This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Đang ngồi nói chuyện, tên Hồng, cán bộ Buồng đến. Nó nhìn chúng tôi chầm chầm. Không hiểu sao nó rất ác cảm với tôi. Mỗi lần tôi có quà, nó khám rất kỹ. Nó lấy của tôi 50đ trong đáy chiếc keo nhựa đựng mắm ruốc, do vợ tôi dấu gửi trong đó. Nó còn lấy cả chiếc phin café mới toanh, đá lửa, quẹt máy trong gói đồ. Sau đó, nó còn bắt tôi ký giấy nhận đã khuyến khích gia đình gửi tiền trong quà. Nhưng tôi biết, nó làm cho có hình thức vậy thôi, chứ chắc chắn 50 đồng ấy đã chôn chặt trong đáy túi nó, tức 2 tháng lương! Không phải một lần, lần nào khám cùng như vây. Nó là một trong những thằng Công An ác ôn tại trại Nam Hà, sau tên Thịnh và Lực. Hôm qua có mấy anh cùng buồng nhận được quà lần đầu tiên. Nó phát giác, phiếu gửi quà giả, nó tịch thu liền, cho lệnh mang xuống nhà bếp nấu cùng với những gói quà có phiếu giả khác. Mấy anh kia nói như van xin, nó cũng không cho, dù một gói nhỏ. Báo hại, buổi chiều đó, cả trại phải ăn bữa chè, ngọt lẫn mặn, nào đường, nào mắm ruốc, tôm khô, lạp xưởng, hầm bà lằng! Những anh bị mất quà, mặt như chiếc mền rách. Một buổi, không hiểu sao, nó tâm sự với hai tên tù chuyên ở nhà làm vệ sinh và đổ thùng phân.
– Tôi nghe mẹ tôi nói lại, khi còn con gái, nhà nghèo, phải đi ở đợ cho một điạ chủ. Tên địa chủ này đã hãm hiếp mẹ tôi, sinh ra tôi. Tôi sinh ra đời trong chiếc chuồng trâu, đúng vào ngày 19-8-1945, ngày Cách Mạng nổi lên cướp chính quyền. Đến năm cải cách ruộng đất, tên địa chủ bị đấu tố chết. Mẹ tôi cũng chết trong cuộc oanh tạc của B52 ở khu phố Khâm Thiên. Đến tuổi nghĩa vụ, tôi xin vào ngành Công An phục vụ tới hôm nay.
Câu chuyện này chẳng biết đúng hay sai, nhưng chỉ biết nó ghét tù miền Nam lắm, đặc biệt là tôi. Có lẽ tôi giống tên địa chủ đã hãm hiếp mẹ nó khi trước chăng?
– Các anh ngồi làm gì đây?
Duy Lam trả lời:
– Tôi làm nhà bếp, hôm nay phiên nghỉ, sang thăm anh bạn đau!
– Anh xin phép ai chưa?
– Chưa!
Tên Hồng quát:
– Về ngay, còn anh kia, liệu hồn!
Nhưng nó cũng không làm khó được bao lâu, mấy hôm sau, tôi biên chế qua buồng khác.
Vấn đề biên chế xẩy ra luôn, nên anh em coi như chuyện thường. “Chuồng” nào cũng là “chuồng”, lao động nào chẳng là khổ sai ! Chúng tôi chuyển qua buồng mới, gặp một số anh em mới! Công tác vẫn đào kinh ngày 8 tiếng, với chỉ tiêu rất nặng. Trời nắng như đổ lửa, chúng tôi mỗi người phải đào 1 thước khối đất. Kẻ xắn, người chuyền đất lên bờ đắp thành một con đê cao 4 thước, mặt đê rộng 5 thước, chân đê 8 thước. Tên Thắng, Công An quản giáo mới, cũng thuộc loại hắc ám. Nó bắt anh em làm đúng chỉ tiêu, nếu chưa xong, làm tới xong mới được về. Chúng tôi bàn nhau làm từ từ bao giờ xong cũng được. Do đó, Đội tôi lao động đến tối mới được về. Cũng vì thế, tên Công An quản lý lao động và tên Công An vũ trang cãi lộn. Tên vũ trang lo giữ tù, mong hết giờ đi về, còn ra Ba Sao chơi. Nếu tù chưa về, nó phải chờ, tức lắm. Chiều hôm sau nghe kẻng tan tầm, nó xuống bãi cho lệnh tù đi về, dù chưa đạt chỉ tiêu. Tên Thắng không biết sao hơn đành nghe theo, vì thấy tên vũ trang cầm ngang cây AK như sẵn sàng nổ súng, nếu lệnh nó ra không ai thi hành.
Vì trời quá nắng, giữa cánh đồng trống, chúng tôi làm những chiếc lều, cắm 4 cành cây làm cột, trên phủ miếng nylon thường dùng thay áo mưa làm mái. Nhưng nylon bắt nắng, ngồi dưới, nóng không chịu được, nhất là buổi trưa, vì lúc này chúng tôi làm thông tầm. Vài người đi cắt cỏ để che, thấy tốt, ai nấy làm theo. Chỉ trong thời gian ngắn, hai bên bờ kinh đầy chòi. Mỗi lần nghỉ giải lao, anh em ngồi lì trong lều không chịu ra lao động, hoặc ra muộn, ngại nắng và đỉa. Cứ như vậy kéo dài được ít lâu! Cho đến một buổi sáng thứ hai, khi ra tới nơi, cả khu chỉ còn lại đống tro đen kịt. Tụi Công An đã đốt hết để tù khỏi núp, tránh né lao động.
Năm nay trại thường phải đón tiếp khách ngọai quốc đến thăm. Có khi, thành phần thuộc hội Tranh đấu Nhân Quyền Quốc Tế, có khi các thành viên của hội Ân Xá Quốc Tế, có khi phái đoàn báo chí thuộc các nước “Cộng Sản anh em!”. Mỗi lần như vậy, Ban Giám Thị lại đưa tù đi trốn dưới chân núi. Tù bệnh được đưa vào Trại tù hình sự ở cách đó khoảng 1 cây số, chờ khi nào phái đoàn đi khỏi, mới được về. Những ngày đó, bộ mặt Trại khác hẳn. Khu Đại Tá được trải chiếu mới, rộng rãi, ngăn nắp. Các quần áo “xi-vin” của tù được mang phơi đầy sân, bao nhiêu quần áo rách phải đem cất hết. Ngoài chiếc vườn hoa và hòn non bộ, những năm trước nghe nói, trại còn mua những chiếc lồng chim hoàng yến treo lơ lửng nhằm đánh lừa sự quan sát của khách viếng thăm trại tù.
Căn buồng giam 100 người, nay chỉ bày có 50 cái mền, 50 cái chiếu mới, trông rất rộng rãi. Lại còn một toán chơi bóng chuyền, người nào cũng béo tốt khỏe mạnh, đánh bóng huỳnh huych, ai bảo tù thiếu ăn và bị áp chế? Nếu phái đoàn thăm vào buổi trưa, họ còn được ăn uống đàng hoàng. Cơm canh 4 món, có đồ tráng miệng như ở nhà. 4 người 1 bàn, rất lịch sự! Còn một toán, ăn mặc đàng hoàng ngồi đọc sách tại “nhà văn hóa” với các kệ sách sạch sẽ, sơn xanh, đỏ tùm lum, có cả mấy lọ hoa tươi tốt cho tăng phần mỹ thuật. Thêm vào đó, còn có một ban nhạc với kèn trống, tân cổ giao duyên, hát hỏng ầm ĩ. Đó là tụi “cò mồi”. Ban Giám Thị dùng họ cho việc lừa bịp này. Ngoài ra, còn có những con “cò mồi” khác được huấn luyện trước, để trả lời những câu hỏi của phái đoàn. Tụi Cộng Sản có thông dịch riêng. Tù nếu được hỏi, phải trả lời bằng tiếng Việt, dù có biết tiếng Pháp hoặc Anh… Nơi bệnh xá, mỗi bệnh nhân 1 giường, trên chiếc kệ đầu giường có để một hộp sữa, lọ đường. Người bệnh nào cũng hồng hào, các tù bệnh thiệt đã được giấu đi. Khi khách ra về, đường, sữa được thu lại, bệnh nhân lại nằm trơ trên chiếc giường gỗ, mỗi bữa nhận 1 chén cơm trắng với muối. Trại có gần 2,000 tù, khi được hỏi, tụi Công An đã trắng trợn trả lời, hiện tại chỉ còn giam giữ hơn 200 người, thuộc loại lính mũ xanh, mũ đỏ, có nhiều nợ máu với nhân dân, rất khó cải tạo, do dó, cần một thời gian nữa, rồi sẽ tha hết. Khách chỉ có quyền đi thăm nơi nào chúng cho đi, nhưng vì cảnh giác, tụi Công An bắt tất cả những buồng khác có đồ đạc, quà bánh để ở ngoài hiên, hoặc trong nhà ăn, cùng quần áo đang phơi, phải mang hết vô buồng khóa cửa lại, coi như buồng bỏ trống, không người ở.
Nhà nhạc học Trần văn Khê đã có lần đến thăm trại tù này. Ông cùng đi với một số người. Tôi không rõ họ thuộc phái đoàn nào? Chẳng biết ông Khê nghĩ gì, khi chính những người đang bị giam giữ tại đây, đã từng chiến đấu, để cho ông trở về quê nhà thăm lại gia đình ông một cách an toàn trong những năm còn chinh chiến. Nhưng nhục nhã hơn cả, có lẽ, là lần thăm Trại của đoàn hát cải lương từ miền Nam ra Bắc trình diễn. Khi ghé qua Phủ Lý, tụi Công An mời vô hát giải trí cho Ban Giám Thị và tụi Công An toàn trại, làm anh em tù từ Đại Tá đều phải đi trốn cả ngày dưới chân núi. Các nam nghệ sĩ khi trước, đa số thuộc lính của ngành Chiến Tranh Chính Trị và các nữ nghệ sĩ phần đông cũng ăn lương dân chính của ngành ấy. Thời tiết đã thay đổi, mùa nắng đã qua với những ngày và đêm dài đổ lửa. Không những ở nơi không có bóng mát, mà còn nóng từ trong nhà nóng ra, cái gì cũng nóng. Chiếc sàn xi-măng tôi ngủ mỗi tối cũng nóng. Ở đây, không phải nằm đất, mà nằm trên bệ xi-măng xây dài như chiếc giường tập thể. Chỗ ngủ của mỗi người rộng khoảng 6 tấc. Vì chỗ nằm quá hẹp nên tối nào cũng có tiếng to, nhỏ về sự lấn qua, lấn lại giữa người nọ kẻ kia về chỗ ngủ. Căn buồng, trên nguyên tắc chỉ chứa khoảng 50 người, nay nó phải chứa một con số gấp đôi, có khi hơn nữa, nên phải lót thêm ván bắc qua 2 đầu sàn gác, chỉ để hở vài khoảng nhỏ thông hơi. Mùa nắng mỗi khi vào buồng, hơi người xông lên nồng nặc, mùi mồ hôi quyện với khói thuốc tạo nên mùi khó ngửi.
mạnh hải flickr
Xung quanh vách tường toàn máu rệp, khi còn mới mầu máu đỏ tươi, lâu ngày thâm xịt. Rệp rất nhiều, giết không xuể, mỗi sáng, mang mùng ra sân, bắt ít nhất cả mấy chục con lớn nhỏ. Không phải một sáng mà sáng nào cũng vậy. Tường mới quét vôi chưa đầy một tháng, màu vôi đã biến mất, trên mặt tường toàn những vệt máu kéo dài, trông gớm ghiếc. Chỗ nào có tù thì có rệp. Cái định luật ấy hầu như bất di dịch. Nơi nào mới xây cất chưa có, nhưng chỉ ít lâu sau, rệp đầy. Mỗi sáng chủ nhật, anh em đều bắt rệp, nhưng vô ích vì không có cách nào có thể giết được hết những con rệp chúi trong khe cột và vách tường, trừ phi đốt trọn căn nhà. Có anh chăm giết rệp, ngay nào cùng tảo thanh mùng, mền, chiếu v.v…. nhưng không hiểu sao tối nào anh cũng bị rệp đốt tơi bời? Một buổi vô tình anh mở chiếc hộp nhỏ để đầu giường, đựng những thứ lặt vặt và thư từ, anh bỗng giật mình vì bên trong chiếc hộp rệp bu kín. Đủ các loại rệp: ông bà, cha mẹ, anh em, con cháu nhà rệp, trú ẩn an toàn trong chiếc hộp từ bao lâu rồi không hay, nên tuy chăm sóc các thứ kia, không ngờ rệp mỗi đêm bò từ chiếc hộp để ở đầu giường ra đốt!
Thấy vậy, tôi sợ quá, vội mang chiếc gối nhỏ mở dây ra coi. Trời đất ơi! cả gia tộc nhà rệp bâu kín ở hai đầu chiếc gối có phần đông hơn chiếc hộp của anh bạn tù. Sợ quá, tôi đành vứt luôn chiếc gối vào lò lửa để trả thù! Rệp, một đại họa đối với tù. Ban ngày lao động mệt nhọc, tối lại khó ngủ vì rệp đốt. Do đó, sức khỏe hao mòn!
Mùa mưa năm nay, tương đối ít. Cả những trận bão liên tiếp thổi tới miền Bắc Việt Nam cùng vừa phải, gió cấp 7 cấp 8 là cùng, nên không gây thiệt hại nhiều. Cánh đồng năm ngoái trắng xóa nước, mùa mưa năm nay chưa ngập bờ, chứng tỏ mực nước không cao. Con đê “thủy lợi”, do cả ngàn người lao động mỗi ngày, quá nửa năm nay, cũng chưa dài bao nhiêu, khoảng trên 1 cây số là cùng. Mỗi ngày đều có người đi đo số khối đất được đắp lên để xem khả năng tiến triễn. Nhưng kết quả cũng chẳng lấy gì khả quan. Tù cứ ì ạch làm cho qua ngày, đến đâu hay đến đó!
Vấn đề thăm nuôi năm nay tương đối tấp nập, nhung không phải ai cũng có. Còn rất nhiều anh em chưa được thăm nuôi, ngay cả gói quà 5 kí cũng không. Do đó, vẫn còn nhiều người đói! Mỗi phần bo bo giá từ 1đ50 tới 2đ tùy theo ngày. Trong buồng tôi, có anh ăn bo bo rất giỏi, có thể ăn hết 3 phần bo bo một cách ngon lành ! Vì quá đói, con người thường có ảo tuởng, nghĩ mình có thể làm được những gì mà thực tế sức người không thực hiện nổi. Tối hôm trước trong buồng, có cuộc thi ăn bo bo. Người ăn không mất gì cả, miễn ăn hết 3 phần bo bo vỏ trong khoảng thời gian từ lúc kẻng gõ vô “chuồng” tới giờ kẻng ngủ, độ 2 tiếng. Nếu ăn hết trong khoảng thời gian ước hẹn đó, người ăn được cuộc, ăn no mà khỏi phải trả tiền. Nếu thua, chỉ phải trả tiền 2 phần bo bo thôi! Người ăn thi, vốn không to lớn lắm, nhưng tin vào sức ăn của mình, nên nhận cuộc. Anh là một, trong những người chưa có thăm nuôi, hay quà 5kí.
Khi đã vô “chuồng” hết, cuộc thi ăn bắt đầu. 3 phần bo bo được bầy trước mắt với chén muối trắng. Anh ngồi xếp chân bằng tròn, trông như vị tu sĩ nhập thiền. Anh bắt đầu ăn từ từ, vừa ăn vừa cười nói. Hai hàm răng nhai liên tục, nuốt ngon lành từng muỗng bo bo đầy tràn. Xung quanh, anh em cổ vũ trong đó có cả người bỏ tiền ra mua bo bo đánh cuộc. Sự thực, đây chỉ là trò giải trí cho vui vì ai cũng tin, anh nhận cuộc sẽ ăn ngon lành 3 phần bo bo, như đã từng ăn. Thời gian qua lạnh lùng. Chiếc lon đựng bo bo vơi dần, vơi dần. Mọi người có mặt chăm chú theo dõi. Lon thứ nhất đã hết, lon thứ hai cũng vơi quá nửa. Hàm răng nhai đều đều làm ai nấy có cảm tưởng như anh còn đói lắm. Lon thứ hai hết, qua lon thứ ba, lon chót của cuộc thi. Những muỗng bo bo cứ được xúc từ từ đưa lên miệng. Cho mãi đến lúc này, anh mới uống chút nước. Có tiếng nói thì thầm:
– Bỏ cha, bữa nay uống nước, chắc ngán rồi!
Nhưng không, anh vẫn nhai đều và tủm tỉm cười như thách đố, để mọi người tin mình đủ sức ăn lon thứ ba, nếu cần, có thể ăn lon thứ tư.
Lon bo bo cuối đã vơi già nửa. Đây, những miếng cuối cùng của cuộc thi. Sự thắng bại chỉ còn trong vòng mười lăm phút. Mọi người đều nghĩ, anh sẽ ăn hết trước giờ kẻng ngủ nhiều. Đây cũng là một kỷ lục ăn bo bo nhanh. Nhưng không, tự nhiên anh trợn trừng mắt, mặt đỏ ửng như tắt thở, nằm lăn quay ra chiếu, tay chân xuội lơ, trong lúc lon bo bo còn chừng 1/5.
Mọi người sợ quá, vực dậy, người xoa bụng kẻ bóp tay chân, nhưng anh vẫn nằm như xác chết. Có tiếng nói:
– Khều ngón tay vô miệng, móc cho mửa bo bo ra!
Một người làm theo. Khi ngón tay vừa rút, anh ói hết một phần bo bo còn nguyên hạt ra khỏi miệng, rồi lại nằm vật xuống chiếu, trong lúc tiếng kẻng báo ngủ từ ngoài vọng vào! Như vậy, anh thua cuộc.
Từ bữa đó, anh sợ bo bo, tuy không phải trả ngay tiền thua cuộc. Người thắng cho anh mắc nợ!
Bo bo là loại lương thực rất khó tiêu hoá. Ăn nó bao nhiêu đi cầu bấy nhiêu. Do đó, khi nào ăn bo bo, anh em nói ngay câu: nhà cầu là bạn ta! Người nào răng tốt, ăn vô còn tiêu hoá phần nào. Ai già nua mất răng, coi như nhịn đói!
Chương 18 Như ánh sáng ban ngày thay màn đêm tăm tối, buổi sáng hôm sau cũng đến với tôi như thế. Tôi được chuyển sang phòng khác, có cửa sổ và những tia nắng sớm rạng rỡ tràn vào phòng. Tôi mở cánh cửa sổ, cho bầu không khí mùa xuân trong trẻo vào phòng. Trước cửa sổ là một thung lũng sâu, dựng đứng về phía đối diện. Buổi sáng hôm ấy, hoa lá mới màu sắc làm sao! Xa xa, tôi thấy những người leo núi, gió đưa tiếng trò chuyện của họ vọng đến nơi tôi. Tôi thèm hét lên với họ, nhưng rồi thôi vì không muốn làm Li Ok tỉnh giấc. Một xấp báo buổi sáng được nhét qua cửa ra vào cho tôi. Tôi xem các trang đầu. KIM HYUN HEE ĐƯỢC ÂN XÁ! những tựa đề báo được in hoa như thế. Tôi rất mừng vì như thế, tin tôi được ân xá đã được củng cố. Nhưng tôi sợ, không dám đọc các bài báo. Ngày hôm ấy, chúng tôi tới Công viên Lớn tại Hán Thành, nơi đông nghịt học sinh và các đoàn du khách. Bữa nay, tôi cảm thấy vui vẻ khi được hòa mình vào đoàn người. Tôi không còn cảm thấy lạc lõng ở đây. Tôi đã thuộc về nơi này. Đó là một cảm giác hạnh phúc không thể tả nổi! Gần chỗ chúng tôi, một nhóm các bé gái đang chơi đùa. Tôi ghen tỵ nhìn các em, rồi quay sang bảo Li Ok: – Thời xưa, tôi cũng từng chơi những trò như thế này đây… Có điều, về sau, Kim Chính Nhật đã cấm tiệt những trò chơi ấy, mặc dù chúng vui nhộn hơn rất nhiều so với khi chúng tôi vừa chơi vừa phải hát những bài hành khúc kiểu “Tiến lên! Tiến lên! Đội quân Triều Tiên! Giết sạch lính Mỹ!” Chúng tôi vào một viện bảo tàng. Đúng như tôi chờ đợi, bảo tàng ở đây khác hẳn ở miền Bắc. Già nửa số tác phẩm được trưng bày đều có đề tài đặc tả thân thể khỏa thân, và điều là điều cấm kỵ ở Bắc Triều Tiên. Tôi nhớ lại một bộ phim được chiếu cho chúng tôi, những điệp viên, để giới thiệu nền văn hóa đồi trụy, bệnh hoạn phương Tây. Các nghệ sĩ đổ màu vẽ lên thân thể không còn mảnh vải của họ rồi nằm lăn ra vải. Khi chiếu những cảnh tượng như thế, người ta chờ đợi ở chúng tôi những nhận xét kiểu: “Quả thực, đây là thứ thế giới chó má!” Nhưng bảo tàng này thì thật là muôn vẻ và thú vị. Chẳng mấy chốc, Li Ok và những người khác đã mệt mỏi và ra ngồi trên một chiếc ghế, nhưng tôi còn thích thú đi xem phải đến ba tiếng nữa. Tôi muốn xem hết tất cả! Cuộc sống mới của tôi bắt đầu hình thành, từng bước một. Mặc dù, sự thật là tôi được “tự do”, nhưng tôi vẫn phải ở lại Nam Sơn trong một thời gian. Tình báo Nam Hàn phát hiện ra rằng các điệp viên miền Bắc ở Hán Thành được lệnh phải giết tôi, nghĩ là tôi sẽ gặp nguy hiểm nếu không có ai bảo vệ. Và tôi cũng muốn điều này. Tôi chuyển sang phòng mới, có TV và nhóm Nak Yong, Sengju và Li Ok vẫn ở cùng tôi. Hơn nữa, tôi bắt đầu học Thần học cùng cha Han, trong thời gian diễn ra vụ án ông đã tìm gặp tôi vài lần và dạy tôi một số đoạn “Thánh Kinh”. – Con ạ, một cuộc sống mới đang mở ra với con – một bữa, ông nói với tôi khi chúng tôi đi dạo bên sườn đồi gần Nam Sơn. Nhóm điệp viên đi sau chúng tôi vài bước để phòng hậu họa. – Tại sao con không tuyên thệ trong Hội Thánh của cha? Chúng ta rất vui mừng được có thêm con. – Ôi, cha ơi, con không làm được điều đó đâu! – tôi bối rối đáp. – Con không xứng đáng. Cho dù được ân xá, nhưng cả cha và con đều biết rằng con tội lỗi mà… – Tất cả chúng ta đều có tội, Hyun Hee ạ. Mặt khác, theo cha, con chính là một bằng chứng sống về những phép màu của Đức Chúa trời, nếu con muốn biết sự thật. – Nhưng, cha ơi… làm sao để tuyên thệ? – Đơn giản, con chỉ việc tuyên bố trước mọi người, rằng con trở về với Đức Chúa trời, ơn Chúa, người đã chỉ cho con sự tha thứ. Con hãy nói với mọi người rằng con muốn theo Thiên Chúa giáo và con tin vào sự khoan dung của Đức Chúa trời. Rất đơn giản! Tôi ngẫm nghĩ trong khi đi dạo. Như tôi đã nói, ở miền Bắc, tôn giáo bị khinh thị và giễu cợt. Nhưng đối với tôi, những đoạn “Thánh Kinh” mà cha Han dạy cho tôi đã vô cùng có ý nghĩa. Tôi biết rõ rằng can bản của Thiên Chúa giáo không phải là khoa học, mà là đức tin, nhưng “Thánh Kinh” đã đi vào lòng tôi, cho dù tôi không phải người phương Tây. Bắt đầu, tôi cảm thấy bàn tay Chúa trong tất cả những gì xung quanh tôi, và tôi dễ chịu khi được gọi mình là người Thiên Chúa. Bên cạnh đó, tôi cảm thấy mình không xứng đáng với tình yêu thương của Đức Chúa và dù thế nào đi nữa, tôi cảm thấy không đủ sức lực để nói trước một cử tọa. Có điều, cha Han đối xử rất tốt với tôi. Không bao giờ ông phán xét, mà luôn cho tôi hy vọng. Hơi sợ sệt, nhưng tôi nhận với cha rằng sẽ tuyên thệ. Cha Han mừng lắm và chúng tôi chọn ngày 16 tháng Năm. Đến hôm ấy, Li Ok ra ngoài và mua cho tôi một bộ vét nữ hợp thời trang, nhưng thoạt đầu tôi không dám mặc vì chiếc váy hơi ngắn. Nhiều lần tôi đã được nghe mọi người bảo rằng tôi đẹp, nhưng không bao giờ tôi tin. Tôi không tin mấy vào tính dục của tôi, vì tôi đã phải bóp nghẹt nó trong đa phần khoảng đời đã sống. Sự hấp dẫn thể xác, với tôi, là hoàn toàn bí ẩn. Nhưng Li Ok khích lệ tôi cứ mặc bộ vét đó đi. Khi thay xong, Nak Yong bước vào và ông kinh ngạc nhìn tôi. – Cô làm tôi hoa mày chóng mặt đấy! – Nak Yong nói đùa. Tôi mỉm cười. Nak Yong năm mươi tuổi, điển trai và hiện độc thân. Ngoài ra tôi không biết gì mấy về ông. Lời khen của ông khiến tôi dễ chịu, nhưng cũng làm tôi bối rối và không biết phải trả lời ra sao. Chúng tôi tới nhà thờ. Đường đông nghịt, chỉ thiếu chút nữa là chúng tôi đến chậm. Cha Han bảo tôi chờ ở ngoài, trong một căn phòng, để ông giới thiệu tôi trước với mọi người đã, và ông còn cỗ vũ tôi một chút trước khi tôi bước vào nhà thờ. Rồi tôi cũng được giới thiệu và được chào đón bằng những tràng vỗ tay nồng nhiệt, khiến tôi ngạc nhiên thực sự. Nhiều ký giả cũng có mặt tại nhà thờ, nhưng tôi không cảm thấy khó xử. Đứng trước bục, cổ họng khô rang, tôi hắng giọng và mãi mới cất được lời. – Xin chào quý vị. Câu nói của tôi vang vọng trong nhà thờ và đột nhiên, tôi cảm thấy như mình được nhân lên gấp bội. – Đức Chúa trời đã cho tôi thấy những công việc trọng đại và những phép màu của Người – tôi mở đầu và sau đó, đọc bài phát biểu đã viết sẵn cho dịp này. Khi tôi kết thúc, cử tọa cùng đồng thanh nói “Amen”, và nhiều thành viên Hội Thánh đã bật khóc. Tôi bị lôi cuốn khi chứng kiến sự tha thứ như thế và trong lòng tôi, rộn lên một sự biết ơn: Đức Chúa trời đã cho tôi đến được Hội Thánh của Người và trở thành chỗ dựa cho tôi trong cuộc đời mới. Sự kiện khiến tôi kinh ngạc nhất – và cũng vui mừng nhất đối với tôi – kể từ ngày tôi bị bắt, đã diễn ra chỉ sau đó vài bữa. Một tối nọ, Nak Yong nhào vào phòng tôi khi tôi đang mê mải ngắm cảnh hoàng hôn trong ánh trời tím ngắt và thích thú với làn gió đang mơn man khuôn mặt tôi. Mặt trời đang xuống bao phủ sườn đồi đầy hoa phía đối diện trong vầng sáng ấm áp của nó và tôi cảm thấy vui mừng vì được sống. – Cô xem tấm ảnh này nhé – ông ấn vào tay tôi một bức ảnh. – Có nhận ra ai ở đó không? Tôi xem kỹ tấm ảnh đen trắng và sửng sốt. – Trời ơi! Ông kiếm được nó ở đâu vậy? – Nghĩ là cô có nhận ra? – Nak Yong mừng rỡ. – Tất nhiên rồi! – tôi nói. Đó là tấm ảnh lớp mẹ tôi, chụp khi bà còn học phổ thông; tôi đã được thấy nó nhiều lần khi ở nhà. Ngay lập tức, ánh mắt tôi tìm mẹ và tôi hình dung như chúng tôi lại sum họp cùng nhau. Mắt tôi ứa lệ. Tôi nhớ mẹ biết chừng nào! – Ông kiếm tấm ảnh này ở đâu? – tôi hỏi lại Nak Yong, lòng rưng rưng. – Đây, đây – Nak Yong cười. – Một câu chuyện thú vị đấy. Có lẽ cô có họ hàng ở Hán Thành đấy, Kim tiểu thư ạ!
Ngày 21 tháng 7 năm 1989. Chúng tôi đến dự một cuộc hội họp tại Nhà Hội đồng Năm tỉnh phía Bắc. Sẽ có nhiều nhà báo tham dự, nhưng tôi không quan tâm. Người ta tìm thấy một người đàn ông tên là Im Qanho, dường như là em họ của ông ngoại tôi. Khi tới nơi, tim tôi đập loạn xạ. Vào phòng, tôi không hề để tâm đến nhóm phóng viên đang ở đó, và cũng không buồn đáp những câu họ hỏi. Tôi chỉ chủ tâm tìm kiếm ông. Và khi ấy, tôi đã thấy ông. Trong một khoảnh khắc, tôi tưởng tôi thấy bác Qan Shik, em trai của ông tôi. Ông cũng nhận ra tôi, vẫy tôi, nhưng dễ thấy là chúng tôi còn chưa được tự do trò chuyện với nhau, nhiều cảnh sát cũng có mặt trong phòng và họ muốn chắc chắn rằng Im Qan Ho quả thực là thân nhân của tôi. Một vài câu hỏi về tung tích gia đình chúng tôi được đặt ra, nhưng tôi chả cần một bằng cứ nào khác nữa, Qan Ho giống hệt bác Qan Shik của tôi! Khi đã xong các thủ tục hình thức, tôi chạy đến và ôm chặt ông. – Ông, sao ông lại tìm cháu? – tôi khóc nức nở. – Ông biết là lẽ ra, ông không cần phải thế mà. Ông sẽ bị dư luận xì xào, sao ông lại làm thế? Ông đang rơi nước mắt, nhưng rồi bật cười khi nghe tôi hỏi. – Làm sao ông làm khác được? Chúng tôi được đưa sang phòng khác để khỏi bị nhóm ký giả quấy rầy. Qan Ho giới thiệu người chị gái và các con ông, lúc đó đang đứng đấy chờ. Sau khi chào hỏi, chúng tôi ngồi xuống ghế và Qan Ho bắt đầu câu chuyện. – Hyun Hee, ông ngoại cháu là một nhà văn có tiếng, đồng thời cũng là một trong những người khá giả nhất vùng Kaesong. Nhà của ông có tới bảy mươi phòng. Cháu cũng biết đấy, sau chiến tranh, Kaesong bị miền Bắc chiếm và cố nhiên, người ta tước hết tài sản của ông ngoại cháu. Nhưng có mấy người trong gia đình chạy được xuống miền Nam. Mẹ cháu, vốn là một vũ nữ tuyệt vời, theo học Trường Trung học Houston, là một trường nữ thục Thiên Chúa giáo. Tấm ảnh mà cháu được thấy là do cô Kim Bong Suk, một bạn học cũ của mẹ cháu, còn giữ được. Tôi rất ngạc nhiên khi nghe chuyện. Cố nhiên tôi hiểu ngay rằng tại sao mẹ tôi lại giấu kín những điều này. Tất cả những gì ông tôi kể, đều là tội lỗi trong mắt chính quyền miền Bắc: Đạo Thiên Chúa, của nả, trốn xuống miền Nam… Nhưng tôi cảm động vì mẹ tôi cũng từng theo Thiên Chúa giáo. Tôi nhớ, hồi còn nhỏ xíu, tôi bị một căn bệnh truyền nhiễm có thể gây liệt ở trẻ em, nhưng rồi kỳ diệu thay, tôi khỏi bệnh. Trong nhiều ngày liền, mẹ tôi đã cầu nguyện: – Đức Chúa trời đã giúp con. Đức Chúa trời đã rủ lòng thương chúng ta! Chỉ đến giờ tôi mới hiểu bà muốn nói điều gì! Chúng tôi trò chuyện nhiều giờ liền về cuộc sống của nhau. Ông tôi mừng rỡ khi được tin về cha mẹ tôi và chị em tôi, còn tôi thì hạnh phúc vì tìm được thân nhân tại xứ sở tôi lựa chọn (và cưu mang tôi). Cố nhiên, những bóng mây u ám vẫn bao quanh cuộc hạnh ngộ vì gia đình tôi còn sống ở miền Bắc, trong ách nô dịch của một thể chế độc tài. Hôm ấy, tôi quyết định sẽ tận dụng sự tự do mà tôi vừa được hưởng cho mục đích cao cả nhất. Ở mọi nơi và vào mọi thời điểm có thể, tôi sẽ lên tiếng vạch trần Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật. Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể cho sự nghiệp thống nhất Triều Tiên – nhưng từ một phía khác. Tôi sẽ đi nói chuyện, trả lời phỏng vấn, sẽ vạch trần Bắc Triều Tiên và những ông chủ của nó. Tôi đã đi nhiều nước: Nga, Hungary, Ý, Trung Quốc và những nơi khác. Và không ở đâu, tôi thấy người dân cùng khổ như tại Bắc Triều Tiên. Kim Nhật Thành và gia đình ông ta đã dùng bạo lực để chế ngự người dân miền Bắc, tước đoạt của họ nền văn hóa dân tộc, cũng như cơ hội được sống tự do và hạnh phúc. Họ đã chia cắt dân tộc và gây ra những tổn thất không gì bù đắp nổi cho nhân dân. Đây quả thực là một tấn thảm kịch ở mức độ khủng khiếp! Như vậy, trong ngày hôm ấy, tại Hán Thành, tôi đã được ngồi bên những người thân bằng xương bằng thịt. Chúng tôi trào nước mắt vì sung sướng và sầu muộn. Bởi lẽ, gặp được nhau, nhưng đại gia đình vẫn chưa toàn vẹn. Chúng tôi không thể ngồi yên, một khi vẫn còn vực thẳm ngăn đôi Bắc và Nam. Chỉ có thể gắng sức và hy vọng, rằng sẽ có một ngày, gia đình chúng tôi – cũng như mọi gia đình Triều Tiên – rốt cục sẽ đoàn tụ bên nhau. Lời Bạt Ba Mẹ Yêu Quý Của Con! Lá thư này con Hyun Hee viết cho ba mẹ đây ạ. Vâng, con vẫn sống và khỏe mạnh, cho dù khó tin bao nhiêu đi nữa, chắc hẳn ba mẹ đã nhận ra chữ của con. Con hình dung được rằng ba mẹ sẽ ngạc nhiên đến mức nào nếu (và khi) ba mẹ đọc lá thư này. Đã ba năm trôi qua kể từ ngày con được thấy ba mẹ lần cuối. Từ dạo ấy, ngày nào con cũng khóc khi nghĩ đến ba mẹ. Nhiều lần con tỉnh giấc và đầm đìa nước mắt vì trong giấc mơ, con được sum họp cùng ba mẹ, và rồi con lại phải đối mặt với hiện thực, rằng con vẫn phải xa ba mẹ. Ba mẹ yêu thương! Con biết rằng là con gái đầu lòng của ba mẹ, con đã không phải là đứa con ngoan. Con đã phạm nhiều sai lầm. Sau khi chia tay với ba mẹ và con sang Quảng Châu, Trung Quốc, con đã được nhận một nhiệm vụ được coi là vô cùng quan trọng đối với đất nước ta. Vì thế, không bao giờ con được về thăm ba mẹ. Ngay cả rời sân trại huấn luyện con cũng không được phép. Sau khi đưọc Đảng lựa chọn, trong nhiều năm con được dạy dỗ để trở thành một điệp viên mật của cơ quan do thám. Trong vai trò ấy, con đã khi cả nửa vòng địa cầu. Và sau lần ở Quảng Châu, con được nhận nhiệm vụ làm nổ một chiếc máy bay Nam Hàn. Mục đích của chiến dịch này là để Hán Thành không được tổ chức Thế vận hội 1988 và đất nước được thống nhất. Như ba mẹ cũng biết, chúng ta đã không đạt được một mục tiêu nào trong số hai mục tiêu trên. Cái nhiệm vụ mà người ta làm con tin rằng vô cùng quan trọng đối với đất nước chúng ta, rốt cục, đã khiến con xiết bao hổ thẹn và để lại cảm giác tội lỗi trong con chừng nào con còn sống. Bởi lẽ, một phần của nhiệm vụ ấy đã thành công: máy bay bị nổ và 115 hành khách thiệt mạng. Vài ngày sau, con bị các điệp viên Nam Hàn bắt giữ và đưa về Hán Thành. Ở đây, con đã khai hết và bị ra tòa, rồi bị tuyên án tử hình. Thật như một phép màu, nhưng mới đây con được biết rằng, con đã được ân xá. Và bây giờ, như người ta nói, con là “người tự do”. Làm sao con giải thích được điều này cho ba mẹ? Làm sao con giải thích được rằng tất cả những gì con từng được học tại miền Bắc đều là dối trá? Nam Hàn là một xứ sở tuyệt vời và nền kinh tế của đất nước này có thể chạy đua với Hoa Kỳ, Nhật và Châu Âu bất cứ lúc nào? Và, cho dù có cố gắng thế nào đi nữa, con cũng không thể phác thảo nổi về tầm phát triển ở đây. Ở miền Nam, bất cứ hộ gia đình bình thường nhất cũng có tivi màu, video, điện thoại, tủ lạnh và nhiều gia đình thì có xe hơi. Rất khó tìm được gia đình nào tại đây mà việc đảm bảo ba bữa ăn hàng ngày lại gặp khó khăn, như điều thường thấy ở miền Bắc! Tại đây, người dân sống tự do đến nỗi thoạt đầu, con không sao hiểu nổi làm sao có thể lãnh đạo được một đất nước mà tại đó, lại có ngần ấy ý kiến và hệ tư tưởng đồng thời tồn tại bên cạnh nhau. Vậy mà đất nước ấy lại vẫn hoạt động! Con nghe các du khách Nga bảo rằng Nam Hàn là thiên đường hạ giới. Và tại đây, mọi người đều mong ước thống nhất đất nước và dân tộc. Bản thân con mong mỏi điều ấy đến nỗi đã để mình bị dắt mũi, đã thực hiện một hành động sát nhân và kinh tởm và giờ đây, đến cuối đời, tay con đã dính máu của 115 con người vô tội. Tại mảnh đất này, người dân rất cảm thông với con, họ bảo: “Đây không chỉ là tội của cô. Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật, những kẻ đã đưa ra chỉ thị, mới phải chịu trách nhiệm”. Vâng, con không thể trả lại những người đã qua đời cho thân nhân của họ, nhưng cách đối xử thân tình của người dân ở đây giúp con hiểu rằng, cho dù con đã nói và dã làm nhiều việc khủng khiếp, nhưng con không phải loại ác quỷ nhẫn tâm. Con vừa được đọc về một người tên là Kim Manchol, đã cùng gia đình trốn từ miền Bắc bằng thuyền ỏ vĩ tuyến 38. Con ghen tị với họ và con muốn, ba mẹ cũng sẽ ở đây cùng con. Mẹ ạ, con có một bất ngờ dành cho mẹ. Con đã gặp họ hàng đằng ngoại mình. Mới đây, con được gặp ông Qan Ho và làm quen với Hwang In Suk, Hwang Mun Suk, Hwang Yun Suk và Kim Bong Suk. Con được quý mến như thành viên trong gia đình và từ hôm ấy, con thường qua thăm họ. Như thế, con đỡ cảm thấy cô đơn hơn, và gia đình ông cũng rất mong được gặp ba mẹ. Giờ đây, hai nước Đức đã thống nhất, con rất hy vọng rằng thời của dân tộc mình cũng không còn xa xôi. Và nếu ngày ấy đến, con sẽ hạnh phúc chừng nào khi được gặp lại ba mẹ, khi cả gia đình lại đoàn tụ. Bên trên những áng mây tăm tối luôn là những vì sao lấp lánh, và những hạt giống sống động trong lòng đất đóng băng cũng luôn chờ dịp để đâm chồi. Chúng ta không được đánh mất niềm hy vọng. Có cả ngàn điều muốn kể với ba mẹ, nhưng con phải dừng bút ở đây. Nhớ ba mẹ vô cùng! Gửi ba mẹ bao tình thương từ Hán Thành, Con gái đầu lòng của ba mẹ, Kim Hyun Hee.
Tháng Năm năm 1991 Ghost-writer for Kim Hyun-hee, the former North Novelist Noh Soo-min, 59, revealed that she was the ghost-writer of the autobiography of Kim Hyun-hee, the former North Korean agent behind the Korean Air Lines (KAL) flight 858 bombing in 1987. “I wrote the two autobiographies, 1991’s “I Want to Be a Woman Now’’ and 1992’s “I Cry When I Feel Love’’ after spending almost two years with Kim, at the request of the Korea Central Intelligence Agency (the predecessor of the National Intelligence Service or NIS) in 1990,’’ she told the Yonhap News Agency during a phone interview. Her ghostwriting was first known in Japan via numerous interviews with Japanese media. Noh also wrote a memoir called “The Bare Faces of Terrorists,’’ based on the incident, in a Japanese weekly magazine. Noh explained that she didn’t reveal that she was a ghost-writer because she “promised she would not reveal the request and because it was nothing to be proud of as a writer herself.’’ “But when I heard about her pain through her recently revealed letters, I thought it was my duty as a writer to say everything I knew for her sake, not mine,’’ she added. Kim revealed two letters last year, through famed columnist Jo Gap-je’s Web site, stating that she was pressured in 2003 to say that North Korean leader Kim Jong-il did not order her to bomb the aircraft. “There were suspicions about Kim being North Korean, but from her quirks and mannerisms, I was completely convinced that she was from North Korea,’’ Noh said. The writer added that she has not contacted Kim since and does not know her whereabouts. Noh has published numerous novels, the latest being “Uleommagyo,’’ which was released last month. On Nov. 29, 1987, KAL flight 858 election year bombing by North Korean agent Kim killed all 115 people on board. Kim was sentenced to death in 1989 but was released on a pardon in 1990. Scepticism arose regarding the agent’s true identity and the tragedy, given the hasty conclusions of the previous Chun Doo-hwan administration. The NIS panel announced publicly that the Chun government used the incident to its advantage in the election, despite having no foreknowledge of it, in 2006. Kim is currently married with two children.
Tháng Tư đã về trên đường phố Hán Thành, vạn vật đều mang hương vị mùa xuân. Những nhành hoa đủ màu sắc đỏ, tím, vàng phủ kín những rặng núi xung quanh Nam Sơn. Hoa tràn ngập đỉnh núi như những trận mưa vàng. Những nụ đào tuyệt vời dường như phủ nhận rằng đã có một mùa đông. Hán Thánh trở mình. Càng ngày càng có nhiều người bảo rằng tôi sẽ được ân xá và tôi, từ trầm cảm ê chề, chuyển sang trạng thái chờ đợi bồn chồn. Mặc dù tôi lưỡng lự, đôi lúc các điệp viên vẫn bảo nếu muốn tôi có thể ra thành phố đi dạo. Và làm sao có thể cưỡng lại được mùa xuân! Như thế, tôi được tắm trong ánh nắng ấm áp tràn trề, tôi được chiêm ngưỡng phong cảnh diệu kỳ. Nam Hàn – cũng như Bắc Triều Tiên – là một quốc gia đẹp tuyệt vời! Có biết bao thung lũng rậm rạp, rặng núi cao vời và cao nguyên màu mỡ. Tôi hy vọng rằng sẽ còn được ngắm vẻ đẹp của miền Nam một lần nữa… Khi trở về Nam Sơn, tôi tung giày và xem bản tin lúc bảy giờ. – Lại thêm một ngày vô tích sự! – tôi bảo Li Ok khi cô còn phải trực hai giờ nữa. Nhưng Li Ok im lặng, cô nhìn chăm chăm vào màn hình TV. – Chính phủ đã quyết định ân xá cho Kim Hyun Hee, kẻ bị kết án tử hình mới đây vì tội làm nổ chiếc máy bay số 858 của Hàng không Hàn Quốc. Tổng thống tuyên bố rằng không phải Kim Hyun Hee là thủ phạm đích thực, thực chất cô ta cũng là một nạn nhân vô can của một xã hội mà ở đó nhân quyền không được coi trọng, nơi sự khủng bố bao trùm. Theo tổng thống, Kim Nhật Thành mới là kẻ… Nhưng tôi không còn nghe thêm được gì nữa. Li Ok bật dậy và gào lên: – CÔ ĐƯỢC ÂN XÁ RỒI! Cô nhào đến ôm chầm lấy tôi, siết chặt tôi trong vòng tay. Chẳng mấy chốc, tin này lan nhanh khắp Nam Sơn và tất cả mọi người đều đến chúc mừng tôi. Tôi thấy ai nấy đều thành thực mừng cho tôi, và Nak Yong cũng vậy. Cảm động quá, tôi không thể nói được gì và trong khi mọi người bàn tán về quyết định của tổng thống, tôi lao vào giường và òa lên khóc nức nở. Tôi không làm sao nói lên được những tình cảm trào dâng trong lòng: sự biết ơn chính phủ đã ân xá cho tôi, nỗi phiền muộn khi nghĩ đến gia đình và niềm hy vọng cho tương lai phía trước. Tôi cảm thấy sự cô đơn của tôi ít nhất cũng lớn như niềm vui, nhưng khi đó và tại nơi ấy, tôi đã nói lời tri ân Đức Chúa trời. “Lạy Chúa tôi, con cám ơn Người đã cho con, một kẻ tội đồ, được một khả năng sống. Cầu xin Người hãy mang tin này cho gia đình con và hãy phù hộ cho họ nữa” Nak Yong mỉm cười tiến đến chúc mừng tôi. Ông hơi ngạc nhiên khi thấy tôi khóc, nhưng hẳn là ông cũng cảm nhận được những tình cảm phức tạp trong lòng tôi, nên ông không gạn hỏi gì. – Hyun Hee, hôm nay là một ngày hạnh phúc. Đã đến lúc cô phải dự kiến cho cuộc sống mới của cô tại đây, đất Hán Thành. Ngày mai tôi sẽ trở lại và ta sẽ cùng bàn. Tôi gật đầu. Mắt đẫm lệ, tôi hầu như không thấy gương mặt ông. – Cám ơn ông nhiều lắm. Tôi đã tưởng ông quay lưng lại với tôi rồi. Nak Yong sửng sốt, ông không tìm được từ ngữ thích hợp. – Đây là khoảng thời gian nặng nề đối với tất cả chúng ta, Hyun Hee ạ. Lâu rồi chúng tôi không có vụ nào tương tự. Tôi phải thú thực rằng, tôi đã phải đấu tranh giữa lương tâm và những tình cảm của tôi. Nhưng cô cũng biết đấy, đây chưa bao giờ là một vụ đen – trắng rõ ràng. Và một phần những lý do của tổng thống cũng có thể mang tính chính trị, chứ không chỉ là về mặt đạo đức. Cô là một ví dụ tuyệt vời cho cái gọi là tấn thảm kịch Bắc Triều Tiên, và tất cả mọi người đều sẽ hiểu điều này. Đồng thời, tôi không hề tin rằng tử hình cô là điều có nhiều ý nghĩa. Bản án không khiến những nạn nhân được sống lại, và không giáng một đòn vào những kẻ thâm độc thực sự, Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật. Trong xã hội ấy, Hyun Hee ạ, cô không có chút cơ hội nào, và nếu chúng tôi tử hình cô thì quả là một mạng người đã bị tiêu vong một cách vô nghĩa. Không giải quyết được gì, và tôi biết là cô đã thực sự hối hận về điều cô làm. Bên cạnh đó, tôi không tin rằng giờ đây, cô còn có chút nguy hiểm gì đối với xã hội chúng tôi. – Ông cười. – Cho dù được huấn luyện kỹ càng thế nào đi nữa, theo tôi, cô không hề có chút đường gân thớ thịt nào của một tên sát thủ. Tôi tin rằng nếu bị đặt vào địa vị của cô, bất cứ ai trong số chúng tôi cũng đã phải làm như thế. – Đúng vậy, tôi cũng nghĩ thế – Li Ok nói, khi đó cô cũng đến gần tôi và nắm chặt tay tôi. – Cô biết không, tôi cho rằng người ngoài cuộc không thể hiểu nổi quyết định này. Con người ta phải trải qua nỗi đau chia cắt của Triều Tiên để có thể hiểu được. Những kẻ sống ở nơi khác, làm sao cảm nhận được cảm giác khi Tổ quốc chúng ta bị phân đôi và ở một miền, một kẻ độc tài tàn bạo trị vì. Nhiều người trong số chúng tôi có thân nhân ở miền Bắc và chúng tôi chưa bao giờ được gặp. Chưa bao giờ được biết về họ. Phải chăng, cái nhiệm vụ kinh tởm này, biết đâu, lại chẳng giúp đất nước ta được thống nhất? Tuy nhiên, giờ đây, điều quan trọng nhất là cô đã được ân xá, Hyun Hee ạ. Từ giờ phút này, cô là người tự do!
