This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Mọi người thật không khỏi xúc động khi sáng nay, được nghe nguồn tin qua đài phát thanh vừa cho hay, Đại Đức Thích Nguyên Thảo, trụ trì chùa Hoa Nghiêm ở Vancouver, Canada vừa quyết định bán một miếng đất vừa mua để dự định xây chùa, lấy 500 nghìn đô la để cứu giúp nạn nhân sóng thần ở Nam Á. Thích Nguyên Thảo cho biết, sau khi cầu nguyện cho nạn nhân trong thiên tai thảm khốc vừa xẩy ra tại các nước Châu Á, Thầy đã phát tâm vì thấy việc cứu trợ hiện nay rất cần thiết và khẩn cấp hơn là việc xây chùa và việc này đã được những Phật Tử đã đóng góp đồng ý. Điều này làm cho tôi nhớ lại một chuyện giai thoại về Thiền trong cuốn “Zen Antics” do Thomas Cleary, một học giả Đông Phương biên soạn như sau:
Hei-zayemon là một đại phú gia suốt đời hành trì Bồ Tát Hạnh. Ông luôn luôn nhiệt thành trong suốt đời ông với các mục đích từ thiện, nhất là để cứu giúp những người kém may mắn, bất hạnh trên cuộc đời này. Nhờ sự giúp đỡ này, nhiều trẻ em trong vùng đã thoát khỏi cảnh nghèo khó, bần cùng. Hei-zayemon cũng là người tài trợ cho vô số công trình xây dựng cầu đường, giúp cho dân chúng có phương tiện đi lại dễ dàng. Trước khi lâm chung, ông đã lập di chúc yêu cầu dùng tài sản của ông trong mục đích nhân đạo. Chuyện kể rằng, vào thời Hei-zayemon còn sống, có một vị sư đã tìm đến nhà ông, người có cái tâm rất Bồ Tát này để quyên góp một số tiền, gọi là để xây lại cái cổng chùa. Nghe xong lời đề nghị, Hei-zayemon đã bật cười trước nhà sư và thưa rằng: “Tôi giúp đỡ mọi người vì tôi không thể nhẫn tâm bỏ mặc họ trong cảnh đời khốn khổ. Nhưng một ngôi chùa không có cổng thì có gì là khốn khổ đâu nào?”
Tại cộng đồng Việt Nam ở tại Orange County, trong một bữa cơm gây quỹ cho một ngôi chùa để xây dựng lại cái hàng rào của chùa, một MC, trong khi cổ động những người tham dự giúp đỡ cho chùa, đã so sánh rằng cái chùa này nhỏ không bằng cái nhà bếp của một ngôi chùa bên Nhật. Điều đó đúng. Nhật Bản là một quốc gia giàu có (đã giúp nạn nhân Sóng thần 500 triệu đô la), Phật Giáo là tôn giáo của đa số quần chúng, nhất là giới quí tộc. Còn chúng ta, nước đã nghèo, lại chỉ là một cộng đồng tỵ nạn tạm thời (tạm thời vì chắc chắn chúng ta không muốn ở luôn đây). Người Đài Loan ở đây khá đông, nhưng họ chỉ có vài ngôi chùa và đoàn kết hiệp lực xây những ngôi chùa như chùa Tsi Lai, có cả yểm trợ từ trong nước. Chúng ta trái lại, cộng đồng nhỏ, lại có quá nhiều chùa, nhân vật lực đều trông cậy vào tín đồ Phật Giáo quá ít ỏi, làm sao có thể so sánh với chùa Nhật ngay tại đất nước Nhật. Vả lại Phật Giáo không chủ trương xây chùa lớn, chùa lớn thì các vị chân tu còn phải lo toan tính toán, bảo trì, xây dựng và phát huy, lấy thời gian đâu mà tu học và hoằng Pháp.
Chúng tôi cũng nhớ lại một câu nói mà Trần Văn Thủy, đã trích lại trong phim “Chuyện Tử Tế”, đó là: “Chỉ có loài vật mới quay lưng lại với nỗi khổ của đồng loại để chăm chút cho bộ lông của mình”.
Việc làm của Thầy Nguyên Thảo ở Canada thật đã làm cho chúng tôi ứa nước mắt vì sung sướng và hãnh diện để còn có lòng tin rằng trên đời này còn có Thầy hiểu rõ những lời của Phật dạy, hỉ xả, từ bi trước nỗi thống khổ của nhân loại. Đời đã có câu “Dẫu xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người”. Rồi Thầy cũng sẽ có một miếng đất khác để xây chùa, nếu Thầy còn thấy cần xây, nhưng nếu không xây được cũng chẳng sao, phải không, thưa Thầy?
Chùa của Thầy có thể nhỏ, nhưng lòng Thầy thật bao la, người viết bài này là một Phật Tử, nhưng ít muốn đi chùa và suốt đời chưa bao giờ quì lạy trước một bậc cao tăng nào. Nhưng nếu ở gần đây, tôi xin đến để quỳ lạy Thầy một lạy. Từ trước đến nay, tôi chưa gặp hoặc nghe ai nói một vị sư nào có hành động bán chùa để giúp người hoạn nạn, mà chỉ nghe chuyện có chùa nhỏ, quí Thầy bỏ ra đi để xây một ngôi chùa khác lớn hơn. Tôi đã mục kích những ngôi chùa “tỵ nạn” nguy nga, vĩ đại nhiều công của ở Hanover (Đức Quốc), ở Paris (Pháp). Nghe nói Thầy chỉ mới là Đại Đức, nghĩa là cấp bậc còn thấp, thì chắc Chùa của Thầy cũng còn nhỏ lắm. Thầy không muốn có những ngôi chùa lớn như ở Pháp, ở Đức sao?
Quả Thầy là một người bình thường rất khác thường để cho tôi còn một niềm tin vào cái gọi là Bồ Tát Hạnh của người đời và hiểu được Thầy, trong trí óc ngu muội của tôi, là một người hiểu và thực hành được những lời Phật dạy.
Bác Năm mua căn nhà có cây sồi mọc bên hông này đã 35 năm. Lúc từ trại tỵ nạn qua Vermont định cư, làm việc và dời về Boston.
Cũng như bác Năm cây sồi lúc đó còn trẻ, chỉ cao ngang mái nhà, bây giờ bác Năm đã già, về hưu, nên gốc sồi cũng to sần sùi tới 3 người ôm, tàn lá rộng tuốt trên cao phủ hết khu nhà, chỗ đậu xe và miếng đất nhỏ dọc bên hông nhà. Dưới bóng mát, gốc sồi là nơi nghỉ ngơi của bác Năm, suốt những ngày Hè, từ hồi còn làm việc cho đến bây giờ. Bác đặt cái bàn sắt, 2 chiếc ghế làm nơi uống trà, lai rai bia bọt với vợ, bạn bè, với Khánh, người bạn còn lại sau này.
Tranh Hồ Đắc Vũ
Ông Khánh mang thùng bia lạnh đặt sát bàn, bác Năm vô nhà mang ra 2 dĩa 10 con cá nục, một rổ rau muống ngắt lá, rau thơm, dấp cá, xấp bánh tráng mỏng, chén nước mắm Phú Quốc đầy ớt đỏ xắt lát, pha nước cá hấp.
– Cá tươi rói hà, tụi nó câu dưới Florida.
Bác Năm lấy bánh tráng, nhúng nước, cuốn tròn nửa con cá với rau, cắn một miếng, mấy cọng rau muống kêu cái rạo.
– Cuốn với rau muống cọng, chấm mắm giằm ớt pha nước cá, đúng kiểu Quảng Ngãi.
– Lần nào ăn món này tao cũng nhớ con nhỏ bồ, chủ tiệm bán Don, cá nục hấp gần đầu cầu Trà Khúc bên Sơn Tịnh, Quảng Ngãi … Mẹ! Tao dân pháo binh mà pháo thua nó xa, ăn vô con cá nào, xả vô nó con cá đó.
Ông Khánh cười hà hà.
– Tao thì nhớ tiệm bà già vợ ở Nha Trang, bả làm món này mỗi cuối tuần khi tao từ trại Thùy Dương trong không quân về…
Tranh Hồ Đắc Vũ
Bác Năm cụng ly, làm hết lon bia.
– … Nhưng kiểu khác, cá tươi mới từ biển về, nhỏ bằng 2 ngón tay, bỏ đầu, làm sạch, hấp và cuốn cả con cá với rau muống, dấp cá trồng trong chậu sành, sát bên bàn ăn ngoài hiên nhà, ngắt lên, rửa rồi cuốn, uống rượu nếp trắng, lần nào cũng say, mà say là ngu, ngu riết, lấy con gái bả luôn.
Ông Khánh khui 2 lon bia.
Chuyện hồi đi lính, chuyện sau 75, chuyện trại tỵ nạn, lúc mới tới xứ Mỹ, kể lể trăm lần vẫn xào tới lui mỗi khi bia bọt.
Bia ngà ngà, ông Khánh thầm thì.
– Chắc tui về Sài Gòn.
– Làm gì?
– Chơi vài tuần… Cha đi hông?
– Ờ để coi.
– Tuần tới tôi mua vé, đang hạ giá, thứ Hai cho tui biết.
– Ừa.
Cuối tháng 7 bác Năm theo ông Khánh về thăm Sài Gòn sau 35 năm ra đi.
– Anh chạy lên nhà hàng Brodard giùm.
Bác Năm nói với người tài xế tắc xi.
– Dạ! Ở đâu bác?
– Hồi xưa ở đường Tự Do, đường chạy ra sông Bạch Đằng.
– Dạ con không biết hồi xưa… Để con hỏi.
Anh điện thoại.
– Rồi! Cám ơn chị.
Tài xế quay lại
– Bây giờ là đường Đồng Khởi bác!
Bác Năm ghé Brodard, cũng may, họ còn giữ cái tên, chỉ thay tên đường.
– Cho tôi trà lipton chanh đường.
Nhưng tiệm hoàn toàn thay đổi, không còn chút hơi hám nào của Brodard, nơi bác uống trà lipton chanh đường, ăn sáng với mấy người bạn thời trung học bằng tiền bà già cho mỗi tháng.
Loanh quanh khu Tự Do, trưa bác Năm về Tân Định, ghé tiệm Huế ngày xưa ở đường Đinh Tiên Hoàng, nhưng bây giờ là tiệm xông hơi đấm bóp.
Bác Năm kéo chiếc ghế, ngồi xuống
– Cho tô hủ tiếu Mỹ Tho.
May! Tiệm hủ tiếu Thanh Xuân vẫn còn…
Tối ngà ngà mấy chai bia với con gà hấp muối ở tiệm Tàu, chợ Cũ, bác Năm đi bộ về khách sạn ở đường Lê Thánh Tôn.
Ủa? Sao lạ, bụng dạ lại nôn nao nhớ Boston, nhớ căn nhà nhỏ, nhớ cây sồi già còn hơn nhớ Sài Gòn, Phú Nhuận ngày xưa.
…
Căn nhà 3 phòng ngủ xây theo kiểu xưa, 3 phòng ngủ nhỏ xíu.
