Ba dòng nước mắt

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

December 20, 2008   

Post by Sơn râu 21 Jul 2026

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhận đuợc thư Bình, thằng bạn thân tình từ thời nối khố. Nó là đứa cuối cùng trong đám bọn tôi rời xa đất nước, vừa mới được sang định cư bên Mỹ theo diện HO 31. Lá thư chỉ vỏn vẹn mấy dòng:

“Tao đã đến Mỹ vừa đúng hai tuần. Ở đây ồn ào và ngột ngạt quá, tao muốn tìm một chỗ bình yên. Mày có cách nào giúp tao sang Bắc Âu với mày. Bởi tao nghe mày kể bên ấy dù có buồn và mùa đông khá lạnh, nhưng cuộc sống yên bình, thích hợp cho những người cần một nơi để chửa trị những vết thương khó lành được trong lòng.

Tao đang có nhiều vết thương, và cũng đang có nhiều điều rối ren không giải quyết được. Rồi có dịp tao sẽ tâm tình với mày sau. Bây giờ, bằng mọi cách mày giúp tao sang đó với mày. Càng sớm càng tốt..”

Hơn một tháng trước, Định đã báo cho tôi biết việc Bình sẽ sang Mỹ. Nó đã phụ giúp vợ Bình sẵn sàng tất cả mọi thứ để đón Bình. Định còn bảo khi nào Bình đến Mỹ rồi, nó sẽ báo để tôi sang thăm. Ba thằng gặp lại, tha hồ mà kể chuyện xưa. Vậy sao bây giờ vừa mới đoàn tụ vợ con, Bình lại muốn sang Bắc Âu với tôi, một nơi xa tít mịt mùng?

Gọi điện thoại cho vợ Bình và Định nhiều lần, nhưng không ai bốc máy. Hôm sau tôi vào sở xin lấy trước một tuần hè, và đặt vé máy bay sang Mỹ.

Bọn tôi là ba thằng bạn thân từ những ngày mới lớn. Cùng học một lớp ở trường làng, rồi lên trường huyện. Điều đặc biệt là tên của ba thằng đều có vần “inh”. Trong lớp bạn bè thường gọi bọn tôi là Ninh-Bình-Định, mặc dù cả ba thằng chưa hề biết quê quán của Quang Trung đại đế, cái nơi nổi tiếng “con gái cầm roi đi quyền” đó nó ra sao. Tuổi thơ ở nhà quê khá nhọc nhằn, nhưng lại có biết bao kỷ niệm êm đềm của những ngày câu cá tắm sông, những trận bóng sôi nổi trước nhiều khán giả là đám con gái cùng trường, mà trái banh chỉ là những trái bưởi rụng nhặt được phía sau hè. Rồi cả ba thằng được may mắn vào thành phố Nha Trang học trung học. Dù khác lớp nhưng cùng vào một đội bóng của trường. Đội bóng bao lần chiếm giải quán quân. Sau khi đậu tú tài, nhìn thấy con đường học hành sao mà xa xăm diệu vợi quá. Muốn học thêm phải khăn gói vào tận Sài gòn, trong lúc kinh tế gia đình đang lúc khó khăn. Không đành lòng bắt cha mẹ phải còng lưng thêm chút nữa, ba thằng rủ nhau vào lính. Làm đơn tình nguyện vào binh chủng không quân, bởi hình ảnh những chàng phi công hào hoa đi mây về gió, trong bộ đồ bay, khăn quàng cổ tím, đã là thần tượng của bọn tôi từ lâu lắm. Vậy mà chỉ có riêng tôi là mộng ước không thành, vì thiếu thước tấc, bị loại ngay vòng khám sức khỏe đầu tiên. Hai thằng bạn được toại nguyện, nhưng không vui. Vì kể từ hôm nay, không còn “chúng mình ba đứa” nữa. Tôi tiễn hai thằng đến Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân nằm bên bờ biển Nha Trang, rồi một mình khăn gói vào Sài gòn học tiếp.

Khi bọn nó sang Mỹ học phi hành, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Cứ vài tuần tôi nhận thư từ bên Mỹ. Nhìn tấm ảnh hai thằng chụp trước cổng trường, hoặc đứng bên cạnh một chiếc F 5, tôi thấy thèm cái oai phong của tụi nó. Sau khi về nước chỉ có thằng Bình đươc lái phản lực A-37 cho một phi đoàn đóng ở Biên Hòa, còn thằng Định thì ra phi đoàn trực thăng tận ngoài Vùng 1.

Tôi ra trường, được bổ sung về một tiểu đoàn tác chiến đang làm lực lượng lưu động cho Quân Đoàn, rày đây mai đó, gần như chỗ nào có trận chiến là tôi có mặt. Vậy mà so với mức độ hiểm nguy, chết chóc, chẳng nhằm nhò gì với cái chuyện đi bay của thằng Định. Bởi phi đoàn của nó chuyên thả và bốc những toán biệt kích delta trong các vùng địch. Sau một chuyến công tác, nếu may còn sống, được thưởng một số tiền và mấy ngày phép xài chơi. Bao nhiêu lần nó thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Nó bảo đúng là đạn tránh nó. Nhờ vậy mà nó là thằng thường có mặt ở thành phố Nha Trang. Cứ sau một lần thoát chết, nó trở về đây, còn tôi và thằng Bình, cả năm chỉ được một tuần “anh về với em rồi anh lại đi”. Có lẽ  nhờ vậy mà nó có khá nhiều mối tình để kể cho bọn tôi nghe mỗi lần có dịp gặp nhau, hay bất ngờ liên lạc được trên các tần số không lục.

Nhưng rồi trong ba thằng, tôi lại là thằng bước lên xe hoa trước nhất. Thằng Định vẫn muốn thoải mái đi mây về gió, không bị vướng chân vướng cẳng, còn thằng Bình thì khá kín miệng nên chuyện tình duyên của nó bọn tôi cũng mờ mịt lắm.

Một lần tiểu đoàn đổ quân xuống Ninh Hòa lúc hai giờ sáng, khi cả cái thị trấn nhỏ này còn đang say ngủ. Đại đội tôi được chỉ định vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau, quần áo chỉnh tề, tôi rủ thêm hai thằng bạn lính vào một ngôi  nhà phía trước “thăm dân cho biết sự tình”, không ngờ “hồn lỡ sa vào đôi mắt em”, đôi mắt nai tơ của cô bé chủ nhà. Đám cưới tôi có mặt cả hai thằng bạn nối khố, và hai thằng đều tình nguyện làm phụ rể.

Ba năm sau, Định lên chức quan ba, được thuyên chuyển về một phi đoàn đóng ở Pleiku làm trưởng phòng hành quân, nên chúng tôi có nhiều dịp gặp nhau, khi ở thành phố, khi thì trong các cuộc hành quân trực thăng vận. Lâu lâu nó tình nguyện bay tiếp tế cho đơn vị tôi, thả cho tôi vài ký thịt tươi và chai rượu đế. Mùa hè 72, tôi bị thương ở căn cứ Võ Định, Kontum. Suốt hơn hai tuần bị địch bao vây và pháo kích nặng nề, tôi nhận lệnh phải mở đường máu rút quân ra, nhưng vết thương nặng ở chân phải của tôi là một trở ngại lớn cho đơn vị.  Trong lúc Định đang bay chiếc CNC (trực thăng chỉ huy), nhưng đã điều động hai chiếc võ trang (gunship) bắn nghi binh và yểm trợ, rồi một mình nhào xuống bốc tôi trong lưới đạn phòng không dày đặc. Chiếc trực thăng bị nhiều vết đạn mà bọn tôi vẫn an toàn. Mặc dù nó dày dạn kinh nghiệm và bay rất tài ba, nhưng đúng là đạn đã tránh nó, như nó vẫn thường ba hoa với đám bạn bè.

Chỉ có thằng Bình là “số đẻ bọc điều”. Từ A-37 nó chuyển sang lái F-5, nhưng vẫn quanh quẩn ở Biên Hoà, rồi Cần Thơ. Nó là thằng đẹp trai và ít nói. Trước đám con gái, tôi và thằng Định thì líu lo chuyện dưới biển trên trời, còn nó chỉ ngồi cười mỉm. Có lẽ nhờ vậy, mà sau này nó âm thầm về Nha Trang và cua dính Mỵ Khê, một cô bé răng khểnh khá xinh ở trường Nữ, mà ngày xưa cả ba thằng đều quen biết, bởi đã từng thách nhau cùng đạp xe theo “tán”, sau các buổi tan trường.

Mỗi lần về Nha Trang thăm bồ, nó đều rủ tôi và Định bay về Nha Trang với nó một vài hôm. Lúc này chiến trường Tây Nguyên khá sôi động, phi đoàn Thần Tượng ở Nha Trang có một biệt đội trực thăng tăng cường cho Pleiku, mà hầu hết các chàng pilot đều là bạn thân của Định, nhờ vậy mà tôi và Định về Nha Trang dễ dàng như đi chợ. Có khi chỉ ở Nha Trang một đêm, rồi sáng hôm sau lại có mặt ở chiến trường. Những lần gặp nhau, đều có mặt Mỵ Khê. Cô bé học trò trường nữ ngày xưa bây giờ đã là cô giáo. Nhưng có lẽ đi dạy học chỉ để làm kiểng, bởi cô ta là con nhà giàu. Ông bà già có mấy tiệm buôn trên đường Độc Lập. Mỵ Khê được nuông chiều, nên ngay cả chuyện bếp núc cũng không rành. Lần nào gặp nhau ở nhà nàng, bọn tôi cũng chỉ được mời một món duy nhất mà nàng rất tự hào do chính tay mình nấu: cháo trắng ăn với hột vịt muối.

Cuộc tình này cũng kéo dài đến mấy năm. Không phải để tập làm sao “đừng nhìn nhau mà cùng nhìn về một hướng” như lời khuyên trong sách, mà vì cha mẹ Mỵ Khê rất tin vào bói toán. Tuổi tác của hai người chưa thể kết hôn.

Cuối cùng, đến mùa hè 73, thì cuộc tình dài này cũng kết thúc bằng một cái đám cưới khá linh đình ở nhà hàng La Frégate. Khách khứa lên đến trăm người.

Lần này chỉ có thằng Định được làm phụ rể, còn tôi bị loại khỏi vòng chiến bởi “xác thân đã nhuốm mùi trần tục”, một vợ mấy con, nên được thằng Bình giao cho cái chức tiếp tân, chỉ đứng mỉm cười đón khách.

Đúng là thằng Định có số đào hoa. Không biết tài tán gái thế nào mà sau đám cưới, tôi đi tìm nó khắp nơi, cuối cùng bất ngờ gặp nó ôm chặt cô bé phù dâu xinh đẹp, ngồi ngoài bờ biển. Có lẽ đúng như mấy ông bà già thường nói “lắm mối tối nằm không “, đến ngày mất nước thằng Định đào hoa nhất bọn vẫn cứ còn độc thân.

Tháng 3-75, miền Trung mất vào tay giặc, Định theo phi đoàn di tản về Nha Trang rồi Biên Hoà. Trong cái cảnh dầu sôi lửa bỏng này nó gặp lại vợ chồng Bình. Sau một ngày với bao nhiêu phi vụ hiểm nguy, tối đến hai thằng lại bù khú mày tao mi tớ với nhau như cái thời còn đi học. Mỵ Khê, bà xã của Bình cũng vừa sinh được cô con gái đầu lòng, nên căn cư xá lúc nào cũng rộn rã tiếng cười hoà lẫn tiếng khóc của trẻ thơ. Nhờ vậy mà hai thằng phi công cũng bớt được phần nào những ưu tư lo lắng trong giờ phút lâm nguy của chính mình và đất nước.

Sau những trận đánh lẫy lừng của các đơn vị ở Long Khánh, cũng chỉ có khả năng cầm chân địch hơn một tuần. Biên Hoà bỏ ngỏ. Phi đoàn của Bình nhận lệnh đem máy bay xuống phi trường Trà Nóc tránh pháo. Bình nhờ Định đưa vợ con về Tân Sơn Nhất, cùng ở tạm trong cư xá, nhà của một thằng bạn cùng khoá, sau mấy lần bị thương, không còn khả năng phi hành nên về làm trong Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân.

Ngày 29.4, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích liên tục. Tình hình nguy ngập, cả phi đoàn của Định chỉ còn lại vài chiếc trực thăng. Anh em trong phi đoàn ngồi lại tính chuyện bay ra hạm đội Mỹ đang chờ ngoài biển..

Trong lúc bạn bè chạy ngược xuôi tìm chỗ cho vợ con, chỉ có Định là một thân một mình nên chẳng lo lắng gì, ngoài cái tâm trạng bực tức, chán chường. Định liên lạc với Bình, báo cho biết việc phi đoàn của nó sẽ bay ra hạm đội, bảo Bình thu xếp gấp về Sài gòn để kịp đưa vợ con đi. Định bảo là nó được dành ba chỗ trên tàu, vừa đủ cho vợ chồng Bình và một đứa con nhỏ. Nhưng Bình từ chối, bảo là vùng 4 còn an toàn, phi đoàn phản lực của nó được đặt dưới quyền của tướng tư lệnh Nguyễn Khoa Nam. Bình chỉ nhờ Định lo cho vợ con nó đi cùng. Tùy tình hình nó sẽ đi sau.

Khi Định và vợ con Bình đến đảo Guam hai ngày,thì biết tin Sài Gòn thất thủ. Định đi tìm Bình khắp nơi nhưng không thấy. Người ta bảo có lẽ Bình đã bay sang Thái Lan.

Ngày tôi khăn gói đến địa điểm trình diện “học tập cải tạo” bất ngờ gặp Bình. Trong cái cảnh “nước mất nhà tan” này mà có được một người bạn thân thì cũng vơi được nỗi buồn. Nó kể là anh em trong phi đoàn không đành rời căn cứ trong lúc hai ông tướng quân đoàn vẫn còn ở lại sống chết với anh em. Sau khi hai ông tự sát, thì tình hình đã quá muộn màng, địch quân bao vây, pháo kích dữ dội vào phi trường, nên anh em chỉ còn kịp phá hủy một vài hệ thống trên phi cơ.

Ở tù chung trong trại tù An Dưỡng Biên Hòa gần một năm, khi chuyển ra ngoài Bắc mỗi thằng bị chia mỗi ngả.

Ra tù, tôi ghé lại thăm gia đình Bình. Ông già nó qua đời, chỉ còn bà mẹ và cô em gái, nhưng nhà cửa được xây lại khang trang và cuộc sống khá sung túc so với những người khác trong vùng. Mẹ nó bảo tiền bạc do vợ Bình gởi về đều đặn. Bà còn khoe mấy tấm ảnh của vợ con Bình được phóng lớn treo trên vách.

Đúng một năm ra khỏi tù, tôi vượt biên. Trong trại tỵ nạn Bataan, bên Phi, khi chuẩn bị lên đường định cư thì nhận tin Bình được thả về. Nhưng chỉ vài tháng sau thì lại được tin nó bị bắt khi tổ chức vượt biên. Mãi đến tám năm sau nó mới lên đường sang Mỹ theo diện HO. Tôi định chờ một vài tuần để nó tạm ổn định cuộc sống và gia đình, tôi sẽ bay sang thăm vợ chồng nó và thằng Định, thì bất ngờ nhận lá thư này của nó.

Máy bay đáp xuống phi trường Fayetteville, North Carolina lúc 9 giờ rưởi tối. Một phi trường nhỏ ở một nơi tôi hoàn toàn xa lạ. Anh tài xế taxi người da đen chở tôi chạy lòng vòng qua những rừng thông hoang vắng càng làm đầu óc tôi căng thẳng, lúc nào cũng trong tư thế “ứng chiến” để đối phó với những điều bất trắc. Cuối cùng thì anh ta cũng tìm tới được địa chỉ nhà Bình. Trong nhà tối om. Cổng khoá chặt. Tìm chuông cửa nhưng không thấy. Tôi mở bóp tìm địa chỉ của Định, nhưng lâu nay viết thư cho tôi, Định chỉ dùng P.O.Box. Tôi hỏi anh tài xế taxi tên một motel gần nhất. Tôi viết vài chữ lên tấm giấy nhỏ, bảo Bình đến tìm tôi ở motel ấy, rồi gắn lên cửa.

Trưa hôm sau, người đến tìm tôi không phải là Bình, nhưng là ông già vợ của Bình. Tôi chỉ gặp và nói chuyện với ông vài lần trong ngày đám cưới của Bình, nhưng nhận ra ngay. Mặc dù bây giờ ông già hơn xưa, nhưng có tướng đẹp lão. Và vẫn còn hàng ria mép. Ông bảo chính Mỵ Khê nhờ ông đi đón tôi. Trên đường đưa tôi về nhà, ông cho biết là ông đang làm chủ một khách sạn nhỏ và một nhà hàng. Ở cách xa nhà vợ chồng Bình chừng hai mươi phút lái xe.

–  Tội nghiệp, vợ chồng nó đang có chuyện buồn. Chuyện phức tạp quá nên hai bác đã cố gắng hết sức nhưng không giải quyết được. Cháu là bạn bè thân, hy vọng cháu nói bọn nó nghe.

–  Cháu muốn được nói chuyện riêng với bác trưóc khi gặp vợ chồng Bình.

Tôi muốn biết rõ ràng việc gì đã xảy ra với vợ chồng Bình, để biết cách ứng xử sao cho thích hợp.

Ông già của Mỵ Khê quay xe lại, tìm đường rẽ sang một hướng khác. Hơn mười phút sau, ông dừng xe trước một nhà hàng Á châu.

– Cháu vào đây với bác. Nhà hàng này là của bác.

Ông bảo người con gái đứng trong quày mang cho tôi một phần ăn, và một tách trà cho ông, rồi kéo tôi ngồi xuống một cái bàn nằm riêng trong góc. Ông bảo tôi cứ dùng cơm tự nhiên, rồi bắt đầu tâm sự:

– Hai bác thật là buồn và khó xử, chẳng biết phải tính làm sao. Khi thằng Định đưa con Mỵ Khê, vợ thằng Bình sang Mỹ với đứa con chưa tròn một tuổi. Một thân một mình nơi xứ lạ quê người, tất cả từ việc lớn đến việc nhỏ gì nó cũng trông cậy vào thằng Định. Mà Định quả là thằng chí tình với bạn bè, Nó hết lòng lo lắng cho vợ con thằng Bình, mê chuyện học hành mà đành phải bỏ, đi làm hai ba ca để vừa có đủ tiền lo cho mẹ con Mỵ Khê, mà còn gởi về Việt Nam giúp gia đình thằng Bình sau tháng 4/75 trải qua bao năm túng quần. Rồi cũng chính nhờ thằng Định giúp việc bảo lãnh gia đình bác từ Việt Nam sang Mỹ đoàn tụ với mẹ con Mỵ Khê. Nhưng rồi tất cả cũng vì Bác mà gây nên cớ sự. Trước khi rời Việt Nam, hai bác có ra chào vợ chồng anh chị sui gia, là ba má của thằng Bình. Ông bà khóc lóc kể cho bác biết là có tin do vợ một người bạn cùng tù với Bình vừa ra thăm chồng ngoài Bắc về, bảo là Bình đã bị bắn chết trong một lần trốn trại với mấy người bạn tù khác nữa ở biên giới Lào. Chính vì vậy mà hai bác khuyên con Mỵ Khê nên tiếp nối với Định, bởi bao nhiêu năm nay nó đã hy sinh ở vậy để tận tình lo lắng cho mẹ con Mỵ Khê, và cháu Lina, con của Bình cũng xem Định như là cha của nó. Hai bác tâm tình khuyên mãi, tụi nó mới làm đám cưới. Sống với nhau hơn mười năm, tụi nó có hai đứa con, thì mới nhận được tin là thằng Bình vẫn còn sống, chỉ bị thương nhẹ, rồi đem đi biệt giam ở một trại tù nào khác, không ai biết. Từ ngày ấy thằng Định buồn ghê lắm và lúc nào cũng ngồi thơ thẩn một mình. Nó giấu việc này không dám nói với thằng Bình, và cũng chính nó phụ với hai Bác gởi tiền về giúp đỡ gia đình Bình và lo cho Bình sang Mỹ theo diện HO.

