Hơn Nửa Đời Hư

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 5 Jun 2024

Phần 20 – Ngày 19 Tháng Ba, Cả Đoàn Người Tây Ở Sốc Trăng, Bị Dẫn Giải Về Cần Thơ

Sau cuộc di tống nầy, một cuộc biểu tình bỗng xảy ra, thành phần gồm đông đủ sắc người, đa số là thanh niên Việt và rất đông nam phụ lão ấu từ châu thành đến vùng phụ cận hoặc từ những làng mạc xa xôi ở ngoại châu thành đồng kéo tớỉ tụ tập làm biểu tình. Nhơn cuộc đó, dân chúng bày tỏ ước vọng mong thấy Uỷ ban hành chánh loại khỏi thành phần ba uỷ viên kể ra sau: quí ông Ngô Văn Nghị, đốc phủ sứ, chủ quận kiêm cảnh sát trưởng châu thành. (Chức viên nầy bị dân chúng trách vì có thái độ lưng chừng khả nghi trong các biến cố vừa rồi). Đào Văn Hội, tri phủ, phó chủ tịch Uỷ ban hành chánh lâm thời. (Vị nầy bị dân chúng trách vì có cử chỉ thiếu minh bạch và vì tánh do dự trong các biến cố đã qua). Trần Văn Trọng thông phán ngạch chánh phủ, đã được Uỷ ban phó thác quyền kiểm soát các cơ quan tài chánh trong tỉnh. (Vị nầy nguyên là tri phủ nhưng đã bị giáng chức hồi trào Pétain, cải bổ qua ngạch thơ ký vì hồ sơ cá nhân tệ xấu. Phần đông dân chúng trách ông có hành vi bất ứng).

Cũng trong buổi biểu tình, những người tham dự có yêu cầu mong mỏi Uỷ ban mời một công chức đã về hưu tham gia, là ông Vương Hồng Sển, ngạch thông phán chánh phủ. Bởi thế, cùng một ngày, ông nầy được chúng tôi mời gia nhập Uỷ ban, hầu chia sớt trọng trách làm cho trôi chảy công việc trong tỉnh cùng các cơ quan sở tại, trong khi chờ đợi sự bổ nhiệm các trưởng ty thực thụ. Nhơn dịp nầy Uỷ ban đều đồng ý rằng một viên chức lão luyện, đã từng đảm đang nhiều cơ quan trọng yếu, vả lại còn trẻ trung, thêm ai ai cũng công nhận tánh liêm cần mẫn cán, biết xử sự hợp lẽ phải như ông ấy, thiết nghĩ lúc nầy không được dưỡng nhàn nữa và phải có bổn phận thi thố khả năng giúp ích trong tỉnh.

Như vậy, kể từ ngày 19-3 Uỷ ban hành chánh lâm thời bổn hạt đã sửa đổi như sau:

– Không còn trong Uỷ ban, quí ông:… đốc phủ sứ;… tri phủ;… thông phán: (Uỷ ban đã cấp cho mỗi vị nầy vì tình hình hiện tại: và do đơn họ yêu cầu, mỗi người một giấy phép được nghỉ việc ba tháng có thể được sung công trở lại nếu có chỉ thị của Chánh phủ đương quyền. Và chúng tôi xin đãi lịnh trên về các đương sự).

– Uỷ viên mời dự tuyển nhập có quí ông:

– Hồ Văn Xuân, tri phủ, chủ quận ở Long Phú. Cử kiêm nhiệm chức cảnh sát trưởng Châu Thành, quản đốc khám đường, luôn chủ quận Long Phú.

– Vương Hồng Sển, công chức về hưu – Cử làm phó Uỷ ban hành chánh lâm thời trong tỉnh, do ước vọng công chúng thêm do sự tán đồng của toàn thể Uỷ ban, cho rằng xứng đáng với trách nhiệm giao phó

Ngày 24-3, có cứ hành lễ truy điệu chí sĩ Phan Châu Trinh. Có hương án bày nơi công trường trong tỉnh, trên mấy trăm người tham dự. Có diễn văn nhắc lại sự tích nhà ái quốc nầy, và không có việc gì xảy ra trong buổi hành lễ.

Ngày 28-3, ông Satoh, phó thống đốc Thương chánh, có đến thanh tra sở thương chánh địa hạt. Ông nầy ra lịnh trả về ty bưu điện ông Cao Văn Thành trước đó được Uỷ ban hành chánh cử làm trưởng ty, và ông Odaka đã bổ nhiệm ông Nguyễn Đăng Định thay thế ông Thành, vào chức quyền trưởng ty thương chánh địa hạt.

° ° °

Ngày 30-3, mặc dầu không có lịnh nào, nhiều tín đồ Cao Đài đã ngang nhiên chiếm cứ trụ sở ty Thương chánh ở Đại Ngãi và chiếm lữ quán băng-ga-lô Sốc Trăng. Nhưng qua ngày 4-4, những người nầy rút lui trả hai nơi nầy do ông Satoh phó thống đốc ra lệnh và có nhờ hiến binh Nhựt ở Cần Thơ can thiệp.

Cũng trong đêm 30-3, ngày tín đồ Cao Đài chiếm cứ băng-ga-lô vào lối 22 giờ. Không rõ vì sự thông đồng với người ngoài hay chỉ là sự lơ đễnh của gác-dan, có 83 tù nhân đánh cắp xâu chìa khoá của giám ngục và đã tẩu thoát khỏi khám đường địa hạt. Chúng tôi đang mở cuộc điều tra về những người có trách nhiệm về vụ tù nầy.

Tôi không có tự đề cao khi nhắc lại đoạn sử nhỏ của tỉnh Sốc Trăng, nơi chôn nhau cắt rún của tôi. Không bao lâu nữa tôi củng trở về với cát bụi, đề cao cho mình làm gì. Nửa đời lăn lóc, cố vật lộn mà mãi vẫn bị đè xuống dưới, tôi chịu thua, đã xin và đã được về hưu trí từ lâu. Vì một chút háo thắng, muốn thấy tận mắt tận mày buổi các quan thầy cũ, bị Nhựt lùa lên ca-mi-ông như cá mòi trong hộp thiếc, cái tội tôi quá tiểu nhân thiếu khoan hồng, đã làm tôi bị kẹt nặng. Tôi đang đứng nhìn xem mãn nhãn cảnh mấy ông Tây và mấy bà đầm rất quen, nay mặt mày méo xẹo đang gượng gạo leo lên xe ca-mi-ông một cách nặng nề, “một bước hoá mười lui”, vì đã trở nên tù bỉnh của quân đội Nhựt. Mới ngày nào, nhứt hô bá ứng, lên xe xuống ngựa, nay bị áp giải nghe nói về Cần Thơ để rồi trực chỉ lên Sài Gòn, tánh mạng như treo sợi chỉ mành, thiệt là “vinh hà nhục hà” trong nháy mắt! Còn gì hách xì xằng với anh thơ ký, nạt nộ chị bồi con bếp? Mụ Tây đoan và mụ vợ sen đầm, vốn là người quê mùa rẫy bái, nay tay dắt con thơ, vừa mếu vừa lau nước mắt không che giấu được nỗi buồn.

Duy mấy quan lang-sa, mới hôm qua hôm kia còn là chủ tỉnh quan toà, bây giờ nét ủ mày châu, sậm mặt như gà lôi sắp đem ra cắt tiết. Trong thâm tâm, tôi còn chút máu quân tử Tàu, tôi quên hết những việc cu họ đã làm, và đứng đây, tôi thấy xúc động và tội nghiệp giùm thân thế họ. Bỗng tôi nghe tiếng vang dội thanh niên kêu réo tên tôi, kẻ gọi “anh Hai” là gọi theo thứ tự của tôi, kẻ khác kêu “anh Tư” là gọi theo thứ tự bên vợ trước, tôi nghe những gì hoan hô rồi những gì là “cho vào uỷ ban cai trị” thét lỗ tai tôi nghe ù ù rồi không nghe chi nữa cả.

Tôi chưa vội nói ra đây cái vinh và cái nhục của sự được thanh niên hoan nghinh nầy. Cho hay muốn làm quan thì phải học cho giỏi và thi đậu cho cao, và cứ đường ngay nẻo thẳng mà đi, thì mới gọi là tốt phúc. Xin chớ mượn hơi cáo đội lốt hùm, làm quan theo buổi loạn ly, tự mình vẽ bùa mình đeo (hoạ phù thân đái), nó vô đoan (vô duyên) và xấu phúc làm sao? Tôi sẽ chừa vấn đề nầy lại đoạn sau sẽ dẫn giải. Nhưng sự việc xảy ra trong khoảng thời gian đầu tháng ba dương lịch 1945 không dễ dàng mà cũng không khô khan như dã tả trên đây. Sự thật các việc ấy oái ăm thúc giục và dồn dập đưa tới một cách gần như bất ngờ mà tuần tự ngoài xa sự dự định trước của những người đương cuộc và những người góp mặt. Lúc đó tôi có ghi chép vào nhựt ký, nay xin sao lục lại đây làm thiên ký sự nầy, hầu cô bác tỉnh Sốc Trăng có một tài liệu chắc chấn về những biến thiên buổi hỗn loạn tại tỉnh nhà trong năm 1945 ấy. Sau đó tôi sẽ lần lượt rút tỉa và đối chiếu so sánh với các tài liệu hoặc công văn chánh thức tôi còn giữ, hoạ may soi sáng được phần nào buổi đen tối Mars 1945 ở Sốc Trăng vậy.

NHỰT KÝ NĂM 1945 – ÂM LỊCH, NĂM ẤT DẬU

1) Tháng giêng dương lịch có xảy ra một việc cho rằng lạ: nhơn xuống trại ruộng (đường mé sông đi Bãi Xàu) xem dỡ nóc lá cũ thay lại mới, có một con rít to bằng ngón chân cái, dài hơn một gang tay từ nóc rớt xuống, chun tót vào quần lúc nào không hay, không cắn mà cũng không động đậy. Mãi hơn hai giờ sau, tôi đạp xe trở về nhà ở đường Đại Ngãi, mở cửa vô ngồi nơi ghế xa-lông, tôi đang quạt xạch xạch, bỗng thấy đầu con rít to bằng ngón cái có hai càng to đỏ lòm to bằng đầu mút đũa ngo ngoe bò từ trong quần cụt bò ra. Tôi tá hoả tam tinh, đứng phắt dậy và tuột cái quần cụt ra, bất chấp đang đứng ở xa-lông, ngoài kia là đường cái tức giữa thập mục sở thị. Nhưng con rít to tướng kia đã vụt biến mất, tôi nhắm mắt lại để định thần, và cũng không dám tìm hiểu rít đã rớt tự nhiên hay đã chạy trốn kẹt xó nào mất dạng. Trong mắt tôi vẫn còn hình bóng nó, mình đỏ au, đầu vàng khè và cặp càng to hằng đầu mút đũa.! Nếu bấy lâu tôi tính ác, thì dễ gì nuôi con rít độc trong quần suốt mấy giờ đồng hồ mà nó không cắn không kịp. Thật là khó hiểu và cho đến bây giờ tôi cũng chưa giải nghĩa cho xuôi việc lạ lùng nầy. Xin đừng vội nói con rít nầy tu!

2) Ngày 16 tháng chạp Giáp thân (29-1-1945), tôi đang ở nhà sau căn 31 đường Đại Ngãi, lui cui cắm cúi rửa kiếng để lát nữa thợ gắn vào cửa tủ sách, bỗng đứa ở bên căn 33 bưng qua một cái lư hương không (tro và nhang trút sạch) rằng chú Tư (em một cha khác mẹ) “đã đổ bỏ và không cho thờ nữa” nay trả lại tôi lư hương không nầy. Thiệt là một tin sét đánh, nghe rồi nước mắt tự nhiên tuôn trào, lòng dường dao cắt, tôi cầm cái lư hương hai tay run rẩy, xin con ở giùm qua hốt lại một mớ nhang tàn, đem về bên ni đốt ba cây nến lâm râm khấn vái hồn mẹ vợ, đứa em đã nghịch ngợm, giận vợ chồng tôi mà đành làm một tội bất kính lớn đối với người quá vãng, thôi thì xin dung thứ bao nhiêu tội tôi xin gánh chịu. Thà rằng chín giận mười hờn, em C. cầm lư hương qua trả cũng đủ, lựa chi có cử chỉ ấy, làm xúc phạm đến hương hồn một người đã theo đạo Thiên chúa nhưng tôi vẫn thờ theo đạo Khổng, để tưởng niệm ân thâm gả con cho tôi. Quả thật tôi là một thằng hư, đến lư hương thờ cúng mẹ vợ mà không đủ tài giữ gìn cho khỏi chuyện xúc phạm nầy. Xin mẹ nhơn từ tha thứ cho em C. và bao nhiêu tội con xin gánh chịu. Ngày nay nhớ lại, sau đó vợ chồng tôi hồ tan keo rã, một phần lớn cũng vì sự em chồng trút lư hương thờ mẹ vợ, và không trách, khi hết thương, nàng sẽ mượn cớ bước sang thuyền khác dễ dàng. Mấy hàng lẩn thẩn nầy ghi chép giữa lúc bom Mỹ mỗi đêm, năm 1945, bay qua trút trên đầu đạo binh Nhựt trú đóng ở Sốc Trăng, hoạ lây cho dân Việt vô cô, không gây chiến mà vẫn gánh chịu nạn chung. Những tin tức nầy đối với tai hoạ treo trên đầu dân Sài Gòn và phụ cận là Gia Định vào nửa tháng tư năm 1975, thì là mười phần không có một. Nay ngồi đánh máy chép lại ký ức cũ mà lòng ngao ngán viết bất thành văn.

Bắt đầu tháng ba dương lịch năm Ất Mão 1945 nầy, tin tức ngoài chiến trận hoàn toàn xấu tệ: mất Ban mê thuộc, Plei-ku, Kon-tum, là “phối kiểm vị trí”; mất Quảng Trị, Huế, cũng lại vì phối kiểm nữa, kế đến mất Đà Nẵng, rồi Đà Lạt, rồi Nha Trang, rồi gì gì nữa, đều mất luôn lòng nào ngồi đánh máy cho yên? Nhưng cũng vẫn bắt buộc phải ngồi đánh máy để quên hết việc ngoài tai, lại nữa con người chỉ có một lần chết? Chỉ tội đọc tin đồng bào chạy nạn từ xa xôi Đà Nẵng, rừng già miền Trung, chạy bộ vào Miền Nam, của mất nhà tan, bổn mạng còn rẻ hơn loài hạ thú, bất giác tủi hổ thấy mình vì kiếp sống thừa chật đất, có mắt ngó có tai nghe mà vô khá nại hà. (Ai dám nói sống dai thấy nhiều, là có phúc?) (Trang nầy đánh máy đến đây thì tối lại ông Thiệu tuyên bố từ chức Tổng thống trên đài truyền hình 21-4-1975).

3) Ngày ba mươi tháng chạp Ất Dậu (12-2-1945), đứng trong nhà ngó ra thấy bạn học cùng trường ở Chasseloup năm xưa là Nguyễn Ngọc Chỉ, nay là tri phủ làm việc trên Tây Ninh, về nghỉ phép ở Sốc Trăng, đi ngang nhà, quần đùi tay sơ mi lòi cùi chỏ, thế mà đầu đội nón cát trắng lại có gắn huy hiệu của chánh phủ đô hộ ban và chỉ được phép dùng khi mặc âu phục đại lễ. Không thể nín được vì xốn mắt quá, nên phải gọi lại mà rằng: “Chỉ à! Đợi phải cần đội nón có huy hiệu “tri phủ chủ quận” ấy thì người ta mới biết mầy là ai hay sao? Uổng vì tao nay là một thằng dân quèn nên không thể nước mấy vào nhà, nhưng tao vẫn không quên bài ngụ ngôn “Bạn học trò, một người đậu một người rớt” của ông Trương Vĩnh Ký. Mầy về lấy ra coi lại. Chỉ giận lắm mau mau đi một nước, và sau mất tại Trà Vinh, vì không chịu ăn theo thuở, ở theo thời (bất thức thời vụ).

Mải ham nói chuyện cà kê nghê ngỗng mà tới ngày quan trọng thứ sáu 9-3-1945 mà không hay biết gì. Xin các bạn chịu khó tìm đọc quyển hồi ký “1925- 1964, tập II từ 1945 đến 1954” của ông Nguyễn Kỳ Nam thì biết. Sách nầy đọc thật hấp dẫn và tả cảnh binh Nhựt trong đêm ấy thủ tiêu chánh quyền đô hộ Pháp và khuya 12 giờ, tuyên bố giải tán chánh phủ trào Tây ở Đông Dương.

Tin nầy đến sáng ngày 10-3-1945 thành phố Sốc Trăng nghe radio mới hay Toàn quyền Decoux đã bị Nhựt bắt làm tù binh và cả thành náo động như ong vỡ tổ, nhưng vẫn bán tín bán nghi, bởi tám chục năm nô lệ không dễ gì tháo bỏ trong một giây phút, mơ màng e nỗi radio đồn tin thất thiệt. Một điều lạ mắt là thấy các quan lang-sa, từ quan bố đến ông cò, đều ra chợ mua và giấu hối hả những nhiên liệu giấu được và còn mua được như dầu xăng, rượu cồn để chạy xe, dầu nhớt, vỏ ruột xe v.v… Họ bắt các tàu dưới sông phải đậu một chỗ để chờ khi có việc họ dễ dàng tẩu thoát và lúc nầy mới thấy họ phần giống chuột hơn giống người, nhưng biết thì biết vậy, nào dám nói ra vì họ có súng và đang điên loạn. Nói thật, ban đầu cũng không thấy chi đáng sợ, chỉ biết họ sắp sửa trốn bỏ cho mình ở lại bơ vơ để lo tự thoát thân và chỉ biết mau mau ra khỏi tầm tay quân lính Nhựt mà thôi.

Ngày 11-3, radio tuyên bố rằng quân đội Nhựt thông cáo cho các sắc dân Đông Dương biết rằng khởi từ đây, Đông Dương được độc lập, nhưng buồn cười là độc lập ấy đầu tiên đặt tạm dưới quyền bảo hộ của Đại Nhựt Bản! Buổi chiều ngày 11-3 có một tốp lính Tây và quan Tây hôm trước chạy trốn, nay trở về khá đông tụ tập ở chợ Bãi Xàu, rồi cùng với tên Siccé là lính đoan coi lò nấu rượu làng nầy, đồng kéo qua chợ Sốc Trăng, ào vào các hiệu buôn khách như Di Ký, Diễu Hưng. Di Lạc, Vĩnh Dũ Nguyên, bắt buộc những nhà nầy có bao nhiêu thực phẩm, đồ hộp, rượu chai, giấm chua, đường và hộp quẹt, v.v., phải đưa nạp cho họ, và khi các nhà buôn yêu cầu xuất trình giấy “bông” (lúc đó hộp quẹt bán, phải có “bon” do chánh phủ ký mới mua được tức thì họ chìa súng lục ra rồi đi luôn, mà các hiệu buôn thấy họ rút lui là đủ hú hồn hú vía, nào cần chi tiền. Thành phố Sốc Trăng lần thứ nhứt bàn tán lăng xăng rằng mới thấy ông Tây mua không trả tiền mà mấy ông Ba Tàu không nói gì. Tại sao lúc nầy kẻ thì dữ quá còn người thì hiền quá? Và cái gì làm cho họ đổi thay tâm tánh mau quá vậy?

Ngày 12-3 nhằm thứ hai, 28 tháng giêng ta. Có tin đội quân đội Nhựt đã đổ binh sang khỏi sông Bassac và đã kéo tới thành phố Cần Thơ. Dân thành phố Sốc Trăng bắt đầu xao xuyến. Nhưng nỗi lo sợ đến cùng tột, khi đến chiều lang-sa đưa lính đặt chôn trái phá dưới gầm cầu quây kinh xáng Maspero, định phá huỷ cây cầu sắt độc nhứt nối liền Cần Thơ qua chợ Sốc Trăng; khi ấy ai nấy đều kinh hồn thất sắc, kể như sẽ chết hết, vì thuở ấy chưa ai hiểu sức tàn phá của trái phá lang-sa là dường nào.

Ngày thứ ba 13-3 (29 tháng giêng Ất Dậu). Sáng dậy sớm thấy bộ tịch mấy ông Tây khăng khăng quyết tử thủ, nên sợ, vợ chồng tôi đưa nhau xuống tản cư nơi trại ruộng, trọn ngày đóng cửa khin khít, sau rõ lại Tây họ giả bộ kháng chiến cho dân sợ, rồi Tây rút êm trốn hồi nào không hay.

Ngày 14-3-1945. Thứ tư, mồng một tháng hai Ất Dậu. Bữa nay mới thật là ngày đáng kỷ niệm cho tỉnh nhỏ Sốc Trăng để nhớ thuở bị binh Nhựt chiếm đóng. Sáng vừa năm giờ, trời tưng bẩng tôi đã thấy lính Nhựt lù lù đi ngang hé cửa hai bên phố đường Đại Ngãi. Họ chia ra nhiều tốp để nhập Châu Thành, tốp đi ngả giữa đường Đại Ngãi nơi có nhà Ba tôi ở; tốp khác đi bọc ngả mé kinh lấp có nhà ông Phán Sáng; một tốp nữa đi ngả Chợ Cá nhà bà Phủ An. Tôi lấp ló kẹt cửa, thấy rõ lính Nhựt đi hai hàng, tay cầm súng trường đầu gắn lưỡi lê, chân bước chậm chậm, mất ngó kỹ đôi bên, còn giữa đường có một tốp hộ tống một ông tá bốn lon, cao lớn dình dàng dẫn đầu, gươm dài tuốt trần, cán gươm lấp lánh một máy radio nhỏ xíu để bắt nghe tin tức, mệnh lệnh.

Họ kéo qua cầu bon, đến dinh Tham biện chủ tỉnh, thì ông Barthel đã trốn mấy ngày trước rồi. Họ thất vọng kéo tới nhà các quan toà. Có một ông da cà phê sữa sớn sác còn nói tiếng Tây và xưng mình là Président. Họ nghe thấp thố tưởng đó là Résident, tức quan đầu xứ, họ sai lính bắt trói đem kê sát vách tường định bắn, thời may viên thông ngôn cắt nghĩa lại, Président du Tubunal có khác với Résident de province, nên ông nầy thoát chết trong đường tơ kẻ tóc. Quả ông nầy chưa tới số! Tuy rằng tha chết, nhưng họ bắt dẫn theo làm tù binh. Đó rồi họ kéo tới ty ngân khố. Mụ Hémon, vợ ông kho bạc, nguyên là con gái của ông Favier, phó giám đốc trường máy đường Đỗ Hữu Vị, nơi tôi đầu quân năm xưa, mụ Hémon đang pha cà phê buổi sáng. Nhờ nhạy linh tính, mụ cầm một tách nóng hổi hai tay dâng cho ông tá Nhựt. Ông nầy kéo ghế ngồi xuống hớp từ hớp cà phê ngon lành, và không xiết lời cảm ơn. Sẵn trớn, mụ mới thỏ thỏ mét ông quan tư rằng ban nãy mụ ra sân xuống bếp lấy hũ đường, mụ bị một lính Nhựt sờ vào má! Ông tá hiểu được đứng dậy ra sân trống, gọi các quân lính xếp làm hai hàng sau ngân khố, mụ chỉ ngay người lính đã xúc phạm mụ, lập tức ông tá gọi người lính bước ra khỏi hàng ngũ, xáng cho mấy bốp tai nháng lửa, thấy đủ ba mươi sáu ngọn đèn, xử phạt xong ông day lại mụ Hémon và chậm rãi nói: “Thưa bà, tôi có phận sự đến đây giải giới tất cả người Pháp và bắt họ làm tù binh. Chồng bà và bà cũng bị bắt. Nhưng vì tách cà phê ban nãy, vây tôi cho phép bà trở vào nhà lựa những gì quí báu thu góp vào một xách tay. Tôi cam đoan bà sẽ không mất món nào, vì quân lịnh của đạo binh Nhựt là quân lịnh sắt. Bây giờ mời bà hãy mau tay để kịp lên xe!”. Mà quả thật, mấy tháng sau sau khi quân Nhựt đầu hàng, mụ Hémon theo chồng trở lại Sốc Trăng, khi gặp tôi, việc đầu tiên là mụ cười cái miệng móm xọm và không ngớt ngợi khen quân đội Nhựt vì suốt mấy tháng bị giam cầm cái xách của mụ có trên năm chục lượng vàng lá, không hao đến một ly!

Sau khi ông tá làm xong phận sự đi lùa bắt Tây, đến trưa gần Ngọ, có một ông tướng lãnh Nhựt ngồi xe sơn màu lá cam, ghé toà bố, ra lịnh cho cai hầu ra mời thân hào nhân sĩ, các nhà tai mắt và công chức lớn nhỏ tề tựu tại dinh tỉnh trưởng và ra chỉ thị cấp thời lập Uỷ ban cai trị như đã tả nơi trang trước. Tôi không tham dự mấy lần nhóm họp nầy, vì muốn ở ngoài càn khôn để được tự do.

“Sớm khuya, khăn mặt, lược đầu.

Phận con hầu, giữ con hầu, dám sai!” (K.V.K)

Ngày 15-3, hay tin ông chủ quận Châu Thành, coi luôn ty cảnh sát thành phố là ông đốc phủ Ngô Văn Nghị. Nhớ lại mới đây, ngày 25-2 có ông Đoàn Quan Tấn, hội trưởng hội khuyến học Sài Gòn cùng xuống đây với cố giao Hồ Đắc Thăng, diễn thuyết về nghệ thuật hát bội, mình được mời cùng dùng cơm tại dinh, nay ông lên làm trưởng ty cảnh sát, ắt ông không làm khó dễ sòng thín cẩu, vì biết mình chơi cầu vui chớ không có máu cờ bạc. Mừng lòng một đỗi.

Ngày 16-3, có bạn nhỏ Đức, Thanh niên tiền phong, đến cho hay không chừng mình sẽ được cử coi ty thương chánh, mình cười và năn nỉ hãy để được yên, e khi vào đó thấy kho á phiện, động lòng tham thì khốn!

Ngày quân đội Nhụt bắt và giải về giam tại lữ xá băng-ga-lô tên Siccé, trước coi lò nấu rượu trắng công xi ở Bãi Xàu và lão Canavaggio, là trưởng ty mật thám Sốc Trăng. Nghe nói Canavaggio có bị đánh, nhưng không biết nặng hay nhẹ. Làm cái nghề đánh người, nay người đánh lại, cũng là oan oan tương báo.

Ngày 17-3, nhóm thanh niên biểu tình dán giấy tuyên bố “Việt Nam độc lập”. Có tên Pháp Fauvel là người đi mua lúa đứng cho hãng Continental, chẳng lành thì chớ, nhè xé bố cáo của thanh niên, bị bắt giải cho quan Nhựt ở băng-ga-lô, ông nầy đánh vài bốp tai, nếu tên Pháp biết lỗi nhẫn nhịn bao nhiêu cái tái tai không chống lại thì việc đến đây ắt chấm đứt, ngờ đâu tên nầy không chịu xuống nước cầu hoà và vung tay thoi lại, khiến cho quan Nhựt nổi đoá, dạy lính bắt trói anh ta dắt đi khắp chợ phố cho trẻ nhỏ hành hà, mặc tình đánh đập. Có người chủ tiệm mộc tên Lưu Trọng Quyền, chủ hiệu Việt Nam mỹ nghệ, là nặng tay hơn cả. Đến chiều quân đội Nhựt giải Canavaggio, Siccé và Fauvel xuống tàu đi Ngã Năm, bắt dẫn đường để nã tróc thêm những người Tây lẩn trốn trong vùng nầy. Lúc giải xuống tàu, thiên hạ đúng coi nườm nượp.

Ngày 18-3 nhằm chúa nhựt. Nghe nói có lịnh không cho người Nam lai vãng và thông đồng nói chuyện hoặc cho đồ ăn cho người Pháp bị giam lỏng ở băng-ga-lô. Trái lại, người Pháp quá nhát gan, sợ người Việt oán thù, nên hạ mình xin quân Nhựt ủng hộ, rán canh gác cho kỹ kẻo người Việt nam cho ăn đòn, oan mạng. Nếu lương tâm họ trong sạch thì đâu có cái sợ vô lý như thế? Buồn cười là họ quên tất cả đến lầm gởi tánh mạng trong tay đại thù địch Phù Tang! Quả gởi trứng cho ác!

Ngày 19-3-1945 nhằm ngày thứ hai trong tuần. Hôm nay nghe nói sẽ có hai cuộc biểu diễn: một là chở các quan lang-sa lên Cần Thơ, hai là nhóm thanh niên biểu tình. Và tôi là khán giả khỏi trả tiền mà sẽ đi dự kiến như đi xem cải lương. Té ra vì tánh tọc mạch và tiểu nhân thiếu độ lượng (coi Tây làm tù binh) mà tôi bị kẹt như đã nói ở đoạn trước, tôi nghe tiếng đồn thanh niên đòi đả đảo:

a) ông chủ quận châu thành, họ trách ông còn quá ưa Tây và ông đòi giải tán họ!

b) ông phủ đứng đầu công chức toà bố thì quá ưa hộp quẹt và ưa bông mua vải

c) ông phủ Trần Văn Tân, là một tên sâu dân mọt nước, một đồng bạc cũng ăn, ăn hết không chừa!

Thanh niên lại chê ông kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích là “làm phách”, còn ông luật sư N.V.D, thì thân Tây hơn thân Việt và biết tiếng mẹ đẻ ít hơn tiếng lang-sa. Ông toà thì họ chê có vợ đầm, ông đốc công trường tiền thì họ chê nói tiếng Tây còn trật (Trần Tân và Đỗ Văn Trà). Tôi nghe ngóng nhàm tai, trong thâm lâm tôi phát sợ một cái gì xảy ra, nên khi bốn xe camion chở người Pháp đậu trước dinh ông Chánh vừa sấp sửa lăn bánh thì tôi lật đật về nhà. Nhưng vừa về tới và chưa cởi áo, thì có chủ tiệm rượu Hoà Bình tửu, tên là Cu Liếm, lúc đó là một thanh niên xốc xáo nhứt, đến gọi tôi gấp trở ra toà bố vì đám biểu tình “muốn cần dùng gì đó”. Ấy rồi tôi bị kẹt như đã nói nơi đoạn trước. Và cho hay trăm sự, “hư” cũng tại mình. Nếu tôi là gái chính chuyên, không dốc lòng “làm đĩ” một phen nữa, thì tại sao tôi “đứng ra đường cả buổi như ban nãy?” Bởi tôi bán dạng thuyền quyên, chán chường khoe mặt mốc, thì nay còn than van “thanh niên mời mọc” làm gì cho thấy dối lòng? Quả tôi giấu đầu lòi đuôi. Và cử chỉ của tôi là cử chỉ của một thằng tự mâu thuẫn lấy mình. Thú thật, tôi có hành động như vậy, cũng vì một chút hiếu thắng. Mấy chục năm thi rớt mãi, và mãi lận đận lao đao nơi trường ốc, tại sao không cho tôi “đánh ba búa” chơi như tướng hề Trình Giảo Kim trong truyện Thuyết Đường? Xin chớ cười và ai có qua cầu mới hay mới biết! Đánh được ba búa cho sướng tay rồi sẽ xuống, có hại gì?

Nhưng khi lâm sự, lên ngồi lưng cọp rồi mới biết. Bỗng thinh không tôi để thanh niên lôi tôi ra, và làm cho tôi từ rày mất hết tự đo Còn gì cái thú “ăn lương hàm chánh thất” (ăn lương của vợ), sống lêu lổng ngoại càn khôn, rong chơi hút gió, gọi là “thả xệch phê” (do chữ siffler là hút gió) ngày ngày cùng a-xẩm, á-múi (a-muội) xoa bài mạt chược vui cười qua ngày tháng, và thôi rồi từ giã cái tự do, từ rày phải tập làm nghiên, chỉnh túc y quan, sáng vác ô đi, tối vác về, và một khi trở vô chung lo việc nước, thì thân không khác con bò kéo xe cỏ cho bò khác ăn, và từ đây phải bỏ hết những gì hư, tập tánh nết trở lại đường hoàng, cho xứng đáng bộ mặt Phó chủ tỉnh?

Mà ăn cái thá gì, vì vẫn làm ông Phó mà trả lương theo lương thông phán hạng nhì, không tới hai trăm bạc mỗi tháng! (tính ra tôi trở vô làm từ ngày 19-3 cho đến ngày 4-6-1945, lãnh lương được 437$56! Thấy thảm não quá ông chủ tỉnh lâm thời nhóm Uỷ ban dạy xuất tiền công nho làng phụ cấp thêm 500$00, vị chi tôi lãnh được cả thảy là 937$56).

Cái số của tôi là số “dã tràng xe cát”, một đời cực nhọc không công cán gì! Lại còn mang lời ăn tiếng nói! Lúc còn làm nơi dinh thống đốc, tuy là thơ ký quèn nhưng anh em chúng bạn đều nể mặt. Nhà dư ăn, không thiếu nợ ai. Công việc làm, dịch điện tín mật mã và ghi chép công văn mật, là việc trọng yếu, tôi làm tròn phận sự nên Tây tà đều kiêng; các người trên trước tôi, ông Ngôn, bà Bá đều có học lực và hạnh kiểm cao, bạn bè ngồi chung quanh đều hay giỏi, và tôi học khôn với họ rất nhiều. Từ khi rớt kỳ thi huyện chót (1942), tôi thấy tương lai không ngõ thoát, nên tôi xin nghỉ việc. Tôi có linh tính nếu kéo dài đời công chức ở đây, có ngày Nhựt lên nắm chánh quyền thì cái kiếp làm nô lệ vẫn y như cũ nếu không nói là thay chủ mới còn e bóp siết nặng nề hơn, và “làm đĩ” một lần với Tây cũng đủ xấu hổ trọn đời! Tôi không muốn trải thân cho ông bạn lùn giày vò bóp méo vo tròn, ngờ đâu kiếp làm tôi mọi cho ngoại bang vẫn còn nặng nợ, xin được trảm giam hậu nhưng không dễ gì xin đại xá.