Nhớ hồi dọn vô.
– Anh! Nhà này nhập cảng tới Boston hả?
– Là sao?
– Em đoán là nhập từ Nhật.
– !!?
– Tại phòng ngủ nhỏ tí tẹo…
Bả bước tới cửa.
– Nè! Em đứng gần đụng cửa…
– Thì tại em cao.
À! Vợ tôi cao thiệt, cao hơn tôi hết cái đầu.
– Ít tiền thì mua nhà nhỏ, thấp, em cao ráng chịu.
Vậy là bả giận luôn tới 3 tháng, với lý do.
– Anh xúc phạm chiều dài quý phái của em.
Nhưng được là, khu dân cư yên tĩnh, và tôi thích nhất là nhiều cửa sổ, phòng nào cũng 2 cửa sổ, phòng khách có cửa kính cao, chạy hết chiều ngang bức tường, nhìn ra vạt cỏ xanh trước nhà, bên kia là khu rừng cây trên dốc núi đá, sát hông nhà là cây sồi đầy tiếng chim hót và bóng mát.
Bác Năm bước ra cửa sổ, nhìn xuống đường Lê Thánh Tôn vắng tanh.
Ừ! Nhắc tới cây sồi bác Năm càng thấy nhớ nhà.
Dưới gốc sồi
Cuối Xuân, tuyết tan vừa lòi cỏ xanh, trời ấm trở lại là bác bày cái bàn sắt sơn trắng, 2 cái ghế ngay bên gốc cây, treo thùng ướp lên móc đã gắn sẵn để chứa nước đá ướp bia lạnh.
– Hê! Qua nhậu đầu mùa đi cha! Có mực ống tươi, mới mua trên chợ Việt Nam. Ông Khánh chở thùng bia lớn tới, chị Năm đem ra dĩa lớn mực ống nhỏ bằng ngón tay mà chị đã lựa ở chợ.– Mực nhỏ nhúng bia ăn với rau đủ loại, chấm mắm nêm mới ngon, 1 cuốn là 1 con, cụng ly là làm luôn 1 cuốn.
Chị lấy bánh tráng nhúng nước nóng, cuốn con mực với rau.
– Dzô cái anh Năm, anh Khánh.
…
Hết 1 tuần lang thang, bác Năm buồn, nhớ nhà, nên trả thêm tiền, lấy vé bay về Boston.
– Sao vậy cha?
– Tao hết hứng thú ở lại đây… Bạn thì không còn ai, ngủm gần hết, còn vài thằng lại lưu lạc thập phương tứ hướng, ba má qua đời lâu rồi, gia đình ở cha nó bên Pháp, bên Mỹ, Canada… cái Sài Gòn trong lòng tao như bị thiến…Chán ngắt! Quá xa lạ, tao về!
Bác Năm về Boston, Ông Khánh ở lại, cặp với em bồ nhí, sống luôn ở Sài Gòn.
Máy bay vòng Boston, chuẩn bị đáp xuống phi trường Logan.
Ngồi trên máy bay, bác Năm thấy rộn ràng trong lòng như ngày trở về Sài Gòn cách đây 1 tuần.
Thành, thằng con trai rước tại phi trường.
Đã 2 giờ sáng, bác Năm kéo va li vô căn phòng nhỏ, ôm chiếc gối, hít một hơi dài, nhìn quanh căn phòng thân mến. Chuyến bay quá lâu làm bác mệt, nên lăn ra giường ngủ khò.
Bác Năm mở mắt, nhìn đồng hồ trên tường, đã 10 giờ, buổi sáng yên lặng một cách lạ lùng.
– Ủa? Sao những tiếng chim hót quen thuộc đâu mất hết.
– Mùa Hè, mấy bầy két thường chí chóe trên cây sồi từ sáng tới trưa mà!
– Con có biết cây sồi là nơi chứa bao kỷ niệm cuộc đời của Ba với Mẹ con và bạn bè ở Mỹ? Là nơi Ba hưởng những ngày già còn sót lại của Ba không con?
– …
– Con có biết đó là nơi Ba thường ngồi một mình, nhớ người Mẹ đã qua đời của con không?
Thành ấp úng.
– Dạ biết Ba.
– Vậy sao con đốn?
Thành đứng dậy, bước tới kéo ghế.
– Dạ Ba ngồi.
Bác Năm ngồi xuống, bàn tay run run chùi giọt nước mắt chực rơi, ông nhìn ra cửa sổ, nơi cây sồi già đứng đó đã bao nhiêu năm.
– Trước khi Ba về Sài Gòn, con nhận thư báo của thành phố Melrose…
Thành bước tới kệ sách, lấy cái thư, đưa cho Ba.
-… Họ cho biết cây sồi đã chết từ dưới rễ, lên tới thân cây 1 năm rồi…
Bác Năm vẫn thất thần nhìn ra cửa sổ, cây sồi già sần sùi như mập mờ trong khoảng hông nhà đầy nắng, bác đứng dậy.
-…Và có thể trốc gốc bất cứ lúc nào khi trời mưa, hoặc gió lớn…
Bác Năm bước tới cửa sổ, nhìn ra cây sồi chỉ còn sát gốc, mặt gỗ vàng, lớn như mặt bàn ăn.
– … Cây sẽ đổ xuống sập nhà và gây tai nạn cho gia đình. Thành phố yêu cầu đốn bỏ cây. Mọi chi phí được đài thọ, ban cây xanh thực hiện việc cưa cây trong ngày… Ba thấy đó! Đây là yêu cầu của thành phố, con không thể không làm…
Bác Năm bước ra hông nhà, đứng lặng yên bên gốc sồi đã bị cưa.
Sáng thứ Bảy, bác Năm kéo chiếc bàn sắt, để ngay khoảng cỏ xanh sát gốc sồi, pha ly cà phê phin kiểu Sài Gòn, những giọt cà phê đen đậm đang chảy xuống ly thì điện thoại kêu.
Bà vợ đã ly dị của ông Khánh the thé.
– Cha Khánh chết rồi anh! Chết hôm qua… Sụm bà chè, Đột quỵ! Mẹ! Chả đâu chịu nổi con quỷ cái đó, nó có 25 tuổi hà! Sức voi cũng tiêu, nghe đâu thiêu bên đó luôn, gởi tro vô chùa.
Bác Năm run tay tắt máy.
– Trời đất!
Khánh, thằng bạn còn lại của Bác đã qua đời.
Trời bỗng xối cơn mưa rào.
Bác Năm ngồi yên trong mưa, nhìn phin cà phê, thở dài.
Hôm sau, nửa khuya, bác đổ bệnh chóng mặt, khó thở, Thành phải kêu 911 đi cấp cứu.
Hai ngày sau, Thành rước Ba về, bác sĩ cho biết, ông bị lên máu, nhịp tim không ổn định, cho về nhà uống thuốc, dưỡng bệnh, tránh rượu chè và những xúc động mạnh.
– Ba nghỉ ngơi, vài bữa là hết bệnh.
– Ờ hổng sao đâu con.
Chiều đó, bác Năm quay đầu giường sát tường bên kia, nằm dựa gối, đối diện 2 khung cửa sổ, nhìn ra nơi tàn cây sồi, che bóng ngày nào với những con chim cu rừng màu nâu lao xao.
“- Ủa Khánh hả? Về hồi nào.
– Tao về hôm qua! Buồn quá, tính qua mầy làm mấy chai cho vui.
– Mầy ở bển vui thú gái ghiếc mà buồn gì?
– Nên đổ bệnh tùm lum.
– Mai thứ Bảy, 6 giờ chiều ghé đây.
Sáng thứ Bảy, bác Năm lái xe lên Burlington, tới trại gà người Việt, mua 2 con vịt tơ lớn, họ làm lông, lấy tiết sẵn, ghé chợ mua rau, đồ phụ tùng cho món tiết canh vịt.
Đúng! Món tiết canh, cháo vịt biến mất từ ngày bà vợ ra đi, bả về chầu trời, mang theo món tiết canh vịt để đời lên trển, chừa lại nồi cháo lạnh tanh cho bác, 15 năm rồi, hơi tiết canh đã bay theo nhang khói.
– Bữa nay tui làm tiết canh cháo vịt, đãi thằng bạn chí cốt theo gái ở Sài Gòn, đổ bệnh trở về.
Bác Năm bày hết mọi thứ làm tiết canh vịt trên chiếc bàn ngay gốc cây sồi già.
Bác vắt miếng chanh vô tô, đổ 4 muỗng nước ấm, 2 muỗng nước mắm Phú Quốc, để trên mặt bàn sắt. Bác nhớ lại cách làm tiết canh của bà vợ. Lấy nửa lá gan vịt đã luộc sẵn, cái mề, ruột, tim, khúc cổ vịt, bỏ hết lên chiếc thớt, cắt nhỏ.
Chị Năm tới ngồi ở bàn, bên gốc sồi với tàn cây to, che mát cả căn nhà, coi chồng biểu diễn đánh tiết canh vịt.
Bác Năm mở nắp tô nước sôi để nguội, bỏ muỗng bột ngọt, bày ra 2 chiếc dĩa hột xoài lớn, vô nhà lấy 2 chai nước suối đựng tiết vịt tươi ở nông trại đã hãm sẵn. Bác Năm đổ 2 lon tiết vô 2 tô lớn, thêm một chén nước sôi để nguội, dùng muỗng khuấy nhẹ, đều tay chừng 2 phút rồi rưới vô từng đĩa hột xoài.
Chị Năm đứng dậy, rải những gan tim cổ đã bằm lên trên, chừng 5 phút, chị sắp lá gan vịt luộc xắt lát để trên mặt lớp tiết đã đông.
Bác Năm quay lại vợ.
– Nè! Bí quyết của em đây.
Bác lấy đĩa ngò om cắt nhỏ với rau quế, rải đều trên dĩa tiết canh vịt mới đông một màu đỏ tươi.
– Còn lớp đậu phụng rang nữa anh Năm.
– Có!
Bác Năm vô nhà mang ra bao đậu phụng rang sẵn, lấy chai Tequila lăn trên bao cho bể ra, rắc đều một lớp thưa trên mặt 2 đĩa, đặt ngay ngắn trên mặt bàn.
– Em thấy chưa? Anh đã học được ngón nghề của em.
Chị Năm thỏ thẻ.
– Em biết anh Năm của em giỏi mà!… Nhậu với bạn cho vui, em đi.
Chị Năm đi nhanh vô khoảng rừng bên kia đường.
Cũng đúng lúc ông Khánh ôm 2 thùng bia Saporo tới, lấy 2 lon.
– Làm lon đi… Chà món hiếm đây!
Bác Năm.
– Cha ở Sài Gòn thì có ăn, 15 năm rồi, bữa nay tui mới làm, thêm cháo vịt về khuya nghen.
Gần hết 2 thùng Saporo, đĩa tiết canh vịt chỉ còn sót miếng nhỏ.
Bác Năm vô nhà đem ra 2 tô cháo bốc khói, đĩa thịt vịt thơm lựng.
– Giờ này ăn cháo khuya là đúng điệu.