Tôi đưa tay xin ngưng lời bác.

–  Bây giờ thằng Định đang ở đâu thưa Bác?

– Trước ngày thằng Bình sang đây, thằng Định mang hai đứa con của nó với  Mỵ Khê sang đây nhờ hai bác mướn người giữ hộ, rồi “mu” qua Hawaii. Con Mỵ Khê khóc lóc, bảo nó cứ ở lại đây, khi nào thằng Bình sang Mỵ Khê sẽ nói chuyện với thằng Bình, thằng Bình sẽ hiểu được bao điều khúc mắc và chắc sẽ không buồn. Hai bác cũng giải thích cho nó biết, dù sao thằng Bình với con Mỵ Khê cũng đã xa cách quá lâu, và sự việc xảy ra là do bao nhiêu nghịch cảnh đẩy đưa, chứ Định là một thằng tốt bụng, hết lòng chung thủy với bạn bè. Hai bác cũng sẽ nhận trách nhiệm này trước mặt thằng Bình, khi nó tới đây.

–  Rồi cuối cùng ra sao, thưa Bác?

–  Vợ chồng bác khuyên giải suốt cả mấy ngày liền, nhưng nó vẫn không nghe, nó xin lỗi hai bác và con Mỵ Khê, rồi nhờ bác trao lại cho thằng Bình một lá thư. Nó xin được phép dán lá thư lại nên hai bác cũng chẳng biết nó viết cái gì trong đó. Khi đến Hawaii, nó có gọi phôn về cho bác, bảo đang chạy taxi với một thằng bạn cũ. Chút nữa bác sẽ cho cháu số phôn của nó, để cháu liên lạc khuyên giải nó hộ bác.

Bác chở tôi lại trước nhà vợ chồng Bình, bỏ tôi trước cửa, chỉ tôi cái chuông điện nằm kín phía bên trong cánh cửa, rồi lái xe về. Bác bảo là để đám trẻ bọn tôi gặp nhau sẽ được tự nhiên hơn.

Người ra mở cửa là Mỵ Khê. Vừa nhận ra tôi, Mỵ Khê nắm chặt tay tôi, nhoẻn miệng cười, nhưng lại bật khóc ngay sau đó. Mỵ Khê đưa tôi vào nhà, chỉ cho tôi nơi Bình ở, căn nhà sau, chung vách với gara xe. Tôi gõ mấy lần, cửa mới mở.

Sau bao nhiêu năm hai thằng bạn thân từ thời nối khố gặp lại nhau, nhưng đều không vui, ôm lấy nhau mà lòng dạ bùi ngùi.

Suốt đêm hôm ấy tôi ở trong phòng Bình, nhưng hai thằng không ngủ, nằm tâm sự thâu đêm.

Tôi chưa  biết phải nói điều gì với Bình, thì Bình mở đầu tâm sự.

–  Khi biết việc này, tao có bất ngờ, và dĩ nhiên cũng buồn ghê lắm. Nhưng chỉ sau một đêm suy nghĩ, tao lấy lại được sự bình thản, và nghĩ là Mỵ Khê đã thuộc về Định, và hai người rất xứng đáng trong tình yêu, trong cuộc hôn nhân mới này. Tao phải cám ơn thằng Định, đã hết lòng cưu mang vợ con tao và cho Mỵ Khê một gia đình hạnh phúc, một chỗ dựa vững chắc trên xứ lạ quê người. Hơn nữa tao và Mỵ Khê xa cách khá lâu, trong lúc nàng đã hội nhập vào xã hội Mỹ này từ lâu rồi, còn tao bây giờ cũng đã già, lại là một thằng quê mùa, bệnh hoạn, mà vết thương trên thân xác cũng như trong lòng tao vẫn chưa lành được.Tao tự biết mình thực tình không còn thích hợp, không còn xứng với nàng. Tao cũng đã tâm tình với Mỵ Khê và điện thoại cho thằng Định, nói hết nỗi lòng. Mong nó trở về đây. Cháu Lina, con gái của tao cũng nhớ nó mà khóc cả ngày. Tao hiểu, con bé còn xa lạ với tao lắm. Mà nó xa lạ là phải. Không dễ dàng gì cho một cô con gái đã hơn 20, không hề biết mặt cha từ lúc mới năm tháng tuổi, bây giờ phải chấp nhận một ông cha bất ngờ từ trên trời rơi xuống

– Thế rồi vợ mày và thằng Định tính sao?

– Mỵ Khê thì chỉ khóc và im lặng, còn thằng Định thì nhất quyết trả Mỵ Khê lại cho tao. Nó còn bảo là nó nhớ tao lắm, nhưng không muốn gặp tao.

–   Bây giờ mày tính sao? Tao sẽ giúp được gì cho tụi mày?

–   Tao nhờ mày. Chỉ có mày có thể giúp tao trong lúc này. Mày đưa tao qua Hawaii gặp thằng Định và tâm tình giải thích để nó trở về với vợ con tao.

–   Còn mày thì sao?

–   Tao một thân một mình. Nếu mày kéo tao sang Na Uy ở với mày là phúc cho tao. Có mày tao sẽ dễ quên bao nhiêu chuyện đau lòng. Còn nếu không được thì tao lang thang đâu cũng được. Lâu lâu kiếm được tiền tao lại ghé về đây thăm cháu Lina, cho dù trong lòng nó, có lẽ tao chưa hề là cha của nó.

Ba thằng bọn tôi lại gặp nhau, qua bao nhiêu năm chia cách cùng những dông tố trong đời. Ôm nhau mừng rỡ mà sao nghẹn ngào, không ai nói nên lời, chỉ có nước mắt chảy dài trên má. Ngày xưa, thằng Định là đứa ba hoa, khôi hài nhất trong bọn, vậy mà cũng không mở miệng để nói một lời, dù chỉ là một chữ hello, mà nó đã thường xài từ lúc còn ở Việt nam, mỗi khi gặp bạn bè.

Không biết lúc này trong đầu hai thằng bạn đang nghĩ điều gì. Riêng tôi đang hình dung tới cuộc chiến bi thảm mà kẻ chiến thắng lại là những con người tàn ác nhất đã tạo nên bao chia ly tan tác.

Sáng nay, chủ nhật, mùa đông Bắc Âu khá lạnh. Tôi thức giấc đã lâu nhưng còn đang trùm chăn nằm nán trên giường thì nghe điện thoại reo. Bốc ống nghe chưa kịp hỏi là ai, thì nghe bên kia đầu giây giọng nói quen thuộc của thằng Định:

–   Hello! Ninh ơi. Có thằng Bình đây, nó muốn nói chuyện với mày.

Tôi nghe giọng nói yếu ớt nhưng rất vui của Bình:

–  Bình đây. Gọi thăm vợ chồng mày và báo cho mày một tin vui. Tao đang ở nhà vợ chồng thằng Định đây. Vừa từ bệnh viện về. Vợ chồng Định lên tận Houston tìm thăm tao, báo tin cháu Lina bị bệnh rất nặng cần phải thay gấp một quả thận. Bác sĩ cho biết cách tốt nhất là lấy thận của nguời cùng huyết thống, nên tao theo Định và Mỵ Khê bay xuống North Carolina ngay để kịp thời lo cho cháu. Bác sĩ bên này giỏi thật. Mọi việc tiến hành nhanh chóng. Bây giờ đã xong xuôi. Cháu Lina cũng đã khỏe lại. Đáng lẽ tao đã về lại Houston, vì tao vừa mới mở cái tiệm giặt ủi, do vợ chồng thằng Định giúp vốn, vợ chồng nó cũng vừa mua cho tao một ngôi nhà nhỏ, ở bên cạnh hai thằng bạn cùng phi đoàn với tao ngày trước, nhưng vợ chồng nó nhất định giữ tao lại. Cả cháu Lina nữa. Nó cũng muốn có nhiều thời gian để tâm tình với cha của  nó. Mày cố gắng bay sang đây với tụi tao cho vui.

Chưa kịp trả lời, tôi lại nghe giọng nói của đàn bà:

–  Ông bà qua đây để tôi còn đãi món cháo trắng ăn với hột vịt muối.

Tôi nghe những tiếng cười khúc khích, rồi giọng đùa nghịch của thằng Định xen vào:

–  Hello, Ninh! Mỵ Khê bây giờ nấu ăn nghề lắm đó, biết nấu cả cháo trắng tới bảy món. Vợ chồng mày nhớ bay qua sớm, không thì mất phần đó nghe chưa.

Tôi buông ống nghe, thẫn thờ nhìn ra ngoài cửa sổ như muốn tìm kiếm một điều gì. Trời mùa đông Bắc Âu phủ đầy tuyết trắng, nhưng sao trước mắt tôi đang lung linh bầu trời xanh bao la của cả một thời tuổi thơ. Cái thuở ba thằng chúng tôi vui đùa nghịch ngợm, trong lòng chưa hề vướng bận chuyện  chiến tranh kéo theo bao cay đắng cuộc đời.

Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 21 Jul 2026

“Nghìn Giọt Lệ Rơi là tựa đề một cuốn sách viết bằng tiếng Anh của bà Dung Krall, một người đàn bà trong bối cảnh khổ đau của đất nước Việt Nam và của gia đình bà. Bà khóc vì những phân chia của lòng người, ngay trong chính gia đình của Bà, một nửa theo Cha về phương Bắc, một nửa cùng với Mẹ ở miền Nam, cho đến lúc song thân Bà qua đời vẫn chưa gặp nhau, anh em mỗi người một ngả chết  cho lý tưởng riêng của mình. Đất nước chúng ta trong vòng một thế kỷ này, máu đổ xương rơi đã nhiều mà nước mắt thì khôn nguôi. Buồn thay cho những người suốt đời chưa hề biết khóc, trừ lúc mới lọt lòng mẹ, khóc để há miệng hớp chút không khí của cuộc sống trên trái đất này. Khóc chưa bao giờ là nỗi vui cả, dù ai đã viết rằng “đêm về nghe con khóc vui triền miên”. Khóc là nỗi đau đớn nhọc nhằn, khóc là nỗi nghèo khó, vất vả của một cuộc đời thường lấm lem theo cơm áo, còn cười chỉ là sự che dấu những niềm đau nỗi nhớ, những tuyệt vọng khôn cùng. Mấy ai trong đời mình được một lần khóc vì sung sướng, trong mỗi hoàn cảnh tiếng khóc còn có những ý nghĩa khác nhau. Ai khẳng định được rằng “khấp như nữ tử vu qui nhật là khóc vì vui, thì “tiếu tợ nam nhi lạc đệ thì” chính là “tiếng khóc khô không lệ”. Khóc vì đồng cảm cảnh ngộ, thấy người mà ngẫm đến ta như Thúy Kiều khóc bên mộ Đạm Tiên “thoắt nghe nàng đã đầm đầm châu sa, như Giang Châu Tư Mã khi nghe khúc đàn tâm sự trải nỗi lòng mình của người kỹ nữ trên Bến Tầm Dương một đêm khuya, mà “lệ ai chan chứa hơn người. Khóc như thế nước mắt không còn là những giọt nữa mà đã trở thành dòng tuôn rơi. Có người xa quê hương ba mươi năm đã khóc khi máy bay chạm trên đường băng sân bay của quê nhà, cũng có người khóc vì cảnh ngộ bỏ xứ ra đi sau nhiều năm, được thấy lại ngọn cờ đã cùng người vào ra sinh tử ở một nơi nào đó trên đất khách.

Chuyện nước Tàu kể Vua Cảnh công nước Tề đi chơi núi Ngưu Sơn, trèo lên mặt thành, đứng ngắm rồi tràn nước mắt vừa khóc vừa nói: “Đẹp quá chừng là nước ta! Thật là sầm uất thịnh vượng! Thế mà nỡ nào một tuổi già, bỏ nước này mà chết đi. Giả sử xưa nay, người ta sống mãi, quả nhân quyết không bỏ nước Tề mà đi nơi khác.” Như vậy, vị vua bị lưu đày bỏ thân nơi đất khách như Vua Hàm Nghi, cho tới Cựu Hoàng Bảo Đại tự lưu vong, phải chịu xót xa bao nhiêu khi nằm xuống nơi quê người, xa đất nước nghìn dặm, xa lăng mộ của tiền nhân. Vì vậy, cũng phải thông cảm cho những người già hiện nay muốn “qui cố hương” để thân già khỏi táng vùi nơi đất khách. Tháng tư là tháng của “nghìn giọt lệ rơi”. Những người phải bỏ nước ra đi như chúng ta kể từ ngày có cuộc binh biến tháng tư, đã bao nhiêu lần khóc. Chuyến trở lại Bi đông (Mã Lai) và Galang (Nam Dương) của hơn một trăm thuyền nhân chính là chuyến trở về quá khứ, trở về với chính mình. Hằng chục nghìn người Việt Nam đã qua đây, còn có mấy người nhớ lại vùng đất xa xuôi này, với những căn nhà tôn nóng bức, những con đường cát sỏi, những bờ biển vẫn nghe tiếng sóng mỗi ngày.

Còn có mấy người nhớ lại những vui buồn, hy vọng hay trăn trở trong những ngày chờ đợi. Có những đứa trẻ đã ra đời tại đây, bây giờ đã là những chàng trai mạnh khỏe, những cô gái đẹp đẽ nơi xứ người, có còn biết chăng nhau rún để lại nơi nào. Có những người đã nằm lại đây trên con đường hành trình dang đở, đành chôn nắm xương tàn cũng như bao nhiêu hy vọng, ước ao đã xây đắp nghìn người đã qua nơi đây, đã sống những ngày chờ đợi, hy vọng hay thất vọng, buồn phiền hay khổ đau. Trong số này có những người đã tự kết liễu đời mình trong tuyệt vọng, trở thành những hồn ma oan khuất không hề siêu thoát vì chí nguyện chưa thành.

Đây là nấm mộ đứa con thơ, vừa thở được chút không khí tự do đã lìa đời. Đây là nấm mộ người mẹ già,  không chịu nổi nhọc nhằn xa nguồn xa cội, mà giờ đây tiến thoái lưỡng nan. Đây là nấm mộ người chồng bất hạnh ấp ủ bao nhiêu dự tính cho tương lai, đã chịu số phận nghiệt ngã phải ngã quỵ trên đoạn đường đi, với những hy vọng tưởng chừng sắp với tới. Còn cả một mồ chôn tập thể không hương khói, xương thịt gối lên nhau, lẫn lộn vào nhau như những ngày đói khát tuyệt vọng trong một khoang thuyền nhỏ bé. Có thể họ đã nhìn thấy đất liền nhưng không tới được, đã tưởng chừng hưởng được chút tự do nhưng đó chỉ là giấc mộng. Con thuyền đã chìm khi chưa tới bến. Người ta trở lại đây để được thấy lại mình, soi khuôn mặt mình trong vũng nước của quá khứ. Đã bao năm tháng cơm áo ngựa xe, đôi khi không còn thời giờ để nhớ mình là ai, chúng ta lẫn trong đám đông những người bản xứ, nghèo hay giàu, thành công hay thất bại cũng vẫn phải chạy theo như những chiếc xe cố giữ chung một tốc độ của những xa lộ rộn ràng, chi chít trên nước Mỹ, nước Úc, nước Pháp … Không nhớ mình là ai, chúng ta không bao giờ đặt câu hỏi vì sao mình đã tới đây. Hơn một trăm người trở lại mảnh hoang đảo này để được … khóc. Khóc cho những người thân đã nằm lại, khóc cho kỷ niệm, khóc cho những ngày tháng ấy.

Cũng như vào thời điểm này, có cả nghìn thuyền nhân đã tìm cơ hội gặp lại nhau một nơi nào đó ở đất khách, để nhìn lại khuôn mặt của nhau, tay bắt mặt mừng, để cùng nghe lại chuyện xưa, cùng nhau nhìn lại đôi dấu vết cũ mà tưởng chừng họ đã quên, để cùng khóc cho một đoạn đời trong dĩ vãng. Khi đã biết khóc, chắc chắn cuộc sống của những người này sẽ thay đổi hơn, họ thấy cuộc sống vui hơn, đẹp hơn và quí giá hơn.

Người bạn của tôi! Khi đã khóc được, anh không thể nào quên được anh. Trong suốt cuộc đời mình, anh thử nhớ lại xem, đã bao nhiêu lần anh được khóc. Rồi ra chúng ta sẽ thấy giọt nước mắt cho một cuộc tình nào đó nhỏ nhoi biết bao nhiêu nếu so với những lần khóc khác là cả một đại dương. Tháng tư với những dòng nước mắt. Chúng ta khóc cho những anh hùng tử sĩ đã tìm cái chết lúc thành đã mất, quân đã tan. Khóc cho những chiến hữu, anh em, bạn bè, đồng bào ruột thịt đã bỏ mình trên đường chạy loạn, ngoài biển Đông, trong tù ngục. Xin hãy khóc đi, để thấy lại mình. Khóc đi để thấy mình chưa thành kẻ vô ơn.

Đôi dép

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 20 Jul 2026

Tôi và thằng bạn nhỏ

Hôm gánh củi xuống làng

Nổi hứng mua đôi dép

Có râu nhìn rất sang

Và rồi cuối cùng thì

Tôi nó hai thằng bạn

Đều cùng tuổi mười lăm

Ngày lên rừng chặt củi

Hay đi đào lò than

Tôi nó hai thằng nhỏ

Cùng gánh củi băng rừng

Chân quen không giày dép

Với đôi bàn chân chai

Hôm hai thằng gánh củi

Xuống tận chợ Ninh Hòa

Gánh từ kinh tế mới

Đường xa trời ơi xa

Hôm đó bỗng cao hửng

Mua hai đôi dép râu

Thằng bạn cười tít mắt

 Chân rồi sẽ hết đau

Tôi nó cùng mang dép

Nhảy chân sáo về rừng

Hôm sau mang đi núi

Ban đầu rất êm chân

Chiều về leo dốc núi

Gánh củi oằn trên vai

Mồ hôi đầm trên dép

Té hoài trầy tay chân

Gánh củi lội qua suối

Một chiếc dép rơi ra

Bực mình tôi cởi nốt

Quăng cho đủ một đôi

Thằng bạn treo đôi dép

Lũng lẳng trên đầu quang

Tôi nó cùng tiu nghĩu

Mang dép chỉ cực thân

Ôi một thời lũ trẻ

Như thú hoang trên rừng

Đạp lá gai lá bén

Chẳng khi nào chùn chân

Nhớ lại đôi dép nọ

Nhớ về rừng ngày xưa

Có hai thằng bạn nhỏ

Chân trần đi mấy mùa

Có một thời để nhớ

Có một thời để quên

Cánh đồng hoa Thẩu

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

August 30th, 2024

Post by Sơn râu 20 Jul 2026

Tranh Hồ Đắc Vũ

Từ tỉnh Mazar e sharif đi về hướng Bắc, là vùng Termez với  đường đèo hiểm trở xuyên qua dãy núi đá, nơi những trận phục kích, đánh hỏa công nổi tiếng của quân đội Mỹ trong chiến tranh Afghanistan. Termez nằm ngay biên giới Afghanistan và   . Xéo về hướng Tây Bắc là vài làng nhỏ, lọt giữa khu thung lũng hẹp, trải dài, dọc sườn núi đá.

Mặt trời vừa sáng trên dãy vách núi mù sương, khiến cái lạnh vùng núi vẫn còn tê tái trên mặt. Dưới thung lũng, những cánh đồng Thẩu (Cây thuốc phiện) đầy hoa màu hồng tía đã bắt đầu tàn, đài hoa đã lớn bằng những trái quýt.

6 giờ sáng, Zahra đã cong lưng, xới đất, làm cỏ cho những cây Thẩu trong cánh đồng nằm phía sau lưng căn nhà gỗ mục nát, vách được bít lại bằng vài tấm vải nhựa, nóc chắp vá những miếng gỗ thùng tiếp liệu của quân đội Mỹ, so le, không cùng cỡ.

– Hê! Zahra, mừng Ala!