Chương 16 Tôi tưởng rằng sau khi đã khai báo, mọi thứ sẽ đơn giản hơn nhiều và tôi sẽ bị tử hình nhanh chóng. Nhưng chừng một tuần sau, Nak Yong bảo rằng chẳng mấy chốc, tôi sẽ phải ra trước vành móng ngựa và tại đó, số phận tôi sẽ được định đoạt. – Xét xử? – tôi hỏi. – Tôi đã khai tất cả cho các vị rồi! Tôi có tội. Còn có thể tranh luận gì ở đây được nữa? – Tôi sợ rằng không thể tránh được phiên tòa đâu – Nak Yong đáp. – Cô có thể biết ơn vì người ta đã không sả súng bắn chết cô ngay, như kiểu Bắc Hàn. Ở Nam Hàn, mọi nghi can đều có quyền tham gia một phiên xử công bằng, tại đó, người ta sẽ nhận định đương sự có tội hay không và sẽ đưa ra bản án phù hợp. Chúng tôi gọi đó là tư pháp. – Tôi thì cho rằng thật nực cười. Chỉ phí thời gian, vì tôi đã nhận sạch mọi tội rồi. Không có vẻ là tình thế của tôi sẽ thay đổi nhanh chóng, tôi buộc phải ở dài hạn tại Nam Sơn. Về sau, tôi đọc được một báo cáo của Nak Yong mà ông để lại trong phòng. Tờ trình ấy chủ yếu nói về cách cư xử của tôi từ khi tôi bị đưa về Nam Sơn, nhưng trong đó cũng có cả những chi tiết của cuộc điều tra do Nak Yong tiến hành. Tuy nhiên, khi đọc đến mục “Ý kiến”, tôi phải ngồi bật dậy và sững người: “Vì có đủ bằng cứ cho thấy Kim Hyun Hee có tội trong tất cả các điểm buộc tội, tôi có ý kiến rằng hình phạt đang là đối tượng của sự cân nhắc là hoàn toàn hợp lý”.
“Lưu manh!” – tôi nghĩ thầm. “Đồ dối trá, khốn nạn, bẩn thỉu!” Tôi cảm thấy như kẻ hai lần bị phản bội và lăn ra khóc. Sao Nak Yong lại tỏ ra thân thiện với tôi trong khi ông đề nghị tử hình tôi? Mọi sự thân mật đều là lừa đảo! Cứ mỗi lần đưa tôi đi Hán Thành mua bán hay xem xét, là người ta lại muốn khiến tôi đau khổ bằng cách cho tôi được nhìn ngó vào một cuộc sống mà không bao giờ tôi được sống ở đó. Nhưng điều làm tôi đau nhất là tôi cứ nghĩ, Nak Yong đứng về phía tôi. Tôi nghĩ, chỉ mình ông hiểu được nỗi đau của tôi, và ủng hộ tôi. Rõ ràng là tôi đã nhầm to.
Phải đến một năm sau, phiên tòa mới được mở vào ngày 7 tháng Ba năm 1989. Giữa chừng, tháng ngày trôi đi chầm chậm. Sau khi xem bản báo cáo của Nak Yong, nhiều tuần liền tôi không trò chuyện với nhóm điệp viên và tôi cũng không chịu vào thành phố. Mọi người lo lắng về sự thay đổi ấy, họ mời bác sĩ đến khám cho tôi. Bác sĩ nhận định rằng tôi khỏe mạnh, ngoại trừ sự trầm cảm dai dẳng dễ hiểu đối với những kẻ ở tình cảnh như tôi. Tôi tiêu thời gian bằng cách xem TV, đọc báo. Các điệp viên mang sách vở phương Tây cho tôi đọc. Nhưng cuộc sống của tôi không hề có chút niềm vui nào. Tôi đã phục sinh ở Hán Thành, nhưng rồi trở thành một đứa mồ côi. Rốt cục thì phiên tòa cũng được mở và khi ấy, mọi thứ trôi đi rất nhanh. Không cần đến Bồi thẩm đoàn vì tôi nhận tất cả các tội bị buộc. Tôi phải nhắc lại một lần nữa tất cả những gì đã khai với nhóm điệp viên, nhưng đây chỉ là hình thức. Ngày 27 tháng Ba, phán quyết được công bố: đúng như tôi dự đoán, tôi bị án tử hình.
Thời điểm thi hành bản án không được đưa ra và như thế, tôi buộc phải về lại Nam Sơn và tiếp tục chờ đợi. Cái chết đã là chắc chắn, thành thử tôi không làm sao thoát khỏi suy nghĩ về nó. Nhiều ngày liền, tôi chỉ nằm và ngắm trần nhà. Tôi muốn chết, nhưng điều đó khác với việc tôi được thông báo rằng chẳng bao lâu nữa, tôi sẽ phải từ giã cõi đời. Như thế, cuộc sống mới của tôi ở Hán Thành sẽ chỉ còn một khoảng thời gian rất ngắn ngủi. Tôi được phục sinh, được nếm thử cuộc sống mới mà lẽ ra tôi có thể được sống. Nhưng giờ đây, cái chết lạnh lẽo đang chờ tôi. Tôi không để ý mấy đến các bài xã luận trên báo chí bàn luận về khả năng chính phủ vẫn có thể ân xá cho tôi. Thân nhân của các nạn nhân lên tiếng đòi hỏi chớ ân xá cho tôi, và không ai có thể trách họ vì điều đó. Không ai có thể trả lại người thương cho họ, và cho dù chỉ là một sự an ủi nhỏ nhặt đến mấy, hậu quả duy nhất mang tính báo thù phải là cái chết của tôi. Chỉ điều này mới có thể đem lại cho họ chút bình an trong tinh thần, để họ tiếp tục sống. Tháng ngày trôi đi vô nghĩa và thừa thãi. Tôi được biết bản án phải được thi hành trong vòng sáu tháng, như thế ít nhất tôi còn có thể tính được cái gì đó. Tôi rơi vào trạng thái trầm cảm nặng nề và không chịu trò chuyện gì với nhóm điệp viên. Tôi tự nhủ lẽ ra tôi phải chết ngay tại phi trường Bahrein, việc tôi sống sót chỉ là sự may mắn vô tình. Nhưng, theo bản năng, ai mà chẳng bám riết lấy cuộc sống? Thân xác tôi khiến tôi không thể không để tâm đến cuộc sống. Tôi sợ… Tất cả chúng ta, trong đời mình, hẳn đã nhìn thấy kẻ khác gặp hoạn nạn, và cho dù chúng ta có đồng cảm với họ bao nhiêu đi nữa, trong thâm tâm, chúng ta vẫn mừng thầm rằng họ, chứ không phải chúng ta, đang gặp họa. Ai cũng có thể bị thương, bệnh tật hay chết. Nhưng bây giờ tôi giữ vai trò ấy. Lần này, người khác có thể ngồi trong cảnh an bình xem tôi bị tử hình. Một bữa nọ, Nak Yong buông một nhận xét khiến tôi bất ngờ: ông hy vọng tôi sẽ được ân xá. Tôi lao vào suy nghĩ. Có thể Nak Yong đề xuất tuyên án tử hình đối với tôi hoàn toàn chỉ trên phưong diện tư pháp, trong khi ông đã biết rằng thế nào tôi cũng sẽ được ân xá? Có lẽ phán quyết chỉ mang tính hình thức, có lẽ tổng thống – chứ không phải tòa án – có quyền đưa ra lệnh ân xá? Hay là đơn thuần chỉ vì Nak Yong đã nghĩ lại? Dầu sao đi nữa, tôi cũng thấy dễ chịu vì ông lo lắng cho tôi. Một bận sau đó, Li Ok trò chuyện với mẹ qua điện thoại ở phòng tôi. Cô tán gẫu vui vẻ như thể một kẻ vô tư lự, và tôi rất ghen tị với cô về điều đó. Nếu tôi được sinh ra là người miền Nam, trong giờ phút ấy tôi cũng đã có thể trò chuyện điện thoại với mẹ tôi, ngay từ nhà tôi, nơi tôi và chồng con sinh sống. Tôi chỉ mong ước một điều mà chưa bao giờ tôi có được: sống một cuộc sống bình thường! Tôi lại nhớ mẹ tôi từng bảo kể từ khi tôi được Đảng chọn, đêm nào mẹ cũng khóc. Rằng, mẹ tìm lại tập ảnh tôi và cứ thế, bà âm thầm nhỏ lệ đến chừng nào chưa ngủ được. Đây là điều tuyệt nhiên bị cấm: kể từ khoảnh khắc tôi trở thành điệp viên mật, lẽ ra bà phải hủy tất cả ảnh của tôi. Nhưng bà không thể làm được điều đó! Còn em gái tôi lại thầm thì với bà: cô hy vọng rằng một ngày nào đó, tôi lại được Đảng cho phép lấy chồng. Ít nhất, tôi muốn mẹ tôi được biết sự thật. Thử hỏi bà có tin được không? Trong thời gian ấy, một thay đổi lớn đã diễn ra với tôi: tôi bắt đầu cầu nguyện Đức Chúa trời! Tín ngưỡng phương Tây không phải là xa lạ tại Triều Tiên và qua sách vở, TV, cũng như qua những cuộc trò chuyện quanh tôi, tôi đã thu thập được nhiều kiến thức này nọ. Tôi cầu nguyện Đức Chúa trời cho tôi sửa chữa mọi tội lỗi đã phạm phải. Tôi xin Người cho tôi cơ hội để sống thêm nữa, và phục vụ mọi người. Giá không có chỗ dựa là những bài kinh cầu, tôi đã hoàn toàn đánh mất mọi hy vọ Mùa xuân đến và trong khi cả thành phố háo hức chờ đợi đông tàn, tôi vẫn nằm trong nhà tù lạnh lẽo. Tôi đợi chờ…
“Cám ơn Lan! Đàn bà lúc nào cũng thương hại được. Tài thật! Bon! Từ đó, anh sống như một người mang một cái bướu vô hình, trên lưng, đè nặng… Ăn chơi, nhảy nhót, tiêu tiền, rượu cũng không thể loại bỏ cảm tưởng mang cái bướu đó khỏi đời anh. Vì thế, tất cả, đều khiến anh bực bội: Tình yêu của anh, của đàn bà; sự giàu có, không thể tránh được của gia đình anh. Có một dạo, anh tự nhiên xấu hổ về sự giàu có của me anh. Thật kỳ khôi! Anh thấy xấu hổ khi anh phung phí những món tiền lớn không do chính anh kiếm ra. Nhưng, dần dần, anh khám phá ra. Không! Anh chấp nhận những cái khó chịu đó của đời anh: Tình yêu và giàu có. Comme cà! Tuy nhiên cái bướu vẫn còn! Cho đến khi anh gặp Tô, cùng sống trong hành động như Tô, đột nhiên anh trở lại thành một người đàn ông nhẹ nhõm, tự do hơn… Lan! Anh yêu em!”
Giọng Thắng nao nức, cuồng nhiệt, vụt ra như một mũi tên. Im lặng bao trùm lên phòng ngoài rất lâu.
Ở nhà trong ông Hạ đã bắt đầu buồn ngủ, mí mắt nặng dần. Thắng ra về vì phải, vì ông thấp thoáng nghe thấy tiếng hắn nói:
“Anh về!”
“Không! Anh đừng về vội!”
Tiếng ghế xô đẩy, tiếng Lan thở dài và rồi hai đứa thì thầm. Ông nửa thức nửa ngủ, gọi Lan:
“Lan! Đi ngủ, nhớ đóng cửa kĩ càng đấy!”
Tiếng cửa ngoài đóng lại. Đèn nhà ngoài vụt tắt. Im lặng.
Không biết bao nhiêu lâu sau, bà Hạ cựa mình nói lảm nhảm, khiến ông tỉnh giấc. Ông quài tay đập đập vào vai vợ. Hình như có tiếng cửa ngoài mở lạch cạch. Lan thì thầm. Lan nói chuyện với ai? Nói một mình? Ông cũng không rõ, vì giấc ngủ vụt đến, chiếm ngự lấy ông.
Thắng quay trở về đoàn Quân thứ đã được gần nửa tháng. Tâm tính Lan trong khoảng thời gian này, thay đổi khá bất ngờ, khiến cả ông lẫn bà Hạ ngạc nhiên. Rõ ràng, Lan đã trút bỏ xác cô con gái để biến thành một người đàn bà, nồng nàn và khó hiểu. Nhiều khi Lan ngồi ngẩn ra hàng giờ, cậy răng cũng không nói lấy một tiếng; nhiều khi lại cười nói ồn ào một cách quá đáng: Má hồng lên, mắt sáng quắc, thân hình căng thẳng, không chịu ngồi yên một chỗ. Hình như nguồn yêu đương tràn ngập trong người Lan, bắt buộc nàng phải tung ra khắp mọi phía, hướng vào tất cả mọi người chung quanh. Bà Hạ kêu lên:
“Cái con quỷ này! Điên đấy à? Ngồi yên nào, làm me chóng cả mặt!”
Lan trả lời bằng một chuỗi cười ròn rã:
“Me đuổi con phải không? Con đi thăm anh Di đây!”
“Hôm nay thứ tư, ai cho Lan vào thăm!”
“Thế thì con viết thư cho anh ấy vậy!”
Nếu không sửa soạn các món quà được để mang vào cho Di, nếu không viết thư cho Di, Lan cắm cúi viết – cứ hai ba ngày một lần, rất đều đặn – thư cho Thắng, Tô: Mặc dầu Thắng Tô không viết qua về nhà lấy một lá thư ngắn ngủi. Bà Hạ tò mò hỏi:
“Lan viết gì mà lắm thế? Các anh ấy đâu trả lời.”
Lan khoát tay, tỏ vẻ bất cần, đáp:
“Con biết các anh thích nhận thư, đọc thư con là con viết. Đâu cần được trả lời.”
Những dòng chữ to, nét cứng rắn đàn ông, của Lan, tiếp nhau phủ kín trang giấy này sang trang giấy khác. Ông bà Hạ chịu không hiểu nổi, Lan tìm đâu ra nhiều chuyện viết đến thế. Viết xong, Lan phải đi bỏ thư ngay, không thể chờ lấy một phút.
Lan cũng năng săn sóc ông bà Hạ. Nếu buổi chiều đi làm về, ông ngồi xem sách hoặc nghỉ ngơi một mình, Lan cũng mang truyện ngoại quốc đến ngồi ở bàn bên cạnh, đọc và chốc chốc lại quấy rầy, hỏi một chữ khó, hay nhờ ông giảng một đoạn khó hiểu.
Nhà vắng hai đứa con trai, được nghe tiếng Lan nói liến thoắng, cười, và nhìn khuôn mặt linh động nở nang của Lan, cũng là một nguồn an ủi cho ông bà Hạ.
Lan vừa háo hức, lại vừa e ngại, mong chóng đến ngày toà xử Di, và ngày Di trở về khung cảnh gia đình. Trong những buổi được vào thăm Di, hai anh em cùng chỉ trao đổi dăm ba câu ngắn ngủi. Đôi khi Lan lo ngại hỏi vô tội:
“Me! Con sợ anh Di sau khi nằm trong tù ra sẽ thay đổi nhiều đúng thế không me?”
“Sao lại thay đổi chóng thế được!”
“Biết đâu đấy! Anh Di sống chung đụng toàn với những người tù ghê gớm cả.”
“Thay đổi hay không, anh Di vẫn là anh con kia mà!”
“Nhưng con vẫn ngại! Để con viết thư giục anh Tô cố về vài hôm trước khi anh Di mãn hạn!”
Ông Hạ mắng Lan:
“Đừng vớ vẩn! Toà xử nặng hay nhẹ thì ăn nhập gì đến chuyện anh mày về.”
Lan không trả lời bố, quay sang van nài mẹ:
“Mẹ bằng lòng mẹ nhé! Có anh Tô, con yên tâm hơn.”
Vĩ cho biết vụ của Di và mấy đứa bạn Di, chưa biết sẽ mang xử vào ngày nào. Đây là một vụ liên quan đến chính trị.
Dạo này Vĩ càng năng đến thăm Lan. Đối với hắn, Lan bớt gay gắt và cũng không lãnh đạm kiêu hãnh như trước kia. Lan bắt đầu thương hại anh chàng luật sư si tình. Lan nhận những bó hoa, hộp kẹo bánh, một vài món đồ trang sức nho nhỏ của Vĩ, không lộ vẻ khó chịu và cũng không thân mật hơn trong cử chỉ, lời nói. Lan cũng kiên nhẫn ngồi nghe những câu chuyện tâm sự của Vĩ, thỉnh thoảng hỏi dăm ba câu ngắn, hoặc điểm những nụ cười thương hại mà Vĩ sẵn lòng tin đó là những nụ cười khuyến khích.
Những câu chuyện Vĩ kể về gia đình và đời hắn, Lan thường mang thuật lại cho mẹ nghe vào buổi tối.
Trong ngày, chỉ vào những lúc trước khi ngủ, mái tóc đã ắt đầu điểm bạc kề bên mái tóc đen mượt của cô gái yêu, bà Hạ mới vui vẻ một chút, lắng nghe những lời tỉ tê và những câu hỏi ngộ nghĩ quái ác của Lan.
Vĩ là con trai độc nhất của gia đình giàu có. Thày Vĩ là một nhà doanh thương khôn khéo, có tăm tiếng trong giới thương mại của thành phố. Vĩ nhớn lên trong một thế giới toàn đàn bà: Bảy bà chị lớn trên Vĩ, bốn bà vợ của thày Vĩ, Vĩ là con bà vợ thứ tư. Ngay từ bé Vĩ đã được chăm sóc, chiều chuộng rất mực. Nhưng từ khi bắt đầu lớn và hiểu biết, Vĩ không cảm thấy sung sướng. Thảm cảnh gia đình đè nặng lên Vĩ, khiến Vĩ ngạt thở. Thày Vĩ, sau khi bà vợ trẻ thứ tư sinh hạ Vĩ, ông không còn lưu tâm đến bất cứ chuyện gì, “ngoài bộ bàn đèn thuốc phiện – và dĩ nhiên cũng thờ ơ cả bổn phận làm chồng đối với các bà vợ.
Cái gì phải xảy đến đã xảy đến: Me Vĩ dan díu với một con rể, chồng người chị thứ hai của Vĩ. Người con rể vô nghề nghiệp, không nuôi nổi vợ, nên đành phải sống bám vào sự giàu có của gia đình nhà vợ. Khi câu chuyện loạn luân này bị khám phá – nhờ sự dò xét và theo rõi của người vú già trung thành, bế ẵm Vĩ – mẹ Vĩ bỏ nhà đi biệt tích, cùng với tình nhân. Những biến chuyển dồn dập này đã khiến Vĩ ngơ ngác, đầu óc mụ đi trong một khoảng thời gian. Thày Vĩ nằm hút liên miên suốt ngày trong phòng riêng, không tiếp khách, và cũng không cho phép bất cứ ai trong gia đình được giáp mặt ông. Vĩ vẫn được các chị săn sóc, không hề thiếu thốn về phương diện vật chất và tiện nghi. Tuy nhiên Vĩ mơ màng cảm thấy giữa mọi người và hắn, một sự thay đổi lớn lao đã xảy đến: Hắn trở thành cái đích cho sự thương hại của tất cả mọi người. Bản tính đa cảm, Vĩ không dám có một hành động hay lời nói phản kháng ngay cả những khi mấy người đày tớ hay các bà chị bàn tán rè bỉu người mẹ sinh ra Vĩ, Vĩ cũng chỉ cúi đầu, ngồi im như một bức tượng, không dám thở mạnh và cũng không đủ can đảm đứng dậy bỏ đi.
Vĩ sống lủi thủi và lạc lõng đang cái thế giới toàn đàn bà ấy, đầy dãy sự thù hằn, tranh chấp quyền lợi nhỏ nhen giữa mấy bà vợ và những người chị cùng cha khác mẹ. Sau khi mẹ Vĩ bỏ đi, Vĩ cảm thấy lúc nào cũng bị ám ảnh bởi một mặc cảm phạm tội: Một cái tội không do hắn gây ra mà tự nhiên hắn phải gánh chịu, thay cho một người vắng mặt.
Vĩ cũng không phải là một đứa trẻ có thể sống cô độc với những đau khổ của mình. Hắn e ngại những câu nói châm biếm của mọi người, nhưng lúc nào cũng quấn lấy mọi người, hướng cặp mắt cầu xin được yêu vào mọi người. Thà nhận những tình cảm thương hại của bất cứ ai, còn hơn sống lẻ loi.
Đến mộ hôm Vĩ sực nhớ đến thày Vĩ, một người đàn ông khác sống cùng dưới một mái nhà. Trước kia, Vĩ luôn luôn được thày Vĩ gọi vào phòng cho ngồi cạnh bàn đèn, xem ông thoăn thoắt tiêm thuốc hay nằm mơ màng ngâm mấy câu thơ Tàu cổ. Từ dạo mẹ Vĩ bỏ đi, không hiểu sao thày Vĩ đóng chặt cửa phòng, không thò đầu ra ngoài, và cũng không sai người gọi đến Vĩ. Tuy nhớ bố, Vĩ cũng phải thầm sợ giáp mặt ông, vì theo lời các chị và chính chị cả thày Vĩ, Vĩ giống mẹ như hệt. Thày Vĩ ghét mẹ Vĩ, biết đâu trông thấy Vĩ cũng ghét luôn Vĩ. Vĩ e ngại nét mặt Vĩ gợi trong tâm hồn ông hình ảnh đáng khinh về người vợ phụ bạc.
Cho đến một buổi chiều, trời chạng vạng, Vĩ đang ngồi thù lù ăn một chiếc bánh ở góc chiếc vườn nhỏ, trồng toàn những loại hoa quý, hắn nhìn thấy thày hắn, hay tay chắp sau lưng, đầu hơi cúi, thơ thẩn dạo chơi trên lối đi trải sỏi. Vĩ ngừng ăn, chăm chú theo rõi những cử động chậm rãi trầm tĩnh của bố. Thấy bố tiến về phía hắn, cổ họng Vĩ thắt lại, nửa mong muốn, nửa e ngại ông khám phá ra sự có mặt của hắn. Thày Vĩ đi qua trước mặt Vĩ; trong vườn tối, chắc ông cũng nhầm tưởng Vĩ chỉ là một lùm cây vô tri giác. Không biết một sức mạnh vô hình nào đã thúc Vĩ bật đứng dậy, đến sau lưng kéo áo bố gọi, “Thày! Thày!” Thày Vĩ dừng bước, hơi cúi đầu xuống, bàn tay ông khẽ đặt lên tóc Vĩ, soa soa và lần xuống, lướt trên má, mũi và cặp mắt đầm nước của Vĩ. Vĩ nghe thấy bố thở dài. Một lúc sau ông nhẹ nhàng hỏi:
“Vĩ đấy ư con! Sao tối rồi con còn ngồi đây làm chi? Tội nghiệp thằng bé!”
Vĩ oà khóc, vì xúc động và sung sướng. Thày Vĩ đã nhận ra Vĩ và không quên Vĩ.
Thày Vĩ dắt Vĩ trở về phòng ông và chiều hôm ấy trở đi, ông sai người nhà kê một chiếc giường nhỏ và cho phép Vĩ được ngủ cùng phòng với ông. Suốt ngày Vĩ quanh quẩn bên bàn đèn, hoặc chơi những trò chơi lẵng lẽ cần ít cử động trên sàn nhà trải thảm. Thày Vĩ rất ít nói, Vĩ cũng không phải là một đứa trẻ liến thoắng và chỉ khi thày Vĩ hỏi câu gì Vĩ mới trả lời. Có khi cả ngày hai cha con không nói với nhau một câu. Điều đó đối với Vĩ không quan trọng, hắn chỉ cần được sống cạnh bố, không đòi hỏi gì hơn.
Đó là thời kỳ sung sướng nhất trong thời thơ ấu của Vĩ, tuy nhiên quá ngắn ngủi, vì khoảng gần một năm, thày Vĩ qua đời, ông chết vì bệnh tim.
Buổi tối hôm ông chết, Vĩ là người độc nhất có mặt cạnh ông. Đương tiêm thuốc hút, tự nhiên thày Vĩ ôm ngực rên lên một tiếng nhẹ, bỏ rơi chiếc tẩu xuống giường. Vĩ đang lúi húi chơi bi một mình dưới sàn, ngửng đầu lên, nhưng thấy ông nhắm mắt, hắn lại tưởng ông ngủ. Một lúc sau, Vĩ ngừng chơi, nghe ngóng. Sự im lặng o phòng có một cái gì khác thường rờn rợn. Vĩ đứng dậy lại gần bố lay khe khẽ vai ông, gọi:
“Thày! Thày dậy hút đi chứ! Đèn lụi bấc rồi đây này.”
Không thấy ông cục cựa, bất giác Vĩ rụt tay về. Da thịt ông lạnh ngắt và mặt xanh như tàu lá. Vĩ kêu lên một tiếng ngắn, ngã khuỵu xuống sàn và ngất đi.
Tuy yêu bố, sau đám tang, Vĩ không dám ngủ trong phòng thày Vĩ nữa. Hắn cũng không bao giờ dám bén mảng đến căn phòng, trong đó hắn đã sống những phút giây êm đềm nhất trong đời. Vĩ ốm một trận thập tử nhất sinh trong mấy tháng trời. Vì mê sảng và suốt ngày gọi tên thày. Hình như mẹ Vĩ biết tin con ốm, có tìm đến thăm, nhưng không ai chịu cho bà bước chân qua ngưỡng cửa.
Vĩ được hưởng một phần gia tài thày hắn để lại. Cho đến tuổi thành niên, hắn sống với bà cả, người thủ hộ của hắn trước luật pháp. Bà cả đam mê cờ bạc, đồng bóng và sau khi vung phí hết phần gia tài của riêng mình, dần dần ăn lấn sang phần gia tài của Vĩ. Khi Vĩ đến tuổi thành niên, Vĩ đặt tay ký giấy bán nhà, bán ruộng hắn được thừa hưởng, để “mẹ”(bà cả) có vốn buôn bán “nuôi”hắn ăn học thành tài. Vĩ không thể và cũng không dám chối từ, nhất là bà cả khéo léo dùng những lời nói ngọt như đường đánh vào tâm hồn đa cảm của Vĩ.
Cũng nhờ bà cả mối manh vận động. Vĩ lấy được vợ giàu khi hắn thi đỗ lên lớp năm thứ hai trường luật.
Vĩ ra ở riêng. Vợ hắn giàu, nên Vĩ yên tâm tiếp tục học hành không phải lo kiếm sống. Tuy nhiên, vừa thoát khỏi sự lợi dụng thâm độc của bà cả, Vĩ lại rơi vào vòng kiểm soát và chi phối của một người vợ nhiều tham vọng. Vợ Vĩ thuộc một dòng họ giầu nhưng không một ai đỗ đạt cao. Vợ Vĩ thúc đẩy chồng học hành. Vĩ đã làm thoả mãn sự ham danh của vợ, Vĩ đỗ cử nhân luật, không trượt năm nào.
Cũng theo lời vợ xúi giục, hắn nộp đơn ở toà án kiện “bà cả”đã bán hết phần lớn gia tài của hắn, tiêu phí vào những công chuyện riêng, không chịu trao cho hắn lấy một xu. Hắn đã được kiện. Phải bồi thường cho Vĩ một số tiền lớn, bà cả khánh kiệt gia sản, sống nghèo khổ bệ rạc. Đã có lần, bà ta nhịn nhục, liều tìm đến Vĩ ở văn phòng, van xin tha thứ và yêu cầu Vĩ giúp đỡ ít tiền. Thực ra Vĩ không hề thù oán bà cả. Trước những giọt nước mắt cá sấu của “mẹ”, hắn mềm lòng rất chóng. Hắn thú thật, hắn muốn giúp lắm nhưng trong túi không có lấy một xu. Bao nhiêu tiền kiếm được đều giao cho vợ hết. Bất mãn vì thấy công mình là công cốc, bà cả trở mặt chửi mắng Vĩ một trận thậm tệ, trước mặt nhiều người dưới quyền Vĩ, và bỏ đi. Vĩ không hề giận, hắn nhận phần lỗi về hắn. Hắn “thành thật”tiếc không có tiền giúp bà cả.
Không biết ai đem câu chuyện đó nói đến tai vợ Vĩ, Vĩ lại bị vợ mắng cho một trận “là luật sư không thạo luật pháp mà đành chịu để một con ‘nặc nô’ mạ lỵ công khai. Sao không tống cổ ‘nó’ ra cửa, hay gọi đội xếp can thiệp bắt đi.” Một lần nữa Vĩ lại phải xin lỗi vợ vì tội hắn đã tỏ ra quá nhu nhược, để mặc kẻ khác động chạm đến danh dự của hắn và vợ hắn,
Vợ Vĩ chỉ là con một phú thương, nhưng lại rất xinh đẹp. Tuy nhiên nếu hỏi Vĩ vợ hắn đẹp hay xấu, hắn ngớ ra không biết trả lời ra sao. Hắn không nhìn vợ hắn với con mắt của một người đàn ông yêu đương. Hắn chỉ biết vợ hắn là một người đàn bà khôn ngoan, rất “đáng kính”, thế thôi.
Lan tình cờ đã có lần gặp vợ Vĩ ở văn phòng Vĩ. Vợ Vĩ thuộc hạn đàn bà đẹp như một bức tượng, da trắng xanh, môi mỏng và hồng, mắt sắc lạnh lẽo, dáng điệu đài các, dáng đi kiểu cách và không nhìn đến bất cứ ai ở chung quanh. Cảm tưởng của Lan sau khi gặp vợ Vĩ? Lan chỉ nói gọn lỏn: “Bà ấy đẹp và lạnh như đá. Tội nghiệp anh Vĩ.”
Cuộc đời Vĩ là như vậy cho đến khi hắn gặp Lan.
Trước sắc đẹp quyến rũ và nồng nàn của Lan, Vĩ chắc cũng cảm thấy e ngại kính nể, như hắn đã từng kính nể e ngại những người đàn bà trước đây có một ảnh hưởng mạnh mẽ đến hắn. Nhưng thêm vào tình cảm kính nể đàn bà cố hữu đó, Vĩ “yêu”Lan: một tình yêu thờ phụng đối với một thần tượng. Tuy yêu Lan, thoạt đầu Vĩ cũng không cảm thấy hắn phạm tội ngoại tình với vợ. Chỉ có ngoại tình khi người ta hết yêu một người này và dồn tình yêu đó sang cho một người khác mà Vĩ đâu có “yêu”vợ hắn!
Vĩ để mặc tình yêu đầy mới mẻ và kích thích, tuy một chiều, lôi cuốn hắn, thúc đẩy hắn làm những hành động quá si ngây đối với một người có địa vị và đứng tuổi như hắn. Rất đều đặn, chiều nào hắn cũng đến thăm Lan, và ôm theo một bó hoa, hoặc biếu Lan những món quà nho nhỏ, đồ trang sức, phấn sáp, kẹo bánh. Nhưng, đến thăm Lan hắn phải nói dối vợ bận nhiều việc phải làm thêm ở văn phòng; muốn có tiền mua quà biếu hắn phải giữ lại riêng cho hắn một số tiền. Dần dần mặc cảm phạm tội lừa dối vợ thành hình trong tâm hồn hắn. Bản tính yếu mềm đa cảm, hắn không thể tự kiềm chế, tìm cách xa lánh Lan. Nếu hắn mua hoa tặng Lan, hắn cũng mua hoa tặng vợ. Vợ Vĩ ngạc nhiên thấy chồng săn sóc đến mình nhiều hơn trước, biết mua quà tặng – một điều xưa nay Vĩ không hề nghĩ tới chứ đừng nói thực hiện. Tuy hài lòng, theo Thắng cho biết, vợ Vĩ chớm nghi ngờ trước sự thay đổi đột ngột của chồng.
Trước đến nay, Vĩ chỉ quan tâm một cách vừa phải đến việc biện hộ cho các thân chủ. Thực ra, hắn cũng chẳng ưa gì nghề luật sướng và cũng không màng kiếm nhiều tiền. Khi phải bênh vực cho Di, anh người hắn yêu, Vĩ tận tâm hăng hái mình cách không ngờ. Hắn cố gắng vận động tất cả những giới chức tư pháp, hắn quen biết nhờ sự giao thiệp khá rộng của vợ. Hắn chịu khó tìm gặp ông Biện lý có trách nhiệm thẩm vấn Di, nói hộ Di, chỉ còn thiếu điều van lạy ông này nữa là hết.
Về phần ông Hạ, ông bắt đầu cảm thấy lo ngại trước tấm tình yêu vô vọng của Vĩ.
Nếu vợ Vĩ, người đàn bà khôn ngoan nhiều tham vọng ấy, khám phá ra tình yêu vụng trộm của chồng, ông e gia đình ông sẽ gặp phải nhiều chuyện rắc rối.
Ông tự nhủ khi có dịp thuận tiện, ông sẽ nói chuyện thẳng với Vĩ, yêu cầu hắn giải quyết vấn đề một cách dứt khoát.
Chỉ trong vòng mấy hôm nữa, toà sẽ xử vụ Di và mấy người bạn hắn. Gia đình ông Hạ và Vĩ đều không ngờ toà xử vụ này sớm thế. Lan biết dù có viết thư, Tô cũng không về Hà Nội kịp để dự phiên toà. Tuy nhiên, nó cũng bận bịu viết những lá thư dài dằng dặc, gửi cho Thắng và Tô: Sửa soạn dọn dẹp nhà cửa, giường chiếu cho ngày Di về. Không hiểu Vĩ nói với Lan ra sao, mà Lan lại tin tưởng Di sẽ được tha bổng. Ông Hạ bi quan hơn, dự đoán Di sẽ lĩnh ít ra cũng vài năm tù.
Buổi sáng hôm toà xử, vợ chồng ông Hạ và Lan được Vĩ mang xe đến tận nhà đón. Gia đình ông ngồi chờ suốt buổi sáng nhưng toà vẫn chưa xử đến vụ Di, nên đành trở về nhà.
Buổi chiều, khoảng ba giờ mọi người trở lại toà, tiếp tục chờ đến sáu giờ hơn, toà mới xử đến vụ Di và cũng là vụ cuối cùng. Ngoài sân trời đã nhá nhem tối. Hành lang toà án vắng tanh. Trong phòng xử chỉ còn gia đình ông Hạ và những thân nhân của mấy người bạn Di. Các vị quan toà, và ngay cả đến mấy người lính gác đều lộ vẻ mệt mỏi trên nét mặt và trong dáng điệu.
Lan suốt từ sáng đến giây phút đó, luôn luôn ngồi thẳng trên ghế, một tay nắm chặt tay mẹ, một tay nóng nảy vò nát chiếc khăn tay nhỏ. Hai mẹ con hầu như không trao đổi với nhau đến một câu.
Khi toà gọi đến tên mấy người bạn Di và Di, Lan hơi nhỏm người dậy, môi mím chặt, nét mặt căng thẳng. Di theo mấy người bạn, cùng trẻ tuổi như hắn, tiến ra và đến ngồi ở hàng ghế dành cho các bị cáo. Sau mấy tháng xa cách, Di đã đổi khác hẳn đi, thân hình gầy gò, làn da xanh mướt, quầng mắt trũng xâu. Hắn có vẻ buồn và chán nản, thờ ơ với mọi sự việc quanh mình. Khuôn mặt hốc hác nhưng vẫn đẹp trai, thanh tú của Di hướng ra phía mấy rặng cây sấu ngoài sân toà. Không một lần Di quay mặt nhìn đến gia đình. Dấu hiệu nóng nảy bực bội độc nhất ở hắn là hai bàn tay xương xẩu ngón dài bấm chặt vào nhau hằn lên những vết đỏ máu tụ lại.
Sau khi thẩm vấn các bạn Di, Toà gọi đến Di, bị cáo cuối cùng. Nghe gọi đến tên mình, trong một giây ngắn ngủi, đôi mắt Di rực sáng lên: Nhưng rồi nét mặt hắn trở lại thờ ơ. Hắn mệt mỏi trả lời những câu hỏi của ông chánh án. Giọng Di hơi nhỏ, gia đình ông Hạ ngồi ở hàng ghế đầu, nghe cũng không rõ.
Qua những câu hỏi của Toà và những câu trả lời đều đều như đã được học thuộc lòng từ trước của Di, ông Hạ khấp khởi mừng thầm. Không có chứng vớ rõ rệt nào buộc tội Di. Mấy người bạn Di hình như đều cố ý gỡ tội cho Di, không hề nhận Di có dúng tay trực tiếp vào việc ném truyền đơn.
Luật sư Vĩ đứng dậy cãi cho Di. Thật không ngờ! Vĩ cãi rất hùng hồn, không lắp một chút nào. Chốc chốc hắn lại ngoảnh nhìn xuống chỗ Lan ngồi. Trông thấy mặt Lan, hắn được tiếp thêm sức, biện hộ hăng hơn. Nhưng Lan đâu có nghe lời hắn cãi. Lan còn mãi chăm chú quan sát khuôn mặt người anh thân yêu.
Khi ông Chánh án hỏi Di muốn nói gì để tự bào chữa, Di hình như không nghe thấy câu hỏi, vẫn ngồi yên, nét mặt bất động. Ông Chánh án gặng hỏi lần thứ nhì, Di miễn cưỡng lắc đầu khe khẽ, không buồn đáp. Ông Hạ nghĩ kể hắn im lặng là phải. Tự bào chữa, nhỡ Di không máu lên, không thận trọng lời nói không chừng lại hoá thành tự buộc tội.
Lúc toà đứng dậy vào phòng nghị án, bà Hạ khuôn mặt tái ngắt, ngồi lặng trên ghế hồi hộp và xúc động. Trong mấy phút chờ đợi lâu hàng thế kỷ, Di ngửng đầu lên nhìn Lan, và mẹ, trong im lặng, vì bị cáo không được phép nói chuyện.
Di được trắng án! Mấy người bạn hắn – trừ một người cũng được trắng án như Di – đều lãnh án, người ba năm, người năm năm.
Di chưa được trả tự do ngay, vì phải quay về nhà giam làm xong mấy thủ tục giấy tờ. Khi toà tuyên án, Di chậm rãi đưa mắt nhìn một lượt, ông chánh án, biện lý và mỉm một nụ cười dữ tợn, cạnh môi cong xuống. Nụ cười khó hiểu của hắn khiến ông Hạ lo ngại không đâu.
Sau khi mấy người lính đã đưa các bị cáo ra xe trở về nhà giam, Vĩ khuôn mặt nở nang hớn hở rảo bước về phía hàng ghế gia đình ông Hạ. Mặt hắn ửng đỏ, mắt hấp hay sau cặp kính. Ông bà Hạ cám ơn hắn. Hắn cảm động, lắp bắp mấy câu nhún nhường, liếc nhìn Lan và vẻ sung sướng lộ hẳn lên nét mặt, khi Lan mỉm cười khen hắn:
“Anh Vĩ cãi hay lắm! Chiều mai mời anh lại chơi và dùng cơm với chúng tôi. Phải không me? Mai nhà mình mời anh Vĩ để cảm ơn anh ấy chứ.”
Ông bà Hạ đồng ý với Lan. Đây là lần đầu tiên ông bà mời Vĩ dùng cơm với gia đình.
Vĩ dẫn ông bà Hạ ra xe. Hắn đi trước, cạnh Lan. Khuôn mặt Lan rạng rỡ. Lan lơ đãng trả lời những câu hỏi của Vĩ. Một chiếc xe hơi đen tiến lại và dừng lại cách Vĩ Lan không bao xa. Người tài xế chạy vòng sang phía bên kia xe, trịnh trọng mở cửa. Một người đàn bà nhỏ nhắn khoan thai vén áo bước xuống. Tự nhiên Vĩ đứng khựng lại, như trời trồng ở giữa lối đi. Tai và gáy hắn đỏ lên. Người đàn bà không nhìn Vĩ, lạnh lẽo quan sát Lan từ đầu đến chân. Lan làm ra vẻ không lưu ý tới và không nhận ra vợ Vĩ – người đàn bà đó là vợ Vĩ – ngửng đầu cao, cầm đưa ra phía trước kiêu hãnh. Lan vẫn tiến bước, nên Vĩ bị tụt lại phía sau. Vợ Vĩ vẫn đứng yên tại chỗ không lại gần chồng và cũng không nói một câu. Vĩ lật đật đến bên vợ, vợ Vĩ hỏi chồng, giọng trong trẻo, hơi kéo dài đài các:
“Toà mới xử xong phải không mình? Muộn rồi đấy!”
“À! Vừa mới xong! Anh Di, thân chủ của anh được trắng án. Anh giới thiệu với mình… cô… cô Lan, em gái anh Di…”
Hắn gọi với Lan, giọng lạc hẳn đi:
“Xin lỗi! Cô… cô Lan!”
Lan quay người lại nhìn Vĩ, ánh mắt khinh bỉ và thương hại. Vĩ tiến đến gần Lan. Hắn đứng giữa hai người đàn bà, một tay giơ về phía vợ, thân hình hướng về phía Lan.
“Cô Lan! Xin giới thiệu… nhà tôi.”
Ông bà hạ vừa tiến đến chỗ vợ chồng Vĩ. Vĩ cũng giới thiệu luôn. Vợ Vĩ hơi cúi đầu lạnh nhạt chào ông bà. Lan lại gần mẹ, ung dung nói:
“Ông Vĩ hay nhắc đến bà. Hôm nay chúng tôi mới được gặp.”
Lan nhìn Vị, tiếp luôn:
“Ba me tôi có mời ông bà ngày mai lại dùng cơm chiều. Chắc ông chưa kịp chuyển lời mời tới bà.”
Vợ Vĩ hơi nghiêng đầu, nhìn chồng soi mói nét mặt không hề lộ vẻ ngạc nhiên. Vĩ lúng túng chưa biết đáp sao, vợ Vĩ đã lãnh đạm trả lời, mặt hướng về phía ông bà Hạ.
“Chúng tôi rất tiếc! Cám ơn ông bà, ngày mai chúng tôi có bận chút việc nhà.”
Ông Hạ thẳng thắn đáp:
“Không hề gì! Chúng tôi chỉ có ý định mời ông bà dùng cơm để cám ơn ông về việc ông đã tận tâm bênh vực cho con trai chúng tôi. Xin phép ông bà.”
Ông Hạ cáo từ vợ chồng. Vĩ và cùng vợ ra về. Vĩ chạy theo lúng mời ông bà lên xe hắn. Ông Hạ gạt đi, giọng cả quyết.
Một lúc sau, gia đình ông Hạ đang đi trên bờ hè, chiếc xe của Vĩ lướt qua dưới đường. Khuôn mặt đẹp và nửa người trên của vợ Vĩ bất động như một bức tượng bằng đá. Hai vợ chồng ngồi cách xa nhau trên hàng ghế sau, không ai nói chuyện với ai. Vĩ không dám liếc ngang về phía Lan. Chỉ nhìn cái gáy ửng đỏ của Vĩ, người ta hình như cũng đã thấy mặc cảm tội lỗi của Vĩ nổi rõ lên mồn một.
Lan tủm tỉm cười nhìn theo hai vợ chồng Vĩ. Chợt nhớ ra lời mời có vẻ quá tự ý của Lan khi nãy, ông Hạ mắng con gái. Lan chỉ cười, lém lỉnh đáp:
“Ba đừng mắng con tội nghiệp! Trông thấy bà Vĩ con đã biết ngay bà ta sẽ từ chối lời mời của gia đình mình. Càng may phải không ba?”
Tuy bực mình với Lan, ông cũng vẫn phải thầm công nhận Lan nói đúng.
Di trở về với gia đình đã được một tuần lễ. Không khí gia đình ông Hạ không vì sự có mặt của một người con trai mà vui vẻ ồn ào hơn chút nào. Sau những ngày bị giam giữ Di càng ít nói hơn trước. Hắn không hề đả động đến những chuyện đã xảy đến cho hắn trong nhà tù. Bà Hạ và Lan đôi ba lần khéo léo gợi chuyện Di nhưng Di chỉ gạt đi, giọng phũ phàng: “Con xin me! Lan! Đừng hỏi!”
Bà Hạ vội lảng sang chuyện khác, còn Lan tò mò nhìn anh, ánh mắt thắc mắc.
Tuy vậy, đối với hai người đàn bà trong gia đình, thái độ Di dịu dàng và âu yếm hơn xưa. Có lẽ những ngày sống lẫn lộn với các tù nhân đủ mọi hạng người đã mở mắt hắn phần nào về giá trị tình thương yêu của đàn bà.
Lan đã có lần vặn hỏi anh:
“Hồi anh trong tù tại sao anh không chịu gặp mặt me và chỉ muốn gặp mặt em thôi? Me giận anh nhiều lắm đấy!”
Khuôn mặt Di tối sầm lại. Hắn không nổi giận, chỉ lẩm bẩm một câu nghe không rõ. Lan gặng thêm, Di trả lời ngắn ngủi:
“Vì anh không đủ can đảm nhìn mặt me vào lúc đó.”
Đoạn hắn ngồi bó gối im lặng. Nghe câu trả lời bất ngờ của anh, Lan lộ vẻ hối hận và xúc động. Trong mấy ngày đầu mới về nhà, chiều nào Di cũng nhờ Lan đun cho một nồi nước sôi. Di đổ ra thau, cho một nhúm muối vào, ngâm hai cánh tay và bắp chân. Khi Di vén tay áo và ống quần lên bà Hạ và Lan mới nhìn thấy lần đầu, những vết tím và mấy vết thương bắt đầu lên da non. Bà Hạ đứng lặng người, đau với cái đau của con. Di đầu cúi, lặng lẽ nhìn chân tay mình. Nụ cười dữ tợn nhợt nhạt khiến khuôn mặt Di méo mó.
Hẳn đuổi mẹ và Lan, không cho đứng cạnh. Di lộ vẻ không bằng lòng khi bà Hạ ngồi thụp xuống trước mặt hắn, dùng hai bàn tay bóp nhẹ hai bắp chân tím bầm của con.
Sau khi mẹ và em đã lảng ra phòng ngoài thì thầm trò chuyện, Di ngồi một mình tách biệt, ngâm chân trong nước nóng, hút thuốc lá, đắm mình trong những suy tưởng thầm kín.
Tuy không nói ra miệng, Lan và mẹ đều thầm mong thời gian qua sẽ làm dịu bớt hay xoá nhoà, những ẩn ức của Di và Di sẽ trở lại đời sống bình thường.
Lan gửi một bức thư cho Tô, báo tin Di đã được tự do và đã về nhà. Mấy hôm sau gia đình ông Hạ nhận được một lá thư bảo đảm cho Tô; bên trong đựng một bưu phiếu 2.000 đồng và mấy hàng chữ, không đề cả đến ngày tháng:
Cả nhà,
Đã nhận được thư Lan. Me lĩnh bưu phiếu 2.000 đồng kèm theo đây, trả cho luật sư Vĩ. Bọn này đều mạnh khoẻ, bình yên. Đừng lo, chưa ai chết đâu! Chưa rõ ngày nào về Hà Nội.
Hết.
Trong thư tuyệt nhiên Tô không đả động gì đến Di. Nhận thư, Lan bực mình mất mấy ngày. Lan càu nhàu than phiền với me.
“Không viết thư về thì không viết hẳn đi, anh Tô ác thế thì thôi! Viết vỏn vẹn mấy dòng, xem bực cả mình. Sao không đánh giây thép có phải tiện hơn không.”
Tuy bất mãn với anh, Lan cũng vẫn chịu khó viết một lá thư dài, tường trình tỉ mỉ những chuyện xảy ra trong gia đình và những nhận xét riêng của Lan về mọi người. Và cũng như thường lệ, Tô vẫn không trả lời thư em gái.
Sau những ngày xa cách, lầu đầu phải dàn mặt nhau, ông Hạ và Di không hé răng chuyện trò và người nào cũng cố ý làm ra vẻ không chú ý đến sự hiện diện của người kia. Ngày này qua ngày khác, sự im lặng giữa hai cha con tiếp tục kéo dài. Ông Hạ không thúc giục và cũng không đả động đến chuyện Di trở lại trường học. Ông chịu đựng sự có mặt của hắn như một ung nhọt vô phương cứu chữa và cũng không có cách nào cắt bỏ nổi.
Trên bề mặt, Di hình như cũng không có oán thù bố sâu xa và mãnh liệt như trước đây. Trong bữa cơm, nếu ông Hạ trách móc vợ về chuyện đã dùng 2.000 đồng Tô gửi trả tiền luật sư để trang trải một món nợ gấp, Di không bênh me, gây gổ với bố, hay đứng phắt dậy vùng vằng rời khỏi nhà, phản ứng thông thường của hắn. Trái lại, tuy vẻ mặt nóng nảy, chán ngán, Di vẫn im lặng tiếp tục ăn.
Tối đến Di cũng không hay đi chơi khuya và ngủ lang. Hắn cũng không đọc sách. Hắn chỉ ưa ngồi bó gối ngắm Lan và mẹ khâu vá dưới ánh nến lung linh. Đôi khi, hắn cũng biết cười trước những câu nói ngộ nghĩnh của em gái. Trong bữa cơm, hắn ăn ngon lành những món mẹ cặm cụi làm vì biết hắn ưa thích. Hắn lấy lại sức rất chóng, da mặt đã bớt xanh và tay chân đã có da thịt hẳn hoi, tuy nhiên vẫn húng hắng ho.
Thỉnh thoảng bà Hạ và Lan nói chuyện về Tô, Thắng. Khi bà trêu Lan, một cách kín đáo, về chuyện yêu đương giữa Lan và Thắng, trước khuôn mặt rạng rỡ, gò má ửng đỏ của em gái. Di lộ vẻ ngạc nhiên. Lan Di bắt đầu nhắc đến những cô bạn gái của Lan.
Tuy không cố ý, Lan vẫn không thể ngăn mình có một giọng của “kẻ biết nhiều chuyện”, khi cùng Di bàn đến tình yêu. Những lời lẽ say mê của Lan khiến Di suy nghĩ. Trong cặp mắt sâu dữ tợn của Di thoáng đôi ánh mơ màng, háo hức.
Đột nhiên một hôm, Di đòi Lan giới thiệu hắn với một cô bạn gái xinh xẻo, bạn cùng lớp với Lan, trước kia thỉnh thoảng đến thăm Lan tại nhà. Lan cười, thú vị đắc thắng, nhận lời.
Cuộc sống gia đình ông Hạ dần dần trở lại bình thường, nhưng cũng không kéo dài được bao lâu.
