This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tiểu sử vắn tắt: Trước 1975, giáo sư Toán tại Quảng Tín. Sĩ quan Thám Kích QLVNCH thuộc Sư Đoàn 22 BB. Sau 1975 tù 3 năm. Vượt biên đến Mỹ. Học tiếp lấy bằng Cử Nhân IT và Cao Học Toán ứng dụng. Tiếp tục các hoạt động văn học Biết và đọc anh từ khá lâu, trước 1975. Mấy mươi năm trôi qua khi đầu đã bạc lại được biết thêm về anh qua các bài viết của nhà thơ Lê Mai Lĩnh. Lê Mai Lĩnh sư huynh thuộc loại người thẳng như ruột ngựa, thích và phục ai là nói thẳng mà đã không thích thì cũng… khó lòng mà yên thân được với anh. Trong bài viết của mình, Lê huynh không giấu diếm sự ngưỡng mộ với anh Trần Hoài Thư (“Trần Hoài Thư, tên cowboy hai súng” – Bài viết của nhà thơ Lê Mai Lĩnh). Ngưỡng mộ là phải, 75 tuổi trên đất Mỹ, anh cặm cụi cùng với vợ đến một thư viện cách nhà 5 giờ lái xe để sao chép lại mỗi ngày một cách rất thủ công những đầu sách thực sự giá trị in tại miền nam VN trước 1975. Đem về lại hì hục in ấn rồi đóng thành sách để… tặng không cho những người yêu văn chương miền Nam và những người thực sự có nhu cầu. “Đối với tôi, những tác giả trong thời chiến là thiệt thòi nhất. Họ phải ra trận, vừa đánh giặc vừa viết, không có cơ hội để xuất bản. Sau năm 1975 không ai đếm xỉa đến văn chương của họ. Tôi muốn lấy lại danh dự cho họ”. Anh bảo thế. Thư Quán Bản Thảo và cơ sở in ấn của anh, Thư Ấn Quán đã ra đời như vậy. Có lần một sĩ quan Dù gửi thư cho anh nhờ tìm tác giả bài thơ Biên Cương Hành (của Phạm Ngọc Lư) để cảm ơn vì trong khi anh sĩ quan này bị thương chờ trực thăng tới bốc, anh đã đọc bài thơ BCH trên báo Văn, rất trùng hợp với những suy nghĩ của anh. Vào năm 2010 lại có người hỏi thăm anh về nhà thơ Lê văn Trung vì khi bị tù đày trong trại tù CS, anh đọc được những bài thơ của tác giả Lê Văn Trung và còn nhớ đến bây giờ. Trần Hoài Thư như đã trở thành một chiếc cầu nối cho những độc giả và những người làm văn nghệ nổi tiếng một thời mà sau 1975 họ không còn tác phẩm nào được tái bản hoặc xuất bản vì nhiều lý do, trong đó lớn nhất vẫn là lý do chính trị. Trần Hoài Thư muốn dành thời gian còn lại của anh để bù đắp cho những tác giả miền Nam trong thời chiến nhưng có lẽ anh còn quên một điều, với chúng tôi – dĩ nhiên có cả anh trong đó – những người lính đi đánh trận thì “tiền lính tính liền”. Lấy đâu ra tiền để dành dụm mà xuất bản? Biết ngày mai đi hành quân là “xả láng” mọi thứ, làm sao biết được mình còn sống không để mà trở về? Trần Hoài Thư cũng là một người lính tác chiến. Hơn thế nữa, anh thuộc Đại Đội Thám Kích của Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Một Sư Đoàn chỉ có một đại đội Thám Kích, nhiệm vụ của họ là nhảy trực thăng – còn gọi là nhảy Diều Hâu – hay bằng các phương tiện khác vào vùng địch, tìm cách tiếp cận để nắm được quân số, vị trí và các trang bị chiến đấu của họ để báo về Bộ Tư lệnh của Sư Đoàn. Vì thế từ quan cho đến lính đều là những người ưu tú và cực kỳ gan dạ vì khi đã vào đất địch bằng các đơn vị nhỏ như vậy thì chết dễ như bỡn vì thiếu sự yểm trợ từ chính đơn vị của mình. Dân Thám Kích “chê” mấy thằng du kích vớ vẩn. Bọn này chỉ rình rình núp đâu đó, cắc cù một hai phát là ôm súng co giò chạy biến. Thám Kích “làm ăn” lớn hơn nhiều. Phải là cỡ chính quy cấp Sư Đoàn, “đồ chơi” toàn thứ dữ như cỡ thượng liên 12.8ly, vuốt nhẹ cò súng một chút như vuốt má con gái là đạn bay hàng tràng, loại súng mà trúng đạn vào tay chân thì tay chân “rụng” ngay lập tức, trúng vào cổ thì bay đầu, trúng vào thân thì cơ thể sẽ bị nâng bổng lên rồi mới đổ vật ra đất, viên đạn để lại trên cơ thể một cái lỗ tròn bằng nắm tay, lục phủ ngũ tạng bay đi đâu mất. Như cối 82ly, cối 120ly oạch đùng vang dội, miểng bay rào rào rát mặt cháy tóc, như DKZ bắn thẳng nổ dữ dội những ngày ra trận. Những ngày chiến trận đó Trần Hoài Thư đã hai lần bị thương, có một lần đạn “chê” anh, viên đạn xoi một lỗ bên một ống tay áo, đục thêm một lỗ khác trên ngực áo, cày một đường văng mất một đầu vú rồi lại chui ra ở ống tay áo bên kia. Dân tác chiến là như vậy, có lúc đạn bắn tơi bời hoa lá, kêu chút chít như chuột kêu chung quanh mà chẳng hề hấn gì. Có lúc một trái pháo trời ơi đất hỡi bắn hú họa mà lại trúng miểng chết lãng nhách. Những ngày đó tỉnh Bình Định thuộc Liên Khu 5 của Bắc Quân là căn cứ địa của Sư đoàn Sao Vàng Bắc Việt khét tiếng, có thung lũng An Lão bốn bề núi dựng nằm ở phía Bắc. Nhiều khi ranh giới mong manh giữa hai bên chỉ là 1 dòng sông nhỏ, chiều ngang chưa bằng nửa tầm đạn bắn…
Trần Hoài Thư by Đinh Cường
Dòng sông phân tranh hai vùng thù nghịch. Đêm xuống đồi gặp con nước nổi Súng đưa khỏi đầu Từng *con một vượt sông…
Rồi trước khi trèo ngọn Kỳ Sơn Anh lạc trên cánh đồng mênh mông Không biết nơi nào là cõi dữ… –(Đêm vượt sông)
Chú thích: * “Con”, tiếng lóng nhà binh chỉ người lính.
Ngay từ khi nhảy ra khỏi trực thăng có nơi nào không là cõi dữ? Dân Thám Kích trang bị nhẹ, chỉ mang dao găm, súng M16 với cấp số đạn gấp hai lần, loại súng khi bị “dính” đạn vào người thì đầu vào chỉ bằng mút đũa mà đầu ra phá một lỗ toang hoác. Và rất nhiều lựu đạn, cả M26 hoặc M67. Họ không xài M72 chống tăng vì họ gần như chỉ cận chiến nếu gặp địch.
“Nước nguồn đổ xuống ngày binh lửa Những xác nào đã thúi hôm qua Ai bạn ai thù sao quá thảm Trên một dòng cuồn cuộn oan gia Con sông chia cắt đôi bờ hận Cột khói còn lưu luyến chiến trường Có ai chạy loạn bơi xuồng kể Một thước đi, xác ngập thước đường”…. –(Trung đội)
Bài thơ gợi nhớ lại chiến trận núi Chu Pao ở rừng núi cao nguyên thuộc Vùng 2 Chiến Thuật với hai câu thơ nổi tiếng:
“Chu Pao ai oán hờn trong gió Mỗi tấc khăn tang một tấc đường”.
Chiến trận núi Chu Pao ngày đó là đồi núi, đôi khi hai bên chỉ cách nhau một tầm ném lựu đạn. Bên này ném thì bên kia chụp trái lựu đạn ném trả, chết… tính sau vì cứ nằm yên thì còn dễ chết hơn.
… Khi Thư nhảy vào vùng địch, những thây người chết trong chiến trận của cả 2 bên bị bỏ lại đã sình thúi trong thung lũng An Lão bốn bề gió hú. Họ nằm đó, lặng lẽ nhìn trời hay úp mặt xuống đất, xác thân tan nát vì bom đạn, vì hỏa lực T.O.T (times on target) đang lặng lẽ phân hủy. Mùi xác chết xộc vào mũi Thư và các người lính của anh theo tiếng gió réo đang thổi lồng lộng lật tung chiếc mũ vải đi rừng đang đội:
“Địch cho Trung Đội qua eo chết Hai bên sườn đại liên đan nhau Nổ…. Nổ dòn Đất đá kêu đau Sủi bọt Khói bốc lên Bốn bề dội vào vách xám…
Một hai ba… Lộn. Nằm co quắp Còn lại vẫn ào lên ào lên Đừng bò! Đừng bò! Trung đội phó hét cuồng điên Cỏ tranh bắt mồi cháy mạnh Gió tạt khói mù Bốn bề khói rợp Khói cay cay cặp mắt nổ tròng Khắp bốn bề gào thét xung phong…
Cao điểm chiếm rồi Vui mừng quá độ Mà sao người lính Truyền Tin rơi lệ Báo cáo trong tiếng mất tiếng còn Về những thằng bị *kiến cắn ngủ yên”… –(Eo chết)
– Chú thích: *Bị “kiến cắn”: Tử trận
Bài thơ hào hùng đúng mùi chiến trận. Người viết bài này cũng từng ở trong những tình huống tương tự: Không được bò. Dỏng lưng lên lăn xả vào họng súng bên kia thì còn có cơ may sống sót. Xạ thủ đại liên M60 cũng xách cây súng nặng chịch vừa chạy vừa tưới đạn về phía trước. Trong kinh hoàng khói lửa, những tiếng nổ của lựu đạn và những loại súng khác nhau từ cả hai phía làm hai tai điếc đặc, khói súng mù mịt trên chiến trường và tiếng thét xung phong dồn dập làm cho người lính trận như say, chỉ có một hướng lao về phía trước không còn nghĩ gì tới chết sống. Nhưng khi chiến trận tàn rồi, tiếng nổ đã im, rừng bỗng trở nên yên ắng kỳ lạ và lúc đó mới biết ai còn ai mất. Và rớt nước mắt thương đồng đội của mình, mới sáng nay còn chia đôi điếu thuốc giờ đã vĩnh viễn nằm xuống không kịp trối trăng một lời. Và cũng là khi thấy máu của mình chảy ra từ đâu đó mới biết mình cũng bị thương:
“Chỉ giữ lại trên thân ta, này vết sẹo Để khi buồn, sờ lại nhớ thời xưa Dấu vết hôm qua khói lửa mịt mù Và kinh hãi… Trời ơi… Ta vẫn còn sống sót”…. –(Tạ Từ)
Chỉ có những người trực tiếp cầm súng bắn nhau mới biết anh nói đúng. Nghĩ lại mà rợn người, chẳng biết làm sao mà mình còn sống được! Đạn tránh người chứ người làm sao tránh được đạn? Vậy mà khi bị thương ra khỏi Quân Y Viện, vết thương vừa lên da non lại nhớ đồng đội, nhớ chiến trường. Nhớ mùi cỏ cây hăng hắc nồng nàn mỗi sáng đi mở đường trong rừng già, nhớ mùi những thân cây bị bom cháy đen vươn những cánh tay khẳng khiu trên trời những chiều đóng quân, nhớ những cánh rừng im lặng rợn người không một tiếng chim kêu vì muông thú đã bỏ đi hết do bom đạn. Và chân lại muốn đi, đi về phía có ánh lửa chớp sáng trên đầu họng súng, nơi có những đồng đội chia nhau từng ca nước uống sặc sụa mùi bùn đỏ múc lên từ những vết xích xe tăng mà cơn mưa đêm qua còn để lại. Suối có khi rất gần nhưng không thể xuống được. Lọ mọ kéo nhau xuống lấy nước lũ “mất dạy” (chữ dùng của nhà văn Phan Nhật Nam) phục sẵn trong rừng bắn cho nát gáo. Nhớ những đêm nằm rừng, quần áo thấm nước mưa và mồ hôi vào ban ngày đã khô quắt lại, nằm trên võng treo bên dưới chiếc Poncho, cây súng dựng sẵn một bên. Nhớ những cánh rừng cỏ tranh cao lút đầu người, những ngày lội trong rừng cỏ tranh sắc như dao cứa đứt thịt da. Nhớ những con suối mùa khô xâm xấp nước, lá cây rừng rụng xuống hàng hàng lớp lớp, khi mang giày trận lội qua là chắc chắn những kẽ ngón chân sẽ lở loét, nhớ cả những vết muỗi rừng chích xuyên qua lớp poncho và bộ đồ trận đã dày cui vì mồ hôi và nhựa cây rừng. Và cứ thế, như có một sức hút kỳ lạ không giải thích được, người lính chiến miền Nam lại tiếp tục bước chân về phía chiến trường nơi rừng già, nơi tăm tối đến nỗi không có lấy một chút ánh sáng hỏa châu màu đỏ quạch để soi sáng cho họ những cái chết đang rình rập trong bóng đêm mù mịt.
“Những lần chuyển quân dù chẳng biết về đâu Nhưng chúng tôi đều biết những gì đang chờ đợi sẵn Như thể những viên đạn đồng trong lòng cơ bẩm Xẹt ra khỏi nòng rồi kiến cắn tê mê…
Hãy mừng dùm anh dù bầm dập tả tơi Anh vẫn được tăng phái xuống đồi Tiếp tục những lần chuyển quân Về những nơi mình không biết”… –(Người lính trở về với chiến trường)
Mà ngọn đồi nơi người lính Thám Kích Trần Hoài Thư “được” tăng phái thì có yên bình một chút nào đâu! Vẫn là nơi chết chóc vang động tiếng pháo của Bắc quân đe dọa sự yên bình trên mảnh đất miền Nam nơi anh sinh ra, nơi có Mẹ Cha, có bầy em đang tung tăng đến trường mỗi sáng, nơi có những gia đình đoàn tụ mỗi ngày bên mâm cơm tối đạm bạc dưới ánh đèn. Và anh lại khoác áo trận để trở lại chiến trường cùng với đồng đội của mình dù biết rõ cái chết vẫn đang chờ anh qua cái họng đen ngòm của chiếc nòng súng, của chiếc lưỡi lê 3 khía nhọn hoắt trên nòng cây AK47 sản xuất tại Liên Sô hay của Trung Cộng đang nhắm vào yết hầu của dân miền Nam.
“Tôi qua đồi xám mây mờ núi Thương về đâu một lũ sáo rừng Hôm qua đồi ngập hàng trăm xác Đạn pháo đào sâu bãi chiến trường…
Có ai như thể người lính Thượng Ngồi khom trên bờ đá thổi khèn Hôm qua có những hồn ma lẻ Lạc tìm về buôn bản cao nguyên Có ai dưới lớp mồ hoang dã Nằm xuôi chân mắt mở trợn trừng Chiều nay sao mọc về phương Bắc Sao ruột lòng vắt đỏ phương Nam Cỏ tranh lớp lớp che đường dốc Phòng tuyến buồn hiu nhuốm nắng chiều Trận đánh cũng đi vào quên lãng Sao còn rờn rợn những hồn xiêu”… –(Đồi xưa)
Ra vậy! Người lính Thám Kích Trần Hoài Thư, với tâm hồn của một người làm thơ đã nhìn thấy những con sáo bay về rừng trong chiều chuyển quân. Tâm hồn nhạy cảm dễ rung động trước cái đẹp của anh ghi nhận được những điều nhỏ nhoi tinh tế nhất và cả những hình ảnh dữ dội của cái chết khi nhìn thấy những người lính từ phương Bắc xa xôi nằm chết banh ruột trên đất miền Nam. Trên đất cao nguyên ngày đó có người lính làm thơ Trần Hoài Thư với những thị xã nhỏ bé “đi dăm bước đã về chốn cũ” như lời thơ trong một bài thơ của Vũ Hữu Định. Vùng đất đỏ quạch bụi bay mù trời dưới những vòng bánh xe GMC những chiều chuyển quân và ngập ngụa bùn đỏ vào những ngày mưa mù mịt của cao nguyên làm anh da diết nhớ nhà:
“Anh ở trên rừng với Kinh với Thượng Với những đại ngàn mặt trời mất tích Những người chung quanh màu da đen nám Nên cuộc đời anh cũng phải nám đen Anh ở trên rừng mưa ngày mưa đêm Không cần cùm chân mà chân khó bước Bước một bước lên bùn già chân trước Bước hai bước lên bùn non chân sau….
Anh ở trên rừng thương em nhớ con Không biết làm sao để về dưới nớ Ăn trái ớt rừng cay nhung cay nhớ Cay cả cuộc đời lính thú cao nguyên”… –(Anh ở trên rừng)
Một ngày anh có khách đến thăm giữa núi rừng hiu quạnh, nơi chỉ có hầm hố súng đạn và những người lính trận dạn dày sương gió:
“Em lên thăm anh mang mùi thiếu nữ Nhà anh đây những hố hầm phòng ngự Không có gì ngoài ít bài thơ Không có gì ngoài những hoa mười giờ Đỏ thắm cả một triền đồi heo hút Em lên thăm anh áo màu hoa cúc Mà hầm anh lâu quá không sửa sang Em xem kìa, lựu đạn với dao găm Không có cả một tấm hình để thêm tươi mát Không có bức tranh dù là tĩnh vật Để ấm cuộc đời trong tuổi thanh niên”…. –(Em lên thăm anh)
Và cứ vậy, hết cao nguyên lại xuống đồng bằng. Trên bốn vùng chiến thuật, những người lính trận miền Nam VN trải qua tuổi thanh xuân của mình trong lửa đạn. Họ tiếp tục có mặt nơi những tuyến đầu, nơi có những trò chơi chết người của súng đạn đang chờ đợi họ, không ngại ngần, không dè dặt để giữ vững sự bình yên cho đất nước.
“Diều hâu đã về như một lũ âm binh Kẻ trước kẻ sau lao vào địa ngục Đêm không thấy đường giữ dây khỏi lạc Chúng tôi băng đồng nước ngập Giải cứu quê em”… –(Đêm tiếp cứu chợ Huyện)
Nhưng khi anh và các đồng đội, những “diều hâu” lao tới nơi địch về thì có khi đã không còn kịp nữa: Ngôi trường nghèo nàn tả tơi ở 1 vùng quê xa xôi trong cơn binh lửa đã cướp mất mạng sống của cô giáo trẻ, để lại một bầy học trò cũng nghèo nàn không kém đang sợ hãi nháo nhác bên xác cô giáo như bầy gà con mất mẹ:
“Lũ bé quỳ bên xác cô trẻ Đặt chùm hoa mếu máo gọi cô về Cô không về, cô bỏ dạy, cô đi Cô bỏ chúng con cô về xứ khác Ta cắn bầm môi… em ơi, ta khóc Em không về em cũng bỏ thanh xuân…
Em bé quê ơi cho ta nhành bông Một nhành bông quỳ vàng như màu áo Ta đặt lên em. Trống trường ảo não Như những hồi mặc niệm em tôi Ta đã về, và đã trễ, em ơi”…
Tôi tin chắc là anh khóc. Vì chính tôi, khi đọc những câu thơ này cũng đang cay cay trong lòng muốn rơi nước mắt. Sự bình yên cho quê hương, cho những ngôi trường nghèo nàn ở những nơi xa xôi đã làm đổ biết bao nhiêu máu. Nhưng những người lính miền Nam đã bị phản bội. Máu xương của các người lính miền Nam, của đồng bào miền Nam đã bị phản bội vào cái ngày mà Richard Nixon, Tổng thống Mỹ bắt tay với Mao Trạch Đông, tươi cười cụng ly rượu mời nhau ở Bắc Kinh vào năm 1972. Trên bàn cờ chính trị quốc tế, do ảnh hưởng của “thầy dùi” Henry Kissinger là Ngoại trưởng Mỹ gốc Do Thái thời đó– một con ma đi đêm theo kiểu Đại Sứ Henry Cabot Lodge thời Đệ Nhất Cộng Hòa– và những áp lực khác nhau từ nhiều hướng, người Mỹ bỏ bán đảo Đông Dương để hướng về Trung Đông, nơi mà đồng minh Israel thân cận của họ cũng đang lao đao trong vòng vây thù địch của những quốc gia Ả Rập thuộc khối Hồi Giáo. Rồi Hoàng Sa bị Tàu cộng chiếm. Người lính trận miền Nam vẫn tiếp tục dũng cảm chiến đấu trong vô vọng. Năm 1973 hiệp định Paris được ký kết. Quân đội Mỹ bình an rút về nước. Cũng từ đó, các viện trợ quân sự cho miền Nam chỉ còn nhỏ giọt. Máy bay, xe tăng nằm ụ vì thiếu nhiên liệu hoặc phụ tùng thay thế. Pháo yểm trợ cho các trận đánh chỉ bắn cầm chừng vì không còn đạn dự trữ trong khi Bắc quân rải pháo như mưa xuống các vùng hành quân bị cô lập vì không còn gì để tiếp tế cho họ, cho những người lính cắn răng chiến đấu trong sự thiếu thốn đến tận cùng. Khí tài, súng đạn vào những ngày tháng 4/1975 chỉ còn đủ dùng trong một tháng, trong khi các nước đồng minh thuộc khối Cộng sản tiếp tục tăng viện với số lượng không giới hạn các phương tiện chiến tranh cho Bắc quân. Vào những ngày cuối tháng 4/1975, do thông tin liên lạc hoàn toàn bị cắt đứt từ trước đó nên đã có một đơn vị thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù không hề biết tin tức gì về chiến sự. Họ đang hành quân trong rừng già nhưng hoàn toàn mất liên lạc với Bộ Chỉ Huy của mình. Khi lò mò ra khỏi rừng về đến Tân Uyên thượng nguồn sông Đồng Nai họ đã bị bắt sống và cả 18 người lính đều bị xử tử, xác bỏ trôi sông. Và cuối cùng, điều không thể nào tránh khỏi đã xảy ra: Dương Văn Minh kêu gọi quân đội buông súng đầu hàng vào cuối tháng 4/1975. … Lịch sử sẽ ghi lại những vị tướng VNCH, những quân nhân các cấp thuộc mọi binh chủng đã tự sát vào ngày miền Nam bị bức tử. Lịch sử đã chọn các anh để giao cho phần đen tối nhất, thê thảm nhất. Những người lính phải buông súng khi không hề thất trận và các anh đã không thể có được sự lựa chọn nào khác cho mình. Thế hệ của các anh, rủi thay, rơi đúng vào thời điểm thê lương nhất trong lịch sử VN.
“Thế hệ chúng tôi mang đầy vết sẹo Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn Không phạm tội mà ra tòa chung thẩm Treo án tử hình ở tuổi thanh xuân Thế hệ chúng tôi loài ngựa thồ bị xích Hai mắt buồn che bởi tấm da trâu Quá khứ tương lai, tháng ngày mất tích Đàn ngựa rũ bờm không biết về đâu… Thế hệ chúng tôi già như quả đất Râu tóc mỗi ngày mọc những hoang mang”… –(Thế hệ chiến tranh)
Người lính làm thơ Trần Hoài Thư, vào thời gian này là một phóng viên chiến trường nên chỉ bị tù 3 năm nhưng những sĩ quan khác thì triền miên đói khổ trong tù chẳng biết ngày về. Lại một giai đoạn bi hùng khác của quân đội VNCH, rất nhiều người đã bị giết, gián tiếp hay trực tiếp khi trong tay không còn tấc sắt. Nhà cửa họ bị tịch thu. Vợ con họ sống lây lất trong các khu Kinh Tế Mới heo hút trong những vùng xa xôi rừng thiêng nước độc, đầy dẫy bom mìn còn sót lại. Chiến tranh đã đi qua nhưng những ký ức đau đớn vẫn còn nguyên vẹn trong lòng Trần Hoài Thư:
“Da ông bạn màu đen Tóc ông bạn màu trắng Da của tôi màu vàng Tóc của tôi màu trắng Màu trắng của Daksuk Màu trắng của *Mang Giang Màu trắng của mù sương Màu trắng của mây bạc Thời chúng ta đánh giặc Nhuộm mãi đến bây giờ”… –(Trắng)
Chú thích: *Các địa danh của Cao nguyên Trung phần.
Những ngày sống trên đất Mỹ nhìn đất trời cô tịch – như rất nhiều những nhà thơ VN khác – lòng anh bùi ngùi nhớ quê hương.
“Ở đâu cũng vẫn đất trời Cũng rừng cô tịch cũng đồi tà dương Cũng ngày nắng cũng đêm sương Cũng qua cũng lại phố phường người dưng Cũng trên trời một vầng trăng Cũng sông vẫn chảy hai dòng ngược xuôi Nhưng sao lòng lại không nguôi Nghe như bìm bịp gọi chiều nước lên”… –(Xa xứ)
A! Lại con chim bìm bịp! Loài chim có nhiều nơi sông nước miền Tây có tiếng kêu rất buồn, rất đơn điệu kêu theo những con nước ròng lên xuống. Tiếng kêu mênh mang trên những dòng sông trôi lặng lẽ ra biển, chẳng ai nhìn thấy con chim đâu nhưng tiếng kêu cứ vang vang trên dòng nước chảy, thấp xuống dần rồi tắt hẳn trong những bãi bờ xanh ngắt ven sông. Anh làm sao mà nguôi ngoai được những ngày binh lửa còn vảng vất trong trí nhớ. Lòng anh giờ cũng buồn thảm như tiếng bìm bịp kêu một mình trên những dòng sông đỏ màu phù sa của một quê hương bây giờ xa thẳm ngàn trùng. 75 tuổi. Đời người không còn mấy nổi. Anh vẫn cặm cụi và tỉ mỉ làm cái công việc của riêng mình hàng ngày, vẫn chăm chút những tác phẩm văn học của miền Nam nhưng sẵn sàng tặng không cho những người còn quan tâm đến văn chương miền Nam một thời chìm trong lửa đạn. Riêng với tôi, anh vẫn cứ là người lính Thám Kích của gần 50 năm trước. Anh vẫn là người đi đầu, chấp nhận gian khổ và hy sinh như ngày xưa nhưng trên một mặt trận hoàn toàn khác: Mặt trận Văn Học.
Văn Học miền Nam. Viết để quý tặng anh Trần Hoài Thư
Như Không 2018
“Nhớ mùi cỏ cây hăng hắc nồng nàn mỗi sáng đi mở đường trong rừng già, nhớ mùi những thân cây bị bom cháy đen vươn những cánh tay khẳng khiu trên trời những chiều đóng quân, nhớ những cánh rừng im lặng rợn người không một tiếng chim kêu vì muông thú đã bỏ đi hết do bom đạn. Và chân lại muốn đi, đi về phía có ánh lửa chớp sáng trên đầu họng súng, nơi có những đồng đội chia nhau từng ca nước uống sặc sụa mùi bùn đỏ múc lên từ những vết xích xe tăng mà cơn mưa đêm qua còn để lại. Suối có khi rất gần nhưng không thể xuống được. Lọ mọ kéo nhau xuống lấy nước lũ ‘mất dạy’ phục sẵn trong rừng bắn cho nát gáo. Nhớ những đêm nằm rừng, quần áo thấm nước mưa và mồ hôi vào ban ngày đã khô quắt lại, nằm trên võng treo bên dưới chiếc Poncho, cây súng dựng sẵn một bên. Nhớ những cánh rừng cỏ tranh cao lút đầu người, những ngày lội trong rừng cỏ tranh sắc như dao cứa đứt thịt da. Nhớ những con suối mùa khô xâm xấp nước, lá cây rừng rụng xuống hàng hàng lớp lớp, khi mang giày trận lội qua là chắc chắn những kẽ ngón chân sẽ lở loét, nhớ cả những vết muỗi rừng chích xuyên qua lớp poncho và bộ đồ trận đã dày cui vì mồ hôi và nhựa cây rừng. Và cứ thế, như có một sức hút kỳ lạ không giải thích được, người lính chiến miền Nam lại tiếp tục bước chân về phía chiến trường nơi rừng già, nơi tăm tối đến nỗi không có lấy một chút ánh sáng hỏa châu màu đỏ quạch để soi sáng cho họ những cái chết đang rình rập trong bóng đêm mù mịt…”
Tôi không có facebook để phổ biến. Còn Thư Quán Bản Thảo thì đăng không tiện (báo của mình, đăng bài ca ngợi mình, người ta sẽ đàm tiếu). Bạn cho phép tôi đi trên Blog của tôi? Tôi mong bài này sẽ được phổ biến rộng rãi để nói lên tiếng nói của dân đánh giặc bọn mình!