– Mẹ! Cuộc tình so le của tui ở Sài Gòn cũng không ra gì.
– Sao.
– Con nhỏ trẻ quá, không làm ra tiền, chỉ ăn nhậu rồi “Ấy”
– Vậy vui!
– Tui phải xài Viagra, Xài nhiều… nên đứt bóng!
– Thôi! Bề gì cũng xong rồi, làm hết chai Tequila với mấy lon bia cho vui.
Hai người bạn già ngồi bên gốc sồi, cụng ly, gật gù nhắc chuyện xưa nay.
Đã 9 giờ tối.
Ông Khánh đứng dậy.
– Thôi! Tới lúc phải đi.
Bác Năm ngạc nhiên hỏi.
– Đi đâu cha?
Ông Khánh không trả lời, và cũng như chị Năm, ông đi thật nhanh vô khoảng rừng tối thui bên kia đường.
Bác Năm chưng hửng nhìn theo.
Còn lại một mình bên chiếc dĩa hột xoài sót miếng tiết canh vịt, chai Tequila thừa ngụm rượu dưới đáy chai, trên chiếc bàn nhỏ sát gốc sồi sần sùi.
Bác Năm thấy hụt hẫng trong lòng. Bác ngồi xuống ghế, rót hết chai Tequila, kéo chiếc dĩa hột xoài, đưa mấy ngón tay nhăn nheo, bốc miếng tiết canh cuối cùng, bỏ vô miệng, cạn ly Tequila, thở một tiếng dài …”
Sáng hôm sau, Thành chạy bộ về, không thấy bác Năm ra gốc cây sồi uống trà như mọi khi, anh gõ cửa phòng ông già.
– Ba! Dậy chưa Ba?
Thành hé cửa.
Trên giường, bác Năm mặc bộ đồ bà ba lụa mới mua ở Sài Gòn về, nằm dựa đầu vô tường, nhìn ra cửa sổ mở rộng, nơi tàn cây sồi ngày trước.
Thưa đời không như là mơ! Vì mơ là một chuyện; thực tế trần truồng là một chuyện khác.Mơ học báo chí thì những năm 70 chỉ Viện Ðại học Ðà Lạt mới có. Nghèo sặc gạch như người viết, ghi danh đi học chứng chỉ Toán lý Ðại cương (MGP) Ðại học Khoa học Sài Gòn mà má, ba còn lo không xuể thì cách chi mà lên Ðà Lạt để ‘mùa xuân sang có hoa anh đào’! Thôi đành: ‘Em ơi! Nếu mộng không thành thì thôi.’
Mãi đến khi phiêu bạt quê người mới có dịp làm báo… ‘’đời”. Mà làm báo coi như móc bọc, nghèo; nhưng nghèo mà sướng lắm nhe: Ðược độc giả rủ rê đi nhậu hoài hè… làm con vợ tui nó rầy tui quá xá.
Chẳng qua bạn hiền Lê Trung Thụy, Ðại học Khoa học Sài Gòn năm 1967, nhà anh chỉ cách nhà em cái giậu mồng tơi xanh rờn, 2 căn… cực kỳ ái mộ mấy đứa làm báo hay nói láo, nên ‘hú u’.
“Ai kêu tui đó?” Nghèo mà ham vui. Vui thì phải nhậu. Mà nhậu thì cần rượu. Ngặt cái hổng có tiền mua!
Anh Thụy nói: “Tưởng chuyện gì? Rượu đỏ là chuyện nhỏ! Chỉ cần một điều kiện là nhậu xong, chú em phải viết một bài tường trình về Lễ Sinh Nhựt một thập niên của Cựu Sinh viên Trường Ðại học Khoa học Sài Gòn ở Melbourne. OK?”
Buồn ngủ mà gặp chiếu manh. Chữ mình một bụng, nhưng bán chẳng ai mua. Thôi thì chữ ‘ế’ đem đi đổi rượu cũng được.
***
Người Việt mình, Bắc, Trung, Nam kể cả người Việt gốc Hoa, giống nhau ở chỗ:”Không ăn đậu không phải là Mễ; không đi trễ không phải Việt Nam!”
Ba giờ chiều ngày 6, tháng Tám, năm 2017, đồng hồ khỏ bon bon, mà chỉ có vài đứa đến đúng giờ để đặt bàn, bày ghế, trang trí cái phòng khách rộng minh mông, cắm điện cái đàn organ, để ban nhạc (một người), tò le tí le cho xôm tụ.
Còn mấy huynh trưởng khác không muốn đến sớm, chắc ngại sợ thiên hạ nói mình ham ăn, nên bạn mình cứ phè cánh nhạn, tới lai rai.
Ông thì nhà xa, bà thì bận lo cho cháu. Vì ba má sắp nhỏ mắc bận đi nhảy đầm nên gởi cho ông bà nội ngoại làm ‘child care!’ Chủ Nhựt mà.
Chuyện đâu còn có đó,việc gì mà gấp chớ! Chúng ta ra đi mang theo nền văn minh lúa nước rất đáng yêu (và cũng rất đáng quạu).
***
Mùa Ðông xứ Úc ngày dài đêm vắn, mới 5 giờ thôi mà trời đã sụp tối.
(Bà con biết mà: Cái gì nóng là nó nở ra hè! Mùa Hè nước Úc cũng vậy, gặp nóng là ngày nó nở rộng kinh luôn, mà không cần tới ‘viagra’. Ngày dài… dài ra.
Mùa Ðông nước Úc cũng vậy, gặp lạnh, là ngày nó thun lại. Ngày vắn… vắn lại.
Người viết có cái ngạc nhiên là qua đây có rất nhiều hội cựu học sinh các trường Trung học. Nhưng trường Ðại học lại hơi bị… ít.
Thế nên nhóm cựu sinh viên trường ÐHKH Sài Gòn chơi với nhau đã 10 năm, một thập niên dài đăng đẳng mà cho tới nay tui mới biết. (Thiệt là hụt ăn ‘chực’ tới 9 lần nên tiếc hùi hụi hè!)
***
Ôi nhớ xưa: Con trai sau khi đậu tú tài hai, đứa nào theo Ban B là tới trường Ðại học Khoa học mà ghi danh vô chứng chỉ MGP (Toán Lý Ðại Cương) tính làm Albert Einstein, hay chứng chỉ MPC (Toán Lý Hóa) để làm kỹ sư đào mỏ.
Còn con gái, vua gạo bài, đa phần theo ban A, thì ghi danh vô chứng chỉ SPCN (Lý Hóa Vạn Vật) để sau nầy thi vô Ðại học Y Khoa, học ra làm bác sĩ để chích ‘đít’ anh chơi!
Mấy chú MGP và MPC nầy học không lo mà con mắt cứ liếc đưa tình với mấy em SPCN thôi, đẹp não nùng như cô đầm Brigitte Bardot vậy. Hậu quả là sau hai kỳ thi cuối năm, rớt hết ráo. Ðậu chỉ có từ 5 tới 10% là hết mức! Cả 3, 4 ngàn đứa, còn trụ lại được trong cơn sóng gió ba đào, giỏi lắm chỉ còn được 1, 2 trăm!
Mấy đứa rớt: Con gái thì lên xe bông, đi lấy chồng; con trai thì tan mùa thi là anh đi lính, theo tiếng gọi của núi sông, ‘dông’ vô trường Bộ Binh Thủ Ðức.
Giờ già nhớ lại, đúng là cái thời tập tễnh từ học sinh ở với Tía Má rồi phải chuyển qua đời sinh viên xa nhà lại là khoảng thời gian đẹp nhứt của đời người.
Ði chơi ‘líp ba ga’ mà không sợ Tía má rầy la hay cho ăn cái chổi chà.
Tui nhớ trường Ðại học Khoa học Sài Gòn năm ấy, 1970, nằm trên Ðại lộ Cộng Hòa vốn là ở ké đất của trường Trung học Petrus Ký do Giáo sư Nguyễn Chung Tú làm Khoa trưởng.
Trong sân trường có mấy cây điệp Tây. Cuối mùa Hạ, sơ thu, trường đã tựu, vẫn còn bông vàng lác đác. Nhớ đám sâu đo, nhỏ như sâu gạo, từ cành lá thả tơ, buông mình sâu xuống đất để nhát mấy em học SPCN.
(Anh bạn nhậu của tui, cưới vợ rồi chỉ ước mình được làm con sâu để vợ ảnh mới sợ mà thôi!)
***
Người dẫn chương trình là anh Trương Như Tuấn (nk 1973) đã bỏ nhiều công sức ra tổ chức Lễ Sinh Nhựt 10 năm cho nhóm Cựu Sinh viên ÐHKH Sài Gòn ở Melbourne, nên được anh em mình tấn phong là ông Cả, theo kiểu miền Nam, dẫu anh là dân Huế của mình ơi, vốn dòng Tôn Thất…
Cũng nhờ nhiệt tình của nhạc sĩ Lê Nguyên Trúc (nk 1968) và nhất là Nguyễn Chiếu (nk 1971), điệp viên không không thấy, vì ảnh vừa đeo kiếng đen vừa bận rộn chụp… hình kỷ niệm.
Cũng xin cám ơn quý chị đã trổ tài làm bếp! Toàn là những món ngon, vật lạ Nam, Trung, Bắc lẫn của người Việt gốc Hoa.
Từ bánh khọt, miến xào kiểu Singapore cho tới bánh củ cải Triều Châu…
Ngon quá! Mà tui khờ thôi hết biết, mãi lo tán dóc, quay qua quay lại hết sạch bon (chứng tỏ nó ngon) Hu hu!
Lần sau tui sẽ không dám khờ như vậy nữa!
***
Vô bàn, đặt mâm, ngồi kế bên người viết là Quách Vũ Uối, Hội trưởng TQLC Úc Châu, một bạn hiền ‘tu’, cữ rượu, uống ít, nhưng ảnh nói còn cái vụ ‘kia’ thì từ từ sẽ cữ!
Quý anh mình xuất thân Cử nhân từ trường Ðại học Khoa học Sài Gòn vượt biên qua đây, định bằng lại rồi tiếp tục học lên Tiến sĩ, làm Giáo sư trường Ðại học Monash của Úc. Hãnh diện nhe!
Bằng hữu Lê Bình, chủ chợ Little Sài Gòn, nói: “Mừng cho mấy anh có bằng Ph. D; còn tui có bằng Ph. O!”
Hỏi cái bằng gì nghe lạ quá hè? “Ph.O là Phở …vì Bình qua đây chuyên bán Phở!”
Hèn chi giọng hát của Lê Bình rất ngọt ngào như nước lèo của phở tái nạm gầu bỏ thêm chút hành trần và có chan thêm nước béo.
Lê Bình mời: “Tui có chai Penfold 1993 đây; rót cho ông một ly!” Lại vô mánh! Luật sư nói là có tiền, còn mình nhà báo nói là có rượu.
Lê Bình là người chịu chơi, thích sưu tầm các loại nhạc khí, nhạc cụ và rất nhiều các loại đàn…từ đàn đá… tới cả…đàn…bà!
