This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Khi định cư ở Hoa Kỳ, rất ít ai nghĩ đến chuyện sẽ sống ở miền quê, cho dù đã là nông dân nhiều đời lúc ở quê nhà. Nhưng vẫn có một số người, vì hoàn cảnh ban đầu khi mới đến, hay họ có tầm nhìn xa, nên đã chọn nghề làm vườn hay trang trại chăn nuôi. Nhờ đức tính cần cù, chịu khó, đa số họ thành công.
Nhà và trại gà với đàn bò (Ảnh SĐ)
Tùy thuộc vào khí hậu của mỗi tiểu bang, cuộc sống miền quê của người Việt có nhiều ngành nghề khác nhau. Chẳng hạn, tiểu bang Floria có nhiều vườn trồng các loại cây ăn trái của người Việt. Còn ở Texas, đa số người Việt ở miền quê, sống bằng nghề nuôi gà công nghiệp và nuôi bò. Vào hai thập niên gần đây, rất nhiều trang trại gà của Người Việt phát triển mạnh, nhất là vùng Texas và vài tiểu bang lân cận, tạo uy tín với 3 hãng gà lớn là Tyson, Pilgrim và Sanderson. Do đó, khi người Việt mua trang trại gà cũ hoặc xây trại mới, rất dễ được hợp đồng từ hãng gà. Chúng tôi có vài lần đến thăm các vùng nông thôn Texas, tìm hiểu về cuộc sống để thử lập kế hoạch về sống nơi đây trong tuổi hưu dưỡng, hợp với mức tiền hưu khiêm nhường và khám phá rất nhiều điều thú vị.
Cách thành phố Dallas khoảng 2 tiếng lái xe, có những “làng Việt Nam”, nơi đó người dân sinh sống bằng nghề nuôi gà. Tuy không đông đúc nhưng họ sống rất vui vẻ, gần gũi, thân thiện với nhau. Giá nhà và sinh hoạt rất rẻ. Vấn đề an ninh cũng rất tốt, có nhà không bao giờ khóa cửa và xe đậu ở trước nhà cũng không khóa, trong khi chìa khóa vẫn để trong xe. Trước đại dịch Covid, chúng tôi đến thăm anh bạn ở thành phố Winnsboro, TX, nghe kể có người quen bán căn “mobile home” tính luôn cả khu đất rộng, ngay bờ hồ, chỉ có 50,000 USD. Nếu ra khỏi khu thị trấn không xa lắm, có thể tìm mua căn nhà trên khu đất chừng một mẫu, với số tiền khoảng 100,000 USD không khó lắm. Ở đó, có đất trồng rau, cây ăn trái, nuôi gà đi bộ, câu cá, đi săn hoặc bẫy heo rừng. Nếu ai nghỉ hưu non hoặc đúng tuổi, sức khỏe còn khá tốt, con cái đã trưởng thành, muốn chọn một cuộc sống gần thiên nhiên và an nhàn, thì về những thị trấn nhỏ, không xa thành phố lớn, là một chọn lựa không tệ. Nhờ mọi chi phí thấp, người ta có thể để dành tiền cho những cuộc du lịch mình yêu thích.
Chỗ nhử heo đến (Ảnh Thuận Ng.)
Nhân tiện nhắc việc săn heo rừng, chúng tôi cũng tò mò muốn biết việc săn bẫy và làm heo ra sao, nên căn dặn người bạn ở Marquez City, Texas, khi nào có ai bắt được heo rừng về xẻ thịt, xin báo tin để chúng tôi đến tận nơi quan sát và cũng giải đáp thắc mắc cho đám bạn nhậu, rất mê món heo rừng xào lăn, heo rừng nấu rựa mận, đang thập thò muốn làm thợ săn và chính tay mình làm thợ mổ.
Theo chuyên mục Kiến Thức Trẻ của Ðinh Yên Thảo thì “Số lượng heo rừng tại Texas có đến 2.6 triệu con. Các cánh đồng bắp, lúa mì, đậu, khoai tây, cà chua bắp cải …là thức ăn khoái khẩu của chúng. Do đó, chúng gây thiệt hại mùa màng lên đến 500 triệu hằng năm và còn cao hơn nữa”. Vì thế, việc bắt heo rừng bằng cách săn bắn, đặt bẫy, được khuyến khích để diệt bớt chúng. Thợ săn thường bày một khu có đặt nước và thức ăn để dụ heo đến và họ ẩn núp trên một chòi cây cao, dùng súng bắn. Người ở “farm” thì đặt bẫy để bắt sống.
Một ngày giữa tuần, người bạn báo cho biết có heo mắc bẫy và vợ chồng anh chị bạn ở gần đó sẽ xẻ thịt trong ngày. Thế là chúng tôi vội phóng xe đi ngay. Ðến nơi, lần đầu tiên mới thấy tận mắt cái bẫy và con heo khoảng 50 “pounds” đang bị nhốt trong đó. Anh chị T, người đã làm heo rừng nhiều năm chia sẻ:
Bẫy heo rừng là một lồng vuông bằng sắt rất chắc, được đặt ở bìa rừng, cánh cửa mở rộng, bên trong, để thức ăn heo thích như bắp. Khi heo lao vào ăn thì cửa đóng lại. (Ảnh SĐ)
Chị T: Tôi qua Mỹ được 12 năm. Mới đầu sống ở Houston. Hồi ở Việt Nam nhà làm biển, nên giúp con làm biển một thời gian, sau đó lên đây mua trại gà. Vừa chăm lo trại gà, vừa làm heo rừng. Thật ra, tôi chỉ mới bắt đầu làm heo khoảng 3, 4 năm thôi, chứ trước đó, con gái săn được heo, đem về cứ để đó, không biết làm gì.
SĐ: Chị có học nghề làm thịt heo không? Tôi thấy làm một con heo, cạo lông, xẻ thịt, không phải dễ nếu không có tay nghề. Trước đây, tôi có theo bạn bè đi săn, đem được một con heo về nhà, bốn người đàn ông ráp lại, loay hoay bốn tiếng đồng hồ mới xong. Nhưng nhìn những miếng thị đã xẻ ra lổn ngổn, lụn vụn, chẳng ngon lành gì cả.
Anh T: Chúng tôi chẳng học nghề với ai, nhưng nhà tôi được cái vừa khỏe, vừa nhanh nhẹn, mỗi lần làm cải tiến một chút, làm mãi rồi quen. Có khi nửa ngày làm 20 con heo. Chủ yếu là bà nhà tôi, còn tôi chỉ phụ khiêng, cạo và khò lửa thôi.
SĐ: Chị cạo lông heo vừa nhanh, vừa trắng trơn, sạch sẽ. Thấy rất dễ dàng. Lần trước tôi làm, cũng nhúng nước sôi, không phải một lần mà đến hai lần, vẫn cạo không sạch là tại sao?
Chị T: Lúc nhúng nước để cạo lông, thì chỉ cần nước nóng 117 độ F. Mới đầu chỉ nhúng sơ con heo trong thùng nước cho ấm da, sau đó từ từ xối nước thêm. Làm heo mà nhúng nước đúng độ còn nhanh hơn gà, vì gà có lông tơ, nhổ rất lâu.
Cạo lông heo với nước ấm khoảng 170 độ F. (Ảnh SĐ)
SĐ: Nguồn heo là do anh chị bẫy được hay có ai cung cấp thêm và giá cả ra sao?
Chị T: Có một người Mỹ tại vùng nầy chuyên nghề săn heo cung cấp. Giá tiền tính theo con tùy lớn hay bé. Mới đầu giá rất rẻ, chỉ $5 hay $10 một con. Nhưng sau này có nhiều chỗ khác đặt hàng, nên ông ta tăng giá.
SĐ: Anh chị có làm heo to cỡ 100 lbs không?
Anh T: Không, chúng tôi chỉ lấy heo khoảng 50lbs trở lại. Heo từ 80 lbs trở lên, thì ông ta bán cho chỗ làm “sausage”, cả heo cái lẫn heo đực.
SĐ: Anh chị làm nhiều heo như vậy rồi tiêu thụ ở đâu?
Anh T: Chúng tôi có hệ thống “Freeze” để giữ cho heo tươi, rồi báo cho mối quen ở California sang lấy. Mỗi tháng hai lần, mỗi lần khoảng 2,500 lbs. Ở Houston, họ mua về bán lẻ, chỉ khoảng 500, 600 lbs. Năm nay, không có heo nhiều.
Khò lửa cho da vàng căng (Ảnh SĐ)
SĐ: Heo rừng có dữ dằn lắm không?
Anh T: Heo này phá lắm. Cái chuồng phải chắc chắn, không thì nó ủi sập, có khi nó leo lên cả mái nhà để thoát ra. Heo rất khỏe và rất khôn, nó biết lùi lại, lấy thế để ủi. Nếu để tự nhiên, khi nó rượt, mình chạy không kịp. Báo, sư tử, nếu có một mình thì cũng chỉ bắt được heo con, chứ không bắt được heo lớn. Anh thấy cái chuồng tôi nhốt đó, có lần con heo tông phá muốn sập song sắt và leo lên rồi kẹt ở trên, phải dùng súng bắn chết.
SĐ: Với cuộc sống ở đây, nếu làm heo như vậy, lợi tức có đủ sống không?
Chị T: Nếu có heo đều đều mỗi ngày thì cũng sống được. Nhu cầu sinh hoạt ở đây cũng thấp, chỗ ở rẻ, có gà, có heo rừng, thịt nai, có cá câu, có rau trồng để ăn. Còn chúng tôi thì chỉ là nghề tay trái, vừa làm trại gà, vừa làm thêm heo rừng.
Lột da con nai tơ chỉ trong 10 phút (Ảnh SĐ)
oOo
Cuộc trò chuyện chấm dứt khi nắng chiều sắp tắt và ngay lúc chúng tôi sửa soạn ra về thì có một thanh niên mang đến con nai vừa săn được, nhờ chị T. làm thịt. Chị vui vẻ nhận lời. Chúng tôi lại có dịp xem chị xẻ thịt nai. Không thể ngờ, chưa đầy một tiếng, con nai đã được ra thịt thật nhanh, thật gọn. Người thanh niên trở lại chỉ lấy một cái đùi nhỏ, phần còn lại anh tặng chị để làm khô nai.
Một ngày ở miền quê thật êm ả, không vội vàng, thật đơn sơ, giản dị. Người ta có thể cho nhau một con nai tơ, một con heo rừng, một thùng cá ngon vừa câu được một cách thoải mái, thân tình, rồi khi chiều về, dăm ba cặp vợ chồng ngồi lại nhâm nhi vài lon bia, với cá nướng, khô nai, cùng nhau ôn lại chuyện đời buồn vui. Bình an và thanh thản biết dường nào.
Nhiếp ảnh gia mỹ thuật người Pháp Réhahn nổi tiếng với những bức ảnh tài liệu và du lịch xuất sắc. Tuy nhiên, anh đã bắt tay vào một dự án mới với phong cách đáng kinh ngạc, Nhiếp ảnh theo trường phái Ấn tượng.
“Ốc đảo” của Réhahn
Bắt đầu một dự án mới
Réhahn đã đi tới hơn 30 quốc gia và hiện sống ở Việt Nam. Tuy nhiên, dù gọi Việt Nam là xứ nhà nhưng gần đây anh đã quay trở lại Pháp để kết nối lại cội nguồn của mình ở vùng Honfleur của Pháp, nơi được biết đến là nơi khai sinh ra phong trào nghệ thuật Ấn tượng vào thế kỷ 19.
Vào năm 2020 và 2021, Réhahn đang gấp rút hoàn thành một dự án kéo dài gần một thập kỷ, Bảo tàng Di sản Quý giá. Trong dự án đó, anh kể những câu chuyện của 54 dân tộc Việt Nam thông qua nhiếp ảnh mỹ thuật.
Tuy nhiên, khi đang tìm kiếm dự án lớn tiếp theo, đại dịch ập đến khiến việc đi lại của Réhahn bị hạn chế. Không nản lòng, anh bắt đầu tìm hiểu lịch sử nghệ thuật của xứ mình và nhận thấy rằng mình có mối liên hệ sâu sắc với Chủ nghĩa Ấn tượng và triết lý của nó.
Sáng chói” của Réhahn
Nguồn gốc của trường phái Ấn tượng và phong cách của Réhahn
Ấn tượng là một phong trào nghệ thuật thế kỷ 19 được phát triển ở Pháp, đặc trưng bởi những nét vẽ mỏng và rõ ràng, đồng thời nhấn mạnh vào việc khắc họa chính xác ánh sáng tự nhiên.
Vì sự nổi tiếng hiện đại của họ, thật dễ dàng để xem những người theo trường phái Ấn tượng như Claude Monet, Camille Passarro, Edgar Degas, và nhiều người khác, là những người đã vẽ theo một truyền thống nghệ thuật phong phú. Tuy nhiên, đó không phải là trường hợp. Những người theo trường phái Ấn tượng đã đấu tranh cật lực – bằng cọ vẽ – chống lại nghệ thuật theo phong cách hàn lâm nghiêm ngặt và cứng nhắc.
Ngay cả cái tên “Ấn tượng” ban đầu cũng phản ảnh vị trí dự kiến và thiếu tôn trọng của phong trào trong thế giới nghệ thuật. Thuật ngữ “Chủ nghĩa Ấn tượng” được rút ra từ một bài phê bình tác phẩm năm 1872 của Monet, Ấn tượng, Mặt trời mọc, trong đó nhà phê bình nghệ thuật người Pháp Louis Leroy đã viết, “Một bản vẽ sơ bộ cho một mẫu giấy dán tường còn hoàn thiện hơn cảnh biển này.”
“Ấn tượng” của Réhahn
Phong trào Ấn tượng ban đầu gắn liền với vùng nông thôn nước Pháp và cách ánh sáng mặt trời tương tác với những ngọn đồi, cánh đồng và bờ sông nhấp nhô.
“Réhahn đã tìm cách hình dung lại những ảnh hưởng ban đầu của những người theo trường phái Ấn tượng, nhưng theo một cách hiện đại. Ánh sáng là một công cụ thiết yếu đối với tất cả các nhiếp ảnh gia, việc tìm ra cách sử dụng nó theo phong cách hoàn toàn nguyên bản là một thách thức,” Trang web của Réhahn giải thích: “Từ chối sử dụng các bộ lọc hoặc bất kỳ kỹ xảo nào khác để chỉnh sửa hình ảnh của mình, anh ấy quyết định sử dụng chính thiên nhiên để tạo cho tác phẩm của mình một khía cạnh ấn tượng mà trong những điều kiện thích hợp, gần như có thể có kết cấu của sơn. Việc sử dụng các hình ảnh phản chiếu (nguồn cảm hứng thường xuyên của Monet), sự biến dạng của khung cảnh do sức nóng của ngọn lửa, hoặc thậm chí qua những giọt mưa rơi, là những hiệu ứng cần thiết để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật này. Họ cũng sử dụng những màu sắc bổ sung tươi sáng và khung cảnh đồng quê tràn ngập tác phẩm của các họa sĩ như Van Gogh và Passaro” Như Réhahn đã kể lại, Van Gogh là một họa sĩ theo trường phái Hậu ấn tượng, nhưng vẫn là một tác phẩm đáng đưa vào nhờ ảnh hưởng đáng kể của Van Gogh.
“Ngọn lửa II” của Réhahn | “Tôi thấy rằng lửa là chất dẫn tốt nhất cho hiện tượng ‘bẻ cong ánh sáng’, đó là lý do tại sao những bức ảnh này đều được chụp khi nông dân đang đốt ruộng để làm tươi đất. Tôi không thể kiểm soát sự biến dạng nhiệt,” Réhahn giải thích.
Cuộc thi Nhiếp ảnh gia về Chim chóc của năm 2022 đã được công bố, với các danh hiệu cao nhất được trao cho nhiếp ảnh gia người Na Uy Erlend Haarberg cho bức ảnh chụp một chú chim Ptarmigan đá trong bộ lông mùa đông đang bay trên những ngọn núi phủ đầy tuyết.
Rock Ptarmigan Bay | Erlend Haarberg, Na Uy | Giải thưởng Vàng và Bird Photographer of the Year.
Tổ chức Nhiếp ảnh gia về Chim chóc của năm cho biết họ có trọng tâm là bảo tồn. Năm nay, cuộc thi đã quyên góp hơn 5,000 bảng Anh cho tổ chức từ thiện Birds on the Brink của đối tác, tổ chức cung cấp nguồn tài chính quan trọng cho các dự án bảo tồn các loài chim trên toàn thế giới.
Cuộc thi có các hình nộp thi từ khắp nơi trên thế giới và năm nay hơn 20,000 hình ảnh đã được gởi để có cơ hội giành danh hiệu Nhiếp ảnh gia về Chim chóc của năm và mang về giải thưởng lớn 5,000 bảng Anh (khoảng 5,789 Mỹ kim).
Bức ảnh của nhiếp ảnh gia người Na Uy Erlend Haarberg (ảnh trên) mô tả một con ptarmigan đá bay trên khung cảnh mùa đông miền núi ở Tysforden, Na Uy đã được tuyên bố là hình thắng giải lớn nhất. Bức ảnh cũng giành giải Vàng ở hạng mục Chim trong môi trường.
“Ở trên núi cao, gió, tuyết và cái lạnh khủng khiếp của mùa đông trong nhiều tháng liên tục. Ðây là nơi Rock Ptarmigan phát triển mạnh trong một khung cảnh trắng vô tận,” Haarberg nói. “Vào một ngày đặc biệt của mùa đông này, tôi đang trên đường đến một đỉnh núi. Tôi gần như đã lên đến đỉnh khi phát hiện một số dấu chân của chim ptarmigan trên tuyết. Chẳng bao lâu một con chim đã bay, với bối cảnh ấn tượng cho thấy môi trường khắc nghiệt mà loài chim này gọi là nhà”.
Giải Nhiếp ảnh gia về Chim chóc trẻ tuổi của năm 2022 đã được trao cho nhiếp ảnh gia 17 tuổi người Thụy Sĩ, Levi Fitze vì hình ảnh một con Dunlin đang vật lộn với bão cát.
Đối phó với cơn bão | Levi Fitze, Thụy Sĩ | Giải thưởng Vàng và Young Bird Photographer of the Year.
Dưới đây là các hình ảnh đoạt giải ở 8 hạng mục: Chân dung đẹp nhất, Chim trong môi trường, Chú ý đến chi tiết, Hành vi của chim, Chim đang bay, Trắng đen, Chim thành thị và Hình ảnh sáng tạo.
Chân dung đẹp nhất
Dáng kênh | Ly Dang, Hoa Kỳ | Giải thưởng Vàng.
Chim trong môi trường
Kính vạn hoa | Paul Mckenzie, Ái Nhĩ Lan | Giải thưởng Bạc.
Sự chú ý đến chi tiết
Người đẹp đang ngủ | Andy Pollard, Quần đảo Falkland | Giải thưởng Vàng.
Hành vi của chim
Trận tay đôi trên Lek | Peter Ismert, Hoa Kỳ | Giải thưởng Vàng.
Tôi lên đường đi Huế hôm nay, 2-4-1958, là lần thứ nhì, vì tháng 3 năm 1955, tôi đã ra đó một lần rồi. Buổi sáng 2-4, tôi vô sở là Viện bảo tàng, lóng nhóng chờ lãnh lương. Được 7.790 đồng, để lại nhà 2.790 đồng, bụng bảo dạ khi trở về sẽ châm vô cho đủ 3.000 xài trọn tháng tiền chợ. Nay đem theo 5.000 bỏ túi, ân hận thấy ít, vì không mấy thuở được công du ra đất đế đô, cũng, nên thừa dịp mua sắm vài món Nội phủ sở thích, máy bay khứ hồi, đã có chánh phủ cho không, lại nữa cơm nước và chỗ trọ, đã có ông Viện trưởng viện Đại học ngoài ấy bao bọc.
Theo lời dặn thì 14 giờ khởi hành, còn lâu hoắc. Đợi mãn giờ làm, đạp xe về nhà ăn qua loa ba chén dằn bụng, nằm nghỉ lưng được một chút, kế soạn kỹ hành lý đem theo cho vào túi xách, pha một bình trà ngon ngồi nốc cạn bình, xong đâu đó rồi, lật đật lên xe xích lô mượn đưa lên địa chỉ 294 Phan Thanh Giản. Nơi đây phái đoàn tề tựu gần đủ mặt, chỉ còn chờ ông và bà trưởng đoàn đến là khởi hành. Trong lúc chờ, tôi ngồi đếm, về nữ sinh có năm sáu cô, về nam sinh có trên mươi người, nay cũng không nhớ tên, duy nhớ một anh Doãn Quốc Sỹ. Đây là các cô cử cậu cử tân khoa vừa thi đậu, được chánh phủ biệt đãi cho đi “bêu ngựa” Huế đô, ngắm gái đẹp trai xinh và phong cảnh đất Thần kinh và bổ túc sự nghe sự thấy. Ông Trương Bửu Lâm, giám đốc viện khảo cổ, làm trưởng đoàn. Nếu có nên cám ơn, thì cám ơn ông có lòng tốt để cho tháp tùng đi chơi không tốn tiền, chớ lão Nguyễn Khắc Hoạch và Nghiêm Thẩm, đều là bọn “đi cọp” như mình, không nói hai linh mục dòng Tên, Larre và Gélinas, và một sư huynh đồng hành thì cũng là “cọp”. Còn nói gì bà T.B.L., vốn là Bạch Nga xuất ngoại, theo chồng cho biết Huế, thì cũng là “cọp” cần gì cám ơn. “Phi thuyền” nầy là một chiếc máy bay quân sự, của lính dù dùng ra trận mạc, tiện nghi không có, từ trước tàu ra sau có hai hàng ghế băng dài bằng gỗ ngồi “u mê” thấy mẹ, khách ngồi đâu mặt nhau, có mấy sợi dây treo lòng thòng, phải nắm cho chắc, kẻo máy bay đảo thì té lăn cù, bà lật bùn rền, hai ông cha văng kiếng, văng nón, lối tóc hớt trọc có chừa một lỏm tròn giữa óc o. Ngồi một chỗ cả giờ, ngó mặt nhau mãi chán quá. Không biết bụng ai thế nào, chớ bụng tôi được đi cọp, vẫn suy nghĩ lung tung, tự hỏi thầm: chớ chi bà L, mập thêm một chút, dễ coi hơn, chớ ốm và giẹp như khô mực, thì bên Việt Nam phụ nữ đẹp hơn nhiều; còn tại sao cha L., tu hành giống gì mà béo trục béo tròn, trái lại cũng thì tu mà cha G, lại ốm tong teo, nội cái mặt chỉ thấy sống mũi cao và cúp vọp, hay lão ta dòng Do Thái? Một cô cử gốc gác miền Nam, mới gần nửa giờ đã tâm sự và thổ lộ can tràng: “Gái đời nay, không tiền không sắc như tôi, nên phải đi học làm vốn. Bọn có chút sắc, nhất là có tiền, trai nó cưới từ hồi mười bảy”.
Mảng nghe đến đó, máy bay đáp xuống sân Phú Bài mà không hay. Khởi hành 14 giờ, đến Huế 16g30, cũng mau khá đến. Có xe camiông nhà binh đến rước đưa đến toà viện trưởng, chào linh mục Cao Văn Luận, để ông dạy cho biết ăn đâu ở đâu. Các cô có nhà cha mẹ tại đây thì cứ về nhà, mấy cô khác gởi vô nhà kín ở tạm chớ không phải đi tu mà sợ. Mấy anh sinh viên trai ở chung một chỗ với nhau càng được thêm vui. Ông và bà L., biệt đãi, ở một phòng riêng, còn cha L, cha G, chực về tạm nơi tu viện ở đây, duy ba đứa tôi, Hoạch, Thẩm, và tôi, một già hai trẻ, được cắt cho một phòng rộng trên lầu thư viện Đại học, trước đây là trụ sở Ngân hàng Đông Dương, một toà nhà đồ sộ ngó ra mặt sông Hương.
Sấp xếp hành lý xong mà giờ cơm chưa đến, phái đoàn rủ nhau qua sông ra phố, thả xích phê dọc đường ngấm sơ cách bán buôn sinh hoạt Huế đô. Vả chăng tôi biết Huế từ 1955, năm nay 1958, tôi thấy Huế đã tiến bộ nhiều. Năm trước dạo phố thấy trong một hiệu bán kiếng đeo mắt, có một cái máy nhỏ dùng mài cạnh kiếng, thế mà cũng có kèm một mảnh giấy trắng viết đại tự quốc ngữ: “máy mài kính” dán lên trên, tôi nghĩ thầm xứ nầy là xứ văn chương, ông chủ nhà nầy quả là xứng đáng con cháu quan viên xưa, thích đề thi viết liễn và mỗi mỗi đều trông có dịp khoe chữ tốt văn kêu. Năm nay trở lại chỗ cũ không thấy cái máy ấy nữa, hiệu buôn kính đã biến thành một quán buôn sách, và từ buồng trong, nghe lảnh lót vọng ra, tiếng trong trẻo, có lẽ là của tiểu thơ con gái ông chủ nhà, nếu cô bán hàng làm công không lý tự do đến thế, hay đây là một Ngọc Cẩm, một Thanh Thuý tương lai Bà Lâm thấy gánh chè đậu ngự, gọi lại và đãi hết phái đoàn. Mụ bán chè còn mặc chiếc áo dài vá quàng, thân trên mới tinh, nửa thân dưới, vạt trước vạt sau là vạt áo cũ nhục nhục phai màu. Chiếc áo nên thơ, cần gì phải nón bài thơ, đây bắt nhớ lại câu hát cũ: “Áo vá vai, vợ ai không biết? Áo vá quàng chí quyết vợ đây!” đây hay là tôi, cũng vậy). Và một câu nữa: “thương em thuở áo mới may, Bây giờ áo đã thay tay vá quàng”? Vá quàng là áo vá nửa thân, trên mới dưới cũ, cũng là một cách tiết kiệm mót máy lớp trước, dè đâu phong trào tân tiến xằng theo Mỹ Thiệu, trước kia là Diệm Nhu, đã đánh chết khỏi từ đây, và đây là lần chót tôi còn thấy chiếc áo vá quàng nầy, và những lần sau ra Huế chỉ gặp bùn rền váy đầm, áo tân thời eo thắt ngang lưng, hoặc áo thun bó sát thân ngực chớ áo vá quàng hoàn toàn không thấy nữa. Ăn một chén chè khỏi trả tiền, mà nghĩ bao nhiêu chuyện. Đường Chi Lăng, phố Gia Hội, hai bên bờ con kinh đào từ đời vua Minh Mạng, gọi là phố Hàng Bè, trừ những nhà xây cất theo lối cổ nay không thể sửa đổi canh tân được, còn sót nhiều ngôi nhà đã có từ đời Thiệu Trị, Tự Đức, những nhà nầy để y như xưa, luôn cả táng đá đã lỳ mòn, có táng kiểu trái bí, có táng kiểu cánh sen lật úp, rất ngộ nghĩnh, thấy một nhà đang phá ra cất lại mới, bỏ cù bơ cù bất những tảng đá Thanh kiểu cái trống, giá thử không nặng lắm và nếu cho mình, mình sẽ rinh về làm kỷ niệm thì hay ho quá! Đâu là nhà Trần Tiễn Thành, thuở bị ám sát? Và Chợ Dinh ở đâu, có phải là khu khi xưa có dinh quan Thượng, Phụ Chánh nầy không? Có một mớ nhà khác đã thay kiểu mới, có kê thêm lầu lẹt đẹt, rộng rãi hơn thì có, nhưng kể về tồn cổ thì hỏng rồi. Những dãy khang trang tân thời, chiều chiều ngợp khách du, là dãy Trần Hưng Đạo dọc bờ sông Hương, tấp nập trai thanh gái lịch. Dầu sao và đi đến đâu, thành phố Huế còn lưu lại nét cổ kính và nhà nào ít nữa cũng còn sót một vài cổ vật: chiếc lư đồng cổ, cái khán thờ cũ, bộ chén trà xưa hay đôi chậu kiểng đời trước, còn luôn cả chưn chậu gọi là đôn, làm bằng đá Thanh đã meo mốc lang thương nhiều thế hệ. Đi ngang nhà cụ Nguyễn Đình Hòe, thấy trong thiên tỉnh có mấy chậu lan và một bể cạn có kiểu xinh xinh cổ kính.
Ngày 3 tháng 4 – Sáng điểm tâm rồi dắt nhau dạo xem trong Đại Nội. Nơi góc hướng nam, chỗ trước đây bà Từ Cung ngự, vẫn còn xưa sao nay vậy. Đồ sứ Pháp, đồ sành do Tây cống sứ và chế tạo tại các lò Sèvres, Limoges, còn giữ được rất nhiều, mỗi chưa cột đều có chưng một chiếc lục bình cao hơn thước, cái vẽ màu xanh đỏ, cái phết men thiên thanh, sau đây thấy bày trong vài phòng triển lãm Sài Gòn, khen cho vật không chân mà biết chạy, hay là vì túi tham không đáy, bất kể vật cổ tích quốc gia? Và nhám tay, ăn cắp là tội nặng.
Trước mặt tiền nam cung, có một sân rộng tường bao chung quanh, giữa sân có hai cây vải (lệ chi) do bàn tay ai trồng, lá xanh om, tàn tròn vịn, gốc lớn một người ôm không giáp: đang trưa đứng bóng, tuy nghe tiếng chim trong lá kêu lảnh lót mà gió lặng yên lá không lay động, khách như tôi đứng tần ngần lòng xúc cảm vô hạn, tưởng tượng chốn nầy ngày xưa náo nhiệt oai nghiêm bao nhiêu mà ngày nay thê lương, lạnh lùng bấy nhiêu nhưng xưa nay gì cảnh vẫn kín cổng cao tường và vẫn chứa ẩn ruột bí sử khó tả.
Buổi chiều đến cung chiêm lăng Vua Minh Mạng và chuyến về còn dư giờ ghé triện lại xem vị trí Hòn Chén và điện thờ bà Thánh mẫu Thiên Y A Na linh thính. Trong các lăng tẩm những vua nhà Nguyễn, không kể lăng đức Thiệu Trị bị hư hại vì bão lụt nhiều lần chưa tu bổ, so sánh lại, lăng Gia Long hùng tráng đơn sơ ẩn tàng nét hùng của một người dám chỉ ngay chỗ nằm, ngoài ra lăng Minh Mạng, quả là lăng tẩm một ông vua hưởng lâu cảnh thái bình và ăn ở theo sách, mỗi mỗi đều đối chiếu, đình tạ nguy nga, phảng phất một nét buồn rất nên thơ, xứng với một ông vua kiêm thi sĩ, một môn đệ trung thành với triết lý Khổng Mạnh. Tương truyền miếng thịt phải xắt thật tròn thật vuông, ngài mới bằng lòng.
Bữa cơm tối xong, chia tay ra về. Ba chúng tôi, Hoạch, Thẩm, và kẻ nầy, rủ nhau ra ngồi lan can cầu Trường Tiền xem kẻ qua người lại và xem cảnh sông Hương và thành phố Huế dưới ánh đèn. Lúc ấy chưa có lệ đuổi không cho dụm ba dụm bảy trên cầu.
Ngày 4 tháng 4 Hôm nay xem lăng Khải Định và lăng Tự Đức, có ông Bửu Kế, giám đốc thư viện hướng dẫn. Lăng vua Tự Đức rộng lớn và còn kiên cố nguyên vẹn. Nhìn kỹ lại đây quả là một “tiểu giang san” dành cho một ông vua đã quá mệt mỏi vì việc nước quá rối ren và đã có ý định rút lui về đây đóng vai thái thượng hoàng. Ai trách ông bao nhiêu, tôi lại thương và kính ông bấy nhiêu.Tôi kính ông là người con chí hiếu, tôi thương ông là người chung quanh bị bao vây bởi một bầy tôi bất tài, buổi tàn niên của ông còn thêm một số ăn hại, phá nát cơ nghiệp, chuyên ám sát người ngay, và ép vua nhỏ tuổi chạy theo dài dài.
Ở tôn lăng nầy mỗi đình mỗi tạ, mỗi cây cầu, đều có đặt chữ “khiêm” đứng trước. Đức Dực Tôn rất biết xét mình và trên các tờ “châu bản” để lại chữ son vua phê có khi còn dài hơn, nhứt là lời ngự phê còn văn chương lưu loát hơn văn các đài quan cử nghiệp Tôi đã nói ông vua nầy rất hiếu với mẹ, nay đọc lại bài Ngẫu cảm của ông (xem Nam thi hợp tuvển quyển 1 Nguyễn Văn Ngọc, bản năm 1927, trương 248):
Sự đời ngẫm nghĩ, nghĩ mà ghê!
Sống gởi, rồi ra lại thác về.
Khôn dại cùng chung ba thước đất.
Giàu sang chưa chín một nồi kê.
Tranh giành trước mắt mây tan tác,
Đày đoạ sau thân núi nặng nề.
Muốn để hỏi tiên, tiên chằng bảo,
Gượng làm chút nữa đế mà nghe!
Ông biết như vậy mà cũng không tránh được lời gièm pha của hậu thế, nào bất tài, nào để cho mất nước. Trách vua Tự Đức rồi thì còn lời nào để trách cứ cha ông vua vừa bị truất phế gần đây?
Nội cái việc truất phế, chung quy chúng ta vẫn lầm mưu một bọn ỷ đông làm cái việc thường thấy giữa đám dân làm ruộng trong Nam: một ông chủ điền vì ham mê bài bạc tửu sắc, bỏ ruộng lên chợ, giao sở đất cho tên “tằng khạo” coi sóc, rồi tên tằng khạo gian hùng ấy lập mưu hất cẳng, đoạt mất sở ruộng của ông ta; kế đó, trời bất dung gian, tằng khạo hưởng chưa được mấy năm, bỗng bị người khác hù làm cho hết hồn, chạy mất dạng rồi về chầu âm phủ luôn, thật là đúng như câu 3 bài nầy: khôn dại cùng chung ba thước đất.
Xem hai lăng về, cùng phái đoàn dùng cơm chung của ông viện trường đãi. Mãn tiệc. Thẩm, lui về phòng nghỉ ngơi, tôi rủ giáo sư Hoạch cùng đi với tôi ra bến xe, ngồi ô-tô buýt qua Kim Long, mò đường lần đến nhà ông Nguyễn Hứa Huệ, định đến đây tìm mua đồ cồ ngoạn. Ông Huệ là một y tá từng đi chích thuốc và trồng trái dạo khắp đó đây và châu lưu khắp các nơi hiểm hóc miền Trung, cho nên khi về hưu, ông góp nhóp đầy nhà những đủ thứ đồ cổ từ cái hũ đời Đường, Tống, qua cái chén sứ đời chúa Trịnh đến cái tô đá đời Tây Sơn. Một kỳ trước ông đề nghị bán trọn nhà cho tôi với một giá rất hời, nhưng tôi đã bỏ ra dịp tốt vì lúc ấy tôi quyết dành tiền cất nhà để ở, hơn sắm đồ cổ mà tôi đã có nhiều. Kỳ nầy tôi lại thì ông đã bán tất cả cho ông Hoàng Nai, những món còn lại đều xoàng xĩnh, tôi mượn của Hoạch một ngàn bạc để mua một chậu sành, gọi quán tẩy, nhưng khi về đến Sài Gòn tôi bán lại cho ông Nai, lỗ mất mấy trăm bạc, vì xem kỹ, cái quán tẩy tầm thường quá tôi đã mua lầm. Và tánh tôi không thích giữ gì trong lòng đã hết ưa. Sở dĩ tôi rủ được lão Hoạch đến Kìm Long, vì tôi khoe nhà ông Huệ, kiến trúc lạ lắm: Và nhà nầy quả rất đáng bỏ giấc nghỉ trưa để lặn lội đi tìm. Tôi chỉ cho Hoạch những nét đặc sắc của ngôi nhà lợp tranh nầy. Bề ngoài, nhà xem rất đơn sơ tầm thường, nhưng khi bước vào trong rồi, mới thấy cái vẻ đẹp khó kiếm của nó. Nhà chạm trổ thật khéo, dẫu nhà lợp ngói cũng không khéo bằng. Mấy hàng cột đều nhỏ chột thôi, độ một tấc ngoài trực kính, nhưng trơn láng bóng thấy mặt, nhẵn nhụi như có đánh một lớp sơn, sau rõ lại đây là loại cây lọ nghe, một loại gỗ mun là giống gỗ rất hiếm, và ít khi được ngay ngắn suôn đuột hầu làm cột nhà. Đặc điểm của ngôi nhà nhỏ bé nầy là có chưng mấy tấm “liên ba ngứa” tức những phiến gỗ chạm hoa sen (liên hoa, đọc trại “ba” vì cữ tên một bà hậu đời Nguyễn). Mấy tấm liên ba ngửa nầy chạm trổ rất công phu, có dây, có lá, có hoa sen đại hoá, có ngó sen bỏ vòi tinh xảo như một bức tranh thêu và vì lâu đời quá nên đã lên nước đen thui bóng ngời. Theo tôi, đây là một lối làm thêm đẹp một ngôi nhà tranh, tức chạm những phiến gỗ nầy đúng ni tấc lòng căn rồi đóng đinh bắt ốc miếng chạm lên mái để che bớt lá tranh lợp không đều; tôi chưa thấy một kiểu nhà nào như vầy và chưa vội kết luận nhà ngói nơi địa phương khác có nên dùng liên ba ngửa nầy không. Dầu sao, nhà tranh Kim Long của ông Nguyễn Hứa Huê có qua khỏi nạn hoả tai năm Mậu Thân chăng? Ở Sóc Trăng, năm xưa tôi có gặp nơi làng Thạnh Thới An, một nhà lá cột tre, mà tôi xin đổi với một vuông nhà ba căn vách gạch lợp ngói, nhưng ông chú nhà lá không khứng đổi. Về sau nhà này gặp nạn thổ đốt và đã không còn, thật đáng tiếc. Theo tôi, trường kiến trúc nếu biết lo xa, nên tìm những kiểu nhà nầy lấy kiểu để dạy hoặc mua về dựng lại cho trẻ đàn em học thêm thì hay biết mấy.
Ngày 4 tháng 4 là ngày lễ đạo kỷ niệm ngày Chúa thăng thiên, nên phái đoàn không dẫn dắt sinh viên đi dạo, Hoạch, Thẩm, và tôi, nhảy rào, không đến quán ăn chung với phái đoàn. Chẳng những vậy, thay vì thăng thiên, chúng tôi kiếm chỗ nhậu và ác ôn thay quán nhậu bán thức ăn rất ngon lại có tên rất chướng: “Quán cơm âm Phủ”!
Ngày 5 tháng 4 – Ngày nay là 17 tháng hai âm lịch, đúng ngày giỗ mẹ, thế mà mảng ham rong chơi ngoài nầy khiến lỗi đạo làm con. Tuy có nhớ ngày và căn dặn ở nhà phải nấu mâm cơm đạm bạc miễn thật lòng thành, dầu vậy cũng không khỏi thắc thỏm chốn tha phương. Sáng hôm sau, còn nằm trên giường nghe bầy sẻ trên ngay cửa sổ kêu rân, khiến nhớ nhà ghê. Chim sẻ bất cứ ở đâu cũng chót chét một giọng, không giọng Huế giọng Sài Gòn gì cả. Ngày thường không để ý. Nay vừa xa nhà mấy hôm đã khắc hoải và phân biệt nọ kia. Đi ra ngoài lạ mắt lạ tai, vui lên nên quên hết. Nay giựt mình không có mặt ở nhà để dâng nén hương trên bàn thờ mẹ, tui hỏi tủi, buôn huyền buồn. Người sao quá giàu nghị lực, lưu vong bình bồng đâu cũng là nhà, như vậy mới làm quốc sự và làm chuyện lớn được. Tâm trí như mình, không hơn đàn bà. Theo chương trình, hôm nay phải dậy thật sớm để đi lên lăng Thiên Thọ là lăng đức Gia Long. Đường vẫn xa hơn các lãng khác, lại rất vắng vẻ; biết đâu không gặp người lạ mặt làm khó dễ lại cũng phải đề phòng rủi ro việc khác. May sao, nhờ tàu máy và xe đưa mau lẹ, nên tiết kiệm được thì giờ quý báu. Lên đến chốn lại bất được một tin mừng khác là sẽ mục kiến tại chỗ một buổi lễ tế chư vị tiên đế, vì bữa nay đúng là ngày thanh minh. Lễ do chánh phủ ra lịnh tổ chức và do phủ Tôn nhơn cử hành. Đây là một dịp hiếm có, mừng thầm để xem ngoài này tế lễ ra thế nào, chắc là trịnh trọng lắm; ngờ đâu xem được rồi lại càng thất vọng, buồn tủi cho các liệt thánh, các vua cũ nhà Nguyễn.
Theo tôi, thà chánh phủ nhà Ngô nên bỏ qua đừng nhắc đến, còn hơn là sai làm lấy có. Khéo bày đặt một lễ tạm bợ, thiếu nhiệt tâm nhiệt thành. Đám cúng giỗ các vua trước, từ Gia Long đến Tự Đức, thế mà lộn xộn còn thua đám ma nhà héo trong Nam. Chúng tôi đang đi và nói cười dưới núi, vừa bước chân lên vòng lăng. Tôi đang đứng than thở trước cảnh voi đá gãy vòi, ngựa đá sứt tai, con nầy mất đầu, ngựa kia gãy đuôi, và hình đá các công thần, ông mất gươm, ông khác đầu lìa khỏi cổ lăn nằm dưới chân bên đôi hia gãy mũi, có vài ông còn nguyên vẹn thì chạm trổ không cân xứng, phần nhiều thân hình nhỏ bé, còn đầu thì quá to, tỏ ra nghệ thuật đời Cao hoàng kém thua nghệ thuật Chiêm Thành và Cao Miên, duy không hiểu có phải vì ẩn ý tạc tượng nhỏ để ngụ ý chỉ có ông vua nằm đó là lớn? Vì câu nệ nghi thức cổ hủ, nên mỹ thuật đi đời nhà ma, thuở nay mả vôi hạng nhà giàu trong Nam đến thằng lùn chun qua không lọt cái cửa thấp lè tè, cũng là vì bởi!
Nếu có được một chút đắc thể là trải bao tuế nguyệt nay tượng đã rêu phong meo mốc và tuy bằng đá nhưng vẻ mặt ông nào cũng có dáng tiều tuỵ rầu rầu phải chăng đá cũng biết buồn cho cuộc phế hưng thời đại. Đang đứng nghĩ ngợi, bỗng nghe tiếng chuông tiếng trống đánh dồn: tiếng kèn, tiếng thanh la inh ỏi tôi lật đật bước săn lên chánh điện để kịp xem hành lễ cúng Thanh Minh. Từ dưới dốc leo lên, ngước mặt thấy trước tiên bốn cái lọng vàng gió đưa và cờ xí tung bay phấp phới, lòng tôi rộn rực và khiếp phục, nhưng khi đến gần thì đây là một cảnh xốn mắt làm sao. Thuở nay lư hương thờ các tiên đế, lại lấy tô rồng năng móng cắm nhang vào, thôi cũng châm chế được đi. Nhưng tại sao nơi bàn hương án, tấm quân bàn và tấm lá chấn thêu vẫn không có và thay vào đó, là mấy tấm vải Tây đỏ tạm bợ, “chửi” mấy tô Nội Phủ lư nhang, và cảnh xem tang thương não lòng làm sao.