Đào Như là bút hiệu của Bác sĩ Đào Trọng Thể. Hình trên: tác giả nhận giải “Tác Phẩm Xuất Sắc Nhất” Viết Về Nước Mỹ 2005, do nữ nghệ sĩ Kiều Chinh trao tặng. Trước 1975, ông là một y sĩ tiền tuyến chuyên về phẫu thuật. Định cư tại vùng Chicago, Hoa Kỳ, ông là chuyên gia bệnh tâm thần, và đã thành lập một câu lạc bộ đặc biệt để trợ giúp nhiều đồng hương và cựu chiến sĩ VNCH, cựu tù nhân cộng sản. Câu chuyện sau đây thể hiện những ám ảnh từ những hồi ức về 30-4-75. Trong thực tế, theo tác giả, đây là một đoạn trích ra từ Hồi Ký Hậu Chiến của một Bác sĩ Phẫu Thuật, mang tên “Thiên Lý và Vô Tận”. …Nhìn đồng hồ điện tử treo trên tường chỉ đúng 19 giờ ngày 14-12-1998, thấy vợ còn đang hong tóc, Trọng bảo: – Nhanh lên em, đừng để ‘họ’ đợi. – Anh còn dám gọi ‘cách mạng’ là ‘họ’ đấy à? Chị Xuân Tường vừa nói vừa cười, nửa đùa nửa thật với chồng: – Anh nhớ, có lần anh nói với em, năm 75, anh bị phê bình vì anh sơ ý, trong một buổi giao ban, anh gọi ‘cách mạng’ là ‘họ’. Bây giờ anh vẫn thấy đó: chế độ vẫn chế độ công an, tai vách mạch rừng. – Câu chuyện ấy lâu rồi gần một phần tư thế kỷ. Mà anh chỉ gọi mẹ con Diễm Khánh là “họ”, anh có gọi ai khác đâu. – Một phần tư thế kỷ rồi mà họ có xê dịch gì không? Không hiểu trong bửa cơm thiết đãi tối nay, ngoài vợ chồng mình còn có vị ‘quan khách bất ngờ’ nào không? Anh rán giữ gìn ý tứ, thận trọng cho anh, cho vợ, cho hai mẹ con Diễm Khánh …nghe anh. Qua nhà Diễm Khánh, vợ chồng Trọng chưa kịp gõ cửa, cửa đã mở. Ngọc Tới đứng nép người sang một bên chào vợ chồng anh chị. Chợt nhìn thấy Ngọc Tới, vợ chồng anh ngac nhiên đến độ ngẩn ngơ, khí sắc của Ngọc Tới sụp đổ đến độ dị thường: Tóc rụng xác xơ, răn cái có cái không, ngưởi cô ấy mập và phì ra như phù thủng, da nhợt nhạt, trông như một bịnh nhân trong thời kỳ chịu ảnh hưởng ung-thư-trị-liệu. Chị Xuân Tường tiến đến nắm hai tay của Ngọc Tới, người em bạn dì của chị, chị ruột của Diễm Khánh! Hai chị em ôm nhau khóc. Mặc dầu mẹ vợ anh, về thăm nhà cách đây một tháng, khi trở về Mỹ, bà có nói cho vợ chồng anh hay về sự thay đổi khí sắc của Ngọc Tới. Nhưng Trọng nghĩ đâu thể nào có sự thay đổi đến mức độ tiều tụy như vậy. Anh tin chắc rằng, không có một nguyên nhân ngoại lai nào có thể làm cho Ngọc Tới xuống dốc đến độ như vậy, ngoại trừ sự xâu xé chính nội tâm của Ngọc Tới.Trọng biết Ngọc Tới và chồng của Ngọc Tới là Dươc cao Năm Hoàng hai tuần sau ngày tiếp quản Cần thơ 1975, tại bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa. Lúc ấy Ngọc Tới là người phụ nữ trí thức, đẹp sang trọng trong hàng ngũ Cách mạng, tại khu 9, Hậu giang. Sau này, Trọng thường nói với Họa sĩ Nguyễn Minh, thân phụ của Ngọc Tới và Diễm Khánh lúc ông còn sinh thời: “Diễm Khánh là Liz Taylor của Mỹ, Ngọc Tới là Trà Giang của Việt nam.” Nhưng Ngọc Tới có suy tư sâu sắc, vào thời khoản ấy, Ngọc Tới đã có một nội tâm dữ dội, chuyển hóa không ngừng. Bước vào nhà trong, Ngọc Tới đến ôm vai anh và nói sát vào tai anh: – Em về hưu non lâu rồi anh! – Dì Hai về Mỹ, có nói cho tôi biết điều đó. – Em cũng tự ý xin ra khỏi Đảng rồi anh. – Ngọc Tới nói sao? Vậy là khỏe rồi khỏi phải bận bịu đi họp sinh hoạt nữa. – Đi họp làm gì? Em tự ý rút. Cách đây sáu tháng, người ta có yêu cầu em trở lại Đảng, và bằng giấy trắng mực đen người ta có cho em biết rõ, nếu những ai về hưu mà còn giữ Đảng tịch thì được miễn đi họp sinh hoạt Đảng. Nhưng em không! Dứt khoát, không trở lại Đảng. Câu chuyện giữa Ngọc Tới và Trọng làm không khí có vẻ căng, Trọng bèn chỉ vào bàn ăn và nói lớn: – Mấy con cua lột sao mà to thế! Không hiểu quí vị nấu nướng chúng với kỹ thuật tân kỳ như thế nào mà trông chúng đẹp lạ thường, như chúng đang mặc áo giác vàng. Anh châm bẩm nhìn vào đĩa tôm luột đặt ở giữa bàn bốc hơi. Những con tôm to mập no tròn căng cứng màu hồng trông thật là mọng. Bên cạnh là những đĩa muối tiêu, những đĩa tương ớt màu nâu, vàng, đỏ, những miếng chanh xanh cắt sẳn chờ đợi và những tép tỏi Phanrang thơm nồng. Tất cả hương sắc và bụng đói tạo cho anh háo hức thèm ăn lạ thường. Hiểu được anh, chị Xuân Tường bảo: – Nhìn kìa, tên Việt kiều ở Mỹ về đói ăn trông mà thảm hại. Cả nhà ai cũng cười. Ngọc Tới bảo: – Ở nước ngòai về ai cũng đói ăn cả, nhưng họ chỉ đói ăn những món đặc sản của quê hương. Anh Trọng, anh nhìn vào đầu bàn bên kia mà anh sẽ ngồi vào, bên gốc tay phải của anh có tô “cá rô kho tộ”. Món Cua lột, tôm luột là của mẹ con Diễm Khánh làm; còn món “cá rô kho tộ” là chính tay em làm. – Thật đấy anh Trọng, Diễm Khánh bảo, món “cá rô kho tộ” là món do chị Ngọc Tới làm từ trưa đến giờ đặc biệt dành cho anh đó. Trọng đến sờ vào siêu “cá rô kho tộ” còn ấm nóng. Anh đưa siêu “cá rô kho tộ” lên tận mũi để thưởng thức hương vị quê hương miền Nam! Anh nhớ ơn Ngọc Tới vô hạn! Chợt anh thấy trên đĩa dưới đáy siêu một mảnh giấy nhỏ. Anh cầm lên đọc. Đó là bài thơ đưọc chép tay lại, nét chữ của Ngọc Tới. Đọc bài thơ, hốt nhiên anh nhận ra đó là bài thơ của anh, viết cách đây gần hai mươi năm. Hôm ấy, ngày 2 tháng Tư, năm 79, vợ chồng Trọng có mời vợ chồng Ngọc Tới đi ăn ở cái quán ăn “xập xệ” ở bến Ninh kiều, chợ Cần thơ. Tuy nhìn là “xập xệ” như vậy, vì Cách mạng vào ai cũng muốn tỏ ra mình là biết giác ngộ bằng cách “xập xệ”; thật sự quán này là quán ăn nổi danh, có nhiều món đặc biệt của Hậu giang. Trước 75, anh và bạn bè của anh, các bác sĩ ở Cần thơ, gọi quán này là “Danh Trấn Giang Hồ Miền Tây”. Khi vào quán, anh chị có nói với vợ chồng Ngọc Tới ở đây có nhiều món ngon và lạ, quí vị cứ gọi cho bằng thích. Vợ chồng Ngọc Tới, và chi Xuân Tường gọi đủ thứ có cả cháo rắn hổ, cà ri rùa-cua-đinh…Riêng anh, chí thú có một món: “cá rô kho tộ”. Hôm ấy, Ngọc Tới có phê bình anh: – Anh này. Ngay cả ăn uống cũng cục bộ. Anh chí thú có một món cơm trắng và “cá rô kho tộ”. Khi nào xa chắc có nhớ về Cần thơ, anh chỉ nhớ món này thôi. Rồi cô ngâm nga câu ca dao: “Cần thơ gạo trắng nước trong…”… Chiều hôm ấy, ngồi trong hiên quán, ngoài trời mưa rả rich, phố xá tiêu điều, bây giờ mới có sáu giờ chiều đời sống như ngưng đọng lại. Một vài con ruồi đậu phía ngòai cửa kính nhọc mệt kéo lê đôi cánh ướt át, để lại những vết nhớp nhúa trên mặt kính. Chỉ còn hai mươi mấy ngày nữa là Cách mạng về với Cần thơ đúng bốn năm tròn. Trong suốt bốn năm dai dẳng ấy biết bao nhiêu đổi thay tang thưong đi qua thi trấn miền Tây này. Cần thơ ngày càng co lại, ngày càng khốn khó hơn. Những hân hoan chào mừng Cách mạng ngày 30/4/75 phụt tắt rất nhanh. Người ta thấy những vết hằn ngày càng sâu hơn, càng quằn quại hơn cày nát trên những gương mặt buồn thảm của những người vợ trẻ, những bà mẹ già có chồng có con đi tù học tập cải tạo không ngày về. Ngay các cán bộ tập kết về họ cũng ngậm ngùi cho thân nhân họ bị vùi dập đày ải trong các trại cải tạo. Ngòai trời, hoàng hôn một màu xám xịt đang phủ xuống mặt đường. Trọng nhớ lại chỉ còn mấy ngày nữa anh đưa gia đình ra khỏi nơi này, và đi về một nơi vô định. Cần thơ. Nơi anh phục vụ gần cả đời người, mười năm anh hành nghề bác sĩ phẫu thuật tại đây, và cũng là nơi vợ anh đã hạ sinh ba đứa con của anh. Nghe tiếng mưa rơi trên hiên quán, tiếng điểm thời khắc qua nhanh, tiếng gọi của vùng trời xa xâm nào, ở đó có sự rủi may đang chờ đợi anh. Vớ được mảnh giấy xi măng trên bàn bên cạnh, anh liền viết mộ bài thơ ngắn trong lúc anh thật sự xúc động. Sau bữa ăn, lúc tiển vợ chồng Ngọc Tới về, anh nhét vội bài thơ trong túi áo mưa của Hoàng, chồng của Ngọc Tới. Hôm nay gặp lại bài thơ, những sóng gió đổi thay cuộc sống của anh ở đây gần hai mươi năm về trước hiện về đậm đặc từng nét…Trọng đọc lớn bài thơ ấy cho cả nhà nghe…Chị Xuân Tường muốn biết bài thơ ấy của ai? Trọng kể lại sự tích bài thơ. Chi Xuân Tường la lớn: – Ồ! Lạc điệu và cũ quá rồi. Phải không bà con. Cả nhà cùng cười. Ngọc Tới nhắc lại bài thơ nguyên bổn và mảnh giấy xi măn anh Hòang vẫn còn giử, đây chỉ là bản chép tay của Ngọc Tới. Sau bài thơ, các bà ngồi chùm nhum lại, chuyện thầm thì, hết chuyện này sang chuyện khác, chuyện của các bà dài hơn hai mươi năm. Riêng anh, đói meo cả ruột. Thấy tám giờ tối rồi mà chẳng thấy ai đếm xĩa gì đến ăn uống cả, Trọng giơ tay định chôm chỉa một món gì lót lòng. Chị Xuân Tường la lớn: – Ơ! Hay thật. Anh có biết đợi chờ là gì không? Diễm Khánh thấy ông anh rể mình bị quê, cô liền nói đùa: – Chắc trước kia lúc chưa cưới, chị cho anh ấy đợi dài dài… – Cưới hay chưa cưới gì cũng vậy, lúc cần thì cho ông ấy ngóng dài cả cổ ra. Nói xong câu ấy chị Xuân Tường thích thú, cười rũ rượi…. Chợt có tiếng động ở cửa trước. Một bà cụ bước vào, mái tóc bạch kim, bà chống gậy, đi vững và chậm. Bên cạnh bà là một thanh niên chừng 18, 19 tuổi. Thọat nhìn, Trọng biết ngay đó là Dì Quới, mẹ của Ngọc Tới và Diễm Khánh. Tất cả mọi người đều chạy đến và đưa tay nắm lấy tay bà, để dìu bà đi cho vững hơn. Tất cả đều bị bà từ chối và gạt ra! Bà nói lớn: – Để tôi được độc lập. Không có gì quí hơn độc lập.. phải không bác sĩ Trọng? – Thưa Dì đúng vậy, Trọng liền đáp. Bà đi chậm nhưng rất vững. Trọng thấy Ngọc Tới, Diễm Khánh, Xuân Từơng và cả Bích Hằng đi sát bên cạnh bà, nhưng không ai đưa tay cầm lấy tay bà. Trọng tiến đến, đưa tay cầm lấy tay bà và đưa bà vào ngồi chỗ đầu bàn. Anh xin lỗi bà là vợ chồng anh chưa kịp đến hầu thăm bà, và anh cũng xin chuyển đến bà lời chào hỏi của nhạc mẫu của anh, chị ruột của bà, và lời cầu chúc sức khoẻ của Bà. Bà Dì Quới đáp: – Tôi cám ơn Bác sĩ. Chị tôi có phúc lớn có rể quí là Bác sĩ, tận tình phục vụ và chăm sóc cho chị tôi khi bà lưu vong ở đất nước người. Còn Bác sĩ lúc nào cũng ngon lành cả. Dưới thời Việt nam Cộng Hòa anh là Bác sĩ; Việt cộng vào anh cũng là Bác sĩ; qua Mỹ qua miết tít mù, anh cũng là Bác sĩ. Cách đây mươi hôm, một bà Trung tá của mình Sàigòn xưa đến thăm tôi, cho tôi biết là chồng bà bị bịnh tâm thần gọi là ‘Hội Chứng Hậu Chiến’gì đó, nghĩa là khi đi tù cải tạo bị mấy ông Cách mạng Cộng sản hành hạ vùi dập dữ quá. Gọi là rữa não mà! Nghe bà ta nói chồng bà và một số sĩ quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa cũng ở trong trình trạng như vậy hiện đang được Bác sĩ Trọng điều trị và tư vấn tâm thần tại Chicago. Bà đâu có ngờ ngờ bác sĩ Trọng là con rể nhà này. Nhưng ngon lành nhất, là lúc nào bác sĩ cũng có cô vợ đẹp ở bên cạnh. – Thưa Dì, về đời, con thật là may mắn. Với Xuân Tường con thật là tốt số. Nhưng thưa Dì ngày xưa Dì đâu có đồng ý cho Xuân Tường lấy con. – Ah! C’est vrai…Đúng vậy. Thôi bỏ chuyện cơm cũ đi. Bây giờ đến lược tôi phải xin lỗi quí vị, tôi đến trễ, ai cũng đói cả rồi. Thôi mời tất cả ăn đi thôi! À, Bác sĩ Trọng, cậu con trai ngồi bên tay phải của anh đó là Tự, con của Ngọc Tới. Tự là tên của Ba của Xuân Tường, tên của anh Hai, anh rể của tôi. Vì kính mến anh Hai, cho nên vợ chồng Ngọc Tới lấy tên anh Hai đặt cho con. Họ là Cách mạng mà. Mình thì kị húy, kị tên, không dám gọi tên ông bà ông vải, còn họ thì càng thương càng yêu, càng gọi to, càng réo lớn. Nhiều lúc tung hô: muôn năm, muôn năm… nghe phát sợ! Bích Hằng, Tự và Trọng, ngồi đầu bàn bên này. Bà dì Quới, chị Xuân Tường, Ngọc Tới và Diễm Khánh ngồi đầu bàn đối diện. Nhìn bà Dì Quới chăm sóc chi Xuân Tường trong bửa ăn, Trọng thật sự cảm động! Bà biết từng sở thích nhỏ của chị Xuân Tường, từng cọng hành tép tỏi! Bà nói lớn cho Bích Hằng, Ngọc Tới và Diễm Khánh nghe: – Xuân Tường không ăn được cua có vỏ. Cô ấy chỉ ăn cua lột thôi. Con gái rượu của ông Chánh án mà. Đáng kiếp cô thôi! Bỏ chạy sang Mỹ miết tít mù, làm lụng khổ sở làm sao mà có thể mua được cua lột cho cô ăn. Đáng đời cô. Để cô biết đá vàng. Xuân Tường là đứa cháu gái con của anh Hai, chị Hai, mà bà Dì Quớí thương yêu nuông chiều nhất. Hơn hai mươi lăm năm về trước, lúc ấy Ngọc Tới và Diễm Khánh theo cha tập kết còn ở ngòai Bắc, có lần Bà Dì Quới xin anh Hai, chị Hai cho Xuân Tường qua “ở hẳn bên bà”. Mặc dầu không được toại nguyện, bà vẫn được Xuân Tường lui tới hôm sớm với Bà. Lúc ấy Xuân Tường hoàn toàn thay thế hình ảnh của Ngọc Tới và Diễm Khánh trong tâm hồn bà Dì Quới. Năm 1970, Trọng đi hỏi chị Xuân Tường lảm vợ, Bà là người duy nhất trong gia đình không đồng ý gả chị Xuân Tường cho anh. Lập luận cơ hữu nhất của Bà: “con nhỏ mới có 17, 18 đem gả cho tên Trung kỳ già ngắt ”. Ở đầu bàn bên này, Trọng vừa ăn vừa chuyện vãn với Tự và Bích Hằng. Bích Hằng là con gái của Diễm Khánh sanh tại Hà nội năm 1972. Tự còn là sinh viên. Bích Hằng là chuyên viên dịch thuật của sở Ngoại vụ, thành phố Hồ Chí Minh. Trọng hỏi hai cháu về dự tính tương lai của họ như thế nào? Bích Hằng bảo tương lai của cô ấy tùy thuộc vào Sở Ngoại Vụ. Hy vọng năm 2000 hay 2001 sẽ được học bổng của chính phủ Mỹ sang du học tại Yale hay Hardvard về luật thương mại. Ước mơ của cô ấy là làm giáo viên đại học hay chuyên viên kinh tế và tài chánh. Còn Tự năm nay 19 tuổi, nhỏ hơn Bích Hàng 7 tuổi, cho biết là cháu đang tập trung để luyện thi vào Đại học Chuyên môn. Cháu mơ ước được đậu vào Đại Học Công An. Bà Dì Quới nghe Tự nói thế, bà không hài lòng! Bà nói một mình: – Rau nào, sâu đó… Nghe mẹ nói, Ngọc Tới rất buồn, nhưng không dám một lời phật ý mẹ. Dì Quới nâng cốc rượu vang lên cao và nói: – Bữa ăn hôm nay là mừng gặp lại Xuân Tường sau hai mươi năm xa cách. – Thưa cám ơn Dì. Chị Xuân Tường đáp lời Bà. Thưa Dì cách đây cũng gần hai mươi năm, năm 1975 gia đình mình cũng tổ chức một buổi tiệc để gặp lại Ngọc Tới và Diễm Khánh trở về, sau hai mươi năm tập kết ra Bắc. – Đúng vậy. Dì Quới nói, đời tôi hết xa con rồi đến xa cháu, đứa này trở về đứa khác phải ra đi. Đó là vận của nước hay số kiếp của tôi. Trọng thấy bà nước mắt lưng tròng. Bà Dì Quới nói tiếp: – Thôi ăn đi các con. Bà nâng ly rượu vang, bà hớp một hớp nhẹ. Anh làm giống như bà. Đúng là rượu vang-Admiral-của Pháp cái hậu của nó thật êm dịu, nồng ấm kích thích vị giác. Càng uống càng đê mê, ăn càng ngon. Nhìn cung cách bà Dì Quới uống rượu vang, từ cách nâng ly, dáng cầm thìa, cầm fourchette, bà chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp một cách sâu sắc. Bà có phong cách nói chuyện thật hấp dẫn, chế ngự người nghe, nhưng luôn luôn vẫn giử vẻ kín đáo, sang trọng trí thức của một mệnh phụ, mặc dầu cách đây 3 năm bà bị tai biến mạch máu não, bà bị liệt nửa người. Sau vài tuần rượu, da mặt bà hồng hào! Bà ngước mặt lên cao, dưới ánh sáng của mười ngọn đèn 100 nến, mái tóc bạc của bà lung linh óng ả lạ thường. Bà nói: – Bác sĩ Trọng có biết mấy chai rượu vang ấy là rượu của dượng Minh để lại không? Dượng Minh chết để lại một hầm rượu trong xưởng vẽ của ông ta. Mang một tâm hồn lãng mạn đi làm Cách mạng thật là nghiệt ngã. Trước khi ông ấy chết, ông ấy còn thiết tha với Cách mạng lắm đấy Bác sĩ Trọng. Những năm sau cùng của đời ông, ông bị bịnh Tâm Thần Phân Liệt. Suốt ngày ngồi nói chuyện một mình hay nói chuyện với ai đâu đâu ở trên trời. Ông sống trong một thế giới xa rời thực tế, thế giới của Don Quichotte mang đao to búa lớn tiến lên chém cối xây; thế giới của những Othello súc xiễm, vung gươm chém bạn mà ngỡ là kẻ thù; thế giới của những kẻ mang tâm hồn thác loạn, tự cho mình là đỉnh cao của trí tuệ loài người! Có nhiều lúc ông gọi các con cháu: “ Ngọc Tới, Diễm Khánh, Bích Hằng và Tự có nghe Bác Hồ gọi tên ông ngoại đến Quảng trường Ba đình để nhận Huy Chương Thống Nhất do chính Bác Hồ trao tặng”. Rồi ông ấy hối mấy đứa, cũng như ông ấy, thay đồ lẹ lẹ để đi cho kịp…. Thật là tội nghiệp! Phải không bác sĩ Trọng? Biết làm sao bây giờ. Chacun a son sort. Ai cũng có số cả. Rồi bà tiếp tục với giọng hờn dỗi: – Mặc áo đi theo Cách mạng, mang cả con cái, gia đình đi theo người ta ra tận ngoài Bắc, anh nhất định không chịu vào Đảng để cho con cái nhờ. Là cá mà không chịu có mang làm sao sống lâu dưới nước được! Anh Minh yêu dấu. Cũng may cho anh! Anh chết già. Anh tốt số hơn Tô Ngọc Vân, người bạn vẽ của anh của thuở xa xưa. Ông ta bị giết chết sau trận Điện biên. Bây giờ người ta cũng quên đi không còn ai nhắc tới tên của ông ấy cũng như bức tranh thời danh “Hà nội Đứng Vùng Lên” của ông ta nữa. Anh đã sai lầm. Anh và bạn của anh sai lầm. Các anh nghĩ đi làm cách mạng với tinh thần yêu nước, yêu Bác Hồ là đủ. Các anh chưa biết khiếp sợ Chuyên Chính Vô Sản. “Họ” đâu có chấp nhận các anh mãi mãi được. Họ bảo các anh là những kẻ “đồng sàng dị mộng”. Không là đảng viên mà đứng trong hàng ngũ Cộng sản thì các anh được “họ”sử dụng như những hình nộm. Thật vô cùng đau xót cho anh, khi thấy anh, trong những đêm khuya khoắc, cúi mái đầu ngoài bảy mươi trên những trang sách đầy sấm hối, “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội”, của ông Bảy Trấn, người bạn già của anh. Khi biết ông ta ở tuổi ngòai bảy mươi còn viết đơn xin ra khỏi Đảng, anh đứng dậy, anh la hét trước tấm voile trắng căn trên giá vẽ: “Thiên lý tại nhân tâm…Vô tận ở trong ta…Trong ta là cõi vô tận”. Và anh mang tất cả sơn màu pha chế anh vụt trên voile trằng. Anh nằm lăn trên sàn nhà xưởng vẽ. Anh la hét. Anh đứng thẳng người, đưa thẳng hai tay lên khỏi đầu như thần chiến thắng, anh ca tụng tác phẩm của anh: “Con người là mâu thuẩn. Chế độ là mâu thuẩn. Xã hội là mâu thuẩn. Tất cả đều sản sinh từ mâu thuẩn, từ đối kháng, âm dương. Đời khi có, khi không. Sắc sắc Không không. Arthur Koestler,“Le Zero Et L’Infini”!…Người ta bảo anh bị bịnh tâm-thần-phân liệt. Riêng em, em rất đau xót vì em biết anh đau khổ chịu đựng triệu chứng hoang tưởng từ thuở đó. Sau năm mươi năm cống hiến cả cuộc đời mình cho đất nước anh vẫn chưa biết mình là ai? Anh vẫn chưa biết mình đã làm gì và cho ai? Anh vẫn quờ quạng trong cỏi nội tâm của chính mình. Các ông Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Nguyễn Văn Trấn…họ cay đắng nhận ra thân phận trí thức sống trong Chuyên Chính Vô Sản như đồng tiền vàng nằm trong cục phân heo… Nói đến đây giọng bà Dì Quới nghe chừng như uất nghẹn. Lúc này, Ngọc Tới mới dám lên tiếng, trong giọng nói rất ôn tồn, nhưng không kém phần chua xót. Hướng về chi Xuân Tường, Ngọc Tới nói: – Cám ơn chị Xuân Tường và anh Trọng. Hôm nay có anh chị về thăm nhà sau gần hai nươi năm xa cách, má em gặp lại anh chị, má cảm động, má mới nói lên sự thật, tình yêu của má với Ba em vẫn còn sống động. Quay lại bà Dì Quới, Ngọc Tới tiếp tục: – Thưa Má, lâu lắm rồi, từ ngày thống nhất đất nước, lầu đầu tiên, hôm nay, tụi con nghe má gọi Ba “Anh Minh yêu dấu” Diễm Khánh và con lâu lắm rồi, các con mong muốn Má gọi lên câu đó trước khi ba con chết. Nói đến đây Ngọc Tới khóc, Diễm Khánh, Chị Xuân Tường cũng khóc. Hai Cháu Tự và Bích Hằng ngồi ngẩn ngơ. Ngọc Tới nói tiếp: – Anh Trọng và chị Xuân Tường, như hai anh chị đã biết, sau ngày thống nhất đất nước, Ba em có nhiều lần tìm về má em. Má vẫn dững dưng. Đôi lúc mà còn giận dữ nữa là khác. Dì Quới đặt cốc rượu xưống bàn, bà ngước mặt cao lên nhìn các con cháu. Bà nói, dằng từng tiếng: – Tôi giận anh Minh, cha của các chị à? Tôi giận thôi sao! Phải nói tôi thù anh ấy nữa là khác. Năm 1954 anh “bắt cóc”các con của tôi đi tập kết ra ngòai Bắc. Anh buộc các con đi làm chính trị trong lúc tụi nó còn quá trẻ. Ngọc Tới mới có 11, Diễm Khánh lúc đó mới có 9 tuổi, mà anh không hỏi ý kiến của tôi gì cả. Sao anh ác với mẹ con tôi quá vậy. Anh đâu có quyền làm như thế. Vẫn biết tôi với anh lúc đó đã ly dị. Anh được quyền nuôi con. Nhưng anh cũng phải biết các con là con của tôi. Tôi mang nặng. Tôi đẻ đau. Là mẹ, tôi thưong con tôi hơn ai hế. Tôi có bổn phận bảo vệ tụi nó. Anh cõng con ra ngòai Bắc, “người ta” gả vợ cho anh! Anh đâu có được gần gũi, giúp đỡ con cái. Các con phải đi ở tập thể. Họ nuôi các Trẻ Miền Nam còn thua nuôi heo. “Trường Miền Nam”, một loại “Trại Tù Cải Tạo” cho Thiếu Nhi Miền Nam theo cha mẹ tập kết ra Bắc vào thời đó! Rốt cuộc rồi Ngọc Tới cũng phải vào Đảng, đi B. Năm 1972, Cách mạng nhờ người móc nối đưa tôi vào gặp Ngọc Tới ở trong bưng! Đầu con đôi nón tai bèo, chân mang dép râu, bị sốt rét rừng bần huyết đến độ thê thảm, da mặt tái xanh cắt không được một hột máu. Tôi bưng mặt khóc khi gặp lại con. Anh có hay không anh Thiên đường Cộng sản sụp đổ ngay dưới chân của con chúng ta. Anh ơi, anh nghĩ thế nào mà anh dẫn các con sống cơ cực đến như vậy. Dẫu tôi còn yêu anh cách mấy đi nữa, anh bảo tôi đừng trách anh sao được…Năm 1975, họ trả cha con anh về, hoàn toàn vô sản, không có một cơ sở để được ăn no. Tôi ôm con vào lòng, xây dựng lại đời tụi nó từ chiếc đũa con…Thôi, các con, Xuân Tường và bác sĩ Trọng tiếp tục ăn đi các con. Tôi xin lỗi, tôi đâu muốn nói những điều như vậy, cũng chỉ vì thương yêu anh ấy quá đó thôi! Biết làm sao bây giờ! Chuyện đã rồi! Ai cũng có phần số cả. Xin cứ nghĩ như vậy đi để tự an ủi mình. Phải không? Phải không bác sĩ Trọng? Cả một quá khứ xa xôi gần như mất hút vào quên lãng đang cuồn cuộn quay về trong trí tưởng của Trọng. Anh bị chìm ngập trong hồi ức dài đăng đẳng trong suốt hơn 20 năm, đầy dẫy những hồi tình tự và bi tráng của cuộc đời. Vào khoảng tháng Giêng 76, sau hơn nửa năm thống nhất đất nước, họa sĩ Nguyễn Minh mới đến thăm nhạc phụ của anh, nguyên Chánh án Trương Tự, mặc dù hai người trước năm 1954 đã là bạn chí thân! Họ thân nhau, cho đến nỗi hai người trở thành anh em bạn cột chèo! Ấy thế mà, đợi mãi sau khi thống nhất hơn nửa năm, hai người mới nhìn nhau, mới chịu bắt tay nhau. Như vậy, phải biết họ thủ thế với nhau đến mực nào! Trong buổi tái ngộ này, lúc đầu hai người còn e dè, chỉ nói về quá khư xa xâm, thời trước 45, thời ‘tiền cách mạng’, thời còn học ở Collège Louis Le Grand ở Paris, Ecoles des Droits, Ecoles Des Beaux Arts ở đâu đó bên Pháp, Saigòn hay Hà nội…Sau vài tuần rượu Cognac, tình nghĩa có vẻ đậm đà, tình tự. – Như anh biết đấy, họa sĩ Nguyễn Minh mở đầu câu chuyện, tôi và bà Quới ly dị hồi năm 52, anh là anh rể của bà, anh biết, vì tánh lang chạ của Bà ấy. Có điều đau khổ cho tôi là bà ngoại tình với những thằng bạn giàu có của tôi, luật sư, bác sĩ, những thằng Quan, thằng Tế…Tôi không để con tôi lớn lên dưới ảnh hưởng của bà me xấu xa và vô luân như vậy, tôi nhất quyết cõng con tập kết ra Bắc năm 1954. Ra đến ngòai Bắc rồi… Nói đến đây, ông ngó trước ngó sau, kề miệng sát vào tai cụ Trương Tự, ông nói thật nhỏ: “mình mới vỡ mộng”! – Vì ‘ngoài đó’ nghèo quá phải không? – Nghèo thì đã đành. Mình không thể trách họ. Đồng bào miền Bắc lạnh nhạt với người miền Nam tập kết ra Bắc. Nói thẳng ra là họ không ưa. Mà họ không ưa là phải, vì họ tưởng lầm bọn này là bọn bần cố, bọn vô sản bọn vô học, họ phải oằn lưng ra mà nuôi bọn này. Họ cũng sợ mình ăn hết phần ăn của họ. Mặc dầu phần ăn của họ chỉ toàn cơm độn ngô và khoai. Anh biết, tôi phải phấn đấu biết chừng nào. Hai cháu còn nhỏ, nhưng cha con tôi đâu được mấy ngày ở chung. Các con phải đi ở tập thể. Buồn chỉ biết đi ăn thịt chó uống rượu đế. Công tác của tôi lúc đó là dạy hội họa tại trường Mỹ thuật Hà nội. Vài năm sau, tôi được giới thiệu với một cô phó tiến sĩ, du học ở Liên sô về. Ban đầu chúng tôi hiểu lầm nhau, nghĩ chỉ lấy nhau tạm bợ. Nhưng sau, đầu ấp tay gối với nhau, mới hiểu được nhau, bà cũng là con nhà quyền quí cũ xưa của đất Thăng Long, bà mới tìm đến tôi. Từ đó bà thật sư là bạn đời của tôi, chia sẻ tất cả sự nhọc nhằn trong cuộc đời của nhau. Bà chuyên dạy Nga văn. Sau 3 năm ăn ở chúng tôi có một cháu trai. Cái khổ là tôi không phải là đảng viên. Theo cách mạng mà không là đảng viên, nhất định họ không tin mình. Họ xem mình như kẻ ‘đồng sàng dị mộng’. Các con tôi theo học Trường Miền Nam… À, anh Hai biết không? Thằng Phạm Thu, luật sư, Thành Phần thứ Ba. Gia đình giòng họ của nó là dân Tây. Nó là dân Tây tử trong máu. Năm 1970, Phạm Thu là Đại diện cho Thành Phần Thứ ba, nó cùng một nhóm từ Pháp được mời đến thăm Hà Nội. Nó được chính phủ Hà nội tiếp đón long trọng. Nghĩ tình bạn cũ xưa, đồng hương người Sàigòn, và theo chính sách của chính phủ, tôi mời nó về nhà. Mua hoa hồng tiếp đón nó long trọng. Nghe nó nói về tình trạng khó khăn của miền Nam, mà cảm động. Thành Phần Thứ Ba là thành phần yêu nước chân chính nhất của miền Nam có truyền thống chống Mỹ Diệm. Say mê, cả bọn tôi nghe nó. Hà nội lúc ấy có bao nhiêu hoa hồng chúng tôi cũng mua cho nó. Nhà có bao nhiêu rượu quí Trung Quốc bạn bè đều đem ra hầu nó. Năm ngoái tôi về, tôi mới hay là nó lấy bà Quới và ăn ở với bà ấy từ năm 1961. Thằng chó đẻ, mình đi làm cách mạng, nó ở lại, nó ‘lấy’ vợ mình. Đụ mẹ, bọn làm chánh trị, một lũ lưu manh… Cụ chánh án Trương Tự, ngã ngửa ra cười: – Sự thật thì không phải hoàn toàn giống như ‘toi’ nói. Thằng Thu với dì Quới chỉ là những kẻ kết hợp làm ăn với nhau. Họ chỉ là những ‘partners’, Quới là con “poule de luxe” của Sàigòn trong mấy chục năm nay. Dì Quới qua trung gian của Luật sư Phạm Thu, chỉ giao du với bọn tài phiệt, bọn Tối Cao Pháp Viện, bọn bộ trưởng, bọn nghị sĩ và các tướng tá. Sự thật, dì Quới cần vàng ,vàng và vàng…Luật sư Phạm Thu, nó có vợ va ba đứa con, nó ở với dì Quới như một partner – Như vậy, có nghĩa la nó là thằng ‘ma cô’? – Oh! Sure! – Mà nó lại là đứng đầu tổ chức Thành Phần Thứ Ba của Miền Nam. – Thành Phần Thứ Ba, thứ Tư gì đó, là của tụi ‘toi’ và cộng sản nhào nặn nên, trong này có ai nhìn nhận bọn đó đâu. Ai cũng biết luật sư Phạm Thu hợp tác với Hà Nội làm chuyện nhảm nhí đó, nhưng không ai thèm để ý đến nó, vì chính quyền ai cũng biết nó là thằng ma cô trí thức. Còn chuyện thằng Phạm Thu đi Tây, đi Mỹ, đi Tàu, đi Hà nội …là chuyện thường, nó là thằng Tây, nó có quốc tịch Pháp từ trong bụng mẹ. Ai chi cho nó, thì nó cứ đi và hưởng. ‘Toi’ thấy không, 30 tháng 4 nó nhảy đi Mỹ dễ dàng. Thật sự tụi đó chẳng có lý tưởng gì cả, chẳng phải là phe phái của ai, tụi nó chỉ ham sex, địa vị, danh vọng vàng và vàng…‘Toi’ thấy anh em tụi nó, thằng Thu thằng Thảo, có đứa nào chịu từ bỏ quốc tich Pháp đâu… Đang mãi mê với ký ức của mình, bác sĩ Trọng chợt nghe Ngọc Tới, lớn tiếng hỏi bà dì Quới: – Thưa má, trong 20 năm Ba và hai con tập kết ra Bắc, má làm gì ở trong miền Nam này? Ngày gặp lại má, ba con đến định ôm hôn má cho thỏa lòng mong nhớ. Má xô ba con ra. Má chỉ thẳng vào mặt ba, má nói một câu cay đắng. Má còn nhớ má nói những gì không má? Bác sĩ Trọng thấy mặt bà dì Quới biến sắc, bà nhìn thẳng vào mặt Ngọc Tới và Diễm Khánh một cách nghiêm nghị, bà nói: – Tôi không bao giờ quên những gì tôi đã nói, mặc dầu những điều tôi đã nói có thể rất là thô bỉ nhưng rất thật, nhất là những gì tôi đã nói với cha của các chị! Ông ta quên, ông ta và tôi đã dứt khoác ly dị hối 1952. Ông đâu có quyền sởm sờ với tôi như vậy. Tôi có nói với cha của các chị lúc ấy: “Mặc dầu, trong suốt 20 năm qua tôi là con đĩ Sàigòn, con poule de luxe của Sàigòn đây. Nhưng anh phải biết không bao giờ tôi đưa đít cho những thằng cộng sản, những thằng chạy theo cộng sản như anh cả. Anh và đồng bọn của anh đừng có hòng! Người dân miền Nam này đã mở mắt ra rồi…”. Ngừng một chập, bà nhìn Ngọc Tới, Diễm Khánh và chị Xuân Tường, bà dịu giọng, mặc dầu trông bà còn giận dữ, bà nói tiếp: – Cha của các chị không thể nào chiến thắng được tôi đâu. Mặc dầu ông ta đã nhiều lần quì dưới chân tôi sấm hối…Các chị nhìn Bác sĩ Trọng! Biết bao là thao thức và trăn trở sau 4 năm ở lại làm việc với Cộng sản, rồi cũng bị bọn chuyên chính vô sản phản bội. Cuối cùng cũng phải cõng vợ cõng con ra đi. Các chị biết người anh rể của mình và chị Xuân Tường quá mà… Tôi xin lỗi các con các cháu, bác sĩ Trọng, tôi đã nói sự thật, mặc dầu đó là sự thật cay đắng, não nùng cho số kiếp của tôi. Dù sao đi nữa, Ngọc Tới, Diễm Khánh là con của tôi và anh Minh, tôi nguyên với anh Minh tôi luôn luôn gìn giử bảo vệ các con các cháu trong vòng tay của tôi. Mẹ lúc nào cũng yêu thương các con. Tôi xin lỗi bác sĩ Trọng, tôi đã nói chuyện gia đình riêng tư của chúng tôi trước sư hiện diện của bác sĩ và Xuân Tường. Trọng nghe bà Dì Quới gọi tên anh. Anh không dám trả lời. Anh chỉ biết nhìn bà Quới với cái nhìn thầm lặng chia sẻ. Anh dấu mặt sau ly rượu, vô tình anh nhìn mọi người qua ly rượu vang màu đỏ sậm. Anh nói: – Tất cả lịch sử đau thương vừa qua, chính chúng ta đã tạo ra. Chúng ta kiêu hãnh chấp nhận đau thương đó, nhất là đau thương gây nên từ một cưộc chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Chúng ta là kẻ làm nên lịch sử và cũng là nạn nhân của lịch sử. Trọng thấy bóng dáng chị Xuân Tường lung linh đứng dậy, đến cạnh anh, tay chị ôm lấy vai anh và nói: – Thừa Dì, hôm nay vui, anh Trọng uống hơi nhiều. Xin phép Dì, Ngọc Tới và Diễm Khánh cho phép con đưa anh anh về phòng nghỉ, con sẽ qua lại ngay thôi, để hầu chuyện với Dì. Hình như đưa anh về khuya hôm đó, có cả Tự và Bich Hằng anh nghe bà Dì Quới gọi theo: – Trời mưa lạnh nhớ đắp chăn kỹ cho nó. Xong rồi nhớ qua liền nghe con. Trọng nghe chi Xuân Tường nói: – Dạ, xong con qua liền. Bác sĩ Trọng nhớ khuya hôm ấy, Xuân Tường và có cả Bích Hằng đỡ anh nằm xuống giường, và chị Xuân Tường kéo chăn cao lên phủ kín ngực anh. Trọng nghe chị Xuân Tường và Bích Hằng bước xuống cầu thang. Tiếng khép cửa nhẹ. Mưa vẫn thả đều trên mái, âm vang khi trôi xa khi lại gần. Có tiếng guốc của ai kéo lê cuối phố trong mưa sủng ướt. Anh thấy hàng hàng lớp lớp cờ bay, và biểu ngữ, từ các khu Tham tướng, Cầu Xéo, Phan đình Phùng, An cư, Cái khế, Quang Trung, Tự đức, Lộ 19, Lộ 20… kéo về trung tâm thành phố Cần Thơ, trên đại lộ Hòa Bình, trước Quân Đoàn Bốn, Quân Khu Bốn, Quân Đội Việt nam Cộng Hòa. Cờ Mặt Trận Giải Phóng tung bay! Biểu ngữ tung bay! Anh thấy thấp thoáng trong đám đông người đồng nghiệp của anh, bác si Nguyễn Khoa Lai. Sao trông anh ấy khốn khổ thế. Anh liền chạy theo và cố gắng gọi thật to, báo cho anh ấy hay là người anh của anh ấy: Tướng Nguyễn Khoa Nam vừa tự vận… Tướng Nguyễn Khoa Nam vừa tự vận…. Chợt một cánh tay ôm chặt anh và lay mạnh: – Anh ơi! Anh mơ ngủ thế nào vậy? Cái niềng hàm của anh đâu, sao anh không mang vào? Anh nghiến răng nghe ghê quá. Anh gọi lớn tên Tướng Nguyễn Khoa Nam…Tướng Nguyễn Khoa Nam…Nghe kinh thật. May mà em bên nhà Diễm Khánh vô tình về kịp không thì nguy thật Trọng nhìn đồng hồ thấy đúng 4 giờ sáng. Ngòai trời nhiệt độ đang xuống, lạnh. Chị Xuân Tường đến tắt máy lạnh. Trọng đến bên cạnh cửa sổ nhìn ra trời Saigòn tồi đen như mực. Gió mưa vần vũ. Không một vì sao dám ló dạng… Trọng nghe vợ bảo: – Thôi rán ngủ lại đi anh. Vợ chồng mình về thăm quê hương, gặp ngày mưa bảo. Buồn phải không anh? Thôi ngủ đi anh. Em cũng buồn ngủ lắm rồi… Trọng ôm vợ sát vào lòng, kéo chăn cao lên cho ấm. Chưa bao giờ anh chị thấy cần có nhau như bây giờ… Đào Như
Bài bút ký trên là một đoạn trích từ tâp hồi ký
THIÊN LÝ VÀ VÔ TẬN (Hồi Ký Hậu Chiến của một Bác sĩ Phẫu thuật,)
Đào Như là bút hiệu của Bác sĩ Đào Trọng Thể, tác giả đã nhận giải “Tác Phẩm Xuất Sắc Nhất” Viết Về Nước Mỹ 2005, với các bài “Tự Khúc”, “Dấu Chân Người Lính.” Trước 1975, ông là một y sĩ tiền tuyến chuyên về phẫu thuật. Định cư tại vùng Chicago, Hoa Kỳ, ông là chuyên gia bệnh tâm thần, và đã thành lập một câu lạc bộ đặc biệt để trợ giúp nhiều đồng hương và cựu chiến sĩ VNCH, cựu tù nhân cộng sản. Bài sau đây là những đoạn ký ức về Tháng Tư 1975, được kể lại trong một sinh hoạt của “nhóm điều trị” tại Oak park, Illinois,USA năm 1966.