Chìu anh, Lan tìm cách giới thiệu Di một loạt mấy cô bạn học cùng lớp. Lan có rất nhiều bạn cả trai lẫn gái. Sắc đẹp Lan cuốn hút những thanh niên như ngọn đèn sáng quyến rũ côn trùng.
Sở dĩ họ, dạo này, ít dám đặt chân đến gia đình ông Hạ vì bộ mặt hầm hầm, thái độ lạnh nhạt của ông hạ đã khiến họ e dè sợ hãi. Thực ra ông không ghét riêng một người nào. Ông chỉ không chịu được sự vui vẻ khoái hoạt của người khác – trường hợp điển hình Thắng – Lan chẳng hạn. Những ánh mắt tươi trẻ, những tiếng cười ròn rã, những câu chuyện đùa bỡn, tán tỉnh nhau làm ông nóng nảy, bực tức và đôi khi thốt lên những câu khiếm nhã thô lỗ, không hiếu khách chút nào.
Hai anh em Di Lan có nhiều dấu hiệu thân với nhau hơn trước. Vào buổi chiều hai đứa hay rủ nhau dạo bước dọc theo phố ra phía bờ sông Hồng Hà. Lan nói cười luôn miệng, hỏi han ý kiến Di về cô bạn thường đi học về cùng một đường với Lan mà Di vừa gặp; Di vụng về tìm ý, diễn tả những nhận xét của hắn về đàn bà con gái, và vụng về cười trước những câu trêu cợt của em.
Di chú ý đến con gái và tình yêu thật là điều khá ngạc nhiên cho gia đình.
Mấy năm trước đây, Di cũng rất ác cảm với sự vui vẻ của người khác. Khi Tô Lan và mấy cô bạn nhỏ của Lan ríu rít trò chuyện, dự tính những cuộc đi chơi chùa Láng hay những vùng phụ cận, Di chỉ ngồi yên một chỗ, cách biệt. Dù Tô Lan tìm đủ mọi cách lôi kéo Di vào bầu không khí vui chung, hỏi Di một vài câu, rủ Di đi cùng, Di cười ngượng ngập, trả lời ngắn ngủi và rồi đứng dậy lầm lủi ra cửa đứng, hoặc đi biệt. Lan mới đầu còn chạy theo níu anh lại, thầm thì vào tai anh, nét mặt trách móc hờn giận, nhưng cũng không làm Di thay đổi thái độ. Cho đến một hôm Di hất tay em gái, giọng gay gắt: “Mặc kệ bạn em. Anh không thích vui vẻ. Anh không muốn ai có cảm tình với anh hết!”
Mới đây, Lan đã có lần thủ thỉ với mẹ:
“Me ạ! Giá con làm thế nào để anh Di yêu được một cô gái, có phải hay biết mấy. Bận tán tỉnh không chừng anh Di không còn nghĩ đến những chuyện liên can đến chính trị nữa.”
Trong gia đình, Lan là người độc nhất phần nào gần gũi với Di, nên nàng tin tưởng vào ảnh hưởng tình cảm đến anh và hi vọng kéo Di lại cuộc sống bình thường. Lan cũng không quên hồi bé hai anh em đã thân nhau đến mực nào.
Lan thuở nhỏ rất ít khi bị ông Hạ mắng. Thỉnh thoảng Lan bướng bỉnh quá lắm, nếu ông tức giận phát cho mấy cái, thời sau đó cũng phải mềm lòng trước đôi mắt to đẫm nước, khuôn mặt xinh đẹp giận dỗi của Lan và lại chiều chuộng “cô con gái rượu của ba”hơn trước. Ngay đến Di, lầm lì và khó tính là vậy mà cũng phải nể cô em gái. Mỗi khi Lan sụt sịt khóc, hay la hét giậm chân bành bạch, Di bịt tai lại và bỏ chạy thật xa. Di rất khổ sở khi phải chứng kiến những giọt nước mắt của người khác, nhất là phái nữ. Khi đã bắt đầu lớn và hơi chút hiểu biết, Di cũng có vẻ thân với em gái hơn với Tô. Tô còn mải đi chơi xa, bơi thuyền, không để tâm và cũng không mấy thú vị trong những trò chơi trẻ con, cần nhiều óc tưởng tượng hơn cử động. Di trái lại, sẵn sàng bỏ hàng giờ, nằm phục xuống đất, giảng cho Lan nghe ý nghĩa của những hình ảnh nhiều mầu trong những cuốn sách ngoại quốc. Ngay hồi đó, Lan đã tỏ ra thực tế và quả quyết hơn anh, mặc dầu nàng chỉ là con gái. Lan hay đòi hỏi Di phải làm điều này điều nọ cho bằng được. Tuy nhiên khi không đồng ý với những ý muốn rất vô lý của Lan, Di cuối cùng vẫn phải nhượng bộ chiều Lan. Di hay bị mọi người chế là “nhớn thế mà chịu thua em gái”.
Biết được chiều chuộng, nên Lan hay tìm cách bênh vực Di mỗi khi Di bị bố mắng. Có lần đang ngồi trên lòng ông Hạ; Lan tụt xuống đất dỗi với ông, vì ông la Di cứ ngồi ỳ một xó đọc sách, không chịu ra nắng chơi đùa cho thân thể cứng cáp. Di chạy đi một chỗ kín đáo để khóc và nung nấu lòng oán giận. Lan tìm Di an ủi. Di tức giận xô đẩy Lan: “Đi đi! Tao không cần cái mặt mày. Tao ghét tất cả mọi người!” đoạn chui vào một căn phòng sép chứa đồ đạc cũ, chặn cửa lại, ngồi lì trong đó suốt buổi tối. Lan bướng bỉnh không chịu bỏ đi, ngồi chờ anh ngoài cửa. Cuối cùng quá mệt, Lan thiếp ngủ nằm còng queo trên mặt đất. Đi qua trông thấy, ông Hạ bế Lan vào giường. Sáng hôm sau, Di bị thêm một trận đòn vì đã gián tiếp làm em gái bị lạnh và cảm mất mấy ngày.
Di rất ít bạn cùng lứa tuổi. Hiếm khi Di rủ các bạn học về nhà chơi đùa. Lan là người độc nhất trong gia đình chịu khó ngồi nghe Di kể những chuyện thần tiên quái đản chính Di nghĩ ra, những mộng tưởng lớn lao về tương lai hay những nhân vật cảnh tượng chỉ riêng hắn nhìn thấy nổi. Lan mở to mắt vì nghe anh thêu dệt thêm thắt tình tiết cho những câu chuyện, không chán. Di đôi khi vô tình làm Lan sợ hãi xúc động vì những câu chuyện ma quỷ hoang đường hắn kể. Nhưng Lan vẫn thán phục anh, gặp ai nàng cũng khoe anh có tài hơn người.
Có lần Lan chạy đến ôm lấy bố, nói cuống quít:
“Ba! Ba ra cứu anh Di mau lên không anh ấy chết đến nơi. Anh Di sắp nhảy trên cây liễu xuống đấy.”
Ông Hạ vuốt tóc Lan vỗ về:
“Im nào! Cái thằng Di thật hư, chỉ doạ em thôi. Đừng tin nó! Có các vàng nó cũng không dám trèo lên cây cao chứ đừng nói là nhảy xuống. Nó nhát như cáy ấy.”
Tuy vậy ông cũng dắt Lan ra sân. Ông ngạc nhiên. Di ngồi vắt vẻo trên một cành cây rất cao, mặt đeo những chiếc mặt nạ cho trẻ con chơi. Chắc Di tự cho nó là ma cà rồng có thể bay từ ngọn cây nầy sang ngọn cây khác. Ông hét lên mắng. Mãi sau Di mới chịu tụt xuống. Lan lon ton chạy đến gần anh, nắm lấy tay anh, láu táu:
“Lần sau anh đừng doạ em nữa nhé! Em sợ lắm.”
Di hất tay Lan ra. Liếc thấy bố đang nhìn hắn chế nhạo, Di đỏ mặt giận dữ, tát luôn Lan một cái và quát lên:
“Ai khiến mày mách lẻo! Cút đi!”
Lan oà khóc, chạy lại ôm lấy chân bố. Ông Hạ lôi ngay Di vào nhà, đánh cho một trận nên thân, bắt nhịn cơm trưa.
Trong bữa cơm Lan vẫn vui vẻ như thường lệ. Mọi người bắt gặp Lan để riêng phần hoa quả tráng miệng không dùng tới. Lan định ý nhường phần cho anh. Đối với Lan, hành động đó quả thật là một hy sinh lớn lao. Trong gia đình ai còn lạ gì tính ham ăn ham uống của Lan.
Thực tế, ham hưởng thụ, nhưng khi cần Lan vẫn có thể hy sinh quyền lợi riêng, hay cả đến thân mình như sau này khi đã lớn, để giúp những người thân yêu.
Sau những ngày hoạt động chính trị, đầy những kích thích mạnh, vừa quay trở về cuộc sống êm đềm của gia đình được ít lâu, tình yêu trai gái thúc đẩy trong tâm hồn Di, lại thúc đẩy Di lao mình vào một cuộc săn đuổi tình yêu cuồng nhiệt.
Hắn yêu Thủy. Thủy là con gái một công chức cao cấp, nhà cùng một phố gia đình ông Hạ. Thủy hao hao giống một thiếu nữ Nhật: Thân hình thanh thanh mềm mại, đôi mắt đen láy, mi mắt hơi cụp xuống. Thủy nói như hát, hễ cười là giơ khăn tay lên che mấy chiếc răng khểnh. Nghe những lời nói ríu rít trẻ con của Thủy, nhiều người – nhất là Di – tưởng tâm hồn Thủy rất đa cảm mềm yếu. Nhưng Thủy rất thực tế, sắc mắc. Thủy giống một mũi kim nhọn ẩn dưới một lớp nhung mịn màng. Thoạt đầu, Thủy cũng có vẻ cảm tình với khuôn mặt đẹp trai, đôi mắt bốc lửa của Di. Sau vài lần gặp gỡ, mặc dầu với sự có mặt của Lan, Thủy cũng có vẻ hơi e ngại Di, nhưng không hiểu sao Thủy vẫn đến chơi đều đều và gặp Di.
Di rất ít nói. Hắn nghe Lan Thủy trò chuyện, nhiều hơn là dự vào câu chuyện. Hắn chỉ ngồi nhìn Thủy chăm chắm. Tia mắt sỗ sàng của Di hình như muốn ăn sống nuốt tươi thân hình tươi trẻ, bộ ngực con gái, chiếc cổ trắng muốt thanh tú của Thủy. Đôi khi cái nhìn của Di dai dẳng đến độ khiến mọi người ngồi chung quanh cảm thấy ngượng khó chịu thay cho Thủy.
Nếu Di chỉ nhìn Thủy suông thôi còn đỡ. Thỉnh thoảng hắn bật nói một câu, khen sắc đẹp của Thủy. Lời khen sống sượng quá đáng khiến tất cả đàn bà có mặt đều đỏ mặt – kể cả Lan. Quen tính anh, Lan chỉ cười xoà, hoặc cùng lắm đuổi Di ra chỗ khác. Thủy cũng ngượng nhưng đôi khi nàng liếc xéo Di, che miệng rúch rích cười, kín đáo khêu gợi và khuyến khích.
Di ăn nói vụng về thô lỗ, vì xưa nay hắn chưa hề tán tỉnh ai. Muốn thành công hắn phải ăn nói mềm mỏng, pha trò duyên dáng và khéo chiều phụ nữ, những đức tính hắn không có. Có lẽ để đánh át cái mặc cảm vụng về trước mặt phụ nữ và bù đắp phần nào cho những sở đoản của hắn, Di đành phải dùng tới một lối nói sỗ sàng khinh bạc và vô luân.
Nhờ sự can thiệp của một giáo sư quen biết vợ chồng Hạ, nên tuy gặp vài chuyện rắc rối, Di vẫn xin được phép quay trở lại trường học công lập cũ. Năm nay Di chuẩn bị thi tú tài phần I, nhưng hắn quan tâm đến chuyện yêu đương nhiều hơn là học hành.
Chiều nào Di cũng chịu khó đến đón Thủy, Lan tại cổng trường nữ học, và sau khi Thủy đã từ biệt Lan trước cửa nhà ông bà Hạ, Di còn thân hành dẫn Thủy về tận nhà. Thủy năng đến thăm Di, Lan nhiều hơn trước và đôi ba lần Thủy còn nán ở lại sau buổi học để trò chuyện riêng với Di, trong khi bà Hạ và Lan bận sửa soạn bếp nước.
Đoạn tự nhiên bẵng đi mấy hôm không thấy mặt Thủy. Di trở lại thái độ câm nín, tăm tối trước kia, tránh trò chuyện với em gái và đến tối hắn quay về với thói quen cũ, mặc quần áo, rời bỏ khung cảnh gia đình đi đâu đến khuya mới về.
Hơi lo ngại, bà Hạ hỏi Lan về Thủy và Di. Lan lắc đầu và cũng không biết gì hơn mẹ. Mọi người đã tưởng vì một hành động bạo tợn nào đó, Di đã khiến Thủy sợ hãi, đoạn tuyệt với Di: Nhưng đâu ngờ một lần nữa sự đam mê rồ dại của Di lại gây cho gia đình nhiều buồn phiền. Ba Thủy đột ngột xuất hiện ở nhà ông bà Hạ vào một buổi chiều thứ bảy, mục đích muốn gặp ông về chuyện Di.
Vừa mở cửa, khuôn mặt hầm hầm của ông khách đã khiến ông Hạ chột dạ. Ông Viết – tên ba Thủy – nói oang oang, giọng hách dịch:
“Xin lỗi! Ông là thân sinh cậu Di?”
“Vâng.”
“Tôi là ‘Thày’ con Thủy. Tôi mong được nói chuyện riêng với ông vài phút. “
Ông Viết tiến thẳng vào nhà theo lời ông Hạ mời. Ông cúi đầu chào bà Hạ, đoạn đứng sừng sững giữa nhà, cặp mắt to hơi lồi, vằn ngang dọc những tia đỏ, nhìn lướt qua khung cảnh nghèo nàn.
Ông Hạ chưa kịp hỏi han, ông khách đã đi thẳng vào vấn đề, chăm chắm nhìn vào mặt ông.
“Tôi có việc khẩn cấp phải đi ngay, nên vắn tắt chỉ có mấy lời. Tôi không ưa đe doạ bất cứ ai. Tôi yêu cầu ông cấm hẳn ‘cậu’ Di, từ nay không còn được theo đuổi tán tỉnh con gái tôi. Nó còn vị thành niên! Tôi là người có chức vị! Tôi sẽ bảo vệ danh tiếng gia đình bằng bất cứ cách nào. Nếu trong tương lai, cậu Di tiếp tục có những hành động bậy bạ, xâm phạm đến tiết hạnh con Thủy, tôi bắt buộc phải nhờ đến pháp luật can thiệp. Chắc ông bà hiểu tôi?”
Mặt ông Hạ nóng bừng. Ông Viết tưởng ông là ai? Thái độ khinh miệt, giọng nói của người trên với kẻ dưới của ông Viết khiến ông bất mãn. Ông cố kìm giữ để giọng nói vẫn bình tĩnh.
“”Xin lỗi ông! Dĩ nhiên, tôi có bổn phận ngăn cấm con trai tôi không cho làm bất cứ chuyện bậy bạ nào. Nhưng có điều khiến tôi thắc mắc. Chẳng hay những chuyện bậy bạ ông kết tội Di là những chuyện gì vậy? Có chính ông chứng kiến vụ ‘xâm phạm tiết hạnh’ đó không? Hay ông chỉ cứ đoán vô căn cứ?”
Mặt ông Viết đỏ lên, quai hàm bạnh ra. Ông nhìn ông Hạ một giây như muốn đánh giá bản lĩnh người đối thoại. Ông dằn giọng:
“Nếu không có chứng cớ tôi đến đây làm chi!”
Ông rút trong túi ra một tập thư dầy, quẳng lên bàn. Ông Hạ cầm tập thư lên liếc xem qua. Toàn là thư Di viết cho Thủy. Ông Hạ thản nhiên hất hàm, giọng mỉa mai:
“Thưa ông chỉ có vậy thôi sao? Trai gái thời nay trao đổi thư từ có gì là lạ!”
Ông Viết trừng mắt cười gằn:
“Tôi đâu có ngu đến nỗi chỉ dựa vào mấy lá thư vớ vẩn này mà đã đưa con trai ông ra toà. Ông nên biết, những hành động của con trai ông mà chính mắt tôi chứng kiến – ông nghe rõ chưa? Không toà án nào không kết tội nặng. Ngay buổi trưa nay, tạt qua nhà con gái tôi chạy ra níu lấy tôi, mặt mũi nhớn nhớn tóc sõa sợi và một bên tay áo tả tơi. Ai là người dám xâm phạm đến con gái tôi? Con trai ông chứ ai! Tôi đây này! Tôi là bố nó mà xưa nay con không nỡ nặng lời chứ đừng nói đánh đập nó. C’est un brute! Trông thấy con ông đứng trong phòng riêng con gái tôi, tôi lộn ruột, nắm cổ tống luôn ra cửa. Cậu ấy không chịu nhận mình có lỗi lại còn dám gạt tay tôi ra, cãi bướng ‘Ông không có quyền đụng chạm vào tôi! Ông không cần xô đẩy, tôi đi ngay bây giờ đây!’ A ha! Tại sao tôi không có quyền tống cậu ấy ra cửa? Nhà là nhà tôi, con gái là con gái tôi. Thế mà còn dám mở miệng lý sự. Hấp! Một cái bạt tai! Chưa hết chuyện.”
Lưỡi ông líu lại vì giận. Chợt khuôn mặt ông tái ngắt, cặp môi dầy run rẩy. Ông ôm lấy ngực. Bà Hạ vội bảo Lan, đã lên nhà trên khi nghe thấy mọi người to tiếng:
“Lan! Chạy lấy cốc nước nóng! Mau lên! Ông! Xin ông bình tĩnh…”
Ông Viết ngồi phịch xuống chiếc ghế ông Hạ vừa đẩy về phía ông, thở hổn hển, uống một hơi hết cốc nước. Một lúc sau ông mới hoàn hồn, mặt hồng hào trở lại. Trước những ánh mắt dò hỏi của vợ chồng ông Hạ, ông gượng gạo hỏi:
“À! Quả tim! Tôi hơi bị yếu tim. Không sao! Không sao!”
Ông rút khăn tay lau trán, dáng điệu nóng nảy, mệt mỏi, đoạn hỏi ông bà Hạ:
“Bây giờ ông bà đã rõ đầu đuôi câu chuyện, ông bà tính sao? Tôi cũng xin nhắc ông bà, tôi đã tra hỏi con gái tôi. Nó khóc lóc, nhất định chối không yêu cậu và không hề ưng thuận để cậu Di gặp riêng nó tại nhà. Nó còn cho tôi rõ, không phải đây là lần đầu. Trước đây đã rất nhiều phen cậu Di ép buộc nó làm những chuyện tồi bại. Nó yêu cầu tôi, van nài tôi, tìm đủ mọi cách cấm cửa, tôi còn làm hơn thế nữa. Nếu cần tôi sẽ kiện, bò tù kẻ đã manh tâm…”
Chợt ông bà Hạ ngạc nhiên. Lan vừa ngửng phắt đầu lên nhìn ra phía cửa. Ông Hạ quay mặt lại. Di đứng sừng sững ở cửa vào từ lúc nào không ai hay. Ông vừa bối rối vừa oán giận. Sự xuất hiện của Di làm hỏng hết mọi chuyện. Tại sao hắn không khôn ngoan lánh mặt? Chiếc xe hơi ông Viết để ngoài cửa, hắn mê ngủ hay sao mà không nhìn thấy? Hay hắn nhìn thấy, nhưng vẫn cứ vào? Ông Hạ đã thầm lựa chọn sắp đặt những lý do sẽ nêu ra để làm ông Viết yên lòng, và cố tìm đủ mọi cách để hoãn binh, dù phải dùng tới những lời lẽ nhún nhường, mềm mỏng.
Ông trừng mắt, nghiêm khắc mắng phủ đầu:
“Di! Mày đi đâu chơi đi! Để người lớn nói chuyện.”
Di lừ lừ lần lượt nhìn ông Viết, bố mẹ, tập thư trên bàn. Khuôn mặt chán chường, ánh mắt dữ tợn của hắn khiến ông Hạ ngấy đến tận cổ. Hắn định giở trò gì đây? Ông Viết cau có nhìn ông Hạ, chờ đợi những phản ứng của ông Hạ. Giọng ông Hạ gay gắt hơn:
“Mày còn đứng đây làm gì nữa? Không nghe thấy lời tao nói hả?”
Cặp mắt sâu của bà Hạ nhìn chăm chăm vào khuôn mặt thoáng một vẻ khác thường của con trai. Môi hơi run run, bà yếu ớt can thiệp:
“Thôi mình! Mình đừng vội nóng. Di con! Con hãy nghe lời ba!”
Ông Viết sấn tới, dang tay tát Di. Cái tát quá mạnh và bất ngờ, Di tránh không kịp. Mấy vết ngón tay hằn đỏ trên má Di. Ông Hạ sửng người. Di đi quá xa. Mạ lỵ một người có quyền thế như ông Viết thật là một sự dại dột không thể tha thứ được. Ông phải bình tĩnh lại, bỏ qua tất cả những lời lẽ xúc phạm tới chỗ sâu xa nhất của con người, can thiệp ngay để kéo Di ra khỏi tình trạng nghiêm trọng này.
Di lặng lẽ đưa tay lên xoa má. Đôi mắt hắn dữ tợn đến nỗi ông Viết đang hùng hổ vậy mà bất giác cũng phải lùi lại một bước.
Giọng Di cất lên lạnh lẽo, hăm doạ:
“Này! Ông hãy dóng tai lên nghe tôi! Vào khoảng nửa đêm, mỗi tối thứ năm, một người gầy mặc quần áo thợ thuyền, má có một vết sẹo, lẩn vào nhà ông. Để làm ông, ông thử nói tôi nghe?”
Mặt ông Viết đang đỏ, vụt tái ngắt. Mắt ông trợn trừng, mồm há ra. Tấm thân phì nộn của ông lảo đảo, không đứng vững. Vợ chồng ông Hạ sửng sốt liếc nhìn nhau. Tại sao vừa nghe một câu doạ nạt bóng gió của Di, ông Viết đã lộ vẻ kinh hãi đến như vậy.
Di đưa tay áo lên quệt mấy giọt máu rỉ ra một bên mép. Hắn nhìn vết máu đỏ nổi bật trên vải trắng một giây, môi mím lại. Cặp mắt hắn tràn ngập một vẻ kinh tởm, khó tả. Hắn nhìn cặp má phì phị, cặp môi dầy tái ngắt, cái cổ núng nính mỡ của ông Viết, đoạn lẩm bẩm như tự nói với mình:
“Đừng lo! Không ai thèm hạ mình tố cáo cái hạng ròi bọ, thối nát này đâu mà sợ. Bỏ tù à, còn quá nhẹ! Một ngày kia, rất gần, người ta sẽ…”
Di đưa tay lên cổ hắn, làm một cử chỉ cắt cổ nhanh và gọn. Bà Hạ, Lan rùng mình.
Ông Viết buông người rơi xuống chiếc ghế gần ông nhất, lắp bắp:
“Thế… thế ra chúng mày… cùng một bọn….”
“Bây giờ ông mới biết hả? Càng tốt! Tôi khuyên ông chớ có dại tìm cách hãm hại bọn tôi. Hiện nay bọn tôi còn cần đến ông nên tạm thời ông sẽ sống yên ổn ít lâu.”
Đột nhiên Lan lên tiếng:
“Không! Anh Di! Anh đừng nói giọng như vậy. Em xin anh! Em không dám tin anh lại có thể… “
Di quay sang nhìn em. Đôi mắt đỏ ngầu của nó hình như nhìn suốt qua người Lan, không hễ nhận ra Lan. Giọng nó bực tức:
“Ai dám ngăn tôi? Không ai có thể ngăn tôi được hết! Không ai cấm nổi tôi giết cái lão…”
Lan cắt ngang, giọng tha thiết:
“Kìa anh! Anh không nhận ra em à? Em đây mà, Lan đây, đang nói với anh, đâu có phải những người anh thù ghét. Anh…!”
Khuôn mặt đương căng thẳng của Di chợt dịu lại. Hắn đứng bất động , suy nghĩ, đầu hơi cúi. Đoạn hắn từ từ ngửng đầu lên, nhìn mẹ và Lan, môi mỉm một nụ cười nhợt nhạt, cay đắng. Hắn như vừa tỉnh một cơn ác mộng.
Sau đấy, hắn lục trong ngăn kéo bàn học, lôi ra một tập thư, lẳng lặng trao cho ông Viết: Tập thư Thủy viết cho hắn, buộc một chiếc nơ hồng nhạt.
Hắn bảo ông Viết, giọng hơi sẵng, thoáng mệt mỏi:
“Ông về đi! Tôi không muốn trông thấy mặt ông nữa.”
Trước dáng điệu băn khoăn của ông, hắn bực bội:
“Con gái ông còn nguyên vẹn mà! Ông đừng lo! Mà làm sao có chuyện xảy ra nổi cơ chứ! Ông nói đúng! Thủy không yêu tôi! Chứng cớ? Thủy đã đuổi tôi khỏi nhà. Ông còn muốn gì nữa?”
Tuy chưa có vẻ tin hẳn vào những lời cam quyết của Di, ông Viết cũng đành đứng dậy ra về.
Ông Viết về rồi, Di ngồi lầm lì ở bàn hắn, mắt nhìn chăm chăm vào bức tường trước mặt, môi mím lại, câm nín.
Hắn rời khỏi nhà, chiều cũng không về ăn cơm. Trong bữa cơm không ai nhắc đến Di. Tuy nhiên tất cả mọi người đều thầm nghĩ đến hắn. Riêng ông Hạ, vẫn bực bội, cay đắng khi nhớ lại những lời Di nói với ông hồi chiều. Hắn thật bất công và nhẫn tâm. Nhưng ông không thể chối cãi, đến một phạm vi nào, hắn có lý.
Khoảng hơn mười một giờ đêm, Di mới trở về nhà. Ông bà Hạ đi ngủ. Lan đang cắm cúi viết thư, nghe tiếng cửa lạch cạch, ngửng đầu lên.
Di hỏi ngay:
“Me ngủ rồi à?”
Di chỉ hỏi đến me. Tiếng Lan:
“Rồi anh ạ! Anh ăn cơm chưa? Em có phần cơm cho anh.”
Di không đáp, kiểng chân nhìn lên mấy nóc tủ, tìm tòi.
“Lan tìm hộ cái va ly nâu.”
“Anh đi đâu bây giờ mà cần tới va ly?”
Di bực mình:
“Tôi yêu cầu cô im ngay đi cho tôi nhờ! Va ly! Va ly! …Để sắp quần áo, để cút đi cho khuất mắt!”
Một phút trôi qua.
Bất chợt Di bật hỏi:
“Tại sao cô nhìn tôi như thế kia? Trông tôi buồn cười lắm hả?”
Lan đáp, vẫn dịu dàng:
“Không những buồn cười mà còn lố bịch là khác!”
Di xấn tới gần Lan, nắm lấy cổ tay Lan lay lay. Lan kêu nho nhỏ đau đớn:
“Anh Di! Anh làm em đau! Sái cả cổ tay đây này.”
Di hừ một tiếng. Lan tiếp, giọng bướng bỉnh:
“Nhưng, để em nói cho anh rõ: Em không sợ anh đâu đấy! Nào, bây giờ anh trả lời rõ ràng cho em: Anh đi đâu?”
“Đi đâu hả? Đi ngủ với một người đàn bà!”
Di tưởng hắn có thể làm em câm miệng, nếu hắn ăn nói thật sống sượng. Lan đâu chịu thua.
“Sao anh xoàng thế? Anh chỉ tìm được mỗi cách ấy thôi à: Ngủ với một người đàn bà! A, em hiểu rồi, bị một người đàn bà cự tuyệt đuổi ra khỏi phòng, anh đi ngủ với một người khác, ngay tức khắc, để chứng tỏ anh cóc cần chứ gì!”
“Sao cô tinh thế! Cùng là đàn bà cả có khác. Ừ! Đúng thế đấy! Tôi coi đàn bà như nhau hết!”
Im lặng, Di lại hỏi:
“Cô không tin tôi phải không? Tôi biết cô không tin tôi…”
Lan chậm rãi:
“Nếu anh không đưa thư Thủy và cả thư anh viết cho em đọc, chắc em sẽ tin anh.”
Tức giận, điên dại khiến giọng Di run rẩy:
“Cô làm tôi buồn nôn! Phải! Tôi đã lầm… Tôi đã lầm một cách khốn khổ, ngu dại. Tại sao tôi lại yêu Thủy đến thế! Thật nhục nhã! Cô nói đúng lắm, cô khôn ngoan lắm! Cô cứ xỉ vả, khinh bỉ tôi đi! Ai cũng có lý cả, trừ tôi!”
Lan mắng khẽ anh:
“Khe khẽ chứ anh. Anh trẻ con tệ!”
Có tiếng chân ghế cọ mạnh trên sàn gạch, Di vừa buông người ngồi xuống. Lan nhẹ nhàng hỏi anh. Lan hình như cố ý gợi chuyện Di về tình yêu giữa Di và Thủy.
“Em nghĩ rằng sở dĩ trưa nay Thủy xua đuổi anh là vì anh làm Thủy sợ hết hồn. Chuyện! Anh dữ chết đi thế này! Em biết hễ anh mà đòi cái gì, ai không làm anh vừa lòng thời phải biết.”
Tuy trách móc anh, giọng Lan vẫn phảng phất một vẻ âu yếm, rộng lượng.
Di cay đắng:
“Một khi đã yêu nhau tại sao lại sợ: yêu là phải cho bằng hết! Anh có tiếc Thủy cái gì đâu? Thủy vừa nói Thủy thích mặc những hàng lụa mềm mại, anh đã mua tặng ngay Thủy mấy hàng áo; Thủy thích của ngọt, thích hoa Glaieul, anh đâu có quên mua mỗi khi đến thăm Thủy. Anh! Trước đây chế giễu và ghét thậm tệ những kẻ hễ tán tỉnh đàn bà là phải bận tâm đến những chi tiết vật chất đó!”
Lan dụt dè hỏi:
“Anh lấy tiền đâu ra nhiều vậy?”
“Tiền? Ồ! Thiếu gì! Đằng nào cũng là tiền sẽ chui vào túi ông Viết. Bớt đi một chút, đâu ăn thua gì.”
“Em không hiểu, ông Viết dính dáng…”
“Có gì mà em không hiểu. Cái lão béo bội phản ấy, chuyên môn buôn hàng lậu, giao dịch với cả ngoài khu. Đời nào hắn dám kiện anh. Anh biết nhiều chuyện có thể khiến hắn mất chức dễ như bỡn.”
“Anh yêu Thủy, anh mua quà cho Thủy. Nhưng em thấy nó thế nào ấy, tiền đó dầu sao đâu phải của anh.”
Di xô ghế, đứng dậy, đi đi lại lại.
“Anh xin em đừng nói nữa! Em làm anh điên lên bây giờ đây! Mấy thằng bạn anh xỉ vả anh cũng đã nhiều, nay lại đến lượt em.”
Lan im lặng.
“Mà em có biết tại sao những thằng bạn anh, chính em, làm anh điên lên không hả? Anh điên không phải vì anh hối hận thắc mắc đã làm một điều xấu, thiếu đàng hoàng về mặt tiền nong. Anh không hề hối hận kiểu đó, em hiểu chưa? Anh cáu vì thấy mọi người hẹp hòi, bất công và vô lý! Anh hoạt động đắc lực, anh đã vào tù ngồi, rồi đây anh còn có thể bị bắt đánh đập tra tấn nhiều lần nữa. Tại sao người ta lại để tâm, trách móc anh? Thế người ta nói năng ra sao trước những vết thương tích chưa hoàn toàn lên da non này trên da thịt anh? Hả? Anh liều mình không hối tiếc, không e ngại, người ta cũng không kể đến hay sao? Không! Đối với anh tiêu lạm một món tiền nhỏ ‘không thể’ là xấu xa, đó là cái quyền của anh!”
“Nhiều người bạn anh, cũng hoạt động như anh, họ đâu đòi cái quyền đó?”
Di cười khô khan:
“Sao biết được là không! Không chừng chúng còn tệ hơn anh là khác, Chúng chỉ tài hơn anh ở chỗ khéo biết che đậy, không lộ liễu như anh mà thôi.”
Giọng Lan thoáng vẻ cứng rắn:
“Em chỉ hỏi anh vậy thôi, em không có ý trách móc anh. Nhưng, em không hiểu tại sao anh lại tốn tiền tặng quà cho một cô gái như Thủy? Riêng ý em, em thấy Thủy không đáng được nhận và cũng không đáng được anh yêu say mê đến thế. Em cứ nghĩ rằng, trong lúc me đang lo rạc người đi vì nợ, trong khi em không có lấy một chiếc áo lành lặn, anh lại tặng quà Thủy. Nói thế, tức là em ghen với Thủy phải không anh? Anh để em nói nốt đã, đừng ngắt lời. Có chứ, em có ghen, phần nào thôi, vì nghĩ đến me. Nhưng thực ra, ghen thì ít, mà bực bội với anh thì nhiều. Em buồn, vì em không hiểu anh. Không hiểu tại sao anh có những hành động thật mâu thuẫn. Anh thường bảo anh yêu me, yêu em, sở dĩ anh chưa rời gia đình cũng vì không nỡ bỏ rơi me trong cảnh khổ. Vậy mà, vừa yêu một người đàn bà khác, anh đã…”
Di cắt ngang, tàn nhẫn:
“Em đang kể công với anh phải không? Nếu anh biết me và em yêu anh, ‘ban phát’ cho anh ít tình cảm, mà đòi anh trả công như vậy, chắc hồi ngồi tù, anh đã không cho bất cứ ai gặp anh hết! Anh đâu có ngửa tay xin mọi người yêu anh. Mà, một lần cuối cùng anh muốn nói trắng ra một điều, để mọi sự đều rõ ràng. Anh yêu cầu em nghe cho kĩ! Mọi người yêu anh thì cứ việc yêu, nhưng đừng bao giờ “anh xin em – tưởng nhầm rằng yêu anh như thế tức là anh đã automatiquement lệ thuộc vào mọi người. Yêu anh là một chuyện còn anh lệ thuộc vào mọi người lại là một chuyện khác hẳn.”
Giọng Di vụt đau khổ, tuyệt vọng:
“Em không hiểu, cảm thấy mình lệ thuộc vào những người mình yêu nó kinh tởm đến mức nào.”
Hai anh em cùng yên lặng. Lan, giọng xúc động:
“Anh đã nói như vậy, em cũng chịu anh luôn. Anh thật kỳ lạ! Ai lại nghĩ yêu, lệ thuộc vào mọi người là kinh tởm. Em thời trái hẳn lại. Em yêu me, em yêu các anh, em cảm thấy tự hào là khác.”
Di cay đắng:
“Hừ! Đã lệ thuộc còn tự hào vào chỗ chó nào được!”
Lan cúi đầu, nói nho nhỏ:
“Anh làm em sợ! Cứ tưởng tượng từ nay trở đi, mỗi khi em săn sóc anh, tỏ ra quyến luyến âu yếm anh, em lại ‘biết’ sau đó anh sẽ khổ sở, kinh tởm những tình cảm yêu thương nẩy nở trong tâm hồn anh, em biết cư xử làm sao cho phải bây giờ? Mà tại sao anh lại rắc rối đến thế cơ chứ! Tại sao anh lại nói những chuyện đó cho em nghe làm chi? Để mặc mọi người yêu anh có được không? Anh đi đi! Anh điên rồi…”
Lan thút thít khóc. Di lẳng lặng tiếp tục xếp quần áo vào va ly.
Một lúc sau, tiếng Di lại cất lên:
“Hừ! Bây giờ mọi người đâm ra sợ tôi. Tôi đã hoá thành một con quỷ hay sao? Thật mỉa mai, có phải tôi làm mọi người sợ vì tôi lạnh lùng, trơ trơ không tình cảm, inhumain? Không! Mà vì tôi yêu mọi người quá mạnh mẽ. Sao? Tôi méo mó, tôi không bình thường chỉ vì khi tôi yêu, tôi quên hết và đâm đầu làm những chuyện rồ dại. A, hoá ra mọi người xua đuổi kinh hãi tôi là vì vậy phải không?”
Ngừng một chút, Di lại tiếp tục, nghẹn ngào:
“Kỳ thật, Thủy cũng nói y hệt vậy: ‘Anh đi đi! Thủy không muốn thấy mặt anh nữa. Thủy sợ lắm’. Không ai bảo ai, mọi người đều đứng cả về một phe. Còn mỗi mình tôi lẻ loi. Ha! Đúng ra, chính mọi người mới ác và tàn nhẫn đối với tôi. Cô Lan! Cô là đàn bà, cô khoe khoang với tôi cô đã biết thế nào yêu say mê. Bây giờ cô thử giải thích tôi nghe thái độ của Thủy đối với tôi là thế nào?
Tại sao, từ lúc đầu, nếu biết không theo kịp với sự say mê cuồng nhiệt, đòi hỏi đến điều của tôi, Thủy lại không tỏ ra lãnh đạm xua đuổi tôi như một con chó? Ngay từ lúc đầu! Nếu vậy, tôi sẽ hiểu và bỏ đi ngay. Tôi cũng biết tự ái chứ? Nhưng không, Thủy không làm như vậy. Thủy chỉ muốn đùa rỡn với tình yêu của tôi. Thủy kích thích tôi, chơi cái trò ‘nếu nó gần ta, ta xa nó; nếu nó xa ta, ta gần lại’. Nếu tôi thổ lộ ước mong được hôn vào làn sa trắng mịn ở gáy Thủy trong một bức thư, hôm sau tôi đến Thủy mặc áo mỏng hở cổ ra tiếp tôi. Biết tôi hằng tha thiết được ngắm, được ngồi trong căn phòng con gái của Thủy, Thủy nhất định từ chối không cho tôi bước chân qua ngưỡng cửa. Tôi đòi được hôn lên môi Thủy, Thủy đẩy tôi ra, nhưng để an ủi tôi, thỉnh thoảng Thủy cho tôi cầm tay…”
Lan lẩm bẩm một mình:
“Cái con ranh thật ác!”
Di gay gắt:
“Cô nói gì? Cô cho tôi là quỷnh là ngố phải không và tôi chỉ là một trò chơi trong tay đàn bà? Cô đâu có biết, Thủy đâu có biết, mỗi khi đụng vào da thịt Thủy, người tôi đã run rẩy, phát sốt, phát rét. Chắc cô tự hỏi tại sao tôi lại không đè nén những ham muốn mê đắm của tôi xuống? Bởi vì tôi không thể quên hồi trong tù, sau mỗi lần bị tra tấn, chân tay còn đau buốt, không hiểu sao tôi lại thấy hiện rõ ra trước mắt – tưởng như có thể sờ thấy nắm được – thân hình óng ả mềm mại của một thiếu nữ. Tôi cố gắng xua đuổi ám ảnh dai dẳng đó. Tôi xỉ vả tôi ‘Đâu phải lúc mơ tưởng đến đàn bà, tình yêu? Mày hãy mở mắt ra! Hãy để thân thể mày quặn đau vì những vết tra tấn chứ không phải say đắm trong những khoái cảm do sự tưởng tượng đến yêu đương gây ra.’ Nhưng tất cả đều vô ích! …Và tôi nằm co quắp trên sàn lạnh ngắt của nhà tù, cô độc với lòng ham muốn của chính mình – lòng ham muốn mà tôi tự biết không cách nào thoả mãn nổi… Vì vậy sao bắt tôi ngồi im, ngoan ngoãn trong khi ngay trong tầm tay tôi có một người con gái tôi yêu như Thủy…”
Lan thốt lên một câu:
“Bây giờ em mới hiểu tại sao đàn ông các anh lại có thể tàn bạo và dữ tợn đến như vậy. Nhưng, nếu chúng em không theo kịp các anh thời đâu phải lỗi ở chúng em.”
“Dù lỗi không phải ở các cô, mọi sự đối với tôi vẫn không thay đổi. Vì tôi vẫn phải cứ sống, cứ ham muốn. Tôi biết hướng lòng ham muốn mê say của tôi vào đâu? Vào khoảng không à? Vô lý! Trong tù, mỗi khi phải đối diện với những khuôn mặt bỉ ổi của mấy thằng công an Tây lai, tim tôi thắt lại như bị ai bóp mạnh. Tôi tự bảo, ‘Tao trông thấy cái mặt nhày nhụa của mày! Tao sẽ giết chết chúng mày! Một ngày kia tao sẽ giết mày cũng chắc chắn như khi được tự do, tao sẽ tìm cho bằng được người con gái tao sẽ yêu, chiếm người đó hoàn toàn!’ Nhưng cái đó có thật chứ! Lòng oán hận của tôi hiển nhiên có đối tượng hẳn hoi, tại sao tình yêu của tôi lại không thể hướng được vào một ai? Cô không làm tôi ngã lòng được đâu. Không có Thủy, sẽ có một người khác.”
Lan im lặng không cãi anh. Di đóng mạnh nắp va ly bước thẳng ra phía cửa.
Lan ngập ngừng hỏi với:
“Anh Di! Anh không để lại cho em địa chỉ của nơi anh sẽ ở hay sao?”
“Sao cô không nói thẳng ra cô muốn biết người đàn bà tôi sẽ sống cùng là ai. Ngân là một nữ giáo viên. Ngân yêu tôi và lúc nào cũng sẵn sàng sống chung với tôi. Ngân có nghề nghiệp, Ngân sẽ nuôi tôi. Cô biết thế đã đủ chưa?”
“Anh vẫn chưa cho em biết địa chỉ.”
“Khỏi phải biết! Cô cứ nói với me, thỉnh thoảng tôi sẽ về qua nhà. Cô yên tâm, nếu Thắng và cô lấy nhau tôi sẽ có mặt trong đám cưới mà. Ấy là ví dụ hắn sẽ hỏi cô làm vợ.”
Giọng Lan thoáng vẻ giận dữ:
“Anh đi đi! Đi luôn đi, đừng về nữa.”
Tiếng cửa ngoài đóng mạnh. Im lặng trở lại.
Khoảng nửa tiếng sau, đèn nhà ngoài vẫn chưa tắt, ông Hạ nhỏm dậy ra xem Lan tại sao chưa đi ngủ. Ông thấy Lan đang ngồi ở bàn, lúi húi viết. Lan không ngửng đầu lên. Ông đằng hắng, Lan vẫn không ngừng tay. Tự nhiên ông cảm thấy cần phải nói với con gái một câu, bất cứ câu gì.
“Lan à! Ba… con tìm cho ba mấy viên thuốc aspirinne.”
Lan lẳng lặng đứng dậy, đến gần bàn cạnh bố, mở ngăn kéo lục lọi. Gò má Lan hơi hồng, cặp mắt đỏ hoe. Ông lại hỏi:
“Dạo này con có nhận được tin tức gì về anh Tô không?”
Lan lắc đầu nhè nhẹ.
“Thế còn Thắng? Bao giờ Thắng về Hà Nội?”
Lan nhìn ông Hạ đăm đăm. Không hiểu sao ông trở nên ngượng ngập thoáng bực bội trước ánh mắt Lan.
Ông vội vã quay vào phòng ngủ, quên bẵng cả chuyện vừa nhờ Lan tìm hộ mấy viên thuốc.
Sau hôm gia đình ông Hạ tình cờ gặp vợ Vĩ ở Toà Án, bẵng đi gần nửa tháng không thấy Vĩ đến thăm Lan. Mọi người đã tưởng dù yêu Lan, Vĩ chắc đã không có đủ can đảm hành động trái ý vợ.
Nhưng ông bà Hạ, và nhất là Lan ngạc nhiên thấy Vĩ lại xuất hiện, vẫn không quên mang bó hoa tặng cố hữu. Tuy nhiên những buổi đến thăm của Vĩ không còn được đều đặn như trước.
Di vừa rời khỏi gia đình được mấy ngày, thời Tô về.
Tô về đột ngột, không một lá thư báo trước. Chiều hôm ấy trời u ám, khí hậu khô gây gấy lạnh. Ông bà Hạ và Lan đều có mặt ở phòng khách, Lan đang lơ đãng tháo một chiếc áo len cũ của Tô.
Tiếng cửa ra vào mở. Mọi người đều ngửng đầu. Lan bật đứng dậy reo lên:
“Anh Tô! Anh Tô về!”
Người xuất hiện trong khung cửa đúng là Tô. Đầu để trần, Tô cũng mặc bộ đồng phục tương tự Thắng hôm nào. Hắn mang một chiếc ba lô trên vai, một chiếc khác xách tay.
Bà Hạ thò hai chân xuống đất, khuôn mặt rạng rỡ, tiếng nói run run:
“Kìa Tô! Con tôi! Trời ơi, me mừng quá! Mong con hàng ngày.”
Lan chân không kịp xỏ vào dép, tay vẫn cầm chiếc ao len đang tháo dở, chạy vội đến gần anh, thoăn thoắt như một con hoẵng nhỏ. Lan rướn người, kiễng chân, chạm khẽ khuôn mặt ửng hồng vào khuôn mặt xương xương của anh.
Lan, một tay níu lấy vai anh, một tay đỡ hộ anh một chiếc ba lô, miệng hỏi tíu tít:
“Anh! Anh tệ thật! Chỉ thích làm mọi người ngạc nhiên là không ai bằng…”Mắt Lan long lanh sáng, và cả đến chiếc tai nhỏ trắng của Lan cũng hồng lên. “Thế anh Thắng đâu hả anh? Hai anh chắc cùng về chứ? Anh có mệt không? Chà! Dạo này anh hơi gầy.”
Thái độ Tô hơi khác thường. Hắn đứng dậy lặng lẽ và ngay khi thân hình tươi trẻ của em gái áp vào người, hắn cũng không làm một cử động nhỏ kéo em lại gần, một tay hắn buông lỏng, một tay vẫn nắm chặt quai chiếc ba lô.
Tô nhìn em chăm chắm, như đo lường, cân nhắc một cái gì. Những nét trên khuôn mặt bất động, cứng và sắc tựa một bức tường, chỉ cặp mắt long lanh của hắn là sống, giống hai con vật nhỏ ẩn sâu dưới cặp lông mày dậm.
Lan hơi ngạc nhiên, lay lay vai anh:
“Anh vào hẳn nhà đi chứ! Sao đứng ngẩn ra nhìn em hoài thế kia?”
Đột nhiên Tô bật gọi “Lan!” Không hiểu sao tự nhiên Lan rùng mình, trước lời gọi tên mình rất thường của anh. Lan nhìn theo cánh tay anh giơ lên, đặt trên vai mình, những ngón dài và gầy bấm sâu vào da thịt. Tô buông một câu:
“Thắng chết rồi! Việt Minh tấn công, bắn chết.”
Ông Hạ giật mình thảng thốt. Bà đưa tay ôm lấy ngực. Bất giác, hai ông bà đều hướng tia mắt vào khuôn mặt Lan.
Lan lặng người, tay chân đờ đẫn, chiếc ba lô và áo len rơi xuống mặt đất. Cặp mắt Lan mở to, ngây dại như một đứa trẻ trước một nỗi kinh hoàng quá lớn. Hai anh em Tô Lan nhìn nhau.
Đôi môi Lan mấp máy:
“Anh Thắng… anh Thắng chết rồi! Chết!”
Đột nhiên Lan loạng choạng như người vừa bị một vật nặng đập mạnh vào đầu. Lan bắt đầu run rẩy, mặt tái ngắt. Nàng đưa hai tay lên ấp lên hai bên vai, cố giữ cho thân hình bớt run. Nhưng tuyệt nhiên Lan không rên rỉ hay kêu than. Lan đứng đấy, chẳng khác nào một con chim non dưới cơn mưa.
Một phút trôi qua dài như một thế kỷ. Lan đã hết run, đôi môi trắng bệch mím chặt, mắt ráo hoảnh.
Lan cúi đầu, nhìn xuống ba lô dưới chân, rồi ngửng lên nhìn anh. Tô gật đầu.
Lan rứt khỏi sự níu giữ của anh, lầm lủi xách ba lô của Thắng đi thẳng vào nhà trong, không nhìn ai.
Tô nhìn theo em. Vai Lan lệch sang một bên dưới sức nặng của chiếc ba lô. Cánh tay Tô vẫn giữ nguyên trong tư thế giơ cao, những ngón tay từ từ quắp lại, nằm vào trong khoảng không.
Tô quay về phía bố mẹ. Sau khi báo tin cho em gái về cái chết của Thắng, những nét cứng nhắc căng thẳng trên khuôn mặt Tô trùng lại. Chỉ có sự đau khổ của một người thân mới có thể in hằn trên mặt Tô những nét rõ rệt, còn trước đến nay sự đau đớn của riêng Tô bao giờ cũng nấp dưới một chiếc mặt nạ đóng kín, bí ẩn. Hình như, khi bị bó buộc mang sự đau đớn của người khác trong người, Tô phần nào không còn là nó nữa.
Tự nhiên vợ chồng ông Hạ cảm thấy e dè, xa lạ trước đứa con trai. Ông bà không nhận ra Tô, ngày nào về nhà nghỉ phép đầy sinh lực và háo hức trước đời sống.
Mãi cho đến lúc Tô mỉm cười dịu dàng – nụ cười quen thuộc – lặng lẽ nhìn khuôn mặt hốc hác âu yếm của mẹ, nói giản dị: “Me!”. Vợ chồng ông mới thở ra nhẹ cả người! Tô đã về gia đình.
Tô lại gần mẹ, quay lưng lại.
“Me đỡ hộ con chiếc ba lô.”
Bà Hạ nước mắt rưng rưng nửa vui nửa buồn. Bà giúp Tô tháo quai chiếc ba lô, đặt nhẹ một bàn tay lên làn da rám nắng của chiếc gáy dài và gầy của con.