Tội nghiệp hơn nữa, là năm ấy vừa xảy ra một trận bão lụt lớn, và để tránh ngập nước, các chưa bàn đều kê gạch vụn, vừa xấu xí, vừa không xứng nghi thức tế thờ vua chúa chút nào.
Nghĩ cho các vua là vua mất nước, đây là lễ của người ta gắng gượng “thí” cho, nên có khác. Nhưng vong hồn các vua hưởng sao vô? Chủ đứng tế, là tộc trưởng trong tôn nhơn phủ. Như vậy cách lựa người đã xứng đáng lắm. Ngặt thay người ấy lại là người theo Jésus. Vì đã theo đạo Gia-tô, nên ông nầy, tuy cháu mấy đổi của đức cao hoàng, lại từ chối không chịu lạy trước bàn thờ tổ tiên theo lễ Khổng Mạnh dạy. Người ta đón tiếp phái đoàn văn khoa Sài Gòn, niềm nở đưa chúng tôi vào chỗ tế, rồi nghĩ sao ông dạy qua nói tiếng bơ với cha L, và G. “Lát nữa hai cha xem, tôi không lạy đâu! Lạy người chết trái với đạo của mình mà!”.
Tội nghiệp hai ông linh mục L, và G, khuyên giải cách mấy ông cũng nằng nặc không nghe, bởi ông là người triệt để theo thiên chúa giáo.
Hôm ấy tôi lại thấy trên bàn lễ có để thờ nhiều bài vị, thảy đều sơn son mạ vàng. Đây là ông tộc trưởng nghĩ ra cách dồn các vong linh các tiên đế vào một chỗ để tế cho gọn, quên rằng xưa kia, thể thống nhà vua, không khi nào ngồi ăn chung với một ai. Trong gia đình nghèo cũng vậy, bao giờ cháu con ngồi ăn chung với ông bà? Vả chăng mỗi vua có mỗi lăng, và mỗi chỗ nên có một cuộc tế khác biệt, nay tế một chỗ, các hồn vua cháu vua con nào dám cùng mâm đối toạ với vua tổ vua cha, rắc rối vậy thay, và các vong tiên đế phải một bữa nghẹn ngào tụ hội hưởng nhậm ăn nuốt sao vô? Nghĩ mà xót xa giùm. Tội lắm, ngheo ông tộc trưởng Tôn nhơn phủ?
Tôi thấy có tất cả ba bàn thờ, trên mỗi bàn cồ đặt nhiều bài vị. Ông tộc trưởng đã không khứng ra đứng lạy hành lễ, các chi nhánh khác vẫn luân phiên thay nhau ra quỳ lạy đúng phép. Nhưng các người ấy, khi thì rất đông, đến trên chục người xúm xít đứng chật một chiếu lễ, khi thì lải rải chỉ có năm ba ngoe, lạy lưa thưa trên một chiếc chiếu trải bên tả hoặc bên hữu chiếu giữa. Tôi không hiểu rành, nên hỏi nhờ một cụ Ưng…, đứng bên cạnh tôi (cụ làm việc nơi viện Văn hoá Huế). Cụ dạy nhỏ: “Đông người hay ít là tuỳ theo dòng lớn nhỏ, tuỳ thế hệ, tỷ dụ thế hệ “Ưng” nay đã ít ỏi nên lưa thưa, thế hệ “Bửu” còn trẻ tuổi nên nhiều và đông hơn. Vả lại khi tốp nầy lạy bên tả, tốp khác lạy bên hữu, là tuỳ theo chi nhánh, lạy ông bà của dòng mình, còn ông bà dòng khác thì đã có dòng khác lạy”.
Đến lượt một nhóm ra đứng hành lễ, thấy có một vị chít khăn chữ “Nhứt”, mặc áo dài rộng kết nút ngà, xem phải thế lắm, nhưng nhìn kỹ thấy ông vận quần “bi-ra-ma” (pyjama) sọc dưa lằn xanh lằn trắng là thứ y phục vận khi ngủ khi ở tư thất của Tây u, tôi không nhịn được, day qua hỏi cụ Ưng, cụ lấy cùi chỏ thúc tôi và đáp giọng bực tức: “Hỏi làm chi? Cái quần cúng lễ, nó đã bán ăn rồi!”.
Nhờ dự lễ nầy, lần thứ nhứt trong đời tôi, tôi có dịp hớp một chung trà “ngự tứ ướp sen”, nhưng vua chúa đâu còn? Hương trà vẫn thơm hơn các thứ trà đã nếm, nhưng hưởng chốn nầy, khi ngôi vua đã sụp đổ từ lâu, dẫu thơm cách mấy, hương trà không còn ngon như chầu trước. Dòm lại mình, thấy ăn vận lủn củn trong bộ áo ngắn cụt tay, lại tự hổ thầm, ngày xưa được uống trà vua, phải quỳ lạ y và áo khăn chỉnh tề đâu có như vầy? Và sự đổi đời, giá trị chữ Tự do, là như thế hay sao? Được cái nầy mất cái kia là vậy.
Nghe nói giống sen nầy lấy giống tự bên Trung Quốc, và khi xưa, hột sen hái nơi hồ lăng Thiên Thọ, luôn luôn phải dành cung tiến nội cung. Bông sen cũng lớn đoá và hương thơm hơn các giống sen khác. Và cũng nhờ có mặt hôm nay tại buổi lễ nầy mà tôi hiểu lễ xưa nhà vua “ban thịt tợ” ra sao. Nhơn buổi lễ tế, tôi để ý nơi gian nhà sau chỗ tế, thấy đang đứng ngồi lóng nhóng từ buổi sáng sớm một nhóm rất đông, có người sồn sồn, có kẻ đã già sụm, nhưng toàn nhẵn nhụi ông nào như ông nấy cằm mép không một sợi râu, và thảy đều mắc áo dài rộng màu lam dợt, da trời. Đó là mấy quan thị xưa, các vị thái giám, nội giám của triều đại cũ nay còn sống sót. Một lát nữa, khi lễ tất, các vị nầy sẽ khiêng ba con tam sênh (tam sanh) vào đây, rồi sả nó ra từng miếng lớn miếng nhỏ và tuỳ phẩm trật, tuỳ địa vị, sẽ phân phát chia sớt, trước cho các ông các cụ dòng hoàng tộc, sau cho các ông giám nầy cùng hưởng “Miếng thịt làng hơn sàng thịt chợ”. Không chi đó cũng là bổng lộc hoàng ân, và ban thịt tợ chầu xưa làm tạm ắt như thế nầy. Đây là thịt kiếng các tiên đế trước. Nhưng nói ra thì thẹn, và xin nói nhỏ đủ nghe:
– Con heo quay, đã nhỏ vóc lại ốm tong, da lợt lạt vàng mét, thật không bằng con heo hàng, con heo quay treo nơi sạp một anh Chệc Chợ Cũ Sài Gòn.
– Con dê luộc, da tải mét, có chỗ cạo chưa sạch lông, không ngon mắt chút nào!
– Con bê thui, vì làm hối hả, từ lúc nào, để đến hôm nay, đã có mùi. Bê thui trở mùi, ăn nín thở, thì ăn sao vô?
Ngó kỹ ba bàn thờ, thì than ôi ông trưởng tộc Tôn Nhơn Phủ đã quên mất bổn phận. Bổn phận của ông, do chánh phủ cắt sai, là đến đây hành lễ dâng hương cúng ông bà ông vải của ông, và cúng theo đạo Nho do ông bà để lại. Như ông muốn giữ chính đạo Giatô và vì ông là công giáo, thì ông nên từ khước. Bằng ông đã đại diện chánh phủ, thì đến đây lễ buộc ông phải khấn vái và lạy theo cổ tục ông đã không làm như vậy, tức ông mang tội với vong linh người chết và cũng mang tội với người sống. Nếu ông a dua tân trào, ông hành lễ miễn cương, gắng gượng, không ai khen ông đâu, lương tâm ông sẽ xét xử và sau nầy lịch sử sẽ phê phán ông.
Vua khi xưa, ăn mâm lớn cỗ đầy và ăn một mình một mâm. Không ăn thì hồn có đói chăng? Chớ ăn như vậy thì tủi. Người sống thấy còn khó chịu thay. Tôi không trả lời được. Ông sẽ đọc mấy hàng nầy không? Ông là dòng dõi vua, cháu chắt đức Gia Long, không thì cũng xa gần cháu con các vua khác. Nay ông dồn bài vị các vua cũ làm một chỗ, ông không lạy, theo tôi, ông có lỗi lớn với tổ tiên ông.
Ngó lại các hoàng hàng phái có mặt tại buổi lễ. Nhớ lại, vị nào có danh phận lớn, địa vị cao, bề thế rộng, hoặc có tiền trong túi, thì đã cao chạy xa bay, hoặc ở Paris, hay nơi ngoại quốc khác, không nữa cũng đã vào Sài Gòn. Còn lại ở Huế đô, người có máu mặt thì viện cớ nầy cớ khác, ở lại nhà hành lễ tại gia. Những người hiện diện hôm nay ở đây, hoặc vì phận sự bắt buộc, hoặc vì không nỡ bỏ ông bà nên phải đến dự, kỳ dư, như tôi thấy, bây giờ tôi mới hiểu vì sao các ông hoàng có mặt, không ông nào giống ông nào, như đã nói nơi đoạn trước.
Ở lăng Gia Long về, nhờ xuôi con nước nên tàu chạy mau, tới viện Đại Học, trời còn sớm chán. Ngó đồng hồ thấy điểm mười lăm giờ. Tôi lật đật gọi xích lô nhờ đạp lên hồ ông Hoàng Mười, đường Võ Tánh, tìm thăm Cụ ấm Tư Lưu Đình Tiễn. Để tỏ tình sơ giao. Cụ ấm biếu tôi một ấm Mạnh Thần, nhỏ và đẹp như loại ấm Cổ Nguyệt Hiên. Từ chối cách nào cũng không được. Té ra lòng tốt của tôi, đổ đường thăm bạn cố tri, lại hoá ra vì bụng tham vì ích kỷ. Đến để xin ấm trà, một ấm trà quý không dễ gì tìm! Lòng tham chỉ biết nhận, mới là xấu hổ hơn nữa?
Dẫn – Tôi định việt tập Hồi ký nầy đến năm 1947 là năm chạy lên Sài Gòn xây dựng lại đời mới, và lựa nhan sách là “HƠN NỬA ĐỜI HƯ”. Nhưng từ ngày được giải phóng, tôi thấy còn không mấy ngày, nhiều lắm là một đôi năm nữa tôi cũng nằm ngay cán cuốc, nên tôi có ý đổi tựa sách lại là “SUỐT CẢ ĐỜI HƯ”, và định chấm dứt hồi ký với năm 1974.
Hôm nay tái hồi như con ngựa chạy đã mỏi chân, tôi thấy đời của tôi cũng không đến nỗi “buôn huyền buồn” và khóc gió thương mây cho lắm lại càng vô bổ nếu không nói là lẩm cẩm.
Cũng là tiền định và rất toại nguyện, như:
1) Của tổ phụ, ông bà cha mẹ để lại, vốn là con đầu lòng, nhưng nay để lại cho hai em Quan và Cảnh, hưởng trọn, âu cũng chưa phải là con bất hiếu;
2) Năm 1943, mua được của ông Trần Thanh một sở đất rất là vừa ý, tưởng xây dựng nơi đây một vuông nhà theo ý tưởng, đất diện tích 5 mẫu 16.00, toạ lạc tại ấp Hoà Đức làng Hoà Thuận, tổng Nhiêu Khánh, tỉnh Sốc Trăng (tờ đoạn mãi để ngày 2-7-1943, đăng bộ ngày 17-7-1943, quyển Q.78 số 14 và Quyển 36 số 592). Đào mương đắp liếp tính việc nuôi cá trồng cây móc một ao sâu rộng 30 x 40m. Lấy đất đổ làm nền cao 30m x 40m rồi năm 1947, bán đổ bán tháo bỏ chạy lên Sài Gòn, ấy cũng may nền cao nhờ đó ngày nay trở nên nền chùa và thánh thất, và ao nước vẫn tứ mùa có nước ngọt để cung cấp cho đồng bào ăn và uống, ai nói việc làm không có âm đức? Có lẽ âm đức ấy, nhờ đó mà trời nhỏ phước cho có sự nghiệp ngày nay; âu cũng là tiền định.
3) Năm 1952 mua được đất vừa ý và mua được xác nhà lý tưởng, nhưng không đủ tiền dựng nhà. Khiến đâu nhờ gặp toàn hảo tâm, anh em cho mượn vừa đủ. Cất nhà rồi, lo việc trang trải nợ nần. Lại một dịp may khác: vay được tiền Sở Kiến ốc. Cuộc xin vay nầy lại là một bất ngờ lạ: ban đầu liệu cơm gắp mắm, tôi làm đơn xin vay ba chục ngàn đồng (30.000$00). Nửa tháng sau, viên thơ ký đòi lại, bảo viết đơn đổi lại xin vay năm chục ngàn (50.000$00) thì đơn sẽ được chấp thuận. Tôi vốn có tánh bi quan, nghi cho thấy rấp toan ăn hối lộ, nhưng cũng chiều lòng sửa lá đơn theo ý thầy muốn ngờ đâu nửa tháng sau lãnh được tiền 50.000$00 vốn, trả làm 60 kỳ, mỗi tháng trả 1.186$98 vừa vốn vừa lời trả đến 31-8-1958, dứt nợ. (Chứng chỉ giải trừ thiệt thọ ký ngày 5-12 năm 1958 của trưởng ty bảo thủ để áp quyền). Tôi thắc mắc theo hỏi thầy: “Tại sao vay ít ba chục ngàn, không cho; lại cho vay số nhiều năm chục ngàn?”. Thầy đáp tỉnh bơ: “Thầy không biết làm toán vay 30.000$00 không có biểu thanh toán (barème) vay 50.000 có bài toán làm sẵn, coi theo đó mà đòi, chớ không chi lạ!” Té ra tại mình xấu bụng nghi oan chớ thầy vẫn thanh liêm. Mô Phật!
4) Trả xong mấy mối nợ khuẩn bách, nhưng còn nhiều số nợ khác thiết yếu không thua. Đang cơ bối rối, vô kế khả thi, bỗng đáu mua vé số, trúng được một trăm ngàn đồng (100.000$) (trúng độc đắc thứ nhì, kỳ sổ ngày 10-11-1956, vé mang số 056.609), nhờ đó, có nước đồng nước sông mới đầy, làm nên sự nghiệp như ai. Ai dám nói trời không có con mắt?
Thành thử, vợ bỏ, thấy mất phần ăn gia tài của bà Phủ An để lại, nay đền bù, có hơn. Kết luận tiền của là phù du. Mất đừng buồn, có cũng chẳng nên mừng, cuộc đời như canh bạc, nói cách khác, như một đại mộng, con người như tay bài, khi ăn khi thua, phải biết giữ nét mặt đừng thay đổi, mới xứng ba chữ: gan, tỉnh, dằn.
Nếu để tôi kể như vầy hoài, thì buồn chán lắm và biết bao giờ dứt?
Vậy xin tóm tắt các việc xảy ra từ năm 1948 trong các bài riêng biệt như sau:
a) Với ông Năm Lửa ở Cần Thơ, độ nọ có người gởi thơ lên mời hiệp tác “làm từ điển”, tôi viết giấy trả lời sẵn lòng nhưng xin để cho chạy hiệu và không ra mặt. Té ra sau đó việc chẳng đi tới đâu kế ông Năm từ trần,
b) Dưới trào ông Bảo Đại, bà bá tước D, đến bảo đưa danh thiếp bà lên Đà Lạt tiến dẫn. Nhưng không có danh thiếp sẵn, nên ở đâu hoàn đó. Nhớ lại khi cất nhà, bà có cho mượn số tiền mười lăm ngàn (15.000$00), trả được mười ngàn (10.000$00), còn thiếu năm ngàn (5.000$00). Năm 1963, yết kiến bà tại Paris, bà bằng lòng cho luôn căn dặn tuy rằng không đồng một tôn giáo, khi nào hay tin bà từ trần, xin đốt cho một cặp đèn. Tôi thành tâm van vái Phật Trời, cầu xin ông và bà D, mạnh khỏe lâu dài, và ngày nói tới còn lâu mới đến. Ơn bà một kiếp không quên,
c) Trào ông Trần Văn Hữu, ông Hồ Quang Hoài và các ông thủ hiến kế tiếp, không được như “đầu chim vịt”, không được như hoa sen hay là môn ngứa, nhưng tôi vẫn là tôi, nhớ lại tuy ăn lộc đó nhưng vẫn không thấm nước. Mặc ai bôn chôn mình vẫn an ủi tìm cách hành vi đợi thời.
a) CỐ ĐÔ HUẾ VÀO NĂM 1958 VÀ BUỔI GẶP GỠ NGÔ ĐÌNH CẨN
Bài nầy tôi viết ra làm ba đoạn:
1 – Huế: vấn đề ăn uống.
2. Tôi nhớ Huế – chuyến đi năm 1958.
3. – Buổi tiếp xúc với ông cố vấn Ngô Đình Cẩn.
1. Huế: vấn đề ăn uống – Huế với tôi, quả có nhiều duyên nợ ăn và nợ ham mê đồ sứ cổ. Thuyết tiền định, không biết có nên tin được chăng, nhưng riêng tôi, nếu được ra viếng xứ Huế trước sau mười bốn lần không tốn tiền chuyên chở, không tốn tiền phòng vào thuở Huế còn chút ít hương vị cổ, còn phong gấm rủ là, chưa đến nỗi tan tành xí quách, âu cũng là một diễm phúc lạ. Mỗi lần như vậy, tôi ở chơi một tuần lễ, ít khi tôi kéo dài quá mươi hôm.
Tôi không bao giờ để mất thì giờ và luôn luôn học hỏi được nhiều điều bổ ích. Tuy tôi chưa biết Huế đầy đủ bằng nhiều người, nhưng trong thâm tâm vẫn tự hào, giữa Huế và tôi, mối cảm tình riêng khó diễn ra lời. Một ngày là duyên hai ngày là nợ, nếu vậy ba bốn liên miên ngày đến không nhớ mà đếm, như vậy mối tình Huế và tôi vẫn đậm đà biết mấy? Không kể từ năm 1965 đến năm 1967 tôi ra Huế, lúng túng như gà kẹt sân, quần thảo lân quẩn chung quanh cối xay, đi đi lại lại cũng chợ Đông Ba, mây con đường phố quá quen thuộc, hoặc viếng Viện bảo tàng không biết đến lần thứ mấy, hết Hoàng thành nội ngoại, đến xa nhứt là xóm Tây Lộc chọn lựa mua đồ sứ cổ, chớ hai lần trước kia, một vào năm 1955, một vào năm 1958, lúc ấy còn tự do và an ninh khá nhiều, khi thì tôi thuê thuyền ngao du tận lăng Thiên Thọ của vua Gia Long hoặc hái sen hoặc chụp ảnh cả ngày, khi khác tôi thời: cơm trưa trên bộ ván một, lăng ông Minh Mang, (gớm? Vô lê thật), cơm rồi kéo nhau xuống bến đò gần đó thời thêm món tráng miệng là món bánh bèo mặn, xong rồi nhấp chén trà sen ngự trà, hóng gió nghỉ ngơi đến xế mà mấy gặp ai khuấy rầy? Không như từ những năm 1965-1967, tình hình căng thắng, nói ra xa hơn lăng Tự Đức đôi chút là đã phập phồng sợ bị bắt cóc, sợ bị hớp hồn, vì vậy những năm đó, tôi đành chuyển nghề, không dám du ngoạn và an phận làm tên thợ vô danh đi săn đồ cổ. Nhờ vậy, tôi lục lạo rong chơi gần khắp các xóm thơ mộng gần Thành Nội, khi thì làm quen các nhà đại gia, khi thì viếng nhà các cựu công thần lớp trước, thôn Vỹ Dạ, xóm Kim Long, khu Thiên Mụ… Đến chỗ nào, ban đầu tôi bợ ngợ hít hà liền miệng, lạ mấy lạ tai, chầy ngày bớt thành quen, hạp tình hạp lý cho nên gần đây khi nghe tin Huế bị nạn năm Mậu Thân, tôi bồi hồi xúc cảm tưởng còn hơn khi hay tin chính gia đình Ba tôi và em tôi bị nạn Thổ đốt nhà cướp đoạt tài sản lúc chạy tản cư ở Thạnh Thới An năm 1946. Có thể nói khi Nhựt lật đổ Pháp thực dân, lúc ấy tôi đã về hưu trí non và vẫn bình thản điềm nhiên đi dự kiến đám chủ da trắng lên xe ca-mi-ông riu ríu đầu hàng quân đội Nhựt da vàng và mấy có nghe tiếng súng con súng lớn nào? Đến khi Việt Minh lên nắm chánh quyền, cũng có lộn xộn một thời gian, nhưng những lúc ấy nào biết giặc giã là gì dẫu bọn Thổ nổi dậy đốt phá chém giết thì sự tai hại cũng có chừng mực, và cái khí hào tầm vông vạt nhọn, phảng kép cổ dài đã che lấp những sơ hở buổi giành độc lập. Không như tai hoạ chiến tranh bắt đầu từ năm Mậu thân (1968), nay nhớ lại mới là tởn óc.
Đầu năm Mậu thân, ở đâu mà lại không có cảnh bị bắn giết đốt phá? Chính Gia Định cũng có cảnh nhà cửa tan ra cái bụi, bàn ghế của tiền thập vật cháy ra khói tro, chỉ vì người cầm quyền ngoan cố, bám theo chánh sách Mỹ và Thiệu chúng nó vãi tiền ra lại cho đồng bào ta cùng một giống cầm súng bắn lẫn nhau, là như vậy họ mới có dịp đục nước béo cò, không khác những tên tớ gian tham khi chủ sai đi mua vịt quay gà quay, giả lựa chọn con nầy nắm kéo con kia, liếm mỡ dính tay cho đã rồi đem về chủ một con gà một con vịt chỉ còn bộ xương dưới lớp da khô đét. Mỡ và thịt ai kia đã rút rỉa hết rồi! Nghĩ cũng thẹn cho con nhà văn trói gà không chặt, lúc thế bọn ấy đang mạnh cũng phải giả dại qua ải, và đợi cho đến ngày hôm nay chúng đã cút mất, mới dám nói ngay sự thật.
Chính năm 1968, tuy không làm gì nên tội, nhưng tôi đã “đánh trống chiến trong bụng”, khi hay tin chiến tranh đã lan tràn tới Ngã Năm Bình Hoà, và bót Hàng Xanh (Ngã tư Xa lộ) bị đột nhập, chỉ vì sợ quân lưu manh theo đóm ăn tàn kiểu Mỹ, cướp nhà hôi của. Tuy vậy tôi cũng chưa sợ mấy, và trong bụng một phần lại nghĩ khác, ước mong sớm thấy “đổi đời”, vì đã quá chán chê bọn tham nhũng vơ vét. Khi hay tin nhờ đọc báo và nghe radio, biết Huế đã thất thủ, trong hơn hai mươi ngày bị chiếm, nào thấy mất mát của chìm của nổi nào do bên kia lấy, và chỉ thấy bên nầy thừa dịp vơ vét rồi hô hoảng phi tang. Khi tôi trở ra đó một vài năm sau, chỉ thấy cung điện di tích cựu triều xác xơ điêu tàn, cho hay thành xưa điện cũ phải chịu vạ lây, vì bọn thiếu tài vẫn tham quyền cố vị, quyết ngồi lỳ vơ vét cho đầy túi tham, sống chết mặc bây! Trong khi ấy, đồ sứ cổ trong viện trong cung, chúng hôi giấu bán ra ngoại quốc rồi còn cả gan phao vu mất mát vì nạn chiến tranh. Xét ra lúc ấy “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, có mấy ai vào được trong Đại Nội, nếu không có giấy phép hẳn hoi? Và chính bọn gia nô bên trong mới có bàn tay nham nhúa nhứt. Nga có điện Cẩm Linh, Trung Quốc có cung điện nhà Thanh ở Bắc Kinh, cả hai nơi nầy vẫn bảo tồn nguyên vẹn. Nước Pháp có lâu đài như Versailles, Louvre và Fontainebleau là nơi nô nức khách hoàn cầu đến viếng. Khơme có Đế Thiên, Đế Thích. Chỉ có cố đô Huế ngày nay điêu tàn, chỉ vì ở một lúc dưới tay bọn giỏi chạy theo Mỹ nhát, ăn hại thì có, bảo tồn bảo thủ thì không ngơ. Cửa Thường Tứ, cửa Đông Ba, sau năm Mậu Thân, đổ nát như thành quách Chàm đời trước. Đến khi bày chuyện tu tao tái thiết, lại là một dịp quơ quào thồn nhét cho đầy túi thau. Chữ vàng “Ngọ Môn”, gân guốc sắc bén và làm bằng vàng thật, hai đầu rồng của cái ngai vua cũng làm bằng vàng thật, chúng đã tháo gỡ từ năm nào, cũng không thấy tìm ra thủ phạm. Cửa Đông Sa, nếu kể từ ngoài đi vô thành nội, nhớ mại thuộc mé hữu, có mấy phiến đá Thanh thật to, cẩn sát trong vách thành, trơn tru mòn lì như mặt tấm gương giồi, còn nhớ mỗi lần có dịp đi ngang, dầu gấp cách mấy cũng dừng bước lại rờ rẫm như thăm người bạn. Đã mấy đời, tay người rờ đá, đá cũng mòn. Tôi đâu phải là người tiên phong làm việc nầy? Từ đây không có dịp trở ra thành mấy phiến đá Thanh cửa Đông Ba có còn chăng? Hay trong lúc giận cá chém thớt, đã trầy trụa hay lủng lỗ đi rồi? Mà tiếc làm sao được, khi thân người buổi chiến tranh, còn chẳng ra gì thay, người xưa từng nói: “Nguyện tác thái bình cẩu, mạc tác loạn ly nhơn”. Vẫn xưa nay không đổi. Kỳ đài hùng tráng, Ngọ môn kiên cố, nay ra sao?
Lần đầu tôi ra Huế, chân ướt chân ráo, là năm 1955, ngày 15 tháng ba dương lịch ra đó, ngày 22 trở về. Tuy thì giờ ít, nhưng tôi thâu thập tài liệu khá nhiều. Bộ Giáo Dục chỉ cấp cho tôi bảy ngày phép, nhưng nhờ trường Viễn đông Bác cổ cần dùng tôi giúp chuyên môn và cấp theo tôi anh nhiếp ảnh có thực tài Nguyễn Mạmh Đan, hai tôi lúc ấy còn sỏi dẻo, đã đi khắp chỗ, viếng khắp nơi, từ trên lăng các vị vua triều Nguyễn cho đến trong sâu trong Đại Nội, từ cung điện cấm cho đến Viện bảo tàng, hoa viên tư gia, chùa xưa, phong cảnh đẹp bất cứ chỗ nào tôi ưng ý là anh Mạnh thâu hình vào máy… Mấy bức ảnh ấy, ngày nay tôi còn giữ và xem đi xem lại quả là những tài liệu có giá trị đánh dấu một buổi vàng son của thời Huế đô chưa suy sụp lắm (1955).
Ngày 2-4 dương lịch năm 1958, tôi lại được theo chân phái đoàn viện Đại Học Văn Khoa Sài Gòn viếng cố đô được một tuần lễ. Các sinh viên, chia ra nam và nữ, trên hai mươi người đều được phân ra làm nhiều tốp, gởi đi nhiều nơi có chỗ ăn và ngủ tử tế, chúng tôi, nhóm giáo sư ba người, ông Nguyễn Khắc Hoạch, ông Nghiêm Thẩm và tôi, được tạm trú trên lầu thư viện đại học (trụ sở cũ ngân hàng Đông Dương đời Tây). Ra viếng Huế kỳ nầy, mục đích của tôi là cung chiêm lại kỹ kiến trúc lăng Thiên Thọ (Gia Long) lăng vua Minh Mạng (Hiếu Lăng) và lăng Tự Đức (Khiêm Lăng). Nếu còn thì giờ, tôi sẽ liệu tìm cách hiểu qua kiến trúc của hoàng thành. Kỳ dư tôi không tha thiết mấy, nhưng bất ngờ là tôi được tháp tùng phái đoàn vào chào, cho đủ lễ, ông cố vấn Ngô Đình Cẩn, lúc ấy tuy giữ chức cố vấn nhưng còn hiền và chưa lộ vẻ hách như sau nầy (buổi tiếp kiến sẽ thuật trong một bài khác).
Thứ hai 7-4-1958, tôi theo phái đoàn lên xe ca-mi-ông mười bánh đi Đà Nẵng, để có dịp cho sinh viên miền Nam, các cô và các cậu cử tân khoa, được viếng đèo Hải Vân, năm hòn Ngũ Hành và Viện bảo tàng tại đó, tên Pháp gọi Musee Parmentter, là tên của nhà khảo cổ chuyên môn về cổ tích và nghệ thuật Chàm.
Viện nầy xét ra là một nơi duy nhứt liên hoàn cầu, còn tàng trữ được nhiều thạch bi, cổ vật và di tích Hời của nhiều thế kỷ đời trước, không biết nay có còn đủ bộ như lúc tôi được thấy năm đó chăng? Và nhà có công gìn giữ nhiều năm là ông bạn cũ của tôi Nguyễn Xuân Đồng, nay ắt đã về hưu và năm 1975 ông đã chạy về đâu? Nghĩ ra tội nghiệp cho ông: giữ của cho các vua Chiêm Thành, thì các vua đã thăng hà từ lâu, giữ gìn cho viện bác cổ thì viện ở xa không gởi tiền về, giữ cho các trào Diệm và vân vân thì các trào đổ thừa làm tôi cho Pháp thì theo Pháp mà đòi, rốt cuộc ông Đồng nay chạy đi đâu và sức khỏe ra làm sao? Tôi nhớ ông lắm, mà biết làm sao bây chừ?
Xế chiều ngày viếng Đà Nẵng, phái đoàn lên máy bay nhà binh trở về an toàn đáp sân bay Tân Sơn Nhứt, tuy hết ngây ngất vì đứng cả mấy giờ đeo tay trên trần máy bay và vẫn còn” u mê” (xin đừng nói lái) vì mấy ngày ngồi dưới sạp cây của xe nhà binh thì phải biết. Tuy vậy không ân hận chút nào vì thu thập được nhiều sàng khôn.
Nếu có ân hận là thầm tiếc không biết Huế lúc còn vua chúa, nhưng mất cái nầy được cái kia, nhờ vậy tôi biết bộ mặt Huế khi đã sạch son hết phấn. Viếng cố đô, vào tận điện vua mà khỏi mặc đại phục, kể cũng là một cái thú hiếm có! Nhưng viếng chỗ tôn nghiêm mà tự do quá mức độ như mấy kỳ ra Huế từ năm 1965 đến năm 1967, thì thà thủ lễ và còn nhớ chỗ đó đó có ông vua ổng ngồi mà hay hơn và không thầm tủi con cháu nhà học trò biết đọc sách!
Trong ba năm liên tiếp 1965-1966-1967, tôi được trường Đại học Văn khoa Huế mời ra đó dạy về “văn chương quốc âm Miền Nam”. Tôi mà sức mấy? Không một cấp bằng, không một chữ trong bụng, trước học ngoài đường ngoài phố xá. Nôm không thông, Hán dốt đặc, gặp ông Nguyễn Đạm hỏi tôi vua Tự Đức ngồi câu với thị Bằng ngồi nơi thuỷ tạ mà nơi gốc cột nào? Vua Tự Đức, cầu con mà muốn có con với bà nào? Vân vân và vân vân, toàn là những câu tôi không trả lời được, thế mà nhận làm giảng viên đại học văn khoa Huế, hèn chi người Nam có tiếng là “bán trời không cần có nhân chứng”. Nhưng tôi đã nhận lời, vì thuyết của tôi là “biết bao nhiêu nói bấy nhiêu”. Lại nữa đây là một dịp “nhứt cử lưỡng tiện”! Vừa nếm các món ngon kinh thành Huế, vừa đi săn cổ ngoạn cho phỉ tình. Duy từ năm 1967, là kỳ chót, một sinh viên khuyên tôi năm sau không nên ra, tôi nghe lời thưa với ông khoa trưởng cho tôi thôi dạy từ niên khoá 1968, có dè đâu anh sinh viên ấy biết được cơ trời, tiên tri trúng phóc, vì năm 1968 là năm Mậu Thân, biết chưa? Sự thật, tại sao tôi không ra Huế từ năm 1968, một phần là trong thâm tâm tôi tức tối vì sự khám xét phiền phức và sự hách dịch vô lối của nhân viên phi trường cũng như sự làm khó dễ bộ hành về hành lý và giấy tờ tra xét khi ra sân bay và khi rời phi trường. Vả chăng cái xách của tôi là toàn đĩa cổ tô xưa, các bác xóc ra xóc vào mãi thì mẻ sứt hết còn gì?
Ngày nay, ngồi viết hồi ký, còn tiếc vì chưa biết rõ tình hình đất Thần kinh đã biến chuyển ra sao từ hiến cố Mậu Thân.
Tuy vậy cũng an ủi được là biết Huế buổi còn thanh nhàn, ít nào cũng biết vài cổ tích còn sót, vài nhân vật cũ còn sanh tiền và nào phong cảnh cổ, cách thờ phượng, nhân tình ăn ở ra làm sao, chỗ nào làm bánh ngon, chỗ nào nấu ăn khéo. Cho đến nay, tuy không ra được nữa chớ lòng hằng nhớ những chốn đã trải qua.
Nhưng tuổi đã chẳng chờ ta rồi?
Tôi có một phương pháp riêng, chắc chắn giúp tôi biết nhiều về xứ Huế. Cứ mỗi kỳ tôi dự định lên đường ra đó, thì trước nhứt lúc còn ở nhà, tôi ra công nghiên cứu trước, một chỗ nào hữu danh, sau nầy khi ra tới đó, sẽ viếng thăm. Tỷ dụ tôi tra cứu các sách khảo về du lịch, và bộ sách lót đầu nằm vẫn là bộ Đô thành hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Huế) nói về lăng tẩm, chùa chiền, dinh thự đại gia như phủ Gia Hưng, phủ Vĩnh Lại, dinh ông Thân Trọng Huề, Tôn Thất Hân, v.v…). Xong xuôi rồi, khi ra đến nơi, tôi còn hỏi dò lại các thân hữu cố tri, hoặc nếu cần, sẽ nhờ mấy anh sinh viên thông minh đưa tôi đến chỗ và giãi bày bổ túc tìm hiểu những vấn đề còn thắc mắc; cụ Trần Tiễn Thành năm xưa đã chết cách nào và nhà nơi ông ngộ nạn nay ở đâu, thuộc khu phố nào, bây giờ ra sao? Và chỗ nào đức Duy Tân giả ngồi câu đợi Trần Cao Vân? Bến Ngự là chỗ nào? Và nơi đâu là chỗ “Ông già Bến Ngự” (cụ Phan Bội Châu) đậu thuyền? Cho đến ngày nay, ngồi viết bài nầy, tôi còn luyến tiếc một nhà ẩn dật đã gặp tại nhà cụ ấm Tư nơi đường Võ Tánh và nhớ tiếc không gặp lại để học hỏi thêm. Tiên sinh trước làm việc tại Quốc sử Quán Huế, cùng với ông Ngô Đình Nhu, dưới quyền ông Phạm Quỳnh. Khi tôi gặp tiên sinh; đầu đã bạc xoá như thúng bông, và hai ta trong buổi chiều tàn bóng xế nầy, biết có thuở nào gặp lại? Chu nhân là cụ ấm Tư, có danh là chuyên trà rất khéo, và trong buổi minh đàm (uống trà nói chuyện) tay ba, tiên sinh từng hỏi tôi xưa bà Thị Bằng hoạ thi với đức Dực Tôn tại góc nào nơi thuỷ tạ Khiêm Lăng? Vua Tự Đức cầu cơ cầu tự nơi nào? Và tại sao Ngô Đình Nhu không ưa nếu không nói là đố kỵ Phạm Quỳnh? Toàn là những câu hóc búa, tôi không trả lời được. Tự thấy mình quá dốt và mặc dầu làm giảng viên Đại Học Văn Khoa, tôi bỏ mặc cảm và hạ mình xin thọ giáo. Người ta học trong trường, tôi học ngoài hè ngoài phố là vậy. Tiên sinh có hẹn sẽ vào Sài Gòn thăm con và sẽ gặp lại nhau, nhưng tôi đã biết trước làm gì có cuộc tao phùng Bá Nha, Tử Kỳ. Không gần được người hiền để học thêm những gì hiểu biết sâu xa, tôi đành cam tâm làm con hạ thú vui với vấn đề bao tử. Bởi thế nay tôi rất tiếc quán mụ bán bún bò góc đường Chi Lăng, Nguyễn Du, nghe nói mụ đã xuống bán dưới âm phủ từ Mậu thân, và biết chừng nào lại ăn thứ bún bò của mụ? Cái mụ gì buôn bán lạ kỳ: ăn một tô, chưa thấm tháp vào đâu, vì tô có một chút nhéo. Kêu thêm tô thứ nhì, ăn vừa lưng lửng biết mùi kêu tiếp tô thứ ba, mụ trả lời cộc lốc: “Hết rồi!”. Mụ ơi, mụ chết cũng vì vậy. Tức quá mà! Một người nướng thịt có biệt tài dường thế, chết thật uổng. Đó là ý nghĩ của tôi, một người trọn đời không làm chánh trị, và để thì giờ nghiên cứu vấn đề ẩm thực vui cái dạ dày no bụng hơn! Tóm lại về phương diện “nhứt ẩm nhứt trác” tôi không chịu để thua ai và mỗi lần ra Huế, tôi đều có thảo thực đơn trước còn kỹ hơn nhà tướng vẽ hoạ đồ xuất chinh, hay nói trong nghề nghiệp, kỹ hơn tôi dọn bài cho sinh viên đại học. Khi ở Huế một tuần nhựt thì tôi dọn chương trình đủ một tuần; không kể những ngày gió bắt mưa cầm, mà ai lại không biết, một lần Huế mưa là mưa thúi đất, một cơn mưa hai ba ngày chưa dứt, tuy Huế không phải là quê hương của ả Chức, tội nghiệp nhứt là đám học trò con nhà xa đi học chợ, phải có sẵn một bộ khô để thay khi vào lớp, nhưng Huế đã có một thứ áo tơi chằm bằng lá khô, còn linh nghiệm hơn áo đi mưa của bọn Mèo nhiều. Những ngày mưa như vậy, tôi chỉ có nước ở lại trường. Ăn qua loa cho xong bữa, khi nem bánh mì, khi trở bữa mượn người nhà anh lao công chế biến độc vị “thịt nướng”, không thì gà luộc xé phay. Con gà Huế, nhỏ con, nhưng thơm ngon lạ lùng, hơn xa con gà Nam Vang, thịt nhớt, và hơn xa thật xa, con gà Mỹ, tuy lớn con mà thịt bủn rề như gà mắc toi, duy có rô-ti là ăn đỡ đỡ. Khi tôi tìm được quán của mụ bếp do ông viện trường linh mục họ Cao chạy vô Sài Gòn để lại, thì đà rất trễ, tôi không nếm được đủ món của tay ngự thiện phái nữ Huế đô nầy. Nhưng làm gì thì làm, không làm chánh trị nhưng tôi đồng tình với nhà ái quốc Tôn Trung Sơn, sự ăn sự uống là một “tối đại vấn đề” quan trọng còn hơn chầu xưa chọn ngày tế cờ xuất binh. Cứ mỗi lần ra đó, buổi đầu tiên là tôi rảo một vòng chợ rồi về phòng tả thực đơn, cân nhắc đắn đo để tránh sự bất ngờ và sự sai lệch chương trình hoạch định.
Có người đã trách tôi không thấy nhắc đến chè ngọt. Sự thật, tôi không thích ngọt các món như kem, đậu hủ và chè sen, đều thua ở Sài Gòn nên tôi không kể. Có thứ chè nấu với đậu ngự, tôi nhận là ngon, nhưng ít khi gặp. Tôi ít thức khuya và không tận tuỵ dầm mưa chịu cảm vì một chén chè bán dạo. Sở dĩ ra Huế tôi chú trọng nhiều về vấn đề ăn uống vì muốn thưởng thức cái ngon của xứ lạ Chợ Đông Ba bán nem nướng rất ngon, nem vắt tay chớ không vo tròn như ở Sài Gòn. Nước tương chấm thì không chỗ chê duy khổ một nỗi đang ăn ngon bỗng anh cùi thò tay vào khiến cụt hứng nuốt không vô.
Nạp tiền “mãi lộ” xong, lẩn bẩn giây lát lại thấy bàn tay không ngón chìa nữa. Tôi có tánh ham ca nhạc nhưng nhạc Huế chỉ nghe được một lần nhà cụ ấm Tư với nàng Bô tê từng hầu đức Hoằng Tông, vừa đàn vừa ca bản Huyền Trân ai oán. Muốn nghe dưới đò, ngặt sợ xúc phạm thuần phong mỹ tục, và gái xuống đò không sạch. Với mớ tuổi trên lục tuần, từ rày phải áp dụng lời dạy cổ nhân: “Dạ ngoạ bất phúc thủ” (đêm nằm chẳng úp đầu) và thú vui còn phải tránh “Vãn phạn giảm số khẩu” (cơm chiều bớt và miếng), sợ e trúng thực. Tuy nói vậy chớ tôi không để mất hai bữa bê thui và ca-ri dê là hai món khá đặc biệt của quán đường Phan Bội Châu gần một rạp hát bội lèo hèo. Quán chỉ bán mỗi tuần hai buổi bất di bất dịch: chiều thứ tư nấu ca-ri thịt dê và chiều thứ bảy, trở món bê thui, làm một tuần chỉ hai buổi mà cũng đủ làm giàu. Nếu so sánh với món ăn Sài Gòn, nội bò bảy món Chi Lăng cũng hơn xa. Nhưng ra ngoài lấy gì mà kén? Đại khái và ưng ý nhứt có món cháo lòng đường Phan Bội Châu, nước trong mà ngọt, vừa nhẹ tiêu vừa ngon mát, và khoái khẩu không kém là món cháo gà xôi gà đường Chi Lăng phố Già Hội, rất khổ và rất hạp vệ sinh. Khi nào tỳ vị tốt và lá gan không chứng nhõng nhẽo, thì nếm thử tô tiết canh Phan Bội Châu hoặc ăn bánh khoái Võ Tánh cầu Đông Ba đi xuống. Tôi không ghi trong chương trình những gì không thích như cơm Tây ở Câu Lạc Bộ mé sông Hương, gió mát thật nhưng đắt tiền và lạt phèo, quán Thượng Hải đường Phan Bội Châu bán cơm Tàu, dở như “Hạch” mà mắc không chỗ chê, và có một quán Tàu ở mút đường Chi Lăng, cảnh thật xinh mà nấu ăn thua Chợ Lớn xa quá, duy lúc tính tiền thì hơn Chợ Lớn rất nhiều. Ra Huế là để nếm của ngon vật lạ của người đất Huế, chớ thứ hột vịt lộn úp mề và cơm ăn Hối thèn (cơm Tàu hạng sang) thì thà để dành tiền về Sài Gòn, Chợ Lớn, ăn vừa khoái khẩu vừa khỏi bị cắt cổ. Một món lạ khác là ăn “cơm hến ngoài cồn”, nghe lạ tai, nhưng khi đưa đến chỗ tôi “ăn cơm ngó” chớ không thò đũa vô được, vì bình sanh tôi sợ mắm, lại nữa tôi đau chứng nước tiểu có lòng trắng trứng (albumìnurie). Năm khi mười hoạ, em tôi ở Sốc Trăng gởi mắm ngon lên, thì tôi ăn với điều kiện: ăn mắm phải ăn mình trần vận chăn, ăn trong xó bếp hoặc với vợ con, hoặc ăn không cho ai ngó miệng Ăn mắm không bao giờ nên mặc đồ lớn, như những buổi ra Huế là xứ có nhiều khăn đóng áo dài.