Người hàng xóm đưa tay chào. Anh là Amir, vợ chết vì bom đạn 3 năm trước. Đang chăn một đàn dê, mới dọn tới vùng này, ở căn lều gỗ, trên những bậc đá, sát thung lũng

– Hê Amir!

– Nhờ siêng năng làm cỏ nên ruộng Thẩu của chị tốt quá!

– Năm nay thời tiết khô ráo, ít sương muối.

– Vậy là chị sẽ trúng mùa.

Zahra, ngước nhìn trời.

– Cám ơn Ala!

– Tôi có ít sữa dê và miếng phô mai cho chị.

Zahra bỏ cái cuốc chim, đứng dậy, lấy gói quà.

– Cám ơn anh! Chút nữa ghé nhà, có chục trứng gà cho anh.

Amir dùa đàn dê lên vùng đồi cỏ bên chân núi, Zahra lấy cây cuốc nhỏ, giẫy những đám cỏ dại dưới từng gốc Thẩu.

Mặt trời xế bóng đầu núi, Zahra cũng vừa xong công việc làm cỏ. Chị đứng nhìn cánh đồng Thẩu của mình…Đúng như Amir nói. Cây Thẩu năm nay xanh đậm, thân mọc thẳng, khỏe mạnh, hoa Thẩu to hơn mùa năm ngoái, nở rộ, đầy cánh đồng. Những cánh hoa màu hồng tía đã bắt đầu tàn, đài hoa to, tròn, sẵn sàng cho mùa lấy nhựa Thẩu năm nay.

Khi quân đội Mỹ rút đi và Taliban lấy được Afghanistan, cái suy sụp đầu tiên là dân chúng không có việc làm và không còn gì để ăn, chính phủ Taliban mới rất bối rối trong việc ổn định lại đời sống của đất nước sau bao năm chiến tranh. Taliban là kẻ chiến thắng, nên tệ nạn kiêu binh, lạm quyền xảy ra khắp nơi.

– Tôi đến đây xin trợ cấp lương thực.

Zahra, nói với anh Taliban trẻ, đang ôm khẩu AK, đứng trước cửa văn phòng “Dịch Vụ Công Dân Taliban”

– Chị có thể chứng minh điều kiện của mình.

Zhara đưa ra tấm hình màu vàng ố, chụp chung với Abdul, người chồng đã qua đời, trong bộ đồ đen, đứng dưới lá cờ Taliban, tay đưa cao khẩu AK.

– Chồng tôi là chiến binh anh hùng của Taliban… Đã chết cho Taliban.

“Utan, đẩy chiếc xe bán nồi, chảo, bằng nhôm đúc, phía trên treo những ly, bình đựng nước xách tay, can nhựa, sát đáy xe là quả đạn cối 81, cưa đầu, gắn ngòi nổ, nút kích hỏa nằm trong ống tay áo rộng của anh. Theo kịch bản của trùm khủng bố Taliban vùng Termez. Utan kéo chiếc xe vô phiên chợ mỗi thứ Năm trong cái làng lèo tèo chừng 20 gia đình ở phía Tây Nam thị trấn Balkh, rao bán đồ nhà bếp. Cũng nơi đây, 2 tiểu đội lính rừng của Mỹ thường tuần tiễu vùng Termez, và trên đường về, hay nghỉ chân bên cái giếng nước trong làng, nơi có quầy bán dưa hấu, dưa gan ướp đá lạnh. Abdul, giả làm người mua hàng, tới sát Utan, anh đang lựa chiếc can đựng nước 20 lít, trả giá tới lui. Khi thấy 2 tiểu đội lính Mỹ ngồi nghỉ bên quầy bán dưa hấu đã dựng những khẩu súng vô bức tường gạch, nói chuyện bâng quơ với cô bán cam xinh đẹp Zahra từ bên kia bức tường, thì Abdul và Utan cùng đẩy mạnh chiếc xe bán nồi vô đám lính Mỹ, Utan giựt kíp nổ, đám lính Mỹ chết ngắt khi đang ăn dưa hấu.”

Nhưng.

Abdul nói nhỏ.

– Thằng kia đã dựng khẩu đại liên vô vách, 2 thằng M79 cũng vậy… Chuẩn bị Utan!

Abdul kéo miếng ny lông che đầu đạn cối, kiểm tra lần cuối.

– Tấn công!

Abdul và Utan quay chiếc xe vô đám lính Mỹ, Abdul, Utan đưa 2 càng xe lên cao, đẩy mạnh, xe chạy nhanh, nhưng một bánh bị cong, chiếc xe ẹo qua trái.

– Rầm!

Đầu xe đụng mấy viên gạch che chung quanh cái giếng lộ thiên, thùng nhựa văng khắp nơi, chiếc xe rớt xuống giếng, kéo theo Abdul và Utan.

– Bùm!

Quả đạn cối nổ! 2 anh chết tươi dưới đáy giếng, còn Zhara thì chết cứng, đứng sau quầy bán cam, nhìn chồng mình về chầu Ala.”

Anh Taliban trẻ cười.

– Vậy là 2 người đó không hoàn thành nhiệm vụ được Taliban giao phó!

– Nhưng anh ta một chiến sĩ Taliban thứ thiệt!

– Tôi khuyên chị, nên làm việc kiếm sống, Taliban sẽ không trợ cấp gì…

Anh xuống giọng.

– … Những ông lớn đang ăn chia trợ cấp! Khó tới tay chị lắm!

Anh nhún vai.

– Tôi! Taliban đã 3 năm! chỉ món tiền lương ít ỏi với 4 lít sữa, 2 ký thịt dê cho mỗi tháng… Và tôi còn người mẹ mù lòa phải nuôi dưỡng.

Zahra thở một hơi dài, xả hết nỗi thất vọng, chị quay đi.

– Ê! Chị kia!

Tay Taliban râu xồm, bụng bự, mặt bộ đồ lính đen, nón bê rê đen, có vẻ là cấp chỉ huy lớn, ló đầu ra khỏi cửa, kêu lớn.

Zahra, quay lại.

– Chị vô văn phòng.

Zahra, theo ông ta vô văn phòng. Trong căn phòng máy lạnh mát rượi, một bàn làm việc, một kệ đầy những chai rượu Mỹ, dưới đó là một cái giường nệm, 2 gối phẳng phiu.

Ông ta chỉ tay.

– Ngồi xuống ghế… Chị uống gì? Whiskey, Coke? Hay whiskey pha Coke?

– Dạ! Coke.

Ông rót ly rượu, lấy lon Coke lạnh ngắt, đặt trước mặt Zahra.

– Dạ! cám ơn.

Ông tằng hắng, bước tới, chống hai tay vô bàn, cúi sát mặt chị.

– Tôi nói thẳng, bớt mất thì giờ… Nếu chị bằng lòng ở với tôi…

Zahra, sặc ngụm coke ra bàn.

– Tôi sẽ ký giấy trợ cấp của Taliban cho chồng chị 100 đô 1 tháng…

Zahra, lắc đầu.

– Xin lỗi!

– … Tôi sẽ làm cho chị một căn nhà đàng hoàng…

– Dạ không!

– … Tôi trợ cấp riêng cho chị 200 đô mỗi tháng…

– Không! Tôi không làm được!

– … Nội trong ngày mai, 10 người lính sẽ tới ruộng Thẩu lấy hết nhựa cho chị.

Zahra, ném lon Coke vô tường, đứng dậy.

– Không bao giờ!

Cô đạp cửa, bỏ đi.

Anh lính Taliban trẻ đứng bên ngoài lắc đầu, dộng cây súng AK xuống đất.

Trời đã ấm lại từ sáng sớm. Những nông dân mặc vải thô trắng, đầu quấn khăn, tay cầm cây dao nhỏ, lưỡi cong, bắt đầu lấy nhựa trên các cánh đồng Thẩu dọc theo thung lũng đầy nắng. Tới mùa lấy nhựa, các nông dân làm thuê tụ lại thành một nhóm, cùng lấy nhựa Thẩu. Họ bắt đầu từ các cánh đồng bên phải, cho tới hết bên trái. Chủ cánh đồng phải lo ăn uống cho các nông dân, từ buổi sáng cho tới chiều tối, và trả món tiền lương lao động thời vụ khi xong công việc.

– Nhưng tôi không có đủ tiền để lo bữa ăn và trả công cho các bạn… Tôi nghèo lắm.

Những người nông dân ái ngại nhìn Zahra.

– Rồi ai sẽ giúp chị?

– Tôi sẽ tự làm lấy…

– Làm sao chị có thể xong công việc, với cánh đồng lớn như vậy? Nếu để lâu, mủ Thẩu sẽ già đi, khiến cho nhựa tươi có vị đắng… Bán mất giá!

– Tôi sẽ lấy nhựa liên tục trong 3 ngày liền…

Sáng hôm sau, mặt trời vừa qua khỏi núi đá bên thung lũng, rải lớp nắng vàng trên những cánh đồng Thẩu xanh tươi. Các nông dân đang nhanh tay cắt Thẩu, lấy nhựa. Xa hơn, về cuối thung lũng, trên cánh đồng gần chân núi, là Zahra, người đàn bà mặt chiếc áo choàng vải thô đã bạc màu, đang lấy nhựa Thẩu một mình. Chị cầm chiếc dao nhỏ có lưỡi thép cong, cứa vài đường xéo trên từng đài hoa, những giọt nhựa màu trắng tươm ra, lăn chậm xuống dọc thân, chỉ trong vài phút, gió và nắng đã biến những giọt nhựa trắng thành lớp nhựa đặc quánh, màu nâu đậm, lớp nhựa nguyên thủy, chưa tinh lọc của thuốc phiện. Cắt được chừng vài trăm cây thì đã tới chiều, cũng đúng lúc cho lớp nhựa màu nâu trên đài hoa Thẩu khô lại. Zahra, lấy chiếc dao bầu, lưỡi ngắn bằng bàn tay, cẩn thận cạo lớp nhựa nâu trên từng đài Thẩu, bỏ vô chiếc hộp thiếc đeo bên hông. Đây là nhựa Thẩu khô, nông dân thường gọi là “Thuốc phiện Mẹ”.

Đúng như những người nông dân nói, Thẩu của Zhara năm nay được mùa, mới làm được chừng 1/4 cánh đồng, mà số lượng nhựa đã quá nhiều. Zhara vui trong lòng, chị ngồi xuống bờ ruộng, lấy cục phô mai dê trong túi, kẹp miếng bánh mì khô, ăn chiều.

– Hê! Zahra! Mừng Ala.

– Hê! Amir!

– Tôi tới đây giúp chị lấy nhựa Thẩu… Mình có thể làm suốt đêm, cho đến khuya, đã có sẵn 2 đèn soi.

Đêm đó, trăng lưỡi liềm ló ra sau dãy núi đá, trải lớp sáng trắng lạnh suốt thung lũng. Zahra đeo đèn soi trên đầu, lấy nhựa Thẩu cho tới 10 giờ tối.

Về tới nhà, Zahra mở nắp hộp thiếc lớn, dùng con dao đẩy hết số nhựa Thẩu vô hộp. Chị cầm chiếc hộp lắc nhẹ.

– Chắc cũng được 3 ký…. Mỗi ký nhựa Thẩu tươi hiện nay là 100 tới 150 đô … Vậy là năm nay trúng mùa… Vậy là cuộc sống đỡ vất vả, chật vật hơn năm ngoái…

Zahra đốt ngọn đèn dầu, treo trên vách, múc thùng nước mưa, đổ đầy chiếc thau lớn, tới giường, mở hộc tủ nhỏ, lấy cục xà phòng, cái khăn lớn, kéo chiếc ghế thấp, chị ngồi lên, cởi chiếc áo choàng màu trắng, loang lổ những vết ố của nhựa Thẩu, 2 tay Zahra mở nút chiếc áo ngực móc lên thành ghế, cúi xuống tuột cái quần lót, màu da nâu hồng của Zahra lồ lộ trong ánh đèn dầu vàng đục. Chị bước vô thau, múc lon nước lớn, ngửa mặt, xối vô mái tóc cắt ngắn, nước tuột xuống, chạy thành những đường dài, lăn qua bộ ngực căng cứng, vòng xuống chiếc bụng thon…

– Rầm!

Cánh cửa trước tung ra. Zahra mở mắt, tay chụp cái khăn lớn, che người.

Trong ánh trăng hắt vô lờ mờ, tay Taliban râu xồm đứng sừng sững.

Zahra lui vô góc nhà, lấy chiếc ghế, đưa ra trước mặt.

– Không! Đừng tiến tới… Tôi đánh.

Ông ta bước nhanh, đưa tay gạt mạnh, chiếc ghế văng đi, Zahra chụp cái nồi nhôm trên vách.

– Tao đã nói!… Nếu mày cho tao … Mày sẽ có cuộc sống sung sướng hơn mọi người…

– Không đời nào!

Zahra la lên.

– Amir! Amir! Cứu tôi! Amir!

Trong cơn bấn loạn chị kêu cứu, nhưng làm gì có ai đến cứu Zahra ở vùng núi mông quạnh vào giờ này.

Tay Taliban nhào tới, Zahra đập cái nồi vô đầu ổng, ông lắc đầu.

– Chống cự vô ích! Cho tao đi… Sẽ yên chuyện!

Ông chụp lấy chiếc khăn tắm, kéo mạnh, Zahra xoay một vòng, đứng trần truồng, ẩn hiện trong ánh đèn trên vách.

Tiếng chân chạy vô nhà, Amir la lớn

– Zahra! Có chuyện gì?

Tay Taliban râu xồm rút chiếc dao rừng đeo sau lưng, làm cái rẹt.

Amir té xuống, đầu quẹo qua một bên trong vũng máu lan ra, anh chết, trước khi biết chuyện gì.

Zahra phóng ra cửa, chạy nhanh vô đêm tối trước mặt, ông Taliban râu xồm rượt theo.

Zahra trần truồng cắm đầu chạy, cô không biết mình đang chạy đi đâu, chỉ chạy để thoát khỏi cơn động tình thú tính của tay Taliban, Zahra chạy… Chạy… Chạy thục mạng vô màn đêm tối thui trước mặt, bỗng chị nghe tiếng lào xào của lá, những nhánh cây bật vô người tanh tách, rát rạt. Zahra đứng lại, thở hổn hển… Nhìn quanh… Ủa? Ánh trăng lưỡi liềm lấp lánh trên những cây Thẩu thẳng đứng…Chị đã chạy tới cánh đồng Thẩu. Zahra trần truồng, run rẩy nhưng cảm thấy an toàn trong cánh đồng thân yêu của mình, chị quỳ xuống ôm những cây Thẩu vô người.

– Zahra! Mày không thoát được đâu! Chịu đi! Cho yên thân sung sướng!

Và như một con sói, không biết từ đâu, Taliban râu xồm chụp mạnh vô người Zahra, ông kéo chị tuồn tuột tới khoảng trống, nơi những cây Thẩu bị chặt xuống nằm đầy mặt đất, dày như một lớp nệm, nơi chị và Amir đã lấy nhựa hồi chiều. Tay Taliban đổ ập xuống, Zahra thấy khó chịu đưa 2 tay chụp vô lớp cây Thẩu đã khô nằm bên người, chị cong người, lấy hết sức chồm dậy, 2 tay đâm những cây Thẩu đã cắt, vô mặt ông Taliban, những cây Thẩu khô, cứng lại như mũi tên gỗ đã đâm vô mắt ông ta. Ông bật ngửa ra sau.

– Ah! Ah….Chết tao… Con dê cái… Mày sẽ chết!

Ông ta lăn lộn, Zahra đâm túi bụi vô mặt, vô người ông Taliban râu xồm. Chị trần truồng chạy về nhà, kéo xác Amir ra sân, lấy chiếc đèn dầu trên vách.

Đêm đó, cánh đồng Thẩu bị đốt, cháy rụi, nướng chín tay Taliban râu xồm, sau đó căn nhà ọp ẹp của Zahra phát hỏa, ra tro trong vài phút,

Sáng hôm sau, vài nông dân ở xa tới đây làm nghề lấy nhựa Thẩu, nói với nhau.

– Cánh đồng Thẩu của chị Zahra trúng mùa… Cháy uổng quá!

Và họ cũng không bao giờ thấy bóng dáng của Zahra từ hôm đó.

HĐV

Bia không ôm

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 20 Jul 2026

 Con đường mang tên một vị thánh. Saint Nicholas. Thành phố này có không dưới ba mươi vị. Ông thánh, bà thánh nằm đó đây, cắt ngang nhau, chồng lên nhau, nối tiếp nhau và đa số quần tụ trên vùng đồi cao. Xe buýt nặng nề leo dốc, máy nổ lớn và cảnh vật bên ngoài trôi qua từ tốn, quen mặt. Những ngọn đèn luôn thắp sáng trước một tảng màu diêm dúa có treo hình cô gái khỏa thân đứng cheo leo trên mái che, những bậc cấp uốn lượn dẫn lên một dãy sân tennis có rào lưới chắn bên ngoài. Xe sẽ dừng ở trạm đổ, nơi ngã tư luôn tụ gió và cái bảng đường mang tên St-Nicholas đứng run chân dưới ụ đất vun nhiều cỏ dại với hoa vàng lưa thưa.

 Lữ đi lại trên lộ trình này không biết bao nhiêu lần. Mỏi mòn tới độ có thể ngồi ngủ gà ngủ gật một giấc ngắn để khi mở mắt ra, xe buýt vừa tấp sát vào lề, thả Lữ xuống đúng nơi chốn, cũ một lập trình. Lữ yêu cái màu xanh nhợt nhạt đong đưa bóng trải bị thu bé giữa hai hàng cây rậm lá, con số 40 nằm trên tấm bảng trắng nhằm lưu ý quý vị lái xe chớ nên đạp ga chạy vội mà làm chi. Cuối đường rồi cũng tới với nắng chan hoặc mưa vụng trút.

 Lữ đọc trên mặt báo địa phương một cột tin nhỏ: Thử nghiệm ở bến xe đò, cho phát thanh nhạc giao hưởng cổ điển để thế rock’n roll luôn gào thét, trong vòng tuần lễ, mức độ cướp giật và những hành vi phạm pháp gia giảm hẳn. Lữ kể lại cho Vân nghe khi cả hai ngồi bệt trên cỏ trong một buổi chiều yên ả và đứng gió. Nhà hàng xóm không còn gửi ra tiếng cười đùa của con trẻ, sợi dây căng phơi áo quần có máng tấm drap dài lết phết, dật dờ như cánh buồm nhác chơi của con thuyền lạc phương hướng giữa biển lặng. Trôi từ đâu lại mơ hồ tiếng dương cầm dìu dặt, vướng víu trên những bụi hoa cúi đầu bên hàng rào thấp. Những nốt nhạc rời đi, ẩn chứa thứ nỗi niềm khiến người nghe phải vọng tưởng ra nhiều điều.

 – Tại sao Lữ kể chuyện đó ra? Vì nghe được tiếng đàn rã rượi?

– Cũng có thể, nhưng sau hết nó mang chút liên quan. Những người trú ngụ trên con đường mang tên một vị thánh hình như có ảnh hưởng đôi phần. Hiền lành, ít nói và hơi khép kín.

– Đừng tưởng tượng.

– Ở quê nhà người ta sống bất an trên những địa danh Cách mạng tháng tám, Đồng khởi, Xô viết Nghệ tĩnh chưa đủ để chứng minh?

 Lữ ngưng nói, phân tâm vì tiếng đàn không dưng dừng lại, câm bặt. Những câu chuyện giữa Lữ và Vân đôi khi cũng tựa tiếng đàn khuất mặt ấy. Trỗi lên vu vơ, không đầu đuôi, gần mà xa, để ngưng đọng trong tẻ nhạt.

– Vân thích nhạc khích động không?

– Chẳng thích nhưng vẫn nghe. Người mình giống như bộ máy xe hơi vậy, chạy hoài ở một tốc độ tựa nhau là điều cần tránh, làm yếu bộ máy ấy đi. Chiều nào cũng nghe từ nhà hàng xóm vọng ra tiếng nhạc trầm buồn, thú thật Vân cũng hơi oải.

– Thử vào nhà mở một đĩa nhạc rậm rật lên xem không khí có thay đổi?