***
Với giọng nói đều đều, độ phát âm vừa phải, anh trông có vẻ mệt mỏi vì mất ngủ, anh tự giới thiệu mình và nói về quá trình anh đi trình diện vào ngày 30 tháng Tư /75: – Tôi là lính Địa phương quân, đóng ở Bến tre trước 75. Tôi bị đưa đi tù cải tạo tận ngòai Bắc: Hoàng liên sơn rồi Lào kai. Đầu năm 80 họ chuyển chúng tôi về Nghệ tỉnh, Lý Bá Sơ. Cuối năm 80 tôi được lệnh tha thuôc diện sức khỏe. Đi tù cải tạo ở ngòai Bắc, nghề chính của tôi là xẻ gỗ. Tôi bị tai nạn cây đè, gẫy kín xương đùi trái… Anh đưa tay phải cao lên và chòang vai người bạn ngồi bên cạnh, anh bảo: – Cũng là nhờ đi tù cải tạo tận ngòai Bắc mà tôi được biết anh Phùng này đây! Chúng tôi ở cùng chung một trại từ Hoàng liên sơn… Nói đến đây, anh và anh Phùng, hai người ôm nhau cùng cười. Anh Phùng cảm động, cố nuốt nước bọt, giọng anh ngậm ngùi: – Nguyên tôi là Đại úy, Lực Lượng Đặc Biệt, đóng ở Vùng Ba Biên Giới. Tiếp liệu và liên lạc với bên ngoài hoàn toàn bằng trực thăng. Việt Cộng dùng đặc công đánh úp đồn. Tôi bị bắt. Gia đình được khai báo là tôi bị mất tích, xem như đã chết! Vợ tôi lãnh tiền tử! Khi bị bắt, tôi thuộc diện tù binh, nhưng đến 75 cộng sản chuyển tôi sang chế độ học tập cải tạo! Năm 76 họ chuyển tôi ra tận ngoài Bắc, nên mới được ở chung với ông Thiếu tá Lý Thiên Nhân này đây. Khi cấp cứu anh Nhân bị gẫy kín xương đùi tại Lào kai, có tôi! Chính ở Lào-kai tôi và anh Nhân hái được trái “mắt cọp”, trái cây quí của người Bắc! Xin lỗi anh em tên nó không thơm lắm, nhưng khi ăn không đến nỗi nào! Câu chuyện trái “mắt cọp” vì cái tên vô duyên của nó làm cho anh em tòan nhóm điều trị cười một trận! Sau đó Thiếu tá Nhân tiếp nối câu chuyện về anh: – Sự thật thì cho tới năm 75 tôi vẫn còn là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 52 Địa phương quân, tỉnh Bến tre! Bộ chỉ huy của Tiểu đoàn đóng ở rừng Rạch Rợp, dựa lưng vào sông Ba-lai. Địa bàn hoạt động của Tiểu đòan là 16 xã thuộc quận Ba Tri. Sau khi Tướng Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết vào đêm 30/4/75, cũng như các sĩ quan của các đơn vị quân đội “Vùng 4”, chúng tôi buông súng và đi trình diện tại quận Ba Tri. Đến trình diện, thoạt tiên thấy Cộng sản họ cũng tử tế. Họ đội nón tai bèo có, nón cối có, đến ân cần nói chuyện với các sĩ quan trình diện. Tất cả đều nói một câu mà hình như có ai dạy cho họ và họ thuộc lòng sẵn trong bụng. Họ bảo anh em chúng tôi: “Các anh phải thật thà, thành khẩn mà khai báo, đừng có khai man tên họ, lý lịch và chức năng của mình! Cách mạng có cái nhìn thấu suốt tam đại, tứ đại của các anh”. Một anh chiến binh cộng sản coi còn trẻ, chừng 17, 18, đội mũ tai bèo, nói giọng Bắc, đến nhẹ nhàng hỏi tôi và ghi tên họ cùng chức năng Tiểu đoàn trưởng của tôi. Một ông sĩ quan của họ, đội nón cối và cũng người miệt ngoài đó, đến cúi xuống trên tờ kê khai lý lịch của tôi, đóng khung bằng mực đỏ chức năng Tiểu đoàn trưởng của tôi. Đoạn ông ta ngước ngược tròng con mắt lên nhìn tôi, cái nhìn sắc lạnh xuyên suốt cột sống tôi! Cái nhìn ghê rợn ấy có sức ám ảnh tôi! Mãi đến bây giờ đôi khi tôi vẫn nhìn thấy lại trong những cơn ác mộng! Nói thật với các anh em, lúc đó tôi thấy rồi, tôi thấy cái gì bất ổn cho riêng tôi… Làm xong mọi thủ tục, họ bảo: “các anh ai về nhà nấy, và chờ lệnh gọi tập trung sau”! Trên đường về nhà, tôi suy nghĩ thật mông lung. Tôi có cảm tưởng mình là con cá nằm trên thớt đang dảy dụa! Tôi gặp thượng sĩ Long đang chạy xe Honda. Ông là thượng sĩ già, kinh nghiệm, từng trải, trước sau như một, trung hậu với tôi. Tôi đem chuyện kể cho nó nghe. Nó có vẻ sợ cho tôi, nó bảo: – Hay ông thầy về trình diện ở thị xã Kiến hòa cũng không muộn. Ở đó có người có ta, chớ ở quận Ba Tri này, chỉ có ông thầy là lớn! Ngại lắm! Tôi còn mãi cân nhắc, thượng sĩ Long vụt nói: – Giờ này không còn ai dám chạy xe lôi xe lam rước khách cả! Được! Tôi chở ông thầy đi Kiến hòa bằng xe Honda của tôi! Chỉ vỏn vẹn có 5 phút, ông ta ghé nhà cho vợ hay. Ông ta bảo tôi ngồi sau lưngù, ôm lưng thật chặt rồi chở tôi một mạch về Kiến hòa! Trên đường vào thị xã Kiến hòa tôi gặp Trung tá Bành Tấn Bửu mới hôm qua ông còn là Tham mưu trưởng Tiểu khu Kiến Hòa, bây giờ ông mặc đồ thường phục, dân sự, mang dép Nhật, đang đi lẹt xẹt trên vỉa hè đường phố! Tôi liền đến trình bày với ông ta về sự thể của tôi tại Ba Tri. Ông ta hơi ngại cho tôi. Ông ta bảo: – Ở quận Ba Tri không ai mà không biết anh! Thì cũng đành vậy thôi! Lúc ấy trông mặt ông ta có vẻ căng ra. Mồ hôi rịn trên trán ông thấy rõ! Ông Bảo vụt hỏi tôi: – Quê anh ở Sa-đéc” Còn sớm chán, về ngay quê quán mình mà trình diện cho có bà con và cũng có vẻ thật thà hơn, chớ ở Bến Tre này anh cũng biết ngại lắm, chính tôi cũng không biết thân phận của tôi ngày mai ra sao! Ông Thượng sĩ già của tôi cũng chụp nói vào: – Đúng rồi đó ông thầy! Tôi đưa ông Thầy xuống phà, xong tôi bốc ông thầy lên Ngã ba Trung Lương để ông thầy đón xe đò về bến phà Mỹ thuận rồi thẳng về Sa-dec nội trong ngày, trước hai hay ba giờ chiều nay! Tôi bắt tay Trung Tá Bành Tấn Bửu. Chúng tôi chưa hề bắt tay nhau ngỡ ngàng như vậy, không phải là lời chào vĩnh biệt, cũng không phải lời hẹn tái ngộ! Có gì bẻ bàng cho thân phận chúng tôi! Ngã ba Trung Lương, một ngã ba sầm uất, nhộn nhịp của các tỉnh phía Nam Saigòn! Nó nằm bên này sông Tiền trên trục giao thông của các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu long. Nó nối liền đường về các tỉnh miền Tây, đường đi Mỹ tho,Vĩnh long, bến phà Mỹ thuận, về Sa-đéc và Đồng tháp v.v…Cách nó không xa là căn cứ Đồng tâm, Trung tâm Hậu cần Quân khu 4; và cũng cách nó không xa là Bộ Tham Mưu của Sư đòan 7. Hôm nay, tại ngã ba Trung lương, người qua kẻ lại có vẻ bối rối khác thường. Ai cũng có bộ mặt thảng thốt, ngỡ ngàng! Những anh em binh sĩ quân đội Việt nam Cộng Hòa mới hôm qua, hôm nay mặc đồ dân sự, mang dép Nhật, đứng nhìn sửng sờ các chú lính giải phóng, đội nón tai bèo, lái xe jeep chạy tứ tung, vô kỷ luật. Họ không biết lái, họ húc phải người, tung cả quán hàng. Có xe bị lật bên đường! Có xe hết xăng bỏ ngay giữa con lộ! Nhìn lại, đó là những chiếc xe nhà binh mà các bộ đội giải phóng lấy tại căn cứ Đồng tâm và Bộ Tham Mưu Sư đòan 7. Có người lính giải phóng đội nón tai bèo, đứng trên xe jeep la lớn bằng giọng Bắc kỳ: “Đó là qui luật của chiến tranh”, và anh ta chỉa súng AK lên trời bắn đùng đùng! Tôi thấy buồn lắm! Buồn lắm các anh em! Mới hôm qua cả Quân Đòan 4 đều nắm vững tay súng, chủ động trên khắp chiến trường, làm chủ trong mọi tình thế. Đêm qua Tướng Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết tại Cần thơ, cả Quân Đòan 4 sụp đổ! Cộng sản chiếm cả Vùng 4 không tốn một viên đạn. Tôi cảm thấy mất mát quá nhiều. Tôi vô cùng xấu hổ khi thấy mình cải trang trong bộ đồ dân sự, chân mang dép. Tôi thấy thương mình vô hạn! Tôi còn trẻ! Tôi mới 32 tuổi, Tiểu đoàn trưởng! Cuộc đời binh nghiệp của tôi chấm dứt sớm và thê thảm như vậy sao! Tôi nghĩ đến Tú, vợ tôi. Tôi yêu Tú vô hạn! Tôi nhớ các con tôi. Có lẽ giờ này tất cả mẹ con đang ngóng mong tôi tại Sa đéc. Cầm lòng không được, nứơc mắt dâng tràn! Anh Nhân nói đến đây mặt mũi đỏ hoe và giọng anh nghe như khàn đi, thấy vậy anh Quang tiếp lời anh. Trung tá Lâm Quang nguyên là một trong những sĩ quan tham mưu của Tướng Nguyễn Khoa Nam. Anh là sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị. Trung tá Lâm Quang nói:
– Tình hình chiến sự thuộc lãnh thổ quân khu 4 vào những ngày cuối tháng Tư 75 nói chung và thành phố Cần thơ nơi đặt bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân đòan 4, Quân khu 4, Vùng 4, nói riêng, tương đối yên tỉnh so với tình hình các tỉnh miền Đông thuộc Quân khu 3, và Biệt Khu Thủ Đô, bản doanh của chính phủ trung ương Sàigòn. Nhất là sau vụ Tướng Nguyễn Khoa Nam đích thân chỉ huy các đơn vị thống thuộc đánh bại và vô hiệu hóa hòan tòan hỏa lực của Trung Đòan Chủ Lực Miền “Hậu giang” của Cộng sản, khi Trung đòan này xâm nhập và tiến sát vào vòng đai phòng thủ của phi trường Trà nóc (Cần thơ). Sáng ngày 29/4/75 Bộ Tư Lệnh Quân Đòan 4 có triệu tập một cuộc họp quan trọng để duyệt xét lại tình hình và đề ra phương án phản công mới dưới quyền chủ tọa của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân Đòan 4, Quân khu 4. Thành phần tham dự cuộc họp gồm có: Tư Lệnh, Tư Lệnh phó, Tham mưu trưởng, các Tham mưu phó và các sĩ quan trưởng phòng trong bộ tham mưu của Quân đòan 4, ngọai trừ hai sĩ quan cao cấp của Quân đoàn, một cấp Chuẩn Tướng, Tham Mưu trưởng, và một cấp Đại tá, Trưởng phòng 2/QĐ, đã tẩu thoát ra nước ngòai là không tham dự phiên họp này. Cuộc họp tuy ngắn nhưng trang nghiêm và hết sức quan trọng. Các đơn vị trong Quân đòan 4 thề: ” kiên quyết và đòan kết sau lưng vị tư lệnh và chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, tử thủ Vùng 4″. Sáng ngày 30/4/75 vào lúc 10:25, Tổng Thống Dương Văn Minh lên đài phát thanh Sàigòn kêu gọi toàn thể quân đội và các tướng lãnh chỉ huy Sư đòan, Quân đòan trên toàn vùng lãnh thổ miền Nam, phải buông vũ khí, ngưng chiến đấu và chờ bàn giao cho Chính quyền Cách mạng!… Thế là một quân đòan hùng mạnh như Quân Đòan 4, tới giờ phút này vẫn nắm vững tay súng, chủ động trên mọi tư thế chiến đấu và phản công, đang giữ vững miền châu thổ sông Cưủ long sắp phải tan rã! Tướng Nguyễn Khoa Nam, một quân nhân chuyên nghiệp, ông phải tuân thủ mệnh lệnh thượng cấp, nhất là vị thượng cấp này là Tổng Thống Dưong Văn Minh, Tổng Tư Lệnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa vị Chỉ huy trực tiếp của Ông! Một số sĩ quan phục vụ trong bộ tham mưu của Quân Đòan 4, kể cả tôi, quá chán nản rời bỏ đơn vị, về sum họp với gia đình chờ ngày vào tù. Một số khác thì tìm đường tẩu thoát ra nước ngoài vì họ sợ Cộng sản trả thù! Trong bối cảnh này, chỉ còn lại một mình Thiếu Tướng Nam, Tư lệnh, Thiếu Tướng Lê văn Hưng, Tư lệnh phó, và một số sĩ quan thân cận ở lại doanh trại Bộ Tư Lệnh của Quân đoàn. Tướng Nguyễn Khoa Nam, một Tướng lãnh ưu tú, sống độc thân, ăn trường chay, thanh bạch, suốt đời ông cống hiến cho binh nghiệp, tận tụy với quân đội. Chiều ngày 30/4/75 Cộng sản đưa người của họ vào là Tám Thạch, mang quân hàm Thiếu tá Trung đòan trưởng, qua trung gian của Nguyễn Khoa Lai, em thúc bá của Tướng Nam, thiếu tá bác sĩ Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, và Đại úy bác sĩ Đòan Văn Tựu, y sĩ Trưởng Tiểu đòan 40 Chiến tranh chính trị, hiện trú đóng tại Bình Thủy, Cần thơ, vào tiếp xúc với tướng Nam tại Bộ Tư Lệnh Quân Đòan 4, đồn trú trên đại lộ Hòa Bình thành phố Cần thơ. Nội dung cuộc tiếp xúc này, cấp nhỏ như chúng tôi không ai được biết, ngọai trừ Tướng Hưng, Tư lệnh phó, được Tướng Tư lệnh bàn bạc và thông báo riêng. Thiếu Tướng Hưng, trở về tư dinh và tự sát sau đó! Sau khi suy nghĩ và cân nhắc mọi hậu quả có thể xảy đến cho đồng bào và chiến sĩ trong lãnh thổ, Tướng Hưng và Tướng Nguyễn Khoa Nam, tuần tự đi đến quyết định tuẫn tiết! Sự tuẫn tiết của 2 vị Tướng lãnh, Tư lệnh và Tư lệnh phó của chúng ta, Tướng Nguyễn Khoa Nam và Tướng Lê Văn Hưng, là những quyết định kiên cường và dũng cảm, mãi mãi được tuyên dương và ghi công, đời đời được lịch sử soi sáng! Những điều tường thuật của Trung tá Lâm Quang tuy sơ lược lịch sử nhưng rất súc tích, gây nhiều cảm kích anh em. Không ngờ sau gần hai mươi năm mà ấn tượng của các anh em về Tướng Nguyễn Khoa Nam vẫn còn sâu sắc, không một phai mờ! Nhớ lại Tướng Nguyễn Khoa Nam, anh em nhớ lại một thời vinh dự được cầm súng bảo vệ tổ quốc! Có một vài anh em cúi mái đầu bạc, hai tay bưng mặt khóc rưng rưng! Có một thời anh em là lính, là sĩ quan tham mưu của Tướng Nguyễn Khoa Nam. Không muốn để tâm tình xúc động của các anh em kéo dài, Trung tá Lâm Quang yêu cầu anh Nhân tiếp tục con đường từ ngã ba Trung lương về Sađéc. Anh Nhân bậm môi, cố gắng lấy hết can đảm mới đủ bình tỉnh tiếp nối câu chuyện của mình: – Như các anh biết, lúc đó xe chạy rất ít. Tôi có ý sợ không có xe về sớm để kịp giờ trình diện! May quá lúc đó một chiếc xe nhà binh GMC cũng đang chạy trờ tới. Trên xe có mấy anh em bộ đội giải phóng đội nón cối, cũng có những người đàn ông đàn bà mặc đồ dân sự. Tôi liền đưa tay đón chiếc xe lại. Khi đến gần, họ ngừng xe lại, tôi thấy người tài xế lại là chú lính Việt Nam Cộng hòa! Tôi mạnh dạn hỏi lớn: – Cho quá giang về phà Mỹ Thuận có được không” Một anh bộ đội giải phóng, nói giọng Bắc la lớn: – Nào! Lên đi nào! Khẩn trương lên! Trưa cả rồi! Một cánh tay đưa xuống kéo tay tôi lên. Khi bàn tay tôi chạm phải bàn tay anh, tôi thấy tay áo anh làm bằng vải kaki xanh Nam định! Tim tôi se lại! Dưới màu kaki xanh Nam định này, tôi đã nhiều lần nhìn thấy trên chiến trường những xác chết trẻ trung dưới hai mươi tuổi, trên ngực họ, trên tay họ hay trên lưng họ xâm hàng chữ “Sanh Bắc, Tử Nam”! Xe chạy…và chạy xa ngã ba Trung lương. Mọi người ngồi trong xe đều im lặng. Hình như mỗi người đang theo đuổi những ý nghĩ riêng tư của mình! Ai cũng có vẻ ngỡ ngàng khi chạm phải mắt nhau! Xe chạy qua những thôn xóm quen thuộc tôi đã từng qua lại nhiều lần từ thuở thiếu thời, cắp sách đến trường gặp thầy, gặp bạn. Hôm nay nay trông quạnh vắng lạ thường! Trường học đóng cửa không một bóng dáng học trò, chợ búa tiêu điều không ai nhóm, nền gạch trơ, phất phơ mấy miếng lá chuối khô bay! Có lúc trên xe im phăng phắc. Hình như ai cũng đang chờ đợi cái gì! Sau những năm chiến đấu ồn ào với súng đạn, bây giờ tôi mới hiểu im lặng là cái đáng sợ! Nhất là cái im lặng sau cuôc chiến, cái im lặng chứa đầy tử khí, ngạo nghễ và phản kháng! Các anh Bộ đội miền Bắc, có lúc cố gắng pha trò để đỡ buồn đỡ căng thẳng. Có anh nhái lại giọng Nam-bộ, hỏi người trên xe: “Mần sao” Bà con làm một chuyến du lịch từ Rạch Miễu đến phà Mỹ thuận trên chuyến xe đò Cách mạng kỳ này chắc giui lắm hả”! Câu pha trò của anh rơi vào khỏang không! Tôi gượng gạo, nhìn bâng quơ ra ngòai. Làng mạc ruộng vườn bao la một màu xanh rờn vắng bóng người nông phu, chỉ có những cánh cò bay lặng lẽ! Chợt anh tài xế la lớn; – Đến bến phà rồi bà con ơi! Tôi vội vàng cám ơn mọi người và nhảy xuống xe trước nhất. Một cánh tay cầm khẩu AK của anh bộ đội giăng ra chận tôi lại. Tôi hốt hoảng không biết xử trí như thế nào; nhưng với phản xạ tự nhiên của người lính, bàn tay phải của tôi đã sẳn trong túi quần, lúc ấy ngón tay cái của tôi đã nằm sẳn trên khóa an toàn, và ngón tay trỏ của tôi lúc đó cũng đã sẳn sàng nằm trên cò của khẩu Colt 12 mà tôi lận rất kỹ trong người và nó sẳn sàng nổ! Anh chàng bộ đội, nhấm nghiền đôi mắt lại, ngước cổ cao lên và la lớn: – Ối Giời! Chúng tôi đèo anh từ ngã ba Trung Lương, đến tận đây thì anh phải trả tiền chứ, sao lại cám ơn không được! Nói thật, lúc đó tôi mới lấy lại bình tĩnh. Tôi từ từ rút bàn tay phải ra khỏi túi quần có dính theo tờ giấy bạc 500 đồng đưa cho anh bộ đội và nói cám ơn anh ấy! Trên đường tôi ngồi tiếp xe lôi về nhà, tôi nhớ lại câu nói của anh bộ đội:”Tôi đèo anh”, tôi cười một mình. Mãi sau này đi tù cải tạo tại miền Bắc tôi mới hiểu được nghĩa của chữ “đèo”! Chiến thắng Miền Nam, đối với các anh nhanh quá! Các anh ngỡ ngàng như còn trong mơ. Các anh chở chúng tôi trên chiếc xe hơi nhà binh GMC mà các cứ tưởng là các anh đang đèo chúng tôi trên chiếc trên chiếc xe đạp thồ trên con đường quê nào đó tại Miền-Bắc-Xã- Hội-Chủ-Nghĩa! Về đến Sa đéc, trước khi đến nhà, đi ngang qua một công đất bỏ hoang, cây cối um tùm, có con lạch nhỏ, nước sâu đến gối và nhiều bùn, tôi dừng lại, suy nghĩ một hồi… Tôi bước xuống đứng dưới con lạch. Bỏ tay vào túi quần, tôi từ từ tháo gỡ cây súng. Tôi kiểm soát khóa an toàn, cho nó rơi xuống trong ống quần, rơi thật sâu xuống con lạch nước. Tôi nghe cây súng rơi xuống đến mắt cá chân tôi. Tôi dí bàn chân sâu vào trong bùn và rút lên từ từ. Cây súng, ngang mắt cá chân tôi rơi theo đúng vào lỗ bùn sâu. Bước lên khỏi con lạch, mang lại đôi dép, tôi đi hướng về nhà không ngoảnh mặt lại. Có một chút gì chua xót trong tôi. Hình như tôi vừa từ giã ai” Một người bạn” Một chiến hữu” Một thoáng buâng khuâng mơ hồ, tôi vừa bước qua ngưỡng cửa cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp../. Đào Như Bác sĩ Đào Trong Thể
Đào Như là bút hiệu của Bác sĩ Đào Trọng Thể, tác giả đã nhận giải “Tác Phẩm Xuất Sắc Nhất” Viết Về Nước Mỹ 2005, với các bài “Tự Khúc”, “Dấu Chân Người Lính.” Trước 1975, ông là một y sĩ tiền tuyến chuyên về phẫu thuật. Định cư tại vùng Chicago, Hoa Kỳ, ông là chuyên gia bệnh tâm thần, và đã thành lập một câu lạc bộ đặc biệt để trợ giúp nhiều đồng hương và cựu chiến sĩ VNCH, cựu tù nhân cộng sản. Sau đây là bài thứ hai trong loạt bài góp cho giải thưởng nhân dịp kỷ niệm 35 năm Tháng Tư 1975. * * * Xin ai đó khi đọc tựa đề đừng vội nghĩ ngay rằng tôi đang viết về” Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975″ của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.Không, đây là câu chuyện hoàn toàn khác hẳn và xảy ra tại Mỹ vào những tháng đầu năm 1997 đến năm 2000.
– Ông ấy và tôi đến Mỹ lâu rồi, thưa bác sĩ, từ năm 1984. Bà vừa nói, vừa dùng ngón tay trỏ chỉ về phía người chồng. Bà ốm, cao người, tuy già lớn nhưng còn vẻ thanh tú. Bà nói giọng Quảng nam. Lúc đó, 1997, theo đúng ngày sanh tháng đẻ của bà trên thẻ-thường-trú, bà cắn đúng 65 tuổi! Ngồi bên cạnh bà, người chồng im lặng, nhỏ con, ốm và thắp hơn bà nhiều, đứng tới mép tai bà là cùng! Ông ta có đôi mắt ti hí quầng thâm đen, mặt toàn xương, có nhiều vết hằn trên trán, chứng tỏ trong quá khứ ông cũng có những đêm thao thức không ngủ được! – Thưa bác sĩ, bà ấy với tôi đến Mỹ, năm 1984, đúng vậy! Nói đến đó ông ta nín thinh, hình như ông ta bị cụt hứng vì cái nhìn của bà vợ. Thấy vậy Trọng đỡ lời cho ông: – Ông bà đến Mỹ theo diện nào” Có phải diện H.O. không” – Mần ren mà diện H.O. được! Diện H.O đâu có đến Mỹ sớm dữ vậy! Với lại ông ấy đâu phải là sỹ quan… Bà thở ra nhẹ, bà nói tiếp: – Ông ấy thượng sĩ già! Chúng tôi đến Mỹ theo diện con lai! – Khổ lắm Bác sĩ, ông thều thào. Tôi là lính của Sư Đòan 2, từ thuở chí tư, cày từ lính, được gắn lon thượng sĩ giữa 73, đến năm 75, mấy ổng vào, rụi om, mất hết! Ông ôm đầu than vãn nhức đầu, mất ngủ, chán chường, đêm ngủ thấy toàn ác mộng! Và cuộc đối thọai sau đó hơn 2 tiếng đồng hồ, giữa hai ông bà và Trọng. Sau lần gặp gỡ này, Trọng được biết tên ông là Trần Thống, lúc đó ông 70 tuổi. Hai vợ chồng đều ăn tiền bịnh, và có thẻ khám bịnh số 93, dành cho người bị bịnh, bất lực lao động. Ông là lính của Sư Đoàn 2, ông lập đi, lập lại nhiều lần “tôi là lính của Sư Đòan 2, tôi ăn chịu với Sư Đòan 2, tôi trung thành với cây súng và màu đất đỏ”! Trọng ngạc nhiên, hầu như không hiểu được cách lý luận của ông ta. Theo ông thuật lại, giũa tháng 3 năm 75, Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân Đòan 2, sau khi nhận được lệnh hãy rút lực lượng theo kế hoạch ít thiệt hại nhất cho Quân Đòan, bảo vệ sinh mạng của chiến sĩ và gia đình họ. Tướng Phú sử dụng Liên Tỉnh Lô 7, nối liền Kontum, Pleiku, Phú bổn, Phú yên để rút lực lượng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa từ cao nguyên về các tỉnh duyên hải Miền Trung. Cũng như các chiến sĩ khác, ông cũng đùm túm vợ và 5 năm con theo Sư Đoàn rút về vùng duyên-hải. Trong cuộc triệt thoái này, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa gánh chịu những sự thiệt hại vô cùng to lớn, cũng như gia đình ông gánh chịu những mất mát đau thương: ông thất lạc đứa con trai 15 tuổi mà ông nghĩ “nó bị vùi dập nơi mô rồi”! Ông miêu tả cái chết của vợ ông: “Bà chết chổng mông ngay dưới chân tôi, nơi cái vực sâu 2 thước! Biết làm sao bây giờ, tôi đành chôn bà ngay tại chỗ đó. Tội nghiệp bà, thế chồng con một mình bà chết thê thảm quá! Tôi dựng một tấm bảng bằng tôn đề tên họ, để sau này mình có dịp may ra trở lại bốc mộ! Mà lâu bấy chừ có dịp mô đâu”. Ông mô tả “Cộng quân vô cùng tàn bạo. Lúc ấy Liên Tỉnh Lộ 7, một hỏa ngục kéo dài từ Cao nguyên đến các tỉnh duyên hải ..”! Về tới Tuy Hòa, sau hơn 20 năm lính, vốn liếng ông còn lại: 4 đứa con, cái quần xà lỏn, cái áo thun, và một tương lai đói thấy rõ! Cũng như các chiến sĩ khác, lúc đó ông cũng đi đến kết luận: “cuộc đời binh nghiệp của tôi chấm dứt từ đây”! Nghe oai và buồn! Thật bi hùng!
Còn Bà! Quá khứ của Bà đúng là mẫu mực: “Người Đẹp Thời Loạn- Hồng nhan đa truân”! Mà Bà đa truân thật. Bà trải qua nhiều cuộc tình, cũng như bà có nhiều đời chồng. Bà thường hay tiếc rẻ: – Hồi đó tôi dỡ thật! Tôi có biết thuốc ngừa thai gì đâu! Thành thử với ông nào tôi cũng có con! Chỉ với ông này là tôi không có, khi tôi gặp ông, ông đã già rồi! Tôi lấy ông ấy như đũa có đôi! Bà nói như bà đã chủ động trong mọi lần bà sống chung với mỗi người đàn ông! Bà sanh tại Hội an, lấy chồng về Huế. Ở Huế, ngòai Hòang tộc, Tôn thất, còn có nhiều vọng tộc khác như: Nguyển Khoa, Nguyễn Hữu, Trần Thanh…Hình như người chồng Thừa Thiên của bà là một thư sinh xuất thân từ vọng tộc Huế! Bà có hai con. Bà đẹp và sang. Chồng bà là sĩ quan Trung úy! Cấp bậc Trung úy của ông chồng Bà, theo Bà kể là Trung úy bất đắc dĩ, chứ ông ấy tốt nghiệp Đại học Sư phạm hệ 3 năm. Biến cố Mậu Thân, 1968, tai ương cho Huế và cũng là tai ương giáng xuống gia đình Bà! Chồng Bà bị Cộng sản giết chết và vùi thây trong mồ chôn tập thể! Nhà Bà bị máy bay Mỹ bắn rockets cháy, sụp đổ nát tan, trong cái quyết tâm của họ dành lại thành phố Huế trong tay Cộng sản! May mà hai đứa con Bà và Bà còn sống sót. Cơ cực quá rồi! Thôi thì đành phải “thoái thì về mẹ vậy “! Bà thu xếp, đầu 69, Bà dẫn 2 con về Hội an ở với cha mẹ. Lúc đó cha mẹ Bà cũng đã già, ảnh hưởng chiến tranh gia tài gần như khánh kiệt. Sở dĩ ông cụ bà cụ còn đựơc giây phút nhàn nhã, là nhờ mấy thằng con trai có hiếu, đi lính đi tráng cũng dành dụm gửi tiền về bù đấp cho ông bà! Những năm 67, 68, 69, chánh phủ Mỹ đổ quân ào ạt vào Việt Nam. Số lượng quân viễn chinh Mỹ tại miền Nam Việt Nam lên đến con số kỷ lục hơn nửa triệu người! Cách Hội an về phía Nam, không đầy 90 cây số, căn cứ Chu lai của Mỹ được nới rộng. Làm ăn với lính Mỹ có màu thăng hoa nhanh, giàu có và đỡ mệt nhọc! Bà nói: – Tôi gửi các cháu cho ông bà ngoại chăm sóc cho đi học. Tội nghiệp các cháu giống cha, chăm chỉ học hành, sau này thành thân hết! Tôi lặn lội vào Chu Lai. Đâu có ham vui gì nữa, lúc đó tôi đã hơn nửa đời người! Tôi chỉ cần tiền nuôi các cháu và giúp đỡ cha mẹ. Tội nghiệp hai thằng em tôi, đi lính, đi tráng, lằn tên mủi đạn, khổ sở mà phải dành dụm gửi tiền về nuôi cha mẹ. Thấy vậy tôi không đành. Tôi là chị cả cũng là con gái một…Cuộc sống đưa đẩy tôi đến ngày tôi gặp Bob, 1970, tại một Night Box trong căn cứ Chu lai. Ông ta không phải quân đội, ông ta mặc đồ dân sự. Ông có xe, có tài xế riêng và hình như cũng có bác sĩ riêng nữa! Thật sự tôi không biết ông ta làm gì” Ông ta lúc nào cũng có gương mặt đâm chiêu, suy nghĩ. Có lẽ ông nghĩ về gia đình ông ta tại Mỹ, vợ ông, con ông và cha mẹ ông. Cũng như ông, tôi nghĩ về các con tôi, về Vinh, người chồng xấu số của tôi bị giết chết trong tết Mậu Thân, về cha mẹ tôi… Vì những điểm giống nhau đó, lúc đầu tôi chỉ cần tiền, nhưng sau hiểu nhau, chúng tôi đầu ấp tay gối với nhau thật sự. Ông ta cho tôi tiền nhiều lắm! Có tháng ông cho hơn cả 5, 6 trăm dollars. Ông thường nói đùa, ông cho tôi tiền còn nhiều hơn ông Tướng Kỳ cho bà Mai mỗi tháng! Thế là cuộc sống cứ vô tình đưa đẩy đến lúc mình trở thành…nói đến đây, mắt Bà hấp háy vài cái… ” Mít Saigòn “(Vỡ kịch Ms. Saigon) lúc nào mình cũng không hay! Cuộc tình lớn của bà và Bob được kết thúc bằng hòa ước Paris, ký kết giữa Lê Đức Thọ và Kissinger vào 23 tháng Giêng, 1973! Sau khi rút về nước khoảng tháng 3/73, Bob để lại cho Bà đứa con trai 9 tháng! Vào tháng 5/1973 bà tự biết thời làm ăn với Mỹ đã hết! Một lần nữa bà quyết định Về Với Mẹ. Bà đem tất cả tiền bạc và tài sản dành dụm được và bế đứa con lai về Hội an. Bà gặp sự phản đối dữ dội của hai đứa con bà. Ông cụ bà cụ vẫn giữ thái độ yên lặng. Phần thì thương và hiểu các cháu ngoại, phần thì cũng xót cho con gái của mình! Mà đâu có phải tại cháu hay tại con, như cụ bà thường than vãn: – Tất cả đều trên trời rơi xuống! Như bom đạn chiến tranh! Như hỏa tiển, tai bay họa gửi! Thời gian là ông thầy thuốc tài ba nhất! Dần dần thời gian xoa dịu các vết thương tâm: Cứt trâu để lâu hóa bùn; chẳng những thế mà cây có ở chung quanh bãi cứt trâu hóa bùn đâm ra tươi tốt hơn! Bà đem tiền về Hội an, bà xây dựng cơ sở làm ăn. Bà lập một quán cà phê. Mặc dấu ở tuổi 41, 42 bà vẫn còn nhan sắc, nhất là một người đàn bà từng trải như Bà, quán cà phe của bà ăn nên làm ra! Gần miền, có anh chàng chưa có vợ, trẻ hơn bà đôi ba tuổi gì đó, trước 73 làm nghề thông dich cho Mỹ. Mỹ về nước, thất nghiệp, xin đến giúp Bà một tay! Bà nói: – Xin đến làm không lương đó Bác sĩ! Và một năm sau, trời ơi! Tôi đâu có ngờ ở tuổi 42 mà tôi còn có thể có thai với “hén”. Thôi thì cũng đành thương nhau đậu gạo nấu cơm mà nuôi con! Đến 75 “mấy ổng” vào, quán xá vẫn sinh hoạt bình thường. Mấy tuần lễ đầu tháng Năm, mấy ổng hạch sách tí đỉnh. Nhưng vấn đề là mình phải biết điều với họ! Cũng phải thôi! Mình là Ngụy mà có con lai nữa! Một cổ hai tròng! Nhiều anh cách mạng bảo nhỏ với tôi là đừng lo, đừng đóng cửa quán, có gì các anh ấy che chở cho! Nhiều anh tốt bụng quá! Nhưng có một điều là thằng con lai của tôi, thằng Lùi, nó lớn như một thực tế đáng sợ: da trắng, tóc vàng, mắt xanh, trông giống cha nó, thương đứt ruột! – Tại sao bà đặt tên con bà là Lùi ” Bà khiêm tốn quá vậy” – Bác sĩ dạy quá lời! Sự thật không phải khiêm tốn gì đâu! Tôi đặt tên cháu là Nguyễn Văn Lu-I để nhớ lại sự tích của cha nó tên là Bob. Khi sanh, nó đâu có giấy khai sanh, mải đến năm 76, sau khi Cách mạng vào, họ đòi hỏi khai sanh để lập hộ khẩu, mới đi làm khai sanh cho nó ở cái xã gần nhà. Ông cán bộ đội nón cối nhìn châm bẩm vào thằng con tôi, rồi ông ta nhìn vào giấy tờ tôi viết đàng hoàng: Nguyễn văn Lu-I, sanh tại Chu Lai ngày 12 /06/1972. Ông ta hất hàm hỏi tôi bằng giọng Bắc kỳ, ông nói đớt: – Tiếng Việt đâu có tiếng Nu-I! Ông ta tự ý sửa thành Lui, và cũng chính ông ta thêm cho nó cái dấu huyền cho nó hợp thời và dễ nghe hơn! – Bà không phản đối gì sao” – Thưa Bác sĩ, Lu-I, Nu-I, Lui, Lùi có khác gì đâu! Cái giống gì cũng được! Hơi đâu mà kỳ kèo với “nón cối”! – Sao lúc đó Bà không khai cháu Lu-I là con nuôi, bà lượm được, có ai hay biết gì đâu! – Đâu có đành như vậy, Bác sĩ… Bà lấy giọng, nói cao hơn: – Con của tôi! Tôi phải khai là con của tôi! Tôi mang nặng! Tôi đẻ đau! Trời cho nó cho tôi! Tôi phải đùm bộc nó chớ! Thưa Bác sĩ! Có chết tôi cũng chịu, đâu có lẽ nào mà mình chối bỏ giọt máu của mình! Thấy bà có vẻ giận, Trọng vội vàng xin lỗi bà. Bà liền đỡ lời: – Tôi biết Bác sĩ không cố ý nói như thế! Nhưng…thưa Bác sĩ, sống là phải nhìn thấy trước. Năm 1976 vào khỏang tháng 7, bầt ngờ tôi nhận được thư của anh Hoành, anh ruột của anh Vinh. Anh chị Hoành cho tôi biết anh chị đã trở về Huế, và anh chị đang tu bổ lại căn nhà của cha mẹ chồng tôi ở đường Lý Thường Kiệt. Anh chị không có con. Anh chị có ý gặp tôi và hai cháu Hoa và Thăng, con của tôi và anh Vinh. Theo tôi biết, anh Hòanh là cán bộ lớn từ Hà Nội về. Anh ấy là anh ruột của anh Vinh, tập kết ra Bắc 1954. Anh ấy có du học Liên Sô năm hay sáu năm gì đó. Anh đậu Tiến sĩ tại Liên Sô. Nhân cơ hội này tôi nghĩ đem hai cháu gửi cho Anh Chị nuôi, cho tụi nó dễ bề học hành và tiến thân sau này! Các con tôi ở với anh chị như ẩn thân dưới cây dù che cho cái cán! Cả 3 mẹ con tôi đùm túm nhau về thăm Huế! Gặp anh Chị, anh chị mừng! Anh Hoành ôm hai cháu Hoa và Thăng vào lòng! Anh không dám khóc mà mắt cứ rưng rưng. Anh không hề nhắc đến anh Vinh, cái chết của anh Vinh, cũng như cái chết hao mòn của cha mẹ. Anh ấy nói nghe mà chua xót: – Cái gì của quá khứ có thể đúng cũng có thể sai, nhưng nó thuộc về quá khứ. Ta nên coi nóvĩnh viễn thuộc về quá khứ. Chúng ta hãy lo xây đắp những cái gì trước mắt chúng ta để có một tương lai hòa hợp và tươi sáng hơn! Vợ chồng tôi thấy cần giúp đỡ thím để chăm nom hai cháu Hoa và Thăng. Xin thím cho hai cháu về ở hẳn với hai vợ chồng tôi. Bây giờ là đúng lúc nhất để tôi lo sắp xếp cho các cháu vào trừơng cấp hai và cấp 3 ở Huế, Trường Quốc Học cũ đó! Anh ấy vuốt tóc hai con tôi và nói tiếp: – Trường mà bác và ba của các con học chung với nhau từ thuở nhỏ. Thưa bác sĩ, nghe đến đây tôi bùi ngùi nhớ lại anh Vinh. Cuộc chiến tranh của đất nước ta quá lâu, xé toang gia đình ra từng mảnh. Bên này cũng như bên kia, ai cũng không dám nhìn thẳng vào quá khứ đau thương, chẳng khác nào soi mặt mình trong vũng máu của chính mình, của gia đình, của anh em, của đồng bào đất nước! Anh Hoành dẫn hai cháu Vinh và Thăng đi thăm từng phòng trong nhà và anh ấy nói với hai cháu: “Bác và hai cháu, đang trở lại ngôi nhà của tổ tiên, của ông nội, bà nội, của cha con… Nơi đây, bà nội đã hạ sinh Bác và Cha con. Và cũng là nơi, cách đây mười mấy năm, mẹ của các con đã hạ sinh các con. Các con hãy ở lại đây, dưới mái nhà này, với hai Bác”! Lời anh ấy như một khẳng định. Tôi nấn ná ở lại với anh chị và hai cháu thêm vài ngày. Tôi cũng băn khoăn khi thấy anh chị cũng không lấy gì sung túc! Chị ấy cũng con nhà quyền quý xưa của Hà nội, cho nên “đồng thanh tương ứng”, anh chị gặp nhau, yêu nhau. Anh chị kết hôn trong chiến tranh! Anh chị cũng có con trai lên tám, ở phố Khâm Thiên, Hà nội, đi sơ tán không kịp, bị máy bay B52 của Mỹ dội bom chết ngày Giáng sinh 1972! Vết thương nhức nhối đó anh chị chưa hề nói cho ai nghe, kể từ ngày trở về Huế. Trong lúc hai chị em tâm sự với nhau chị ấy mới nói: “đó là vết thương tâm lúc nào cũng xuất huyết! Nghĩ về cái chết của chú Vinh, cái chết của con chúng tôi, nhà tôi nhiều đêm không ngủ được”. Khi còn chừng một ngày nữa tôi phải về Hội an, tôi mới thưa với anh chị Hoành: “Anh chị nhận hai cháu Hoa và Thăng nuôi như con vĩnh viễn, em rất mừng! Nhưng gia đình anh chị thanh bạch, không lấy gì sung túc lắm, Em xin gửi anh chị 5 cây vàng để tiếp tay anh chị chăm sóc hai cháu về lâu về dài! Sau chuyến này, em nghĩ lâu lắm mới gặp lại hai con”. Và tôi khóc! Anh Hòanh bước đến ôm lấy vai tôi, anh ấy nói: ” Vâng 5 cây vàng là một vốn lớn đối với đồng lương của chúng tôi. Nhưng tôi nghĩ chế độ của hai vợ chồng tôi hằng tháng, đủ để cho vợ chồng tôi đùm bộc hai cháu, giữ lấy gia phong! Thím hãy đem 5 cây vàng này về Hội an mà đề phòng những bất trắc có thể xảy ra cho thím. Thím biết gia đình thím không hội đủ điều kiện ở lại thị xã Hội an làm ăn. Ngày mai tôi phải đi sớm vì có công tác đột xuất, hai cháu và vợ tôi, Viết Hương, đưa thím ra bến xe. Nếu sau này có bất trắc gì xảy đến, xin thím cho chúng tôi hay để kịp thời giúp đỡ thím.” Nói xong anh ấy đi vào phòng trong. Mười giờ sáng hôm sau Chị Viết Hương và hai con tôi đưa tôi ra bến xe đò về Hội an. Không biết nói gì trong lúc chia tay với hai con, tôi nhét vội trong túi áo thằng Hoa 5 cây vàng và bảo nó gìn giữ lấy để mà hộ thân cho nó cũng như cho em nó, coi như gia tài chia cho hai đứa nó. Tôi bảo: “Con hãy đem gửi cho bác gái, đừng cho bác trai con hay”. Tôi quay lại nhìn chị Viết Hương thì chị đang nhìn chỗ khác. Mãi đến lúc xe lăn bánh, chị mới quay lại nhìn mẹ con tôi. Hình ảnh của chị là niềm tin yêu sắt đá đối với tôi… Nói đến đây, bà đứng dậy, đến ôm vai chồng ngồi bên cạnh cửa sổ, môi bà nở nụ cười hòa lẫn với nước mắt! Nhắc lại chuyện xưa, bà xúc động! Từ lầu 7 nhìn xuống, đừơng phố Broadway đang ấp ủ nắng hoàng hôn và bóng mát của khu phố. Bác sĩ Trọng ôn tồn bảo: – Tuy có tuổi tác, nhưng lúc nào ông bà cũng san sẻ và gần gũi nhau. Điều đó làm cho tôi mừng! Ông Thông, chồng bà, sôi nổi nói: – Mụ ấy vẫn vậy, từ trước đến bấy chừ! Thương chồng, thương con! Không nhờ mụ, cha con tôi chết đói từ lâu rồi, và không làm sao mà đến được Mỹ! Lúc này Bà quay lại Bác sĩ Trọng: – Con chúng tôi lớn rồi bác sĩ. Tụi nó làm ăn tại North Carolina. Nghe cộng đồng Việt Nam ở Chicago đông, ông nhà tôi có nhiều bạn ở đây và lại nghe bác sĩ làm việc ở đây, cho nên hai vợ chồng tôi mới dời về đây cho ông ấy hôm sớm với bạn bè, và cũng để bác sĩ điều trị giùm cho hai vợ chồng! Bà than vãn: – Sao mà ai ai cũng buồn, đâu đâu cũng buồn! Nhức đầu không sao ngủ được! Ai cũng cô đơn, không gửi vào đâu được! Đêm nào ông nhà tôi ngủ cũng thấy chiến tranh, thấy thịt rơi máu đổ, thấy người giết người, thấy vợ ông chết thê thảm quá! Tội nghiệp ông ấy lúc nào cũng nhớ thương bà. Cuộc đời tôi còn nhiều gian truân lắm. Xin bác sĩ cái hẹn, lần tới để chúng tôi giải bày cặn kẻ hơn! Sau đó ông bà thường lui tới găp Trọng, để tư vấn tâm thần, nhất là ông Thống, để sinh hoạt với nhóm điều trị: “Câu Lạc Bộ 309.81”.