“Con tôi dạo này gầy quá!”
Tô nhún vai rất nhẹ, trả lời:
“Nhưng con hãy còn sống mà!”
Bà rùng mình,
“Con đừng nói thế! Trông con đứng đây… cạnh me… mà me vẫn còn sợ. Nhỡ con mệnh hệ nào…”
Tô quài một tay qua vai, nắm lấy bàn tay của mẹ. Hắn lơ đãng lẩm bẩm:
“À phải! Đâu phải chuyện dễ dàng gì cho những người còn sống.”
Bà Hạ nghiêng đầu hỏi:
“Con nói gì đấy Tô?”
“Không! Di đâu me?”
Vợ chồng ông Hạ không ai trả lời câu hỏi của Tô, không phải lúc!
Tô kéo một chiếc ghế, ngồi xuống trước mặt bố mẹ. Hắn vấn thuốc lá, châm hút, và cũng không buồn thay bộ quần áo bám đầy bụi đường. Hắn ngồi trầm ngâm, hai tay khoanh trước ngực, cặp chân dài ruỗi thẳng. Sự im lặng cố ý của Tô thật khó hiểu. Hắn ngồi đấy mà hình như không ngồi một mình. Hình bóng của cái chết nhiều khi gần gũi hơn người ta tưởng.
Ông Hạ đằng hắng, hỏi Tô:
“Việt Minh tấn công đoàn con hôm nào, sao không thấy báo đăng? Ngoài Thắng ra còn có nhiều người bị thương hay bị giết không?”
Những câu trả lời của Tô ngắn và gọn, không chút ngập ngừng. Hắn hình như chỉ muốn thuật lại người sự việc đã xảy ra, một lần, để rồi không bao giờ phải nhắc lại.
“Cách đây ba hôm, Việt Minh tấn công đoàn vào ban đêm. Khá nhiều binh sĩ Bảo Chính đoàn bị giết và bắt đi. Tiếng súng vừa nổ, Thắng nhỏm dậy chạy về phía bộ chỉ huy đóng gần đấy. Chắc hắn vớ lấy vũ khí của người lính nào bị thương, nên khi bọn này lôi được hắn về: tay Thắng còn nắm chặt khẩu súng. Đạn phá vỡ lồng ngực Thắng. Mất quá nhiều máu. Gần sáng Thắng mới chết.”
Đó là tất cả những điều Tô cho ông bà Hạ biết về Thắng. Tuy nhiên, ẩn dưới một sự miêu tả giản dị – hình như từng chữ từng câu đã được Tô chọn lựa, cân nhắc từ trước – Ý nghĩa khủng khiếp của cơn hấp hối dài, và cái chết của Thắng, vẫn khiến vợ chồng ông ớn lạnh cả người.
Tô cố gắng ghìm giữ những lời diễn tả trong một cái khung cứng ngắc. Có lẽ hắn sợ hãi trước cái chết, nhưng hắn lại có ý nghĩ khác dấu vết của bản chất hắn trên tình cảm sợ hãi tự nhiên đó.
Sau khi Tô đã ngừng nói, một bầu không khí im lặng bao trùm lên mọi người. Không bảo nhau, vợ chồng ông Hạ đều lắng tai nghe ngóng. Không một tiếng động từ phòng trong vọng ra. Lan đang làm gì trong đó với những đồ vật mới đây Thắng dùng tới hàng ngày.
Bà Hạ đứng dậy, định vào với Lan. Đoán được ý mẹ, Tô lắc đầu liền mấy cái. Bà do dự một chút, đoạn ngồi xuống, vẻ mặt thương xót.
Hai bàn tay chắp lại trước ngực, bà ngập ngừng hỏi:
“Tô! Con đã báo tin? Mẹ Thắng đã biết anh Thắng chết?”
Tô hơi nhướng một bên lông mày, mấy vết răn thấp thoáng trên vừng trán.
“Vâng! Chính con sẽ mang tin đó báo cho mẹ Thắng.”
Tô chậm rãi đứng dậy, đầu hơi cúi.
“Con về ngay bây giờ. Con lại qua nhà Thắng.”
Tô đã ra gần đến cửa, bà Hạ gọi với:
“Con vừa về đến nhà chưa kịp nghỉ ngơi. Để đến tối hãy đi.”
Tô chưa kịp trả lời thời tiếng Lan vẳng lên sau lưng ông bà Hạ.
“Anh Tô! Anh cho em cùng đi.”
Lan, mặt nhợt nhạt, những lọn tóc đen sõa xuống hai bên mặt, càng khiến cặp mắt thêm to, sâu thẳm, Chân tay Lan không run dáng điệu cũng không nóng nảy, nhưng nhìn Lan người ta vẫn cảm thấy khó có thể tưởng tượng hình ảnh sự tuyệt vọng lại có thể khác thế được. Lan vịn một tay vào khung cửa, tay kia xách chiếc ba lô.
Tô hỏi em, giọng thoáng mệt mỏi:
“Đi cùng với anh? Tại sao mới được chứ? Có ích gì đâu?”
Chiếc cằm nhỏ của Lan đưa ta phía trước – một dáng bướng bỉnh quen thuộc.
“Em muốn gặp mẹ anh Thắng… lúc này hơn bao giờ. Anh không ưng, một hôm khác em sẽ gặp riêng, cũng vậy.”
Tô không lưu ý đến sự đòi hỏi bướng bỉnh của em, giọng nó thoáng trách móc:
“Em không hiểu! Có phải nhìn tận mắt sự đau khổ của người khác, cái đau của mình đã dịu bớt được.”
“Anh đừng nói thế! Anh hiểu lầm, em không có ý định.”Lan cúi xuống nhìn chiếc ba lô như nhìn một sinh vật đang thở, sống…”Em chỉ nghĩ, chắc me anh Thắng rất mong được thấy những vật thuộc về anh Thắng.”
Tô khoác tay làm một cử chỉ không rõ rệt:
“Em cứ giữ lại vài ngày. Anh sẽ trao cho mẹ Thắng sau cũng được.”
Những ngón tay Lan siết chặt quai chiếc ba lô, kéo sát gần mình, nhưng Lan vẫn lắc đầu.
“Không! Em không thể… em không muốn giữ…”
“Tuỳ em! Nhưng còn một thứ thuộc về em, anh trao lại.”
Tô lại gần chiếc ba lô của Tô, lấy ra một tập thư khá dầy, đưa Lan. Lan hơi ngơ ngác, đỡ lấy. Tô có vẻ xúc động. Hắn đứng yên, chờ đợi. Đồng thời vào giây phút Lan nhận ra những dòng chữ đề trên phong bì là do chính tay nàng viết, Lan – cũng như ông Hạ – lưu ý tới mấy giọt máu đã khô đen vấy lên chiếc thư ngoài cùng.
Lan đưa một tay áp vào miệng, ngăn một tiếng kêu, người lặng đi. Mọi người đã tưởng Lan sắp ngất, nhưng không, Lan chỉ dương to cặp mắt, nửa kinh hãi, nửa như bị mấy giọt máy khô hấp dẫn, làm mê muội. Miệng Lan mấp máy, hình như nàng gọi tên Thắng.
Thân hình mảnh khảnh của Tô chế ngự hẳn Lan một cái đầu. Tô lên tiếng, giọng khô khan, đứt đoạn:
“Bức thư cuối cùng em gửi, Thắng giữ trên mình… Những lá thư thuộc về em, anh không thể để lọt vào tay ai.”
Lan áp tập thư vào ngực trong một dáng điệu ôm ghì, mê say. Mắt Lan từ từ nhắm lại, ngực phập phồng, người lảo đảo không vững. Hai dòng nước mắt lặng lẽ chạy dài trên má.
Tô giơ cánh tay đỡ ngang người em. Lan dựa đầu vào vai anh, bật khóc nức nở, thốt lên những lời trẻ thơ, vô nghĩa:
“Không! Em không muốn làm như vậy. Sao anh ác thế? Trao thư cho em. Không! Anh làm như vậy phải lắm. Anh Thắng chết rồi, không còn gì nữa. Tất cả những lời yêu đương… vô ích…”
Tô mỉm một nụ cười âu yếm, như chịu lỗi với em. Tay Tô vỗ nhẹ trên vai Lan. Tô cúi đầu, chạm nhẹ làn môi trên tóc em, miệng thầm thì:
“Khóc đi! Khóc cho nhiều… Chỉ còn thiếu những giọt nước mắt khóc người chết để làm người ấy chết hẳn. Phải, chỉ còn thiếu có vậy.”
Lan đã ngừng khóc. Tô dìu em lại bên mẹ. Bà Hạ, nước mắt rưng rưng, đỡ Lan ngồi xuống bên mình, quàng tay ôm con, vai kề vai.
Lan ngồi, người thẳng đơ, mắt nhìn không rời tập thư đặt trên đùi. Lan như ngây như dại, không nghe không trông thấy bất cứ tiếng động hay sự vật nào chung quanh mình, trừ tập thư. Thỉnh thoảng, Lan nấc lên, vai hơi rung rung, chẳng khác một đứa trẻ vừa trải qua một cơn xúc động mạnh.
Lan cũng không hay biết Tô rời khỏi nhà vào lúc nào, mang theo chiếc ba lô của Thắng.
Tô đã đi rồi, ông Hạ ngồi bó gối cạnh hai người đàn bà. Thắng đối với ông vẫn chỉ là một người xa lạ, nhưng không hiểu sao ông thầm biết từ hôm nay trở đi, không khí gia đình ông phần nào sẽ đổi khác, vì cái chết của Thắng. Ông yêu con gái, nhưng chắc chắn ông không muốn chứng kiến nó đau khổ. Ông đã quá quen với khuôn mặt tươi mát, những tiếng cười ròn rã của Lan. Nếu con gái ông đổi thay, sầu não, ông sẽ bực bội. Tình trạng gia ông chưa đủ tối tăm bi thảm hay sao mà lại còn phải chịu đựng thêm sự ám ảnh của cái chết.
Khi người ta bắt đầu già như ông, người ta tránh nghĩ đến cái chết như tránh nghĩ đến những bệnh truyền nhiễm ghê khiếp.
Buổi tối hôm ấy kéo dài tưởng chừng vô tận. Sau khi Tô báo tin cho mẹ Thắng trở về, nhìn khuôn mặt lầm lì của hắn, vợ chồng ông Hạ thầm hiểu không nên đả động hay nhắc đến tên Thắng trong câu chuyện.
Trong bữa cơm – Lan không ăn – câu chuyện rời rạc. Tô trả lời nhát gừng những câu hỏi gượng gạo của bố mẹ về thời kỳ hoạt động vừa qua. Tô chỉ mỉm cười mỗi một lần, khi trao cho mẹ 3.000 đồng, tiền lương tháng cuối cùng. Tô hỏi qua về mấy món nợ của mẹ, những nguyên nhân khiến Di bỏ nhà ra đi. Tô cũng không quên hứa với mẹ, sẽ đi tìm Di, nói chuyện với Di và lôi Di trở về gia đình. Tính Tô như vậy, ngay trong những giây phút đen tối nhất, hắn cũng vẫn không xao lãng những vấn đề còn cần phải giải quyết. Bà Hạ, mỗi khi có mặt đứa con cả, là cảm thấy vững tâm hơn.
Bà bận bịu chân tay, sửa soạn giường chiếu, chỗ làm việc cho Tô. Bà cũng vào nhà trong ngồi cạnh Lan khoảng hơn tiếng đồng hồ. Không nghe tiếng hai mẹ con trò chuyện như thường lệ. Ông Hạ cũng vào phòng trong một hai bận, tìm một cuốn sách hay cặp kính. Lan nằm ngửa trên giường, mắt mở lớn, đuôi mắt rung rung và nhìn thẳng lên trên nhà. Tập thư Lan áp vào ngực, hai bàn tay thon và xanh đè lên trên. Bà Hạ ngồi dưới chân con gái, lặng lẽ khâu vá. Không nghe Lan thở dài và cũng không thấy Lan cử động.
Trông hai mẹ con tự nhiên ông Hạ liên tưởng đến cảnh tượng một người hấp hối trên giường bệnh. Nhưng ngay đến Tô cũng không nỡ tâm khuấy động bầu không khí nặng nề bi thảm không hợp với tâm tính Tô chút nào – đang đè nặng tâm hồn mọi người.
Xếp gọn xong sách vở giấy bút trên bàn, dáng điệu chậm chạp như tuân theo một tục lệ thầm kín, Tô ngồi xuống ghế, tay ôm lấy trán, đăm chiêu.
Ông Hạ ngạc nhiên thấy hắn lúi húi viết. Vào giây phút này, em hắn đang nằm ôm tập thư còn vấy máu một người bạn thân của hắn, Tô còn để tâm trí được vào việc viết lách kể cũng lạ. Mà Tô có thể viết được những gì?
Bà Hạ từ dưới bếp lên, bưng trên tay một tách cà phê, bốc khói nghi ngút. Khi bà đặt tách xuống trước mặt Tô, hắn ngửng đầu lên, mỉm cười – nụ cười của một đứa trẻ hài lòng vì được chiều chuộng. Chỉ khi cười với những người đàn bà hắn thương yêu, Tô mới trở lại là đứa bé xưa cũ, đứa con vợ chồng ông Hạ nuôi nấng chăm sóc cẩn thận nhất.
Tô mỉm cười hỏi mẹ:
“Me vẫn cho ít đường đấy chứ?”
Câu hỏi rất thường Tô đã hỏi mẹ, nhưng tới nay mới phát lộ phần nào bản chất sâu kín của Tô. Câu nói ngang với một lời thách thức, ngạo mạn và thật dễ yêu của Tô, hình như vượt lên trên những biến cố và không chừng cả những đau khổ của mọi người cũng như của chính Tô.
Có điều lạ, Thắng đến đây cốt để giúp gia đình ông bà Hạ về vụ Di, nhưng nãy đến giờ, tên Di không hề được nhắc đến trong câu chuyện. Ông Hạ tự ái không đề cập đến, bà Hạ và Lan đều biết Di và Thắng xung khắc nhau, nên cũng cho Thắng tự ý nêu chuyện Di ra trước.
Sau khi hỏi Thắng vài câu về những hoạt động của đoàn Quân thứ, tình hình tại vùng quê, sức khoẻ và những công tác mới đây của Tô; Ông Hạ xem ý Thắng còn muốn ngồi lâu trò chuyện với Lan nên đứng dậy vào nhà trong, nằm dọc tiếp một cuốn sách ngoại quốc bỏ dở. Nói cho đúng, ông cũng hơi mếch lòng trước những câu trả lời cộc lốc cho đủ lệ của Thắng, và thầm bực tức trước thái độ thân mật của Thắng đối với Lan. Ngồi lâu trước mặt Thắng, ông ngại sẽ buột miệng thốt ra những câu xúc phạm đến Thắng, điều ông nên tránh. Nhất là trong giai đoạn gia đình ông gặp tai hoạ không lối thoát như hiện tại.
Bà Hạ than phiền với Thắng về thái độ cứng rắn, khó hiểu của Di. Bà không trực tiếp phê bình những hành động như ném truyền đơn, liên lạc với Việt Minh của Di, thốt lên một câu đầy tuyệt vọng và nhẫn nhục:
“Thời nay có con trai lớn thật khổ! Cái số của tôi nó vậy, khổ vì con suốt đời. Không biết đến bao giờ chúng mới lấy vợ, để tôi có cháu bế.”
Lan mỉm cười, Thắng vẫn nghiêm trang. Bà Hạ ngượng ngập một chút, đoạn hỏi:
“Anh Thắng! Anh thân với Tô. Anh thấy Tô dạo này thế nào? Nó buồn hay vui?”
Bà và Lan đều chăm chú nhìn Thắng, chờ đợi. Thắng đưa tay lên vuốt tóc, nhún vai, đáp:
“Tô buồn hay vui? Làm sao biết được.”
“Chắc em nó hay trò chuyện với anh?”
“Đôi khi. Thường thường Tô ít nói. Nhưng hễ mở miệng là nói hàng giờ. Nghe sốt ruột!”
Thắng ngừng một chút. Tự nhiên hắn bật nói, giọng bất mãn:
“Thật ra tôi không ưa nhiều chuyện Tô nêu ra. Không chịu nổi thì đúng hơn.”
Lan tò mò:
“Lan tưởng hai anh hợp tính nhau chứ?”
Thắng cười:
“Lan nhầm!”
“Tại sao không hợp?”
“À! Tô nghĩ nhiều quá!”
Lan vặn:
“Anh nói làm như anh không nghĩ ngợi bao giờ.”
“Đúng vậy! Tôi không muốn nghĩ! Nếu bó buộc lắm, nghĩ càng ít càng hay. Trong trường hợp tôi muốn làm một chuyện gì: Tích tắc! Một giây sau, tôi quyết định làm cái đó!”
Lan nhái giọng nói cả quyết của Thắng:
“Tích tắc! Anh Thắng đi Quân thứ Lưu động. Tích tắc ! Anh Thắng về Hà Nội đi nhảy! Tích tắc! Anh Thắng lại trở lại Quân thứ Lưu động.”
Lan ngẫm nghĩ một chút, đoạn ngửng đầu lên, khuôn mặt đầy kiêu hãnh, thách thức:
“Anh có thể yêu một cái gì lâu bền được không?”
Đôi mắt lim dim và luôn luôn chớp chớp của Thắng vụt mở nhìn thẳng vào mặt Lan. Dưới cặp lông mày rậm, hai con người mài thau của hắn nóng nảy, toả ra một sức say mê cuồng nhiệt. Hắn dằn mạnh từng chữ:
“Khi tôi yêu, tôi không hề nghĩ đến chuyện lâu hay chóng. Tôi yêu! Giản dị có vậy!”
Lan có vẻ lúng túng, cúi đầu xuống nhìn bộ ngực đầy đặn của nàng phập phồng dưới làn áo rồi từ từ ngửng đầu lên.
Thắng, Lan yên lặng nhìn nhau. Vẻ say đắm trong mắt khiến Lan nhớn bổng hẳn lên, và nở ra như một bông hoa lớn. Bà Hạ mải nghĩ đến Tô, nên cũng không để ý đến Thắng và Lan.
Sực nhớ một chuyện, bà hỏi:
“Hôm nhận được thư Lan và tôi, em Tô có nói gì với anh không? Và Tô có cho anh hay tại sao nó không về Hà Nội?”
“Dạ không? Tô lẳng lặng xem thư và rồi sửa soạn đi công tác như thường lệ. Đáng nhẽ tôi đi cùng với Tô nhưng vì vừa đọc xong thư Lan nhờ giới thiệu Vĩ, nên tôi quyết định về ngay Hà Nội. Sắp lên đường thấy tôi xếp quần áo Tô chỉ hỏi: ‘Mày về Hà Nội hả? Thế có lẽ lại tiện.’”
Lan chêm vào:
“Anh Tô còn nói gì nữa không?”
“Tô có nói ‘Di đâu cần ai giúp đỡ. Nhất là tao! Dù tao có về gặp nó chắc hai anh em lại gây gổ với nhau, chỉ càng làm buồn lòng bà cụ. Gia dĩ, có mỗi việc mướn trạng sự cần tao về, mày đã về thay, mày lại quen biết nhiều, cũng chẳng còn chuyện gì tao có thể làm được…. Về phần thằng Di, tao nghĩ… Có lẽ một chút tình yêu, săn sóc của đàn bà – me tao và Lan chẳng hạn – cũng không hại gì.’”
Bà Hạ và Lan đều lộ vẻ xúc động. Bà thở dài. Lan nóng nẩy nhận xét:
“Anh Tô ác thật! Sao đàn ông các anh nhẫn tâm thế?”
Bà Hạ chớp chớp mắt:
“Anh mày nói phải đấy chứ!”
Lan bực bội:
“Phải? Anh ấy khinh đàn bà đến thế, ai mà chịu nổi. Có đúng không anh Thắng? Anh Tô coi me với Lan như là…như là….”
Thắng ngắt lời:
“Như là những dụng cụ?”
Lan cáu thực sự:
“Còn anh nữa! Anh cũng đồng ý với anh Tô hả? Lan không nói chuyện với anh nữa đâu.”
Bà Hạ hết nhìn Lan lại nhìn Thắng, hỏi ngơ ngác.
“Hai anh em nói chuyện gì rắc rối vậy? Me cũng đến chịu các cô các cậu, thật lắm chuyện. Thôi me để hai anh em trò chuyện, me đi nằm nghỉ sớm một chút.”
Bà Hạ đứng dậy, nặng nề vào nhà trong, khuôn mặt đăm chiêu lo nghĩ. Sau mấy phút yên lặng hút thuốc, Thắng lên tiếng, môi hơi trề ra ngạo nghễ, châm biếm:
“Lan đừng vội kết tội Tô nhẫn tâm, không thèm ngó ngàng đến số phận của Di. Lan nhầm to lắm đấy!”
Lan lắc lắc cái đầu:
“Anh tưởng anh biết rõ anh Tô hơn Lan hả? Lan là em gái anh ấy kia mà?”
Thắng không khinh:
“Ấy! Vì là em gái nên mới chẳng biết mấy tí về ‘ông anh’. Theo thiển ý của một ‘người lạ’ là tôi, hai anh em Tô, Di rất…rất ‘yêu’ nhau. Hừ! Gớm cái chữ ‘yêu’ nó mới khó tin và chướng làm sao.”
Thắng cựa quậy trên ghế như người ngồi phải một ổ kiến. Hắn dằn mạnh:
“’Yêu’, ‘yêu’, ‘yêu nhau’! Merde alors! Tại sao mình lại ngại dùng đến danh từ này?”
Lan phì cười trước sự vật lộn ngộ nghĩnh của Thắng với những danh từ.
Câu chuyện đang quay chung quanh Tô Di, tự nhiên Lan hỏi một câu:
“Anh Thắng! Anh nói thực cho Lan biết, có phải vì anh Tô, nên mặc dầu đã xin thôi, anh vẫn quay trở về Quân thứ Lưu động làm không hưởng lương?”
Thắng gật đầu không ngần ngừ. Lan lim dim đôi mắt, hàng lông mi dài và cong rung nhẹ và nhìn Thắng nửa khêu gợi, nửa tinh quái:
“Không có gì cản được anh?”
Thắng lại gật đầu, mắt nhìn đăm đăm vào khuôn mặt đẹp của Lan. Lan hạ tầm mắt xuống, giọng nhẹ trong hơi thở:
“Nếu ví dụ Lan yêu cầu anh ở lại Hà Nội không đi Quân thứ Lưu động nữa, anh nghĩ sao? Và để đổi lại, Lan và anh sẽ…”
Lan ngừng nói, nhưng ánh mắt hứa hẹn của nàng còn nói nhiều hơn. Thắng soi mói quan sát Lan. Đoạn hắn ngửa người dựa lưng vào ghế, cười khô khan. Lan lộ vẻ phật ý.
“A! Bon! Thế ra Lan muốn thử sức mạnh của Lan…đến tôi phải không? Chà! Bây giờ mới thấy ‘móng vuốt’ của cô em ông Tô.”
“Anh trả lời đi! Đừng lảng! Đi hay ở?”
Thắng tủm tỉm cười:
“Tôi cũng chưa biết. Để xem đã.”
Lan lắc lắc cái đầu, nói nho nhỏ – giọng của một cô gái bướng bỉnh:
“Có phải anh ra đi anh sợ lưu luyến? Sợ bị cầm chân?”
“Lan muốn chê khéo là tôi chạy trốn một tình cảm…lưu luyến phải không? A không! Có lẽ tôi sợ khi tôi thay đổi, tôi sẽ làm khổ người yêu tôi… Hơn nữa Lan nên nhớ rằng tôi không giống Tô. Tôi không muốn đào bới trong tôi, tìm hiểu tôi là cái gì, tại sao tôi hành động thế này thế kia như Tô. Tôi sống, tích tắc! Tokhông muốn làm điều này, tôi làm. Tích tắc, tôi muốn làm thế kia, tôi làm. Comme ca!”
Lan mở mắt to nhìn Thắng, nàng như bị hấp dẫn, quyến rũ bởi những câu nói – không gì lay chuyển nổi – của Thắng. Một ánh sợ hãi thấp thoáng trong cặp mắt đẹp của Lan. Lan giống một con vật nhỏ bị mê hoặc.
“Lan… Lan sợ anh rồi đấy! Anh thật giống anh Di! Các anh làm Lan ớn lạnh cả xương sống.”
Nghe Lan nhắc đến Di, Thắng cau mày ngẫm nghĩ, đoạn lừng khừng:
“Giống Di? Peut être! Tô cũng có lần bảo tôi như vậy.”
Bà Hạ từ dưới nhà lên, mang theo ấm nước mới pha. Bà cười nói:
“Nằm mãi ngủ vẫn không được. Có ấm nước chè mạn nóng, anh Thắng uống cho tỉnh? Lan à! Con có nhớ sáng nay gặp anh Vĩ, anh ấy hẹn mấy giờ lại đây ấy nhỉ?”
Lan dửng dưng đáp:
“Giờ con đi học về chứ còn giờ nào nữa!”
Thắng, dáng mặt khinh bỉ, buông một câu:
“Vĩ! Hừ… cái thằng sợ vợ!”
Lan tủm tỉm:
“Lan đâu biết anh Vĩ đã là luật sư mà còn sợ vợ, nhưng…ngay từ lúc mới gặp, Lan đã thấy ngay anh Vĩ kỳ kỳ thế nào ấy. Khó tả lắm! Đôi khi anh ấy nhìn Lan, làm như Lan… như Phật bà ngồi trên toà sen…”
Bà Hạ mắng Lan:
“Chỉ nói bậy nào! Kể ra anh ấy có vẻ hơi gàn, nhưng tử tế và lịch thiệp.”
Lan, ánh mắt tinh nghịch, trêu cợt:
“Cách đây mấy hôm, anh Vĩ ôm một bó hoa lớn bằng này này…đến tặng Lan. Ba đi làm chưa về, mê mải làm bếp, anh Vĩ quỳ ngay xuống chân Lan và trịnh trọng xin… xin phép… Lan cho anh ấy được yêu Lan, không cần được yêu lại. Xin phép được tặng Lan hoa, tặng quà và viết thư cho Lan. Thế có ly kỳ không anh?”
“Lan trả lời ra sao?
Lan thản nhiên đáp:
“Lan bằng lòng chứ sao! Với lại anh Vĩ đâu có bắt buộc, đòi hỏi Lan yêu lại đâu mà Lan sợ.”
Thắng ngả người ra phía sau, phá lên cười. Từ dạo quen biết Thắng, đây là lần đầu tiên Lan và bà Hạ thấy hắn cười lớn và lâu như vậy. Lan tuy không hiểu Thắng cười vì thái độ khôi hài của Vĩ hay vì câu nàng vừa nói, nhưng cũng cười theo.
“Tại sao anh cười? Anh cười Lan hả? Liệu hồn đấy!”
Thắng gật gật đầu, vẻ mặt trở lại nghiêm trang.
“Tôi cười vì thấy trả lời, hành động như vậy đúng là Lan, không thể lẫn với ai khác được.”
Đến lượt Lan thắc mắc:
“Lan đặc biệt khác người đến thế kia? Có xấu không?”
“Không! Hay là khác!”
Bà Hạ quay trở lại chuyện Vĩ:
“Vợ anh Vĩ gia thế ra sao? Có giàu không?”
“Phải nói là giàu triệu phú, nhưng Vĩ lấy vợ đã năm sáu năm nay vẫn chưa có con.”
“Tội nghiệp! Chắc bà vợ phải buồn lắm!”
“Vĩ có vẻ khổ sở vì hai vợ chồng hiếm hoi. Để bù lại hắn cặm cụi học đỗ cho bằng được cái cử nhân. Bà vợ cũng thúc đẩy hắn một chút thôi. Ham danh mà!”
Lan ngẫm nghĩ một chút đoạn chợt hỏi:
“Theo anh, anh Vĩ có phải là người có thể chết vì tình được không?”
Thắng buột miệng một câu tiếng Pháp:
“Quelle question! À! Có thể lắm! Lan hỏi làm gì?”
Lan nói lảng sang vấn đề khác, và từ lúc đó Vĩ bị gạt ra ngoài câu chuyện.
Đêm đã khuya. Sau khi thiếp ngủ một giấc ngắn, chợt tỉnh dậy, trở người, ông Hạ đã thấy vợ nằm bên cạnh từ bao giờ. Thấy đèn nhà ngoài còn sáng ông hỏi vợ, giọng gay gắt và khá lớn:
“Thắng chưa về hả?”
Chưa mình ạ.”
Tiếng Lan Thắng cười vang vào. Ông Hạ ngồi nhỏm dậy. Bà Hạ nhìn theo ông lo ngại hỏi:
“Mình đi đâu vậy?”
Ông không đáp, xỏ chân vào dép, lẹp xẹp ra nhà ngoài. Thắng Lan ngồi trên hai chiếc ghế kê sát vào nhau. Thắng không buồn quay đầu về phía ông, Lan vẫn tiếp tục câu chuyện nói dở. Tóc Lan hơi bù rối, má hồng mắt sáng, đôi môi mấp máy. Chợt ông Hạ nhìn thấy bàn tay lớn, thẫm màu của Thắng đặt lên trên bàn tay trắng nhỏ của Lan trên thành ghế. Mặc dầu sự xuất hiện của ông Hạ, Lan cũng như Thắng không ai rút tay về.
Ông Hạ bật nói, giận dữ:
“Tôi không hiểu sao anh còn ngồi tại đây. Anh Thắng! Anh nên tự trọng một chút!”
Thắng ngửng phắt đầu lên, nhưng hắn vẫn không nhìn về phía ông Hạ và không những không rút tay về, những ngón tay hắn còn siết chặt hơn tay Lan. Trước khi ông kịp nói thêm, hắn đứng dậy, bảo Lan:
“Thôi anh về để Lan ngủ. Khuya rồi.”
Lan khe khẽ gật đầu không đáp.
Vẫn không nhìn ông Hạ, Thắng cúi đầu trong một cử chỉ gọn và ngắn:
“Xin phép ông!”
Hắn quay người tiến ra phía cửa. Thắng đi rồi, một bầu không khí im lặng bao trùm lên căn phòng. Lan vẫn ngồi yên trên ghế, mắt hướng ra đêm tối ở ngoài kia, đôi môi hé mở, một vẻ say đắm phảng phất trong khoé môi, ánh mắt. Lan đưa tay lên vuốt tóc và rồi mơn man trên hai cánh môi run nhè nhẹ.
Ông Hạ gắt:
“Lan! Đi ngủ, khuya rồi. Con gái nhớn mà…”
Lan quay người nhìn bố, tự nhiên mỉm cười nhẹ nhàng đáp:
“Ba cứ đi ngủ đi. Con ngồi đây một chút nữa.”
Ông Hạ ngạc nhiên trước thái độ vẫn tự nhiên, không một chút ngại hay lúng túng của Lan. Lan có ý thức những hành động vừa rồi của Lan là tội lỗi và xấu hay không? Ông không hiểu nổi Lan. Có lẽ cô con gái bé nhỏ và nghịch ngợm của ông đã nhường bước cho một thiếu nữ khác hẳn, mà ông không thể nhận ra những nét quen thuộc.
Khuôn mặt ông Hạ cau có, nhưng ông lặng lẽ trở vào phòng trong.
Lan ngồi một mình nghĩ ngợi, mơ mộng ở phòng ngoài rất lâu rồi mới tắt đèn đi ngủ.
Ngày hôm sau, ngày hôm sau nữa, tóm lại suốt trong tuần lễ Thắng sống ở Hà Nội, trước khi quay trở vào đoàn Quân thứ Lưu động, Thắng luôn luôn có mặt tại gia đình ông bà Hạ. Lan Thắng quấn lấy nhau như bóng với hình. Tự coi mình là người nhà, Thắng ở lại dùng cơm trưa, cơm chiều, cùng với gia đình Lan, bỏ tiền mua hoa quả, gà vịt, bánh trái mang lại lẳng lặng trao cho bà Hạ hoặc Lan và cũng không hề nói là biếu tặng. Thái độ tự nhiên của Thắng khiến bà Hạ không biết từ chối cách nào, sau cùng đành để mặc Thắng cư xử theo ý hắn.
Tuy không trò chuyện với nhau về Lan Thắng, hai ông bà đều thầm biết Lan Thắng yêu nhau.
Trước mặt ông bà, Lan Thắng không hề trao đổi những lời âu yếm, những sự ve vuốt lộ liễu, hay những lời lẽ nỉ non ướt át tương tự những cặp tình nhân lãng mạn đa cảm, nên ông Hạ cũng không biết vịn vào duyên cớ nào để trách mắng con gái, hay cư xử cứng rắn với Thắng. Vào buổi tối, mặc dầu có mặt ông bà Hạ và tuy Lan Thắng ngồi xa cách nhau, trao đổi những câu chuyện nghiêm trang về Tô, về cuộc sống của Thắng: Lạ thay Lan Thắng vẫn cảm tưởng gần nhau, quấn chặt lấy nhau, yêu nhau vượt hẳn vùng kiểm soát của bất cứ ai. Vào một buổi trưa, Thắng nghỉ lại tại gia đình ông Hạ, trên chiếc đi văng thường khi dành cho Tô ở phòng ngoài.
Đến giờ đi làm, mặc xong quần áo bước ra ngoài, ông Hạ thấy Lan nằm trên đi văng, cuộn mình trong chiếc chăn mỏng, tóc bỏ xõa, một tay trần chống khuỷu để má tì vào. Thắng ngồi cạnh, hai chân bỏ xuống đất, người hơi cúi xuống mặt Lan.
Nghe tiếng chân ông, hai chiếc đầu rời nhau ra. Hai người vừa hôn nhau. Lan môi hé mở, mắt lim dim, cổ chiếc áo trong nhà hơi trễ chị để lộ một mảng da thịt trắng nhạt.
Không hiểu sao giọng nói của ông Hạ lại lạc hẳn đi, khàn khàn và đầy đe doạ:
“Lan! Đứng dậy! Vào trong nhà ngay! Còn anh Thắng tôi yêu cầu anh rời khỏi nhà tôi tức khắc, để con gái tôi yên.”
Lan ngồi nhỏm dậy, mắt mở to nhìn bố. Thắng nhún vai, mặt cau lại có vẻ khó chịu và chán nản như một người phải xem đi xem lại một vở tuồng nhạt nhẽo. Không một phản ứng nào của Thắng chứng tỏ hắn quan tâm đến câu nói đầy xúc phạm của ông. Hắn dịu dàng bảo Lan:
“Lan à! Nhớ nhắc mẹ tối nay dùng cơm với chúng mình đấy!”
Lan chưa kịp trả lời. Ông Hạ đã cướp lời:
“Anh Thắng! Tại sao anh không trả lời thẳng tôi? Anh không coi tôi ra gì phải không? Vô phép!”
Thắng vùng đứng dậy, quay phắt, nhìn ông Hạ:
“Thưa ông! Tôi đã nghe rõ lời ông nói. Ngán lắm! Ngán lắm! Cái trò này diễn đi diễn lại hoài thật mauvais gout…”
Ông Hạ trừng mắt, Thắng khoa tay gạt đi:
“Bon! Nếu ông muốn, tôi xin rời khỏi nhà ông ngay bây giờ. Nhưng thế không thay đổi được cái gì hết! Ông không hiểu hay sao?”
Hắn cúi xuống, nhìn thẳng vào mặt Lan một giây, nói ngắn ngủi:
“Tối anh lại! Bẩy giờ đúng.”
Hắn tiến thẳng ra phía cửa, dáng đi cả quyết và không quay đầu lại. Lan nhỏm dậy, chân đi đấy, chạy vội theo Thắng. Ông hạ gọi giật!
“Lan! Lại đây tao bảo!”
Ông toan theo ra cửa gọi Lan lại, thời một bàn tay níu áo ông. Ông vung ra. Bà Hạ đứng cạnh ông, vội can:
“Tôi xin ông! Can thiệp vào chuyện riêng của chúng làm gì?”
Ông nói gần như quát:
“Bà không thấy thế lá xấu hổ nhục nhã à! Con gái lớn chạy theo trai. Động cỡn! Đĩ!”
Bà Hạ đẩy ông lại gần chiếc ghế.
“Ông ngồi xuống đi! Ông nặng lời quá! Chúng có làm gì nên tội.”
“Hừ! Bà lại còn bênh con! Không lẽ bạ thằng đàn ông nào đến nhà, con Lan đã quấn ngay lấy!”
Giọng bà Hạ đổi hẳn, tuy dịu dàng nhưng cương quyết:
“Ông đừng nói vậy oan cho Thắng. Trông bề ngoài cấc lấc, nhưng nó tử tế và kín đáo. Ông không biết chứ, trong một tuần nay nó giúp gia đình mình mấy nghìn bạc. Nào tiền trả trạng sư, nào tiền mua quà bánh gửi vào cho Di.”
Ông nhỏm người dậy, hỏi dồn:
“Ai cho phép bà nhận tiền của Thắng đó hả? Tôi cấm bà!”
“Ông cấm tôi cũng đành phải nhận. Tôi không muốn con tôi khổ trong tù… Tại sao, tại sao ông thích làm khổ con cái làm gì? Biết thế tôi đừng nói chuyện này ra cho xong. Thằng Thắng giúp tôi tiền giấu tất cả mọi người. Nó cũng không nói cả cho Lan biết. Nó sợ Lan không nhận và hiểu nhầm nó. Ông cho nhận tiền của người khác là nhục, nhưng thà tôi ngửa tay xin Thắng còn hơn mang thân đi lạy lục vay nợ những người chỉ đáng làm đầy tớ mình…”
Sau khi nói một hơi dài, bà Hạ ngồi phịch xuống giường, hơi thở dồn dập.
Ông Hạ cố nén cơn giận và lấy lại bình tĩnh. Ngồi ngẫm nghĩ một lúc, ông hỏi vợ:
“Thắng có lúc nào đả động đến chuyện hôn nhân với Lan không?”
Bà Hạ lắc đầu.
“Thế nó có nói gì với bà không? Dò ý tứ bà hay nhờ bà dò ý tôi chẳng hạn?”
“Không! Thắng kín đáo lắm. Tôi cũng đã ngỏ ý mời bà mẹ Thắng đến đây chơi, hắn chỉ ậm ừ.”
Ông ngẫm nghĩ một chút.
“Hay nó có vợ rồi và giấu không cho ai biết? Thằng đó lăng nhăng lắm, không tin được.”
Bà Hạ lộ vẻ lo ngại:
“Chắc thằng Tô biết rõ về Thắng. Giá nó có ở nhà.”
Hai vợ chồng im lặng nhìn nhau về điều tiếc sự vắng mặt của đứa con giai cả. Lần đầu tiên ông Hạ cảm thấy vai trò gạch nối quan trọng của Tô, giữa ông và bọn trẻ: Di, Lan, Thắng. Bất giác ông thở dài. Ông nảy ra ý tưởng biên thư hỏi Tô. Thật là một công việc khó khăn, xưa nay cha con ông chưa bao giờ viết thư cho nhau, và ông cũng chưa bao giờ phải hỏi “ý kiến”ai trước khi quyết định một vấn đề.
Lan từ ngoài cửa vội vã bước vào, qua mặt bố mẹ, môi mím lại cả quyết. Năm phút sau, Lan lại xuất hiện, quần áo chỉnh tề. Ông bà Hạ thắc mắc nhìn theo cô con gái. Lan đi đâu? Với Thắng? Ông vừa mở miệng định vặn hỏi, bà đã kéo tay áo ông, van xin nho nhỏ:
“Thôi mình! Kệ nó! Chắc Lan vào thăm Di.”
Ông nặng nề đứng dậy. Đã đến giờ đi làm. Ông cảm thấy nản lòng và mệt mỏi vô kể.
Ra đến cửa, ông thấy xa xa ở đầu phố Lan và thắng đi cạnh nhau, tay nắm tay. Ông nhìn theo chúng, xa dần và khuất ở đầu phố. Trái tim ông thắt lại. Ông có cảm tưởng như vừa mất đứa con gái thân yêu. Lan như vừa chết trong tâm hồn ông. Ông cảm thấy già hẳn đi và lẻ loi…
Tất cả mọi người trong gia đình ông Hạ đều ngạc nhiên khi Di nhắn Vĩ là trong buổi các thân nhân được phép đến thăm các tù nhân ngày hôm nay, Di muốn gặp Lan, và chỉ Lan mà thôi. Nếu bà Hạ hay bất cứ người nào khác đi kèm với Lan, Di sẽ ở lì trong phòng giam không ra mặt.
Nghe tin đó, bà Hạ nhợt nhạt cả người. Hết nhìn Vĩ, lại nhìn Lan, bà lúng túng mãi mới nói lên lời:
“Hay anh Vĩ nghe lầm thế nào ấy chứ!”
“Dạ! Không. Di dặn đi dặn lại cháu mấy lần.”
Bà Hạ cúi đầu, nói nho nhỏ:
“Nó không muốn gặp tôi! Chắc nó bị tra tấn đau lắm nên không muốn tôi trông thấy mặt.”
Vĩ vừa buột miệng nói, “Cháu không nghĩ thế! Anh Di…”Lan lừ mắt. Vĩ vội im ngay.
Lan chỉ nói gọn lỏn:
“Nếu anh Di chỉ muốn gặp riêng con, con không vào thăm đâu.”
Bà Hạ thúc dục, ép buộc mãi, Lan mới miễn cưỡng vâng lời.
Buổi chiều sau khi đã vào thăm Di, Lan về nhà trên xe hơi của Thắng. Lan, mặt có sắc giận, đi thẳng một mạch vào phòng trong, không nói một nửa lời với ông bà Hạ hay Thắng.
Thắng chào ông bà Hạ như thường lệ. Hắn hình như cũng không mấy lưu tâm đến chuyện xích mích khá gay gắt giữa ông Hạ và hắn hồi trưa. Hắn đứng giữa phòng, cặp lông mày rậm nhíu lại, nhìn theo Lan. Bà Hạ chưa kịp hỏi chuyện, hắn đã vội chào ông bà quay người ra khỏi phòng cũng nhanh chóng và đột ngột như lúc bước vào.
Tiếng động cơ xe Thắng rồ lên đoạn nhỏ dần và mất hẳn. Bà Hạ lên tiếng gọi:
“Lan! Con thay quần áo xong chưa? Ra me hỏi chuyện.”
Không thấy tiếng Lan trả lời và cũng không một tiếng động nào vẳng ra chứng tỏ Lan đang thay quần áo.
Bà Hạ toan đứng dậy vào trong nhà, ông gạt đi và sẵng giọng:
“Lan! Ra ngay đây! Bà không việc gì phải đi đâu, tôi cũng muốn hỏi ít điều về Di.”
Lan bước ra phòng ngoài, vẫn mặc nguyên áo dài, đầu hơi cúi, hai tay nóng nẩy vặn đi vặn lại chiếc khăn tay. Nàng ghé ngồi lên giường cạnh mẹ, vẫn im lặng.
Bà Hạ dịu dàng hỏi:
“Con vào thăm có giáp mặt anh Di không?”
Lan gật đầu:
“Anh Di có nói gì với con không?”
Lan lắc đầu. Ông bà Hạ đều thắc mắc. Chẳng lẽ nhắn Lan vào thăm, Di lại không có chuyện gì để nói.
Bà giục:
“Lan! Con nói đi chứ! Kể cho me nghe đầu đuôi. Con…con thấy anh Di vẫn như thường chứ?”
Lan lặng thinh, mặt nhợt đi, tuy nhiên nàng cũng chế ngự được phần nào niềm xúc động và miễn cưỡng đáp:
“Không! Con thấy anh Di như thường, chỉ hơi xanh một chút.”
Ông Hạ nghi ngờ nhìn Lan. Chắc Lan cố ý dấu ông bà sự thật về tình trạng của Di.
Ông hỏi:
“Di có nói là sẽ làm theo lời khuyên của Vĩ khi bị ông Biện lý thẩm vấn hay không?”
Lan quay phắt người, đối diện với bố mẹ, mắt long lanh đầy tức giận phẫn uất, ghìm giữ mãi trong tâm hồn, bây giờ mới bùng ra.
“Ba me đừng hỏi gì con nữa! Con và anh Di đâu có kịp trò chuyện. Mà làm sao trò chuyện nổi cơ chứ. Hai người đứng cách nhau hàng thước, có đến hai tấm mạng thép ngăn cách. Thật kinh tởm! Nó nhốt người ta như nhốt một con vật. Đã thế hàng mấy chục người vào thăm các tội nhân nhao nhao như cái chợ, nhức đầu váng óc, mấy cái thằng gác tù bắng nhắng dục toắng lên trông thật khả ố.”
Lan ngừng lại một giây để lấy hơi, môi run run.
“Con và anh Di chỉ biết đứng ngẩn ra nhìn nhau. Đôi mắt anh Di sâu hoắm nhìn con…” Lan rùng mình, hai bàn tay chợt nắm lấy nhau. “Con chẳng nhớ đứng như thế bao nhiêu lâu… Nhưng trước khi hết hạn năm phút, anh Di đã rời bỏ, đã quay trở về phòng giam sau khi dặn con… Không! Không phải thế! Con gọi lớn ‘Anh Di! Anh Di’. Anh không ngừng bước chỉ quay đầu lại, dơ một ngón tay lên chỉ vào mắt ra hiệu bảo con đừng khóc. Và con ra về! Có vậy!”
Mọi người im lặng một lúc khá lâu. Ông Hạ với lấy chiếc điếu, nhồi thuốc, hút. Bà cầm lấy một bàn tay Lan, vuốt ve nhè nhẹ.
Giọng bà Hạ cất lên, mơ hồ như từ một nơi xa vẳng tới:
“Anh Di dặn con những gì?”
“Không! Lúc nãy con kể nhầm. Anh Di không nói gì với con hết.”
“Lạ nhỉ? Me vẫn không hiểu tại sao anh Di không muốn me vào thăm. Nhỡ nó mệnh hệ nào…”
Lan ngửng đầu nhìn rất lâu khuôn mặt buồn bã và tuyệt vọng của mẹ. Lan đang bị giằng xé giữa nhiều ý muốn đối chọi nhau.
Cuối cùng, Lan đứng dậy lảng vào trong nhà, sửa soạn bữa cơm chiều.
Đột nhiên bà Hạ hỏi chồng một câu khiến ông ngạc nhiên không biết trả lời ra sao:
“Mình! Mình có nghĩ rằng Di ‘cũng’ chẳng yêu gì tôi hay không?”
Ông hừ một tiếng không đáp.
Thắng đến khi gia đình ông Hạ sắp dùng cơm chiều. Lan bận tay dưới bếp. Thắng quần áo tề chỉnh, mặc complet xẫm màu, thắt cravate cẩn thận. Sau khi chào ông bà Hạ, Thắng hỏi ngay bà:
“Chắc Lan đang sửa soạn, tối nay dùng cơm hiệu cùng ông bà như cháu mời hôm qua.”
Ông đáp khô khan, lãnh đạm:
“Tôi xin khếu!”
Bà Hạ lúc đó mới sực nhớ ra lời mời của Thắng, lúng túng một chút, đoạn cũng thoái thác:
“Chết chửa! Tôi quên bẵng đi mất… Lan hư đến thế thì thôi chẳng nhắc nhở gì tôi.”
Bà đưa tay lên bóp trán, giọng mệt mỏi:
“Anh giận tôi chịu lỗi, nhưng thú thật, tối nay tôi thấy người váng vất, đầu óc rối tung chẳng ra làm sao. Nhất là anh cũng biết em Di đang tù tội, chúng tôi cũng không tâm trí đâu mà vui được. Thôi! Anh để cho lần khác vậy.”
Thắng không gặng mời, và trước sự từ khước của cả hai vợ chồng ông Hạ, hắn cũng không lộ vẻ phật ý.
“Vâng. Thế cũng được. Chẳng sao!”
Lan từ nhà dưới bưng mâm cơm lên. Trông thấy Thắng, nàng không nói gì, hai gò má ứng hồng một chút. Thắng hỏi, không nhìn Lan:
“Lan! Lan mặc quần áo rồi đi ăn cơm hiệu với anh. Ba me Lan chiều nay mệt không cùng đi với chúng mình.”
Lan lắc đầu, thẳng thắn đáp:
“Lan cũng vậy, không thể đi được.”
Thắng nhún vai:
“Lại vì Di phải không? À! Di, Di…vẫn lý do ấy?”
Lan giọng thách thức:
“Anh cho lý do đó không đủ hay sao?”
Thắng không đáp, đi đi lại lại trong phòng, dáng điệu nóng nẩy. Bà hạ chắc muốn làm nhẹ bớt bầu không khí căng thẳng giữa Lan và Thắng, nên dịu dàng bảo:
“Anh Thắng! Ngồi chơi một chút rồi dùng cơm một thể với chúng tôi. Để tôi làm thêm mấy món. Anh chắc cũng chưa thấy đói?”
“Ngày mai anh trở về với đoàn Quân thứ! Lan có gửi gì cho anh Tô không?”
Lan hơi giật mình và vẻ mặt thoáng bối rối. Lan lại gần Thắng, ngồi trên chiếc ghế đối diện với Thắng. Lan mỉm cười – một nụ cười cầu xin tha thứ của một cô bé vừa phạm lỗi – nhìn thẳng vào mắt Thắng và hỏi:
“Anh giận Lan hả?”
Lan nhún vai, sắc mặt không thay đổi.
“Anh giận Lan vì tối nay Lan thất hứa với anh. Anh giận, nên anh quyết định ngày mai trở về đoàn Quân thứ Lưu động.”
“Hừ! Lan trẻ con nên tưởng anh cũng trẻ con như Lan. Bon! Lan muốn nghĩ thế nào về anh cũng được. Nhưng, mai anh đi.”
Lan hất chiếc cầm nhỏ ra phía trước trong một dáng bướng bỉnh, dễ thương:
“Thế còn Lan?”