 Vân đứng lên, quay người đi tới cửa, chiếc váy màu vàng như vệt nắng cuối chiều rút vội vào khung đen án che. Lữ vén tay áo nhìn xuống mặt đồng hồ, thời gian luôn đi mau cho những đôi tình nhân, nó cũng vội vã không kém với riêng Lữ. Tấm bảng ấn định 40 cây số một giờ cắm ngoài kia vô tình đã là cái cớ để Vân ứng xử trong vận hành tình bạn giữa hai đứa. Song hành chậm chạp, không dẫm chạy trên đường biên, chưa đến lúc chúng ta phải gia tăng tốc độ. Người lái xe biết tuân thủ những biển báo quy định, kẻ ấy chẳng bao giờ gặp tai nạn?

 Vân trở ra, cô đi chân trần, tay cầm lon nước ngọt và cánh cửa mở đàng sau thủy chung vẫn tĩnh yên không một âm thanh khuấy động.

– Uống nước đi. Ba má Vân sắp về rồi.

Lữ chẳng đón nhận thức uống, Lữ đưa tay ra chỉ để bao phủ những ngón của Vân. Rờ rịt, rồi cảm nhận cái lạnh giá băng đang lan truyền. Có những đôi nhân tình không cần phải thốt bye, see you…một trong hai đứa sẽ tự hiểu thời điểm để quay lưng. Ba má sắp về là ảnh hình của cánh cửa sẽ đóng chặt, là lời chào tạm biệt không tiện nói ra.

 Lữ bước giữa lối mòn xuôi về bờ lề xi-măng, Lữ sững ngó tấm bảng đóng cọc trên bãi cỏ của một công ty địa ốc mua bán nhà cửa. Với Lữ, đó là bóng dáng chiếc xe xăm xăm chạy vào ngõ cụt và rồi thì nó chết máy liền khi.

 Lữ giật chuông làm hiệu khi xe buýt chạy qua hình vẽ sáng đèn cô gái tóc vàng khỏa thân. Lần này thì có một thay đổi nhỏ. Lữ đọc ra hàng chữ bóng lộn nhảy múa: “Hơn hai mươi vũ nữ trần truồng liên tục xuất hiện trên bục với vô vàn tiết mục đặc sắc. André kính mời”. Đường này mang tên gì hở ông André? Ông làm cách mạng và thay tên đường Lucifer rồi chăng? Hay đường Satan?

 Xe dừng để hoán đổi khách, kẻ lên người xuống. Những xác lá vàng không yên thân luôn xô giạt, trời sang mùa và Lữ co ro dẫm vào lối quen.

– Xin lỗi, có phải anh là người Việt?

Lữ quay mặt lại, người con gái luôn ngồi nhấp nhổm thắt thỏm hoang mang cũng đã xuống tới và đang chạy đuổi kịp Lữ.

– Anh biết đường Nicholas có nằm gần đây không?

– Là con đường chúng ta đang chôn chân.

Mặt cô gái ửng đỏ, nhưng mà Lữ biết là do thời tiết mang lại chứ chẳng phải ở nguyên nhân nào khác. Tay cô nắm một vuông giấy, không là bản đồ, nhưng thỉnh thoảng cô vẫn ngó vào đó.

– Ở đây có vẻ kín cổng cao tường. Anh biết nhà số 911 nằm ở đoạn nào không?

– Biết. Tôi đang đi tới con số khẩn cấp nằm lòng ấy.

– A, hay quá. Anh là gì của Vân?

Người con gái reo lên, vỡ ra thứ tiếng trẻ con ngồi trong cửa hàng McDonald’s cạo tấm vé trúng được cái hamburger free. Cô đi sát vào Lữ với sự cả tin rất hồn nhiên.

– Chỉ là bạn. Còn cô?

– Là láng giềng khi xưa ở Việt-nam. Tôi mới qua và Vân hứa sẽ tặng cho một đống đồ dư thừa.

 Lữ bước khoan thai, khác với lệ thường. Chậm chân cũng chỉ háo hức chờ nghe thêm những tin tức khác. Thứ tin thường lạ lẫm của người đang xào xạc chân khua vạn dặm khởi từ gốc gác của sự đến. Lữ nhớ tới những buổi uống bia cùng bè bạn diễn ra trong căn nhà trọ chôn thấp hơn mặt đường tựa một cái hầm tránh bom đạn. Khói thuốc đặc quánh, ngọn đèn vàng hiu hắt trên đầu, độ lượng cho thêm nhiều bóng đen ngồi quây quần xôm tụ: Mấy ông à, chỉ còn chờ đợi chuyện lạ đến từ những cô gái chân ướt chân ráo vừa ở quê nhà sang tới. Tình yêu, tui thấy đó là món hàng treo đàng sau cửa kính với giá tiền cao ngất ngưỡng trời ơi đất hỡi! Có đứa gằn giọng: Biết người ta ngu ngơ chưa kịp hoàn hồn thì bèn nhào tới chơi trò lợi dụng sao cha nội? Bất lương cũng vừa phải thôi chớ!

– Trời lạnh quá! Người con gái nói khi so vai rụt cổ.

– Chưa đâu. Lạnh này chỉ mới là lạnh nháp thôi, bữa nào nó mới thiệt tình bước tới, để có muốn than van cũng không xong khi cứng miệng chẳng mở lời được.

– Anh đang đe nẹt hù dọa đấy hở?

– Không, cô chưa nghe bài hát của dân tình chốn Québec này đó thôi. Mon pays c’est hiver. Mùa đông, trời ạ, bạc trắng cả tấc lòng trong sáu tháng nửa năm.

– Anh đã trải qua bao nhiêu cái bạc trắng nọ?

– Tôi chẳng nhớ chính xác. Hình như hai mươi sáu, hai bảy gì đó.

– Gia đình anh đều sang tuốt đây?

– Không. Tôi, chỉ một mình ên. Không rõ tôi may mắn hay bị chịu hình phạt lưu đày.

– Sao anh lại nói vậy? Tôi và Vân là hai đứa bạn thân, mỗi khi nhận được quà hoặc xem ảnh Vân gửi về, anh biết tôi đã từng ước nguyện điều gì không? Giá mà được gặp lại Vân, tôi sẽ chịu làm tôi mọi cho ai có công mang tôi đi.

– Và bây giờ? Người nào đã có được chức ông chủ diễm phúc kia?

Người con gái cười thành tiếng. Cô đã cởi bỏ được chút co ro trong bộ dạng.

– Tôi đi theo diện bảo lãnh. Tôi có ông anh trước kia du học ở đây. Vân chưa từng nói cho anh nghe về một người mang tên Bảo?

 Lữ lắc đầu. Bảo, cái tên nghe xa lạ nhưng cũng thật quen thuộc. Gọi dạ bảo vâng. Hay bão với dấu ngã, như đường ta đi nhiều giông bão quá.

 Khi bước hẳn khỏi lề đường, tiếng đàn dương cầm nhặt khoan xô tới. Bùi ngùi, Lữ nhấn chuông rồi nép người sau lưng cô gái, mái tóc dài rối ấy gây cho Lữ thứ cảm nhận mơ hồ về bàn chân đứng của mình chẳng thể thích hợp với nơi chốn. Váng vất chút lạc lõng, lúng túng hơn cả người vừa từ Việt-nam sang tới.

 Người mở ra cánh cửa dầy nặng là Vân. Lữ đọc được trong mắt Vân tràn đầy cả niềm vui, và nó chỉ phủ lấp tới người con gái. Hai người ôm nhau, òa vỡ những tiếng cười tròn trịa, và rồi thì xô đẩy nhau, tựa hạnh phúc quá thì ta chỉ có mỗi một động tác nọ để chia sẻ; chẳng biết làm gì hơn.

– Tao đâu ngờ nhà mày đẹp đến dường này, không có anh đây dắt lối dám tìm hoài chẳng ra.

– Anh Bảo có lại không?

– Dĩ nhiên rồi, biểu tao đến trước trò chuyện với mày, còn anh thì đi mướn chiếc xe van để tha đồ đoàn cho dễ.

 Vân nói Lữ đóng cửa kẻo gió lùa, lạnh. Tiếng đàn bị nhốt bên ngoài và trong nhà, Lữ nhìn ra nỗi trống vắng của những vật thể bị dời đổi. Mẹ của Vân từ nhà bếp đi lên, nhìn Lữ thăm dò rồi quay sang han hỏi người bạn của Vân. Qua đối đáp, Lữ biết ngoài tình láng giềng xưa cũ, hai gia đình họ vừa thắt chặt thêm mối liên hệ khác.

– Hồng, qua phòng bên này đi, tao đã lựa sẵn phần dành cho mày đây.

– Ừ, thích gì thì cứ lấy. Có dọn nhà mới thấy, đồ đoàn đâu mà lắm thứ. Còn cậu này thì sao?

 Câu nói đuổi sau lưng Vân, vọng dội trong phòng kín. Lữ đứng yên một đống ra đó, là món đồ đã buộc kín giây nhợ và nếu vất được thì có lẽ là thứ đáng dụt bỏ trước tiên. Vân sẽ dọn tới một khu vực khác, căn nhà này rộng quá so với gia đình Vân và nó vừa có người mua với giá cao. Bởi thế Vân ưa làm một buổi tiệc nhỏ gọi là tiếp nhận bạn mới tiện thể giã từ nơi chốn cũ. Một bữa tiệc mà kẻ đến sớm được tiếp đãi với ngộ nhận: Quét nhà ra rác, thích gì thứ cứ lấy. Nếu thích Vân tôi lấy có được không?

 Có thứ mùi lạ chờn vờn, nó cứu Lữ thoát khỏi sự bức rức khi mẹ Vân vội chạy tới nơi phát ra hương mùi. Thịt đút lò già lửa, nồi thịt hầm trào bọt, gà nướng khét? Dẫu là món gì thì khi nấu nướng ta cũng nên dọn lòng mà ân cần lân la với ông Táo, còn hơn phó mặc nó cho củi lửa để khoanh tay thẩm định tên thực khách đứng xớ rớ kia.

 Còn lại một mình, Lữ bỏ ra ngoài trời với đôi chân thèm được sãi bước. Lữ bước xuống khỏi triền cỏ ẩm, trông xuôi ngó ngược con đường đang bắt đầu làm mặt lạ với Lữ, chẳng có lý do gì để mai này Lữ dẫm chân lên nó, giết qua những cuối tuần nhạt trôi, chẳng định hình. Một cô gái tóc nâu đang khom mình móc sợi dây dài vào cổ con chó đen. Người và chó tuồng như đang chuẩn bị một cuộc đi dạo. Chó luôn vẫy đuôi, còn người thì lần hồi gài kín những hạt nút áo. Lữ bước lại gần, rất đỗi buồn miệng:

– Hèn gì tôi không nghe được tiếng đàn. Cô chơi piano rất hay, ý tôi muốn nói, tiếng đàn như mang theo nó một cái gì đó, khó cắt nghĩa.

Người con gái ngước đầu lên, những sợi tóc mềm và màu mắt xanh đang như thẫm ánh chiều tà. Những ngón tay suông dài luôn xoa vào đầu con chó có bộ mặt hiền từ.

– Cám ơn. Sao ông biết tôi chơi đàn?

– Tôi cũng không biết, có lẽ do ở linh tính, tôi chưa một lần nhìn trộm qua cửa kính.

– Tôi cũng vậy. Biết láng giềng là người châu Á, nhưng chưa bao giờ tôi trông ra mặt ông.

 Cô gái nói tiếng Pháp chậm, rõ. Và Lữ, khi sử dụng ngoại ngữ anh dễ dàng dối gạt, láo khoét hơn là dùng tiếng mẹ đẻ. Buồn cười một điều là Lữ ít khi đỏ mặt nếu ba hoa bằng tiếng Tây.

– Tôi làm việc bù đầu, sáng đi chiều về và có thể cái thời khóa biểu ấy không trùng với sinh hoạt của cô. Tôi tên Lữ.

 Lữ cà khịa. Cố phát âm thật rõ một cái tên “đậm đà bản sắc dân tộc” khi nhìn xuống con chó. Ở bên nhà, ba anh có nuôi một con giống thế và đặt tên Lu.

– Tôi tên Christine. Hình như ông sắp phải dọn đi nơi khác?

– Đúng thế. Tôi sẽ lấy vợ và ba má tôi quyết định mua một căn nhà nhỏ hơn để ở, phải xa vùng đất dễ mến này rồi.

– Xin chia vui cùng ông.

– Điều ấy cũng có nghĩa là trong tương lai tôi sẽ phải chịu hy sinh, đánh đổi lấy cho mình một sự mất mác.

– Lấy vợ, đơn giản là làm phép cọng chứ ai lại làm toán trừ như ông nói.

– Tôi hết nghe thầm vụng tiếng đàn thánh thót của cô.

 Christine cười, bán diện được ánh sáng thoi thóp tô đường viền và hậu cảnh là khúc đường đang có lá rơi, thứ hình ảnh dường như chỉ có trên màn ảnh rộng, có nghĩa là mang đầy hư ảo.

– Cô chuẩn bị dắt chó đi dạo?

– Có rỗi việc thì đi cùng tôi, nếu ông muốn.

– Tôi có người anh. Ông ấy đã khiến lỗ tai tôi biết thẩm thấu, xiêu đổ bởi âm nhạc của Stravinsky. Le sacre du printemps. Tôi cũng mang cảm tình cho những đoạn của Brahms và chính cô là người nhắc nhớ tôi về những kỷ niệm cũ. Có phải vì thế mà tiếng đàn trở nên mê hoặc khi tình cờ mình được nghe?

– Có lẽ vậy, bởi vì tài nghệ của tôi chỉ tới ngang một âm vực nào đó thôi, vấp váp, chưa thoáng đạt. Hầu như tôi chưa hề đón nhận một lời khen, ngoại trừ ông.

– Ở xứ tôi có thành ngữ: Hát hay không bằng hay hát. Cô hiểu ý tôi không?

– Ông có thường đọc nhật báo hoặc theo dõi tin tức trên đài truyền hình?

– Loan tải về tin gì? Một cuộc thi thố tài năng piano?

– Không. Ông thấy căn nhà sơn màu xanh lục bên kia đường? Nửa tháng trước xảy ra án mạng ở trong đó.

 Lữ nhìn qua ngôi nhà, nó đang bị chôn bằng vô vàn xác lá chẳng ai vun quén. Những cánh cửa gỗ đóng kín, thân cành cây leo bám chằng chịt như muốn xâm thực toàn bộ mặt tiền vôi lở. Âm u và có khả năng nhốt chặt tất cả những hoài nghi.

– Mình quay về chưa?

– Ông thấy khó chịu phải không? Tôi đến thăm người bạn và đã tới nơi, ông về một mình nhé, cám ơn đã đi cùng tôi một đoạn đường.

 Lữ đốt một điếu thuốc, bởi chẳng còn ai để chuyện vãn. Điếu thuốc tàn lụn khi Lữ về đứng ngay lối vào. Lữ sẽ bước tới, sẽ ngồi xuống bàn tiệc, sẽ mang vụ án rùng rợn từ căn nhà màu lục về, thong thả kể tới cái chết của cô gái tuổi xuân xanh, thi thể trần truồng và cảnh sát tình nghi đó là hậu quả của mối tình tay ba. Mọi người sẽ tái mặt, sẽ nghi ngờ tên tường thuật. Có đứa sẽ hỏi, cớ sao anh kể chuyện ấy ra trong ngày vui này, bộ hết trò rồi sao, anh có hậu ý gì?

 Ô cửa gương nơi nhà bếp sáng đèn, nó tựa một cái TV màn ảnh nhỏ. Tuy không lớn nhưng nó đang tải khúc phim tình thật rõ nét, thật chi li và đoạn phim ấy buộc chân Lữ phải cắm đứng trên cỏ. Đôi trai gái ôm siết thân để hôn nhau sát bên tủ lạnh, bàn tay đứa con trai lùa sâu vào trong váy rộng của cô gái. Những con dao nằm gần, từ bé đến lớn thảy đều run rẩy, chớp sáng thứ màu lạnh ngọt của kim loại. Thằng con trai chắc tên Bảo, Lữ tin vậy, vì mặt nó rất giống cô em, mang tên Hồng. Còn đứa con gái thì nửa quen thuộc nửa xa lạ đối với Lữ. Không tin được là Vân, sao Vân lại đành lòng nhắm mắt táo tợn đánh rơi con tim luôn tính toan.

Lữ bước ra đường, đi một mạch tới ngã tư luôn tụ gió bốn hướng đổ về. Sau giờ hành chánh, vã lại cuối tuần, lịch trình những chuyến buýt sẽ chạy thưa ra. Buồng điện thoại công cọng sáng ngọn đèn xanh, tái mét. Lữ băng qua con lộ có vẻ vắng ngắt xe cộ, hun hút, thênh thang. Năm mươi xu và bảy con số lần lượt được nhấn vào. Chuông reo, tiếng chuông vọng vào tai đứt khoảng, rời rã. Kêu cho tới hồi chấm dứt sự thúc hối.

– A-lô…

– Tao, Lữ đây. Mày bận không?

– Có chuyện gì sao?

– Đếch có chuyện gì cả. Nếu không bận thì tới chỗ thằng André ngồi với tao.

– André nào?

– Hơn hai mươi vũ nữ trần truồng. Biết chốn ấy chăng?

– A. Thằng này có tiến bộ đó chớ. Được lắm.

– Mất bao lâu?

– Cúp máy là dọt ngay. Tới liền, tới liền.

 Đường tới chỗ đồi trụy xuôi đổ, ngược với xe buýt mỗi khi leo lên thảy đều gầm rú với khói đen. Nếu mọi lối đi đều buông xuôi đổ thân như thế này thì cơ thể nhẹ nhàng đỡ nhọc biết mấy mà kể.

Lữ đưa năm đồng cho tên mặc com-lê thắt nơ đen trịnh trọng đứng chực sau cửa. Hắn dềnh dàng đi dẫn lối, vai u thịt bắp lồ lộ dù không cần phải cởi quần áo ra minh chứng, chủ tiệm sẽ ngầy ngà. Ai cho mày khoe của chốn này, ưu tiên cho nữ quyền, biết không con? Cám ơn, chúc một đêm tốt lành. Hắn nói. Những cái răng trắng hếu lộ ra dưới ánh đèn ma mị. Thứ lân tinh phủ chụp để biến những động vật đi lại kia hóa kiếp thành đàn đom đóm lập lòe chợt sáng chợt tối. Nhạc kích động mở hết công suất làm những cái loa to dềnh dàng phải đàn hồi thì thụp 1000 W vỡ bờ, điếc con ráy. Một con đom đóm cái thơm nức mũi lượn tới, cọ quẹt vào người Lữ bằng thứ rung động tình cờ.

– Uống gì hả ông anh?

– Bia, xin vui lòng.

– Có tới hai mươi nhãn hiệu khác nhau…

– Thứ gì cũng trôi.

Lữ nói gần như hét bên đôi bông tai phát sinh mùi hương trần tục. Cô ở trần theo nội quy phải tuân và cô sở hữu cái báu vật đẹp trên mức trung bình. Cô có dáng đi mà nếu mang vào người hai bình nước không đậy nắp thì buộc lòng thủy sẽ hao, nước chảy khô dòng mới chịu thôi. Lữ nhớ lời bình phẩm của đứa bạn có tật ngứa tay ưa tìm hiểu người lạ chốn lạ: Chốn này thua bên mình ở một điểm. Bia mà không ôm. Vào đó thì xem như ngồi trên giếng mà khát nước, ông láng cháng cầm lòng không đậu để tháy máy tay chân thì nó quẳng xác ông ra ngoài đường ngay, đôi một cái rầm chẳng vị nể mình mẩy đui què mẻ sứt.

 Ở trên bục nhảy đặt giữa căn phòng có đứa con gái vừa lăn lộn vừa tháo bỏ miếng vải nhỏ, thua cả cái khăn mù-soa, nó ném cái vật che thân tối hậu kia vào mặt một thằng đàn ông đang hả miệng ra ngó. Nạn nhân cười khoái trá khi nhặt được, trùm vào đầu, cột ở cổ, lau ở mặt, hôn ở mũi và sau rốt ngồi thừ người ra, như thể bị chuốc bùa mê thuốc lú. Lữ mường tượng tới bàn tay của thằng Bảo khi lùa sâu vào chiếc váy Vân mặc. Lữ trả tiền chai bia vừa mang tới với bàn tay tự dưng run rẩy.