Rượu được vài tuần, Lê Bình chiếm đài phát thanh, cầm ‘mi-cà-rô’, hát bản Khúc Thụy Du, thơ Du Tử Lê, nhạc của Anh Bằng, để thương mến trao về anh Lê Trung Thụy, chủ nhà, đã có nhã ý cho anh chị em mình họp mặt đêm nay.
(Tuấn Ngọc mà nghe Lê Bình hát thì chỉ còn có nước ‘mộng du’ chớ không phải ‘thụy du’ (Ngủ mà mớ… vẫn nhớ hoài chim bói cá.)
Tui e rằng anh Thụy, khoe được bà xã, chị Diệp Gò Công, tặng quà Sinh Nhựt là một vỉ viagra; nhưng lần nầy tui e bắp đùi của anh Thụy tối nay, sẽ bị bầm tím vì ‘Khúc Thụy Du’ cho mà coi!
Vì đây là bài hát khóc cho một mối tình tan vỡ với ai kia: ‘Em là chim bói cá’. He he!
Rồi tắt bớt đèn, trong cái mờ mờ ảo ảo, chương trình dạ vũ bắt đầu. Slow với lại Rumba cộng với ‘Lam ba da’. Ôi thiệt là: ‘Cha cha cha’!
Việt Nam, chồng hay ‘quánh’ vợ nên gọi là vũ phu. Qua đây, đất của Nữ Hoàng, vợ ‘quánh’ chồng gọi là ‘vũ nữ’. Khi hai vợ chồng ‘quánh’ nhau thì ta gọi là vũ ‘sexy’! Là ‘luân vũ’! Tức là em sẽ ‘nhảy’ với anh!
Ðêm vui nào cũng phải tàn. Thôi gặp nhau đây rồi chia tay!
Về tới nhà, mới bước vô là thấy em yêu của tui đang cầm cái chổi chà, núp sau cánh cửa.
“Em ơi! Anh đây mà!” Nhém chút nữa, là Má tui hổng nhìn ra tui rồi! Hi hi!
Ngày xưa em xuống ngồi đò Qua con nước đục lờ, cò, vạc, nông Lòng sâu cạn vệt mây hồng Hào năm xu lận mấy đồng quá giang Đầu để trần bọc áo mang Quần rách lai mặc với gan tày trời Bên cầu gãy nhịp ru hời À ơi cầm chén cơm thời thảo thơm Ba hột dằn bụng cũng hơn Lỡ làm ma đói quên hờn tiễn đưa.
Nắng vàng mắt qua buổi trưa Chiều tối bến lạ lau thưa lách buồn Ảo não bóng tối như tuồng Thời khắc xô động thuồng luồng lội ngang Nào ai con dại cái mang Ngược xuôi sau trước còn đang bẻ bàng Đà Nẵng có bến Bạch Đằng Tên kêu là vậy sóng dằn tích xưa
Bây giờ ngó biển chìm mưa Thuyền ra hải phận đỏ vừa bể dâu Tàu nước lạ đâm vào đâu Mà máu em chảy vào sâu cửa mình Nước sắp mất đất vẫn rình Cờ kia có bữa thình lình thêm sao Lu lon chuyện lớn là bao? Xin soi bản mặt đục ao một lần
Em thấp bé phận thanh bần Tụt quần ra đái giữa trần gian sôi Nước mắt đổ mồ hôi thôi Qua đầu ngọn cỏ cũng trôi đớn hèn
Sử xanh cổ mộ hoa chen Tiền nhân nhắm mắt bao phen ngậm hờn Bây chừ cót két tay đờn Đứt dây tắt tiếng đã lờn tham ô.
Trên chiến trường, hầu hết các cấp chỉ huy đều có một danh hiệu truyền tin riêng. Hoặc tự chọn hoặc do phòng (ban) Truyền Tin cung cấp. Tất nhiên ai cũng muốn danh hiệu của mình phải có một ý nghĩa đặc biệt nào đó. Có vị thích lấy tên một danh tướng trong lịch sử dân tộc: Ngô Quyền, Quang Trung, Lê Lợi…Có vị lấy tên địa danh nơi mình sinh ra: Nam Định, Ý Yên, Cần Thơ, Ninh Kiều, Nha Trang, Đồ Sơn, Đà Lạt… Có vị lấy tên một con sông hay một ngọn núi hùng vĩ: Bạch Đằng, Hồng Hà, Hạ Long, Sầm Sơn,Yên Tử… Cũng có vị lại thích tên một cô ca sĩ (dù không chắc đã ái mộ): Thanh Nga, Thanh Tuyền, Thanh Lan, Thanh Thúy, Phương Dung… Và cũng có vị chọn một danh hiệu, trong đó có cái tên thật (hoặc gần giống) trong khai sanh, như Nguyễn Đình Bảo: “Bảo Ngọc”, Bùi Quyền: “Tố Quyên”, Lê Minh Ngọc “Ngọc Nga”, Bùi Văn Lộc: “Đại Lộc”, Lê Văn Mễ: “Mê Linh”, Võ Mộng Thúy: “Thủy Tiên”, Trương Văn Út: “ Út Bạch Lan”…
Riêng ông anh của bọn tôi, không biết vì sao lại chọn cái danh hiệu “Bá Hòa”. Nghe hiền khô, không oai phong và cũng chẳng văn nghệ chút nào. Vậy mà cái tên Bá Hòa này lại nằm mãi trong tâm khảm của đám bọn tôi, từ quan tới lính, và cũng từng gây khốn đốn, tai họa cho đám giặc “sinh Bắc tử Nam” của các Sư đoàn Điện Biên (còn gọi là Sư đoàn Thép), Sao Vàng, và các đơn vị khác thuộc Mặt Trận B-3 (Tây Nguyên) trong suốt một thời “Mùa Hè Đỏ Lửa” Đúng ra, theo lễ nghi quân cách, bọn tôi phải gọi “anh” là Chief, là Đại Bàng, Mặt Trời hay “bạch văn” hơn là Trung Tá, Trung Đoàn Trưởng, mới đúng. Nhưng dường như trong suốt thời gian hơn bảy năm anh ở đơn vị này, trừ khi đứng trước hàng quân, đám sĩ quan bọn tôi chỉ gọi anh bằng một tiếng “Anh” hay hai tiếng “Bá Hòa”! Và ngược lại, anh gọi bọn tôi bằng tên, thằng nào thân tình lắm thì anh gọi bằng toa và xưng moa. Chỉ trừ có mấy anh xuất thân từ Trường Võ Bị thì gọi anh là Niên Trưởng! (Sau này tôi mới biết (và hơi ganh tỵ) là mấy anh Võ Bị đã giành độc quyền cái từ “Niên Trưởng” này, nghe vừa oai phong vừa đầy ắp ân tình, mà dường như không có trong cuốn tự điển nào)
Anh luôn giữ tác phong nghiêm chỉnh nhưng xuề xòa vui vẻ. Tôi chưa hề thấy anh lớn tiếng la rầy hay khiển trách một sĩ quan nào. Khi vui anh cười (có khi hít cả mắt). Tình hình nghiêm trọng, anh trầm ngâm, tư lự và trong đầu đang vẽ ra rất nhanh những kế hoạch khả thi. Giận đàn em, anh nghiêm mặt một lúc rồi từ tốn tâm tình giải thích. Đặc biệt khi đụng trận, anh rất bình tĩnh, ngay cả những lúc đơn vị đang bị tấn công và căn cứ hỏa lực của BCH Trung Đoàn bị hàng ngàn quả pháo. Những lúc này tiếng nói và danh hiệu Bá Hòa trên các hệ thống vô tuyến trở nên ấm áp, thân tình nhưng lại có sức mạnh, đanh thép, quyết liệt phi thường. Cường điệu một chút, có thể nói như là một phép mầu làm phấn chấn và yên lòng binh sĩ.
Vậy mà bọn tôi sợ anh ra mặt. Và điều sợ nhất là làm cho anh… buồn!
Trong trận chiến Tây Bắc Kontum vào đầu tháng 5 năm 1972. Sau khi chiếm được Dakto, Tân Cảnh, gây thiệt hại nặng nề cho Sư Đoàn 22BB cùng với cái chết hào hùng của vị Tư Lệnh, Đại tá Lê Đức Đạt, “thừa thắng xông lên”, tướng CS Hoàng Minh Thảo tung cả trung đoàn tăng T-54 cùng bộ binh, đặc công của Sư Đoàn Thép 320 “hợp đồng chiến đấu”, tràn xuống, với ý đồ chiếm lấy Kontum. Không ngờ Trung Đoàn 44 của Sư Đoàn 23BB/VNCH vừa di chuyển từ vùng duyên hải lên Pleiku, được không vận khẩn cấp lên Kontum, trám vào tuyến phòng thủ Tây Bắc này chỉ sáu tiếng đồng hồ trước đó, đã chặn đứng và đánh tan một lực lượng địch đông đảo, bắn cháy hơn 10 chiến xa và bắt sống 2 chiếc tăng T-54 cùng với tên đại đội trưởng. Trên đường tháo chạy ngược về hướng Bắc, lực lượng bại trận và cả mấy đơn vị trừ bị của địch bị B-52 tiêu diệt. Tướng Hoàng Minh Thảo, Tư Lệnh Mặt Trận B-3 bị mất chức. Kontum và cả Tây Nguyên đứng vững cho tới ngày 14 tháng 3/1975, khi Quân Đoàn II phải thi hành cái lệnh “di tản chiến thuật” theoTỉnh Lộ 7B, tồi tệ, oan khiên.
Trung Đoàn 44BB được tuyên dương trước quân đội, và được Bộ TTM tuyển chọn là đơn vị xuất sắc nhất của QLVNCH trong Mùa Hè 1972.
Chiến công lớn lao ấy tất nhiên thuộc về tất cả những người lính tham dự cuộc chiến. Nhưng trong thâm tâm mọi người, nhất là những sĩ quan trong đơn vị và đặc biệt là Tướng Lý Tòng Bá, Tư Lệnh chiến trường, đều nghĩ tới Bá Hòa. Dù khi ấy anh còn là Trung Đoàn Phó. Bởi tiếng nói và danh hiệu Bá Hòa suốt ngày đêm vang trên hệ thống vô tuyến, bình tĩnh điều quân và hướng dẫn phi pháo yểm trợ chính xác, tạo niềm tin và ý chí mãnh liệt cho tất cả các tiểu đoàn trực thuộc ở tuyến đầu, mả các tiểu đoàn trưởng đều là niên trưởng hoặc niên đệ của anh: Võ Anh Tài (Khóa16VB), Nguyễn Xuân Phán, Đặng Trung Đức (Khóa19VB) và Hồ Đắc Tùng (Khóa 20VB). Tất cả các anh cũng đã rất xứng đáng là những đứa con chung, cùng xuất thân từ ngôi trường Võ Bị.
