giá cao. Có tên Công An lao động đã năn nỉ tù, có quần “bò” hay “jin” bán rẻ, để nó mang ra Phủ Lý bán lại kiếm lời! Có tên vợ đẻ không tiền mua tã lót cho con, đã nhờ tù mua giúp 1 kilô trà Bắc Thái. Trà Bắc Thái là loại trà ngon của miền Bắc, mọi người dân không ai được mang quá 100gr, chỉ riêng tụi Công An có quyền mang 1 kilô. Giá chính thức khoảng 30 đ, giá tự do 100 đ mỗi kí. Nói, không ai tin, nhưng chuyện có thật, như nữ Công An tên Nguyệt, giữ tiền thăm nuôi của tù, túng quá tiêu bừa, đến khi cần thanh toán, năn nỉ tù mua dùm con heo.
– Các anh mua dùm Nguyệt nhé! Con heo tốt lắm, Nguyệt bán cho các anh rẻ hơn người ta đấy!
Gớm, sao lúc này nó nói nghe ngoan thế, chả bù lúc không cần, nó coi tù như những tên hủi!
Xưa, khi chưa có dip chung đụng với thành phần hạ từng cơ sở của Cộng Sản, cả Công An lẫn Bộ Đội, tưởng tụi nó trung kiên, sống chết vì Đảng, cho Đảng, nay đụng chạm nhiều mới biết, tất cả đều là bề mặt. Tụi nó cũng tham ô, tư lợi, nhưng kín đáo. Trước đồng tiền, chúng nó cũng mềm yếu như ai. Do đó, tù mới có cơ hội mua chuộc để được hưởng phần nào thoải mái trong lao động cũng như lia chia mua bán linh tinh.
Mỗi sáng đi lao động, tôi thường gặp một tên tù hình sự tự giác mập lùn trông thô kệch, quê mùa mời mua bánh mì luộc, hoặc khoai, sắn. Nó được giữ chuồng heo, tôi chắc nó cũng ăn bớt phần của heo như tôi hồi nào ở Nghĩa Lộ, nên mới có bánh dư để bán. Nhưng đã 2 ngày, tôi không gặp nó. Tôi hỏi người tù nổi tiếng chuyện gì cũng biết:
– Ông ơi, sao mấy bữa nay không thấy thằng tù mập, bán bánh mì đâu nhỉ?
Anh bạn nhìn tôi ngạc nhiên:
– Thế ông chưa biết thật sao
– Chuyện gì đâu mà biết?
– Cha mẹ ơi! thế mà cũng đòi đi tù!
Rồi anh dằn giọng:
– Thưa Bố, nó lại vào tù rồi ạ!
– Sao thế?
– Tối chủ nhật vừa rồi, Trại tổ chức chiếu ciné cho Ban Giám Thị coi. Vì là tự giác, nó cũng được coi. Ngồi gần một nữ Công An có bộ ngực đồ sộ quá. Chắc nhịn lâu ngày, chịu không nổi, nó liều, cho tay bóp vú. Cô kia kêu lên, thế là nó lại vào nằm chung với các bạn nó, sau một hồi ăn đấm đá. Hết tự giác!
Qua câu chuyện, vừa đi tôi vừa ngẫm nghĩ, thì ra con người trước dục vọng ái tình, không còn kể chi đến nguy hiểm, cũng như nó bị 30 năm tù, can tội giết vợ, chỉ tại đêm tân hôn, vợ nó nhất định không cho “động phòng” vì quá sợ cái “búa”!
Hằng đêm, ngoài chiếc radio, trong buồng còn một anh có giọng khá tốt. Mỗi tối, anh rống lên như con heo bị thọc huyết. Nhưng có anh cũng vui, không khí trong “chuồng” đỡ phần tẻ nhạt. Có một tối, đang “hét” nhạc vàng, bị Công An dọa phạt kiên giam. Sợ quá, từ đó không dám hát khuya. Tên thủ trưởng Hà Mạnh Xuyên vẫn mở máy cassette nghe nhạc vàng rầm rầm mỗi sáng, nơi khu nhà nó ở. Tiếng hát của Lệ Thu, Thanh Thúy, Thái Thanh, Khánh Ly vẫn nức nở nghẹn ngào, ngân dài giữa cảnh núi rừng ảm đạm, giữa không khí ngột ngạt của trại tù đói khổ. Nhưng nó nghe thì được, tù hát tụi nó cấm, đó là cái quyền kẻ mạnh. Nhạc vàng có nhiều ca khúc hay, nhưng cũng chỉ hát để nghe chơi cho khuây khỏa. Nó ướt át lê thê làm não lòng, đã buồn lại buồn hơn, đã chán lại chán hơn. Nó chẳng mang một ý nghĩ nào thiết thực cho đời sống trong tù, cần một khích động, một cổ võ để giữ vững ý chí đấu tranh, cuộc đấu tranh tuy âm thầm nhưng cần phải có như các ca khúc của Vũ Hồng, thuộc Đội 20 sáng tác, mang nội dung trầm hùng, tạo nên xúc cảm mạnh, mỗi lần cất giọng.
Này em, anh không quên đâu những ngày tù tội
Này em, anh không quên đâu những ngày tăm tối
Anh chết hôm nay, cho ngày mai em ngửng mặt
Anh chết hôm nay, ngày mai Tổ Quốc vinh quang.
Mỗi lần tiếng hát cất lên, tự nhiên máu trong người như xốn xang, có cảm tưởng như mình sống lại cái thuở nào hào hùng, bất khuất!
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.