Chánh phủ Pháp không cho tôi từ chức, và đã ban đặc ân cho tôi đổi về xứ sở ấp ủ se ấm mấy ngày tàn của cha già đã trên bảy mươi tuổi. Kế hoạch của tôi là dốc lòng thoát thân, nhưng tôi đã thất vọng to. Tôi còn luyến tiếc kiếp sống an nhàn “bơ sữa”, dè đâu về đến tỉnh nhau rún ở chung một nhà với cha, mới hiểu muộn màng câu “Xa mỏi chân, gần mỏi miệng!” Ba tôi tuổi Đinh Hợi (1887), tôi lại tuổi Nhâm Dần (1902), cách xa thì như thường, đáp lại gần thì xung khắc. Tánh tôi thêm lỗ mãng quen nết con cưng và con hư. Bình nhựt với chúng bạn, tôi quen ăn ngay nói thẳng giận thì tôi chịu. Nay với cha già, bay giờ nghĩ lại ăn năn đã muộn, vì nhiều việc vặt vãnh, tiền chợ tốn hao, ba tôi vì già chịu nấu cho mềm, tôi thì còn trẻ lại thích gân giòn xương sụn, mỗi lần nấu nhừ, hễ vừa miệng cha thì không vừa miệng con! Tánh tôi lại ham gây gổ, thấy việc trái dẫu là ông phủ, ông gì, tôi cũng không nhịn. Nhưng tôi được tánh thích làm vừa lòng kẻ dưới, nhất là đám em út bạn nhỏ, dẫu lỡ chửi tôi cũng nhịn, và thường hay binh vực kẻ yếu chống chọi người bề trên. Từ ngày đồi về Sốc Trăng, tôi không học thêm được gì nữa, vì nhân viên toà bố đều lục lục thường tài. Tôi lại bị giao trọng trách coi về hành chánh, giữ hộ tịch bộ đời Pháp, nhứt là “đứng bàn ông chánh” tức làm thông ngôn cho chủ tỉnh, mà có khi ông phó cũng xâu tôi làm thông dịch viên luôn, thế là tôi “đứng cả hai bàn chánh phó”. Chỗ nầy đối với người khác thì “no” lắm, vì kiếm chác được nhiều, tỉ dụ xin nhập tịch dân Tây, xin sắm súng hộ thân, xin khẩn đất, xin cất nhà, v.v., nhưng tôi cứ “nét thắng như mực Tàu”, tôi không ăn hối lộ vì đã có vợ giàu, tôi lại cứng cỏi, vì biết mình trong sạch nên coi Tây tà và các nhà thế lực trong tỉnh như không có. Làm việc ở toà bố được một năm, xảy ra việc ông cai tổng Nhiêu Khánh là tổng châu thành, lục cụ Thạch Suôn từ trần. Tôi viện lẽ mấy tháng sau nầy thường đau yếu, tôi vừa nằm nhà thương sở tại và còn nghỉ dưỡng bịnh, tôi mượn các cớ ấy nên nói với chủ tỉnh xin cho tôi từ chức, hưu trí non (hưu bổng tỷ lệ), để có dịp ra ứng cử cai tổng thế ông Suôn, và như vậy tôi vẫn còn phục vụ trong chánh phủ. Thế là ông B. mắc kế tôi, vì khi được cho về hưu, tôi phỉnh lờ việc ra tranh cai tổng. Như vậy, tôi được nghỉ việc trong buổi trong xứ còn chiến tranh, mà tôi không bị khiển trách vì tôi hội đủ điều kiện, đủ thâm niên về hưu, và việc tôi làm vẫn hợp lệ đúng như luật định.

Nhưng số trời khó chạy, và tôi đã lính già ra non! Vợ trước của tô, cô Tuyết, quen sung sướng ở Sài Gòn, bài bạc không ai nói, nay về chung một nhà với cha chồng em chồng, tù túng bực bội, nên thường mượn cớ lên Sài Gòn buôn bán kim cường, ban đầu đi về ít bữa, sau kéo dài hàng tuần rồi hàng tháng.., cái hoạ bội tâm đã nẩy mầm từ đây. Thêm nỗi tôi vì quá mê đồ xưa và quá tin người bạn trăm năm (nay đã hết trăm năm), bởi tin nên mắc, quá nghe nên lầm! Cái tội bất hiếu của tôi và tội làm chồng bất xứng, thôi thì khỏi nói!

Từ ngày thôi làm công chức, đời tôi đã hư nay còn thêm lậm. Tôi trở nên một “ông viên ngoại” rất nhàn nhã, và rất hư thân. Cò bót làm ngơ, sức bực tham biện chủ tỉnh, tôi muốn vào văn phòng lúc nào cũng được, khiến nên nhà tôi, số 31 đường Đại Ngãi là một nhà xét (cercle) thín cẩu đánh công khai chứa hai sòng bài, bài con chim chơi tôi ngày sáng đêm không dứt, cửa ngõ không đóng và đèn đốt thuốc phiện rần rần, chung quanh cái đi-văng đỏ “long phụng sàng” lót ngay sa lông ngó ra đường cái, là nơi anh hùng hội, đủ mặt trai hư: Bảy Thà (Kế Sách), Tư Chẩn (Bãi Xàu), Y (con trai Tám Nam Thành), Mười (con ông trưởng toà Kiều), v.v., và thỉnh thoảng lại có sự hiện diện của Việt Hùng, lúc ấy chưa trổ mặt nghệ sĩ hữu danh cải lương như nay, và vẫn còn khoác áo tiểu công chức, nhưng đã thành thạo đủ nghề ca ngâm và khi cao hứng thường đến cho chúng tôi nghe những bản thúc giục lòng ái quốc và những bản cải cách nung nấu lòng kháng chiến chống quân xâm lăng: “Bà Tư bán hàng có bốn người con” v.v…

Ấy, tôi đang ở trong cảnh “giả dại qua ải”, muốn bài bạc để quên cảnh rối rắm nước nhà, Bá Lạc Đài (nhà xét của tôi) thực ra không phải để đóng vai vua Trụ mất nước”, kỳ thực đó là hình thức bề ngoài để che mắt nhà cầm quyền Pháp, khiến họ quên tôi kể như một công chức về vườn vô thưởng vô phạt.

Ấy nay vì đám thanh niên tiếc mến chút tánh tháo vát và tánh cứng cỏi của tôi rồi bỗng kéo tôi xuống khỏi đài truỵ lạc chơi bời ấy và sáng hôm 19-3, lại đẩy tôi lên diễn đàn nầy, là cái bệ lan can ngay thang lầu văn phòng ông chánh cũ, bảo tôi tuyên bố ít lời cảm ơn vì được cử làm phó hội trưởng Uỷ ban cai trị trong tỉnh, là tuyên bố làm sao? Họ lại bảo tôi nhậm phận sự tức khắc, không được diên trì vì thời kỳ quá cấp bách. Theo họ phải có người ký tên giấy thông hành tạm, bài sanh ý và bài thuế trâu ghe, không thì công việc của tỉnh phải đình trệ hết. Rõ sướng cho tôi chưa?

Nhưng quả thật không sướng chút nào! Tôi từ giã đám bạn nhỏ thanh niên, mà tôi thề không có giao thiệp và vận động cho họ đề cử tôi như vậy, tôi bước vào văn phòng chủ tỉnh, ra mắt ông hội trưởng Lâm uỷ hành chánh là ông đốc phủ sứ Võ Văn Đảnh, vốn là bạn cũ quen biết nhau từ lúc còn làm chung một toà bố ở Sa Đéc, lúc ấy ông là huyện đứng đầu phòng địa bộ điền thổ, còn tôi là ký lục phát ngân coi về bút toán ngân sách địa hạt. Tôi chào và bắt tay ông. Tôi tỏ vẻ ái ngại, nay không muốn làm thì cứ trái lòng thanh niên cũng khó, bằng nhận làm, thì e tài bất kham trọng trách, thiệt là nan giải; và thật ra tôi không có nhúng tay vào việc biểu tình, không tham dự cũng không xin xỏ việc đề cử ngang xương nầy. Tôi còn nói nữa, nhưng bao nhiêu ấy đủ làm ông Đảnh chia xớt nỗi lòng. Ông bắt tay đưa ra cửa, khuyên tôi chiều vô làm việc và nên tạm nhận hai phòng búl toán công nho tỉnh, là nghiệp cũ sở trường của tôi, dầu sao cũng ít nặng nhọc hơn ghế phó hội trưởng. Tôi vừa ra khỏi cửa, đám thanh niên chận tôi lại, tôi thú thật hết và họ cương quyết dặn tôi đừng chịu áp lực bất cử của ai: “Làm phó hội trưởng thì làm, bút toán đã có người khác”.

Và việc gì phải đến, đã đến.

Từ ngày 19-3, tôi trở vô toà bố với chức phó tỉnh trưởng, tiếng nghe cho rôm, chớ lợi lộc danh giá gì? Tôi dư biết đang đóng vai tuồng thằng hề làm trò xiệc đi dây chọc cười, thằng ngổng đánh đu bầu (chớ chi được đánh đu tiên có đào lịch sự thì cũng đáng), và ngày nào tôi rủi lé xuống đài, dẫu chết phơi thây cũng chẳng ai thương! Tôi biết dư, làm đây là làm tạm thời, trong cảnh ngộ dầu sôi lửa bỏng, chớ ngày nào trong tỉnh trở lại bình thường thì tôi sẽ được “mời” ra lập tức và cái cỗ ngon lành dọn sẵn nầy, sẽ có người trên Sài Gòn được bổ nhiệm xuống hưởng, thứ đồ bất tài thi rớt như tôi, mấy đời ai cho vượt bực, ngồi trên ngồi trước người thi đậu? Trong bụng biết vậy, nhưng nay cờ đã về tay, không phất há chẳng “phi anh hùng”!

Công việc khi vô thấy rất bề bộn, ứ đọng nhiều ngày, nhưng tôi đều coi là thường, vì tôi đã quá quen thuộc, và đều thu xếp ổn thoả, đến ông Đảnh cũng ngạc nhiên và mừng thấy tôi làm việc được: Thật tình mà nói, thanh niên có mắt và biết lựa, biết tánh tôi ngay thẳng ắt làm xong đâu vào đó, nhưng họ quên và tội nghiệp cho tôi, vì làm theo công tâm, nói nghe thì dễ, nhưng đụng chạm rất nhiều. Những ai thương tôi cũng có, nhưng người ghét và ganh tôi thật ra không phải ít:

– Ngày 20-3, mới vô làm được một ngày, sáng sớm vừa để chân vô toà bố, gặp ông Đảnh từ trên lầu bước xuống, cho hay trọn ngày ông sẽ vắng mặt vì phải lên thị sự đất giá công điền ở quận Kế Sách, và ân cần dặn tôi “hãy coi tiệm, coi nhà cho vén khéo”, “những giấy tờ quan trọng để đó tối về ông ký”.

Trời tối sẩm ông Đảnh vẫn chưa về, đợi mãi không được, tôi lui cui đạp xe về nhà, vừa ngồi vào bàn lùa được một miếng và, bỗng có đội Tỷ, là lính hầu sau đóng lon quản, chạy đến hối, có hai ông quan võ Nhựt muốn gặp gấp. Cuộc tiếp xúc hoà nhã, tôi thừa dịp xin họ dễ dãi cho ba ông Tây làm sở dẫn thuỷ nhập điền, nay còn kẹt ở vàm Cổ Cò, hiện muốn ra trình diện chịu làm tù binh, ông sĩ quan Nhựt chịu ký giấy để lại cho họ cầm đi Cần Thơ vô sự. Khi ông Đảnh về, hay tin nầy, ông tỏ vẻ rất bằng lòng cách tôi dàn xếp mau và khéo như vậy.

– Ngày 22-3 – Hôm nay Uỷ ban cai trị nhóm kỳ đại hội lần thứ nhứt, tôi thủ vai thơ ký Uỷ ban. Tự tay bao gồm từ tả tờ vi bằng phiên nhóm và thảo hết thơ văn và nghị định. Bản thảo ông Đảnh chấp thuận không sửa đổi câu nào.

Ngày 24/3 – Có lễ truy điệu nhà chí sĩ Phan Châu Trinh. Thức đêm viết bài nhắc công đức, sáng ngày ông Đảnh cử làm đại diện đọc trên diễn đàn đặt nơi công trường Hai Hình. Nhờ có ống phóng thanh do Nguyễn Văn Thân, con ông Đại, cho mượn, trên năm trăm người dự kiến và dự thính đều tỏ vẻ hài lòng. Một phụ nữ, bà sương phụ Phủ Chiếu, không cầm lòng đậu, lấy khăn lau nước mắt mãi. Sáng ngày bà lên toà bố xin một bông rượu cồn để lên Sài Gòn có việc, bây giờ mới hiểu nước mắt mỹ nhân là do không có rượu chạy xe hơn là cảm vì giọng vịt đực mình lên bổng xuống trầm.

Ngày 25/3 – Hôm nay, chúa nhựt, có thanh niên biểu tình. Sau khi kéo đi cùng đường, họ về tề tựu tại công trường Hai Hình. Có năm người ghi tên diễn thuyết. Mình đứng nghe:

1) Thầy sáu Trần Ngọc Vĩnh, đông y sĩ, mừng Việt Nam độc lập và cám ơn Đại Nippon (sic);

2) Phan Mỹ Nhựt, làm sở Bưu điện, nói về chủ nghĩa Thanh niên;

3) Võ Văn Hai, cũng làm sở Bưu điện, nói về ý kiến của Thanh niên đối với những trang sử oai hùng: chống Nguyên, kháng Minh, vua Quang Trung, Nguyễn Thái Học;

4) Lâm Văn Nhơn, thơ ký toà án, nói về ý nghĩa và sự hy sinh của dân Việt Nam;

5) Lê Văn Lý, con ông Xếp Lỏi, nói về chủ nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Tương như vậy là dứt, sửa soạn ra về, té ra thanh niên kéo mình lên diễn đàn. Không từ chối được, mình ứng khẩu về ý nghĩa bốn chữ Tận trung báo quốc của Quan Công Hầu và bốn chữ Tin trung báo quốc của Nhạc Võ Mục.

Ngày 26/3 – Lên lầu đưa công văn cho ông Đảnh ký, ông khen “Anh viết văn xuôi hay quá”. Mình cám ơn và thuật lại chuyện Diệp Sanh trong Liêu Trai, nữa đời luân lạc thi mãi không đậu, sau vâng lời một ông quan đỡ đầu, theo ông nầy về kinh, kèm dạy cho con ông ấy thi đậu và thành tài, Diệp Sanh cũng đậu khoa ấy, nhơn đi phó nhậm, con ông quan đưa Diệp Sanh trở về cố trang thì vợ Diệp Sanh khóc lạy rằng vì nghèo, quan cửu của chồng chưa chôn nay xin hồn ma đừng về khuấy phá. Nghe đến đó bỗng thấy Diệp Sanh sụp xuống, chỉ còn áo mão một đống còn người đâu không thấy. Bây giờ mới rõ lại, lúc ông quan sai người mời Diệp Sanh theo về kinh thì Diệp Sanh đang đau nặng, và chỉ cái hồn xuất ra đi theo người mời, còn cái xác trơ ở lại cho vợ gói ghém tẩm liệm. Cho hay cái tinh anh của một người bất đắc chí nó mạnh như vậy. Nay tôi tự ví như Diệp Sanh còn anh là ông quan đỡ đầu cho tôi đó.

Nghe đến đó. Ông Đảnh cười, ngó tôi mà rằng: “Chuyện anh kể nghe sao bi thảm quá. Mà anh là Vương Hồng, đâu phải Diệp Sanh?”. Ấy cái tình giữa hai tôi nồng nàn thân thiết như vậy, nay ông Đảnh đã thành người thiên cổ duy tôi luân lạc vân còn luân lạc, ai nói sống dai là hạnh phúc?

Ngày 27-3, ông Đảnh đi Bố Thảo (Thuận Hoà) chủ toạ cuộc đấu giá đất công điền bỏ tôi ở lại toà bố; ông Nghĩa thanh tra tiểu học kiêm thủ lãnh thanh niên, bảo tôi ký các giấy trưng dụng súng của các điền chủ làng Mỹ Phước, tôi tỏ vẻ ái ngại vì chữ ký ông Phó lậu vô giá trị, nhưng ông Nghĩa vẫn bảo ký, cười mà rằng: “Ký đi! Không sao đâu! Chỉ mình hai tôi (Đảnh và Nghĩa) có nói chuyện anh” (Câu nầy tôi ghi lại y nguyên văn, và có lẽ có một nghĩa nên hiểu ngầm).

Ngày 28/3 – Thứ tư, rằm tháng hai Ất Dậu. Ngày nay phí phạm sức khỏe nhiều nhứt và chỉ làm việc không công, “gánh bàn độc mướn”, làm cho người khác hưởng, còn mình vẫn “hoàn cốt khỉ”.

Phải chăng kiếp trước làm mọi bá gia? Sáng nầy, cả toà bố đều náo động, vì có quan Phó Thống đốc Nhựt, Satoh, lần đầu viếng tỉnh, với nhiệm vụ thanh tra tình hình cai trị các tỉnh. Mặc dầu ông Đảnh làm chủ tỉnh nhưng do quan hai Nhựt và thông dịch viên Sếp Hên nói sao với ông, mà ông chỉ tiếp xúc với mình. Tôi phải vừa bổn thân ghi chép khẩu lịnh ông truyền, và noi theo đó đặt để lại tờ sự vụ lịnh bằng Pháp vãn, tự đi đánh máy và trình lên cho ông đặt chữ ký vào, nhứt nhứt đều một mình làm cả.

Đến 12 giờ trưa, bổn thân mời ông Satoh và ba ông sĩ quan tuỳ tùng qua dinh chủ tỉnh dùng bữa cơm. Ông Satoh ngỏ ý cậy tôi đi kiếm mua cho ông một đôi bít-tất mà ông gọi tiếng Pháp là socquette, và dặn giá nào cũng mua, dẫu trả theo giá chợ đen cũng không sao! (même s’il le faut, au marché noir). Mua được đem về, xem bộ ông rất hài lòng và mời mình ở lại dùng bữa, nhưng mình xin kiếu vì ngày nay là rằm, ăn chay. Lúc ấy nếu quả mình muốn xin cho làm thiệt thọ, thì đây là dịp may hiếm có để ớ lại mặc sức xin xỏ, nhưng mình đã có ý riêng, chỉ mong thoát khỏi biển trầm luân và không có lòng cầu cạnh.

Tin buổi chiều ngoài phố đều đồn mình “giỏi tài ngoại giao” và làm 9/10 công việc cho chủ tỉnh. Riêng chỉ sợ nói mình bợ đít.

Ngày 23/9. Ông Satoh ở Bạc Liêu trở về, ghé nói với mình: “J’ai beaucoup à faire à Baclieu” (Tôi ở Bạc Liêu có nhiều việc phải làm lắm), coi bộ ngài rất ưng bụng về tỉnh Sốc Trăng, và chính mình tiễn ông ra xe về Sài Gòn, còn ông tỉnh trưởng Đảnh vẫy tiễn trong vòng rào toà bố. Nhưng cái ngày mình bị đào thải, ông Satoh nào hay biết.

Ngày 31-3 (thứ bảy) Uỷ ban cai trị họp phiên bất thường. Ông Đào Văn Hội làm đơn xin trở vô làm việc lại, và mình làm đơn xin nghỉ việc về hưu.

Ông hội trưởng Đảnh yêu cầu mình ở lại tiếp tục làm việc chờ ông đi dự kỳ đại hội tỉnh trưởng trên Sài Gòn, đãi lịnh trung ương rồi sẽ hay.

Ngày 3-4-1945 – 4 giờ khuya có lính kêu cửa cho hay chiếc tàu sai đi bắt Tây ở Cà Mau nay hư máy nằm chình ình tại ngã tư Cái Quanh. Giữa canh khuya phải viết tay tờ lịnh khẩn cấp như vầy:

Lịnh phiếu

Cai Mã Văn Cự, được lịnh nầy phải theo tên Long Suôn xuống chiếc tàu “Phước Hùng”, truyền lịnh cho chiếc tàu nầy mở máy chạy lập tức ra ngã tư, rước nhà binh Nhựt về Sốc Trăng, không được trái lịnh nầy.

Vì gấp rút, tôi, Phó Hội trưởng Uỷ ban cai trị tỉnh Sốc Trăng, ký lịnh nầy thế cho ông chánh chủ tỉnh Sốc Trăng ngày 3-4-1945. 4 giờ sáng.

Từ 4-4-1945 đến 23-4-1945 – Không xảy ra việc chi lạ. Nhờ biết tháo vát, công việc trở lại bình thường, nhưng tự xét thấy tủi thân vì lúc làm thơ ký “chấm công ăn tiền”, nhàn hạ làm sao nay lên ngồi ghế phó tỉnh tưởng nhọc xác bằng mười, có khi phải đặt gấp tờ lịnh rồi tự đánh máy lấy cho ít mất thì giờ, rồi tự đóng dấu trước, và bổn thân lên thang xuống thang xin chữ ký của ông chủ tỉnh cho người xin việc về kịp con nước khỏi chờ đợi tốn tiền, hoặc phải thị oai nộ nạt là cái bình sanh không muốn vì chỉ làm mích lòng anh em, thêm họ cứ khuấy rầy bằng xin bông mua sữa, mua áo thun, quên rằng mình còn phải nhiều việc quan trọng hơn như đương đầu với sự đòi hỏi quẫn bách của quân đội Nhựt, của nhà thương thiếu sữa nuôi trẻ, vân vân… Càng lấy công bình và lương tâm mà làm, càng thêm đụng chạm sanh oán sanh thù.

Ngày 8-4, ông chủ tỉnh đi Sài Gòn dự đại hội các chủ tỉnh từ 9-4 đến 12-4 giao nhà coi “nhà”, may được vô sự bình yên. Coi xử lý thường vụ và ký thế…

Ngày 10-4 và 11-4, có quan Năm Nhựt chức tá, đến nói về vấn đề súng đạn và có năm ông sĩ quan khác ghé tra vấn về vấn đề kinh tế, đêm ngủ lại đây mà lữ quán băng-la-gô chưa sửa chữa, phải châm chước mượn mùng mền nơi dưỡng đường của các bà sơ, mới được êm thắm. Cũng về vấn đề mùng mền và vải drap của dưỡng đường, sau quân đội Nhựt ép mình ký giấy sung công, mình đổ thừa làm tạm chưa có giấy bổ nhiệm, nên chữ ký vô giá trị, nhờ đó sau khỏi thường tiền và nghe đâu nơi nhiều tỉnh khác, mấy ông phó nhẹ dạ ký bừa đều thường tiền túi.

Chiều đến, bảy giờ tối, cái lão Nhựt Ezaki té xe bể đầu bầm mình, mình dậy chở lên nhà thương băng bó và chích thuốc ngừa phong đòn gánh. Về sau gặp ở đâu lão cũng xí xô xí xào cám ơn, nhưng tiếng Nhựt, tiếng Ăng-lê mình nhứt định không học, tủi thân trót biết tiếng Tây, làm đĩ một lần đủ nhục!

Về một vụ lập bản thống kê lúa gạo trong tỉnh, nơi Bạc Liêu hẹn một tuần nhựt là hoàn thành, tỉnh Sốc Trăng hẹn nửa tháng. Quan Nhựt để gươm lên bàn, trách tôi không lòng hợp tác tôi bình tỉnh trả lời: “Thời gian mười lăm hôm mới đủ hỏi từ quận xuống tổng đến làng rồi chờ làng chạy tờ lên tổng lên quận mới đến loà bố. Hay ho gì hẹn gấp mà cho tin sai, thà tôi hẹn trễ mà tin đúng”. Từ ấy người Nhựt ở Sốc Trăng biết tôi cương trực và mọi việc giao thiệp đều dễ dàng. Để chứng tỏ cách làm việc, tôi ra lịnh các anh em toà bố ráp lại làm một bảng thống kê khẩn, nội một buổi sáng là xong kẻ cộng người đánh máy, Nhựt khen Sốc Trăng làm việc số dách.

Ngày 12-4, ông chủ tỉnh ở Sài Gòn về, ra lịnh giải tán nhóm Bảo An. Bữa nay, có xe thơ bắt đầu lấy thơ chạy lên Sài Gòn. Ông Đảnh đặt thơ dạy mình đánh máy, ông ký tên gởi theo xe Huê-Nam, đề nghị mình làm phó chủ tỉnh thiệt thọ. Mình vâng lời gởi đi mà mười phần biết chắc không đi đến đâu. Số mình là vậy.

Ngày 20-4-1945, có quan tư Noda cùng đi với ông Diệp Văn Kỳ đến thanh tra trong tỉnh, mình kiếm mua dùm họ được hai bịch thuốc hút Mélia bao vàng, và đêm lại sai dọn dẹp mùng mền cho họ nghỉ tại lữ khách riêng toà bố (mai son des passagers), sáng ngày mình hối hả đi vắng vì công vụ, sau nhận được tờ lưu bút của Diệp quân, và cũng là di tích chót của chủ bút tờ Thần Chung như vầy.

“Monsieur L’ Administrateur-adjoint,

Mr le Commandant NODA me charge de vous écrire, parce que vous étiez absent à notre départ, – ces mots afin de vous remercier très sincèrement de votre hospitalité, lors de notre passage dans votre province.

Nous avons constaté avec plaisir que sous votre sage administration, les populations de Soctrang ont continué à vivre dans la tranquillité et la sécurité la plus absolue.

En réitérant mes sincères remerciements, Mr le Commandant NODA et moi, vous souhaitons bons succès et prospérité.

Signé: Diệp-Văn-Kỳ.

Đó là bức thơ viết hối hả nên nếu có phạm lỗi nhỏ đôi chỗ nên châm chế dịch là:

“Ông phó tỉnh trưởng. Quan thiếu tá NODA có cậy tôi viết thư nầy để lại ông vì lúc chúng tôi lên đường, ông vắng mặt. Chúng tôi thành thật cám ơn lòng tử tế tiếp đãi nhã nhặn, và lấy làm vui mà thấy dân sự ở tỉnh sống yên ổn và tiếp tục sống hoàn toàn an ninh nhờ sự cai trị sáng suốt của ông. Một lần nữa, chúng tôi xin đa tạ và quan tư NODA và tôi chúc ông thành công và thịnh vượng. Ký tên: Diệp Văn Kỳ”.

Ngày 22-4, thay mặt tỉnh trưởng, điếu tang mẹ anh Thái Tân Hoà bạn đồng liêu cũ trên dinh Thống đốc và mẹ bạn Thái Tân Đồng, cùng làm nơi toà bố Sốc Trăng.

Ngày 26-4, ra Đại Ngãi đọc điếu văn thay mặt tỉnh trưởng, điếu ông Đoàn Văn Tùng, là thân phụ bạn Đoàn Bá Lộc, lục sự toà án.

Ngày 5-5, đến kỳ hậu lệ tại toà bố, có quan hai Nhựt Yamamoto dự kiến.

Ngày 6-5, đổi thiếu uý Yamamoto, ông Watanabé đến thay.

Ngày 7-5, thiếu uý Watanabé đến nhà viếng xã giao.

Ngày 9-5, quan năm Nishyama đến thanh tra. Đảnh, Hồ Văn Xuân và mình đến chào ra mắt tại sở Hiến binh. Thiếu uý Watanabé đọc diễn văn phúc trình. Bữa tiếp tân có rượu bia, đậu phộng rang muối y như Triều Châu thường dùng ăn với cháo trắng, hột vịt chiên tráng thật mỏng (hà tiện) và gỏi dưa leo bóp đường.

Ngày 18-5, dự tiệc nhà cựu bang trưởng Triều Châu, Lưu Liễu tự Bang Tư, thịt dê nấu tám món do Châu Xi, chủ quán cơm danh tiếng đứng nấu.

Ngày 2-6-1945, trong đống công văn nhận được, có bức thư số 1985-P đề ngày 28-5-45 do ông Minoda ký, (và do tôi ký nhận tuân lịnh ngày 4-6-45 số 1433 CP) thì thống đốc Minoda ra lịnh thuyên chuyển ông Nguyễn Văn Trác tự Paul Larrive chức rédacteur de lère classe des Services administratifs (tôi dịch tham tá biên tập đệ nhứt hạng ngạch hành chánh) xuống thay thế tôi và dạy tôi phải nghỉ việc lập tức, vì cuộc thanh niên bầu cử tôi là không hợp pháp.

Khi tiếp công văn nầy, ông Đảnh tỏ vẻ buồn nhiều hơn tôi. Đến đêm tôi thản nhiên đi xem hát, gánh Long Xuyên xuống hát thâu tiền cứu giúp đồng bào ngoài Bắc Kỳ. Tôi ngồi gần ông Đảnh và gặp lại sau lâu năm xa cách bạn học cũ là Hồ Văn Ngà, nhưng tôi không nói chuyện nhiều e có người nghi tôi cầu cạnh, vì lúc ấy Ngà giữ chức phó khâm sai miền Nam. Dè đâu buổi gặp ấy cũng là ngày vĩnh quyết, Ngà bị hại cách mấy tháng sau.

Ngày 4-6-1945, tôi vô toà bố giã từ anh em, bắt tay biệt nhau.

Ông Đảnh nói mấy lời cảm ơn tôi đã tận tâm giúp ông mấy tháng nay. Luôn dịp tôi xin một bản sao thơ cho nghỉ việc.

Ngày 5-6, tưởng đà hết nợ, dè đâu ông Đảnh và ông Hồ Văn Xuân đi Long Phú, xe đi ngang qua nhà, hai người ép tôi cùng đi và trên xe, ông Đảnh tỏ ý tiếc thay mình ra đi, ông vô toà bố dường như thiếu một người. Ông nói một câu tiếng Pháp: “Je sen ùn vi de autour de moi” (Tôi có cảm tưởng thấy một khoảng trống chung quanh bao vây tôi). Ông than: “Anh đi rồi, bá ban vạn sự đều trút dồn về một tay tôi, nên ngã lòng quá”. Đoạn ông tâm sự: “Đánh trống động chuông, bứt mây động rừng”. Tôi với Nghĩa là bạn thâm giao, tôi lại mang tiếng nhờ Nghĩa “cử lên ngai vàng nầy”. Nay dẫu có vì tại Nghĩa mà hư hỏng việc trị an, tôi mang danh bất tài, thì cũng đành liều cho mang tiếng luôn. Chừng ấy có lẽ tôi sẽ đặng an ủi: “Ôi! Nên cũng Hà mà hư cũng Hà”.

Ngày 7-6-1945, có gánh Việt Nam kịch đoàn xuống diễn tại Sốc Trăng của chánh phủ trong đoàn có cô Năm Phỉ, người tôi mơ ước và đã nói nhiều trong “Năm chục năm mê hát” (trang 99). Gặp nhau, nghẹn lời vì tôi đã có bạn, và cô danh tiếng lẫy lừng, một đoá hoa, đang thời xuân sắc, ong bay bướm liệng chung quanh dập dìu.

Cùng đi với Việt Nam kịch đoàn, có ban chớp bóng của Sở Thông tin Sài Gòn xuống tuyên truyền. Ăn cơm tại Câu lạc bộ gọi Cercle de Sốc Trăng, do chủ tỉnh đãi Cô Năm và mười người tai mắt trong xứ của ông Cò-mí dẫn đoàn chớp bóng. Tuy đã nghỉ việc, nhưng người đẹp mời ngồi gần và không xiết gọi mình ông Phó nầy, ông phó kia, nghe nhột nhạt mà không dám mở lời cải chính. Tiệc xong, đi xem diễn tuồng “Vì đâu nên nỗi”. Ghế mời R.5 và R.6 (R, là réservé: ghế dành riêng), khi chưa làm tuồng, Cô Năm còn xuống ngồi gần hàn thuyên tâm sự, cô hẹn chấn chắn sẽ đến nhà ăn “ăn cơm một bữa, như buổi còn ăn chén hột gà chưng trên Chợ Lớn”, báo hại mình mãi ấp cây chờ thỏ, sau rõ lại Cô chọn đi dùng bữa tại nhà ông Hội đồng Quản hạt Nguyễn Văn Nhung bên Bãi Xàu và đi khiêu vũ trên đồn điền Robert Labsthe ở Hélène-ville (phụng Hiệp), hai nơi nầy cố nhiên sang trọng hơn nhà lên thơ ký tiếm vị Phó tỉnh trưởng, để gái bao ăn hột gà chưng năm xưa.

Ngày 22-6. Ông Phủ Hồ Văn Xuân được lịnh đổi đi làm chủ quận Long Mỹ (Rạch Giá). Tiệc tiễn biệt có đánh thín cẩu.

Ngày 27-6 hội quán Quảng Đông mời dự tiệc đãi sĩ quan hiến binh Nhựt. Đánh tửu rất vui, rượu bia rót đầy ly uống không bao giờ cạn. Say và làm mất một kỷ vật quí, đó là ống điếu hút thuốc vấn bằng bích ngọc rất cổ.

Ngày 27-6, dự tiệc ông Đảnh gả con, rể là một tham tá lục sự ở Vĩnh Long. Nhóm họ và chơi thín cẩu tại dinh chủ tỉnh! Tiệc cảm động vì ông Đảnh trao hết tiền hồ và sính vật cho con và rể trước mặt họ hàng và sui gia. Thực đơn viết toàn Việt ngữ, như vầy:

Hôtel Inspection- Sốc Trăng ngày 27-1945 (23 tháng 5 năm Ất Dậu) (nhóm họ)

Long đình ngư bì (canh da cá bóng)

Phụng thể kim hoa (Gà lôi đúc lò)

Mạch tửu chữ dương Dê tơ nấu rượu.

Đại hồng bưu thạch (Heo con đúc lò)

Liệt thiêu tiền ngư (Cá bống chiên)

Thập trận đại hội (cù-lao lửa)

Ngọc chủng Lam-điền (Cơm, cá, thịt kho)

Quả bỉnh song hiệp (trái cây, bánh ngọt)

Hương băng thanh vị (bom lách-xê)

Võ Văn Đảnh và nội nhân đốn thỉnh.

Ngày 7-7, dự lễ tứ tuần chị Emilie Pennen là vợ trước ông Nguyễn An Ninh.

Ngày 14-7, máy bay Mỹ bắn chiếc xe hơi chạy trên đường Văn Cơ – Đại Ngãi. Lúc bắn vào lối 12 giờ khuya. Chết ba người: hai người theo xe đi rước thầy, và ông đông y sĩ Thầy Tàu, mọi lần rước bằng xe lôi không sao, hôm nay sanh sứa đòi ngự xe ôtô, và vì đèn pha rọi sáng, nên máy bay Mỹ bắn theo chết tốt. Rạng ngày lên nhà xác nhìn kẻ lòi mắt, người văng óc, máu me đỏ lòng, ghê quá. Chiến tranh diễn ngoài Đông Dương đã trở nên khốc liệt và tỉnh nhỏ Sốc Trăng vẫn còn mê ngủ như các tỉnh nhỏ khác. Người Nhựt bắt đầu bại trận mà còn giấu.

Ngày 4-8, một ngày mà được mời dự ba bữa tiệc, cậu Ba Etienne mời đám giỗ cúng cha; ông Nghĩa đãi thân bằng lương hữu (đã nói nơi đoạn trước), và ông mời đãi thiếu uý Nhựt Watanabé.