– Có bán bia ôm không?

Mái đầu cúi thấp, ngang tầm Lữ ngồi để lắng nghe rõ hơn. Ấm áp, thơm tho.

– Cái gì? Nhãn bia của nước nào? Chưa hề nghe qua.

 Lữ quay đầu, nhớn nhác. Đứa bạn vẫn chưa đến. Hắn từng nói, bia nội địa ở Việt-nam uống khá lắm. Hắn có vẻ thông hiểu nhiều chuyện. Tết này, cái thằng người rành đường đi nước bước kia lại có mặt tại Sài-gòn, hắn sẽ lò dò đi thăm thú những tụ điểm trá hình lành mạnh. Hắn sẽ… tới bến. Mẹ mày, có sung sướng thì cũng chừng mực nào đấy thôi. Hãy nhìn tao mà noi gương. Lữ sững mặt ngồi ngó những cánh bướm di động vây quanh. Hoang mang, chấp chới. 

Hồ Đình Nghiêm

Xương rồng

Lâm Chương

Post by Sơn râu 20 Jul 2026

Khuôn viên nhà ông Nguyễn được bao bọc bởi một hàng rào bằng cây xương rồng. Hàng rào bằng tường, kẻ trộm có thể leo. Hàng rào bằng kẽm gai, kẻ trộm có thể cắt. Nhưng hàng rào bằng cây xương rồng với những gai nhọn chi chít thì vô phương vượt qua. Sự phòng thủ chắc chắn như thế đã quá lắm rồi, ông còn nuôi thêm một con chó. Loại chó berger to lớn, hung dữ lạ thường. Nó là khắc tinh của những bóng đen rình mò dòm ngó nhà ông vào những đêm tối trời. Ông Nguyễn tin ở chó, không tin ở người. Bởi lòng người trí trá tinh ma, hành động sói chồn quỷ quyệt. Ông đặt tên chó là Dự Nhượng, cái kiểu đặt tên nghe cũng lạ đời. Có người hỏi, ý nghĩa là gì? Ông nói, xưa ở bên Tàu có thằng Dự Nhượng theo thờ Trí Bá. Triệu Tương Tử giết chết Trí Bá, lấy đầu lâu làm đồ đựng rượu. Dự Nhượng đôi phen liều thân muốn giết Tương Tử, báo thù cho Trí Bá. Chuyện không thành, Dự Nhượng phục gươm tự sát. Trên đời khó tìm được một thằng ngu đến thế. Lại hỏi, đó là người trung thành có nghĩa, sao gọi là ngu? Ông cười, đạo nghĩa là ảo tưởng khôi hài dành cho thằng ngu. Thằng khôn chỉ nói đến cái lợi. Khi nói đến cái lợi thì không nói điều tín nghĩa. Lý luận của ông, nhiều người ghét. Họ bảo, ông thuộc loại người mặt chuột mỏ dơi là thứ gian hùng đĩ miệng bán đứng thiên hạ như chơi. Cũng có người từng chịu ơn ông thì bảo, đấy là cái khôn ngoan sâu sắc của kẻ lịch đời.

Ai nói gì thì nói, ông Nguyễn vẫn sống an nhiên. Với gia sản hiện có, ông không cần phải làm gì nữa, ngồi không mà ăn mãn đời cũng không hết. Kho đụn nhỏ hơn lòng tham con người. Kho đầy mà lòng vẫn muốn thêm. Biết đủ là đủ. Gạn lọc những câu nói của người xưa, ông đắc ý nhất câu này. Ông bôn ba nhiều rồi, đã đến lúc dừng lại. Dừng lại và gìn giữ của cải để an hưởng tuổi già. Thế nhưng gìn giữ cũng không là chuyện dễ. Người thiên hạ khốn nạn lắm. Sơ ý là chúng xông vào quơ của. Nhìn mặt thằng nào, ông cũng thấy tiềm ẩn cái nét gian manh xảo trá. Dù chúng có nói những lời đường mật, ông cũng không tin. Kinh nghiệm cuộc đời chó má, dạy ông luôn phải đề cao cảnh giác. Cái gương soi đời bẩn thỉu cho ông nhìn thấy có những bà vợ âm thầm đầu độc chồng để cuỗm trọn gia tài theo trai. Kẻ đầu ấp tay gối mà còn nhẫn tâm đến thế, ông còn dám tin ai? Đàn bà, ông mê bóng sắc của loài mắt xanh mỏ đỏ này, nhưng lại sợ nó còn hơn chằn tinh thú dữ. Vì sợ nên suốt đời ông không chính thức kết hôn với người đàn bà nào. Tiền trao cháo múc sòng phẳng, dứt khoát không vướng mắc tình cảm vào mình. Con nào léo nhéo đòi hỏi trách nhiệm hoặc bêu riếu danh dự ông, ông chỉ cần quăng ra một ít tiền khiến cái đám vô lại bịt mồm khóa họng nó.

Ngoài con chó, nhà ông Nguyễn có nuôi một thằng người làm vườn, và một con bé giúp việc. Trong cái cơ ngơi rộng lớn, chỉ chứa ngần ấy con người. Chuyện trong nhà không lọt ra tai hàng xóm.

Thằng người làm, ông Nguyễn gọi thế, chứ thật ra là một người đàn ông tuổi cỡ bốn mươi. Tên hắn là Thổ. Không biết tên đã có từ trước hay do ông Nguyễn đặt. Ông nhặt hắn từ một góc chợ tồi tàn nào đó. Ngày ấy, hắn gầy rạc như con bọ ngựa trời, bèo nhèo như miếng giẻ rách. Về tay ông một thời gian, được ăn uống no đủ hắn mau chóng phục hồi sinh lực. Thân hình vạm vỡ, thích hợp với những công việc nặng nề. Hắn thuộc loại tâm trí trì độn, không hề có một sáng kiến nào cả, nhưng biết vâng lời bảo đâu làm đó. Ông Nguyễn chỉ cần có thế. Sáng kiến của hắn chỉ làm hư việc của ông.

Con bé giúp việc tên Cam, là người gần gũi với ông Nguyễn nhiều hơn hết. Gọi con bé là do thói quen từ hồi nó mới vào nhà ông. Năm ấy nó mới mười lăm, bây giờ đã mười chín. Nó không đẹp, nhưng được cái đẫy đà trắng trẻo. Lần đầu tiên, ông gọi nó lên phòng tẩm quất cho ông khi trời trở gió. Nó còn rụt rè lắm, không dám chạm mạnh vào người ông. Ông bảo, mạnh tay lên. Nó cật lực nắn bóp từ xương bả vai cho đến gót chân ông. Vừa làm vừa thở, mồ hôi ướt nách. Những lần sau, nó tỏ ra quen việc. Ông bảo, mày phải tắm rửa sạch sẽ trước khi lên đây. Khi nó nắn bóp cho ông, ông sờ mò thân thể nó. Lúc đầu nó ngượng, nhưng rồi cũng chai. Ông bảo nó cởi đồ ra. Nó mắc cỡ. Ông nói, ngày xưa con gái mười ba tuổi được tiến cung vua. Mày mười sáu là chậm mất ba năm rồi đấy. Nói xong, ông đè lên người nó. Nó nhắm mắt, khóc rấm rức. Ông hỏi, mày nhục hả? Nó nói, con không biết nhục là gì. Ông nói, thế thì mày khóc vì đau. Chỉ đau lần này thôi, lần sau không đau nữa. Nó sợ hãi, còn có lần sau nữa sao ông? Khi nó mặc lại áo quần, ngồi co rúm ở một góc giường, ông Nguyễn hỏi, mày biết chuyện cung đình ngày xưa không? Nó nói, con là hạng tôi đòi làm sao biết chuyện thâm cung. Ông nói, bọn vua chúa tuyển gái vào cung, hiếp dâm người ta thì gọi là ban ơn mưa móc. Cùng một hành động mà dân thì bị tội cưỡng bức. Xem thế đủ biết ngôn từ làm điên đảo sự phán đoán của con người. Đầu óc mù mờ xuẩn ngốc không phân biệt đâu là chính danh cao thượng, đâu là dục vọng đê hèn. Luật lệ xưa nay nằm trong tay của bọn quyền thế. Mày có nghĩ điều đó không? Nó nín thinh, giương cặp mắt vô hồn nhìn ông. Ông nói tiếp, mày sẽ không hiểu được điều gì đâu, con ạ. Tất cả đều nhớp nhúa, thối tha, khốn nạn. Nó kẹp hai bàn tay vào đùi, cúi mặt. Cái lần đầu tiên con bé biết mùi đàn ông là năm vừa tròn mười sáu. Từ ấy đến nay, vài đêm ông Nguyễn lại nó gọi nó lên phòng. Nó không còn nhớ đã bao nhiêu lần như thế.

Ông Nguyễn có cái lối hành sử rạch ròi tận mặt sự đời. Tuổi đã già, nhưng mắt ông còn tinh lắm. Có người bảo đấy là cái thần khí lưỡng mục trùng đồng của người làm nên việc lớn. Nhìn vào ai, ông như soi thấu cả tim gan người ta. Lại cũng có người căn cứ vào sách tướng, thì cho rằng con mắt láo liên chứng tỏ cái tâm bất chính, cái tính nghi ngờ và bản chất tráo trở. Lời ong tiếng ve đều không lọt khỏi tai ông Nguyễn. Ông chỉ cười. Nụ cười của ông cũng được giải thích theo nhiều nghĩa. Người thì bảo, cái cười nhân hậu giàu lòng khoan thứ. Kẻ lại nói, cái cười nham hiểm của tên thù dai. Chung quanh ông, người ta thêu dệt lắm điều khó phân biệt thực hư. Ông không hề đính chính. Thế mà lại hay. Lâu ngày sự thêu dệt thành huyền thoại.

Điều gì thì còn có thể nghi ngờ, nhưng chuyện ông Nguyễn đã từng đi đây đi đó nhiều nơi trên thế giới là điều không thể phủ nhận. Đi nhiều, kiến thức rộng. Nghe ông nói chuyện năm châu bốn biển, kẻ ít đọc sách cũng học được nhiều điều mới lạ. Chẳng hạn, khi ông đem về một cây xương rồng. Giống xương rồng này lạ, không từng thấy mọc ở Việt Nam. Một số người hiếu kỳ bu lại coi. Ông khoe, khổ công lắm mới mang được nó về từ nước ngoài. Thân tua tủa những gai nhọn. Hoa màu đỏ rực, giữa đài hoa có nhụy vàng. Đứng xa xa mà nhìn, màu sắc rất đẹp. Nhưng chớ có lại gần, nét đẹp chỉ nên nhìn bằng mắt, sờ vào dễ bị gai đâm.

Trong tuổi hưởng nhàn, người ta hay lấy cái thú nuôi chim cá, hoặc chơi cây kiểng làm vui. Ông Nguyễn không chơi theo kiểu thường tình. Ông chơi cây xương rồng. Từ ngày có xương rồng, ông không thiết những việc khác. Ông bảo, ở Âu Châu người ta trồng xương rồng trong cái chậu nhỏ, đặt nơi bệ cửa sổ làm cảnh cho vui mắt. Trồng như thế, xương rồng không phát triển được vì thiếu đất. Ý người ta cũng chỉ muốn trang trí cho nhà cửa có vài cánh hoa tươi mát, chứ không muốn nó sinh sôi nẩy nở nhiều. Còn ông, ông nghĩ đến điều thực dụng.

Trước khi mang giống xương rồng này về, ông cũng đã nghiên cứu qua lý thuyết sách vở, và nhận thấy nó thích hợp với phong thổ Việt Nam. Nó là loài thực vật chịu hạn, vất trên những thế đất cằn khô sỏi đá vẫn sống được. Muốn nó trổ hoa, trước hết phải hãm nước cho khô héo, rồi sau sẽ cho nước vào. Gặp nước nó hồi sinh nhanh chóng, nứt mụt nẩy hoa. Tuy thế, vẫn không cho nước nhiều, chỉ sương sương là đủ. Nước nhiều thúi gốc. Xương rồng không bao giờ mọc được ở những nơi đầm lầy úng thủy.

Mới đầu, ông Nguyễn trồng xương rồng trong cái chậu lớn bằng xi măng, dưới đáy có lỗ thoát nước, chăm sóc đúng theo nguyên tắc sách vở. Chậu đặt ngoài sân. Một thời gian sau, xương rồng nhảy con đầy cả chậu. Ông quyết định hạ thổ. Thằng Thổ làm cái công việc sang xương rồng từ cái chậu xi măng xuống hố đất. Dù hết sức cẩn thận, cũng không tránh được gai đâm.

Một bữa đi bên ngoài về, ông Nguyễn thấy con Cam đang ôm cánh tay thằng Thổ lể gai.

Ông hét lớn: “Buông ra ngay.”

Hai đứa ngơ ngác không hiểu vì sao ông Nguyễn giận dữ.

Sau đó, ông đưa tiền bảo thằng Thổ đến một bà già chuyên hành nghề lể đẹn cho con nít trong xóm, nhờ lể gai. Ông lại sắm cho Thổ một đôi găng tay bằng da bò.

Ông hỏi: “Mày biết găng tay dùng làm gì chứ?”

Thổ nói: “Con biết.”

“Mày phải biết thêm rằng, thứ nào cho ăn thì ăn, thứ nào để cúng thì cúng. Mày mó tay vào đồ cúng, tao thiến mày đấy.”

Thổ ậm ờ, nhưng xem ra không hiểu ý nghĩa của lời bóng gió xa xôi.

Xương rồng phát triển theo lối nhân giống. Một thành hai. Hai thành bốn… Ông Nguyễn bảo Thổ đào một cái rãnh trồng xương rồng, chung quanh phần đất của mình. Mười năm, xương rồng mọc kín rãnh, làm thành vòng đai bao bọc cơ ngơi ông Nguyễn. Mùa khô, xương rồng trổ hoa màu đỏ rực. Ông che lều bày tiệc ngoài sân, mời người làng Hạ đến thưởng hoa. Tiệc quy tụ vài mươi người. Dù không nói ra, nhưng ai cũng biết người ta đến vì miếng ăn hơn là nhìn hoa vớ vẩn.

Khách nhận xét, bữa tiệc hôm nay lớn hơn bữa giỗ.

Thầy giáo Quảng nói: “Vật chất đầy đủ, lại được thưởng thức tinh hoa của đất trời làm tinh thần thêm sung mãn. Thế này thì đời đáng sống thật.”

Trùm vạn Hương nói: “Chúng tôi là dân thợ cày, phu làm thuê, thuộc tầng lớp ít học. Xin thầy Quảng đừng dùng những lời cao siêu, chúng tôi không hiểu thấu.”

“Ông làm đầu nậu chỉ giỏi cái ma mãnh. Công cấy làm nhiều, ông ghi ít. Đến mùa gặt, chủ ruộng đong lúa trả công, ông đong lại cho công gặt, bao giờ cũng có dư. Trong mánh khóe lường lận, không ai bằng ông. Trong trường chữ nghĩa, ông không bằng ai. Tôi nói đời này đáng sống, có gì mà cao siêu không hiểu?”

“Giảng huấn cũng có nhiều loại người. Đem sách vở thánh hiền giải thích theo ý riêng của mình làm nhân tâm điên đảo, là nghề của ông. Nói những lời trăng hoa lừa gạt tình cảm đàn bà, làm suy đồi đạo lý bại hoại gia phong, khó có miệng lưỡi nào ngọt hơn ông. Ông bảo, đời này đáng sống, vậy thì đời nào không đáng sống?”

“Cắm đầu lo ăn như loài cầm thú, không biết đến giá trị tinh thần là đời không đáng sống.”

“Con dế có no mới gáy, con chim có no mới hót. Vậy tiếng gáy tiếng hót bắt nguồn từ việc được ăn no hay từ tinh thần?”

“Xin hỏi lại ông, con cào cào, con châu chấu được ăn no có gáy không? Con bồ cắt, con quạ đen được ăn no có hót không?

Lời qua tiếng lại đã đến hồi gay cấn.

Ông Nguyễn lên tiếng: “Dân tộc ta không tiến được là vì hay lý thuyết suông. Quá nhiều người có chí lớn muốn làm minh chủ, chẳng ai chịu đầu phục ai. Mầm mống chia rẽ bắt nguồn từ chuyện cãi lý. Mới vào tiệc, các ông đã vãi bùn vào mặt nhau. Không khéo lại xảy ra xô xát vì lời nói xỏ xiên. Xin bỏ qua những tị hiềm cá nhân, để bữa tiệc hôm nay được trọn.”

Nể mặt chủ nhà, thực khách hòa thuận làm vui.

Thằng Thổ ngồi cùng bàn thực khách. Hắn ăn và không nói gì cả. Có thể hắn không biết gì để nói. Cũng có thể hắn biết ông Nguyễn không thích những cái miệng bép xép. Ông cho thằng Thổ ngồi vào bàn tiệc, nói lên cái quan niệm con người bình đẳng với nhau, điều mà ông Nguyễn hết lòng cổ xúy và kêu gọi mọi người xóa bỏ giai cấp. Ông nói, giai cấp sở dĩ có là do sự phân công xã hội. Bọn chủ nhân quyền thế lợi dụng điều ấy, đặt ra những nấc thang giá trị giai cấp để dễ bề bóc lột. Người nghèo và những kẻ làm thuê, thích ông Nguyễn ở điểm này.

Con Cam tới lui tiếp rượu và đồ ăn.

Thầy tướng số ghé tai thì thầm với gã thợ bạc: “Tôi coi điệu bộ con Cam đã mất trinh.”

Gã thợ bạc: “Làm gì có chuyện đó? Nó ở miết trong nhà. Trai làng chẳng thằng nào léng phéng gần gũi được.”

Thầy tướng số quyết đoán: “Thế mới lạ. Cái mông bè ra, cặp vú căng gần đứt nút áo. Hiện tượng đã nếm mùi đàn ông. Tôi coi tướng trăm người không sai một.”

“Có thể nó đã qua tay thằng Thổ?”

“Ừ. Có thể lắm.”

Tiệc tàn. Ông Nguyễn đưa mọi người đi dọc theo hàng rào cây xương rồng, xem hoa. Ai cũng trầm trồ khen hoa đẹp.

Khi trở lại bàn uống trà, có người hỏi: “Ăn tiệc trước xem hoa sau, là nghĩa làm sao?”

Ông Nguyễn nói: “Bụng đói thì đầu chỉ nghĩ đến miếng ăn. Người đói không thiết đến hoa, coi đó là thứ vô tri của trời đất. Nét đẹp của hoa cỏ chỉ nhìn thấy được khi đã cơm no áo ấm. Mùa xuân, những kẻ nhàn du chắp tay sau đít đi ngắm hoa đào, hoặc ngồi nhắp rượu canh thức đêm khuya để chờ giờ hoa quỳnh nở. Tôi chưa có được cái ngẫu hứng phù phiếm của kẻ rởm đời như thế. Tôi chỉ muốn giới thiệu đến các ông cái thực dụng của giống xương rồng ngoại quốc. Người xưa cho rằng thủy hỏa đạo tặc, là bốn mối nguy lớn trên đời. Trộm cắp được liệt vào mối nguy thứ ba. Nhưng nếu có cái hàng rào xương rồng, ta đỡ được một mối lo. Cơ sự vững vàng thì lòng dạ bình yên. Lúc đó, nhìn hoa xương rồng mới thấy hết ý nghĩa của nó.”

Một số người e dè nêu ý kiến, loài thực vật đầy gai góc này sẽ làm tổn hại đến con người. Năm kia, lão Nhự đi uống rượu ban đêm về loạng quạng thế nào lại ngả vào hàng rào, gai đâm nát cả mình mẩy. Gần đây nhất là vụ đứa con của ông ấp trưởng mới tập đi xe đạp, cả người và xe lao vào hàng rào. Ngoài những vết thương trên mình, thằng bé còn bị gai đâm đui mắt. Cũng vì cái hàng rào xương rồng này, ông Nguyễn đã gặp ít nhiều rắc rối.