Thấm thóat, mới đó mà sự liên hệ giữa ông bà và Trọng gần đúng 3 năm! Một buổi sáng gần cuối tháng Tư, năm 2000, mùa xuân đang trên đường trở lại Chicago. Những mảng tuyết trắng xóa đang cố bám lấy nóc phố như những cố gắng cuối cùng của mùa Đông đang tàn lụi! Những người Da Đỏ trong những chiếc áo chòang dày cộm làm bằng da thú, mặt đỏ gừ, nồng men rượu, cúi đầu đi lang thang trong khắp phố Uptown, thuộc vùng phụ cận phía Bắc thành phố Chicago như những con gấu mộng du, ngái ngủ! Họ có vẻ lạc lỏng trên vùng đất quê hương mà chính tổ tiên họ đã dày công xây dựng qua mấy nghìn năm lịch sử!… Cô thư ký phòng ngoài, điện thọai vào cho hay có thân chủ muốn gặp. Trọng vừa đứng dậy để ra đón, thì bà Sương, vợ ông Thống đã đứng trước mặt. Bà Nói: – Xin lỗi bác sĩ, đến sớm, mà không có hẹn trước. – Thưa bà, không hề gì vì tôi cũng không có hẹn với ai trong giờ này! Xin bà cứ tự nhiên. Trọng vừa nói, vừa theo dõi những cử chỉ và những thay đổi trên nét mặt của bà. – Thưa bà, thành phố Chicago, trong mấy tuần lễ qua, bị chôn vùi dưới tuyết lạnh. Tuần này trời ấm lại. Xem chừng như mùa Xuân đang trên đường trở về. Ở Mỹ thời tiết và 4 mùa, thay đổi nhanh thật. – Thưa bác sĩ, trong mấy tuần qua, vợ chồng tôi có ý muôn đến gặp bác sĩ, nhưng thời tiết tệ hại quá. Thấy hôm nay trời ấm, tôi vội đến bác sĩ ngay, vì tôi có vài điều cần thưa với bác sĩ hay, là ông nhà tôi nhập viện cách đây năm hôm! Bác sĩ Karnov, tại bịnh viện cho hay là ông nhà tôi có khả năng bị ung thư gan, và ông đang cho làm những xét nghiệm cần thiết. Nói đến đó, bà khóc! – Thưa bà, bà cần tôi giúp đỡ cho ông ở nhà những gì” Xin bà cứ nói, tôi sẽ cố gắng tối đa trong khả năng của tôi! – Thưa bác sĩ ở tuổi ngòai 70, ông nhà tôi còn mắc bịnh ung thư thật oan nghiệt. Tội cho ông! – Thưa bà, ung thư là món nợ chúng ta phải trả ở tuổi già! Càng già tỉ lệ mắc bịnh ung thư càng cao! Tuy nhiên nếu quả ông mắc bịnh ung thư thật, thì hẳn nhiên đó là một điều chẳng lành cho bất cứ ai! Nhân loại ngày nay chết vì ung thư chiếm tỉ số cao nhất. Cho nên về phương diện trị liệu cho các bịnh ung thư, nó là điểm xoáy của các phương án điều trị. Do đó phương hướng điều trị ung thư tiến bộ hằng ngày. Có những bịnh ung thư, mới đây coi như không tài nào chữa đựơc thì ngày nay người ta ổn định nó dễ dàng! Tôi hy vọng bịnh viện sẽ tìm ra phương án, tiến bộ nhất, hiện đại nhất để chữa chạy cho ông. – Cám ơn bác sĩ! Bác sĩ Karnov cũng nói rồi! Ung thư gan không lâu lắm đâu! Bà khóc. Trọng, tìm cách chuyển hướng câu chuyện: – Tính tới hôm nay ông bà ở đời với nhau được bao nhiêu năm rồi” Bà Sương, đôi mắt xa vời, vừa nhìn ra cửa sổ, bà vừa nói: – Chúng tôi làm Tờ Sống Chung tại Vùng Kinh Tế Mới Đà Nẳng 2, năm 1982. Mẹ con tôi bị chính quyền Cộng sản chỉ định đi Vùng Kinh Tế Mới Đà Nẳng 2, năm 1981, sau khi họ hay biết người chồng sau cùng của tôi vượt biển bằng tàu, đụng đá ngầm, tàu đấm và chết tại ngoài khơi Mũi Din Phanrang! Thật là bi đát, bi đát hơn lúc Mậu Thân ở Huế! Mẹ goá con côi, tay bồng tay bế, bị áp đảo đi vùng KTMĐN2, vào mùa hè tháng tư 1981! Mùa hè ở đây nóng và khô cằn, thật nghiệt ngã! Vùng KTMĐN2 nằm phía Tây Đà nẳng, phía Tây Bắc Hội an. Vùng KTMĐN2 nằm sát chân núi Trường Sơn, gần đường mòn Hồ Chí Minh. Dân chúng được đưa về đây, để phá rừng trồng lúa và khoai mì. Nhà ở làm sẵn. Nhà tranh vách đất. Không có điện. Nước chỉ có con suối nhỏ. Chúng tôi san sẻ nước của con suối nhỏ này với trại tù lao cải của các sĩ quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, họ ở về phía tây chừng 2 cây số cách chúng tôi, sâu hút trong rừng Trường sơn! Sau này chúng tôi biết đó là trại Khe Hoa, còn gọi là B16. Đến ĐN2, vô tình Cộng sản sắp tôi ở cái chòi chung vách với ông Thống! Hộ khẩu của ông có 3 người làm ăn cực lực, sống kham khổ, khoai sắn không có đủ mà ăn, nước bùn không có đủ để mà uống! Ông Thống là người ít nói. Ông giúp đỡ mẹ con tôi nhiều hơn là nói! Ông cho hay, 5 cha con đến ĐN2 hồi năm 80. Sau 6 tháng đầu hết phụ cấp lương thực, đói quá, 2 thằng con trai lớn của ông bỏ trốn về Buôn Mê Thuộc! Đứa đạp xích lô, đứa sửa xe đạp đầu đường gốc phố mà sống! Làm ăn gần gũi nhau, thấy ông Thống là người chân chất tôi mới để bụng thương ông! Chúng tôi làm tờ sống chung cuối năm 82. Giữa năm 83 có tin cho hay là gia đình có con lai được đi Mỹ. Đó là bước đầu để khai thông quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Mỹ! Tội nghiệp ông Thống! Ông vô cùng mừng rỡ! Chúng tôi kết hợp con cái đi Mỹ. Thế là hai vợ chồng và 4 đứa con chúng tôi đến North Carolina giữa năm 1984. Như vậy, tính đến nay chúng tôi sống chung với nhau gần 18 năm! Ngồi nghe bà điểm lại quá khứ của bà sống với ông Thống, và nhớ lại cuộc đời của bà, những lúc bà sống với Vinh, với Bob, với người chồng cuối cùng của bà, Trọng thấy những điều u-uẩn bà mang nặng bấy lâu nay, khiến bà chuốc lấy triệu chứng trầm cảm nặng, khiến tâm linh bà mang nhiều sắc thái, lúc siêu thoát, lúc trần gian! Nhưng ở dưới đáy tận cùng của tâm linh bà, đó là tấm lòng chân chất và trung hậu. Tình yêu của bà với mỗi người đàn ông bà đã sống chung, bắt đầu mỗi người một khác, nhưng cuối cùng bà đã yêu thương tất cả những người chung chăn gối với bà với tất cả tấm lòng chân thật và trung hậu. Bà nhìn đồng hồ. Bà đứng dậy xin kiếu Bác sĩ Trọng ra về. Bà cám ơn thì giờ quí báu mà Trọng đã dành cho Bà. Trọng đáp lại lời cám ơn của bà, và tỏ lời: “Rất tiếc không giúp được gì cho ông ở nhà trong lúc này”! Tuy nhiên tôi muốn đến thăm ông tại bịnh viện”. Sau khi cho Trọng địa chỉ bịnh viện, số điện thoại, só phòng bà Sương lầm lũi ra về. Trọng đến thăm ông Thống vào lúc 3 giờ chiều. Ông nằm phẳng phiu trên giường bệnh. Con người của ông vốn đã gầy trơ xương, Trọng cứ nghĩ ông giờ này kiệt sức. Chợt thấy Trọng đến, ông liền đứng dậy bắt tay Trọng và ngỏ lời cám ơn Trọng đã bỏ thì giờ quí báu đến thăm ông. Trọng thật sự xúc động trước những lời lẽ chân thành của ông. Nhìn cái bụng cổ chướng và màu da đất sét của ông, Trọng biết ngay là ông không còn nhiều thì giờ nữa. Ngày tháng và thời khắc của ông đã bắt đầu điểm. Trọng đáp lễ với ông bằng cách nắm bàn tay của ông trong lòng hai bàn tay của Trọng! Ông vốn dĩ là người ít nói, hôm nay ông lại nói rất chậm, đắn đo suy nghĩ. Những điều ông sắp nói cho Trọng sau đây là những điều ông suy nghĩ trong nhiều năm tháng. Lần đầu tiên Trọng nghe ông gọi vợ bằng “bà nhà tôi”, thường thì ông chỉ gọi mụ ấy mặc dù lúc nào ông cũng hết sức kính trọng yêu thương bà. Ông Thống nói: – Thưa bác sĩ, tôi nghe bà nhà tôi nói mấy hôm rầy bác sĩ sẽ đến thăm tôi, vì thế tôi có ý đợi bác sĩ đến, để thưa bác sĩ vài điều. Nói đến đây ông ngừng một chập, thật lâu, vừa suy nghĩ vừa nhìn vào mắt Trọng, ông nói tiếp: – Bác sĩ Karnov cho tôi hay là tôi bị ung thư gan. Có lẽ không do thuốc độc khai hoang Dioxin, màu vàng cam của Mỹ. Ông đã kiểm nhận qua máu của tôi, không có yếu tố hóa chất nào chứng minh điều đó. Lặn lội trên khắp chiến trường trong suốt hơn 20 năm, giờ ôm bụng chịu chết vì ung thư gan! May mà không phải thuốc khai hoang, Dioxin, màu vàng cam của Mỹ, nếu rủi mà như vậy thì làm sao lịch sử có thể soi rọi bóng tối sâu thẩm nầy! Bác sĩ Karnov cũng ở trong Lục Quân của Mỹ, đã từng tham chiến tại Việt Nam, cho nên ông rất thông cảm với tôi! Tôi nài nỉ ông ấy nhiều lần cho tôi biết tôi còn sống được bao lâu nữa” Cuối cùng ông cũng ước đoán không quá 18 tháng. Ông cũng khuyên tôi nên thu dọn càng sớm càng tốt. Tôi cũng làm việc với tất cả các con của chúng tôi và bà nhà tôi. Tất cả đều đồng ý với quyết định của tôi là tôi sẽ về chết chôn tại Buôn-mê-thuộc! Ở quê nhà tôi còn hai thằng con trai lớn. Tất cả đều thành gia thất. Thằng cả đang ở tại nhà của tôi tại Buôn-mê-thuộc, nhà của tôi trước 75. Buôn-mê-thuộc là quê hương của tôi, tôi sanh ra tại đó, lớn lên tại đó! Cuộc đời của tôi chôn chặt dưới màu đất đỏ ấy. Cộng sản có thể chiếm đoạt quê hương tôi! Cộng sản có thể tước đoạt quyền bảo vệ tổ quốc của tôi! Nhưng Cộng sản không thể nào thủ tiêu được lòng yêu nước của tôi! Tôi hy vọng bác sĩ đồng ý với vợ con tôi, cho tôi trở về non sông đất nước- trả tôi lại cho tổ quốc! Nói đến đây ông dừng lại một hồi lâu, tuy thế Trọng cũng không dám cướp lời ông. Ông nói tiếp: – Thưa bác sĩ tôi còn một ý nguyện nữa: tôi phải về để bốc mộ vợ tôi. Bà nằm ở đó đã 25 năm rồi! Mưa gió tội nghiệp bà! Tôi sẽ đem bà về nằm gần nhà, ở Buôn-mê-thuộc. Sau này con tôi sẽ đặt tôi nằm bên cạnh bà. – Sao ông lại hỏi tôi như vậy” Trọng hỏi! Đó là quyết định to lớn quan hệ tới vợ con ông, gia đình và tổ quốc! Tuy nhiên tôi cám ơn ông đã cho tôi vinh dự vô cùng to lớn ấy là được tham dự chuyện nhà của ông! Còn chuyện chúng ta quay đầu về tổ quốc là sự lựa chọn vô cùng chính đáng! Ông Thống quay lại bảo vợ lấy cái phong bì đè dưới gối, trong đó có tờ di chúc ông viết cho vợ con ông. Bà Sương trong suốt hơn một tiếng đồng hồ ngồi yên nghe chồng bà nói chuyện với Trọng, bà liền đứng dậy đến lấy phong bì đưa cho Trọng. Vì xúc động mắt của Trọng nhoè cả chữ. Trọng đọc thóang qua và chỉ nhớ vài giòng cưối cùng ông viết cho các con riêng của ông: “Các con tiếp Ba phụng dưỡng mẹ Sương của các con. Tuy bà không phải là mẹ đẻ của hai con, nhưng điều chắc chắn là nếu không có bà, thì không có cha con ta được như hôm nay! Có thế, Ba mới yên lòng về với tổ quốc, với mẹ đẻ của các con, bà đang chờ đợi Ba”! Từ giả ông Thống, ra khỏi bịnh viện lúc 5 giờ chiều, trời Chicago còn lạnh, dừng lại, ngước cổ kéo áo chòang cao hơn, Trọng chợt thấy hàng chữ điện tử trên nóc ngân hàng chỉ đúng hôm nay ngày 30 tháng Tư! Tim anh se lại! Anh cuối xuống, mở cửa bước vào trong xe. Ngồi vào ôm tay lái. Bóng tối vừa phủ xuống thành phố Chicago. Trọng lái xe hướng về nhà nhưng anh có cảm tưởng anh đang đi về một nơi vô định!./. * Điều kiện đầu hàng được hai tướng Lee và Grant ký kết tại Appomattox ngày 9 tháng 4, 1865 thì 3 ngày sau, ngày 12 tháng 4 mới là ngày quân liên hiệp miền Nam chính thức buông súng đầu hàng. Hai đạo quân dàn đôi bên con đường chạy theo phiá Đông rừng Appomattox. Chỉ huy cánh quân miền Bắc và điều khiển buổi lễ là tướng Chamberlain, nguyên là một giáo sư đại học, Huy Chương Danh Dự, hai lần bị thương trên chiến trường.
Chỉ huy 28,000 sĩ quan và binh sĩ liên hiệp miền Nam là tướng Gordon, một trong những cận tướng can trường của Đại tướng Lee, 4 lần bị thương tại mặt trận, một lần bị trúng đạn xuyên qua mặt. Tướng Chamberlain đã ghi lại trong hồi ký cuả mình: “Từng đoàn, từng đoàn, họ tiến bước theo nhịp quân hành, ép chặt vào nhau giống như một giòng người đội vương miện màu đỏ ối, giương cao quân kỳ và hiệu kỳ. Đây là những người mà gian lao, đau khổ, nhọc nhằn, kể cả tử thần không bẻ cong được quyết tâm của họ. Họ đứng thẳng hàng trước mặt đoàn quân chúng tôi, một đoàn quân tơi tả, xương xẩu, nhưng hiên ngang, mắt sáng ngời chiến thắng, họ là những hình ảnh sống phản ảnh mối liên hệ thắm thiết chỉ có thể có giữa những đồng đội trên chiến trường”. Không hề dự định trước, cũng như không hề được chuẩn y trước, tướng Chamberlain bất thần hô lớn ra lệnh, “Bồng súng chào!” cho quân đội miền Bắc. Một tiếng kèn lệnh vang lên, và lập tức toàn thể đoàn quân miền Bắc bồng súng lên vai, tiếng báng súng rập khuôn vang lên. Phiá đối diện, tướng Gordon thúc nhẹ con tuấn mã khụy hai chân trước xuống, người và ngựa cùng cúi đầu, gươm tuốt trần chúc mũi trong một dáng đìệu hùng vĩ tuyệt vời. Cùng lúc, đoàn quân miền Bắc chuyển qua bồng súng nghiêm chào. Họ chào những “anh hùng bại trận”, họ bày tỏ sự kính trọng của những người Hoa Kỳ đối với những người Hoa Kỳ. Và phiá hàng quân miền Bắc tiếp tục giữ đúng thế nghiêm. Không có thêm một tiếng kèn. Không có một tiếng trống. Không có một tiếng hô chiến thắng. Không có một tiếng nói. Không cả một tiếng thầm thì. Mà chỉ còn là một hàng quân im phăng phắc. Mọi nhịp thở như ngừng lại. Buổi lễ đầu hàng kéo dài 7 tiếng đồng hồ. Gần 28,000 người, trên 100,000 tấn vũ khí, đạn dược, quân kỳ, hiệu kỳ lần lượt bỏ xuống. Từng đơn vị tiến lên, gác súng, tháo bao đạn, và xếp súng xuống. Kế đến họ trìu mến cuốn hay xếp quân kỳ, hiệu kỳ, lắm cái tơi tả và lắm cái nhuộm máu đã khô, sau cùng họ khẽ đặt những lá cờ kia xuống mặt đất… Đào Như
Mau quá anh nhỉ, mới đó đã hai mươi chín năm. Không ngờ đi ăn cưới người cháu vợ ở Cali, gặp lại anh ở phố Bolsa sau gần ba mươi năm. Nhớ ngày nào bốn anh em: Ngọc, Nhất, Tâm, Thể, coi như tứ trụ vây quanh người anh đầu đàn, anh Lê Văn. Ngày 30/4/75 anh Lê Văn quyết tâm ở lại, anh ấy chịu đựng quá nhiều, chuyên chính vô sản tước đoạt anh thảm thiết. Biết bao mất mát. Năm 98 tôi về thăm nhà và ghé thăm anh ấy, sau bao nhiêu năm trăn trở, đầu anh Lê Văn bạc trắng. Lúc đó anh đúng 71 tuổi. Nụ cười vẫn trên môi. Anh cho tôi hay cách đó hơn một năm anh vừa thoát qua cơn máu nhồi cơ tim. Anh vẫn nhắc đến tụi mình và vẫn còn lo lắng cho chúng ta như thuở nào:“Ngọc và Tâm ở Pháp, còn ‘toi’ và Nhất ở Mỹ, sống cách nhau xa quá liệu có liên lạc với nhau chặt chẽ thường xuyên không? Đời sống anh em mỗi ngày một khá hơn chứ”?
Anh Nhất, anh biết không? Tôi đành nói dối: “Thời đại bây giờ mà anh. Có cách nhau những hành tinh đi nữa chỉ cần nhấc điện thoại là nghe được tiếng nói của nhau, hay lên mạng điện thư cho nhau là biết nhau ra sao rồi…”.
Thật ra cuộc sống tị nạn có nhiều ràng buộc, nhầm lẫn. Kẻ đến trước, người tới sau, gặp nhau cũng khó khăn. Đôi khi gặp nhau lại không nhìn ra nhau. Nhưng khi nghe tôi nói thế, anh ấy rất mừng rồi anh tự cho mình: “À, ‘moi’ quên đi, thời đại tín học, thời đại computer. ‘Toi’ thấy chưa? ‘Moi’ lạc hậu quá rồi”. Nói xong anh cười phá lên. Tiếng cười thật là hào sảng. Anh thật thà kiêu hãnh có những đứa em như chúng ta. Ấy thế mà 8 tháng sau, anh lại qua đời vì tai biến mạch máu não. Nhớ ơn anh ở lại với tổ quốc, và gần hơn 20 năm làm giám đốc bịnh viện, tất cả dân chúng của thị xã tiễn đưa anh đến nơi an nghĩ cuối cùng.
Nhắc lại chuyện xưa, đôi khi khiến chúng ta ngậm ngùi. Tôi mường tượng lại những lúc riêng tư anh Văn thường nhắc nhở “‘Moi’ đã làm việc trên Bộ với anh Trần Minh, chức Trưởng Vùng Y tế thì giao cho Ngọc, Trưởng Vùng Dược thì giao cho Nhất, Trưởng Ty Y tế thì giao cho Tâm, ‘toi’ còn trẻ, còn nhiều nhiệt huyết thì làm Giám đốc trường Cán Sự Điều Dưỡng. Trường chưa đầy 2 tuổi, như em bé vừa mới biết đi chập chững, ‘toi’ chịu khó chăm sóc ngôi trường ấy, hiện tại nó được coi như là Trường Y duy nhất tại Vùng 4- Đồng bằng sông Cửu long. Còn ‘moi’ già rồi thì lui về tiếp tục làm Giám đốc bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa.”
Những gì chúng ta làm trước 75, nói là chuyện gì ghê gớm lắm, to tát lắm quả nhiên là không phải. Chuyện của một nhóm người, của một vài người cùng chung lý tưởng như chúng ta, đã cố gắng thực hiện lý tưởng của mình trong mịt mù của bom đạn thuở đó đều bé nhỏ so với cả nước.
Chúng ta lớn lên trong chiến tranh, trực tiếp tham dự vào cuộc chiến. Mỗi thời đại có mẫu người riêng của nó. Trong chiến tranh con người là nạn nhân và cũng là chứng nhân của cái chết thê lương, trong chiến hào, ngoài mặt trận, trong tù ngục, hay giữa thành phố, dưới gầm cầu. Con người trong chiến tranh có cả tình yêu lẫn hận thù, sự sống và cái chết. Cái chết thì nghiệt ngã. Tình yêu thì sáng ngời. Hận thù thì ngút ngàn. Ấy thế mà chúng ta vẫn hiên ngang sống, nhiệt tình sống, kiên trì phuc vụ đất nước và dân tộc.
Bây giờ ngồi hâm nóng kí ức của mình trong thời điểm ấy, những việc làm đó đối với chúng ta, không hẳn là niềm tự hào to tác lắm, nhưng cũng không phải là những gì dễ xoá mờ qua năm tháng.
Như anh biết, anh Lê Văn và tôi ở lại sau ngày 30/4/75. Chúng tôi nhận những tai họa ngay trước mắt. Cộng sản trở tay quá sớm. Họ làm hoàn toàn trái ngược những gì họ nói trước khi họ chiếm trọn miền Nam. Họ coi tất cả những người bên này vỹ tuyến 17 là kẻ thù cần phải triệt hạ, cải tạo. Ngay trong 24 giờ đầu, tất cả anh em bác sĩ ở lại đều được lệnh tập trung đi tù cải tạo. Chỉ có bác sĩ Lương Khai, Nguyễn Quốc và tôi không bị gọi tập trung đi tù cải tạo, vì chúng tôi thuộc thành phần trẻ, không có trong quân ngũ, không dính dáng đến chính trị. Nhưng bác sĩ Lương Khai và Nguyễn Quốc thuộc sản phụ khoa. Như vậy khoa ngoại có hơn 10 bác sĩ phẫu thuật, bây giờ chỉ còn có mình tôi…
Đầu ngành khoa ngoại của bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa sau 30/4/75 là một bác sĩ cách mạng Nguyễn văn Ngôn thường gọi là Út Ngôn. Út Ngôn là bác sĩ của ‘R’, gốc người Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, nguyên là lính của ‘Tiểu đoàn 307’, tập kết ra Bắc năm 1954, tốt nghiệp y khoa Hà nội, hệ chính qui, chuyên về sọ não. Đó là những gì Út Ngôn tự giới thiệu trong buổi giao ban đầu tiên của khoa ngoại trong ngày tiếp quản. Trong dịp này anh cũng ‘tố’ cha anh là một tên đại điền chủ khoa cử, có nhiều vợ. Anh ta là con của bà vợ thứ. Mẹ anh là chị ruột của một bác sỹ chuyên khoa tiết niệu. Vì hỗ thẹn với thành phần giai cấp gia đình anh tự giác ngộ đi theo Cách mạng lúc mười sáu tuổi.
Lúc đầu chưa có kinh nghiệm với họ, tôi cứ tưởng anh ấy là tên cộng sản nghiệt ngã, ác ôn sớm đầu tối đánh, phản lại cha mẹ giòng họ và gia đình. Nhưng tôi lầm. Sau này tôi mới hiểu, sở dĩ Út Ngôn nói nhiều như vậy không ngoài mục đích anh cho chúng ta thấy anh cũng thoát thai từ gêne khá tốt: trí thức tư sản.
Đến ngày mùng 5 tháng 5, năm ngày sau ngày tiếp quản, Ủy Ban Quân Quản quyết định chuyển qua bịnh viện dân y Thủ Khoa Nghĩa tất cả gần 3 trăm thương bịnh binh quân đội Việt Nam Cộng Hòa đang điều trị bên quân y viện Phan Thanh Giản. Thế là khoa ngoại phải nhận tất cả thương bịnh binh của ta, quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng khoa ngoại chúng tôi đâu có đủ bịnh phòng tiếp nhận anh em. Bác sĩ chỉ có một mình tôi. Phần lớn bác sĩ Út Ngôn coi về chính trị, tôi coi về chuyên môn. Tôi đốc thúc nhân viên cũ của mình dọn dẹp lại trại xương, trại 19, trại 14, trại 21 tạo ra nhiều phòng hơn cho các anh em. Chúng tôi chỉ có 24 giờ để sửa soạn tiếp nhận thương bịnh binh của ta.
Anh Nhất, anh có biết gần 300 bịnh binh của ta di chuyển qua tôi như thế nào không? Chỉ có mươi mười lăm người chuyển qua tôi bằng vài chuyến ambulances, vì họ suy kiệt nặng quá. Như anh biết Viện Dân Y và Viện Quân Y có chung một bức tường. Nơi bức tường ấy có một cửa thông qua hai bịnh viện. Thường thì cửa này khóa chặt, Viện Quân y giữ chìa khóa. Biết thế các thương bịnh binh ta yêu cầu cách mạng mở cửa và anh em tự di chuyển qua tôi. Nhiều người cứ từng cặp dìu nhau đi qua cửa ải. Họ đùm túm dắt díu nhau qua gặp tôi. Có anh em mừng, có người gần như muốn khóc khi tôi đến nâng dìu họ lên giường bịnh. Có anh mừng quá la lớn: “Gặp được phe ta rồi! Mấy ngày rồi thiếu thuốc men bác sĩ ơi! Cơm nước toàn do vợ nuôi. Nếu không có gia đình ở đây thì ăn cơm ‘chỉa’ với anh em”.
Ủy ban quân quản và Thành đội thành phố ra lịnh chúng tôi không được giử anh em thương bịnh binh ta trong viện quá 10 ngày. Tôi thầm kín huy động tất cả nguồn nhân lực và thuốc men còn lại của ta đổ dồn hết vào việc điều trị cho anh em. Cũng may vào thời điểm đó cũng còn quá sớm Cách mạng chưa kịp để mắt đến, kiểm kê hay kế hoạch phân phối kho thuốc của Vùng mà anh để lại. Trong thời gian này tôi có dịp đi qua thăm Quân y viện của bộ đội cách mạng. Tôi cũng đi ngang qua cái cửa ải đó để ký giấy tờ thâu nhận các anh em thương bịnh binh ta. Tôi mục kích cả một sự đau lòng: quân đội cách mạng thiếu hụt thuốc men, băng bó và lều trại bê bối. Sau cuộc chiến chúng ta mới có đủ thì giờ và cơ hội nhìn thấy vết thương đang chảy máu của nhau…
Trong chiến tranh không có kẻ chiến thắng, chỉ có nạn nhân chiến tranh. Chiến tranh gây ra nghèo đói, đổ nát, lạc hậu, ngộ nhận, hận thù phi lý. Niềm kiêu hãnh lớn của anh em chúng ta và cả nước hôm nay là chúng ta cố gắng đoàn kết với nhau, đứng lên từ đổ nát của chiến tranh, bảo vệ hòa bình, phục hồi kinh tế, cũng cố độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng lại lòng tin yêu nhau, xóa bỏ những nhầm lẫn gây ra do cuộc chiến quá dài.
Nhưng đó không phải là chuyện dễ làm. Có nhiều âm mưu, gọng kềm quốc tế, ngăn cách và bủa vây dân tộc ta trong thời hậu chiến.
Tội ác lớn nhất của mọi thời đại là những kẻ xuyên tạc lịch sử chỉ vì lơi ích riêng cho họ, cho bè lũ của họ, cho phe phái của họ. Phải không anh?
Sau 30/4/75 hòa bình trở lại vĩnh viễn trên đất nước. Ai cũng chăm lo vun xới lại ruộng vườn, cày sâu cuốc bẩm tăng gia sản xuất. Nói nghe văn chương vậy chứ thật sự lúc đó ai cũng đói. Họ đâu có biết dưới lớp đất chôn sâu dưới chân họ là bãi mìn đủ loại, đủ cỡ, mang nhiều danh tánh khác nhau: mìn nhái, mìn cóc, mìn râu, mìn rùa, mìn kíp…
Một mặt trận mới vừa bung ra sau ngày thống nhất đất nước, mặt trận lao động sản xuất. Đó là cuộc chiến bi thương của thời hậu chiến. Cuộc chiến giữa nông dân đối đầu với những cốt mìn tự động, âm mưu thâm độc của kẻ xâm lăng. Từ đồng bằng miền Trung đến đồng bằng Sông Hậu và khắp cả núi rừng Trường sơn đều là những bãi mìn. Có anh nông dân nạn nhân của mìn, vì đau đớn quá anh la lớn tại phòng cấp cứu khoa ngoại, “Tất cả mìn nhỏ này đều từ máy bay thả xuống, chun vào đất nằm chờ…chúng tôi biết hết chớ, nhưng phải đổi bát máu lấy bát cơm..”.
Câu nói này xem như điệp khúc bi hùng sau chiến tranh. Rất tiếc các anh không ở lại cùng chúng tôi, để cùng nhau san sẻ những năm tháng bi tráng ấy của cả nước trong thời hậu chiến.
Út Ngôn hiểu biết về chuyên môn quá yếu trong 2 năm đầu tiếp quản, nên công tác phẫu thuật của anh bị giới hạn. Theo nguyên tắc tôi là bác sĩ Ngụy không được mổ ‘cán cao’, nhưng cấp cứu tôi cũng phải mổ. Út Ngôn đứng bên cạnh tôi phụ tôi đồng thời để học hỏi, bác sĩ Y vụ đứng sau lưng tôi theo dõi. Bác sĩ Y vụ lúc ấy là Hoàng quang Ánh đâu biết gì về chuyên môn, ông ta người Nghệ an, thuộc loại bác sĩ bổ túc, bác-sĩ-đi-chân-đất. Phần nhiều bác sĩ, dươc sĩ, bổ túc họ từ thành phần y-công mà tiến lên. Họ thủ thế với mình kỷ quá. Không tin mình về chính trị, nhưng họ phải sử dụng mình trong chuyên môn. Làm việc gì mình cũng phải ngó trước ngó sau, phải hỏi ý kiến thủ trưởng. Thủ trưởng của tôi là Út Ngôn. Mình cũng khổ mà Cách mạng cũng khổ. Út Ngôn nhiều lúc bảo tôi: “Em thận trọng phải gặp anh trong mọi quyết định phẫu thuật” và anh nói giọng nhỏ hơn vừa đủ cho tôi nghe: “chủ yếu là để bảo vệ cho em.”.
Cộng sản thường rêu rao: “trước mặt thầy thuốc tất cả mọi người đều bình đẳng…”. Không đâu anh. Cộng sản là chế độ có nhiều giai cấp. Cán bộ thì có: Sơ, Trung, Cao. Ăn uống thì cũng có: Tiểu táo, Trung táo, Đại táo…Khi nằm viện thì chế độ bịnh phòng cũng khác. Trong cuộc sống hằng ngày cũng vậy, chế độ sinh hoạt rất khác nhau: kẻ thì hưởng thụ theo khả năng (khả năng làm việc), người thì hưởng thụ theo nhu cầu (họ cần gì thì có cái đó cho họ). Ngày xưa ở những năm 50 ở thế hệ của chúng ta các anh em đọc “Les Nouvelles Classes” của Djlas. Lúc đó anh em chúng ta có người còn ngờ ngợ. Sau năm 75 giáp mặt với thực tế, nghĩ mà thương Djlas bị Tito vùi dập.
Bác sĩ Nguyễn Văn Ty, đầu ngành Ngoại Tim mạch của bịnh viện Việt Đức tại Hà nội, nguyên Trung tá bác sĩ tham chiến chiến trường Điện Biên, tháng 10 năm 1976 ông đi tham quan các bịnh viện ở các tỉnh phía Nam. Không hiểu vô tình hay cố ý, vừa ghé thăm ban lãnh đạo bịnh viện Đa Khoa Hậu Giang, tuyến sau cùng của Khu 9 Tây Nam Bộ, bác sỹ Nguyễn Văn Ty liền xuống thăm phòng phẫu thuật. Bác sĩ Ty, gặp tôi trước cửa phòng Cấp Cứu Hồi Sinh của khoa ngoại, anh gọi tên tôi trong giọng thân mật như đã quen thân nhau lâu lắm:
– Anh Thể đó hả! Tôi đến gặp anh đây. Anh vẫn bình thường chứ? Tôi là bác sĩ Ty, bác sĩ đầu ngành ngọai tim mạch ở bịnh viện Việt Đức, Hà nội. Gớm! Cái anh này trẻ thật, trẻ quá đi thôi…quí hóa quá…
Thú thật tôi hòan toàn bị động trước lời lẽ chân thật và đầy thương yêu của anh ấy. Còn anh ấy đang có ý nhìn chung quanh. Tôi ngỡ là anh đang quan sát phòng cấp cứu của tôi. Tôi ấp úng nói:
– Thưa anh…
Tôi chưa kịp nói tiếp, anh liền phác tay:
– Phòng cấp cứu hồi sinh tổ chức khéo quá, bề thế mà không kềnh càng, trang bị tối tân.
Sau khi trao đổi với tôi một vài ý kiến về chuyên môn trong phòng hồi sinh, anh nắm lấy cánh tay tôi, chúng tôi cùng ra ngoài. Anh nói:
– Ở đây mát quá anh nhỉ. Nhờ sông Bassac rộng. Anh rán làm việc. Người ta sẽ tin mình. Năm năm người ta không tin mình thì mười năm; mười năm người ta không tin mình thì hai mươi năm, ba mươi năm người ta cũng phải tin mình. Như tôi bây giờ vậy, anh thấy chưa? Nói xong trán anh đượm mồ hôi, anh xoắn tay áo lên tận khuỷu. Tôi thoáng thấy một khoảng tím bầm như xuất huyết dưới da nơi khuỷu tay anh. Tôi nắm khuỷu tay anh tôi hỏi:
– Sao vậy anh?
Anh cười. Anh phủ tay áo lại. Anh nói:
– Cách đây năm hôm, trước khi đi thăm quan các bịnh viện thuộc các tỉnh phía Nam, tôi bán nửa lít máu để lấy tiền bồi dưỡng cho cậu con trai tôi luyện thi vào trường Y Hà nội.
Nghe nói thế, tôi há hốc nhìn anh. Anh lại phác tay:
– Có gì đâu. Rồi anh sẽ cũng như tôi.
Anh trông có vẻ vội vã. Hình như anh đang phát hiện một điều gì. Anh nói:
– À, tôi đi thôi. Mai sẽ gặp lại anh để thăm khoa phòng khoa ngoại. Anh bắt tay tôi. Anh đi nhanh. Anh nói ngoái lại:
– Anh còn trẻ chán. Không có gì là muộn đối với anh cả…
Bác sĩ Ty vội bước đi rất nhanh. Hình như anh ấy không biết rằng tôi đang suy nghĩ rất mông lung về câu nói của anh ấy. Thú thật tôi đang bối rối, làm sao tôi có thể tin tưởng câu nói của một người Công sản như anh? Và tôi củng không đủ can đảm nghĩ rằng tất cả câu nói vừa rồi của bác sĩ Nguyễn Văn Ty chỉ là dối trá.