Đất Thần kinh, những món đặc biệt tôi thích là tỷ như trái vả, tròn tựa trái sung, nhưng lớn hơn nhiều, và chỉ mọc trên núi Huế, không thấy ai trồng hay là nó không hạ thuỷ thổ miền Nam. Trái vả xanh tươi, hái từ bụng núi đem về xắt mỏng. ăn kèm với rau ghém, khi ăn bánh khoái, khi kẹp thịt nướng, thì không gì thay thế ngon bì. Trái chuối chát trong Nam, dẫu là chuối non chuối hột, mùi lai cũng kém xa. Trái vả, chát vừa vừa và giòn rụm, có đặc tánh làm cho bao nhiêu chất dầu chất mo trong bữa ăn đều quánh lại và trôi mất, khiến ăn được thêm nhiều không ngán. Không thế nào trái chuối chát non hay miếng mít luộc đất Sài Gòn mà ngon hơn trái vả đất Huế. Và xin hỏi, trái nầy là của ta hay là sản phẩm của người Chàm? Tôi muốn biết đặng trả món nào cho người món ấy. Của Xê-da trả lại cho Xê-da (Rendez à César ce qui appartienl à César). Cho đến một thứ cải con nhổ ăn sống ngoài nớ, cũng khác mùi vị với thứ cải con đất Gia Định, Đồng Nai. Và tại sao cũng thì rau răm, là thứ rau cay cay mọc lẹt đẹt dưới đất thấp, mà rau mọc ở Huế thì thơm ngon lạ lùng, còn rau răm Sài Gòn, vẫn xanh lá tươi tốt không thua, nhưng mùi vị rất kém, không bì rau răm Huế chút nào. Có nhiều thứ rau nữa, ở Sài Gòn đều có mọc đủ giống, nhưng rau Huế cắn vào thơm phức khiến lần đầu ra đất Thần kinh, chuyến về tôi mang trọn một bao lớn đem về cho bà con thưởng thức món lạ đất nhà vua, nhưng một lần sau, nhơn đi ăn với một chị giáo sư người Pháp (chị M. Piat), tôi khen rau thơm ngọt, chị pha lửng một câu nữa khôi hài nửa đúng sự thật, làm tôi cụt hứng không mang rau về nữa. Tôi thì đinh ninh nhờ phong thổ đặc biệt, lạnh nhiều mát mẻ nên rau Huế thơm ngon khó sánh, nhưng chị đầm nầy cãi lại, nói một câu sét đánh: “Ils ne les lavent jamais!”. Tôi xin để nguyên văn và miễn dịch câu nầy ra tiếng Việt, vì không muốn vì một câu nói chơi mà làm mất niềm hoà khí gây hiểu lầm lớn chuyện giữa Việt và Pháp, nhưng suy nghĩ lại, thà dịch rồi bỏ qua: “Chúng nó không bao giờ rửa”. Người đồng bào Huế đô phải nhìn nhận tại sao quán bán bê thui, ngon thì có ngon thật, nhưng bầy hầy thiếu vệ sinh quá, dường như coi rẻ khách hàng: quán thì tum hủm chật hẹp, dọn vài ba cái bàn mà không cái nào sạch, ly chén không bao giờ cho vào nước e nó mòn đi chăng Mỗi lần dọn đũa, thì trao cho khách ba miếng giấy súc cắt vuông để khách tự lau đũa lấy, nói thật, tại vì bụng đói mà có tánh ham nếm món lạ nên mới lết đầu vào, chớ nhớ lại chờm gớm quá! Bưng tô ca-ri, anh dọn bàn nhúng trọn ngón tay cái luôn và móng lay viền lằn đen thui, miệng lại thập thò điếu thuốc Cẩm Lệ, ý chừng muốn khách thấy ca-ri có ngón tay nhúng là hiểu “ăn đi, vừa ăn, không nóng không phỏng miệng đâu!”.
Huế là xứ lạnh, dễ chịu. Đàn bà lớn tuổi, phần nhiều đều hút thuốc. Các cô quý phái ngồi xe nhà, chạy trên cầu Trường Tiền, cô nào như cô nấy thì thòm lo le điếu thuốc vấn trên môi. Các chị bán bún bò, vai gánh nặng trĩu, miệng cũng lấp la lấp ló nửa điếu thuốc tàn. Tôi hiểu vì lạnh điếu thuốc có mãnh lực làm cho ấm lòng, hay là mỗi cô mỗi bà đều có tâm sự buồn lòng nên cậy điếu thuốc giải sầu? Nhưng tôi là dân Miền Nam, chưa quen mất thấy người đẹp hút thuốc. Có một việc tôi công nhận là câu “ớt nào là ớt chẳng cay”, có lẽ câu nầy áp dụng xứ Huế thì chưa được đúng. Chính tại quán cơm Âm Phủ, bữa ăn thịt nướng rau sống, tôi nhai ngon lành ba trái ớt sừng trâu mà không thấy le lưỡi hít hà. Ớt xanh, rau sống, tỏi tươi, nem chua, trẻ, ngồi ăn mà nhớ đàn bà xứ nầy; ngay xưa làm cung phi, làm hầu thiếp nhà quan, vợ bé ông thương, ông hầu tước, đã quá quen cảnh ấy nên không ghen hay không dám ghen, thậm chí trái ớt xanh Huế cũng khác, không như ớt ở đâu đâu nhứt là nhớ ớt nhà, “ớt cay xé miệng mới là ớt ngon?”.
Đường Phan Bội Châu, núp sát hào nước bờ thành, có quán cháo lòng, hiệu đề hai chữ, nhớ chữ đầu là “Vĩnh”, chữ sau mại mại nhớ là “Lợi”, quán hiệu Vĩnh Lợi phải không? Đầu xuân Mậu Thân nghe dường như xóm nầy bom đạn nổ nhiều hơn chỗ khác và nơi thảm cỏ xanh trước quán có nhiều mồ mả mới vùi. Cái quán nầy hiện có còn chăng, hay đất Huế đã mất đi một nơi quan khách? Huế đô có rất nhiều quán bán cháo lòng, nhưng theo tôi, tôi chấm quán nầy là ngon nhứt. Đất Thần kinh, cháo lòng dọn với thịt luộc; trong tô cháo ở Huế, vẫn thiếu miếng dồi nướng đặc biệt của vùng Sài Gòn và của bợm nhậu, dồi dồn huyết tươi và sả ớt bằm, khi nướng mùi thơm bay nhột mũi. Quán Vĩnh Lợi dọn đĩa lòng ra không chỗ chê, nào bao tử, nào phèo non: nào tim gan giòn ngọt, nào dồi trường màu trắng buốt như bông bưởi, món thịt luộc thái mỏng cũng ngon ngọt lạ thường nhưng không một miếng dồi (hay là cháo ngon chấp dồi?). Ngặt chủ quán rất kén khách, dầu có tiền nhiều muốn vô đây phá mồi cũng không được với lão, vì thường ngày lão hay để dành mớ nhắm cho bợm quen; người khách lạ, đang ăn ngon miệng, xin rối thêm, lòng còn trong rổ mà lão dám đáp tỉnh bơ “đã hết”! Chẳng qua lão để dành hoặc cho khách quen chưa đến, hoặc lão nhớ còn một nồi cháo đầy, bán hết đồ lòng đồ bổi, lát nữa lấy gì bán kèm với cháo? Ăn thịt luộc ở Huế, khiến tôi bất nhớ món thịt luộc trong Nam. Tôi định con heo xứ Huế là giống heo nhỏ con, heo bản xứ, không bao giờ lai giống với heo các nước khác. Heo Huế tuy nhỏ con nhưng thịt săn và mềm, thớ mịn, khi luộc phay chấm với nước mắm Hòn thì ngon tuyệt, ngon không chỗ nói. Ở Sài Gòn và những nơi khác quen dùng thịt heo ướp lạnh, từ ngoại quốc đưa vào, còn như heo nuôi thì cũng là giống heo to con ngoại quốc nữa, hoặc heo gây giống ở Thuộc Nhiêu (Mỹ Tho), loại heo nầy thịt cứng sớ to chỉ dùng làm ram-bông (jambon) theo Tây tà, hoặc nấu nướng món thường thì được được, chớ ăn phay ăn luộc, dùng làm nem thì mất ngon và ăn không thú bằng heo cỏ heo ta: nem kém dai và nhai nghe xam xảm. Miệt Chợ Đệm, trong Chợ Lớn đi vô, mấy năm thái bình trước khi có chiến tranh, cũng có món cháo lòng nổi danh một thuở. Người đất Chợ Đệm, khoe ở đó có nước con sông Ba Cụm chảy ngang, khi luộc thịt lấy nước sông ở đó luộc thì thịt trở nên giòn ngon, vì trong chất nước có một chút phèn làm cho săn thịt. Tôi nghe mà không dám cãi, vì cắt nghĩa thế nầy nghe khoa học quá, đút miệng vào sẽ có người cười rằng mình dốt có tật hay cãi bướng. Nhớ lại lúc nhỏ, ở Chợ Đệm có một ông thợ bạc có con gái đẹp. Ông kén rể, đứa nào có đít lôm, cứ xuống Chợ Đệm coi mắt cô nàng, sẽ có một bữa cháo lòng mát ruột và chuyến về, dầu được dầu không, cũng có một cặp vịt sen đem về nấu cháo ăn thêm. Nhắc Chợ Đệm là phải nhắc “bối Ba Cụm”, ăn trộm có danh ngày xưa trong vùng. Ra Huế ăn cháo để đỡ lòng, dám mơ đâu cầu hôn như Lưu Bị thuở trước, e ngoài kia bị bối Ba Cụm.
Trở lại món ăn xứ Huế, bất nhớ đến tô tiết canh cũng bán tại quán Vĩnh Lợi đường Phan Bội Châu nầy. Tôi không hiểu tại sao tôi ăn được món tiết canh chỉ tại xứ Huế mà thôi, về Sài Gòn, tiết canh đường Hồng Thập Tự, và tiết canh ở Gò Vấp, thiên hạ vào chiều ngồi ăn nượp nượp mà tôi chạy dài không dám rớ; có lẽ tại Sài Gòn, thời tiết nóng bức, và tiết canh, cũng như thịt đông ngoài Bắc, chỉ ăn vào mùa có gió lạnh lạnh mới thấy ngon lành. Tôi lại nghe có lão mặc áo dài đen, trước đây giữ chức trưởng ban văn chương tại trường Văn Khoa, lão có đầu bếp biết làm tiết canh khéo, lão khoe hoài nhưng tôi tuy vẫn muốn nếm mà không muốn chơi với con quạ áo đen nầy. Nói vòng vo bắt nhớ buổi đầu tiên học ăn tiết canh ở Huế.
Tôi, chiều hôm đó bước vào quán Vĩnh Lợi, một mình. Tôi ngồi cùng bàn với một anh quân binh trẻ nói tiếng trọ trẹ. Thấy anh gọi tiết canh, tôi cũng bắt chước gọi theo. Anh đòi một ly rượu trắng, tôi cũng đòi nhưng chủ quán sai người mua cho tôi một ly rượu thuốc, và căn dặn phái mua cho được tại nhà hai cô gái đẹp gần dốc cầu Đông Ba, phía bên ni nè, gần nhà Hồng Thuận, hiệu buôn mè xửng danh tiếng. Rượu mua về, tôi nhâm nhi mấy hớp, ly rượu gần vơi, đầu khởi sự quay, vừa cháng váng tơ lơ mơ thì món ăn dọn ra. Tôi liếc anh quân binh, anh làm sao, tôi làm y như vậy. Anh lấy miếng bánh tráng nướng, bóp nhỏ thả vô tô, tôi làm theo. Anh trút hết chén nước tương thơm phức vào tô, tôi cũng làm theo. Anh nặn chanh, tôi cũng vắt miếng chanh đến không còn một giọt. Anh trút thêm đĩa dưa giá chua, rồi nào tỏi, nào ớt, nào gừng ngâm giấm, nào riềng thơm, anh đều cho hết vào tô: thảy thảy tôi đều làm tên học trò ngoan bắt chước thầy không sai một mảy. Đoạn anh cầm đũa ngó tôi như mời mọc: “Vô ta nè!”. Tôi cũng cầm đũa mời lại: “Anh làm trước đi?”. Câu nầy tôi nói nho nhỏ trong trí, đủ nghe lấy mình. Anh cười. Tôi cũng cười theo.
Anh bưng rượu nốc cạn ly, đánh một cái khà. Tôi cũng cạn nốc ly như anh. Anh kê đũa lùa thật mạnh tay bao nhiêu thứ trong tô vào mồm. Tôi cũng nhắm mắt lùa rau và máu tươi vào miệng.
Ban đầu tôi tưởng không thể nào nuốt trôi những thứ lạ ấy được, nhưng may sao, trước có rượu nóng làm tiên phong dẫn đường, và đây sẵn đạo hậu tập, trong miệng cái gì ngọt ngọt thơm thơm cay cay nồng nồng theo sau, tiết canh lần đầu càng ăn càng thấy hấp dẫn, ngon lạ ngon lùng; khoái khẩu tôi lùa hết tô đầy, dám húp luôn cạn nước chất đỏ đỏ béo béo dưới đáy tôi; đến chừng ngó tấm gương lớn treo trên vách, thấy mồm mép mặt mày tùm lum tề lê những máu và huyết. Khi ấy tôi đứng dậy, quên chào anh quân binh thầy dạy ăn tiết canh, lật đật lại quầy trả liền, ra đường gọi một anh xích lô đưa thẳng về nhà Mo-ranh (Đại học Văn khoa), leo lên giường nằm nhắm mắt, ban đầu ngờ ngợ trông một sự gì xảy ra, hoặc nôn ọe trả lại cho sàn nhà những gì mới nuốt, hoặc sẽ ngây ngất khó chịu với ly rượu thuốc gọi rằng rất bổ, không dè tôi đánh một giấc ngon lành thẳng thét, trời sáng bét hồi nào tôi mới thức. Đã không có bợn dạ, mà dường như trong bụng thấy mát mẻ hơn ngày thường. Từ đó, tôi ghi vào lòng, kỳ tới nếu ra Huế, thế nào cũng nhớ ngày thứ ba phải lại thưởng thức tiết canh của lão già Huế sồn sồn, mặc áo “cháo lòng”, vận quần “huyết heo”, lão không bao giờ biết tắm là gì, nhưng có tài bào chế tiết canh ngon tuyệt!
Vừa bổ vừa ngon, lại có thêm ly rượu “thuốc bổ”, thì nó khoái thế nào?
Quán cháo lòng quán cháo gà xôi gà, thì từ bốn giờ chiều mới mở cửa, và vừa quá bảy giờ tối đã đẹp. Khách hàng vẫn mấy mặt, gặp nhau hoài đến hoá quen. Mỗi quán mỗi ngày mua thịt thà vừa đủ bán, không cần khách ăn khuya, và như vậy không tội nghiệp cho kẻ lỡ đường lỡ một chuyến tàu. Ngày rằm và mồng một âm lịch, càng thêm khổ, vì các quán đều theo Phật giáo cữ sát sinh, thảy đều đóng cửa không bán. Có một kỳ nọ, tôi làm cách, ỷ y có quán, tôi từ chối bữa tiệc đám cưới của một bạn buôn đồ cổ, chồng Mụ Tám cố mời mọc, tôi không nghe. Rồi từ giã, bước đến đâu đều cửa đóng then cài, báo hại hôm ấy về phòng ăn bánh mì nguội với nem chua trừ bữa. Ngươi Huế rất giàu tín ngưỡng rằm ngươn, mồng một, đi đến chỗ nào cũng thơm nghi ngút hương trầm, và đây là thứ trầm thiệt đất Quảng, thơm nhẹ lâng lâng thoát tục.
Nhớ đến buổi chiều ăn cơm quán cóc do người Hải Nam làm chủ và đứng làm đầu bếp. Thú vô cùng. Ngồi cái bàn thấp thấp sát bên đường Trần Hưng Đạo. Ngó tới trước là phố xá đông đúc toàn những mắt nhung tươi cười, tóc cắt ngang lưng, nón bài thơ lơ lửng. Ngó ra sau là con sông Hương lùa gió mát, văng vẳng bên tai tiếng véo von từ đài phát thanh đưa lại, hồn mộng say sưa, con cá béo từ cửa Thuận An tươi rói, con tôm cũng tươi, đĩa gà luộc hay đĩa mì xào, đang đưa hồn tưởng chừng lạc lối Thiên Thai.
Trong Thành Nội, số nhà 70 đường Đinh Bộ Lĩnh, có quán bán cháo lươn và lươn miến, thêm chạo tôm và đồ bổi để nhậu. Vừa lạ miệng vừa ngon thèm. Con lươn đất đế kinh, thịt thơm, mùi vị rất khác con lươn đất sình trong Nam, tuy cùng một giống.
Nơi day phố lầu trước khi vào cửa Thượng Tứ, có một quán Hải Nam, có món mì hoàng thánh tôm xào giòn, thật là hẩu tố (hảo đa, ngon miệng). Con cá bống chiên của quán này cũng ngon quá thể, ăn giòn đến xương xóc cũng giòn và kỳ vi đều giòn, nhất là khúc đuôi vàng cháy, thật là giòn khớp, giòn rụm, hằm bà lằng (hết thảy) đều giòn. Ăn mút từ miệng xương đầu, gặm từ khớp xương đuôi. Ăn rồi bữa cơm thấy xương rải đầy mặt đất, giựt mình thấy mình rất gần thú hơn gần người, hèn chi ở Huế, nơi các nhà vọng tộc có tục ăn riêng không ngồi chung với ai. Ăn chung miệng nhai ngồm ngoàm, e mất thể thống! Làm dân Việt, làm con Lạc cháu Hồng, được ít nữa hai cái tự do mà qua các nước Âu châu phải cữ kiêng mất thú: ăn cho thật kêu, cắn xương rôm rốp và húp canh cho thật kêu, húp nghe sồn sột. Nơi khác gọi như vậy là thất giáo và bất nhã, nhưng nơi đây, như vậy mới là tự do khoái khẩu. Đến như xương xóc thì nên nhớ ba điều: ăn cơm Tây, tập giấu khúc xương, không bao giờ gặm trước mặt khách khứa; xương gà xương cá, phải chừa lại vén khéo sạch sẽ trên đĩa; ăn cơm Tàu tha hồ bỏ vãi vỏ cua và xương thừa trên nấp bàn trắng toanh như vậy mới cho chủ nhà thấy món đãi khách thật là ngon miệng; cháu 72 đời đức Thánh Khổng, năm trước qua Sài Gòn dự tiệc nhà nước, đã ợ một tiếng muốn điếc con ráy ông chủ tiệc là ông bộ trường Quốc gia giáo dục, cả bàn đều nghe, vì ông Khổng-cháu, muốn tỏ được thết bữa tiệc vĩ vèo. Giữa hai ông Tây và Tàu, chỉ có người dân Việt, được gần với tự nhiên, hoàn toàn tự do, không có sự kềm thúc đài các giả, tha hồ mút xương, gặm xí quách (trừ cốt) và cứ bỏ vãi xương dưới đất, dơ dáy ư, ối thứ nhà nghèo, đâu cần lễ phép, đã sẵn con mực, con vện tế độ, tẩy uế!
Đường Chi Lăng, từ cầu Gia Hội đi lên, nơi mé trái, một đổi xa xa nhưng chớ qua khỏi đầu đường Nguyễn Du, có một ngôi nhà trệt rất cũ kỹ, ba căn thấp lè tè, chưn cột đã bị mối nhắm gần đứt tiện, nơi ngoài mái hiên có bày một lồng kiếng rất sạch, trong lồng có treo lủng lẳng mười con gà luộc, da vàng lườm tươm mỡ, xé bán không kịp và phải mau mau vô lãnh phần không kẻo hết, vì độ hơn bảy giờ tối là đã cạn nồi cháo cũng như trong lồng không còn một con gà; Trong quán, gạch lót lâu đời nên đã tróc men, chỗ lồi chỗ lõm, nhưng chớ nên khó tánh câu nệ, chịu khó ngồi chờ phiên, vì cháo ở đây rất ngọt nước và đặc biệt là đĩa gà xé phay, tôi chưa gặp ở đâu ngon hơn. Khách đài các ở đế đô, thời một tô cháo là vừa, vừa cho dạ dày cũng vừa cho túi tiền; nhưng đối với khách hạng Trí Thâm, Bát Giới miền Nam một tô không phỉ. Xin thời thêm một đĩa gà xé phay nữa, và nếu thấy còn lỏng lẻo, hãy chêm thêm và kêu thêm một đĩa nữa, độc vị xé phay.
Tôi ra Huế nhiều lần, và cứ mỗi ngày thứ năm trong tuần, làm sao tôi cũng phải ghé lại đây thưởng thức món cháo gà Gia Hội, không phải quán chỉ bán có ngày thứ năm trong tuần như quán bán bê thui và ca-ri dê đường Phan Bội Châu, nhưng vì tôi dốt thơ, người ta thì thích ngâm thi Đường “lạc diệp tri thu”, tôi lại thích ra Huế nếm món cháo gà Gia Hội; Tôi tọc mạch muốn biết vì sao cháo gà xứ Huế ngon lạ ngon lùng. Tôi định con gà ở đây là gà không lai chạ, không giao thiệp với gà Mỹ và bởi rặc nòi, nên khi nấu nướng theo cách đơn giản địa phương gà luộc, thì đặc điểm gà Huế vừa xương mềm, ngọt thịt, nhất là da rất giòn và không nhớt.
Các bạn muốn cười thì mặc ý, nhưng hãy tin tôi. Có lần về Sài Gòn tôi bắt chước mua gà giò, lựa thứ lông vàng chưn cẳng vàng, đem về luộc xé phay và nấu cháo khi ăn vẫn thua gà Gia Hội.
Một phen sau đó, tôi ra Huế, đi một mình lại quán, gọi một tô cháo đặc biệt và một đĩa thịt xé phay có đủ phao câu, đầu cánh và một đĩa xôi. Tôi để ý mụ chủ quán trộn gà cách nào để ăn cắp nghề và muốn hiểu tại sao nó ngon đến thế. Té ra cái bí quyết chuyên môn chỉ dồn trong hai bàn tay trầu của mụ. Mụ đứng bán từ xế chiều đến xẩm tối, tuy trước bụng mụ có nịt một tấm khăn choàng khá sạch, nhưng miệng vẫn nhai trầu tay vẫn xỉa thuốc, khi khách gọi gà luộc thì cũng bàn tay ấy mụ xé thịt, xé chớ không xắt không chặt, khách gọi xôi thì mụ cũng bốc xôi với bàn tay xỉa thuốc ấy. Đến lượt tôi dặn ba món: cháo gà, gà xé phay và một đĩa xôi, thì mụ vẫn để y tay từ ban nãy, vốc một mớ rau thơm lấy ngón tay ngất vụn bỏ vào đĩa, một tay sửa cục thuốc xỉa cho đừng rớt, quẹt sơ tay vào khăn choàng bụng, xong rồi lấy tay ấy xốc xốc trong tổ gà xé rời, lựa mấy miếng cho vừa giá tiền, xé nhỏ ra vụn, cho vào tô vào đĩa, bốc thêm mỗi món trong rổ lớn nào phao câu nào đùi gà, nào chéo cánh như lời tôi đã dặn, đoạn dùng trọn hai bàn tay còn trầu vừa nhồi vừa trộn xốc xáo, vừa bóp nặn cho đến thịt gà thật nhão mềm, thấm thía chất ngọt, kế đó lanh lẹ bà thò vá múc vào nồi cháo sôi sục, múc một vá nước cốt gà nóng hổi cho vào tô vào đĩa, rắc sơ ba hột tiêu lên mặt rồi sai bưng lạ tôi.
À há! nói có hại bên vai vác chứng miêng, và xin các bạn Huế chớ phiền, sở dĩ tô cháo gà và đĩa gà xé phay Gia Hội ngon không đâu bì, bí quyết là vì nơi xứ khác, làm gì có bàn tay trầu mụ bán cháo Huế?
Cà phê Hải Nam mé sông gần chợ Đông Ba, pha thật ngon thơm, nhứt là khi gặp tiết trời lạnh lẽo buổi sáng tinh sương, mấy lần trước khỉ ra sân bay, đến nhấp tách cà phê phin lúc sương còn mù mù, hớp từ hớp nóng thơm ngát, sông Hương vận khói, núi Ngự tăm tăm, lòng lâng lâng không muốn rời. Cánh tuyệt diệu, mấy giọt cà phê như cam lồ thần tiên…
Chợ Đông Ba, giữa hai quán Hải Nam bán điểm tâm bánh bao và hủ tíu, có một mụ dáng người cao mảnh khảnh, thường mặc áo dài trắng đã xuống màu hoen, sớm nào cũng gánh ra đây một nồi bún to ộc ệt. Tôi đã từng dùng bún riêu do mấy cô mỹ miều bày quán ở Sài Gòn. Mỗi khi ra Huế, mỗi sáng sớm tôi đều chứng kiến mấy chị sồn sồn thi nhau gánh gánh chạy ngang khu Đại học Văn Khoa Mo-ranh cũ, để chạy qua cầu Trường Tiền, qua khỏi cầu sao sao cũng hạ gánh xuống, lấy thuốc Cẩm Lệ ra hút, tán gẫu vài câu cho bớt lạnh, vừa lấy gạch cua gạch cáy ra tán nhỏ, giằm thật nát, cho vào nồi chao qua chao lại cho đều màu, rỗi gánh ra chợ bán. Tôi dám chắc trong các chí, không chị nào có nồi bún riêu ngon bằng chị có gánh đặt ở giữa hai quán cóc Hải Nam chợ Đông Ba nơi mé sông Hương nầy. Tháng chín năm 1967, chị bán mỗi tô là ba chục bạc, thật rẻ không chỗ nói. Chị rất biết chiều lòng từng người khách. Mỗi lần chị múc, chị xem tướng người mua. Chị liếc sơ, độ ý khách rồi mới giạo trong nồi tìm miếng thịt giò cho trúng ý. Chú lính trẻ còn răng, chị lựa khúc xương vừa giòn vừa dai để gặm cho đáng đồng tiền. Đối với tôi, ông già quá tuổi, chị lựa miếng giò để khi ăn còn nhớ đến phen sau. Có người nhớ Huế vì khúc Nam Bình canh khuya nghe giữa sông vắng. Tôi mà có ra Huế biết bao giờ? Một lẽ khó nói, hay là vì khúc xương giò thưởng thức buổi sáng trên bờ sông Hương
Mới vừa sáng sớm, nghe bên ngoài có tiếng động, tôi đã choàng ngay dậy nghe ngóng. Cả đêm hôm qua tôi thức trắng, nằm co ro với bao lo nghĩ lẫn quẩn mãi trong tâm trí, nên cảm thấy đầu nhức như búa bổ. Nhìn chung quanh phòng giam trống trải, cảm giác cô đơn lôi tôi trở về với thực tế của một tên tù khốn khổ càng làm cho tôi thấy bi đát hơn. Ngồi nhìn quanh quẩn được một lúc thì tôi nghe có tiếng mở khoá cánh cửa sắt lớn bên ngoài, không lâu sau đó có một người từ bên ngoài mở cửa gió nhìn vào hỏi:
– Anh là người mới vào đêm hôm qua phải không?
Tôi chạy vội lại phía cửa trả lời:
– Phải, tôi mới vào đêm qua.
Nhìn qua lỗ cửa gió tôi thấy gương mặt một người quen quen, nhất thời tôi không nhớ ra là đã gặp ở đâu. Người đó không nói năng hoặc hỏi gì tiếp, đóng sập cửa gió lại. Một tia chớp thoáng qua đầu, tôi nhảy vội lên song sắt phía trên cánh cửa, nhìn ra thì thấy người hồi nãy đang bước vào dãy kiên giam bên trong, tôi kêu nhỏ:
– Anh có phải là Hồng không?
Người đó quay lại nhìn ngược lên phía trên mấy song sắt chỗ phòng tôi:
– Anh xuống ngay đi, cán bộ thấy là bị phạt bây giờ.
Advertisement
Tôi vẫn còn chưa chịu nhảy xuống, cố gắng hỏi tiếp:
– Anh là Hồng, Lê Viễn Hồng khoá 6/72 Thủ Đức phải không?
Người đó nhìn nhanh ra phía cửa sắt lớn phía ngoài, rồi đi ngược lại phòng tôi mở cửa gió ra:
– Nhảy xuống ngay đi, bị còng giò bây giờ. Phải, tôi là Hồng đây, anh là ai mà biết tôi?
Tôi mừng quá nhảy ngay xuống và trả lời anh ta qua lỗ cửa gió:
– Trời ơi! Tao là K. cùng khoá 6/72, ở trung đội 4 nè. Sao mà mầy cũng ở đây vậy?
– K. hả?? K. nào kìa?? Xin lỗi nhất thời tôi không nhớ rõ… – Anh ta vừa vỗ vỗ trán như cố gợi lại trí nhớ vừa nói – Tôi đúng là Hồng khoá 6/72 đây. Tôi bị kẹt vụ vượt biên, còn mấy tuần nữa hết hạn rồi. Còn anh bị bắt về vụ gì vậy?
Như vậy thì đúng là thằng Hồng rồi, tôi mừng quá trả lời nó:
– Anh anh, tôi tôi con mẹ gì. Tao là L.V.K. trung đội 4, ở trong ban văn nghệ của khoá mình nè. Lúc tụi bây đi chiến dịch tụi tao ở lại giữ trại và đại diện trường Thủ Đức đi phát thanh văn nghệ ở đài phát thanh Quân Đội đó, mày nhớ không? Tụi nó khép tao tội chính trị mày ơi. Nhưng tao đâu có làm cái gì đâu?
– À… À, tao nhớ ra rồi. -Anh ta đổi ngay lối xưng hô khi nhớ ra tôi – Mày là L.V.K. trong ban văn nghệ với anh Tiến văn phòng đó phải không, tao nhớ ra rồi. Đ.M. bị xê tê là kẹt rồi. Tụi nó chú ý lắm, tao không nói chuyện nhiều với mày được, mày có cần gì thì cho tao biết liền đi, có muốn nhắn gì về gia đình không thì nói cho tao biết, mấy ngày nữa thăm nuôi tao nhắn cho. Đưa tao địa chỉ nhà mày liền đi.
– Vậy hả, vậy thì đỡ quá. Mày nhắn dùm là tao cũng bình yên, đừng quá lo lắng. Nhờ mày nói với gia đình gởi cho tao một cái mùng nhỏ. Đêm qua muỗi cắn tao quá.
Tôi đọc kỹ địa chỉ nhà tôi cho Hồng, nó nhẩm đi nhẩm lại 2, 3 lần cho chắc chắn rồi bảo tôi:
– Tao đi lấy viết ghi địa chỉ liền đây. Mầy yên tâm đi. Tụi cán bộ sắp lên rồi, tao phải đi đây. Được rồi, có gì giúp được tao sẽ giúp cho. Đừng leo lên song sắt giờ này nữa nghe, tụi nó bắt được là còng giò mày mút chỉ đó.
Nói xong Hồng bỏ đi ra phía ngoài. Còn lại một mình, tôi thấy mừng trong bụng, ít ra gặp người quen trong này cũng đỡ. Tuy là không vui sướng gì khi gặp bạn bè cũng bị kẹt trong này, nhưng theo tâm lý mà nói, một kẻ mới bị bắt vào như tôi, tâm trạng bàng hoàng, lo âu đủ thứ… mà gặp người quen biết giúp đỡ thì cũng an ủi lắm. Thằng Hồng này, cùng khoá Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức với tôi lúc trước, nó ở trung đội 3, còn tôi thuộc trung đội 4, tuy không chơi thân với nhau, nhưng anh em cùng khoá một thời gian dài trong quân trường nên tất cả đều biết nhau và coi như là anh em với nhau cả.
Tôi ngồi được một lát thì Hồng mở cửa gió ra, nói nhanh:
– Tao đã ghi địa chỉ của mày rồi. Mày yên chí đi, tao sẽ nhắn về gia đình mày cho. Bây giờ tao phải đi làm, chút trưa phát cơm, tao sẽ mang cho mày vài thứ cần thiết trong này. Mày có hút thuốc phải không? Tao sẽ mang thuốc rê cho mày.
Nói xong không đợi tôi kịp trả lời, nó đóng vội cửa gió lại rồi hối hả bỏ đi ngay.
Tôi ngồi suy nghĩ vẩn vơ khoảng nửa tiếng sau, thì bỗng có một tên công an mở cửa phòng ra bảo tôi ôm hết đồ đạc đi theo hắn. Tôi than thầm trong bụng: “Chết cha, bị chuyển đi nơi khác rồi, không biết thằng Hồng biết không?” Khi đi ra ngoài, tôi ngó dáo dát để ý tìm xem Hồng có đứng xớ rớ đâu đó không, nhưng không thấy nó đâu cả. Tôi được dẫn xuống cầu thang xoắn ốc giữa từng 2 và 3. Nơi đây có 3 buồng giam chụm lại như một hình chữ U ngược. Nhớ lại lời của Tám Tèo nói đêm qua, tôi rầu thúi ruột: “Chết mẹ! Mình bị nhốt Biệt Giam rồi”. Tên công an mở cửa buồng giam chính giữa có in một số 2 ngay trên cửa, bảo tôi bước vào rồi không nói thêm tiếng nào, khoá cửa bỏ đi mất.
Google photos
Cái cảm giác đầu tiên của tôi là thất vọng ê chề! Dù trong bụng biết là bị chuyển đến một chỗ khác nhưng tôi vẫn cứ hy vọng là tên công an này dẫn đi điều tra và như vậy là tôi sẽ có dịp minh oan cho mình, nhưng ai dè đâu hắn lại dẫn tôi đến nhốt vào biệt giam 2 này. Đây là một buồng giam nhỏ xíu hình chữ nhật. Bề sâu từ cửa ra vào đến sát vách tường bên trong chưa đầy 1 mét, bề dài căn phòng khoảng 2 mét, trần cao khoảng 2 mét rưỡi. Đứng trong buồng giam này, tôi không khỏi có cái cảm nghĩ so sánh với một con dế đang bị nhốt trong một cái hộp diêm quẹt nhỏ xíu. Chật chội đến độ loay hoay hoài cũng chỉ thấy mình gần như dậm chân tại một chỗ. Mà thật đúng là như vậy! Trong cái biệt giam nhỏ này, mọi cử động đều trở thành rất lúng túng, khó khăn. Cứ loay hoay tới lui cũng chỉ thấy như đứng tại một chỗ thôi. Cái xách tay tôi đang cầm bỗng dưng trở thành một vật dư thừa, cồng kềnh, choáng mất đi một phần trong không gian vốn dĩ đã nhỏ hẹp này.
Phía trên cánh cửa ra vào có một bóng đèn nhỏ được đặt lõm vào trong tường xi măng, bên ngoài là một hàng song sắt khá chắc chắn ngăn lại, có lẽ để tránh cho tù nhân có thể gỡ bóng đèn ra đập vỡ dùng vào việc tự tử chăng? Nền xi măng thì đầy bụi bậm, trong góc bên phải có một cái bô nhựa nhỏ dùng cho việc tiểu tiện. Tuốt phía trên cao của vách tường sau, ngay chính giữa là một khung trống bề dài khoảng 6 tấc, bề ngang khoảng 3 tấc với những song sắt dựng đứng song song, được quấn đầy bùi nhùi kẽm gai bít bùng để tránh tù có thể leo lên đó… phá song sắt. Từ dưới nhìn lên khoảng trống có song sắt quấn bùi nhùi kẽm gai bên trên, tôi chỉ có thể nhìn thấy một góc xéo nho nhỏ lờ mờ khoảng trời bên ngoài mà thôi!
Chán nản đến cùng cực, tôi ngồi phệt xuống nền xi măng như một kẻ không hồn. Dựa lưng sát vào tường, hai chân duỗi thẳng ra là mấy đầu ngón chân của tôi đã chạm tới cánh cửa ra vào rồi. Tôi nhắm mắt lại, cảm thấy tuyệt vọng vô cùng. Không biết gia đình tôi đêm qua thế nào. Chắc chắn là Má và vợ tôi cũng mất ngủ cả đêm qua lo lắng cho tôi!! Còn hai đứa con không biết ra sao?? Nhớ chúng nó quá đi thôi. Càng nghĩ càng thấy tội nghiệp cho hai con của tôi. Đứa con trai vừa sinh ra là tôi bị đi tù cải tạo, ở nhà với Mẹ thiếu thốn đủ thứ, đến khi tôi về thì nó cũng không hưởng được sung sướng gì. Sau đó thì tôi cứ dắt nó đi vượt biên theo tôi hết lần này đến lần khác và thất bại đủ 9 lần, chịu biết bao nhiêu gian truân khó khăn, lại còn bị vào tù với tôi trong lần vượt biên thất bại đầu tiên nữa chứ! Con gái tôi thì ra đời trong một hoàn cảnh túng thiếu đủ thứ, đôi khi không đủ sữa cho nó, vợ tôi phải lấy nước cháo loãng pha đường cho nó bú… chưa tròn 2 tuổi thì lần này tôi lại bị bắt vào Chí Hòa!!
Còn vợ tôi, vừa mới lớn, tuổi đời còn quá trẻ là đã lập gia đình với tôi, vợ chồng son chưa hưởng bao nhiêu hạnh phúc, lại trong thời chiến nên chẳng mấy khi chúng tôi được gần nhau… Sau 1975 thì lại phải gạt lệ tiễn chồng đi tù cải tạo, bao năm ôm con dại, phải vật lộn với sinh kế hàng ngày lại còn phải chắt chiu lặn lội nuôi chồng bị đày ải nơi rừng sâu… đến khi tôi được thả về, niềm vui đoàn tụ chưa được bao lâu, tôi lại đành lòng dẫn đứa con trai tìm cách vượt biên bỏ vợ và con gái nhỏ ở lại. Chắc chắn là vợ tôi đau lòng lắm, vậy mà vẫn nén đau buồn, vẫn khuyến khích cho tôi dẫn con đi để mong cho tương lai tôi và con được tốt đẹp hơn… rốt cuộc qua bao chuyến vượt biên cũng chẳng thành… rồi lần này không biết nạn tai gì mà lại vướng vào Chí Hòa, vợ chồng con cái bị chia lìa nữa… Với tội danh chính trị này không biết bao giờ chúng tôi mới xum họp được đây?…Tôi nhắm mắt lại, lòng cảm thấy ăn năn và nhớ thương vợ con không tả được, càng nghĩ càng thấy số phần của mình sao quá thê thảm…
Ngồi than thân trách phận một hồi, dần dần tôi cũng trở về với thực tế. Nhìn chung quanh không gian nhỏ hẹp của căn biệt giam mà không khỏi ngao ngán. Không biết tôi phải ở nơi đây bao lâu. Nhìn lên phía trên cửa, ngọn đèn 40 watt trên cao toả đều một ánh sáng vàng vọt nhưng cũng đủ soi sáng khắp căn phòng bé nhỏ. Trên tường chi chít đầy chữ do những tù nhân trước viết lên. Tôi tò mò đọc hết những câu viết trên vách. Đa số toàn là những lời thương vợ, nhớ con, nhớ người yêu… hoặc là thương nhớ Cha Mẹ, nói lên tâm trạng của người tù lúc đó, ngoài ra còn có những câu kinh, những lời cầu nguyện của các tôn giáo khác nhau. Trong đó có một câu khiến tôi chú ý và nhớ mãi không bao giờ quên, nguyên văn như sau:
“Chúng tôi bị tội hình sự, tội tử hình. Từ Đại Lợi chuyển về. Xin các anh hãy cầu nguyện cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ phù hộ cho các anh.”
Bên dưới không đề tên, chữ ký hoặc ngày tháng gì cả. Đọc xong câu đó, tự nhiên tôi thấy lạnh hết xương sống, một cảm giác rờn rợn lan ra khắp người. Không một chút chần chừ, tôi vội quỳ ngay xuống cầu nguyện liền. Không biết có mấy người bị nhốt vào chỗ biệt giam nhỏ hẹp này lúc bấy giờ mà xưng là “Chúng tôi”. Nhưng tôi không cần biết, tôi cũng không cần biết những người đó gây ra tội hình sự gì mà bị án tử hình. Tôi chỉ biết những người này là những người đã từng ở trong biệt giam này như tôi bây giờ. Chắc chắn là họ đã có những giây phút sợ hãi, lo lắng, sầu khổ, thương nhớ người thân như tôi giờ này đây. Tôi còn có hy vọng về để gặp lại gia đình vợ con tôi, nhưng với họ lúc bấy giờ khi biết mình bị kết án tử hình, bị chuyển về đây chờ lãnh án thì tâm trạng của họ còn tuyệt vọng, còn đáng thương biết đến chừng nào nữa. Giờ phút này, không biết họ còn sống trên đời hay đã chết rồi…Tôi quỳ xuống cầu nguyện cho họ với một lòng thành khẩn chưa từng có. Tôi cũng không quên khấn thầm, nếu như họ chẳng may đã chết rồi thì xin phù hộ cho tôi, một kẻ không may sa vào vòng tù tội như họ trước đây, sớm được tai qua nạn khỏi.
Tôi ngồi phệt xuống nền biệt giam, đầu óc cứ bị ám ảnh về câu viết của mấy người tử tù đã viết trên vách mà không khỏi liên tưởng đến hoàn cảnh hiện tại của mình. Một lúc thật lâu sau, tôi bình tĩnh trở lại, tự an ủi là số mình từ trước đến giờ luôn luôn “tiền hung hậu kiết” mọi chuyện tuy hung hiểm lúc ban đầu, nhưng từ từ sẽ có ơn trên phù hộ và trở thành tốt đẹp cả thôi. Nghĩ như vậy nên tôi bắt đầu ngồi xuống xếp bằng, nhắm mắt lại và cầu nguyện tiếp… Những lúc lâm vào cảnh đau khổ cùng cực không còn lối thoát, con người quả thật nhỏ nhoi và gần như chỉ biết bám víu vào Thượng Đế. Những lúc như thế, niềm tin tôn giáo lại dấy lên một cách thật mãnh liệt, nhờ thế con người mới có nơi nương tựa và sự an ủi để chống chỏi với nghịch cảnh. Chưa bao giờ tôi sám hối và cầu nguyện chân thành đến như vậy. Lòng tin tưởng Phật Trời sẽ nghe được lời cầu nguyện của tôi, sẽ cứu giúp tôi thoát khỏi chốn khốn cùng này… Niềm tin đó giúp tôi thanh thản lại được rất nhiều.