Nhơn tiệc nầy, mình say, đòi ông Watanabé cho xem gươm báu, nghe mình xin như vậy, ông Watanabé tái mặt, trâm một hơi tiếng Nhựt với Sệp Hên là thông dịch rằng gươm rút ra khỏi vỏ phải có vấy máu mới trở vào vỏ được. Đến phiên mình xanh mặt hết say và xin rút lời nói vụng về. Ông Watanabé nhứt quyết không nghe, nắm tay mình và dắt Sếp Hên ra sân sau Câu lạc bộ, chỗ có trồng bụi chuối. Mình tưởng giờ tử hình đã đến, ông tuốt gươm sáng quắc mời mình xem lưỡi gươm hồn bất phụ thực, mình nào dám nhìn. Bỗng nghe một tiếng “phụp” một cây chuối to lớn ngã cái “rột”, ông Watanabé cười mà rằng: “Chuối thế mạng người”. Watanabé đưa tôi trở lại tiệc hồn tôi lâu lắm mới nhập, và từ ấy tôi không dám hở hang lời nói nữa. Mãn tiệc vội nghe tin ông Nghĩa, đứt gân máu lại là một bài học khác cùng một ngày cho kẻ dẫu ham rượu cách mấy cũng phải chừa. Nhưng trên đời có mấy thằng ham rượu, thề thốt đinh ninh rồi biết giữ lời?

Đêm nay, tiệc tan, thiếu uý Watanabé lui về, còn lai hai bợm rượu Nhựt, một đội trưởng và một tài xế, kẹp cổ tôi bảo dắt lên nhà Ba Chỉ, lựa ba cô đưa nhau trở lại Lữ quán băng-ga-lô chọn ba phòng.

Sáng ngày, ông Đảnh hay, dạy tìm ra cho ra khoản trả tiền: ba cô ba chục là chín chục, tiền phòng mười tám đồng (sáu đồng nhân cho ba), vị chi một trăm lẻ tám đồng cả thảy. Mấy đời có ai đánh bài công khai dinh tỉnh trưởng và được xuất công nho bao tiền trả gái.

Ngày 10-8- Từ đây, sự việc diễn biến đột ngột và quá mau, không theo và không hiểu kịp. Mới ngày 4-8 còn yến ẩm cười nói vô tư lự, hôm nay 10-8 lối mười giờ khuya, có tiếng gõ cửa gấp.

Ông Watanabé cùng đi với Sệp Hên, mặt buồn lắm, đến từ giã, rằng có việc đi xa và xin gởi tôi một báu vật. Tôi tỏ vẻ ưng thuận. Watanabé bèn gỡ cây gươm đeo bên mình, trân trọng hai tay đưa tôi, và rằng: “Cho xin gởi và khéo giữ gìn. Như hai năm nữa không trở lại thì xin tặng luôn làm vật kỷ niệm, bảo kiếm nầy đã lưu truyền đến tôi là ba đời”. Than ôi. Trong bước truân chuyên lao đao lận đận, tôi mỏi mắt chờ trông mà cố nhân Watanabé nào thấy dạng hình, duy bảo kiếm vẫn còn treo mãi trên vách. Thân tôi trói gà không chặt, mang tiếng là học giả mà câu văn viết chưa gọn, thêm tuổi già lẩn thẩn theo sau, ông giao cho tôi làm chi binh khí chỉ báu trong tay nhà tướng, nội chuyện ông chém chuối, nhớ lai tôi đủ lạnh mình (Té ra ngày 10-8 đã có tin hai trái bom nguyên tứ Mỹ thả xuống Hiroshima rồi và Nhựt sắp đầu hàng mà ông Watanabé rất kín miệng, còn giữ bí mật với tôi. Và ông gởi gươm mà không nói).

Ngày 10-8, tôi đến thăm ông đốc Nghĩa.

Ngày 13-8, Thanh niên tiền phong thành lập tại Sốc Trăng và làm lễ ra mắt (14-8). Ông chủ tỉnh cậy tôi đại diện, giới thiệu thủ lãnh Dương Văn Đen với công chúng. Tạ Bá Tòng diễn thuyết về mục đích của Thanh niên tiền phong.

Ngày 12-8, tin Nhựt đầu hàng Đồng Minh đồn rùm. Bọn chợ đen nhạy hơi, bán đổ bán tháo vật tích trữ lâu nay, vì biết rằng chiến tranh sắp dứt.

Có tin đáng mừng là Đồng Minh sẽ tuyên bố độc lập cho tất cả các nước bấy lâu bị bắt làm thuộc địa của các nước Tây phương giàu mạnh. Duy tình trạng Nam phần Việt Nam rồi sẽ ra sao?

Vấn đề nầy rất lâu không dứt khoát. Trong buổi nhóm tại Long Xuyên, trước mặt thân hào nhân sĩ và ông phủ Nguyễn Văn Tiếp làm chủ tỉnh tạm thời, ngày 30-3-1945, ông Satoh là Phó Thống đốc thay mặt ông Minoda thống đốc và có quyền hành rất lớn, đã nhạy miệng thổ lộ như sau:

Nguyên văn bằng chữ Pháp:

“II y a un gros malentendu au sujet de l’indépendance de l’Indochine. Celle-ci toute entière ;st sous le contrôle “militaire du Japon. L’indépendance de ‘Empire d’Annam et du royaume du Cambodge a été proclamée. La Cochinchine, non seulement se trouve sous” le contrôle militaire nais encore sous l’administration militaire japonaise. Donc, pas l’indépendance de la Cochinchine.

“Juridiquement, la Cochinchine était un pays franais! Juridiquement” vous étiez Franais. Vous étuez tous, sujets ‘rancais, c’est-à-dire des” Franais. Il y aurait bientôt une procla-nation du Commandant en chef de” l’Armée japonaise. Vous allé? conquérir probablement la nationalité annamite. Au point de vue sentimental, je comprends que vous sentez annamites. Les habiants pourront donc pavoiser leurs maisons aux couleurs annamites. Pour les bâtiments publics, n’arborez pas le drapeau annamite, on pourrait dire que c’est l’Empire d’Annam qui gouverne la Cochinchine. Je ne sais pas quand cela arrivera. Personnellement, j’en serais heureux, mais maintenant vous êtes sous l’Administration militaire japonaise.

“M. le Vice-Gouverneur insiste: “L’Empire d’Annam abrogé le traité de protectorat avec la France. L’Empire d’Annam était un pays protégé, et la Cochinchine était une terre franaise, maintenant, elle est sous le contrôle militaire japonais, (extrait du compte-rendu du passage de Monsieur le Vice-Gouverneur Satoh à Long Xuyen le 30 Mars 1945).

Tôi xin tạm dịch:

“Hiện có một hiểu lầm rất lớn về chế độ độc lập của Đông Dương. Cho hay toàn cõi vẫn ở dưới quyền điều khiển của nhà binh Nhựt. Sự độc lập của đế quốc An Nam và của vương quốc Cao Miên đã được tuyên bô. Nhưng cõi Nam Kỳ vẫn dưới quyền kiểm soát và dưới quyền cai trị của nền hành chính quân đội Nhựt. Và như thế đâu có độc lập cho xứ Nam Kỳ.

Đối với mặt luật, thì Nam Kỳ trước đây là một lãnh thổ thuộc Pháp. Đối với mặt luật, mấy ông đây đều là Pháp. Các ông đều là thần dân của Pháp tức người Pháp đó chi! Sắp có bản tuyên bố của quan tổng tư lịnh tổng quân đội Nhựt. Các ông sẽ thâu hồi đại khái quốc tịch An Nam. Luận về tình cảm, tôi hiểu được ông muôn được làm dân An Nam. Như vậy dân sự vẫn được treo quốc kỳ An Nam. Nhưng dinh thự công cộng không nên treo cờ An Nam, không khéo có người sẽ nói đế quốc An Nam ngự trị trên đất Nam Kỳ. Tôi chưa biêt việc ấy chừng nào sẽ đến. Riêng tôi, nếu chuyện nầy xảy đến, tôi sẽ rất vui mừng. Nhưng hiện nay các ông vẫn được đạt dưới quyền cai trị của nhà binh Nhựt”.

Phó Thống đốc Satoh lại tiếp:

“Đế quốc An Nam đã thủ tiêu tờ điều ước đô hộ của Pháp quôc. Đế quốc An Nam trước đây là một nước bị đô hộ, còn Nam Kỳ trước đây vẫn là một lãnh thổ Pháp, nay bị đặt dưới quyền kiểm soát của quân đội Nhựt…” (trích bản phúc trình cuộc tuần du tai Iong Xuyên của Phó Thống đốc Satoh ngày 30/3-1945 hiện cất giữ tại nhà).

Than ôi! Một cục mỡ béo treo trước miệng mèo, một miếng thịt bít-tết ngon lành treo trước mõm chó, đất Nam Kỳ là một thiên đàng dưới dương gian, thảo nào người ta không thèm thuồng, hễ vớ được rồi là quyết ngoặc lại cho chắc, bao giờ chịu nhả ra! Lại còn giả đạo đức, lấy luật nầy luật kia ra nói! Cho nên sau nầy dẫu thua sát nước mà họ vẫn kiên trì không chịu trả Nam Kỳ lại cho ta, và khi cùng phương đối đế, không giữ được nữa họ mới đành buông bằng cách chôn súng rồi chỉ chỗ cho lấy, vân vân…

Ngày 19-8, có cuộc biểu tình mừng độc lập và hoan nghinh ông Nguyễn Văn Sâm được vua Bảo Đại phong làm khâm sai Nam Bộ, Hồ Văn Ngà làm phó khâm sai.

Ngày 20-8, Thanh niên tiền phong biểu tình.

Ngày 25-8, Nội các Trần Trọng Kim đổ, Nguyễn Văn Sâm từ chức theo, Hồ Văn Ngà nhượng bộ. Có tin Bảo Đại thoái vị. Thiệt là quá mau và tỉnh nhỏ Sốc Trăng nào hiểu biết gì. Toàn thể công chức chỉ biết vâng vâng dạ dạ, sai gì làm nấy.

Ngày 26-8, lễ tuyên thệ của Thanh niên tiền phong trên sân vận động Chung Đôn.

Ngày 27-8, đúng ngày mình vô làm nơi Trường Máy, nay đã được 22 năm kể từ 27-8-1923. Ông Đảnh mời vô toà bố nhờ viết bài xin trả chức.

Ngày 29-8, nửa đêm nghe tiếng còi báo động, sáng hay tin ông Đảnh chủ tịch, ông Sang bác sĩ, ông Quế chủ sự Dây Thép và ông Sính trưởng toà bị thanh niên bắt rồi thả. Ngồi nhà, tâm trí ngổn ngang, nghĩ lại thương ông Đảnh tốt với mình quá, biết bao giờ gặp một người tri kỷ như vầy. Đọc lại bút tích ông viết mấy tháng trước: “Tất cả những vấn đề nào anh làm đặng, trả lời được thì nhờ anh cứ trả lời và giải quyết thế tôi. Người nào, quan khách nào tôi không rước thì anh cứ rước và trả lời “en l’air” (sic) cho xuôi việc và gởi đi lịch sự thôi”. (Võ cố nhân ôi, ngày nay tôi đọc mà còn ưa nước mắt).

Về tình nghĩa thầy trò, lúc tôi còn làm, tôi có nhận của một ân sư một giấy xin lãnh coi sóc lữ xá băng-ga-lô, một ân sư khác can thiệp cho bồi cũ ông chánh B, xin một chân lính cảnh sát. Hai việc đều ngoài phạm vi của tôi vả lại trái với lương tâm. Hai thầy nay đã năm yên dưới ba tấc đất, xin tha thứ cho con? Không phải con quên ơn hai thầy, nhưng xin thầy hiểu việc công đâu làm như việc tư được?

Ngày 2-9, Việt Minh biểu tình lần thứ nhất, tại Sốc Trăng vào mười bốn giờ chiều. Lưu Trọng Quyền dẫn theo một tù xa đề: “Bắt cóc bọn thân thiện với Pháp”. Sai may cờ mới treo trước cửa và dự biểu tình cho đến mãn cuộc.

Ngày 5-9, thanh tra miền Tây của Lâm uỷ hành chánh là ông Nguyễn Văn Tây, cùng đi với Chung Bá Khánh, trước học Chasseloup, đại diện Phật giáo Hoà Hảo, xuống Sốc Trăng diễn thuyết nhìn nhận ông Đảnh coi về cai trị. Thành lập Uỷ ban địa hạt gồm Dương Kỳ Hiệp (em cột chèo ông Nghĩa) làm chủ tịch, Tạ Bá Tòng làm phó chủ tịch. Cố vấn: ông Trương Đại Lượng đại diện Hoà Hảo và Sơn Thái Nguyên đại diện người Việt gốc Miên.

Ngày 7-9, Cần Thơ có lộn xộn, Hoà Hảo giành quyền cai trị. Thanh niên Sốc Trăng và Bạc Liêu kéo lên hiệp với thanh niên Cần Thơ mới dàn xếp xong.

Ngày 9-9, tiễn ông Lý Bình Huê toà Sốc Trăng, lên làm cố vấn Bộ Tư Pháp. Thanh niên bắt mấy người theo Hoà Hảo: Trương Đại Lượng, Lý Công Quận, Nguyễn Hữu Trinh (ngoài gọi Xã Mười Trinh) nghiệp chủ lớn, con bà Cả Tru.

Kể từ ông Đảnh có Uỷ ban hành chánh lâm thời giúp việc cai trị, mình trở nên “hưu thiệt thọ” và lãnh phận sự thay mặt Uỷ ban tiễn đưa chiến sĩ từ trần:

– Ngày 21-11-1945, điếu Phan Thành Mỹ chết trận Cái Tắc, người thứ nhất nằm nghĩa địa mới lập trước trại lính tập cũ nay không biết còn chăng?

– Ngày 22-11-1945, đọc ai điếu nhơn lễ truy điệu trận vong tướng sĩ;

– Ngày 23-11-1945 ứng khẩu khóc tại mộ anh Nguyễn Văn Chức, 37 tuổi, thợ hồ;

– Ngày 1-12-1945, khóc tiễn trước mộ chung “chiến sĩ trận vong”, anh Lâm Văn Hai tự Lén, 25 tuổi, đánh xe ngựa con ông Lâm Văn Xện, có nhà và chuồng ngựa trước trại ruộng của mình trên mé kinh và mé lộ dưới đường đi Bãi Xàu. Anh Lén chết mất xác ở Cần Thơ trong trận đánh du kích chống quân Pháp. Tôi khóc anh Lén thật tình và người chung quanh cũng khóc với tôi. Đời còn lắm phong ba, chết là yên, sống thừa thêm khổ.

Ngày 15-12-1945, đọc ai điếu nhơn lễ truy điệu chiến sĩ trận vong lần nữa.

Tuy khóc thật tình, nhưng nước mắt vẫn còn, và biết bao giờ cạn. Và đời vẫn còn thừa chuyện tếu, bắt buộc phải lau nước mắt để cười, mới sống được đến hôm nay.

Năm 1945, tôi không giữ nhật ký vì lịch bỏ túi không đâu có bán thêm nữa có lệnh cấm ngặt không cho ghi chép vì e lọt tay địch thù? Đêm 24-9, lối 2 giờ khuya, tôi được mời vô khám đến 27-9 lối 10 giờ sáng thì thả. Nhưng nhớ lại lúc đó trời bắt đầu có gió lạnh và sắp dứt mua. Có hai mươi ngoài người như tôi, trong ấy còn nhớ có Phán Kiểng, hội đồng Nhung, bác sĩ Sang, nhất là ông trưởng toà Sính, vì quá lật đật quên đem hàm răng rời theo, sáng ngày anh em ngồi chò hỏ ngó mặt nhau buồn nghiến vì sợ ở luôn đây với tết thì xui xẻo lắm. Có Phán Lợi ăn cưới về còn mặc nguyên com-lê nỉ đen, thảy đều do Chủ tịch mới hội nghị gấp mười một mười hai giờ khuya, bác sĩ S. tay còn xách túi da đựng thuốc vì chiều bữa đó ông được mời đi đón anh em ở Côn Đảo về, tội nghiệp nhất là ông trưởng toà S, quên đem theo hàm răng giả, nên sáng ra ở nhà đem cơm vô chúng tôi được hưởng trọn những gì ngon giòn còn ông chỉ trệu trạo và nuốt cơm lạt, ở được vài hôm cũng vừa quen quen với nhà pha Sốc Trăng nầy, bỗng chiều bữa nọ, cơm nước vừa xong, bác sĩ vốn là bạn thân từ lúc nhỏ, nay thêm thân vì đồng cảnh ngộ làm tù, hai đứa tôi đang cùng đi bách bộ trong khám cho đỡ tù túng chân giò. Thoạt nghe từ một trại giam bít bùng, có tiếng ai lên dây đờn cò réo rắt. Bác sĩ lấy mắt hỏi tôi, tôi cười và nói nhỏ rằng: “Thời buổi loạn ly, nếu họ cho phép đem đờn vào khám thì e chúng mình còn ở đây lâu, vì trật tự không còn và một khi trật tự đã mất, thì người ta ở ngoài sẽ quên mình và đôi ta sẽ khó trông cậy vào công bằng soi xét”. Nhưng rồi cũng quên đi… Ngờ đâu qua hôm sau, chiều đến vào đúng giờ ấy, lại nghe giọng đờn nữa, và phen nầy càng nhức nhối não nùng hơn đêm trước nhiều:

“Nghe não nuột mấy dây buôn bực,

Dường than niềm tấm tức bấy lâu” (Tỳ bà).

Không thể chịu được nữa, bác sĩ và tôi phăng lần theo hướng có tiếng đàn. Qua khỏi sân nhà xay lúa và giã gạo thì đến khám giam tội tử hình, quen gọi khám tối. Trong một khuôn cửa sầu thảm âm u, bỗng vọng ra tiếng đàn rõ rệt. Buổi ấy lính tráng cũng thật tình dễ dãi. Vả chăng hai tôi vẫn là bực đàn anh trong xứ, một người là bác sĩ chủ sở y tế địa phương có tiếng là hiền từ nhơn đức còn tôi dầu sao đi nữa mới mấy ngày trước còn ràng ràng vẫn được thanh niên yêu vì bầu cử lên làm phó tỉnh trưởng một thời gian, có quyền ký sổ mua gạo mua thực phẩm nuôi tù, vì các lẽ ấy nên xếp khám là ông Quản Lý (tên Lý) vẫn tha hồ để chúng tôi đi đi lại lại trong khám không một lời khiển trách. Nhờ vậy chúng tôi bước trờ tới cửa sổ nơi phát ra tiếng đờn. Chúng tôi định thần nhìn kỹ giây lâu, thấy lần lần hiện ra một bóng người trần truồng ngồi đưa lưng ra cửa, chân còng trong một cây cùm sắt to bằng cườm tay người lớn. Lúc ấy tiếng đàn đã bặt từ nãy giờ. Tôi lên tiếng hỏi và không quên búng mạnh vào một điếu Bách-tô đốt sẵn ngay chỗ có tiếng người. Bỗng thấy lẹ như chớp, người ấy tay chụp điếu thuốc, hít một hơi dài gần như nuốt mất cả khói, tay kia vội vội kéo manh đệm che phân nửa khúc thân dưới quá loã lồ, một cử chỉ tuyệt nhã đối với một tử tù bắt tôi băn khoăn nhớ cảnh “đàn che nửa mặt bến Tầm Dương” và nước mắt tôi bỗng rơi vì xúc cảm. Đoạn người ấy lễ phép thưa: “Dạ, không phải tôi đàn, ấy tôi hút gió bằng miệng mà thôi”. Nhơn chúng tôi hỏi vì tôi chi mà thân bị nhốt khám đại hình, bỗng người ấy đáp: “Trước kia làm nghề đi bạn ghe chài, chẳng may chủ chở đạn dược súng lậu Nhật chận bắt, chủ thuyền, lái và thuỷ thủ có dư tiền lo lót nên đều thoát khỏi vòng lao lý, duy thân nầy nghèo khổ trơ trọi, còn sót lại nằm đây, không biết ngày mai ra sao!”.

Người ấy nói tiếp nếu có được trong tay một chót đuôi lá trầu hay một cạnh lá gì cũng mặc, sẽ lấy đó làm “lưỡi gà” và tiếng kêu càng giòn càng giống hệt tiếng đàn cò hay tiếng kèn hơn nữa, và khi ấy muốn thổi bản nào, giọng nào, dây hơi nào, đều dám chắc không thua đàn thiệt. Chúng tôi cũng ngồi tù như anh, trong tay không có lá nào, vậy xin cho nghe một buổi đàn miệng suông cũng đủ là thoả nguyện. Nghe làm vậy, người ấy bèn giụm hai tay trước mồm, thọc hai ngón trỏ vào họng, rồi vừa thổi ra vừa hít hơi vào quả thật chúng tôi đứng nghe khoái trá đến quên cả cảnh tù đày và chỉ nhớ và thèm thuồng đây là một nghệ thuật độc đáo, có một không hai.

Cũng trong đêm ấy, cửa ngục thoạt mở cho chúng tôi ra khỏi khám đường Sốc Trăng, nhớ lại chúng tôi đà trải qua bốn ngày bôn đêm trong nầy. Kế liên tiếp và dồn dập sự biến chuyển của thời cuộc năm Ất Dậu, Bính Tuất (1945 – 1946) tới mãi không ngừng, chúng tôi khiếp nhược chỉ biết lo cho thân, khiến cho đến nay, tin tức âm hao người nghệ sĩ xấu số kia cũng bặt, sống chết không hay.

Đã mấy lần về thăm nhà, có người chỉ biết nghệ sĩ ấy quê ở Đại Ngãi, mà tông tích thế nào không ai biết.

Trong những buổi tiếp xúc với người Nhựt, bất cứ với quân đội hiến binh hay sĩ quan, tôi luôn luôn giữ thái độ mềm mỏng nhưng bất khuất, không bao giờ bợ đỡ, biết thì nói, không biết thì thưa không biết. Chủ trương của tôi là giữ lợi khí duy nhứt của kẻ yếu là ăn ngay nói thật. Tôi hiểu rằng đối với người có binh khí cầm tay, nhứt là đối với người Nhựt mộc mạc, nóng tính, ghét dối trá một khi bắt được nói dối thì chăng bao giờ nghe nữa. Như vậy là mình tìm cái chết. Trái lại dịu ngọt và nhỏ nhẹ, giữ đúng tiếng nói của lương tâm, thì hoạ may đổi con sư tử ra con trừu. Vả lại trong thời kỳ chiến tranh, mạng người rẻ hơn bèo. Bao giờ mình là người thụ động, bị ở trong cảnh đánh giặc, chớ lòng nào gây chiến với ai? Từ khi tôi thôi làm, có vấn đề nào éo le, cần nói chuyện với cơ quan Nhựt tại tỉnh, ông Đảnh thường cậy tôi dàn xếp và ông thường viết câu: “Anh rán hát cho hay…”. Mỗi khi có tiệc tùng, người Nhựt thường buộc tôi có mặt. Những khi như vậy, lòng nào muốn mà cũng phải đi, cũng vì tánh nhát sợ có sự hiểu lầm. Khi tôi thôi việc, họ thường nhắc nhở. Trong thơ viết từ giã yêu cầu cho thôi để hưởng hưu bổng, có câu nầy nay đọc lại thấy xấc: “Tôi không xin xỏ cũng không van nài, cũng không tìm cách từ chối bằng lối si-mê hay xu mị, kiêu ngầm hay chọc tức. Ngày nào quý vị biết rõ tôi là “đại chi vô dụng” (như cây cỏ dại mọc xó hè) và dể tôi yên thân, ngày ấy tôi mới thật mừng”. Câu nầy không phải của tôi và tôi lấy ý của Chateaubriand, nhưng không đủ tài dịch rõ hơn: “Je ne demande rien, je ne sollicite rien, je ne veux mettre ni passion, ni orgueil, ai taquinerỉe à refuser, mai aussi je sentirai une vraie joie, le Jour cù il ser arrêté que je ne sui bon à rien ét qưil faut me planter là”.

Khi bị ép ra làm, tôi có nghĩ hai câu đến nay chưa bằng bụng vì tôi không có khiếu về thơ tuy có tánh song tàng, ưa mượn của kẻ khác, hoặc làm thơ con cóc:

Lầu xanh dời lạt lầu hồng,

miệng ngoài nói cứng mà lòng đã ưng.

Lầu xanh xé giấy khoan mừng,

Giấy kia dầu xé cũng từng lầu xanh!

1945-1946-1947

TỪ ĐÂY GIA ĐÌNH BẮT ĐẦU TAN!

THÂN NHƯ CON VỊT QUAY TÍT!

Ý ĐỊNH KHÔNG MUỐN SỐNG!

– 18-12-1945( 16/2-1946: tản cư vô Hoà Tú;

– 25-10-1946 ( 15-11-1946: tản cư lên Kế Sách;

– 7-7-1947 ( rời Sốc Trăng chạy tuốt lên Sài Gòn.

Vô khám Sốc Trăng nếm mùi cơm gạo lức nước phong-tên vì tôi nhứt định gặp cảnh nào theo cảnh nấy, nên không cho người nhà đem cơm vô. Tôi thản nhiên cười nói như ở ngoài đời, anh em đều lấy làm lạ, hoặc cho tôi lập dị. Trưởng toà Sính là người nhiều phong kiến, một hai đòi xin giam chỗ khác, không ở chung với thường phạm; tôi không đồng ý, cho rằng “tố nào theo tố nấy” như vậy mà yên thân hơn, tách ra riêng chăng may bị bỏ rơi đói khát, hoặc họ phóng hoả chết cháy cũng chưa biết được, đã oan mạng, thêm mang tiếng tự mình lựa cái chết. Ông Sính nghe được, mới chịu thôi, không kêu nài. Vả chăng kêu nài cũng không ai nghe.

Tưởng ở đây đến Tết, ngờ đâu 2 giờ khuya hôm 24-9 vô đây đến 10 giờ sáng 27-9-1945 cửa khám mở rộng cho về; đi bộ từ ngục về tới nhà, tay ôm chiếc chiếu lác đã xười, vì tật chơi đồ cổ không bỏ và dầu sao cũng là vật kỷ niệm bốn ngày Dũ-lý. Về nhà bế môn không tiếp khách, duy tiếp một người như ruột rà là em Kim Chi, đến thăm chúa nhật 30-9, là bạn thân của cả vợ và chồng.

Mua hai trăm ký gạo giá tám mươi bốn đồng (84$00), không như bây giờ 1975, một bao trăm ký trên 20.000$.

Ngày 11-10 cho đến ngày 21-10, tản cư xuống trại ruộng lộ nhỏ đường đi Bãi Xàu vì tuân lịnh Uỷ ban kháng chiến. Nhưng ở đây cũng không được yên, vì tuy khách không đến khuấy rầy, nhưng tối bữa 13-10 (đêm 8 qua 9 tháng 9 Ất Dậu) có quân tử ngồi rường đến viếng; không trộm của mình mà nhè áo quần tế nhuyễn của ông bà công táp Huỳnh Văn Đạo ôm sạch. anh em làm sao biện minh? 21-10, dọn trở về nhà cũ, 31 đường Đại Ngãi. Lúc nầy thành phố sôi sục, nạn cướp bóc trong các làng xa do giặc Thổ khuấy, tin Sài Gòn rất xấu chưa biết chừng nào bọn Tây xuống đây. Ở nhà cũng không yên, Tư thường đi vắng, qua nhà anh là Tường Khi canh bài, khi gặp Thân. Mối tình đầm thẩm khi nghèo, nay đã manh nha tan rã…

Ngàv 9-12 là ngày 10-12 (5 và 6 tháng 11 Ất Dậu) gặp lại bạn cũ hội Khuyến học Sài Gòn là anh Ngô Quang Huy, chạy xuống đây, chia nhau giấy quyến hút thuốc vì đều là bợm ghiền thuốc điếu. Huy cho hay vài tin tức Sài Gòn, rồi từ giã nói lên đường đi Cao Lãnh.

Ngày 16-12, em là Vương Minh Quang dọn đồ đạc, ghế tràng kỷ, tủ áo xuống ghe và đưa thân phụ chạy về tản cư bên quê vợ ở làng Thạnh Thới An, sau bị giặc Thổ đốt phá cướp sạch luôn độ nghề làm thợ bạc, bàn cán là vật kỷ liệm thân phụ trân trọng về sau tiếc mãi. Thổ tàn ác, lột sạch, thân phụ phải đóng khố bằng vải mùng rách mà bọn chúng còn muốn không buông tha tánh mạng. Mấy hôm sau, Quang qua Hoà Tú gặp mình, mình tạm gởi mớ áo quần đỡ ngặt và phụ thân bớt lạnh đêm đông.

Ngày 17-12-1945, thanh niên đến nhà treo đồ bổi lá khô trên trình thượng hai căn phố 31 và 33 của thân phụ, ép mình ký tên cho phép đốt nhà “tiêu thổ khi có giặc Tây đến. (Về sau nhà cháy, nhưng bên bang “Công sở Quảng Đông” ở sát vách qua cứu kịp, khỏi bị hoả tai. Lúc tản cư trở về, nhà còn y, duy nám sém cửa sổ)

Cùng trong ngày, mình về dọn đưa lư hương vừa nhang qua tạm để góc tre sau trại ruộng dường Bãi Xàu, tản cư về, bát nhang ông bà còn y nguyên, vô sự.

Ngày 18-12-1945, đến lượt mình dọn hết đồ đạc sách vở đồ đưa xuống ghe tản cư vô ở nhờ nhà Trần Đắc Lợi (Chủ Lý) làng Hoà Tú. Ngày 19-12, ghe vô tới nơi, dọn lên.

Ngày 26-12, dự xem thanh niên diễn tuồng ái quốc tại nhà Chủ Lỹ.

Ngày 27-12-1945, dùng tiệc cơm Tàu nhà Trần Kế Vĩnh do chú Chín Cảo đứng nấu. Cũng vì tánh ham cao lương mỹ vị, mà chạy bỏ xừ mấy phen, nhưng chưa thấy tởn. Ngày nay vùng nầy không còn một cục gạch di tích sự nghiệp xưa, chớ xóm bà Hương Chanh nầy, trước năm 1945 là một vùng sum mậu nhứt:

– Nhà Ba Chen là một villa khang trang đẹp đẽ, nhiều nhà vùng Sài Gòn Gia Định ngày nay cũng khó sánh về mỹ thuật; em gái Chen là cô Tư, làm bánh, nấu bếp khéo vô song.

– Nhà Chủ Lỹ, là một ngôi nhà cổ ba căn, lẫm lúa cội núi dăng dăng. Lỹ là tay hào kiệt coi tiền như đất, mấy năm tản cư, đồng bào chạy ngang đều được tiếp tế đầy đủ. Gạo lúa muốn xúc bao nhiêu anh không bao giờ nói, vì tánh anh là người tiền phong, anh nuôi ý tưởng xã hội chủ nghĩa và vẫn xem tiền là phù vân, là nước bọt. Nếu có khả trách là trách anh vốn đệ tử tiên nâu, hút đến phá sản. Khi anh nằm xuống, ruộng vườn ông hà để lại không còn (nên khỏi bị truất hữu) đuy còn một chút ruộng hương hoả thì vợ con cũng chưa lãnh, vì trục trặc giấy tờ.

– Không đẹp mà khoái lạc nhứt là cơ ngơi của Trần Kế Vĩnh, ngoài gọi cậu Hai Vĩnh. Nhà ở là một nhà lầu của ông bà để lại, tuy thấp xưa mà kiên cố: vách tường dày ba lớp gạch (vách ba mươi), bọc thêm bên trong một lớp hàng rào sắt ba phân tròn, không sợ giặc cướp buổi đó. Nhà cất nối dài, nhờ vậy sau tôi dọn về đây, lại có dịp bành trướng tủ sách sập vàng y như lúc ở chợ Sốc Trăng. Nhưng chỗ tôi thích nhứt là vườn rau của Hai Vĩnh và ao nuôi cá tôm. Mương đào nước chảy thì Vĩnh nuôi cá, đủ thứ đủ giống từ cá trê vàng lườm, và tôm, loại tôm càng thật lớn con, giờ nào buổi nào có khách tới muốn ăn thức gì đều có sẵn, từ tôm nhúng giấm đến tôm luộc, tôm nướng, qua cá nướng trụi hoặc xắt lát mỏng nhúng tái ăn “tạp-pín-lù” (gọi ăn cù lao). Nhà Vĩnh tư niên chứa đủ rượu Tây ngon, rượu khai vị Martel, rượu sâm banh, chỉ thiếu nước đá, vì thuở ấy khó sắm tủ fri-gi-đe chạy dầu hôi, kỳ dư tàu vị yểu, nước chấm maggi, nước mắm hòn không bao giờ thiếu. Vĩnh không tiếc tiền, dọn ruộng đắp đất làm được một sân túc cầu trồng cỏ còn khéo và đều đặn hơn sân đá banh vườn ông Thượng Sài Gòn. Nhưng tuyệt đẹp tuyệt mỹ và bất ngờ nhứt giữa cảnh đồng khô cỏ cháy nước mặn là vườn rau Hai Vĩnh bốn mùa có đủ ớt cay, củ sả, nghệ vàng, ngải bún, và các thứ rau ngoại quốc chỉ hạ thuỷ thổ với Đà Lạt như xa-lách xon (cresson), xa-lách Đà Lạt, luôn cả khoai Tây (pomme de terre) béo bùi không chút sượng. Vĩnh có đến ba đầu bếp chuyên môn nấu theo Tây Tàu và Ta. Như đã nói bởi ham ăn khoái khẩu mà xuýt chút nữa tôi đã chôn xác và bỏ cả gia tài nơi điền Bà Hương Chanh nầy.

Năm 1946 (Bính Tuất) tin dồn dập đến tôi tại Hoà Tú và đều là tin xấu, tin nguy:

– Ngày 5-1-1946, hay tin chợ phố Sốc Trăng bị đốt, binh Tây kéo đến, bên ta rút lui.

Ngày thứ bảy 6-1-1946, đến phiên chợ phố Bãi Xàu bị cháy.

Ngày 7-1-1946, đồn điền Phủ Thạnh (Hoà Tú) ngang điền bà Phủ An, tổ chức phiên canh phòng ngừa giặc Thổ cướp phá. Điền Phủ Thạnh (con cháu là Cao Triều Trực, Cao Triều Phát), cũng ở ngang điền Nguyễn Tấn Phát (có đào con kinh nay còn gọi kinh Xã Phát), không biết hai người giận nhau điều gì, duy bên nhà dòng Nguyễn Tấn, lúc trước thấy có tấm biển treo đề hai chữ “Chánh Thọ”, không ai biết muốn nói gì, sau có người nói nhỏ, đó là “Chó Thạnh”.

Ngày 9-1-1946, tin đến càng gần, ở Hoà Tú đứng chỗ trống thấy khói mịt mù đó là chợ phố Nhu Gia bị hoả thiêu.