Mặc dù đây là lần đầu tiên trực chiến với chiến xa địch, nhưng không hề nao núng, mặc cho tiếng xích sắc rú gào đe dọa, anh Nguyễn Xuân Phán, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/44 đã rất bình tĩnh, vừa gọi Pháo Binh tác xạ ngăn chặn, phân tán lực lượng địch, vừa ra lệnh cho đơn vị chỉ khai hỏa khi những chiếc T-54 đến gần trước mặt, trong tầm bắn chính xác và hữu hiệu nhất của M-72, và cả B-40, B-41 (của địch do ta tịch thu được từ trước). Đại úy Nguyễn Xuân Hướng, Tiểu Đoàn Phó của anh Phán là người khai hỏa và bắn cháy chiếc T-54 đầu tiên của địch. Cả đơn vị càng lên tinh thần, bắn cháy tiếp trên 10 chiến xa khác. Một chiếc T-54 chỉ huy với lá cờ đỏ sao vàng treo trên cần anten, quá hốt hoảng, đâm xuống giao thông hào, bên cạnh bộ chỉ huy tiểu đoàn, Cả xe và tên thượng úy đại đội trưởng bị bắt sống. Tiếng cười của Bá Hòa lại vang trên máy, như một khích lệ đặc biệt làm nức lòng những đàn em tham chiến.
Được thăng cấp đặc cách tại mặt trận, anh rất xứng đáng, và đã chính thức trở thành một trong những trung đoàn trưởng xuất sắc của QLVNCH. Cũng phải công tâm mà nói, anh rất đặc biệt chí tình với các huynh đệ Võ Bị của anh, nhưng không hề làm buồn lòng các sĩ quan xuất thânThủ Đức, Đồng Đế, hay Đại Học CTCT. Chúng tôi rất hiểu và tôn trọng anh về cung cách xử sự này. Bởi đó là truyền thống tốt đẹp của trường Võ Bị. Hơn nữa khi còn là những SVSQ, các anh đã sống với nhau một thời gian khá dài, ngoài sự hướng dẫn, huấn nhục, giúp đỡ, tất cả đã từng xem nhau còn hơn cả tình huynh đệ.
Một sự kiện nhỏ, nhưng làm tôi khó quên. Đầu năm 1970, khi anh còn làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2. Được mời lên gặp Trung tá Điều Ngọc Chánh,Trung Đoàn Trưởng, cũng là niên trưởng ( Khóa 8VB) của anh, để hỏi ý kiến đề cử anh vào chức vụ Trung Đoàn Phó, thay thế cho một vị trung tá (nguyên CHT /ANQĐ/ QĐ IV&QK4 bị phạt ra khỏi ngành, thuyên chuyên về đơn vị mới hơn hai tuần lễ) bị Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh QĐ II cách chức tại mặt trận, trong khi chỉ huy Chiến Đoàn gồm hai tiểu đoàn cơ hữu, hành quân tiếp ứng cho một tiểu đoàn Dù bị thiệt hại khá nặng tại Căn Cứ 6 – Kontum.
Trung tá Chánh cho biết, theo khẩu lệnh của Tướng Ngô Dzu, Trung Đoàn phải tìm gấp một sĩ quan cơ hữu có khả năng để thay thế chức vụ trung đoàn phó, nếu không, ông sẽ chỉ định một trung tá tại TTHQ/QĐ xuống đảm nhiệm chức vụ này, Trung tá Chánh nhìn sang anh, hỏi:
-Tôi và các sĩ quan trong BCH/Trung Đoàn đều thấy anh là người xứng đáng nhất trong chức vụ này. Anh nghĩ thế nào?
Rất bất ngờ, chúng tôi nghe anh từ chối:
-Cám ơn Trung Tá, nhưng tôi khó nghĩ quá, khi có niên trưởng Võ Anh Tài, Khóa 16, đang là Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 4. Tôi dù gì cũng là đàn em, e khó xử sự với anh ấy.
Trung tá Chánh và cả anh em bọn tôi phải tìm mọi cách giải thích (Cho dù lúc đó anh đang mang cấp bậc thiếu tá thực thụ, còn anh Tài là đại úy). Đặc biệt tất cả anh em cũng đều tha thiết được có anh, thay vì một sĩ quan lạ đến nhận chức vụ này. Cuối cùng anh mới chịu nhận. Và sau này anh Võ Anh Tài rất nể phục người niên đệ Khóa 17 đang là cấp chỉ huy trực tiếp của mình. Tháng 6/1972, Thiếu tá Võ Anh Tài bị thương nặng , mất cả hai chân (20 phút sau đó đã hy sinh) trong lúc chỉ huy tiểu đoàn tái chiếm Bệnh Viên 2 Dã Chiến (Kontum) bị Cộng quân xâm nhập . Lần đầu tiên tôi thấy Bá Hòa giấu những giot nước mắt khi tiễn đưa niên trưởng của mình lên trực thăng tản thương, và biết chắc là sẽ không thể nào sống được.
Vào năm 1969, một chuyện bất ngờ không vui đã xảy ra cho một sĩ quan đại đội trưởng ưu tú. Anh tốt nghiệp Khóa 20 VB và là người từng được thăng cấp đặc cách trung úy (nhiệm chức) sớm nhất. Đại đội của anh hành quân biệt lập tại Quận Thiên Giáo, một quận mất an ninh nhất của Tỉnh Bình Thuận. Nhận tin từ một niên trưởng ở Phòng Tổng Quản Trị SĐ cho biết, anh đã có nghị định thăng cấp đại úy. Thấy đại đội hành quân biệt lập ở một địa điểm xa và tương đối mất an ninh, nghĩ rằng sẽ không có cấp chỉ huy nào tới để gắn lon, nên anh đã tự động mang lon đại úy và khao lon trước đại đội . Ngày hôm sau, Chuẩn tướng Trương Quang Ân, Tư Lệnh Sư Đoàn từ Ban Mê Thuột bay xuống thăm đại đội anh, mang theo vị sĩ quan Phòng TQT/ SĐ cùng nghị định thăng cấp và cặp lon đại úy mới toanh dành gắn cho anh. Khi trực thăng vừa đáp xuống, Tướng Ân nhìn thấy anh đại đội trưởng đứng nghiêm đón chào cùng với một tiểu đội an ninh danh dự, trên cổ áo đã có lon đại úy. Ông ra lệnh cho giải tán trở về đại đội, rồi im lặng không nói thêm một lời nào, lên trực thăng cất cánh. Đáp xuống bản doanh BCH Trung Đoàn tại trại Lý Thường Kiệt – Sông Mao, Tướng Ân ra lệnh cho Trung Đoàn Trưởng tìm một sĩ quan thay thế anh đại đội trưởng này ngay, đồng thời đưa anh ra tiểu đoàn khác làm đại đội phó, kèm theo một lệnh phạt rất nặng: 30 ngày trọng cấm và “giam” lon đại úy trong hai năm! (Tướng Trương Quang Ân nổi tiếng là một vị tư lệnh tài ba, liêm khiết, nhưng rất mực nghiêm khắc. Ông rất coi trọng cấp bậc của quân đội. Sĩ quan thuộc cấp, làm việc dưới quyền ông, thường bị phạt nhiều hơn là được khen thưởng. Và khi đề nghị thăng cấp một sĩ quan, ông rất cân nhắc, thận trọng).
Bá Hòa thấy tội nghiệp cho niên đệ của mình. Đúng là một tai nạn (Giống như trường hợp của anh, khi mãn khóa từ Trường CHTM, nhận lệnh bổ nhiệm về Sư Đoàn để bổ sung cấp tiểu đoàn trưởng, cũng bị tai nạn tương tự, khi dám thẳng thắn bày tỏ ý kiến trước một lời nói của vị Tư Lệnh mà anh cho là ít nhiều xúc phạm đến liêm sĩ của một sĩ quan, nên bị Tướng Ân ghi vào “sổ đen” và cho đi làm tiểu đoàn phó). Anh yêu thương và thông cảm đàn em, nên mặc dù cũng mới về đơn vị và đang tạm thời ở BCH Trung Đoàn, chưa được nhận chức vụ gì, nhưng khi biết tin này, anh vội vàng lên gặp Trung Tá Nguyễn Bá Thịnh, Trung Đoàn Trưởng, xin ông trình bày riêng với Tướng Ân để thông cảm mà rút lại lệnh phạt, bởi vì anh trung úy này là đại đội trưởng xuất sắc, một gương sáng cho đơn vị, chỉ vì tưởng là không có cấp chỉ huy nào tới vùng hành quân xa xôi và bất an để gắn lon sau khi đã có quyết định thăng cấp, nên vô tình đã thất lễ và làm phật lòng Tư Lệnh. Nhưng lệnh phạt đã ban ra và gởi về BTTM, không thay đổi được. Hơn nữa với Tướng Ân, không có trường hợp thay đổi quyết định bao giờ. Trung Tá Nguyễn Bá Thịnh trước khi về Sư Đoàn đã có một thời gian phục vụ tại Trường Võ Bị QGVN, là Trưởng Khoa Chiến Thuật cho Khóa 17 của Bá Hòa và sau đó là Liên Đoàn Trưởng SVSQ cho Khóa 20 của anh trung úy gặp “nạn”. Cuối cùng, anh trung úy được sắp xếp làm phụ tá Ban 3 cho một Trưởng Ban niên trưởng (Khóa 19VB), thay vì ra làm đại đội phó. Một thời gian sau, anh được thuyên chuyển về Trưòng VBQGVN, với một lời phê rất tốt của vị Trung Đoàn Trưởng trong đơn xin cũng như trong hồ sơ quân bạ.
Bá Hòa đã làm hết khả năng của một cấp chỉ huy và tròn thiên chức của một niên trưởng đối với một người đàn em Võ Bị.