“Anh đi việc quái gì đến Lan!”
Lan bất mãn, gặng:
“Việc gì chứ! Mỗi lúc một khác. Trước đây mấy hôm khác, hôm nay lại khác. Anh trả lời thẳng vào câu hỏi của Lan đi.”
Nét mặt Thắng căng thẳng, hắn im lặng nhìn Lan một cách kỳ lạ, dữ tợn và thoáng ác cảm.
Đúng lúc ấy có tiếng gõ cửa, một bó hoa mầu sắc tươi thắm thò vào, đoạn Vĩ xuất hiện, nửa người nấp sau bó hoa khá lớn. Hắn tiến lại gần Lan và vì Thắng ngồi quay lưng ra phía cửa, nên hắn không nhận biết là ai. Giọng hắn lắp bắp:
“Chào ông ạ! Cô… cô Lan, chiều nay cô đã vào thăm anh Di chưa? Cô có gặp khó khăn không? Tiện đây, tôi mang lại biếu cô bó hoa để…”
Thắng vẫn ngồi yên trên ghế, không quay đầu lại, cắt ngang:
“Anh Vĩ đó hả? ‘Chị’ có mạnh không anh?”
Vĩ sững sờ, đứng ngây ra. Đây là lần đầu hắn chạm trán với Thắng tại gia đình ông Hạ. Lan liếc nhìn Thắng, ánh mắt tinh nghịch, trêu cợt, và mời Vĩ.
“Anh Vĩ ngồi chơi! Gớm! Ngày nào cũng mua hoa biếu chị ấy, chắc chị phải cảm động lắm. Anh Thắng thường nhắc đến anh chị.”
Thắng, giọng sai khiến:
“Vĩ à!Toa lại gần đây moa bảo cái này.”
Đôi mắt lim dim sau cặp kính cận của Vĩ chớp liền mấy cái. Hắn nửa muốn lại ngồi cạnh Lan, nửa như muốn trốn chạy sự dàn mặt với Thắng. Hắn liếc nhìn Lan rất nhanh, hình như muốn thu hình ảnh, ghi khắc vào tâm khảm, đoạn đặt bó hoa xuống bàn, hắn lắp bắp:
“Xin lỗi, toa và cô Lan… moa có hẹn công việc, phải đi ngay… Để lần khác! Dạ! Kính chào ông! À! Thắng, toa ra ngoài này, moa có chút việc riêng muốn nhờ toa.”
Vĩ kéo Thắng ra ngoài hành lang, thầm thì trò chuyện.
Tiếng Thắng cất cao, cợt nhạo:
“Ồ! Toa rắc rối lắm! Việc gì phải che đậy…!”
Tiếng Vĩ van nài:
“Toa nói khe khẽ chứ! Moa xin toa!”
Ông Hạ ngồi vào mâm nhấm nháp mấy món ăn, một mình. Ông vẫn có thói quen ăn trước gia đình như vậy, mặc dầu nhà có khách ăn cơm hay không.
Lan xuống nhà bưng thêm mấy món ăn lên, Thắng cũng vừa dứt câu chuyện với Vĩ, quay vào. Lan hỏi:
“Anh Vĩ nói chuyện gì với anh thế? Bí mật tệ!”
Thắng đột ngột hỏi lại Lan:
“Lan có quen và biết rõ vợ Vĩ không:”
Lan lắc đầu, giọng dửng dưng:
“Sao? Vợ anh Vĩ muốn quen Lan à?”
Thắng cười, ánh mắt thoáng vẻ khâm phục.
“Nếu Lan cho Vĩ biết ý kiến đó, chắc Vĩ ngã ngửa người. Vợ hắn ghen có tiếng!”
“Lan nghe nói bà ấy đẹp lắm, và giàu. Anh nói phải đấy! Hôm nào Lan phải đòi anh Vĩ dẫn đến thăm ‘chị ấy’ mới được.”
Ông Hạ đằng hắng giục Lan:
“Lan! Xuống nhà mời me lên ăn cơm!”
Trước khi xuống bếp, Lan nghiêm trang bảo Thắng:
“Kể ra Lan thấy anh Vĩ thật tội nghiệp!”
“Tội nghiệp? Mais non! Nếu Lan biết rõ Vĩ hơn, Lan sẽ thấy khó mà dùng chữ ‘tội nghiệp’ cho một ‘thằng hèn’ được!”
Lan quay người nói với lại:
“Si tình mà anh chê là hèn kể cũng hơi quá.”
Suốt trước bữa cơm, hầu như chỉ có Lan và Thắng trò chuyện. Ông Hạ không nói với Thắng một câu. Bà Hạ ăn uống uể oải, nghĩ ngợi đâu đâu. Thỉnh thoảng bà đưa mắt quan sát hai khuôn mặt Lan Thắng kế bên nhau, vẻ mặt tươi lên một chút.
Cơm nước xong, Thắng bảo Lan:
“Lan xin phép ba me đi chơi với anh một vòng.”
Lan gật đầu, quay sang bố mẹ.
“Xin phép ba me cho con đi chơi quanh quanh với anh Thắng. Mai anh Thắng lên đường rồi.”
Ông Hạ lưỡng lự một chút đoạn hỏi:
“Đi đâu? Có lâu không?”
“Độ nửa tiếng thôi ạ!”
Ông không đáp, nhưng Lan hiểu ngay ông đã ưng thuận, nên vào nhà trong thay quần áo.
Lan và Thắng đã đi rồi, ông bà Hạ ngồi bàn chuyện về mấy đứa con trai. Bà Hạ cho chồng biết tình trạng tài chính hao hụt của gia đình trong tháng này. Tô vẫn chưa gửi tiền về, Di ngồi trong tù, chủ nợ thúc dữ, bao nhiêu nỗi lo âu buồn phiền dồn dập đè lên hai vợ chồng. Ông đi đi lại lại trong phòng tựa một con thú bị giam trong cũi. Tuy khí hậu mùa thu dịu mát, không hiểu sao ông lại thấy người nóng hâm hấp như sốt. Chân tay ông hình như không phải là của ông nữa. Nghe hoài giọng nói đều đều, than thở của vợ, ông mất hẳn bình tĩnh, quát lên:
“Thôi! Bà im đi. Tôi xin bà!”
Tiếng quát của ông cũng như bị giam hãm trong bốn bức tường chật hẹp. Bà Hạ ngửng đầy nhìn ông. Bao nhiêu năm nay sống cạnh nhau, đột nhiên giây phút này, tự nhiên ông thầm mong muốn vợ ông chết đi và đôi mắt trách móc đang soi vào ông kia, khép lại mãi mãi.
Ông Hạ vội vã ra khỏi nhà, đi dọc theo hè phố. Bầu trời đen kịt không trăng sao. Gió thổi cuốn lá xào xạc chạy quấn vào chân ông. Cơn nóng bức trong cơ thể ông dịu xuống dần dần. Bao giờ đêm tối dài dằng dặc này của đời ông mới chấm dứt? Ông lang thang hàng tiếng đồng hồ, cho đến lúc hơi lạnh thấm vào người mới quay trở về.
Về đến gần nhà, một chiếc xe hơi lướt qua dưới đường: xe của Thắng. Chắc Thắng và Lan không nhìn thấy ông Hạ vì đèn đường ở quãng phố này hỏng gần hết, ông lại đi lẫn trong bóng tối. Xe Thắng đỗ trước cửa nhà, tắt máy, nhưng không thấy ai xuống.
Nhờ ánh sáng chiếc đèn đường gần nhà hắt xuống, ông nhìn thấy lờ mờ bóng Lan và Thắng ngồi cách xa nhau ở hàng ghế trước, mắt hướng vào nhau.
Chợt hai chân ông đứng khựng lại. Hai bóng người trong xe vừa ôm ghì lấy nhau trong một cử động say mê, dữ dội và đột ngột. Thắng và Lan hôn nhau rất lâu.
Chợt hai chân ông đứng khựng lại. Hai bóng người trong xe vừa ôm ghì lấy nhau trong một cử động say mê, dữ dội và đột ngột. Thắng và Lan hôn nhau rất lâu.
Người ông hừng hực và máu vụt chạy mạnh. Ông không thể rời mắt khỏi hai bóng đen đang quấn lấy nhau cách ông không bao xa. Một tiếng nói thầm kín vang lên trong ông, cho ông biết ông chưa già. Đã từ bao nhiêu năm nay, mải ngụp lặn trong những tham vọng làm giàu và những thất bại liên tiếp, ông hầu như lãng quên đã có thời ông trẻ, thân hình căng đầy dục vọng. Những ham muốn đòi yêu ngủ gục từ lâu, hình như vừa trỗi dậy.
Ông Hạ ghen với Thắng Lan, với tuổi trẻ của chúng. Giờ ông mới chợt hiểu tại sao ông không chịu nổi mọi người chung quanh ông tán tỉnh nhau, yêu nhau.
Tuy nhiên, kỳ lạ thay, ông đồng thời cảm thấy ý chí muốn thành công của ông hình như vừa được tiếp thêm sức.
Ông tự hứa một khi giàu có, ông sẽ tìm đủ mọi cách để hưởng lạc. Ừ! Tại sao ông không thể “có”một cô nhân tình trẻ, thân hình tròn lẳn, bộ ngực khiêu khích của riêng ông?
Thắng Lan xuống xe, vào nhà đã khá lâu, ông Hạ mới sực tỉnh, trở về với thực tại.
Ông đi qua phòng khách không nhìn tới chúng. Vợ ông đã thiếp ngủ, mấy vết nhăn khá xâu đả bắt đầu xuất hiện trên vầng trán và khoé mắt. Ông nhẹ nhàng nằm xuống bên cạnh vợ, tay vắt lên trán, mắt mở trừng trừng mà không trông thấy gì. Đầu óc ông trống rỗng không một tư tưởng. Ông nằm như vậy bao nhiêu lâu, ông cũng không rõ.
Ở phòng ngoài Lan nói nho nhỏ:
“Mai anh đi?”
“Ừ mai…!”
“Em yêu anh!”
Thắng im lặng. Lan nhắc lại, giọng tha thiết hơn:
“Anh! Anh nghe rõ em nói không? Em – yêu – anh!”
Giọng Thắng chớm bực bội:
“Nếu nhắc đi nhắc lại câu ấy làm em sung sướng hơn, anh không ngăn!”
“Cố gây cho anh một mặc cảm phạm tội đối với em. Anh có cảm tưởng theo ý em, anh rời bỏ em vào lúc này là một tội… À!”
Giọng Lan ngỡ ngàng:
“Em… em không hiểu anh! Đúng ra em không hiểu nổi tất cả các anh! Anh Tô, Anh Di và anh. Lúc nào các anh hình như cũng muốn gạt em sang một bên, không cho em đả động đến, chứ đừng nói dự phần nào, những chuyện các anh làm… thế giới của các anh…”
Thắng chua chát đáp:
“Có lẽ, vì cái thế giới của đàn ông là thứ độc nhất của các anh còn có thể tin vào.”
“Anh không tin vào tình yêu?”
“Không hẳn vậy! Nhưng… tình yêu không thể đủ được. Anh yêu em, em yêu anh say đắm, chúng ta sung sướng, nhưng vẫn chưa đủ…”
“Anh ích kỷ lắm! Anh chỉ nghĩ đến anh…”
“Ích kỷ? Em muốn hiểu như thế cũng được.”
Hai người im lặng.
Giọng Lan lại cất lên, Lan có vẻ bị xúc phạm:
“Anh làm em buồn! Bây giờ em mới hiểu, trước đến nay anh vẫn khinh em. Anh coi em cũng như… Phương… Pauline…”
Thắng xô ghế, tiếng Thắng gay gắt, tàn nhẫn:
“Bon Dieu! Quả thật em chẳng hiểu cái gì hết! Tại sao em phải hạ mình xuống, so sánh em với những người đàn bà khác? Tại sao em không nghĩ rằng trường hợp chúng ta là một trường hợp đặc biệt, không thể đặt cạnh trường hợp nào khác! Trước khi gặp em, anh đã gặp nhiều người. Những chuyện đó đã xảy ra… Em muốn anh làm gì bây giờ? Hối hận? Thật khôi hài…! Mà làm sao anh hối hận nổi cơ chứ? Khi anh gặp họ, yêu họ anh đã biết có em trên cái cõi đời này đâu!”
“Em… em cũng biết vậy. Nhưng em chỉ là một người đàn bà, làm sao em ngăn nổi em, nghĩ đến những lúc anh sống ‘họ’, yêu họ, thân mật với họ…”
“Nếu vậy, em chỉ làm khổ em, làm em bực mình, và kém yêu anh.”
“Anh Thắng! Lại gần đây em bảo! Tại sao anh cứ cau có và đứng quay lưng vào em như thế kia.”
Thắng bước vội lại gần Lan và rồi im lặng bao trùm lên tất cả.
Hơi thở dồn dập của Lan lẫn với tiếng rên rất nhẹ, tiếng rên của một người đàn bà say đắm trong tình yêu. Lan gọi tên Thắng, âu yếm, níu kéo:
“Anh Thắng! Anh!”
Một khoảnh khắc qua, Lan Thắng lại tiếp tục trò chuyện. Lan hỏi:
“Anh định ở lại đoàn Quân thứ Lưu động bao nhiêu lâu?”
“Một tuần, có thể một tháng, khi nào đoàn bị giải tán, anh sẽ về.”
“Tại sao lại bị giải tán?”
“Em không đọc báo à? Trong vòng mấy hôm vừa qua, đoàn Quân thứ Lưu động bị Việt Minh tấn công. Chẳng bao lâu sẽ đến lượt đoàn các anh. Chắc sẽ có lắm trò vui. Ồ! Anh đã thấy nóng ruột muốn đi rồi đây!”
“Hôm từ biệt anh Tô, anh có hẹn ngày nào trở lại không?”
“Không!”
“Nhưng em chắc anh Tô đoán biết rồi anh sẽ trở lại! Anh ấy tinh ý lắm mà!”
Thắng nhún vai:
“Có thể lắm!”
Lan lẩm bẩm một câu, như tự hỏi mình:
“Em vẫn chịu không hiểu nổi… Trở lại Quân thứ Lưu động, anh được cái gì? Anh bảo vì anh Tô, nhưng em vẫn không tin. Ở lại Hà Nội, đâu có gì thay đổi, anh Tô vẫn là bạn kia mà?”
“Không! Không! Anh không nghĩ rằng nếu anh ở lại Hà Nội, anh và Tô lại tiếp tục vẫn là ‘bạn’ được!”
“Sao kỳ khôi vậy? Em tưởng đã thân nhau, dù sống xa nhau, đâu vì thế mà kém thân.
Thắng đứng bật dậy, đi đi lại lại trước mắt Lan. Hắn vừa nói vừa lấy một bàn tay nắm lại đấm nhẹ vào lòng bàn tay kia mở rộng. Dáng điệu hắn kích thích, nóng nẩy.”
“Lan không hiểu! Không! Lan hiểu tình bạn theo một nghĩa tầm thường và nông cạn. Bọn! Là bạn, khi một thằng này gặp mặt thằng con trai khác hợp tính nhau, quyến luyến nhau – Phải thế không? Để rồi hai thằng dắt tay nhau dung dăng dung dẻ ngoài đường phố? Như hai thằng oắt con đa cảm? Trời đất! Bạn kiểu vậy, anh lậy ba vái…!”
Thắng đứng sững, ngón tay trỏ vào mặt Lan.
“Lan! Lan vẫn nhầm tưởng anh có cảm tình với cái ông anh gàn dở của Lan phải không?”
“Dĩ nhiên rồi! Không cảm tình với nhau sao chơi với nhau nổi!”
“Đấy! Lan nhầm to ở chỗ ấy! Anh là bạn Tô không phải anh ưa bộ mặt ông ấy, khoái lối đi đứng, sống, yêu gái của ông ấy. Hoàn toàn không! Anh và Tô khác nhau về đủ mọi mặt. Ông ấy khoái suy nghĩ, trầm tư mặc tưởng, lúc nào cũng phân tích phân tiếc loạn cả lên… Anh ghét suy nghĩ thậm tệ, lắm khi anh thấy ông ấy sống thật vất vả, đăm đăm chiêu chiêu tìm tòi ‘ý nghĩa sâu xa’ của từng sự việc xảy đến cho ông ta, hay từng tình cảm ‘tế nhị’, ‘uẩn khúc’ trong tâm hồn… Ô là là! Điên cái đầu luôn! Trông anh đây này, anh sống đại đi, tích tắc, tích tắc, có tiện lợi hơn không? Tóm lại…”
Thắng ngừng nói, lầu bầu rủa:
“Merde alors! Chà! Khó nói thật! Anh chỉ quen hành động.”
Lan tinh quái:
“À! Em hiểu rồi! Hai ông không giống nhau, không có cảm tình với nhau nên, hai ông trở thành ‘bạn thân’ của nhau? Khó tin quá!”
Thắng ngồi phịch xuống chiếc ghế cạnh Lan, đưa tay lên vuốt tóc liên hồi. Hắn chuyển câu chuyện sang một hướng khác.
“Để anh kể cho Lan nghe chuyện về mấy thằng bạn anh… Dạo anh là tự vệ, ở lại Hà Nội đánh Pháp với một lũ bạn cùng lớp, có mấy lần chiến xa Pháp tấn công phố bọn anh giữ, bọn anh say mê bắn, bò, ném xăng vào chiến xa. Vừa bắn vừa la hét gọi nhau. Ấy! Vào những giây phút đó, anh thấy yêu chúng nó ghê gớm, quên tất cả… Bao nhiêu sinh lực, ý chí trong người đều được anh đổ dốc ra sống cho bằng hết.
Anh cảm thấy anh sống thật ‘đàn ông’! Voilà! Người cứ căng ra, đầy ứ và anh cười rất nhiều! Cười như chưa bao giờ anh có dịp được cười thoải mái đến như vậy. Nhưng sau đó, khoảng đời còn lại của anh khác hẳn. Anh hậm hực với me anh, với chính anh. Anh sống lủi thủi một mình, vất va vất vưởng. Tình yêu đàn bà, chơi bời, rượu chỉ lôi cuốn anh phần nào, trong một thời kỳ thường rất ngắn ngủi. Thằng đàn ông trong anh say ngủ, mê muội, abruti, cho đến khi anh gặp Tô.”
Thắng lại đẩy ghế đứng dậy, đi đi lại lại.
“Mặc dầu anh phải nói ngay, anh ghét một vài đặc điểm của ông anh Lan, nhưng ghét yêu đâu quan trọng. Tình cảm, Sensibleries chỉ làm anh ghê tởm. Anh chỉ thấy Tô là một người thật hiếm hoi! Tô cũng là một người đàn ông như anh. Có lẽ cái type đàn ông ở hắn có khác anh, nghĩa là không hùng hùng hổ hổ, vũ phu tàn nhẫn, lao đầu ra phía trước. Nhưng, không thật formidable! Hắn thật thông minh và can trường, hắn không sợ một cái gì hết, dù có những phút mềm yếu trước đây của hắn. Ngồi nghe hắn nói về hắn, tra hỏi anh ác hơn cả một ông đội xếp, bắt anh nói hết về anh, thật sướng. Và khi cần đến hành động, hắn sẽ có mặt, hô ngay ‘Présent!’”
Thắng rùng mình.
“Được cầm súng, chiến đấu cạnh Tô thật khoái hơn tất cả mọi thú trên đời…”
Lan cắt ngang, gay gắt:
“Anh lệ thuộc anh Tô! Kết luận là vậy.”
Thắng nóng nảy đáp:
“Em nhầm! Không phải lệ thuộc! Đối diện, đối diện! Lạ thật! Đàn bà không bao giờ có thể sống ngang hàng với một người khác. Lúc nào cũng lôi vấn đề ai lệ thuộc ai vào cuộc sống mới nghe. Les femmes! Oh! Cesêtre inférieurs…”
Lan dằn dỗi:
“Em hiểu anh rồi! Em biết mà: các anh khinh em, khinh đàn bà! Đúng vậy không?”
Thắng tàn nhẫn:
“Anh đâu muốn vậy! Tự em, em làm anh khinh em đấy chứ! Em là đàn bà. Vào thời này, em ngồi nhà, em làm bếp, em đi học, em trang điểm, em săn sóc mọi người trong gia đình. Đối với em thế là đủ. Nhưng các anh, những người đàn ông, các anh bắt buộc phải sống khác, Tô nói đúng! Hắn có lần bảo anh ‘Số mệnh đàn ông chúng mình – vào thời này – chia cắt mình, tách mình khỏi tình yêu của những người đàn bà’. Em tưởng anh sung sướng lắm hay sao, khi phải rời bỏ em…?”
Lan gần như kêu lên, đau đớn, say đắm:
“Anh Thắng! Đừng, anh đừng nói nữa… Anh lại đây với em… Em xin lỗi anh…”
Một phút yên lặng trôi qua. Đột nhiên bà Hạ nằm cạnh ông mê sảng, kêu thất thanh:
“Di! Di! Trời ơi! Tội me lắm! Đừng hắt hủi! Me xin con…”
Ông Hạ lay vợ, gọi:
“Dậy! Tỉnh dậy! Lại nằm mê hoảng rồi.”
Bà Hạ mở mắt, ngơ ngác nhìn ông, và không nhận ra ông. Trán bà đẫm mồ hôi, hai tay ôm lấy ngực. Bà yếu ớt mỉm cười, ngồi dậy, vấn lại tóc, nói với ông như xin lỗi:
“Chà! Tôi mê hoảng sợ quá! Mình chưa ngủ à?”
Lan ở nhà ngoài vội vào, tay bưng chén nước nóng:
“Me uống đi cho tỉnh! Me đừng ngủ lại vội, ngồi một chút cho tỉnh trí đã.”
Bà Hạ vẫn chưa hoàn hồn, đỡ lấy chén nước uống một hơi, đoạn dựa lưng vào tường, ngồi thở. Lan đứng nhìn mẹ, ánh mắt đầy lo ngại. Bà hỏi:
“Khuya chưa con? Anh Thắng đã về chưa?”
Lan lắc lắc đầu. Bà Hạ đuổi con gái:
“Con ra ngoài nhà tiếp chuyện anh ấy đi! Để mặc me! Tóc con làm sao bù thế kia?”
Lan hơi đỏ mặt, không đáp, quay trở ra nhà ngoài. Ông Hạ nhắm mắt nhưng không ngủ nổi. Ông tự hỏi, vợ ông hơi yếu tim, sống qua giai đoạn đầy những xúc động này, sẽ có tránh khỏi mang bệnh nặng hay không?
Thắng hỏi Lan:
“Me mê hoảng phải không?”
Khuôn mặt Lan thoáng lo ngại:
“Vâng! Lan lo cho me. Dạo này me có vẻ yếu, không đêm nào không mê hoảng. “
Thắng, Lan hạ giọng thầm thì về bà Hạ. Loáng thoáng những câu “nhỡ anh Di”, “nếu em cần anh sẽ đưa tiền mua thuốc.”
Một lát sau, Lan hỏi Thắng:
“Anh! Anh kể cho em nghe về ba me anh đi!”
Thắng miễn cưỡng:
“Có cái quái gì mà kể!”
“Tại sao anh không thích nhắc đến ba me anh?”
“Không thích? Lan moi đâu ra cái tư tưởng kỳ quái ấy! Ba anh, như em đã biết hôm nào anh kể cho Tô nghe. Còn me anh? Nếu em muốn, hôm nào anh giới thiệu em với me. Lan chưa biết me anh! Me anh chiều con, yêu con một cách quá đáng. Anh ít khi dám ngồi bên cạnh me anh, sự âu yếm của me làm anh ngạt thở. Lắm khi anh cáu, gắt um lên.”
Lan cười:
“Em hiểu lắm! Đến như em thỉnh thoảng anh mới gặp em, mà em cũng đã nhiều lần khiến anh nghẹt thở, nữa là me anh nuôi anh, yêu anh từ thuở nhỏ.”
“Lan thông mình lắm!”
Lan ngập ngừng:
“Thế còn anh, anh yêu me anh chứ!”
Thắng dửng dưng đáp:
“Anh không để ý. Thực ra anh cũng chưa bao giờ tự đặt câu hỏi đó cho anh. Anh chỉ biết anh không ghét me anh, thế thôi!”
“Thế còn ba anh… Ba anh chết có làm anh xúc động nhiều lắm không?”
Thắng ngửng phắt đầu, cặp mắt long lanh đầy giận dữ uất ức. Thắng đảo mắt nhìn vào nhiều điểm trên khoảng không như tìm tòi lục lọi một kẻ thù vô hình.
“Anh chỉ biết tin ba anh bị Việt Minh giết ít lâu trước khi Pháp Việt đánh nhau ở Hà Nội. Anh tưởng điên lên! Vô lý, vô lý hết sức! Tại sao tụi nó dám giết ba anh? Đảng phái, chính trị? Je m’en fous! Tụi Pháp còn chẳng dám giết ba anh nữa là. Bon! Ba anh trí thức gàn, ương ngạnh, quân tử sĩ phu Tầu, et quoi! Nhưng giết ba anh thời thật quá sức! Chúng là một lũ điên, dã man!”
Anh đã quyết định rời bỏ làng ngũ tự vệ thành, nhưng về sau, vì mấy thằng bọn công tử bột nhà giàu say mê giết Pháp, anh đổi ý kiến. Anh nghĩ rằng anh, cũng như chúng nó, chẳng đảng phái đếch gì hết, chỉ muốn đánh Pháp..
Anh đã ở lại Hà Nội! Anh đã giết vô khối Pháp và chính tay anh cũng đã bắn què một thằng cán bộ Việt Minh. Thằng này được cấp trên gửi xuống để chỉ huy bọn anh. Nó hèn! Lúc tụi Tây tấn công khu phố anh, nó bỏ chạy. Anh bắn liền! Vì không chết, nên nó ra lệnh cho tụi bạn anh bắt giam anh. Tụi bạn anh sợ liên lụy, ngầm giục anh trốn.
Anh không chịu, xỉ vả chúng một trận. Phiền một cái tụi chúng một hai thằng thân Việt Minh và biết ba anh là đảng viên Việt Quốc. Chúng nó lợi dụng một buổi tối đến phiên anh phải gác, họp nhau lại bàn tán. Chắc hẳn chúng tìm một giải pháp nào đó giải quyết sự có mặt của anh. Lan tưởng tượng xem… Anh ôm súng, gác ngoài ụ, trời tối lạnh, mưa phùn, đằng trước anh là Pháp, đằng sau lưng anh tụi bạn anh rập rình đâm anh sau lưng… Cuối cùng anh vứt lại khẩu súng, bỏ đi. Không phải là anh sợ! Không! Anh chán ngấy đến cổ, buồn nôn muốn ọe thì đúng hơn. Mỉa mai thay, anh ghét Pháp mà kết cục anh đã ở lại Hà Nội, không tản cư. Anh tìm đến me anh, sống lẫn trong khu người Tầu ở hàng Buồm. Voilà! Lan đã hài lòng chưa?”
Tô chưa nói dứt câu thời có tiếng gõ cửa rất mạnh. Mọi người đều ngạc nhiên. Ai có thể đến chơi vào lúc này. Lan đứng dậy, vừa bước lại gần cửa, tiếng gõ lại vang lên nóng nẩy dồn dập hơn. Lan có vẻ bực mình, mở khoá và giật mạnh cánh cửa về phía trong. Một giọng nói oang oang cất lên:
“Chào cô Lan! Nhà ngủ hết rồi sao mà không có ánh đèn? Tô có nhà chứ cô?”
Lan không đáp, môi hơi mím lại. Lan vừa bực mình trước giọng nói quá thân mật của người khác, lại vừa ngạc nhiên không hiểu sao người khách lại biết rõ tên mình.
Tô gọi với ra:
“Thắng đấy hả? Vào đây mày.”
Ông Hạ mắng Lan:
“Lan đứng sang một bên để anh ấy vào. Ai lại đứng sừng sững giữa cửa thế kia.”
Tô vẫn ngồi trên giường cạnh mẹ, không ra cửa đón Thắng. Thắng bước hẳn vào trong nhà. Không chút do dự hắn quay sang phía Lan, nhìn vào mặt nàng, hai tay giơ ra một gói bọc giấy bóng:
“Hàng áo lụa của cô Lan và bà nhà đây. Cô thích mầu mỡ gà phải không? Bà chị tôi lục mãi mới tìm được màu đó.”
Không để Lan kịp phản ứng, Thắng quay về phía ông bà Hạ, chào, đầu cúi xuống trong một cử chỉ gọn và ngắn:
“Chào ông! Chào bà! Tôi định đến xin phép ông bà cho anh Tô đi chơi vài chỗ tối nay.”
Bà Hạ cười, mời:
“Anh ngồi chơi đã! Đi đâu mà vội. Lan! Kéo ghế mời anh ngồi.”
“Bà cứ để tôi tự nhiên.”
Thắng vẫn đứng giữa phòng, đôi mắt lim dim dưới đôi lông mày chổi xể, không chịu nhìn hẳn vào một vật gì, lướt rất nhanh qua khuôn mặt mọi người, đồ đạc trong phòng, mấy bức tranh trên tường… Tô và Thắng không bắt tay nhau. Di vẫn ngồi yên ở ghế, quan sát người bạn của anh, ánh mắt đầy ác cảm, nghi kỵ. Lan, sau khi quẳng hơi mạnh gói lụa lên chiếc bàn gần đấy, và tay vâng lời mẹ kéo một chiếc ghế lại gần giường. Nhưng không lên tiếng mời Thắng ngồi.”
Tô hỏi Thắng:
“Mày sắp đi ăn tiệc hay sao mà đánh bộ chững chạc thế? Ngồi xuống đi chú.”
Thắng giục:
“Mặc quần áo vào nhanh lên! Tao vừa xin phép tháo khoán cho mày rồi.”
“Thì cứ ngồi xuống đi đã!”
Thằng kéo chiếc ghế lại phía mình, ngồi xuống, hắn lẩm bẩm:
“Khu này điện hỏng hay sao mà tối mò mò.”
Lan ngồi sau lưng bà Hạ, tì cầm lên vai mẹ, cũng quan sát Thắng không mấy thiện cảm, và khi mẹ còn lúng túng chưa biết đáp ra sao, Lan trả lời ngay, giọng hơi kiêu hãnh và thách thức:
“Nhà tôi mấy tháng nay không trả lời tiền điện, nên họ cúp công tơ.”
Thắng đưa tay lên vuốt tóc – một cử chỉ không cần thiết, vì tóc hắn mượt và uốn lượn mấy làn sóng – càu nhàu nhắc lại:
“À! Cúp điện… Bon! Tant pis!”
Bà Hạ gợi chuyện:
“Chúng tôi thấy em Tô nhắc đến anh luôn. Kể anh là con một mà ông bà cụ để cho đi Quân thứ Lưu động.”
Thắng ngắt lời bà Hạ:
“Dạ! Bà cụ tôi chiều nay vừa mới chửi tôi một trận nên thân vì cái tội bỏ nhà đi mấy tháng, không nói trước đấy ạ!”
Hắn khoác tay, hơi nhún vai tiếp:
“Bà cụ tôi già rồi nên cũng hơi lẩn thẩn. Chửi chán lại khóc lóc um xùm… Theo ý bà cụ tôi, có lẽ, hễ tôi đi đâu vẫn cần phải có vú em đi theo.”
Bà Hạ mỉm cười, điềm đạm nói:
“Tôi hiểu bà cụ anh lắm! Mẹ nào chẳng lo cho con.”
Thắng hừ một tiếng, không đáp. Đang ngồi, hắn đột ngột đứng dậy, lại gần bàn cầm gói lụa lên, xé giấy bóng soàn soạt, trao cho bà Hạ hai hàng áo lụa màu sẫm và Lan hai hàng màu mỡ gà và nói với một giọng cả quyết không để ai cãi lại được mình:
“Tôi chắc hàng màu sẫm sẽ làm bà hài lòng, Còn cô Lan! Cô thử ướm hàng lên người xem có hợp không?”
Lan đỡ lấy vải nhưng lại đặt xuống trước mặt. Thắng nhìn thẳng vào mắt Lan rất nhanh, giọng sai khiến:
“Cô không thử hàng à? Cô không ưa hay sao?”
Tô hỏi:
“Sao mày lại mang mỗi thứ hai hàng áo? Tao dặn lấy một thôi cơ mà.”
Thắng khoác tay, đáp ngay, không nghĩ ngợi:
“Một hàng tao biếu…! Chắc bà và cô Lan không từ chối?”
Bà Hạ và Lan chưa kịp đáp ra sao, Thắng đã ngồi phịch xuống ghế, quay sang hỏi Tô, làm như quà biếu của hắn dĩ nhiên đã được nhận.
“Mày có thuốc không? Tao xin một điếu.”
Lan cầm một hàng áo lên, ông vào ngực, nói với Tô:
“Hiện giờ em chỉ cần may ‘một cái’ áo dài thôi. Hàng của anh Tô đủ chán rồi.”
Thắng nhìn Tô, giơ tay lên búng hai ngón vào nhau cái tách:
“Mày nói đúng! Cô Lan, em mày thuộc hạng bướng và cứng đầu…”
Hắn ngừng một chút, giọng rất nghiêm trang:
“Tính tôi lại ưa những người bướng.”
Lan đứng phắt dậy, cầm theo hàng áo của Tô cho, khoan thai và kiêu hãnh đi thẳng vào phòng trong, đầu cao trên cổ.
Bà Hạ sợ Thắng mếch lòng, nhẹ nhàng nói:
“Cám ơn anh Thắng! Anh đã cho quà chúng tôi không dám chối từ. Còn em Lan để rồi tôi…”
Di từ khi Thắng bước vào nhà, vẫn im lặng, tự nhiên vụt lên tiếng:
“Lan không muốn nhận quà biếu của ‘người lạ’, me ép nó làm gì…”
Hắn phì một hơi thuốc lá, giọng châm biếm:
“Con nhà giàu có khác! Cốt cách cũng phong lưu khác đời.”
Thắng hơi cúi người ra phía trước, lấy bàn chân dí mạnh lên mẩu thuốc gần như còn nguyên, hắn vừa vứt xuống đất, làm ra vẻ không hề nghe thấy câu nói thách thức của Di. Đoạn hắn ngửng phắt đầu, hất hàm bảo Tô:
“Thôi! Đi chứ chú mày! Muộn rồi.”
Vừa dứt lời hắn đứng dậy, nghiêng đầu chào:
“Xin phép ông bà.”
Không nhìn ai, hắn tiến lại gần Tô, lôi Tô đứng dậy. Hai người kéo nhau ra hiên nói chuyện riêng với nhau. Tô đã quen với thái độ hơi thô lỗ và kỳ khôi của Thắng, nên nét mặt vẫn thản nhiên và cử chỉ ung dung.
Tiếng Tô và Thắng cười khá lớn vang vào trong nhà. Ông Hạ cau mặt bảo vợ:
Ngay từ lúc Thắng bước chân vào nhà, ông Hạ đã có ác cảm ngay với tất cả những gì hắn có: Bộ quần áo complet sang trọng cắt đúng mốt, làn tóc quăn làm dáng, những dáng bộ lời nói của một anh “công tử nhà giàu”được nuông chiều, khinh khỉnh bất cần đời, bất cần mọi người.
Bà Hạ cười hiền lành đáp:
“Nhưng tôi thấy hắn với Tô có vẻ hợp và thân nhau đấy chứ! Tô nó cũng ít bạn bè.”
“Mẹ nhận quà biếu của hắn làm gì? Nó biếu mà cứ như ném vào mặt mình.”
Bà Hạ bênh Tô:
“Tại sao con hay thích chỉ trích các bạn của anh Tô! Đâu có phải bạn con mà con can thiệp vào.”
Di bật ngả người, để nửa người trên chìm lẫn hẳn với bóng tối. hắn hít mạnh một hơi, đốm đỏ đầu điếu thuốc trên môi hắn sáng rực lên. hắn nhắm mắt, môi mím chặt những tưởng đến nát mẩu thuốc lá. Ông Hạ hơi ngạc nhiên khi thấy hắn chậm rãi rụi mạnh đầu thuốc lá cháy dở vào cánh tay để trần, mặt không hề nhăn vì vết bỏng và sau đó ngồi bất động. Không hiểu sao tình cớ chứng kiến cử chỉ tự hành hạ xác thịt mình của Di, ông cảm thấy buồn nôn và kinh tởm. Ông bất giác quay mặt nhìn ra phía khác.
Tô một mình vừa bước vào nhà và nói với mẹ:
“Ở nhà cứ đi ngủ trước đi! Tô chắc đến khuya mới về. Lan đưa cho anh một chiếc chìa khoá để anh có thể mớ cửa lấy.”
Tự nhiên, ông Hạ bật nói gay gắt:
“Nhà binh thiết quân luật, mày đi chơi khuya làm chi!”
Tô cau mặt nhìn bố một giây. Hắn lẳng lặng vào nhà trong thay quần áo. Ông Hạ cố nén giận. Ông vừa quên mất Tô đâu còn trẻ dại và sự nguy hiểm của một cuộc đi chơi khuya trong thành phố thật vô nghĩa so với những ngày hoạt động tại những vùng quê, đầy Việt Minh.
Tô mặc xong quần áo và vừa ở phòng trong bước ra, Lan đã tò mò hỏi anh:
“Anh đi chơi đâu vậy?”
“Đi nhẩy!”
Ông bà Hạ, Lan sửng sốt. Tô đi nhẩy đầm? Ăn chơi? Cả gia đình không thể tưởng tượng nổi là Tô có thể đi nhay đầm vui chơi như những người khác được.
Lan cười phá lên, tưởng anh đùa:
“Nhưng, anh đâu có biết nhẩy.”
Tô nhún vai, đáp gỏn lọn:
“Sao lại không!”
Tô rời khỏi nhà. Tiếng hắn nói chuyện với Thắng vang vào trong nhà, rồi xa dần. Mọi người vẫn chưa hết ngạc nhiên. Thế mà mọi người đã tưởng biết được ít nhiều điều về Tô. Năm phút sau, mặc dầu ông Hạ quát lên ngăn cấm, Di cũng rời khỏi nhà, hai tay thọc mạnh vào túi, vai so lại, đầu lao ra đằng trước. Bà Hạ thở dài, Lan đăm chiêu nhìn theo anh và ông lại càu nhàu chửi rửa hai đứa con trai, như thường lệ.
Sáng hôm sau ông Hạ đi làm sớm, Di tối qua không về nhà ngủ, Tô đi chơi về khuya, vẫn còn nằm ngủ ở đi văng phòng ngoài.
Lan nghỉ học vì buổi sáng nàng đã nằng nặc đòi mẹ viết đơn xin nghỉ vì lý do gia đình để ở nhà với anh. Bà Hạ chiều con, cắm cúi viết, đoạn trao cho cô bạn Lan – thường ngày sáng nào cũng rủ Lan đi học – nộp hộ ở trường. Gần cuối thu trời chợt có hôm trở lại đẹp trong vắt, gió nhẹ và nắng hanh vàng dậy rất sớm, tràn ngập lên cảnh vật ngoài cửa sổ hé mở.
Tô đã dậy nhưng còn nằm dốn lại trên giường, văng vẳng tiếng Lan và bà mẹ nói chuyện ở dưới bếp.
Bà Hạ hỏi:
Anh Tô chưa dậy à?
“Chưa mẹ ạ. Gớm! Con vừa ghé gần vào mặt anh xem anh ấy thức hay ngủ, đã ngửi thấy sực nức mùa nước hoa và rượu…”
Lan hắt xì hơi. Đoạn Lan mách:
“Me! Tối qua anh Di lại không về nhà ngủ.”
Im lặng. Một phút sau, Lan tẩn mẩn hỏi:
“Me! Các cô vũ nữ, họ có đẻ được không me?”
Bà Hạ phì cười, đáp:
“Có chứ!”
Giọng Lan nghiêm trang:
“Không biết để hàng trăm người đàn ông ôm vào người, con họ đẻ ra khác gì đi không?”
“Sao con lại nghĩ rằng con họ khác con người thường? Chẳng khác gì cả!”
Lan im lặng, ngẫm nghĩ, đoạn lại hỏi:
“Tại sao họ lại làm nghề đó hở me? Họ thích thế à?”
Bà Hạ lơ đãng hỏi lại:
“Thích gì?”
“Thích nhiều đàn ông ôm họ vào người.”
“Bậy nào! Vì…họ đói, không biết làm nghề gì để kiếm tiền.”
“Tức là họ nghèo túng chứ gì?”
Lan tiếp luôn một câu, giọng vẫn trong vắt, tự nhiên như khi nói đến một vấn đề rất thường như làm bếp, ăn uống: “Nếu thế! Con cũng muốn làm vũ nữ.”
Giật mình trước lời tuyên bố táo bạo của cô con gái yêu, bà Hạ đánh rớt chiếc soong đang cầm trong tay xuống đất.
“Vì con muốn biết họ nghĩ những gì và sống ra sao.”
“Đừng nói nhảm nào!”
Lan bướng bỉnh cãi:
“Con nói thật đó me.”
Tô lên tiếng nói một câu lúng búng ở trong chăn, nghe không rõ. Lan gọi vọng lên:
“Anh Tô dậy rồi đấy à? Anh nói cái gì đấy?”
Tô nhỏm dậy, thò đầu ra khỏi chăn, bảo:
“Me để mặc Lan! Nếu Lan muốn làm vũ nữ, tối nay để con dẫn Lan đến ‘dancing’… Tha hồ mà xem bọn họ hành nghề ra làm sao mà học.”
Lan ở dưới nhà lên, mặc một chiếc áo ngắn trong nhà xanh lá mạ, tóc búi cao lên đỉnh đầu, bưng một bát cháo bốc khói. Tô ngồi dậy, vuôn vai nhìn em gái và thốt lên:
“Ê! Cô vũ nữ học nghề, cô cho tôi chén cái gì thế? Nắng thu hả? Ngon tuyệt! Nắng thu xanh…”
Lan ghé ngồi xuống đi văng, đưa bát cho anh:
“Cháo trứng hành răm đấy! Anh ăn ngay đi, và đừng nói lảm nhảm nữa.”
“Anh chưa đánh răng rửa mặt.”
“Em bảo ăn là phải ăn!”
Lan nhìn anh ăn cháo, bất giác hỏi:
“Họ có ôm sát lắm không hở anh?”
“Hừm! ‘Họ’ nào?”
“Đàn ông đi nhảy chớ ai.”
“À! Sát, hết sức sát!”
“Khó chịu nhỉ? Kinh kinh làm sao ấy! Nhưng rồi cũng quen đi chứ anh?”
Tô nghiêm trang:
“Có thể lắm! Nhưng anh không nghĩ rằng người ta có thể quen được một điều người ta không thích, nhất là thân hình của hàng trăm người khác nhau.”
“Sao anh biết được? Anh là đàn ông kia mà!”
Tô nhún vai không đáp. Lan lại vặn hỏi:
“Thế còn anh?”
“Anh sao?”
“Anh có ôm họ sát hết sức không?”
“Không! Đúng ra cũng tuỳ. Nhìn vẻ mặt người nào có vẻ thích ôm sát anh ôm sát; người nào lạnh nhạt hay cười nhà nghề, anh nhảy cách xa.”
“Tiện nhỉ!”
“Lan bảo cái gì tiện?”
“Cái lối yêu ghét của anh chứ cái gì. Anh đối với em và me cũng thế hả?”
Ngụm cháo vừa nuốt mắc nghẹn cổ họng Tô. Hắn liếc nhìn em gái, một ánh lo ngại thoáng trong cặp mắt rình mò. Hắn lẩm nhẩm:
“Chà khó nuốt quá!”
“Cái gì khó nuốt? Câu em vừa nói phải không?”
Tô hạ bát cháo xuống, ngửa đầu ra phía sau, nhìn Lan như nhìn một con vật kỳ lạ mới thấy lần đầu.
“Ái chà! Lan dạo này sắc mắc tệ!”
Lan bướng bỉnh gặng:
“Em yêu anh nhiều thì anh yêu em nhiều; em ghét anh, anh cũng ghét lại. Có đúng thế không? Anh tồi lắm!”
Tô với lấy cái gối, một tay cầm búi tóc Lan kéo mạnh, một tay lấy gối đẩy vào mặt Lan khiến cô nàng ngã lên đi văng Lan vùng vẫy, nhưng chiếc gốc đè chặt lấy miệng không kêu được.
“Lan chừa chưa?”
Lan ngồi nhỏm dậy, tóc sổ ra xoà lên mặt lên vai. Mặt nàng hồng lên vì tức giận. Nàng giơ hai bàn tay, móng dài và nhọn, doạ:
“Em cào thì phải biết!”
Tô tiếp tục ăn cháo. Lan loay hoay búi lại tóc. Đột nhiên Tô thốt lên:
“’Cô nàng’ đến tuổi yêu đời. Hay! Hay lắm!”
Lan hơi đỏ mắt, tay giật giật mạnh những lọn tóc dài và đen. Không khí gia đình sáng nay đột nhiên nhẹ hẳn lên đi, thoải mái và êm ả. Tô đặt bát cháo xuống, đưa tay lên gãi gãi sống mũi, hỏi:
“Di dạo này thế nào hở Lan? Nó có…”
Tô khoác tay một cái bỏ lửng câu hỏi. Lan hơi bĩu môi nhát gừng:
“Khó chịu! Lừng khừng và câm như hến. Hễ em mà hỏi đến anh ấy…”
Lan bắt chước Di, trừng mắt, môi mím lại:
“Hả! Hỏi cái gì? Để tôi ngồi yên. Có lần em xếp lại mấy chồng sách của anh bầy bừa bãi trên bàn, anh ấy gạt tay em ra. Trông mắt anh ấy em sợ quá! Em thấy văng ra tung toé một tập…”
Chắc sợ bà Hạ ở nhà trong nghe thấy, Lan ngửng đầu thì thầm vào tai Tô. Tô cau mặt, hỏi lại:
“Có đúng em nhìn thấy tận mắt những thứ ấy không?”
“Đúng!”
Tô đánh diêm châm thuốc hút. Tô không ngạc nhiên trước sự phát giác bất ngờ của Lan về Di, ngồi dựa lưng vào tường, đầu thẳng trên cổ. Lan lặng lẽ nhìn khuôn mặt thoáng vẻ mệt mỏi, chán chường của anh.
Lan lấy ngón tay trỏ nghịch phát vỡ mấy vòng khói tròn Tô vừa thở ra. Lan ngửng đầu lên; vầng trán bướng bỉnh ánh lên một vệt nắng dài từ ngoài cửa sổ chiếu vào, và nói thẳng một hơi:
“Cái anh bạn của anh tối qua đến đây chơi, em ghét anh ta!”
“Hắn cũng biết em ghét hắn.”
Lan không ngần ngừ:
“Nếu anh ấy biết vậy, Lan càng ghét hơn nữa.”
Tô im lặng nhìn Lan, tay hắn gõ xuống đi văng thành những tiếng động đều đều. Lan bật nói:
“Anh muốn hỏi em gì thì hỏi đi!”
Tô giả vờ ngạc nhiên:
“Đâu có! Mà hỏi cái gì mới được chứ?”
Lan bĩu môi:
“Anh chỉ được cái đóng kịch với mọi người là không ai bằng… À! Anh xem em có lớn lên nhiều không?”
Lan hơi ưỡn ngực ra phía trước, quay người một nửa vòng trước mắt anh. Tô chưa kịp có ý kiến, Lan đã liến láu:
“Hôm nọ đi qua một cửa hiệu có tấm gương lớn, em thấy bóng em mà cứ tưởng ai. Em lớn chóng quá sức. Phải không anh? À! Bố anh Thắng làm gì hở anh?”
“Chết trong tù.”
“Pháp bắt?”
“Không. Việt Minh! Ông Na, bố Thắng, trước kia là đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng.”
Lan lộ vẻ bồn chồn, e ngại.
“Nếu thế, có lẽ không nên để anh Di và anh Thắng gần mặt nhau. Em sợ! Anh cũng biết tính anh Di chớ gì? Nhiều lúc anh ấy dữ lắm!”
Tô nhún vai:
“Thời buổi này làm sao ngăn cản được những sự gặp gỡ nhau cắc cớ đó.”
Giọng Tô trở nên bực bội:
“Mà chúng nó đụng đầu nhau thì cứ đụng, ghét nhau cứ việc cấu xé nhau. Anh không quay mặt đi đâu.”
Lan bỡ ngỡ, không hiểu nổi thái độ của anh.
“Anh, thực ra anh không ưa ai cả hay sao?”
Câu trả lời của Tô chắc như đinh đóng vào cột:
“Có! Có chứ! Mặc dầu vậy, ăn nhập quái gì đến chúng nó.”
Tô dịu dàng đuổi Lan:
“Thôi! Em xuống nhà với mẹ đi! Anh hãy còn muốn ngủ thêm chút nữa.”
Tô nằm ngửa mặt nhìn lên trần nhà, hút liên miên hết điếu thuốc này đến điếu khác. Lan đi đi lại lại trong nhà, dọn dẹp, gấp chăn, quét nhà và lau bàn ghế. Lan hát nho nhỏ một bài, lời ca có chim hót, suối reo, hoa bướm và tình yêu.
Có tiếng cửa mở. Di bước vào nhà. Đầu óc hắn bù rồi soà cả xuống trán, mặt hơi tái. Một bên tay áo sơ mi rách tả tơi, một bên má và hai khuỷu tay xây xát máu đọng khô, hai ống quần lấm đầy bùn đất. Hắn vịn vào cánh cửa, hơi loạng choạng một chút. Lan đứng sững người, mắt mở to nhìn anh từ đầu đến chân. Lan vội lại gần anh suýt soa:
“Chết ngửa! Anh Di làm sao thế kia?”
Tô hơi nhỏm người lên, nhưng vẫn ngồi yên chỗ, không hé miệng.
Lan vừa đụng vào cánh tay Di, hắn gạt ra, mặt tối xầm lại và cau có gắt:
“Để mặc tôi!”