Ngày thứ tư 10-1-1946, Thổ dựa hơi Tây đàn áp dân ta, cướp của giựt tài sản dân đem theo, lửa khói mù trời miệt ấp Hoà An. Chúng vô lương tâm, lùa giết đồng bào vô cớ, chúng nắm tay nhau giăng thành hàng, chân giậm đạp dưới sình bùn như đi bắt chim, bao nhiêu người trốn trong lứt đế ô-rô đều bị chúng tôi ra, không trốn khỏi người nào, và đều bị chúng lấy phảng phát cỏ kéo cán thêm dài, chúng chặt đứt đầu, và oang oang tuyên bố theo lịnh Pháp dạy: “An Nam độc lập còn lâu, Đàn Thổ làm giàu một bữa!”. Lối dã man ấy, chúng gọi trong lúc rượu trắng nốc say tuý luý là “cáp duồng”, do chữ “Vương” trong “An Nam quốc vương”, nói không đủ tiếng và gọi tất là “Duồng”. Ngó ra cánh đồng chỉ thấy thiên hồn địa ám, tiếng hò tiếng hét và lửa cháy lu bù… Trong bụng nao nao, ai ai đều toan chạy nhưng chả biết chạy đi đâu. Thân khổ?

Thứ sáu 12-1-1946, tin báo đến tai: Ba bị Thổ cướp sạch tại Thạnh Thới An, trọn đêm không ngủ và nước mất cứ tuôn rơi. Sáng ngày mượn Ba Kỷ là người vạm vỡ nhứt trong đám bộ hạ, tuôn bụi lướt sình đi lấy tin tức và tiếp tế cho Ba (phụ thân), chớ thân tám thước nuôi cho nên vế nên vai nầy cam tội bất hiếu vì trói gà không chặt, đi chân không trên ruộng nẻ mùa khô, một mình không vững, chạy không xong, tiếp cứu Ba làm sao được! Giặc Thổ đâu không thấy, chỉ thấy trâu nhốt trong chuồng bị muỗi chích nên khua sừng vào cổng chuồng, hai thằng dân chợ, cả hai đều cận thị, không dùng vào đâu được.

Ngày 17-1-1946, linh ứng khiến nên mượn Thanh niên, Nông dân cứu quốc dọn sách và đồ đạc cho vừa mắt, việc xong đền ơn rất hậu, nhờ đó gây cảm tình. Nửa đêm có một anh lay xách tầm vông vạt nhọn, đến báo tin định đốt nhà mình đang tá túc, vì nghi là Việt gian. Sáng ngày ra mắt Uỷ ban cách mạng, cất nghĩa thân mình không khác con cóc đến ở nhờ hang rắn độc, nay xin phép cho mình dời qua nhà khác…

Ngày 18-1-1946, dời hết sách và tủ giường qua nhà anh Chủ Lỹ, cho ở nhà sau trọn ba căn rộng nên được dịp bày binh bố trận y như nhà cũ ở chợ Sốc Trăng. Khi binh Tây kéo đến, lấy chỗ nầy làm trụ sở, cấm phá phách, nhưng đó là việc sau.

Đêm 18-19 tháng giêng Tây (mồng năm rạng mồng sáu tháng chạp Ất Dậu). Đêm nay là đêm kinh khủng nhứt trong cuộc tản cư nầy, vừa mười giờ khuya, tiệc liên hoan cháo vịt nửa chừng, bỗng thấy lửa đỏ trời, tiếng súng nổ chát chúa điếc tai, thì ra đó là tin Tây kéo binh dùng tàu từ Bạc Liêu đánh lên Hoà Tú. Cả mấy gia quyến lật đật hốt ba mớ đồ và chạy bộ lẩn quẩn sáng đêm trên đánh đồng từ ấp Hoà Quái qua Rọc Tre, tới ấp Hoà An, chung quy một đêm tới sáng coi lại chạy không hơn ba cây số, mà kẻ mất quần, người rách áo, duy Chủ Lỹ, tay dắt mẹ, tay thủ siêu đao, ai nấy đem của quý hộ thân. Anh Chủ Lỹ chỉ lựa một lồng cu và đem theo một con gáy hay nhứt và một bó lúa vừa chín, ấy quan niệm của một người tôi cho là tiền phong là vậy! Cũng đêm nầy, người ở lại không chạy, lục soát phòng tôi, đốt giấy tờ tài liệu, thất vọng vì kiếm không thấy tiền bạc tức giận bèn rọc bìa sách may làm túi ba nha, vứt sách ra đầy ruộng, may sao cậu Năm Tuấn em Ba Chen lượm lại phơi khô sau trả đủ, thật là ơn trọng.

Ngày 20-1-1946 đến 25-1-194ó, ngồi trong ghe lớn chèo khắp vùng Lá Banh (Thổ gọi là Chắc Đối, một tên tiền định chờ phóng hoả, do chữ “Mà chắc mà đott”, tiếng Miên nghĩa là “vừa xỏ” (mà chắc), “vừa ghim” (mà đoạt), vì cá ở dưới sông nhiều cho đến bắt xỏ xâu không kịp. Đó là làng Gia Hoà thuộc hạt Sốc Trăng giáp giới tỉnh Bạc Liêu. Chạy tản cư là chạy chết, quanh đi quẩn lại chỉ dời chỗ nầy qua chỗ khác gần đó, trêu tức người bất lương chờ dịp làm hỗn, lấy của hại mạng, hễ thấy ghe Diệp Quang Dõng dời đi, thì chống ghe lại thế chỗ, và ghe Dõng lại lấy chỗ cũ của mình, vần quay xay lúa, đâu chẳng tới đâu, chán quá!

Vì kinh nghiệm năm Bính Tuất (1946), nên qua năm Mậu Thân (1968), năm Nhâm Tý (1972), năm Ất Mão (1975), nhứt định không chạy nữa, và ở một chỗ, thà chết được chết tại nhà, như vậy mà tìm được lẽ sồng, may thay! Một lẽ khác là thiên đạo chí công, tránh bịnh tránh vi trùng, không bao giờ tránh được bão tố lụt ngập, đó đều là tai trời ách nước, người ta ra sao thì mình như vậy, ở cho vững lương tâm là thượng sách. Lại nữa: “Ở đời, khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”, cũng đừng thiên mưu bách kế, khoe tài khoe giỏi hơn ai, khôn một đời chỉ dại một phút. Bình sanh vơ vét, phè phỡn mà, muốn trường cửu sao được? Rõ là thiên sanh hữu mạng, nếu bất thân thì ráng bắt chước sen bèo, mọc trong bùn mà chẳng hôi tanh, giữ vững phận bèo phận sen quản bao giọt nước hoạ may có lối thoát.

Ngày 27-1, chạy đã quá mệt, chèo chống rã tay, đua nhau đổ về nhà thờ Cha Lý, một chân tu đã trên tám mươi tuổi, ở Lá Banh, nơi nầy Thổ không dám động, một là vì chỗ tu hành, hai là Giatô – giáo là đạo của Tây, tức quan thầy của Thổ cho nên Thổ rất nể. Ở đây quả là một thánh địa, yên ổn tâm hồn được một thời gian, cầm bằng phơi nắng suốt nửa ngày bỗng gặp một tô nước mát, thêm dịp đâu lạ lùng, gặp được một bộ Vĩ dã thi tập của Tuy Lý Vương, do một tên Thổ già vơ vét một chiếc ghe nhà trí thức nào đó bỏ chạy, mua được với giá năm đồng (5$) không thì bác Thổ đã xé tơi làm giấy hút thuốc, đi đời một bộ Hán văn hiếm có (xem lại “Thú chơi sách” thuật đầy đủ hơn).

Ngày 7-2, bình bồng trên ngọn sông vắng Lá Banh (Chắt Đốt) thoạt gặp sếp Hên là thông dịch viên của hiến binh Nhựt, cũng bỏ chạy như mình, và không biết va có xấu với ai chăng, chớ với mình vẫn tốt, gặp lần nầy rồi vĩnh biệt sếp Hên luôn, kiếp con người buổi loạn ly còn rẻ hơn con trùn con dế. Ôi! Sếp Hên!

Ngày 10-2, chạy loạn mà tánh ham ăn ngon không bỏ, gặp giữa rừng già một chợ chồm hổm trên nước, thật sự là không biết bao nhiêu ghe thuyền bu xung quanh một chiếc xuồng ba lá, trên xuồng có một chảo mỡ sôi và một chị gái đầu gà đít vịt độ ba mươi tuổi, đang chiên và phân phát mau lẹ, một đồng bạc được ba con cò vừa đủ lông, rán mỡ vàng lườm, nóng hổi vừa thổi vừa ăn, còn khoái khẩu và đặc biệt hơn bồ câu ra ràng xa xỉ phẩm của bọn đài các nhóm cao lâu Chợ Lớn: Đại La Thiên, Thoại Quỳnh Lâm thời vàng son buổi trước. Cò con là thực phẩm không mất tiền mua của “sân chim” Lá Banh, mỡ heo rẻ rề, khen cho chị nông dân quê kệch xóm Chắc Đốt, lại trổ tài “ngự thiện”, biết tìm cách hốt bạc của bọn tản cư còn đột lốt phong lưu lỗi thời?

Ngày thứ hai 12-2, ngồi trong ghe nghe tin đồn xóm Bà Hương Chanh bị Thổ đốt, đến chiều có tin chắc chắn không bị đốt, quả nhiên tin đồn thất thiệt đời thuở nào vẫn có, và cái miệng con người nếu sớm biết câm thì hay biết mấy.

Gặp một chiếc ghe của Ba Oai ở Kế Sách đi ngang, truyền rằng kinh sấm dạy: đi lên thì sống, đi xuống là chết; ngặt thuyền mình đang trở mũi về Nam mới ngao ngán làm sao. Dòm lên bờ sông, cột nhà cháy còn đỏ om, càng tê tái lòng.

Ngày 15-2-1946, có người nhà ở Hoà Tú đến trao tay một giấy phép cho trở về. “Ai về nhà nấy, giặc đã yên”, giấy ký đề ngày 14-2-1946 của quyền chủ quận Phú Lộc (Đặng Hữu Nghiệp) sau lưng còn có mấy hàng chữ Thổ.

Ngày 16-2-1946, chống ghe từ Gia Hội (Chắt Đốt) về chỗ cũ làng Hoà Tú, bụng vững vì chắc “khỏi bị đốt rồi!” Xế chiều dọn đồ đạc xuống ba chiếc ghe cà vòm, hai chiếc của Bà Cả Tám cho mượn, một chiếc của anh Chủ Lỹ.

Ngày 17-2-1946, là ngày hồi quy, lòng phơi phới như trống mở cờ rung. Sáng sớm bảy tám người kéo ra chợ Hoà Tú ăn mỗi người một tô hủ tiếu các chú và uống mỗi người một tách cà phê sữa, nó ngon làm sao! Húp hủ tiếu không chừa cặn! Nút từ giọt cà phê đến sạch tách! Ôi, thứ đồ quen bơ sữa, hư thân? Thế mà lúc nãy, khi dưới ghe đi lên, đi ngang một lùm cây có một nhóm người đang dựng cột nhà, thấy bọn nầy rần rần rộ rộ đi, tưởng là bọn bạt ti zăn Tây đi bố, đã núp trốn trong cây, bọn nầy đi rồi mới dám ló ra, té ra người nhát người, các anh là lương thiện, chúng tôi đây cũng là lương thiện, khéo sợ nhau làm chi, chúng tôi nếu làm cho các anh sợ, chẳng qua là hổ giả hổ oai, con hổ có sợ người đã đành, bầy cáo như bọn tôi thế cũng có người kiêng nể, nghĩ cũng nực cười? Quả đúng: khi cá ăn kiến, khi khác kiến ăn lại cá!

Trưa ngày 17-2-46, tôi phải qua ấp Cây Gừa nơi có đồn lính Tây đóng để xin chiếu khán trên giấy phép chở đồ về chợ Sốc Trăng. Cùng đi có chị Sáu Lụa, sau là bạn trăm năm của Trần Kế Vĩnh, và nay đã mất từ lâu trong một tai nạn xe hơi chạy sau, xóc đầu vào đít xe bò chở tre và tầm vông, chị bị ngọn tre đâm vào mặt vào đầu nên chết tức tối. Đã nói đàn bà, đến Trời cũng phải sợ! Trong khi tôi ở nhà trước đang đứng xin Tây ký giấy phép và đang cắt nghĩa bọn bạt-ti-zăn Thổ hoành hành cướp bóc người Việt Nam, chị Sáu Lụa mon men xuống bếp, sáu trự Tây đang làm việc trên bu rô, cái lò nướng bánh bay hơi thơm phưng phức, chị Sáu không dằn lòng được, bèn dở nắp lò thấy sáu cái bánh bột mỳ nhân thịt, gọi bouchée à la Reine, bánh vừa chín, màu vàng khè bay thơm ngào ngạt, nhột mũi quá, chẳng lành thì chớ, chị ngó giáo giác, thấy vắng bóng người, thì lẹ như chớp, tay chị đã nhón lấy hai cái bánh và sẵn giấy nhựt trình cầm tay, chị gói lẹ làm một gói, rồi tỉnh bơ ra ngồi chờ tôi nơi băng trường kỷ kê ngoài lan can; khi tôi lãnh được giấy phép từ giã Tây ra về, vừa đi tới bờ mẫu, chưa ngoài hai chục thước, nghe tiếng chị hỏi nho nhỏ: “Dượng ăn không, Dượng Tư!”. Tôi đứng lại, chị phạch cái gói ra có hai cái bánh mời mọc cám dỗ ngon lành, mình mẩy tôi mọc ốc, mà tay vẫn bốc một cái bánh đưa vào mồm, miệng còn ứa ngốn vừa thốt câu nhân đạo: “Trời đất ôi! Bánh của Tây, chị dám ăn cắp, nó biết nó bắn thấy cha!”. Thay vì im, chị còn bướng bỉnh: “Bánh ngon quá hè! Phải chi miếng giấy lớn, tôi đã gói hết!”. Chị Sáu cũng may đã từ trần, phải chị còn, có cái gì mà chị không dám làm! Và người nữ cán bộ tên là Sáu Lụa, quê ở Bãi Xàu xưa, kháng chiến chống Tây như vậy đó!

Nhưng vẫn chưa hết nạn. Về tới nhà Chủ Lỹ, trời đã quá ngọ. Bốn lính Tây mình lông lá ở trầni trùi trụi, mặc quần đùi, nịt kè kè cây súng lục bên lưng, đang thả hồn theo mây theo, gió trên bộ ván, trước đây là tổng hành dinh của anh Chủ Lỹ nằm hút, bên vách trước mặt Tây, tôi đang lui cui mở tủ fri-gi-đe xem có gì ở trong. Bỗng tôi đóng cửa tủ lại, day mặt ngó bốn thằng mập đang ngủ vùi như bốn thây ma, tôi tỉnh hồn lại và lấy chăn tắm lật đật tôi ra nào phi tiêu nào bê rê mũ bánh dừa, nào túi đựng dao ba- nha may bằng lưng bìa da các sách quý của tôi, còn ràng ràng chừ mạ vàng: “Bulletin des Amis du Vieux Huế” V.H…, tôi biết Tây đang ngủ mê, tôi dồn hết vào chăn và êm ái ôm ra trước nhà nơi con kinh đang chảy xiết, tôi chuồi trọn gói vào dòng nước phi tang xong rồi tôi mới trở vô đánh thức mấy ông Tây, nhờ mấy ông cho phép dọn đồ lui ghe cho kịp con nước. Tôi còn giả bộ thân thiện biếu lại ba cuốn sách khiêu dâm như Satan condutt le bal, La garonne v.v…, cho mấy anh đọc chơi giải buồn… Tôi xin thêm được một xấp độ mười lăm giấy thông hành tạm ghi tên, tôi giả cớ tìm người khuân dọn, rủ hết anh em lớn nhỏ, bây giờ thế yếu, thà sớm thoát chốn nầy chờ dịp khác, mấy anh em nghe lời giả bộ người phu gồng gánh xuống dọn và theo ghe tôi về chợ Sốc Trăng rồi chia nhau giải tán, vuột khỏi bàn tay đẫm máu của lính Thổ tàn ác và lính Tây không kém ngón dâm dật, ưa hãm hiếp và cướp bóc có danh. Trong khi các anh em lo dọn, tôi lại giả đò đi tắm, kỳ thật là đi thu hồi cái hộp sắt đựng kim cương mà sau nầy vì giá trị quá lớn nên đứa gian phi đã quá mê và ẵm luôn vừa vợ vừa cái hộp sắt hiệu Fichet chứa đầy hột xoàn. Cơ khổ! Lúc tôi chôn vào bùn cái hộp ấy, tôi nhớ rõ ràng là dưới gốc cây dừa nơi ao tắm của Hai Vĩnh, và đúng mực nước mặt ao nầy. Thế mà hôm nay mò kiếm cả giờ mà không gặp cái hộp. Tôi tưởng đã bị kẻ trộm phỗng tay trên, nhưng sau rốt tôi tìm được thì cái hộp đã trồi lên cao hơn mặt nước cả tấc Tây vì lúc chạy và chôn đồ là trung tuần tháng mười một Ất Dậu (đầu năm 1946) và ngày nay đến lấy là vào tháng chạp gần Tết, trời bắt đầu hạn hán, nước sắc và mực nước xuống thấp hơn độ trước. Thảo nào, và báo hại vì đang nắng đổ mồ hôi nhiều và dầm dưới nước trót buổi, nên tôi bị cảm hết mấy ngày và vẫn mất vợ. Còn nhớ lúc ba chiếc ghe lui bến ông Tây xếp bót Hoà Tú tử tế, có cho một tên cai bat-ti-zăn Thổ theo hộ tùng, cai nầy tới mỗi khúc quanh sông Cổ Cò đều bắn súng đùng đùng, tôi khuyên đừng bắn vì phí phạm đạn dược, nhưng va vẫn không nghe, về sau tôi rõ lại va bắn để báo tin cho các bợm Thổ đừng xuất hiện kẻo khó lòng, vì va đã có lời dặn của chủ Tây, nếu để hơ hỏng, tôi có bề gì, chuyến về Tây bắn va nát óc.

Té ra hôm ấy mình gởi thân cho ăn cướp mà không hay biết. Đêm đó thức tới sáng, ngồi be ghe chịu cho sương sa gió thổi tôi về tới nhà bị cảm ho mấy ngày. Trong khi ấy người vợ trước của tôi, đau một chuyến thập tử nhứt sanh, một tay tôi tận tuỵ điều dưỡng, không kể dơ sạch, bổn thân làm cái việc đổ bô lau quét nhưng nay kể lể làm gì với người đàn bà bạc tình ấy, sống mười chín năn với kẻ nầy và sống hai mươi tám năm với người kia.

Tản cư lên Kế Sách (25-10-1946 đến 15-11-1946)

Ở Hoà Tú tản cư về, lại bị ở trong một thế kẹt. Tháng 2 năm 1946, Pháp đẻ ra “Hội nghị tư vấn Nam Kỳ”, mà phiên chớm khai mạc định vào 12-2-1946. Vừa trở về xin giấy định cư, gặp chủ tỉnh Barthel mời làm một chơn trong hội đồng nầy thay mặt cho tỉnh Sốc Trăng. Tôi giả đau từ chối khéo nên thoát nạn. Và người ra gánh vác để chết đáng thương, vì bị ám sát, lại là thầy cũ xưa dạy lớp tư (cours préparatoire) là ông Cao Đắc Lý. Ông nầy đã làm nhà mô phạm thì tưởng nên ở trong phạm vi dạy trẻ cho yên thân. Ông lại ra làm hương chủ hương cả làng sở tại Khánh Hưng, nội cái phát bông mua vải mua đường, vì thiếu kinh nghiệm hành chánh, ông đã bị bộ hạ bán đứng và mang tiếng (thầy pháp ăn mà thầy chùa chịu), nay lại nhận làm hội đồng tư vấn cho thực dân Pháp, thì dầu tu hành đạo đức như ông cùng không thoát búa rìu dư luận và của người kháng chiến; tình cảnh của ông, theo tôi, đáng thương hơn là đáng trách. Đó là cảm tưởng của tôi xét qua chút tình nghĩa thầy trò, chớ dư luận chung trong tỉnh, vẫn chờ một ngày kia, nguội rồi sẽ lấy bình lâm, công tâm soi xét.

Riêng tôi, tưởng một lúc “đánh ba búa Giảo Kim chơi”, không dè vì cãi lời thầy, “trót xuống núi lỡ rồi”, chúng nào để cho yên. Tôi cố giả dại qua ải, nhưng giả cũng không xong. Từ tháng hai đến tháng chín năm Bính Tuất (1946), tôi trở lại cái đời lêu lổng ăn chơi bài bạc, ấy là lỗi thời và có tội lúc quốc gia hữu sự. Bi cảnh cáo bốn ngày nếm gạo lức, nước phông-tên, chưa đủ; nay rục rịch hay tin kín “bên ta muốn “mời” ra Ngã Tư tiếp sức”, “bên nầy Tây sắp ép ra làm việc lại”, đêm nằm nát một lá gan tính không ra kế. Sẵn chị Hai Giang Văn rủ ren, nên nhận lời tản cư phen nầy lên Kế Sách xem cho biết cảnh vườn cây ăn trái, và cũng để tránh cơn gió mạnh: trở lại kiếp con giang hồ trải thân đãi khách nữa thì nhứt định không làm, nhưng biết làm sao từ chối với bên ta? Đã không còn trai tráng làm một Thạch Bernard, tuy có máu Tây mà chống lại Tây đến lính Tây ghê mặt; cũng không làm được như Paul Giang Văn, lẫy lừng mấy trận đánh binh đội Pháp lấy một cự mười thôi thì đi theo chị Giang Văn nầy là má của Paul, gọi tránh gỉó vừa lánh mặt khỏi làm tay sai cho Pháp và như vậy tuy không ích gì cho bên ta, nhưng cũng được khỏi tiếng giúp giáo cho giặc, tuy không khỏi tội “lãnh đạm với thời cuộc”. Nhưng đi tản cư kỳ nầy mới biết là lếu. Chỉ chạy nhà nầy qua nhà nọ cho chúng nuôi cơm, thọ ơn người vẫn là khó trả, hay là như vậy mới đúng với câu Tử vi thầy Tàu xem lúc bé: “Có phần ăn cơm bá tánh”! Còn nhớ lời Ba tôi nhắc lại việc bói số nầy, nghe câu ấy, ai cũng khen tôi có lộc ăn, duy Ba tôi nói gọn: “Số ăn mày không khác”. Cùng đi chung tản cư trong một chiếc ghe lồng khá rộng, gồm có: chị Giang Văn, vì anh ấy ở sẵn trên vườn đợi mình, vợ chồng một bạn làm y tá tên Châu, và hai đứa chúng tôi đủ vợ đủ chồng. Vợ chồng anh Châu đi được bốn ngày thì trở lộn về chợ, vì một hôm chị tâm sự với tôi trước khi tản cư chị giấu nữ trang trong một hộp thiếc thòng xuống giếng sâu sau nhà. Tôi hỏi: Còn sợi dây? Chị đáp sợi dây để nguyên. Tôi nói: Thế là chị “dâng cơm cho ni (ni là mầy)!”. Chị chưa hiểu, tôi mới giải: Chị giấu cái hộp mà còn sợi dây nhủn nhẳn, chị đi rồi, đứa nào còn ở lại, ra lấy nước dùng, thấy mối dây bèn kéo lên thì cả gia tài của chị cúng cho nó! Nghe tôi bàn làm vậy, vợ chồng anh Châu ngủ không được và sáng ngày lật đật không đợi giã từ, quá giang ghe quen rút êm về chợ Sốc Trăng, cũng may, không ai để ý chị Châu giấu vàng và vàng còn y nguyên, năm sau gặp lại nhau trên Khánh Hội (Sài Gòn), kể lại chuyện cũ, chị mắc cỡ, nói câu nửa chừng: “Mắc dịch anh, chuyện cũ nhắc hoài!”.

Còn lại vợ chồng tôi, ban đầu ở nhà vườn chị Giang Văn, là một túp lều chứa hai tim vàng còn chật huống hồ chứa vợ chồng chủ nhà thêm chứa vợ chồng tôi. Nhưng ở vườn chị Giang Văn cũng không yên thân, có tin báo động Thổ sắp đến cướp phá.

Ngày 1-11-1946, là lễ các Thánh (27 tháng 9 ta), đề huề cùng chị Giang Văn khăn gói đùm đề chạy qua tá túc nhà Bảy Thà là em của Từ Ngươi Đông, bạn học cũ. Chị Giang Vãn chiếm giang san là một giường Hồng kông có lò xo (ressort), vợ chồng tôi khẩn một bộ ván ba rộng chán. Nhà Bảy Thà ở về xóm chợ, nên mỗi sáng lại cũng ra tiệm các chú cà phê xíu mại, xá xíu bánh mì không khác lúc ở chợ Sốc Trăng. Bảy Thà là tay thín cẩu lúc trước, nay tiếp đãi tử tế, biết thuở nào báo đáp ơn tốt nầy. Sau gặp lại trên Sài Gòn, Thà làm sốp phơ, nhưng phong độ cũ không mất. Từ năm 1972, nghe nói Thà thôi làm tài xế và lui về Kế Sách xây nhà nhỏ y chỗ cũ nối lại nghiệp ông bà. Biết thuở nào chúng ta gặp nhau. Trước đây gặp một lần thì Thà đã đầu bạc trắng còn tôi thì như đèn treo trước gió, đã bảy mươi tư tuổi đầu (1975).

Riêng anh Từ Ngươi Đông, năm ngoái còn gặp anh xách gậy dạo chơi vùng chợ Tân Định, mắt lờ răng rụng ráo. Nãm nay, nhứt là từ lễ mừng Độc lập, dân ta toàn thắng, hết hạn xiềng xích thoát ách kìm kẹp Mỹ Mẽo, cũng chưa gặp và biết anh có còn để bắt tay mừng, thoả kỳ vọng ao ước năm xưa. Anh Tư Đông ôi!

Ngày 2-1l-1946, giữa trưa lén làm chúc ngôn đề phòng bất đắc kỳ lử. Nay xem lại không khỏi buồn cười, vì người thụ hưởng chỉ định đã ôm cầm sang thuyền khác.

Ngày 3-11 (thứ bảy), anh Huỳnh Vạng Thân, cai tổng kiêm chủ quận Kế An lúc ông Đảnh về làm chủ tỉnh Sốc Trăng, mời đãi cơm tại nhà và viếng vườn sầu riêng đã có trái và vườn trồng quít xiêm, mỗi năm hoa lợi trên mười vạn. Đến mùa có khách trú đến mão, mua trụm quít trái trên cây, nằm dưới gốc chờ chín và canh trộm lén. Trái sai nhành, lá xanh xen trái đỏ trái vàng, lúc ấy đứng dưới gốc bắt thèm, cảnh nhà vườn giàu hơn nhà làm ruộng, nay thời ai ai cũng trắng tay, hoạ may từ đây độc lập sẽ xây dựng lại mấy hồi. Nhưng cố nhân Huỳnh Vạng Thân có còn chăng? Chung quanh không ai biết mà trả lời!

Ngày 8-11-1946 ghé nhà Trần Phong Ngàn. Đặc biệt anh viết chữ Hán rất đẹp. Thấy anh bắt nhớ người cha sanh thành, tóc bạc phơ thường ngồi ghế tre trước cửa nhà số 31-33 đường Đại Ngãi khi thì sử dụng cây đờn Tam (Tam huyền), khi khác hút thuốc Gò xem người qua lại, lòng còn gởi đám mây Hàng, nhớ nhà ghê! Vợ anh Ngàn là chị Thu, chị của Từ Ngươi Đông, trước học lớp nhứt trường tỉnh, cùng một lớp với chị Võ, chị của Nguyên Văn Truyện, Nguyễn Văn Kế và kẻ hèn nầy. Ngàn tưởng tôi giỏi thơ, ngâm vang nhà và bắt tôi hoạ lại. Tôi nói dốt thơ, Ngàn tưởng tôi khiêm nhường và vẫn không tin.

Ngày 10-11-1946 (tháng 10 Bính Tuất), dự tuần lễ vàng tại Kế Sách. Nhà làng, gọi nhà việc (nhà để làm việc), hoặc nhà vuông (vì kiểu vuông vắn y nhau), khi khác gọi công sở, nay đổi lại là trụ sở Uỷ ban. Buổi nhóm có đủ mặt thân hào và anh em mới tháng trước đây làm chung tại Sốc Trăng dưới danh từ “Uỷ ban ban ủng hộ kháng chiến”. Mấy ngày rày không tìm ra cách trả ơn vợ chồng Giang Văn, nay thừa dịp nầy, cởi chiếc nhẫn đeo tay và chiếc nhẫn của vợ, dâng vào hộp tuần lễ vàng, một chiếc gọi đóng góp mọn mảy phận nầy, một chiếc gián tiếp trả ơn chị Giang Văn, tuy vẫn biết chị không là Phiếu mẫu và kẻ hèn nầy còn xa và làm sao sánh được người xách giỏ xử Hoài âm. Chẳng qua là một ví dụ vụng về của một tên gàn ham dẫn sách.

Mướn ghe đi ăn cơm dạo thiên hạ thét cũng thấy thẹn, bèn xin về chợ như cũ và ghe về nhà ngày nào nay cũng quên. Duy có ghi rõ mỗi ngày tiền mướn ghe chỉ có một đồng bạc, tiền cơm tiền nước chủ thuyền không kể, thiệt là giá rẻ quá sức tưởng tượng, không như tháng tư Tây năm 1975, đồng bào chạy từ miền Trung vào Sài Gòn, kẻ mướn trọn chiếc thuyền hay tàu trên bạc triệu, kẻ khác chỉ một thân tay xách mà trả giá trên mấy trên ngàn, hồi tưởng lại một phần vì đồng bạc rẻ như bèo, mà một phần lớn là người vẫn bóc lột người, và biết chừng nào đồng bào mới giác ngộ bỏ tánh tham nhũng, biết cứu người lâm nạn và biết không lợi dụng những cơn nguy cơ ấy mà lột da xẻ thịt người thất cơ.

Bài học khôn của cuộc tản cư nầy là từ đây không đi theo các chị nữa, mà cũng không nghe lời các chị nữa. Tính coi bữa ra đi ghe chèo trên ruộng ngập nước, khoảng Phú Nổ có thèo lèo ngon, bỗng có tiếng la hét từ xa, chị Giang Văn ngồi trên thuyền oai như Tôn phu nhân, dõng dạc hét bảo tôi xách súng nhảy xuống ruộng chờ Thổ đến thì bắn, tôi vâng lời nhảy xuống nước, hỏi bì đạn đâu thì chị nói không có, xem đi xem lại thì cây súng là loại súng gió bắn se sẻ, có khi đạn làm bằng hột đậu xanh. Cũng may Thổ không dám đến cho nên ngày nay tôi còn đây để thuật lại một chuyện anh hùng rơm. Leo lên thuyền, ủa lên ghe, trực nhớ lại câu hát Miên và cùng nhau cười ngả nghiêng ngả ngửa. Thổ Sốc Trăng, những lúc đua thuyền, hát rằng:

Kra bây xi srâu, bon mành xâu hen đenh

Kra bây dơ chênh, bon dênh oi trây mơ!

Dịch là:

Con trâu ăn lúa, anh không dám đuổi

Con trâu đi rồi, anh đuổi cho nàng xem.

Con trâu đang ăn lúa là con trâu đói và hung dữ, đuổi nó chém toi mạng. Con trâu ăn no là con trâu hiền, dẫu la ó sau đít nó, nó cũng vẫn đi và không quay đầu lại. Tôi nói anh hùng rơm là vậy.

Anh Giang Văn và tôi chỉ là người lối xóm. Lúc bình thời, nhà anh là một căn phố lầu ở đường Đại Ngãi, gần nhà Di Ký, đối diện và xéo xéo nhà Ba tôi số 31-33 cùng một con đường. Chị Giang Văn là người có bóng sắc, Tây lai biệt dạng mũi cao mắt sáng, nên sanh con đều lịch sự. Con trai là Paul, chết cho nước trong buổi đầu kháng chiến chống giặc Pháp. Vợ chồng Giang Văn trước ở chợ Bãi Xàu, sau dọn về đường Đại Ngãi bán đồ tạp hoá, quen gọi Bazar Giang Văn. Khi có Nhựt lật đổ chánh quyền Tây, nhứt là có Uỷ ban ủng hộ kháng chiến chúng tôi mới thân nhau và tình càng khăng khít từ độ chạy tản cư lên Kế Sách. Sau đó xa nhau, đến khi tôi chạy lên Sài Gòn, bỗng hay tin anh mất và mang theo một bầu lâm sự nan giải, anh tự vận hay tự tìm cái chết vì không muốn làm luỵ gia đình với một chứng bệnh nan y, thổ huyết. Chị Giang Văn mới mất gần đây, vì dâu trước của chị bà C.V.V, tuy có chồng khác, nhưng nuôi chị đến mãn đời.

Lìa Sốc Trăng chạy tuốt lên Sài Gòn, ngày 7-7-1947.

Tôi không muốn rời Sốc Trăng là nơi nhau rún, quê cha đất tổ, lại nữa tâm thân hư hỏng lê gần khắp lục châu, ăn cơm gần khắp lục tỉnh, năm 1947 cũng đà mỏi cánh, ỷ y có hai trăm mẫu ruộng tốt ở làng Hoà Tú, tuy rằng ruộng bên vợ, nhưng công lao khó nhọc không có tôi thì gia đình họ Nguyễn chẳng bao giờ hưởng được gia tài bà Phủ An mà di chúc một tay tôi viết tôi làm, vả lại ruộng do tôi và Thị Tuyết đồng đứng tên trong địa bộ, nhưng ngờ đâu sau nầy hồ tan keo rã, thôi thì mình còn hai tay, tự lập lấy thân, nên mặc cho bà ấy ăn trọn. Từ tản cư ở Kế Sách về, vợ thường đi vắng, dối rằng lên Sài Gòn đòi liền bán xoài còn thiếu, thật ra tôi quá tin nào biết sự nhị tâm của một người đã chung chạ từ mười chín năm, tuy không con nhưng cực khổ có nhau và lúc lâm bịnh một tay tôi nuôi dưỡng. Ban ngày tôi thường đi chơi mạt chược giải khuây nơi khách sạn với các bạn Huê kiều, nhứt là với mấy a-múi xẩm con nheo nhẻo. Đêm đến lật đật ăn cơm chiều thật sớm rồi qua ngủ nhờ nhà anh vợ là nhà lầu bà Phủ An, nơi đây kiên cố và có một toán lính Tây gác đêm, vì lúc ấy có nạn bắt cóc và bài trừ Việt gian, đêm nào tối trời và thỉnh thoảng ngoài ngã Tư thường vô chợ, chúng tôi dầu biết chẳng có làm gì nên tội, nhưng đèn nhà ai nấy sáng, tránh voi không xấu mặt. Và vẫn tánh như khó chừa, qua ngủ, nhờ bên nhà lầu bà Phủ Anh còn nhiều cuộc vii chán, cháo gà, cắt tê trâu, thín cẩu “chà nhẹ nhẹ”. Cùng lúc đó các công chức được lịnh vô ngủ Toà bố, thì đâu có ngủ mà vẫn thức sáng trắng với canh bài con bạc, vợ con cuối tháng không tiền đi chợ. Thiệt là hư hỏng?