Google photos
Sau đó tôi bắt đầu vén xếp để có thể ngả lưng nằm, dù muốn dù không thì tôi cũng sẽ ở nơi đây một thời gian, chưa biết đến bao giờ. Tôi phải cố thích nghi với hoàn cảnh, tự cổ vũ tinh thần mình: “Cố gắng lên K., cố gắng lên. Mọi chuyện rồi sẽ qua đi thôi. Cố gắng lên, than vãn hoài cũng chẳng lợi lộc gì đâu…”. Tôi loay hoay cố tìm một chuyện gì đó làm để tránh khỏi phải suy nghĩ nhiều nữa. Nền phòng đầy bụi, không có gì để quét hết, tôi lục trong túi xách ra, thấy ổ bánh mì thịt em gái tôi mua đêm qua còn y nguyên. Tôi lấy ra chẩm rải ăn rồi lấy mảnh giấy báo gói bánh mì vừa quét sơ sịa vừa hà hơi thổi mạnh mấy chỗ bụi bậm nhiều cho nó tấp vào trong một góc, rồi ngả lưng nằm đại xuống. Thấy khát nước và hơi mệt vì cả đêm qua tôi không ngủ được chút nào cả.
Đang nằm miên man suýt rơi vào giấc ngủ vì mệt, bỗng nghe lạch cạch bên ngoài cửa, một người mở lỗ cửa gió nhìn vào trong hỏi:
– Anh mới được chuyển xuống đây sáng nay phải không?
Tôi ngồi bật dậy thật nhanh:
– Phải. Tôi mới chuyển xuống đây hồi sáng sớm.
Người đó không nói thêm gì cả, lóc cóc mở cánh cửa lớn ra. Tôi tưởng đó là công an, nhưng không phải. Người này mặc áo sơ mi ngắn tay và quần đùi, trông có vẻ cũng là một tù nhân như tôi, trên tay cầm xâu chìa khoá lớn và một chiếc chiếu nhỏ:
– Đây là chiếu của anh, để hết đồ đạc ra tạm ngoài cửa rồi đi lấy nước vô rửa phòng sạch sẽ đi.
Thấy tôi còn đang ngơ ngác, anh ta hối:
– Nhanh lên đi, cán bộ đứng ở dưới chờ kìa.
Tôi bước ra khỏi phòng, lúng túng chưa rõ mình sẽ phải làm gì? Liếc nhanh xuống cầu thang của tầng 2 thì thấy một tên công an đang đứng nhìn chúng tôi lom lom.
Người vừa mở cửa buồng giam bảo tôi:
– Anh đi theo tôi, không được nói chuyện, quan hệ với ai nghe chưa?
Anh ta dẫn tôi đi xuống tầng 2 và quẹo vào khu Kiên Giam tương tự như khu Kiên Giam trên tầng 4 đêm hôm qua. Đi tới cuối dãy thì thấy một hồ đầy nước thật lớn bằng xi măng được xây dính sát vào với bức tường lớn cuối dãy. Chỉ vào một cái xô nhựa và cây chổi tre dựng gần đó, anh ta bảo tôi:
– Anh múc nước và lấy chổi đi lên rửa phòng lẹ đi.
Tên công an đứng ngay đầu khu Kiên Giam khá xa với chúng tôi đang lơ đễnh nhìn ra ngoài, không chú ý gì tới chúng tôi bên trong này cả. Tôi bụm hai tay hứng nước từ trong vòi ra uống ngon lành vì cả đêm đến giờ tôi khát quá:
– Anh cũng là tù ở đây hả? Anh bị tội gì vậy? -Tôi hỏi.
– Tôi cũng là tù thôi, tội vượt biên, ra lao động. Đừng nói chuyện, cán bộ bắt gặp anh nói chuyện thì phạt anh bây giờ. Rồi anh làm bộ lớn tiếng thúc dục tôi, cốt để cho tên công an đó nghe:
– Lẹ lên đi. Tôi còn nhiều chuyện phải làm lắm.
Sau khi múc đầy một xô nước, lấy cây chổi tre, tôi đi trở lên Biệt Giam 2. Anh chàng lao động đi kế bên, nói nhỏ vừa đủ cho tôi nghe:
– Anh rửa phòng sạch sẽ đi, cán bộ trực bữa nay là cán bộ dễ nhất ở đây đó, tôi sẽ xin cho anh tắm luôn, chứ nếu không cả tuần chưa chắc anh được tắm đâu.
Rồi anh lại làm bộ nói lớn:
– Rửa cho sạch đi nghe,anh hên lắm mới gặp cán bộ Lợi trực bữa nay đó.
Sau khi đổ nước lên nền, tôi dùng chỗi tre chà rửa kỹ lưỡng. Không biết cái nền biệt giam này đã bao lâu không có người chà rửa rồi, tôi lấy chổi quét qua lại và dùng bàn chân chà sát nhiều lần, nước trên nền ra màu đen thui như có ai đó vừa đổ mực vào. Chẳng có nùi giẻ để lau khô, tôi dùng chổi quét nước bẩn trên nền ra ngoài cửa cho nó chảy thoát ra một lỗ thoát nước nhỏ trong góc, rồi đổ nước trong sô ra chà rửa nền phòng tiếp… làm 3, 4 lần như vậy mới có vẻ tương đối sạch.
Tên công an Lợi đang đứng dưới tầng 2 bỗng nói với anh chàng lao động:
– Tiến. Anh đứng đó trông chừng, tôi đi xuống dưới một chút nhá.
Anh chàng lao động Tiến lên tiếng với tên cán bộ công an:
– Cán bộ Lợi. Anh này nằm trên nền đất cả đêm qua người dính đầy bụi đất, tôi cho ảnh đi tắm nghe?
– Ừ, anh muốn làm gì thì làm, xong nhớ khoá cửa lại cẩn thận đấy nhá.
Nói xong hắn bỏ đi xuống tầng dưới.
– Vậy là anh hên lắm đó. Rửa nền nhà lẹ đi rồi đi tắm.
Thấy tôi còn loay hoay hoài với cái xách tay và chiếc chiếu, không biết để đâu. Anh ta bước đến vừa cười vừa giơ tay lấy mấy món đồ đó trên tay tôi:
– Anh là tù “con so” phải không? Thấy cái tướng lớ ngớ của anh là biết liền. Bỏ đại mấy thứ này ở ngoài này đâu có ai thèm lấy của anh đâu mà sợ.
Tôi biết anh đùa nên cũng cười cười:
– “Con so” là ớn tới óc rồi, ai mà ham làm “con rạ” mấy cái vụ tù đày này chứ.
Thấy chỉ còn có hai đứa, tôi lân la hỏi thăm anh ta:
– Anh Tiến cho tôi hỏi một chút nghe. Anh biết anh Hồng lao động trên tầng 4 không?
– Anh mới vô làm sao mà biết anh Hồng?
– Hồi sáng sớm này tôi còn ở trên tầng 4, đã có gặp anh Hồng. Tôi với Hồng là bạn ngoài đời. Tôi bị chuyển xuống đây, anh Hồng chắc không biết. Xin anh giúp dùm, nếu có gặp anh Hồng làm ơn nói dùm là tôi ở dưới đây.
– Vậy hả. Ừ, nếu chút nữa gặp anh ta, tôi nói dùm cho.
– Anh có biết tôi nằm đây chừng nào mới được kêu đi điều tra không?
– Cái đó làm sao tôi biết được. Ở đây không có gọi là điều tra mà gọi là đi “làm việc”, thông thường khoảng một, hai tuần sau thì cán bộ chấp pháp sẽ gọi lên đi “làm việc” lần đầu. Đi làm việc nhiều hay ít cũng còn tùy theo “vụ” nặng hay nhẹ, vụ có bao nhiêu người dính líu…Anh tội “xê tê” hả?
Đây là lần thứ ba tôi nghe đến chữ “Xê tê” này, nhưng cũng không có gì khó đoán ra nghĩa của nó, nhất là trong trường hợp này:
– Phải, tôi bị ghép tội chính trị, nhưng mà tôi có làm cái gì đâu? Không biết tại sao bị bắt vào đây. – Tôi lại rầu rỉ chống chế.
– Thôi đi tắm lẹ lên đi, cán bộ lên đổi ý bất thình lình bây giờ.
Lúc đó ở bên biệt giam 1 bên tay phải, có tiếng nói qua chỗ lỗ gió:
– Anh Tiến ơi, cho xin miếng lửa hút thuốc đi.
À! Như vậy là tôi có “hàng xóm”ở đây trước tôi rồi, không biết biệt giam 3 bên trái có ai ở không mà thấy im lìm quá. Anh chàng lao động tên Tiến ngoáy lại quan sát phía từng dưới, khi chắc chắn không có người, anh ta mới nhất cái chốt bên ngoài mở cửa gió biệt giam 1 và móc trong túi ra một cái quẹt gas nhựa, mồi lửa cho người bên trong biệt giam 1 xong đóng lỗ gió lại ngay. Tôi chỉ kịp thoáng thấy một phần gương mặt một người đàn ông trong đó vừa chìa điếu thuốc ra mồi lửa, mắt vừa liếc nhanh nhìn tôi, chắc anh ta cũng muốn nhìn xem gương mặt “hàng xóm” mình như thế nào. Mồi lửa cho người trong biệt giam 1 xong, Tiến hối tôi:
– Thôi đi tắm lẹ lên đi cha nội, tôi còn nhiều chuyện phải làm lắm.
Tôi mở xách tay lấy khăn và quần đùi cùng bàn chải, kem đánh răng, xỏ vội đôi dép sa-pô lạch bạch đi theo Tiến trở xuống khu Kiên Giam tắm rửa. Thấy cửa phòng Kiên giam số 7 sát bên bồn nước đang mở toang, phòng trống không có ai, nhìn thấy có một bàn cầu tiêu trong đó, tôi xin anh chàng Tiến cho tôi được vào đi tiêu, chứ chút nữa lên lại biệt giam sẽ khó khăn cho tôi vô cùng. Anh chàng Tiến lao động nhăn nhó càu nhàu:
Google photos
– Anh được voi rồi cứ đòi tiên hoài. Tôi còn nhiều chuyện phải làm lắm, vả lại cán bộ mà thấy tôi dễ dãi cho mấy anh, họ sẽ la tôi chớ bộ giỡn chơi sao.
Tuy càu nhàu thế nhưng cuối cùng anh ta cũng đồng ý cho tôi vào Kiên giam 7 đi vệ sinh sau khi nhắc thòng một câu:
– Lẹ lên đi cha nội. Anh mà làm cho tôi bị la là không có lần thứ hai đâu đó nghe.
Tôi cám ơn anh và chạy ngay vào Kiên Giam 7 đi làm vệ sinh cá nhân. Những sinh hoạt bình thường mỗi ngày, những nhu cầu tối thiểu của tôi từ nay sẽ bị hạn chế tối đa, kể cả việc tiêu tiểu cũng sẽ trở thành một khó khăn cho tôi từ bây giờ, cho nên có cơ hội thì giải quyết thoải mái được lúc nào hay lúc đó.
(Sau này mỗi khi có dịp nhớ lại, tôi không khỏi nín cười cho khoảng thời gian trong đời này của tôi. Được cho phép đi tiêu ở một cầu tiêu coi như là thoải mái lắm rồi, mà lại đi xin điều đó ở một anh tù lao động tốt bụng cho phép mới là tận cùng chứ).
Khi trên đường trở về biệt giam, tôi hỏi Tiến:
– Ở đây có thể gởi mua chút gì được không? Tôi cần một cái ca hoặc một bình nhựa đựng nước uống, anh có thể giúp dùm được không? Tôi biết hồi nãy giờ anh đã giúp tôi nhiều, nhưng anh thông cảm, tôi mới bị bắt vào đêm qua, còn thiếu thốn đủ thứ, vả lại cũng chưa biết luật lệ sinh hoạt ở đây ra sao, nên có gì mong anh giúp đỡ dùm…
Tiến nhẹ giọng:
– Không có gì đâu, không phải riêng anh, mà đối với ai tôi cũng như vậy cả. Nếu có thể giúp gì được cho anh em là tôi giúp liền, cùng cảnh tù tội với nhau mà. Nhưng các anh cũng phải hiểu cho tôi, ra đây làm lao động dưới sự giám sát của cán bộ, chứ đâu phải muốn làm gì thì làm đâu. Ở đây hạn chế việc mua bán lắm, mỗi tháng một lần chỉ được mua thêm tương, chao, thuốc rê chút đỉnh thôi… chút nữa đây, tôi sẽ xuống kho lảnh cho anh ca, muổng nhựa… tôi sẽ kiếm cho anh thêm một bình nhựa để đựng nước uống, như vậy được chưa? – Anh vừa nói vừa cười.
Khi gần ra khỏi khu Kiên Giam, chợt nhớ ra một chuyện tôi hỏi anh liền:
– Anh Tiến cho tôi hỏi thêm câu này. Làm sao tôi nhắn cho người nhà biết tôi bị bắt chỗ này để người nhà có thể thăm nuôi tôi??
– Cái này thì hơi kẹt à nghen. Nếu người nhà của anh lanh lợi thì có thể hỏi thăm ở Công An Thành Phố… Nếu biết được anh ở đây thì ngay đầu tháng có thể thăm nuôi anh được rồi, nhưng còn trong vòng “làm việc” với chấp pháp thì chỉ được gởi quà thôi, chưa cho gặp mặt.
Nghe anh ta nói vậy tôi thấy rầu trong bụng quá. Gia đình tôi chắc là chưa biết tôi bị nhốt ở đây đâu. Tôi chỉ còn hy vọng mấy ngày nữa thằng Hồng sẽ nhớ mà nhắn về nhà dùm tôi như lời nó nói thôi. Vừa đi vừa suy nghĩ lo buồn trong bụng, tiếng anh Tiến lao động lôi tôi trở về thực tế:
– Lên nằm lại đi, đừng lo nghĩ nhiều. Cần gì thì cho tôi biết, giúp được gì thì tôi giúp cho nhưng cẩn thận đừng để cán bộ bắt gặp nghe.
Tôi cám ơn anh và cảm thấy anh Tiến này là người tốt đó chứ. Trong hoàn cảnh tù tội, khó khăn, anh đối xử với những người tù khác như vậy là tốt lắm rồi. Trước đây khi còn trong tù cải tạo, tôi đã chứng kiến và từng bị mấy thằng “ăn ten” ra làm việc gần các cán bộ quản giáo, chỉ vì chút lợi lộc nho nhỏ, muốn lấy điểm nên cam tâm đâm thọt với cán bộ quản giáo hà hiếp làm hại anh em đồng cảnh ngộ thê thảm!! So với anh Tiến lao động này, mấy thằng “ăn ten” đó quả thật đáng khinh bỉ! Vì thế tuy chỉ mới lần đầu biết anh Tiến nhưng tôi đã có hảo cảm ngay với anh.
Tôi đi theo anh trở lên lại biệt giam 2, bên trong còn ướt mem. Anh chuyền cho tôi chiếc chiếu nhỏ và cái xách tay còn đang dựa vào một chỗ khô ráo bên ngoài rồi cười cười chọc tôi:
– Ráng chịu khó lấy cái chiếu quạt trên nền cho mau khô đi nghe. Đứng hát mấy bản thương Cha Mẹ, nhớ vợ con chừng vài chục lần là nền phòng khô liền chứ gì. Anh có muốn hút thuốc không, tôi mồi lửa cho. Chút nữa tôi trở lại mang ca muổng nhựa cho anh.
Anh ta bật quẹt mồi thuốc cho tôi rồi khoá cửa biệt giam lại, đóng cả lỗ gió trên cửa, nhưng hình như anh cố tình không gài chốt bên ngoài nên tôi thấy nó còn mở he hé, nhờ thế tôi có thể ghé mắt nhìn xuống cầu thang và thấy được một khoảng của tầng hai bên dưới rõ ràng. Như vậy cũng còn đỡ hơn là chẳng nhìn thấy được gì. Dùng chiếc chiếu quạt trên nền biệt giam một lúc thật lâu, nền phòng khô dần và đã có thể trải chiếc chiếu lên nền phòng được rồi. Tôi lấy hết đồ trong xách tay ra xắp xếp cho gọn ghẽ, rồi bỏ lại vào túi xách hai quần tây dài, hai áo sơ mi, 3 quần xà lỏn, một khăn tắm và một khăn lau mặt nhỏ. Sau đó dùng xách tay kê làm gối. Còn lại đôi dép sa pô tôi đặt vào một góc phía trên đầu chỗ nằm. Lấy kem, bàn chải đánh răng, cục xà phòng tắm, gói thuốc lá Hoa Mai và hộp diêm quẹt đặt gọn vào trong lòng đôi dép sa pô. Đó là tất cả “gia sản ” của tôi hiện giờ.
Ngả người nằm trên chiếc chiếu nhỏ tôi cảm thấy dễ chịu hơn lúc sáng này rất nhiều. Nền phòng vừa rửa ráy xong nên không khí có vẻ mát hơn lúc trước. Có thể nằm duỗi chân thoải mái, nhất là mới vừa tắm rửa xong, tinh thần tôi nhờ thế cũng bớt bi quan hơn trước. Ở dưới tầng lầu 2 đã nghe có tiếng nói chuyện xôn xao. Tôi choàng dậy ghé mắt qua kẽ hở đóng không kín của cửa gió, nhìn xuống dưới thì thấy tên công an Lợi hồi nãy đang lăng xăng chỉ trỏ mấy người lao động đi làm việc. Đứng xem mãi cũng chán, nằm xuống suy nghĩ lung tung một hồi tôi thiếp vào giấc ngủ hồi nào không biết. Bỗng có tiếng mở khoá cửa làm tôi giật mình thức dậy, anh chàng Tiến lao động mở cửa ra bảo tôi:
– Đi ra lãnh cơm.
Tôi bước theo anh xuống tầng 2, ngay chính giữa có đặt một thùng cơm và một thùng canh rau muống thật to. Anh đưa cho tôi 2 ca, muổng nhựa và một bình nhựa loại dung tích hai lít:
– Một cái đựng cơm, một cái đựng canh, còn bình này đựng nước uống. Anh đi theo tôi vào trong này lấy nước uống rồi chạy ra lấy cơm, lẹ lên đi.
Sau khi lấy nước uống, nhận cơm, canh xong, Tiến dẫn tôi trở lại biệt giam, trước khi khoá cửa lại, anh còn giỡn với tôi:
– Bữa cơm tù đầu tiên nhớ đời đó. Ráng ăn nghe. Sẽ còn dài dài.
Tôi chỉ biết méo mó cười trừ.
Anh ta mồi cho tôi điếu thuốc rồi khoá cửa lại. Tôi nhìn hai ca cơm, canh mà không khỏi ngao ngán. Cơm thì vừa nhão nhẹt vừa sống… Còn canh thì gọi là canh cho có vẻ vậy thôi, thật ra chỉ là mấy cọng rau muống già còn nguyên cả gốc rễ, với một ít nước màu xanh sậm đen mặn chát. Tôi thử múc một tí ăn thử thì không thể nào nuốt vô. Không phải tôi chê cơm canh này. Tôi đã từng ở vào những hoàn cảnh thiếu thốn hơn như vầy nữa khi còn trong tù cải tạo. Có những lúc đói đến độ đêm nằm chỉ tưởng tượng nếu được ăn một chén cơm với muối hột chắc tôi cũng cảm thấy rất ngon rồi… Còn bây giờ giữa sự thiếu thốn, khó khăn… có một cái gì uất nghẹn làm tôi không nuốt vô được. Cái cảm giác oan ức, bị bắt ép vào đây để phải nhận lấy sự thiếu thốn, khổ sở này… thay vì giờ này tôi có thể ở bên ngoài ăn uống với gia đình, hít thở không khí tự do… cảm giác đó làm tôi chán nản cùng cực và uất nghẹn lên tận cổ, bảo sao tôi có thể nuốt trôi thêm được nữa. Tôi đẩy hai ca cơm, canh vào trong một góc rồi ngồi hút thuốc mà lòng buồn không tả nổi.
Buổi phát cơm chiều cũng giống y như vậy. Cũng chỉ có cơm vừa sống vừa nhão và canh rau muống cọng già ngắt lẫn nước đen thui. Tôi còn nguyên phần cơm buổi trưa nên từ chối không nhận cơm chiều, chỉ xin mồi lửa rồi lủi thủi đi vào phòng. Anh Tiến đứng nhìn tôi ngần ngừ vài giây như muốn nói gì đó rồi chỉ lắc đầu khoá cửa lại. Ngồi hút thuốc phà khói bay bay toả ra khắp phòng biệt giam gây cho tôi cảm giác an ủi, ấm áp hơn. Một mình trong gian phòng nhỏ hẹp, nỗi cô đơn ập về làm tôi thấy những hơi thuốc vào lúc này như là một cái gì gần gũi và cần thiết hơn cả ăn uống. Đầu óc hoàn toàn trống rỗng, tôi không dám nghĩ nhiều, chỉ tập trung tâm trí vào những hơi thuốc ấm áp, nhìn làn khói toả nhẹ khắp phòng như nhìn những hạnh phúc ngắn ngủi mong manh tan dần… tan dần ra khỏi tầm tay của mình.
Google photos
Sau buổi cơm chiều được một lúc, hình như đã hết giờ làm việc, tôi nhìn qua lỗ cửa gió thấy hai tên cán bộ công an lùa hết mấy người tù lao động vào khu tập thể, khoá cánh cửa sắt thật lớn rồi đi mất. Mọi vật chung quanh trở lại yên tỉnh. Tôi nằm xuống nhìn lên trần biệt giam mà tâm trí bay dạt tận chốn nào… cứ suy nghĩ hết chuyện này tới chuyện khác… cuối cùng tôi tự nhủ thầm: Không thể nằm hoài như vầy được, phải làm một cái gì đó để đầu óc tránh suy nghĩ.
Tôi nhớ trước đây đã có đọc tác phẩm “Papillon, Người Tù Khổ Sai” của Henri Charriere, có đoạn ông ta kể đã từng ở trong một phòng biệt giam nhỏ xíu, nhưng hình như trong truyện ông viết, từ vách tường bên này, ông ta có thể bước 5 hoặc 7 bước gì đó tôi không nhớ rõ, thì mặt sẽ đối diện sát với tường bên kia. Như vậy phòng của ông ở cũng còn lớn hơn cái biệt giam 2 chết tiệt này. Với chiều dài của biệt giam 2, tôi chỉ có thể đứng sát một bên vách và bước đúng 3 bước rưỡi hoặc 4 bước ngắn là gương mặt đã gần như chạm sát lên vách tường bên kia rồi. Xem ra chỗ Papillon đã ở trước đây còn rộng rãi hơn biệt giam 2 này nhiều. (Sau này khi xem phim “Papillion Người Tù Khổ Sai”, do tài tử Steve McQueen đóng, khi anh đếm bước đi trong biệt giam, anh ta đếm đúng 9 bước mới tới sát bờ tường bên kia).
Nhớ lại câu chuyện của Henri Charriere đã kể trong tác phẩm “Papillon” nổi tiếng của ông, tôi ngồi dậy bắt chước ông ta bước tới bước lui những bước ngắn đều đặn… vừa bước vừa đếm nhẩm 1,2,3,4… gương mặt đã đối diện sát ngay vào bờ tường bên kia, xong quay lại vừa bước vừa đếm 1,2,3,4 mặt lại đối diện với bức tường bên này… quay lại tiếp tục đếm bước 1,2,3,4…Tôi thấy phương pháp này giúp tôi tập trung vào những bước đi và nhờ thế không phải suy nghĩ nhiều…Tôi tự nhủ, phải thích nghi hoàn cảnh ở đây… mới chỉ có một ngày, mình sẽ còn ở đây dài dài chưa biết đến bao lâu, vậy thì phải làm một cái gì đó để qua thời giờ và tránh bị ức chế tâm lý quá…
Tôi bước tới, bước lui như vậy thật chậm rãi và tập trung hết tâm trí vào mỗi bước đếm… cứ như vậy không biết được bao lâu, bỗng nghe có tiếng người gọi:
– Ê biệt giam 2, biệt giam 2. Có nghe tôi không?
Tôi dừng lại nghe ngóng. Tiếng gọi lại nổi lên:
– Biệt giam 2, tôi ở bên biệt giam 1 nè. Anh có nghe tôi không?
Tôi lật đật trả lời lớn:
– Nghe, nghe. Có gì không?
– Anh đừng la lớn quá. Ra chỗ cửa gió nói chuyện đi, hồi chiều lãnh cơm đi vào tôi thấy cửa gió bên anh không có gài đó. Tôi vội đứng dậy lấy tay đẩy cửa gió ra. Quả nhiên anh chàng Tiến lao động đã không cài chốt lại. Tôi cảm nhận ngay được không khí mát bên ngoài thông vào qua lỗ cửa gió nhỏ xíu này, nhờ vậy cũng đỡ nóng nực phần nào.
Nhìn qua phía biệt giam 1, cửa gió bên đó đã bị gài chặt bên ngoài.
– Biệt giam 2, anh phải quan sát xuống phía dưới lầu, khi có động tỉnh gì thì lên tiếng báo động liền nghe. Nếu không tụi nó đi lên bất tử, bị còng giò lãng nhách đó.
Đang buồn, có người nói chuyện lúc này cũng là một an ủi lớn, nên tôi không còn sợ bị bắt gặp, bị phạt gì nữa. Tôi trả lời anh ta:
– Được rồi. Nếu nghe động tỉnh gì thì tôi sẽ ho lên báo cho anh biết.
– Anh cẩn thận cho anh đó, vì ở dưới đi lên là thấy anh trước tiên. Vả lại tụi cán bộ hay đi rình bắt lắm đó. – Người bên biệt giam 1 nhắc nhở.
– Được rồi, tôi sẽ cẩn thận.
Sau đó vừa nói chuyện với anh ta, tôi vừa nhìn chăm chú xuống dưới từng 2.
– Anh mới bị bắt hả, bị tội gì vậy? – Người bên biệt giam 1 hỏi.
– Tôi ở Sàigòn, mới vào đêm hôm qua. Đâu có làm gì đâu mà họ khép tôi vào tội tuyên truyền thơ ca phản cách mạng? Còn anh bị tội gì vậy.
– Tội của tui hả? Tội chống phá Đảng và Nhà Nước –Anh ta cười
– Anh ở đây lâu chưa?
– Gần 4 tháng rồi.
– Trời đất! Gần 4 tháng rồi mà họ còn nhốt anh ở biệt giam hả? –Tôi liên tưởng tới chuyện của mình mà không thể không lo âu.
Người bên kia trả lời:
– Tôi nghĩ còn trong vòng điều tra thì tụi nó còn nhốt tôi ở đây. Vả lại khi nhúng tay vào làm chuyện này, lỡ bị bắt rồi thì nhốt ở đâu cũng vậy thôi, tôi cũng tính là mình khó lòng về được nên cũng chẳng màng. Tới đâu thì tới. Nếu được thả về, dưới sự cai trị của Nhà Nước hiện nay thì bên ngoài chẳng qua cũng chỉ là một nhà tù lớn hơn thôi, chứ đâu phải tự do thật sự gì đâu.
Tôi thầm cảm phục qua những lời anh nói, định hỏi tên anh ta và bị dính chính trị vụ gì, nhưng nghĩ có hỏi chắc anh ta cũng không nói thật vả lại cảm thấy như vậy đường đột quá nên tôi lại thôi.
Tôi hỏi sang chuyện khác:
– Biệt giam 3 có người không mà tôi nghe im lìm quá vậy.
– Có, có một chị đang ở trong đó – Anh ta gọi hơi to lên – Chị Nguyệt ơi, chị có khoẻ không? Sao thấy im ru vậy? Nhớ nhà rồi phải không?
Nghe tiếng “cách” một cái, cửa gió bên phòng biệt giam 3 mở toang ra để lộ một phần gương mặt của một người đàn bà, xuyên qua cửa gió tôi thấy gương mặt chị ta phản chiếu dưới ánh đèn vàng vọt trông tái mét và ảm đạm vô cùng. Chị trả lời:
– Cám ơn anh, tôi vẫn khoẻ? Hôm nay chúng ta lại có láng giềng mới rồi.
Tôi nghĩ thầm cả đàn bà cũng bị nhốt vào biệt giam, thì quả hết sức tàn nhẫn. Không biết người đàn bà này bị tội gì mà phải vào đây? Chúng tôi chào hỏi và đưa đẩy mấy câu xã giao, sau khi cho biết chuyện bị bắt của tôi, tôi hỏi lại chị:
– Chị bị kẹt vụ gì mà phải vào đây vậy?
Người đàn bà thở dài, hình như câu hỏi đã gợi lại những ẩn ức dồn nén bấy lâu nay trong lòng… chị kể một hơi như thể muốn trút ra hết nỗi niềm cho vơi đi bớt:
– Tôi dạy học sinh trung học cấp 2. Họ bảo tôi giảng bài không đi đúng với đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước nên khép tôi vào tội phản động. Mà tôi có giảng gì phản động đâu, trong khi hăng say giảng bài tôi chỉ giảng cho học sinh một vài điều hơi ngoài lề của giáo án thôi, nhưng cũng là vô thưởng vô phạt cho không khí lớp học vui lên thôi. Thật ra tôi không đến nỗi bị bắt khép vào tội phản động như vầy, nhiều lắm chỉ bị viết kiểm điểm nhận lỗi rồi thôi. Nhưng vì bất mãn thái độ ban giám hiệu trường đã đối xử với tôi quá tệ mạt. Họ họp cả trường lại đấu tố tôi trong cuộc họp như thể tôi là một thành phần xấu xa trong xã hội vậy. Tôi đi dạy từ trước năm 75, chưa bao giờ gặp phải trường hợp xấu hổ, nhục nhã như thế này. Dù gì thì tôi cũng đi dạy lâu năm, tính ra thâm niên tôi vẫn hơn nhiều thầy cô khác trong trường, vậy mà họ đối xử với tôi không ra gì cả. Trong lúc quá uất ức, tức giận tôi cãi lại và bỏ ngang đi về. Ba bữa sau công an đến nhà bắt tôi, với một tội danh chưa bao giờ nghe qua trong lịch sử loài người:
“Lợi dụng phương tiện giáo dục để nhồi nhét tư tưởng phản động cho học sinh”.
Nghe mấy lời của chị Nguyệt, tôi thấy ngao ngán hết sức. Ngẫm nghĩ lại tội danh mà họ khép cho tôi chắc cũng chẳng có trong bộ luật nào trên thế giới. Tự nhiên tôi thấy thân phận của con người chúng tôi sao mà nhỏ bé quá. Chính quyền muốn bắt ai thì cứ bắt, cái gì không hợp với họ là phản động, cái gì không đi theo khuôn khổ họ đã đề ra là phản động… Riết rồi tôi cũng thấy mù mờ, không hiểu nghĩa thật sự của hai chữ phản động là gì nữa?
Google photo
Tôi cũng kể cho chị Nguyệt và anh bạn mới bên biệt giam 1 nghe về trường hợp bị bắt và bị xét nhà của mình. Chúng tôi an ủi lẫn nhau và đứng nói chuyện thêm một hồi nữa thì nghe dưới khu Kiên Giam đã bắt đầu có tiếng hát hò lớn vọng lại rồi. Chị Nguyệt nói:
– Phía dưới ồn ào quá rồi, thôi nằm nghỉ chút đi, ồn ào quá tụi cán bộ có thể đi lên bất tử đó. Thôi tôi đi nghỉ đây.
Tôi cũng thấy hơi mỏi chân nên xin kiếu từ người bên biệt giam 1 rồi nằm nghỉ, hẹn khuya khuya một chút sẽ nói chuyện tiếp.
Đêm đến, nằm một mình trong căn biệt giam nhỏ bé. Cảm giác cô đơn lại trở về một cách không mong đợi. Bên ngoài khu Kiên Giam vọng lại những tiếng hát của tù, đa số là những bài hát buồn với lời ca làm não lòng người nói lên tâm trạng cô đơn nhớ nhung… càng làm cho nỗi nhớ nhà, nhớ vợ con gia đình trong tôi quặn xót thêm lên, pha trộn với nỗi tuyệt vọng chán chường chưa từng thấy. Trước đây khi bị tù cải tạo, tôi cũng đã nhớ gia đình, nhớ vợ con rất nhiều, nhưng không cảm thấy quá cô đơn như lần này. Ít ra khi ở trong tù cải tạo, tôi còn có những bạn tù ở chung… đi vào rừng đốn cây, chặt tre hoặc đi ra ngoài trồng trọt canh tác… ít ra tôi cũng có những khoảnh khắc riêng tư giữa thiên nhiên mà không bị tù túng như lần này.
Khi tôi sắp sửa rơi vào cảm giác tuyệt vọng bi quan, thì chợt nhớ lại phương pháp đi bộ đếm bước khi nãy…Thế là tôi đứng ngay dậy bắt đầu tập trung đếm bước 1,2,3,4 đi tới đi lui trở lại. Tôi thầm cám ơn ông Henri Charriere đã giúp cho tôi phương pháp hữu hiệu này, tránh cho đầu óc tôi không suy nghĩ về hiện tại nhiều, nhờ thế không bị suy sụp tinh thần. Tôi tiếp tục bước đi tới, lui như vậy có thể cũng hết 1, 2 tiếng đồng hồ chứ không ít. Nhờ tôi bước thật chậm rãi và sau khi hết 4 bước ngắn đối diện với bức tường, trong khi quay lại tôi cũng xoay mình thật chẩm rải trước khi bước tiếp, nên tôi không bị chóng mặt. Đang còn bước đi như vậy thì anh bạn bên biệt giam 1 lại gọi tôi:
– Biệt giam 2, có nghe tôi không?
Tôi bước đến lỗ gió:
– Nghe rõ. Có chuyện gì không?
– Đâu có gì. Buồn quá tính gọi anh nói chuyện đỡ buồn. Anh đang làm gì đó? Muốn hút thuốc không?
Tôi giở gói thuốc Hoa Mai ra, chỉ còn lại mấy điếu và mấy cây diêm. Tôi mở cửa gió ra quan sát cầu thang dẫn xuống tầng 2 kỹ càng rồi trả lời:
– Có chứ, không có thuốc ở đây chắc còn buồn dữ nữa? Tôi còn được mấy điếu Hoa Mai và mấy diêm quẹt, anh có cần thuốc không?
– Tôi cũng có thuốc rê bên này rồi, lửa giữ từ chiều đến giờ vẫn còn. Anh còn mấy điếu thôi hả, vậy để tôi “đi xe” đưa thêm qua để có đủ hút hết đêm nay, ngày mai giờ phát cơm tôi sẽ chuyển thêm qua cho. Để dành mấy diêm quẹt đó lại khi thật kẹt hãy dùng.
Tôi ngạc nhiên:
– Làm sao anh có thể giữ lửa từ chiều đến giờ?
Anh chàng ở biệt giam 1 cười cười:
– Tôi se “cúi” giữ lửa. Tiêu gần hết mẹ nó cái mền rồi.
Tôi ngạc nhiên không hiểu anh nói gì, muốn hỏi tiếp. Nhưng anh nói:
– Tôi sắp sửa đi “xe” qua anh đây. Anh nằm sát xuống, nhìn sát dưới ngạch cửa chờ “xe” qua thì đón bắt lấy nghe.
Tôi làm theo lời anh, chờ một lúc thì thấy một đầu thuốc lá xuất hiện ở phía ngoài cánh cửa, nhưng bị vướng khung cửa nên không chui vào ngạch cửa được… Tôi lấy mấy ngón tay lòn qua khe ngạch cửa kéo điếu thuốc chui vào và lấy được điếu thuốc dễ dàng. Té ra điếu thuốc được cột vào một đầu của nhiều sợi lát chiếu kết dính chặt với nhau cho thẳng và không bị gãy gập lại khi đẩy đi ra xa, rồi được đẩy qua từ dưới ngạch cửa biệt giam 1 qua phòng tôi. Lại một sáng kiến độc đáo của tù trong hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt như vầy.
– Tôi “xe” qua cho anh 4 điếu đó. Hút đỡ đêm nay đi. Anh gỡ thuốc ra, rồi để “xe” lại dưới ngạch cửa cho tôi “chạy” về.
Quả nhiên ngoài điếu thuốc đã mồi sẵn, anh còn cột thêm 3 điếu khác dính theo mấy sợi lát. Tôi gỡ thuốc ra rồi đặt mấy cọng chiếu lại dưới ngạch cửa cho anh ta kéo trở về. Sau đó tôi đứng dậy vừa hút thuốc nói chuyện với anh chàng biệt giam 1, vừa canh chừng công an qua lỗ gió. Tôi trở lại với thắc mắc khi nãy:
– Anh se “cúi” giữ lửa như thế nào? Có thể chỉ cho tôi không?
– Cũng đâu có gì khó, anh xé vải dọc theo chiều dài ra thiệt nhỏ: vải mùng, mền, quần áo gì cũng được… rồi se hay kết lại thành một giây “cúi” dài, khi nào muốn giữ lửa thì cứ châm thuốc lá cho cháy một đầu rồi cứ để nó cháy âm ỉ như vậy, chừng nào muốn hút thuốc thì cứ việc đốt lên hút thôi, khi nào không muốn giữ lửa thì cứ tắt cái “cúi” đi… Tôi cũng học cách này từ một người tù ở bên phòng anh ở trước đây chỉ. Anh ta chuyển đi nới khác rồi. Ở đây từ từ rồi ai cũng biết mấy chuyện này cả.
– Vậy à. Như vậy thì tôi hiểu rồi. Bên anh có nóng không? Giờ này hơi đỡ, chứ hồi trưa bên này nóng quá chịu không nổi.
Anh chàng bên biệt giam 1 cười:
-Anh bị xui mới ở biệt giam 2 đó. Phòng của anh là phòng nhỏ nhất trong 3 phòng, nên nóng lắm. Ai ở qua biệt giam 2 cũng than cả. Còn bên tôi với phòng chị Nguyệt tương đối rộng hơn bên anh. Tuy vậy buổi trưa cũng nóng thấy mẹ.
Tôi nghe nói vậy không khỏi nhủ thầm trong bụng “số mình quả xui thiệt, nhè bị nhốt ngay vào phòng nhỏ nhất”.
Thấy tôi im lặng, anh hỏi sang chuyện khác:
– Anh thấy cơm Chí Hòa thế nào? Ăn được không?
– Sáng giờ nuốt không vô. Phần cơm sáng còn nguyên, buổi chiều tôi không nhận cơm.
Anh ta cười:
-Ai cũng vậy thôi. Mới vô nuốt gì nổi. Nhưng rồi từ từ cũng sẽ ăn được hết thôi.
Lúc đó chị Nguyệt bên biệt giam 3 có lẽ nằm nghe câu chuyện của chúng tôi nên chị hé cửa gió ra hỏi tôi:
– Anh mới vô chắc chưa được thăm nuôi. Tôi có muối đậu và muối xả ớt bên này, để tôi chuyền qua cho anh. Anh muốn ăn bây giờ không thì tôi đi “xe” chuyền qua cho?
– Cám ơn chị, tôi ăn không vô, rầu thúi ruột nên cũng không thấy đói chị ạ.
– Vậy thì để mai khi lãnh cơm trưa tôi nhờ lao động chuyển cho anh nghe. Nói gì thì nói chứ cũng phải ráng ăn để sống. Tôi chỉ sợ không may bị bệnh thì chỉ khổ thân xác mình thôi. Đêm nằm nghe tiếng kêu cấp cứu có người bệnh nặng tôi sợ quá. Cứ mỗi lần nghe kêu cấp cứu là tôi bị ám ảnh không thể nào ngủ được.
Tôi cám ơn chị về chuyện cho muối đậu rồi hỏi anh chàng bên biệt giam:
– Không biết tôi nên gọi anh như thế nào cho dễ xưng hô.
Người bên biệt giam 1 trả lời:
– Gọi tôi là gì hả? Được rồi anh có thể gọi tôi là Thủ Thiêm đi. Còn anh muốn tôi gọi anh là gì? Không lẽ cứ gọi anh “biệt giam 2 ơi, biệt giam 2 hỡi hoài? “–Anh ta lại cười, chọc tôi.
Tôi ngẫm nghĩ một chút rồi nói:
– Gọi tôi là Sáu Khổ đi, chị Nguyệt cũng gọi tôi như vậy nghe.
Có tiếng Thủ Thiêm và chị Nguyệt cùng cười:
– Chà! Không thấy rõ mặt anh ra sao chứ nghe anh lấy tên “Sáu Khổ” thì chắc là khổ dữ lắm rồi!
Chúng tôi 3 người đứng nói chuyện ở 3 phòng, trong khi khu Kiên Giam có vẻ rất nhộn nhịp, từ khu Biệt Giam chúng tôi có thể nghe rất rõ các tiếng hát qua lại. Tôi nói:
– Trong khu Kiên Giam coi bộ sinh hoạt về đêm sôi nổi quá há?
Chị Nguyệt thở dài:
Google photo
– Chứ buồn quá mà cứ nằm ôm trán hoài… không hát hò, nói chuyện qua lại chắc điên quá. Nhiều khi nằm trên biệt giam này nghe bên dưới hát cũng thấy nguôi ngoai bớt.
Mặc dù đã hỏi anh chàng Tiến lao động hồi sáng. Không hiểu sao tôi vẫn muốn hỏi lại chị Nguyệt và Thủ Thiêm chuyện này:
– Quy chế thăm nuôi ở đây như thế nào? Người mới như tôi thì chừng nào mới được thăm nuôi.
Chị Nguyệt cho biết:
– Nếu người nhà biết tin tức của mình ở đâu, thì có thể thăm nuôi ngay ngày đầu tháng, nhưng chỉ được mang quà thôi. Bao giờ chấp pháp làm việc xong xuôi thì mới được thăm nuôi gặp mặt.
– Tôi rầu quá, chắc gia đình tôi chưa biết tôi kẹt ở đây đâu.
– Chắc biết mà, sau khi bị bắt, chắc người nhà anh thế nào cũng lo lắng chạy hỏi chỗ này chỗ kia… Không chừng giờ này ở nhà đã biết rồi đó. Như tôi cũng vậy, hồi mới bị bắt vào cũng lo lắng đủ thứ, nhưng ở nhà ông xã tôi qua hôm sau là biết tôi bị nhốt ở đây liền và ngay đầu tháng, trong khi tôi không ngờ thì giỏ thăm nuôi tới làm tôi sững sốt và khóc quá chừng… Nhớ lại khi nhận giỏ thăm nuôi đầu tiên, tôi xúc động khóc cả ngày. Chị Nguyệt nói xong cứ thở dài hoài, sau đó có lẽ cảm thấy thấy buồn trong lòng, không muốn nói chuyện tiếp nữa chị bỏ đi nằm trước, tôi còn đứng nói chuyện hút thuốc với Thủ Thiêm một lúc lâu.
Trong câu chuyện tôi hỏi Thủ Thiêm về những sinh hoạt tù ở đây và những người tù được ra lao động. Thủ Thiêm cho biết đa số tù lao động được ra ngoài làm việc là tù vượt biên hoặc tù kinh tế, đã có án và gần ngày về. Như anh Tiến cũng là tù vượt biên và còn mấy tuần nữa sẽ mãn án. Có thể có một số lo lót để được ra lao động. Thủ Thiêm cũng công nhận anh Tiến lao động là một người tốt, anh giúp đỡ tù nhân mỗi khi có dịp, khác với một số lao động khác hoặc là nhút nhát, sợ cán bộ… hoặc là muốn lấy điểm nên rất khắt khe với tù… Chúng tôi nói chuyện thêm một lúc nữa bỗng từ dưới khu Kiên Giam có tiếng đập vào cửa sắt rầm rầm rồi tiếng Công An quát tháo la lối mấy người tù bảo im lặng…Chúng tôi thôi nói chuyện và trước khi ngồi xuống tôi không quên giơ tay khép cửa gió lại.