Đoạn hắn đi thẳng vào nhà trong, không nhìn một ai. Lan tuy bị Di gạt ra, nhưng sau khi đứng ngẫm nghĩ một chút, cũng vội theo gót anh.
Di mở mạnh những ngăn kéo và cửa tủ, lục lọi tìm quần án và đồ băng bó. Lan bảo anh:
“Anh đứng yên nào để em băng tay cho.”
Di quát lên, giận dữ:
“Tôi đã bảo để mặc tôi mà… Đi ra đi!”
Lan gắt lại anh, giận dữ cũng không kém:
“Em không đi đâu hết! Mà anh đừng cựa quậy, em không bôi thuốc sát trùng được.”
Lan lẩm bẩm:
“Không biết chui vào cái xó nào mà chân tay sướt hết cả.”
Một lát sau Lan từ phòng trong bước ra, thản nhiên tiếp tục dọn dẹp nhà cửa. Thấy Tô nhìn mình, Lan nói:
“Anh ấy ngủ rồi! Đàn ông thật trẻ con, động tí là làm ầm ĩ lên. Ai người ta sợ anh hùng rơm!”
“Ấy! Rơm đem đốt bùng lên mạnh ra phết!”
Lan bĩu môi không đáp.
Sau bữa cơm trưa, ông Hạ đang nằm ngủ ở nhà trong thời giật mình tỉnh dậy. Di và Thắng đang cùng nhau to tiếng. Mơ mơ màng màng ông cũng chẳng hiểu ý nghĩa những câu trao đổi giữa hai người. Có tiếng xô ghế. Tiếng Thắng quát lên:
“Đồ hỗn! Nhãi con biết gì mà dám phỉ báng những người…”
Câu nói của Thắng bị ngắt quãng. Tiếng bàn ghế xô động, tách đĩa trên bàn đổ xuống loảng xoảng. Hình như Thắng và Di đang xô xát. Tiếng Tô rắn rỏi:
“Thắng! Bình tĩnh đi nào! Di! Điên đấy hả?”
Tiếng Lan van lơn, chắc nó đang cố giữ Di lại:
“Anh Di! Trời ơi! Anh dữ quá!”
Ông Hạ chạy vội ra, miệng hỏi dồn dập:
“Cái gì đấy hả? Người lớn chứ đâu phải con nít mà đánh nhau.”
Trước mắt ông, mấy chiếc ghế đổ lổng ngổng, tách đĩa vỡ tung toé trên sàn, Lan đang níu lấy Di và Tô nắm chặt một cánh tay Thắng.
Trông thấy ông, Thắng lấy ngay được bình tĩnh. Hắn đưa tay lên vuốt tóc, điềm đạm bảo Tô:
“Thôi! Mày bỏ tay tao ra chứ!”
Hướng về ông Hạ, hắn xin lỗi:
“Xin lỗi ông! Chuyện này xảy ra thật đáng tiếc! Tôi thật quá nóng…”
Di mắt đỏ ngầu nhìn chăm chăm vào mắt Thắng, nét mặt đầy oán hận, môi hắn run lên và bàn tay nắm vào, ruỗi ra. Hắn giật tay khỏi sự níu giữ của Lan, lần lượt nhìn tất cả mọi người có mặt trong phòng. Miệng hắn há ra, nhưng hàm cứng lại không nói nên lời và rồi một âm thanh không thành tiếng người thoát ra khỏi cổ họng hắn và nước mắt ràn rụa hai bên khoé mắt – những dòng nước mắt của một kẻ điên dại, giận dữ đến cùng cực.
Hắn nhỏ một bãi nước bọt xuống đất, quay người bước thẳng ra cửa, rời khỏi nhà và quài tay đóng mạnh cánh cửa rung chuyển cả kính. Lan chạy theo anh. Tiếng Lan gọi Di vẳng vào trong nhà, tha thiết van xin:
“Anh Di…! Anh Di! Đợi em với nào…”
Ông Hạ nghiêm khắc trách Thắng:
“Tại sao anh lại đụng chạm vào nó làm gì? Ngay đến chúng tôi là người trong gia đình cũng còn phải nương nhẹ nó nữa là anh, dù sao cũng chỉ là một người lạ.”
Ông biết ông vừa nói một câu không người lớn chút nào, nhưng không hiểu sao, tự nhiên ông lại co ý muốn phủ nhận hoàn toàn thái độ của Thắng, không cần biết Thắng phải hay trái. Thắng lặng thinh, sửa lại quần áo cho thẳng. Ông Hạ quay trở vào nhà trong, nhưng không thể tìm lại giấc ngủ bị dứt quãng. Ông hơi thắc mắc trước sự xúc động hơi quá đáng của Lan. Tại sao nó lại chạy theo Di?
Ở nhà ngoài, Tô trách Thắng:
“Mày gây sự với nó làm quái gì? Nó đã điên mày cũng điên nốt hay sao?”
“Thực ra, tao chỉ nổi xung khi em mày đả động đến ba tao. Hắn hay bất cứ ai, tao cũng không thể tha thứ được.”
Tô tò mò nhìn Thắng nhưng hắn không hỏi gì thêm.
Trong khi ông Hạ ngủ, Tô và Thắng ngồi trò chuyện trước hai cốc cà phê. Lan đan một chiếc áo len dở dang ở giường, khuôn mặt có vẻ bồn chồn không yên dạ. Nàng cũng không quan tâm đến câu chuyện trao đổi giữa Tô và Thắng.
Đến một lúc câu chuyện chuyển sang bàn về gia đình Thắng. Khi Tô nhắc đến ông Nam – ba Thắng – Thắng trả lời miễn cưỡng. Tô gặng, Thắng mới chịu thổ lộ một số chi tiết về ba hắn, nhưng hắn cố gắng che đậy những xúc động dưới những lời lẽ sống sượng.
Tô hỏi:
“Mày yêu ba mày lắm phải không?”
“Yêu? Thằng này dùng danh từ thật kỳ khôi. Tao chỉ ‘yêu’ được đàn bà thôi.Còn về phần ba tao, tao phục ông ấy can đảm. Mày biết không? Hồi Pháp thuộc, ông cách mạng cách miếc ra sao bị Tây mật thám bắt, đánh lên đánh xuống, quay điện, đủ cả! Đau quá, ông chửi ầm lên. Càng chửi càng bị đánh, ông cáu bảo ‘Chúng mày hèn, dã man v.v… đánh người bị trói’ và hấp! Ông đâm đầu vào tường vỡ cả đầu. Bọn mật thám sợ ông ấy tự tử chết, thôi không dám đánh nữa.”
“Mày là con một chắc được ba mày quí và chiều?”
“Mày nhầm rồi! Trong đời, ba tao chỉ mê có hai thứ ‘làm cách mạng’ và ‘vẽ tranh’. Vợ con, những chuyện vặt. Còn tao, tao ngó ông ấy ‘cách mạng’, ông ấy ‘làm nghệ thuật’. Tao đếch hiểu cả hai thứ. Mà tao cũng cóc cần! Tuy nhiên tao vẫn phục ba tao như thường.”
“Trong khi ấy, mày làm cái gì?”
“Tao ấy à? Tao tiêu tiền của me tao buôn bán kiếm được. Vô số! Ba tao sống như trên mây khói. Hễ lấy được của me tao đồng nào là để giúp anh em, giúp đảng và mua sơn vẽ. Mày xem, ít nhất trong gia đình cũng phải có thằng đàn ông biết phá phách tiền của me tao kiếm được chứ?”
Tô mỉa:
“Gớm! Công việc nặng nhọc nhỉ?”
“Mày đừng có cười. Mày biết tao có tiền, tao tiêu tiền phung phí. Đồng tiền chạy đi chạy lại, và tao đứng trơ ra đấy, lắm khi tiêu tiền, phung phí mãi cũng đâm chán…”
“Đã chán còn tiêu làm chi? Mâu thuẫn!”
Thắng nhún vai:
“À! Thói quen! Cái gì cũng có thể trở thành thói quen được hết!”
Tô cười:
“Vì thế mày mới đi Quân thứ Lưu động với chúng tao, để thay đổi không khí, lại còn cố ý, không mang theo một trinh nào trong túi và tao biến thành chủ nợ của mày.”
“Cái thằng này hai soi mói đời tư kẻ khác. Có hôm tao đánh vỡ mặt!”
Hai người cùng cười. Tô lại hỏi:
“Ờ! Tao cũng quên chưa hỏi hồi Việt Minh lên, mày làm gì ấy nhỉ? Mày có tản cư đi đâu không?”
Lan ngửng đầu lên nhìn Thắng. Nàng có vẻ chờ đợi, lưu tâm đến câu trả lời của Thắng. Đôi mắt đẹp của Lan đã mất phần nào ánh nghi kỵ ác cảm lúc gặp gỡ ban đầu.
“Tao gia nhập tự vệ thành, nhất định ở lại Hà Nội đánh nhau với Pháp. Ông cụ tao biết, nổi nóng, chửi tao một trận tàn tệ, trước khi ông cụ theo Việt Nam Quốc dân Đảng lên Vĩnh Yên… Ấy! Có lẽ vì muốn làm trái với ý ông cụ tao, tao nhất định vẫn ở trong đoàn tự vệ. Vả lại tao chỉ là tự vệ thành đâu phải Vệ quốc.”
“Mày không sợ gặp ông cụ mày, nếu Việt Minh bắt mày đánh nhau với Việt Nam Quốc dân đảng à?”
“Gặp thế đếch nào được! Tao chỉ biết ở lại đánh Pháp… Bắt tao đi chỗ khác, tao rút lui ngay. Thôi mày! Đừng nói đến những chuyện cũ nữa. Ngán lắm!”
Vẫn dùng cái giọng sai khiến, kẻ cả, Thắng hướng về phía Lan mời:
“Tôi định mời cô Lan tối nay đi một vòng các Dancing. Cô bằng lòng chứ? Cô đừng ngại, tôi sẽ mời một cô bạn gái đi cùng với tôi; còn cô, cô đi với anh Tô.”
Lan hơi ngạc nhiên, lời mời của Thắng thật bất ngờ. Tô nhìn em tủm tỉm cười. Tô vừa nhớ đến câu chuyện về vũ nữ giữa anh em, sáng hôm nay.
Lan không trả lời Thắng, mà lại hỏi Tô:
“Anh Tô! Em đi được chứ hả anh?”
Tô không đáp thẳng ưng hay không, hỏi lại em gái:
“Hồi nãy Lan đuổi kịp Di không? Hắn đi đâu mà vội vậy?”
“Anh Di đi nhanh như chạy, em đuổi không kịp. Cũng may đuổi không kịp, giá kịp Di không chừng cáu anh ấy đánh cả em. Thế nào? Em theo anh được chứ? Đến tiệm nhảy ấy!”
Thắng lẳng lặng nghe hai anh em bàn cãi. Trước giọng nói háo hức của em, Tô đùa:
“Dù em muốn đi cũng không được. Em làm gì có cái áo dài nào ra hồn để mặc. Anh thấy áo nào của em cũng mạng đầy ra.”
“Sai rồi nhé! Em có hàng áo anh mới cho.”
“Tối nay đi rồi, em may sao kịp.”
“Anh lại đoán nhầm rồi. Thừa sức ! Chốc nữa me về giúp em một tay, em may ba chiếc cũng nổi.”
Ngay trước mặt Thắng, Tô và Lan vẫn đề cập tự nhiên những chuyện nghèo túng thiếu thốn của gia đình, không hề ngượng ngùng.
Thắng lúc ấy mới lên tiếng:
“Hay lắm! Thế có nghĩa chúng ta sẽ cùng đi.”
Lan đột ngột hỏi anh:
“Anh có đủ tiền cho anh và em chứ?”
Tô chưa kịp đáp, Thắng đã dịu dàng nói – câu nói dịu dàng đầu tiên của hắn là từ lúc xuất hiện ở gia đình ông Hạ.
“Xin lỗi cô Lan. Cô đừng ngại. Cô đừng quên tôi còn nợ anh Tô khá nhiều tiền.”
Lan gặng hỏi anh:
“Thật chứ anh Tô?”
“À! Cũng không nhiều lắm.”
Thắng từ biệt hai anh em ra về và hẹn tối đến đón. Lan quay trở vào nhà trong, lục tủ và ngăn kéo tìm hàng vải và đồ khâu vá.
Ông Hạ, đang ngồi hút thuốc lào, cau có nhìn con gái. Ông định bảo ngay cho Lan biết, một người con gái con nhà tử tế đâu được phép bước chân đến những chốn chơi bời, nhưng không hiểu sao ông lại đổi ý không nêu ngay vấn đề đó ra. Tối đến cơm nước xong, khi Lan đã thay quần áo trong nhà và mặc chiếc áo lụa vàng nàng đã cùng mẹ hì hục may cắt suốt buổi sáng mới xong; ông Hạ mới làm ra vẻ ngạc nhiên, hỏi:
“Lan sắp đi đâu vậy mà mặc áo dài?”
Miệng thì hỏi vậy, nhưng trong thâm tâm ông thầm cảm thấy kiêu hãnh, sự kiêu hãnh của một người cha có một cô gái yêu kiều. Mặc áo mới sát lấy thân hình, tóc bới cao lên đỉnh đầu theo kiểu các cô thiếu nữ Thái, Lan nhớn hẳn lên và càng giống mẹ hồi còn trẻ. Tuy nhiên, trước sắc đẹp bắt đầu nảy nở của Lan, ông cũng cảm thấy e ngại không đâu.
Nghe câu bố hỏi, Lan ngỡ ngàng một chút, đoạn liếc nhìn Tô và mẹ, cầu cứu. Tô từ tốn trả lời hộ em:
“À! Con định cho Lan chơi cùng tối nay với mấy người bạn của Thắng.”
“Đi đâu?”
“Đến mấy dancing. Ba đừng lo! Con trả tiền cho Lan và con mà.”
“Không được! Mày đi một mình cũng là quá rồi!”
Bà Hạ ngước nhìn chồng. Ông đọc thấy một ánh trách móc thầm kín trong đôi mắt vẫn còn đẹp của vợ. Bà Hạ lên tiếng, giọng cảm động:
“Mình cấm con gái làm gì? Chẳng mấy khi…”
Ông gắt:
“Tôi bảo không được là không được! Nghèo thì nghèo, tôi nhất định không chịu để nó cặp đôi với một thằng con nhà giàu, nhâng nhâng nháo nháo như thằng Thắng! Không bao giờ! Bà hiểu chưa?”
Tô mỉm cười, một nụ cười dữ tợn và mai mỉa.
“Ba bất công lắm! Ba ghét Thắng thì cứ ghét, việc gì ba phải giận cá chém thớt, hành hạ một kẻ vô tội.”
Ông Hạ càng giận dữ hơn.
“Mày im ngay! Mày cứ liệu giữ mồm miệng. Tao sẽ cấm cửa thằng Thắng cho mà xem.”
Lan mắt long lanh sáng hết nhìn Tô lại nhìn sang bố và mẹ. Lan bấm môi, cố ngăn những làn nước mắt đã lấp lánh trên mi, chực trào ra, bất chợt Lan vùng bỏ chạy vào nhà trong. Tô nhìn theo em gái, mặt đanh lại. Tô quay người, nhìn thẳng vào mặt ông Hạ. Ông đã tưởng Tô sẽ thốt lên những lời quyết liệt. Nhưng rồi tất cả mọi người đều ngạc nhiên, ngẩn người nhìn chiếc áo lụa vàng mới may của Lan, do Lan ném từ nhà trong ra, rơi xuống trước mặt mọi người, chiếc áo bị Lan xé rách làm mấy mảnh.
Cứng rắn đến như ông Hạ mà cũng cảm thấy tim nhói đau. Nếu Lan khóc lóc giận dỗi, chưa chắc Lan có thể làm ông siêu lòng đổi ý. Mặc dầu Lan chưa biết là con gái độc nhất trong gia đình, xưa nay nàng vẫn được bố chiều và nương nhẹ, Lan cũng không dùng đến khí giới thông thường của đàn bà là những giọt nước mắt đi đôi với những lời nũng nịu. Thế mà lạ thay, nhờ hành động phản kháng tiêu cực, xé nát chiếc áo dài, Lan ngờ đâu Lan đã làm ông Hạ xúc động.
Để che đậy những xúc động nội tâm, ông nói dỗi:
“Thôi! Chúng mày đi đâu thì đi! Không có tao lại mang tiếng ác nghiệt.”
Ông Hạ bắc chiếc ghế ra ngoài hiên ngồi hút thuốc. Tô vào nhà trong dỗ em gái. Ông Hạ ngồi một mình lặng lẽ ngắm những vết ánh sáng vàng đỏ xa tít ở chân trời. Ông hồi tưởng lại những ngày vui hiếm hoi ông đã được hưởng hồi trẻ, rượu, đàn bà và những tiếng đàn hát cười đùa.
Tối hôm ấy, Lan đành phải mặc một chiếc áo cũ, nhưng tương đối tươm tất nhất trong số những áo dài ít ỏi của Lan. Khi Thắng lái xe đến đón – một chiếc xe hơi không mới nhưng trông cũng còn khá tốt – ông Hạ nhận thấy hắn không đến một mình. Một cô gái Pháp, dưới ánh đèn phố hắt xuống, ông thắng thấy một mái tóc vàng óng và cặp mắt to, sâu, ngồi cạnh hắn ở trong ghế trước.
Hai người trao đổi mấy câu bằng tiếng Pháp. Tiếng người con gái ngoại quốc trong vắt và quí phái, giọng của một thiếu nữ Ba Lê không phải giọng nói đầm thuộc địa ông thường nghe thấy.
Người con gái không chịu cùng Thắng vào nhà, ngồi chờ hắn ngoài xe.
Bước lên hiên nhà, Thắng nhận ra ông Hạ ngồi lẩn với bóng tối. Hắn chào, ông không buồn đáp.
Lan, Tô và Thắng ra xe. Khi qua chỗ ông ngồi, ông đã tưởng Lan sẽ đi thẳng.
Nhưng ông đã đoán sai. Lan dừng lại đứng cạnh ghế ông, ngập ngừng nói:
“Ba…!”
Trong một thoáng giây, ông tưởng chừng như người đứng bên ông không phải là Lan, mà là một cô bé xinh xắn, tuy hơi ngỗ ngược một chút, Lan cách đây 8, 9 năm. Cổ họng ông hơi nghẹn lại, ông thâu ngắn khoảnh khắc thân mật đó, nói, khô khan:
“Nhớ về sớm đấy! Thôi! Con đi đi!”
Chiếc xe hơi mở máy và vừa rời lề đường, một bóng người xuất hiện trong chỗ tranh tối tranh sáng của khoảng sáng do ánh đèn đường hắt xuống: Di. Hắn hai tay thọc vào túi, miệng ngậm thuốc lá, nhìn theo chiếc xe hơi. Hắn không vào nhà ngay, còn đứng trầm ngâm một lúc khá lâu. Ông Hạ tự hỏi trước sự vui chơi của mọi người, hắn có cảm thấy bị bở rơi, gạt sang một bên như ông vào giây phút đó hay không?
Tiếng bà Hạ vang từ trong nhà ra:
“Sao mãi không thấy thằng Di về?”
Ông Hạ thấy Di ngửng đầu lên, nhưng hắn lại quay người đi về phía đầu phố, không vào nhà. Ông Hạ gọi theo:
“Di! Mày lại còn đi đâu nữa? Khuya rồi!”
Tiếng gọi của ông chìm vào bóng tối, không một tiếng vang. Tiếng chân Di xa dần. Một tiếng thở dài vang lên cạnh ông. Bà Hạ đã đứng cạnh ông lúc nào không hay.
Hết hạn nghỉ phép, Tô cùng Thắng lên đường quay trở về với đời sống nay đây mai đó của đoàn Quân thứ Lưu động. Trong mấy ngày ở Hà Nội, Thắng cũng năng đến thăm gia đình ông Hạ. Nếu tình cờ Di và Thắng gặp nhau cả hai đều không hề chào hỏi hoặc chuyện trò. Chúng giống hai kẻ thù địch, vì hoàn cảnh bó buộc, đành phải chịu đựng nhau; nhưng rõ ràng là nếu gặp nhau ở một khoảng không gian và thời gian khác, mỗi người đứng vào một phe rõ rệt, chắc chúng sẽ đâm chém nhau không thương tiếc.
Trước khi đi, Thắng cũng có mời cả gia đình ông Hạ ăn một bữa cơm tây tại một tiệm có tiếng. Kết cục chỉ có bà Hạ, Lan và Tô nhận lời. Di như thường lệ luôn luôn vắng nhà. Ông Hạ cần gặp một người bạn cũ về chuyện công việc làm ăn, đúng hôm Thắng mời, nên cũng thoái thác.
Có lẽ chỉ có Lan háo hức và thú vị nhất. Trong gia đình không ai còn lạ gì tính nết Lan, thích một đời sống sung túc, ăn ngon mặc đẹp. Tuy nhiên, Lan vẫn khăng khăng mặc một chiếc áo dài cũ, mặc dầu biết sẽ phải dùng cơm tại một nơi sang trọng và vẫn giữ thái độ hơi xa cách, giữ gìn đối với Thắng. Tuy nhiên đôi khi Thắng cũng khiến Lan bật cười hoặc đỏ mặt vì những câu nói châm biếm dí dỏm.
Khoảng hơn nửa tháng sau, buổi chiều khi ông Hạ đi làm về, bà Hạ cho biết:
“Thắng vừa đến chơi xong:”
Hơi ngạc nhiên, ông hỏi:
“Vừa đi xong nó lại được về nghỉ phép rồi à? Sao Tô không về?”
“Không! Theo lời Thắng cho biết, Thắng vừa xin thôi không theo Quân thứ Lưu động nữa.”
“Nó có cho biết tại sao không? Sợ nguy hiểm à?”
“Tôi không nghĩ rằng Thắng sợ nguy hiểm, hình như nó…chán lang thang thì phải?”
Ông Hạ nhún vai, cười khảy. Bà ngập ngừng tiếp:
“Có lẽ mình nên biên thư gọi thằng Tô về. Dạo này Việt Minh hình như bắt đầu để ý đến các đoàn Quân thứ Lưu động. Thắng cho biết, mới đây hai người công an trong đoàn dẫm phải mìn bị thương khá nặng. Tôi lo cho Tô. Tính nó hay xông sáo, nhỡ một cái…”
“Thế Việt Minh đã tấn công Quân thứ Lưu động lần nào chưa?”
Bà lắc đầu, ông dửng dưng nói:
“Thế cũng chưa ngại. Kệ thằng Tô, đi hay về tuỳ nó. Mình chỉ lo lắng vớ vẩn.”
Câu chuyện giữa hai vợ chồng ông Hạ về Tô chấm dứt ở đây.
Bốn năm hôm sau, cũng vào buổi chiều đi làm về, từ đằng xa ông Hạ đã trông thấy Thắng đang ngồi nói chuyện với Lan ở trước hiên nhà. Không biết Thắng nói câu gì, khuôn mặt đang tươi cười của Lan vụt trở nên nghiêm trang, Lan nhìn thẳng vào mặt Thắng không trả lời. Liếc thấy ông Hạ, Thắng vội từ biệt Lan. Lan trao cho Thắng một bọc giấy. Thắng rời Lan đi về phía ông Hạ, dáng đi vẫn lật bật nóng nảy như thường lệ. Hắn chào ông, ông lãnh đạm gật đầu. Hai người đi qua nhau, không bắt tay và cũng không chậm bớt nhịp bước.
Lan đứng đón bố ở cửa. Ông Hạ hỏi, giọng nghiêm khắc:
“Thằng Thắng đến có việc gì mà đến hoài?”
“À! Mai anh ấy trở lại với đoàn Quân thứ Lưu động, nên đến gặp mẹ và con xem có nhắn gì cho anh Tô không.”
Ông Hạ không buồn hỏi Lan lý do nào đã thúc đẩy Thắng rời bỏ đời sống ăn chơi ở thành phố. Theo ý ông bọn thanh niên ngày nay điên cả lũ, ông hơi đâu tìm hiểu chúng làm chi.
“Mày đưa cho nó cái gì đấy?”
Lan hóm hỉnh cười:
“Ba hỏi làm gì?”
Ông chưa kịp mắng, Lan đã đáp ngay:
“Con nhờ anh Thắng trao hộ anh Tô chiếc áo len con mới đan.”
Ông cau mặt, nhưng trước vẻ mặt vô tội và thẳng thắn của Lan, cảm thấy sự “tra hỏi”của ông vô căn cứ, ông đi thẳng vào nhà.
Một tháng qua. Trong bữa cơm trưa, ông Hạ cho vợ biết theo tin tức trên báo, đêm qua Việt Minh dải truyền đơn tại một vài nơi trong thành phố. Nhà binh Pháp và Công an bố ráp bắt được một số thanh niên trên người còn mang một số truyền đơn và tài liệu. Nghe đến đây, Lan tự nhiên tái mặt, vẻ lo lắng bồn chồn hiện hẳn ra nét mặt. Lan vội kéo mẹ vào trong nhà. Hai mẹ con thì thầm bàn chuyện.
Ngồi ngẫm nghĩ một lúc, tự nhiên ông Hạ bật gọi:
“Lan! Sáng nay Di có về nhà không?”
Tiếng thì thầm của Lan và bà Hạ im bặt. Chờ một chút không thấy ai trả lời, ông Hạ đứng dậy vào nhà trong. Ông vừa vào, bà đã vội quay mặt đi. Ông thoáng thấy khuôn mặt vợ tái ngắt, mắt đơm đớm nước.
Ông nghiêm khắc hỏi:
“Thế nào! Tối qua thằng Di không ngủ nhà; sáng nay cũng lại không thấy về. Thế là nghĩa lý gì? Mà mẹ con bà giấu tôi chuyện gì hả?”
Lan vội đỡ lời mẹ:
“Đâu có! Mẹ và con đang lo cho anh Tô đấy chứ! Còn anh Di đi đâu có bao giờ cho con và mẹ biết…”
Nhìn mặt Lan, ông Hạ biết chắc con nói dối. Lan biết nhiều chuyện về những hành động bí ẩn của Di hơn cả vợ chồng ông. Nhưng ông biết tính Lan bướng lắm. Lan đã chủ tâm bênh vực và che đập cho anh, ông có vặn hỏi cũng chẳng ích gì. Ông tự hứa, khi nào vắng mặt Lan, ông sẽ tra hỏi vợ chắc rõ đầu đuôi.
Ông Hạ ngồi hút thuốc lào và tự nhiên lo lắng không đâu. Không lẽ Di điên rồ dại dột tham dự vào vụ ném truyền đơn tối qua. Nhưng nghĩ đến lòng oán ghét người Pháp của Di, bản chất say mê và quá khích của Di, ông e ngại rằng sự suy đoán của ông cũng không xa sự thật bao nhiêu.
Ba bốn hôm sau, Di vẫn biệt tăm biệt tích. Ông Hạ bàn với vợ đến hỏi tại các sở cẩm xem Di bị giam ở đâu và về tội gì. Vợ ông liếc nhìn Lan, đoạn ngập ngừng nói:
“Mình đừng đến tìm Di tại các sở cẩm làm chi. Lan có nói chuyện với tôi, Di bị công an trung ương bắt thì phải…”
Ông hỏi dồn:
“Tại sao Lan biết được?”
“Tối hôm qua, một anh bạn anh Di lại đây báo tin cho con và mẹ biết anh Dị bị công an bắt cùng với nhiều người khác. Họ nghi anh Di dự vào vụ ném truyền đơn.”
Tuy đã đoán biết trước phần nào, ông cũng sửng sốt và ngồi ngẩn ra. Cơn giận của ông lại bốc lên bừng bừng. Ông đập mạnh tay xuống bàn, quát lên:
“Cái thằng khùng! Đồ bất hiếu, bất mục…”
Ông mắc Lan:
“Tao chắc mày biết rõ chuyện thằng Di liên lạc với bọn Việt Minh. Tại sao không cho tao biết trước, để đến nay nó bị tù? Hả? Nói đi chứ! Công an nó mà bắt thời khó sống với nó.”
Lan mắt đã dưng dưng, nhưng vẫn bướng bỉnh đáp gọn lỏn:
“Con không biết gì hết làm sao nói được!”
Bà Hạ quầng mắt trũng sâu, khuôn mặt hốc hác vì lo lắng nói như van nài:
“Lan! Con biết gì cứ kể cho ba. Ba còn liệu chạy chọt để anh Di nhẹ tội đi chứ.”
Lan nắm lấy tay mẹ, bóp chặt nhưng vẫn không hé miệng. Ông Hạ nghĩ không chừng Lan đã được Di dặn trước. Ông lồng lộn đi đi lại lại trong nhà. Ông phải làm gì bây giờ? Mặc dầu hắn điên và mù quáng, Di vẫn là con trai ông. Không lẽ ông để nó mục xương trong tù. Ông nghĩ đến chuyện mướn luật sư. Không chừng Di chỉ bị tình nghi và tội trạng không lấy gì làm rõ rệt. Phải để luật sư gặp hắn, khuyên hắn kể hết đầu đuôi tự sự, may ra mới gỡ tội được cho Di. Nhưng đào đâu ra tiền bây giờ?
Bà Hạ đề nghị:
“Hay mình biên thư gọi Tô về?”
“Không được! Tình hình như thế này, nó càng cần phải đi làm. Ít nhất mình cũng còn trông cậy vào tiền lương của Tô để mướn luật sư.”
Lan xen vào:
“Ba! Hôm nọ đi đến dancing, anh Thắng có giới thiệu con một anh bạn hiện tập sự tại văn phòng Luật sư Q. Hay để cho nhờ anh Thắng biên thư giới thiệu, tìm đến gặp, may ra anh ấy sẽ giúp mình.”
Ông Hạ cau mặt:
“Bạn Thắng hả? Chắc gì Thắng chịu giới thiệu. Nó ghét thằng Di, đời nào.”
Lan quả quyết:
“Con tin anh Thắng sẽ giúp gia đình mình. Anh Thắng không nhỏ nhen đến thế đâu. Trong những lần gặp con ở…”
Lan ngừng nói, chắc Lan tự biết vừa lỡ lời. Ông Hạ nghi ngờ nhìn Lan. Nghe giọng Lan ông có cảm tưởng Lan biết khá kĩ về Thắng. Hay hai đứa đã hẹn hò gặp nhau riêng tại một nơi khác, dấu cả ông lẫn bà? Trước ánh mắt soi mói của bố, hai gò má Lan ửng hồng.
Suy đi tính lại, ông cũng đành đồng ý với Lan.
Ngay chiều hôm đó, sau khi gửi ngay một lá thư bảo đảm cho Tô và Thắng, không chần chờ nhận được thư giới thiệu của Thắng, bà Hạ và Lan tìm đến gặp ngay Vĩ, người bạn tập sự luật sư của Thắng.
Khi về nhà, bà Hạ và Lan mừng rỡ ra mặt. Vĩ đã nhận lời cãi hộ vụ Di. Vấn đề tiền thày kiện sẽ thanh toán sau. Vĩ còn hứa sau khi xin phép biện lý và tiếp xúc được với Di, sẽ thân hành đến gia đình ông bà Hạ cho biết thêm chi tiết. Ông Hạ thắc mắc:
“Người ta đã chịu giúp mình không kể tiền nong lại còn để anh ấy đến đây làm gì? Phiền chết!”
Lan ngây thơ đáp:
“Anh Vĩ có ô tô mà. Anh ấy tự ý muốn đến đấy chứ!”
Thực ra ông cũng không ngạc nhiên lắm. Không mấy người đàn ông cưỡng nổi với sự quyến rũ rất tự nhiên của Lan. Một ý định thầm kín bắt đầu nhen nhúm trong óc ông: Trong tương lai sắc đẹp của Lan – nếu ông khéo léo – sẽ có thể biến thành một sức mạnh đáng kể, giúp ông dựng lại cơ nghiệp. Dĩ nhiên ông cũng hơi hổ thẹn với chính mình khi có ý định lợi dụng sắc đẹp của con gái. Nhưng không thể ngăn ông nghĩ ngợi hoài đến vấn đề này.
Mấy ngày sau, vừa xin được phép ông Biện lý vào tiếp xúc lần đầu với Di, Vĩ đã tìm đến thăm ông bà Hạ ngay. Vĩ vào khoảng ngoài ba mươi. Thân hình cao lênh khênh, làn da trắng xanh, cặp mắt mơ màng sau cặp kính cận thị khiến Vĩ có vẻ một thi sĩ hơn một luật sư.
Mới gặp Vĩ lần đầu, Vĩ đã có nhiều điểm khiến ông Hạ không ưa. Trước nhất lối phục sức của Vĩ rất hợp thời trang, nhưng đỏm dáng tựa một người đàn bà: Cravare lụa mầu, cặp cravere bạch kim gắn một viên ngọc thạch, giầy hai mầu mũi nhọn, pochette thêu hai chữ lồng lấy nhau, chắc chữ đầu tên Vĩ và vợ. Vĩ còn có cái tật kỳ khôi là khi thì nói lắp có lúc lại không. Nghe chuyện hắn thật bực mình. Tinh ý quan sát hắn người ta thấy hình như Vĩ có hai con người khác nhau. Lúc hắn cố gắng làm ra vẻ đàn ông nói dằn giọng hùng hồn không lắp một chút nào, nhìn thẳng vào mặt người đối thoại – thói quen nghề nghiệp của Vĩ – Lúc hắn lắp bắp nói không thành câu, đỏ mặt lúng túng thật đáng thương.
Đã thế hắn lại còn lăng xăng, quấn lấy Lan. Đến gia đình ông bà Hạ về công việc, mà hắn chỉ biết có Lan, tìm mọi cách để làm Lan vừa lòng, uống từng câu nói của Lan và mặc dầu hắn đang nói thao thao về những khía cạnh pháp lý của vụ cãi cho Di, Lan vừa hỏi một câu, hắn vội im bặt những lời hùng biện và hấp tấp trả lời, nhiệt thành một cách lộ liễu, và quá đáng.
Vĩ kể lại chi tiết về cuộc gặp gỡ giữa hắn và Di trong nhà giam.
Theo lời hắn, hắn vừa tự giới thiệu là trạng sư gia đình mướn cãi cho Di, Di lãnh đạm đáp “Tôi không cần luật sư! Ông đừng hỏi tôi phí công. Tôi không nói gì hết!”. Vĩ cố gắng giảng giải, nếu Di cho hắn biết tỉ mỉ tất cả sự thật, hắn sẽ gỡ được cho Di nhẹ tội hoặc trắng án. Hắn cũng cho Di biết, đã gặp ông Biện lý và trong mấy thanh niên bị bắt, Di chỉ bị tình nghi chứ không có chứng cớ buộc tội rõ rệt. Di lẳng lặng nghe, cuối cùng nói cộc lốc: “Ông có thuốc lá không?”
Di nhận điếu thuốc lá của Vĩ, châm hút, không một lời cám ơn. Đoạn hắn đuổi “Ông đi về đi! Đừng làm phiền tôi”.
Nghe đến đây, Lan mỉm cười, hỏi:
“Thế ông đứng dậy đi về luôn?”
Vĩ lên giọng luật sư nhiều kinh nghiệm:
“Đâu có phải lần đầu tiên tôi phải tiếp xúc với một người bướng bỉnh. Tôi đã từng gặp những tội nhân còn gây gổ với tôi là khác. Khi anh Di đuổi, tôi đáp ‘Ông không muốn tôi cãi cho ông, đó là ý của ông. Tôi chỉ biết gia đình ông thuê tôi, là tôi cãi vụ này. Tôi sẽ ngồi cho đến hết giờ thăm’. Tôi lấy hồ sơ ra nghiên cứu và…”
Lan ngắt lời Vĩ:
“Đáng lẽ ông nên mềm dẻo một chút, không nên găng với anh Di tôi. Ông làm thế không chừng lại khiến anh Di tôi bực mình, không chịu nói sự thật với ông hay cãi nhau với ông biện lý rồi bị xử nặng tội hơn.”
Ông bà Hạ tưởng Vĩ sẽ mếch lòng trước lối nói thiếu phần tinh tế của Lan, không ngờ Vĩ lại dịu ngay giọng, nói như xin lỗi:
“Vâng! Vâng! Không! Tôi thật ra chỉ có ý định cương quyết một chút lần đầu gặp anh Di mà thôi. Lần sau, tôi hứa với cô sẽ mềm dẻo hơn.”
Bà Hạ hỏi:
“Anh thấy em nó có khoẻ không?”
Lan thẳng thắn:
“Me tôi định hỏi, anh tôi có bị tra tấn đánh đập nhiều không?”
Vĩ lưỡng lự:
“Bà và cô Lan cũng nên biết là điều đó không thể tránh được vào thời buổi này. Tôi quan sát thấy một vài vết tích chứng tỏ…”
Bà Hạ thở dài quay mặt đi, Lan mắt sáng lên, bứt rứt:
“Ông phải can thiệp cách nào chứ!”
Ông Hạ mắng át Lan:
“Thằng Di bướng, công an đánh cho là phải. Còn can thiệp, ông Vĩ là trạng sư chắc thông thạo công việc nghề nghiệp của ông ấy, đâu cần lời khuyên của ai. Con gái con lứa! Bép xép hoài.”
Lan sa sầm mặt, trước câu nói tàn nhẫn của bố. Lan ra ngồi ở chiếc bàn cạnh đấy, để mặc bố tiếp chuyện Vĩ.
Ngồi với ông bà Hạ, Vĩ chốc chốc lại quay mặt hướng về phía Lan. Nghĩ thương anh, và tức giận vì cảm thấy bất lực trước những đau khổ của một người thân, Lan khóc. Đầu Lan vẫn thẳng, môi mím lại và mắt mở to nhìn vào khoảng không. Vĩ là người đầu tiên trông thấy Lan khóc. Hắn hốt hoảng, bối rối hơn cả ông bà Hạ. Khi hắn đứng dậy cáo từ, cắp cặp ra về, hắn muốn chào Lan lắm, nhưng tuy đằng hắng mấy tiếng vẫn không thấy Lan chú ý, hắn lưỡng lự không biết có nên lại gần Lan hay về thẳng. Tuy đã để tay lên nắm cửa và mặc dầu có ông Hạ tiễn ra tận cửa, Vĩ còn cố quay lại chào thêm bà Hạ một tiếng để có dịp nói với Lan:
“Cô Lan! Chào cô. Tôi sẽ cố can thiệp với ông Biện lý để tránh cho anh Di… Vâng. Xin cô đừng lo! Vài hôm nữa tôi sẽ xin lại đây. Tôi sẽ lại sớm hơn thế không chừng.”
Lan lãnh đạm gật đầu chào Vĩ. Lan cũng không lau khô hoặc giấu những giọt nước mắt còn đọng trên hai gò má. Sự quỵ lụy trước đàn bà của Vĩ khiến ông Hạ càng bực bội và khinh bỉ hắn. Ông thắc mắc tự hỏi tại sao đã có vợ – tay Vĩ có đeo nhẫn cưới – hắn còn có thể si ngây đến như vậy.
Suốt trong tuần lễ sau đó, chiều nào đi làm về ông Hạ cũng thấy một bó hoa thật đẹp, đắt tiền cắm lọ để giữa nhà. Ông hỏi, Lan đáp:
“A! Anh Vĩ ngày nào cũng mua hoa tặng vợ, tiện tay anh mua thêm một bó nữa, tạt qua đây ‘tặng gia đình mình cắm cho vui nhà’.”
Ông cau mặt, thầm nghĩ Vĩ thật trơ trẽn và bất nhã. Trong khi gia đình ông có chuyện buồn, hắn chỉ nghĩ đến chuyện tán tỉnh Lan. Tưởng tượng hắn ôm hai bó hoa, đứng ở ngưỡng cửa, lắp bắp không ra câu, ông đã cảm thấy gan ruột lộn lên. Thế mà ông lại phải nhờ vả hắn và chịu ơn hắn! Đôi khi ông muốn bỏ mặc Di, cho Di bị tù, và cấm cửa cả Thắng lẫn Vĩ. Con gái ông không phải là một đồ chơi.
Theo Vĩ, ông Biện lý – một người bạn của hắn – không mấy thiện cảm với Di. Ông tâm sự với hắn “Cái thằng blanc”bec ấy thật impossible. Mình hỏi cung nó mà thái độ nó khinh khỉnh, làm như mình phiền nó. Kỳ khôi hơn nữa, không những nó không nhận tội mà qua lời lẽ, hình như nó muốn chúng mình, chính mình và tất cả mọi người, mới là những kẻ có tội. Lắm khi moa chỉ muốn căng nọc nó ra đánh cho một trận. Ngứa tay lắm! Ấy thế mà chính những thằng nhãi ranh miệng còn hôi sữa đó, dám ném truyền đơn, lựu đạn, không chùn tay.”
Ông Hạ rất thông cảm với phản ứng của ông Biện lý. Chắc ông cũng có con trai lớn bằng tuổi Di. Ông nói đúng lắm: Chúng – bọn trẻ – thù ghét bọn già vì tin tưởng chính họ mới là những kẻ có tội. Nếu ông Biện lý buộc tội Di khá nặng, ông sẽ không ngạc nhiên chút nào.
Di còn nhờ Vĩ nhắn bà Hạ và Lan đừng vào thăm. Di sẽ không “tiếp”. Bà Hạ và Lan rất buồn và thắc mắc trước thái độ muốn cắt đứt với những ràng buộc gia đình của Di. Đối với một người mẹ, một người em gái, bị một người thân hắt hủi còn đáng buồn và khổ hơn cả bị hành hạ, sỉ mắng. Tuy nhiên bà và Lan vẫn sửa soạn quần áo, thức ăn khô, chờ ngày được vào thăm Di.
Buổi tối hôm bà Hạ và Lan được phép vào nhà giam thăm Di, lại không gặp mặt Di, vì Di nhất định không chịu rời phòng giam và cũng không hề viết thư ra, hay nhắn tin giải thích tại sao.
Thắng từ đoàn Quân thứ Lưu động trở về Hà Nội và xuất hiện bất ngờ tại gia đình ông bà Hạ. Kể ra bất ngờ là đối với ông và bà Hạ mà thôi. Khi Lan reo lên mừng rỡ “Anh Thắng! Sao bây giờ anh mới về?”, ông đoán biết ngay cô nóng ruột chờ đợi Thắng từ mấy hôm nay.
Thắng gầy và mặt mũi chân tay đen xạm. Hắn vẫn mặc nguyên trên người bộ đồng phục của các nhân viên Quân thứ Lưu động, bà Hạ hỏi?
“Chắc em Tô không về cùng với anh?”
Thắng đáp ngắn ngủi:
“Dạ không ạ!”
Lan đến ngồi cạnh mẹ, hai tay khoanh lại, mắt nhìn Thắng không rời. Nàng cố gắng ghìm giữ phần nào ánh rạng rỡ trên nét mặt. Lan đợi khi Thắng đã ngồi xuống ghế hẳn hơi, châm thuốc hút rồi mới lên tiếng:
“Anh nhận được thư Lan hôm nào? Anh Tô có nhắn gì không?”
“Sáng nay nhận được thư Lan, tôi về ngay.”
Thắng không trả lời câu hỏi về Tô, tiếp luôn:
“Bà và Lan chắc đã gặp Vĩ nhiều lần? Hắn cãi không giỏi nhưng tạm được và chịu khó lắm!”
“Dĩ nhiên anh Vĩ chịu khó rồi! Thày kiện mà ngày nào cũng mang hoa tặng gia đình thân chủ.”
Thắng cau mày, nhắc lại:
“Tặng hoa!”
Hắn nhìn Lan từ đầu đến chân soi mói, đoạn gật gù cái đầu. Lan hơi đỏ mặt. Lan Thắng không bảo nhau đều mỉm một nụ cười, đồng lõa một cách thầm kín.
Thắng hơi nghiêng người, thọc tay trái định rút khăn tay. Chợt hắn nhăn mặt, làn da hơi tái một chút. Lan lúc ấy mới chú ý đến tay áo Thắng, hơi cộm lên và lấm tấm mấy vết máu khô đọng. Nàng vội hỏi:
“Chết chửa! Tay anh làm sao thế kia?”
Thắng nhún vai, đáp:
“Mìn Việt Minh.”
Bà Hạ sửng sốt. Linh tính một người mẹ hình như thầm bảo một chuyện không may có thể xảy đến cho Tô. Giọng lạc đi, bà kêu lên:
“Trời! Thế Tô?”
“Không! Bà đừng lo! Tô khoẻ và không sao cả.”
Ông Hạ lên tiếng:
“Chắc các nhân viên Quân thứ đi công tác gặp mìn Việt Minh chôn? Nhiều người bị thương không?”
Câu trả lời của Thắng vẫn ngắn ngủi, thản nhiên:
“Dạ! Vài ba người.”
Lan nhìn cánh tay Thắng, nàng hơi ngần ngại trước khi đặt câu hỏi:
“Thế anh?”
“A! Chắc mình không ưa tôi, nên tôi đi qua hai ba bước nó mới nổ. Bùm! Người lính kế sau tôi, gãy một chân và một bên người bị nát bấy vì mảnh mìn.”
Hắn ngừng lại, đầu hơi cúi, nhìn theo làn khói thuốc lá uốn éo. Tự nhiên mọi người đều im lặng. Bà Hạ thở dài nhẹ nhõm:
“Anh Thắng may thật!”
Lan tinh quái hỏi:
“Anh sợ chứ?”
“Sợ lắm! Nhưng kém xa lần đầu tiên đưa Lan ra “piste”nhảy.”
Lan trừng mắt nhìn thẳng vào mặt Thắng. Hai cặp mắt giao nhau trong một giây, đoạn hai gò má Lan ửng hồng. Lan và Thắng giống hai con thú dữ, móng sắc, trẻ và hăng máu không để lỡ bất cứ dịp nào để rỡn đùa, một trò chơi không thiếu phần nguy hiểm.
Chúng tôi hãy còn rất trẻ. Tuổi trẻ không trông thấy trên khuôn mặt, trong đôi mắt, nhưng ở những giấc mơ không bao giờ tắt. Tết Giáp Tuất. Tôi về sống ngôi nhà của Quý, phía nam phần lục địa. Trái đất xoay như thỏi đá cứng, những cạnh gai góc cắt vào chốn vô hình. Mỗi trưa, tôi với Quý và Chiến – cũng một người bạn ở nhờ – bầy những tiệc rượu đón bắt những vô hình mà cả ba đều linh cảm rất rõ, theo sóng của cây rừng tràn đến tận thềm. Cả một triền núi lươn lướt tắp đến bàn rượu. Cơ ngơi của Quý to lớn sừng sững.
Quý bầy ba cốc rượu hồi. Óng ánh. Bóng của cả năm mươi gian nhà san sát đổ dồn vào trong đáy ly. Bất chợt. Dữ dằn. Lần nào ngắm dinh cơ của Quý, tôi cũng nổi gai, rờn rợn. Không phải nhà mà là một thứ lăng, lâu đời, cũ kỹ, vĩ đại, chễm chệ trấn áp cả một rặng núi. Năm mươi gian nhà cất xây theo lối cổ, chống đở bởi những trụ trời xọc vào mây. Sân trước dựng chín đĩnh đồng. Sân sau Quý thuê đào một thứ đầm trông y hồ Ba Bể ở Mẫu Ninh. Dể sợ. Không phải nhà ở của một con người.
Vợ Quý bưng lên một mâm nhắm. Những lát tim luộc tái, lát mỏng, xâm cạnh những khoanh lòng tròn trắng, tươi mởn tựa đầu vú đàn bà. Vơ. Quý có nét lẳng của phụ nữ Bắc, nụ cười bám theo chuôi mắt, rớt vào đĩa nước chấm nổi nhọn hai quả ớt xanh.
Quý vươn tay gắp một mẩu lòng, cắn vào chính giữa chỗ dai dai tựa đầu nấm vú. Anh kể Ngày xưa ăn miếng thịt rồng ở miền Bắc là kinh lắm. Mổ rồng là một thứ lễ nghi, tráng đinh buột ghị lại, phải đợi tiên chỉ đọc điếu văn rồi mới thọc huyết. Bên này rồng đông lạnh, rồng làm sẵn, chỉ việc mua về xả nước đá, ăn bao nhiêu cũng có. Quý cười ha hả. Mấy ngón tay đánh đôi đủa di động uốn éo, trước khi xỉa xuống đĩa tim phượng đỏ chót. Tôi rợn.
– Ăn tim nhớ người!
Quý lại cười. Dạo mới quen Quý, lúc trước, tôi để ý thấy mặt anh cằn cỗi, môi thâm, má hóp, chứng sốt rét rừng của thời kỳ đi B lâu lâu hoành hành. Nhưng kể từ lúc Quý tậu được năm mươi gian nhà, sắc mặt anh đổi hẳn. Mười năm vượt Trường Sơn nhọc nhằn chỉ còn lại hàng bạch đàn ngút ngắt, trồng tít tắp dọc bờ tường viền ngôi đất. Kỷ niệm thời trai trẻ của Quý ở Hà Nội thì mọc ở rặng hoa sữa trắng ngát.
Quý thấy tôi ngắm vườn, hiểu ý:
– Rặc cây Hà Nội. Đặt mua từ ở nhà, cái gốc sữa ở đầu hàng Gai cạnh xạp ốc nóng nhớ chưa?
– Mua được à?
Tôi chồm mình. Vợ Quý đang khom lưng bổ đôi quả cật. Mấy ngón tay Quỳ mần mần lăn lăn miếng bầu dục bóng lưỡng nằm trây trên thớt. Quỳ vuốt ve, âu yếm, hết trở qua rồi lật lại, lạng bỏ nhịp nhàng những gân hôi, rồi khía. Quỳ lấy nước ở hồ Ba Bể, ngâm bầu dục cho xả nhớt, rắc một chút húng lìu, và ghép một lạng mỡ trước khi xiên. Xâu xong, Quỳ bỏ vào nhà trong nói đi lấy than để nướng. Quý không chú ý đến vợ, ngắt một lá húng, chắc lưỡi:
– Mua tất! Cái gì bây giờ cũng bán.