Tôi quay lại, vào phòng cấp cứu hồi sinh, tôi thoáng bắt gặp ánh mắt của bác sĩ Nguyễn Văn Xuyền ẩn sau tấm cửa ‘porte battante’ anh vừa theo dõi câu chuyện chúng tôi. Bác sĩ Xuyền vào khoảng 35 tuổi, bác sĩ bổ túc, chuyên về Nội khoa, người Bắc, cán bộ chi viện cho Miền Nam Việt Nam từ Hà Nội. Anh là lãnh đạo thanh niên bịnh viện từ năm 1975. Anh ca bài “Hà nội- Niềm Tin và Hy vọng” của nhạc sĩ Phan Nhân nghe khá hay.
Tình thế càng khó khăn bấy nhiêu, tôi và bác sĩ Út Ngôn càng làm việc khắng khít với nhau bấy nhiêu. Có lúc anh em thật gần gũi. Những lúc đó, anh có nói những câu xa gần, đại khái là tay nghề của anh bây giờ khá vững nhờ những năm làm việc chung với nhau. Anh không bao giờ quên những chặng đường ấy. Nói xong anh vội bước đi, để mặc tôi ngơ ngác với câu nói của anh. Tôi suy nghĩ mãi về anh như lần đầu tôi gặp bác sĩ Nguyễn Văn Ty. Trong bác sĩ Nguyễn văn Ngôn lại có một bác sĩ Nguyễn Văn Ty. Có phải chăng trong con người cộng sản trí thức, con người quốc gia vẫn còn chôn sâu trong tận cùng tâm hồn họ?
Chủ nhật cuối tháng hai năm 1979, lúc 2 giờ sáng tôi được điều vào bịnh viện để mổ cấp cứu cho một cán cao của tổ chức công an biên phòng. Ông ta bị thương trong một cuộc đụng độ với người vượt biên do biệt kích Mỹ tổ chức. Tôi chỉ nghe nói vậy. Ông ta bị thương rất nặng. Dĩ nhiên có các ông Ủy viên Y tế Tỉnh, bác sĩ Giám đốc, bác sỹ Y vụ, bác sĩ Út Ngôn đứng bên cạnh tôi trong phòng phẫu thuật. Sau 3 giờ liền can thiệp phẫu thuật tình trạng bịnh nhân được ổn định. Lúc đó 5 giờ sáng. Theo đề nghị của bác sĩ Y vụ, tôi ngủ lại phòng bác sĩ trực thay vì về nhà.
Vì mệt, vừa đặt lưng xuống tôi ngủ ngay thẳng giấc đến sáng. Khi thức dậy đã 8 giờ sáng. Tôi làm giường, tháo mùng lật gối. Khi lật gối, tôi giật mình khi thấy một cây súng ngắn đặt dưới gối nằm của tôi. Tôi vô cùng sợ hãi và bối rối khi nghĩ lại đêm qua tôi ngủ gối đầu trên cây súng ngắn mà tôi không hay. Tôi không dám sờ tới nó. Tôi bàng hoàng suy nghĩ. Như thế này thì hết tình hết nghĩa rồi! Tôi không ngờ tôi lại rơi vào hoàn cảnh bức bách như bây giờ. Vấn đề tôi phải ra đi trở thành bực tức với cách mạng đến thế sao? Tôi muốn biết tại sao như vậy? Sau cây súng ngắn này Cách mạng sẽ vẽ chuyện gì nữa đối với tôi? Với gia đình tôi? Nhìn đồng hồ thấy hơn 8 giờ sáng, tôi bốc điện thoại gọi Mười Nhân, bác sĩ bịnh viện trưởng và cho ông ta hay là có kẻ xấu lận cây súng ngắn dưới gối nằm của tôi tại bịnh viện trong đêm qua. Ông ta trả lời trong một giọng rất bình thường:
– À, cây súng ngắn phải không? Chắc Út Ngôn đêm qua, cùng tôi xuống thăm bác sĩ mổ cấp cứu, anh ấy ghé phòng trực bác sĩ, chính anh ấy làm giường và treo mùng cho bác sĩ nghỉ sau khi mổ cấp cứu. Hình như sau đó anh ấy dấu cây súng dưới gối nằm của bác sĩ. Hồi khuya lúc về anh ấy quên ghé lấy. Bác sĩ cứ gọi cho anh Út Ngôn hay. Anh ấy sẽ đến lấy hay anh ấy cho các em bảo vệ đến lấy. Sau đó tôi gọi bác sĩ Út Ngôn, cũng trong giọng bình thường anh ấy bảo là anh ấy bỏ quên cây súng dưới gối nằm của tôi và anh ấy sẽ bảo các em bảo vệ đến lấy. Cũng như bác sĩ bịnh viện trưởng bác sĩ Út Ngôn không một lời xin lỗi tôi.
Chuyện cây súng ngắn bỏ quên dưới gối nằm của tôi như một quả lựu đạn nổ tung trong bịnh viện, mặc dầu tôi muốn giữ kín chuyện đó, tôi không muốn gây ra tư tưởng hoang mang của các nhân viên trong bịnh viện. Thật tình mà nói lúc nào tôi cũng quí anh Út Ngôn. Tôi thật sự cảm động khi nghe bác sĩ bịnh viện trưởng cho tôi hay là chính anh Út Ngôn giăng mùng làm giường cho tôi ngủ đêm hôm đó. Có điều lạ là người bung tin cây súng bỏ quên dưới gối nằm của tôi lại là một bác sĩ Cách mạng, bác sĩ Xuyền, bác sĩ bổ túc, chuyên về nội thương, chi viện từ Hà nội, lãnh đạo thanh niên trong bịnh viện từ năm 1975! Thật sự, từ đầu năm 78 những lúc rỗi rảnh và hình như chiều nào anh cũng có những lúc rỗi rảnh đó, bác sĩ Xuyền thường lội qua khoa ngoại, tìm gặp anh em bác sĩ chính quyền cũ còn được lưu dụng, anh cứ nói xa gần là khuyến khích chúng tôi bỏ nước ra đi: “Các anh ở lại làm gì? Ai tin các anh mà các anh ở lại! Không lẽ các anh quyết tâm ở lại chờ ăn độn với chúng tôi?”. Khi nói về sự tích cây súng ngắn bỏ quên dưới gối nằm của tôi, bác sĩ Xuyền bao giờ cũng chua thêm: “Tôi như bác sĩ Thể tôi đi thôi. Bạn bè đi hết, hà cớ gì bác sĩ Thể ở lại một mình?”
Tôi đem chuyện cây súng nói cho anh Lê Văn hay, anh ấy rất lo cho tôi. Anh Lê Văn khuyên tôi: “cũng không có gì là muộn cả, ‘toi’ còn trẻ hãy lo liệu mà đi thôi. Anh em ai cũng bỏ chạy cả rồi. Và Cách mạng đã quyết tâm như vậy, biết làm sao bây giờ? Thôi thì tổ chức đi đi, có thiếu hụt thì moi tiếp tay cho”. Anh Nhất, khi nhắc lại giai đoạn này tôi cảm nhận sâu sắc tấm lòng hào hiệp của anh Lê Văn. Anh ấy lúc nào cũng cưu mang chúng ta.
Anh Nhất, khi tôi viết đến những dòng này cả nước Mỹ đang bước vào mùa bầu cử tổng thống cho nhiệm kỳ 2004-2008. Tại đại hội của đảng Dân chủ, ứng cử viên sáng giá của đảng Dân chủ John Kerry, được giới thiệu đến đại hội và những cử tri hâm mộ, ông ta là một con người được đào tạo từ chiến tranh Việt Nam (a man forged in VietNam)! Một người bạn của John Kerry cũng là cựu chiến binh tại Việt Nam, đã khẳng định tại đại hội:“Với cựu tổng thống Jimmy Carter nhờ có cánh đồng đậu phọng tại Georgia, với Bill Clinton nhờ có tư tưởng “Người Đến Từ Hy Vọng”, (man from hope), với John Kerry ông sẽ thắng cử nhờ ông có ViệtNam!(he does have VietNam)”…Những cuộc vận động tranh cử tổng thống Mỹ từ thời tổng thống Lyndon Johnson, 1964, trong suốt 40 năm qua và nhiều thập niên tới nữa của thế kỷ thứ 21 vẫn khét mùi thuốc súng của chiến tranh Việt Nam.
Ngày 4/4/79 tôi mang vợ con, rời bỏ tổ quốc. Sau đúng 25 năm sống lưu vong tại Mỹ, bây giờ ngồi viết thư cho anh cũng để hâm nóng lại ký ức của chúng mình. Nhìn lại những chặng đường dân tộc, tổ quốc và bản thân chúng ta đã đi qua, tôi nghe rạt rào xót thương mừng tủi, thấy lòng mình kiêu hãnh về lịch sử đấu tranh của giống nòi. Tổ quốc vẫn gần gũi với ta như vú mẹ từ thuở sơ sinh. Anh Lê Văn đã ra đi, nhưng những đóng góp tích cực và cống hiến của chúng ta cho tổ quốc khi anh Lê Văn còn sống vẫn còn đó. Hẳn nhiên nó không phải là những gì ghê gớm lắm, to tát lắm, nhưng những cống hiến ấy không thể bị xóa mờ qua năm tháng trong tâm hồn của chúng ta…
Anh Nhất, xa nhau lâu quá. Thời gian có thể làm tàn phai đi những gì đáng nhớ giữa chúng ta. Chiến tranh và cuộc sống đã xô giạt chúng ta đến những bến bờ xa lạ. Dù sao đi nữa chúng ta cũng không thể nào quên được có một thời chúng ta cùng chung lí tưởng. Tôi hy vọng anh đồng ý, dù cái trang lịch sử đất nước hôm nay tốt hay xấu chúng ta củng có một phần nào trách nhiệm với tổ quốc. Phải không anh?
Trong hơn một tháng nay, từ tháng 10.2014 kênh truyền hình CNN của Mỹ, hàng ngày làm sống lại nước Mỹ trong Những Năm Sáu Mươi của thế kỷ trước qua những thước phim The Sixties. Những biến động của xã hội Mỹ vào thời khoảng này đều được lồng trong khung cảnh của Chiến Tranh Việt Nam/ Vietnam-War.
Những Năm Sáu Mươi của thế kỷ trước là thời đại kinh hoàng của nước Mỹ. Những biến động của Vietnam-War trong Những Năm Sáu Mươi đã hủy hoại xã hội Mỹ, từ đạo lý, nhân văn, đến chính trị, kinh tế và con người.
Vietnam-War trong Những Năm Sáu Mươi đã để lại cho nước Mỹ một nền kinh tế băng hoại, một nền chính trị suy đồi và hàng triệu thanh niên, sinh viên, nam cũng như nữ, sống vô vọng không lý tưởng, lang thang khắp đường phố New York, Los Angeles, Chicago, Houston, San Francisco… nghiện ngập cần sa, ma túy, bạo động, sex ở lề đường…
Việt Nam quê hương tôi, vào Những Năm Sáu Mươi, một đồng minh của Mỹ ở phia tây bờ biển Thái Bình Dương, cũng có một thời chiến tranh đổ nát. Vietnam-War càn quét quê hương tôi với những sự cố dữ dội: những mồ chôn tập thể ở Huế trong biến cố Tết Mậu Thân 1968, mùa Giáng Sinh 1972 cháy sáng bởi những trận bom của pháo đài bay B52 cày nát Thủ Đô Hà Nội trong suốt 12 ngày đêm.
Chiến-tranh-Việt-Nam đã cướp đi hơn ba triệu sanh linh Viêt Nam, đã để lại hơn 4 triệu người thương tật và hơn cả chục triêu Cô nhi Quả phụ…
Chiến-Tranh-Việt-Nam đã để lại cho quê hương tôi những nghĩa trang buồn ở Biên Hòa, những nghĩa trang suốt dọc Trường Sơn…
Từ Chiến-tranh-Viêt-Nam, nhân loại đã phát hiện ra Dioxine – chất độc khai quang, là vũ khí chiến lược cực kỳ nguy hiểm cho sự tồn vong của nhân loại…
Người thì bảo Chiến-Tranh-Việt-Nam là cuộc nội chiến Bắc Nam, kẻ lại bảo Chiến-Tranh-Việt-Nam là cuộc chiến chống xâm lăng, chống các đế quốc Tư bản và Cộng sản.
Riêng tôi, là một bác sĩ phẫu thuật, tôi biết Chiến-Tranh-Việt-Nam là thảm họa thật sự cho quê hương tôi, cho dân tộc tôi…
Chiến-Tranh-Viêt-Nam không chỉ là niềm đau riêng của hai dân tộc Việt – Mỹ, nó còn là bài học chung cho cả nhân loại.
Trong chiến tranh không có kẻ thắng người bại. Tất cả đều là nạn nhân. Chiến tranh chỉ gây ra đổ nát, nghèo đói, lạc hậu, hận thù phi lý…
Bài bút ký sau đây là chứng tích cho thân phận con người trong chiến tranh…
***
Nhìn sông Hậu, con sông lớn nhất của tổ quốc, mênh mông miệt mài trôi, cuồn cuộn phù sa và ánh sáng, không một ai có thể nghĩ rằng vùng đất quê hương kỳ diệu này cũng là vùng đất chiến tranh trong gần 30 năm qua. Thị trấn Cần Thơ nằm trên hữu ngạn sông Hậu vẫn sinh hoạt bình thường.
Bây giờ là tháng hai năm 1972. Dân chúng trong thị trấn Miền Tây này đâu có ngờ chỉ trong một vài tháng nữa là cả nước đi vào Mùa Hè Đỏ Lửa với những trận đánh ở ngọn đồi Tân Cảnh, Căn Cứ Lữ Đoàn 2 Dù. Sau đó là Trận An Lộc, Trị Thiên, Đại Lộ Tử Thần, những trận địa chiến hai bên bờ sông Thạch Hãn… Những trận đánh lớn cứ theo nhau, vượt Trường Sơn, từ Trung vào Nam, từ Cao Nguyên đổ xuống đồng bằng duyên hải như thác ngàn.
Hai phe, bốn bên dốc toàn lực đổ quân vào những trận đánh điên cuồng, đẫm máu nhằm làm áp lực ở hòa đàm Paris giai đoạn chót.
Những trận đánh tận tình hủy diệt nhau làm rực lửa những trang báo khắp thế giới, thắp sáng lương tri nhân loại. Hầu hết các gia đình người Mỹ, mỗi chiều tối đều ngóng nhìn lên màn ảnh truyền hình, theo dõi chương trình CBS Evening News Reports tại New york, hớp từng lời tường thuật về Chiến tranh Việt Nam của Walter Cronkite.
Những trận đánh đẫm máu xé nát trái tim những bà mẹ nước Mỹ. Phong trào phản chiến trên khắp thế giới lên đến cực điểm. Sinh viên trong các trường đại học nhất là tại Mỹ, Anh và các quốc gia Bắc Âu và Tây Âu bãi khóa, tổ chức “truồng chạy” phản đối chiến tranh diệt chủng tại Việt Nam.
Trong khi đó tại Sàigòn, giọng hát Thái Thanh thảm thiết trong bài Kỷ Vật Cho Em, một kiệt tác phản chiến của Phạm Duy, viết sau chiến dịch Lam Sơn 719:
“Anh trở về trong chiếc poncho…
Anh trở về trên đôi nạng gỗ…
Anh trở về tật nguyền chai đá…
Anh trở về dang dở đời em…”.
Bây giờ là tháng Tư 1972 – Mùa Hè Đỏ Lửa thật sư bùng nổ. Cả nước, cả thế giới sống trong căng thẳng của chiến tranh Việt Nam. Tình trạng này càng căng thẳng hơn vì những đợt rải bom của pháo đài bay chiến lược B52 ở rừng núi Trường Sơn, đường mòn Hồ Chí Minh. Có khi B52 đánh bom địa đạo Củ Chi hay vùng ven đô Sàigòn… Phóng viên thời sự quốc tế nằm ở các hotel Caravelle, Ritz, hay Ambassy… tại trung tâm Sàigòn hàng đêm thức giấc nghe bom rung từng lớp cửa kính.
Chính phủ trung ương ở Sàigòn lúc này cũng bắt đầu tranh thủ nhân tâm. Bộ Y Tế phát động phong trào Y Tế Về Làng, nghĩa là hàng tuần các bác sĩ phải hướng dẫn một đoàn y tế và thuốc men đi về các thôn xã, ngay cả trong những làng ở tận các vùng sâu để khám bịnh cho thuốc những đồng bào thôn quê nghèo khó, không đủ phương tiện ra các bịnh viện ở tỉnh thành điều trị.
Các bác sĩ ai cũng chấp nhận thi hành nghị định của Bộ, mặc dầu nghị định này có nhiều thiếu sót, như không có gì bảo đảm an ninh cho đoàn y tế, nhất là cho các bác sĩ, phần nhiều từ quân đội biệt phái, nghĩa là vẫn còn trong quân ngũ. Hơn nữa khi đi đoàn mang theo một ít thuốc men, rủi gặp Họ, Họ xin thì sao?
Đó là những điều mà bác sĩ Phan Ngọc thường lo nghĩ cho phong trào Y Tế Về Làng. Nhưng ngày mai thứ bảy, cuối tháng Tư 1972, đến phiên anh, anh cũng phải đi.
Anh có chút vui là anh biết có tôi cùng đi, phụ anh, vì anh rất thích tôi. Nhưng tôi rất quan ngại cho anh, là chuyến này chúng tôi đi vào tận vùng sâu Thuận Trung. Ở Cần Thơ ai cũng biết, Thuận Trung, Cờ Đỏ, là những vùng xôi đậu nổi tiếng. Muốn vào Thuận Trung chúng tôi phải lên khỏi Ô Môn, rồi dùng tắc ráng (đò nhỏ chạy bằng máy, còn gọi là xuồng đuôi tôm) đi trên sông một giờ mới đến Thuận Trung.
Đoàn Y tế gồm có 16 người, đem theo thuốc men, dụng cụ y tế và thức ăn trưa cho toàn đội. Lâu ngày lắm, hôm nay chúng tôi mới được hít thở không khí đồng quê. Mọi người đều vui nhộn, quên đi những nguy hiểm có thể xẩy đến trong một vài giờ sắp tới…
Có lẽ chính quyền xã đã thông báo cho đồng bào hay, nên chúng tôi vừa căng lều dựng trại xong là đồng bào đã đổ xô lại vô cùng đông đảo. Chúng tôi say sưa khám bịnh, cấp thưốc cho họ. Thỉnh thoảng có những phụ nữ dìu những ông già đầu quấn khăn rằn mà họ bảo là cha hay ông nội, ông ngoại của họ. Phần nhiều những người này bị suy kiệt và nhiễm trùng đường tiêu hóa, nhất là kiết lỵ và viêm gan, có người bị sốt rét rừng. Họ được khiêng đến chúng tôi trong lúc cơn bịnh đang hoành hành…
Sau các ông già ấy là các bà già, sau nữa là một số phụ nữ. Họ cười đùa và nói chuyện với các nữ y tá của chúng tôi một cách thoải mái.
Bác sĩ Phan Ngọc bảo nhỏ vào tai tôi “Tôi nghi các cô phụ nữ này quá! Trong một vài phút nữa các cô dám mời mình nhảy sol-đố-mì lắm!”.
Lúc đó cách chúng tôi khỏang 2, 3 cây số, máy bay săn giặc nhào lên bổ xuống bắn phá dữ dội, nghe cả tiếng súng lớn và tiếng bom nổ.
Ông xã trưởng cũng vừa xuất hiện, ông chào bác sĩ Ngọc và nói với chúng tôi: “Đó là vùng oanh kích tự do, họ đang đánh nhau”.
Bà cụ mà tôi đang khám cũng cho tôi hay “Họ đánh nhau hà rầm, chuyện xảy ra như cơm bữa, bác sĩ đừng có lo”.
Lúc này thì bác sĩ Ngọc thật sự sợ. Anh quên hẳn chuyện có thể các phụ nữ mời anh nhảy sol-đố-mì. Anh hối anh em khám bịnh cho thuốc cho nhanh đặng về sớm. Thật sự tôi còn sợ hơn cả anh ấy nhưng cố giữ vẻ mặt bình tĩnh. Nhưng càng trưa số bịnh nhân càng đông. Thuận Trung không phải một xã mà lớn hơn xã, nó là một làng giàu có, dân chúng đông đúc. Mặc dầu người dân sống ở đây thường gặp tai nạn chiến tranh, nhưng họ vẫn bám ở đây mà sống vì đời sống ở đây sung túc.
Một người đàn ông đi nạng, cụt mất một chân, tay phải xách con gà, đang tươi cười tiến tới. Anh đang đứng trước tôi, môi anh run run:
Thật sự lúc ấy tôi hoàn toàn không nhớ. Tôi cố nhớ anh là ai, gặp anh hồi nào. Nhận ra một người là bịnh nhân quen của mình, trong hoàn cảnh này là sự cần thiết và có lẽ may mắn cho tôi và cho cả đội y tế nữa. Nhưng tôi đành chịu, không thể nào nhớ…
Anh nói tiếp:
– Em là Nguyễn văn Chín, gần ba năm về trước bác sĩ đã cứu em. Em bị thương do một cốt mìn từ máy bay rải xuống chưa kịp nổ. Bác sĩ cưa chân em và cắt một phần… Anh vừa nói anh vừa chỉ vào háng.
Nghe tới đó, tôi vụt đứng dậy:
– Chín! Anh Chín! Tôi nhớ anh rồi. Trong ba năm tôi cứ mong gặp lại anh, để tiếp tục điều trị cho anh, nhưng sao anh không tái khám đúng theo giấy hẹn…
Cách đây gần ba năm, vào khoảng 1 giờ sáng tôi nhận một ca gửi từ quận Thới Long, tức cũng là làng này. Nạn nhân là một nông dân, đi cày đạp phải mìn,1 phần 3 cẳng chân trái biến mất, lòi trơ xương chầy, và phần ngọn dương vật của anh cũng bị mảnh mìn cắt đứt và biến mất.
Anh được chuyển về tôi hơi trễ, đã 7 tiếng sau khi bị thương. Anh bị choáng nặng, bất tỉnh không hay biết gì nữa, tim nghe rời rạc, mạch không bắt được. Anh bị mất máu quá nhiều và cả nhiễm trùng.
Sau khi được phẫu thuật, sức khỏe của anh phục hồi rất tốt. Tôi có ý định sau này sẽ gửi anh ấy về khu Tiết Niệu thuộc trường Y Sàigòn để tái tạo dương vật của anh. Nhưng sau khi xuất viện không thấy anh trở lại tái khám. Chúng tôi cũng quên hẳn anh đi.
Tôi hỏi bịnh nhân:
– Sao sau khi xuất viện, có cái hẹn tái khám, mà không thấy anh trở lại?
Người bịnh nhân cũ thều thào:
– Thưa bác sĩ, vợ em nói thôi, “nó” như vậy cũng được rồi. Em vẫn chống nạng cày thuê được mà giờ khỏi sợ phải đi lính đi tráng gì hết.
Anh vừa nói vừa nhìn sang chị vợ đang đứng ngoài xa rồi quay lại nói với tôi:
– Từ hôm qua, vợ chồng em biết bác sĩ hôm nay đến khám bịnh cho đồng bào, nên em xin biếu bác sĩ con gà mái ấp để bác sĩ đem về Cần Thơ nấu cháo.
Tôi quyết liệt từ chối. Có nhiều lý do lắm, nhưng tôi chỉ nêu lý do là tôi không thể mang con gà từ Thuận Trung về Cần Thơ được.
Tội nghiệp chị vợ, chị chạy lại gần tôi, nói rất thật thà:
– Xin bác sĩ nhận đi bác sĩ. Đó là con gà mái ấp, xương mềm, nấu cháu ăn bổ lắm bác sĩ.
Thật sự nghe tới đây, không chỉ tôi mà ngay các cô điều dưỡng cũng muốn khóc. Họ nghèo quá, không biết lấy gì để tỏ lòng nhớ ơn tôi, chỉ còn một con gà mái đang ấp trứng, họ cũng bắt nó đem cho tôi.
Nghĩ tới cái ổ trứng không còn gà mẹ, lạnh tanh vào giờ này, ai cũng ray rứt. Cuối cùng không phải một mình tôi mà cả đội y tế, nhất là các cô y tá nhất quyết yêu cầu hai vợ chồng đem con gà về trả lại cho ổ trứng.
Chúng tôi sửa soạn ăn trưa, thì thấy một nhóm thanh niên nam nữ và hai ông bà cụ khiêng một bịnh nhân tay ôm bụng xem chừng bịnh nặng lắm và đã lâu ngày. Bịnh nhân được đặt nằm ngửa trên một tấm phản, phủ trên thân người một cái mền màu xám, loại mền quân-tiếp-vụ của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Tôi nghe bà mẹ bịnh nhân nói:
– Không sao đâu con, các bác sĩ sẽ cứu con… Rồi bà khóc…
Bấy giờ tôi thấy bác sĩ Ngọc nở nụ cười, có lẽ anh thấy yên tâm vì chúng tôi được quần chúng địa phương này tin yêu. Anh đến hỏi thăm bịnh nhân. Người bịnh lí nhí nói không ra lời, người cha đứng bên cũng lặng thinh, còn bà mẹ chỉ biết khóc và than vãn chiến tranh làm khổ gia đình bà. Bà đã mất mấy con trai vì chiến tranh, “Nay chỉ còn thằng này là thằng út duy nhất còn lại, mà bây giờ nó cũng…!”.
Bác sĩ Ngọc đến giở mền, mắt gắn chặt vào ổ bụng bệnh nhân, miệng há hốc. Tôi chỉ nghe anh kêu lên một tiếng “Trời”! rồi anh chụp mền lại, không đủ can đảm nhìn thêm nữa. Cả toán y tế chạy lại, anh xua họ đi . Anh gọi tôi lại, vén mền, nắn ổ bụng bệnh nhân. Tôi nghe anh hỏi người bịnh:
– Đau không em?
Tôi thấy người bịnh nhăn mặt.
Tôi đến giở mền kéo thấp xuống, bảo bịnh nhân co chân lại khép hai đầu gối lại, há miệng thở nhẹ tự nhiên. Tôi sờ các sợi lạt vót nhọn được may vào thành bụng của bịnh nhân, đã khô cứng, và vết thương thành bụng đã nhiễm trùng, có chỗ đã viêm mủ, bốc mùi.
Tôi hỏi bịnh nhân bị thương hồi nào và mổ bao lâu rồi, và bây giờ bụng anh có đau không?
Không chờ bịnh nhân trả lời, bác sĩ Ngọc nói ngay:
– Còn hỏi gì nữa, viêm phúc mạc rõ ràng quá, bịnh nhân đã nhiễm trùng huyết đang bị sốt cao độ.
Rồi anh than vãn:
– May thành bụng bằng lạt vót nhọn, quá sức đau khổ…
Nhưng sau đó anh lấy lại bình tĩnh, hỏi tôi:
– Bây giờ làm sao?
Tôi chưa kịp trả lời và thấy bác sĩ Ngọc đã bình tĩnh lại, nên toàn toán y tế đổ nhào đến đã nhìn bụng bệnh nhân. Không ai nói được nên lời. Chỉ có cô điều dưỡng Hy, chuyên viên gây mê hồi sức la lớn:
– Trời hỡi! May thành bụng bằng tre vót nhọn! Tội quá đi… Và cô đưa hai tay lên ôm đầu…
Bác sĩ Ngọc nhìn tôi, lặp lại câu hỏi:
– Giờ tính làm sao?
Không chờ tôi trả lời, toàn toán y tế đều muốn đem ngay nạn nhân về bịnh viện Cần Thơ điều trị. Tôi cũng hiểu rằng đó là điều bác sĩ Ngọc mong muốn, dù anh không dám nói ra. Ngay sau đó anh ra lệnh truyền dịch cho bịnh nhân để tái tạo lại các các chất điện giải và nước.
Một số nhân viên y tế thực hiện y lênh của bác sĩ Ngọc, số còn lại quay lại sữa soạn bữa trưa. Đã gần hai giờ chúng tôi đói thật sự, nên cái hứng thú vui hưởng khí hậu đồng quê cũng biến mất.
Chợt các cô điều dưỡng nhìn tôi và nói:
– Vợ chồng ông bà Chín, bịnh nhân của bác sĩ, cả gia đình họ quay trở lại kìa.
Nhìn lại, tôi thấy hai vợ chồng anh Chín cùng mấy đứa con khệ nệ bưng mấy rổ cơm nóng phủ lá chuối và hai nồi canh chua to đang bốc hơi nghi ngút.
Tưởng họ làm thịt con gà, tôi phàn nàn:
– Tội quá đi anh chị Chín, anh chị làm thịt con gà mái thật sao?
Chị Chín nhanh nhẹn trả lời:
– Thưa bác sĩ và các cô, không phải thịt gà đâu. Đó là nồi canh chua nấu với cá lóc, xin mời bác sĩ và các cô dùng.
Bác sĩ Phan Ngọc nhìn vào nồi canh chua, ngạc nhiên hỏi:
– Cá lóc ở đâu mà sẵn vậy?
Chị Chín nói:
– Anh Chín trả con gà mái vào ổ, rồi chạy xuống lạch trước nhà, anh lặn lật cái chum bể mà anh để đó cách đây mấy tháng, trông có con “lóc chiếc” gì chun vào đó ở không. Hên quá bác sĩ, ảnh bắt được con cá lóc bông cân gần 2 kí. Anh nấu liền nồi canh chua để mời bác sĩ và các anh chị.
Nghe xong, bác sĩ Ngọc cám ơn và quay lại nói cùng anh chị em trong toán y tế:
– Ở đây đời sống có vẻ sung túc, nên dầu có khó khăn do chiến tranh, người dân vẫn bám ruộng bám vườn mà sống.
Toán Y Tế Về Làng của chúng tôi trở về bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa tại Cần Thơ đúng 5 giờ chiều. Chiếc xe ambulance chở bịnh nhân và cha mẹ anh đến thẳng Phòng Cấp Cứu Ngoại, CCN. Giấy tờ nhâp viện của bịnh nhân anh đã làm trước, ngay tại lều y tế Thuận Trung. Anh yêu cầu tôi túc trực bên bịnh nhân, còn anh thì anh phải làm việc với bác sĩ giám đốc bịnh viện. Nếu cần, anh phải làm việc với cả an ninh quân đội vì anh vẫn còn tại ngũ.
Anh bảo tôi: “Phải thận trọng, đừng để anh em hiểu lầm mình”.
Tôi di chuyển bịnh nhân vào phòng CCN. Anh Diệp Phùng, y tá trưởng phòng CCN trực hôm ấy liền đến phụ tôi, đưa bệnh nhân từ brandcard sang giường cấp cứu. Anh tiếp ứng tôi rất chu đáo. Anh thăm hỏi bịnh nhân, nhìn vào giấy tờ nhập viện mà bác sĩ Ngọc đã làm sẵn, anh nói với tôi:
– Thưa bác sĩ, “tụi nó” vừa giựt mìn sập cầu Cái Tắc, một chiếc xe đò bị lật, một người chết, tài xế bị thương nặng cùng với năm người khác. Hôm nay thứ Bảy mà xui thật, lãnh đủ. Bác sĩ Vĩnh và Bác sĩ Quốc đang mổ cấp cứu.
Nói xong, anh đến xem lại bịnh nhân. Anh đọc hồ sơ, vén drap lên, nhìn thành bụng bệnh nhân. Tôi thấy anh thất sắc. Anh chạy đến bên tôi, quát lớn:
– Bác sĩ và bác sĩ Phan Ngọc tiếp thu thằng Việt cộng này ở đâu vậy? Tôi biết mà, Thuận Trung, Cờ Đỏ là “chiến khu” của tụi nó…
Tôi chưa kịp phản ứng, anh tiếp tục hét lớn, chửi thề:
– Đ.M… Chỉ có tụi bác sĩ Việt cộng mới may thành bụng bằng lạt, bằng tre vót nhọn. Nó là thằng Việt cộng. Bác sĩ rước Việt cộng vào nhà… vào nhà thương.
Anh định chạy đến giật chai dịch đang chuyền cho bịnh nhân. Các cô y tá và cả toán y tế đang có mặt trong phòng CCN liền nhảy đến ôm anh lại. Cô Hy, chuyên viên hồi sức gây mê nói:
– Người ta bị thương mà anh Phùng…
Diệp Phùng vẫn không nghe, tiếp tục la hét và nguyền rủa người bịnh. Anh nhảy bổ vào định đánh người bịnh. Anh chỉ mặt bịnh nhân, hét lớn:
– Vì mày, vì bọn Việt cộng tụi mày mà con tao chết, và anh nhào đến để đánh bịnh nhân.
Tôi trì kéo với anh Diệp Phùng, nhất định bảo vệ người bịnh của mình. Một cánh tay choàng qua vai tôi từ phía sau, nắm cổ áo anh Diệp Phùng ghì lại, và giọng nói của bác sĩ Vĩnh vang lên sau lưng tôi:
– Nó bị thương nặng. Không được hành hung bịnh nhân, anh Phùng!
Anh Diệp Phùng khựng lại và bị bác sĩ Vĩnh kéo rời xa người bịnh. Tôi quay lại, cám ơn Bác sĩ Vĩnh. Bác sĩ Vĩnh người cao lớn, tốt nghiệp y khoa tại Montpellier – Pháp. Anh chuyên về giải phẩu lồng ngực. Bác sĩ Vĩnh cho tôi hay anh vừa mổ cấp cứu xong. Anh hỏi tôi:
– Anh có cần tôi phụ anh mổ ca nầy không?
– Cám ơn anh. Có lẽ không, vì anh Ngọc có kế hoạch mổ ca này với tôi ngay chiều tối nay.
Sau đó Bác sĩ Vĩnh chào tôi, ra về.
Anh Diệp Phùng đang ngồi trên ghế, trong một góc tường của phòng CCN, thở hổn hển. Anh có vẻ mệt. Không hiểu vì anh còn tức giận hay vì bị bác sĩ Vĩnh nắm cổ áo chặt quá khi cố dở họng anh lên và kéo anh xa bịnh nhân.
Tôi biết anh Diệp Phùng hơn ba năm trước, khị tôi đến làm việc tại bịnh viện này. Anh đậu ưu hạng khóa “Infirmier d’État” tại Chợ Rẫy – Sàigòn vào những năm 1950. Những năm về trước anh là y tá có văn bằng cao nhất, Y Tá Quốc Gia, trong binh viện. Anh là y tá yêu nghề, biết thương yêu kính trọng bịnh nhân, được nhiều bằng khen thưởng. Anh được cất nhắc làm Trưởng Phòng Cấp Cứu Khoa Ngoại, một chức trách cao nhất (plafond) của y tá.
Anh có gia đình, vợ và 4 con: 2 trai, 2 gái, với một đời sống gia đình mẫu mực. Con trai lớn của anh vừa đậu tú tài 2, bị động viên, thụ huấn tại Trường Sĩ Quan Bộ binh Thủ Đúc. Bất hạnh cho anh, con trai anh, một trong những sinh viên sĩ quan bị chết vì dịch viêm màng não do trùng Méningocoques bộc phát bất ngờ trong quân trường Thủ Đức năm 1969.
Cái chết của con trai anh là một tai biến khủng khiếp cho gia đình anh, và là thảm họa cho riêng anh. Anh trở nên phẫn uất, phản kháng với tất cả mọi người, anh trở nên nghiện rượu và trong cơn say, anh nguyền rủa chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, chửi Mỹ, lên án Việt cộng.
Anh trở thành người chống cộng hung bạo. Anh thường bảo là tại Việt cộng mà con anh chết. Ngày đầu tiên tôi gặp anh, anh đã nói chuyện với tôi trong hơi men của rượu.
Tôi vào phòng phẫu thuật trễ, chưa kịp xin lỗi, bác sĩ Ngọc đã nhìn tôi với nụ cười rạng rỡ:
– Nào, phải kiên trì làm việc với ca này. Khó đó anh…
Tôi thấy anh đã chuẩn bị cho bịnh nhân rất kỹ. Anh phủ những nép lạt khô bằng bằng gạc ướt sau khi rửa thành bụng bằng thuốc khử trùng. Anh giải thích:
– Phải làm cho lạt mềm, trở thành dẻo, để khỏi bị gãy. Tôi có kinh nghiệm về “vụ” này. Hồi sau Mậu Thân tôi đã can thiệp “mổ lại” hai ca thế này. Tất cả đều xuất viện an toàn…
Sau gần hai giờ làm việc kiên trì, cuối cùng chúng tôi đã giải phóng toàn thể ruột của bịnh nhân ra khỏi mô sợi, không còn đoạn nào bị tắc nghẽn hoặc tím tái.
Chúng tôi cắt bỏ toàn bộ các mô sợi trong ổ bụng rồi rửa ổ bụng, chặm sạch máu. Ruột bịnh nhân đã trở lại hồng hào. Chúng tôi đóng thành bụng sau khi dẫn lưu hai hố chậu.
Trong phòng dành riêng cho bác sĩ viết tường trình phẫu thuật, bác sĩ Phan Ngọc nói với tôi:
– May ổ bụng bằng lạt vót nhọn, quá đau khổ. Đau khổ cho cả bịnh nhân lẫn bác sĩ. Chiến tranh! Khốn nạn! Chiến tranh thật khốn nạn!
Chúng tôi ra khỏi phòng phẫu thuật lúc 11 giờ đêm. Cuối tháng tư, bầu trời đầy sao đẹp lạ thường. Tôi thư thả tản bộ trong sân bịnh viện, muốn tận hưởng những giây phút thoải mái sau một ngày lao động vất vả.
Chợt nghe tiếng anh Diệp Phùng chào tôi:
– Thưa bác sĩ, bác sĩ chưa về nghỉ sao?
Tôi chưa kịp trả lời, anh ấy chỉ tay về cuối chân trời xa:
– Bác sĩ có thấy hỏa châu, trái sáng đầy trời không? Họ lại đánh nhau. Dân chúng lại bị thương, chết chóc. Bác sĩ về nghỉ đi. Không khéo, khuya nay lại phải vào mổ cấp cứu nữa!
Tôi đến bắt tay anh để ra về. Diệp Phùng nắm chặt tay tôi trong hai bàn tay anh rồi hỏi:
– Thằng nhỏ Việt cộng mà bác sĩ và bác sĩ Phan Ngọc mổ liệu có hy vọng gì không?