Tháng 10/1971, Đại úy Phạm Văn Thái (Khóa 20VB), từ Phòng 3 Sư Đoàn được bổ nhậm vể Trung Đoàn để giữ chức vụ Trưởng Ban 3, thay thế Đại úy Đặng Trung Đức (Khóa 19VB) ra nắm Tiểu Đoàn 1, khi người đàn anh tiền nhiệm , Thiếu Tá Nguyễn Long Điệp (Khóa 18VB) được lệnh thuyên chuyển về BTL Cảnh Sát Quốc Gia. Đại úy Thái nhận chức vụ Trưởng Ban 3 Trung Đoàn chưa đầy hai tuần lễ, thì Trung Đoàn có một vị trung đoàn trưởng mới cũng từ BTL/ SĐ chuyển đến. Đại úy Thái trông rất hiền lành, cần mẫn, nhưng không biết thời gian làm việc ở BTL Sư Đoàn, anh có điều gì phạm thượng hay làm buồn lòng vị tân trung đoàn trưởng hay không, mà ngay sau khi nhận nhiệm vụ, ông liền cách chức Đại úy Thái và dự trù đưa ra làm đại đội trưởng. (Người viết bài này “bị” chỉ định kiêm nhiệm chức vụ Trưởng Ban 3 thay thế anh Thái, đúng lúc toàn bộ Trung Đoàn nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên An Khê để thay thế cho một Lữ Đoàn thuộc Sư Đoàn I Không Kỵ Hòa Kỳ rút quân về nước và cùng với Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh thành lập Chiến Đoàn 44, hành quân giải tỏa các căn cứ của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn dọc theo QL-19 bị Cộng quân vây hảm, và khai thông quốc lộ này để Pleiku, Kontum có thể nhận được tiếp tế từ BCH 2/TV và các căn cứ yểm trợ tại Qui Nhơn). Lúc này Bá Hòa đã có mặt trước ở An Khê. Trên đường di chuyển, tôi theo “năn nỉ” ông Trung Đoàn Trưởng để cho Đại úy Thái được trở lại chức vụ mà anh đã được bổ nhiệm, hoặc nếu phải ra tiểu đoàn thì cho anh giữ chức vụ tiểu đoàn phó cho anh Đức, niên trưởng của anh. Nhưng vị Trung Đoàn Trưởng quyết liệt từ chối. Đến An Khê, tôi lại phải cầu cứu đến Bá Hòa. Với uy tín và lòng đùm bọc, yêu thương em út Võ Bị, anh đã tận tình can thiệp với Trung Đoàn Trưởng. Cuối cùng, anh Thái được cấp sự vụ lệnh hoàn trả về Phòng 3 Sư Đoàn, Sau này anh được bổ nhiệm về Trung Đoàn 45 giữ chức vụ tiểu đoàn phó và mấy tháng sau lên làm tiểu đoàn trưởng. Thiếu Tá Phạm Văn Thái đã tự sát tại Phan Rang vào đầu tháng 4/75, trước khi thành phố này lọt vào tay giặc
Cuối tháng 9- 1972, sau một thời gian điều trị vết thương tại QYV Đoàn Mạnh Hoạch – Phan Thiết, Bá Hòa về trình diện BTL/Sư Đoàn, được Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm chỉ định anh ở lại BTL đảm nhiệm chức vụ Trưởng Phòng 3/SĐ.
Tháng 5-1973, khi cùng tiểu đoàn tái chiếm và đang sửa sang lại hệ thống phòng thủ tại căn cứ Ngô Trang phía Bắc Kontum, Thiếu Tá Đặng Trung Đức (Khóa 19/VB) Tiểu Đoàn Trưởng 1/44 bị tử thương bởi pháo địch. Tình hình rất phức tạp. Địch có mặt chung quanh và rất nhiều súng phòng không. Trực thăng tải thương cố gắng rất nhiều lần nhưng không thể đáp xuống để bốc thi thể của cố Trung Tá Đức. Bá Hòa quá đau lòng vì mất một tiểu đoàn trưởng xuất sắc đã cùng anh bao lần vào sinh ra tử và thương tiếc cho một niên đệ Võ Bị. Anh trình Tướng Tư Lệnh , xin điều động chi đoàn chiến xa và một tiểu đoàn trừ bị cùng đại đội Trinh Sát, bằng mọi cách vào lấy xác cố Trung Tá Đức. Anh rất đỗi vui mừng khi việc lấy xác thành công, nhưng sau đó ( và cho đến bây giờ) mỗi lần tâm tình với tôi, vì biết tôi là người bạn thân tình của anh Đức, Bá Hòa đều nhắc tới anh và đau buồn về cái chết của niên đệ tiểu đoàn trưởng tài ba này.
Trong suốt cuộc hành quân tại Kontum, Bá Hòa luôn dùng hai Tiểu Đoàn 1 và 2/44 làm nổ lực chính và thi hành những trách nhiệm cam go nguy hiểm nhất. Vì anh tin tưởng vào hai tiểu đoàn trưởng niên đệ (Khóa 19) mà anh đã xem như anh em ruột thịt, từ khi tất cả còn là những SVSQ Võ Bị.
Anh đặc biệt yêu thương và nâng đỡ các niên đệ Võ Bị , nhưng cũng rất công bình khi khen thưởng, bổ nhiệm chức vụ cho các sĩ quan có khả năng dù tốt nghiệp bất cứ quân trường nào. Đầu năm 1974, anh đã bổ nhiệm hai sĩ quan rất trẻ, tốt nghiệp Thủ Đức, ít thâm niên nhưng có khả năng vào các chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng các Tiểu Đoàn 2 và 3/44: Đại úy Nguyễn Văn Pho (Khóa 25 Thủ Đức) là một đại đội trưởng giỏi của anh lúc anh còn nắm Tiểu Đoàn 2, và Đại úy Phan Công Minh (Khóa 27 TĐ), nguyên là đại đội trưởng Trinh Sát Trung Đoàn. Sau này, Phan Công Minh bị trọng thương được anh đưa về BCH làm việc với anh tới giờ chót và Nguyễn Văn Pho đã tự sát trên đường di tản từ Tỉnh Lộ7-B
Ngày 14/3/1975, ngay sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, Trung Đoàn được lệnh trực thăng vận xuống Phước An, quận lỵ duy nhất còn lại của tỉnh Darlac, nằm trên QL 21, cách Ban Mê Thuột khoảng 30 cây số về hướng Dục Mỹ. Khi anh cùng Tiểu Đoàn 3/44 và Đại Đội 44 Trinh Sát vừa nhảy xuống Phước An, cũng là thời điểm Pleiku và cả Quân Đoàn II có lệnh di tản. Hai tiều đoàn còn lại tại phi trường Hàm Rồng, phải di tản cùng đoàn quân trên Tỉnh Lộ 7B. Tất cả tan hàng. Hai anh tiểu đoàn trưởng đã tự sát không để lọt vào tay giặc.
Ngày hôm sau, đại quân Cộng sản với từng đoàn chiến xa T-54 tràn xuống Phước An. Chuẩn tướng Tư Lệnh Lê Trung Tường bị thương khi chiếc CNC của ông bị bắn, phải vào QYV. Đại tá Lê Hữu Đức thuộc BTL Quân Khu 2 (bản doanh tại Nha Trang) được chỉ định tạm thời thay thế. Vị tân Tư Lệnh dự định đáp xuống đỉnh đồi Chư Cúc để gặp và bàn thảo kế hoạch cùng hai vị Trung Đoàn Trưởng 44 và 45. Khi trực thăng chỉ huy của ông đang trên đường bay tới cũng là lúc nhiều xe tăng và bộ binh địch tràn lên đỉnh đồi, nơi được phòng thủ chỉ bằng một đại đội ĐPQ. Hơn suốt 12 năm chiến trận, với nhiều kinh nghiệm chiến trường đã tạo nên bao chiến tích lẫy lừng, người chỉ huy tài ba này chỉ còn khả năng duy nhất, cùng vị sĩ quan hành quân của mình vượt thoát hiểm nguy trong gang tấc. Vừa chạy xuống đồi, anh nghe tiếng anh Đại Đội Trưởng Trinh Sát: “báo cáo Bá Hòa, bọn tôi nướng được hai con cua sắt”. Một chút vui vừa lóe lên bỗng dưng anh thấy lòng thắt lại khi tiếng đại bác 100 ly và đại liên trên các xe tăng địch làm rung chuyển cả một khu rừng. Anh mất liên lạc với các “đứa con” của mình.
Danh hiệu Bá Hòa trên hệ thống vô tuyến lúc bấy giở chỉ còn là âm vang đau đớn, tức tưởi như tiếng của một con đại bàng thương tích đang tha thiết gọi đàn. Nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng mãi trong lòng những người đã cùng anh vào sinh ra tử, từng một thời sống chết bên nhau
Hồi mới sang Mỹ có lúc tôi làm nghề tống thơ văn, là người đưa thư, giao hồ sơ, giấy tờ từ chỗ này sang chỗ khác, Mỹ gọi nghề này là “courier”, một trong những nghề hạng bét, lương thấp (cỡ $5.25 thời điểm 1992+ thêm mấy xu cho một mile), vất vả (mỗi ngày chạy trung bình 150 miles). Job này chỉ có part time, vì không ai có thể chịu nổi lái xe liên tục mỗi ngày tám tiếng, không có chiếc xe bền bỉ với thời gian và đoạn đường dài như thế. Chỉ có dân cùng đường mới nhận công việc này. Tôi là thứ “courier” nhà băng, nghĩa là phải chạy sớm giao giấy tờ từ nhà băng này sang nhà băng kia, để nhân viên có thể sắp xếp, sẵn sàng mở cửa lúc 9 hay 10 giờ sáng. Nhà ở Westminster, tôi phải dậy lúc 4 giờ sáng, lên nhận bao bì để bắt đầu “round” của tôi xuất phát từ hãng chính đặt trụ sở tại đường Mac Arthur, Irvine, lúc 5:00 giờ sáng. Trong vòng bốn tiếng rưỡi đồng hồ, tôi phải xử dụng hầu hết xa lộ trong Quận Cam và Los, ghé tám thành phố Orange, Montebello, Commerce, Whittier, Los Angeles, La Habra, Yorba Linda và Garden Grove,về lại Irvine lúc 9:30 sáng.
Về mùa đông, lúc năm giờ sáng thời tiết rất lạnh và ngoài trời hãy còn tối lắm. Khổ nhất là những khoảng đường sương mù trong buổi sớm mà tôi thường gặp nhất là trên đoạn đường 405 South gần phi trường John Wayne, nó chỉ kéo dài khoảng ba miles nhưng phải đi mất gần nửa giờ đồng hồ. Sương mù lúc ấy dầy đặc đến nỗi chúng ta không thấy gì trong khoảng mười thước trước mặt. Nếu đứng lại là chấp nhận xe đằng sau sẽ húc vào mình, mà lái đi thì không khác gì bịt mắt quờ quạng trong bóng tối. Trường hợp ấy, gần như phải lái chậm, mắt mở to căng thẳng nhìn kỹ xuống mặt đường kẻo xe lấn qua lane khác hay thúc vào đít xe trước. Trên xa lộ cũng không thể nào tấp vào lề để chờ sương tan hay lái vào exit để mong một chỗ sáng sủa hơn, sương mù y như rừng rậm không có lối ra hay biển mênh mông không thấy bến bờ.