Quý rót thêm rượu hồi. Ngửa cổ. Rượu chảy xuống cần cổ như con rắn lục, trườn trườn qua yết hầu, động đậy, trước khi lặn vào gan. Tôi uống hết cốc rượu mời của Quý, thơm hực. Hồi nguyên chất đậm đặc. Nồng. Pha thêm nước lã thơm ngai ngái, vàng khói phất lên khứu giác ngất ngưởng. Cốc hồi tan vào máu làm thịt gân tôi nẩy giật. Nghe được cả những âm thanh của búp hồi nở ở gang bàn chân.
Chiến từ nãy giữ im lặng. Không phải Chiến ít nói, nhưng ở con người Chiến mang dấu ấn của thời đại. Thứ dấu đóng chết, bảo chứng một sự thật: Bị bôi xoá. Bị bỏ quên bởi thời cuộc. Lần nào ngồi gần Chiến tôi cũng để ý dáng vẻ kỳ quặc đó, toát ra ở người Chiến, tựa một thứ định mệnh sóng đôi hiện lên rõ mồn một ở khoé mắt, sống mũi, quai hàm, ở từng sợi tóc úa, bắp thịt nhão. Nhưng khủng khiếp nhất là lắm lúc Chiến ngồi sờ sờ ra đó tôi cũng không trông thấy. Như thể anh hoàn toàn bị xoá bỏ. Sử sách lãng quên. Chỉ có quá khứ lâu lâu ở trong Chiến vụt trồi lên va chạm với Quý.
– Cánh Bô. Đội Trinh Sát ưa uống hồi à?
– Ai bảo
Quý đang chặt rồng. Vừa nhổ những chiếc vẩy bạc, tiện tay nhón một mẩu bầu dục còn sống ở bìa thớt, chưa xiên, chưa nướng, bỏ tọt vào miệng.
– Hồi ở Việt Bắc hôi khắm! Cất làm thuốc đau bụng, có được thế này đâu? Mà cũng chẳng còn. Cao Bằng, Lào Cay bây giờ mực độ cây xanh bình quân đầu người còn ít hơn Hà Nội.
– Tệ thế?
Tôi uống thêm một chén hồi bỏ đá. Phải công nhận cái thứ rượu này lạ. Càng uống càng mê, chẳng trách có một dạo lắm thổ dân hoá cuồng. Uống tới ly thứ tư, trong đầu tôi váng vất như có rụng một trận mưa hoa vàng, cánh hoa reo cùng với gió đâm xuống thịt da rồi lại trồi lên trỗ thành những rễ hồi nhỏ, ngo ngoe, động đậy. Tôi cảm giác rõ rệt, những vô hình ngóng chờ lúc nãy đã hiện lên, lừng lửng đứng trong sân. Triền núi trước mặt đổ lao thăm thẳm xuống vực sâu. Và cây rừng cứ mỗi lúc một dầy thêm, rậm rạp, phủ kín quanh chỗ tôi ngồi. Ấn tượng được hoà nhập với thiên nhiên, tan vào trong cây cỏ, đất đá, vỡ ra sảng khoái, lạ lùng. Tôi đưa tay quơ lấy chai rượu. Trong chất hồi cũng có dấu vết của thiên nhiên: Mặt trời, hừng hực, lúc chảy qua cổ họng.
Quý không ngó ai, khợi một miếng óc lân luộc, rắc muối tiêu, cắn một cọng răm trước khi nuốt:
– Mấy năm trước 79, Trung Quốc cử người sang Việt Nam mua rễ hồi, mà mua với giá đắt, cả làng, cả tỉnh đốn hồi bán. Hiểm!
– Người ta hiểm còn mình dại!
Chiến ăn hết nửa quả tim phượng, mỉa. Quý hơi lừ mắt, nhưng bỏ qua. Gạt thịt rồng vừa chặt vào thau, cạo thớt. Cử chỉ của anh gọn, sành sõi, nhanh nhẹn như những người Hoa đi bán phá lấu. Chiến không nói gì thêm. Từ mấy tháng đổ lại, trừ những lúc găng, Chiến chấp nhận chính Quý mới là chiều mạnh của lịch sử. Sự im lặng của Chiến nửa bẽ bàng, nửa thua cuộc. Để quên, Chiến không ngớt rót cho tôi và anh. Pha nước, gắp đá, rồi lại uống. Cứ thế ba bốn bận. Chai hồi chưa kịp vẹt mâm lòng đã cạn.
Qúy nhần nhần một miếng lòng dai, nhăn mặt:
– Cái thứ rồng già ăn như thịt trâu!
Quý vớt một quả ớt, muốt đầu nhọn, chép chép ở đầu lưỡi. Tôi ngóng bóng Nữ vừa đi học về bước qua cổng Đại Môn. Kiến trúc của ngôi nhà trông như lăng vua. Mấy hàng cột trụ biểu trồng đều tăm tắp, xen giữa linh qui đội bia trước sảnh đường. Có lần Quý giải thích: Để sau này con cháu đổ đạt khắc tên vào văn bia như truyền thống của dân tộc nghìn xưa. Nữ đi qua bàn không chào. Quý gắt:
– Cái mả mẹ mày không biết phép tắt. Đã thưa gửi chưa?
– Je n’ai pas faim!
Nữ đi xoắt vào nhà trong. Quý thở dài, lôi ở gầm bàn một két gỗ. Chục chai vang tím sẫm. Quý vừa khui vừa nhăn trán:
– Con gái bên này mất nết.
– Đánh bài đi!
Chiến nhắc. Hai bàn tay mang dấu vết chiến trường quẳng ra bàn một xấp tiền giấy. Quý xào cỗ bài rồi đưa tôi kinh, anh bắt đầu chia, mấy ngón tay cũng động đậy, thành thạo, uốn éo khéo léo như lúc nãy. Tôi vừa đón bài, vừa nhìn vơ. Quý trở ra vườn. Quỳ bắt vỉ, quạt than. Khói um lên tàn gốc điệp. Thấy cỗ bài, vợ Quý dẫy:
– Đợi tôi chơi với.
– Đàn bà đánh gì
Quý đang bực con, sẵn. Vợ Quý không vừa, sừng mặt:
– Đàn bà cũng là người!
Quý nhượng bộ chia đều bốn tụ. Giấc trưa nóng hầm than trên vỉ cật nướng cháy theo hơi quạt gió phần phật ở tay Quỳ. Vợ Quý trở qua trở lại gấp gáp rồi hạ bếp. Miếng bầu dục chưa chín, nhưng chạm lửa săn cứng.
Chiến uống thêm mấy ly vang nữa rồi bắt đầu giao: Đánh thua không chạy. Tính chi. Một chi năm trăm quan. Rồng ăn mười ba chi. Tứ Quý, Thùng Phá Sãnh cũng mười ba chi. Nhưng Rồng lớn hơn hết. Tôi mở bài. Bài máu. Đồng hoa. Chưa đánh tôi đã biết thắng. Bên cạnh Quỳ búng bài tanh tách. Hết xoẻ lại xếp. Cứ xong một nước Quỳ lại liếc ngang dọc, cặp môi đánh son chói chực mím lại, rồi nhoẻn ra. Tôi đã ngà say, thấy Quỳ đẹp sắc, nét đẹp chanh chua mà dữ tợn. Quỳ mặc áo mỏng. Vú hở ra nhễ nhại những hột mồ hôi tròn trĩnh. Tôi ước ngủ với Quỳ chết mới mãn.
– Xong chưa? Có mười ba lá bài binh hết một ngày. Nhìn đây này!
Quý nóng nảy, chìa ngay vào mặt Chiến cũng vừa xong. Chiến gạt:
– Zách Thú Sãnh ăn được thì ăn!
– Xám Chi đầu!
Quỳ hấp tấp, bổ nháo xổ bài. Nhưng rốt cuộc bài tôi ăn tất. Đánh thêm sáu ván, tôi được năm. Cứ hai ván Quý khui một chai rượu đỏ. Rượu Pomérol, château Rouget, vụ 84. Quý nói: Mười năm chống Mỹ! Chiến chỉnh: Mười năm kháng Cộng. Quỳ rủa: Lẩm cẩm.
Uống hết chai thứ chín thì tôi hoa mắt. Cỗ bài chạy lộn xộn. Màu váy rượu đỏ như môi lưỡi Quỳ, uống vào cũng nở tròn trịa như bắp đùi đàn bà ở độ xuân, nhưng bốc lên đầu rần rần chẳng khác một bầy quạ đua nhau mổ vào thái dương. Tôi thấy người mình nhẹ lắm, mà tay chân thì không điều khiển được, như đã tách khỏi xác, cứ chao qua chao lại. Tôi gọi Quý:
– Tôi ngã mất.
– Thằng chạy!
Chiến chửi. Nhưng Quý đã đứng lên, vạch mắt tôi xem.
– Hỏng kiểu. Nó sắp chết. Chạy bắc nước, cho nó uống trà Thổ. Mau!
Bụng tôi chướng lên. Bao nhiêu thức ăn, phổi, rồng, phượng, cật, óc, lân, gan, tim, mề chạy ngược lên cổ. Mắt tôi nổ đom đóm, loáng thoáng thấy Chiến, Quỳ, nửa bóng nửa hình chạy lăn xăn, kẻ giữ tay, người đở gáy, còn Quý hộc tốc chạy vào nhà đem ra một hộp thiết. Mạch máu tôi vỡ hết. Tôi muốn nôn mửa nhưng Chiến đã chận lại, bàn tay hộ pháp chặn ngang cổ họng, đè dứ lấy không cho nôn. Tôi quẫy. Vỏ chai trước mặt bể xoảng. Chiến dẫm phải mảnh, máu chảy ròng ròng. Trong mảnh thuỷ tinh mặt tôi dúm dó, trộn lẫn với máu Chiến tím bầm. Chiến vẫn xem như không đè lên ngực tôi, hai tay nhồi xuống tim, mỗi cái nhấn làm tôi nẩy bật lên. Gương mặt Quỳ gần sát to như đấu thúng. Tôi dẫỵ
– Uống nào!
Quỳ bóp má. Trút trà. Nước trà nóng bỏng cháy dại lưỡi. Trà đặc, đắng chát miệng. Trà xuống tới đâu người tôi mụ tới đó. Nắng buổi chiều gay gắt. Dữ dội. Tát thẳng vào mặt. Cơ ngơi của Quý quái vật. Chính giữa cơn say làm như tôi còn trông thấy rõ một đuôi rồng hiện ra bất chợt, lượn uốn quanh ngôi đất nhà Quý. Hai chiếc vòi rồng thả vọc xuống mặt hồ Ba Bể rút nước. Mưa, dông, bão, sấm chớp, hay rồng hút nước tôi không biết, nhưng những vẩy hỏa rồng lập loè mê hoặc. Chiến cõng tôi lên buồng. Tiếng tri hô của Quý còn hô hoán dưới vườn trầm trồ khen con thú đẹp.
*
Chúng tôi hãy còn rất trẻ. Tuổi trẻ trông thấy trên gương mặt, trong đôi mắt, và ở những giấc mơ không bao giờ tắt. Suốt bốn ngàn năm, cái chết của con người ở quê tôi hình thành do suy tàn của thể chất. Nhưng xuống tới thế hệ tôi, kỳ quặc, chính chúng tôi đi tìm cái chết: Thể xác vẫn nguyên vẹn.
Chúng tôi đứng ở bờ cồn trông ra cửa biển. Tôi run rẩy vì ý nghĩ mình sắp chết. Một cái chết dã man hung bạo. Nền trời mỗi lúc một xanh, bát ngát. Soi rõ đại dương và Phương Tây ở đằng xa. Tất cả, không ai rời mắt nổi khoảng trời xanh ngắt ngoài sức tưởng tượng -nền trời của biển Đông và Tây Phương- nơi chúng tôi sẽ chết. Ruột tôi quặn thắt vì sợ hãi lẫn ham muốn. Mâu thuẫn nhưng kích thích. Tiếng còi tàu rúc của ba chiếc thuyền táng cập vào bến. Những chiếc thuyền bít bùng giăng sẵn cườm, một thứ tàu nhà đòn mà tôi sẽ phải vào nằm bên trong với một ngàn hai trăm người khác. Ba chiếc tàu chở tử thi. Tay chân tôi lạnh mướt vì sợ. Mẹ tôi đứng ở kề bên. Tôi nghe được tiếng thở của bà. Tiếng thở đứt khúc, đứt đoạn, thấm đẫm tình mẫu tử. Mẹ đi tiễn tôi sang thế giới bên kia. Sợ. Nhưng tôi vẫn không van bà giữ tôi lại. Cơn khát, giấc mơ, cả hai trộn lẫn, thúc đẩy. Tôi nửa muốn sống, nửa muốn chết. Kỳ lạ, chính mẹ cũng không giữ tôi. Dù tôi đọc rõ đau khổ trên gương mặt bà. Mẹ tôi đau nỗi đau của người đàn bà lúc lâm bồn. Xẻ thịt, banh da, rạch tử cung, xé buồng nhau, mất huyết. Biết đau đớn nhưng vẫn ham sanh. Tánh khổ dâm tôi thừa hưởng từ mẹ, và sắp sống những giây phút khoái lạc đớn đau đầu tiên. Bạn bè đứng trước tôi lần lượt tự sát. Được tẩn liệm ngay trong lòng tàu. Tôi trông thấy những bà mẹ lạc thần gập người rụng xuống. Tôi trông thấy đôi mắt các bạn tôi mở trừng trừng sau khi chết. Những đôi mắt trẻ phút vĩnh quyết còn cố thu vào chút hình ảnh chót cùng của quê hương, gia đình. Đến phiên tôi, mẹ tôi gào khóc, vật vã thảm thiết, nhưng bà không làm cử chỉ bảo bọc xoè hai tay kéo tôi vào lòng; bà không làm cử chỉ thiêng liêng gìn giữ đứa con của tất cả các bà mẹ trên thế giới. Sau bốn ngàn năm, các bà mẹ ở quê tôi thay đổi, sẵn sàn chứng kiến con mình chết để đánh đổi những giấc mơ. Họ tổ chức cho con cái những cuộc tự sát tập thể. Mẹ tôi đồng loã và chính tôi cũng đồng loã. Tôi bước xuống tàu. Bàn chân run rẩy sợ sệt, chưa kịp quay lại để nhìn mẹ lần cuối, thì gã thủy thủ đã xộc tới dùng mã bổ phập vào đầu tôi. Lưỡi rựa xắn ngập xuống óc hủy tức khắt một phần trí nhớ. Máu tôi phun bắn ra sàn tàu. Máu đỏ gấc, tươi rói vô tội dưới ánh sáng mặt trời. Tôi ngã chúi trong vũng máu. Tôi bơi trong máu của mình. Của mẹ. Tôi chưa chết, nhưng máu trào ra khắp mặt. Tôi gào mẹ. Lão tài công xông tới phụ với gã thủy thủ đầu tiên, dùng kéo cắt kẽm, cắt lưỡi không cho tôi gọi mẹ bằng tiếng mẹ đẻ. Tôi quẫy. Cái chết nào cũng đau đớn. Chủ tàu vừa quát gọi tài công nhổ neo, vừa lấy đinh chọc tiếp vào hai mắt khiến tôi mù loà không trông thấy quê nữa. Tôi rú lên. Thịt da tôi tan nát. Nhưng lưỡi đã bị cắt, chỉ phát ra những tiếng la khắc khoãi, âm thầm, lẳng lặng, kêu vang cho chính mình. Không ai can thiệp. Không ai thương xót. Tất cả dửng dưng. Tàu đã tách bến. Không phải con người ở quê tôi không còn tình cảm. Nhưng họ đã chứng kiến quá nhiều, trông thấy cái chết quá nhiều. Giá trị vĩnh hằng là những giấc mơ. Đối với họ, chúng tôi là những tử thi sung sướng.
Đám thủy thủ lấy cưa xẻ xác từng người đã chết ra từng khúc để bán cho hải tặc. Tiếng cưa máy réo inh ỏi man dại như tiếng hú của những con vật ăn thịt. Những khúc ruột xổ ra, bấy hầy, bị vất xuống biển, trôi theo nước cuốn về quê. Xương chúng tôi bị ném đi, rơi vào lòng đại dương mênh mông, dậy sóng, đầy dông tố, đá ngầm, san hô và những lổ đen sâu hoắm mở ra chờ đợi. Tứ chi chúng tôi rơi không cưỡng lại được, không thể bám víu, gió phần phật… Nhưng lúc gã thuỷ thủ chẻ sọ thì tôi vùng dậy. Có ai chết mà muốn hài cốt mình chịu dầy xéo, đừng nói cưa tiện. Tôi vùng vẫy, đầu ngắc qua ngắc lại để tránh lưỡi cưa đương tì xuống. Lưỡi thép rít rè rè kêu xoáy kề màng tang, tôi khóc lóc van xin nài nỉ, vật nài khẩn khoản lạy lục xin tha, căn buồng nóng hơn một lò thiêu, chiếc giường chồng chềnh chao đảo nghiêng ngã nhấp nhô giữa áp xuất hầm như ở xứ nhiệt đới. Trần nhà không ngớt xoáy tròn, quay tựa một quả bông vụ ném vào khoảng không, xoay tít, mồ hôi tôi võng võn g chảy tháo ra ở hai bên nách, ở trũng lưng, ở cả bắp đùi nhớp nháp. Mặt đệm đầy nước. Nước mằn mặn lẫn rong rêu. Biển tràn vào buồng, tôi bơi giữa biển mồ hôi bám tìm sự sống, dẫy vùng tìm lối thoát, co đạp đấm vào cạnh giường kêu mẹ, lăn lộn tức tưởi tốc mền tốc chăn xé gối. Tôi giật tấm vải màn che cửa sổ, nắng ùa vào như thác nước sôi xối phồng da mặt ném bừng ra khỏi cơn mộng.
Giấc mơ khủng khiếp. Căn phòng ngộp hơi. Tôi thở hổn hển. Áp xuất ép làm những giọt mồ hôi nhỏ li ti vỡ ràn rụa. Ác mộng hãi hùng còn đeo bám in dấu trên mình tôi tím bầm, đầy dấu tay ấn của Chiến và những nhát búa tạ còn lồi lõm khắp ngực. Tôi nấc đứt quãng. Hoảng sợ. Chết đi sống lại. Giống vừa làm kinh. Máu mũi trong lúc trớ chảy đầy miệng.
Phải lâu lắm tôi mới hồi lại, rời cõi hoang vu để trở về với thực tại. Chung quanh lặng lẽ. Tất cả lặng lẽ. Tôi nhận ra mình đang nằm chính giữa căn buồng nhà Quý. Cánh quạt trần không biết Quý gắn từ bao giờ, ban sáng tôi vẫn còn chưa thấy, quay lờ đờ chậm chạp, không thổi được chút gió. Cánh quạt rình soi mói. Tôi sờ tay lên vách tường ẩm rêu. Căn phòng Quý cho tôi ở sát vách núi, chỉ cần mở cửa ra là chạm những khối đá tảng hoang vu xù xì. Tôi nghe được tiếng nước chảy ở đáy hồ Ba Bể, thường nhật sâu lắng, lúc này ầm ào kêu vang. Tiếng nước chỉ làm cho buổi trưa rộng thêm. Tôi không biết mình nằm trong buồng bao lâu, chỉ nghe rất rõ mọi tiếng động. Tiếng những ngọn cỏ mọc khắc khoãi quanh nhà. Tiếng những cột gổ trăn trở vặn vẹo ngoài hành lang. Tiếng mối mọt bò trong các ngách gỗ. Thậm chí đến tiếng trứng gà vỡ trong góc chuồng tôi cũng nghe được. Những mảnh trứng vở rạo rạo, non nớt xen kẽ tiếng động thật khẽ, yếu đuối của từng cánh cải cúc nhú mình cố vươn lên dưới gậm giường. Gian buồng mọc đầy cải cúc. Nở rợp, tươi tốt. Một vũng ói nhơ nhớp hôi thối nhầy nhụa trên mặt thảm. Tôi nghe tiếng thắt bóp của mạch máu, ở cườm tay, ở ngực, ở gân, ở não, ở dương vật của chính mình. Tiếng động của các tế bào sinh sôi nẩy nở rồi chết đi liên tục, sôi động, hàng hàng lớp lớp, cứ hết mớ này đến mớ khác, cứ hết lớp này đến lớp khác, tái tạo hủy diệt, sinh tử đổi ngôi cho nhau nhịp nhàng đều đặn theo một thứ chu kỳ bất tận. Những tiếng động mê hoặc miên man không dứt, lấn át cả giấc mơ ban nãỵ
Trời mưa lúc nào tôi không rõ. Nắng quái của buổi chiều vụt biến, vụt tan, nhường cho màn sương mờ đục vây quanh nhà. Trận mưa mạnh, những hột mưa to, nặng, chậm, sâu như tiếng cuốc đám thổ dân ven nhà Quý mỗi sáng bổ vào lòng đất. Mưa xắn xuống bao lơn phòng tôi, tưới ướt những chậu quất. Hơi mưa man mát lẻn vào buồng kêu tí tách. Vách tường ẩm rêu chảy nhờn nước. Khối đá xù xì sát cửa sổ bắt đầu hồi sinh. Tôi nghe rõ chúng cựa mình tắm mưa. Trận mưa bất ngờ gội sạch những ám ảnh còn xót từ giấc mơ. Tôi trở nên tĩnh táo lạ lùng. Một thứ khoáng đạt nội tâm bất chợt. Giống trận mưa làm loãng ảnh hưởng của chén trà Thổ lúc nãy. Tôi nằm trên giường ngắm cơn dông rãi đều răm rắp xuống dinh cơ của Quý những nắp nước bạc. Tôi thấy cần đàn bà.
Quỳ hiện ra bất thình lình ở ngưỡng cửa.
– Trốn lên phòng đợi em phải không?
Quỳ cười khúc khích, thân mật. Ngồi thụp xuống bên giường, xoãi người cắn vào tai tôi hỏi khẽ:
– Đợi em lâu không? Lão Quý canh ngặt mãi mới tìm được cớ vào nhà hỏi chuyện con Nữ. Nhớ lắm nhỉ?
Quỳ thủ thỉ. Luồn tay vào ngực áo tôi xoa xoa, những đốt tay Quỳ dịu mát, lan tới đâu như búp hồi toả hương mật, kích thích. Quỳ đưa tay vuốt tóc, lau vài giọt nước mưa còn bám. Cử chỉ thật dịu dàng, không chanh chua dữ tợn như ở dưới vườn. Nhưng tôi hãy còn chưa dứt khoát, dầu gì Quỳ cũng là vợ của Quý. Tôi cố gỡ tay, Quỳ cười rũ.
– Nhát thế à?
Quỳ trườn người nắm tay tôi đặt lên đầu vú, bắt nắn se, mơn mơn, xoa xoa, di di, rồi lại cười rúc rích:
– Thích không? Lão Quý vừa giới thiệu anh là em thương ngay. Có thèm ngủ với em không? Sao lúc nãy em lận bài không mách?
– Mách để làm gì?
Nghe tôi trả lời, Quỳ cười thành tiếng.
– Ngây thơ nhỉ? Thảo nào lão Quý chê anh trẻ người non dạ. Nhưng em thương là được.
Quỳ cởi áo, ném vào góc, ngực vú vun nở, trắng ngà, ưỡn ra quả quyết. Mắt Quỳ chợt chạm phải vũng ói trên mặt thảm.
– Say thật à?
Không đợi tôi giải thích, Quỳ cúi gập người liếm vũng nôn. Dáng điệu mãi miết, say mê, Quỳ nuốt thật sự những thứ tôi vừa nôn ra. Lưỡi thoăn thoắt dọn sạch những mẫu thịt nát lợn cợn. Bãi ói vơi dần đi, cho đến lúc sạch hẵn. Quỳ mút tay tiếc rẽ. Từ lúc Quỳ bước vào buồng, nủng nịu, tôi đã kích thích. Nhưng trông thấy một người đàn bà đẹp, quỳ nuốt những thứ mình vừa nôn ra khiến tôi càng cực ham muốn. Tôi chưa trông thấy hình ảnh nào dâm đãng bằng cảnh Quỳ uống các chất chua thải từ bao tữ mình trây trên đất. Dương vật tôi săn cứng lại. Tôi muốn ôm chầm lấy Quỳ, Quỳ cũng nhận ra, chồm lên, cắn nghiến lấy tôi.
– Em giống con thú không? Nhai lại thức ăn của anh!
Quỳ đong đưa ngực vú hôn tôi mê dại. Hai bắp tay nhễ nhại nối những đầu ngón tay xoắn xít. Quỳ tháo thắt lưng hộ tôi. Tấm đệm còn tắm mồ hôi, tôi với Quỳ ôm nhau trong nước, bềnh bồng lặn ngụp giữa thân xác. Tôi ham muốn kích ngất, muốn vật ngã Quỳ, ấn đầu Quỳ, đè ngửa Quỳ, banh dạng cơ thê? Quỳ, hãm Quỳ ngay dưới chân giường, nhưng tay chân vẫn bãi hoãi sau giấc mơ, nặng nề không sao cử động được. Quỳ nhìn tôi thiếu kiên nhẫn. Mấy ngón tay nóng nảy tháo vội cúc.
– Anh còn say lắm để em giúp.
Đôi môi Quỳ chín rực, lên xuống, cuồng nhiệt. Quỳ mút khoẽ. Chắc. Hăm hở. Vồ vập. Lớp son mỡ bóng rẫy đỏ rát. Sức vóc của người đàn bà chăm việc đồng án. Toàn thân xác tôi bổng phủ kiến, những đàn kiến bò khắp châu thân, cắn, tiêm mật vào các thớ gân, cùng lúc người tôi như tách rời ra, bay qua những cách đồng, lướt gió, lơ lửng, mãi mê, những đám mây hoang lạ và núi rừng xuyên suốt qua người. Tôi nghe rõ mình kêu thất thanh giữa khoảng trống mênh mông vô tận, tôi bay theo hướng mây cuồn cuộn về phía mặt trời, không còn mưa, không còn bão, đã tắt dông, đã tắt nắng, nhưng vẫn sáng, thứ ánh sáng của tuổi thơ lấp lánh. Biển bầy ra trước mắt. Xanh thẵm, rùng rợn. Phút chốc tôi nhận ra bãi biển của giấc mơ, kinh dị. Tôi thét gọi mẹ, bấu lấy đầu Quỳ muốn ngừng, nhưng Quỳ vẫn tiếp tục, ngậm chắc, mãi miết, nuốt trọn toàn thân tôi đang rơi trở lại vào đại dương của tuổi thơ tự sát. Tôi sống trở ngược cảm giác hoảng hốt, hoảng sợ, mà cũng cực kích thích, ham muốn tìm cái chết, tự nguyện chịu hành xác. Tôi bay trở ngược chập chùng qua biển lớn. Gió gào mang tai. Thịt da từ từ tươi trẻ, mắt từ từ trong, tuổi trẻ nhập trở lại trong mình tôi đầy tràn sức sống. Tôi thấy lại bến cồn lúp xúp những ghe xuồng chở người ra tàu lớn. Tôi thấy tôi đi trở lại qua lòng chợ. Quỳ vẫn không buông, mút lấy mút để, nuốt nhay hối hả, người tôi căn phồng như cánh diều no gió, bay lồng lộn phần phật qua những mái nhà, chùa đình miểu chợ. Tôi thấy lại tất cả. Tôi muốn bước xuống, muốn trở về nhà, muốn ngã vào lòng mẹ, nhưng Quỳ không cho, mười ngón tay vẫn bấu chắc, hối thúc, siết mạnh, đẩy đến cực điểm. Quỳ như kẻ thả diều bắt tôi lên cao nữa, lên cao mãi, lên cao cho đến lúc nổ tung, cho đến lúc bước chân xuống tàu bị giết. Lưỡi mác chém vào đầu, chém vào vai, xẻ óc, đổ thịt, tan xương, nát sọ, máu me nhầy nhụa. Tôi sợ. Gào. La. Thất thanh. Tiếng hét vang dội trong buồng, tiếng hét tháo ruột tháo gan trôi tuột tuổi thơ, sinh lực bao nhiêu lâu chôn dấu, giữ trong mình, đè nén, kềm hãm, chất chứa, căng thốn thúc bách giống lần xuất tinh đầu tiên ào ạt mạnh mẽ mãnh liệt bắn phun xối xã tuôn tưới tắm đằm đìa khuôn mặt Quỳ ướt đẫm.
Tôi thở dốc. Hào hển. Co thắt. Rút giật. Người run bần bật. Mạch máu não chùng đứt. Dương vật là con rắn bị cắt tiết.
Quỳ giật vải giường lau tóc, lau mặt, chùi những tinh trùng còn ngọ nguậy bám ở môi.
Tiếng Quý gọi Quỳ vọng từ chốn nào xa vắng, xa xôi, xa lắm, vọng vẳng vang vang, văng vẳng như ở kiếp nào, thế giới nào trôi ngang qua buồng rồi đi khuất, mất hút.
*
Tết Giáp Tuất, chúng tôi hãy còn rất trẻ. Tuổi trẻ không trông thấy trên gương mặt, trong đôi mắt, ở làn da, nhưng hằn những giấc mơ khắc ghi không bao giờ mất. Tết Giáp Tuất. Bất cứ ngày nào cũng là Tết Giáp Tuất. Chiều nào cũng là chiều hai mươi tám Tết. Sáng nào cũng là sáng mùng Một. Không có thời gian. Không có không gian. Không có khái niệm. Không có chuẩn mực nào để đo cuộc sống chúng tôi. Tôi về ở với Quý bao lâu, không ai biết. Chính tôi cũng không rõ. Chỉ thấy cơ ngơi Quý mỗi một ngày một quen thuộc. Chừng tôi đã sống nghìn năm dưới lớp mái võ cua, với những cột cái, cột quân, con chèn, cốn. Những cánh rừng phía sau nhà Quý rậm thêm, những giải núi mọc lấn dồn ra sát thềm lục địa, chân núi dẫm xuống biển, chống xuống vực sâu, mặt trời mọc ở hướng Bắc, mặt trăng lặn ở hướng Nam, trái đất có mười lục địa, con người có tuổi thọ một ngàn năm, chúng tôi không cần biết. Quý tiếp tục tiệc rượu ê hề thừa mứa. Chiến tiếp tục với cổ bài mê hoặc, và tôi xuất tinh lên gương mặt Quỳ rạng rỡ.
Kỳ lạ. Thời gian không có, nhưng tôi sống với tình cảm hồn nhiên trong tráng. Tựa tuổi ấu thơ tìm trở về. Bất chợt. Đột ngột. Rộn rã. Tôi là đứa trẻ. Mười lăm, mười sáu, tuổi dậy thì. Thèm khát. Dâng trào. Hồn nhiên lẫn tìm kiếm. Hồn nhiên đến mức gặp Quý tôi không thấy ngượng, như thể tôi chưa ngủ với Quỳ. Chưa hề xẩy ra chuyện gì. Và bản năng của buổi sáng thức sớm, dọ dẫm, bước chân dẫn lên thang lầu đưa tôi vô tình đến xưởng vẽ của Đình. Những tầng lầu ẩm mốc tỏa hơi mưa của cơn giông khuya khoắt còn bám những giọt nước rãi ướt suốt hành lang hoang vắng.
Xưởng họa của Đình nằm trên tháp Bảo Nghiêm phía sau Phật điện phần chót của dinh cơ Quý. Tôi đi qua mấy dẫy tường liền phủ đầy tranh. Khác với trước Tết, mỗi ngày những bức tranh trong xưởng vẽ của Đình đổi khác. Hàng trăm bức trắng toát. Từ buồng này sang buồng khác vẫn chỉ một lối vẽ: Những nét cọ trắng bay lượn chập chùng trên khung vải bố. Trắng ngần, trắng lạnh, tê tái đến nhứt nhối. Mỗi khi đứng trước những bức tranh của Đình, tôi luôn ấn tượng đứng trước vũ trụ yên lặng, mênh mông, bao gộp tất cả: Không bụi, không núi, không mây, không con người, chỉ bất tận những khoảng trống âm u. Sơn trắng không chỉ trắng mặt vải bố nhưng trắng ngát khắp gian phòng. Tường, thảm, bàn, ghế, trần, nen nhẩy múa trôi lượn cháy cạnh những hình khối rối rắm bay ào ạt, hoảng loạn, tới tấp vào giữa không gian đục mờ, cùng lúc trong trẽo thứ ánh sáng nhạt lưa thưa lơ lửng hoe vàng rãi dọc những chiều thời gian đa chiều; và tôi cũng bay y hệt những khối loạn sắc không tài nào cưỡng, chống, kháng cự, hay chụp bắt, cảm giác cùng một lúc mọi vật, thế giới đều tản mát và tập trung quanh mình, ấn tượng thất lạc, thất tán tan vỡ phân tử tế bào trong cơ thể rã ra chìm đắm vào sự vật không ý thức, không hiểu, không thể kiểm chứng, khó phân tích, không thể chủ động lý giải hay làm chủ được bất kỳ một thứ gì trông thấy và không trung yên tĩnh hoang vu tĩnh mịch đến sợ. Tĩnh lặng. Im ắng. Trơ trọi. Cổ sơ. Hoang dại.
Đình kéo giật tôi ra khỏi tấm tranh. Tôi rớt bật từ tấm vải bố xuống mặt ván. Đau điếng, váng người. Đau ê ẩm nỗi đau của một kẻ bị giật kéo bức rời ra khỏi gia đình, khỏi người thân và những đồ vật thân thuộc của mình. Tôi bàng hoàng ngã ngửa vào một thế giới khác. Thế giới thật của xưởng vẽ lạnh lẽo vuông vức. Những giầm sơn rơi lả tả khắp mặt ván. Người tôi mụ đi mấy phút. Không biết bao lâu sau tôi mới định thần đang ở xưởng vẽ trên tháp Bảo Nghiêm phía sau Phật Điện, bên kia hồ Ba Bể, phần cuối của cơ ngơi Quý. Hôm nay là thứ năm, sáng mùng Một Tết Giáp Tuất. Quý đang bắt ghế đốt nhang trầm trong cửu đĩnh, hương nồng nặc. Giữa mùi khói nhang xông lên từ dưới vườn, Đình chuệnh choạng đở tôi dậy. Trông anh cũng mệt mõi, sức vóc tiều tụy. Vẽ mà như tra tấn, nát người. Những tấm bố vẫn trắng. Tường vách vẫn trắng. Chỉ có ấm trà sôi miên man từ nảy là không trắng. Ấm nước bốc khói chậm chạp. Đình rót trà, đặt lên tách, mấy ngón tay anh run se sẽ mời tôi trước khi hỏi:
– Thấy gì?
– Không biết, tất cả.
Nước trà đắng. Mùi trà Thổ ẩm mốc hôm kia phản phất. Tôi rùng mình, nhớ lại giấc mơ khủng khiếp bửa trước. Nhưng chén trà trôi tuột vào bụng không phản ứng. Hình như Đình pha loãng hơn Quý. Giọng anh xúc động.
– Mấy tháng nay không vẽ được nữa. Ý có nhiều mà tranh không lên hình.
– Vì sao?
– Con người muôn hình vạn trạng, không tài nào diển tả được hết cái mình cảm, cái mình thấy. Không phải ngẫu nhiên mà vẽ truyền thần cho người chết dễ hơn họa chân dung người sống. Một đằng là xác chết thuần vật chất; một đằng là sự sống với tâm tính, khát vọng, giấc mơ…
Đình giải thích rồi bỏ cọ ngâm trong lọ dầu. Anh biến mất, đột ngột. Đình bỏ đi bất thình lình như người họa sĩ xoá một bức vẽ. Phủ phàng. Cay độc. Giận dữ. Vết cọ trắng đâm nát mảng tường trước mắt. Tôi gọi anh, chạy níu kéo những ý tưởng hoảng loạn hãy còn vương vãi suốt hành lang. Bước chân Đình tất tả trốn chạy mất hút. Tiếng u u của gió gọi thiết tha kéo tôi tới bao lơn mọc trỗ ra rặng núi đá. Khoảng bao lơn kỳ quặc mở ra một thế giới khác, treo rũ từng khối băng lớn nhọn hoắc tựa lưỡi kiếm của thượng đế cắm vào mặt đất. Tuyết trắng xoá nhức nhối trên những sườn vực ngã lao hun hút. Mãnh sân đá sau xưởng vẽ bơ vơ trơ trọi chẳng khác một ý nghĩ đè dưới vách núi chèn hãm. Khung cảnh làm tôi hoảng sợ. Mới hôm qua Quý dẫn tôi leo núi, hãy còn là núi rừng nhiệt đới, đầy muổi vắt đĩa lúc nhúc. Quý còn kể với tôi lúc xưa vượt Trường Sơn cũng y hệt; mồ hôi tuôn nhèm nhẹp ở mổi bước chân dẫm xuống bùn sình, cây mục, thèm khát một vũng nước trong. Đứng ơ? Trường Sơn trông xuống biển Nam Hải giống nhìn một ảo ảnh. Rõ ràng trông thấy biển, mây, trời, mặt nước nhưng không thể chạm vào. Bước ra khỏi rừng là chết, làm mồi cho máy bay Thần Sấm. Khối kẻ đã nhảy xuống vực để chết trong tự do tươi mát của biển cả. Mới hôm qua Quý hãy còn kể say sưa về quá khứ. Chỉ mới hôm qua, cũng ngọn núi trước mắt, tôi đã leo lên, dẫm chân len lõi qua những rễ rừng dầy cộm, đan kín, xanh ngắt màu xanh của lá, bây giờ phủ ngập tuyết lạnh lẽo. Không cây, không cối, chỉ những tảng băng lạnh lùng tàn nhẫn chồng chất bít kín đại dương và chân trời. Khí lạnh thổi buốt rát. Lan can lạnh cóng. Tôi trốn trở lại vào trong xưởng vẽ. Một bầy dơi trốn tuyết ùa vào bay theo toán loạn khắp buồng. Đàn dơi bay rồ dại va vào trần nhà, húc vào các tấm bố đến toé máu. Từng đầu dơi vỡ rốp, cả bầy dơi đập cánh hổn loạn tìm lối thoát. Những giầm sơn bê bết máu rơi rụng lả tả. Tôi chợt hiểu: Đàn dơi mù loà và khả năng phát sóng định hướng của chúng bị hỏng. Tôi mở toang hết các cửa sổ cho chúng thoát. Suốt buổi chiều tôi dọn dẹp xưởng vẽ rồi viết mấy chữ để lại cho Đình: Tất cả những giấc mơ đều khởi đầu từ sự sống và kết thúc cùng cái chết.
*
Tết Giáp Tuất cơ ngơi của Quý đổi khác. Không phải một đổi khác mơ hồ nhưng rõ rệt. Mới đêm trước, tháp Bảo Nghiêm xây bên hồ Ba Bể, Phật Điện, Tô? Đường, Hữu Trường Lang, Ta? Trường Lang còn quái vật, khi bầy sẽ ríu rít và vạt nắng tuổi thơ dìu dịu lấp lánh, lẩn lút soi vào buồng, năm mươi gian nhà của Quý trở nên quen thuộc. Chừng tôi đã sống nghìn năm với những đầu kẻ, giả thủ, vì kèo, đã sinh trưởng dưới lớp mái võ cua, đã lớn khôn với từng cột cái, cột quân, con chèn, cốn. Tôi nhìn những khúc gổ xúc động. Mặt mình in trên thớt gỗ, ở từng nét kẻ hoa văn cũng khắc tên mình. Buổi sáng trong ngần những giấc mơ ấu thơ, sáng rỡ đẹp lạ thường. Giấc mơ thấm đẫm vào người; tôi sống trở lại những tình cảm tuổi thơ vô tội, lương tâm trong tráng hồn nhiên. Vô tội đến mức chạm mặt Quý, tôi hoàn toàn không thấy ngượng, làm như tôi chưa hề cướp vợ anh, chưa hề xuất tinh lên gương mặt Quỳ rạng rỡ. Cảnh xuất tinh lên mặt Quỳ chưa có. Quý cũng chưa nhận ra điều gì khác lạ.
Chủ Nhật lễ Chay. Tuyết vần vũ. Những sóng cây rừng gờn gợn, nhấp nhô, như hôm nọ trên lan can xưởng vẽ của Đình từng chập xô đẩy tựa biển băng kéo đến vây bủa đều đặn chắc chắn chín chung đĩnh đồng Quý đang thả trầm đốt, khói hương mịt mờ.
Quỳ đứng ở Thượng Điện áo khoát lông Phượng. Tấm áo lông thú lấp lóa sặc sỡ trên da thịt mỡ màng. Chiến ngắm Quỳ mê dại. Quỳ nhờ Chiến chở lên thủ phủ của đám thổ dân để sắm sửa. Tôi bảo Để anh đưa. Nhưng Quỳ làm mặt lạnh. Tôi nghĩ Quỳ sơ. Quý ngờ vực nên không ép. Chiếc Jeep quân đội của Chiến rồ ra khỏi nhà. Trong cơ ngơi đồ sộ chỉ còn tôi với Quý lẩn thẩn.
Quý bắt ghế đi từ chung đĩnh này sang chung đĩnh khác. Tiếng nhạc Rock ầm ào đập trống thùng thùng không dứt vang vang trên buồng Nữ từ sáng. Gần trưa tiếng nhạc tắt phụt, con gái Quý đi biểu tình chống kỳ thị bước ra sân. Quý gọi giật:
– Nữ! Mày đi đâu?
– Ne m’appelle pas Nue! Mon nom est Marie!
Nữ quay phắt, sừng mặt. Con gái Quý giống Quỳ, đẹp sỗ sàng khiêu khích. Quý đang đứng trên ghế đẩu, giận tím tái, mắng:
– Cái mả mẹ mày tao đập chết! Tao hỏi đi đâu?
– Je vais où je veux. Je n’ai besoin de personne!
Da mặt Quý đỏ sần. Quý ngượng với khách, nhổ vụt nan sắt khợi tro rượt Nữ. Tôi chạy theo giữ kịp Quý lại. Quý gầm:
– Đồ đĩ! Nuôi chỉ xấu hổ ông bà!
Quý mạnh lắm, xô tôi ngã, nhưng Nữ đã chạy ra khỏi cổng, thách thức:
– Comment m’adapter à un monde que je ne comprends pas?
– Mả mẹ mày!
Quý lồng lên, nhưng xe bus đã trờ tới. Bóng Nữ mất hút. Mắt Quý đỏ ngầu, tuyết rơi lất phất tan ngay trên nền đất. Quý bỏ vào nhà trong bật đài xem bóng đá. Trận World Cup của năm 66 ồn ào, nhốn nháo. Còn một mình tôi đi rão qua Tả, Hữu Trường Lang. Những gian nhà lúc nhúc người ngợm. Họ hàng, gia đình Quý bảo lãnh sang đoàn tụ. Mỗi bận trông thấy họ, tôi cảm tưởng lạc vào sở thú. Đám anh em họ với Quý hùng hục nấu vàng giả, còn cô dì thím mợ của Quý may lậu, đạp máy may kêu ầm ĩ. Tất cả hùng hục giữa đống đồ vĩ đại. Chỉ lâu lâu những kẻ hết xuất vào bếp vục mặt vào thau cám nuốt cạn rồi ợ, bỏ ra ngoài nằm xem phim tập. – nhà bên một đám cháu gái Quý vừa vắt sổ vừa hát Karaoke. Thầy Quý -cu. Cử- ngồi vắt vẻo đu đưa như một con vượn già ngâm nga cổ văn:
– Nhất biệt gia sơn cáp thập niên…
Lần nào gặp thầy Quý tôi cũng bỡ ngỡ. Ông cụ tựa một con vật sót lại từ thời đại trước. Một con vật ưa nước vối và phun phè phè ra thảm. Thấy tôi không hiểu, cu. Cử quắc mắt:
– Khách lý giang sơn chỉ thử tình. Uất uất thốn hoài vô nại xứ!
Tôi trở vội ra vườn vì biết cu. Cử sắp lên cơn. Bóng nắng vút lên trên đầu gốc đại thụ đã già nua, còn thả buông nhễu nhạo từng sợi giây đa bạc trắng.
Sau cơm trưa, Quý dẫn tôi ra vườn xem Phật Điện. Tiết ráo, anh hồ hởi trở lại, quên mất Nữ, rủ tôi chụp ảnh. Không phải ảnh nghệ thuật, nhưng là cách chụp của những tay thợ dạo dọc bờ hồ Hoàn Kiếm. Vừa bấm ảnh, Quý chuyện vãn:
– Có thấy giống mái chùa Keo ở quê mình không?
– Tôi ngỡ quê anh ở Mẫu Ninh?
– Đấy là quê ngoại!
Quý gạt. Anh chụp hết cuốn phim Kodak, cất máy Leica, rồi bảo tôi vào bên trong. Chùa nhỏ nhưng đủ các công trình chính: Tam quan ngoại, tam quan nội, cung hộ pháp, cung tế khí, cung đại bái, điện thánh, và gác chuông. Quý thuê thợ xây hơn một năm.
– Trông y ở Thái Bình.
Tôi khen.
Quý hãnh diện, chết liệm đi, tay anh run run vuốt mắt Phật.
– Nhớ quá Vĩnh ạ. Ngày xưa cứ mỗi hội chùa Keo, ông cụ lại giắt mình đi, hai bố con bơi qua sông Trà Lý, vào trẩy hội. Bơi trải, bắt vịt, nấu cơm thi, lúc nào mình cũng được. Trước khi tàn hội ông cụ lên gác đánh chuông khấn. Có hai quả chuông to lắm, đúc từ thời Tây Sơn, còn Phương Tượng đắp đời Mạc Mậu Hợp. Mình bắt chúng nắn lại hết.
Quý kéo vai, chỉ tôi xem. Xong anh lên gác đánh ba tiếng chuông gióng vào giữa núi rừng xao động. Tiếng chuông ngân nga đưa Quý đột xuất về quá khứ. Một phút anh xúc động cùng cực. Mỡ ở cầm rùng rùng động đậy. Cánh mũi phập phồng tóp, nở, theo tiếng khánh vọng giây lâu chưa dứt. Lạ lùng trong lúc toàn thân Quý run rẫy, những sóng cây rừng với núi đá sáng bừng, vươn xa, trãi rộng, như tỏa hào quang, được sơn son thếp vàng, phủ kín đại dương giát bạc. Phút sau, tiếng ngân tắt ngấm, tan giữa mặt hồ Ba Bể phẳng lặng. Cảnh sắc trở lại tịch mịch. Mặt Quý sa sầm.
Chúng tôi rời gác chuông.
– Anh về mỗi năm vẫn nhớ quê ?
Tôi hỏi, hoài nghi. Cây cột quân trồng giữa chánh điện vẽ ba chữ Thần Quang Tự. Quý đóng xập liếp cửa, nhổ toẹt một bải đờm xuống ván rồi lấy chân chà:
– Bẩn bỏ cha! Ăn ỉa khắp. Sư bẩn mà tăng cũng bẩn.
Quý cầu nhầu. Trở vào nhà Chung rót rượu uống.
– Sao anh không đưa chị đi?
– Đi đâu?
– Lên phủ.
– Làm gì chỗ rợ. Ðây không sướng à?
Quý cạn, rót thêm hai chén. Rượu Armagnac Marquis de Caussade, đóng chai năm 71. Tôi nâng bát. Chén rượu dậy sóng. Thơm. Mạnh đến tê lưỡi. Năm 71 tôi nhớ Chiến kể đóng căn cứ hoả lực ơ? Ha. Lào, bây giờ lại chơ? Quỳ đi, không được uống thứ rượu đổi bằng mạng sống chính mình. Tôi thương hại Chiến, thấy không phải ai sống sót cũng hưởng tất.
Chừng vất võ chai, tôi bắt đầu chếch choáng. Quý bốc máu, rủ:
– Đêm qua có bầy sơn dương trên núi. Thế nào cũng sót lắm chú còn lẫn quẫn. Đi bắn về ăn!
Quý hùng hục lục trong rương đưa tôi một khẩu AK, hai bộc phá, còn anh vác thượng liên 12 ly 7 với B40. Trời quang đãng, ngôi đất chan nắng. Quý vào nhà xe chất đạn. Chiếc Mercèdes 500 SEL đời mới của anh bóng loá. Quý xoa mui xe thoả mãn.
– Bộn bạc, nhưng chạy ác lắm!
Trông Quý ngồi trước tay lái, khó hình dung anh đã từng là chiến sĩ vượt Trường Sơn. Tất cả dấu vết cũ biến mất. Đoạn đường từ nhà Quý lên núi thắt hẹp, lác đác một cột điện, một bưu trạm, dăm mốc bảng chỉ đường, rừng thông chót vót ngút ngàn. Còn đường treo vắt, đổ ầm ào qua những thác ghềnh. Một con rắn uốn khúc oằn qua những rặng núi khúc khuỷu. Quý châm lửa mồi thuốc sau mỗi đoạn đèọ
– Đánh bài với thằng Chiến thua đậm quá. Cái lúc cậu say lên buồng nằm, thằng Chiến không biết đào đâu ra, liên tiếp lên nước Rồng, cứ như là rồng ở trong người nó.
Xe vượt đèo mỗi lúc một cao. Những mõm đá bám tuyết chưa tan, lóng lánh, phản chiếu chói ngời lên kính. Hương tùng bách dậy mũi. Khí lạnh se sắt tỏa lan ở những đoạn đèo phủ cây. Quý lục trong hộc xe đưa tôi chai rượu Mít.
– Mua ở nhà. Thử đi.
Chai rượu cũ, nhưng mở nắp thơm mùi thịt da thiếu nữ. Chẳng trách gọi mít tố nữ. Tôi uống nửa chai, chất đường, chất men xủi tăm trong huyết quản. Đầu tôi căng nặng trĩu. Hai mắt chực đâm vào những vực sâu hun hút. Mỗi khúc quanh gấp, như có gốc mít đổ rạp ngã xuống mình. Gai mít làm cồn cào bao tữ. Quý không để ý, lái xe cắm mạng.