Một buổi trưa nọ. Độ trước ngày 7-7-1947 lối mươi bữa, tình cờ tôi đến Phòng ngủ Tư Cảnh, trên đại lộ Kinh lấp xéo xéo dãy phố bà Phủ An, bỗng gặp một thầy tướng Tàu còn trẻ, nói được tiếng Việt, khi thấy tôi, y nói khan: “Sắc diện xấu, nếu không sớm cao chạy xa bay, e sẽ mắc nạn gần”. Trong bụng bán tín bán nghi, tôi hỏi gượng: “Nạn gì?” – “Nạn bị bắt không bên nầy thì bên kia! Bên nầy là bên nào, còn bên kia là bên gì? Ông hiểu lấy? Tôi thấy sao nói vậy. Nếu ông chậm trễ, qua khỏi rằm, e bít lối đi”. Tôi giã từ, biếu thầy năm đồng nhưng thầy không lấy, và rằng: “Tuy vậy, ông còn trở lại. Nếu sau nầy lời nói tôi có linh nghiệm; ông sẽ thưởng tôi?”. Thế là tôi nhứt định phái đi.

Lúc ấy tôi ho khúc khắc, một vì lo rầu việc nhà, một lẽ khác vì thuốc men không có. Tánh tôi vốn kỹ, muốn khứ lai minh bạch, nên liền đó tôi viết ít hàng gởi ra Ngã Tư xin phép đi Sài Gòn dưỡng bịnh, bữa sau được giấy trả lời vỏn vẹn hai chữ “cho đi”.

Vững bụng rồi, buổi chiều tôi vào Toà bố từ giã bên nầy là B, chủ tỉnh B, do dự, muốn cầm ở lại, viện cớ nếu để tôi đi sẽ làm nao núng nhiều người. Nhưng tôi nói thẳng: “Ở đây không có đảm bảo”. Tôi kiếu từ, đi mua vé xe, chỉ còn một chỗ chót. Tối, tôi về nhà, từ giã cha già, tội nghiệp thấy ông ứa nước mắt, tôi cầm lòng không đậu. Tôi giao việc nhà cho em là Quang, vì lúc ấy, cảnh còn trong xa, còn Vinh đã đền xong nợ nước, thân gởi ngoài cù lao, chưa biết chừng nào mới được đem xác về. Sáng ngày thui thủi xách một gói nhỏ quần áo ra xe, là một chiếc Citroen đã cũ kỹ, bảy chỗ ngồi, mang số C.P.145. Tôi ngồi băng giữa sau lưng tài xế những hành khách kia đều lạ, phụ nữ và trẻ con sau rõ lại là gia đình ông Bang Tư (Lưu Liễu), ăn mặc theo tàu, nói giong Triều Châu. Lúc ấy làm dân ông Tưởng thống chế là sướng nhứt đời ra đường không ai dám tra xét, vì tướng Lư Hán theo lịnh của Đồng Mình tước khí giới của hàng binh Nhựt vùng bắc tuyến. Thiếu chi đàn bà Việt Nam cắt tóc, diện theo xẩm buôn bán chợ đen chợ đỏ, làm giàu ngang xương, đến khi gặp lính Tây hãm hiếp không chừa, khi ấy họ mới bớt việc giả Tàu giả khách. Và quả lời thầy tướng tiên tri rất đúng. Xe tôi là chuyến áp chót qua khỏi ngày rằm tháng đó, thì đường Sốc Trăng lên Sài Gòn nghẽn lối, vì nhiều cầu vùng Phụng Hiệp bị phá hư xe không qua được, và nếu tôi còn bận bịu ở lại dưới thì có lẽ cuộc đời tôi đã xoay hướng khác, cố nhiên không giống như ngày nay, âu cũng là số mạng hay, tiền định. Và không biết xoay nên hay hư để sa lầy thêm nhiều?

Mà chuyến ra đi nầy, nhớ lại, cũng cam go không xiết kể, tưởng đã không đi đến Sài Gòn. Xe chạy vừa tới Phụng Hiệp, thoát được bót canh của lính Tây, nó xét giấy, nhìn mặt từ bộ hành rồi ra hiệu cho đi, bỗng cách không hơn một cây số ngàn xe ngừng lại vì có một nhóm thanh niên ra chận. Phen nầy nói ra sao? Một anh trai độ mười lăm mười sáu tuổi, trên tay lo le một quả mãng cầu sắt (lựu đạn), thò đầu vào cửa xe, không ngó người nào, lăm lăm chỉ ngó tôi, hỏi:

– Ông là ai?

Nghe hỏi mình mẩy tôi nổi ốc, nhưng gượng làm tỉnh:

– Tôi là Vương Hồng Sển.

– Ông đi đâu?

– Tôi đi Sài Gòn, đau đi uống thuốc.

– Thằng Cảo chết rồi, anh biết không?

Tôi nghe gọi bằng anh, lập lức hoàn hồn lại, và thằng Cảo là đứa em vừa hy sinh cho nước, tôi ngó ngay người ấy mà rằng:

– Tôi đã biết tin đó.

– Thôi, anh Hai đi đi, và chúc anh mạnh giỏi. Tại tôi nhỏ, anh không biết là ai, chớ tôi biết anh dư. Tô là bạn của Cảo, mỗi ngày đi học đều có ghé trước cửa nhà anh. Thôi, xe chạy đi!

Cả xe đều nhẹ nhõm, bác tài xế sang số mau mau miệng lầm bầm:

– Không có ông thì kẹt nặng.

Xe chạy ngang chợ phố Cần Thơ, không dám ghé vì sợ trễ chuyến đò. Qua khỏi bấc Cái Vồn, vừa chạy được vài cây số lại gặp một trạm người mặc áo vải đen (Hoà hảo). Xét hỏi giấy tờ, đếm từ tấm giấy trong ví, cũng may không sờ mó trong thân vì tôi có giấy một mớ nữ trang đem lên vợ. Xe chạy một đôi mới biết đó là binh lính của ông Năm Lửa, đóng ở Ngã Ba, mới đây còn gọi là Ngã Ba Bà Năm, sau cấm tiệt không cho gọi làm vậy vì có người cắt nghĩa “Ngã ba ống quần”.

Qua khỏi tay dân quân Hoà Hảo có tiếng là thích ép người chạy nạn phải thuộc hay biết một vài câu kinh mới buông tha, cũng may những người tôi gặp đều hiền và biết điều, hay là lời đồn kia là lời đồn huyễn, chuyên nói xấu người khác đạo? Đến bến phà Mỹ Thuận, thấy có trật tự khá, vì đây là địa điếm quan trọng chặn hai ngả thiết yếu, đường về Hậu Giang và đường đi Châu Đốc, Long Xuyên và Sa Đéc, nên trấn một thiếu uý Tây, có chút học thức, tránh được nạn hối lộ đút lót. Xe tuy khá đông, nhưng lên xuống đò ngang có thứ tự và qua sông suôn sẻ. Lòng mừng được một đỗi, xe chạy bon bon và lướt qua cầu An Hữu, rồi Cái Bè, duy khi đến Cai Lậy thì gặp một chướng ngại bất ngờ tưởng đã không kịp lên tới Sài Gòn trước bảy giờ tối là giờ thiết quân luật. Có một tên ba-đá (soldat) nhừ nhừ say, một hai muốn bắt chúng tôi xuống để nó mượn xe trở lại An Hữu gọi rằng đi thăm một thằng bạn hữu rồi sẽ trả xe cho đi thong thả. Lúc ấy trời đã chênh chếch ngả bóng về chiều, độ gần mười lăm giờ có hơn, bất đắc dĩ tôi phải dùng cách xuống nước, nài nỉ ôn hoà, cắt nghĩa êm ái rằng đường tới Sài Gòn còn xa, anh ta còn có thể đón xe sau còn nhiều chuyến nữa, và nếu dung tha chúng tôi đi trót lọt thì có ơn lớn nào bằng. Cũng may không biết tại “tiếng Tây” của tôi chưa “rỉ sét” còn đủ cam ngôn mỹ từ làm xiêu lòng ông ta, hay là nhờ một cạc-túc (cartouche) thuốc Bách tét (Bastos), hai chục gói chớ không vừa, của bác tài đem đặt trên ghế bô chỗ nó nằm mà tên say nầy gật đầu ra dấu hiệu “phóng sanh” Chúng tôi khấp khởi mừng bằng đầu thai một kiếp mới, lật đật lên xe dung rủi..Sau khi xe chạy đã xa nghe bác tài rủa một câu chỉ đủ lọt tay tôi:

– Ông coi? Đ.m! mua được năm bịch thuốc bao xanh, tưởng đem lên Sài Gòn chộ một chút lời, không dè mãi cúng dọc đường cô hồn các đảng mà cụt vốn. Chính thằng ban nãy là con hạm lớn nhứt, hôm qua đây nó đòi đốt xe tôi vì tội tiếp tế cho địch, cũng may bữa nay nó say nên quên phứt không nhìn ra tôi, và nó dốt không biết đọc sô xe ông à? Lại nữa ông biết tiếng Tây giỏi quá, coi bộ nó phục ông lắm, nên mới thoát khỏi tay nó với một bịch thuốc rẻ rề. Tôi cũng chạy vài chuyến nữa rồi kiếm nghề khác nuôi vợ con, chớ tình hình như vầy còn cầm tay lái e có ngày “mất xe mất mạng”. Xe lên tới Sài Gòn ghé chợ Bến Thành vô sự. Tôi lên xe kéo, nhờ kéo về dãy phố đường Aviateur Garros (nay Thủ khoa Huân), tìm số 75 nhà bà Hai Hẩu, xin cho tạm dung thân một thời gian để kiếm chỗ định cư.

Từ ngày 14-7-1947, lại một phen nữa, một gói một xách, tôi từ giã Bà Hai và dời về ở đậu nhà anh Tư Pierre Nguyễn Thuận Thiên, mà chúng tôi thường thân mật gọi nhau là anh Tư Ve, vì anh là bạn ve chai có hạng, lấy rượu chát làm nước, và Ve là do chữ Pierre nói trại. Chị Ve, lên tộc là Emilie Penne, không ai khác hơn là bạn trăm năm của ông Nguyễn An Ninh, nhưng nửa đường chia tay. Vợ chồng anh Ve hào hiệp có tiếng, thêm chị là người đồng hương, nên tôi không ngần ngại đến ở chung để mong gặp người đầu óc, nhưng rủi cho tôi, những khách làm chánh trị như Lê Văn Trường (nha y sĩ) tôi ít gặp, và vì số hư đi đến đâu cũng hoàn hư, khiến tôi chi gặp toàn khách tay bài con bạc, khi kéo bài oắt, khi đánh cắt tê cóc keng, khi dà-dách, khi xì-phé chạy gạo, chơi để giết thì giờ, chơi để quên thời sự. Nay đem lại những bạn như Nguyễn Văn Công (hãng Denis Frères), Cao Thượng Thinh, trong bộ biên tập tờ bác do Lê Văn Trường chủ trương, thì đã ra người thiên cổ, còn lại như Etienne Penne và chúng tôi, thì đã chia tay mỗi người có một số phận khác nhau.

Một điều nên nhắc là nay nước nhà đã độc lập, nếu cần dựng ia nhắc chuyện cũ, thì tưởng nên gắn một tấm bảng đồng nơi đường Nguyễn Huệ (Charner cũ), nơi trụ sở năm xưa của nhà khách sạn Chiêu Nam Lầu của người cô ông Nguyễn An Ninh, là nơi tụ hội khách làm chánh trị của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục, và cũng nên gắn một tấm bảng đồng khác nơi số 34 Bonnard nầy, là nơi còn dấu chân ông Nguyễn Hữu Thọ buổi thiếu thời, lối năm 1946-1947 vậy. Một người khác, không biết nay có còn mạnh khỏe chăng, là bạn Võ Văn Nhung, cựu giáo viên ở Sốc Trăng, có tên trong bộ biên tập quyển “Lịch sử thủ đô Hà Nội” (Viện sử học Hà Nội xuất bản năm 1960), đi tập kết từ lối năm 1946 nhưng nay sao chưa thấy trở về?

Qua ngày 19-7-1947, tôi mua được vé máy bay (giá 50 đồng) cho vợ bay về Sốc Trăng, ngờ đâu từ đây, con cá lặn biệt tăm, con chim bay không trở lại. Con người bạc tình ấy, khi nắm được hộp nữ trang quý giá, đã ôm cầm sang thuyền khác. Sự thật, khi trở lên, nàng có hỏi tôi muốn giữ hộp đựng mấy trăm hột kim cương do bà Phủ An để lại cho hai tôi ấy chăng? Nhưng lúc ấy, thân ăn gởi nằm nhờ nhà anh Ve, tôi không muốn có sự rắc rối cho bạn nếu rủi ro bị mất cắp, nên tôi không nhận giữ hộp của báu làm chi. Và quả thật, kiến tài ám nhãn, chẳng những tôi mất của tiền lại mất luôn vợ từ đó. (Án ly dị tại toà Sài Gòn xử ngày 7-7-1958). Nhưng thà như vậy mà rảnh tay! Có lẽ cuộc dứt tình đã khởi sự từ sau tản cư Hoà Tú trở về, nhưng vì tôi ngu tối nên không để ý, và khi thu hồi số của thì lòng tham con người càng mau xúi giục sự phân ly.

Ngày 31-7-1947, gặp Năm Sa Đéc đã quen từ lúc làm việc ở Sa Đéc, trước là nhân ngãi, nay ra đá vàng. Hai lần bị phụ tình, nay mới thiệt ban trăm năm lại không làm hôn thú. Nhưng đây mới là tình thật.

Tháng 10-47, dọn từ nhà anh Ve lên ở với Năm, một căn nhà lá, trên đất Thầy Sáu, xóm Cù Lao, đường Võ Di Nguy nối dài.

Ngày 3-4-1948, được cho vô làm trở lại nơi Viện bảo tàng, ăn lương công nhật, tính theo lương thông phán hạng nhì. 1.173$00 mỗi tháng và kể từ 1-4-1948 (số lương tuy ít, nhưng đủ dùng, nhờ vật giá rẻ, tiền phố 300$, đi chợ mỗi ngày 1$ đủ ăn, một vịt quay 40$)

Tháng 6-1948 có bố ráp tại xóm Cù Lao, lính Tây bắt cả xóm ra ngồi ngoài sân, trong lòng sợ có người lấy mất chiếc xe đạp Peugeot của bác sĩ Sang cho mượn làm chân, cũng may lính Tây cho lãnh xe lại, không lấy. Tuy vậy tiền hung hậu kiết, vì nhờ nạn bố ráp nầy, mình xin được Sở Canh nông cho phép cất một căn nhà lá tạm (giá 1.800$00, vừa công và vật liệu, cá cần đóp và đòn tay tạp). Tuy là nhà lá nhưng ở được đến năm 1953 mới dọn đi, vì nơi đây là hạnh phúc nhất trong đời tôi, vừa còn trẻ, thêm sanh nơi đây một đứa trẻ duy nhất chào đời ngày 15-1-1951 đặt tên là Vương Hồng Bảo.

Ngày 2-2-1953, dọn về nhà mới xây dựng tại làng Bình Hoà, ấp Hoà Nhơn, tỉnh Gia Định, là nơi cư trú cho đến nay. Xác nhà đã cũ trên một trăm năm, trên cửa còn chạm năm tạo lập: GIÁP DẦN NIÊN (1954).

Xác nhà nầy mua giá 6.500 bạc, giấy bán đứt đề ngày 23-2 năm 1951 lập tại Phú Xuân Hội (Nhà Bè), có thị chứng trước mặt làng ngày 30-1-1951. Chở về Bình Hoà, xây dựng lại với vật liệu cũ từ 28-9-1952 tới 2-2-1953, hoàn thành, phí tổn tính chung là 18.826$.

Cất trên sở đất diện tích 964 thước vuông (Bằng khoá II số 1.392 ngày 11-3-1965, tờ đoạn mãi lập trước chứng khế F.Fays ngày 6-11-1952, ghi trước bạ ngày 8-11-1952, bộ số 315 trương 6, số 37giá mua 20.000$00).

Đây cũng là một duyên phần gần như tiền định. Một lần xin cất trong Thảo cầm viên, sau Viện bảo tàng và hứa khi mãn phần sẽ hiến Chánh phủ, nhưng lời xin không được chấp thuận. Kế đó xin với Đô thành Sài Gòn cho cất trong vườn Tao Đàn, khi lâm chung sẽ cho luôn Đô thành vừa nhà vừa từ khí thập vật, nhưng cũng chẳng ai nghe, nay xây cất được trên sở đất của mình làm chủ, sau có trăm tuổi thì con thừa hưởng, phải chăng đây là duyên phần tiền định như trên đã nói.

Mấy phen gặp biến cố: Mậu Thân (1968), Nhâm Tý (1972), và Ất Mão (1975) đều thoát khỏi nạn binh đao, thêm nữa, nếu xây cất trong Thảo cầm viên và vườn Tao Đàn, chi cho khỏi nạn cướp phá của Bình Xuyên và lính Nùng, tôi nói có duyên phần là thế.

Hơn Nửa Đời Hư

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 5 Jun 2024

Phần 19 – Việc Gì Xảy Ra Tại Tỉnh Sốc Trăng Trong Năm 1945

Dẫn – Trong chương hồi ký nầy, tôi cố viết, theo tôi hiểu, về những việc xảy ra nơi tỉnh nhỏ quê hương yêu quí của tôi, tỉnh Sốc Trăng, sau khi Nhựt lật đổ chánh quyền Pháp tại khắp Đông Dương, bắt toàn quyền Decoux, và ra lịnh cho quân Nhựt tước đoạt quyền hành từng địa phương trong Nam Kỳ của chánh phủ đô hộ Pháp, cáo chung từ ngày 9-3-1945 và lọt về tay Nhựt dưới danh từ giải phóng cho người Việt cũng như bao nhiêu người Lào – Miên – Xiêm – Miến Điện với cái mộng bánh vẽ “Đại Đông Á”.

Tôi khuyên độc giả nên tìm đọc quyển “Hồi ký 1925-1964” tập II “1945 – 1954” của ký giả lão thành Nam Đình (Nguyễn Kỳ Nam), không bán, và dành riêng, do nhựt báo “Dân Chủ Mới” xuất bản năm Giáp Thìn (1964). Tôi nhìn nhận quyển Hồi ký ông Nguyễn Kỳ Nam nầy mới thật là tập sử liệu quí giá viết đúng phương pháp hồi ký vô tư và khách quan. Trái lại tập nhỏ hồi ký của tôi viết về Sốc Trăng, chẳng qua là những gì nghe thấy nông cạn của một đứa con sanh đẻ tại tỉnh nhỏ nầy và đã từng sống hơn mấy tháng làm nhân chứng bất đắc dĩ tại toà bố vì bị ép buộc hơn là tình nguyện. Nếu đôi khi tôi có nói nhiều về “thằng tôi” thì đó là vạn bất đắc dĩ, tình thật tôi không có ý đề cao cho tôi. Nếu vô tình tôi tự đề cao cá nhân, tôi dư biết chỉ làm cho chúng ghét, và cũng không ích gì trong tuổi gần đất xa trời nầy. Duy tôi thấy tình người thường ham đeo theo danh lợi và tình người thường quên rằng danh lợi tự dâng đến mình mới quí chớ thứ “hoạ phù thân đái”, trước sau gì cũng bị lộ tẩy và tự mình bị đào thải hay bêu xấu, lại càng thêm xấu. Khi viết tôi không cố ý, nhưng vì muốn giữ đúng sự thật, tôi vẫn kể tên lại, nếu không đúng sự thật, các nhân vật nầy có quyền cải chính.

Cho đến nay, tôi vẫn còn ngờ vực và không dám quả quyết cái mộng xây dựng “Đại Đông Á” của mấy ông Nhựt là thực hay giả? Một điều nên nhận là khi lật đổ chánh quyền Pháp từ Sài Gòn, Hà Nội đến các tỉnh trong xứ, mặc dầu lúc ấy binh Nhựt đã nếm mùi thất bại nơi nhiều chiến trận hải ngoại, nhưng trên cõi Đông Dương bắt đầu từ ngày 9-3-1945, Nhựt làm như toàn thắng và thật sự ra mặt thay thế mấy ông Tây và cai trị bằng các quan lại Việt Nam ở đâu ngồi đó, chớ tỉnh Sốc Trăng lúc ấy không có tin tức từ Sài Gòn đưa xuống, vẫn lùng tung lúng túng như người ở trong mùng giữa một đêm khuya đèn đuốc tắt từ lâu và chưa mồi lửa kịp. Xe thơ con đường liên tỉnh Cà Mau – Sài Gòn xuyên qua Sốc Trăng, Cần Thơ đã nghỉ chạy. Chánh phủ trung ương đã đổ, từ chín giờ đêm 9-3-1945. Một tài liệu đích xác tôi còn giữ được là bức điện tín mật mã dịch như sau:

“Pour Ke-An de Soctrang N.742 most 33 dépôt le 12-3-1945 à 18h15m Administrateur à délégués administratifs Kean-Longphu-Thanhtri. Au cas où circonstances (pluriel) m’obligent (présent) (pluriel) quitter direction province, vous laisse (présent) libre agir selon votre consience”.

Dịch: “Gởi cho Kế-an, từ Sốc Trăng, Số hiệu 742; 33 tiếng, gởi 12-3-1945; 18h15. Tham biện chủ tỉnh gởi các chủ quận Kế an, Long Phú, Thạnh Trị. Nếu tình hình bắt buộc tôi rời chức vị cai trị tỉnh, tôi phó thác quí vị trọn quyền hành động theo như lương tâm”.

(Nên nhớ Sốc Trăng lúc ấy chia ra làm bốn quận, và riêng quận Châu Thành khỏi gọi điện tín mật mã, vì tham biện ra khẩu lịnh vừa gọn và rành rọt hơn).

Lúc nầy quyền hành chánh trong tỉnh như rắn mất đầu, nói cách khác, đã bỏ trống. Chủ tỉnh là ông Barthel, phó là Mahé, cò là Tolosano, đều kéo theo lính mã-tà, chạy về hướng Cà Mau. Barthel nghe đâu dắt một thơ ký độc thân chạy theo, và xui xẻo xách lầm va-li của bà, toàn y phục đầm. Anh thơ ký nầy sau thưởng công được thăng ngạch cò-mi, sau cải bổ làm đốc sự, khỏi thi.

Anh tên H.V.T. Bà Barthel chạy vô ẩn trong nhà trắng với các bà sơ, lấy lộn va-li chồng, toàn y phục đàn ông, nhưng miễn cưỡng dùng được, và lúc ấy vì nạn khan vải, dẫu chức tham biện cũng mặc quần sọt và áo sơ-mi tay ngắn.

Đến nay tôi cũng chưa rõ vì duyên cớ nào (hay vì sợ trách nhiệm?) lúc đó ông chủ quận Châu Thành, có quyền ưu tiên, lại không nhận lên cầm quyền thay thế chủ tỉnh Pháp, và nhượng cho quận Kế An lên ngồi làm tỉnh trưởng tạm thời.

Một tờ bố cáo được dán khắp châu thành, tôi gỡ cất, nguyên văn như sau:

BỐ CÁO

Cùng nhân dân tỉnh Sốc Trăng đặng rõ.

Hiện nay, chánh phủ Đại Nhựt Bổn đã giao cho các quan chức và thân hào An nam tổ chức việc cai trị trong tính Sốc Trăng.

Vì nòi giống, chủng tộc, vì muốn cho dân chúng được làm ăn yên ổn, cho nên chúng tôi chẳng nể tài sơ trí siển, gánh lấy sự cai trị trong tỉnh và do hội công đồng, ngày 14 tháng 3 năm 1945 (Tây lịch) nhằm mồng một tháng hai năm Ất Dậu, cử Uỷ ban ban cai trị sau đây.

Chánh hội trưởng: Võ Văn Đảnh, đốc phủ sứ

Phó hội trưởng: Đào Văn Hội, tri phủ

Quan chủ quận Châu Thành kiêm chánh sở cảnh sát: Ngô Văn Nghị, đốc phủ sứ

– Quan chánh toà Trần Văn Tân

– Lục sự Đoàn Bá Lộc

– Thanh tra các trường sơ đẳng Nguyễn Văn Nghĩa

– Kho bạc Huỳnh Văn Đạo

– Phó kho bạc Lâm Văn Xử

– Hoạ đồ Bùi Đình Quế

– Chủ sự Bưu điện Huỳnh Văn Quế

– Kỹ sư dẫn thuỷ nhập điền Nguyễn Ngọc Bích

– Trưởng tiền cầu cống Đỗ Văn Trà

– Chánh sở Y tế Nguyễn Văn Sang

– Chủ sự Thú y Đỗ Hữu Khoán

– Chủ sự Mễ Cốc Nguyễn Thành Hộ

– Kiểm soát tài chánh Trần Văn Trọng

– Hội trưởng hội sản xuất lúa gạo Ngô Thiên Xên

– Chủ sự Bách phần Lưu Tấn Đạt

– Chủ sự Thương chánh Cao Văn Thành

– Chủ quận Long Phú Hồ Văn Xuân

– Chủ quận Thạnh Trị Hồ Văn Sĩ

– Chủ quận Kế Sách Huỳnh Vạng Thân

Chúng tôi xin nhân dân các sắc cứ vững lòng làn ăn như thường, đừng nao núng chi cả, thuế vụ phải đóng đủ, hãy tin cậy lấy Uỷ ban cai trị của chúng tôi, còn kẻ nào bất tuân luật pháp, ăn trộm, ăn cướp làm chợ đen mà bóc lột dân lương thiện vân vân thì sẽ bị trừng trị nghiêm khắc.

Sốc Trăng, ngày 15 tháng 3 năm 1945

Mồng hai tháng hai năm Ất Dậu

Hội trưởng Uỷ ban cai trị

Ký tên VÕ VĂN ĐẢNH

Những hàng gạch đậm là y nguyên văn. Tôi cũng cất giấu được bố cáo nầy nữa.

BỐ CÁO

Khẩn cấp cho các sắc dân rõ.

“Phàm dân trong toàn tỉnh ai phạm mấy điều kể sau đây sẽ bị nghiêm trị.

CHÁNH PHỦ NHẤT ĐỊNH CẤM:

1. Cờ bạc (lớn nhỏ cũng vậy)

2. Oa trữ hàng hoá, bất kể là loại nào. Phải khai liền với nhà cầm quyền.

3. Bán chợ đen và tăng giá những nhu cầu không có phép của Chánh phủ.

4. Phá rối việc trị an bằng cách: mưu loạn, phao truyền tin nghịch Chánh phủ Việt nam hay là nhà binh Nhựt. Không hợp tác với nhà cầm quyền, phá đường giao thông.

5. Trộm cướp, và lợi dụng quyền hành.

6. Giữ súng trái phép. Lính kín, lính mã tà và lính tập của Pháp đã trốn, phải về nạp súng cho Chánh phủ, súng và đạn lượm được phải giao ngay cho quan quận sở tại.

7. Các đồ đạc và tiền bạc của người Pháp để lại. Ai có giũ đồ hoặc tiền bạc của người Pháp gởi phải khai với nhà cầm quyền và nộp tại Toà bô. Đồ của người Pháp cho và đồ của họ bán mà không có biên toa cũng phải nạp: ví như đồ ăn cắp hay là mua của kẻ cắp. Ai mua có giấy tờ thì phải trình toà và chỉ rõ món đồ mua cho nhà cầm quyền xét đoán, có thể mới được làm chủ đồ ấy.

Hương quản mỗi làng phải truyền rao cho dân làng mình rõ và hành sự ngay trong năm ngày sau khi dán bố cáo nầy tại các nhà việc, chợ và quận trong tỉnh.

VIỆT NAM VẠN TUẾ

Sốc Trăng ngày 26 tháng 3 năm 1945

Quan chánh chủ tỉnh,

VÕ VĂN ĐẢNH

Và sau đây là bản dịch tờ phúc trình của Tỉnh trưởng tạm thời tỉnh Sốc Trăng số 4 đề ngày 8-4- 1945 gởi lên Thống đốc Nam Kỳ (văn phòng) dịch y nguyên văn (có in tiếp sau bản dịch), tả rõ tình hình chánh trị, kinh tế và tài chánh trong khoảng thời gian xảy ra trong tỉnh từ ngày 10-3 đến 8-4 năm 1945:

Bản dịch.

Sốc Trăng ngày 8 tháng tư dương lịch 1945

Chủ tỉnh lâm thời hạt Sốc Trăng

Kính gởi quan Thống đốc Nam Kỳ (văn phòng)

SAIGON

Trích yếu: Về tình hình chánh trị, kinh tế và tài chánh của bổn hạt Sốc Trăng từ khoảng ngày 10 tháng ba đến ngày 8 tháng tư dương lịch năm 1945.

Tham chiếu: Tiếp theo điện tín công số 45 ngày 4-4-1945 của Tỉnh trưởng Cần Thơ chuyển giao bức điện tín công số 285 ngà 3-4-1945 của Thống đốc Nam Kỳ.

Tôi xin kính trình tường tận tình hình địa hạt Sốc Trăng trong khoảng thời gian từ ngày 10 tháng ba đến ngày 8 tháng tư đã qua. Về mặt chính trị ị, kinh tế cũng như về tài chính.

1) VỀ TÌNH HÌNH CHÁNH TRỊ: Những việc quan trọng xảy ra trong đêm 9 qua 10 tháng ba dương lịch dân chúng bổn hạt biết được nhờ nghe tin đài phát thanh.

Trong ngày 13 tháng 3, trừ những công chức quan lại Pháp và gia quyến họ, thì những nhân vật công chức này đã rời nhiệm sở chạy về hướng Bạc Liêu-Cà Mau.

Thầy biện Barthel, chánh tỉnh trưởng,

– Tham biện Mahé, phó tỉnh trưởng

– Thiếu uý Rabany, trong trại chỉ huy trại lính tập địa hạt.

– Hiến binh (sen đầm) Champion và Tolosano,

– Thanh tra mật thám Canalngio, kiêl nhiệm ban hành cảnh lưu động địa hạt

– Siccé, viên coi về lò nấu rượu Bãi Xàu.

Ngoài ra, những lính đầu tiên của đạo binh Nhật xuất hiện hiện tại Sốc Trăng vào sáng bẩng tưng ngày 14 tháng ba dương lịch. Trong này 14 ấy tuân lịnh vị tướng lãnh điều khiển đạo binh Nhựt đóng tại Sốc Trăng, một nhóm nhân hào nhân sĩ hiện diện tại Châu Thành, tề tựu ban đầu dưới quyền chủ toạ của viên tướng lãnh nầy tại dinh toà bố sở tại, sau di về trụ sở Câu lạc bộ Pháp Việt do ông Ngô Văn Nghị, đốc phủ sứ, chủ quận Châu Thành làm hội trưởng, chủ toạ.

Sau buổi hội hiệp nầy, một uỷ ban được đề cứ với tánh cách lâm thời, hầu tiếp tục việc điều khiển cai trị trong bổn hạt, trong khi chờ đợi chánh quyền trung ương chỉ định viên chủ tỉnh thiệt họ cũng như sẽ chỉ định các viên chức đầu sở khác trong tỉnh.

Ngày 17 tháng ba, có một người lang-sa tên là Fauvel, đến tạm trú tại lữ quán địa hạt, đã bị đạo binh Nhựt bắt vì tội xé rách một báo cáo Việt ngữ tuyên bố Việt Nam được độc lập.

Cố vấn Trung Cộng Vi Quốc Thanh

baotreonline.com

Trần Vũ

Post on November 23rd, 2020
Post by Sơn râu 5 Jun 2024

Kỳ 17-Kỳ cuối

331 năm trước Công nguyên, sau chiến thắng Gaugamèles tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau Cải cách ruộng đất phi nhân, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi khi Cộng sản “giải phóng” vùng “tạm chiếm”?

Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa chiến thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là một vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chính Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chính Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình, ít hơn so với Hiệp ước Sơ bộ 1946 cho tự trị 2 miền Trung-Bắc, đến tận Phan Thiết. Đó là về đất đai, còn mục tiêu tối thượng – giành Độc Lập – tức giành quyền tự quyết quốc gia, Hồ Chính Minh đã đánh mất ngay tức khắc vào tay Bắc Kinh ngay khi tiếng súng vừa ngưng, còn nồng mùi tử khí.

Những ai chưa muốn tin, chỉ cần đọc lại Trận Đánh 30 Năm, tập 2, Nxb QĐND 1985, Ban Ký sự Lịch sử Tổng cục Chính trị do đại tướng Hoàng Văn Thái và trung tướng Trần Độ chỉ đạo, trang 461 và 462: “Đoàn Trung quốc đến Giơ-ne-vơ gồm 200 người, đông như một đạo quân. Họ muốn chứng minh họ là một nước lớn, mọi vấn đề có sự tham gia của Trung quốc mới có thể giải quyết thuận lợi. Lập trường của những người lãnh đạo Trung quốc gần giống của Pháp, nghĩa là một giải pháp theo kiểu Triều Tiên cho cuộc chiến tranh Đông Dương, tức là đình chiến về quân sự mà không có giải pháp đầy đủ về chính trị. Trung quốc quan tâm hàng đầu đến việc tạo ra một khu đệm ở sườn phía Nam, cách ly với Mỹ bằng những nước không có căn cứ quân sự của Mỹ, tránh được sự đụng đầu trực tiếp với Mỹ, đồng thời muốn hạn chế thắng lợi của Việt Nam, chia rẻ ba nước Đông Dương, hòng làm suy yếu và dần dần thôn tính ba nước đó, dùng làm bàn đạp bành trướng xuống Đông Nam Á. […] Trước tình hình diễn biến cụ thể của hội nghị, nhất là vì Trung quốc đã thỏa hiệp với Pháp, xuất phát từ truyền thống yêu chuộng hòa bình, tôn trọng nguyện vọng của các nước XHCN và nhân dân thế giới muốn có hòa bình, chúng ta đã chấp thuận giải pháp cuối cùng của hội nghị.”

“Giải pháp cuối cùng” là vĩ tuyến 17. Một vĩ tuyến làm Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh cảm giác “thất thu”, chính vì Việt Minh đang chiếm Tây nguyên, Đồng Tháp, Bình Trị Thiên cùng 3/4 diện tích Bắc phần, đánh tiếp quân Liên hiệp Pháp không thể thắng. 9 năm chiến tranh đã chứng minh sức ung thối các vùng đất quốc gia của Việt Minh không thể đảo hồi. Đánh tiếp, toàn bộ đất Việt sẽ rơi vào tay Việt Minh, nhưng Genève ngăn Hồ Chí Minh vượt qua  Đồng Hới và cho quân đội Quốc gia thời gian hoàn bị.