Ôi! Cuộc đời của tôi hay của những người bạn thiếu may mắn đã có bao nhiêu lần phải gặp những khoảng sương mù như thế? Hồi mới làm người tị nạn sang Mỹ, hết trợ cấp, việc làm khó kiếm, nhất là đối với những tên già không già mà trẻ không trẻ, thầy lỡ thầy mà thợ lỡ thợ như tôi, lấy đâu ra một công việc vài ba đồng mà lo nhà, lo xe, lo cơm, lo áo. Nếu nằm nhà thì chẳng khác gì cái xe đứng lại trên xa lộ trong trời sương mù, đành phải chạy chầm chậm và mong mỏi cái thời sương mù ấy sớm chấm dứt. Trong cái khoảng sương mù ấy, tôi đã phải bỏ Cali ra đi về miền Đông giá lạnh để tìm một việc làm đắp đổi, chờ lúc trời quang, mây tạnh mới trở về đây. Trừ những người tốt số, đời của mỗi người có lẽ đều có một khoảng sương mù như thế. Thời gian tù tội, thất nghiệp, phá sản, ly dị, trầm uất … Những người lính giữ nước cũng không mong cuộc đời sáng sủa, trôi chảy, cái khoảng sương mù là quãng đời trong trại tập trung sau khi tan hàng, buông súng. Đôi khi, lòng chúng ta nhen nhúm lên một ngọn lửa hy vọng rằng “có lẽ ta đâu mãi thế này, để rồi cuối cùng cũng ra khỏi cái khoảng sương mù đó để bước tới một vùng quang đãng nắng ấm. Trong những khoảng sương mù, ráng giữ cho lòng kiên nhẫn, bình tĩnh, tự tin và giữ con đường đi thẳng. Trong tình thế này, chúng ta không bao giờ có thể quay trở lại con đường cũ hay vùng bỏ chạy ra khỏi con đường chúng ta đang phải đi. Muốn ra khỏi những khoảng sương mù, chúng ta chỉ còn một lối đi tới và phải luôn luôn giữ con đường thẳng, dù có hết sức nóng lòng, chúng ta cũng không thể đi hay chạy nhanh lên. Hồi mà những đợt đồng bào tỵ nạn mới sang đây, không làm sao tránh khỏi những khó khăn gặp phải thuở ban đầu, có người đưa ra hình ảnh một chuyến xe đò ngày xưa mà chúng ta thường gặp ở quê nhà. Đó là những chuyến xe không đủ chỗ ngồi cho tất cả mọi người, có người phải đứng, có người phải đu sau bậc cửa lên xuống, lớp trong lớp ngoài. Nhưng chuyến xe chạy qua một vài đoạn đường dài, có kẻ lên người xuống, chúng ta thoạt đầu phải đu ngoài cửa xe, nhưng cuối cùng ai cũng có được một chỗ ngồi trong xe, và chúng ta cũng có một chỗ ngồi như thế. Hồi mới sang đây, chúng ta đầy lòng lo sợ, không biết rồi mai đây, xứ lạ quê người, sống làm sao đây. Cha mẹ thì không còn trẻ, con cái chưa lớn lên, tất cả đều tạm bợ, chưa có gì ổn định cho cuộc sống. Bây giờ sau bao nhiêu năm, như qua cái khoảng sương mù ấy, như qua cái đoạn đường mà chúng ta phải đeo bên cửa chiếc xe đò ấy, chúng ta thấy gì? Có người trở thành giàu có, thành công trên đất Mỹ vì chúng ta cũng biết rằng đây là “đất cơ hội”, có gia đình con cái chiếm những học vị cao, hãnh diện đi vào dòng chính của nước Mỹ. Nếu chúng ta đã không giàu có, con cái chúng ta cũng chỉ đỗ đạt làng nhàng, có công việc làm vừa phải, thì chúng ta giờ đây cũng chẳng có gì phải lo lắng cho cuộc sống hôm nay. Đó là cuộc sống ổn định trên xứ người. Đó là chúng ta đã đi qua những khoảng sương mù ấy, như ngày trước trong câu chuyện tôi kể hầu các bạn ở trên, tôi đã dọ dẫm, lần mò đi trong đám sương mù dày đặc ấy để tôi cũng như các bạn, chúng ta đã có thể tiếp tục chạy trên xa lộ sáng hôm nay với một tốc độ khá cao, mà không còn phải lo sợ, buồn phiền gì nữa.
Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên Quảng trường Thiên An Môn tại Bắc Kinh vào ngày mùng Một, tháng Mười, năm 1949, cách đây 70 năm. Một cặp vợ chồng nông dân Tàu rất lấy làm phấn khích, bèn đặt tên con là ‘Ma Jianguo’ (nghĩa là xây dựng đất nước) để hy vọng hão huyền về một kỷ nguyên mới. Quan chức đặt tên cho nó lên gân; còn dân ngu khu đen bắt chước theo chi hè? Bắt chước theo là ngu vì họ đâu biết rằng: Niềm vui đã nằm trong thiên tai. Ngày tưởng vui đó lại là ngày khởi đầu một thời kỳ hỗn mang nhất trong lịch sử Trung Quốc thời hiện đại. Những em bé ngây thơ ngày ấy, sanh năm 1949, tuổi Sửu, con Trâu, đâu biết rằng Mao Trạch Đông, ‘giả’ bắt mình cày thấy ‘mẹ’; rồi tàn nhẫn hơn là mần thịt luôn cả con trâu để làm thịt trâu nhúng mẻ nhậu với rượu Mao đài trong Tử Cấm Thành, ‘xỉn’ rồi ngủ, để mơ về một ‘Trung Hoa vĩ đại’! Nhưng tiếc thay, vì bị tẩy não nên cho tới bây giờ có một chú Ba làm ruộng vẫn còn ngáo (đá) nói: “Thời Mao Trạch Đông là một kỷ nguyên tuyệt vời! Mặc dù cuộc sống sau này của Mao đã gây ra một số hỗn loạn cho Trung Quốc, nhưng đóng góp của ông ta là không thể phủ nhận được (?)”. Chú Ba nầy cho điểm Mao là: ‘Công 7; tội 3’. Trừ đi là còn 4 điểm trên 10! Vậy là dưới trung bình rồi nị ơi mà cứ theo ‘bợ đít’ thằng chả hoài hè? Có một chú Ba được Cộng sản Tàu xếp loại là trí thức tiểu tư sản, vì biết đọc tiếng Tàu, nói rằng: “Khi nghĩ về Mao, tui chỉ nghĩ đến nạn đói lớn và sự hỗn loạn của Cách mạng Văn hóa!”
***
Đất nước Trung Quốc, tiếp tục cái xấu xa của thời phong kiến, bọn tranh bá đồ vương đã đánh nhau, tranh giành quyền bính suốt hơn 20 năm, bắt đầu từ cuộc nội chiến giữa phe Dân tộc và phe Cộng sản từ năm 1927 và sau đó, năm 1937, với Phát xít Nhật. Để dụ khị dân chúng theo mình, Mao thề hứa về hòa bình và ổn định và người dân Trung Quốc, kể cả Stalin của Liên Xô, ngây thơ tin theo, giúp Mao cướp được chánh quyền. Đám tư bản đế quốc phương Tây gọi cái ngày nầy là: ‘Red dawn’ (Bình minh đỏ) Bình minh là khởi đầu một ngày mới. Đỏ là màu ưa thích của Cộng sản trước cả màu vàng. Nên không lấy làm gì ngạc nhiên khi CS chọn quốc kỳ là màu đỏ và màu vàng. Màu vàng là màu da; còn màu đỏ là máu của nhân dân. Quả vậy, từ khi Mao tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào năm 1949, người dân Trung Quốc đã đổ máu còn nhiều hơn lúc đánh nhau với quân Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch hoặc quân phiệt Nhựt.
***
Khi Đảng Cộng sản tiến hành cải cách ruộng đất ước tính khoảng 2 triệu ‘địa chủ’ đã bị xử tử trên cả nước. Đất của họ bị cướp để dem chia cho bần nông để ‘dụ khị’. Được chia đất, dĩ nhiên đám bần nông khoái chỉ tử; nhưng có biết đâu chỉ cuối năm 1950, Mao bắt đầu đổi ngược hoàn toàn, tước bỏ quyền tư hữu về ruộng đất mới ban phát cho bần nông, bằng cách lập ra các Nông trường tập thể khổng lồ. Năm 1957, huyênh hoang đòi vượt mặt đàn anh CS Liên Xô, Mao tuyên bố là: “Sau 15 năm, chúng tôi có thể bắt kịp rồi vượt qua Vương quốc Anh”. Thì Khrushchev cười hè hè phán, nghe rất đểu: “Chủ nghĩa CS mà đồng chí định đi trước Liên Xô là: Chủ nghĩa CS mặc quần đùi và ăn cháo trắng!” Đúng như Khrushchev nói! Đó là một chánh sách kinh tế hoang tưởng vì mức sản xuất lúa gạo, lúa mì sụt giảm nghiêm trọng dến nỗi không có cơm mà ăn; không có hủ tiếu mì vừa ăn vừa húp nước lèo như ngày xưa nữa! Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tiến hành chiến dịch ‘the Great Leap Forward’ (Đại Nhẩy Vọt) năm 1958. Nhảy vọt nhưng bị lọi giò, đẩy nước Tàu vào một trong những nạn đói tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại! Chỉ trong vòng 4 năm, từ năm 1958 đến năm 1962, có ít nhứt 45 triệu người đã bị chết vì đói; bị giết vì chống đối. Sau nầy đàn em trung tín của Mao là Polpot, chỉ trong vòng có 3 năm (1976-1979) dã giết 2 triệu người, bằng ¼ dân số Kampuchia lúc đó. Xét về số người thì Mao giết gấp 20 lần Polpot. Nhưng xét về tỉ lệ phần trăm dân số thì tên đồ tể Polpot ăn đứt sư phụ của mình. ‘Killing field’ (Cánh đồng giết người) nhỏ máu đầy trong từ điển thế giới. So với Gulags (trại Cải tạo của Liên Xô) và Holocaust (của Đức quốc xã), Cải cách ruộng đất của Trung Cộng số nạn nhân bị giết chết là nhiều nhứt trong lịch sử nhân loại, chỉ thua số người chết trong Thế chiến thứ hai là 55 triệu người. Dân Tàu phải ăn rau dại, lá cây, rể cây, ngay cả ăn cỏ như bò để được sinh tồn. Ngay cả những gia đình vốn có của ăn của để cũng không tránh khỏi. Ngay tại trung tâm thủ đô Bắc Kinh, nhiều gia đình sống thoải mái trước đây; giờ sống sót nhờ bã đậu, thường được cho heo ăn, thì nói chi nói chi đến thịt. Còn quần áo của mình ngày càng trở nên rách rưới. Chính phủ Trung Cộng nói với người dân rằng: “Nạn đói là do phải chi trả các khoản nợ cho Liên Xô, và cũng bởi thiên tai. Nên có thơ rằng: “Mất mùa bởi tại thiên tai. Được Mùa là bởi thiên tài đảng ta”. Chớ hổng tại Đảng ngu gì hết ráo nhe! Dân Tàu lại tiếp tục ngây thơ tin, chấp nhận sống trong cảnh bần cùng để vượt qua khó khăn này của đất nước chúng ta với sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Mao Trạch Đông?! (Cái nầy tui hơi nghi nghi nghe. Hổng tin cũng hổng được; hổng chấp nhận thì nó cho vô hộp biết ngày nào ra. Tới chết mới được ra, để vợ con đem về chôn cất như Nobel Hòa Bình Lưu Hiểu Ba (1955-2017) chẳng hạn!)