– Tôi nghĩ là hy vọng… Và rất tốt…
– Ừm! Được vậy, tôi cũng mừng cho nó…
Viết xong tại Bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa Cần Thơ- mùa Hè 1972
Cập nhật lần cuối vào Nov-2014-Chicago-Illinois-USA
Phần 18 – Những Việc Gì Xảy Ra Từ Năm 1939 Đến Năm 1943
(Tôi được chứng kiến)
Tôi đã tiêu đầu lạn ngạch, tức làm việc cháy đầu phỏng trán, tức chịu khốn chịu khổ đủ mọi cách, hoặc nói theo lời bà thân ông kỹ sư Nguyễn Khắc Trương ở gần bên nhà, bà thường dùng câu nà tôi không hiểu nghĩa “cực trần ai lai khí” (?), mới về “gần mặt trời”, và “về làm dâu nơi dinh Thống đốc Nam Kỳ” với chức thơ ký hạng nhứt (secrélaire de premiere classe), sau khi “lăn tròn cục bướu” khắp đó đây suốt mười sáu năm trời luân lưu nhiều chỗ:
– 5 năm Trường Máy đường Đỗ Hữu Vị (nay là trường Cao Thắng) (1923-1928)
– 4 năm công táp phát ngân toà bố Sa Đéc (mấy năm vui nhứt vì còn trong tuổi xuân xanh) (1928- 1932)
– 4 năm sở Địa bộ quê nhà, Sốc Trăng, báo ân báo hiếu cho cha mẹ… (1932-1936)
– 3 năm toà bố Cần Thơ, đứng bàn ông chánh (thông ngôn quan chánh bố) làm giàu dễ ợt nhưng tôi không màng, một mực làm theo lương tâm, ăn ngay nói thẳng. (1936-1939)
Gọi “gần mặt trời”vì làm với đầu xứ; gọi “làm dâ” vì làm đây cực nhọc và phải cho kín miệng, động một chút là bị đổi đi xa bất tín dụng luôn nhưng được chút an ủi là thêm lương mỗi tháng mười lăm đồng gọi tiền xúp (supplément) duy phải làm mỗi ngày thêm một giờ, như trưa ra sở 12 giờ thay vì 11 giờ 1/2 và chiều trễ tới 18 giờ thay vì về từ 17 giờ 1/2 như các sở khác.
Lúc đầu tôi làm “dâu phụ”, “dâu ghẻ”, vì còn chờ ở trên giám nghiệm tôi về khả năng. Vì vậy mấy tháng đầu, tôi được bổ làm phụ tá cho một thơ ký nhỏ tuổi hơn tôi và đó là thơ ký công nhựt Dương Văn Minh sau làm đến đại tướng. Ông Minh, nầy là người rất dễ thương và vốn dòng lễ giáo nho phong. Ông là nhỏ nhất trong dinh, và trừ vài người đồng chạn, các nhân viên đều là “chú của Minh”, vì đều như tôi, bạn đồng liêu đồng ty với cha của Minh, là đốc phủ Dương Văn Mau. Tôi nói Minh rất dễ thương là thật sự và không có ý nịnh bợ. Sau nầy, cách nhau hơn gần chục năm, Minh làm đến tướng, vinh quang và lừng danh với chiến thắng vào Rừng Sác rượt Bảy Viễn và trận sanh cầm tướng Ba Cụt nơi cánh đồng Chắc Cà Đao.
Một buổi sáng lối năm 1948 nơi Chợ Trời bán chim bán chó đường Hàm Nghi, Minh gặp tôi, ôm choàng lấy cổ như hai bạn thiết cách mặt lâu ngày, tuy vậy “kính nhi viễn chi”, tôi thủ phận “hưu viên trưng dụng trở vô làm ăn lương công nhựt”, bấy lâu không lại gần ông tướng suý nầy, vì xét phận mình, gần thần gần cây da, bóng mát thật, nhưng rủi cây da ngã, đè chết có ngày! Và an phận thủ thường là hơn.
Minh lúc ấy coi về công văn từ các tỉnh gởi lên và từ các ty sở khác (divers services) gởi về. Công việc dồn dập chồng chất không làm xuể, nên tôi được, buổi chân ướt chân ráo nhận việc, cấp làm phụ tá cho Minh. Ông Minh chia cho tôi coi về công văn các sở, và giữ lại công văn các tỉnh hạt có phần ít và khỏe hơn, Minh có một cách làm việc thực tế lắm. Trong khi tôi là một thơ ký già làm việc theo lề lối xưa, nai lưng kệch đi đúng giờ và đúng khắc và cong lưng ghi chép nhón và cho số thứ tự hết tất cả công văn thu nhận rồi gởi lên đãi lịnh bề trên là ông đốc phủ xếp ở lên lầu, Minh chê rằng làm như vậy đã mệt mỏi mau chết mà cũng chả ai khen, cho nên Minh đổi phương pháp lại theo ý riêng và chỉ lựa nhón những công văn khẩn cấp và thiết yếu, thì Minh mới ghi vào sổ, cho số thứ tự và bổn thân xách tay lên giao quan đốc phủ, kỳ dư công văn còn lại và Minh cho rằng “không gấp” thì Minh chôn vào nhiều ngăn và hộc tủ có đánh số cẩn thận tỷ dụ như “S” là Sốc Trăng, Sa là Sa Đéc, vân vân, rồi lần lần rỗi rảnh và thong thả Minh sẽ lấy ra ghi sổ, còn lại bao nhiêu thì giờ dư thì Minh sẽ lén dùng để thả xích phê ngoài chợ nhứt là trên đường d’Espagne (nay là Lê Thánh Tôn) ở sát mé sau dinh. Tuy vậy không một ai phàn nàn Minh vì Minh rất biết điều, trong lúc thả rong chơi làm vậy là Minh lấy tin tức về cá ngựa cho “Chú Thân” “Chú Inh” là hai thơ ký đánh máy về ngựa trường đua như mê đào hát và tuần nào cũng cúng tiền mua cỏ cho ngựa côn hơn công tử chạy tiền cho các cô gầy sòng. Đối với tôi, Minh cho tin tức về hát bóng, tuần nào và rạp nào hát những tuồng gì, và Minh có một câu rất mát ruột: “Chú Sển à, tuần nầy Eden hát tuồng hay, không xem thì uổng lắm. Chú để đó tôi làm giúp cho và chú “nhảy dù” đi xem đi kẻo tiếc”. Hoặc giả, đến phiên Minh nhờ tôi và rằng: “Chú coi chừng tiệm giùm tôi, tôi bữa nay lén đi xi-nê một chuyén!:.
Hai chú cháu tôi làm việc đang tương đắc, bỗng Minh bị bắt đi quân dịch. Tôi cũng vừa mãn kỳ làm dâu, được lên lầu làm chung với các bạn và được giao chỗ quan trọng là coi về công văn mật (courrier confidentiel), sau coi luôn về việc dịch các điện tín mật mã (télégramme chiffré). Hai chú cháu bịn rịn chia tay không đành, nhưng Minh từ ấy công danh đốc lộ đi học trường thiếu sinh (école des cadres) vì có tú tài Pháp văn, dư trận chiến Thái Miên vùng Battambang, trở về đóng lon quan hai (trung uý), rồi lần lần lên tột bực làm đại tướng, người hùng một thuở và tương lai hậu vận còn chưa biết được. Vẻ vang thay, Minh.
Tôi nhờ lên lầu, làm quen và kết giao với nhiều bạn mới, nay kẻ mất người còn và không còn nhớ nữa, như:
– Xếp trên hết công chức Việt là ông đốc phủ sứ Phan Văn Ngô, nhà ở Phú Lâm, đường quốc lộ số 4, treo bảng đề “Villa An Phong”, tức “ông Phan” nói lái lại. Ông là một người đức hạnh, trọn đời không nhận của hối, sáng đi xe lửa Mỹ Tho lên, làm việc cho đến trưa, sai tuỳ phái mua một tô hủ tíu, ăn nửa tô với cơm, nằm nghỉ lưng một chút với một tờ báo mượn nơi phòng báo chí (bureau de la Presse), chiều tối đi bộ ra sở lần đến ga xe lửa Mỹ, lên xe về nhà, và luôn luôn như vậy suốt mấy chục năm trời, không thay đổi tánh. Ai dám nói quan lại đời Tây Tà toàn là tham ô? Một giai thoại đáng tức cười là một khi nọ có một anh tuỳ phái kia mới đổi lại nơi nầy chưa biết ý quan, gặp trưa thứ bảy, anh được quan sai đi mua một tô hủ tíu và bốn chén cơm trắng, khi dọn cho quan “thời”, thấy quan chừa nửa tô và hai chén cơm trong bụng phất cờ tưởng quan tử tế cho mình “hầu tàn” anh chàng lấy tô chạy lăng xăng mua trà Huế cho quan dùng, bỗng nghe quan dặn: “Cất mấy cái nầy, chiều tôi ăn rồi sẽ về”. Ấy quan nhờ tiện cặn mà cũng sắm ruộng Phú Lâm như ai và đâu cần hối lộ, chỉ tôi nghiệp anh tuỳ phái thua ngựa, chỉ rửa chén cho quan như mấy anh khác chớ không hơn? Tôi giữ đối với ông Ngô, một lòng kính cẩn và ông là người đức độ, khi rầy la cũng nhỏ nhẹ, nhưng lời nói đoan trực làm cải hối được nhiều người.
Phụ tá cho ông Ngô, là ông đốc phủ Nguyễn Văn Bá, người gốc ở Cái Bè (Mỹ Tho), lúc học Chasseloup, trên tôi ba lớp, ông lớp 4c année gần ra trường thi tôi mới vô lớp 1ère année. Ông người đức hạnh, học trường hành chánh ở Hà Nội về suốt đời làm ở Sài Gòn, và không đổi đi lục tỉnh, vì tánh ông không ăn hối lộ. Ngộ nhứt là suốt đời làm quan, ông chỉ sử dụng có một cây bút chì, loại một đầu xanh một đầu đỏ, buổi ấy chưa có loại atomic BIC như nay, vì ông là trưởng phòng công văn cơ mật và thông thường, các thơ ký dâng lên ông, ông chỉ xem kỹ rồi dùng bút ghi mấy chữ lặp đi lặp lại mãi những ngày nầy tháng nọ, tỷ như: M.S. Cl., có nghĩa là “Ông S. Cất luôn (classer)” vào hồ sơ, hoặc giả như:
– “sortie”, tức công văn đã xem, nay không cần trình lại;
– “entrée”, tức công văn cần ghi chép chỉ thị dặn xong rồi cho trở vô đãi lịnh lần nữa;
– “sortie définitive”, tức công văn đã giải quyết xong.
– “entrée définititive”, tức công văn phải ghi chú lời dặn rồi gởi vô quan trên (tức chánh đầu phòng của thống đốc) để quan lưu trữ vĩnh viễn, vì đó là công văn hệ trọng hoặc cơ mật, để ngoài e lậu sự.
Khi tôi biết sắp được đổi về tỉnh nhà là Sốc Trăng, tôi lưu niệm lại anh em dinh Thống đốc bằng cách đề nghị gởi lại bản dịch Việt ngữ để thơ ký và tuỳ phái khỏi lầm lộn, là ghi thêm dưới bốn danh từ Pháp văn nọ như vầy?
– entrée, tôi đề nghị dịch “cho vô”;
– sortie, dịch “cho ra”;
– entrée définitive, dịch “cho vô luôn”;
– sortie définitive, dịch “cho ra luôn”;
Về sau, không biết có ai kẻ vạch, ông sai bỏ hết những bìa các hồ sơ có ghi câu Việt văn do tôi đề nghị, vì đọc lâu thấm mật, thấy có ẩn ý điệu Hồ Xuân Hương cái gì cho vô, cho ra, cho vô luôn rồi lại “cho ra luôn”!
Khi ấy thì tôi đã về xứ sở, dẫu trách tôi cũng không nghe. Tuy vậy ông Bá không giận, bằng chứng là sau năm đảo chánh 1945, ông gặp tôi giữa Chợ Mới Sài Gòn, ông bắt tay niềm nở làm tôi cảm động. Tánh ông rất kín miệng nhưng ông vô thưỏng vô phạt, không hại ai mà cũng ít giúp ai. Ông có một sức nhớ phi thường nhờ vậy mà ông thăng chức đều đều. Công văn chánh văn phòng hay thống đốc khi trở ra có ghi chú câu nào ông đều nhớ để bụng, một ngày nào quan muốn tìm xem lại ông biết ngay chỗ, không mất thì giờ, dẫu cách mấy năm hay cất chỗ nào ông vẫn không quên.
Ông Bá, có một bạn ba chữ “đ”, đồng liêu, đồng hương, và “địch thủ”, danh từ sau chót tuy không đúng nhưng tả rõ tâm trạng cả hai, và cả hai đều cùng một quê quán ở Mỹ Tho, đồng ngạch đốc phủ và đồng hạng, duy trở nên thù ngầm mỗi kỳ vận động xin ăn lên. Ông nào không được lên đều tam sầu bạch xác (tâm sầu bạch phát), khổ não ra mặt, cho đến khi quan Tây thấy vậy cho thăng chức cả hai thì mặt méo mới trở lại no tròn, và ông sau là ông T.M.P. tú tài Pháp học bên Pháp, bổ ngạch huyện khỏi thi, mặt trắng đẹp trai, có vợ con nhà giàu xứ Gò Công, có nhà lầu chợ Mỹ, đốc phủ sứ trật ngạch, chánh đầu phòng “phòng bản xứ chánh trị sự vụ” (doc-phu-sư de classe exceptionnelle, chen du bureau des affaires politiques indigèces, gọi tắt là bureau des A.P.I., tức sở coi về việc nổi loạn, tù chánh trị, tôn giáo v.v…).
Ông người tốt, hiền, nói tiếng Tây rất giòn, nghe đồn lúc nhỏ ông rất vất vả, nhờ người chị có nhan sắc nên ông anh rể đốc phủ hàm cho sang Pháp cùng theo học với cậu con, nhưng khi trở về, ông đậu tú tài được bổ quan, còn ông kia trở nên bầu gánh cải lương, phong lưu công tử nức tiếng một thời và tên Georges Ph…
Kể qua bạn đồng liêu trên lầu dinh Thống đốc lúc ấy còn có quý ông:
Nguyễn Hữu Hậu, sau là tỉnh trưởng Biên Hoà, lúc đó coi về công văn gởi đi không biết nay ông còn ham hút thuốc chăng, chớ thời đó, ông vấn thuốc thật khéo và thật lớn, tánh tình ông dễ dãi dễ thương.
Khi ông Hậu đi, người lại thế là ông Trương văn Thành nay ẩn sĩ ở Vĩnh Long, người hiền và đạo đức, một lòng tu thân, nên lánh xa việc thế, quan lớp Tây thuộc, ít người theo kịp ông, và trên đời ngày nay còn gì hơn là để cho quên, đừng ai nhắc đến. Hoan hô ông Thành!
– Coi về dây thép điện tín không mật là chú nhỏ Trần Văn Cự.
– Người sau lưng Cự, là A-ngành, đã nói nơi đoạn trước. Công Văn Thường.
– Ngồi ngó qua Ngành là ông huyện Hồ Văn Sĩ, sau làm tỉnh trưởng, lúc đó coi về ghi số, đề ngày, các chỉ dụ Thống đốc ký và cho ban hành (gởi đi Bà Rá là ở chỗ nầy).
– Ông đốc phủ Mau, sau tôi lên thế, coi công văn mật và điện tín mật, ngồi sát cửa ra vô phòng Phó Chánh văn phòng (Chen đe Cabinet adjoint), khít bàn ông Phú Sĩ. Nhưng ông Mau và tôi, có tiếng mà không có miếng. Ông Mau một đời thanh bạch, làm việc hết lòng, đậu hèn lâu khoa phổ thông, nhưng không qua được ngạch trên và khi từ trần chỉ khiêm tốn chức “ngoại hạng thông phán kiêm phủ danh dự” (phủ hàm). Còn tôi, xin cho nói luôn, cho đến nay tôi chỉ chánh thức một thông phán nhì hạng, đến như chức quản thủ Viện bảo tàng, thì đó là chức “lậu”, không chánh thức, anh em thường tình kêu lâng giỡn chơi, và về hưu bổng ngày nay tôi lãnh cũng là hưu bổng tỷ lệ, tính theo lương phán nhì hạng, công mười bảy năm tôi cố thủ Viện bảo tàng (từ 1947 đến 1963 không tính trong hưu bổng nầy). Duy nhờ trời cho tôi sống dai, lãnh lương hưu trí từ 1944 cho đến nay, đã thay ba cuốn sổ rồi mà chưa chết, nếu cộng lại tiền lãnh được, có lẽ đã quá lời quá vốn. Theo tôi tưởng chánh phủ còn phát tiền cho tôi mãi mãi người phát tiền không khỏi nổi cáu rủa thầm tại sao tôi quá cứng cựa, không chết đâu chết phức, cho xong!
Tại sao những vật kín, ngắn bó sát chỗ kia của đàn bà lại ngự trị trong giỏ đựng giấy ở trên lầu trong dinh quan Thống đốc Nam Kỳ như vậy? Số là lúc ấy vào thời gần “tận thế” của chánh phủ đô hộ, khiến sanh nhiều quỷ dâm dục: đàn bà nhí nhảnh lúc ấy lại sẵn sàng bán rẻ chữ trinh, miễn vào đây xin được một cái bông với quan chánh hay quan phó văn phòng để khi mua vài thước hàng lụa, khi để có một cục xà bông thơm hay vài ký đường buổi khan hiếm vì Nhựt phong toả đường biển, thì “cái ngàn vàng kia” đâu có mòn mà hòng tiếc? Ông Chánh được mồi thì dắt lại phòng ông Phó và xong rồi quăng ngay nùi giẻ vào sọt giấy ngay trên đầu hai anh đánh máy Inh và Thân, vì vậy mà thua ngựa mạt cộng từ đường. Đến phiên ông Phó săn được mồi ngon, thì đưa xuống mượn phòng ông đốc phủ nơi gọi bureau des A.P.I đã nói nơi trước và mỗi lần như vậy ông dối bề trên rằng đi học và trau dồi tiếng bản xứ!
Mấy năm trước nữa, gương bày đầu làm việc trên bộc trong dâu như vậy là lão Pagès (đọc “Ba-ghè”). Lão ta rất hảo ngọt và trang trí nguyên một Bá-lạc-đài trên Thủ Đức, nay còn để tiếng.
Người tài xế cho ông, tôi còn nhớ là anh Dền, một tay lái xe tuyệt luân và cũng một tay kiếm mèo về nạp cho quan tài dách. Anh thuật với tôi mỗi lần anh dẫn một bà thì ăn còm-mi-xi-ông bằng cách viết sẵn cái “bon” mượn quan năm chục bạc. Và đợi kỳ sau rước bà ấy nữa thì chực sẵn đôi ba chục lo le xin trả lại quan. Anh Dền cười và nói mười lần như một khi xin trả mớ nhắm và hẹn trả nốt khi khác, trước mặt bà, Dền vẫn được chửi “mấy là thằng con heo” (tu es ùn cochon”, nhưng chửi rồi thôi, quan không khi nào đòi tiền, và Dền nói không biết ai heo hơn ai! Nghĩ làm tài xế như Dền, tôi đây cũng muốn được như vậy, xe có sẵn người vô dầu và săn sóc, rửa xe có người ở trường máy rửa sẵn, bánh lốp vừa nửa sạc ông Rosel đã lo thay cái mới, và sướng nhứt là mượn tiền thống đốc xài mà không bao giờ trả! Tôi hỏi Dền thay vỏ xe chi thay hoài, Dền đáp quan thường đi hứng gió ngoài Cấp với các bà, giao trong hai giờ phải chạy đến nơi, thường chạy hết tốc lực tám chục cây số một giờ (xe hiệu Delate số C.20), nếu không thay vỏ, rủi chậm trễ thì mất chức, vả lại của ông của cha gì tôi mà tôi tiếc.
Ông Ba ghè (Pagès) nầy có tiếng là thống đốc khó tánh, oai nghiêm và khinh người hơn các ông trước. Ông nghe tiếng quan đốc phủ Đ.N.C là lỗi lạc hơn người, làm đầu phòng nhơn ty (chef de section au bureau du Personnel) trong nhiều trào Thống đốc, ông dẫn theo một vòng lục tỉnh bắt làm thông ngôn, nhưng từ ấy không thấy mời đi nữa, ngầm hiểu lục lục thường tài. Ba ghè mặt sắt như vậy, thế mà trái tim là của một con dê xồm.
Dinh Gia Long, trước kia là dinh Thống đốc nơi phía mặt tiền, chỗ nầy sau lấy làm văn phòng cho ông tổng Diệm, thì lối năm 1936 là phòng giấy bu-rô ông Ba ghè. Cố nhiên, phòng nầy nghiêm mật, năm thì mười hoạ có người thật tai mắt mới được quan soái tiếp. (Soái là tiếng thông thường để gọi ông, vì Thống đốc nghe chưa oai). Nhưng có một người được ra vô thong thả, không cần gõ cửa xin phép, và đó là chỉ có một ông quản vệ uy tín cẩn nhứt, các ông đốc phủ cũng nhường bước sau ông và đó là ông Vệ Kỳ. Ông Vệ Kỳ, ngày thường, luôn luôn o bế một cái mâm nhỏ bằng gỗ cẩm lai, lâu lên nước bóng láng đỏ như nhuộm son, lớn cỡ 0,20 x 0,15; khi tôi thấy vật nầy thì vì lòng hiếu cổ tôi ước ao muốn lắm, vì là vật cổ tích của nhiều trào phó soái, đã có từ đời Tây mới qua đây, (theo lời Vệ Kỳ). Tôi cố ý nài hoài xin đổi với một cái mâm khác, có lẽ tốt hơn và tiện hơn mâm cũ nầy, nhưng Vệ Kỳ khăng khăng một mực từ chối, rằng sợ quan biết sẽ phạt nặng. Cái mâm ấy, tôi quên nói, dùng để đựng thơ từ quan trọng cần dâng lên phó soái, và mỗi ngày Vệ Kỳ đều có dùng, và sở dĩ tôi muốn đổi để làm của, vì tôi cho cái mâm ấy là một lưu vật biểu hiện của mấy trào nô lệ thời Pháp thuộc. Nhưng nếu tôi cà kê như vậy mãi e lạc đề, vậy xin nhắc lại một bữa sáng chúa nhựt kia, tôi đến phiên trực nên như thường lệ tôi phải vô làm việc, mặc dầu tuồng xi-nê hôm đó hay lắm. Đến trưa ông Vệ Kỳ ôm công văn xuống giao cho tôi, nhưng tôi để ý và lấy làm lạ, vì mặt ông Vệ không còn một chút máu, xanh như tàu lá, xanh thấy sợ. Tôi với ông là chỗ thâm giao, nên tôi vội hỏi dồn và lo lắng cho ông. Nhưng ông cứ lắc đầu không trả lời. Hỏi han không nói, đến lượt tôi van xin cầu khẩn một cách thật tình. Hỏi mãi Vệ Kỳ chỉ rưng rưng nước mắt và trả lời xuôi xị: “Hỏi làm gì. Ông coi về confidentiel (việc cơ mật), trước sau gì rồi ông cũng biết. Tôi chắc lần nầy chết, ông à!”.
Nhưng rồi Vệ Kỳ không chết. Rồi một tuần qua, một tháng qua, Vệ Kỳ vẫn sống nhăn và không thấy gì. Ít tháng sau lại đến phiên tôi trực nữa. Chuyến nầy tôi theo bên lưng gạn thét, Vệ Kỳ bèn thú thiệt: “Hôm cái ngày xui xẻo, hôm trước đó, hì hì! Tôi mắc tiêu quá nên tôi mượn thằng dịch vật là thằng Đội Cửu, đứng coi giùm cửa ông Lớn hộ tôi vài phút. Cửu nó lên ngồi chỗ tôi, tôi thì chạy xuống cầu tiêu xong rồi trở lên liền, dịch vật thằng Cửu nó không nói gì, nên tôi yên tâm cứ phận sự mà làm. Một lát kế đó tôi nhận được một bức công văn thượng khẩn để trong bì thư có con dấu đóng “Ultra secret” (Tối mật) và một con dấu khác “Très urgent” (Hoả tốc), hai con dấu đỏ lóe, thấy mà ghê, khiến nên tôi lật đật lấy mâm cây đặt bì thư lên trên, rồi tôi thản nhiên đến cửa vặn chốt bước vô. Rủi cho tôi là lúc ấy tôi muốn thối bộ cũng không thể nào kịp và trước mắt tôi hiện ra cảnh ông Lớn đang đứng đè cô đầm nhỏ đánh máy sát vào vách, còn miệng ông Lớn thì đang ngậm một nhũ hoa của cô đầm, và tay ông Lớn đang vò cái kia như ta vò xôi vò! Trời mẹ ôi! Khi ấy tôi sợ quá mà cũng không biết làm sao, thấy lỡ và bại lộ hết rồi! Tôi rút lui, tôi hồi hộp và lo sợ trót tháng. Bây giờ nhắc lại tim tôi còn đập mạnh và có lẽ sau nầy tôi chết vì bịnh đau tim. Tôi có trách thằng Cửu, nó chối đong đỏng, nó thề bán mạng, nó đổ thừa cô đầm vô phòng lúc nào nó không thấy, sau tôi rõ lại thằng Cửu nó không ngồi một chỗ như tôi, nó bỏ chỗ, chạy chỗ nầy chỗ kia nói dóc, và như vậy có phải thằng Cửu nó giết tôi không? May sao thời vận tôi còn đỏ, ông Lớn tốt quá, đại độ quá! Đã không cách chức tôi mà cũng không đổi tôi ra Côn Lôn cho đáng tội. Buổi chiều tôi không dám vô thấy mặt ông Lớn, và chính ông Lớn lối năm giờ mở cửa bước ra chỗ tôi ngồi cú ru, ông cười cười và nói ba tiếng tôi còn nhớ mồn một: “Ne recommence plus, Ve!” (Đừng tái diễn như vậy nữa nghe. Vệ!). Thiệt là ơn đức tái sanh tái tạo. Ông Sển nghĩ coi, tội đáng chết, lưu đày tới Côn Đảo, tôi cũng cho là chưa vừa và còn nhẹ, thế mà Tây người ta không nói gì, chớ phải như ai, mồ tổ tôi cũng không còn và có lẽ tôi đã chôn thây ngoài ấy!”.
Rồi tôi đổi về Sốc Trăng, cái mâm nhỏ bằng cẩm lai của dinh Phó Soái không biết thất lạc về đâu trong cuộc đảo chánh năm 1945, khiến nay tôi còn nhớ tiếc mãi.
Tại nhà, hiện có hai cổ vật mà đến nay mới biết giá trị:
1) Một hộp gỗ màu đỏ, trên nắp đề bốn chữ “Tấu sự, khâm giám”, mua ở Huế độ sáu bảy chục bạc, và nay mới rõ đó là “hộp đựng sớ tấu” của lục bộ đài quan, dùng dâng cho vua và trao cho nội-giám dâng lên. Người ta tốn bạc triệu mà không có vật nầy. (36cm x 25cm x 4cm).
2) Một mâm cẩm-lai 24cm x 15cm, dáng chữ Nhựt, tôi gặp nơi dinh phủ tỉnh Sốc Trăng, lúc mắc kẹt làm phó tỉnh trường lối 1946- 1947, người tuỳ phái dùng dâng thơ tín lên quan thời Pháp thuộc.
Hai vật nầy, một của triều đình Huế, một của thời Tây, theo tôi, cũng là vật hi hữu, có duyên mới gặp.
(Viết thêm 24-5-1992)
VHS
Ngày nay ngồi đánh máy cộp cộp bất kể lát nữa chết ngay trên bàn bất đắc kỳ tử cũng có thể được, bình tâm xét lại lúc làm trên dinh phó soái, buổi ấy tôi hoàn toàn hạnh phúc mà không hay biết để tận hưởng, vợ chưa ngoại tình, đồng bạc còn giá trị nhiều, tuy Nhựt có in lén bạc giấy xăng mới, và đồ ăn thực phẩm ngoài chợ chưa leo thang như hiện nay, bơ sữa chợ đen giá phải chăng. Tôi nhớ và xin kể ra đây bốn chuyện mà cho tôi rằng lạ, nếu nay không nói e lâu ngày quên phứt cũng uổng, và đây cũng không phải quốc gia trọng sự gì mà giấu kín. Duy xin các bạn cứ xem đó là giai thoại buổi mạt kiếp buổi Tây thuộc, có lẽ vì lâu ngày nếu có sai lạc đôi chút đối với sự thật, xin các bạn lượng thứ. a) Chuyện một ông Tây giỡn chơi và chơi chữ mà thành anh hùng kháng chiến; b) Chuyện cô Ba Trà nhờ giỏi khóc mà khỏi bị đày lên Bà Rá, c) Chuyện phá Khám lớn năm xưa và chuyện anh hùng ra pháp trường chịu tử hình.
a) CHUYỆN ÔNG TÂY CHƠI CHỮ TRỞ THÀNH ANH HÙNG KHÁNG CHIẾN.
Việc đã lâu, quên mất năm tháng và tên họ của nhân vật duy nhớ đại khái như vầy: Lúc Pháp thất trận, ông thống chế Pétain lên lập chánh phủ theo Đức Hitler, thì ba chữ devise (Cách ngôn, tiêu ngữ) cũ của Pháp quốc “Liberté-egalité-fraternité tức Tự Do (liberté), Bình đẳng (Egalité) Bác ái (Fraternité), được đổi lại là:
Travail, tôi dịch cho thật nôm na là “Làm việc” (cần lao)
Famille, tôi giữ ý sát nghĩa và dịch gọn “Gia đình”
Patrie, tôi cũng dịch gọn là “Tổ quốc”.
Lúc ấy đã có chế độ kiểm duyệt thơ tín (contrôle postal), cho nên một hôm sở bưu điện gởi lên thống đốc một bức thơ nhận được của một người Pháp gởi cho một bạn thân cũng Pháp, trong thơ tác giả chơi chữ và nhạo giễu ba chữ tiêu ngữ mới của chánh phủ Pétain đầu hàng Đức, như sau:
Tiêu ngữ Việt ngữ Bị đổi là Dịch là
Travail Làm việc Trahison Làm phản
Famille Gia đình Forfaiture Gia tâm
bạn nghịch
Patrie Tổ quốc Pourriture Thúi nát
Trộm nghĩ đó là một cách giỡn chơi giữa bạn thân, nói lén chánh phủ để mua cười trong buổi bị phong toả vì chiến tranh, và cũng có một phần nào khoe mình là tay giàu văn chương, hay chữ hay nghĩa. Dè đâu giỡn chơi thành thật, ông toàn quyền Đờ-cu không cho là giỡn, và chỉ thị sai thống đốc ký nghị định bắt tác giả đày vào trại phạm nhơn chánh trị ở Long Xuyên (centre d’internement politique à Long Xuyên). Và đến khi trào Pétain đổ tác giả được phóng thích và chẳng như vậy, được tôn trọng như một anh hùng kháng chiến, dám ăn dám nói.
b) CHUYỆN CÔ BA TRÀ
Ngày nay thanh niên chỉ thấy mỹ nhân phần nhiều là giả, là độn, là nhân tạo. Ngày xưa muốn xứng đáng danh từ “mỹ nhân”, phải hoàn toàn là thứ thiệt, răng sún hay có một tí thẹo nhỏ ở chỗ nào cũng không được. Cô Ba Trà thuộc vào hạng ấy. Lối năm 1939, một hôm cô bị bắt và sở mật thám Catinat định tống giải cô lên Bà Rá là nơi đày tù bản xứ làm chánh trị hoặc phạm tội làm bại hoại phong tục nề nếp xưa như tình trạng Cô Ba. Nhưng cô nài nỉ viên thanh tra Pháp khéo thế nào mà cô được dẫn dắt lên quan chánh văn phòng trước khi lên đường đi Bà Rá, nếu cô có tội.
Chánh văn phòng là tham biện nhứt hạng, Dufour, tôi sẽ nói sau, ông có tiếng là tay háo sắc, nhưng thật là người có tánh tốt nhất là thẳng thắng và cương trực, dám ăn dám làm. Cô Ba Trà cặp mắt lưng tròng đo đỏ, hai khóe mũi cũng đo đỏ, được tha ngay, vì ông Dufour hoàn toàn đồng ý với cô: một là cô không khuyến dụ, hai là cha phải nghiêm dạy con trước khi thưa con bị gái làm hư; ba là đây là ý nghĩ riêng của ông chánh văn phòng háo sắc nầy, một người đẹp như cô không thể gởi đày lên Bà Rá.
Tôi giả đò ra xả hơi nơi hành lang để cho người đẹp thấy rằng thằng nhỏ hôm trước đi xe hơi bòm Fiat C. 9032 chung với Thầy Ba Kính, nhạc gia nó, chính là thằng nầy, làm việc dinh phó soái đây! Hôm ấy ra cửa đi về có ba người – người sau bị ám sát góc đường Tự Do và Lê Thánh Tôn là cò Bazin, một lần thứ nhất phải giấu cái còng sắt trong túi, vì lịnh thống đốc, ký trước, đề tên sau vẫn vô hiệu lực trước một mỹ nhân.
Người ra kế, khi vô là cực phẩm đại thần, nghị viên cơ mật viện (membe du conseil privé); khi ra là người thua kiện! Con ông làm lục sự tên Trường, ông không biết dạy, ông đòi bỏ tù ai? Ông tên Tống, dòng Trương Vĩnh.
Người thứ ba là cô Ba Trà, khi vô là một bị cáo mắc nàn, khi ra là một bà hoàng, được ông Chánh văn phòng Dufour tiễn ra tới cửa. Ô! là! là! Sắc đẹp.
c) CHUYỆN PHÁ KHÁM LỚN SÀI GÒN NĂM ĐÓ, TIẾP THEO LÀ VỤ XỬ BẮN 13 NGƯỜI TÙ CÓ TỘI LÀM CHÁNH TRỊ, TỘI CHỐNG PHÁP.
Tôi đã làm mất hồ sơ nầy trong chuyến chạy giặc Pháp năm 1946 tại làng Hoà Tú (Sốc Trăng), nên nay chỉ ghi chép lại theo trí nhớ và không ghi được chi tiết khoa học về năm tháng xảy ra cùng tên tuổi người đương sự, hay người quan hệ. Xin độc giả lượng thứ. Theo tôi định chừng thì việc nầy xảy ra sau khi Pháp khai chiến với Đức quốc và khoảng những năm có quân đội Phù tang để chân lên đất Đông Dương nầy. Lúc ấy lịnh của chưởng lý dạy canh phòng thật nghiêm ngặt các khám đường nhất là đối với tù trọng phạm v.v…
Cái khám đường hay ngục thất mà ngày nay nhắc đến tên đủ rợn tóc gáy là Khám lớn Sài Gòn, vị trí ở ngay Thư viện Quốc Gia đường Gia Long, mà oái ăm thay, người Pháp lúc đó không gọi là khám lại gọi là “nhà” và đặt tên là “Maison Centrale” để tránh tiếng Prison Centrale, mà chính họ cũng không muốn dùng tiếng prison vì nghe ghê rợn quá; duy dân ta lại quá nhàm và đặt là Khám lớn Sài Gòn, cũng không gọi đó là Đại Ngục thất hay Đại Khám đường chi cho rườm. Năm 1953 tôi có viếng và chụp hình được đầy đủ chi tiết để viết một thiên khảo cứu dày, nhưng hỏi ra tôi đành chịu thua, vì chánh phủ không muốn phanh phui những tài liệu của nhà nước như vậy. Trên từng lầu cao, không nhớ rõ từng thứ mấy, duy nhớ ngó mặc qua sở nhà hình, đường Nguyễn Trung Trực ngày nay, có một phòng lớn xây rất kiên cố, vách dày ba mươi phân Tây (ba lớp gạch thứ 0,20 x 0,10 x 0,05), cửa làm bằng sắt, ống khoá cũng bằng một loại kim khí mà người làm, Ăng-lê và Hoa kỳ, tự hào là giũa không ăn, cưa không đứt, chánh hiệu là ống khoá Yale trứ danh. Phòng nầy dùng để giam cầm những người bị khép án tử hình và ngày như đêm vẫn khoá chân vào cùm sắt (trong Nam còn gọi là còng), và những còng nầy vẫn xỏ vào một gông sắt to bằng bắp tay, một đầu gông thì cháy cứng và một tấm sắt thật dày không rút còng ra được, còn đầu gông bên kia thì có khoét lỗ để đặt một ống khoá Yale thật to. Mỗi lần muốn đưa tù đi hầu toà hay đi một việc cần thiết như hỏi cung, trình biện lý cuộc hay “cho ra chơi”, mỗi tuần vài ba mươi phút, thì phải mở khoá rồi rút chân từng người như cá trong xâu gắp, lấy ra, xong rồi khoá chân lại trong cùm. Lâu ngày chân chai đi, chớ lúc đầu lở loét, sanh ghẻ, chảy máu chảy mủ đau đớn lắm. Nội cái cách làm tiền, cai ngục khoá chân tù vào còng rồi, rồi lại nắm chân giựt kéo thử xem có sút tuột ra không, nói đến cũng đủ lạnh mình và tục lệ “khám tối” nầy, là cứ mỗi phiên đúng bốn giờ đồng hồ thì có một “phiên canh”, viên cai xếp mở khoá cửa phòng, vô xem xét lại coi cái khoá gông có còn y như cũ chăng, rồi mới trở ra khoá trái cửa sắt lớn và canh tuần bên ngoài cẩn mật, có thể nói là con ruồi cũng không thể bay vô ra thong thả chốn nầy nếu không có phép của viên cai ngục nầy. (Tôi nói cai ngục chớ chưa phải chúa, vì tôi dành chữ “chúa ngục” để gọi tên Agostini là đầu dọc của khám đường, chức gọi directeur de la Mai son Centrale; cũng chưa hẳn chúa ngục là gác-dan xếp, vì Agosiini là chủ, là chúa tất cả và oai hơn nhiều, nhưng nếu dịch “giám đốc khám đường” thì tựa hồ kém mất oai đi). Ấy vậy mà một đêm tối trời, mưa gió lu bù, vào một giờ khuya khoắt, các xếp cai ngục đang ngủ gục. Giữa lúc ấy (độ một hai giờ khuya), anh cai ngục Chà lai Việt tên là Simoni, có phận sự mở khoá phòng tử hình để vào trong xem xét ổ khoá của cái gông lớn. Vừa đúng lúc ấy, các tù bên trong đã núp chờ sẵn, bỗng tạt mạnh vào mắt mũi tên cai, ngục một mủng vừa chứa đầy nước mắm giằm ớt cay mà họ dành dụm từ nhiều ngày để chờ cơ hội nầy. Tên cai ngục bị ớt cay nước mắm mặn làm cho mở mắt không ra, thừa dịp ấy, mấy người tù nầy lấy áo quần làm dây trói tay chân tên cai ngục bỏ nằm đó, lục lưng thộp xâu chìa khoá và ùn ùn mở khoá cửa kéo nhau chạy ra ngoài, rồi cởi hết quần áo đánh làm dây thang, quăng móc được lên vách ngoài và mặc dầu miểng chai, miểng kiếng chơm chởm, nhưng bất kể kiếng cắt chai đâm, họ cũng liều chết leo ra trốn được không hơn mười người, về sau đều bị bắt lại đủ số, vì làm sao thoát được với cách đề phòng hết sức hoàn bị của Pháp, có điện ba dây, có chuông a-lẹt (báo động) và cách trấn binh phòng thủ năm ngăn, bảy nắp từ trong ra ngoài của cái Khám lớn Sài Gòn có tiếng là khó hạ, khó chiếm (imprenable) nầy? Khi bắt tù trốn về, quan chưởng lý ra lịnh điều tra và có mời một viên chuyên môn từ Pháp quốc qua, để nghiên cứu về kỹ thuật tại sao khoá Yale tuy tù không có khí cụ tinh xảo mà vẫn cắt đứt và trốn thoát được như vậy?