– Này! Uống cái trà Thổ hôm nọ thấy thế nào?
– Dể sợ!
Tôi uống thêm một ngụm rượu, ợ, trả lời. Quý cười rống. Nhấn kèn đuổi một lão thổ dân tóc vàng đang xua cừu qua đường. Lão thổ dân lầm bầm văng tục. Quý thắng xe, hạ kiếng, chửi:
– Je t’emmerde!
Xe leo dốc tiếp. Quý trở lại câu chuyện.
– Trà quý mua tận bên Ankara Thổ Nhỉ Kỳ. Ngày xưa tù cải tạo ở Tây Bá Lợi Á ghiền nha phiền, đem nấu trà, một ký cho được một tách cũng say như ma tuý. Trà Thổ công dụng cũng thế. Mà cường tráng lắm! Có thấy bơ vơ không?
Quý cười sặc xụa. Uạ một hơi. Một mảng núi lở hiện ra lởm chởm trước mắt.
Kể từ phút giây này về sau, Quý hoàn toàn im lặng, keo kiết lời nói đến mức ngột ngạt. Chúng tôi như bước qua một thế giới khác. Một thế giới có hiểm nguy rình rập, mà tuồng Quý quen thuộc lắm. Anh phạt lau, nứa, đi cắm mạng hơn chạy, băng băng, chốc chốc mới quay lại ra hiệu cho tôi bám sát vượt bãi. Trước mỗi trảng trống Quý đều sợ hãi nhìn trời lo lắng phỏng đoán tai hoạ có thể đổ ập xuống. Người tôi mệt rũ, bao nhiêu gò đất, hốc núi vượt qua, con đường mòn cứ hun hút ngoằn ngèo dưới tán rừng tua tủa Bạch Đàn. Gai góc, giây leo, chằng chịt như nghìn cánh tay mực bám víu. Tôi muốn gọi Quý nghỉ mệt, nhưng anh đã hối:
– Vận động vượt bãi!
Quý lao về phía trước, lưng khòm xuống, mặt ngửa nhìn trời, đùi và cả hai tay anh bơi sãi cật lực vạch lau lách. Bốn tay chân Quý quơ quào tựa một con thú hối hả tìm chỗ trú. Khoảng trảng trống xanh đẫm mây trắng trôi cuồn cuộn đẹp khác thường. Giống một giòng sông hực nắng hoang dã chảy vắt ngang trời. Chúng tôi đã sang đến bên này bìa rừng mà Quý hãy còn giục:
– Khẩn trương lên giặc lái đến bây giờ!
Chúng hiện ra ngay khi ấỵ – ngay lúc Quý vừa dứt lờị – chính giữa trảng. Đẹp vô ngần. Cả tôi và Quý sửng sốt. Choáng váng. Không phải vẻ đẹp thông thường mà là nét đẹp huyền sử, truyền thống; nét đẹp cổ xưa đã có từ nghìn năm. Giống một bức vẽ truyền thần gia bảo. Giống một nét họa dân gian bảo lưu đã mấy ngàn đời. Từ ánh mắt cổ kính long lanh chan chứa, đến vóc dáng thần thoại óng chuốt màu sắc. Bầy rồng trăm con uốn lượn nhịp nhàng tựa trăm cô gái múa lụa. Chúng vừa cổ tích, vừa thật. Trăm con rồng đang quỳ xuống đứng lên uyển chuyển, nhẩy múa vờn vờn nô giỡn chuyền nhau những trái cầu. Những trái hỏa long bay phấp phới, bồng bềnh nhẹ như trứng, mọng như những búp hoa được gió nâng, lửa thổi. Đẹp mê ảo. Tôi vụt tìm thấy lại sự bình yên sâu thẳm bấy lâu đánh mất: Chúng hãy còn sống. Chúng chưa quên và theo tôi sang tận chốn nàỵ
Những cơn mưa ở đâu bất chợt rưới rạt rào trời đất. Mưa thác lũ. Đúng rồi những trận mưa cũ, ấm, nóng. Tôi thấy lại mình chạy vui sướng qua những hẻm ngách. Nước vồn vả thăm hỏi bốn bề. Nước reo hò. Mưa ngập đến gối. Đất trời là một ao hồ dậy sóng. Những vách tường bóng nhẫy rêu loang loáng vôi vàng tắm ướt cười nấc nẻ mở lối đưa tôi đến đứng trước thềm điện. Đền Hùng. Uy nghi. Lẫm liệt. Hoành tráng như trong những bài thơ. Và chúng ở đó, đậu trên nóc. Uy vũ mà thân thiện. Tôi quen chúng từ thuở sơ sinh, còn nằm ẵm ngữa mẹ bồng đến xin sâm. Bầy rồng vui vẻ vẫy đuôi gọi. Hoan hỉ đón mừng. – mỗi cột ngách chùa đều có một chú rồng con đợi tôi, ngoe nguẩy cọng râu, hơi hích mũi mĩm cười. Tôi chuyện trò với chúng, thì thầm gọi tên những người bạn thiết: Hoàng ơi Thanh ơi Hỏa ơi. Tôi đưa tay chào. Chúng lắc đuôi vẫy. Bao giờ chúng cũng sà xuống và đêm về theo tôi vào những giấc mộng. Có khi tôi vô tình mở cuốn vở lịch sử, chúng đã hiện hình ngay trên trang giấy, nằm cuộn dưới chân. Suốt thời thơ ấu có bao giờ chúng tôi xa nhau. Mưa ướt mặt, tắm mát ký ức, nhưng tôi thấy chúng khóc. Chúng đã hiện ra bằng xương thịt cho tôi trông rõ. Chúng cũng xúc động gặp lại tôi ở chốn này, muôn vàn xa cách. Tôi muốn gọi Quý, kể cho anh nghe mối tình của tôi với chúng chia cách mấy đại dương, nghìn trùng đã bao năm.
Nhưng Quý giơ cao súng. Tôi hãi hùng trông thấy những giây đạn chầm chậm chạy vào nòng thép. Hãi hùng thét gọi. Hốt hoảng, thảng thốt. Tôi chạy níu lấy Quý, la, gào, dằn co cản trở, quỳ van vái tế lậy dưới chân anh, nhưng Quý đạp tôi ngã, hươi súng bắn xối xả vào bầy rồng tán loạn. Tiếng súng của Quý nổ chát chúa. Xé trảng. Ghim vào bầy rồng lổ chỗ. Từng giây đạn 12 ly 7 toé lửa. Những tiếng rú đau đớn đinh tai. Những tiếng rú thảm khốc. Những tia máu phụt đỏ thẫm chan hoà chân trời. Những thây rồng lăn lộn ngã quỵ xuống trảng. Những tiếng kêu rên áo não trong lúc Quý tiếp tục tưới đạn. Tôi gào khóc, đau đớn, vật vả, cấu xé, lao vào Quý bị đẩy bật ra rồi lại lao vào. Những bầy rồng con ngã sõng soài. Tôi trông rõ một đứa trẻ máu ứa ra ở mũi, ở lổ tai, ôm chùm ruột cố bò lết ra khỏi trảng. Vết máu trườn theo người nó đỏ bầm. Qúy xô tôi, ném bộc phá, và bắn B40 kết thúc. Những gắp đạn vãi lên xác đứa bé còn hấp hối, tiện đứt cánh tay nó còn đang cố chìa ra phía trước khẩn khoản. Đứa bé chết giữa đồng xanh mây trắng. Máu, xác, chân tay đầu bụng ngổn ngang.
Có thứ tội ác chỉ phạm một lần đủ hủy diệt con người. Nhưng có thứ tội ác nặng nề hơn nữa: Không biết mình tàn ác. Quý thuộc về tội ác thứ nhì. Còn tôi? Kẻ chứng kiến, tôi thuộc về tội ác thứ mấy?
*
Tôi còn đang tìm kiếm tên mình trên bảng phân loại tội ác, thì Đình chết vào buổi sáng Mùng Một Tết. Xác anh trần truồng nằm giữa tấm bố bề thế lớn bằng nền nhà. Sơn trây trét khắp xưởng vẽ. Tôi nghĩ Đình đã tắm sơn khắp mình mẩy rồi lăn lộn trên bố trước khi chết. Gương mặt anh nhăn nhúm, rúm ró, nhưng ở hai tròng mắt khép hờ còn phản phất chút thanh thản của kẻ đã dứt khoát ra đi. Năm mươi gian nhà của Quý sau buổi săn rồng buồn tê tái. Một nỗi buồn thê thiết không biết đến từ đâu; không hiểu do sao; vì sao -không phải gây ra bởi cái chết của Đình- phủ trùm lên khắp các phòng ốc. Lễ an táng, chôn cất Đình diễn ra trong thờ ơ tẻ nhạt. Quý mút những đốt xương rồng cuối cùng còn xót đã lên mốc. Chiến sào cổ bài, chán nản. Quỳ thêu móc vô tình những kiểu áo lót rắm rối dưới gốc điệp. Chỉ mình tôi đào cát, xúc những xẻng đất vàng -bằng vàng thật: thứ vàng bụi 18 mà chỉ ở lục địa này mới có- phủ lấp lên bụng Đình. Người anh quấn hờ một manh bố trắng. Những tấm bố trắng suốt đời Đình không sao vẽ hết. Tôi lập bia, kẻ nguệch ngoạc mấy chữ hưởng dương tạ thế tiếc thương, rồi ra hồ Ba Bể rửa tay trở lại bàn. Nơi đã diễn ra những canh bài sát phạt, những tiệc rượu long trời lở đất, những tham vọng chất ngất, chỉ còn mỗi một thau sành đựng chan chứa nỗi buồn vu vơ, tẻ nguội, uể oải chán chườn vô phúc vô hình mà cũng có thật sánh ra ở từng bát canh cải không còn thịt. Không ai nói với ai một lời nào nữa. Tất cả dửng dưng gỗ đá.
Chúng tôi ngồi nhìn nhau. Quý đánh mất hăm hở. Chiến hiện rõ thân xác của người lính già, hai mươi năm trận địa, một ngày bại trận, mười năm bị bắt, và thế kỷ bôi xoá. Đến ca? Quỳ, người đàn bà quyến rũ nhất cũng đánh mất nết lẳng lơ dâm đãng. Thể xác ngồn ngộn chữ Tình, nhưng Quỳ lạnh lùng gỡ tay lúc tôi luồn dưới áo ngực ve vuốt.
– Mày còn sờ vú tao gọi lão Quý.
Quỳ rít lên đanh đá ghẻ lạnh. Tôi xấu hổ nhục nhã rụt tay cúi gầm mặt chỉ dám liếc nhìn trộm Quý sợ hãi. Nhưng Quý cũng không phản ứng, dù nghe thấy, chỉ dõi mắt lên nền trời trống rỗng ngóng trông một biến cố, một con vật nào đó. Giống một kẻ đánh mất gia phả, Quý đau khổ trong lúc Chiến tháo giây biểu dương đeo ở vai xuống chùi. Những sợi giây chì mạ kền rỉ sét. Bộ đồ trang phục đại lễ thuở xưa Chiến dành mặc mỗi khi lên Vũ Đình Trường chật cứng đến nỗi không cài được cúc bụng. Quỳ thả mắt nhìn hờ hửng khoảng thịt mỡ béo phệ đang chảy nhão không thèm muốn. Tất cả như thẩn thờ tiếc nuối bửa tiệc rồng tối Giao Thừa trước Tết. Tối Ba Mươi, Chiến với Quỳ ở thủ phủ của đám thổ dân về mua ê hề dưa hấu, pháo đại, rượu mức. Quý lấy cưa máy xẻo thịt rồng. Con rồng con đỏ hỏn vừa bắn về ban chiều tươi rói, khoe những thớ thịt trẻ thơ bụ bẫm. Ghê sợ. Nhưng tôi cũng không cưởng lại được niềm phấn kích, hồ hởi, của cảm giác được ăn thịt tươi lần đầu không đông lạnh. Tôi phụ với Quý luộc thịt, gói bánh tráng, trong lúc Quỳ bằm xả, thái ớt, xây dứa làm mắm nêm. Chiến lấy dao phai chặt thịt đùi để nướng chả. Quỳ nướng bánh đa làm thêm mấy món đặc sản, lẩu, lòng, rựa mận, một mâm gỏi bao tữ trộn với bưởi, một chén thịt đông, ba đĩa thận hấp. Quý còn cắt đầu rồng nấu cháo đậu xanh để dành tối. Chúng tôi say sưa xông đất ăn nhậu thỏa thích trong xác pháo hồng đỏ rợp thềm năm mới.
Chỉ sáng Mùng Một mọi người mới khám phá ra nỗi buồn hoang vu u uất. Thứ nỗi buồn héo tim gan, chín thịt xương. Như một thứ mầm độc gieo trong lòng. Thế giới là một khoảng trống không vô nghĩa. Cuộc đời là những tuyệt vọng liên tiếp chờ đợi một hạnh phúc không bao giờ xẩy đến. Ban đêm là những giấc ngủ khó khăn khô cằn mộng mị. Ban ngày là những buổi sáng thiếu vắng tương lai. Sống nhưng bị kết án. Tự trong thâm tâm chúng tôi hiểu đã phạm tội tổ tông và chờ đợi một hình phạt. Sự trừng phạt xẩy ra buổi chiều con gái Quý đi biểu tình chống kỳ thị trở về.
Nữ đến đứng trước bàn thách thức:
– Je veux partir d’ici.
– Mày đi đâu?
Quý thức giấc. Phẫn nộ.
– Je pars avec mon mec.
Mặt Nữ đanh lại vì bất mãn.
– Thằng nào?
Quý gầm. Quỳ cũng chồm tới. Nữ chạy giật lùi tránh bàn tay của Quý vươn chụp tóc.
– Il est Turc. C’est un immigré comme vous. Il vit en Allemagne, je veux partager sa vie.
– Mày ở nhà! Tao cấm mày ngủ với bọn Thổ.
Quý nắm được tóc Nữ, vít lấy đầu vả tới tấp. Nữ xổ tóc tai gào khóc dẫy dụa, nhưng càng dẫy Quý càng đánh.
– Mày chết đi!
– Vous êtes dégueulasses. Vous aussi, vous êtes des immigrés. Des Turcs!
Nữ vùng vẫy, nhưng Quỳ phụ với Quý lấy giây điện quất vào mặt Nữ không cho cãi. Quý trói lôi con gái sềnh sệt lên lầu khoá trái. Chiếc vòng ngọc Nữ đeo ở cổ tay nứt rớt trên mặt đất, tôi cúi lượm thấy vở giữa lòng bàn tay mình một nỗi ham muốn mới kỳ dị. Quý chìm đắm trở lại vào trong nỗi buồn tổ tông hiu quạnh, hạnh phúc hoài thai vì thiếu vắng bầy rồng quen thuộc. Chiến lơ đãng với cổ bài đánh tráo thời gian. Quỳ thêu móc áo lót đờ đẫn. Và gia đình Quý gia công sản xuất buôn lậu. Văng vẳng giọng ngâm cổ văn của cu. Cử: Song mẫn tinh tinh lưỡng nhãn hoạ.. Tôi đi tìm căn nguyên của nỗi ham mê mới mẽ hình thành trong mình. Không có khám phá nào kích thích bằng khám phá trẻ thơ.
Nữ đợi tôi giữa buồng. Mái tóc con gái vuốt mềm xuống lưng áo dài phin trắng. Nỗi ham mê mới trong tôi đẹp ngây ngất như tuổi mười bốn mười lăm ở gương mặt Nữ trái soan mơ ước. Ánh mắt hồn nhiên, vạt áo lụa nõn khép nép. Nữ đẹp tựa các cô nữ sinh tuổi cài trâm tôi vẫn rình đón trước cổng trường dạo nào. Đôi môi chúm chím, khoé mắt lãng mạn, sóng mũi bé nhỏ thẹn thùng. Cả khung trời hoa mộng dĩ vãng cũ bừng sáng. Tôi xúc động cầm nắm lấy tay Nữ thảng thốt.
– Em là ám ảnh của anh.
– Sao đón em muộn?
Nữ ngạc nhiên. Mắt e lệ. Người tôi run lên vì sung sướng. Nữ nói được tiếng quê tôi. Tôi vẫn mong Nữ đừng nói tiếng thổ dân, đôi vai Nữ run rẩy lúc tôi kéo ngã vào lòng, hôn dậm dụi mê đắm. Thổn thức. Tôi hôn cuồn nhiệt đôi môi nở ngát của người yêu. Nhưng Nữ đẩy tôi ra, thỏ thẻ:
– Anh xin bố mẹ cho em sang Đức sống với Mohamed.
Đầu óc tôi bàng hoàng. Hoá ra Nữ vẫn yêu thằng đường Thổ. Có tiếng cãi vả dưới vườn. Chiến trách Quý đã bắn con thú đẹp nhất. Quý chửi Chiến rước thú về dầy mả tổ. Rồi đột ngột tiếng súng nổ. Tiếng M-16 chen lẫn tiếng AK. Tiếng đại bác 155 ly pháo cùng lúc với sơn pháo 130 ly từ trong núi thúc xuống. Tường vách rung chuyển. Trần vách nền nhà xốc tung lên dưới mỗi tiếng nổ. Ngày hôm nay là ngày 19 tháng 6 Quân Lực VNCH, cũng là ngày 2 tháng 9 Tuyên Ngôn Ba Đình lịch sử. Tôi hoảng hốt. Chiến tranh trở lại. Mùng Một Tết chưa qua, hưu chiến chưa hết, nhưng lửa cháy ngoài hành lang, Nữ kêu cứu. Tôi chạy xuống vườn, Chiến đang tưới xăng ném lựu đạn lân tinh đốt Thế Miếu. Tôi cản Chiến.
– Anh điên rồi!
– Mày câm đi. Miếu này là miếu của nhà thằng Quý. Tao đốt nhà nó!
Trên đầu súng ta đi tổ quốc đã vươn mình Tiếng kèn xuất quân Chiến vút lên cao: Trên lưỡi lê căm hờn hờn căm với xiềng xích Khu vườn vắng tanh, Quỳ biến đâu mất tôi không rõ, tôi chạy ra Phật điện tìm Quý, anh đang vớt dưới hồ Ba Bể một rương hòm chất đầy súng cối, súng không giật, mìn đĩa và chất nổ TNT.
– Hết chiến tranh rồi sao các anh còn bắn nhau?
– Tao giết nó!
Quý ráp bửng súng cối rót đạn vào chỗ tôi và Chiến vừa đứng lúc nãy. Tiếng “départ” của mortier thúc vào dẫy nhà trước tháp Bảo Nghiêm cháy phừng phừng. Tôi nhớ Nữ hãy còn bị nhốt trong buồng, dẫy lầu đang phát hỏa dữ dội. Quý ré lên như kẻ động kinh vừa pháo kích vừa phồng mang trợn mắt: Tiếng về Sàigòn ta quét sạch giặc thù! Tôi chạy trở lên lầu, người tôi cũng bị kích động đột ngột. Mái tóc Nữ rõ ràng thay đổi màu sắc, những lọn vàng óng ánh buông thả nhởn nhơ trên áo t-shirt bó người. Nữ chẳng khác những bé gái thổ dân vừa lớn, ngực vú mời mọc, tươi mát, kích thích.
Tôi ôm ghì Nữ. Tiếng quân nhạc Chiến đang bắn pháo bông duyệt binh vọng vào buồng rõ mồn một: Giặc miền Bắc vô đây bàn tay sát hại đồng bào, Bình Long quê hương tôi mồ chôn xác giặc hung tàn, hàng T-54 còn nằm phơi xác quanh đây Tôi xé áo Nữ thịt da trẻ thơ máu xương vô tội, tôi nhai nghiến lấy núm ngực Nữ mềm mại đỏ son trắng ngọt. Đêm nay là đêm Mậu Thân chôn sống tập thể. Chiều nay là chiều Mỹ Lai tàn sát không nương tay. Sáng mai là sáng hải tặc cưởng hiếp thỏa thích. Chiều đi lên đồi cao hát trên những xác người tiếng hát Quỳ lảnh lót. Trả con cho tao Quỳ gào; Quý đồng ca sau Phật điện: Diệt hết lũ ác ôn tiêu diệt giặc Mỹ bạo tàn, nhân dân yêu nước đang cùng xuống đường bên bao binh sĩ đêm ngày mong chờ… Hỏa tiển 122 ly bay rót vào trường tiểu học Cai Lậy, đuôi lửa bay ngang ô cửa sổ lúc tôi tóc váy giật quần lót Nữ. Tôi muốn chiếm đoạt tuổi trẻ phơi phới sung sướng đầy đủ không lo nghĩ tương lai vững chắc của Nữ, muốn xé bằng đại học Nữ sắp có, muốn đập phá ngây thơ trên thân xác Nữ tươi trẻ chưa biết bom đạn. Muốn tuổi thơ Nữ phải khốn khổ như tuổi thơ tôi. Lửa loá lên. Nữ lấy hai tay che ngực che bụng van lậy, tôi nắm tóc Nữ ấn đầu xuống gối bẻ quặc tay mở cúc quần mình. Thân thê? Nữ tròn mịn, như cánh đồng lúa chín căng những hột thóc; Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng Quý gào sát mang tai, Chiến bắc loa thổi kèn đánh trống: Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại, xương da thịt mẹ cha ông miệt mài Tôi đâm Nữ bằng tất cả sức mạnh, trí tuệ và cơ bắp. Máu chảy ở vết thương, máu đỏ gất như máu những trẻ nít chết ơ? Mỹ Lai, như máu học trò chết trong trường tiểu học Cai Lậy, tôi cắm phập thân thể, lưỡi kiếm sắc nhọn, to, bén, đâm từ từ sâu hút, chẻ đôi thân xác, xuyên suốt thịt da, cắt gân cắt thịt. Nữ oằn người gào. Khóc. Tôi bẻ quặc hai cánh tay Nữ lên tới bả vai, bẻ giật cánh khuỷu. Lửa liếm vào buồng cháy lan mùng màn chăn chiếu. Súng nổ tứ bề, tiếng Quỳ gọi khản cô? Trả con cho tao, tiếng Quý bắt nhịp bài ca Kết Đoàn và giọng tenor của Chiến hùng tráng nung náu. Cờ bay cờ bay trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu; Tôi đâm vào nữa. Đâm vào chỗ thịt mềm nhất. Đâm như đâm thú. Giết trâu giết bò giết chó. Chiều đi lên đồi cao hát trên những xác người Tôi muốn sống cuộc chiến đang xẩy ra. Muốn tham dự. Phạm tội. Trực diện. Lãnh trách nhiệm. Muốn trông thấy những hố hầm đang chôn vùi thân xác anh em, muốn giết người một lần. Muốn sống cảm giác bắn người là mê suốt đời như Chiến và Quý thường nói. Tôi hãm Nữ tàn khốc. Tôi giết tuổi thơ của Nữ. Lăng nhục cha mẹ, làm nhục tuổi hoa niên của Nữ. Thỏa mãn.
*
Tôi trở về dinh cơ của Quý, nhiều năm sau Tết Giáp Tuất. Bốn trụ trời chỉ cao ngang tầm mắt. Khu đất thiêu rụi hoang tàn, phản phất trong gió mùi tro của cuộc thánh chiến. Cơ ngơi của Quý đổi nhiều lắm. Rừng núi vây quanh biến mất, nhường cho những khách sạn mini hotel mọc khắp triền núi. Bãi biển cũng biến mất. Chỉ có những nhà hàng nổi mọc san sát bán seafoods. Bốn năm dẫy phố cho thuê xe du lịch, dịch vụ nhà ở. Tôi bước chân qua cánh cổng tam quan đồ sộ, hiện vật duy nhất còn sót lại từ dạo Tết Giáp Tuất. Cơ ngơi vắng vẻ. Năm mươi gian nhà của Quý cháy rụi sau cuộc hoả hoạn vẫn chưa được tân trang. Chiến và Quý tôi nhớ lãnh án hai mươi năm tù vì tội đốt rừng chưa được thả. Tôi chịu án mười năm tội hãm hiếp vị thành niên. Quỳ đi lấy ngoại kiều. Còn Nữ lấy thổ dân. Gió thổi những làn tro bốc lên trên ngọn cỏ rồi lại rớt xuống. Nấm mộ của Đình ai đào bới ăn cắp bố vẽ, đập bia, chỉ còm hủm một khoảnh đất nông chưa quá bàn tay. Tôi cởi áo khoát. Đến đốt nén hương trên mô. Đình, có cảm tưởng mình chưa bao giờ đi đâu, chưa hề rời xa dinh cơ đổ nát. Giấc mơ Di Dân cũng không còn nữa. Cỏ tranh không ai cắt mọc hút đầu, những nhành cỏ gẫy nát dẫm lên kêu rào rạo. Khu đất của Quý duy nhất còn trống, một tấm biểng đề giá đấu thầu và công trình xây dựng dành riêng cho Nam Triều Tiên. Tôi nậy hộp thư, mẩu giấy nhỏ của Nữ ghi nguệch ngoạc mấy chữ: Được tin chú về X. Cháu ghé về nhưng không gặp. Chuyện xẩy ra đã lâu. Cháu không còn giận gì chú nữa. Cháu sống hạnh phúc với Mohamed.
Gió thổi qua chín chung đĩnh còn vững, đứng trơ vơ, như tiếng than ngậm ngùi của một thời đại đã khuất. Trên cột trụ biểu chưa ngã, tôi đọc lờ mờ câu thơ cổ văn do cu. Cử -thầy Quý- khắc: Thanh niên phương dự ái nho lâm. Lần đầu tiên tôi hiểu nghĩa của câu thơ sáu kỷ trước. Hương rừng nho ở đâu tỏa thơm thoang thoảng.
5.Trần Nguyên: Trong khi các nhà văn hiện nay viết nhiều về tình yêu, Trần Vũ lại viết nhiều về chiến tranh. Nhìn qua các truyện ngắn và tiểu luận anh viết, người đọc nhận thấy anh rất am tường chiến tranh Việt Nam và chiến tranh thế giới lần thứ hai. Vì sao anh yêu thích chủ đề chiến tranh như vậy?
Nhà văn Trần Vũ trả lời:
“Phụ nữ, chiến tranh và tiểu thuyết, còn muốn gì nữa?” Trên một trang bút ký chiến trường, đâu đó, tôi đọc được câu này. Tôi không còn nhớ rõ là của Ernst Jünger hay Ernst von Salomon hay Heinz Schröter. Nhưng giống như họ, tôi tin có mối tương quan giữa chiến tranh và tiểu thuyết.
Những ngày tuổi trẻ tôi không rõ mối tương quan này là gì nên đã ngạc nhiên khi khám phá trung tá Pierre Langlais, chỉ huy trưởng Nhảy dù tại Điện Biên Phủ, giữa hai đợt pháo kích đã đọc tiểu thuyết. Langlais kể đã gấp trang sách làm dấu để sau các đợt tấn công của Việt Minh trở về hầm đọc tiếp. Trung tá Séguins-Pazzis, sĩ quan tham mưu hành quân của de Castrie và từng chỉ huy phản kích đánh lên đồi Gabrielle đêm 14 rạng 15 tháng 3-1954 cũng trở về hầm đọc tiểu thuyết sau khi thất bại… Họ tìm gì trên trang giấy đặc chữ trong lúc nguy nan như vậy? Và đọc say sưa trong lúc cầu không vận bị cắt, không thể phá vây đánh sang Thượng Lào, không thể triệt thoái về châu thổ sông Hồng cách 300 cây số… Trách nhiệm của Langlais to tát: gần như thay de Castrie điều động chiến trường mà vẫn dành thời gian đọc vài trang, vài dòng, hằng đêm dưới ánh điện mập mờ hiu hắt trong tiếng dội của lòng đất hứng pháo… Langlais gương mặt xương, nhọn, lưỡi cày, tánh khí cộc, gay gắt, từng hắt một ly rượu vào mặt trung tá Vadot, thách đấu “tay đôi” với thiếu tá Marcel Bigeard… không phải là týp thư sinh đèn sách như Ngô Thì Nhậm. Nên việc Langlais đọc tiểu thuyết giữa lòng chảo Điện Biên, là một kỳ lạ.
Chậm rãi, tôi khám phá ra thêm Heinz Guderian, cha đẻ của binh chủng Thiết giáp Đức cũng đọc tiểu thuyết. Guderian nghiền ngẫm Chiến Tranh và Hòa Bình trong suốt thời gian tham chiến trên mặt trận Nga và đêm hạ bút ký lệnh cho Xa đoàn 2 Thiết kỵ [Panzergruppe II] lui binh vì không chiếm được Mạc Tư Khoa và tổng phản công mùa Đông của Joukov đã bắt đầu, Guderian đã đọc những dòng cuối của trường thiên Chiến Tranh và Hòa Bình trước khi rời điền trang của bá tước Léon Tolstoï ở Iasnaïa Poliana… Guderian không duy nhất, hầu hết các sĩ quan Đức từ hàng thống chế như Erich von Manstein xuống đến cấp trung úy như August von Kageneck đều đọc Tolstoï. Họ tìm gì sau những đợt tấn công vũ bão bằng chiến xa T-34 giữa bão tuyết cuồng loạn của Hồng quân? Họ tìm bóng ma của đại quân Nã Phá Luân đã lui binh thê thảm giữa những cánh đồng tuyết trắng và bóng ma của chính thân phận họ sắp thành ma?
Giống như Langlais từng phục vụ trong binh chủng Méhariste trước khi sang Việt Nam, Méhariste là những đơn vị cưỡi lạc đà đi xuyên sa mạc Sahara canh giữ và tảo thanh thổ phỉ qua những đụn cát mênh mông ngút ngàn không chấm dứt. Sĩ quan Méhariste thường lầm lũi dưới nắng xích đới, lặng lẽ trong bão cát sa mạc: Họ là những linh hồn luôn tra vấn cô độc và cần tiểu thuyết để làm vốn sinh động giữa hoang vu… Langlais sẽ nhảy lầu tự tử vào cuối đời, saut nhảy dù – không dù – cuối cùng này của một viên tướng nhảy dù là một cái chết đầy tiểu thuyết. Cũng đầy tính tiểu thuyết như việc đọc giả Guderian đã đọc Chiến Tranh và Hòa Bình trong lâu đài của tác giả Tolstoï nơi đặt bộ chỉ huy của Guderian, vị đại tướng được giao nhiệm vụ tấn công Mạc Tư Khoa từ phía Nam… Có thể tìm thấy nhiều ví dụ như vậy nữa, như thiếu úy Ryuji Nagatsuka trong thời gian tập huấn để trở thành phi công Thần phong Kamikaze đã đọc say mê George Sand… Nagatsuka không chết, sống sót và viết hồi ký kể lại từng chi tiết của phi vụ đâm bổ tự sát, cả những tựa sách anh đã đọc trước khi lên đường: Phần tốt nhất của Emile Zola, Những ông thầy đánh chuông của George Sand…
Nhưng chính chiến tranh tàn khốc, tự thân, cũng là những trang tiểu thuyết. Paul Carell trong tập nghiên cứu Barbarossa, Xâm lược Nga ghi lại những nhật ký hành quân của các trung đoàn tác chiến Đức: Trước cánh rừng sồi ngập tuyết im phắt trong vắng lặng đột nhiên rùng rùng từng đoàn kỵ binh Nga tuốt trần kiếm sáng loáng lao đến bất chấp thiệt hại. Đại liên 4 nòng Flak, đại bác tự động 20 ly, súng cối 81 và đại bác 75 ly trên chiến xa Đức khai hỏa liên tục. Hết lớp này đến lớp khác kỵ binh Sô Viết ngã dụi xuống tuyết. Nguyên một trung đoàn Vệ binh vừa bị thảm sát. Những người lính Đức cảm giác hơi thở họ đóng băng trong giá lạnh và lồng phổi họ đông đặc những tia máu bắn phun lên rồi đông nhanh giữa trời âm 20 độ. Từ bìa rừng phía tay trái vang lên tiếng kèn xuất phát của một trung đoàn kỵ binh nữa, vẫn tuốt trần kiếm sáng loáng và xông đến với những tiếng thét “Hourra!” “Hourra!”… Sĩ quan Đức chỉ huy phát lệnh: “Đạn nổ cao! xa 300!” Và cảnh cũ tái diễn: hàng hàng lớp lớp người ngựa tan thây quằn quại trong những vũng máu. Từ bìa rừng cánh phải đã xuất phát trung đoàn kỵ binh thứ 3, những người lính Nga này vừa chứng kiến cái chết của đồng đội trước mắt vẫn trầm tĩnh lao đến. Họ bị hút vào định mệnh hay chính họ đi tìm định mệnh? Họ vừa nhìn thấy cảnh chết của đồng đội là cảnh chết của chính họ vài phút nữa nhưng vẫn lao đến. Tiếp tục lao đến cho đến khi chiến trường im bặt không còn tiếng súng, chỉ còn tiếng rống chói tai lanh lảnh của lũ ngựa bị đứt ruột rống thảm thiết trên nền tuyết trắng. Tiểu đoàn xung kích Đức không một binh sĩ thương vong nhưng tất cả những binh sĩ Đức đều run lập cập, hai đầu gối đánh vào nhau, không vì lạnh, mà vì vừa ý thức họ sẽ thảm bại trên đất Nga vì không thể chiến thắng một dân tộc can đảm cùng cực xem cái chết vô nghĩa và bất chấp giá máu xương. Buối sáng đó, ở bìa rừng, những người lính Đức hiểu họ sẽ chết ở đây, trên đất Nga, giữa những cánh đồng tuyết trắng này. Không thể thoát lưỡi hái tử thần của 200 triệu dân Nga hun đúc.
Những trang nhật ký hành quân chép tay này, mà Paul Carell ghi lại trong Hitler và mặt trận miền Đông, bản dịch Barbarossa của Người sông Kiên và Lê thị Duyên trước 75, vượt qua tiểu thuyết ở tính chất bi thảm và tâm lý. Với tôi, là một khám phá. Những ngày 12 tuổi, tôi đọc Paull Carell và khám phá ra thần chiến tranh khổng lồ kinh dị trên đất Nga. Sang Pháp, tôi tìm mua lại Paul Carell rồi những tác giả khác và khám phá ra những kinh dị khác: Từ cảnh chính ủy Sô Viết lùa dân làng “phản động” và tù cải tạo phải vượt qua các bãi mìn cho nổ hết mìn để chiến xa của Hồng quân theo sau tràn lên, đến “chó mìn” bị bỏ đói được Hồng quân huấn luyện cho ăn dưới gầm xe máy ủi, để chui xuống gầm xe tăng Đức cùng nổ tung, đến những ngón chân người lính đông cứng phải cắt bỏ, như xắt bò viên…
Đến hôm nay, tôi tin hiểu mối tương quan giữa tiểu thuyết và chiến tranh: nếu chiến tranh nhấn con người vào khổ đau khiến con người ý thức thân phận bọt bèo của mình, tiểu thuyết nhấc con người lên khỏi mặt đất: cất một con người từ mặt đất này bay vào thế giới khác. Chính chức năng giúp con người biến mất vào một thực tại khác là chức năng quan trọng nhất của tiểu thuyết vì chính chức năng này biến tiểu thuyết thành phương tiện vượt thoát tinh thần của con người. Langlais, Seguins-Pazzis tìm cách thoát ra khỏi Điện Biên Phủ bằng tiểu thuyết. Nagatsuka muốn thoát ra khỏi phòng lái Kamikaze bằng tiểu thuyết. Guderian muốn trở về thời đại của Tolstoi để hiểu dân Nga đương đầu với đại quân Nã Phá Luân như thế nào…
Cũng chính nhu cầu vượt thoát được tiểu thuyết đáp ứng này mà tại miền Nam trước 75 tiểu thuyết dịch bán rất chạy, chạy hơn tiểu thuyết Việt Nam. Bây giờ cũng vậy. Người đọc Việt Nam muốn khám phá thế giới qua tiểu thuyết. Thật ra có hai cách: Có thể khám phá thế giới qua chiến tranh, tôi đã theo cách này. Hôm nay, khi những cuộc biểu tình xuống đường tranh đấu chống độc tài đang diễn ra tại Lybie, với nhiều người các địa danh Ain el Gazala, Tobrouk, Tripoli, Syrte, El Agheila, Benghazi, Mechili, Beda Fomm đầy xa lạ, nhưng với tôi chúng nhiều quen thuộc vì là chiến trường xưa của Quân đoàn Châu phi Afrika Korps của Erwin Rommel với Đệ bát Lộ quân của Cunningham, Ritchie, Auchinleck… Tôi đã khám phá tất cả qua chiến tranh.
Kỳ lạ là dân Việt chìm đắm trong chiến tranh, nhưng viết về chiến tranh Việt Nam sách ngoại quốc nhiều hơn sách Việt. Trong nước thuần những quyển sách tuyên truyền ca ngợi chiến công đã quét sạch bao nhiêu bót đồn Tây mà không dám kê khai mức tổn thất của chính mình. Vì sao không cho dân chúng biết giá máu xương giành độc lập của Việt Nam? Chỉ có thể giải thích là giá máu xương này cao vô cùng, đến mức công bố sẽ làm tiêu tan huyền thoại của Quân đội Nhân dân và tiêu tán huyền thoại thiên tài quân sự của Võ Nguyên Giáp nên phải giấu đi, giấu kỹ và chôn chặt vào trong những tài liệu mà có thể người ta đã hủy đi hay không báo cáo thật… Thêm nữa, dân Việt ưa thích khía cạnh chính trị của chiến tranh, tranh cãi không ngừng, mà không tìm hiểu khía cạnh thuần quân sự, học thuật của chiến tranh.
Việt Nam không có các tập san Quân Sử đúng nghĩa, hay các tập san chuyên nghiên cứu chiến tranh và vũ khí, trong lúc những tập san này bày bán nhiều vô cùng trong các hiệu sách và trên các sạp báo Tây phương. Việt Nam có tập san Quân đội Nhân dân, nhưng tập san ngày với một tổng biên tập quân hàm thiếu tướng không làm tròn chức năng ― Phải là nơi phô diễn tiếng nói, suy tư, băn khoăn cũng như tranh luận chiến thuật, chiến lược, học thuật quân sự của giai cấp sĩ quan ưu tú của quân đội Việt Nam. Ngược lại, tập san Quân đội Nhân dân nhiều tiết mục văn nghệ, tin tức đại trà đời thường từ hoa hậu hoàn vũ đến du lịch biển đảo là những thông tin mà 600 tờ báo khác đã loan tải.
Trong tranh chấp biên giới với Trung Hoa, trong an nguy biển của Việt Nam, chúng ta không thấy giai cấp quân nhân cất tiếng nói trên chính tập san chuyên ngành của họ. Nhìn vào một tập san quân đội, biết sức mạnh tri thức của quân đội đó. Không ngẫu nhiên mà tập san quân đội Pháp thời kỳ Nã Phá Luân dầy 800 trang phát hành mỗi lục cá nguyệt đầy tranh luận về đạn đạo pháo binh là vũ khí mới thời kỳ này, đầy sơ đồ chiến thuật, đầy dự phóng tương lai cho một quân đội nhà nghề… Nói như thống chế Phổ Moltke: “Tập san quân đội phải là diễn đàn của giai cấp sĩ quan trung cấp, nơi trao đổi những suy nghĩ quân sự mới mẻ, chưa chính quy hóa, để từ đây bộ tổng tham mưu quy nạp những phát kiến từ hạ tầng quân đội không thông qua con đường hệ thống quân giai truyền thống.” Nhìn như vậy, thì tập san quân đội Việt Nam hoàn toàn thiếu chức năng này. Vì sao đất nước của chúng ta từng chìm đắm trong chiến tranh mà chúng ta ít nghiên cứu chiến tranh vậy? Ngoài nước các tướng lãnh và sĩ quan quân đội Cộng hòa không còn có thể tham khảo văn khố của bộ tổng tham mưu VNCH nên họ thiếu tài liệu, khó phân tích trận chiến do chính họ đã tham dự. Trong nước, tình trạng kiểm duyệt đã bóp ngạt tư duy của sĩ quan Việt Nam.
Phải hiểu nguyên nhân nội chiến Nam-Bắc, mới hiểu được nguyên nhân khổ đau của dân tộc trong nửa thế kỷ liền tàn sát lẫn nhau và nồi da xáo thịt. Tôi đã tự hỏi với chính mình không biết bao nhiêu lần, những ngày trên tháp chuông nhà nguyện trong cô nhi viện nhìn xuống cánh đồng mù-tạt vàng cháy, vì sao tôi lại ở đây, cách gia đình, quê hương tôi đã sinh ra trên 10 ngàn hải lý? Vì sao tôi đang có cha mẹ bỗng dưng thành cô nhi? Vì sao cô bạn học của tôi biến mất? Vì sao nhiều triệu dân miền Nam lũ lượt vượt biển bất chấp hiểm nguy ra đi? Lần nào, tôi cũng chỉ tìm ra một câu trả lời: Vì chiến tranh. Chính nội chiến Nam-Bắc để lại hậu quả khiến phía bại trận phải rời quê tìm đường sống. Nhưng để hiểu nội chiến Nam-Bắc, phải hiểu chiến tranh Việt-Pháp, vì nội chiến này bắt nguồn từ chiến tranh này. Và để hiểu bối cảnh chiến tranh Việt-Pháp bắt đầu từ 1945-1946 phải hiểu Đệ Nhị thế chiến, chính chiến thắng của quân Đức bắt sống 2 triệu rưỡi tù binh Pháp đã khiến quân viễn chinh Pháp không còn đủ lực đương đầu với Nhật Bản và sau chiến tranh tài chánh Tây suy sụp, quân đội Tây tan nát không tìm lại sức mạnh như xưa khiến quân đội Liên Hiệp Pháp không đủ sức đương đầu với Việt Minh giành lại vị thế của họ như trước 1940.
Để hiểu chiến tranh Việt-Pháp, phải tìm hiểu Đệ Nhị thế chiến. Muốn hiểu Đệ Nhị thế chiến bắt nguồn từ hiệp ước Versailles, phải hiểu Đệ Nhất thế chiến… Tôi đã lần ngược trở lên các cuộc chiến và chìm đắm với chúng, sống với chúng đến tận lúc này chưa chấm dứt. Nếu chiến tranh giúp hiểu văn hóa, tổ chức quốc gia, hiến pháp, tâm lý của những dân tộc tham chiến, chiến tranh còn giúp hiểu những vận động xã hội như vì sao cách mạng tháng 10-1917 Nga của Lénine thành công mà Rosa Luxemburg thất bại? Chính bộ tổng tham mưu Phổ của Hindenburg đã làm thất bại cách mạng vô sản Đức tháng 11-1918. Với tôi, chiến tranh – trong quá khứ – là kho tàng của tri thức. Đặc biệt, nên tìm hiểu chiến tranh phía bại trận, vì họ không còn gì để mất nên viết thật, phơi bày tâm tình thật, khổ đau thật, tuyệt vọng thật và mất mát thật. Ngược lại, phía chiến thắng thường huênh hoang đại thắng mà lấp liếm phần khổ đau con người.
Còn câu hỏi của Trần Nguyên là vì sao tôi ít viết truyện tình yêu? Tôi đành vay mượn “suy nghiệm” của nhà văn Hoàng Khởi Phong: “Truyện tình dễ viết mà khó hay.” Tôi chưa hư cấu được tình yêu. Một truyện tình thật, phải dữ dội và si mê cuồng nhiệt, ngất ngây và chìm đắm hết xương tủy nhân vật, da thịt nhân vật thì mới là truyện tình. Những mối tình trong những truyện tôi đã viết, vẫn còn là những mô týp phụ, những chi tiết phụ trong cốt truyện chung diễn ra trên nền biến động của đất nước. Chưa thật sự là truyện tình. Với tôi, truyện tình hãy còn là một thách thức. Nhà có cửa khóa trái của Trần Thị Ngh tuyệt hay là vì tác giả đã yêu thật, sống thật và viết thật, ít nhất tôi cảm vậy, tin vậy khi đọc Nhà có cửa khóa trái.
4 – Nham Thạch: Ông có nghĩ mình bị ảnh hưởng bới cái “rơ” mượn lịch sử để “xiên xỏ” hiện tại của Nguyễn Huy Thiệp?
* Nhà văn Trần Vũ trả lời:
Không xiên xỏ,vì tôi không đi tìm điều này. Trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, tôi thích Những ngọn gió Hua Tát, Muối của rừng, Không có vua, Con gái thủy thần, Chút thoáng Xuân Hương, Giọt Máu, Những người thợ xẻ… nhiều hơn là các truyện lấy lịch sử làm nền như Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm Tiết, Nguyễn Thị Lộ, Mưa Nhã Nam… Lý do là trong những truyện đầu khí hậu truyện đậm đặc, mà với tôi khí hậu truyện quan trọng hơn tất cả. Đọc một truyện ngắn, giống xem một cuốn phim trong một tiếng rưỡi đồng hồ, chính không khí phim cuốn hút mình vào bên trong. Trong truyện ngắn, chính khí hậu giúp người đọc sống với nhân vật, đi theo nhân vật và nhập vào suy nghĩ nhân vật. Khí hậu truyện của Nguyễn Huy Thiệp trong tập truyện đầu tay dằm sắc, đọc mà giống như ngón tay mình khi lật trang sách đâm phải dằm làm thốn nhức. Rồi sau khi gấp sách, mình cứ phải lui cui khợi dằm mỗi lúc một chui sâu vào da thịt mình làm thêm nhức. Mà không lấy ra được. Vì chữ nghĩa, không lấy ra được.
Với tập truyện đầu tay, Nguyễn Huy Thiệp đạt đến sự thành công này. Đã chặt nhân vật rồi bày ra phản: sụn ra sụn, xương ra xương, mỡ ra mỡ, thịt ra thịt, da ra da… Từ Thiên văn, Sang sông là một Nguyễn Huy Thiệp khác. Đến Chuyện tình kể trong đêm mưa, Không khóc ở California thì hoàn toàn khác.
Gọi là “Jeu” ― dùng lịch sử để minh họa đời nay ― thì đúng hơn là xỏ xiên. Minh họa một khoảnh khắc ngắn của xã hội trên nền lịch sử cũ kỹ của đất nước, với vài nhân vật đã thay đổi định mệnh của dân tộc vì mỗi một hành động của họ làm đảo điên số phận dân chúng. Nếu Nguyễn Sinh Cung thi đậu vào trường hành chánh thuộc địa, số phận của dân Việt đã khác. Nếu khi đảo chánh anh ruột là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đã quyết liệt thay vì tha thứ, không dừng lại ở Bến Ván mà tiến xuống miền Tây tiêu diệt Nguyễn Ánh thì số phận của Đàng Trong đã khác. Nếu thất trảm sớ của Chu Văn An được chuẩn y và vua Trần trảm đầu bảy nịnh thần, số phận của vương triều Trần đã khác. Có nghĩa Hồ Quý Ly không soán được ngôi nên sẽ không có nhà Hồ đánh mất độc lập của Đại Việt vào tay Trung Hoa. Nỗi đau của Chu Văn An là nỗi đau của thời thế, vì ngày hôm nay sĩ phu tiếp tục đi dâng sớ Bô Xít và cũng thất bại như Chu Văn An. Vì ngoài kiến nghị, giai cấp khoa bảng không có một phương tiện nào để thay đổi mệnh nước. Lịch sử của 700 năm trước nhập trùng lại ở đây, vào hôm nay.
Đây là khía cạnh phóng chiếu từ quá khứ vào hiện tại. Còn những khía cạnh khác mà mỗi tác giả viết truyện tự tìm thấy: Khoác lên vai nhân vật lịch sử chiếc áo bào phẩm giá do chính tay mình kết lấy. Với tôi, tuy cảm phục thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, tôi vẫn thấy hoàng đế Quang Trung phạm nhiều lỗi lầm: Đã ra trước thành Quy Nhơn chửi mắng anh ruột là Nguyễn Nhạc đang là vua, là phạm đạo lý của xã hội Việt Nam, Nguyễn Huệ phải đi đến cùng hành động này thay vì nồi da xáo thịt rồi ngưng ngang lưng chừng không giải quyết được gì và tự chặn đường tiến xuống Gia Định của mình. Đối với bộ tướng, Nguyễn Huệ tự chặt hết tay chân, giết Vũ Văn Nhậm mà mưu phản chưa rõ, đẩy Nguyễn Hữu Chỉnh vào chỗ phản rồi giết đi nên đến khi Nguyễn Ánh mạnh lên thì Tây Sơn thiếu dũng tướng. Khi Huệ rời đất Bắc, Chỉnh đã chạy theo nhưng Huệ vẫn bỏ lại khiến Chỉnh phải nghĩ đến lập giang sơn riêng. Chính Huệ đẩy Chỉnh vào con đường phản. Đã biết Chỉnh nhiều mưu, Huệ nên giữ Chỉnh bên mình để dễ kiểm soát và dùng tài thủy chiến của Chỉnh, hoặc giết đi trừ hậu họa ngay tức khắc, nhưng Huệ lại chọn giải pháp nửa vời sinh họa là bỏ Chỉnh lại đất Bắc. Nhìn ở khía cạnh này, Nguyễn Huệ không biết dùng người. Cũng như Nguyễn Thiếp là một giá trị giả, một “trí thức trùm chăn”, nhưng Huệ bao lần cầu hiền để lấy tiếng chiêu hiền, là vay mượn giá trị giả làm giá trị của mình. Và dường như Nguyễn Huệ đã không thật tâm lắm trong cách thuyết phục La Sơn Phu Tử xuống núi. Huệ muốn được tiếng chiêu Hiền mà không thật sự muốn La Sơn Phu Tử làm cố vấn. Huệ cũng không yêu Ngọc Hân, khi cho đục thuyền của gia đình thân nhân Ngọc Hân chết chìm… Tôi đã viết Mùa Mưa Gai Sắc với những suy nghĩ này, khác với những gì bày trong tủ kính học đường.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.