Ông nói: “Ngày xưa, vua Vũ khơi sông Dương Tử đào sông Hoàng Hà làm lợi cho muôn sau, mà dân gom ngói đá ném ông. Ông Tử Sản vỡ đất trồng dâu bảo tồn cho nước Trịnh giàu mạnh, mà người nước Trịnh chê bai hủy báng ông. Hàn Phi Tử vào thời chiến quốc nói, lòng dân như trí trẻ con, chỉ thấy cái khổ nhỏ trước mắt mà không thấy cái lợi lớn về sau. Nay các ông chỉ sợ cái gai đâm vào mình, mà không thấy được cái lợi của rào giậu ngăn ngừa kẻ gian từ bên ngoài xâm nhập vào nhà.”

Sau lý luận của ông Nguyễn, những người có mặt hôm đó đều cho rằng ông có con mắt nhìn xa ngoài ngàn dặm.

Khi ra về, mỗi người được ông Nguyễn biếu một chậu nhỏ xương rồng. Ông cũng chỉ rõ cách trồng và phương pháp làm thế nào để phát triển nhanh chóng.

Ba mươi năm rào giậu, kẻ trộm không viếng nhà người làng Hạ. Xương rồng mọc tràn lan choán cả lối đi. Đến lúc thấy trở ngại, chặt vất ngoài đồng khô, nó vẫn sống và tiếp tục sinh sôi nẩy nở. Bây giờ, muốn diệt không dễ. Xương rồng trở thành cái họa cho người làng Hạ. Một số người bỏ làng đi lập nghiệp nơi khác. Số còn lại, sống trong muôn vàn khổ sở.

Ông Nguyễn chết, không có con. Toàn bộ gia sản cũng tan hoang khi ông nằm xuống. Thằng Thổ thừa hưởng một ngôi nhà đổ nát. Hắn trì độn, nhưng nhờ vào hơi hướm người chết nên thiên hạ vẫn gờm hắn. Có người hỏi, trước khi chết ông Nguyễn có trao cho hắn cái bí quyết diệt xương rồng không? Hắn bảo, những ngày cuối đời ông Nguyễn bị loạn tâm. Ông viết di chúc nói rằng sẽ đi gặp những người có cái tên rất lạ. Tìm trong kinh điển của các tôn giáo, không có vị thánh nào tên như thế. Người ta ngờ đó là tên của quỷ.

Con Cam không chồng, có con. Trong giấy khai sinh, đứa bé lấy theo họ mẹ. Họ tên người cha được ghi là vô danh. Chỉ con Cam mới biết đích xác ai là cha đứa bé. Nhưng con Cam bị chết bất đắc kỳ tử trước khi ông Nguyễn lìa đời.

Phụ truyện:

Tôi kể chuyện cây xương rồng làng Hạ cho một nhà truyền giáo nghe. Ông ta cũng kể lại cho tôi nghe một câu chuyện rất thú vị. Nhiều năm trước, ông đọc một cái tin về cân bằng sinh thái thiên nhiên. Ngày xưa, châu Úc không có xương rồng. Dân Úc đi du lịch qua những châu khác, thấy xương rồng cho là cây lạ, mang về trồng chơi. Mãi sau, xương rồng mọc tràn lan đất Úc, đến mức báo động. Chính phủ Úc nhờ ủy ban khoa học Liên Hiệp Quốc nghiên cứu giúp phương cách diệt trừ xương rồng. Công cuộc nghiên cứu chưa đi đến đâu, thì hiện tượng lạ xảy ra. Một loài bọ nhỏ có cánh xuất hiện, và ăn xương rồng. Trong vòng ba năm, xương rồng giảm xuống thấy rõ. Người ta nghĩ, với cái đà này thì xương rồng sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn trên châu Úc. Nhưng không, xương rồng giảm đến mức vừa phải thì ngưng, sinh thái thiên nhiên được cân bằng. Hiện nay, châu Úc vẫn còn xương rồng và loài bọ nhỏ có cánh ấy. Theo nhà truyền giáo, làm cân bằng sinh thái thiên nhiên là do bàn tay Thượng Đế. Giống xương rồng ở làng Hạ phát triển bất thường, chắc cũng sẽ không ra khỏi cái quy luật trời đất.

“Vâng! chúng tôi hãnh diện đã có một cấp chỉ huy như thế!”

baovecovang2012.wordpress.com

(Phạm Tín An Ninh)

Posted on December 4, 2020 by Lê Thy

(Viết để tưởng niệm Đại Tá Nguyễn Bá Thịnh)

Đại Tá Nguyễn Bá Thịnh 1973

Sau Tết Mậu Thân, khi vừa đánh thắng nhiều trận lớn, giải tỏa thành phố Phan Thiết trong vòng vây và tiêu diệt toàn bộ đám Cộng quân xâm nhập, đơn vị tôi đón mừng một vị trung đoàn trưởng mới. Ông được Đại Tá Trương Quang Ân, Tư Lệnh Sư Đoàn xin bổ nhậm và đích thân đưa đến bản doanh của Trung Đoàn tại Sông Mao, để bàn giao với vị tiền nhiệm. Ông đến nhậm chức với duy nhất một cái “xắc ma-ranh” vác trên vai, trông giống như anh chàng tân binh vừa lãnh quân trang ở một quân trường nào đó.

Buổi lễ bàn giao đơn giản nhưng rất trang nghiêm, dưới sự chủ tọa của vị Tư Lệnh Sư Đoàn. Sau khi tiễn đưa ông cựu trung đoàn trưởng theo ông Tư Lệnh lên trực thăng bay đi, tất cả được lệnh “thao diễn nghỉ” để nghe vị tân Trung Đoàn Trưởng ban chỉ thị:

Điều trước tiên mọi người lưu ý là ông rất nhỏ con, nhưng đôi mắt sáng quắc, có nhiều uy lực, tướng đi nhanh nhẹn. Tóc cắt ngắn ba phân, để lộ từ trên đầu sau vành tai bên trái một vết sẹo láng bóng làm tăng thêm cái uy dũng của một người từng dạn dày trận mạc.

Sau khi được vị trung đoàn phó trình diện hàng quân, ông đi quanh một vòng bắt tay các sĩ quan thuộc bộ chỉ huy trung đoàn và các đơn vị trưởng. Ông đi đứng, bẻ góc, dậm chân, đằng sau quay, và chào hỏi rất đúng quân cách. Bọn tôi không mấy ngạc nhiên vì đã được biết, trước khi thuyên chuyển về đây, ông từng là Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn SVSQ của Trường Võ Bị QGVN, một quân trường nổi tiếng tại Vùng Đông Nam Á. Nhưng ngay sau đó ông lại làm chúng tôi ngạc nhiên với câu hỏi đầu tiên của ông:

-Các anh có biết tôi đi lính từ cấp bậc gì không?

-Thiếu úy! – một sĩ quan lên tiếng.

-Sai!

-Trung sĩ! – một sĩ quan khác trả lời.

-Cũng sai!

-Binh nhì – một anh tiểu đoàn trưởng, tốt nghiệp từ Trường Võ Bị, tỏ ra biết ít nhiều về ông.

Nhưng rồi tất cả, từ quan tới lính, đều ngơ ngác khi nghe ông bảo:

-Cũng chưa đúng!

Im lặng một lúc, để gợi thêm sự tò mò, ông lên giọng nói lớn:

-Binh ba!

Rồi tự giải thích:

-Đúng như thế! Binh nghiệp của tôi đi lên từ cấp “binh ba”. Vì khi vào lính nhảy dù, tôi chưa được cho đi đánh nhau mà phải làm hỏa đầu quân, tức là thằng nấu bếp, rồi sau đó làm “ô đô” cho ông đại đội trưởng Đỗ Cao Trí.

Giải thích xong, ông ngẫng mặt lên và cao giọng:

-Tất cả các anh nên hãnh diện là đang có một cấp chỉ huy như thế!

Phải công tâm mà nói, từ khi ông về chỉ huy, Trung Đoàn đã thay đổi khá nhiều, từ cách tổ chức, sinh hoạt tới chiến thuật phòng thủ, hành quân. Nhưng song song với việc tạo cho đơn vị một khí thế mới để vươn lên, trở thành đơn vị ưu tú với nhiều chiến công hiển hách, ông cũng đã để lại rất nhiều giai thoại, mà đến hôm nay, mỗi lần anh em cùng đơn vị xưa có dịp gặp nhau luôn nhắc tới. Ngày xưa, đó chỉ là những mẩu chuyện vui để cùng cười, nhưng bây giờ tất cả trở thành những kỷ niệm mang theo nhiều cảm xúc.

Trước tiên phải công nhận là ông rất liêm khiết, công minh. Ngay cả cái xe jeep của ông cũng đích thân ông ký giấy nhận xăng, và mỗi khi xong công việc, tài xế đưa ông về trước tư thất rồi quay lại đậu trước văn phòng. Vợ con ông không được phép ngồi trên xe, chứ đừng nói đến việc xử dụng. Ông không hề dùng một người lính nào cho gia đình hay trong công việc riêng.

Trong đơn vị có anh Hoàng Văn An, sau khi tốt nghiệp Khóa 20 VB cũng được bổ sung về Trung Đoàn. Anh An là em (thúc bá) của vợ ông. Khi anh An còn là SVSQ thì ông đang là Liên Đoàn Trưởng LĐ/SVSQ. Một lần đi phép về trễ một ngày, anh An bị ông gọi lên văn phòng bảo: “Nếu là SVSQ khác tôi tha, nhưng vì chú là em nên tôi phạt chú 7 ngày trọng cấm!” (Sau này anh An cho biết đó là 7 ngày trọng cấm duy nhất trong hồ sơ quân bạ của anh)

Với các sĩ quan già, ông xưng hô “ông, tôi”, nhưng với mấy thằng sĩ quan trẻ như bọn tôi, ông chỉ gọi “mày” hoặc “chú mày” và xưng “tao” như em út trong nhà. Sau một cuộc hành quân, ông thường mời tất cả sĩ quan thuộc BCH Trung Đoàn và các đơn vị đóng chung quanh, dùng cơm với ông. Điều đặc biệt là đích thân ông đi chợ, lựa và mua cá, mua rau. Món ông thích nhất là cá rô chiên. Được ông mời ăn cơm phải nói là một cực hình. Nhưng không ai có thể vắng mặt bởi ông sẽ điểm danh. Nói là mời nhưng phải xem đó là lệnh. Trong bữa ăn ông thường luận về các món ăn dân giả và cách nấu nướng. Có một lần anh đầu bếp không hiểu ý của ông, đánh vảy, chặt vi mấy con cá rô, chiên vàng xong mang bày lên bàn, bay mùi thơm phức, nhưng rồi bọn tôi bất ngờ tròn mắt, khi ông ném cả đĩa cá vào sọt rác và la cho một trận! Ông bảo, con cá rô mà mất vảy và cái vi thì còn ăn cái gì?

Lâu lâu ông cũng mời một số sĩ quan tham mưu cũng như các tiểu đoàn trưởng đến tư thất của ông dùng cơm. (Tư thất là một villa khá đẹp nằm trong doanh trại do Sư Đoàn 5 của Đại Tá Wòng A Sáng để lại). Các bữa cơm do chính tay vợ chồng ông nấu nướng. Điều làm chúng tôi ái ngại nhất, là phu nhân của ông không được ngồi chung mà là người hầu bàn. Hầu bàn chính hiệu chứ không phải làm cảnh. Bà đứng sau lưng, rót nước, xới cơm vào bát và đưa cả từng tấm giấy lau miệng cho “thực khách”. Bà là một người đàn bà có nhan sắc, phúc hậu và là một “phu nhân” hiếm hoi mà tôi đã gặp trong cuộc đời binh nghiệp. Bà không hề biết (và có lẽ không được quyền biết) bất cứ điều gì của đơn vị. Cả đám sĩ quan bọn tôi ngồi trong bàn ăn, bà không biết cả tên và ai đang giữ chức vụ gì. Chúng tôi rất nể phục bà, nhưng cũng thấy tội nghiệp cho bà. Lúc ấy tôi thầm nghĩ, giá mà vị “phu nhân” nào cũng như bà thì quân đội và đất nước mình có lẽ đã khá hơn.

Trong bữa ăn, ông cũng thường kể về cuộc đời và binh nghiệp của mình, đôi lúc có chút xúc động nhưng luôn với niềm hãnh diện:

-Các anh biết tại sao tôi nhỏ con như vầy mà được đi lính nhảy dù không?

-Có lẽ trung tá nhanh nhẹn và gan dạ! – một sĩ quan trả lời

Ông cười, xuống giọng:

-Gan dạ cái con khỉ! Quê tôi ở tận Hòa Bình, ngoài Bắc. Lúc nhỏ nhà nghèo. Sau khi học hết bậc tiểu học, tôi phải tạm ở nhà phụ bố ra đồng. Nhà tôi ở gần một cái đồn lính Pháp, lại là một đơn vị Nhảy Dù. Một hôm, ông đại úy đồn trưởng gặp tôi, thấy tôi nói giỏi tiếng Pháp, ông thích thú và quí mến, nên sau đó ông thường ghé lại nhà tôi chơi. Có lần ông hỏi tôi thích cái gì ông sẽ cho. Tôi bảo, tôi chỉ muốn đi lính Nhảy Dù. Vậy mà ông gật đầu ngay. Thế là tôi trở thành thằng lính Nhảy Dù! Sau đó, tôi được bổ sung về đại đội do một sĩ quan Viêt nam làm đại đội trưởng. Đó là Trung Úy Đỗ Cao Trí. Thấy tôi nhóc con, nên ông đại đội trưởng cho tôi vào toán đầu bếp, và sau đó lấy tôi theo làm “ô đô” cho ông. Trong một lần bị phục kích, địch tràn cả vào ban chỉ huy đại đội, tôi xông vào đánh cận chiến, giết chết mấy thằng, giải vây cho ông. Tôi được lên hạ sĩ và trở thành “gạc đờ co” của ổng. Khi lên Đại úy đi làm tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 19 Việt Nam (tiền thân của Tiều Đoàn 6 Nhảy Dù), ông dắt tôi theo làm tiểu đội trưởng thám báo, đánh bao nhiêu trận ngon ơ, được lên hạ sĩ nhất, rồi trung sĩ. Sau này chính ông giới thiệu, để tôi được nhận vào Khóa 9 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.

Giống như Tướng Đỗ Cao Trí, ông rất lưu tâm tới hàng hạ sĩ quan (từ cấp bậc hạ sĩ). Ông gần gũi, chăm lo đời sống và thỉnh thoảng tập trung họ lại để nói chuyện, tâm tình, trao đổi kinh nghiệm chiến trường và việc chỉ huy tiểu đội. Ông thường bảo chúng tôi:

-Bọn mày phải nâng đỡ đám hạ sĩ quan này, nhưng cũng phải để ý học hỏi kinh nghiệm của họ. Chính cấp tiểu đội, trung đội mới quyết định chiến trường!

Ông nói tiếng Anh giọng Bắc, không giỏi lắm, bất chấp cả văn phạm, nhưng các cố vấn Mỹ đều hiểu và nể ông ra mặt. Gặp ông là tất cả đứng nghiêm chào. Ông bảo gì họ cũng nghe. Có lần ông nói thẳng với mấy tay cố vấn Mỹ:

-Các anh đến đây là để giúp chúng tôi những gì chúng tôi cần, còn chuyện đánh nhau là chuyện của chúng tôi. Các anh đừng xía vào. Đánh bọn du kích VC mà đánh theo kiểu Mỹ của các anh là hỏng!

Ông ra lệnh tất cả sĩ quan phải nói được tiếng Anh. Không biết phải học. Nói sao cho Mỹ nó hiểu là được. Nhờ vậy mà anh Cố vấn trưởng nghe theo đề nghị của ông, tổ chức ngay một số lớp dạy Anh văn cho tất cả các sĩ quan, đặc biệt về phương pháp đàm thoại và cách liên lạc, hướng dẫn các phi công oanh tạc cơ của Hoa Kỳ.

Bản doanh Sông Mao nằm giữa Phan Rang và Phan Thiết, nhưng đường bộ mất an ninh. Ông muốn mỗi tuần phải có hai chuyến Chinook để chở lính đi phép và cho gia đình binh sĩ được ra phố mua sắm, học hành. Vậy mà chỉ mấy ngày sau là anh Cố vấn trưởng lo xong.

Không biết vì sao Tướng Peers, Tư Lệnh Các Lực Lượng Quân Sự Mỹ tại Cam Ranh, biết thành tích đánh giặc và cả sự liêm khiết của ông, nên lâu lâu ghé lại Trung Đoàn thăm và hàn huyên với ông. Tướng Peers thường đưa ngón tay cái lên nói đùa với bọn tôi: các anh có một ông “boss” rất tuyệt vời!

Đầu năm 1969, trong kế hoạch “tự lực tự cường”, Bộ TTM ban hành chỉ thị, mỗi đơn vị phải thành lập một trại chăn nuôi, Trung Đoàn có một trại chăn nuôi khá lớn, do một vị thiếu úy lớn tuổi (thăng tiến từ cấp binh sĩ) trông coi với hơn 20 lao công đào binh. Trại chăn nuôi thống thuộc Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ.

Một hôm cả BCH Trung Đoàn và các sĩ quan từ cấp đại đội trưởng trở lên, được Ông Tỉnh Trưởng Bình Thuận mời khoản đãi vì Trung Đoàn vừa phối họp với Tiểu Khu trong một chiến dịch bình định, đánh tan các đơn vị Cộng quân hoạt động trong phạm vi của tỉnh. Tất cả tập trung tại Căn cứ Trinh Tường (Trung Đoàn dùng làm hậu trạm) để đi đến tòa tỉnh. Trên đường đi, ông bất ngờ thấy bên vệ đường có một người đang thả heo giống. Ông ra lệnh dừng lại, xuống xe và đứng xem. Bọn tôi rất ngượng ngùng còn ông thì cứ tỉnh bơ quan sát. Cuối cùng ông khen con heo (đực) tốt và ra lệnh cho anh trung úy đại đội trưởng CHCV thương lượng với người chủ để mướn. Sau buổi tiệc ông dùng trực thăng cho anh đại đội trưởng chở con heo và người chủ bay về hậu cứ Sông Mao để gây giống cho trại heo. Chúng tôi có một trận cười đến nôn ruột, và thấy tội nghiệp cho anh đại đội trưởng rất “mô phạm” vì là một giáo sư trung học bị đông viên vào Khóa 16 Thủ Đức. Nhưng sau này trại heo đã thu nhiều lợi nhuận vì sản sinh rất nhiều heo con béo tốt. Được chọn là trại chăn nuôi “kiểu mẫu” của Quân Đoàn II&QK2. Chúng tôi càng kính phục ông hơn.

Tr. Tá Đào Văn Hùng

Vào khoảng giữa năm 1969, Ban Truyền Tin nhận một cuộc điện thoại (qua hệ thống siêu tần số) trực tiếp từ văn phòng Đại Tướng Cao Văn Viên, TTMT, lệnh cho Trung Đoàn, cho xe ra sân bay Sông Mao để đón một vị trung tá, thuyên chuyển đặt thuộc quyền xử dụng của Trung Đoàn. Thấy một việc bất thường, ông Trung Đoàn Trưởng gọi lại, thì được văn phòng TTMT cho biết: “đó là Trung tá Đào Văn Hùng, Lữ Đoàn Trưởng Nhảy Dù. Ông uống rượu ngà ngà say, đến tìm Đại Tướng để phản đối về việc xử dụng Nhảy Dù của ông không đúng chỗ. Ông khá thân thiết và được đại tướng Viên trọng nể khi còn ở Nhảy Dù. Thấy ông say và lớn tiếng, Đại Tướng bỏ đi ra ngoài, ông Trung tá Nhảy Dù (có lẽ do say quá) la hét một chặp rồi cởi bộ đồ nhảy dù vất trên bàn bảo trả lại cho Đại Tướng. Đại Tướng giận quá, ra lệnh dùng máy bay riêng của Đại Tướng và cho hai Quân Cảnh “áp tải” ông thẳng ra Sông Mao giao cho Trung Đoàn. Lệnh bổ nhiệm sẽ do Phòng Tổng Quản Trị gởi đến sau. Máy bay đã cất cánh hơn nửa tiếng rồi.”