Võ Nguyên Giáp kể lại khi Chu Ân Lai thông báo chia đôi ở vĩ tuyến 17: “Bác và chúng tôi đều ngỡ ngàng. Phải chăm chú tìm trên bản đồ mới thấy dòng sông nhỏ Bến Hải ở phía Bắc tỉnh Quảng Trị. Bác nói với so sánh lực lượng trên thực tế chiến trường hiện nay, ta đề ra vĩ tuyến 13 (Phú Yên) là hợp lý, vĩ tuyến 17 đối với ta là không thể chấp nhận, chí ít cũng phải giành được vĩ tuyến 16 (Đà Nẳng).”  (Điểm hẹn Lịch sử, trang 407)

Quyết tâm của “Người” là vậy, nhưng vì sao cuối cùng Phạm Văn Đồng vẫn phải ký vào hiệp định? Vì đã đánh mất độc lập chính trị vào tay Mao. Trong lúc, trưởng đoàn Quốc gia Trần Văn Đỗ đã không ký để phản đối áp đặt thể chế Cộng sản lên miền Bắc, bất chấp áp lực từ phía Pháp. Thủ tướng Mendès France cay đắng: “Cộng sản gọi họ là bù nhìn của chúng ta, nhưng chúng ta  không thể ra lệnh cho họ ký bất kỳ điều gì.”

Trở lại với Trận Đánh 30 Năm, Ban Ký sự Lịch sử Tổng cục Chính trị chỉ có thể công khai “Trung quốc muốn hạn chế thắng lợi của Việt Nam, chia rẻ ba nước Đông Dương, hòng làm suy yếu và dần dần thôn tính ba nước đó, dùng làm bàn đạp bành trướng xuống Đông Nam Á…” trong bối cảnh chiến tranh biên giới 1979 vừa xảy ra và Hà Nội còn thù nghịch với Bắc Kinh. Sau đó Hoàng Văn Thái đột tử, còn Trần Độ bị khai trừ khỏi Đảng, một Trần Độ đã nhận ra: “Văn hóa mà không có tự do là văn hóa chết. Văn hóa mà chỉ còn có văn hóa tuyên truyền cũng là văn hóa chết. Càng tăng cường lãnh đạo bao nhiêu, càng bóp chết văn hóa bấy nhiêu, càng hiếm có những giá trị văn hóa và những nhà văn hóa cao đẹp.“

Võ Nguyên Giáp nhận ra gì? Ở chủ nghĩa Mao, Mác, Lê-Nin? Qua Hồi ức, ông vẫn tin Điên Biên Phủ là “cây cột mốc bằng vàng”, là “những tiếng vang vang tự hào”, với một tấm lòng tri ân sắt son Trung quốc. Ông không nhìn thấy mặt trái của hào quang: Lệ thuộc vũ khí khiến trở thành chư hầu. Sẽ phải triều cống đất đai và biển cả để trả nợ. Chế độ sắt máu toàn trị mà ngay cả ông cũng sợ hãi về sau. Là những gì Điện Biên Phủ đem đến. Võ Nguyên Giáp không muốn nhìn vào thực tế: Dân Việt được gì với một giai cấp cung đình tha hóa tự cho mình quyền cai trị vĩnh viễn đất nước, vì đã chiến thắng Điên Biên Phủ? Các sắc tộc thiểu số sinh sống trên miền Cao, quanh thung lũng Mường Thanh, được gì sau “lẫy lừng Điện Biên”?

Mở bất kỳ trang báo quốc nội nào cũng dễ dàng tìm thấy “những cái chết trắng”, chuỗi “đám tang không đàn ông”, những án tử hình, những cửu vạn đánh hàng sang Trung quốc rồi buôn lậu ngược về bị bắt, tỷ lệ tội ác, tội phạm ma túy cao ngất ngưỡng ở các bản làng Mường Pôn, Mường Né, Mường Tè, Mường Giang, Mường Lèo, Mường Chà… Tìm trên internet “tỉnh nghèo nhất Việt Nam”, sẽ hiện ra:

Điện Biên – Tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước

Điện Biên là một tỉnh nằm ở vùng Tây Bắc, miền Bắc Việt Nam. Giáp với các tỉnh Lai Châu và Sơn La của Việt Nam, Vân Nam của Trung Quốc ở phía Bắc, Phongsaly của Lào ở phía Tây, các huyện Pak Xeng, Pak Ou thuộc tỉnh Luangprabang của Lào ở phía Tây Nam.

Điện Biên là tỉnh giàu tiềm năng du lịch, đặc biệt là lĩnh vực văn hoá – lịch sử. Nổi bật nhất là hệ thống di tích lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ gồm: Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ – Mường Phăng; Các cứ điểm Him Lam, Bản Kéo, Độc Lập; Các đồi A1, C1, D1, E1 và khu trung tâm tập đoàn cứ điểm của Pháp (Khu hầm Đờcát). Nhưng hiện nay tỉnh Điện Biên vẫn thuộc diện đặc biệt khó khăn. Với hơn 90% dân cư là nông dân, chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp. Với tỷ lệ nghèo 38,25%, cận nghèo 6,83%, Điện Biên đang là tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước.

Sơn La – Một trong 3 tỉnh nghèo nhất Việt Nam

Sơn La là tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam, tỉnh có diện tích 14.125  km² chiếm 4,27% tổng diện tích Việt Nam, đứng thứ 3 trong số 63 tỉnh thành phố. Có hơn 92.000 hộ nghèo, nên Sơn La cũng được xem làm một trong 3 tỉnh nghèo nhất Việt Nam. Báo cáo tình hình kinh tế xã hội của UBND tỉnh Sơn La cho biết, Sơn La còn tới hơn 36.000 người thiếu đói. Sơn La hiện vẫn là một trong những tỉnh nghèo của cả nước. Toàn tỉnh có 11 huyện và 1 thành phố thì có tới 5 huyện nghèo thuộc chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững của Chính phủ (Chương trình 30a).

Tiếp đến là Hà Nam – tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất đồng bằng sông Hồng; Quảng Bình – tỉnh nghèo nhất Bắc Trung bộ; Quảng Nam – tỉnh nghèo nhất duyên hải miền Trung; Kontum – tỉnh nghèo nhất Tây Nguyên; Bình Thuận – tỉnh nghèo nhất Đông Nam bộ;  Sóc Trăng – tỉnh nghèo nhất đồng bằng sông Cửu Long… (*)

Điện Biên Phủ đem đến gì? Là câu hỏi theo Võ Nguyên Giáp xuống đáy mồ. 

[Trần Vũ] 

(*) https://10hay.com/top-list/10-tinh-ngheo-nhat-viet-nam-hien-nay.html

Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp

Vu Hoá Thầm

bản dịch của Dương Danh Dy

Trải qua hơn 2 tháng đấu tranh đàm phán, cuối cùng ngày 20/7, hội nghị Genève đạt được Hiệp định lập lại hoà bình ở Đông Dương. Hiệp định quy định: “Các bên có liên quan ở Việt Nam, Lào, Campuchia chấm dứt hành động thù địch, thực hiện ngừng bắn trên toàn cõi Đông Dương, chính phủ Pháp sẽ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia, rút quân đội của mình ra khỏi Đông Dương, lấy vĩ tuyến 17 Bắc làm giới tuyến quân sự tạm thời, lực lượng vũ trang Việt Nam tập kết ở phía Bắc giới tuyến quân đội Pháp tập kết ở phía Nam giới tuyến”.

Ngày 22/7, hai bên Việt – Pháp ra lệnh ngừng bắn. Cuộc chiến tranh chống Pháp của VN trải qua hơn 8 năm kết thúc thắng lợi, hoà bình được lập lại ở Đông Dương. Đến đây, nhiệm vụ của Vi Quốc Thanh lãnh đạo đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc giúp VN đấu tranh chống Pháp hoàn thành thắng lợi. Trong thời gian công tác ở VN, Vi Quốc Thanh được chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm nhiệt tình và tín nhiệm rất lớn. Một số kiến nghị trọng đại của đồng chí liên quan đến tác chiến và xây dựng quân đội VN đều do chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì hội nghị. Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động VN thảo luận quyết định. Sau đó Tổng Quân uỷ và cơ quan Bộ Tổng Tham mưu tổ chức thực hiện. Hồ Chí Minh nhiều lần đến nơi ở của Đoàn cố vấn thăm Vi Quốc Thanh và các cố vấn, thăm hỏi ân cần, quan tâm hết mực, có lúc còn mời Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm cùng đến chỗ ở của Người ăn cơm, luận bàn chiến sự, kể chuyện gia đình, tự do thoải mái giải bày tâm sự. Hồ Chí Minh còn tặng thơ cho Vi Quốc Thanh. Đó là một ngày sau chiến dịch Biên Giới, Hồ Chí Minh bất ngờ đến thăm đoàn cố vấn, gặp lúc Vi Quốc Thanh không có nhà. Ngày hôm sau, Hồ Chí Minh cho người đưa đến cho Vi Quốc Thanh một bài thơ chữ Hán:

Bách lý tầm quân vi ngộ quân,
Mã đề đạp toái
  lĩnh đầu vân.
Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ,
Mỗi đoá hoàng hoa nhất điểm xuân.

(Trăm dặm tìm bạn nhưng không gặp,
vó ngựa dẫm nát mây đỉnh núi.
Quay về tình cờ gặp cây mai rừng,
mỗi đoá hoa vàng một điểm xuân)

Bày tỏ tình nghĩa sâu nặng của Người đối với Vi Quốc Thanh – cũng là đối với nhân dân Trung Quốc. Khi Vi Quốc Thanh hoàn thành nhiệm vụ giúp VN sắp về nước, Hồ Chí Minh và mấy vị thành viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động VN: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Chí Thanh chiêu đãi Vi Quốc Thanh tại phủ Chủ tịch Hà Nội. Trước đó phía VN đã gửi giấy mời Vi Quốc Thanh và thư ký Vương Chấn Hoa đến, Hồ Chí Minh và từng người ôm hôn đồng chí. Ngồi ở phòng khách rộng rãi sáng sủa một lát, rồi chủ khách 7 người đi vào yến tiệc ngồi vây quanh chiếc bàn hình chữ nhật.

Hồ Chí Minh ngồi chính giữa phía chiều dài, bên phải là Vi Quốc Thanh, bên trái là Tổng Bí thư Trường Chinh. Buổi tiệc bắt đầu, Hồ Chí Minh chúc mấy câu ngắn gọn bằng tiếng Việt, ngỏ ý thư ký phiên dịch. Thư ký dịch được mấy câu thì ấp úng. Vi Quốc Thanh vội đỡ lời nói : “Phiên dịch Hầu Hàn Giang đã về nước. Người thư ký này học được ít tiếng Việt, khó hoàn thành nhiệm vụ này lắm!” Hồ Chí Minh nghe xong cả cười nói: “À! Chẳng sao, tôi sẽ nói tiếng Hán vậy, lát nữa khi đồng chí nói chuyện với Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh, tôi làm phiên dịch!” Trong 5 thành viên phía VN, Hồ, Phạm, Võ đều biết chữ Hán và nói được tiếng Trung Quốc, Trường Chinh chỉ biết chữ Hán, không biết nói tiếng Trung Quốc, Nguyễn Chí Thanh biết chút ít chữ Hán cũng không nói được tiếng Trung Quốc. Vì thế sau lời chúc Hồ Chí Minh đích thân làm phiên dịch.

Mọi người và Vi Quốc Thanh trò chuyện chân tình nồng nhiệt, thể hiện tình hữu nghị chiến đấu lưu luyến bịn rịn. 34 năm sau, tức tháng 9 năm 1990, khi Bắc Kinh tổ chức Á vận hội, Võ Nguyên Giáp nhận lời mời đến Bắc Kinh khai mạc. Lúc này Vi Quốc Thanh đã qua đời hơn một năm. Võ Nguyên Giáp có nhã ý gặp thăm Hứa Kỳ Thanh, phu nhân của Vi Quốc Thanh, và con gái Vi Tiểu Nhạn. Khi Hứa Kỳ Thanh mời Võ Nguyên Giáp nói đôi lời về Vi Quốc Thanh, đồng chí trầm tư một lát rồi đánh giá như sau: “Đồng chí Vi Quốc Thanh là con người kiên định. Thời kỳ tôi cùng làm việc với đồng chí là thời kỳ hoàng kim trong lịch sử của tôi. Chúng tôi sống với nhau trong những ngày Việt Nam gian khổ nhất. Đồng chí rất kiên định. Khi đồng chí nói sắp rời VN, chúng tôi cùng nhìn lại công tác mấy năm qua, quan hệ giữa chúng tôi rất tốt. Đồng chí tặng tôi một bức hoành xinh đẹp “Gió đông đón khải hoàn” vẫn treo trong phòng làm việc của tôi, người bạn tri kỷ nhất của tôi là đồng chí Vi Quốc Thanh”.

Công tác của đồng chí Vi Quốc Thanh dẫn đầu Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại VN và những đóng góp của đồng chí cho cuộc chiến tranh chống Pháp của VN là một trang vẻ vang trong lịch sử Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Tình hữu nghị chiến đấu gắn bó giữa nhân dân và quân đội hai nước Trung – Việt sẽ trường tồn trong lịch sử hai nước Trung – Việt, nhân dân hai nước mãi mãi không bao giờ quên. (Hết)

Vu Hoá Thầm

(đăng trong Thượng tướng Phong vân lục
Nxb Đại Bách Khoa toàn thư xuất bản năm 2000;
tác giả là Vương Chấn Hoa, bút danh Vu Hóa Thầm)

Văn Tiến Dũng chủ nhiệm Ủy ban Liên hiệp Đình chiến Trung Ương tại Việt Trì 1954.

Mao mừng chiến thắng Điện Biên?

 Việt Minh vượt cầu Long Biên vào Hà Nội

Ủy ban Liên hiệp Đình chiến   

Bảo Đại và quân đội quốc gia tháng 4-1954

Hà Nội sau 1954.    

Cố vấn Trung Cộng Vi Quốc Thanh

baotreonline.com

Trần Vũ

Post on November 23rd, 2020

Post by Sơn râu 5 Jun 2024

Kỳ 16

Kiểm Duyệt Ngay Cả Địa Ngục

Trong bản dịch Điện Biên Phủ – Một góc địa ngục của Vũ Trấn Thủ, Nxb Công An Nhân dân 2004, Hữu Mai, là người ghi lại hồi ức của Võ Nguyên Giáp, viết:

‘‘Nhân dịp kỷ niệm 50 chiến thắng Điện Biên Phủ, « Điện Biên Phủ – Một góc địa ngục của Bernard Fall » đã đến với người đọc Việt Nam. Tôi coi đây là một công trình trung thực, đầy đủ nhất của phương Tây viết về Điện Biên Phủ. Cuốn sách sẽ giúp cho người đọc thấy và hiểu được hầu như mọi diễn biến, con người ở phía bên kia, một sự bổ sung tuyệt vời cho những cuốn sách của chúng ta về Điện Biên Phủ. Tôi nghĩ đây cũng là dịp để bày tỏ lòng biết ơn một người đã đứng bên chúng ta trong suốt cuộc trường chinh giành tự do, đã ngã xuống trên chiến trường như một chiến sĩ, mà chúng ta chỉ biết tới một cách muộn màng, đó là nhà báo, nhà sử học, người anh hùng Bernard Fall. Tôi cũng nghĩ đây là lời cảm ơn chân thành gửi tới chị Dorothy Fall, người đã luôn luôn là trợ thủ đắc lực của chồng trong cuộc đấu tranh, người đã không ngừng gắn bó với Việt Nam.’’ (trang 14, sđd)

Hữu Mai bầy tỏ lòng tri ân của dân Việt mà ấn bản Việt ngữ từ bản Pháp văn Un Coin d’Enfer của Michel Carrière là lời cảm ơn chân thành gửi đến quả phụ Dorothy Fall. Một Dorothy mà Bernard Fall đã âu yếm ghi lên nền địa ngục: «Tặng Dorothy đã sống ba năm dài cùng những bóng ma Điện Biên.» (À Dorothy qui vécut trois longues années en compagnie des fantômes de Dien Bien Phu). Một Dorothy đã hy sinh trong cô độc, trong âm thầm lặng lẽ nuôi con, cho chồng sang Việt Nam khảo sát chiến tranh rồi cán mìn nổ tan xác.

Lời cảm ơn chân thành này ra sao?

Trang 207, Bernard Fall viết: ‘‘Về phía Việt Minh, họ cũng phải trả giá đắt cho trận đồi « Gabrielle ». Theo ước tính của các phi công quan sát Pháp, kẻ thù phải thiệt hại trên 1000 tử thương và có thể từ 2000 đến 3000 bị thương, và các tổn thất này thuộc các đơn vị thiện chiến nhất của đối phương. Qua kiểm thính điện đài của địch, Giáp đang phải khẩn cấp lấp đầy những lỗ hổng binh sĩ trong các đơn vị…’’ (Du côté du Vietminh, la bataille pour « Gabrielle » a aussi coûté cher. Selon les estimations des observateurs aériens français, l’ennemi a perdu vraisemblablement plus de 1000 tués et a eu peut être de 2000 à 3000 blessés, et cela dans certaines des meilleures unités qu’il possède. D’après les écoutes françaises du trafic radio ennemi, Giap a besoin de combler d’urgence les vides creusés dans ses rangs…)

Bản Việt ngữ của Vũ Trấn Thủ, trang 329: ‘‘Về phía Việt Minh, họ cũng phải trả giá đắt cho trận « Gabrielle ». Qua theo dõi điện đài của địch, người ta thấy Giáp đang phải gấp rút lấp lại những lỗ hổng trong các đơn vị…’’

Không dịch: « Theo ước tính của các phi công quan sát Pháp, kẻ thù phải thiệt hại trên 1000 tử thương và có thể từ 2000 đến 3000 bị thương, và các tổn thất này thuộc các đơn vị thiện chiến nhất của đối phương. »

Trang 244, Bernard Fall viết: ‘‘Hai chiến xa hư hại nhẹ vì đạn rốc kết, nhưng đến 15 giờ khi trận ấu đả kết thúc, lính nhảy dù đứng trước một cảnh tượng phi thường. Kẻ thù tháo lui trong hỗn loạn và các đơn vị Pháp làm chủ trận địa. Thêm nữa thi thể của 400 xác Việt Minh nằm đầy mặt đất. Hai đại bác 57 ly, 5 đại liên cao xạ 12 ly 7, 2 trọng liên 12 ly 7 khác, 2 súng phóng rốc kết, 14 trung liên và hơn 1000 vũ khí cá nhân còn nguyên vẹn rơi vào tay quân nhảy dù.’’(Deux des chars sont légèrement endommagés par des roquettes, mais à 15 heures, la bagarre terminée, les parachutistes se trouvent devant un spectacle étonnant. L’ennemi se repli en désordre et les français sont maitres du champ de bataille. Par ailleurs les corps de 400 Vietminh jonchent le sol. Deux canons de 57, 5 mitrailleuses de 12,7 armes antiaériennes, 2 autres mitrailleuses de 12,7, 2 lance-roquettes, 14 FM et plus de 1000 armes individuelles tombent intacts entre les mains des parachutistes.)

Bản Việt ngữ của Vũ Trấn Thủ, trang 387: ‘‘Hai chiến xa bị đạn rocket địch bắn hư hại nhẹ nhưng đến 15 g, khi trận ấu đả đã kết thúc, quân Pháp đã làm chủ trận địa thu được 2 khẩu pháo cao xạ 57 ly, 5 khẩu trọng liên cao xạ 12,7 ly, 2 khẩu trọng liên 12,7 ly khác, 2 súng rocket, 14 trung liên và hơn 1000 vũ khí cá nhân khác.’’

Không dịch: « Kẻ thù tháo lui trong hỗn loạn và thi thể của 400 xác Việt Minh nằm đầy mặt đất. »

Những ai biết Pháp văn đều dễ dàng nhận ra vô vàn những đoạn bị cắt cúp, biên tập, cắt sén hoặc thay chữ, trong mục đích làm lợi cho Việt Minh và thêm hào quang cho Võ Nguyên Giáp. Nhưng vô liêm nhất, là chương 11, chương “Kết thúc” (La Fin) dài 39 trang chữ nhỏ trong bản Pháp văn, sang đến bản tiếng Việt chỉ còn đúng 3 trang rưỡi, co chữ to. Vũ Trấn Thủ chú thích:“Tới đây là hết diễn biến của trận Điện Biên Phủ. Tiếp sau là vài đoạn nói về những diễn biến sau trận đánh. Vì khuôn khổ cuốn sách có hạn, chúng tôi mạn phép tác giả và độc giả không dịch những đoạn này mà tiếp theo ngay vào chương 12: Lời bạt.”

Vì sao không dịch tiếp? Vì các đoạn sau Bernard Fall viết về thương binh, tù binh, chính sách cải tạo nhồi sọ cùng sự tàn ác trong các trại giam Việt Minh. Như trang 521 Fall ghi lại, từ lời kể của các tù binh thả về, cảnh các binh sĩ Lê dương gốc Đức bất chấp quản giáo bắt hát Quốc tế ca và phải vỗ tay khi ban Tuyên giáo chiếu phim, đã đồng loạt đồng ca “Ich Hatt’einen Kameraden, Einen bess’ren findst du nicht..” (Tôi có những đồng đội, anh không thể tìm thấy những bạn tốt hơn..). Trang 523, Fall kể lại việc y sĩ trung úy Jean-Louis Rondy, của tiểu đoàn 1 Nhảy dù Lê dương đã chứng kiến một thương binh cưa hai chân đã phải bò trườn lê lết trên hai tay và trên hai khúc đùi về đến tận trại giam Tuần Giáo, cách Điện Biên Phủ 83 cây số, sau đầu hàng. Tất cả những thương binh nặng đều tử vong vì không được chăm sóc. Trên những trang bị kiểm duyệt, Fall đưa ra số liệu: Khi chiến tranh chấm dứt, Việt Minh trao trả 10,754 binh sĩ Liên hiệp Pháp trên tổng số 36,979 bị bắt từ 1946, tức 28,5% (*). Riêng đối với tù binh Điện Biên, trao trả 3,920 trên số 11,721 hàng binh ngày 7 tháng 5-1954, tức 33,5%. 7,801 người lính còn lại, chết hoặc không tin tức. Là lý do vì sao Vũ Trấn Thủ ngưng dịch.   

Đoạn cuối của một tác phẩm, bao giờ cũng là đoạn quan trọng nhất làm nên dư âm của tác phẩm ấy. Trong phần kết luận (L’Épilogue mà Vũ Trấn Thủ dịch là Lời bạt), 21 dòng chữ cuối cùng bị cắt đi, chỉ vì Fall ghi lại sự việc 24 khu trục cơ F-105 và Skyhawk A-4 đã ném 29 tấn bom xuống Điện Biên 11 năm sau, ngày 2 tháng 7-1965 mà cao xạ Bắc Việt không bắn trúng một chiếc máy bay Mỹ nào. Vì sao kiểm duyệt? Vì chạm tự ái?

Những nhát chặt bằng dao phai khiến đánh giá của Hữu Mai “Tôi coi đây là một công trình trung thực, đầy đủ nhất của phương Tây viết về Điện Biên Phủ’’ đầy mâu thuẫn. Càng tương khắc khi Hữu Mai biết Pháp văn và đã đọc Lời tựa của Fall: ‘‘Nếu công thức nổi tiếng «Tôi thề nói lên sự thật, tất cả sự thật, không sợ hãi và không hận thù» có một ý nghĩa, thì tôi tin rằng, người ta có thể nói một cách công bình, đó là điều tôi đã làm trong tác phẩm này.’’ Bernard Fall đi tìm sự thật và trưng bày sự thật, với những tài liệu tìm thấy, nhưng Hữu Mai và Nxb Công an Nhân dân đã đánh tráo sự thật ấy.

Hữu Mai “nghĩ đây cũng là dịp để bày tỏ lòng biết ơn một người đã đứng bên chúng ta trong suốt cuộc trường chinh giành tự do [..] Tôi cũng nghĩ đây là lời cảm ơn chân thành gửi tới chị Dorothy Fall, người đã luôn luôn là trợ thủ đắc lực của chồng…’’ Lời cảm ơn chân thành? Một món quà tàn độc và phỉ báng cho một quả phụ.

Hữu Mai, giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng, giải A Văn xuôi Hội Nhà văn, giải thưởng Nhà nước cho các tiểu thuyết Cao điểm cuối cùng, Vùng trời, Ông cố vấn, không nhắc đến cái chết của Bernard Fall vì cán phải mìn “của chúng ta” khi theo Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ hành quân Thừa Thiên.

Thierry Bouzard trên tập san Monde et Vie, số tháng 4-2009, đưa ra những thống kê: “Tỷ lệ tử vong tổng quát trong trại giam Việt Minh là 69,04%. Mức tử vong tù binh gốc Pháp là 59,5%, cao hơn tỷ lệ tử vong trong các trại tập trung Đức Quốc xã, như trại Buchenwald 37%. [..] Tù binh VN thuộc quân đội Pháp tử vong 90% trong những trại giam này. Việt Minh thả 860 lính Việt trên số 14,060. Riêng đối với 9,404 tù binh thuộc Quân đội Quốc gia mà Giáp gọi là Ngụy, duy nhất 157 tìm lại tự do.’’ (Face à la Mort: Camps d’Extermination du Viêt-Minh).

Các danh tướng Nhật Tomoyuki Yamashita và Masaharu Honma từng chiến thắng vinh quang tại Mã Lai và Phi Luật Tân, đã phải ra toà án quốc tế với tội danh Tội phạm Chiến tranh và bị treo cổ vì để chết quá nhiều tù binh đồng minh. Võ Nguyên Giáp may mắn, chính vì Bắc Kinh không sụp đổ đã cứu vãn chế độ ông phục vụ. Nhưng không chế độ nào vĩnh hằng và không thiên tài nào chiến thắng thời gian.

[Trần Vũ]

(*) Sau ký kết Genève, Pháp thả 63,000 tù binh Việt Minh

Bernard Fall và lính Biệt Động Quân.

DVD tài liệu của Bộ Quốc phòng Pháp về các trại tử thần của Hồ Chí Minh.     

Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp

Vu Hoá Thầm

bản dịch của Dương Danh Dy

Tác chiến đợt 3, giành toàn thắng

Từ hạ tuần tháng tư, quân Pháp có dấu hiệu tăng quân cho Thượng Lào, hòng tiếp ứng cho địch đóng giữ Điện Biên Phủ chạy xuống phía nam. Vi Quốc Thanh lập tức cùng phía VN nghiên cứu, kịp thời bố trí đề phòng địch phá vây. Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc căn cứ vào tình hình quân Pháp tập trung mấy tiểu đoàn lính dù ở Hà Nội, cuối tháng 4 đầu tháng 5 hai lần điện cho Vi Quốc Thanh, nhắc đồng chí đề phòng địch nhảy dù xuống nút giao thông quan trọng ở hậu phương quân đội nhân dân, để cắt đường tiếp tế, làm rối loạn hậu phương, và hiệp đồng với quân địch ở Thượng Lào giải vây Điện Biên Phủ.

Theo chỉ thị của Quân uỷ Trung ương Trung Quốc, Vi Quốc Thanh lại bàn với Võ Nguyên Giáp, tăng cường hơn nữa bố trí đề phòng quân địch giải vây ở hai hướng nam, bắc. Đồng thời quyết định: các đại đoàn 308, 312, 316 đêm 1/5 mở tấn công cứ điểm tây và đông sở chỉ huy Mường Thanh của quân Pháp, xiết chặt vòng vây hơn nữa. Trước hết tiêu diệt địch ở các cứ điểm đông sông Nạm Rốm rút binh lực cơ động để đối phó tình huống bất trắc. Sau khi chiến đấu bắt đầu, quân đội nhân dân rất nhanh tiêu diệt địch ở cạnh sườn cứ điểm C1 và tấn công cứ điểm 505, 505A, v.v.. chiến đấu đến ngày 3/5, lại tấn công tiếp cứ điểm 311A, 311B. Đến đây quân đội nhân dân đã áp sát sở chỉ huy Mường Thanh của địch.

Vi Quốc Thanh cho rằng, thời cơ tổng công kích Điện Biên Phủ đã chín muồi. Cùng với phía VN nghiên cứu, quyết định đêm 6/5 mở tổng công kích. Lúc này, đã đào xong đường ngầm thông sang đường hào cứ điểm A1, và chôn 1 tấn thuốc nổ. Sau tiếng nổ rền trời của một tấn thuốc nổ ở cứ điểm A1, cuộc tổng công kích trên toàn tuyến bắt đầu. Tất cả hoả pháo của quân đội VN kể cả pháo tên lửa 17 nòng của Trung Quốc trang bị vừa trở ra tiền tuyến cùng nã vào trận địa Pháp, với uy lực to lớn làm sát thương và choáng váng quân địch. Bọn địch dưới nhà hầm A1 bị thuốc nổ xé xác, bọn tàn quân trên mặt đất rất nhanh bị quét sạch. Đến sáng 7, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở cứ điểm Châu Ôn, Na Nông, 506, làm cho Mường Thanh mất bình phong cuối cùng. Quân Pháp thấy rõ thế cờ, tiêu tan hy vọng, lúc 14g ngày 7, lục tục kéo cờ trắng, nộp vũ khí đầu hàng. Chuẩn tướng de Castries viên chỉ huy quân Pháp đã từng hùng hổ một thời cuối cùng cúi đầu, chắp hai tay cùng nhân viên Bộ Tham mưu của y ra làm tù binh của Quân đội Nhân dân.

Ngày hôm đó, đại đoàn 304 tấn công quân địch ở Hồng Cúm, phân khu nam. Hơn 2000 tên địch đêm tối phá vây chạy xuống phía nam, bị quân đội VN truy đuổi tiêu diệt vào nửa đêm. Đến đây, chiến dịch Điện Biên Phủ trải qua 55 ngày đêm, kết thúc với thắng lợi to lớn của quân đội VN. Thành quả chiến thắng Điện Biên Phủ rực rỡ, tiêu diệt tất cả 17 tiểu đoàn bộ binh, lính dù, 3 tiểu đoàn pháo binh, kể cả bộ đội công binh, thiết giáp, vận tải, v.v… tất cả là 16.200 tên địch. Trong đó có 10.903 tù binh, bao gồm 41 sĩ quan cấp tướng tá, 1.749 sĩ quan cấp uý, bắn rơi bắn hỏng 62 máy bay thu 30 khẩu trọng pháo, 6 xe tăng hơn 30.000 chiếc dù và số lớn vũ khí đạn dược và vật tư quân dụng khác.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm chấn động thế giới, càng chấn động nước Pháp. Chính phủ Pháp treo cờ rủ để tang cho các tướng sĩ trận vong ở Điện Biên, tập đoàn thống trị thốt lên tiếng ai oán và lời than vãn, còn những người tiến bộ trên toàn thế giới thì reo hò mừng vui. Ngày thứ hai kết thúc thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ, tức ngày 8/5/1954, chính là ngày hội nghị Genève bắt đầu thảo luận vấn đề Đông Dương. Sự trùng hợp lịch sử này lại bao hàm nhân tố tất nhiên. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã phối hợp mạnh mẽ với đấu tranh ngoại giao ở hội nghị Genève, nó làm cho đoàn đại biểu Chính phủ VN không chỉ ở vào vị thế của người chống xâm lược, chính nghĩa, mà còn ở vào vị thế của người chiến thắng.

Đoàn đại biểu chính phủ Pháp không chỉ ở vào vị thế của kẻ xâm lược mà còn ở vào vị thế của kẻ thất bại. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã mở đường cho hội nghị Genève cuối cùng đi đến hiệp định lập lại hoà bình ở Đông Dương. Nhưng sau khi hội nghị Genève bắt đầu thảo luận vấn đề Đông Dương, đoàn đại biểu Pháp lại ra sức vẽ vời, xuyên tạc sự thật, vu khống công kích VN vấn đề đưa thương binh về nước, làm cho hội nghị trước tiên triển khai đấu tranh xoay quanh vấn đề phóng thích thương binh Pháp. Do đoàn đại biểu VN không có điện đài liên hệ trong nước, nên Trung ương đoàn, đoàn đại biểu chính phủ Trung Quốc Chu Ân Lai điện hỏi Vi Quốc Thanh về tình hình liên quan đến vấn đề phóng thích thương binh. Ngày 13/5 Chu Ân Lai gửi điện cho Vi Quốc Thanh nói: “Các nước phương Tây đang lợi dụng vấn đề thương binh ở Điện Biên Phủ để chỉ trích Liên Xô. Phía nhân sĩ tiến bộ và bạn bè mong muốn kịp thời có được tư liệu liên quan đến tình hình xử lý thương binh của phía địch ở Điện Biên Phủ, có thể điện cho biết bất cứ vào lúc nào về tình hình hai bên thương lượng thả thương binh nặng của phía địch và tình hình tiến triển cụ thể trong việc chuyên chở thương binh được thả để chuyển cho Phạm Văn Đồng và đoàn đại biểu Liên Xô, để có căn cứ tuyên truyền, đập tan âm mưu của địch”. Sau đó, Chu Ân Lai căn cứ vào tình hình phía Pháp nói phía Việt Nam chỉ thả thương binh người nước ngoài, không thả thương binh người VN, công kích VN “kỳ thị dân tộc”, ngày 15/5 một lần nữa Chu Ân Lai điện cho Vi Quốc Thanh hỏi: “Trong đợt đầu thả thương binh nặng có thương binh Ngụy quân VN hay không, và nếu có, nếu đợt này không có, thì trong danh sách đợt hai nên có thương binh Ngụy quân VN, và cho công bố ”.

Lúc này, ở Điện Biên Phủ cũng tiến hành cuộc đấu tranh xoay quanh vấn đề thả tù binh, bị thương nặng của quân Pháp. Theo yêu cầu của Bộ Tổng Tham mưu quân đội VN cho phép phía Pháp chở tù binh bị thương nặng của họ và cử đoàn đại biểu đến Điện Biên Phủ để bàn cách chở cụ thể, ngày 13/5 phía Pháp cử đoàn đại biểu do giáo sư Huard dẫn đầu đến Điện Biên Phủ, thương lượng với phía VN và đạt được thoả thuận như sau: “Vì sân bay khó sửa chữa nên phía Pháp dùng máy bay trực thăng và máy bay vận tải cỡ nhỏ để chuyên chở tù binh bị thương. Trong thời gian này, phía Pháp bảo đảm ngừng hoạt động máy bay oanh tạc xung quanh Điện Biên Phủ 10 km và trên tuyến đường từ Điện Biên Phủ đi Tuần Giáo dọc quốc lộ số 41 đến Sơn La”. Ngày hôm sau, thoả thuận được Bộ chỉ huy hai bên phê chuẩn có hiệu lực. Đợt đầu tiên tù binh bị thương nặng được chở về Hà Nội.