Không gian trở lại yên tịnh. Tôi nằm xuống cố gắng ngủ, nhưng vẫn không thể nào ngủ được, đầu óc lại suy nghĩ hết chuyện này đến chuyện khác. Cuối cùng tôi ngồi dậy, chân xếp bằng kiểu “bán già” và chấp tay cầu nguyện. Tôi ngồi cầu nguyện không biết được bao lâu, cảm thấy mệt mỏi quá, nên nằm xuống lại, nhưng vẫn thầm niệm “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát” liên tục khống biết được bao nhiêu lần cho đến khi tôi ngủ thiếp đi hồi nào không hay.
Sáng hôm sau, khi mấy tên cán bộ công an còn chưa lên làm việc, thì tôi và Thủ Thiêm đã thức dậy từ sớm “đi xe” qua lại chuyền lửa, thuốc phì phà với nhau rồi. Thủ Thiêm chỉ cho tôi cách tập Dịch Cân Kinh như một cách tập thể dục giúp cho máu huyết vận chuyển đều và nhất là làm giảm căng thẳng, tránh suy nghĩ nhiều. Cách thức tập Dịch Cân Kinh so ra thì khá đơn giản, nhưng theo lời của Thủ Thiêm thì hiệu quả rất nhiều, rất bổ ích cho những trường hợp của chúng tôi hiện nay. Cách thức như sau: Đứng thẳng người, hai bàn chân dạng ra song song và ngang với vai. Sau đó hai đầu gối hơi khuỵu xuống một chút. Mắt nhìn thẳng về phía trước, hai cánh tay giơ thẳng ra phía trước mặt rồi vẩy mạnh ra phía sau lưng coi như là một lần và hai cánh tay cứ tiếp tục giơ ra phía trước rồi vẩy ra phía sau như vậy, hơi thở đều đặn. Mỗi lần tập như vậy ít nhất 100 lần. Chúng tôi đứng nói chuyện được một lúc thì hai tên cán bộ ở dưới đi lên mở cửa khu tập thể cho mấy lao động ra làm việc, bắt đầu cho một ngày mới. Một lúc lâu sau, anh chàng Tiến lên mở cửa biệt giam từng người cho đi ra đổ bô nước tiểu… nói chung mọi việc diễn ra giống như ngày hôm qua.
Buổi trưa phát cơm, cũng vẫn chỉ khoảng hơn một chén cơm vừa nhão vừa sống đựng trong ca nhựa và mấy cọng rau muống già với nước mặn chát, đen ngòm… chị Nguyệt bên biệt giam 3 gởi qua cho tôi một bọc nhỏ muối đậu mè và một bịch muối xả ớt… trong hoàn cảnh này đó là những thứ thật quý, nhưng tôi cũng chỉ ăn được có mấy muổng cơm rồi không thể nuốt tiếp được nữa. Buổi trưa, trong phòng giam thật là nóng, tôi chỉ ở trần mặc có mỗi quần xà lỏn mà cũng chịu không nổi, hôm nay cửa gió phòng tôi bị đóng kín nên lại càng thấy nóng hơn… nhưng cũng đành chịu trận thôi, cuối cùng nóng qua tôi phải cởi truồng ra luôn.
Buồn quá không biết làm gì giết thời giờ, thấy mấy con kiến đang bò sát vào vách, tôi nghĩ ra một cách giết thì giờ cho đỡ trống rỗng: Dùng mấy hạt cơm ra đùa và nhử mấy con kiến. Tôi để vài hạt cơm vào phía trước nơi chúng đang bò đi tới. Gặp hạt cơm, con đi đầu ngửi ngửi vào hạt cơm như để quan sát cho chắc chắn, sau đó nó quay trở lại gặp mấy con đi phía sau. Tôi thấy chúng chùm nhum vào với nhau như thể đang thương lượng, bàn bạc… rồi một con quay ngược đi theo ngạch cửa ra phía ngoài, mấy con kiến còn lại tiếp tục đi về phía mấy hạt cơm, sau đó chúng cùng nhau tha một hạt cơm đi theo sát vách ngược ra ngoài… Một lát sau, có khoảng mấy chục con kiến khác, hình như được con kiến hồi nãy thông báo, từ bên ngoài bò vào đến chỗ mấy hạt cơm còn lại rồi cùng nhau tha ra ngoài… Nhìn mấy con kiến tha mấy hạt cơm, tôi cảm thấy vui vui. Như vậy là từ nay tôi có cách tiêu khiển, giết thời giờ rồi. Tôi nói thầm: “Kiến ơi, cám ơn tụi bây đã giúp cho tao qua được thời giờ ở đây. Tụi bây đừng cắn tao nghe, tao sẽ cho tụi bây ăn…”
Chơi với mấy con kiến mãi cũng chán, tôi lại bắt đầu đứng dậy đi tới đi lui đếm bước 1,2 3,4. Đang bước tới bước lui thì cửa gió bật mở ra và anh chàng Tiến không nói câu nào, cố nhét vội vào phòng tôi một bọc nylon khá lớn rớt nghe “bịch” một cái xuống nền, rồi đóng cửa bỏ đi mất. Tôi bước vội lại cửa gió. nhưng cửa đã bị gài lại bên ngoài rồi. Cúi xuống nhặt bọc nylon lên, mở ra xem thì thấy bên trong có một gói nhỏ thuốc rê nén chặt, giấy vấn thuốc rê, khoảng nữa hộp diêm quẹt nhỏ, một gói mắm ruốt xào khô với thịt ba chỉ và đặc biệt là 4 điếu thuốc lá thơm có “cán” hiệu Samit nổi tiếng của Thái Lan được gói cẩn thận vào chính giữa cục thuốc rê cho khỏi bị gãy. Ngồi ngẫm nghĩ về gói quà “đột xuất” này, tôi đoán là thằng Hồng có lẽ đã biết tôi ở chỗ này nên nhờ anh Tiến gởi cho.
Đang từ một thằng “vô sản chuyên chính”, bỗng dưng với hai gói muối đậu và muối xả của chị Nguyệt gởi cho lúc nãy, rồi bây giờ với gói quà này, tôi có cảm tưởng như một người nghèo vừa trúng số, tự nhiên thấy mình giàu có hẳn lên. Tôi ngồi một lúc thật lâu với nỗi xúc động tràn ngập trong lòng. Với hoàn cảnh hiện tại, có người nghĩ tới và lén lút gởi cho tôi gói quà quí giá như vầy, không xúc động làm sao được. Tôi thật biết ơn thằng Hồng. Kể từ khi mãn khoá ở quân trường Thủ Đức đến nay tính ra cũng gần 9 năm trời rồi, chúng tôi đâu có gặp nhau lần nào, vậy mà sau khi nhận ra nhau, nó vẫn bất chấp hậu quả bất lợi có thể xảy ra, để giúp đỡ cho tôi. Đồng thời tôi cũng rất biết ơn anh Tiến lao động, chính anh mới là người có thể bị kẹt nhiều nhất nếu bị phát giác chuyển đồ cho tôi, nhất là anh chỉ còn mấy tuần nữa là được thả rồi… Trong cảnh tù đày này, những người như anh Tiến, thằng Hồng… đúng là những “quới nhơn” của tôi.
Sau buổi phát cơm trưa xong, mấy tay công an khoá cửa nhốt tù lao động vào khu tập thể trở lại rồi bỏ đi. Buổi trưa chúng nghĩ khoảng hai tiếng mới lên làm việc trở lại. Tôi muốn gọi Thủ Thiêm kêu anh đi xe qua để tôi chuyền cho anh điếu thuốc thơm Samit hút chơi, nhưng cảm thấy không an toàn vào giờ này, nên cố nén lại chờ tối sẽ thực hiện điều này.
Tôi đợi đến giờ phát cơm buổi chiều, ngó dáo dát canh chừng không thấy công an, tôi nói nhỏ với anh Tiến:
– Cám ơn anh thật nhiều về gói quà lúc trưa. Có phải anh Hồng bạn tôi gởi cho tôi phải không?
– Ừ! Hồi sáng sớm tôi có gặp anh Hồng và có cho anh ấy biết là anh ở đây, tới trưa thì anh ta nhờ tôi chuyển gói quà cho anh đó. Ảnh có gởi lời thăm anh. Anh đừng có hó hé cho ai biết nghe, bị bể ra là cả hai đứa tôi kẹt liền đó.
– Tôi biết rồi, anh yên tâm đi, tôi không để anh và bạn tôi bị liên luỵ gì đâu.
Tôi cám ơn anh lần nữa rồi mang cơm canh lủi thủi về phòng. Trước khi đóng cửa biệt giam lại, anh hỏi:
– Trong này nóng quá phải không, để chút nữa tôi mang cho miếng giấy cạt tông làm quạt.
Tôi nói nhỏ:
– Nếu có thể thì anh cho tôi xin một miếng bự bự để tôi xé ra đậy cái bô cho bớt mùi hôi luôn và đừng gài cửa gió.
Google photo
– Hồi sáng này, cán bộ dặn chúng tôi là phải đóng hết cửa gió lại, nên tôi phải gài lại thôi. Chịu khó đi nghen, nóng một chút không có chết đâu.
Vẫn nụ cười cố hữu, anh chọc tôi:
– Chút nữa tôi đưa quạt cho anh, nhiều lắm là nằm quạt liên tục vậy thì hết sợ nóng rồi.
Tôi chỉ biết méo mó cười trừ.
Tôi ở biệt giam 2 mỗi ngày cứ sáng sớm ngồi dậy cầu nguyện khoảng ½ tiếng, sau đó tập Dịch Cân Kinh đánh tay từ trước ra sau 500 lần… thì cũng vừa lúc công an ở dưới đi lên mở cửa cho lao động ra ngoài làm việc. Tôi ngồi nghỉ chờ lao động mở cửa đi ra đổ bô nước tiểu. Hôm nào gặp cán bộ dễ thì lao động cho tắm, nếu không thì sau khi đổ bô rửa ráy sơ sịa xong là phải đi lên ngay. Lên kiếm mấy con kiến chọc phá chúng bằng cách bỏ thức ăn dẫn dụ chúng đi theo hướng tôi muốn… để giết thì giờ cho tới giờ phát cơm trưa.
Buổi trưa, chờ cho mấy tên cán bộ đóng cửa sắt khu tập thể đi nghỉ trưa khoảng 2 tiếng, thời gian này, thỉnh thoảng nói chuyện với Thủ Thiêm, hút một vài điếu thuốc rê, sau đó cố gắng ngủ một chút. Khi cán bộ công an lên mở cửa cho lao động ra làm việc buổi chiều, tiếng khua của cửa sắt lúc đó đánh thức tôi dậy. Sau đó tôi bước tới bước lui đếm 1,2 3,4 khoảng 1 tiếng đồng hồ, rồi ngồi nghỉ mệt và lại chơi đùa với mấy con kiến cho tới lúc phát cơm chiều.
Tối đến thì nói chuyện tán gẫu với Thủ Thiêm và chị Nguyệt, đôi khi buồn quá tôi cũng nghêu ngao mấy bài hát trong khi chị Nguyệt nhìn qua lỗ gió canh chừng công an đi lên cho tôi… Sau đó thì tôi đếm bước 1,2,3,4 khoảng 1 tiếng, rồi ngồi cầu nguyện trước khi đi ngủ. Nhờ vào thời khoá biểu này mà tôi không cảm thấy thời giờ dài ra nữa, đồng thời tâm trí cũng ít suy nghĩ nhiều. Dầu sao thì tôi cũng phải chấp nhận thực tế và cuộc sống khắc khổ nơi biệt giam này. Tôi phải thích nghi với hoàn cảnh cho đến khi tai bay vạ gió này qua khỏi. Tôi tự nhủ chị Nguyệt là đàn bà mà còn ở được biệt giam thì tôi phải ở được thôi, biệt giam 2 này không có gì đáng sợ hết. Với ý nghĩ này tôi cảm thấy tự tin hơn.
Gã công an đóng sầm cửa buồng giam lại một cách thật thô bạo. Trong đêm tối, âm thanh vang lên nghe chát chúa đến rợn người. Tiếng chìa khoá lóc cóc bên ngoài nổi lên rồi tiếng bước chân nghe xa dần… sau đó mọi vật trở lại yên tỉnh. Còn một mình trong buồng giam tối thui, ôm gói áo quần trên tay, tôi đứng bàng hoàng như thể còn đang ở trong một cơn ác mộng hãi hùng nào đó, khổ nỗi đây lại là một cơn ác mộng có sự nhận thức rõ ràng. Trời ơi! Không thể nào! Không thể nào đây lại là sự thật được! Mới hồi nãy, tôi còn là một người tự do, còn cười giỡn với gia đình… vậy mà giờ này đã là một tên tù chính trị với một tội danh nghe thật lạ lùng: Tuyên Truyền Thơ Ca Phản Cách Mạng! Thật đúng là chuyện tai bay vạ gió gì không biết, sao lại nhè rơi ngay trên đầu tôi!
Từ hai năm nay, gia đình chúng tôi từ rẫy bỏ về thành phố tá túc ở nhà bà Dì ruột, nơi đây cũng là một trường dạy may. Vợ và hai đứa em gái đứng ra dạy may vừa phụ với bà Dì, vừa có phương tiện sinh sống. Còn tôi thì ngồi trước nhà bơm quẹt gas nhựa; một nghề bất đắc dĩ mới phát sinh sau năm 1975; sống lây lất qua ngày. Buổi chiều hôm nay, khi các cô học trò học may vừa ra về hết, vợ tôi và mấy đứa em đang lo quét dọn để chuẩn bị cơm nước buổi tối. Tôi đang ở trong nhà đùa giỡn với hai đứa con, bỗng nhiên có hai thanh niên mặc áo sơ mi trắng bỏ vào quần đàng hoàng, nhìn bề ngoài có vẻ rất trí thức, bước vào nhà hỏi:
– Cho hỏi anh L.V.K. có ở nhà không?
Không biết chuyện gì, tôi lên tiếng:
– Chính tôi đây, các anh gặp có chuyện gì không?
Một thanh niên móc trong cái cặp da ra một tờ giấy và lên tiếng:
– Chúng tôi là Cán Bộ Công An Thành Uỷ, trực thuộc Viện Kiểm Sát Nhân Dân TPHCM. Hôm nay được lệnh đến bắt khẩn cấp và khám xét nhà anh. Yêu cầu anh và gia đình chấp hành nghiêm chỉnh lệnh này để chúng tôi làm nhiệm vụ được dễ dàng.
Cả nhà tôi nhốn nháo lên với cái tin trời giáng đó. Tôi hỏi:
– Tôi đâu có làm tội gì? Sao lại bắt tôi?
– Yêu cầu anh đứng nghiêm chỉnh nghe chúng tôi đọc lệnh bắt thì sẽ rõ.
Tôi còn đang bàng hoàng, chưa biết phản ứng ra sao, tên thanh niên đó lập lại lệnh một lần nữa, giọng nói gằn lại như đe doạ:
– Yêu cầu anh đứng lên nghe chúng tôi đọc lệnh bắt, mong anh chấp hành nghiêm chỉnh để chúng tôi không phải dùng biện pháp khác trước mặt gia đình anh.
Tôi đứng lên đối diện với hai thanh niên đó, sững sốt đến độ không nghe rõ tiếng vợ con tôi đang bắt đầu khóc. Tên thanh niên cầm tờ giấy bắt đầu đọc lớn:
Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc.
Viện Kiểm Sát Nhân Dân
TPHCM, ngày… tháng… năm…
Lệnh Bắt và Khám Xét Khẩn Cấp: Đối tượng L.V.K.
Tội Danh: Tuyên Truyền Thơ Ca Phản Cách Mạng.
Chiếu theo bộ luật ……Ngày… Tháng… Năm …VKSND TPHCM tống đạt lệnh bắt và khám xét khẩn cấp này cho Uỷ Ban Công An TPHCM đối với đối tượng L.V.K. nói trên.
………………………………………………………………………………………………
Uỷ Ban Công An TPHCM được toàn quyền triển khai mọi phương tiện, hành động trong khi thi hành nhiệm vụ.
Thay Mặt Viện Kiểm Sát Nhân Dân
…………….
Ký tên và đóng dấu.
Tai tôi như ù đi, mặc cho tên thanh niên đó tiếp tục đọc cho hết lệnh bắt, tôi không còn để ý gì nữa. Tôi đã làm gì mà bị gán là: “Tuyên Truyền Thơ Ca Phản Cách Mạng”. Thời buổi này mà bị gán cho cái tội danh “dữ dằn” đó là chết chắc rồi… Đang còn bàng hoàng suy nghĩ lung tung thì tên đó bảo tôi ký vào tờ giấy. Tôi hỏi anh ta, giọng chống chế yếu ớt:
– Tôi có làm gì đâu mà anh bắt tôi ký vào tờ giấy này, chắc là mấy anh lầm lẫn ai khác rồi.
– Anh có tội hay không thì sau này sẽ biết, còn hiện tại mong anh triệt để chấp hành lệnh để chúng tôi làm việc được dễ dàng, nếu không chúng tôi buộc phải còng anh lại và dùng biện pháp mạnh. Chúng tôi không yêu cầu anh ký nhận tội, chúng tôi chỉ yêu cầu anh xác nhận là có nghe đọc lệnh bắt và khám xét khẩn cấp này rồi ký tên bên dưới là đủ.
Vợ tôi đứng kế bên vừa khóc bù lu bù loa vừa nói:
– Mấy ông bắt lầm người rồi, chồng tôi làm ăn lương thiện, đâu có làm gì đâu mà tuyên truyền thơ ca phản cách mạng… Trời ơi, sao mà gia đình tôi khổ quá vầy nè Trời…
Tôi quay qua an ủi vợ tôi:
– Chắc không sao đâu em. Đừng khóc làm hai con sợ. Anh đâu có làm gì đâu mà phải sợ. Chắc là lầm lẫn thôi. Em đừng khóc nữa…
Tôi cầm cây bút tên đó đưa rồi viết vào mấy chữ ở phía dưới: “Tôi có nghe đọc tờ giấy này” rồi ký tên ở bên dưới.
– Cám ơn anh. Bây giờ yêu cầu anh và gia đình cho chúng tôi làm nhiệm vụ kế tiếp. Chúng tôi sẽ khám xét nhà – Tên đó chỉ về phía bộ ghế salon – Yêu cầu anh ngồi yên đây, không được di chuyển đi đâu hết, nếu anh cần đi tiêu, tiểu… thì nói với chúng tôi, chúng tôi sẽ dẫn anh đi. – Hắn quay qua phía vợ tôi nói tiếp – Chị và một người nào đó trong gia đình đi theo chúng tôi trong khi chúng tôi khám xét nhà.
Mấy đứa em tôi đã đi thông báo cho Má và Dì tôi nên toàn bộ gia đình lúc này đều có mặt. Mọi người trong nhà đều khóc sụt sùi, ai nấy đều lộ vẻ hốt hoảng, lo âu. Tôi đến ngồi lên ghế salon, thấy con trai đứng gần đó khóc thút thít. Tôi kéo nó ngồi xuống với tôi và an ủi nó. Tên thanh niên đọc tờ giấy hồi nãy đi theo vợ và Má tôi, bắt đầu lục xét hết tất cả đồ đạc trong nhà, không còn chừa một chỗ nào cả. Tên còn lại đứng yên lặng giữa nhà, mắt cứ lom lom nhìn vào tôi như thể hắn sợ chỉ lơ đễnh ngó lơ chỗ khác một tí thì tôi sẽ biến mất ngay! Lúc đó phía ngoài, thấy có mấy tên nữa đang đứng canh sẵn. Không khí lúc bấy giờ rất căng thẳng. Tôi nghĩ ở cửa sau chắc cũng có người của bọn chúng dàn sẵn luôn rồi.
Khoảng gần hai tiếng đồng hồ sau, cuộc lục xét xong. Sau khi bới tung hết mọi thứ trong nhà, chúng không tìm được gì khả nghi. Chỉ có 3 quyển Nhật Ký tôi viết cho vợ trong thời gian đi tù cải tạo là bị lấy đi. Tôi nói với hai tên này:
– Đây là nhật ký của tôi viết riêng cho vợ tôi, hoàn toàn không dính dáng gì đến những chuyện nào khác. Hai anh có thể đọc ngay tại đây và nếu không có gì thì hai anh cho chúng tôi xin lại 3 quyển nhật ký này, vì đây là kỷ niệm riêng của vợ chồng chúng tôi.
– Chúng tôi không có thì giờ đọc ở đây. Nếu anh không có viết gì lung tung, phản động trong đó thì anh có gì phải sợ.
Tôi nổi cáu:
– Tôi làm gì mà phải sợ. Tôi chỉ nói với mấy anh đây là chuyện riêng tư của vợ chồng tôi, anh có thể duyệt tại đây. Nếu có gì phản động trong đó, tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm, còn nếu không có gì thì anh phải trả lại cho chúng tôi chứ. Những chuyện riêng tư của vợ chồng tôi mấy anh lấy làm gì?
– Chúng tôi sẽ về nghiên cứu 3 quyển nhật ký này, nếu không có gì sai phạm, sau này chúng tôi sẽ trả lại cho anh. Chứ chúng tôi giữ lấy để làm gì. Bây giờ mời anh đi theo chúng tôi.
Sau đó tôi bị 2 tên này áp giải đi ra một chiếc xe Mazda đậu sẵn từ trước. Cả nhà khóc lóc chạy theo ra cửa, có ai đó trong nhà dúi vào tay tôi một túi xách nhỏ và ổ bánh mì thịt do một đứa em chạy mua vội trước đó không lâu. Tôi ngồi băng sau, 2 tên thanh niên khi nãy ngồi kèm hai bên, băng trước có một tên khác ngồi với tài xế, nhìn ra cửa kiếng xe thì thấy hai bên có hai xe Honda với 4 tên đi kèm. Thấy chúng chuẩn bị kỹ lưỡng khi giải tôi đi như vậy, tôi than thầm trong bụng, với tình hình này rõ ràng chúng đã xem tôi như là một tên tội phạm gì ghê gớm lắm chứ không phải là một chuyện bắt bớ bình thường.
Ban đầu tôi không biết mình bị đưa đi đâu, nhưng sau khi xe quẹo qua đường Lê Văn Duyệt đi về phía chợ Hoà Hưng thì tôi biết là mình bị giải về Chí Hòa rồi! Khi xe chạy gần tới Chí Hòa, tên ngồi băng trước quay lại hỏi tôi:
– Anh có cần mua một vài món cần thiết nào không? Chúng tôi có thể mua dùm cho anh. Chứ khi vào đó rồi, chắc chắn là sẽ thiếu thốn lắm.
Tôi thật ngạc nhiên với đề nghị đột ngột này, nhưng đầu óc lúc bấy giờ rối tung lên, đâu còn nghĩ được đến chuyện gì khác, tôi ấp úng trả lời:
– Tôi… tôi không biết cần mua cái gì nữa. Thôi chắc là không cần gì đâu. Cám ơn anh.
– Anh có hút thuốc không? Có muốn mua thuốc lá không? -Tên thanh niên kiên nhẫn hỏi-.
– Vậy thì anh cho tôi mua một gói thuốc Hoa Mai.
Tôi móc túi lấy ít tiền đưa cho tên đó, hắn bảo tài xế dừng lại nơi có một thùng thuốc lá lẻ bày bán ở ven đường. Ngồi yên trên xe, hắn quay cửa kiếng xuống và nói vói ra hỏi mua một gói thuốc Hoa Mai và một hộp diêm quẹt cho tôi. Sau đó xe tiếp tục chạy vào khu Khám Chí Hòa. Sau khi bàn giao tôi cho tên Công An trực ở Chí Hòa, trước khi ra về một trong hai tên thanh niên còn nói:
– Anh lên nằm suy nghĩ kỹ, kiểm điểm lại những gì anh làm đi, mấy ngày sau chúng tôi sẽ đến làm việc với anh.
– Tôi làm gì sai mà các anh bảo tôi kiểm điểm lại. –Tôi hỏi.
– Được rồi, nếu anh không nhớ thì lúc chúng tôi đến làm việc sẽ nhắc cho và anh sẽ nhớ thôi.
Sau khi 2 tên đó đi rồi, tên Công An trực ở Chí Hòa dẫn tôi vào một phòng gần đó bảo tôi cởi hết đồ đạc, kể cả quần lót, sau đó khám xét tất cả đồ đạc trong túi xách nhỏ và quần áo. Hắn chỉ giữ tất cả giấy tờ tuỳ thân cá nhân của tôi, còn đồ đạc thì nhét trả lại trong xách tay kể cả gói thuốc Hoa Mai và hộp diêm quẹt. Riêng hộp diêm quẹt, hắn lấy bớt ra khá nhiều chỉ để lại cho tôi khoảng hơn mười que diêm mà thôi. Xong xuôi ra lệnh cho tôi mặc quần xà lỏn vào rồi ôm quần áo cùng túi xách đi theo hắn len lõi qua một dãy hành lang, sau đó đi lên các bậc thang xoắn ốc đến từng lầu thứ tư, bước vào khu bên tay phải, mở khoá một cánh cửa sắt lớn rồi dẫn tôi đi vào hành lang bên trong với hai dãy phòng giam dọc hai bên. Hắn dừng lại mở cửa một phòng bên tay phải ở cuối dãy có số 26 ngay trên cửa và thảy tôi vào đây, một phòng giam tối tăm, không đèn đóm gì cả… rồi bỏ đi mất.
Tôi còn đang bàng hoàng lo âu, suy nghĩ lung tung thì nghe có tiếng gọi bên ngoài:
– Ê gà mới, gà mới. Có nghe tôi không?
Tôi quay lại, ngước nhìn lên phía trên cánh cửa ra vào, nơi có mấy song sắt với chút ánh sáng vàng nhạt hắt hiu từ bên ngoài len lõi vào. Tôi lên tiếng:
– Ai đó. Ai đó. Có phải kêu tôi không??
– Ê gà mới. Anh mới vô hả? Tôi ở phòng đối diện với anh nè. Leo lên song sắt phía trên cửa cho tôi hỏi thăm chút coi.
Tôi lần theo vách đi tới trước cửa, mò mẫm thấy một bực xi măng khá cao bên phía trái, với một bàn cầu được xây cho việc tiêu tiểu. Đặt bàn chân lên bực xi măng lấy đà, nhún mình nhảy lên rồi chụp một song sắt phía trên cánh cửa, sau đó tôi bám chặt hai tay trên song sắt, đu tòn ten và nhìn ra ngoài thì thấy có hai người đang ngồi dán vào song sắt như con khỉ ở hai phòng đối diện, nhưng trông điệu bộ của họ có vẻ thoải mái lắm… Còn tôi thì phải nắm chặt hai song sắt với cả hai tay, dùng hết sức đu đưa chịu cả thân mình nên chỉ được một chút, mỏi quá tôi phải buông tay nhảy xuống.
Có tiếng nói từ phía phòng bên kia:
– Ê gà mới, tù “con so” hả? Để tôi chỉ cho anh cách ngồi. Anh nghe tôi nói có rõ không?
– Có, tôi nghe anh rõ lắm. Nhưng tôi không ở trên cao đó lâu được. Bám vào song sắt một chút mỏi tay quá chịu không nổi.
Người bên phòng đối diện vừa cười vừa nói:
– Được rồi, bây giờ anh làm theo như tôi chỉ nghe. Chân trái anh đứng lên bực xi măng của cầu tiêu lấy đà, chân phải anh đặt lên lỗ hổng của cửa gió rồi lấy thế nhún lên. Sau khi nhảy lên được rồi thì lưng phải tựa vào ngay vào vách tường, chân chỏi mạnh vào bờ tường trong khung cửa đối diện để chịu lại, sau đó anh có thể buông tay ra, khỏi phải dùng sức đeo vào song sắt, như vậy sẽ không bị mỏi.
– Cửa gió là cửa gì? Lỗ hổng cửa gió ở chỗ nào??
– Cửa gió ở ngay chính giữa cánh cửa cái, khoảng hơn một tấc vuông, anh nhìn lên cửa cái thấy chỗ nào vuông vức lõm vào thì đó là lỗ cửa gió. À… À…bên phòng anh không có bóng đèn, hèn gì anh không thấy…Nhưng anh có thể lấy tay mò mò ở khoảng chính giữa cửa, sẽ tìm được nó ngay.
Tôi sờ soạng trên cánh cửa cái như lời hướng dẫn thì quả nhiên thấy một lỗ hổng vuông vức lõm vào ngay giữa cửa cái nơi tôi có thể đặt chân phải lên lấy đà được. Tôi nhảy lên lại và làm theo cách chỉ dẫn, lưng tựa vào tường, chân đạp chỏi ngay vào bờ tường đối diện trong khung cánh cửa để giữ cả thân mình với lưng dán sát vào vách cho khỏi rớt xuống và với tư thế này quả nhiên tôi có thể ngồi được trên cao như hai người bên hai phòng đối diện. Tuy nhiên phải nhảy lên, nhảy xuống hai ba lần tôi mới có thể tạm quen được thế ngồi vắt vẻo này. Từ vị trí này tôi có thể thấy 2 phòng đối diện số 28, 29 rõ ràng. Hai người ở trần đang ngồi trên đó. Phòng của họ có một bóng đèn. Qua ánh sáng vàng vọt, trông màu da của họ tái mét y như màu da của một người bệnh lâu năm mới dậy, tự điều đó toát ra một vẻ thê lương gì lạ. Như một phản xạ tự nhiên, tôi cúi xuống nhìn lại màu da trên cánh tay mình và nghĩ thầm, lúc này nếu có ai nhìn vào tôi thì chắc cũng chẳng khá gì hơn đâu.
Một người ở phòng 29 bên kia hỏi qua:
– Anh mới bị bắt hay từ đâu chuyển đến?
– Tôi mới bị bắt hồi tối.
– Anh bị tội gì vậy? Ở Saigon hả?
– Ở quận Phú Nhuận, Saigon. Tôi đâu có tội gì đâu, không hiểu tại sao họ lại khép tội, bị xét nhà rồi bị bắt luôn vô đây? – Tôi rầu rỉ trả lời.
– Họ khép anh tội danh gì??
– Tuyên truyền thơ ca phản cách mạng.
– Chết mẹ! Vậy anh bị dính chính trị rồi!
Dù biết mình bị khép vào tội danh chính trị, nhưng nghe người đó “phân loại” dùm và buông ra hai tiếng “Chết mẹ!” như vậy, càng làm tôi não lòng thêm. Tôi hỏi lại:
– Còn mấy anh bị kẹt vụ gì vậy?
– Tội vượt biên. – Người ở phòng 29 đối diện bên phía bên trái tôi trả lời.
– Còn tôi tội Kinh tế – Người ở phòng 28 bên phải cho biết- Dãy này là Kiên Giam khu ED, ở phía ngoài bên tay trái cầu thang chỗ anh đi lên hồi nãy, ra ngoài thêm một chút là dãy tập thể. Khu ED này chỉ nhốt 3 thành phần: Kinh Tế, Vượt Biên và Chính Trị. Những tội Hình Sự, Tệ đoan xã hội… nhốt ở khu khác.
Anh chàng ở phòng bên tay trái còn cho tôi biết thêm:
– Khu Kiên Giam này nhốt những tù nhân còn trong vòng điều tra. Bao giờ điều tra xong thì tù nhân sẽ được chuyển ra ngoài khu tập thể chờ ra toà hoặc chờ phân loại đi lao động, một số ít thụ án ngay khu tập thể cho đến ngày được thả về. Ở khu tập thể thì thoải mái hơn về sinh hoạt hằng ngày như ăn uống, thăm nuôi, tắm rửa… Còn trong khu Kiên Giam này thì bị hạn chế đủ thứ. Mỗi ngày chỉ được mồi thuốc 2 lần vào giờ phát cơm, nước uống và nước xài lấy một lần trong ngày vào buổi sáng. Tắm rửa, giặt giũ mọi thứ… cũng chỉ trong phạm vi số nước phân phát này mà thôi… Trong những “vụ” nặng hơn thì tù sẽ bị cách ly ở khu Biệt Giam để ép cung. Khu Biệt Giam ở đây nằm giữa những từng lầu, mỗi khu Biệt giam như vậy có 3 phòng nhỏ … ở đây rồi từ từ anh sẽ hiểu.
Thấy họ có vẻ cởi mở và thân thiện, tôi tự giới thiệu:
– Tôi tên K., xin hỏi mấy anh tên gì để dễ xưng hô.
– Ý đừng! Đừng bao giờ nói chuyện ở đây mà cho biết tên thiệt nghe. Vì nói chuyện như vầy là bị cấm đó. Ở đây nội qui cấm tù quan hệ với nhau. Nếu bị cán bộ bắt được mình đang nói chuyện hoặc hát hò thì sẽ bị đưa đi cùm giò nửa tháng ở biệt giam kỷ luật ngay. Cho nên ở đây xưng hô với nhau bằng danh hiệu riêng chỉ tụi mình biết với nhau thôi, rủi lỡ cán bộ trực lên nghe tiếng tù nói chuyện qua lại, nếu không bị bắt ngay quả tang thì mình chối là không phải mình, họ không cùm mình được, còn họ biết đúng ngay tên mình thì bị cùm giò là cái chắc. Một điều quan trọng nữa là, ở đây nếu ai xui bị bắt gặp thì chấp nhận, thà là bị phạt chứ không khai người khác ra, anh nhớ điều này nghe. Ở đây ai cũng đều làm như vậy cả, đừng làm khác… Cứ gọi tôi là “Tám Tèo”, anh bạn phòng kế bên này biệt hiệu là “Quê Độ”. Anh cần gì cứ gọi Tám Tèo hoặc Quê Độ là tụi tôi biết ngay.
Mới vừa bị bắt vô, tâm trạng chưa hết bàng hoàng lo lắng, lại nghe hai người này cho biết nói chuyện như vầy là phạm nội qui có thể bị phạt cùm giò, nên tôi không còn muốn nói chuyện tiếp nữa. Lỡ xui bị bắt đang nói chuyện, họ lại phạt thì chỉ mệt xác mình thôi chứ ích lợi gì, vả lại tôi cũng không có tâm trí đâu mà chuyện vãn thêm nữa. Nghĩ như vậy cho nên tôi chào hai người bạn tù mới và xin phép nhảy xuống, viện cớ ngồi tư thế vắt vẻo này lâu không quen.
Tám Tèo có lẽ biết tôi lo sợ cho nên trấn an tôi:
– Nói là nói vậy, chứ tụi tôi có đồ soi hết rồi. Tụi cán bộ đi lên là tôi biết liền, nên anh đừng lo. Xui lắm mới bị thôi chứ dễ gì!! Mới bị bắt vào ai cũng đều lo lắng hết, anh xuống nằm một mình chỉ càng thêm chán nản lo rầu chứ không ích lợi gì đâu. Tụi tôi trải qua những ngày đầu như vậy rồi nên biết rõ lắm, lên đây nói chuyện với tụi tôi cho đỡ nghĩ ngợi lung tung.
Lúc bấy giờ phía bên trong có nhiều tiếng tù nhân nói chuyện râm rang ở những phòng khác vọng ra, tôi cố nhìn xéo qua góc mấy song sắt để có thể thấy xa hơn bên trong, thì thấy một hai phòng bên trong cũng đã có người leo lên nói chuyện như chúng tôi rồi.
Tám Tèo cười:
– Tới giờ “họp chợ” rồi đó.
Đầu óc vẫn còn loay hoay xung quanh chuyện bắt bớ nên không để ý tới lời Tám Tèo nói, tôi hỏi tiếp anh ta:
– Hai anh ở đây bao lâu rồi.
– Hơn 7 tháng rồi. –Tám Tèo trả lời.
– Còn tôi hết tháng này là ở đây đúng 13 tháng rồi. –Quê Độ cho biết.
– Trời đất! Hai anh ở lâu như vậy mà chưa được ra khu tập thể, bộ chưa kết thúc điều tra hay sao?
Anh chàng có biệt hiệu Quê Độ trả lời tôi:
– Chưa xong. Ở đây có nhiều vụ kéo dài cả 2, 3 năm mà vẫn chưa kết thúc hồ sơ. Một là không đủ chứng cớ kết thúc hồ sơ buộc tội để đưa ra toà. Hai là nhiều vụ lớn quá liên quan đến nhiều người nên thành ra lâu.
Tôi nghe nói mà không khỏi chới với. Hai người này, một người tội vượt biên, người kia tội kinh tế, họ đã ở đây lâu như vậy rồi mà vẫn chưa kết thúc hồ sơ điều tra… Còn tôi bị khép tội chính trị, thì chắc còn thê thảm hơn nữa. Như cố chống chế cho tình trạng của mình, tôi hỏi tiếp với hy vọng nghe được câu trả lời mong muốn:
– Tôi đâu có làm gì nên tội đâu, tôi nghĩ họ bắt lầm và sẽ thả tôi về sớm nay mai thôi. Hai anh có thấy ai trong này được về sớm không??
Nhưng câu trả lời của Quê Độ như một gáo nước lạnh tạt vào mặt tôi:
– Tôi ở đây gần 13 tháng, thấy người sớm nhất được về cũng phải ở hơn ba tháng, mà nghe đâu người đó có lo lót bên ngoài nên mới lẹ như vậy. Nội chờ được kêu tên đi thẩm vấn cũng đã chờ dài người ra rồi. Đôi khi họ nhốt mình ở đây một vài tháng sau mới kêu tên đi thẩm vấn đợt nhất.
Tôi nghe Tám Tèo và Quê Độ cho biết như vậy thì tối tăm cả mặt mày, rầu thúi ruột, tay chân bủn rủn thiếu điều muốn té khỏi chỗ đang ngồi trên cao. Tôi cứ hy vọng sẽ được điều tra và khi phát giác là tôi bị oan, họ đã bắt lầm người… rồi mình sẽ được thả về sớm thôi. Nhưng qua lời của hai người tù này thì chắc là khó về sớm được rồi!!!
Hình như nhận thấy câu trả lời của Quê Độ đã vô tình làm tôi buồn lo thêm, Tám Tèo an ủi:
– Anh cũng đừng quá lo lắng. Nếu không có làm gì thì chắc anh sẽ được cứu xét thả về sớm thôi.
Tôi ngước lên nhìn Tám Tèo, thầm cám ơn anh qua lời an ủi đó, rồi nói lảng qua chuyện khác:
– Phòng mấy anh có đèn đỡ quá. Bên tôi tối thui, chán thiệt!
– Bên phòng anh cũng có đèn đó chứ, tại hôm trước có một anh ở lầu 3 chuyển lên, anh ta dùng bóng đèn làm lửa hút thuốc, được mấy lần đèn cháy bóng luôn.
– Ủa! Bóng đèn làm sao làm ra được lửa để hút thuốc?
– Ở đây một thời gian đi rồi anh sẽ biết, nhiều chuyện ngoài đời không làm được nhưng vào đây là được hết á. – Anh ta và Quê Độ cười bí mật.
– Anh có lửa không? Mấy đồ nghề làm lửa của tụi tôi bị xét phòng, tịch thâu mất 2 bữa trước rồi nên hồi tối đến giờ vả quá. – Quê Độ nói.
Thấy tôi còn ngơ ngác, anh ta tiếp thêm:
– Ý tôi muốn hỏi là: Anh có diêm quẹt không?
– À diêm quẹt hả? Có. Tôi có. Cả thuốc lá nữa. Hồi nãy sau khi xét đồ xong, Công An có trả tôi lại gói thuốc Hoa Mai và chừa cho mấy cây diêm quẹt. Mấy anh cần không tôi đưa cho… À… mà làm sao tôi chuyền được thuốc lá cho mấy anh?
– Như vậy là anh hên gặp cán bộ dễ dãi đó, chứ trong này cấm lửa, mỗi ngày chỉ cho phép mồi lửa hút thuốc hai lần vào giờ phát cơm thôi. Anh đã có thuốc lá và lửa nữa thì tốt quá. Anh khỏi lo, để tôi gởi “xe” qua chở về. Anh chờ tôi một chút nghe – Tám Tèo nhanh nhẩu nói.
Sau đó anh ta nhảy xuống đất, chưa đầy 1 phút sau đã leo lên lại, trên tay cầm một sợi dây dài, một đầu cuộn lại với một cục gì nho nhỏ. Anh ta bảo tôi:
– Anh quẹt diêm mồi thuốc đi rồi giơ tay ra phía ngoài song sắt. Tôi sẽ ném sợi dây qua cho anh bắt, xong anh sẽ cột điếu thuốc cẩn thận vào sợi dây rồi thả nhẹ xuống đất, sau đó tôi sẽ kéo nó về.
Nghe cũng ngồ ngộ. Tôi nhảy xuống, mò mẫm trong bóng tối tìm cái xách tay và quần áo vứt trên nền hồi nãy, lục tìm gói thuốc rồi quẹt diêm mồi thuốc. Trong phòng tối, ánh sáng từ que diêm chợt loé lên soi bóng tôi lung linh trên vách càng khiến cho tôi cái cảm giác cô đơn chưa từng có. Tôi nhìn vội chung quanh căn phòng. Đây là một phòng nhỏ, bề ngang khoảng 2 mét rưỡi, bề sâu tính từ cửa vào khoảng 3 mét, nhưng ngay cửa ra vào có một bàn cầu dùng cho việc tiểu tiện chiếm cũng gần một mét rồi.
Còn đang quan sát trong phòng thì tiếng nói phòng bên kia thúc dục làm tôi giật mình:
– Ê Gà mới. Xong chưa. Lẹ lên đi chớ.
Lúc này ở bên ngoài tiếng những tù nhân gọi nhau và tiếng nói chuyện râm rang nổi lên nhiều và ồn hơn lúc nãy, vọng ra từ dãy phòng phía trong. Ánh sáng que diêm cũng vừa cháy hết, tôi vội nhảy trở lên ngồi vắt vẻo lại bên song cửa sắt, lòng thoáng ngạc nhiên vì phát giác ra hình như lần này tôi leo lên ngồi vắt vẻo trên cao như vậy có vẻ dễ dàng và thuần thục hơn hồi nãy nhiều.
Ngay lúc đó bỗng có tiếng hát của ai đó từ phía trong nổi lên thật lớn làm tôi giật mình suýt té. Trong đêm tối, tiếng hát vang lồng lộng trong khu Kiên giam và lan ra khắp không gian bên ngoài, như thể muốn trút hết bao nỗi nhớ nhung, uất ức vào lời ca… nghe thật não lòng, oái ăm thay đó lại là một trong những bài hát tôi ưa thích nhất:
“… Nếu, ngày mai nếu chúng mình xa nhau. Anh xin hứa lời cùng em lần cuối … Nếu, ngày mai nếu chúng mình xa nhau. Anh xin muôn kiếp yêu em mà thôi.”
Anh chàng Tám Tèo bên kia phòng nói vọng vào bên trong thật lớn:
– Hai Chuột ơi! Làm ơn khoan hát, chút xíu nữa đi. Tôi sắp “đi xe” đây, chừng nào xong tôi sẽ báo cho Hai Chuột. Cám ơn trước nghe.
Bên trong tiếng hát ngừng liền rồi có tiếng hỏi:
– Gà mới ở đâu tới vậy Tám Tèo? “Bịnh” gì vậy?