Ông Trung Đoàn Trưởng vội vàng ra lệnh cho các sĩ quan thuộc BCH tháp tùng ông ra phi trường chào đón Trung tá Hùng, ông cũng cho gọi cả anh lính kèn đi theo. Khi máy bay đáp xuống, Ông và tất cả sĩ quan đứng thành một hàng dọc, đích thân ông chỉ huy dàn chào, có cả kèn thổi “nghênh đón thượng cấp”. Điều đặc biệt làm chúng tôi ngạc nhiên hơn là ông đứng nghiêm trình diện Trung tá Hùng, với cả cấp bậc, số quân, như một tân binh hay một SVSQ trong quân trường:

-Trung Tá Nguyễn Bá Thịnh, số quân 48/300340 trình diện Trung Tá!

Vẫn trong thế đứng nghiêm, ông mời Trung Tá Hùng lên xe ông, còn ông thì đi chung xe với chúng tôi về doanh trại. (Tôi chưa thấy ông lái xe bao giờ). Đến nơi, ông hướng dẫn Trung tá Hùng lên nghỉ ngơi uống nước tại văn phòng Trung đoàn trưởng. Ra lệnh cho anh Đại đội trưởng CHCV sang tư thất của ông, cùng ông đích thân dọn dẹp và dành căn phòng của vợ chồng ông cho Trung tá Hùng. Ông bà dọn sang phòng nhỏ phía sau. Nhưng khi ông sang mời Trung tá Hùng về tư thất, thì Trung tá Hùng quyết liệt từ chối, bảo ông chỉ xin một cái ghế bố và sẽ ở trong Trung Tâm Hành Quân (Trung Đoàn có một TTHQ khá lớn và kiên cố).

Bọn tôi bàn tán với nhau, không ai hiểu cung cách đối xử kỳ lạ của hai ông trung tá. Ông Trung Đoàn trưởng thì lại đứng nghiêm đưa tay chào từ xa, mỗi lần gặp ông Trung tá vừa thuyên chuyển tới đặt dưới quyền chỉ huy của mình. Ngược lại ông Trung tá Nhảy Dù cũng một điều kính thưa, hai điều kính thưa ông Trung tá Trung đoàn trưởng?

Đến chiều, Trung Tá Thịnh ra lệnh cho anh đại đội trưởng ĐĐCH đích thân sang tư thất của ông mang cơm chiều sang cho Trung tá Hùng. Lúc ấy ông gọi chúng tôi lại để dặn dò:

-Các chú mày phải lễ phép và lo lắng thật chu đáo cho Trung Tá Hùng. Ông là ông Thầy của tao. Ngày trước khi ông là đại đội trưởng Nhảy Dù, thì tao là thằng Hạ sĩ 1 mang máy và làm tiểu đội trưởng cho ổng. Ổng đánh giặc khỏi chê, nổi tiếng từ thời Pháp cho đến bây giờ. Mấy thằng Tây, kể cả sĩ quan, mà lôi thôi là bị ông chửi như tát nước vào mặt. Khi Đại Tướng Cao Văn Viên còn trung tá, làm Lữ Đoàn Trưởng Nhảy Dù thì ông Hùng đã là một tiểu đoàn trưởng xuất sắc mà ông Viên rất nể nang.

Ông không giao cho Trung tá Hùng bất cứ công việc gì. Nhiều lần Trung tá Hùng yêu cầu phải giao cho ông một công việc, bất cứ việc gì cũng được. Nhưng ông Trung đoàn trưởng lại đứng nghiêm:

-Xin Trung tá làm cố vấn cho tôi.

Trung tá Hùng lại dậm chân, than phiền:

-Tớ đi lính là để đánh giặc chứ đếch biết làm cố vấn cố véo gì sấc! Trung tá quên tớ là thằng “Cai Hùng” Nhảy Dù à?

Ông Trung đoàn trưởng lại đứng nghiêm:

-Thôi, xin Trung tá thấy thích làm cái gì thì làm!

Cuối cùng Trung tá Hùng nhận một công việc không có trong bản cấp số: Sĩ quan thường trực tại Trung Tâm Hành Quân. Ăn ngủ tại chỗ. Có mặt 24/24!

Kể từ hôm ấy, Trung Tá Thịnh cũng cho kê một cái ghế bố trong TTHQ để ngủ với Trung Tá Hùng.

Một hôm, vào khoảng 2 giờ sáng, Việt Cộng pháo kích vào BCH Trung Đoàn. Nhờ có máy nhắm hồng ngoại tuyến mới được trang bị, một vọng gác phát hiện đặc công xâm nhập vào doanh trại. Ông giao việc điều động cho Trung Tá Hùng, rồi đích thân chỉ huy hai toán Viễn Thám đi lùng, giết hơn 20 tên đặc công bằng lựu đạn và bắt sống 3 tên khác, đang tìm cách chui qua hàng rào phòng thủ. Trung tá Hùng thì leo lên nóc TTHQ lắng nghe tiếng “depart” để xác định vị trí súng cối địch, cho Pháo Binh phản pháo chính xác, sau đó 2 chiếc cobra do cố vấn Mỹ điều động kịp thời đến mục tiêu xạ kích. Đại Đội Trinh Sát được lệnh truy kích, thu được 2 súng cối 82 ly, 2 ống phóng hỏa tiễn và một số súng cá nhân, hơn 15 xác địch còn bỏ lại trận địa. Trận phản công chớp nhoáng và chính xác với thắng lợi hoàn toàn, bên ta vô sự. Đúng là chiến công của hai ông trung tá gốc Nhảy Dù!

Những lúc tâm tình với chúng tôi, Trung Tá Hùng cũng đã hết lời ngợi ca Trung Tá Thịnh. Ông thường bảo:

-Ông Trung đoàn trưởng là một tay đánh giặc rất “lì” và chỉ huy rất “chì” trong binh chủng Nhảy Dù. Trong cấp tá, ông là người có nhiều huy chương nhất, chỉ sau ông Sơn Thương. Hình như trên 20 cái nhành dương liễu, sao vàng sao bạc đếm không hết, còn chiến thương bội tinh thì cũng hơn 10 cái!

Rồi ông đùa:

-Bao nhiêu lần đã tưởng ông đi đứt, nhưng có lẽ nhờ nhỏ con quá nên đạn bắn không trúng!

Khoảng hai tháng sau, chiếc máy bay riêng của Đại Tướng Cao Văn Viên bay trở lại Sông Mao. Lần này thay vì hai anh Quân Cảnh, thì chở theo hai sĩ quan Nhảy Dù để đón Trung tá Đào Văn Hùng về lại Sư Đoàn Dù. Nhưng chỉ sau đó một thời gian, (chính Trung tá Thịnh cho biết), ông bị ra khỏi binh chủng, về một đơn vị bộ binh, rồi bị tai nạn xe hơi nên mù mắt và ngã bệnh đến gần như mất trí nhớ.

Sau này, bọn tôi được biết Trung tá Đào Văn Hùng cũng là một người rất đặc biệt đã tạo nhiều giai thoại trong binh chủng Nhảy Dù. Ông là sĩ quan lớn tuổi và rất thâm niên trong Nhảy Dù, thường thích nhận mình là “Cai Hùng”, như niềm hãnh diện về một thời trai trẻ khi còn là một anh hạ sĩ trong lực lượng nhảy dù Pháp, và người ta đặt thêm cho ông cái tên “Hùng Gà” vì ông rất mê đá gà. Những năm giữa thập niên 1960, ông đã từng là Lữ Đoàn Trưởng có tiếng của Nhảy Dù.

Thời Trung Tá Nguyễn Bá Thịnh làm trung đoàn trưởng, Tướng Trương Quang Ân là Tư Lệnh Sư Đoàn. Có lẽ vừa là niên đệ từ trường VBLQĐL lại vừa là đàn em trong binh chủng Nhảy Dù, nên ông rất kính nể và luôn đề cao Tướng Ân. Ngày 8.9.1968, khi Tướng Ân bị hy sinh cùng phu nhân trong một tai nạn phi cơ ở Đức Lập, BCH Trung Đoàn đang đóng ở Cà Ná, chỉ huy cuộc hành quân trong vùng ranh giới hai tỉnh Ninh Thuận- Bình Thuận. Khi nghe tin, Trung Tá Thịnh bật khóc và than thở tiếc nuối một vị tướng tài – chuyện rất hiếm hoi đối với một mẫu người cứng cỏi như ông-. Thấy vậy, tôi an ủi:

-Thôi, trung tá đừng buồn tiếc nữa. Một con én đâu có làm được một mùa Xuân!

Ông trợn mắt, nhìn tôi, quát:

-Mày ngu thế! Ít ra trong mùa Xuân cũng còn có được một con én chứ!

Cả bọn chúng tôi bụm miệng cười. Lần đầu tiên nghe ông nói một câu văn hoa như thế!

Nhờ mắng tôi, nên ông hết khóc. Ông rủ tôi và anh trung tá cố vấn Mỹ, gọi mấy chú lính hộ tống, theo ông ra bờ biển phía trước, bên một ghềnh đá, mà ông bảo là vô số cá đang tập trung trú ẩn ở đó. Anh cố vấn Mỹ không tin và hỏi xin ông cho đích thân anh ném thử một trái lựu đạn. Ông lưỡng lự rồi gật đầu. Có lẽ đây là một quyết định ngoại lệ so với bản tính nghiêm khắc cố hữu của ông. Và quả đúng như ông nói, đám lính và cả anh trung tá Mỹ lặn xuống bắt cả mấy trăm ký cá mang về. Sau khi chia cho các tiểu đoàn, ông đích thân chỉ huy làm mấy món cá đãi cả BCH Trung Đoàn, Toán cố vấn Mỹ và Đại Đội Trinh Sát.

Sau ngày Tướng Trương Quang Ân mất, ông tỏ ra chán nãn. Ông được Tướng Đỗ Cao Trí kéo về Quân Đoàn III/ Vùng 3 CT và dự định đề cử giữ chức tỉnh trưởng nào đó. Ông cho bọn tôi biết rồi bảo:

-Tớ có nhiều chữ nghĩa gì đâu mà làm quận với tỉnh. Đi lính là để đánh giặc. Trường Võ Bị có dạy ai đi làm tỉnh trưởng đâu. Tớ vẫn thích nắm trung đoàn.

Hôm rời Trung Đoàn, ông cũng chỉ vác theo một cái “xắc ma-ranh” như hồi ông đến. Tất cả chúng tôi thật cảm động và tiêc nuối khi phải chia tay ông. Một cấp chỉ huy thanh liêm, bình dân, gan dạ. Khi bắt tay tôi, ông khen “ chú mày khá lắm” và rơm rớm nước mắt. Trước đây, không ai nghĩ một người cứng rắn, đanh thép như ông lại giàu tình cảm với đàn em, thuộc cấp mà ông đã giấu kỹ trong lòng.

Sau đó, ông về làm Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 52, thuộc Sư Đoàn 18BB.

Không biết ở đơn vị mới này ông có thay đổi ít nhiều gì không. Tôi chỉ còn nhớ, có lần báo Sóng Thần “đánh” Tướng Trí về một vụ gì đó. Ông lên tiếng hết mình bênh vực và ca ngợi Tướng Trí, bị báo chí mỉa mai gọi ông là “Chuẩn Đại Tá”. Ông chửi thẳng thừng: đám báo chí này bố láo! Chẳng biết tí gì về Tướng Trí, chỉ giỏi nằm nhà khoác lác! Với Tướng Trí thì đừng có giỡn mặt!

Mới biết ông, ai cũng nhìn thấy ở ông sự cứng cỏi, nghiêm khắc, nhưng khi đã thân tình mới biết là ông cũng rất vui, thích đùa cợt. Có lần anh Hoàng Văn An (Khóa 20VB) kể lại: Năm 1970, An đang làm việc tại Sài gòn, được Trung Tá Thịnh cho vợ chồng anh được xử dụng căn cư xá của ông nằm trong Trại Đào Bá Phước, vì đơn vị của anh trú đóng gần nơi này. Một hôm Trung tá Thịnh đến thăm và rủ An đến thăm Tướng Đỗ Cao Trí và ông cụ Đỗ Cao Lụa, thân phụ của Tướng Trí. Ông cụ quý mến Trung Tá Thịnh như là em út trong nhà.

Trên đường đi, Trung tá Thịnh cười, bảo anh An:

-Hôm nay chú mày sẽ được Tướng Trí rót rượu mời đấy!

Biết tính ông anh rể của mình ưa đùa, anh An chỉ cười. Khi bước vào nhà Tướng Trí, chỉ có Cụ Lụa đón chào vui vẻ. Nói chuyện một chặp, Tướng Trí về với đầy đủ quân phục và cấp bậc 3 sao trên cỗ áo. Tướng Trí vừa chào ông cụ và hai người khách, ông cụ bảo:

-Trí! Mày đi rót mấy ly rượu mang đến đây.

Tướng Trí là một đứa con chí hiếu và lễ phép. Rót 3 ly rượu whisky mang đến mời ông cụ cùng cả Trung tá Thịnh và anh An. An mặc thường phục và được Trung tá Thịnh giới thiệu là em vợ. Anh An bắt tay Tướng Trí mà thấy “run” trong lòng.

Trên đường về, ông bảo An:

-Chú mày thấy tao nói có đúng không? Quan ba mà được Tướng Trí bưng rượu mời, sướng nhé!

Một lần, nhân dịp anh cố vấn trưởng bay vào Sài gòn họp, chúng tôi theo trực thăng đáp xuống thăm ông ở Đồi Phượng Vỹ (Doanh Trại Trung Đoàn 52) sau khi ông vừa trở về từ chiến trường Cam Bốt. Ông mời bọn tôi uống rượu. Khoe đây là loại rượu đặc biệt, hảo hạng, có tiền không mua được. Ông kể lại chuyện ông chỉ huy Chiến Đoàn 52, sang hành quân “giải tỏa” Kampong Chàm. Thành phố sầm uất thứ nhì của Cam bốt sau Nam Vang. Khi chiến dịch kết thúc thắng lợi, ông được ông In Tam, thị trưởng (sau này có thời là Thủ Tướng của Cam Bốt) làm lễ đón tiếp ông long trọng như một vị anh hùng. Ông được mời vào dinh thết đãi, trước một đội vũ công toàn là những cô con gái đẹp. Ông thị trưởng InTam bảo nhỏ, ông thích cô nào cứ chọn, ông nghiêm mặt lắc đầu. Ông thị trưởng cho cận vệ mang đến cho ông một xách Samsonite chứa đầy tiền. Ông bảo ông là một cấp chỉ huy của Quân đội VNCH thi hành nhiệm vụ, chứ không phải lính đánh thuê. Cuối cùng để làm vui lòng ông thị trưởng, ông theo xuống hầm rượu và lấy 6 chai rượu hảo hạng.

Ông kể lại rồi cười:

-Thấy gái đẹp và tiền từ trên trời rơi xuống thằng nào chả ham, nhưng lỡ đã đóng vai anh hùng rồi mà đưa tay lấy thì còn ra thể thống gì!

Bọn tôi chọc ông, bảo là “Chef hơi quân tử tàu! Cứ xách cả hai thứ về đây thì bây giờ thầy trò mình lên hương và khắm khá rồi!”. Ông vỗ đùi cười. Lúc này trông ông thấy hiền khô.

Ngày 23.2.1971 nghe tin Tướng Đỗ Cao Trí tử nạn, chúng tôi chắc chắn Trung Tá Thịnh buồn lắm. Không biết ông có khóc và tiếc thương như lúc ông nghe tin Tướng Trương Quang Ân hy sinh gần ba năm trước?

Vào đầu tháng 4.1972, tôi nghe tin ông chỉ huy Chiến Đoàn 52 (-) chỉ có 2 tiểu đoàn và đại đội Trinh Sát, đã rất khôn khéo và dũng cảm điều động phản công một cuộc phục kích qui mô của hơn hai trung đoàn địch tại khu vực Cần Lê (15 cây số Bắc An Lộc). Một cuộc phản công đẫm máu kéo dài gần bốn ngày trên một tuyến phục kích dài hơn ba cây số, mà địch chiếm hoàn toàn ưu thế về cả quân số cũng như địa thế. Cuối cùng Chiến Đoàn của ông đã gây tổn thất nặng nề cho địch và vượt khỏi vòng vây. Vị Trung Tá Cố Vấn Mỹ, tuy bị thương, nhưng không chịu tản thương, ở lại bên cạnh Trung Tá Thịnh, cùng chiến đấu và yểm trợ hết mình. Trên nhiều báo chí, có bình luận về chiến công này và đã dành cho ông nhiều lời khen ngợi: “Trung Tá Nguyễn Bá Thịnh, gốc Nhảy Dù, là cấp chỉ huy tài giỏi, biết linh hoạt ứng phó trong mọi hoàn cảnh và trạng huống, về kỹ thuật lãnh đạo chỉ huy, ông rất được lòng các cấp dưới quyền và toàn thể các Cố vấn Mỹ thật tình kính nể mến thương. Trung Tá Walter D. Ginger, Cố vấn trưởng, dù đã bị thương, nhưng từ chối tản thương, vẫn tình nguyện ở lại sống chết với Trung Tá Thịnh cùng đơn vị bạn đồng minh của mình.”

Tháng 6.1972 ông được đặc cách thăng cấp đại tá và sau đó một thời gian nhận lệnh thuyên chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt để làm Tham Mưu Trưởng. Đến cuối năm 1973, ông lại nhận lệnh thuyên chuyển về Trường Chỉ Huy Tham Mưu đảm trách chức vụ Trưởng Khối Giám Sát Các Lớp. Khi ấy, trường vừa ổn định sau khi từ Đà Lạt chuyển về Long Bình để tiếp nhận một khu doanh trại rất khang trang của Quân Đội Hoa Kỳ giao lại.

Đầu năm 1974, nhân dịp theo học một khóa tham mưu tại Huấn Khu Long Thành, tôi đến thăm ông, và bất ngờ gặp thêm một ông trung đoàn trưởng cũ khác nữa, Đại Tá Trần Quang Tiến. Hai ông ở chung trong một cái bunker (rất đẹp và đầy đủ phương tiện của một sĩ quan cao cấp Mỹ để lại). Ông nhất định tự tay làm cơm đãi tôi. Tôi ái ngại, xin phụ một tay, nhưng ông nghiêm mặt trợn mắt nhìn tôi:

-Mày là khách của chúng tao. Chớ có lộn xộn.

Ông bảo Đại tá Tiến nấu cơm và hái rau (do ông trồng), rồi rủ tôi mang cái vợt đi theo ông ra mấy trụ đèn điện phía trước để bắt con cà cuống. Ông bảo:

– Món này mà thiếu mấy giọt cà cuống là vất đi!

Lúc nào cũng vậy, ông hãnh diện về cái tài nấu nướng còn hơn cả tài đánh giặc và chỉ huy đơn vị của ông.

Đúng là thức ăn ông nấu rất ngon, nhưng ngồi ăn với hai ông Thầy cũ tôi không thoải mái lắm. Nhớ tới ngày xưa, khi ông còn ở Trung Đoàn, mỗi lần được ông mời ăn cơm là bọn tôi cảm thấy như… hết đói!

Ông dặn tôi, cứ cuối tuần lại ở đây chơi với ông. Có hôm ông còn dắt tôi đến chào Tướng Phan Trọng Chinh, Chỉ Huy Trưởng. Đó cũng là lần duy nhất tôi được gặp vị Tướng nổi danh này. Cùng gốc Nhảy Dù, nên Tướng Chinh có vẽ rất thân thiện và quý mến ông.

Một thời gian, sau khi tôi rời khỏi Long Thành trở về đơn vị, thì ông cũng đi lãnh một trách nhiệm mới: Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp.