Hỏi: Mấy anh lấy gì để cắt gọng ống khoá nầy?
Đáp: Chúng tôi lén giấu miếng xi-măng rồi thừa dịp cai ngục trở ra, thì cắt.
Hỏi: Mấy anh cắt như vậy trong bao lâu thì gọng khoá đứt?
Đáp: Dạ, cắt trong tám giờ đồng hồ thì gọng khoá đứt lìa.
Hỏi: Tôi không tin, vì trong tám giờ có đến hai lần đi rỏn, đi tuần (faire une ronde), mấy anh làm sao để tránh mất cú vọ kinh nghiệm của gác-dan?
Đáp: Dạ thưa, dễ ợt! Gác-dan ra vô mãi hoá quen và khinh thường. Chúng tôi kinh nghiệm nào thua họ và cứ mỗi lần rỏn họ day lưng ra hoặc chúng tôi canh kỹ biết giờ họ sắp vào trong khám, thì trước đó chúng tôi dùng xà-bông dành dụm phát khi tắm khi giặt, lấy đó đắp lên trên chỗ cắt, màu đồng ổ khoá và màu vàng của xà-bông Mạc-xây vẫn tiệp y nhau, dẫu ông Trời hay Bao Công tái thế cũng không dễ gì khám phá.
Thế là cuộc điều tra kết thúc. Muốn cho hắc bạch phân minh, viên điều tra Pháp yêu cầu một ông quán ty đề hình xỏ chân vào cùm và còng lại, khoá lại bằng ổ khoá Yale và dạy ông cắt thử bằng miếng xi măng, quả nhiên tám giờ đồng hồ gọng khoá đứt lìa, tội nhân tử hình phạm tội gì chớ không phạm tội nói dối!
Để tỏ ra mình tài ba xuất chúng, viên điều tra Pháp, cử nhân khoa học kiêm cứ nhân luật, đích thân đến khám xem xét tại chỗ, sau đó gởi lên chưởng lý và thống đốc tờ phúc trình chê đè các viên chức giữ ngục cũ, hoặc vì dốt hoặc thiếu kinh nghiệm, hoặc vì lơ đễnh, đã “dâng cơm cho lục” nhè ổ khoá gông lại đặt trong phòng giam, khiến nên khi đi rỏn, thì người cai ngục vẫn ở trong tay tha giết của những tù nhân bên trong, đều là bọn bất trị hay liều mạng cùi.
Viên điều tra đưa ra sáng kiến mới mẻ trong phúc trình rằng: “Thay vì đặt đầu gông và ổ khoá bên trong, bây giờ tay hãy đục vách tường khoét một lỗ nhỏ cho vừa lọt đầu gông ra ngoài, rồi khoá cái ống khoá Yale bên ngoài vách. Như vậy tù nhân làm sao thò tay ra ngoài mà cắt ổ khoá được? Cố nhiên khi đi tuần, chỉ cần liếc xem ổ khoá còn y nguyên, thì biết tù bên trong vẫn còn đủ số. Trừ ra khi nào muốn giải toả đầu gông hay dẫn tù ra ngoài, khi ấy sẽ mở khoá, thụt đầu gông vào trong và khi ấy viên cai ngục sẽ đem lính gác có đủ súng ống theo vào trong, thì làm sao tù tạt hắt nước mắm và bắt trói được, như vậy phải lưỡng toàn kỳ mỹ chăng?”
Bản phúc trình nầy tôi thấy mới lạ, nên có sao chép định làm tài liệu để viết và thuật lại khi tuổi già, tiếc thay lúc ấy chạy giặc nơi làng Hoà Tú năm 1946, lúc lính Tây bố ráp, tôi bỏ lại trên giường, giữa đêm khuya và có một nhóm người đến hôi của, thấy bó giấy tưởng là giấy bạc, giành nhau, chừng biết đó là giấy vụn bọn người nầy thất vọng bèn đốt làm đèn rọi để soi kiếm đồ khác, nay tôi tiếc quá!
Nay nhắc lại viên đá khoét lỗ của khám lớn Sài Gòn, khiến tôi phải dài dòng thêm nữa. Số là buổi ấy là thời kỳ chiến tranh, bên châu Âu thì Tây đã thua Đức còn chờ ngày “Dứt chến”, còn bên Đông Dương thì binh Nhật lan tràn hách dịch, người Pháp làm chuyện vá víu chờ thời cơ, cho nên mặc dù lời đề nghị kia có chỗ tuyệt diệu, nhưng khi đem ra thực hành, trong cơn cấp bách như lửa cháy nầy, khiến nên khi đục vách đem đầu gông ra ngoài, thay vì lựa một viên đá cho vuông vắn, người thợ hồ làm việc tạm bợ lấy có và đã chọn một đầu đá có chạy chỉ bất viền khéo léo, vì chung viên đá cổ nầy có khoét sẵn một lỗ tròn đúng ni tấc cho đầu gông sắt lọt qua; khi đặt vào tường, người thợ hồ sẽ lấy xi măng trám bằng phẳng và bít mất những lằn chỉ viền bên kia đi, thì cục đá cổ sẽ hoàn toàn như mới chỉ còn hai mặt liền trơn với vách.
Làm như vậy viên đá đã làm tròn phận sự và giữ được tù khỏi trốn. Nhưng đối với nhà kháo cổ gàn như tôi, tôi vẫn chưa bằng lòng. Số là khi có lịnh chánh phủ sai phá bỏ Khám lớn Sài Gòn, tôi là người có ý định sẵn cho nên tôi đã xin đem cục đá có khoét lỗ ấy về đặt tại sân giữa của Viện bảo tàng, vì tôi cho rằng đó là một viên đá lịch sử, di tích độc nhất của cái gọi là Khám lớn Sài Gòn. Năm trước đây, nhân một buổi hội hiệp bàn về văn hoá và về thư viện quốc gia, tôi có đề nghị ngay với ông bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, kiêm chủ tịch ban Văn hoá thời ấy, rằng nên dựng một cái bia bằng đá, nơi góc đường Gia Long và đường Công Lý, trước mặt tiền Thư viện Quốc Gia, rồi đặt viên đá Khám lớn có khoét lỗ nầy và ghi một đôi hàng chữ cắt nghĩa đó là di tích của một chỗ âm u tù đày “Khám lớn” mà ta đã biến thành một nơi sáng suốt chứa đựng văn hoá văn minh các nước, v.v… Lời đề nghị của tôi được ông N.L. Viên tán thành, và cục đá vẫn còn nằm chờ đợi “có chỗ dùng” nơi Viện bảo tàng; tiếc thay cho đến nay vật đâu nằm đó, cho đến tôi chết ắt không thấy cái bia kia, vì ông Mai Thọ Truyền đặc trách Văn hoá, vốn là đốc phủ sứ, sau làm thanh tra ngạch tài chánh, làm sao nghe một lời đề nghị vô duyên của một thơ ký quèn, bạn cũ mà thi rớt Huyện! Hôm nay tôi viết mấy hàng nầy thì ông đã nằm yên dưới mộ, tôi xin thần minh chứng giám, tôi vẫn giữ tình xưa như cũ, mến phục ông thì có mà không lòng nào kích bác một bạn cũ đồng trường tốt phước hơn tôi.
d) VIỆC GÌ XẢY RA SAU CUỘC TÙ TRỐN Ở KHÁM LỚN NĂM ẤY. ĐÓ LÀ VIỆC XỬ BẮN MƯỜI BA VỊ ANH HÙNG CHỐNG PHÁP.
Sau vụ tù trốn, tờ phúc trình của quan chường lý chạy lên thống đốc có kể vụ mười ba người phạm nhân phạm tội tử hình giam trong khám tối, mặc dầu cửa phòng mở và khoá gông bị phá, mười ba người nầy không vượt ngục. Và tại sao có cơ hội tốt mà không thèm lợi dụng? Ông thống đốc Rivoal, khi đọc tờ phúc trình, không dám tự mình định đoạt và lật đật sai sao chép y nguyên văn và gởi cấp tốc ra Hà Nội đãi lịnh quan toàn quyền. Lúc ấy đường hàng không sử dụng loại máy bay Potez rất chậm chạp, phải hai ngày mới bay từ Sài Gòn ra tới Hà Nội hoặc từ ấy trở về.
Tuy vậy máy bay Potez chỉ dành riêng cho toàn quyền Đờ Ku hoặc cho loại công văn cơ mật và thượng khẩn. Nhưng bộ hành muốn ra ngoài nớ còn có cách khác đi cũng mau lẹ không thua lại có phần vững chắc hơn Potez, đó là xe hoả tốc hành, nhưng xe hoả thì không oai bằng máy bay, dẫu tử mạng cũng cam. Về công văn muốn mau lẹ hơn nữa thì điện tín mật gởi theo mật mã, nhưng đó là chuyện khác. Khi ông Đờ Ku nhận được phúc trình của ông Rivoal, ngài ta khoái quá, nên điện vô cấp tốc, và ra chỉ thị “grâcié”, tức “đặc xá phóng thích” mười ba người kia, và cho rằng đó là những người có can đảm phi thường, đáng được hưởng đặc ân đại xá, để mua chuộc lòng người trong buổi bấp bênh có kẻ ngoại bang (Nhựt) dòm ngó và cũng để trấn tĩnh những kẻ có lòng như vậy. (Đó cũng là kế sách thâm sâu của ông Đờ Ku nầy quyết ru ngủ dân trong xứ bằng những phương pháp bơm ngọt và dụ dỗ, cầm bằng dân ta ấu trĩ “nên cho kẹo ngọt hơn là dùng roi sắt để cai trị”).
Nhưng khi nhận được chỉ thị ấy, quan chưởng lý phúc đáp cho thống đốc rằng “chỉ dụ đặc xá ấy vô phương áp dụng” cho mười ba người nầy, lý do vì mỗi người đều mang đến hai án tử hình (duex fuis condamné à mort), nếu tha và ân xá một cái đầu thì còn phải làm cho rụng một cái đầu kia, và con người có một thủ cấp chứ không có đến hai!
Sau đó chưởng lý dạy dẫn dắt những người ấy ra cho ông điều tra vì sao có dịp thuận tiện như vậy mà không tẩu thoát, cao chạy xa bay? Cả thảy đều thản nhiên trả lời cụt ngủn rằng: “Một khi ra làm quốc sự là đã lựa cái chết để đền nợ nước, chạy trốn là phi anh hùng!”.
Đã không được ân xá thì phải hành hình. Chiếu y quân luật, họ bị xử bắn. Bây giờ pháp trường thuộc vùng Gò Vấp hay Hóc Môn gì đó, chung qui thuộc tỉnh Gia Định. Lại nữa chuyện xảy ra đã quá lâu, tôi cũng không dám quả quyết xử lần trước sáu người lần sau bảy người, hay là lần trước bảy lần sau sáu, vậy kể như xử bắn mười ba người ấy làm hai tốp. Tốp thứ nhất chịu hành hình xong, ông Dufour, lại cũng ông Dufour, lúc nầy ông đã thôi làm chánh văn phòng nơi dinh Thống đốc Rivoal và về lãnh trong trách làm chủ tỉnh tỉnh Gia Định. Ông nầy vì cuộc xử hắn xảy ra trên địa phận ông cai trị nên ông đứng ra làm thị chứng cuộc hành hình, và trên biên bản nơi phần cước chú, ông ghi một câu vắn tắt: “Ils sont morts courageusement”, tôi dịch là “Chúng nó chết một cách can đảm”. Và khi được tờ phúc trình về việc nầy, ngoài Hà Nội quan toàn quyền Đờ Ku gởi vào ông Thống đốc một công văn mật căn dặn nên khiển trách sơ ông chủ tỉnh Dufour và khuyên ông nên chọn danh từ đúng chỗ, không nên đề cao hay tự tuyên dương kẻ thù. Trong công văn cũng nhấn mạnh đó là nể tình ông Dufour là một quan cai trị có công cán nhiều nên không nỡ khiển trách nặng, miễn ông đừng tái phạm.
Quả nhiên, sau khi được chỉ thị, ông Rivoal có điện thoại mời ông Dufour ra dinh, và nên nhớ hai người đồng hàng tham biện hạng nhứt, duy ông Rivoal, tốt phước được làm thống đốc, bề trong hai người rất kính nể nhau, nên ông Rivoal, mời ông Dufour ra hai người nói chuyện qua loa trời mưa trời nắng rồi ông Rivoal đưa công văn của toàn quyền có chữ ký của Đờ Ku cho xem và không nói thêm lời nào. Kế hai người bắt tay thân mật và ông Dufour cáo từ lui về Gia Định.
Xẩn bẩn lại đến vụ hành hình kỳ nhì. Cũng ông Dufour thị sự, và phen này, trên tờ biên bản giống y như kỳ trước, ông ghi vỏn vẹn câu: “Ils sont morts trèm courageusement” (Chúng nó chết một cách rất can đảm!).
Thế là chuyến nầy ông Dufour tự khai pháo, nói cách khác, ông tự châm dầu vào lửa. Decoux không dùng công văn, và sau một thời gian ngắn, đích thân bay vào Nam, đòi ông Dufour vào phủ toàn quyền, “cạo sát nhíp” (theo lời ông Dufour thuật lại với ông Grange là phó văn phòng, bạn thân với nhau từ trước), muốn bị khép vào tội “chống đối” sau khi nghĩ tình đồng nghiệp cũ, cho huyền chức, tức khắc giao việc cho chủ tỉnh khác thay thế, và cho chờ một chuyến tàu trước nhứt, cho về hưu trí non, và phải viết tờ tự thú, để vào hồ sơ.
Với phận sự thâu nhận công văn mật, tôi có đọc tờ tự thú nầy, vắn tắt có mấy câu thật nhã mà cứng cỏi: “Tôi, Dufour, là cựu phi công trận giặc chống Đức, tôi có tứ đẳng bội tinh lãnh tại chiến trận đã từng bị thương tại trận tiền, vốn là một binh sĩ nên ăn ngay nói thật, không có tánh nói vẹo màu mè. Phàm kẻ địch chết dũng cảm thì tôi nói chúng nó chết can đảm; khi chúng hô to “Việt nam muôn năm” trước họng súng, tôi có phận sự phúc trình “Chúng nó chết một cách rất can đảm”. Nếu muốn đúng sự thật, đáng lẽ tôi phải ghi “Các lính sơn đá đều khiếp khi bắn, tức nhát sợ, nhứt là tên đội có lịnh bắn phát chót xá hồn (donner le coup de grâce), tên đội nầy hai lần run như cầy sấy, tôi lấy làm nhục cho quân đội Pháp, nhưng tôi không nói trong lúc phúc trình”.
Tờ thú nhận nầy, tôi ghi vào sổ “mật” đánh đấu thứ tự rồi gởi vào trong, trình Thống đốc, nhưng không bao giờ thấy trở ra.
Lúc ông làm chủ tỉnh ở Rạch Giá, ông ra chợ thấy dân nghèo nheo nhóc, trẻ con trần truồng vô y vô khậu, ông chạy xe về dinh ôm tất cả áo quần của con ông đem ra chợ phân phát hết, bất chấp lúc ấy hàng khan, không dễ gì sắm lại. Sau cuộc đảo chánh và khi binh Pháp trở lại Đông Dương, lúc ấy tôi đã về hưu, bỗng tôi thấy dạng ông Dufour đi ngang nhà, số 31-33 đường Hai Bà Trưng, chợ Sốc Trăng. Khi đó tôi biết dư ông làm lớn, thanh tra chánh trị gì gì đó, nhưng tôi khép cửa bước vào trong. Tuy rằng chủ cũ năm xưa, và đây là người hùng, gặp người cũ ắt mừng lắm. Nhưng tôi cam phận gác ngoại vòng thoi, như vậy mà cũng chưa được yên thân. Cái kiếp con bò kéo xe, tôi chưa thoát, và năm 1947 phải ra đầu quân lại nơi Viện bảo tàng, thà ăn lương công nhựt hơn là cầu cạnh ông Dufour, lúc thấy ở Sốc Trăng.
Chưa hết chuyện. Còn lại mười ba cái thây ma, không biết đem về đâu, và chôn dập nơi đâu? Chầu xưa, Sài Gòn có hai đất thánh: đất thánh Tây là nghĩa địa đô thành như ngày nay, mặt tiền ở đường Phan Thanh Giản, cửa trổ ngay đường Mạc Đĩnh Chi, và một nghĩa địa thứ nhì, nay đã san bình địa cất nhà lên trên cho công chức nhỏ của đô thành ở, xưa có tên là đất thánh Chà và đó là nơi chôn vùi dân bản xứ và tội phân tử hình như đám phá Khám Lớn đời Phan Xích Long và Tư Mắt v.v… đất Thánh Chà ở phía sau nghĩa địa đô thành và day mặt tiền vào đường Hiền Vương, trổ cửa xéo xéo đường Phan Liêm.
Còn một thây ma nữa và là thây ma một người đàn bà, không tên không tuổi, và khi đem ra hành hình chỉ mang tên kín là “agent X” (mỗ viên). Nghe nói bà là người có học thức, đậu bằng brevet élémentaire hay brevet supérieur (văn bằng tiểu học hay cao tiểu) nhưng bỏ tất cả ra làm quốc sự, đã mấy lần bị bắt, sau rốt bị kêu án tử hình. Trước khi hành hình, người cha là một ông quan ở Huế, nghe nói chức to lắm, vào Sài Gòn nhờ luật sư xin được thấy mặt con. Luật sư Pháp làm đơn xin đến toàn quyền nhưng ông Đờ Ku bác đơn không cho cha thấy mặt con, mặc dầu chưởng lý gởi suông bức đơn của luật sư không chống cũng không chấp thuận. Sau khi thọ hình, người cha đau đớn nhờ luật sư thảo một bức đơn thứ nhì thống thiết xin lãnh xác con về chôn. Toàn quyền Đờ Ku lại bác nữa. Trong đám công văn mật, tôi ghi vào sổ một bức thơ của ông luật sư gởi ông toàn quyền xuyên qua thống đốc Nam Kỳ, đại khái tôi nhớ và thuật lại như sau:
“Thưa quan toàn quyền, tôi ký lên dưới đây, xin trả lại ông:
1) Một mề đai điều tứ đẳng bội tinh lãnh tại trận tiền do chiến công mà có;
2) Tôi trả luôn quốc tịch Pháp và bằng cựu thương binh trận giặc 1914-1918.
Tôi là con một nhà cách mạng. Ông cha tôi đã từng làm cách mạng năm 1789 để lật đổ một chế độ lỗi thời và chống lại những, bất công của xã hội.
Vừa rồi tôi thay mặt cho thân chủ tôi là một người Việt Nam, cựu quan lại triều đình Huế. Ông không thể nói vì lão quan nầy thiếu sự hy sinh cho Đế quốc Pháp của chúng ta. Thế mà ông khước đơn tôi ký xin cho người cha nầy được thấy mặt con là “mỗ viên” một lần chết, trước khi con bị hành hình, vì tội làm quốc sự chống Pháp. Trong việc nầy, tôi cam cúi đầu trước lịnh của ông, vì ông là người điều khiển xứ nầy, có một chánh sách của ông riêng mà tôi không hoàn toàn đồng ý. Và có lẽ ông nhìn nhận chống Pháp là quyền riêng của người kia, không chắc đó là tội, và trước tiên luật pháp dạy phải tôn trọng tư tưởng riêng của một cá nhân.
Nay mới đây ông lại từ khước cho thân chủ tôi lãnh về một cái thây ma sình thúi để chôn một mộ riêng, vì tình cha thương con.
Tôi hiểu: chống lại cảnh tương ngộ cuối cùng của một cha già và một nữ nhi sấp chết, đó là một sự bất nhân tàn nhẫn, vô lương tâm, một đấng quân tử không khi nào dùng đến phương sách hèn hạ ấy, nhưng có chỗ dung thứ nếu hiểu làm chánh trị, cai trị một thuộc địa, phải như vậy, tức không có cảm tình.
Đến như nay ông từ chối không cho lãnh một cái thây ma “vô dụng” để đem về chôn phần mộ riêng là một cách an ủi lòng già, ông ở xứ Á Đông nầy lâu ắt biết dư, như vậy văn minh chỗ nào, và văn minh của ông như vậy đó có chỗ gì hay hòng truyền bá nơi đây?
Tôi cho rằng việc ấy bất xứng với tư cách một con cháu của các nhà đã làm cách mạng năm 1789.
Bởi các lẽ trên, tôi trả lại ông những gì đã nói nơi trên v.v… và v.v…
Ông luật sư nầy là trạng sư Motais de Narbonne, tôi không nhớ sau đó có bị hành tội gì không duy nhớ về sau thấy tên ông trên báo Pháp và tên tuổi ông lẫy lừng.
Tôi không có ý đề cao ai, nhưng ông Dufour và ông Motais de Narbonne nên liệt vào hàng Tây tốt.
Về điển tại sao gọi hải đảo Trường Sa là Iles Itu Aba
Còn một giai thoại khác xin nói cho luôn cuộc kẻo quên, và để nhớ buổi nhàn hạ thời còn làm trên dinh Thống đốc hay Phó soái ở Sài Gòn: việc nầy có liên quan đến hải đảo Trường Sa. Đảo nầy tên riêng gọi là Itu Aba, và khi đánh điện tín mật mã từ Nam (Sài Gòn) ra đó thì đề trên dây thép: “Phước à Itu”, tức khắc sở điện tín gởi ngay ra đó vì tên “Phước” là dấu hiệu riêng để gọi Thống đốc Nam Kỳ, cũng như khi có điện tín nhận được “Itu à Phước” thì nhà dây thép chánh biết ngay mà đem lại dâng cho dinh để dịch lại tiếng thông thường trình lên thượng cấp. Một hôm đến phiên tôi gác, gần Tết, lối hai mươi lăm hai mươi sáu tháng chạp ta, lon-ton đưa vô tôi một điện tín vàng mật mã, dịch ra thì hiểu các ông lính mã-tà ngoài ấy, vì bắt vít lấy trứng luộc ăn mãi ngán quá nuốt không vô, nên thừa dịp cận tết, gởi điện tín mật xin gởi ra cho họ: năm ba bộ bài tứ sắc để giải buồn, ít kí-lô lạp xường và ít kí-lô hạt dưa đỏ để cắn chơi, nhai chơi thì cũng hiểu được, duy sau rốt có mấy số dịch hoài mà vẫn vô nghĩa. Tôi đánh dây thép xin gởi cho số khác, vì e sở điện tín ghi lộn, nhưng trở đi trở lại cũng mấy số vô nghĩa cái gì mà: H comme Henri, Acomme Albert, M comme Maurice. Nên nhớ lúc ấy dùng toàn Pháp văn, nên ba số nầy dịch là H.A.M, tạm hiểu như vậy. Đến đoạn sau, cái gì mà: D comme Denis, Z comme Ulysse, ráp lại là Dzu.
Tôi bứt đầu bứt óc kêu trời, may sao ông đốc phủ Bá là xếp của tôi, ông thấy tôi sa lầy, lại tiếp và sau rốt cả hai mới hiểu họ thèm cá mặn phơi khô của tiệm chạp phô các chú bán: mà thay vì “cá mặn” họ viết “hàm dzu” – (đọc là hàm dũ theo trong Nam, tức hàm ngư là cá mặn rõ ràng. Rõ tôi bị tổ trác!)
Một chuyện chót. Lúc tôi lên làm tiếp trên dinh Toàn quyền hai tuần lễ ở Đà Lạt với ông Decoux tôi có hỏi một chuyên gia Pháp về mật mã vì sao đặt tên hải đảo Trường Sa là cù lao Itu Aba, ông nầy cười và nói bằng tiếng Việt. Khi trước lựa tên đặt theo mật hiệu, có một thằng Tây nhè lựa danh từ trớ trêu “Chị Tư Chị Ba” là tên của hai người bồi của nó vì nó đọc giọng Pháp Itu Aba mà thành danh luôn từ thuở”. (Tài liệu nầy tôi không đảm bảo rằng đúng nhưng cũng phải chép ra đây để người thức giả nghiệm lại).
Tôi quen với Ngân từ lâu. Khi Ngân cưới vợ, con ông cai tổng ở Tân Quy Tây thì tôi làm phát ngân viên ở toà bố, kể như hàng đồng liêu nhỏ tuổi của bố vợ anh ta, lối năm 1940 đến 1943 tôi đổi lên làm thơ ký ở dinh Thống đốc Nam Kỳ thì tôi trở nên đồng liêu của Ngân, đã có mặt tại dinh trước tôi nhiều năm. Sau khi xảy ra cuộc đảo chánh 1945, tôi đã về hưu nhưng ở Sốc Trăng nơi quê cha mẹ không đăng nữa, tôi chạy với một tay xách nhỏ lên Sài Gòn, thì Ngân tiếp tôi tại Bộ Ngoại giao là chỗ anh ta làm việc Và đã thay bực đổi ngôi, tôi không còn làm lớn, không có nhà ở, tức vô gia cư, và bị vợ bỏ, tức vô gia đình. Nhưng tình xưa không đổi Ngân tốt ở chỗ đó, Ngân tiếp tôi niềm nở, dắt tôi đi ăn một bữa cơm nhà hàng sang, bây giờ tôi còn cảm động, và trong lúc tỉ tê tâm sự, Ngân thuật cho tôi nghe một chuyện như sau, và tôi cố viết lại cho y lời anh đã kể, nếu có sơ sót và không y nguyên văn là tại tôi bất tài chứ giọng Ngân hôm ấy đã làm tôi cảm động lắm giọng trầm trầm buồn buồn như giọt nước trong rô-bi-nê chảy ra, và vì vậy, lúc còn làm chung nhau trên ca-bi-nê, tôi thấy y ta có vẻ chệc, nên đặt lén là thằng Ngành (Ngành là tiếng Quảng Đông, dịch ra tiếng việt là Ngân, lức đồng bạc trắng, cũng gọi chơi là ngành sình, ngành sểnh, ngành sình, chung quy là “ngân tiền”!).
Anh biết không, từ đây là lời Ngân nói: “Tôi có một bịnh lạ, thuở nay chưa ai có. Là thỉnh thoáng tôi đau bụng dữ dội và đi tiểu thấy nước tiểu đen thui. Tôi chạy đủ thứ thuốc, Tây, Nam, Chà, Chiệc, Đàn Thổ, đủ mặt thầy, lang Tây lang ta, lang Tàu, thầy ngải Khơ-me mà vẫn không hết. Tôi lên Nam Vang cắn răng cho thầy ngải đốt ba liều nơi lỗ rún, nay còn thẹo. Nhè chỗ ấy là da mỏng, bình thường đụng nhẹ cũng thấy nhói, mà họ đốt anh thấy có chết cha mình không? Họ bảo tôi, đè ngửa xuống ván, lột áo trịch quần tôi ra, rồi lấy vỏ tỏi lót ba chỗ quanh rún, và đặt mỗi chỗ một liều ngải cứu phơi khô, lớn hơn hột tiêu, có lẽ gần bằng đầu bút chì. Đoạn lão thầy ngải đọc thần chú rồi lấy đầu nhang đốt cháy châm từ liều. Tôi quên nói có bốn thằng đàn thổ lực lưỡng đè tay và đè chân tôi, nên tôi không cục cựa chi được hết. Lúc đó tôi chưa cưới vợ và tôi là một thằng ngu, anh vẫn biết và đừng cười, từng tuổi đó, trên hai mươi, mà tôi chưa biết đàn bà là gì chớ đừng nói chi đến bịnh phong tình. Tôi nói mà không mắc cỡ là tôi lúc còn “trinh” và chưa biết cái húm là gì, nếu ai hỏi tôi thì phải đợi tôi cưới vợ rồi mới biết. ấy mà nó đốt rún tôi như đốt người mắc tội có bịnh tiêm la hay là gì khác. Với liều đầu, khi thuốc cứu cháy lớp vỏ tỏi và cháy tới da, mẹ ôi, tôi nghe xèo xèo, một mùi khét thịt khét ngải cứu rất khó chịu bay vô mũi, tôi cố vùng vẫy thật mạnh, mà bốn thằng ác ôn nó đè chặt lên tay chân gần muốn gãy, tôi phải chịu đựng, rồi tới liều thứ nhì. Tôi thấy đủ mặt cha mẹ ông bà ông vải nhưng bốn thằng đàn thổ vẫn không buông, tôi càng la hét nó càng nhấn hết mình nó lên tay chân tôi, mình tôi toát mồ hôi dầm dề, rồi cũng xong liều thứ nhì. Qua liều thứ ba, tôi đã xụi lơ, và tôi chết giấc luôn cho đến khi lão thầy ngải lấy ngón tay đè từ chỗ một cho thiệt tắt. Ấy vậy mà tôi không chết và còn đủ sức gượng dậy, kéo cái quần lên thì cái quần ướt rượt kéo không lên vì tôi đã phóng vừa tiểu vừa đại đầy quần.
Thế mà bịnh vẫn như không và tôi vẫn thỉnh thoảng đau bụng như cũ. Từ đó tôi thù bọn thầy ngải ghê xương và ai nói đến bùa chú ngải nghệ, tôi bỏ đi chỗ khác. Tôi nói thiệt, cho đến chết, từ rày tôi theo thuốc Tây mà thôi.
Nhắc lại căn bịnh của tôi, tôi mang nó lê dài qua ngày tháng. Hôm cưới vợ và gặp anh ở Sa Đéc mới là nguy cho tôi chớ. Đêm tân hôn, tôi cất giấu gói thuốc viên đem theo đề phòng uống cơn nguy cấp, tôi nhét gói thuốc dưới gối rồi phải ra làm phận sự hầu hạ và rót rượu cho quan khách, ngờ đâu vợ tôi ở trong buồng lục lạo bắt được gói thuốc, chị ta khóc cho một mách tường bạc phân vớ nhằm thằng chồng ghiền và khi tôi vô kiếm gói thuốc thì nó ở trong ống nhổ. Phải là chết cha tôi chưa? Tôi không dám nói một lời phản đối, mà cũng may nhờ ông bà phù hộ hay là cưới được con vợ có đít lôm, mừng lòng nên trọn mấy ngày trăng mật không đau bụng phút nào. Rồi vợ tôi sanh con đẻ cái cả bầy, thằng Ngôn (trùng tên với ông đốc phủ ở Phú Lâm xếp của hai đứa mình đó rồi con Nga, thằng Ngươi, vân vân tôi đều lựa tên có chữ “Ng” đứng đầu cho xứng với câu anh nói giỡn năm xưa là một xâu tiền “ngành xĩnh”!
Từ năm anh đổi về Sốc Trăng anh em mình cách biệt, sau đó tôi đau bụng một trận cửu phần tử nhất phần sanh, anh đừng hỏi tôi năm nào, tôi không nhớ, duy biết chắc năm đó nhà thương Chợ Rẫy vẫn còn mang tên Hopitall Lalung Bonnaire và do chính ông nầy làm giám đốc cũng như nhà thương Đồn Đất lúc ấy vẫn do ông bác sĩ Grall bổn thân điều khiển, cả hai ông là hai ông thầy thuốc kỳ cựu có công lớn với bản xứ và để nhớ ơn hai ông Hoa Đà nầy nên đã lấy tên đặt tên cho hai dưỡng đường quan trọng nầy.
Tôi nhớ năm ấy tôi đau một trận kịch liệt, đau hơn lúc nào hết, và vợ tôi thấy nguy quá, uống thuốc nào cũng trơ trơ, nên hoảng kinh chở tuốt tôi vào Chợ Rẫy. Lúc đó thuốc men chưa hoàn bị như bây giờ, các tay danh thủ ở đây đều chay mặt, phần vì vợ tôi nhờ giỏi tiếng Tây, nên khóc lóc nài nỉ ông Lalung Bonnaire thiết tha quá.
Ông cầm lòng không đậu, bèn sai đem tôi ra xe nhà và ông tự lái xe chở thẳng tôi qua nhà thương Đồn Đất. Ông lên thương lượng với vị giám đốc ở đây là bạn già đồng nghiệp hữu Grall, hai người đồng tình cho tôi vào nằm ngay khu bịnh thất dành cho hàng sĩ quan cao cấp nhà binh Tây, vì tôi tuy là thằng “anh đi rền” nhưng làm tại dinh Thống đốc, lại nữa tôi đau một chứng kỳ lạ, cần khám phá có ích cho lương lai y học. Lúc ấy chỉ có nơi nầy có rọi kiếng quang tuyến X., ít ngày sau rõ được đầu dây mối nhợ của chứng bịnh tôi là cái bọng đái (vessie) có một túi nhỏ, khi nào túi nhánh ấy bị chất độc chứa nhiều thì sưng lên và hành đau bụng, và bây giờ tôi mới biết hèn chi có khi tôi uống thuốc Bắc hay ăn nhằm thứ gì không chịu thì tôi đi tiểu ra nước đục đen đen, lại lầm tưởng đó là thuốc thần hiệu nên tống khứ chất độc ra, lại thêm tốn tiền nuôi mập bọn dung y báo đời. Grall và Lalung Bonnaire đều lưỡng lự, vì thuở ấy chưa ai dám mổ hay cắt bớt bọng đái (bàng quang) vì sợ chỗ cắt không lành. Nhưng một cũng liều, hai cũng liều, vợ tôi can đảm làm tờ ưng thuận, khỏi nói lúc ấy tôi đã kể chết nên nghe vợ tôi thuận lại thì tôi gật đầu chấp thuận theo, vì trong trí óc mơ màng nhớ lại vậy chớ hồi bọn Thổ đè mình đốt rún đau thấu mây xanh, lại có mấy hỏi trước xem mình có bằng lòng cùng chẳng? Và tôi nói cho anh Tư (gọi theo thứ tự của vợ trước) biết, tôi là người duy nhứt được hai ông đại danh y Grall và Lalung Bonnaire thân hành giải phẫu, ơn ấy cho đến chết tôi không quên.
Mổ xẻ cắt may xong xuôi rồi, khiêng tôi xuống phòng, ông Lalung Bonnaire về sở, lui cui lo phận sự và nghỉ chưa hết mệt thì ông đã thấy vợ tôi đầu bù tóc rối, níu áo blu-zông của ông, xin cứu mạng cho chồng. Số là dì phước nuôi bịnh thấy tình trạng sức khỏe của tôi nguy kịch quá, đã thú thật và khuyên vợ tôi hãy kíp lo đồ liệm, vợ tôi nóng ruột đánh liều chân thấp chân cao chạy vô kéo áo óng bác sĩ đầy lòng nhân từ Lalung Bonnaire. Lại một phen nữa ông bỏ ăn bỏ ngủ, lấy xe nhà chở vợ tôi trở vô Grall, đến phiên ông níu áo ông nầy và hai người xuồng khu bịnh thất, còn có một phương cứu chữa cầu may là sang máu. Nghiệt nỗi thời đó chưa có ngân hàng máu, lại cũng không thử trước để biết máu tôi thuộc loại O hay mô tê gì. Sẵn có hai ông sân đá gác bịnh, một anh Tây chính cống và một anh cà phê sữa mạt ti nít quai, hỏi chúng chúng tình nguyện hiến máu, bèn cắt mạch máu hai bên tay tôi và nối ống cao su sang máu ngay từ hai thằng Pháp qua một thằng Việt.
Nhờ đó mà tôi thoát chết. Rồi lần lần tôi đi đến khỏe khỏe và chờ ngày bình phục. Thiệt là ơn cải tử hoàn sanh. Một bữa trưa chúa nhựt, vắng im trong phòng, tôi tập nói như đứa con nít lên ba và mấy tiếng nói đầu tiên của tôi là để tỏ lòng tri ân của tôi đối với hai anh bạn khác màu da và khác quốc tịch. Anh lính chà đáp. Nói vậy mầy hết chết rồi hả? Ơn với nghĩa làm gì. Đ.m! Hai đứa tao nào có biết mầy là ai? Cái tục lệ nhà binh, ai nằm phòng nầy là sĩ quan cao cấp, hai tao bị chỉ định phụng sự mầy thì chỉ biết phụng sự chớ nào có việc ơn với nghĩa. Lại nữa, mấy tuần nay, mấy bỏ cơm bỏ cháo, phần rượu chát sắp đôi của mầy, chúng tao nốc trọn, nếu kể về ơn nghĩa thì chúng tao thọ ơn mầy chớ mầy lào thọ ơn chúng tao. Thôi, để tính vầy cho gọn, nay mầy đã thấy khá, vậy thì ráng giữ thân đừng nhõng nhẽo, đừng làm gì bậy bạ, hãy ngủ yên cho sớm để mai nầy quan thầy lại viếng bịnh nếu mầy không có nóng lên độ, đó là mày trả ơn chúng tao rồi đó. Chúng tao cho mầy biết, tụi tao nục quá rồi.