– Gà mới tới ở Saigon, Tù “Con So”, bịnh “Xê Tê”
– Nhớ huấn luyện cho Gà mới quen chuồng nghe.
– Yên chí đi Bây giờ tôi đi “xe” đây. Khoan hát nghe.
Tôi nhìn qua Tám Tèo thấy anh ta đang chìa tay ra phía ngoài song sắt một chút, rồi chăm chú nhìn vào lòng bàn tay, té ra anh đang nhìn vào một mảnh kiếng nhỏ đang nằm trong lòng bàn tay. À, thì ra nhờ mảnh kiếng này Tám Tèo có thể quan sát được phía bên ngoài xem có ai lên không?
Sau đó anh ta rút tay lại và ra hiệu cho tôi:
– Xong rồi. An toàn trên xa lộ. Tôi cho “xe” qua đây. Anh giơ cánh tay ra ngoài, tôi đếm một hai ba rồi ném dây qua, anh đón bắt nghe.
Tôi giơ tay ra ngoài song sắt như lời chỉ dẫn. Anh ta đếm “1, 2,3” rồi ném cái gói trên sợi dây qua phía tôi. Té ra cái gói đó chỉ là một bịch nylon cuộn lại cho nặng để dễ ném ra xa thôi, chứ không có gì trong đó cả. Tôi đón bắt đầu dây có gói nylon cuộn lại đó một cách dễ dàng, cẩn thận buộc ba điếu thuốc không và một điếu thuốc vừa mồi xong vào sợi dây. Sau khi mồi riêng cho mình một điếu, tôi thòng dây thả nhẹ xuống đất. Bên kia Tám Tèo nới sợi dây ra thêm cho tôi có thể đặt “hàng” nhẹ nhàng xuống đất, sau đó anh ta kéo từ từ về phía phòng của anh rồi kéo lên trên song sắt chỗ anh đang ngồi. Chuyến “xe” chuyển hàng thành công mỹ mãn! Tám Tèo mồi một điếu thuốc mới rồi vói tay ra khỏi song sắt chuyền qua cho Quê Độ ở phòng bên cạnh. Ngồi bên này quan sát cảnh “xe” chở hàng, tôi không khỏi thầm phục anh chàng tù nhân đầu tiên nào nghĩ ra cách chuyền hàng độc đáo này.
Tám Tèo và Quê Độ cám ơn tôi rồi anh ta nói lớn vào phía trong:
– Hai Chuột ơi. Xong rồi, cám ơn nghe.
Từ bên trong tiếng hát lại cất lên thật lớn.
Quê Độ giải thích thêm với tôi:
– Sinh hoạt của tù ở đây là như vậy đó. Ban đêm là lúc chỉ có một, hai cán bộ trực, tụi nó chỉ thỉnh thoảng đi tuần thôi, cho nên cũng là lúc tù “họp chợ”. Mọi người chỉ có thể liên hệ với nhau, hoặc hát hò cho vơi đi nỗi nhớ nhà vào ban đêm như thế này. Hễ cán bộ lên thì ngưng, cán bộ đi xuống thì lại… “họp chợ” tiếp. Thỉnh thoảng có ai xui bị bắt thì bị đưa đi biệt giam kỷ luật còng giò nữa tháng… Riết rồi bị biệt giam kỷ luật cũng không còn là điều đáng sợ nữa. Chứ nếu không có sinh hoạt ban đêm như thế này thì chắc nhiều người điên lên quá. Ban ngày thì ngủ bù… Anh ở đây vài bữa sẽ quen với sinh hoạt ở đây thôi, lúc đó tự nhiên anh cũng sẽ hoà vào sinh hoạt chung này. Bây giờ đa số phòng nào cũng lên tiếng rồi, sẽ có hát hò và ồn ào lắm mình không nên ngồi trên cửa như vầy nữa, rủi cán bộ nghe ồn ào đi lên thình lình thì dễ bị thua lắm.
Trước khi nhảy xuống, Tám Tèo còn an ủi tôi thêm lần nữa:
– Mới bị bắt vào, ai cũng buồn lo cả. Nhưng tôi khuyên anh đừng quá buồn. Hy vọng nếu anh không dính líu gì hết như anh nói thì họ sẽ thả anh về sớm với gia đình thôi.
Tôi cám ơn Tám Tèo và Quê Độ rồi nhảy xuống. Mò mẫm trong bóng tối tìm lại quần áo mặc trở lại, sau đó co ro ngồi bó gối dựa vào tường. Ngồi im lặng hút thuốc mà đầu óc cứ xen lẫn hết chuyện này tới chuyện khác, rối tung cả lên. Nỗi buồn lo lại lấp đầy tâm trí tôi một cách thật nhanh chóng, cứ suy nghĩ hoài không biết mình làm cái gì mà bị khép vào tội chính trị như thế này. Tôi đâu có tuyên truyền gì đâu mà bị khép vào tội danh: “Tuyên Truyền Thơ Ca Phản Cách Mạng”? Không tìm ra được câu trả lời. Tôi lại nghĩ hay là có ai đó ghét rồi vu khống cho tôi? Cũng không có lý, vì từ khi gia đình tôi từ trên rẫy bỏ về Saigon, tôi đâu có đụng chạm gì ai đâu. Vả lại suốt thời gian gần 2 năm nay tôi cứ lo chuyện đi vượt biên hoài. Sau khi đi thất bại trở về, lại tìm cách đi tiếp… cứ liên tục như vậy cho nên đâu có thì giờ liên lạc nhiều với ai để có thể làm mất lòng họ đến đổi bị vu khống? Thời gian ở nhà thì ngày ngày ngồi trước nhà bơm quẹt gas sinh sống qua ngày, đâu có tiếp xúc nhiều để gây đụng chạm đến ai đâu? Càng nghĩ càng thấy mù mờ, lòng buồn kinh khủng!
Sinh hoạt ở các phòng khác bên ngoài lúc này rất sôi nổi, tiếng các tù nhân nói chuyện hỏi thăm qua lại xen kẻ những tiếng hát thật lớn nổi lên làm cho dòng suy nghĩ của tôi bị gián đoạn. Tôi lấy cái xách tay làm gối, ngả người nằm trên nền xi măng lạnh ngắt, lắng nghe tiếng hát bên ngoài để tránh khỏi suy nghĩ nhiều nữa, tôi nghe có tiếng ai đó yêu cầu một người hát bài: “Xuân này con không về”. Sau đó các phòng khác im lặng nghe, rồi một giọng trầm trầm thật hay cất lên. Trong đêm vắng tiếng hát nghe thật thê lương: “Con biết Xuân này Mẹ chờ mong con, khi thấy mai vàng nở…”. Trước đây tôi không thích bản nhạc này chút nào cả, nhưng vào thời gian, không gian này đây, qua tiếng hát của một người tù, tôi lắng nghe từng lời ca với một sự xúc động chưa từng có. Lần đầu tiên tôi cảm nhận được cái hay và giá trị của bài hát này. Đôi khi chúng ta vô tình với những sự việc chung quanh, những câu chuyện, những lời thơ, bài hát… chỉ vì không ở vào cùng hoàn cảnh, tâm sự đó mà thôi… cho đến khi chúng ta ở vào hoàn cảnh, tâm sự đó, thì mới cảm nhận được nó… Đó là tâm trạng của tôi lúc này.
Đang thả hồn theo tiếng hát bỗng có tiếng đập cửa sắt ầm ầm bên ngoài, rồi tiếng quát tháo thật lớn:
– Có im hết đi không thì bảo. Hay là ông lại vào quật cho một trận thì bỏ mẹ hết bây giờ.
Tất cả êm re! Tên công an trực hình như còn đứng rình một hồi nữa rồi mới bỏ đi, vì sau một lúc hắn lại đập mạnh vào cửa sắt rầm rầm một lần nữa như để đe doạ trước khi bỏ đi thật sự. Chung quanh trở lại yên tịnh như cũ.
Không biết mấy giờ rồi, tôi hoàn toàn mất đi khái niệm thời gian ở đây, không biết giờ này vợ con và gia đình tôi đang làm gì. Nằm dài trên nền xi măng lạnh, tay vắt lên trán, nỗi ưu tư lại trở về. Tôi cố xua đuổi đi những lo buồn đang ám ảnh, nhưng không thể nào được… Trong bóng tối âm thầm, tôi ngồi dậy xếp bằng, tay chấp lên ngực, thành khẩn cầu nguyện. Tôi chú tâm cầu nguyện như vậy thật lâu, lòng cảm thấy nhẹ đi rất nhiều. Ở vào hoàn cảnh khốn cùng như thế này, lời cầu nguyện quả là một liều thuốc an thần quí giá. Ngồi xếp bằng cầu nguyện được một lúc, cảm thấy mệt tôi nằm xuống trở lại, vẫn tiếp tục niệm thầm “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát” liên tục với hy vọng có thể rơi vào giấc ngủ cho đỡ phải suy nghĩ nhiều. Tôi niệm như thế không biết bao lâu vẫn không cách gì ngủ được, bỗng nghe từ xa tiếng kêu cứu thật lớn vang vọng lại:
– Báo cáo cán bộ. Phòng 3 khu FG có người bệnh nặng xin cấp cứu.
– Báo cáo cán bộ. Phòng 3 khu FG có người bệnh nặng xin cấp cứu.
Tiếng kêu cứu gào lên liên tục như vậy, vang lồng lộng trong đêm khuya nghe thật rợn người. Một luồng cảm giác lành lạnh cứ chạy dọc theo xương sống tôi theo mỗi tiếng kêu cấp cứu thảm thiết đó. Như một phản xạ tự nhiên, tôi ngồi bật dậy nghe ngóng… lòng thấy cảm thương thân phận của người tù nào đó đang bị bệnh và không khỏi cảm khái lây đến thân phận của chính mình! Hình như có nhiều người thay phiên nhau kêu cấp cứu, cứ dứt 1 câu lại tiếp theo 1 câu khác nối đuôi nhau liên tục, tạo thành một chuỗi tiếng kêu lan ra trong đêm vắng tưởng chừng đến vô tận… Sau khoảng hơn 30 lần kêu cứu như vậy, chắc có người đã lên đến nơi nên mọi vật im lặng trở lại. Không gian đang vang vọng tiếng kêu gào thảm thiết, bỗng dưng im lặng đột ngột, gây cho tôi một cảm giác tự nhiên bị hụt hẫng rơi vào một cõi hư vô, tịch mịch, kỳ quái nào đó không tả được…
Tôi ngồi ngóng một hồi không nghe thấy gì nữa nên nằm xuống trở lại. Trong phòng giam tối tăm lạnh lẻo, tôi nằm co ro như một con gà bị mắc nước. Chợt nhớ Tám Tèo khi nãy gọi tôi là “Gà mới” quả thật cũng đúng quá. Đêm đó trên từng lầu 4 khu Kiên Giam ED khám Chí Hòa, có một con Gà mới bị nhốt vào chuồng, ngơ ngơ ngáo ngáo lo sợ không biết số phận rồi sẽ ra sao!!
Tác giả Vĩnh Khanh là một cựu sinh viên thuộc viện Đại Học Vạn Hạnh Saigon. Nhập ngũ khóa 6/72 SVSQ/TB Thủ Đức, ra trường phục vụ trong quân chủng Không Quân. Sau khi đi tù cải tạo về, anh đi vượt biên tất cả mười lần, đã nếm đủ những đắng cay, tủi nhục trước khi đem được vợ cùng hai con nhỏ đến bến bờ tự do.
Tôi được may mắn là một người bạn đồng khóa với tác giả, được hân hạnh tâm sự cùng anh, được anh gửi cho xem bản thảo của tập hồi ký những chuyến vượt biên của anh. Lời văn của anh rất nhẹ nhàng, rất tình cảm, không có những lời lẽ hằn học, căm thù nhưng rất chi tiết, rất hào hứng, nói lên đầy đủ câu chuyện.
Tập “Hồi Ký Chí Hòa” sẽ kể cho chúng ta nghe những điều đã xẩy ra nơi thiên đường Cộng Sản. Một tác phẩm mà chúng ta nên đọc để biết rõ hơn về chế độc độc tài đảng trị, một quốc gia đầy những nhà tù. Chính quyền muốn bắt ai thì bắt, muốn giam ai thì giam. Rất nhiều người vô tội bị hàm oan, như trường hợp tác giả Vĩnh Khanh cũng là một nạn nhân của chế độ bạo tàn.
Trong môt xã hội thiếu tự do, dân chủ, thân phận con người như chiếc lá mong manh. Tác giả Vĩnh Khanh đã nói lên tất cả những điều mình đã phải trải qua trong tác phẩm của anh. Từ những những ngày đầu tiên vào nhà tù Chí Hòa cho đến ngày được ngẩng mặt lên thở bầu không khí tự do. “Hồi Ký Chí Hòa” nói lên tất cả những tủi nhục, đau thương của một người tù. Những xấu xa, bẩn thỉu bên trong nhà tù và cả … tình người, tình bạn.
“… Để tình người còn mãi thăng hoa…”. Đây cũng là thông điệp của tác giả gởi gấm trong cuốn Hồi Ký này như anh đã nhấn mạnh ở phần Lời Nói Đầu. Bởi thế bối cảnh của tập Hồi Ký Chí Hòa tuy là một nơi tù ngục tối tăm với những khổ ải khó khăn nhất định trong đó, nhưng qua lối văn kể chuyện nhẹ nhàng, bình dị của tác giả, đâu đâu chúng ta cũng thấy bàng bạc tình người, nhờ thế người đọc sẽ thấy hấp dẫn lôi cuốn ngay từ trang đầu qua những nhân vật thật, những câu chuyện thật mà tác giả đã có dịp trải qua.
Tôi xin trang trọng giới thiệu Hồi Ký Chí Hòa như một tác phẩm giá trị xứng đáng nằm trong tủ sách gia đình của những người tị nạn Việt Nam, để thế hệ con cháu chúng ta biết qua được cảnh ngục tù dưới chế độ CS như thế nào, từ đó trân quý hơn hai chữ Tự Do.
Richland College, May 11th, 2006 Vũ Đình Hiếu (K.6/72)
Lời Cảm Tạ
Người đầu tiên tôi muốn tỏ lòng biết ơn trong việc hoàn thành cuốn Hồi Ký Chí Hòa này; đó là bà xã tôi; đã luôn luôn khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi sớm thực hiện xong công việc mà tôi ấp ủ từ bấy lâu nay. Không có sự khuyến khích của bà xã tôi, cuốn sách này vẫn còn bị lần lựa khất đi khất lại hoài, khó mà hoàn thành cho được.
Lời cám ơn chân thành kế tiếp tôi xin dành đến những anh chị em trong diễn đàn VCF. Từ những trang đầu tiên của cuốn hồi ký, anh chị em đã không ngừng khuyến khích tôi tiếp tục viết. Nhờ thế, Hồi Ký Chí Hòa này tuy được dự trù hoàn tất vào cuối năm 2006, nhưng kết quả chưa đầy 3 tháng nó đã được viết xong.
Kế đến, tôi xin chân thành cám ơn đến tất cả các bạn hữu xa gần đã không ngừng khích lệ và thúc dục tôi in Hồi Ký Chí Hòa này ra thành sách.
Tôi cũng xin được gởi lời cám ơn đến một người bạn thân lâu năm, đó là nhà văn Trà Nguyễn, tác giả Hồi Ký Vượt Ngục đồng thời là chủ nhiệm nguyệt san Carolina Việt Báo, đã khuyến khích và nhiệt tình giúp tôi rất nhiều trong việc góp ý, chia xẻ kinh nghiệm quí báu trong vấn đề in ấn.
Đặc biệt tôi muốn ngỏ lời cám ơn đến các em sau: Nguyễn Bảo, Đỗ Ngọc, Nguyễn Dũng và Âu T. Cường đã không những cổ vũ, khuyến khích mà còn bỏ nhiều thì giờ quý báu, tích cực giúp tôi trong việc layout các trang, chụp hình minh họa trang trong và trình bày cho trang bìa… Cũng như góp ý chỉnh sửa cho cuốn sách được hoàn hảo. Tôi thừa nhận một điều, cuốn hồi ký này in ra được thành sách là nhờ công rất lớn của các em.
Cuối cùng tôi xin trân trọng gởi lời cám ơn đến anh Vũ Đình Hiếu, người bạn cùng khóa 6/72 SVSQTB/TĐ, tác giả của các tác phẩm viết về Quân Lực VNCH như: Trận Chiến Bí Mật NKT/TTM, Biệt Động Quân, Nhảy Dù… và nhiều tác phẩm tài liệu dịch thuật nổi tiếng khác… đã có nhã ý viết lời giới thiệu cho Hồi Ký Chí Hòa này.
Với những nhiệt tình cổ vũ và khuyến khích như thế, Hồi Ký Chí Hòa này không có lý do gì không được in ra thành sách.
Những nhân vật và sự kiện trong Hồi Ký Chí Hòa là người thật, việc thật xảy ra vào khoảng thời gian từ tháng 4/1982 đến 25/12/1985 lúc tác giả ở Biệt Giam, Kiên Giam tầng 2 khu ED Chí Hòa và mấy tuần lễ chuyển xuống khu tập thể FG…. Tuy nhiên vì trí nhớ hạn hẹp chắc chắn vẫn có nhiều thiếu sót không được ghi lại trong Hồi Ký này, đó là việc ngoài ý muốn của tác giả xin quý độc giả lượng thứ và bổ túc cho những thiếu sót để tác giả có thể hiệu đính trong lần tái bản tới.
Vĩnh Khanh Phố Đá Tròn, đầu tháng 5 năm 2006
Lời Nói Đầu
Kính Tặng Mẹ
Trải qua bao thăng trầm của nước nhà và qua bao lần thay ngôi đổi chủ, Nhà Tù Chí Hòa vẫn là một nơi kinh hoàng cho rất nhiều người. Một nơi đã nhốt biết bao nhiêu tù nhân, oan hay không oan… tội nhẹ hay tội nặng… và cũng không ít người đã bỏ mình tại nhà tù này. Nơi đây đã gây biết bao lo âu sợ hãi không những cho các tù nhân đang bị giam cầm mà còn cho cả những thân nhân của họ và những người dân khác ở bên ngoài. Từ thời Nhật chiếm đóng, đến Pháp đô hộ VN, rồi qua hai nền Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hoà kéo dài mãi đến hiện tại… nghe đề cập tới Khám lớn Chí Hòa là thấy sợ rồi. Có lúc người dân miền Nam đã xem nó như là một biểu tượng của sự đày ải kinh hoàng.
Nghe những người lớn tuổi, lịch lãm kể lại rằng: Nhà tù Chí Hòa đầu tiên là do người Nhật chủ trương xây cất, căn cứ theo Bát Quái Đồ chia thành hình 8 góc. Bởi thế các tù nhân thường hay gọi bằng cái tên: Lò Bát Quái. Chính giữa sân có một bồn nước cao, nếu từ trên cao nhìn xuống, trông nó giống y chang hình một thanh kiếm cắm ngược xuống đất mà cái chuôi kiếm chính là bồn nước. Tương truyền khi xây bồn nước này, người Nhật đã cho đổ nhiều tấn muối hột bên dưới, không biết với dụng ý gì, nhưng nhiều người cho là để ếm.
Người Nhật đã sử dụng nơi này để nhốt tù nhân ngay cả lúc nó còn đang xây dở dang và việc xây cất chưa xong hoàn toàn thì Nhật rút khỏi VN. Người Pháp tiếp tục công việc bỏ dở cho đến khi nhà tù Chí Hòa hoàn tất như chúng ta biết hiện nay. Danh từ “Khám Lớn” cũng ra đời ngay sau đó để ám chỉ cho nơi khủng khiếp này… kéo dài qua tới 2 thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà, nhà tù này vẫn là nhà tù lớn nhất ở Saigon để nhốt phạm nhân.
Sau năm 1975, đến thời CS nắm chính quyền, Chí Hòa lại còn khủng khiếp hơn bao giờ hết! Con số người bị bắt nhốt vào đây không làm sao kể xiết… lúc nào cũng đầy ắp tù nhân. Chính quyền CS gọi đây là trại tạm giam, chỉ dùng làm nơi điều tra tội phạm chờ ngày ra toà xét xử, sau đó khi thành án xong mới đưa tù nhân đi lao động bên ngoài cho đến khi mãn án. Nếu thật sự đây chỉ là một trại tạm giam như chính quyền CS vẫn gọi, thì trại tạm giam này phải nói là có một không hai, vì rất nhiều người bị nhốt ở đây mấy năm liền mà vẫn còn bị “tạm giam” hoài, chưa kết thúc hồ sơ để đưa ra xét xử được… Trường hợp của người viết này là một. Do đó Chí Hòa đã nổi tiếng khủng khiếp từ mấy triều đại trước, nay lại càng khủng khiếp đáng sợ hơn nhiều.
Không biết vào thời Nhật, Pháp và 2 nền Đệ Nhất, Đệ Nhị VNCH, các khu vực trong nhà tù được chia ra như thế nào, nhưng khi người viết bị nhốt vào đây năm 1982 thì được biết các khu phân chia ra như sau:
Khu AH: Nhốt tù tội tử hình, tù chung thân. Khu ED: Nhốt tù Chính Trị, Vượt Biên, Kinh Tế. Khu FG: Nhốt tù hình sự. Khu BC: Nhốt đủ thành phần Tệ Đoan Xã Hội.
Ngoài ra còn hai khu phụ: Đó là khu I, nằm ngay góc chính giữa khu ED và BC, là khu nhốt tù nữ gồm đủ thành phần tội phạm và một khu vực xưởng may nằm ngay phía sau khu ED, dành cho tù nữ đã thành án ra lao động may đồ, chờ mãn án.
Kế bên khu xưởng may, còn có một bệnh xá dùng để chữa bệnh cho các tù nhân bệnh nặng và một khu nhà bếp lớn ngay chính giữa ở tầng trệt. Nhà tù xây cao 4 tầng, ngoài ra nghe đồn còn có một tầng hầm dưới mặt đất để điều tra riêng và nhốt những nhân vật đặc biệt bị cách ly hoàn toàn với bên ngoài và các nơi khác.
Ngoài những buồng giam tập thể, còn có những khu Kiên giam và Biệt giam ép cung… Đồng thời cũng có những biệt giam kỷ luật để nhốt những người đang bị giam mà còn phạm nội qui, kỷ luật…
Có một truyền thuyết mà gần như các tù nhân ở lâu ai cũng biết hoặc nghe nói đến. Đó là trên nóc của khu AH, lúc nào cũng có một khoảng trống vì bị sấm sét đánh hư hại hoài. Hễ cứ sửa chữa xong, lại bị sét đánh hư hại trở lại, cứ như vậy kéo dài từ rất lâu rồi… Cũng theo các tù nhân lớn tuổi kể lại thì người Nhật khi chiếu theo Bát Quái Đồ xây nhà tù này, các cửa Sanh đã bị ếm hết chỉ còn lại có cửa Tử! Cho nên người bị nhốt vào nhiều mà hầu như không thấy có người nào thoát ra được cả, vì vậy nên khí oán bay lên thấu Trời cao, do thế Trời làm sấm sét đánh bể một phần trên nóc khu AH đó để khai ra một cửa Sanh. Nhờ thế người ta mới bắt đầu thấy có người được thả ra…
Dĩ nhiên đây chỉ là truyền thuyết được truyền miệng giữa các tù nhân từ nhiều đời kể cho nhau nghe, rồi dần dần trở thành một huyền thoại, chắc chẳng có ai tin chuyện này là thật cả đâu. Nhưng việc trên nóc của khu AH bị sấm sét đánh bể một khoảng lớn nhiều lần là chuyện có thực mà không ai có thể giải thích được!!
Khi tôi bị bắt vào Chí Hòa, trong sự thiếu thốn, khổ sở cả về tinh thần lẫn thể xác, “tình người” vẫn không thiếu và vẫn nổi bật lên ở chốn khốn cùng này. Sau năm 1975, tôi đã nhận ra được một điều: những con người vì một lý do nào đó phải sa vào vòng tù tội, chưa hẳn đã mất đi “tình người”, vì thế chưa hẳn đã là một người xấu. Đây không phải là một sự biện minh, nhưng trên thực tế nhiều khi xã hội đã đưa đẩy con người vào vòng tội phạm, chứ bản thân người đó chưa chắc đã muốn (Thí dụ những tội như Vượt Biên, Chính Trị và ngay cả một số tội Kinh Tế… như ở khu ED mà tôi đã ở qua trong suốt thời gian bị giam cầm). Tôi đã chứng kiến “tình người” được bộc phát ra bằng những lời thăm hỏi đơn sơ, bằng một điếu thuốc rê, bằng một miếng quà nhỏ… hoặc bằng cả một tâm hồn, một chân tình thắm thiết bàng bạc trong đó nữa.
Khi còn nằm trong Biệt Giam 2, có lần tôi đã mơ ước sau này nhìn thấy nhà tù Chí Hòa bị giật sập và san bằng hoàn toàn. Sau đó được nhìn thấy đại diện tất cả các Tôn Giáo đến làm lễ ban phép lành, cầu siêu… cho linh hồn những người đã bỏ mình oan ức tại nơi đây sớm được cứu rỗi, siêu thoát… và kế tiếp đó được nhìn thấy nơi này xây dựng thành một khu vui chơi, giải trí chỉ có tính cách mang lại niềm vui, nụ cười cho dân chúng, để mọi người khi đến đây sẽ không còn bị ám ảnh, lo sợ nữa.
..Than ôi! Đã hai mươi mấy năm qua, mơ ước của tôi vẫn còn đó, nhưng không biết kiếp này của tôi có thể nhìn thấy điều mơ ước của mình trở thành hiện thực hay không!!!
Viết lại hồi ký Chí Hòa này là một thôi thúc âm ỉ trong tôi hơn hai mươi năm qua chưa bao giờ ngừng nghỉ. Tôi viết không phải để kể lể, ta thán về những khổ cực đã qua, cũng không phải viết để mong muốn hồi ký của mình được nhiều người đọc, để được nổi tiếng…v… v… Những chuyện như vậy hoàn toàn không nằm trong ý nghĩ của tôi. Mà thật ra tôi viết hồi ký Chí Hòa này, ngoài mục đích ghi lại và ca ngợi cái “tình người” như tôi đã đề cập ở trên, còn là để… đền đáp một món nợ ân tình quá lớn – Một món nợ không ai đòi – nhưng tôi tự hứa sẽ đền đáp cho bằng được.
Món nợ tinh thần này tôi phải đền đáp cho những người đã ưu ái trao cho tôi cái “tình người” cao đẹp đó, cho vợ cùng hai con tôi lúc bấy giờ còn rất bé và đền đáp ngay cho… chính bản thân tôi nữa – Phải rồi! Tôi cũng nợ cả chính bản thân tội nghiệp này, đã chịu đựng biết bao nghiệt ngã khốn khó mà vẫn đứng vững tới ngày nay. Thế thì tôi cũng nên đền bù tinh thần cho nó lắm chứ! – Ngày nào chưa viết xong được hồi ký này, món nợ đó vẫn còn. Cho nên tôi phải viết. Chỉ đơn giản vậy thôi!!
Phần 20 – Ngày 19 Tháng Ba, Cả Đoàn Người Tây Ở Sốc Trăng, Bị Dẫn Giải Về Cần Thơ
Sau cuộc di tống nầy, một cuộc biểu tình bỗng xảy ra, thành phần gồm đông đủ sắc người, đa số là thanh niên Việt và rất đông nam phụ lão ấu từ châu thành đến vùng phụ cận hoặc từ những làng mạc xa xôi ở ngoại châu thành đồng kéo tớỉ tụ tập làm biểu tình. Nhơn cuộc đó, dân chúng bày tỏ ước vọng mong thấy Uỷ ban hành chánh loại khỏi thành phần ba uỷ viên kể ra sau: quí ông Ngô Văn Nghị, đốc phủ sứ, chủ quận kiêm cảnh sát trưởng châu thành. (Chức viên nầy bị dân chúng trách vì có thái độ lưng chừng khả nghi trong các biến cố vừa rồi). Đào Văn Hội, tri phủ, phó chủ tịch Uỷ ban hành chánh lâm thời. (Vị nầy bị dân chúng trách vì có cử chỉ thiếu minh bạch và vì tánh do dự trong các biến cố đã qua). Trần Văn Trọng thông phán ngạch chánh phủ, đã được Uỷ ban phó thác quyền kiểm soát các cơ quan tài chánh trong tỉnh. (Vị nầy nguyên là tri phủ nhưng đã bị giáng chức hồi trào Pétain, cải bổ qua ngạch thơ ký vì hồ sơ cá nhân tệ xấu. Phần đông dân chúng trách ông có hành vi bất ứng).
Cũng trong buổi biểu tình, những người tham dự có yêu cầu mong mỏi Uỷ ban mời một công chức đã về hưu tham gia, là ông Vương Hồng Sển, ngạch thông phán chánh phủ. Bởi thế, cùng một ngày, ông nầy được chúng tôi mời gia nhập Uỷ ban, hầu chia sớt trọng trách làm cho trôi chảy công việc trong tỉnh cùng các cơ quan sở tại, trong khi chờ đợi sự bổ nhiệm các trưởng ty thực thụ. Nhơn dịp nầy Uỷ ban đều đồng ý rằng một viên chức lão luyện, đã từng đảm đang nhiều cơ quan trọng yếu, vả lại còn trẻ trung, thêm ai ai cũng công nhận tánh liêm cần mẫn cán, biết xử sự hợp lẽ phải như ông ấy, thiết nghĩ lúc nầy không được dưỡng nhàn nữa và phải có bổn phận thi thố khả năng giúp ích trong tỉnh.
Như vậy, kể từ ngày 19-3 Uỷ ban hành chánh lâm thời bổn hạt đã sửa đổi như sau:
– Không còn trong Uỷ ban, quí ông:… đốc phủ sứ;… tri phủ;… thông phán: (Uỷ ban đã cấp cho mỗi vị nầy vì tình hình hiện tại: và do đơn họ yêu cầu, mỗi người một giấy phép được nghỉ việc ba tháng có thể được sung công trở lại nếu có chỉ thị của Chánh phủ đương quyền. Và chúng tôi xin đãi lịnh trên về các đương sự).
– Uỷ viên mời dự tuyển nhập có quí ông:
– Hồ Văn Xuân, tri phủ, chủ quận ở Long Phú. Cử kiêm nhiệm chức cảnh sát trưởng Châu Thành, quản đốc khám đường, luôn chủ quận Long Phú.
– Vương Hồng Sển, công chức về hưu – Cử làm phó Uỷ ban hành chánh lâm thời trong tỉnh, do ước vọng công chúng thêm do sự tán đồng của toàn thể Uỷ ban, cho rằng xứng đáng với trách nhiệm giao phó
Ngày 24-3, có cứ hành lễ truy điệu chí sĩ Phan Châu Trinh. Có hương án bày nơi công trường trong tỉnh, trên mấy trăm người tham dự. Có diễn văn nhắc lại sự tích nhà ái quốc nầy, và không có việc gì xảy ra trong buổi hành lễ.
Ngày 28-3, ông Satoh, phó thống đốc Thương chánh, có đến thanh tra sở thương chánh địa hạt. Ông nầy ra lịnh trả về ty bưu điện ông Cao Văn Thành trước đó được Uỷ ban hành chánh cử làm trưởng ty, và ông Odaka đã bổ nhiệm ông Nguyễn Đăng Định thay thế ông Thành, vào chức quyền trưởng ty thương chánh địa hạt.
° ° °
Ngày 30-3, mặc dầu không có lịnh nào, nhiều tín đồ Cao Đài đã ngang nhiên chiếm cứ trụ sở ty Thương chánh ở Đại Ngãi và chiếm lữ quán băng-ga-lô Sốc Trăng. Nhưng qua ngày 4-4, những người nầy rút lui trả hai nơi nầy do ông Satoh phó thống đốc ra lệnh và có nhờ hiến binh Nhựt ở Cần Thơ can thiệp.
Cũng trong đêm 30-3, ngày tín đồ Cao Đài chiếm cứ băng-ga-lô vào lối 22 giờ. Không rõ vì sự thông đồng với người ngoài hay chỉ là sự lơ đễnh của gác-dan, có 83 tù nhân đánh cắp xâu chìa khoá của giám ngục và đã tẩu thoát khỏi khám đường địa hạt. Chúng tôi đang mở cuộc điều tra về những người có trách nhiệm về vụ tù nầy.
Tôi không có tự đề cao khi nhắc lại đoạn sử nhỏ của tỉnh Sốc Trăng, nơi chôn nhau cắt rún của tôi. Không bao lâu nữa tôi củng trở về với cát bụi, đề cao cho mình làm gì. Nửa đời lăn lóc, cố vật lộn mà mãi vẫn bị đè xuống dưới, tôi chịu thua, đã xin và đã được về hưu trí từ lâu. Vì một chút háo thắng, muốn thấy tận mắt tận mày buổi các quan thầy cũ, bị Nhựt lùa lên ca-mi-ông như cá mòi trong hộp thiếc, cái tội tôi quá tiểu nhân thiếu khoan hồng, đã làm tôi bị kẹt nặng. Tôi đang đứng nhìn xem mãn nhãn cảnh mấy ông Tây và mấy bà đầm rất quen, nay mặt mày méo xẹo đang gượng gạo leo lên xe ca-mi-ông một cách nặng nề, “một bước hoá mười lui”, vì đã trở nên tù bỉnh của quân đội Nhựt. Mới ngày nào, nhứt hô bá ứng, lên xe xuống ngựa, nay bị áp giải nghe nói về Cần Thơ để rồi trực chỉ lên Sài Gòn, tánh mạng như treo sợi chỉ mành, thiệt là “vinh hà nhục hà” trong nháy mắt! Còn gì hách xì xằng với anh thơ ký, nạt nộ chị bồi con bếp? Mụ Tây đoan và mụ vợ sen đầm, vốn là người quê mùa rẫy bái, nay tay dắt con thơ, vừa mếu vừa lau nước mắt không che giấu được nỗi buồn.
Duy mấy quan lang-sa, mới hôm qua hôm kia còn là chủ tỉnh quan toà, bây giờ nét ủ mày châu, sậm mặt như gà lôi sắp đem ra cắt tiết. Trong thâm tâm, tôi còn chút máu quân tử Tàu, tôi quên hết những việc cu họ đã làm, và đứng đây, tôi thấy xúc động và tội nghiệp giùm thân thế họ. Bỗng tôi nghe tiếng vang dội thanh niên kêu réo tên tôi, kẻ gọi “anh Hai” là gọi theo thứ tự của tôi, kẻ khác kêu “anh Tư” là gọi theo thứ tự bên vợ trước, tôi nghe những gì hoan hô rồi những gì là “cho vào uỷ ban cai trị” thét lỗ tai tôi nghe ù ù rồi không nghe chi nữa cả.
Tôi chưa vội nói ra đây cái vinh và cái nhục của sự được thanh niên hoan nghinh nầy. Cho hay muốn làm quan thì phải học cho giỏi và thi đậu cho cao, và cứ đường ngay nẻo thẳng mà đi, thì mới gọi là tốt phúc. Xin chớ mượn hơi cáo đội lốt hùm, làm quan theo buổi loạn ly, tự mình vẽ bùa mình đeo (hoạ phù thân đái), nó vô đoan (vô duyên) và xấu phúc làm sao? Tôi sẽ chừa vấn đề nầy lại đoạn sau sẽ dẫn giải. Nhưng sự việc xảy ra trong khoảng thời gian đầu tháng ba dương lịch 1945 không dễ dàng mà cũng không khô khan như dã tả trên đây. Sự thật các việc ấy oái ăm thúc giục và dồn dập đưa tới một cách gần như bất ngờ mà tuần tự ngoài xa sự dự định trước của những người đương cuộc và những người góp mặt. Lúc đó tôi có ghi chép vào nhựt ký, nay xin sao lục lại đây làm thiên ký sự nầy, hầu cô bác tỉnh Sốc Trăng có một tài liệu chắc chấn về những biến thiên buổi hỗn loạn tại tỉnh nhà trong năm 1945 ấy. Sau đó tôi sẽ lần lượt rút tỉa và đối chiếu so sánh với các tài liệu hoặc công văn chánh thức tôi còn giữ, hoạ may soi sáng được phần nào buổi đen tối Mars 1945 ở Sốc Trăng vậy.
NHỰT KÝ NĂM 1945 – ÂM LỊCH, NĂM ẤT DẬU
1) Tháng giêng dương lịch có xảy ra một việc cho rằng lạ: nhơn xuống trại ruộng (đường mé sông đi Bãi Xàu) xem dỡ nóc lá cũ thay lại mới, có một con rít to bằng ngón chân cái, dài hơn một gang tay từ nóc rớt xuống, chun tót vào quần lúc nào không hay, không cắn mà cũng không động đậy. Mãi hơn hai giờ sau, tôi đạp xe trở về nhà ở đường Đại Ngãi, mở cửa vô ngồi nơi ghế xa-lông, tôi đang quạt xạch xạch, bỗng thấy đầu con rít to bằng ngón cái có hai càng to đỏ lòm to bằng đầu mút đũa ngo ngoe bò từ trong quần cụt bò ra. Tôi tá hoả tam tinh, đứng phắt dậy và tuột cái quần cụt ra, bất chấp đang đứng ở xa-lông, ngoài kia là đường cái tức giữa thập mục sở thị. Nhưng con rít to tướng kia đã vụt biến mất, tôi nhắm mắt lại để định thần, và cũng không dám tìm hiểu rít đã rớt tự nhiên hay đã chạy trốn kẹt xó nào mất dạng. Trong mắt tôi vẫn còn hình bóng nó, mình đỏ au, đầu vàng khè và cặp càng to hằng đầu mút đũa.! Nếu bấy lâu tôi tính ác, thì dễ gì nuôi con rít độc trong quần suốt mấy giờ đồng hồ mà nó không cắn không kịp. Thật là khó hiểu và cho đến bây giờ tôi cũng chưa giải nghĩa cho xuôi việc lạ lùng nầy. Xin đừng vội nói con rít nầy tu!
2) Ngày 16 tháng chạp Giáp thân (29-1-1945), tôi đang ở nhà sau căn 31 đường Đại Ngãi, lui cui cắm cúi rửa kiếng để lát nữa thợ gắn vào cửa tủ sách, bỗng đứa ở bên căn 33 bưng qua một cái lư hương không (tro và nhang trút sạch) rằng chú Tư (em một cha khác mẹ) “đã đổ bỏ và không cho thờ nữa” nay trả lại tôi lư hương không nầy. Thiệt là một tin sét đánh, nghe rồi nước mắt tự nhiên tuôn trào, lòng dường dao cắt, tôi cầm cái lư hương hai tay run rẩy, xin con ở giùm qua hốt lại một mớ nhang tàn, đem về bên ni đốt ba cây nến lâm râm khấn vái hồn mẹ vợ, đứa em đã nghịch ngợm, giận vợ chồng tôi mà đành làm một tội bất kính lớn đối với người quá vãng, thôi thì xin dung thứ bao nhiêu tội tôi xin gánh chịu. Thà rằng chín giận mười hờn, em C. cầm lư hương qua trả cũng đủ, lựa chi có cử chỉ ấy, làm xúc phạm đến hương hồn một người đã theo đạo Thiên chúa nhưng tôi vẫn thờ theo đạo Khổng, để tưởng niệm ân thâm gả con cho tôi. Quả thật tôi là một thằng hư, đến lư hương thờ cúng mẹ vợ mà không đủ tài giữ gìn cho khỏi chuyện xúc phạm nầy. Xin mẹ nhơn từ tha thứ cho em C. và bao nhiêu tội con xin gánh chịu. Ngày nay nhớ lại, sau đó vợ chồng tôi hồ tan keo rã, một phần lớn cũng vì sự em chồng trút lư hương thờ mẹ vợ, và không trách, khi hết thương, nàng sẽ mượn cớ bước sang thuyền khác dễ dàng. Mấy hàng lẩn thẩn nầy ghi chép giữa lúc bom Mỹ mỗi đêm, năm 1945, bay qua trút trên đầu đạo binh Nhựt trú đóng ở Sốc Trăng, hoạ lây cho dân Việt vô cô, không gây chiến mà vẫn gánh chịu nạn chung. Những tin tức nầy đối với tai hoạ treo trên đầu dân Sài Gòn và phụ cận là Gia Định vào nửa tháng tư năm 1975, thì là mười phần không có một. Nay ngồi đánh máy chép lại ký ức cũ mà lòng ngao ngán viết bất thành văn.
Bắt đầu tháng ba dương lịch năm Ất Mão 1945 nầy, tin tức ngoài chiến trận hoàn toàn xấu tệ: mất Ban mê thuộc, Plei-ku, Kon-tum, là “phối kiểm vị trí”; mất Quảng Trị, Huế, cũng lại vì phối kiểm nữa, kế đến mất Đà Nẵng, rồi Đà Lạt, rồi Nha Trang, rồi gì gì nữa, đều mất luôn lòng nào ngồi đánh máy cho yên? Nhưng cũng vẫn bắt buộc phải ngồi đánh máy để quên hết việc ngoài tai, lại nữa con người chỉ có một lần chết? Chỉ tội đọc tin đồng bào chạy nạn từ xa xôi Đà Nẵng, rừng già miền Trung, chạy bộ vào Miền Nam, của mất nhà tan, bổn mạng còn rẻ hơn loài hạ thú, bất giác tủi hổ thấy mình vì kiếp sống thừa chật đất, có mắt ngó có tai nghe mà vô khá nại hà. (Ai dám nói sống dai thấy nhiều, là có phúc?) (Trang nầy đánh máy đến đây thì tối lại ông Thiệu tuyên bố từ chức Tổng thống trên đài truyền hình 21-4-1975).
3) Ngày ba mươi tháng chạp Ất Dậu (12-2-1945), đứng trong nhà ngó ra thấy bạn học cùng trường ở Chasseloup năm xưa là Nguyễn Ngọc Chỉ, nay là tri phủ làm việc trên Tây Ninh, về nghỉ phép ở Sốc Trăng, đi ngang nhà, quần đùi tay sơ mi lòi cùi chỏ, thế mà đầu đội nón cát trắng lại có gắn huy hiệu của chánh phủ đô hộ ban và chỉ được phép dùng khi mặc âu phục đại lễ. Không thể nín được vì xốn mắt quá, nên phải gọi lại mà rằng: “Chỉ à! Đợi phải cần đội nón có huy hiệu “tri phủ chủ quận” ấy thì người ta mới biết mầy là ai hay sao? Uổng vì tao nay là một thằng dân quèn nên không thể nước mấy vào nhà, nhưng tao vẫn không quên bài ngụ ngôn “Bạn học trò, một người đậu một người rớt” của ông Trương Vĩnh Ký. Mầy về lấy ra coi lại. Chỉ giận lắm mau mau đi một nước, và sau mất tại Trà Vinh, vì không chịu ăn theo thuở, ở theo thời (bất thức thời vụ).
Mải ham nói chuyện cà kê nghê ngỗng mà tới ngày quan trọng thứ sáu 9-3-1945 mà không hay biết gì. Xin các bạn chịu khó tìm đọc quyển hồi ký “1925- 1964, tập II từ 1945 đến 1954” của ông Nguyễn Kỳ Nam thì biết. Sách nầy đọc thật hấp dẫn và tả cảnh binh Nhựt trong đêm ấy thủ tiêu chánh quyền đô hộ Pháp và khuya 12 giờ, tuyên bố giải tán chánh phủ trào Tây ở Đông Dương.