Năm 2003, nhân dịp từ Bắc Âu sang Cali thăm mấy đứa con đang theo học ở đây, tôi rủ vài thằng bạn cùng đơn vị cũ đến thăm ông. Ông vui lắm. Bây giờ tuổi đã khá cao, người ông trông càng nhỏ lại, nhưng tiếng nói vẫn đanh thép, đôi mắt vẫn sáng quắc, nhanh nhẹn như xưa. Và đặc biệt với phu nhân, ông vẫn tỏ ra uy quyền như lúc trước. Ông gọi bà từ nhà sau lên chào chúng tôi, rồi bảo:

-Bà xuống lo mấy cái mâm nhang đèn, chút nữa đi lễ chùa, để bọn tôi nói chuyện!

Vốn đã nghèo, sang Mỹ ông càng trắng tay. Dù khá lớn tuổi ông vẫn đi làm cho đến khi về hưu. Cũng như ngày xưa khi còn trong lính, bây giờ dù với những công việc rất tầm thường nhưng ông luôn vui vẻ và tận tụy làm tròn trách nhiệm. Với bất cứ ai ông cũng tỏ ra rất tư cách. Hầu hết đồng nghiệp trong sở nghe nói ngày xưa ông từng là đại tá chỉ huy một trung đoàn tác chiến, họ rất nể trọng.

Ông bảo bây giờ ông bà ăn chay. Ông còn mời chúng tôi ngày mai trở lại ông sẽ tự tay nấu mấy món chay đãi bọn tôi. Bọn tôi tin là ông nấu rất ngon, nhưng thấy tội nghiệp ông, nên tìm cách chối từ. Chia tay ông, lòng chúng tôi thấy thật buồn và có chút xót xa, thương cho một con người hiến gần cả một đời cho quân đội, tạo biết bao chiến công và bao lần sống chết với đất nước, để rồi về già vẫn phải vất vả với kiếp tha hương.

Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi gặp ông. Ông qua đời sau đó vài tháng, ngày 16.05.2003.

Thời chỉ huy đơn vị chúng tôi, ông là một vị Trung Đoàn Trưởng tốt. Cương trực, liêm khiết, công minh, làm việc hết mình. Ông xem đơn vị như là nhà mình và đám sĩ quan như là em út trong gia đình. Lâu lâu trợn mắt, hò hét la rầy, nhưng rất thương yêu và không hề phạt thuộc cấp. Điều đáng nhớ nhất, là ông để lại cho chúng tôi rất nhiều giai thoại, để bây giờ, mỗi lần có dịp gặp nhau, nhớ tới ông bọn tôi thường kể lại như là những kỷ niệm vui, và cũng thật dễ thương của một thời binh nghiệp.

Nhớ hôm lễ nhậm chức, sau khi tự nhận binh nghiệp của mình đi lên từ cấp bậc “binh ba”, ông bảo: “Các anh nên hãnh diện đang có một người chỉ huy như thế!”

-Thưa vâng! Chúng tôi rất vui và cũng rất hãnh diện đã từng có một ông Thầy như thế.

Phạm Tín An Ninh

(nguồn: phamtinanninh.com)

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 20 Jul 2026

Tôi không phải như một ông cụ người Việt ở Houston, Texas hô hào chuyện coi nước Mỹ là “Quốc Tổ” và ông Bush là “Tổng Thống Anh Minh”. Chuyện là năm ngoái khi đọc tên sách “Nước Mỹ Lạnh Lùng”, vừa nghe hai chữ “lạnh lùng”, ông cụ đã hoảng lên và gởi cho tôi một cái thư mắng mỏ hết lời nói sao lại chửi nước Mỹ như thế, mặc dầu ông chưa biết nội dung cuốn sách nói gì. Tôi không muốn ông cụ và chúng ta yêu thương nước Mỹ một cách hung hãn như thế. Bạn có thấy là có những ông bà đồng hương của chúng ta, năm lần bảy lượt vào tù ra khám vì tội vượt biển, lý do chỉ vì không muốn nhìn mặt Cộng Sản mà bỏ nước ra đi. Sang Mỹ mươi, mười lăm năm, chưa hề đóng cho nước Mỹ một đồng thuế, nay lãnh tiền già lại về Việt Nam xoành xoạch như đi chợ, có đồng nào thì tốn vào tiền máy bay, tiêu pha, quà cáp hết nhẫn. Xong lại quay về Mỹ bồi dưỡng, dành dụm ít lâu lại đi Việt Nam. Khổ một nỗi quí ông quí bà lại vô tình để cho các con buôn gian lận nào sữa ensure, nào over charge thuốc men, nào xe lăn, giường bệnh, tận hưởng tới đồng bạc cuối cùng của trợ cấp y tế mà không một lời phản kháng.

Cũng vì có người sang đây từ những ngày bỏ nước, được ăn học thành tài, khoa bảng nhưng chẳng những không giúp ích gì cho quê hương này, lại có tài đục khoét vào tận những chỗ yếu của nước Mỹ như quỹ medicare hay bội thu trên những điều gian lận trong ngành y tế. Có ông Việt mò sang đây cả ba chục năm, ở trại tiếp cư thì sắp hàng lãnh quả táo, khúc mì, sang Mỹ thì cũng vui chơi mà có đủ cơm bưng, nước rót, đồng hương thì đùm bọc, yêu thương. Thoắt một cái, ông ngoảnh mặt phủi đít về Việt Nam, chửi cha đứa nào đã tâng bốc ông, đã nhận vơ ông vào hàng ngũ chúng nó. Có thiếu gì ông bà Tàu thì được Mỹ cho ăn học, được trèo cao, lòn sâu vào tận gan ruột của Mỹ, nhưng lại lấy điều cơ mật lén đem về cho “tổ quốc” của mình. Thì Mỹ đúng là thằng ngu, nuôi toàn bọn phản phúc, cho nên nửa thế giới ăn cơm Mỹ mà chửi Hoa Kỳ ra rả cũng phải. Tôi không có ý ngông mà nói điệu ngu xuẩn, bảo người ta quên cội quên nguồn, “phản bội” hay “đánh phá tổ quốc” như luận điệu của bên nhà. Đánh phá tổ quốc sao được khi người ta chuyển cả ba tỷ đô la một năm về để “vỗ béo” các ông các bà bên ấy. Nhưng có lý nào lấy cơm người cưu mang mình để nuôi cái thằng đã thẳng tay đuổi mình đi, không đuổi sao được với thái độ gông xiềng, vào tù ra khám, tịch thu của cải nhà cửa của người ta, với đủ loại “cải tạo con người” bằng cách cho vào tù, “cải tạo tài sản” bằng cách tịch thu nhà cửa, “cải tạo xuất khẩu” bằng cách đóng thùng đàn bà, đàn ông gởi đi khắp thế giới. Nhưng nếu là con người nhân hậu, tử tế, đôi lần chúng ta cũng nghe nói tới câu “ăn cây nào rào cây đó”. Chúng ta đã là công dân Mỹ và đã thề trung thành với nước Mỹ. Nói xót xa ra là yêu nước Mỹ hay không thì chưa biết, nhưng nhiều người đã lo lắng rằng không vào được quốc tịch thì không có quyền lợi gì, căn bản là trợ cấp tiền già, thuốc men, y tế, những điều rất khó kiếm ở quê nhà, dù là trong tay có bạc triệu.

Một trận 9/11 cũng đã ảnh hưởng tới ngay đời sống của chúng ta, rồi như trận bão Katrina khi phúc lợi người già bị cắt giảm, tiền đổ xăng cao, thực phẩm lên giá, ngay món “cơm chỉ” Bolsa cũng đã tăng giá từ $1 lên $1.25 (25%). Những biến cố lớn ảnh hưởng tới người già, tuy vậy cũng ít, còn với tuổi trung niên, tình trạng thất nghiệp tràn lan, học phí đại học tăng, tương lai con cháu chúng ta nổi trôi theo “vận nước … Hoa Kỳ”. Nghĩ như vậy, chúng ta không còn coi mình là những người “đứng bên lề” hay “ăn nhờ ở đậu” nữa.

Nhiều người đã có suy nghĩ về gánh nặng của tuổi già người Việt tỵ nạn trên đất Mỹ khác nhau. Người cho rằng “Mỹ đã đốn thì phải vác”, người thì thấy Mỹ dại, tự nhiên “mang cục nợ”. Nếu quan niệm rằng Mỹ đã “đốn”, thì chúng ta cũng như cây tầm gửi hay lính đánh thuê. Từ ngày sang ty nạn ở đây, chúng ta có những bạn bè không có cơ hội đi làm, nhưng tới tuổi già cũng đã hưởng bao nhiêu phúc lợi, từ đồng tiền trợ cấp, nhà ở, trợ cấp bác sĩ, thuốc men, bệnh viện, một ca mổ cũng tốn cả chục nghìn đồng, một lần gọi 911 cũng mất toi nghìn bạc.  Nếu có một sắc luật cung cấp cho một vị cao niên mộtsố tiền chục nghìn để họ trở về bản quán, thay vì tốn phí cho một người già từ tuổi 65 đến khi mãn phần, thì nước Mỹ chắc cũng đỡ một gánh nặng vài ba chục tỷ đồng mỗi năm. Nhưng luật trợ cấp tiền già lại cho rằng một người rời nước Mỹ quá 29 ngày sẽ bị cắt trợ cấp. Vậy thì chỉ đi chơi 28 ngày thôi, có sao đâu!

Thế hệ người Việt thứ hai, thứ ba không quên cội nguồn, nhưng đã xem đất nước này là của mình, còn chúng ta, những người đã đi hết gần đoạn đường đời mới sang đây, trong lòng còn dùng dằng đôi ngả. Nhưng thật lòng thì chúng ta đã bắt đầu yêu nước Mỹ nhiều lắm. Thanh niên Mỹ chết để phục vụ nước Mỹ, khủng bố nhắm vào dân Mỹ, thiên tai vùi dập vài thành phố, bệnh dịch có thể tràn vào đất Mỹ, hỏa tiễn đầu đạn nguyên tử bắn từ đâu đó có thể tới California. Chúng ta có lo lắng và có xót xa. Con cái chúng ta cũng đã lên đường tòng quân và đã hy sinh, chia sẻ, gánh vác nhiệm vụ của một công dân. Như một buổi mai nào đó thức dậy, nghe tin Big Ones chôn hẳn một vùng đất Cali xuống lòng đất, hẳn là chúng ta sẽ hốt hoảng đau đớn, và chuyện đó nếu so với việc mũi Cà Mâu bị trôi ra biển Đông, không biết cái đau nào lớn hơn. Rõ ràng là chúng ta có tới hai quê hương, một là nơi chúng ta yêu mến nhưng phải đành bỏ ra đi, một giang tay cưu mang chúng ta từ những ngày trôi giạt. Ở làm sao cho trọn tiếng với đời, đừng để mang tiếng “vừa ăn vừa đạp đổ”, “ăn cháo đái bát” như theo lối nói của ông cha mình thời xưa. Hình ảnh đục khoét quỹ phúc lợi xã hội, như những người Việt mới ra tòa gần đây quả không đẹp mặt chút nào, kiểu vừa ăn vừa phá, không khác gì lũtrẻ con cháu thời thơ ấu, trèo cây ăn trái, đã vặt cả trái non, bẻ lá, chặt cành không nương tay không cần biết tới người sau.

“Khúc ruột ngàn dặm” chẳng còn là hình dáng khúc ruột hồng hào, béo bổ nếu không có nước Mỹ, cũng như những nước tự do trên thế giới cưu mang từ những ngày đầu rỏ máu, để được lôi kéo, ve vãn, chiêu dụ như ngày hôm nay. Nghĩ như thế, để đem lòng yêu nước Mỹ hơn.

Chiều trên lô cốt

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 19 Jul 2026

Vỗ bụng cười vang nhìn hàng dây thép

Rượu uống hết rồi sao chẳng thấy say

Nằm gác cẳng lên ngâm thơ tứ tuyệt

Thuốc cũng hết rồi buồn rớt không hay

Mấy thằng bạn thân giờ lên đại học

Có thằng ra trường làm tới quan hai

Ta nằm phương này chợt thương tay súng
Hai bốn mùa Xuân sáu tuổi lưu đày

Chuyến trực thăng về mang theo thực phẩm

Đáp xuống chưa đầy năm phút lại bay

Nhiều hôm ta muốn xin theo về phố

Ngại sợ về thành mình chẳng giống ai

Đã chót tập quen ăn đồ hộp Mỹ

Đánh đấm nhiều năm gân cốt cũng mòn

Thôi rữ áo ngồi chờ xin bố thí

Mai mốt hòa bình trả lại núi non

Chuyến trực thăng về mang theo thực phẩm

Đáp xuống chưa đầy năm phút lại bay

Nhiều hôm ta muốn xin theo về phố

Ngại sợ về thành mình chẳng giống ai

Lỡ mai hòa bình ta về xe đẩy

Chiều qua nhà em có tiếng ai cười

Ngỡ ngàng về nhanh bàn tay run rẫy

Cúi xuống vụng về lau nước mắt rơi

Lỡ mai hòa bình ta về nạng gỗ

Khấp khễnh bước đi buồn khóc một mình

Em mơ lầu cao gieo cầu chọn lựa

Họ chen lấn dành ta đứng làm thinh

Em mơ lầu cao gieo cầu chọn lựa

Họ chen lấn dành ta đứng làm thinh

Ý nghĩa và nghi thức của “Một phút mặc niệm”

De Nguyen

dongsongcu Avatar

By dongsongcu on July 17, 2026

Post by Sơn râu 19 Jul 2026

Có những nghi thức chỉ kéo dài trong khoảnh khắc, nhưng giá trị tinh thần của nó còn mãi với thời gian. “Một Phút Mặc Niệm” là một nghi thức như vậy. Chỉ vỏn vẹn sáu mươi giây đồng hồ, không một lời nói, không một tiếng động, nhưng chứa đựng biết bao lòng thành kính, biết bao niềm thương tiếc và biết bao sự tri ân đối với những người đã khuất.

Đó không phải là sự im lặng của trống vắng, mà là sự im lặng của tâm hồn. Trong phút giây ấy, mọi người đều dừng lại để lắng nghe tiếng nói của lương tâm, để tưởng nhớ những bậc tiền nhân đã dựng nước và giữ nước, những chiến sĩ đã ngã xuống vì chính nghĩa, những đồng bào đã chịu bao gian khổ vì quê hương, cùng tất cả những người đã hiến dâng cuộc đời mình cho gia đình và xã hội.

Đó không phải là một sự im lặng vô nghĩa. Trái lại, đó là sự im lặng biết nói.

Không một bài diễn văn nào, dù hùng hồn đến đâu, có thể thay thế được sự trang nghiêm của Một Phút Mặc Niệm. Có những nỗi đau không cần diễn tả bằng lời. Có những công lao không thể cân đong bằng ngôn ngữ. Chính sự im lặng lại trở thành lời nói chân thật nhất của lòng biết ơn.

Trong các quốc gia văn minh, nghi thức mặc niệm luôn được cử hành với tất cả sự kính cẩn. Khi người chủ lễ cất tiếng mời: “Xin toàn thể đồng bào và quan khách dành Một Phút Mặc Niệm”, mọi người đều đứng thẳng người, trang nghiêm, đầu cúi nhẹ, mắt hướng về Quốc Kỳ, Linh Vị hay Đài Tưởng Niệm. Không còn sự phân biệt địa vị, chức vụ hay tuổi tác. Trong giây phút ấy, mọi người đều bình đẳng trước sự hy sinh và trước đạo nghĩa làm người.

Đối với dân tộc Việt Nam, ý nghĩa của Một Phút Mặc Niệm lại càng thiêng liêng hơn nữa. Đất nước chúng ta đã trải qua biết bao cuộc binh lửa. Biết bao thanh niên đã rời giảng đường, bỏ lại mái nhà thân yêu để khoác chiến bào. Biết bao người mẹ tiễn con đi mà không còn ngày gặp lại. Biết bao người vợ trẻ ôm con đứng lặng người trước bàn thờ phủ Quốc Kỳ. Và biết bao người cha già âm thầm đón nhận tấm giấy báo tử trong nước mắt.

Có những người nằm lại trên đỉnh đồi gió hú, trong cánh rừng heo hút, giữa lòng sông, ngoài biển cả hay nơi tiền đồn hẻo lánh. Họ ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, mang theo bao ước mơ còn dang dở. Họ không đòi hỏi sự đền đáp. Họ chỉ mong quê hương được bình yên, đồng bào được sống trong tự do và nhân phẩm.

Một Phút Mặc Niệm cũng là lời tri ân đối với những người đã âm thầm phục vụ. Đó có thể là một người thầy tận tụy, một vị bác sĩ hết lòng cứu người, một nữ cứu thương can trường ngoài tiền tuyến, một nhân viên công quyền, hay một người cha, người mẹ đã suốt đời hy sinh vì gia đình. Họ có thể không để lại những tượng đài bằng đá, nhưng đã để lại những dấu ấn khắc sâu trong tâm trí và không bao giờ phai trong lòng người còn sống.

Ngày hôm nay, dù thời gian đã lùi xa, dù bao thế hệ đã tiếp nối nhau trưởng thành, nhưng sự hy sinh ấy vẫn không vì thế mà phai nhạt. Trái lại, càng xa càng phải nhớ. Càng nhiều năm trôi qua, lòng biết ơn càng phải được gìn giữ như một bổn phận thiêng liêng đối với lịch sử và đối với lương tâm của mỗi người Việt Nam.

Một Phút Mặc Niệm không chỉ để tưởng nhớ những người đã mất. Đó còn là lời nhắc nhở đối với người đang sống. Nó nhắc chúng ta phải sống xứng đáng hơn với những hy sinh mà thế hệ cha anh đã gánh chịu. Nó nhắc chúng ta phải biết quý trọng tự do, giữ gìn danh dự, bảo vệ những giá trị đạo đức và truyền lại cho con cháu tinh thần biết ơn nguồn cội.

Trong các buổi lễ của Cộng Đồng Người Việt Tự Do khắp nơi trên thế giới, nghi thức mặc niệm luôn được cử hành trước Quốc Kỳ vàng ba sọc đỏ với tất cả lòng tôn kính. Khi tiếng kèn “Chiêu Hồn Tử Sĩ” hay tiếng chuông tưởng niệm cất lên, mọi người cùng đứng nghiêm, cúi đầu trong niềm xúc động. Có những mái tóc đã bạc trắng vì thời gian. Có những khuôn mặt hằn sâu dấu vết của chiến tranh. Có những đôi mắt lặng lẽ rưng rưng khi nhớ về đồng đội, nhớ bạn bè, nhớ những người thân yêu mãi mãi không trở về.

Trong phút giây ấy, không ai còn thấy mình cô độc. Mọi người cùng chia sẻ một ký ức, một niềm đau và một lời nguyện chung. Đó là sẽ không bao giờ để những người đã khuất bị quên lãng. Bởi lẽ, một dân tộc đánh mất ký ức cũng là một dân tộc tự đánh mất linh hồn của chính mình.

“Một Phút Mặc Niệm” ngắn ngủi trong thời gian, nhưng vô cùng sâu nặng trong ý nghĩa. Sáu mươi giây ấy không làm lịch sử sống lại, nhưng giữ cho lịch sử không bị lãng quên. Sáu mươi giây ấy không thể đưa người đã khuất trở về, nhưng làm cho sự hy sinh của họ tiếp tục sống trong lòng người còn lại.

Bởi vậy, mỗi khi được mời đứng lên dành Một Phút Mặc Niệm, xin hãy giữ trọn sự trang nghiêm của giây phút ấy. Một dân tộc biết tưởng nhớ, tri ân người đã khuất là một dân tộc còn giữ được căn bản của đạo nghĩa. Một con người biết cúi đầu trước sự hy sinh của tiền nhân là một con người còn giữ được phẩm cách. Và chừng nào những Phút Mặc Niệm vẫn còn được gìn giữ với tất cả lòng thành, thì chừng ấy ngọn lửa của nghĩa khí, của lòng biết ơn và của Truyền Thống Dân Tộc vẫn sẽ còn được trao truyền mãi mãi cho các thế hệ mai sau.