Phía Pháp lập tức phát hiện thoả thuận trên có lợi cho VN, phía VN có thể nhân cơ hội này vận chuyển số lớn vật tư đã thu được ra ngoài Điện Biên Phủ. Vì thế phía Pháp bác bỏ thoả thuận trước, ngày 16/5 đổi lại cử đoàn đại biểu do thiếu tá Jamis dẫn đầu đi Điện Biên Phủ đưa ra kiến nghị mới với phía Việt Nam, yêu cầu sửa chữa sân bay, để máy bay vận tải cỡ lớn vận chuyển thương binh, thay đổi điều khoản máy bay quân Pháp ngừng hoạt động bắn phá quốc lộ 41. Khi Việt Nam chưa trả lời, phía Pháp đã đơn phương ngừng chuyên chở thương binh nặng của họ và khôi phục hoạt động của máy bay trên tuyến quốc lộ 41. Phía Việt Nam lập tức vạch trần đầy đủ hành vi lật lọng đó của phía Pháp.

Vi Quốc Thanh tuân theo chỉ thị của Chu Ân Lai, trên đường từ Điện Biên Phủ trở về hậu phương, nhiều lần cùng phía VN nghiên cứu vấn đề thả tù binh bị thương, áp dụng một số biện pháp quan trọng và thuyết phục phía VN thả một số tù binh bị thương của quân Ngụy VN. Vi Quốc Thanh đã điện báo kịp thời cho Chu Ân Lai những biện pháp của phía VN thả tù binh bị thương, tình hình tiến triển thả tù binh hằng ngày và cả tài liệu Bộ Tổng tham mưu quân đội VN vạch trần phía Pháp phá hoại thoả thuận chuyên chở tù binh bị thương, từ đó làm cho đoàn đại biểu VN có sự thực xác đáng vạch trần mạnh mẽ âm mưu của phía Pháp lấy vấn đề tù binh bị thương làm cái cớ để phá hoại đàm phán hoà bình Genève.

Vu Hoá Thầm

(đăng trong Thượng tướng Phong Vân lục
Đại Bách Khoa toàn thư xuất bản năm 2000)

Hồi ký 23 năm trong lao tù Việt Minh của đại úy Huỳnh Bá Xuân bị bắt tại Hưng Yên năm 1953, “tạm tha” năm 1976. Quả phụ thống chế De Lattre can thiệp cho đại úy Xuân sang Pháp định cư năm 1984.

Tù binh Pháp khi Điện Biên Phủ thất thủ.

Tù binh Pháp sau khi trao trả.

Xạ thủ đại liên Pierre Yassimides tại bệnh viện Lanessan Hà Nội sau trao trả tù binh. Hình của Hội Ái hữu Tiểu đoàn 8 Xung Kích Nhảy dù (8e CHOC)

Binh sĩ Tiểu đoàn 5 Nhảy dù Việt Nam trao trả sau hiệp định Genève.

Cố vấn Trung Cộng Vi Quốc Thanh

baotreonline.com

Trần Vũ

November 23rd, 2020

Post by Sơn râu 5 Jun 2024

Kỳ 15

Hệ thống dân vận Việt Minh đưa ra hình tượng các anh hùng: Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Bế Văn Đàn lấy vai làm giá súng. Nguyễn Ngọc Bảo dũng sĩ đào hầm. Huỳnh Văn Nô dũng sĩ đâm lê và Trần Can, mà trên trang web Nguyễn Tấn Dũng khi kỷ niệm 59 năm chiến thắng Điện Biên, đã viết: “Trần Can chỉ huy đơn vị đánh tan đợt pháo kích của chúng, kiên quyết giữ vững trận địa, tạo thế cho đơn vị tiến vào trung tâm Mường Thanh” [1]. Gạt san bên câu hỏi làm cách nào một anh hùng có thể đánh tan một đợt pháo kích, quân đội Pháp-Việt đã có những người lính quả cảm. Bên cạnh trung úy Phạm Văn Phú với tiểu đoàn 5 Nhảy dù VN (5eBPVN) đã tái chiếm đồi Éliane 1 và giữ vững suốt đêm cho đến sáng, còn có trung úy Paul Brunbrouck. Khác Tô Vĩnh Diện lấy thân người chèn pháo, Brunbrouck dùng pháo bắn trực xạ vào đội hình của trung đoàn 209 Sông Lô và trung đoàn 165 Lao Hà Yên. Cũng khác “Phan Đình Giót hô to: Quyết hy sinh…vì Đảng…vì dân!!.. rồi rướn người lấy đà, lao cả thân mình vào bịt kín lỗ châu mai..”[2], như ghi chép trên trang Tri Ân Liệt Sĩ, phương châm của Brunbrouck giản dị: “Điều gì cho đời sống một ý nghĩa, cũng làm nên ý nghĩa của cái chết.” (Ce qui donne un sens à la vie donne un sens à la mort).

Chiều 30 tháng 3-1954 Võ Nguyên Giáp tổng tấn công đợt nhì. Sư đoàn 304 vây Isabelle phía Nam. Sư đoàn 308 đánh Huguette phía Tây sân bay. Sư đoàn 316 tràn lên dẫy đồi Éliane phía Đông. Sư đoàn 312 của Lê Trọng Tấn là nỗ lực chính, trách nhiệm mở tung cách cửa vào Mường Thanh. 6 giờ chiều, toàn bộ pháo nặng của sư đoàn 351 bắn tập trung xuống Éliane và Dominique. 7 giờ 45, không đầy 2 tiếng, tiểu đoàn 3 của trung đoàn 3 Tán binh Algérie (III/3eRTA) tan hàng trên Dominique 1, tiểu đoàn trưởng Jean Garandeau tử trận. Tiểu đoàn 2 Bộ chiến Thái (2eBT) tan hàng trên Dominique 2. Toàn phân khu Đông-Bắc chỉ còn lại duy nhất cứ điểm Dominique 3 là chốt chặn sau cùng mà nếu vượt qua, Lê Trọng Tấn sẽ bọc hậu quân Dù trên Éliane hoặc tiến thẳng vào bộ chỉ huy de Castrie chỉ cách chưa đầy 1 km. Chu vi phòng thủ Điện Biên Phủ co lại còn 1,5 km chiều ngang và 1 km chiều dài. Lê Trọng Tấn hạ quyết tâm.

Lịch sử Sư đoàn Bộ binh 312, Nxb Quân đội Nhân dân ấn hành 1995, chương 3 viết: “Tiểu đoàn 130 (dự bị của trung đoàn 209) được lệnh cơ động lên tiếp tục đánh phát triển sang đồi D2. Do tổ chức không chu đáo, đánh giá địch thấp và xác định không đúng hướng đột phá, xung kích liên tiếp bị hỏa lực địch bắn lướt sườn, tiểu đoàn 130 bị thương vong nhiều. […] Tiểu đoàn 115 men theo sông Nậm Rốm đánh vào điểm cao 210 nhưng bị pháo địch bắn chặn. Do nắm địch, địa hình không kỹ, bộ đội mất liên lạc với nhau nên nhiệm vụ đánh điểm cao 210 không thực hiện được.”

Trong hồi ức Điện Biên Phủ – Điểm hẹn Lịch sử, Võ Nguyên Giáp xác nhận: “Thừa thắng, đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn ra lệnh cho lực lượng dự bị của 209, tiểu đoàn 130, đánh xuống cao điểm D2. […] Tiểu đoàn 130 của 209 phát triển xuống D2 vấp phải hỏa lực bắn thẳng từ trận địa pháo trên cứ điểm 210 và hai cỗ trọng liên bốn nòng đặt bên kia sông Nậm Rộm, phải ngừng lại để củng cố. Về khuya, đại bác địch càng hoạt động mạnh. Cuộc chiến đấu của bộ đội ta trên những cao điểm phía đông đã chững lại.” [trang 268]

Chuyện gì đã xảy ra?

Cứ điểm 210 chính là Dominique 3, vị trí của pháo đội Brunbrouck thuộc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 4 Pháo binh Thuộc địa (II/4eRAC). “D2” trên lược đồ Việt Minh là Éliane 10 trên phóng đồ Pháp. Trung đoàn Sông Lô 209 từ Dominique 2 tràn xuống Éliane 10 phải băng ngang Dominique 3 (tức điểm cao 210 mà Võ Nguyên Giáp nhắc đến). Tình hình nguy ngập vì bộ chỉ huy Nhảy dù không còn trừ bị chiến thuật. Tiểu đoàn 6 Nhảy dù Thuộc địa (6eBPC) đã lên tăng cường cho Éliane 2. Tiểu đoàn 1 Nhảy dù Lê dương (1er BEP) thay lính Marốc (I/4e RTM) mất tinh thần trên Éliane 3. Tiểu đoàn 5 Nhảy dù VN (5eBPVN) đang phản kích lên Éliane 4. Tiểu đoàn 8 Xung kích Nhảy dù (8eCHOC) giữ Épervier. Trung tá Guy Vaillant, chỉ huy pháo binh lệnh cho Brunbrouck phá hủy đại bác và lui về khu trung tâm Claudine. Nhưng Brunbrouck từ chối: Ai sẽ ngăn Lê Trọng Tấn tràn ngập Éliane 10 ngay sát hầm chỉ huy de Castries?

8 giờ tối, lớp sóng Việt Minh rõ dần. Brunbrouck cho hạ nòng đại bác 105 ly song song mặt đất, điều chỉnh khẩu hỏa zéro, đạn miểng nổ chụp, thời gian kích hỏa zéro, tức là khoảng cách ra khỏi nòng cho đến khi phát nổ dưới 100 thước. Brunbrouck vào máy yêu cầu phân đội đại liên phòng không của trung úy Redon phối hợp. Suốt đêm 4 đại bác 105 ly bắn trực xạ 1,800 quả đạn vào đội hình của trung đoàn Sông Lô 209, trung đoàn Lao Hà Yên 165 và tiểu đoàn 54 của trung đoàn Thủ Đô 102. Chỉ trong một đêm, hai ụ đại liên 4 nòng tiêu thụ 68,000 viên đạn 12 ly 7, quét tiểu đoàn 130, rồi tiểu đoàn 115, rồi tiểu đoàn 54 Việt Minh xuống chiếc mương do lính Nhật đào năm 1945. Dưới đáy mương công binh chiến đấu của tiểu đoàn 31 Công Binh (31e Bataillon de Génie) đã cài sẵn “charges plates”, là tiền thân của mìn định hướng Claymore. Chỉ riêng dưới mương, trên 200 xác bộ đội khi trời sáng… Nỗ lực chính của Võ Nguyên Giáp thất bại. Trung úy Brunbrouck đã giúp Điện Biên Phủ trì hoãn thất thủ thêm 6 tuần lễ. (Henri de Brancion, Artilleurs dans la Fournaise, Nxb Presses de la Cité 1993, trang 159)

Võ Nguyên Giáp không nhắc đến trung đoàn 165 Lao Hà Yên trong trận Dominique 3, ngược lại Lịch sử Sư đoàn Bộ binh 312, Nxb Quân đội Nhân dân, ghi rõ tiểu đoàn 115 của trung đoàn 165 đánh Dominique 3 không thành công. Phía Pháp, trong Pourquoi Dien Bien Phu của đại tá Pierre Rocolle, Nxb Flammarion 1968, trang 422, qua khai thác tù binh, xác định: tiểu đoàn 54/ Trung đoàn Thủ Đô 102/ Sư đoàn 308 của Vương Thừa Vũ được “chi viện” đánh Dominique 3 lúc 23 giờ đêm, tiến đến sát hàng rào kẽm gai trước khi bị tiêu diệt.

 Khóa 191 của trường võ bị liên quân Saint Cyr năm 2007 mang tên Khóa Brunbrouck.

 [Trần Vũ]

[1] Những anh hùng nổi tiếng trong chiến thắng Điện Biên Phủ

http://nguyentandung.org/nhung-anh-hung-noi-tieng-trong-chien-thang-dien-bien-phu.html

[2] Trang Vàng Liệt Sĩ

http://trianlietsi.vn/new-vn/Trang-vang-liet-si/1288/anh-hung-liet-si-phan-dinh-giot.vhtm 

Trung úy Paul Brunbrouck, pháo đội trưởng 105 ly, tử trận ngày 13 tháng 4-1954 tại Mường Thanh.      

Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp

Vu Hoá Thầm

bản dịch của Dương Danh Dy

Tác chiến đợt 2, giành giật quyết liệt

Sau khi tổng kết kinh nghiệm trận đầu và chuẩn bị cho trận đánh tiếp theo, đêm 30/3 Quân đội Nhân dân bắt đầu tác chiến đợt 2, tấn công quân địch ở phân khu trung tâm Mường Thanh, trụ sở cơ quan chỉ huy của quân Pháp. Bố trí tác chiến của Vi Quốc Thanh và phía VN nghiên cứu xác định là: ngoài 2 trung đoàn của sư 308, dùng toàn bộ sư 312, sư 316 và hỏa lực pháo binh tấn công tiêu diệt địch ở điểm cao phía đông phân khu trung tâm và vùng Tây bắc sân bay, để thít chặt vòng vây, khống chế điểm cao, khống chế sân bay, cắt đường không vận của địch. Nếu phát triển thuận lợi, thì liên tục tấn công, tiêu diệt toàn bộ quân địch.

Sau khi bắt đầu, đột phá tiền duyên địch tương đối thuận lợi, thì đi vào sâu lòng địch phát triển rất chậm. Quân Pháp dựa vào công sự kiên cố, hoả lực dày đặc, ngoan cố chống cự và tổ chức đánh trả. Cán bộ quân đội VN thiếu khả năng ứng biến, bộ đội thương vong tăng nhiều, tấn công gặp trở ngại. Qua một tuần chiến đấu, quân đội VN hạ được 5 cứ điểm địch, tiêu diệt binh lực hơn 3 tiểu đoàn, khống chế phần lớn điểm cao quan trọng phía đông Điện Biên Phủ, và hình thành tình thế có lợi đứng trên cao nhìn xuống bọn địch ở Mường Thanh. Nhưng khi tấn công cứ điểm A1 bảo vệ Mường Thanh, do quân địch lợi dụng hầm hào và nhà dưới đất ngoan cố chống cự, không thể đánh hạ được toàn bộ, hình thành thế giằng co, mỗi bên chiếm một nửa. Sau khi cao điểm C1, cứ điểm quan trọng bảo vệ Mường Thanh bị đánh hạ, quân Pháp tổ chức đánh trả, chiếm lại hơn một nửa. Hai bên giành giật nhiều lần, cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt. Trong tác chiến hơn một tuần, các đơn vị bộ đội tấn công của quân đội VN đều bị thương vong không ít.

Vi Quốc Thanh ngày đêm theo dõi phát triển chiến cuộc. Tin tức từ tiền tuyến về có lúc hỗn loạn. Lúc thì nói hạ được một cứ điểm, sau vài giờ lại nói chưa hạ được. Tình hình tấn công cứ điểm A1 càng như thế. Lúc thì nói gặp đường hầm hào của địch đang đánh bộc phá, lúc thì lại nói cách đường hầm còn rất xa, không thể nào đánh bộc phá được. Lúc thì nói đường hào không lớn, chỉ có số ít địch ngoan cố chống cự. Một lát sau lại nói, nhà hầm của địch rất lớn, có thể chứa hàng trăm tên. Điều đó một lần nữa phản ánh cái tật của viên chỉ huy cơ sở nào đó không đích thân theo dõi tuyệt đối. Vi Quốc Thanh rất bực tức, kiến nghị phía Việt Nam nghiêm túc ra lệnh cho bộ đội tấn công điều tra rõ tình hình thực tế, để nghiên cứu đối sách. Cuối cùng rõ ra là, quân địch ở A1 lợi dụng đường hào và nhà hầm xây dựng thời kỳ quân Nhật chiếm đóng để ngoan cố chống cự và thỉnh thoảng tiến hành phản kích quân đội Việt Nam không thể nào đối phó. Vi Quốc Thanh điện gấp về Quân uỷ Trung ương Trung Quốc, báo cáo tình hình này, Quân uỷ Trung Quốc cấp tốc điều một số cán bộ từng tác chiến ở Triều Tiên có kinh nghiệm đánh đường hào, đi nhanh ra tiền tuyến Điện Biên Phủ. Họ giúp bộ đội VN đào hầm ngầm thông đến đường hào cứ điểm A1, chuẩn bị dùng thuốc nổ phá huỷ nó.

Lúc này Võ Nguyên Giáp hơi sốt ruột chưa đánh hạ được A1, liền ra lệnh tấn công C1. Đồng chí chưa bàn với Vi Quốc Thanh quyết định điều trung đoàn 102 của đại đoàn 308, ngày 11/4 tấn công đồi C1; kết quả bị hoả pháo địch sát thương nặng, toàn trung đoàn thương vong trên 700 người, không thể tiếp tục chiến đấu. Trung đoàn 102 là trung đoàn chủ lực của đại đoàn 308, là bộ đội từ khi bắt đầu chiến dịch cho đến nay chưa bị tổn thất, lần này bị trọng thương, ảnh hưởng rất lớn đến phát triển của trận đánh. Chỉ huy “quả đoán” của Võ Nguyên Giáp lần này không ngờ bị vấp váp. Vi Quốc Thanh lựa lời an ủi đồng chí, nêu ra kiến nghị tạm ngừng tiến công chuyển sang tổng kết chỉnh đốn. Võ Nguyên Giáp tiếp nhận kiến nghị này. Lúc này, hội nghị Genève sắp triệu tập, Điện Biên Phủ trở thành một điểm nóng khiến cả thế giới dõi theo sau khi Triều Tiên đình chiến, Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc rất quan tâm theo dõi tác chiến Điện Biên Phủ, luôn luôn hỏi Vi Quốc Thanh tình hình chiến sự và có nhiều chỉ thị cụ thể đối với chiến thuật tấn công Điện Biên Phủ.

Vi Quốc Thanh theo chỉ thị của Quân uỷ Trung ương Trung Quốc, kết hợp tình hình thực tế quân đội VN thương vong lớn trong tác chiến đợt hai, một mặt giúp VN tổng kết kinh nghiệm chiến đấu, cải tiến chỉ huy tác chiến bổ sung quân lính, chỉnh đốn tổ chức, khôi phục và tăng cường sức chiến đấu, để có lợi cho tiếp tục, đồng thời kiến nghị quân đội VN áp dụng biện pháp hữu hiệu, tăng cường bao vây và tấn công quân Pháp sau đó quân đội VN chủ động áp dụng các biện pháp sau đây :

– Một là, tổ chức bộ đội đào hầm hào từng bước thắt chặt vòng vây, chia cắt quân địch ở phân khu trung tâm Mường Thanh với phân khu nam bằng hầm hào, cắt đứt liên hệ trên mặt đất giữa chúng. Đồng thời, từ các hướng đào đến tận tung thâm phân khu trung tâm Mường Thanh. Lúc này đào hầm hào trở thành phương tiện tấn công tích cực, không ngừng thu hẹp địa bàn quân Pháp chiếm đóng. Quân Pháp tuy thường xuyên pháo kích và phá hoại, nhưng các chiến sĩ quân đội VN không sợ đổ máu, mồ hôi, càng đào càng hăng, càng đào càng nhanh. Chiến hào cứ mỗi ngày một vươn dài lên phía trước, chiến hào chính, chiến hào nhánh đan xen ngang dọc, chia cắt quân Pháp từng mảnh. Đúng như miêu tả trong cuốn sách Lịch sử QĐNDVN của VN xuất bản những năm 70: “Chiến hào như những chiếc thòng lọng, mỗi ngày một xiết chặt cổ địch”.

– Hai là, khống chế hơn nữa sân bay, cắt đứt vận chuyển hàng không của địch. Quân địch đóng giữ Điện Biên Phủ cách xa hậu phương, bị bao vây bốn bề, mọi cung ứng đều dựa vào vận chuyển hàng không, hằng ngày phải có trên trăm lượt máy bay chở các loạt vật tư quân sự, mới có thể duy trì nhu cầu sinh hoạt cần thiết và tiêu hao chiến đấu của hơn 10.000 quân đóng giữ. Vi Quốc Thanh coi việc cắt đứt vận chuyển hàng không là một điều kiện quan trọng để giành toàn thắng của chiến dịch. Chiến dịch bắt đầu, bộ đội cao xạ quân đội VN lần đầu tiên bước vào chiến đấu đánh cho máy bay địch bay thấp ném bom bắn phá điên cuồng bị trọng thương. Hoả lực trọng pháo của quân đội VN bắn vào sân bay buộc máy bay địch chở người và vật tư không dám thả dù phải chuyển sang thả từ trên máy bay xuống. Quân đội VN chỉnh đốn bổ sung sau khi chuẩn bị đầy đủ, liên tục công phá mấy cứ điểm địch gần sân bay, và lợi dụng ban đêm đào hào cắt ngang lưng sân bay, làm cho sân bay hoàn toàn không sử dụng được. Chiến hào của quân đội VN không ngừng vươn dài tới trước, vòng vây ngày càng hẹp lại, vật tư của máy bay địch ném xuống ngày càng nhiều (thậm chí phần lớn) rơi xuống trận địa quân đội VN. Đây là một hỗ trợ lớn đối với quân đội VN, nhưng lại là đòn đánh hết sức nặng nề với quân Pháp.

– Ba là, tổ chức bộ đội triển khai hoạt động đánh chặn. Bộ đội phải tổ chức thành nhóm diệt địch do các tay súng thần, pháo thần tham gia, bắn lén, bắn tỉa vào các mục tiêu hoạt động trên trận địa địch, không ngừng sát thương địch, buộc quân Pháp không dám hoạt động ngoài công sự, đánh mạnh vào tinh thần quân Pháp.

– Bốn là, tổ chức bộ đội triển khai tấn công chính trị. Thành phần binh lính Pháp phức tạp, nhiều loại quốc tịch. Nhằm vào tình hình này, quân đội VN dùng loa phóng thanh, bằng nhiều ngôn ngữ phát thanh, kêu gọi binh lính địch trên trận địa, có tác dụng làm suy yếu tinh thần chiến đấu của binh lính địch, tiến tới làm tan rã quân địch, thường có lẻ tẻ lính Ngụy, lính nước ngoài và lính da đen ra đầu hàng quân đội VN.

Biện pháp đấu tranh quân sự chính trị phối hợp cả hai cùng tiến hành song song với tiếp thu được hiệu quả rất tốt. Đến hạ tuần tháng 4, tình cảnh của quân Pháp hết sức khó khăn. Diện tích trong vòng vây không đầy 2 km2, toàn bộ tập đoàn cứ điểm của quân Pháp bị chia cắt thành nhiều đoạn, sân bay cũng bị quân đội VN chiếm một nửa. Do sợ quân đội VN tấn công, sĩ quan, binh lính Pháp suốt ngày co ro trong công sự. Trong nhà hầm chật ních thương binh, bốc mùi khó thở. Tinh thần quân Pháp sa sút cực độ. Lúc này, tập đoàn thống trị Mỹ không muốn nhìn thấy quân Pháp ở Điện Biên Phủ thất bại, đồng thời với tăng cường viện trợ cho Pháp, tiến hành đe doạ trắng trợn đối với VN, đưa hạm đội 7 đến Vịnh Bắc Bộ “diễn tập”, đánh tiếng sắp sử dụng máy bay ném bom B29 ném bom xuống trận địa Điện Biên Phủ, thậm chí để ngỏ ý muốn ném bom nguyên tử cỡ nhỏ.

Vào thời gian này quân đội VN cũng gặp một số vấn đề và khó khăn mới: do bộ đội đóng quân ngoài trời lâu ngày, số người không trực tiếp chiến đấu tăng lên, tác chiến liên tục nhiều tháng, người chỉ huy nảy sinh tư tưởng mệt mỏi, nhất là tư tưởng tiêu cực hữu khuynh trỗi dậy trong cán bộ. Có những cán bộ, tinh thần trách nhiệm yếu, tính tích cực chiến đấu không cao, thậm chí xuất hiện hiện tượng nghiêm trọng kiếm cớ rời khỏi vị trí chiến đấu, báo cáo láo tình hình, không chấp hành mệnh lệnh trong tình hình chiến đấu khẩn cấp v.v… Do máy bay địch bắn phá điên cuồng và mùa mưa đến, vận tải hậu cần cũng ngày càng khó khăn. Đứng trước tình hình Mỹ đe doạ, quân Pháp giãy giụa hung hăng, trong số cán bộ cao cấp quân đội VN có những người dao động niềm tin giành toàn thắng, thậm chí sợ Mỹ ném bom nguyên tử, cho rằng không nên đánh tiếp nữa. Vào giờ phút then chốt quan hệ đến tiêu diệt hoàn toàn quân địch hay là công dã tràng này, Vi Quốc Thanh đã bình tĩnh suy nghĩ và phân tích khách quan cho rằng, quân đội VN tuy gặp rất nhiều khó khăn, nhưng quân Pháp càng khó khăn hơn, hơn nữa không có cách gì khắc phục được chỉ cần quân đội Việt Nam không sợ hăm doạ, không sợ khó khăn, cắn chặt răng lại, kiên trì chiến đấu, nắm chặt nhược điểm của địch, liên tục tác chiến thì có thể khắc phục, giành toàn thắng cho chiến dịch. Đồng chí nói với các cố vấn: “Hiện tại toàn thế giới đều nhìn về Điện Biên Phủ, chúng ta không có đường lui. Chỉ có hạ quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quân địch. Tạm thời chưa đánh được, mùa mưa đến nước dìm chết chúng. Nước không dìm chết, thì khốn khó lâu ngày, chúng cũng chết. Không lấy được Điện Biên Phủ quyết không lui quân. Các đồng chí phải chuẩn bị tư tưởng này”.

Vi Quốc Thanh trao đổi chân tình với Võ Nguyên Giáp, trình bày tỉ mỉ ý nghĩ trên đây của mình để thống nhất nhận thức, kiên định lòng tin. Hai người còn nghiên cứu biện pháp giải quyết vấn đề tư tưởng cán bộ và khắc phục khó khăn thực tế. Lúc này, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động VN triệu tập hội nghị mở rộng, phân tích tình hình tác chiến Điện Biên Phủ, vạch rõ thêm ý nghĩa quan trọng của chiến dịch, nhấn mạnh phải kiên quyết khắc phục tư tưởng tiêu cực hữu khuynh trong cán bộ, giành thắng lợi hoàn toàn. Cuối tháng 4, đảng uỷ tiền phương QĐND triệu tập hội nghị mở rộng để quán triệt tinh thần của hội nghị mở rộng của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động VN. Võ Nguyên Giáp báo cáo tại hội nghị chú trọng phê bình nghiêm khắc các biểu hiện của tư tưởng tiêu cực hữu khuynh trong cán bộ, đặc biệt là hành vi vô kỷ luật không chấp hành mệnh lệnh kiếm cớ rời bỏ nhiệm vụ, báo cáo láo tình hình v.v… Các cố vấn phản ánh, đây là cuộc nói chuyện chống khuynh hướng sai lầm với lập trường quan điểm rõ ràng ít có của Tổng Tư lệnh. Hội nghị này đã đặt nền móng tư tưởng cho tác chiến đợt 3, giành toàn thắng của chiến dịch.

 Vu Hoá Thầm

(đăng trong Thượng tướng Phong Vân lục
Đại Bách Khoa toàn thư xuất bản năm 2000)

Phân đội đại liên 4 nòng 12 ly 7 của tiểu đoàn 1 Phòng không Viễn đông GAACEO (1erGroupe Anti-Aérien d’Artillerie Coloniale d’Extrême-Orient)

Tiểu đoàn 1 Nhảy dù Lê dương (1er BEP) trên cao điểm Éliane.

Binh sĩ VN của tiểu đoàn 1 Nhảy dù Lê dương (1er BEP).

Phản kích sáng 31 tháng 3-1954

Tiểu đoàn 5 Nhảy dù Việt Nam (5e BPVN).

Thơ từ một thời thám kích vùng hai

tranhoaithu42.com

May 12, 2012 by Tranhoaithu

Post by Sơn râu 5 Jun 2024

Xâm nhập mật khu

Gai rừng che bít lối
Đá tiếp đá chất chồng
Phân người  bốc thinh không
Cỏ tranh che tầm mắt

Người lính Thượng tiền sát
Ngần ngừ không dám lên
Trên  gương mặt xạm đen
Mồ hôi vàng lóng lánh

Tức mình, kê họng súng
Sau lưng thằng khinh binh
Ra lệnh mày không lên
Tao bóp cò đừng hối

Nói mà lòng muốn mếu
Muốn nói thêm một câu
Tao cũng són đái đây
Mày làm sao biết được?

Đánh núi

Tiến lên lại sợ phục
Rút xuống sợ lột lon
Hét hoài, cổ họng khan
Chỉ mình ta lãnh đủ

Đi lên, dao mở lối
Gai xướt rách thịt da
Đau quá, tức chửi cha
Những thằng già hiếu chiến.

Bóng tối

Trong bóng tối có ai còn phân biệt?
Có ai còn biết được người hay ma?
Chúng tôi lỡ sinh trong thời oan nghiệt
Chỉ chập chùng những bóng tối tha ma

Chúng tôi phải dùng tai thay đôi mắt
Chúng tôi phải dùng mũi để nhìn trông
Thần trí cứng, đuổi theo từng tiếng động
Tim như chừng vỡ cả khối hư không

Chúng tôi sống, ngày là đêm, bóng tối
Trong hầm sâu, dưới địa đạo u minh
Hơi hụt hẫng, theo từng cơn địa chấn
Tai ù ù như bật vỡ âm thanh

Chúng tôi đợi, từng giờ như thế kỷ
Hỏa châu vàng oà vỡ cả màn đêm
Ngọn cứu rỗi, nơi này không Phật Chúa
Chỉ ánh sáng lòa, thảng thốt, mông mênh

Chúng tôi đã nghe nhiều hơn thấy
Tiếng côn trùng rên rỉ, tiếng mưa rơi
Cả tiếng mớ của một người lính ngủ
Rất an bình không thao thức suy tư

Chúng tôi sợ nhưng kềm cơn sợ hãi
Bóng đêm ơi, cõi lụy của hồn âm
Ngọn gió lạ, như nổi từ địa phủ
Ông bà ơi, xin phù hộ đàn con

Thơ Trần Hoài Thư

Post by Sơn râu 5 Jun 2024

TRẦN HOÀI THƯ (1942-2024)

LỮNG THỮNG LƯNG ĐỒI

Đá vẫn hằn rêu đậm nét hoang
Bên trong đền miêú cảnh điêu tàn
Có nhiều tiếng dế âm rền lắm
Như nhớ, như buồn, như thở than…
Ta bước lối mòn, cỏ mục cao
Ong bay, vắt bám, nắng vương đầu
Tay cầm mã tấu nghe lành lạnh
Cây lá vô tình đâu biết đau…

Hoang dã hồn ma đất Đầm Đùn
Nam Hà trói buộc cảnh lao lung
Ở đây da sạm xương di động
Rừng núi âm u… gió lạnh lùng!
Cam quýt rừng hoang trái có không?
Ta đi đốn củi nhớ trong lòng
Trời phương Nam đó mây che khuất
Khuất mắt mẹ già đang ngóng trông!

Bạn ta lê lết thân còm cõi
Vẫn kể cho nghe đủ chuyện nhà
Thay cờ con bé còn tập nói
Nay viết thư lời thương nhớ ba…
Một thằng xưa bạt ngàn sương gió
Chân bước hiên ngang khắp bốn vùng
Mới tám năm tù thân rũ đó
Oan hồn vất vưởng chốn lao lung
Trời ơi! Tuấn kiệt xanh như mạ
Tai kiếp ai làm, ai chịu đây
Mạng sống mùa thu vàng chiếc lá
Từng ngày đói lạnh gió lung lay…
Ta đi đốn củi thân còn vững
Đá lở núi rừng đâu xót thương
Chiều về kéo củi đi thơ thẩn
Chiến mã ai xui tắt nẻo đường

Lắm trưa nằm nghỉ trong hang đá
Đôi mắt năm xưa lại hiện về
Áo trắng một thời văn khoa đó
Rồi nghe tủi nhục lịm hồn mê!
Sao vẫn hòai mơ tiếng vó câu
Áo chàng kỵ sĩ bến giang đầu
Tiến quân chặt đứt tung xiềng xích
Dựng lại cờ xưa ấm ngọt ngào…

MỘT NGÀY KHÔNG HÀNH QUÂN

Xin cô hàng thêm một két bia
Hôm nay lãnh lương tôi dành đãi hết
Cô hàng ơi, một mai tôi chết
Ai tiêu dùm, ba tháng tiền lương

Hôm qua tôi dừng chợ Bồng Sơn
Mẹ thằng bạn ôm tôi mà khóc
Tôi nói làm sao qua dòng nước mắt
Thị trấn này vừa mất thằng con

Tôi quá buồn ra đứng bờ sông
Sông Lại Giang ráng chiều đỏ sậm
Nhớ nó ngã nhào trên bờ đá xám
Thấy cả ngọn đồi những xác Bắc Nam

Cô hàng ơi cho một ly không
Tôi rót mời một người lính Bắc
Hắn nằm banh thây dưới hầm bí mật
Trên người vẫn còn sót lại bài thơ

Trên đồi cao, mây vẫn xanh lơ
Có con bướm vàng dịu dàng dưới nắng
Tôi với hắn, đâu có gì thống hận
Bài thơ nào cũng viết để yêu em

Xin cô hàng thêm một chút từ tâm
Tôi quen đập đầu mỗi khi say rượu
Đừng sợ cô em, những thằng đánh giặc
Nhảy Diều Hâu nhưng thật yếu mềm

Em có đôi hàng lông mi thật đen
Tôi bỗng nhớ người tôi yêu, quá đỗi
Đôi mắt nàng cả một trời vô tội
Sao lòng nàng lại tàn nhẫn vô tâm

Khi tôi buồn tôi nói trăm năm
Có nghĩa là tôi vẫn còn muốn sống
Đừng nhắc cùng tôi người tôi yêu dấu
Kẻo tôi lại sầu, mửa hết mật xanh.