Tin nầy đến sáng ngày 10-3-1945 thành phố Sốc Trăng nghe radio mới hay Toàn quyền Decoux đã bị Nhựt bắt làm tù binh và cả thành náo động như ong vỡ tổ, nhưng vẫn bán tín bán nghi, bởi tám chục năm nô lệ không dễ gì tháo bỏ trong một giây phút, mơ màng e nỗi radio đồn tin thất thiệt. Một điều lạ mắt là thấy các quan lang-sa, từ quan bố đến ông cò, đều ra chợ mua và giấu hối hả những nhiên liệu giấu được và còn mua được như dầu xăng, rượu cồn để chạy xe, dầu nhớt, vỏ ruột xe v.v… Họ bắt các tàu dưới sông phải đậu một chỗ để chờ khi có việc họ dễ dàng tẩu thoát và lúc nầy mới thấy họ phần giống chuột hơn giống người, nhưng biết thì biết vậy, nào dám nói ra vì họ có súng và đang điên loạn. Nói thật, ban đầu cũng không thấy chi đáng sợ, chỉ biết họ sắp sửa trốn bỏ cho mình ở lại bơ vơ để lo tự thoát thân và chỉ biết mau mau ra khỏi tầm tay quân lính Nhựt mà thôi.
Ngày 11-3, radio tuyên bố rằng quân đội Nhựt thông cáo cho các sắc dân Đông Dương biết rằng khởi từ đây, Đông Dương được độc lập, nhưng buồn cười là độc lập ấy đầu tiên đặt tạm dưới quyền bảo hộ của Đại Nhựt Bản! Buổi chiều ngày 11-3 có một tốp lính Tây và quan Tây hôm trước chạy trốn, nay trở về khá đông tụ tập ở chợ Bãi Xàu, rồi cùng với tên Siccé là lính đoan coi lò nấu rượu làng nầy, đồng kéo qua chợ Sốc Trăng, ào vào các hiệu buôn khách như Di Ký, Diễu Hưng. Di Lạc, Vĩnh Dũ Nguyên, bắt buộc những nhà nầy có bao nhiêu thực phẩm, đồ hộp, rượu chai, giấm chua, đường và hộp quẹt, v.v., phải đưa nạp cho họ, và khi các nhà buôn yêu cầu xuất trình giấy “bông” (lúc đó hộp quẹt bán, phải có “bon” do chánh phủ ký mới mua được tức thì họ chìa súng lục ra rồi đi luôn, mà các hiệu buôn thấy họ rút lui là đủ hú hồn hú vía, nào cần chi tiền. Thành phố Sốc Trăng lần thứ nhứt bàn tán lăng xăng rằng mới thấy ông Tây mua không trả tiền mà mấy ông Ba Tàu không nói gì. Tại sao lúc nầy kẻ thì dữ quá còn người thì hiền quá? Và cái gì làm cho họ đổi thay tâm tánh mau quá vậy?
Ngày 12-3 nhằm thứ hai, 28 tháng giêng ta. Có tin đội quân đội Nhựt đã đổ binh sang khỏi sông Bassac và đã kéo tới thành phố Cần Thơ. Dân thành phố Sốc Trăng bắt đầu xao xuyến. Nhưng nỗi lo sợ đến cùng tột, khi đến chiều lang-sa đưa lính đặt chôn trái phá dưới gầm cầu quây kinh xáng Maspero, định phá huỷ cây cầu sắt độc nhứt nối liền Cần Thơ qua chợ Sốc Trăng; khi ấy ai nấy đều kinh hồn thất sắc, kể như sẽ chết hết, vì thuở ấy chưa ai hiểu sức tàn phá của trái phá lang-sa là dường nào.
Ngày thứ ba 13-3 (29 tháng giêng Ất Dậu). Sáng dậy sớm thấy bộ tịch mấy ông Tây khăng khăng quyết tử thủ, nên sợ, vợ chồng tôi đưa nhau xuống tản cư nơi trại ruộng, trọn ngày đóng cửa khin khít, sau rõ lại Tây họ giả bộ kháng chiến cho dân sợ, rồi Tây rút êm trốn hồi nào không hay.
Ngày 14-3-1945. Thứ tư, mồng một tháng hai Ất Dậu. Bữa nay mới thật là ngày đáng kỷ niệm cho tỉnh nhỏ Sốc Trăng để nhớ thuở bị binh Nhựt chiếm đóng. Sáng vừa năm giờ, trời tưng bẩng tôi đã thấy lính Nhựt lù lù đi ngang hé cửa hai bên phố đường Đại Ngãi. Họ chia ra nhiều tốp để nhập Châu Thành, tốp đi ngả giữa đường Đại Ngãi nơi có nhà Ba tôi ở; tốp khác đi bọc ngả mé kinh lấp có nhà ông Phán Sáng; một tốp nữa đi ngả Chợ Cá nhà bà Phủ An. Tôi lấp ló kẹt cửa, thấy rõ lính Nhựt đi hai hàng, tay cầm súng trường đầu gắn lưỡi lê, chân bước chậm chậm, mất ngó kỹ đôi bên, còn giữa đường có một tốp hộ tống một ông tá bốn lon, cao lớn dình dàng dẫn đầu, gươm dài tuốt trần, cán gươm lấp lánh một máy radio nhỏ xíu để bắt nghe tin tức, mệnh lệnh.
Họ kéo qua cầu bon, đến dinh Tham biện chủ tỉnh, thì ông Barthel đã trốn mấy ngày trước rồi. Họ thất vọng kéo tới nhà các quan toà. Có một ông da cà phê sữa sớn sác còn nói tiếng Tây và xưng mình là Président. Họ nghe thấp thố tưởng đó là Résident, tức quan đầu xứ, họ sai lính bắt trói đem kê sát vách tường định bắn, thời may viên thông ngôn cắt nghĩa lại, Président du Tubunal có khác với Résident de province, nên ông nầy thoát chết trong đường tơ kẻ tóc. Quả ông nầy chưa tới số! Tuy rằng tha chết, nhưng họ bắt dẫn theo làm tù binh. Đó rồi họ kéo tới ty ngân khố. Mụ Hémon, vợ ông kho bạc, nguyên là con gái của ông Favier, phó giám đốc trường máy đường Đỗ Hữu Vị, nơi tôi đầu quân năm xưa, mụ Hémon đang pha cà phê buổi sáng. Nhờ nhạy linh tính, mụ cầm một tách nóng hổi hai tay dâng cho ông tá Nhựt. Ông nầy kéo ghế ngồi xuống hớp từ hớp cà phê ngon lành, và không xiết lời cảm ơn. Sẵn trớn, mụ mới thỏ thỏ mét ông quan tư rằng ban nãy mụ ra sân xuống bếp lấy hũ đường, mụ bị một lính Nhựt sờ vào má! Ông tá hiểu được đứng dậy ra sân trống, gọi các quân lính xếp làm hai hàng sau ngân khố, mụ chỉ ngay người lính đã xúc phạm mụ, lập tức ông tá gọi người lính bước ra khỏi hàng ngũ, xáng cho mấy bốp tai nháng lửa, thấy đủ ba mươi sáu ngọn đèn, xử phạt xong ông day lại mụ Hémon và chậm rãi nói: “Thưa bà, tôi có phận sự đến đây giải giới tất cả người Pháp và bắt họ làm tù binh. Chồng bà và bà cũng bị bắt. Nhưng vì tách cà phê ban nãy, vây tôi cho phép bà trở vào nhà lựa những gì quí báu thu góp vào một xách tay. Tôi cam đoan bà sẽ không mất món nào, vì quân lịnh của đạo binh Nhựt là quân lịnh sắt. Bây giờ mời bà hãy mau tay để kịp lên xe!”. Mà quả thật, mấy tháng sau sau khi quân Nhựt đầu hàng, mụ Hémon theo chồng trở lại Sốc Trăng, khi gặp tôi, việc đầu tiên là mụ cười cái miệng móm xọm và không ngớt ngợi khen quân đội Nhựt vì suốt mấy tháng bị giam cầm cái xách của mụ có trên năm chục lượng vàng lá, không hao đến một ly!
Sau khi ông tá làm xong phận sự đi lùa bắt Tây, đến trưa gần Ngọ, có một ông tướng lãnh Nhựt ngồi xe sơn màu lá cam, ghé toà bố, ra lịnh cho cai hầu ra mời thân hào nhân sĩ, các nhà tai mắt và công chức lớn nhỏ tề tựu tại dinh tỉnh trưởng và ra chỉ thị cấp thời lập Uỷ ban cai trị như đã tả nơi trang trước. Tôi không tham dự mấy lần nhóm họp nầy, vì muốn ở ngoài càn khôn để được tự do.
“Sớm khuya, khăn mặt, lược đầu.
Phận con hầu, giữ con hầu, dám sai!” (K.V.K)
Ngày 15-3, hay tin ông chủ quận Châu Thành, coi luôn ty cảnh sát thành phố là ông đốc phủ Ngô Văn Nghị. Nhớ lại mới đây, ngày 25-2 có ông Đoàn Quan Tấn, hội trưởng hội khuyến học Sài Gòn cùng xuống đây với cố giao Hồ Đắc Thăng, diễn thuyết về nghệ thuật hát bội, mình được mời cùng dùng cơm tại dinh, nay ông lên làm trưởng ty cảnh sát, ắt ông không làm khó dễ sòng thín cẩu, vì biết mình chơi cầu vui chớ không có máu cờ bạc. Mừng lòng một đỗi.
Ngày 16-3, có bạn nhỏ Đức, Thanh niên tiền phong, đến cho hay không chừng mình sẽ được cử coi ty thương chánh, mình cười và năn nỉ hãy để được yên, e khi vào đó thấy kho á phiện, động lòng tham thì khốn!
Ngày quân đội Nhụt bắt và giải về giam tại lữ xá băng-ga-lô tên Siccé, trước coi lò nấu rượu trắng công xi ở Bãi Xàu và lão Canavaggio, là trưởng ty mật thám Sốc Trăng. Nghe nói Canavaggio có bị đánh, nhưng không biết nặng hay nhẹ. Làm cái nghề đánh người, nay người đánh lại, cũng là oan oan tương báo.
Ngày 17-3, nhóm thanh niên biểu tình dán giấy tuyên bố “Việt Nam độc lập”. Có tên Pháp Fauvel là người đi mua lúa đứng cho hãng Continental, chẳng lành thì chớ, nhè xé bố cáo của thanh niên, bị bắt giải cho quan Nhựt ở băng-ga-lô, ông nầy đánh vài bốp tai, nếu tên Pháp biết lỗi nhẫn nhịn bao nhiêu cái tái tai không chống lại thì việc đến đây ắt chấm đứt, ngờ đâu tên nầy không chịu xuống nước cầu hoà và vung tay thoi lại, khiến cho quan Nhựt nổi đoá, dạy lính bắt trói anh ta dắt đi khắp chợ phố cho trẻ nhỏ hành hà, mặc tình đánh đập. Có người chủ tiệm mộc tên Lưu Trọng Quyền, chủ hiệu Việt Nam mỹ nghệ, là nặng tay hơn cả. Đến chiều quân đội Nhựt giải Canavaggio, Siccé và Fauvel xuống tàu đi Ngã Năm, bắt dẫn đường để nã tróc thêm những người Tây lẩn trốn trong vùng nầy. Lúc giải xuống tàu, thiên hạ đúng coi nườm nượp.
Ngày 18-3 nhằm chúa nhựt. Nghe nói có lịnh không cho người Nam lai vãng và thông đồng nói chuyện hoặc cho đồ ăn cho người Pháp bị giam lỏng ở băng-ga-lô. Trái lại, người Pháp quá nhát gan, sợ người Việt oán thù, nên hạ mình xin quân Nhựt ủng hộ, rán canh gác cho kỹ kẻo người Việt nam cho ăn đòn, oan mạng. Nếu lương tâm họ trong sạch thì đâu có cái sợ vô lý như thế? Buồn cười là họ quên tất cả đến lầm gởi tánh mạng trong tay đại thù địch Phù Tang! Quả gởi trứng cho ác!
Ngày 19-3-1945 nhằm ngày thứ hai trong tuần. Hôm nay nghe nói sẽ có hai cuộc biểu diễn: một là chở các quan lang-sa lên Cần Thơ, hai là nhóm thanh niên biểu tình. Và tôi là khán giả khỏi trả tiền mà sẽ đi dự kiến như đi xem cải lương. Té ra vì tánh tọc mạch và tiểu nhân thiếu độ lượng (coi Tây làm tù binh) mà tôi bị kẹt như đã nói ở đoạn trước, tôi nghe tiếng đồn thanh niên đòi đả đảo:
a) ông chủ quận châu thành, họ trách ông còn quá ưa Tây và ông đòi giải tán họ!
b) ông phủ đứng đầu công chức toà bố thì quá ưa hộp quẹt và ưa bông mua vải
c) ông phủ Trần Văn Tân, là một tên sâu dân mọt nước, một đồng bạc cũng ăn, ăn hết không chừa!
Thanh niên lại chê ông kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích là “làm phách”, còn ông luật sư N.V.D, thì thân Tây hơn thân Việt và biết tiếng mẹ đẻ ít hơn tiếng lang-sa. Ông toà thì họ chê có vợ đầm, ông đốc công trường tiền thì họ chê nói tiếng Tây còn trật (Trần Tân và Đỗ Văn Trà). Tôi nghe ngóng nhàm tai, trong thâm lâm tôi phát sợ một cái gì xảy ra, nên khi bốn xe camion chở người Pháp đậu trước dinh ông Chánh vừa sấp sửa lăn bánh thì tôi lật đật về nhà. Nhưng vừa về tới và chưa cởi áo, thì có chủ tiệm rượu Hoà Bình tửu, tên là Cu Liếm, lúc đó là một thanh niên xốc xáo nhứt, đến gọi tôi gấp trở ra toà bố vì đám biểu tình “muốn cần dùng gì đó”. Ấy rồi tôi bị kẹt như đã nói nơi đoạn trước. Và cho hay trăm sự, “hư” cũng tại mình. Nếu tôi là gái chính chuyên, không dốc lòng “làm đĩ” một phen nữa, thì tại sao tôi “đứng ra đường cả buổi như ban nãy?” Bởi tôi bán dạng thuyền quyên, chán chường khoe mặt mốc, thì nay còn than van “thanh niên mời mọc” làm gì cho thấy dối lòng? Quả tôi giấu đầu lòi đuôi. Và cử chỉ của tôi là cử chỉ của một thằng tự mâu thuẫn lấy mình. Thú thật, tôi có hành động như vậy, cũng vì một chút hiếu thắng. Mấy chục năm thi rớt mãi, và mãi lận đận lao đao nơi trường ốc, tại sao không cho tôi “đánh ba búa” chơi như tướng hề Trình Giảo Kim trong truyện Thuyết Đường? Xin chớ cười và ai có qua cầu mới hay mới biết! Đánh được ba búa cho sướng tay rồi sẽ xuống, có hại gì?
Nhưng khi lâm sự, lên ngồi lưng cọp rồi mới biết. Bỗng thinh không tôi để thanh niên lôi tôi ra, và làm cho tôi từ rày mất hết tự đo Còn gì cái thú “ăn lương hàm chánh thất” (ăn lương của vợ), sống lêu lổng ngoại càn khôn, rong chơi hút gió, gọi là “thả xệch phê” (do chữ siffler là hút gió) ngày ngày cùng a-xẩm, á-múi (a-muội) xoa bài mạt chược vui cười qua ngày tháng, và thôi rồi từ giã cái tự do, từ rày phải tập làm nghiên, chỉnh túc y quan, sáng vác ô đi, tối vác về, và một khi trở vô chung lo việc nước, thì thân không khác con bò kéo xe cỏ cho bò khác ăn, và từ đây phải bỏ hết những gì hư, tập tánh nết trở lại đường hoàng, cho xứng đáng bộ mặt Phó chủ tỉnh?
Mà ăn cái thá gì, vì vẫn làm ông Phó mà trả lương theo lương thông phán hạng nhì, không tới hai trăm bạc mỗi tháng! (tính ra tôi trở vô làm từ ngày 19-3 cho đến ngày 4-6-1945, lãnh lương được 437$56! Thấy thảm não quá ông chủ tỉnh lâm thời nhóm Uỷ ban dạy xuất tiền công nho làng phụ cấp thêm 500$00, vị chi tôi lãnh được cả thảy là 937$56).
Cái số của tôi là số “dã tràng xe cát”, một đời cực nhọc không công cán gì! Lại còn mang lời ăn tiếng nói! Lúc còn làm nơi dinh thống đốc, tuy là thơ ký quèn nhưng anh em chúng bạn đều nể mặt. Nhà dư ăn, không thiếu nợ ai. Công việc làm, dịch điện tín mật mã và ghi chép công văn mật, là việc trọng yếu, tôi làm tròn phận sự nên Tây tà đều kiêng; các người trên trước tôi, ông Ngôn, bà Bá đều có học lực và hạnh kiểm cao, bạn bè ngồi chung quanh đều hay giỏi, và tôi học khôn với họ rất nhiều. Từ khi rớt kỳ thi huyện chót (1942), tôi thấy tương lai không ngõ thoát, nên tôi xin nghỉ việc. Tôi có linh tính nếu kéo dài đời công chức ở đây, có ngày Nhựt lên nắm chánh quyền thì cái kiếp làm nô lệ vẫn y như cũ nếu không nói là thay chủ mới còn e bóp siết nặng nề hơn, và “làm đĩ” một lần với Tây cũng đủ xấu hổ trọn đời! Tôi không muốn trải thân cho ông bạn lùn giày vò bóp méo vo tròn, ngờ đâu kiếp làm tôi mọi cho ngoại bang vẫn còn nặng nợ, xin được trảm giam hậu nhưng không dễ gì xin đại xá.
Chánh phủ Pháp không cho tôi từ chức, và đã ban đặc ân cho tôi đổi về xứ sở ấp ủ se ấm mấy ngày tàn của cha già đã trên bảy mươi tuổi. Kế hoạch của tôi là dốc lòng thoát thân, nhưng tôi đã thất vọng to. Tôi còn luyến tiếc kiếp sống an nhàn “bơ sữa”, dè đâu về đến tỉnh nhau rún ở chung một nhà với cha, mới hiểu muộn màng câu “Xa mỏi chân, gần mỏi miệng!” Ba tôi tuổi Đinh Hợi (1887), tôi lại tuổi Nhâm Dần (1902), cách xa thì như thường, đáp lại gần thì xung khắc. Tánh tôi thêm lỗ mãng quen nết con cưng và con hư. Bình nhựt với chúng bạn, tôi quen ăn ngay nói thẳng giận thì tôi chịu. Nay với cha già, bay giờ nghĩ lại ăn năn đã muộn, vì nhiều việc vặt vãnh, tiền chợ tốn hao, ba tôi vì già chịu nấu cho mềm, tôi thì còn trẻ lại thích gân giòn xương sụn, mỗi lần nấu nhừ, hễ vừa miệng cha thì không vừa miệng con! Tánh tôi lại ham gây gổ, thấy việc trái dẫu là ông phủ, ông gì, tôi cũng không nhịn. Nhưng tôi được tánh thích làm vừa lòng kẻ dưới, nhất là đám em út bạn nhỏ, dẫu lỡ chửi tôi cũng nhịn, và thường hay binh vực kẻ yếu chống chọi người bề trên. Từ ngày đồi về Sốc Trăng, tôi không học thêm được gì nữa, vì nhân viên toà bố đều lục lục thường tài. Tôi lại bị giao trọng trách coi về hành chánh, giữ hộ tịch bộ đời Pháp, nhứt là “đứng bàn ông chánh” tức làm thông ngôn cho chủ tỉnh, mà có khi ông phó cũng xâu tôi làm thông dịch viên luôn, thế là tôi “đứng cả hai bàn chánh phó”. Chỗ nầy đối với người khác thì “no” lắm, vì kiếm chác được nhiều, tỉ dụ xin nhập tịch dân Tây, xin sắm súng hộ thân, xin khẩn đất, xin cất nhà, v.v., nhưng tôi cứ “nét thắng như mực Tàu”, tôi không ăn hối lộ vì đã có vợ giàu, tôi lại cứng cỏi, vì biết mình trong sạch nên coi Tây tà và các nhà thế lực trong tỉnh như không có. Làm việc ở toà bố được một năm, xảy ra việc ông cai tổng Nhiêu Khánh là tổng châu thành, lục cụ Thạch Suôn từ trần. Tôi viện lẽ mấy tháng sau nầy thường đau yếu, tôi vừa nằm nhà thương sở tại và còn nghỉ dưỡng bịnh, tôi mượn các cớ ấy nên nói với chủ tỉnh xin cho tôi từ chức, hưu trí non (hưu bổng tỷ lệ), để có dịp ra ứng cử cai tổng thế ông Suôn, và như vậy tôi vẫn còn phục vụ trong chánh phủ. Thế là ông B. mắc kế tôi, vì khi được cho về hưu, tôi phỉnh lờ việc ra tranh cai tổng. Như vậy, tôi được nghỉ việc trong buổi trong xứ còn chiến tranh, mà tôi không bị khiển trách vì tôi hội đủ điều kiện, đủ thâm niên về hưu, và việc tôi làm vẫn hợp lệ đúng như luật định.
Nhưng số trời khó chạy, và tôi đã lính già ra non! Vợ trước của tô, cô Tuyết, quen sung sướng ở Sài Gòn, bài bạc không ai nói, nay về chung một nhà với cha chồng em chồng, tù túng bực bội, nên thường mượn cớ lên Sài Gòn buôn bán kim cường, ban đầu đi về ít bữa, sau kéo dài hàng tuần rồi hàng tháng.., cái hoạ bội tâm đã nẩy mầm từ đây. Thêm nỗi tôi vì quá mê đồ xưa và quá tin người bạn trăm năm (nay đã hết trăm năm), bởi tin nên mắc, quá nghe nên lầm! Cái tội bất hiếu của tôi và tội làm chồng bất xứng, thôi thì khỏi nói!
Từ ngày thôi làm công chức, đời tôi đã hư nay còn thêm lậm. Tôi trở nên một “ông viên ngoại” rất nhàn nhã, và rất hư thân. Cò bót làm ngơ, sức bực tham biện chủ tỉnh, tôi muốn vào văn phòng lúc nào cũng được, khiến nên nhà tôi, số 31 đường Đại Ngãi là một nhà xét (cercle) thín cẩu đánh công khai chứa hai sòng bài, bài con chim chơi tôi ngày sáng đêm không dứt, cửa ngõ không đóng và đèn đốt thuốc phiện rần rần, chung quanh cái đi-văng đỏ “long phụng sàng” lót ngay sa lông ngó ra đường cái, là nơi anh hùng hội, đủ mặt trai hư: Bảy Thà (Kế Sách), Tư Chẩn (Bãi Xàu), Y (con trai Tám Nam Thành), Mười (con ông trưởng toà Kiều), v.v., và thỉnh thoảng lại có sự hiện diện của Việt Hùng, lúc ấy chưa trổ mặt nghệ sĩ hữu danh cải lương như nay, và vẫn còn khoác áo tiểu công chức, nhưng đã thành thạo đủ nghề ca ngâm và khi cao hứng thường đến cho chúng tôi nghe những bản thúc giục lòng ái quốc và những bản cải cách nung nấu lòng kháng chiến chống quân xâm lăng: “Bà Tư bán hàng có bốn người con” v.v…
Ấy, tôi đang ở trong cảnh “giả dại qua ải”, muốn bài bạc để quên cảnh rối rắm nước nhà, Bá Lạc Đài (nhà xét của tôi) thực ra không phải để đóng vai vua Trụ mất nước”, kỳ thực đó là hình thức bề ngoài để che mắt nhà cầm quyền Pháp, khiến họ quên tôi kể như một công chức về vườn vô thưởng vô phạt.
Ấy nay vì đám thanh niên tiếc mến chút tánh tháo vát và tánh cứng cỏi của tôi rồi bỗng kéo tôi xuống khỏi đài truỵ lạc chơi bời ấy và sáng hôm 19-3, lại đẩy tôi lên diễn đàn nầy, là cái bệ lan can ngay thang lầu văn phòng ông chánh cũ, bảo tôi tuyên bố ít lời cảm ơn vì được cử làm phó hội trưởng Uỷ ban cai trị trong tỉnh, là tuyên bố làm sao? Họ lại bảo tôi nhậm phận sự tức khắc, không được diên trì vì thời kỳ quá cấp bách. Theo họ phải có người ký tên giấy thông hành tạm, bài sanh ý và bài thuế trâu ghe, không thì công việc của tỉnh phải đình trệ hết. Rõ sướng cho tôi chưa?
Nhưng quả thật không sướng chút nào! Tôi từ giã đám bạn nhỏ thanh niên, mà tôi thề không có giao thiệp và vận động cho họ đề cử tôi như vậy, tôi bước vào văn phòng chủ tỉnh, ra mắt ông hội trưởng Lâm uỷ hành chánh là ông đốc phủ sứ Võ Văn Đảnh, vốn là bạn cũ quen biết nhau từ lúc còn làm chung một toà bố ở Sa Đéc, lúc ấy ông là huyện đứng đầu phòng địa bộ điền thổ, còn tôi là ký lục phát ngân coi về bút toán ngân sách địa hạt. Tôi chào và bắt tay ông. Tôi tỏ vẻ ái ngại, nay không muốn làm thì cứ trái lòng thanh niên cũng khó, bằng nhận làm, thì e tài bất kham trọng trách, thiệt là nan giải; và thật ra tôi không có nhúng tay vào việc biểu tình, không tham dự cũng không xin xỏ việc đề cử ngang xương nầy. Tôi còn nói nữa, nhưng bao nhiêu ấy đủ làm ông Đảnh chia xớt nỗi lòng. Ông bắt tay đưa ra cửa, khuyên tôi chiều vô làm việc và nên tạm nhận hai phòng búl toán công nho tỉnh, là nghiệp cũ sở trường của tôi, dầu sao cũng ít nặng nhọc hơn ghế phó hội trưởng. Tôi vừa ra khỏi cửa, đám thanh niên chận tôi lại, tôi thú thật hết và họ cương quyết dặn tôi đừng chịu áp lực bất cử của ai: “Làm phó hội trưởng thì làm, bút toán đã có người khác”.
Và việc gì phải đến, đã đến.
Từ ngày 19-3, tôi trở vô toà bố với chức phó tỉnh trưởng, tiếng nghe cho rôm, chớ lợi lộc danh giá gì? Tôi dư biết đang đóng vai tuồng thằng hề làm trò xiệc đi dây chọc cười, thằng ngổng đánh đu bầu (chớ chi được đánh đu tiên có đào lịch sự thì cũng đáng), và ngày nào tôi rủi lé xuống đài, dẫu chết phơi thây cũng chẳng ai thương! Tôi biết dư, làm đây là làm tạm thời, trong cảnh ngộ dầu sôi lửa bỏng, chớ ngày nào trong tỉnh trở lại bình thường thì tôi sẽ được “mời” ra lập tức và cái cỗ ngon lành dọn sẵn nầy, sẽ có người trên Sài Gòn được bổ nhiệm xuống hưởng, thứ đồ bất tài thi rớt như tôi, mấy đời ai cho vượt bực, ngồi trên ngồi trước người thi đậu? Trong bụng biết vậy, nhưng nay cờ đã về tay, không phất há chẳng “phi anh hùng”!
Công việc khi vô thấy rất bề bộn, ứ đọng nhiều ngày, nhưng tôi đều coi là thường, vì tôi đã quá quen thuộc, và đều thu xếp ổn thoả, đến ông Đảnh cũng ngạc nhiên và mừng thấy tôi làm việc được: Thật tình mà nói, thanh niên có mắt và biết lựa, biết tánh tôi ngay thẳng ắt làm xong đâu vào đó, nhưng họ quên và tội nghiệp cho tôi, vì làm theo công tâm, nói nghe thì dễ, nhưng đụng chạm rất nhiều. Những ai thương tôi cũng có, nhưng người ghét và ganh tôi thật ra không phải ít:
– Ngày 20-3, mới vô làm được một ngày, sáng sớm vừa để chân vô toà bố, gặp ông Đảnh từ trên lầu bước xuống, cho hay trọn ngày ông sẽ vắng mặt vì phải lên thị sự đất giá công điền ở quận Kế Sách, và ân cần dặn tôi “hãy coi tiệm, coi nhà cho vén khéo”, “những giấy tờ quan trọng để đó tối về ông ký”.
Trời tối sẩm ông Đảnh vẫn chưa về, đợi mãi không được, tôi lui cui đạp xe về nhà, vừa ngồi vào bàn lùa được một miếng và, bỗng có đội Tỷ, là lính hầu sau đóng lon quản, chạy đến hối, có hai ông quan võ Nhựt muốn gặp gấp. Cuộc tiếp xúc hoà nhã, tôi thừa dịp xin họ dễ dãi cho ba ông Tây làm sở dẫn thuỷ nhập điền, nay còn kẹt ở vàm Cổ Cò, hiện muốn ra trình diện chịu làm tù binh, ông sĩ quan Nhựt chịu ký giấy để lại cho họ cầm đi Cần Thơ vô sự. Khi ông Đảnh về, hay tin nầy, ông tỏ vẻ rất bằng lòng cách tôi dàn xếp mau và khéo như vậy.
– Ngày 22-3 – Hôm nay Uỷ ban cai trị nhóm kỳ đại hội lần thứ nhứt, tôi thủ vai thơ ký Uỷ ban. Tự tay bao gồm từ tả tờ vi bằng phiên nhóm và thảo hết thơ văn và nghị định. Bản thảo ông Đảnh chấp thuận không sửa đổi câu nào.
Ngày 24/3 – Có lễ truy điệu nhà chí sĩ Phan Châu Trinh. Thức đêm viết bài nhắc công đức, sáng ngày ông Đảnh cử làm đại diện đọc trên diễn đàn đặt nơi công trường Hai Hình. Nhờ có ống phóng thanh do Nguyễn Văn Thân, con ông Đại, cho mượn, trên năm trăm người dự kiến và dự thính đều tỏ vẻ hài lòng. Một phụ nữ, bà sương phụ Phủ Chiếu, không cầm lòng đậu, lấy khăn lau nước mắt mãi. Sáng ngày bà lên toà bố xin một bông rượu cồn để lên Sài Gòn có việc, bây giờ mới hiểu nước mắt mỹ nhân là do không có rượu chạy xe hơn là cảm vì giọng vịt đực mình lên bổng xuống trầm.
Ngày 25/3 – Hôm nay, chúa nhựt, có thanh niên biểu tình. Sau khi kéo đi cùng đường, họ về tề tựu tại công trường Hai Hình. Có năm người ghi tên diễn thuyết. Mình đứng nghe:
1) Thầy sáu Trần Ngọc Vĩnh, đông y sĩ, mừng Việt Nam độc lập và cám ơn Đại Nippon (sic);
2) Phan Mỹ Nhựt, làm sở Bưu điện, nói về chủ nghĩa Thanh niên;
3) Võ Văn Hai, cũng làm sở Bưu điện, nói về ý kiến của Thanh niên đối với những trang sử oai hùng: chống Nguyên, kháng Minh, vua Quang Trung, Nguyễn Thái Học;
4) Lâm Văn Nhơn, thơ ký toà án, nói về ý nghĩa và sự hy sinh của dân Việt Nam;
5) Lê Văn Lý, con ông Xếp Lỏi, nói về chủ nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Tương như vậy là dứt, sửa soạn ra về, té ra thanh niên kéo mình lên diễn đàn. Không từ chối được, mình ứng khẩu về ý nghĩa bốn chữ Tận trung báo quốc của Quan Công Hầu và bốn chữ Tin trung báo quốc của Nhạc Võ Mục.
Ngày 26/3 – Lên lầu đưa công văn cho ông Đảnh ký, ông khen “Anh viết văn xuôi hay quá”. Mình cám ơn và thuật lại chuyện Diệp Sanh trong Liêu Trai, nữa đời luân lạc thi mãi không đậu, sau vâng lời một ông quan đỡ đầu, theo ông nầy về kinh, kèm dạy cho con ông ấy thi đậu và thành tài, Diệp Sanh cũng đậu khoa ấy, nhơn đi phó nhậm, con ông quan đưa Diệp Sanh trở về cố trang thì vợ Diệp Sanh khóc lạy rằng vì nghèo, quan cửu của chồng chưa chôn nay xin hồn ma đừng về khuấy phá. Nghe đến đó bỗng thấy Diệp Sanh sụp xuống, chỉ còn áo mão một đống còn người đâu không thấy. Bây giờ mới rõ lại, lúc ông quan sai người mời Diệp Sanh theo về kinh thì Diệp Sanh đang đau nặng, và chỉ cái hồn xuất ra đi theo người mời, còn cái xác trơ ở lại cho vợ gói ghém tẩm liệm. Cho hay cái tinh anh của một người bất đắc chí nó mạnh như vậy. Nay tôi tự ví như Diệp Sanh còn anh là ông quan đỡ đầu cho tôi đó.
Nghe đến đó. Ông Đảnh cười, ngó tôi mà rằng: “Chuyện anh kể nghe sao bi thảm quá. Mà anh là Vương Hồng, đâu phải Diệp Sanh?”. Ấy cái tình giữa hai tôi nồng nàn thân thiết như vậy, nay ông Đảnh đã thành người thiên cổ duy tôi luân lạc vân còn luân lạc, ai nói sống dai là hạnh phúc?
Ngày 27-3, ông Đảnh đi Bố Thảo (Thuận Hoà) chủ toạ cuộc đấu giá đất công điền bỏ tôi ở lại toà bố; ông Nghĩa thanh tra tiểu học kiêm thủ lãnh thanh niên, bảo tôi ký các giấy trưng dụng súng của các điền chủ làng Mỹ Phước, tôi tỏ vẻ ái ngại vì chữ ký ông Phó lậu vô giá trị, nhưng ông Nghĩa vẫn bảo ký, cười mà rằng: “Ký đi! Không sao đâu! Chỉ mình hai tôi (Đảnh và Nghĩa) có nói chuyện anh” (Câu nầy tôi ghi lại y nguyên văn, và có lẽ có một nghĩa nên hiểu ngầm).
Ngày 28/3 – Thứ tư, rằm tháng hai Ất Dậu. Ngày nay phí phạm sức khỏe nhiều nhứt và chỉ làm việc không công, “gánh bàn độc mướn”, làm cho người khác hưởng, còn mình vẫn “hoàn cốt khỉ”.
Phải chăng kiếp trước làm mọi bá gia? Sáng nầy, cả toà bố đều náo động, vì có quan Phó Thống đốc Nhựt, Satoh, lần đầu viếng tỉnh, với nhiệm vụ thanh tra tình hình cai trị các tỉnh. Mặc dầu ông Đảnh làm chủ tỉnh nhưng do quan hai Nhựt và thông dịch viên Sếp Hên nói sao với ông, mà ông chỉ tiếp xúc với mình. Tôi phải vừa bổn thân ghi chép khẩu lịnh ông truyền, và noi theo đó đặt để lại tờ sự vụ lịnh bằng Pháp vãn, tự đi đánh máy và trình lên cho ông đặt chữ ký vào, nhứt nhứt đều một mình làm cả.
Đến 12 giờ trưa, bổn thân mời ông Satoh và ba ông sĩ quan tuỳ tùng qua dinh chủ tỉnh dùng bữa cơm. Ông Satoh ngỏ ý cậy tôi đi kiếm mua cho ông một đôi bít-tất mà ông gọi tiếng Pháp là socquette, và dặn giá nào cũng mua, dẫu trả theo giá chợ đen cũng không sao! (même s’il le faut, au marché noir). Mua được đem về, xem bộ ông rất hài lòng và mời mình ở lại dùng bữa, nhưng mình xin kiếu vì ngày nay là rằm, ăn chay. Lúc ấy nếu quả mình muốn xin cho làm thiệt thọ, thì đây là dịp may hiếm có để ớ lại mặc sức xin xỏ, nhưng mình đã có ý riêng, chỉ mong thoát khỏi biển trầm luân và không có lòng cầu cạnh.
Tin buổi chiều ngoài phố đều đồn mình “giỏi tài ngoại giao” và làm 9/10 công việc cho chủ tỉnh. Riêng chỉ sợ nói mình bợ đít.
Ngày 23/9. Ông Satoh ở Bạc Liêu trở về, ghé nói với mình: “J’ai beaucoup à faire à Baclieu” (Tôi ở Bạc Liêu có nhiều việc phải làm lắm), coi bộ ngài rất ưng bụng về tỉnh Sốc Trăng, và chính mình tiễn ông ra xe về Sài Gòn, còn ông tỉnh trưởng Đảnh vẫy tiễn trong vòng rào toà bố. Nhưng cái ngày mình bị đào thải, ông Satoh nào hay biết.
Ngày 31-3 (thứ bảy) Uỷ ban cai trị họp phiên bất thường. Ông Đào Văn Hội làm đơn xin trở vô làm việc lại, và mình làm đơn xin nghỉ việc về hưu.
Ông hội trưởng Đảnh yêu cầu mình ở lại tiếp tục làm việc chờ ông đi dự kỳ đại hội tỉnh trưởng trên Sài Gòn, đãi lịnh trung ương rồi sẽ hay.
Ngày 3-4-1945 – 4 giờ khuya có lính kêu cửa cho hay chiếc tàu sai đi bắt Tây ở Cà Mau nay hư máy nằm chình ình tại ngã tư Cái Quanh. Giữa canh khuya phải viết tay tờ lịnh khẩn cấp như vầy:
Lịnh phiếu
Cai Mã Văn Cự, được lịnh nầy phải theo tên Long Suôn xuống chiếc tàu “Phước Hùng”, truyền lịnh cho chiếc tàu nầy mở máy chạy lập tức ra ngã tư, rước nhà binh Nhựt về Sốc Trăng, không được trái lịnh nầy.
Vì gấp rút, tôi, Phó Hội trưởng Uỷ ban cai trị tỉnh Sốc Trăng, ký lịnh nầy thế cho ông chánh chủ tỉnh Sốc Trăng ngày 3-4-1945. 4 giờ sáng.
Từ 4-4-1945 đến 23-4-1945 – Không xảy ra việc chi lạ. Nhờ biết tháo vát, công việc trở lại bình thường, nhưng tự xét thấy tủi thân vì lúc làm thơ ký “chấm công ăn tiền”, nhàn hạ làm sao nay lên ngồi ghế phó tỉnh tưởng nhọc xác bằng mười, có khi phải đặt gấp tờ lịnh rồi tự đánh máy lấy cho ít mất thì giờ, rồi tự đóng dấu trước, và bổn thân lên thang xuống thang xin chữ ký của ông chủ tỉnh cho người xin việc về kịp con nước khỏi chờ đợi tốn tiền, hoặc phải thị oai nộ nạt là cái bình sanh không muốn vì chỉ làm mích lòng anh em, thêm họ cứ khuấy rầy bằng xin bông mua sữa, mua áo thun, quên rằng mình còn phải nhiều việc quan trọng hơn như đương đầu với sự đòi hỏi quẫn bách của quân đội Nhựt, của nhà thương thiếu sữa nuôi trẻ, vân vân… Càng lấy công bình và lương tâm mà làm, càng thêm đụng chạm sanh oán sanh thù.
Ngày 8-4, ông chủ tỉnh đi Sài Gòn dự đại hội các chủ tỉnh từ 9-4 đến 12-4 giao nhà coi “nhà”, may được vô sự bình yên. Coi xử lý thường vụ và ký thế…
Ngày 10-4 và 11-4, có quan Năm Nhựt chức tá, đến nói về vấn đề súng đạn và có năm ông sĩ quan khác ghé tra vấn về vấn đề kinh tế, đêm ngủ lại đây mà lữ quán băng-la-gô chưa sửa chữa, phải châm chước mượn mùng mền nơi dưỡng đường của các bà sơ, mới được êm thắm. Cũng về vấn đề mùng mền và vải drap của dưỡng đường, sau quân đội Nhựt ép mình ký giấy sung công, mình đổ thừa làm tạm chưa có giấy bổ nhiệm, nên chữ ký vô giá trị, nhờ đó sau khỏi thường tiền và nghe đâu nơi nhiều tỉnh khác, mấy ông phó nhẹ dạ ký bừa đều thường tiền túi.
Chiều đến, bảy giờ tối, cái lão Nhựt Ezaki té xe bể đầu bầm mình, mình dậy chở lên nhà thương băng bó và chích thuốc ngừa phong đòn gánh. Về sau gặp ở đâu lão cũng xí xô xí xào cám ơn, nhưng tiếng Nhựt, tiếng Ăng-lê mình nhứt định không học, tủi thân trót biết tiếng Tây, làm đĩ một lần đủ nhục!
Về một vụ lập bản thống kê lúa gạo trong tỉnh, nơi Bạc Liêu hẹn một tuần nhựt là hoàn thành, tỉnh Sốc Trăng hẹn nửa tháng. Quan Nhựt để gươm lên bàn, trách tôi không lòng hợp tác tôi bình tỉnh trả lời: “Thời gian mười lăm hôm mới đủ hỏi từ quận xuống tổng đến làng rồi chờ làng chạy tờ lên tổng lên quận mới đến loà bố. Hay ho gì hẹn gấp mà cho tin sai, thà tôi hẹn trễ mà tin đúng”. Từ ấy người Nhựt ở Sốc Trăng biết tôi cương trực và mọi việc giao thiệp đều dễ dàng. Để chứng tỏ cách làm việc, tôi ra lịnh các anh em toà bố ráp lại làm một bảng thống kê khẩn, nội một buổi sáng là xong kẻ cộng người đánh máy, Nhựt khen Sốc Trăng làm việc số dách.
Ngày 12-4, ông chủ tỉnh ở Sài Gòn về, ra lịnh giải tán nhóm Bảo An. Bữa nay, có xe thơ bắt đầu lấy thơ chạy lên Sài Gòn. Ông Đảnh đặt thơ dạy mình đánh máy, ông ký tên gởi theo xe Huê-Nam, đề nghị mình làm phó chủ tỉnh thiệt thọ. Mình vâng lời gởi đi mà mười phần biết chắc không đi đến đâu. Số mình là vậy.
Ngày 20-4-1945, có quan tư Noda cùng đi với ông Diệp Văn Kỳ đến thanh tra trong tỉnh, mình kiếm mua dùm họ được hai bịch thuốc hút Mélia bao vàng, và đêm lại sai dọn dẹp mùng mền cho họ nghỉ tại lữ khách riêng toà bố (mai son des passagers), sáng ngày mình hối hả đi vắng vì công vụ, sau nhận được tờ lưu bút của Diệp quân, và cũng là di tích chót của chủ bút tờ Thần Chung như vầy.
“Monsieur L’ Administrateur-adjoint,
Mr le Commandant NODA me charge de vous écrire, parce que vous étiez absent à notre départ, – ces mots afin de vous remercier très sincèrement de votre hospitalité, lors de notre passage dans votre province.
Nous avons constaté avec plaisir que sous votre sage administration, les populations de Soctrang ont continué à vivre dans la tranquillité et la sécurité la plus absolue.
En réitérant mes sincères remerciements, Mr le Commandant NODA et moi, vous souhaitons bons succès et prospérité.
Signé: Diệp-Văn-Kỳ.