***
Cuối cùng, chiến dịch điên khùng đầy hoang tưởng ‘Đại Nhảy Vọt’ lọt tuốt và chìm sâu trong nạn đói kinh hoàng làm thiên hạ đại loạn. Cái ghế lãnh tụ của Mao bị lung lay dữ dội. Bằng mọi cách để bám lấy quyền lực độc tôn, Mao bèn phát động cuộc ‘Cách mạng Văn hóa’ mà phương Tây gọi là: “the Cultural Revolution’ vào năm 1966. Hồng vệ binh hoặc vệ binh đỏ là bọn học sinh, sinh viên đại học giơ cao cuốn ‘Mao tuyển’ của Mao Trạch Đông, trong đó giao nhiệm vụ chung chung là tiêu diệt bất cứ văn hóa gì thuộc vào thời trước khi Cộng sản chiếm chánh quyền. (Như chánh sách đốt sách, chôn học trò của Tần Thủy Hoàng từ ngàn năm trước!) Cái thâm ý của Mao phát động cuộc ‘Cách mạng Văn hóa’ nầy thực ra để tiêu diệt những kẻ lăm le dòm ngó cái ngôi Hoàng đế của mình như đồng chí Lưu Thiếu Kỳ và Lâm Bưu chẳng hạn. Chỉ cần dán lên trán bè lũ nầy ba chữ ‘phản cách mạng’ thế là xong, bọn chúng sẽ đi tong, gọn bân hè!
***
Mao đi chầu ông bà ông vải vào năm 1976. Cái chết của Mao lôi theo cái chết của cuộc ‘Cách mạng Văn hóa’. Mấy đứa còn sống lại tiếp tục dùng mọi thủ đoạn để tranh giành quyền bính. Cuối cùng Đặng Tiểu Bình, sau khi bị bầm dập trong cuộc ‘Cách mạng Văn Hóa’ chòi đạp, ngoi được lên. Xong qua Huê Kỳ, đội nón cao bồi, cỡi ngựa đi chăn bò, lạy lục con cọp giấy đế quốc Mỹ để dẫn dắt cả dân tộc Trung Hoa đi làm mướn cho bọn tư bản Huê Kỳ đang giãy chết.
***
Thứ Ba, ngày mùng Một, tháng Mười, năm 2019, là 70 năm ngày sinh của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Cộng sản! 56 khẩu đại bác, tượng trưng cho 56 sắc dân Trung Quốc, khạt ra đằng mồm 70 tiếng ‘ùng oàng’ để ‘nhát’ thiên hạ. Rồi 15 ngàn Giải phóng quân Trung quốc, như người máy, đạp chân rầm rập trên đại lộ Trường An. Xe tăng dưới đất, tàu bay trên Trời làm bầu không khí Bắc Kinh đã ô nhiễm lại thêm cực kỳ ô nhiễm! (Quốc Khánh các nước Phương Tây, trong đó có Úc nầy đây, là dành cho dân chớ không cho lãnh đạo. Chánh phủ chỉ có việc bắn pháo bông; dân chỉ có việc nướng thịt nhậu với beer cho đã rồi đi ngủ chớ hổng ai ‘quởn’ mà căng cơ bắp khoe sức mạnh quân sự để hù dọa thiên hạ là: “Không đứa nào cản được bước tiến của Trung Hoa!” Ha ha!
***
Suốt 70 năm qua, hàng chục triệu người Tàu đã chết bằng đủ cách, đủ kiểu. Rồi hàng triệu người Tân Cương, Tây Tạng, ngay cả người Việt Nam trong chiến tranh biên giới năm 1979; oan hồn còn vất vưởng đâu đây sẽ tụ về Quảng trường Thiên An Môn mà đòi mạng. Cho dù có chú Ba Tập Cận Bình, Chủ tịch muôn đời, làm Hoàng đế cho tới chết, có khoe hỏa tiển, tàu bay, xe tăng thiết giáp, giải phóng quân đi ‘rụp rụp’ thì cũng không làm át được tiếng kêu khóc của những oan hồn uổng tử đó đâu.
***
Người Do Thái có xây ‘Bức tường Than khóc’ ở Jerusalem để than khóc cho nghìn năm vong quốc, khóc cho những tai ương, bất hạnh của dân tộc mình rồi hẹn nhau “Next year in Jerusalem” để xây dựng lại. Người Tàu cũng nên làm như thế! Trên Đại lộ Tràng An thay vì duyệt binh rầm rộ thì dựng tượng những người đã bị giết trong Cải cách Ruộng đất, trong Cách mạng Văn hóa, trong vụ Hồng quân thảm sát sinh viên đòi tự do trên quảng trường Thiên An Môn vào ngày ‘Lục tứ (4/6/ 1989). Rồi trước cửa Tử Cấm Thành của Trung Nam Hải, chánh quyền Trung Cộng nên lấy xương cốt của 56 sắc dân Trung Hoa hòa chung với đất đá nước Tàu để xây nên ‘Bức tường Than khóc’! Để 1.4 tỉ người dân Trung quốc, kẻ trước người sau, lần lượt đến ‘than khóc’ cho một thời kinh khiếp và hứa với nhau rằng: “Tội ác đó không được quyền xảy ra trên đất nước nầy lần nữa”. Chừng ấy Trung quốc mới có hy vọng đi vào buổi bình minh cùng lương tâm nhân loại!
Đúng tám tháng trước, 7 Jan. rơi vào thứ Tư, ở Paris, 3 tên khủng bố ập vào tuần báo Charlie Hebdo dùng súng bắn chết 12 nhân viên, ký giả trong toà soạn gây nên cơn chấn động làm bàng hoàng cả thế giới. Đây là vụ tàn sát dã man nhất dành cho những người chỉ nắm trong tay thứ “vũ khí” duy nhất: Ngòi viết, cây bút. Mực đổ chan hoà cùng máu, thảm trạng nọ vượt ngoài trí tưởng của loài người.
Bọn khủng bố cực đoan đã gửi đi một thông điệp dữ dội: Bút sa gà chết. Hoặc: Sinh nghề tử nghiệp. Điều này vô tình tạo ra một phản hồi thầm lặng: Hoá ra tranh biếm hoạ và chữ viết đã là “một bộ phận không nhỏ” nhằm tấn công, đả phá những xấu xa lạc hậu mà bọn cường quyền mù quáng đang cổ suý. Chúng sợ lung lay, chúng sợ bật gốc; và nhằm bảo trì guồng máy ấy, không gì khác hơn, chúng tìm đủ cách nhằm bịt mắt khoá miệng những mầm mống trái chiều đối kháng.
Là người Việt, hơn ai cả bạn thừa kinh nghiệm về chuyện ấy. Bạn được dạy chữ Nhẫn, bạn học vô số bài về Đoạn Trường, về cuộc Bể Dâu. Những oan trái, bao cơ man là điều ngược ngạo vẫn mỗi ngày diễn ra trước mắt bạn và dần dà những thứ ấy tác hại vào người bạn. Hậu quả: Sức người có hạn. Bạn bất lực. Hay thời thượng hơn, bạn than: Bó tay chấm com.
Hôm nay, ngày 7 tháng 9, nhằm lễ Labour day nằm nhà rảnh rang, mình vào internet và phát hiện ra chuyện “thú vị”, cóp nhặt ra đây để thuật lại cho bạn nghe. Nhân vật chính, mang tên Đỗ Hùng, giống tên gọi anh ấy đã thử cởi trói thoát khỏi “bó tay chấm com” một phen. Rất hùng dũng. Nếu định cư ở Paris, không chừng mông-xừ Hùng đã vào làm việc cho tuần báo Charlie.
Đỗ Hùng, dân Quảng Trị, học Đại Học Huế, vào Sài Gòn lập nghiệp. Đầu quân vào báo Thanh Niên, nhờ tài năng đa dạng của một phóng viên, anh leo lên tới chức Phó tổng thư ký toà soạn. Mới đây, trên Facebook cá nhân, Đỗ Hùng đăng tải bài viết ngắn, một status về lễ 2 tháng 9 dùng toàn dấu sắc nhằm đả kích và xuyên tạc về ngày này. Chuyện gì tới đã vội tới, người quyền lực đã ra lệnh cách chức và thu hồi thẻ nhà báo của anh phóng viên đầy tài năng. Quyết định trên cũng gửi cho cơ quan An ninh A 87 Bộ Công an và Ban Tuyên giáo Trung ương.
Chuyện không có gì phải náo động. Thử đọc xem một đoạn văn chỉ sử dụng toàn dấu sắc của Đỗ Hùng:
Quốc khánh
Lúc ấy, Thế chiến (thứ mấy tớ đéo nhớ), Đế quốc đánh với Phát-xít. Phía Phát-xít, Thống chế chết. Đám tướng tá, lính lác đánh đấm kém, chết hết đéo sót mấy mống. Phía đế quốc thắng lớn. Thế chiến kết thúc.
Chớp lấy cái thế ấy, bác Ái Quốc, tướng Giáp với mấy chú, mấy mế xứ Pác Bó vác cuốc, vác giáo mác, vác súng ống xuống đánh Phát-xít, đánh Pháp, cướp lấy khí giới, cướp thóc, chiếm bót, cứ thế đánh tới bến. Đánh tới cuối tháng 8, bác Ái Quốc thắng lớn. Bác ấy với các chú kéo xuống Giáp Bát, chiếm phố, chiếm lấy bót Phát-xít, chiếm hết. Hết đánh đấm, bác ấy nói: “Các chú thắng Phát-xít, thắng Pháp, quá xuất sắc”.
Tới tháng 9, bác ấy xuống phố bố cáo quốc khánh. Bác ấy nói: “Đất nước hết chiến đấu, hết đói kém. Phát-xít cút. Đế quốc Pháp cút. Các mế, các chú, các cháu bé hết khóc lóc. Thế giới bác ái…”
Nói tới đó, bác Ái Quốc thắc mắc: “Bác nói thế các chú, các mế, các cháu có thấy quá lí nhí?” Bá tánh phía dưới đáp: “Chúng cháu thấy bác nói rất lớn. Nói thế quá tốt!”
Tướng Giáp đứng kế đó thét lớn: “Quyết chiến quyết thắng!” Bá tánh đáp: “Quyết chiến quyết thắng!”
Hết! (Chúc các bác Quốc khánh sướng nhé!)
Nhà báo Đỗ Hùng
Chỉ một đoản văn khôi hài đen như trên, Đỗ Hùng có thể đối mặt với bản án tù tội vì “nói xấu chế độ”, bôi bác lãnh tụ. Có kẻ bảo, đây là giọt nước cuối làm tràn ly, vì được biết vào năm 2011, nhà báo Đỗ Hùng từng tham dự nhiều cuộc biểu tình chống Trung quốc. Và kẻ ấy than: Đấy là một cái chết lãng xẹt!
Nếu người ta xem 12 người chết trong toà soạn tuần báo Charlie là thứ kỷ lục bi thảm nhất, thì người ta cũng không quên Việt Nam là một trong những nhà tù lớn nhất dành cho giới ký giả khi họ còn đang giam nhốt trên 16 phóng viên.
Đỗ Hùng chết có lãng xẹt? E không sai. Nhưng dẫu sao anh ấy cũng dạy cho những con cừu biết cách sử dụng chữ viết. Hôm nay không cho xài dấu sắc thì ngày mai anh nên thử dùng dấu huyền xem sao. Rồi chơi dấu hỏi. Chơi dấu ngã. Bí quá, khôn ba năm dại một giờ, buộc lòng ta chơi dấu nặng: Toạ hoạ chuyện lộn xộn, vật vạ tội trạng. Đợi chạng vạng mụ Đội thụi nội tạng. Đụ mạ. Thiệt nặng nghiệp! Việt với Nạm!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.