NGÀY GẶP BẠN CŨ

Những thằng bạn buổi hôm nào áo trận

Thoắt giờ đây: tóc đã điểm hoa râm

Khi gặp lại từ phương này quả đất

Chợt nhìn lên: giờ vầng trán đã nhăn

Trong đôi mắt mỏi mê cùng cơm áo

Có chút gì phảng phất của quê hương

Mây Đèo Cả như hôm nào dừng lại

Chiều Pleiku như buổi nọ mù sương

Thấy như thể trời Bồng Sơn mưa đổ

Chiều cuối năm quân chuyển xuống Đèo Nhông

Đường xe lửa ai ngồi châm điếu thuốc

Áo tơi dầu che khuất dãy Cù Mông

Thấy như thể lon Guigoz cam khổ

Chút đồ ăn còn trộn với tử sinh

Nhai hối hả để xuống đồi đột kích

Mưa xóa dầm dề khu trại gia binh

Thấy như thể đêm qua về quận lỵ

Vài ba thằng trải chiếu dưới đêm trăng

Dăm trái ổi và bi đông rượu đế

Còn sặc cơ hàn san chút tình thân

Thấy như thể mồ hôi và nước mắt

Mặn và đau từ núi nọ rừng kia

Qua An Lão này tao còn gọi máy

Về Phù Ly hai đứa đã xa lìa

Thấy trở lại những chuyện đời dâu biển

Hôm nào đây miệng hò hét xung phong

Trong chợp mắt, cả cơ đồ sụp đổ

Buồn gì không, một thế hệ long đong

Thằng ra Bắc, kêu thầy, thằng bỏ xứ

Thằng vào Nam, gọi bạn, bạn lưu vong

Sông núi ấy, bao hồn ma trở dậy

Kéo nhau về, kêu thảm một mùa xuân

Những thẳng bạn buổi hôm nào áo trận

Thoắt giờ đây, tóc đã điểm hoa râm

Khi gặp lại từ phương trởi viễn khách

Chợt nhìn lên: sao nước mắt lưng tròng…

TRẦN HOÀI THƯ

(Giai phẩm xuân Quê Mẹ Paris, số 123 & 124, Tháng 1 & 2 1993)

Những bửa ăn trong mật khu

tranhoaithu42.com

November 4, 2019 by Tranhoaithu

(trích từ Vịn vào lục bát, thơ THT, Thư Ấn Quán xuất bản theo phương pháp Printing on Demand, (Giấy quí hiếm, bìa ép lamninate, khổ lớn)  chỉ dành tặng thân hữu và những người yêu thơ)

Post by Sơn râu 5 Jun 2024

Mục tiêu 1

Hạt cơm, hạt ngọc của trời
Tôi nhai, mòn cả, hai hàm răng tôi
Tôi nhai, gian khổ ngọt bùi
Chia năm xẻ bảy dưới trời chiến tranh
Tôi nhai, nước mắt hòa canh
Mồ hôi hòa với ba ngày lương khô
Tôi nhai, gió tạt khó mồi
Ba thằng ba phía che nồi cơm quân
Mưa mất trí, gió nổi khùng
Củi thanh quá ướt sao làm chín cơm
Khói bay, cay mắt, xốn cườm
Phùng mang, trợn mắt, miệng làm ống tre

Phải rồi, cơm sống, cơm khê
Phải rồi, khói tạt não nề đội trung
Phải rồi, cơm nhão, sượng sùng
Tôi nhai, nghiền dập nỗi buồn lính Nam

Ba người sao đủ vách phên
Thơ tôi sao đủ làm khiên che trời
Tháng tư chiến trận tan rồi
Nồi cơm khê sống cả đời chẳng quên


Mục tiêu 2

Làng hoang địch bỏ từ lâu
Bí bầu rau cải tha hồ tự do
Thiếu chăng thiếu vịt thiếu gà
Thiếu thêm tí đế mừng ngày bình yên

Mục tiêu 3

Mục tiêu vừa chiếm xong rồi
Thầy trò đi kiếm cái nồi chị nuôi
Đỡ công nấu nướng lôi thôi
Cám ơn “đồng chí” bỏ nồi thoát thân
Nồi cơm nóng, cá với canh
Thầy trò vét trọn ăn mừng chiến công…

Mục tiêu 4

Mời ông thầy vào xơi cơm
Có gà có vịt tha hồ lai rai
Hôm nay mình bắn kinh tài
Tịch thu một bịch tiền còn máu loang

Hắn núp dưới ao trong làng
Thở bằng ống sậy bọt lăn tăn trồi
Bọn này tưởng cá ném chơi
Không ngờ máu thịt tả tơi lềnh bềnh
Kìa, ông thầy có sao không
Sao ông lại mửa, mặt xanh thế này?

Em kêu y tá đến ngay…

Mục tiêu 5

Bữa cơm đã dọn ra rồi
Người Ô-đô nói ngậm ngùi bên tai:
“Hôm nay lại thiếu thằng Tài
Em bới một chén mời về ăn chung…”
Trời ui ui đã lập đông
Hàng cây gẫy ngọn đưa xương lên trời
Khẩu súng cắm giữa gò bồi
Hai hàng quân đứng ngậm ngùi tiễn đưa…

Hành quân qua xóm Gò Bồi…

tranhoaithu42.com

June 30, 2017 by Tranhoaithu

Post by Sơn râu 5 Jun 2024

1.
Hành quân qua xóm Gò Bồi
Xem nhà Xuân Diệu có còn hay không
Tôi qua chiếc cầu  Đại Hàn
Chắc nhà thơ cũng từng qua chốn này
Lòng dưng rất nhẹ như mây
Thấy trên sông những đám mây in trời
Thấy lòng rất đổi bồi hồi
Nhớ bài thơ thuộc chép thời học sinh

2,

Hành quân qua xóm Gò Bồi
Nắng trưa đổ lửa trên đồng cỏ khô
Xa xa xanh thẩm hàng dừa
Bao quanh xóm, những bụi bờ khả nghi
Quân dừng đợi lệnh chuyển di
Máy truyền tin cứ rù rì ỉ ôi…

Bỗng nhiên một tiếng súng rời
Xé lên từ xóm Gò Bồi bên sông
Và rồi, là một thằng con
La lên một tiếng, gục đầu, súng buông
Đạn AK phá thịt xương
Làm tan nát cả tấm lòng với thơ

Giờ này, ngoài Bắc, nhà thơ
đang vắt óc để  phanh thây  ngụy thù
Giờ này, ở tại Gò Bồi
Có tôi  chuẩn bị  đội hình xung phong

Trần Hoài Thư, Nhà Thơ Cầm Súng

dongsongcu.wordpress.com

Posted on June 4, 2024 

Tác giả: Như Không

Post by Sơn râu 5 Jun 2024

Tiểu sử vắn tắt:
Trước 1975, giáo sư Toán tại Quảng Tín. Sĩ quan Thám Kích QLVNCH thuộc Sư Đoàn 22 BB.
Sau 1975 tù 3 năm. Vượt biên đến Mỹ. Học tiếp lấy bằng Cử Nhân IT và Cao Học Toán ứng dụng.
Tiếp tục các hoạt động văn học
Biết và đọc anh từ khá lâu, trước 1975. Mấy mươi năm trôi qua khi đầu đã bạc lại được biết thêm về anh qua các bài viết của nhà thơ Lê Mai Lĩnh. Lê Mai Lĩnh sư huynh thuộc loại người thẳng như ruột ngựa, thích và phục ai là nói thẳng mà đã không thích thì cũng… khó lòng mà yên thân được với anh. Trong bài viết của mình, Lê huynh không giấu diếm sự ngưỡng mộ với anh Trần Hoài Thư (“Trần Hoài Thư, tên cowboy hai súng” – Bài viết của nhà thơ Lê Mai Lĩnh). Ngưỡng mộ là phải, 75 tuổi trên đất Mỹ, anh cặm cụi cùng với vợ đến một thư viện cách nhà 5 giờ lái xe để sao chép lại mỗi ngày một cách rất thủ công những đầu sách thực sự giá trị in tại miền nam VN trước 1975. Đem về lại hì hục in ấn rồi đóng thành sách để… tặng không cho những người yêu văn chương miền Nam và những người thực sự có nhu cầu.
“Đối với tôi, những tác giả trong thời chiến là thiệt thòi nhất. Họ phải ra trận, vừa đánh giặc vừa viết, không có cơ hội để xuất bản. Sau năm 1975 không ai đếm xỉa đến văn chương của họ. Tôi muốn lấy lại danh dự cho họ”.
Anh bảo thế. Thư Quán Bản Thảo và cơ sở in ấn của anh, Thư Ấn Quán đã ra đời như vậy. Có lần một sĩ quan Dù gửi thư cho anh nhờ tìm tác giả bài thơ Biên Cương Hành (của Phạm Ngọc Lư) để cảm ơn vì trong khi anh sĩ quan này bị thương chờ trực thăng tới bốc, anh đã đọc bài thơ BCH trên báo Văn, rất trùng hợp với những suy nghĩ của anh. Vào năm 2010 lại có người hỏi thăm anh về nhà thơ Lê văn Trung vì khi bị tù đày trong trại tù CS, anh đọc được những bài thơ của tác giả Lê Văn Trung và còn nhớ đến bây giờ. Trần Hoài Thư như đã trở thành một chiếc cầu nối cho những độc giả và những người làm văn nghệ nổi tiếng một thời mà sau 1975 họ không còn tác phẩm nào được tái bản hoặc xuất bản vì nhiều lý do, trong đó lớn nhất vẫn là lý do chính trị.
Trần Hoài Thư muốn dành thời gian còn lại của anh để bù đắp cho những tác giả miền Nam trong thời chiến nhưng có lẽ anh còn quên một điều, với chúng tôi – dĩ nhiên có cả anh trong đó – những người lính đi đánh trận thì “tiền lính tính liền”. Lấy đâu ra tiền để dành dụm mà xuất bản? Biết ngày mai đi hành quân là “xả láng” mọi thứ, làm sao biết được mình còn sống không để mà trở về?
Trần Hoài Thư cũng là một người lính tác chiến. Hơn thế nữa, anh thuộc Đại Đội Thám Kích của Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Một Sư Đoàn chỉ có một đại đội Thám Kích, nhiệm vụ của họ là nhảy trực thăng – còn gọi là nhảy Diều Hâu – hay bằng các phương tiện khác vào vùng địch, tìm cách tiếp cận để nắm được quân số, vị trí và các trang bị chiến đấu của họ để báo về Bộ Tư lệnh của Sư Đoàn. Vì thế từ quan cho đến lính đều là những người ưu tú và cực kỳ gan dạ vì khi đã vào đất địch bằng các đơn vị nhỏ như vậy thì chết dễ như bỡn vì thiếu sự yểm trợ từ chính đơn vị của mình. Dân Thám Kích “chê” mấy thằng du kích vớ vẩn. Bọn này chỉ rình rình núp đâu đó, cắc cù một hai phát là ôm súng co giò chạy biến. Thám Kích “làm ăn” lớn hơn nhiều. Phải là cỡ chính quy cấp Sư Đoàn, “đồ chơi” toàn thứ dữ như cỡ thượng liên 12.8ly, vuốt nhẹ cò súng một chút như vuốt má con gái là đạn bay hàng tràng, loại súng mà trúng đạn vào tay chân thì tay chân “rụng” ngay lập tức, trúng vào cổ thì bay đầu, trúng vào thân thì cơ thể sẽ bị nâng bổng lên rồi mới đổ vật ra đất, viên đạn để lại trên cơ thể một cái lỗ tròn bằng nắm tay, lục phủ ngũ tạng bay đi đâu mất. Như cối 82ly, cối 120ly oạch đùng vang dội, miểng bay rào rào rát mặt cháy tóc, như DKZ bắn thẳng nổ dữ dội những ngày ra trận. Những ngày chiến trận đó Trần Hoài Thư đã hai lần bị thương, có một lần đạn “chê” anh, viên đạn xoi một lỗ bên một ống tay áo, đục thêm một lỗ khác trên ngực áo, cày một đường văng mất một đầu vú rồi lại chui ra ở ống tay áo bên kia.
Dân tác chiến là như vậy, có lúc đạn bắn tơi bời hoa lá, kêu chút chít như chuột kêu chung quanh mà chẳng hề hấn gì. Có lúc một trái pháo trời ơi đất hỡi bắn hú họa mà lại trúng miểng chết lãng nhách. Những ngày đó tỉnh Bình Định thuộc Liên Khu 5 của Bắc Quân là căn cứ địa của Sư đoàn Sao Vàng Bắc Việt khét tiếng, có thung lũng An Lão bốn bề núi dựng nằm ở phía Bắc. Nhiều khi ranh giới mong manh giữa hai bên chỉ là 1 dòng sông nhỏ, chiều ngang chưa bằng nửa tầm đạn bắn…

Trần Hoài Thư by Đinh Cường

Dòng sông phân tranh hai vùng thù nghịch.
Đêm xuống đồi gặp con nước nổi
Súng đưa khỏi đầu
Từng *con một vượt sông…

Rồi trước khi trèo ngọn Kỳ Sơn
Anh lạc trên cánh đồng mênh mông
Không biết nơi nào là cõi dữ
… –(Đêm vượt sông)

Chú thích: * “Con”, tiếng lóng nhà binh chỉ người lính.

Ngay từ khi nhảy ra khỏi trực thăng có nơi nào không là cõi dữ? Dân Thám Kích trang bị nhẹ, chỉ mang dao găm, súng M16 với cấp số đạn gấp hai lần, loại súng khi bị “dính” đạn vào người thì đầu vào chỉ bằng mút đũa mà đầu ra phá một lỗ toang hoác. Và rất nhiều lựu đạn, cả M26 hoặc M67. Họ không xài M72 chống tăng vì họ gần như chỉ cận chiến nếu gặp địch.

“Nước nguồn đổ xuống ngày binh lửa
Những xác nào đã thúi hôm qua
Ai bạn ai thù sao quá thảm
Trên một dòng cuồn cuộn oan gia
Con sông chia cắt đôi bờ hận
Cột khói còn lưu luyến chiến trường
Có ai chạy loạn bơi xuồng kể
Một thước đi, xác ngập thước đường
”…. –(Trung đội)

Bài thơ gợi nhớ lại chiến trận núi Chu Pao ở rừng núi cao nguyên thuộc Vùng 2 Chiến Thuật với hai câu thơ nổi tiếng:

“Chu Pao ai oán hờn trong gió
Mỗi tấc khăn tang một tấc đường
”.

Chiến trận núi Chu Pao ngày đó là đồi núi, đôi khi hai bên chỉ cách nhau một tầm ném lựu đạn. Bên này ném thì bên kia chụp trái lựu đạn ném trả, chết… tính sau vì cứ nằm yên thì còn dễ chết hơn.

… Khi Thư nhảy vào vùng địch, những thây người chết trong chiến trận của cả 2 bên bị bỏ lại đã sình thúi trong thung lũng An Lão bốn bề gió hú. Họ nằm đó, lặng lẽ nhìn trời hay úp mặt xuống đất, xác thân tan nát vì bom đạn, vì hỏa lực T.O.T (times on target) đang lặng lẽ phân hủy. Mùi xác chết xộc vào mũi Thư và các người lính của anh theo tiếng gió réo đang thổi lồng lộng lật tung chiếc mũ vải đi rừng đang đội:

“Địch cho Trung Đội qua eo chết
Hai bên sườn đại liên đan nhau
Nổ…. Nổ dòn
Đất đá kêu đau
Sủi bọt
Khói bốc lên
Bốn bề dội vào vách xám…

Một hai ba… Lộn. Nằm co quắp

Còn lại vẫn ào lên ào lên
Đừng bò! Đừng bò!
Trung đội phó hét cuồng điên
Cỏ tranh bắt mồi cháy mạnh
Gió tạt khói mù
Bốn bề khói rợp
Khói cay cay cặp mắt nổ tròng
Khắp bốn bề gào thét xung phong…

Cao điểm chiếm rồi
Vui mừng quá độ
Mà sao người lính Truyền Tin rơi lệ
Báo cáo trong tiếng mất tiếng còn
Về những thằng bị *kiến cắn ngủ yên
”… –(Eo chết)

– Chú thích: *Bị “kiến cắn”: Tử trận

Bài thơ hào hùng đúng mùi chiến trận. Người viết bài này cũng từng ở trong những tình huống tương tự: Không được bò. Dỏng lưng lên lăn xả vào họng súng bên kia thì còn có cơ may sống sót. Xạ thủ đại liên M60 cũng xách cây súng nặng chịch vừa chạy vừa tưới đạn về phía trước. Trong kinh hoàng khói lửa, những tiếng nổ của lựu đạn và những loại súng khác nhau từ cả hai phía làm hai tai điếc đặc, khói súng mù mịt trên chiến trường và tiếng thét xung phong dồn dập làm cho người lính trận như say, chỉ có một hướng lao về phía trước không còn nghĩ gì tới chết sống. Nhưng khi chiến trận tàn rồi, tiếng nổ đã im, rừng bỗng trở nên yên ắng kỳ lạ và lúc đó mới biết ai còn ai mất. Và rớt nước mắt thương đồng đội của mình, mới sáng nay còn chia đôi điếu thuốc giờ đã vĩnh viễn nằm xuống không kịp trối trăng một lời. Và cũng là khi thấy máu của mình chảy ra từ đâu đó mới biết mình cũng bị thương:

“Chỉ giữ lại trên thân ta, này vết sẹo
Để khi buồn, sờ lại nhớ thời xưa
Dấu vết hôm qua khói lửa mịt mù
Và kinh hãi… Trời ơi… Ta vẫn còn sống sót
”…. –(Tạ Từ)

Chỉ có những người trực tiếp cầm súng bắn nhau mới biết anh nói đúng. Nghĩ lại mà rợn người, chẳng biết làm sao mà mình còn sống được! Đạn tránh người chứ người làm sao tránh được đạn? Vậy mà khi bị thương ra khỏi Quân Y Viện, vết thương vừa lên da non lại nhớ đồng đội, nhớ chiến trường. Nhớ mùi cỏ cây hăng hắc nồng nàn mỗi sáng đi mở đường trong rừng già, nhớ mùi những thân cây bị bom cháy đen vươn những cánh tay khẳng khiu trên trời những chiều đóng quân, nhớ những cánh rừng im lặng rợn người không một tiếng chim kêu vì muông thú đã bỏ đi hết do bom đạn. Và chân lại muốn đi, đi về phía có ánh lửa chớp sáng trên đầu họng súng, nơi có những đồng đội chia nhau từng ca nước uống sặc sụa mùi bùn đỏ múc lên từ những vết xích xe tăng mà cơn mưa đêm qua còn để lại. Suối có khi rất gần nhưng không thể xuống được. Lọ mọ kéo nhau xuống lấy nước lũ “mất dạy” (chữ dùng của nhà văn Phan Nhật Nam) phục sẵn trong rừng bắn cho nát gáo. Nhớ những đêm nằm rừng, quần áo thấm nước mưa và mồ hôi vào ban ngày đã khô quắt lại, nằm trên võng treo bên dưới chiếc Poncho, cây súng dựng sẵn một bên. Nhớ những cánh rừng cỏ tranh cao lút đầu người, những ngày lội trong rừng cỏ tranh sắc như dao cứa đứt thịt da. Nhớ những con suối mùa khô xâm xấp nước, lá cây rừng rụng xuống hàng hàng lớp lớp, khi mang giày trận lội qua là chắc chắn những kẽ ngón chân sẽ lở loét, nhớ cả những vết muỗi rừng chích xuyên qua lớp poncho và bộ đồ trận đã dày cui vì mồ hôi và nhựa cây rừng. Và cứ thế, như có một sức hút kỳ lạ không giải thích được, người lính chiến miền Nam lại tiếp tục bước chân về phía chiến trường nơi rừng già, nơi tăm tối đến nỗi không có lấy một chút ánh sáng hỏa châu màu đỏ quạch để soi sáng cho họ những cái chết đang rình rập trong bóng đêm mù mịt.

“Những lần chuyển quân dù chẳng biết về đâu
Nhưng chúng tôi đều biết những gì đang chờ đợi sẵn
Như thể những viên đạn đồng trong lòng cơ bẩm
Xẹt ra khỏi nòng rồi kiến cắn tê mê…

Hãy mừng dùm anh dù bầm dập tả tơi
Anh vẫn được tăng phái xuống đồi
Tiếp tục những lần chuyển quân
Về những nơi mình không biết
”… –(Người lính trở về với chiến trường)

Mà ngọn đồi nơi người lính Thám Kích Trần Hoài Thư “được” tăng phái thì có yên bình một chút nào đâu! Vẫn là nơi chết chóc vang động tiếng pháo của Bắc quân đe dọa sự yên bình trên mảnh đất miền Nam nơi anh sinh ra, nơi có Mẹ Cha, có bầy em đang tung tăng đến trường mỗi sáng, nơi có những gia đình đoàn tụ mỗi ngày bên mâm cơm tối đạm bạc dưới ánh đèn. Và anh lại khoác áo trận để trở lại chiến trường cùng với đồng đội của mình dù biết rõ cái chết vẫn đang chờ anh qua cái họng đen ngòm của chiếc nòng súng, của chiếc lưỡi lê 3 khía nhọn hoắt trên nòng cây AK47 sản xuất tại Liên Sô hay của Trung Cộng đang nhắm vào yết hầu của dân miền Nam.

“Tôi qua đồi xám mây mờ núi
Thương về đâu một lũ sáo rừng
Hôm qua đồi ngập hàng trăm xác
Đạn pháo đào sâu bãi chiến trường…

Có ai như thể người lính Thượng
Ngồi khom trên bờ đá thổi khèn
Hôm qua có những hồn ma lẻ
Lạc tìm về buôn bản cao nguyên
Có ai dưới lớp mồ hoang dã
Nằm xuôi chân mắt mở trợn trừng
Chiều nay sao mọc về phương Bắc
Sao ruột lòng vắt đỏ phương Nam
Cỏ tranh lớp lớp che đường dốc
Phòng tuyến buồn hiu nhuốm nắng chiều
Trận đánh cũng đi vào quên lãng
Sao còn rờn rợn những hồn xiêu
”… –(Đồi xưa)

Ra vậy! Người lính Thám Kích Trần Hoài Thư, với tâm hồn của một người làm thơ đã nhìn thấy những con sáo bay về rừng trong chiều chuyển quân. Tâm hồn nhạy cảm dễ rung động trước cái đẹp của anh ghi nhận được những điều nhỏ nhoi tinh tế nhất và cả những hình ảnh dữ dội của cái chết khi nhìn thấy những người lính từ phương Bắc xa xôi nằm chết banh ruột trên đất miền Nam. Trên đất cao nguyên ngày đó có người lính làm thơ Trần Hoài Thư với những thị xã nhỏ bé “đi dăm bước đã về chốn cũ” như lời thơ trong một bài thơ của Vũ Hữu Định. Vùng đất đỏ quạch bụi bay mù trời dưới những vòng bánh xe GMC những chiều chuyển quân và ngập ngụa bùn đỏ vào những ngày mưa mù mịt của cao nguyên làm anh da diết nhớ nhà:

“Anh ở trên rừng với Kinh với Thượng
Với những đại ngàn mặt trời mất tích
Những người chung quanh màu da đen nám
Nên cuộc đời anh cũng phải nám đen
Anh ở trên rừng mưa ngày mưa đêm
Không cần cùm chân mà chân khó bước
Bước một bước lên bùn già chân trước
Bước hai bước lên bùn non chân sau….

Anh ở trên rừng thương em nhớ con
Không biết làm sao để về dưới nớ
Ăn trái ớt rừng cay nhung cay nhớ
Cay cả cuộc đời lính thú cao nguyên
”… –(Anh ở trên rừng)

“Ăn trái ớt rừng cay nhung cay nhớ”. Ôi cha! Câu thơ tuyệt vời!

Một ngày anh có khách đến thăm giữa núi rừng hiu quạnh, nơi chỉ có hầm hố súng đạn và những người lính trận dạn dày sương gió:

“Em lên thăm anh mang mùi thiếu nữ
Nhà anh đây những hố hầm phòng ngự
Không có gì ngoài ít bài thơ
Không có gì ngoài những hoa mười giờ
Đỏ thắm cả một triền đồi heo hút
Em lên thăm anh áo màu hoa cúc
Mà hầm anh lâu quá không sửa sang
Em xem kìa, lựu đạn với dao găm
Không có cả một tấm hình để thêm tươi mát
Không có bức tranh dù là tĩnh vật
Để ấm cuộc đời trong tuổi thanh niên
”…. –(Em lên thăm anh)

Và cứ vậy, hết cao nguyên lại xuống đồng bằng. Trên bốn vùng chiến thuật, những người lính trận miền Nam VN trải qua tuổi thanh xuân của mình trong lửa đạn. Họ tiếp tục có mặt nơi những tuyến đầu, nơi có những trò chơi chết người của súng đạn đang chờ đợi họ, không ngại ngần, không dè dặt để giữ vững sự bình yên cho đất nước.

“Diều hâu đã về như một lũ âm binh
Kẻ trước kẻ sau lao vào địa ngục
Đêm không thấy đường giữ dây khỏi lạc
Chúng tôi băng đồng nước ngập
Giải cứu quê em
”… –(Đêm tiếp cứu chợ Huyện)

Nhưng khi anh và các đồng đội, những “diều hâu” lao tới nơi địch về thì có khi đã không còn kịp nữa: Ngôi trường nghèo nàn tả tơi ở 1 vùng quê xa xôi trong cơn binh lửa đã cướp mất mạng sống của cô giáo trẻ, để lại một bầy học trò cũng nghèo nàn không kém đang sợ hãi nháo nhác bên xác cô giáo như bầy gà con mất mẹ:

“Lũ bé quỳ bên xác cô trẻ
Đặt chùm hoa mếu máo gọi cô về
Cô không về, cô bỏ dạy, cô đi
Cô bỏ chúng con cô về xứ khác
Ta cắn bầm môi… em ơi, ta khóc
Em không về em cũng bỏ thanh xuân…

Em bé quê ơi cho ta nhành bông
Một nhành bông quỳ vàng như màu áo
Ta đặt lên em. Trống trường ảo não
Như những hồi mặc niệm em tôi
Ta đã về, và đã trễ, em ơi
”…

Tôi tin chắc là anh khóc. Vì chính tôi, khi đọc những câu thơ này cũng đang cay cay trong lòng muốn rơi nước mắt. Sự bình yên cho quê hương, cho những ngôi trường nghèo nàn ở những nơi xa xôi đã làm đổ biết bao nhiêu máu. Nhưng những người lính miền Nam đã bị phản bội. Máu xương của các người lính miền Nam, của đồng bào miền Nam đã bị phản bội vào cái ngày mà Richard Nixon, Tổng thống Mỹ bắt tay với Mao Trạch Đông, tươi cười cụng ly rượu mời nhau ở Bắc Kinh vào năm 1972. Trên bàn cờ chính trị quốc tế, do ảnh hưởng của “thầy dùi” Henry Kissinger là Ngoại trưởng Mỹ gốc Do Thái thời đó– một con ma đi đêm theo kiểu Đại Sứ Henry Cabot Lodge thời Đệ Nhất Cộng Hòa– và những áp lực khác nhau từ nhiều hướng, người Mỹ bỏ bán đảo Đông Dương để hướng về Trung Đông, nơi mà đồng minh Israel thân cận của họ cũng đang lao đao trong vòng vây thù địch của những quốc gia Ả Rập thuộc khối Hồi Giáo. Rồi Hoàng Sa bị Tàu cộng chiếm. Người lính trận miền Nam vẫn tiếp tục dũng cảm chiến đấu trong vô vọng.
Năm 1973 hiệp định Paris được ký kết. Quân đội Mỹ bình an rút về nước. Cũng từ đó, các viện trợ quân sự cho miền Nam chỉ còn nhỏ giọt. Máy bay, xe tăng nằm ụ vì thiếu nhiên liệu hoặc phụ tùng thay thế. Pháo yểm trợ cho các trận đánh chỉ bắn cầm chừng vì không còn đạn dự trữ trong khi Bắc quân rải pháo như mưa xuống các vùng hành quân bị cô lập vì không còn gì để tiếp tế cho họ, cho những người lính cắn răng chiến đấu trong sự thiếu thốn đến tận cùng. Khí tài, súng đạn vào những ngày tháng 4/1975 chỉ còn đủ dùng trong một tháng, trong khi các nước đồng minh thuộc khối Cộng sản tiếp tục tăng viện với số lượng không giới hạn các phương tiện chiến tranh cho Bắc quân. Vào những ngày cuối tháng 4/1975, do thông tin liên lạc hoàn toàn bị cắt đứt từ trước đó nên đã có một đơn vị thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù không hề biết tin tức gì về chiến sự. Họ đang hành quân trong rừng già nhưng hoàn toàn mất liên lạc với Bộ Chỉ Huy của mình. Khi lò mò ra khỏi rừng về đến Tân Uyên thượng nguồn sông Đồng Nai họ đã bị bắt sống và cả 18 người lính đều bị xử tử, xác bỏ trôi sông. Và cuối cùng, điều không thể nào tránh khỏi đã xảy ra: Dương Văn Minh kêu gọi quân đội buông súng đầu hàng vào cuối tháng 4/1975.
… Lịch sử sẽ ghi lại những vị tướng VNCH, những quân nhân các cấp thuộc mọi binh chủng đã tự sát vào ngày miền Nam bị bức tử. Lịch sử đã chọn các anh để giao cho phần đen tối nhất, thê thảm nhất. Những người lính phải buông súng khi không hề thất trận và các anh đã không thể có được sự lựa chọn nào khác cho mình. Thế hệ của các anh, rủi thay, rơi đúng vào thời điểm thê lương nhất trong lịch sử VN.

“Thế hệ chúng tôi mang đầy vết sẹo
Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn
Không phạm tội mà ra tòa chung thẩm
Treo án tử hình ở tuổi thanh xuân
Thế hệ chúng tôi loài ngựa thồ bị xích
Hai mắt buồn che bởi tấm da trâu
Quá khứ tương lai, tháng ngày mất tích
Đàn ngựa rũ bờm không biết về đâu…
Thế hệ chúng tôi già như quả đất
Râu tóc mỗi ngày mọc những hoang mang
”… –(Thế hệ chiến tranh)

Người lính làm thơ Trần Hoài Thư, vào thời gian này là một phóng viên chiến trường nên chỉ bị tù 3 năm nhưng những sĩ quan khác thì triền miên đói khổ trong tù chẳng biết ngày về. Lại một giai đoạn bi hùng khác của quân đội VNCH, rất nhiều người đã bị giết, gián tiếp hay trực tiếp khi trong tay không còn tấc sắt. Nhà cửa họ bị tịch thu. Vợ con họ sống lây lất trong các khu Kinh Tế Mới heo hút trong những vùng xa xôi rừng thiêng nước độc, đầy dẫy bom mìn còn sót lại. Chiến tranh đã đi qua nhưng những ký ức đau đớn vẫn còn nguyên vẹn trong lòng Trần Hoài Thư:

“Da ông bạn màu đen
Tóc ông bạn màu trắng
Da của tôi màu vàng
Tóc của tôi màu trắng
Màu trắng của Daksuk
Màu trắng của *Mang Giang
Màu trắng của mù sương
Màu trắng của mây bạc
Thời chúng ta đánh giặc
Nhuộm mãi đến bây giờ
”… –(Trắng)

Chú thích: *Các địa danh của Cao nguyên Trung phần.

Những ngày sống trên đất Mỹ nhìn đất trời cô tịch – như rất nhiều những nhà thơ VN khác – lòng anh bùi ngùi nhớ quê hương.

“Ở đâu cũng vẫn đất trời
Cũng rừng cô tịch cũng đồi tà dương
Cũng ngày nắng cũng đêm sương
Cũng qua cũng lại phố phường người dưng
Cũng trên trời một vầng trăng
Cũng sông vẫn chảy hai dòng ngược xuôi
Nhưng sao lòng lại không nguôi
Nghe như bìm bịp gọi chiều nước lên
”… –(Xa xứ)

A! Lại con chim bìm bịp! Loài chim có nhiều nơi sông nước miền Tây có tiếng kêu rất buồn, rất đơn điệu kêu theo những con nước ròng lên xuống. Tiếng kêu mênh mang trên những dòng sông trôi lặng lẽ ra biển, chẳng ai nhìn thấy con chim đâu nhưng tiếng kêu cứ vang vang trên dòng nước chảy, thấp xuống dần rồi tắt hẳn trong những bãi bờ xanh ngắt ven sông. Anh làm sao mà nguôi ngoai được những ngày binh lửa còn vảng vất trong trí nhớ. Lòng anh giờ cũng buồn thảm như tiếng bìm bịp kêu một mình trên những dòng sông đỏ màu phù sa của một quê hương bây giờ xa thẳm ngàn trùng.
75 tuổi. Đời người không còn mấy nổi. Anh vẫn cặm cụi và tỉ mỉ làm cái công việc của riêng mình hàng ngày, vẫn chăm chút những tác phẩm văn học của miền Nam nhưng sẵn sàng tặng không cho những người còn quan tâm đến văn chương miền Nam một thời chìm trong lửa đạn.
Riêng với tôi, anh vẫn cứ là người lính Thám Kích của gần 50 năm trước. Anh vẫn là người đi đầu, chấp nhận gian khổ và hy sinh như ngày xưa nhưng trên một mặt trận hoàn toàn khác: Mặt trận Văn Học.

Văn Học miền Nam.
Viết để quý tặng anh Trần Hoài Thư

Như Không
2018

“Nhớ mùi cỏ cây hăng hắc nồng nàn mỗi sáng đi mở đường trong rừng già, nhớ mùi những thân cây bị bom cháy đen vươn những cánh tay khẳng khiu trên trời những chiều đóng quân, nhớ những cánh rừng im lặng rợn người không một tiếng chim kêu vì muông thú đã bỏ đi hết do bom đạn. Và chân lại muốn đi, đi về phía có ánh lửa chớp sáng trên đầu họng súng, nơi có những đồng đội chia nhau từng ca nước uống sặc sụa mùi bùn đỏ múc lên từ những vết xích xe tăng mà cơn mưa đêm qua còn để lại. Suối có khi rất gần nhưng không thể xuống được. Lọ mọ kéo nhau xuống lấy nước lũ ‘mất dạy’ phục sẵn trong rừng bắn cho nát gáo. Nhớ những đêm nằm rừng, quần áo thấm nước mưa và mồ hôi vào ban ngày đã khô quắt lại, nằm trên võng treo bên dưới chiếc Poncho, cây súng dựng sẵn một bên. Nhớ những cánh rừng cỏ tranh cao lút đầu người, những ngày lội trong rừng cỏ tranh sắc như dao cứa đứt thịt da. Nhớ những con suối mùa khô xâm xấp nước, lá cây rừng rụng xuống hàng hàng lớp lớp, khi mang giày trận lội qua là chắc chắn những kẽ ngón chân sẽ lở loét, nhớ cả những vết muỗi rừng chích xuyên qua lớp poncho và bộ đồ trận đã dày cui vì mồ hôi và nhựa cây rừng. Và cứ thế, như có một sức hút kỳ lạ không giải thích được, người lính chiến miền Nam lại tiếp tục bước chân về phía chiến trường nơi rừng già, nơi tăm tối đến nỗi không có lấy một chút ánh sáng hỏa châu màu đỏ quạch để soi sáng cho họ những cái chết đang rình rập trong bóng đêm mù mịt…”

Tôi không có facebook để phổ biến. Còn Thư Quán Bản Thảo thì đăng không tiện (báo của mình, đăng bài ca ngợi mình, người ta sẽ đàm tiếu). Bạn cho phép tôi đi trên Blog của tôi?
Tôi mong bài này sẽ được phổ biến rộng rãi để nói lên tiếng nói của dân đánh giặc bọn mình!

Chúc lành
Trần Hoài Thư.