Sau khi ra nhà thương, được giấy phép cho nghỉ hai mươi chín ngày, việc làm đầu tiên của vợ chồng tôi là mua chút ít lễ vật, nho cam, và vợ tôi trích trong của hồi môn một đôi vàng chạm chưa tới một lượng, hai tôi vào nhà ông Lalung Bonnaire. Ông mừng rỡ bắt tay thân mật và hỏi thăm tình trạng sức khỏe lãng xăng. Chủng tôi nài nỉ xin ông nhận chút lễ thành là một cách chúng tôi tỏ lòng ghì ân tái tạo, nhưng nói cách mấy ông cũng một hai từ chối. Vợ tôi nải mãi, bỗng ông cười xoà mà rằng; “Tôi đã có một cách giải quyết vụ rắc rối nầy. Số là tôi sẽ về hưu nay mai. Vậy thì tôi để lại địa chỉ lại cho vợ chồng thầy. Nếu thầy y thật không quên ơn tôi thì thầy nhớ thỉnh thoảng đôi ba tháng viết cho tôi ít chữ cho tôi biết tình trạng sức khỏe của thầy sau cuộc giải phẫu thành công mà kết quả không do tôi mà do sự mát tay của đồng nghiệp hữu kỳ tài Grall của tôi đó. Vợ chồng thầy là người có học chương trình Pháp, ắt hiểu rằng bọn đệ tử của thần Esculape là chúng tôi, có lời thề phải vị tha và không được nhận của cho. Hãy cất đôi vàng đi. Nhưng để thông cảm và khỏi mất lòng nhau, tôi đề nghị bà Ngân hãy ôm mớ trái cây xuống trại bịnh lao mà tặng cho họ, có lẽ họ cám ơn bà hơn là bà đem cho mấy thằng đồng bịnh thất của chồng bà trong mấy tuần qua, bọn chúng chỉ biết có rượu và gái mà thôi. À nầy! Tôi sắp quên! Thằng con út của tôi vừa bốn tuổi đòi chèo chẹo bảo mẹ nó mua cho nó vịt con để chơi. Như thầy quyết đã muốn đền ơn tôi, vậy thầy ra ngay chợ bán gà, mua cho tôi sáu con vịt ra ràn, đừng lựa vịt lớn, hãy tìm những con còn lông măng màu vàng lườm, nó càng la lớn càng tốt, vì thằng con tôi thích nghe tiếng chim kêu và vịt la như vậy. Thôi từ giã, rán giữ gìn sức khỏe: Chúng ta gặp nhau chưa phải là lần chót”.
Nói đến đây, Ngân gạt tàn thuốc, hai tôi chia tay và không gặp nhau nữa. Sau nầy tôi nghe tin Ngân đã định cư từ lâu bên Pháp quốc, sống an nhàn với con và cháu để tiện theo dõi chúng học hành. Gia đình bên bà Ngân có người chết oan trong cuộc chiến tranh chưa dứt nầy. Tôi không trách làm như vậy xem tuồng vong bổn, và nếu thảy thảy đều như thế thì còn chi nước Việt về sau.
Cơm nhà nợ nước, không phải quê hương đem theo được dưới gót giày, câu nầy không phải của tôi và tôi đã phạm tội nhại một danh ngôn Pháp rồi đó!
Tên tuổi Võ Nguyên Giáp gắn liền với “Biển Người”, một chiến thuật mà Đại tá Pierre Rocolle, trong luận án Vì sao Điện Biên Phủ [Pourquoi Dien Bien Phu, Nxb Flammarion, 1968], mô tả:“Theo những tiêu chuẩn của Việt Minh, tấn công một cứ điểm cần tập trung nỗ lực trên một trận địa thật thâu hẹp (vào chừng vài trăm thước), hầu đánh thủng hệ thống phòng thủ tại một điểm. Tất nhiên cần lượng lớn súng cối và đại bác đối diện khu vực tấn công, đồng thời tập trung các đơn vị được chỉ định xung phong đông từ 10 đến 20 lần quân trú phòng trong một hành lang hẹp, trên địa thế chọn lựa. Thực hiện đầu tiên một xé rào, rồi nới rộng dần bằng cách tung những làn sóng tiến công liên tiếp cho đến khi trọn chu vi phòng thủ đối phương bị tràn ngập.” (trang 348)
Chiến thuật biển người là công thức tác chiến của các quân đội Cộng sản. Hồng quân Sô-Viết trên chiến trường Âu châu, Giải Phóng quân Trung quốc tại Triều Tiên đều áp dụng phương thức này.
Trong trận Sông Áp Lục tháng 10-1950, 270,000 quân Trung cộng của Bành Đức Hoài đã tràn ngập phòng tuyến Hoa Kỳ tại Cao Ly. Với một Mao vững tin “Biển người” là hình thái ưu việt của chiến tranh, Võ Nguyên Giáp khó có thể suy nghĩ khác.
Chiều 13 tháng 3-1954, 2 trung đoàn 141 và 209 của sư đoàn 312 của Lê Trọng Tấn đánh biển người lên đồi Béatrice (Bản Him Lam) do tiểu đoàn 3 Bán Lữ đoàn 13 Lê dương (III/13 DBLE) cấp số 517 binh sĩ trấn giữ. Thiếu tá Paul Pégot cùng bộ chỉ huy tiểu đoàn, đại úy Vincent Pardi, các trung úy André Carrière, Georges Jego, André Lemoine và sĩ quan trưởng tiền sát viên pháo binh (DLO) Joseph Pungier tử trận ngay phút đầu. Béatrice bị tràn ngập lúc 11 giờ rưỡi đêm.
Chiều hôm sau, trung đoàn 165 Lao Hà và trung đoàn 88 Tu Vũ đánh biển người lên đồi Gabrielle (đồi Độc Lập) do tiểu đoàn 5 trung đoàn 7 Tán binh Algérie (V/7e RTA) với 877 lính Bắc Phi phòng thủ. Cả 2 thiếu tá Roland de Mecquenem và thiếu tá Kah đều bị thương nặng lúc 4 giờ sáng. Đại úy Gendre thay thế, quyết định triệt thoái căn cứ khi quân Dù phản kích.
Khai trận của Võ Nguyên Giáp là 2 chiến thắng sấm sét.
Tuy nhiên Việt Minh trả giá máu: Phải mất 16 ngày sau, đến đêm 30 tháng 3-1954 Võ Nguyên Giáp mới có thể tiếp tục tấn công trở lại. Chính vì phải điều thêm 10,000 bộ đội từ chiến khu Việt Bắc lên Điện Biên Phủ để tăng cường và thay thế cho bộ đội thương vong (Ivan Cadeau, La Guerre d’Indochine, Nxb Tallandier 2015, trang 577). Chiến thuật biển người song hành với biển máu.
Nhưng không phải lúc nào “biển người” cũng đem đến kết quả.
Tháng 7-1948, trung đoàn Thủ Đô tăng cường trung đoàn 72 và tiểu đoàn 410 đánh cường tập vào đồn Phủ Thông Hóa do đại đội 2 Lê dương của đại úy Cardinal cấp số 107 binh sĩ tử thủ. Sau hai đêm công đồn Việt Minh rút lui để lại 500 xác. Trận Xóm Pheo tháng 1-1952, sư đoàn 308 bỏ lại 800 xác chết cũng không triệt được đồn. Tương tự, các trận Vĩnh Yên, Mạo Khê, Nà Sản là những thất bại đẫm máu. Nhưng vì sao thành công tại Điện Biên Phủ? Vì sao trong một đêm tràn ngập một tiểu đoàn của Bán Lữ đoàn 13 Lê dương là đơn vị lẫy lừng nhất, từng đương đầu với Quân đoàn Châu phi Afrika Korps Đức Quốc xã tại Lybia? Chính vì lần đầu tiên Việt Minh sở hữu pháo binh 105 ly, và về sau tăng cường thêm Dàn Phong Cầm Staline (Katyusha Rocket Launcher) là các ổ phóng 6 hỏa tiển trong thế chiến, cũng lần đầu tiên xuất hiện cao xạ nặng 37 ly.
Chính vũ khí Tàu với máu Việt làm nên chiến thắng. Nhưng phía quân Liên hiệp Pháp cũng là máu Việt. Trong số 4,000 binh sĩ nhảy dù thả xuống tăng viện cho Điện Biên Phủ, trên 2,000 là lính Việt Nam.
[Trần Vũ]
Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp
Vu Hoá Thầm
bản dịch của Dương Danh Dy
Quyết chiến Điện Biên Phủ (hạ)
Đến thượng tuần tháng 3/1954, quân đội VN bao vây Điện Biên Phủ đã gần 3 tháng. Trong thời gian này, ngoài việc tiến hành chuẩn bị chiến đấu quân đội nhân dân còn nhiều lần đánh lui các cuộc xuất kích quy mô nhỏ của địch đóng giữ Điện Biên Phủ, qua đó rèn luyện bộ đội. Vào lúc này, để chuẩn bị cho 5 nước Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Trung và đại biểu các nước có liên quan tham gia hội nghị Genève thảo luận vấn đề Triều Tiên và vấn đề Đông Dương, triệu tập vào giữa tháng 4, Chu Ân Lai nêu ra với Đoàn cố vấn quân sự: “Để giành chủ động về ngoại giao, có thể tổ chức đánh mấy trận thắng đẹp ở Việt Nam như trước khi đình chiến ở Triều Tiên không?”. Ngày 3/3, sau khi nhận được điện chỉ thị đó của Chu Ân Lai do Bộ Tổng Tham mưu chuyển đến, Vi Quốc Thanh cho rằng, để phối hợp với đấu tranh đàm phán ở hội nghị Genève, cần phải nỗ lực lớn nhất, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ.
Lúc này, các mặt chuẩn bị của quân đội VN đã tương đối đầy đủ, lựu pháo và pháo cao xạ đã vào trận địa dự định điều kiện tấn công Điện Biên Phủ đã chín muồi. Sau khi Vi Quốc Thanh và Võ Nguyên Giáp bàn bạc, quyết định ngày 13/3 bắt đầu nổ súng tấn công Điện Biên Phủ.
Toàn bộ chiến dịch trải qua ba đợt.
Tác chiến đợt 1, phát triển thuận lợi. Vi Quốc Thanh cho rằng, trận đầu có thể giành được thắng lợi hay không vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của toàn bộ chiến dịch và đối với quân đội nhân dân lâu nay chưa đánh công kiên quy mô lớn như thế này mà nói, thì ảnh hưởng càng to lớn hơn. Vì vậy đồng chí dày công giúp đỡ Việt Nam tổ chức tác chiến đợt 1. Mục tiêu tác chiến là tấn công cụm cứ điểm ở Him Lam và đồi Độc Lập bắc Điện Biên Phủ mỗi nơi có 1 tiểu đoàn địch đóng giữ. Vi Quốc Thanh và phía Việt Nam nghiên cứu nhiều lần việc bố trí tác chiến, quyết định đại đoàn 312 và 308 với binh lực ưu thế tuyệt đối gấp nhiều lần địch, có pháo binh phối hợp và pháo binh của Bộ Tổng Tham mưu chi viện hoả lực, ngày 13 và đêm ngày 14/3 theo chỉ thị của Vi Quốc Thanh giúp đỡ cụ thể các bộ đội tấn công từ quan sát đến bố trí, từ chiến thuật đến kỹ thuật, từ chọn điểm xuất kích đến xây trận địa xuất phát, đều đã chuẩn bị đầy đủ, do đó cuộc chiến đấu phát triển thuận lợi.
Đêm 13, hàng trăm khẩu đại bác của quân đội Việt Nam cùng gầm lên một lúc, đạn pháo gào thét bay tới sân bay, cụm pháo binh và cứ điểm Him Lam của quân Pháp. Máy bay địch bị lật ngửa, đường bay bị phá nát, trọng pháo bị kiềm chế, từng lô cốt một trên đồi Him Lam bị phá sập. Sau đợt pháo gầm, các đội viên đột kích của đại đoàn 312 qua thao tác áp sát đã đào hào đến tận mũi quân địch, lập tức xung phong, nhanh chóng đột phá tiền duyên. Trải qua giành giật tại trung tâm, 11g30 đêm 13 đánh chiếm toàn bộ đồi Him Lam, tiêu diệt sạch một tiểu đoàn địch.
Đêm 14, một trung đoàn bộ binh của đại đoàn 308 và một trung đoàn bộ binh của đại đoàn 312 tấn công đồi Độc Lập. Chiến đấu đến rạng sáng hôm sau, quân đội Việt Nam đã cắm lá cờ mang dòng chữ “quyết chiến quyết thắng” trên đỉnh đồi Độc Lập, tiêu diệt thêm một tiểu đoàn địch, đánh lui 1 tiểu đoàn viện binh địch, phá huỷ 1 xe tăng, bắt hơn 30 tù binh. Trận đầu kết thúc thắng lợi, quân đội Việt Nam trên dưới đều rất hân hoan. Trong lúc phấn khởi, Vi Quốc Thanh bình tĩnh trù tính tác chiến bước tiếp theo. Đêm 15, đồng chí điện báo cáo Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc: “Hai trận chiến đấu đợt 1, đêm ngày 13 và 14 liên tiếp tấn công chiếm hai cụm cứ điểm ở bắc và đông bắc Điện Biên Phủ, tiêu diệt hoàn toàn hai tiểu đoàn Lê dương. Đây là lần đầu tiên quân đội Việt Nam sử dụng hoả lực trọng pháo có vai trò có tính quyết định đối với việc kiềm chế pháo binh địch, phối hợp tấn công. Trong ba ngày, bắn hỏng 16 máy bay địch, làm cho máy bay địch không dám hạ cánh xuống sân bay và bay thấp, trong chiến đấu nhấn mạnh thao tác áp sát và bộ pháo hiệp đồng, nên thương vong không lớn. Niềm tin của bộ đội tiếp tục vây diệt địch ở Điện Biên Phủ nâng cao hơn trước một bước. Muốn tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ còn phải mấy trận chiến đấu công kiên nữa, và trận sau khó khăn hơn trận trước. Để bảo đảm sử dụng pháo không gián đoạn khống chế sân bay và liên tục kiên trì chiến đấu tương đối dài, cần phải tiếp thêm lương thực và xăng dầu. Xin đưa thêm 3000 quả đạn pháo (cỡ 105 kiểu Mỹ), 3000 quả sơn pháo, 3000 thùng lớn xăng dầu đến Bằng Tường trước ngày 25/3”.
Quân uỷ Trung ương Trung Quốc luôn luôn dốc toàn lực chi viện cho chiến dịch Điện Biên Phủ hễ Vi Quốc Thanh nêu yêu cầu, là theo đó cấp đủ, cấp đúng.
Mấy ngày qua, tin vui liên tiếp truyền về. Viên trung tá chỉ huy pháo binh quân Pháp ở Điện Biên Phủ vì bị tổn thất nặng nề trong trận đấu pháo, mất lòng tin, dùng lựu đạn tự sát. Điều đó giáng một đòn vào tinh thần binh lính quân Pháp. Cứ điểm Bản Kéo rơi vào cô lập do đồi Him Lam, đồi Độc Lập thất thủ, một tiểu đoàn lính Thái đóng giữ cứ điểm này hoang mang cực độ, ngày 27/3 ra hàng Quân đội Nhân dân. Đến đây Quân đội Nhân dân đã chiếm giữ 3 cụm cứ điểm án ngữ phía bắc Điện Biên Phủ, mở cánh cửa thông sang khu trung tâm Điện Biên. Tác chiến đợt 1 của Quân đội Nhân dân đã vượt mục tiêu dự kiến, tinh thần binh sĩ phấn chấn, niềm tin tăng lên gấp bội.
Để cứu vãn tình thế thất bại, sau tác chiến đợt 1, Navarre tiếp tục cho ba tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ (về sau trong chiến đấu đợt 2, 3 lần lượt nhảy dù thêm 2 tiểu đoàn nữa).
Vu Hoá Thầm
(đăng trong Thượng tướng Phong Vân lục Đại Bách Khoa toàn thư xuất bản năm 2000)
Tù binh sư đoàn 308 Việt Minh mặc áo trấn thủ tại Điện Biên Phủ.
Phóng đồ căn cứ Điện Biên Phủ với các đơn vị phòng ngự thời điểm 13 tháng 3-1954. Béatrice là đồi Him Lam và Gabrielle là đồi Độc Lập phía Việt Minh, là hai vị trí tiền tiêu.
Cứ điểm Huguette phía tây sân bay.
Tù binh sư đoàn 312 Việt Minh bị bắt trong trận xuất kích của tiểu đoàn 8 Nhảy dù (8e CHOC)
Cứ điểm Dominique 4 phía đông phi đạo.
Lính Bắc Phi của Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 7 Tán Binh Algérie (5/7e RTA), đơn vị bị tràn ngập trên đồi Gabrielle đêm 14 tháng 3-1954.
Nhân ngày tang của đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhật trình cánh tả Le Monde số ra ngày 4 tháng 10-2013 đăng bài “Anh hùng của nền độc lập Việt Nam đã chết” của ký giả thân Cộng Jean-Claude Pomonti từng bị chính phủ VNCH và Hoàng gia Miên trục xuất, cấm nhập cảnh. Năm 2004, Pomonti quay lại Hà Nội và thực hiện phỏng vấn Võ Nguyên Giáp. Pomonti ghi trong bài viết: “Giáp say mê Nã Phá Luân và trong tất cả những chiến thuật của Bonaparte, Giáp giữ lại yếu tố bất ngờ. Trước sự ngạc nhiên của chúng tôi, Giáp kêu lên: “Việc Bonaparte đào thoát khỏi đảo Elbe về đất liền cầm quân, là tuyệt vời!” Giáp muốn nhắc đến việc vua Louis XVIII gửi ngự lâm quân chặn bắt Nã Phá Luân nhưng rồi đạo quân ấy đã theo hoàng đế. Một nháy mắt của Giáp về sự trung thành của các tướng lĩnh đối với chính mình. […] Giáp còn là một thiên tài tiếp vận. Một ngày, Giáp nhắc lại với chúng tôi phương châm mà Bonaparte vận dụng khi hành binh sang Ý: “Nơi nào một con dê chui qua, một người lính có thể vượt qua. Nơi nào một người lính có thể đi qua, một tiểu đoàn có thể hành quân.” Giáp nói tiếp: “Ở Điện Biên Phủ, để cung cấp 1 ký gạo cho bộ đội đang vây cứ điểm, dân công tiêu thụ 4 ký trong lúc vận chuyển. Chúng tôi đã dùng 260,000 dân công, 20,000 xe đạp, 11,800 bè gỗ, 400 xe vận tải Molotova và 500 ngựa.” Dưới sự che chở của rừng rậm, đại bác Việt Minh đã được tháo rời từng cơ phận để mang lên các ngọn đồi nhìn xuống lòng chảo, rồi ráp lại.”
Với những ai quan tâm chiến tranh, nếu đã có một thiên tài quân sự, thì thiên tài đó phải là Trần Đăng Ninh, tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần Việt Minh, đã cung cấp vũ khí, thuốc men, đạn dược, lương thực cho quân đoàn tác chiến chủ lực Việt Minh trong suốt 9 năm chiến tranh, không bao giờ thiếu, bất kỳ địa hình trận đánh. Một Trần Đăng Ninh mà trong hồi ký Võ Nguyễn Giáp không một lời tri ân. Trừ phi… vẫn do cố vấn Tàu Mã Tây Phu phụ trách tiếp vận, làm hết?
Trên các trang sử Quân đội Nhân dân thường xuyên số dân công được ghi 25,000. Phía Pháp ước tính 70,000 cho trận Điên Biên. Lần đầu tiên Võ Nguyên Giáp thừa nhận sử dụng 260,000 dân công. Cưỡng bách hay tình nguyện? Những ai sống trong Nam sau 75 biết rõ: mỗi hộ, mỗi tổ dân phố phải cắt cử người đi lao động XHCN cho đủ chỉ tiêu Phường-Quận. Vào thời chiến, chắc chắn là một bắt buộc trong những vùng “giải phóng”.
Phần quan trọng trong tường thuật của Pomonti là câu hỏi về việc kéo pháo ra khỏi thung lũng, lui ngày tấn công đã ấn định 25 tháng 1 sang 13 tháng 3-1954. Võ Nguyên Giáp trả lời bằng Pháp văn: “Le chef de nos conseillers chinois s’était prononcé pour une attaque rapide. Je donne l’ordre de retirer les troupes, y compris l’artillerie. La décision la plus difficile de ma carrière de commandant en chef.” (Cố vấn trưởng Trung quốc muốn đánh nhanh. Tôi ra lệnh rút quân ra, kể cả pháo binh. Là quyết định khó khăn nhất trong binh nghiệp Tổng chỉ huy của tôi.)
Trong chương Quyết chiến Điện Biên Phủ (trung), Vu Hóa Thầm cho một phiên bản khác: Chính Vi Quốc Thanh lấy quyết định hoãn tấn công và thay đổi phương thức đánh nhanh, thọc sâu, giải quyết chiến trường “nở hoa từ trung tâm” bằng cách áp sát, “bóc măng” từng lớp. Đâu là sự thật?
Đa phần sự thật không nằm trong những lý lẽ mà Võ Nguyên Giáp cũng như Vy Quốc Thanh viện dẫn, và một cách trùng hợp cả hai cùng viện dẫn chung những lý lẽ: Quân đoàn Tác chiến Việt Minh chưa chuẩn bị đủ; cần đưa sư đoàn 308 sang đột phá Thượng Lào để Navarre phải phân tán binh lực; các đại đoàn trưởng chưa tin chắc thắng. Các lý lẽ này ít đứng vững. Trước mỗi chiến dịch, Việt Minh đều rèn quân chỉnh cán, chiến sĩ và cán bộ chỉ huy đều phải học tập thông suốt đường lối chỉ đạo, thấm nhuần ý chí quyết thắng cũng như tuyệt đối tin vào đường lối đúng đắn của Đảng. Không được quyền băn khoăn, vì sẽ bị xem là “giao động”, chưa “giác ngộ”, còn “hữu khuynh”, chưa gột rửa tinh thần tư sản ngại hy sinh gian khổ. Chưa “quyết tâm phấn đấu”… Trên mặt quân sự, với 5 sư đoàn chính quy 304, 308, 312, 316, 351 cộng thêm trung đoàn độc lập 148 lên đến 60,000 lính, Việt Minh chiếm ưu thế tuyệt đối về quân số. Binh lực Pháp đã bị phân tán trước đó, không cần sư đoàn 308 đánh Thượng Lào, vì Navarre đã huy động toàn bộ tổng trừ bị tái chiếm Phú Yên-Bình Định vẫn đang tiếp diễn. Quân đồn trú Điện Biên Phủ không hề giảm đi sau khi sư đoàn 308 sang Lào.
Lui ngày tấn công, như thế không thay đổi chung cuộc. Với công sự không đủ sức chịu pháo, không đường bộ tiếp tế, khả năng không trợ kém, mười ngàn binh sĩ Liên hiệp Pháp tại Mường Thanh không có lối thoát giữa rừng núi vây bọc.
Nhưng như vậy, thì vì sao Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh bất ngờ lui tấn công một tuần trước khi khai trận?
Chính vì Hội nghị Bá Linh bắt đầu ngày 25 tháng 1-1954, là ngày ấn định khai chiến ban đầu. Anh, Pháp, Nga, Hoa-Kỳ ngoài bàn đến vị trí của Đức sau thế chiến, còn tìm cách giải quyết “vấn đề Đông Dương”. Nga-Sô yêu sách thành công sự tham gia của Trung cộng trong vòng đàm phán thứ nhì sẽ diễn ra vào tháng 4-1954 tại Genève. Chính đây mới là nguyên nhân lui tấn công sang giữa tháng 3 của Võ Nguyên Giáp (hoặc Vi Quốc Thanh). Chính từ lúc này Bắc Kinh sẽ gia tăng viện trợ tối đa cho Việt Minh để Chu Ân Lai đến Genève trong thế thượng phong. Nếu chiến tranh là cánh tay nối dài của chính trị, như Clausewitz định nghĩa, thì một quyết định quan trọng như vậy phải do Mao gửi công điện cho Vi Quốc Thanh hoặc Hồ Chí Minh hoặc Trường Chinh (tổng bí thư kiêm tổng quân ủy trung ương) yêu cầu Võ Nguyên Giáp trì hoãn. Cả Mao và Hồ Chí Minh đều cần biết kết quả hội nghị Bá Linh diễn ra cuối tháng Giêng.
Huyền thoại “kéo pháo ra”, trên thực tế cũng không cần thiết. Vì cho đến kết thúc, các tiền sát viên pháo binh Pháp và Phi đoàn Quan sát Pháo binh Bắc phần đã không xác định được vị trí pháo Việt Minh. Đại bác 105 ly của sư đoàn nặng 351 đều đặt trong hang núi, ngụy trang và kéo ra khi bắn.
[Trần Vũ]
Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp
Vu Hoá Thầm
bản dịch của Dương Danh Dy
Quyết chiến Điện Biên Phủ (trung)
Đứng trước kẻ địch điên cuồng, vận dụng cách đánh nào mới giành thắng lợi? Khi quân địch đóng giữ không quá 10 tiểu đoàn, cấu trúc công sự chưa hoàn thiện lắm, Vi Quốc Thanh từng nghĩ, quân đội VN có trọng pháo và pháo cao xạ trong điều kiện khống chế được sân bay địch và kiềm chế hỏa pháo của địch có thể áp dụng cách đánh nhanh thắng nhanh, chủ lực một cú đột phá, chọc thẳng vào trong lòng đich, tiêu diệt trước cơ quan chỉ huy, trận địa pháo binh và quân dự bị của Pháp “nở hoa từ trung tâm”, sau đó đóng từ trong đánh ra, giải quyết nhanh chóng cuộc chiến đấu. Võ Nguyên Giáp tán thành ý kiến này. Bộ Tổng Tham mưu QĐNDVN lập tức tiến hành bố trí chiến dịch theo ý đồ đó, dự định khoảng 20/1 mở cuộc tấn công.
Nhưng khi bộ đội trọng pháo của quân đội VN đến gần Điện Biên Phủ, trước mặt không có con đường nào để đi, không thể nào tiến vào trận địa. Mặc dù Võ Nguyên Giáp đã ra lệnh đại đoàn 312 giúp mở đường kéo pháo, nhưng do núi cao vực sâu, địa hình phức tạp, tiến triển chậm chạp, vẫn không thể nào tiến vào trận địa trước 20/1, do đó không thể không lùi thời gian bắt đầu chiến đấu. Bộ đội trọng pháo của quân đội VN được sự giúp đỡ rất lớn của đại đoàn 312 suốt ngày đêm đạp bằng mọi chông gai, mở đường, kéo pháo. Lúc này, Vi Quốc Thanh lại nảy ra ý nghĩ mới.
Vùng Tây Bắc dân cư thưa thớt không có nhà dân làm nơi nghỉ quân. Bộ đội VN ngày đêm đều đóng quân ngoài trời, chỉ có Đoàn cố vấn được chiếu cố đặc biệt, công binh chặt tre dựng nhà lá đơn sơ, để tránh gió mưa. Vi Quốc Thanh ở trong nhà lá mười mấy mét vuông trên sàn hầu như trải đầy bản đồ. Đồng chí thường nhìn chăm chú vào bản đồ suy nghĩ rất lâu.
Một cú đột phá, chọc thẳng vào trong lòng địch tiêu diệt cơ quan đầu não của địch, làm rối loạn hệ thống chỉ huy của chúng, làm cho địch không đánh mà bị rối loạn, từ đó đánh nhanh thắng nhanh, giành toàn thắng, đó là một cách đánh áp dụng nhiều lần và nhiều lần thành công trong chiến tranh giải phóng. Nhưng cách đánh này vận dụng ở Điện Biên Phủ có thích hợp hay không? Sau khi tìm hiểu kỹ hơn tình hình địch ở mặt trận, trong đầu Vi Quốc Thanh lúc nào cũng lởn vởn vấn đề này. Mắt chăm chú nhìn vào cứ điểm chi chít ở Điện Biên Phủ trên bản đồ, trong lòng Vi Quốc Thanh tưởng tượng ra một tình huống phức tạp về cơ sở phòng ngự của địch. Đồng chí nghĩ, quân đội Việt Nam thiếu kinh nghiệm đánh công kiên qui mô lớn, theo tình hình địch ta hiện nay, áp dụng cách đánh này thì không nắm chắc phần thắng. Đánh không tốt, còn phải chịu thiệt hại lớn. Vì vậy, cần thay đổi phương châm tác chiến.
Biến đánh nhanh thắng nhanh thành đánh chắc thắng chắc, từ ngoại vi vào trung tâm, tiêu diệt địch từng cứ điểm một. Đợi điều kiện chín muồi, mới mở tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch đóng giữ. Như vậy, có thể làm cho quân đội VN ở vị thế chủ động và rút kinh nghiệm từ trong từng trận đánh. Muốn như vậy phải chuẩn bị tác chiến thời gian dài, các công tác chuẩn bị phải làm thêm, không thể mở tấn công ngay. Xung quanh Điện Biên Phủ hiện nay, có nhiều bộ đội như thế, làm thế nào mới có thể phát huy tác dụng? Ánh mắt của Vi Quốc Thanh lọt vào vùng Ô Giang nam Thượng Lào, phía tây nam Điện Biên Phủ. Đây là một phòng tuyến hỗ trợ cho quân đóng giữ Điện Biên Phủ mà địch mới chiếm gần đây. Chiến tuyến tương đối dài, phòng ngự tương đối yếu, cách Điện Biên Phủ không xa lắm. Lệnh cho đại đoàn 308 ở tây Điện Biên Phủ đi đánh vùng này, rất nhiều điều lợi: tiêu diệt bộ phận sinh lực địch, phân tán binh lực cơ động của địch, giải phóng một vùng rộng lớn, càng cô lập Điện Biên Phủ.
Vi Quốc Thanh nghĩ đến đây trong lòng bỗng nhiên phấn chấn, lập tức bước ra khỏi nhà, đến chỗ Mai Gia Sinh. Đồng chí và Mai Gia Sinh bàn tính tỉ mỉ ý nghĩ của mình, Vi Quốc Thanh liền gọi điện thoại cho Võ Nguyên Giáp, nói có việc cần muốn bàn. Võ Nguyên Giáp đến ngay. Vi Quốc Thanh trình bày khá tỉ mỉ ý nghĩa mới của mình với Võ Nguyên Giáp. Võ Nguyên Giáp tỏ ý hoàn toàn tán thành thay đổi phương châm tác chiến. Nhưng việc cử đại đoàn 308 đi đánh thượng Lào, thì ngỏ ý để đồng chí sau khi suy nghĩ hãy quyết định.
Đại đoàn 308 là đại đoàn chủ lực số 1 của quân đội Việt Nam. Võ Nguyên Giáp suy nghĩ đại đoàn 308 đi Thượng Lào là một nước cờ hay cũng nắm chắc thắng lợi, nhưng ở Điện Biên Phủ có hơn 10.000 quân Pháp, trang bị tốt, khí thế hung hăng, liên tục chủ động xuất kích nếu biết được đại đoàn 308 đi Thượng Lào, chúng xuất kích toàn diện thì làm thế nào? Quân ta có thể trụ nổi không? Phần lớn đại pháo đã chuyển lên rồi, để tránh bị tổn thất cần phải đưa xuống, bộ đội sẽ có lời ta thán cũng sẽ ảnh hưởng đến tinh thần binh sĩ. Đồng chí mất ngủ, suy nghĩ một đêm. Ngày hôm sau, đồng chí đến gặp Vi Quốc Thanh, bày tỏ đồng ý đại đoàn 308 đi Thượng Lào tác chiến, đồng thời cũng nói rõ nỗi lo lắng của mình. Nghe xong, Vi Quốc Thanh nói: “Tôi thấy dù địch biết đại đoàn 308 đi Lào, chưa chắc dám xuất kích toàn diện. Nếu địch xuất kích toàn diện, chúng ta cũng có cách đối phó. Để tránh tổn thất có thể rút một số đại pháo đã chuyển lên là cần thiết, có thể nói rõ với bộ đội đại đoàn 312 vẫn phải tích cực mở đường chuẩn bị đưa đại pháo vào, nhất thiết không được lơ là. Bộ chỉ huy mặt trận cũng lùi về một ít, để bảo đảm an toàn”. Võ Nguyên Giáp yên tâm, tỏ ý tán thành sự sắp xếp đó. Đồng chí lập tức ra lệnh.
Thay đổi phương châm tác chiến đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc thắng chắc, rất nhanh được Trung ương Đảng Lao động VN phê chuẩn và Quân uỷ Đảng Cộng sản Trung Quốc đồng ý. Ngày 27/1, Quân uỷ Trung ương điện trả lời Vi Quốc Thanh nêu rõ: “Tấn công Điện Biên Phủ nên áp dụng chia cắt bao vây, tiêu diệt địch từng toán một. Mỗi lần tiêu diệt khoảng 1 tiểu đoàn, chỉ cần có thể tiêu diệt hoàn toàn bốn, năm tiểu đoàn thì địch ở Điện Biên Phủ có thể dao động hoặc rút chạy về phía nam, hoặc tiếp tục tăng viện. Cả hai trường hợp đều có lợi cho chúng ta”.
Cách đánh, đánh chắc thắng chắc từng bước tiêu diệt địch này, lúc bấy giờ gọi một cách hình ảnh là “bóc măng”, tức là bóc từng lớp một, ăn từng miếng một, cuối cùng tiêu diệt toàn bộ quân địch. Ngày 26/1, đại đoàn 308 tiến đến Thượng Lào, có nhiệm vụ tiêu diệt địch đóng giữ dọc bờ nam Ô Giang, xem tình hình đánh lấy Luông Prabang. Bọn địch ở phòng tuyến nam Ô giang nghe phong thanh tháo chạy. Đại đoàn 308 đuổi đánh dữ dội, trong 10 ngày tiêu diệt hơn 5 tiểu đoàn, giải phóng toàn bộ vùng lưu vực nam Ô Giang, tiến sát Luông Prabang. Navarre cấp tốc điều quân bằng máy bay từ đồng bằng Bắc Bộ và Điện Biên Phủ sang Luông Prabang và Mường Xay để chống đỡ. Đại đoàn 308 đã đạt mục đích tấn công Thượng Lào vì binh lực địch tăng thêm, cung cấp lương thực khó khăn, nên không tấn công Luông Prabang nữa, hạ tuần tháng 2 trở về vùng tây Điện Biên Phủ.
Đồng thời với đại đoàn 308 đi đánh Thượng Lào, Trung đoàn 148 quân đội Việt Nam tiến quân lên Phong Xa Lì, Thượng Lào, trung tuần tháng 2 giải phóng toàn bộ tỉnh Phong Xa Lì. Đến đây diện tích vùng giải phóng Thượng Lào lại mở rộng thêm 10.000 km2, nối liền với vùng Tây Bắc, Việt Nam. Quân địch đóng giữ Điện Biên Phủ càng thêm cô lập. Quân địch đóng giữ Điện Biên Phủ bố phòng nghiêm ngặt, công sự kiên cố hoả lực mạnh mẽ, làm thế nào mới có thể chia cắt bao vây địch, nuốt gọn từng miếng một? Đó là vấn đề Vi Quốc Thanh ngày đêm suy nghĩ. Vi Quốc Thanh có kinh nghiệm tác chiến phong phú vì đã làm Tiểu đoàn trưởng công binh thời kỳ trường chinh, nghĩ đến biện pháp thao tác áp sát và hào sâu tiếp cận địch. Tức tổ chức bộ đội đào hào sâu, lợi dụng hào sâu chia cắt, bao vây, áp sát cứ điểm địch. Sau đó bất ngờ tấn công. Như vậy có thể giảm thương vong bộ đội, lâu ngày đánh chắc, thắng chắc. Mai Gia Sinh cũng tán thành phương pháp này. Vi Quốc Thanh nói: “Hãy bàn với các cố vấn xem sao”.
Lúc này, vừa may cố vấn đại đoàn 308 Vu Bộ Huyết đến Ban chỉ huy báo cáo tình hình. Vu Bộ Huyết báo cáo tóm tắt tình hình đại đoàn 308 tác chiến ở Thượng Lào. Vi Quốc Thanh hỏi đồng chí: “Đồng chí có cách gì đánh Điện Biên Phủ không?”. Vu Bội Huyết nói: “Tôi nghĩ có thể dùng biện pháp áp sát. Tôi và Vương Thừa Vũ (đại đoàn trưởng 308), Lê Quang Đạo (chính uỷ 308) sau khi từ Thượng Lào trở về, ngày nào cũng tâm niệm làm thế nào để gặm cục xương cứng Điện Biên Phủ này. Tôi nêu ra trước biện pháp này, được các đồng chí ấy đồng ý, để bộ đội làm thí nghiệm trong ruộng lúa. Họ cảm thấy biện pháp này được, chúng tôilần lượt báo cáo lên”. Mấy ngày hôm nay, Vi Quốc Thanh lại mắc bệnh đau đầu, trên trán mang một máy giải nhiệt bằng nhôm, tinh thần mệt mỏi. Lúc này đồng chí phấn khởi đứng lên nói không ngớt lời: “Thế thì tốt rồi! Đồng chí nói tỉ mỉ xem nào”. Tiếp đó, đồng chí lại tập trung tinh thần lắng nghe báo cáo tỉ mỉ của Vu Bộ Huyết trong lòng đã nắm chắc.
Ngày hôm sau, Vi Quốc Thanh chính thức đưa ra kiến nghị nói trên với Võ Nguyên Giáp. Võ Nguyên Giáp phấn khởi tiếp nhận, chỉ nêu ra, quân đội VN ngoài số ít công binh ra, lâu nay chưa trang bị công cụ thao tác áp sát, đó là một khó khăn thực tế. Vi Quốc Thanh điện gấp cho Quân uỷ Trung ương Trung Quốc, yêu cầu nhanh chóng điều động số lượng lớn cuốc xẻng để đáp ứng nhu cầu khẩn cấp. Bộ Tổng Tham mưu quân đội VN tuân theo chỉ thị của Võ Nguyên Giáp vạch ra kế hoạch công trình xây dựng toàn bộ trận địa và truyền đạt cho bộ đội. Vi Quốc Thanh triệu tập họp cố vấn các đại đoàn, yêu cầu họ giúp bộ đội tổ chức thực hiện. Đồng chí còn kết hợp tình hình địch trước mắt, giới thiệu với phía Việt Nam kinh nghiệm tác chiến công kiên của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc giúp giải quyết các vấn đề chiến thuật cụ thể, để tăng thêm niềm tin thắng lợi cho bộ đội.
Vu Hoá Thầm
(đăng trong Thượng tướng Phong Vân lục Đại Bách Khoa toàn thư xuất bản năm 2000)
Phi cơ Morane MS.500 Criquet của Phi đoàn Quan sát Pháo binh GAOA 21 (21e Groupe Aérien d’Observation d’Artillerie)
Đại bác không giật 75 ly của Trung đoàn 35 Pháo binh Nhẹ Nhảy dù (35e RALP) tại Điện Biên Phủ.
Súng cối 120 ly của đại đội súng cối nặng Lê dương (1re CMMLE)
Tiểu đoàn 3 Pháo binh của Trung đoàn 10 Pháo binh Thuộc địa (III/10e RAC) của thiếu tá Alliou.
Tiểu đoàn 3 Bán Lữ đoàn 13 Lê dương (III/13e DBLE) của thiếu tá Paul Pégot trên cứ điểm Béatrice (đồi Him Lam). Trong hình đại liên Browning đạn 7 ly 62, nặng 18 ký, tầm xa 900 thước, nhịp bắn 400 viên/phút.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.