Đó là bức thơ viết hối hả nên nếu có phạm lỗi nhỏ đôi chỗ nên châm chế dịch là:
“Ông phó tỉnh trưởng. Quan thiếu tá NODA có cậy tôi viết thư nầy để lại ông vì lúc chúng tôi lên đường, ông vắng mặt. Chúng tôi thành thật cám ơn lòng tử tế tiếp đãi nhã nhặn, và lấy làm vui mà thấy dân sự ở tỉnh sống yên ổn và tiếp tục sống hoàn toàn an ninh nhờ sự cai trị sáng suốt của ông. Một lần nữa, chúng tôi xin đa tạ và quan tư NODA và tôi chúc ông thành công và thịnh vượng. Ký tên: Diệp Văn Kỳ”.
Ngày 22-4, thay mặt tỉnh trưởng, điếu tang mẹ anh Thái Tân Hoà bạn đồng liêu cũ trên dinh Thống đốc và mẹ bạn Thái Tân Đồng, cùng làm nơi toà bố Sốc Trăng.
Ngày 26-4, ra Đại Ngãi đọc điếu văn thay mặt tỉnh trưởng, điếu ông Đoàn Văn Tùng, là thân phụ bạn Đoàn Bá Lộc, lục sự toà án.
Ngày 5-5, đến kỳ hậu lệ tại toà bố, có quan hai Nhựt Yamamoto dự kiến.
Ngày 6-5, đổi thiếu uý Yamamoto, ông Watanabé đến thay.
Ngày 7-5, thiếu uý Watanabé đến nhà viếng xã giao.
Ngày 9-5, quan năm Nishyama đến thanh tra. Đảnh, Hồ Văn Xuân và mình đến chào ra mắt tại sở Hiến binh. Thiếu uý Watanabé đọc diễn văn phúc trình. Bữa tiếp tân có rượu bia, đậu phộng rang muối y như Triều Châu thường dùng ăn với cháo trắng, hột vịt chiên tráng thật mỏng (hà tiện) và gỏi dưa leo bóp đường.
Ngày 18-5, dự tiệc nhà cựu bang trưởng Triều Châu, Lưu Liễu tự Bang Tư, thịt dê nấu tám món do Châu Xi, chủ quán cơm danh tiếng đứng nấu.
Ngày 2-6-1945, trong đống công văn nhận được, có bức thư số 1985-P đề ngày 28-5-45 do ông Minoda ký, (và do tôi ký nhận tuân lịnh ngày 4-6-45 số 1433 CP) thì thống đốc Minoda ra lịnh thuyên chuyển ông Nguyễn Văn Trác tự Paul Larrive chức rédacteur de lère classe des Services administratifs (tôi dịch tham tá biên tập đệ nhứt hạng ngạch hành chánh) xuống thay thế tôi và dạy tôi phải nghỉ việc lập tức, vì cuộc thanh niên bầu cử tôi là không hợp pháp.
Khi tiếp công văn nầy, ông Đảnh tỏ vẻ buồn nhiều hơn tôi. Đến đêm tôi thản nhiên đi xem hát, gánh Long Xuyên xuống hát thâu tiền cứu giúp đồng bào ngoài Bắc Kỳ. Tôi ngồi gần ông Đảnh và gặp lại sau lâu năm xa cách bạn học cũ là Hồ Văn Ngà, nhưng tôi không nói chuyện nhiều e có người nghi tôi cầu cạnh, vì lúc ấy Ngà giữ chức phó khâm sai miền Nam. Dè đâu buổi gặp ấy cũng là ngày vĩnh quyết, Ngà bị hại cách mấy tháng sau.
Ngày 4-6-1945, tôi vô toà bố giã từ anh em, bắt tay biệt nhau.
Ông Đảnh nói mấy lời cảm ơn tôi đã tận tâm giúp ông mấy tháng nay. Luôn dịp tôi xin một bản sao thơ cho nghỉ việc.
Ngày 5-6, tưởng đà hết nợ, dè đâu ông Đảnh và ông Hồ Văn Xuân đi Long Phú, xe đi ngang qua nhà, hai người ép tôi cùng đi và trên xe, ông Đảnh tỏ ý tiếc thay mình ra đi, ông vô toà bố dường như thiếu một người. Ông nói một câu tiếng Pháp: “Je sen ùn vi de autour de moi” (Tôi có cảm tưởng thấy một khoảng trống chung quanh bao vây tôi). Ông than: “Anh đi rồi, bá ban vạn sự đều trút dồn về một tay tôi, nên ngã lòng quá”. Đoạn ông tâm sự: “Đánh trống động chuông, bứt mây động rừng”. Tôi với Nghĩa là bạn thâm giao, tôi lại mang tiếng nhờ Nghĩa “cử lên ngai vàng nầy”. Nay dẫu có vì tại Nghĩa mà hư hỏng việc trị an, tôi mang danh bất tài, thì cũng đành liều cho mang tiếng luôn. Chừng ấy có lẽ tôi sẽ đặng an ủi: “Ôi! Nên cũng Hà mà hư cũng Hà”.
Ngày 7-6-1945, có gánh Việt Nam kịch đoàn xuống diễn tại Sốc Trăng của chánh phủ trong đoàn có cô Năm Phỉ, người tôi mơ ước và đã nói nhiều trong “Năm chục năm mê hát” (trang 99). Gặp nhau, nghẹn lời vì tôi đã có bạn, và cô danh tiếng lẫy lừng, một đoá hoa, đang thời xuân sắc, ong bay bướm liệng chung quanh dập dìu.
Cùng đi với Việt Nam kịch đoàn, có ban chớp bóng của Sở Thông tin Sài Gòn xuống tuyên truyền. Ăn cơm tại Câu lạc bộ gọi Cercle de Sốc Trăng, do chủ tỉnh đãi Cô Năm và mười người tai mắt trong xứ của ông Cò-mí dẫn đoàn chớp bóng. Tuy đã nghỉ việc, nhưng người đẹp mời ngồi gần và không xiết gọi mình ông Phó nầy, ông phó kia, nghe nhột nhạt mà không dám mở lời cải chính. Tiệc xong, đi xem diễn tuồng “Vì đâu nên nỗi”. Ghế mời R.5 và R.6 (R, là réservé: ghế dành riêng), khi chưa làm tuồng, Cô Năm còn xuống ngồi gần hàn thuyên tâm sự, cô hẹn chấn chắn sẽ đến nhà ăn “ăn cơm một bữa, như buổi còn ăn chén hột gà chưng trên Chợ Lớn”, báo hại mình mãi ấp cây chờ thỏ, sau rõ lại Cô chọn đi dùng bữa tại nhà ông Hội đồng Quản hạt Nguyễn Văn Nhung bên Bãi Xàu và đi khiêu vũ trên đồn điền Robert Labsthe ở Hélène-ville (phụng Hiệp), hai nơi nầy cố nhiên sang trọng hơn nhà lên thơ ký tiếm vị Phó tỉnh trưởng, để gái bao ăn hột gà chưng năm xưa.
Ngày 22-6. Ông Phủ Hồ Văn Xuân được lịnh đổi đi làm chủ quận Long Mỹ (Rạch Giá). Tiệc tiễn biệt có đánh thín cẩu.
Ngày 27-6 hội quán Quảng Đông mời dự tiệc đãi sĩ quan hiến binh Nhựt. Đánh tửu rất vui, rượu bia rót đầy ly uống không bao giờ cạn. Say và làm mất một kỷ vật quí, đó là ống điếu hút thuốc vấn bằng bích ngọc rất cổ.
Ngày 27-6, dự tiệc ông Đảnh gả con, rể là một tham tá lục sự ở Vĩnh Long. Nhóm họ và chơi thín cẩu tại dinh chủ tỉnh! Tiệc cảm động vì ông Đảnh trao hết tiền hồ và sính vật cho con và rể trước mặt họ hàng và sui gia. Thực đơn viết toàn Việt ngữ, như vầy:
Hôtel Inspection- Sốc Trăng ngày 27-1945 (23 tháng 5 năm Ất Dậu) (nhóm họ)
Long đình ngư bì (canh da cá bóng)
Phụng thể kim hoa (Gà lôi đúc lò)
Mạch tửu chữ dương Dê tơ nấu rượu.
Đại hồng bưu thạch (Heo con đúc lò)
Liệt thiêu tiền ngư (Cá bống chiên)
Thập trận đại hội (cù-lao lửa)
Ngọc chủng Lam-điền (Cơm, cá, thịt kho)
Quả bỉnh song hiệp (trái cây, bánh ngọt)
Hương băng thanh vị (bom lách-xê)
Võ Văn Đảnh và nội nhân đốn thỉnh.
Ngày 7-7, dự lễ tứ tuần chị Emilie Pennen là vợ trước ông Nguyễn An Ninh.
Ngày 14-7, máy bay Mỹ bắn chiếc xe hơi chạy trên đường Văn Cơ – Đại Ngãi. Lúc bắn vào lối 12 giờ khuya. Chết ba người: hai người theo xe đi rước thầy, và ông đông y sĩ Thầy Tàu, mọi lần rước bằng xe lôi không sao, hôm nay sanh sứa đòi ngự xe ôtô, và vì đèn pha rọi sáng, nên máy bay Mỹ bắn theo chết tốt. Rạng ngày lên nhà xác nhìn kẻ lòi mắt, người văng óc, máu me đỏ lòng, ghê quá. Chiến tranh diễn ngoài Đông Dương đã trở nên khốc liệt và tỉnh nhỏ Sốc Trăng vẫn còn mê ngủ như các tỉnh nhỏ khác. Người Nhựt bắt đầu bại trận mà còn giấu.
Ngày 4-8, một ngày mà được mời dự ba bữa tiệc, cậu Ba Etienne mời đám giỗ cúng cha; ông Nghĩa đãi thân bằng lương hữu (đã nói nơi đoạn trước), và ông mời đãi thiếu uý Nhựt Watanabé.
Nhơn tiệc nầy, mình say, đòi ông Watanabé cho xem gươm báu, nghe mình xin như vậy, ông Watanabé tái mặt, trâm một hơi tiếng Nhựt với Sệp Hên là thông dịch rằng gươm rút ra khỏi vỏ phải có vấy máu mới trở vào vỏ được. Đến phiên mình xanh mặt hết say và xin rút lời nói vụng về. Ông Watanabé nhứt quyết không nghe, nắm tay mình và dắt Sếp Hên ra sân sau Câu lạc bộ, chỗ có trồng bụi chuối. Mình tưởng giờ tử hình đã đến, ông tuốt gươm sáng quắc mời mình xem lưỡi gươm hồn bất phụ thực, mình nào dám nhìn. Bỗng nghe một tiếng “phụp” một cây chuối to lớn ngã cái “rột”, ông Watanabé cười mà rằng: “Chuối thế mạng người”. Watanabé đưa tôi trở lại tiệc hồn tôi lâu lắm mới nhập, và từ ấy tôi không dám hở hang lời nói nữa. Mãn tiệc vội nghe tin ông Nghĩa, đứt gân máu lại là một bài học khác cùng một ngày cho kẻ dẫu ham rượu cách mấy cũng phải chừa. Nhưng trên đời có mấy thằng ham rượu, thề thốt đinh ninh rồi biết giữ lời?
Đêm nay, tiệc tan, thiếu uý Watanabé lui về, còn lai hai bợm rượu Nhựt, một đội trưởng và một tài xế, kẹp cổ tôi bảo dắt lên nhà Ba Chỉ, lựa ba cô đưa nhau trở lại Lữ quán băng-ga-lô chọn ba phòng.
Sáng ngày, ông Đảnh hay, dạy tìm ra cho ra khoản trả tiền: ba cô ba chục là chín chục, tiền phòng mười tám đồng (sáu đồng nhân cho ba), vị chi một trăm lẻ tám đồng cả thảy. Mấy đời có ai đánh bài công khai dinh tỉnh trưởng và được xuất công nho bao tiền trả gái.
Ngày 10-8- Từ đây, sự việc diễn biến đột ngột và quá mau, không theo và không hiểu kịp. Mới ngày 4-8 còn yến ẩm cười nói vô tư lự, hôm nay 10-8 lối mười giờ khuya, có tiếng gõ cửa gấp.
Ông Watanabé cùng đi với Sệp Hên, mặt buồn lắm, đến từ giã, rằng có việc đi xa và xin gởi tôi một báu vật. Tôi tỏ vẻ ưng thuận. Watanabé bèn gỡ cây gươm đeo bên mình, trân trọng hai tay đưa tôi, và rằng: “Cho xin gởi và khéo giữ gìn. Như hai năm nữa không trở lại thì xin tặng luôn làm vật kỷ niệm, bảo kiếm nầy đã lưu truyền đến tôi là ba đời”. Than ôi. Trong bước truân chuyên lao đao lận đận, tôi mỏi mắt chờ trông mà cố nhân Watanabé nào thấy dạng hình, duy bảo kiếm vẫn còn treo mãi trên vách. Thân tôi trói gà không chặt, mang tiếng là học giả mà câu văn viết chưa gọn, thêm tuổi già lẩn thẩn theo sau, ông giao cho tôi làm chi binh khí chỉ báu trong tay nhà tướng, nội chuyện ông chém chuối, nhớ lai tôi đủ lạnh mình (Té ra ngày 10-8 đã có tin hai trái bom nguyên tứ Mỹ thả xuống Hiroshima rồi và Nhựt sắp đầu hàng mà ông Watanabé rất kín miệng, còn giữ bí mật với tôi. Và ông gởi gươm mà không nói).
Ngày 10-8, tôi đến thăm ông đốc Nghĩa.
Ngày 13-8, Thanh niên tiền phong thành lập tại Sốc Trăng và làm lễ ra mắt (14-8). Ông chủ tỉnh cậy tôi đại diện, giới thiệu thủ lãnh Dương Văn Đen với công chúng. Tạ Bá Tòng diễn thuyết về mục đích của Thanh niên tiền phong.
Ngày 12-8, tin Nhựt đầu hàng Đồng Minh đồn rùm. Bọn chợ đen nhạy hơi, bán đổ bán tháo vật tích trữ lâu nay, vì biết rằng chiến tranh sắp dứt.
Có tin đáng mừng là Đồng Minh sẽ tuyên bố độc lập cho tất cả các nước bấy lâu bị bắt làm thuộc địa của các nước Tây phương giàu mạnh. Duy tình trạng Nam phần Việt Nam rồi sẽ ra sao?
Vấn đề nầy rất lâu không dứt khoát. Trong buổi nhóm tại Long Xuyên, trước mặt thân hào nhân sĩ và ông phủ Nguyễn Văn Tiếp làm chủ tỉnh tạm thời, ngày 30-3-1945, ông Satoh là Phó Thống đốc thay mặt ông Minoda thống đốc và có quyền hành rất lớn, đã nhạy miệng thổ lộ như sau:
Nguyên văn bằng chữ Pháp:
“II y a un gros malentendu au sujet de l’indépendance de l’Indochine. Celle-ci toute entière ;st sous le contrôle “militaire du Japon. L’indépendance de ‘Empire d’Annam et du royaume du Cambodge a été proclamée. La Cochinchine, non seulement se trouve sous” le contrôle militaire nais encore sous l’administration militaire japonaise. Donc, pas l’indépendance de la Cochinchine.
“Juridiquement, la Cochinchine était un pays franais! Juridiquement” vous étiez Franais. Vous étuez tous, sujets ‘rancais, c’est-à-dire des” Franais. Il y aurait bientôt une procla-nation du Commandant en chef de” l’Armée japonaise. Vous allé? conquérir probablement la nationalité annamite. Au point de vue sentimental, je comprends que vous sentez annamites. Les habiants pourront donc pavoiser leurs maisons aux couleurs annamites. Pour les bâtiments publics, n’arborez pas le drapeau annamite, on pourrait dire que c’est l’Empire d’Annam qui gouverne la Cochinchine. Je ne sais pas quand cela arrivera. Personnellement, j’en serais heureux, mais maintenant vous êtes sous l’Administration militaire japonaise.
“M. le Vice-Gouverneur insiste: “L’Empire d’Annam abrogé le traité de protectorat avec la France. L’Empire d’Annam était un pays protégé, et la Cochinchine était une terre franaise, maintenant, elle est sous le contrôle militaire japonais, (extrait du compte-rendu du passage de Monsieur le Vice-Gouverneur Satoh à Long Xuyen le 30 Mars 1945).
Tôi xin tạm dịch:
“Hiện có một hiểu lầm rất lớn về chế độ độc lập của Đông Dương. Cho hay toàn cõi vẫn ở dưới quyền điều khiển của nhà binh Nhựt. Sự độc lập của đế quốc An Nam và của vương quốc Cao Miên đã được tuyên bô. Nhưng cõi Nam Kỳ vẫn dưới quyền kiểm soát và dưới quyền cai trị của nền hành chính quân đội Nhựt. Và như thế đâu có độc lập cho xứ Nam Kỳ.
Đối với mặt luật, thì Nam Kỳ trước đây là một lãnh thổ thuộc Pháp. Đối với mặt luật, mấy ông đây đều là Pháp. Các ông đều là thần dân của Pháp tức người Pháp đó chi! Sắp có bản tuyên bố của quan tổng tư lịnh tổng quân đội Nhựt. Các ông sẽ thâu hồi đại khái quốc tịch An Nam. Luận về tình cảm, tôi hiểu được ông muôn được làm dân An Nam. Như vậy dân sự vẫn được treo quốc kỳ An Nam. Nhưng dinh thự công cộng không nên treo cờ An Nam, không khéo có người sẽ nói đế quốc An Nam ngự trị trên đất Nam Kỳ. Tôi chưa biêt việc ấy chừng nào sẽ đến. Riêng tôi, nếu chuyện nầy xảy đến, tôi sẽ rất vui mừng. Nhưng hiện nay các ông vẫn được đạt dưới quyền cai trị của nhà binh Nhựt”.
Phó Thống đốc Satoh lại tiếp:
“Đế quốc An Nam đã thủ tiêu tờ điều ước đô hộ của Pháp quôc. Đế quốc An Nam trước đây là một nước bị đô hộ, còn Nam Kỳ trước đây vẫn là một lãnh thổ Pháp, nay bị đặt dưới quyền kiểm soát của quân đội Nhựt…” (trích bản phúc trình cuộc tuần du tai Iong Xuyên của Phó Thống đốc Satoh ngày 30/3-1945 hiện cất giữ tại nhà).
Than ôi! Một cục mỡ béo treo trước miệng mèo, một miếng thịt bít-tết ngon lành treo trước mõm chó, đất Nam Kỳ là một thiên đàng dưới dương gian, thảo nào người ta không thèm thuồng, hễ vớ được rồi là quyết ngoặc lại cho chắc, bao giờ chịu nhả ra! Lại còn giả đạo đức, lấy luật nầy luật kia ra nói! Cho nên sau nầy dẫu thua sát nước mà họ vẫn kiên trì không chịu trả Nam Kỳ lại cho ta, và khi cùng phương đối đế, không giữ được nữa họ mới đành buông bằng cách chôn súng rồi chỉ chỗ cho lấy, vân vân…
Ngày 19-8, có cuộc biểu tình mừng độc lập và hoan nghinh ông Nguyễn Văn Sâm được vua Bảo Đại phong làm khâm sai Nam Bộ, Hồ Văn Ngà làm phó khâm sai.
Ngày 20-8, Thanh niên tiền phong biểu tình.
Ngày 25-8, Nội các Trần Trọng Kim đổ, Nguyễn Văn Sâm từ chức theo, Hồ Văn Ngà nhượng bộ. Có tin Bảo Đại thoái vị. Thiệt là quá mau và tỉnh nhỏ Sốc Trăng nào hiểu biết gì. Toàn thể công chức chỉ biết vâng vâng dạ dạ, sai gì làm nấy.
Ngày 26-8, lễ tuyên thệ của Thanh niên tiền phong trên sân vận động Chung Đôn.
Ngày 27-8, đúng ngày mình vô làm nơi Trường Máy, nay đã được 22 năm kể từ 27-8-1923. Ông Đảnh mời vô toà bố nhờ viết bài xin trả chức.
Ngày 29-8, nửa đêm nghe tiếng còi báo động, sáng hay tin ông Đảnh chủ tịch, ông Sang bác sĩ, ông Quế chủ sự Dây Thép và ông Sính trưởng toà bị thanh niên bắt rồi thả. Ngồi nhà, tâm trí ngổn ngang, nghĩ lại thương ông Đảnh tốt với mình quá, biết bao giờ gặp một người tri kỷ như vầy. Đọc lại bút tích ông viết mấy tháng trước: “Tất cả những vấn đề nào anh làm đặng, trả lời được thì nhờ anh cứ trả lời và giải quyết thế tôi. Người nào, quan khách nào tôi không rước thì anh cứ rước và trả lời “en l’air” (sic) cho xuôi việc và gởi đi lịch sự thôi”. (Võ cố nhân ôi, ngày nay tôi đọc mà còn ưa nước mắt).
Về tình nghĩa thầy trò, lúc tôi còn làm, tôi có nhận của một ân sư một giấy xin lãnh coi sóc lữ xá băng-ga-lô, một ân sư khác can thiệp cho bồi cũ ông chánh B, xin một chân lính cảnh sát. Hai việc đều ngoài phạm vi của tôi vả lại trái với lương tâm. Hai thầy nay đã năm yên dưới ba tấc đất, xin tha thứ cho con? Không phải con quên ơn hai thầy, nhưng xin thầy hiểu việc công đâu làm như việc tư được?
Ngày 2-9, Việt Minh biểu tình lần thứ nhất, tại Sốc Trăng vào mười bốn giờ chiều. Lưu Trọng Quyền dẫn theo một tù xa đề: “Bắt cóc bọn thân thiện với Pháp”. Sai may cờ mới treo trước cửa và dự biểu tình cho đến mãn cuộc.
Ngày 5-9, thanh tra miền Tây của Lâm uỷ hành chánh là ông Nguyễn Văn Tây, cùng đi với Chung Bá Khánh, trước học Chasseloup, đại diện Phật giáo Hoà Hảo, xuống Sốc Trăng diễn thuyết nhìn nhận ông Đảnh coi về cai trị. Thành lập Uỷ ban địa hạt gồm Dương Kỳ Hiệp (em cột chèo ông Nghĩa) làm chủ tịch, Tạ Bá Tòng làm phó chủ tịch. Cố vấn: ông Trương Đại Lượng đại diện Hoà Hảo và Sơn Thái Nguyên đại diện người Việt gốc Miên.
Ngày 7-9, Cần Thơ có lộn xộn, Hoà Hảo giành quyền cai trị. Thanh niên Sốc Trăng và Bạc Liêu kéo lên hiệp với thanh niên Cần Thơ mới dàn xếp xong.
Ngày 9-9, tiễn ông Lý Bình Huê toà Sốc Trăng, lên làm cố vấn Bộ Tư Pháp. Thanh niên bắt mấy người theo Hoà Hảo: Trương Đại Lượng, Lý Công Quận, Nguyễn Hữu Trinh (ngoài gọi Xã Mười Trinh) nghiệp chủ lớn, con bà Cả Tru.
Kể từ ông Đảnh có Uỷ ban hành chánh lâm thời giúp việc cai trị, mình trở nên “hưu thiệt thọ” và lãnh phận sự thay mặt Uỷ ban tiễn đưa chiến sĩ từ trần:
– Ngày 21-11-1945, điếu Phan Thành Mỹ chết trận Cái Tắc, người thứ nhất nằm nghĩa địa mới lập trước trại lính tập cũ nay không biết còn chăng?
– Ngày 22-11-1945, đọc ai điếu nhơn lễ truy điệu trận vong tướng sĩ;
– Ngày 23-11-1945 ứng khẩu khóc tại mộ anh Nguyễn Văn Chức, 37 tuổi, thợ hồ;
– Ngày 1-12-1945, khóc tiễn trước mộ chung “chiến sĩ trận vong”, anh Lâm Văn Hai tự Lén, 25 tuổi, đánh xe ngựa con ông Lâm Văn Xện, có nhà và chuồng ngựa trước trại ruộng của mình trên mé kinh và mé lộ dưới đường đi Bãi Xàu. Anh Lén chết mất xác ở Cần Thơ trong trận đánh du kích chống quân Pháp. Tôi khóc anh Lén thật tình và người chung quanh cũng khóc với tôi. Đời còn lắm phong ba, chết là yên, sống thừa thêm khổ.
Ngày 15-12-1945, đọc ai điếu nhơn lễ truy điệu chiến sĩ trận vong lần nữa.
Tuy khóc thật tình, nhưng nước mắt vẫn còn, và biết bao giờ cạn. Và đời vẫn còn thừa chuyện tếu, bắt buộc phải lau nước mắt để cười, mới sống được đến hôm nay.
Năm 1945, tôi không giữ nhật ký vì lịch bỏ túi không đâu có bán thêm nữa có lệnh cấm ngặt không cho ghi chép vì e lọt tay địch thù? Đêm 24-9, lối 2 giờ khuya, tôi được mời vô khám đến 27-9 lối 10 giờ sáng thì thả. Nhưng nhớ lại lúc đó trời bắt đầu có gió lạnh và sắp dứt mua. Có hai mươi ngoài người như tôi, trong ấy còn nhớ có Phán Kiểng, hội đồng Nhung, bác sĩ Sang, nhất là ông trưởng toà Sính, vì quá lật đật quên đem hàm răng rời theo, sáng ngày anh em ngồi chò hỏ ngó mặt nhau buồn nghiến vì sợ ở luôn đây với tết thì xui xẻo lắm. Có Phán Lợi ăn cưới về còn mặc nguyên com-lê nỉ đen, thảy đều do Chủ tịch mới hội nghị gấp mười một mười hai giờ khuya, bác sĩ S. tay còn xách túi da đựng thuốc vì chiều bữa đó ông được mời đi đón anh em ở Côn Đảo về, tội nghiệp nhất là ông trưởng toà S, quên đem theo hàm răng giả, nên sáng ra ở nhà đem cơm vô chúng tôi được hưởng trọn những gì ngon giòn còn ông chỉ trệu trạo và nuốt cơm lạt, ở được vài hôm cũng vừa quen quen với nhà pha Sốc Trăng nầy, bỗng chiều bữa nọ, cơm nước vừa xong, bác sĩ vốn là bạn thân từ lúc nhỏ, nay thêm thân vì đồng cảnh ngộ làm tù, hai đứa tôi đang cùng đi bách bộ trong khám cho đỡ tù túng chân giò. Thoạt nghe từ một trại giam bít bùng, có tiếng ai lên dây đờn cò réo rắt. Bác sĩ lấy mắt hỏi tôi, tôi cười và nói nhỏ rằng: “Thời buổi loạn ly, nếu họ cho phép đem đờn vào khám thì e chúng mình còn ở đây lâu, vì trật tự không còn và một khi trật tự đã mất, thì người ta ở ngoài sẽ quên mình và đôi ta sẽ khó trông cậy vào công bằng soi xét”. Nhưng rồi cũng quên đi… Ngờ đâu qua hôm sau, chiều đến vào đúng giờ ấy, lại nghe giọng đờn nữa, và phen nầy càng nhức nhối não nùng hơn đêm trước nhiều:
“Nghe não nuột mấy dây buôn bực,
Dường than niềm tấm tức bấy lâu” (Tỳ bà).
Không thể chịu được nữa, bác sĩ và tôi phăng lần theo hướng có tiếng đàn. Qua khỏi sân nhà xay lúa và giã gạo thì đến khám giam tội tử hình, quen gọi khám tối. Trong một khuôn cửa sầu thảm âm u, bỗng vọng ra tiếng đàn rõ rệt. Buổi ấy lính tráng cũng thật tình dễ dãi. Vả chăng hai tôi vẫn là bực đàn anh trong xứ, một người là bác sĩ chủ sở y tế địa phương có tiếng là hiền từ nhơn đức còn tôi dầu sao đi nữa mới mấy ngày trước còn ràng ràng vẫn được thanh niên yêu vì bầu cử lên làm phó tỉnh trưởng một thời gian, có quyền ký sổ mua gạo mua thực phẩm nuôi tù, vì các lẽ ấy nên xếp khám là ông Quản Lý (tên Lý) vẫn tha hồ để chúng tôi đi đi lại lại trong khám không một lời khiển trách. Nhờ vậy chúng tôi bước trờ tới cửa sổ nơi phát ra tiếng đờn. Chúng tôi định thần nhìn kỹ giây lâu, thấy lần lần hiện ra một bóng người trần truồng ngồi đưa lưng ra cửa, chân còng trong một cây cùm sắt to bằng cườm tay người lớn. Lúc ấy tiếng đàn đã bặt từ nãy giờ. Tôi lên tiếng hỏi và không quên búng mạnh vào một điếu Bách-tô đốt sẵn ngay chỗ có tiếng người. Bỗng thấy lẹ như chớp, người ấy tay chụp điếu thuốc, hít một hơi dài gần như nuốt mất cả khói, tay kia vội vội kéo manh đệm che phân nửa khúc thân dưới quá loã lồ, một cử chỉ tuyệt nhã đối với một tử tù bắt tôi băn khoăn nhớ cảnh “đàn che nửa mặt bến Tầm Dương” và nước mắt tôi bỗng rơi vì xúc cảm. Đoạn người ấy lễ phép thưa: “Dạ, không phải tôi đàn, ấy tôi hút gió bằng miệng mà thôi”. Nhơn chúng tôi hỏi vì tôi chi mà thân bị nhốt khám đại hình, bỗng người ấy đáp: “Trước kia làm nghề đi bạn ghe chài, chẳng may chủ chở đạn dược súng lậu Nhật chận bắt, chủ thuyền, lái và thuỷ thủ có dư tiền lo lót nên đều thoát khỏi vòng lao lý, duy thân nầy nghèo khổ trơ trọi, còn sót lại nằm đây, không biết ngày mai ra sao!”.
Người ấy nói tiếp nếu có được trong tay một chót đuôi lá trầu hay một cạnh lá gì cũng mặc, sẽ lấy đó làm “lưỡi gà” và tiếng kêu càng giòn càng giống hệt tiếng đàn cò hay tiếng kèn hơn nữa, và khi ấy muốn thổi bản nào, giọng nào, dây hơi nào, đều dám chắc không thua đàn thiệt. Chúng tôi cũng ngồi tù như anh, trong tay không có lá nào, vậy xin cho nghe một buổi đàn miệng suông cũng đủ là thoả nguyện. Nghe làm vậy, người ấy bèn giụm hai tay trước mồm, thọc hai ngón trỏ vào họng, rồi vừa thổi ra vừa hít hơi vào quả thật chúng tôi đứng nghe khoái trá đến quên cả cảnh tù đày và chỉ nhớ và thèm thuồng đây là một nghệ thuật độc đáo, có một không hai.
Cũng trong đêm ấy, cửa ngục thoạt mở cho chúng tôi ra khỏi khám đường Sốc Trăng, nhớ lại chúng tôi đà trải qua bốn ngày bôn đêm trong nầy. Kế liên tiếp và dồn dập sự biến chuyển của thời cuộc năm Ất Dậu, Bính Tuất (1945 – 1946) tới mãi không ngừng, chúng tôi khiếp nhược chỉ biết lo cho thân, khiến cho đến nay, tin tức âm hao người nghệ sĩ xấu số kia cũng bặt, sống chết không hay.
Đã mấy lần về thăm nhà, có người chỉ biết nghệ sĩ ấy quê ở Đại Ngãi, mà tông tích thế nào không ai biết.
Trong những buổi tiếp xúc với người Nhựt, bất cứ với quân đội hiến binh hay sĩ quan, tôi luôn luôn giữ thái độ mềm mỏng nhưng bất khuất, không bao giờ bợ đỡ, biết thì nói, không biết thì thưa không biết. Chủ trương của tôi là giữ lợi khí duy nhứt của kẻ yếu là ăn ngay nói thật. Tôi hiểu rằng đối với người có binh khí cầm tay, nhứt là đối với người Nhựt mộc mạc, nóng tính, ghét dối trá một khi bắt được nói dối thì chăng bao giờ nghe nữa. Như vậy là mình tìm cái chết. Trái lại dịu ngọt và nhỏ nhẹ, giữ đúng tiếng nói của lương tâm, thì hoạ may đổi con sư tử ra con trừu. Vả lại trong thời kỳ chiến tranh, mạng người rẻ hơn bèo. Bao giờ mình là người thụ động, bị ở trong cảnh đánh giặc, chớ lòng nào gây chiến với ai? Từ khi tôi thôi làm, có vấn đề nào éo le, cần nói chuyện với cơ quan Nhựt tại tỉnh, ông Đảnh thường cậy tôi dàn xếp và ông thường viết câu: “Anh rán hát cho hay…”. Mỗi khi có tiệc tùng, người Nhựt thường buộc tôi có mặt. Những khi như vậy, lòng nào muốn mà cũng phải đi, cũng vì tánh nhát sợ có sự hiểu lầm. Khi tôi thôi việc, họ thường nhắc nhở. Trong thơ viết từ giã yêu cầu cho thôi để hưởng hưu bổng, có câu nầy nay đọc lại thấy xấc: “Tôi không xin xỏ cũng không van nài, cũng không tìm cách từ chối bằng lối si-mê hay xu mị, kiêu ngầm hay chọc tức. Ngày nào quý vị biết rõ tôi là “đại chi vô dụng” (như cây cỏ dại mọc xó hè) và dể tôi yên thân, ngày ấy tôi mới thật mừng”. Câu nầy không phải của tôi và tôi lấy ý của Chateaubriand, nhưng không đủ tài dịch rõ hơn: “Je ne demande rien, je ne sollicite rien, je ne veux mettre ni passion, ni orgueil, ai taquinerỉe à refuser, mai aussi je sentirai une vraie joie, le Jour cù il ser arrêté que je ne sui bon à rien ét qưil faut me planter là”.
Khi bị ép ra làm, tôi có nghĩ hai câu đến nay chưa bằng bụng vì tôi không có khiếu về thơ tuy có tánh song tàng, ưa mượn của kẻ khác, hoặc làm thơ con cóc:
Lầu xanh dời lạt lầu hồng,
miệng ngoài nói cứng mà lòng đã ưng.
Lầu xanh xé giấy khoan mừng,
Giấy kia dầu xé cũng từng lầu xanh!
1945-1946-1947
TỪ ĐÂY GIA ĐÌNH BẮT ĐẦU TAN!
THÂN NHƯ CON VỊT QUAY TÍT!
Ý ĐỊNH KHÔNG MUỐN SỐNG!
– 18-12-1945( 16/2-1946: tản cư vô Hoà Tú;
– 25-10-1946 ( 15-11-1946: tản cư lên Kế Sách;
– 7-7-1947 ( rời Sốc Trăng chạy tuốt lên Sài Gòn.
Vô khám Sốc Trăng nếm mùi cơm gạo lức nước phong-tên vì tôi nhứt định gặp cảnh nào theo cảnh nấy, nên không cho người nhà đem cơm vô. Tôi thản nhiên cười nói như ở ngoài đời, anh em đều lấy làm lạ, hoặc cho tôi lập dị. Trưởng toà Sính là người nhiều phong kiến, một hai đòi xin giam chỗ khác, không ở chung với thường phạm; tôi không đồng ý, cho rằng “tố nào theo tố nấy” như vậy mà yên thân hơn, tách ra riêng chăng may bị bỏ rơi đói khát, hoặc họ phóng hoả chết cháy cũng chưa biết được, đã oan mạng, thêm mang tiếng tự mình lựa cái chết. Ông Sính nghe được, mới chịu thôi, không kêu nài. Vả chăng kêu nài cũng không ai nghe.
Tưởng ở đây đến Tết, ngờ đâu 2 giờ khuya hôm 24-9 vô đây đến 10 giờ sáng 27-9-1945 cửa khám mở rộng cho về; đi bộ từ ngục về tới nhà, tay ôm chiếc chiếu lác đã xười, vì tật chơi đồ cổ không bỏ và dầu sao cũng là vật kỷ niệm bốn ngày Dũ-lý. Về nhà bế môn không tiếp khách, duy tiếp một người như ruột rà là em Kim Chi, đến thăm chúa nhật 30-9, là bạn thân của cả vợ và chồng.
Mua hai trăm ký gạo giá tám mươi bốn đồng (84$00), không như bây giờ 1975, một bao trăm ký trên 20.000$.
Ngày 11-10 cho đến ngày 21-10, tản cư xuống trại ruộng lộ nhỏ đường đi Bãi Xàu vì tuân lịnh Uỷ ban kháng chiến. Nhưng ở đây cũng không được yên, vì tuy khách không đến khuấy rầy, nhưng tối bữa 13-10 (đêm 8 qua 9 tháng 9 Ất Dậu) có quân tử ngồi rường đến viếng; không trộm của mình mà nhè áo quần tế nhuyễn của ông bà công táp Huỳnh Văn Đạo ôm sạch. anh em làm sao biện minh? 21-10, dọn trở về nhà cũ, 31 đường Đại Ngãi. Lúc nầy thành phố sôi sục, nạn cướp bóc trong các làng xa do giặc Thổ khuấy, tin Sài Gòn rất xấu chưa biết chừng nào bọn Tây xuống đây. Ở nhà cũng không yên, Tư thường đi vắng, qua nhà anh là Tường Khi canh bài, khi gặp Thân. Mối tình đầm thẩm khi nghèo, nay đã manh nha tan rã…
Ngàv 9-12 là ngày 10-12 (5 và 6 tháng 11 Ất Dậu) gặp lại bạn cũ hội Khuyến học Sài Gòn là anh Ngô Quang Huy, chạy xuống đây, chia nhau giấy quyến hút thuốc vì đều là bợm ghiền thuốc điếu. Huy cho hay vài tin tức Sài Gòn, rồi từ giã nói lên đường đi Cao Lãnh.
Ngày 16-12, em là Vương Minh Quang dọn đồ đạc, ghế tràng kỷ, tủ áo xuống ghe và đưa thân phụ chạy về tản cư bên quê vợ ở làng Thạnh Thới An, sau bị giặc Thổ đốt phá cướp sạch luôn độ nghề làm thợ bạc, bàn cán là vật kỷ liệm thân phụ trân trọng về sau tiếc mãi. Thổ tàn ác, lột sạch, thân phụ phải đóng khố bằng vải mùng rách mà bọn chúng còn muốn không buông tha tánh mạng. Mấy hôm sau, Quang qua Hoà Tú gặp mình, mình tạm gởi mớ áo quần đỡ ngặt và phụ thân bớt lạnh đêm đông.
Ngày 17-12-1945, thanh niên đến nhà treo đồ bổi lá khô trên trình thượng hai căn phố 31 và 33 của thân phụ, ép mình ký tên cho phép đốt nhà “tiêu thổ khi có giặc Tây đến. (Về sau nhà cháy, nhưng bên bang “Công sở Quảng Đông” ở sát vách qua cứu kịp, khỏi bị hoả tai. Lúc tản cư trở về, nhà còn y, duy nám sém cửa sổ)
Cùng trong ngày, mình về dọn đưa lư hương vừa nhang qua tạm để góc tre sau trại ruộng dường Bãi Xàu, tản cư về, bát nhang ông bà còn y nguyên, vô sự.
Ngày 18-12-1945, đến lượt mình dọn hết đồ đạc sách vở đồ đưa xuống ghe tản cư vô ở nhờ nhà Trần Đắc Lợi (Chủ Lý) làng Hoà Tú. Ngày 19-12, ghe vô tới nơi, dọn lên.
Ngày 26-12, dự xem thanh niên diễn tuồng ái quốc tại nhà Chủ Lỹ.
Ngày 27-12-1945, dùng tiệc cơm Tàu nhà Trần Kế Vĩnh do chú Chín Cảo đứng nấu. Cũng vì tánh ham cao lương mỹ vị, mà chạy bỏ xừ mấy phen, nhưng chưa thấy tởn. Ngày nay vùng nầy không còn một cục gạch di tích sự nghiệp xưa, chớ xóm bà Hương Chanh nầy, trước năm 1945 là một vùng sum mậu nhứt:
– Nhà Ba Chen là một villa khang trang đẹp đẽ, nhiều nhà vùng Sài Gòn Gia Định ngày nay cũng khó sánh về mỹ thuật; em gái Chen là cô Tư, làm bánh, nấu bếp khéo vô song.
– Nhà Chủ Lỹ, là một ngôi nhà cổ ba căn, lẫm lúa cội núi dăng dăng. Lỹ là tay hào kiệt coi tiền như đất, mấy năm tản cư, đồng bào chạy ngang đều được tiếp tế đầy đủ. Gạo lúa muốn xúc bao nhiêu anh không bao giờ nói, vì tánh anh là người tiền phong, anh nuôi ý tưởng xã hội chủ nghĩa và vẫn xem tiền là phù vân, là nước bọt. Nếu có khả trách là trách anh vốn đệ tử tiên nâu, hút đến phá sản. Khi anh nằm xuống, ruộng vườn ông hà để lại không còn (nên khỏi bị truất hữu) đuy còn một chút ruộng hương hoả thì vợ con cũng chưa lãnh, vì trục trặc giấy tờ.
– Không đẹp mà khoái lạc nhứt là cơ ngơi của Trần Kế Vĩnh, ngoài gọi cậu Hai Vĩnh. Nhà ở là một nhà lầu của ông bà để lại, tuy thấp xưa mà kiên cố: vách tường dày ba lớp gạch (vách ba mươi), bọc thêm bên trong một lớp hàng rào sắt ba phân tròn, không sợ giặc cướp buổi đó. Nhà cất nối dài, nhờ vậy sau tôi dọn về đây, lại có dịp bành trướng tủ sách sập vàng y như lúc ở chợ Sốc Trăng. Nhưng chỗ tôi thích nhứt là vườn rau của Hai Vĩnh và ao nuôi cá tôm. Mương đào nước chảy thì Vĩnh nuôi cá, đủ thứ đủ giống từ cá trê vàng lườm, và tôm, loại tôm càng thật lớn con, giờ nào buổi nào có khách tới muốn ăn thức gì đều có sẵn, từ tôm nhúng giấm đến tôm luộc, tôm nướng, qua cá nướng trụi hoặc xắt lát mỏng nhúng tái ăn “tạp-pín-lù” (gọi ăn cù lao). Nhà Vĩnh tư niên chứa đủ rượu Tây ngon, rượu khai vị Martel, rượu sâm banh, chỉ thiếu nước đá, vì thuở ấy khó sắm tủ fri-gi-đe chạy dầu hôi, kỳ dư tàu vị yểu, nước chấm maggi, nước mắm hòn không bao giờ thiếu. Vĩnh không tiếc tiền, dọn ruộng đắp đất làm được một sân túc cầu trồng cỏ còn khéo và đều đặn hơn sân đá banh vườn ông Thượng Sài Gòn. Nhưng tuyệt đẹp tuyệt mỹ và bất ngờ nhứt giữa cảnh đồng khô cỏ cháy nước mặn là vườn rau Hai Vĩnh bốn mùa có đủ ớt cay, củ sả, nghệ vàng, ngải bún, và các thứ rau ngoại quốc chỉ hạ thuỷ thổ với Đà Lạt như xa-lách xon (cresson), xa-lách Đà Lạt, luôn cả khoai Tây (pomme de terre) béo bùi không chút sượng. Vĩnh có đến ba đầu bếp chuyên môn nấu theo Tây Tàu và Ta. Như đã nói bởi ham ăn khoái khẩu mà xuýt chút nữa tôi đã chôn xác và bỏ cả gia tài nơi điền Bà Hương Chanh nầy.
Năm 1946 (Bính Tuất) tin dồn dập đến tôi tại Hoà Tú và đều là tin xấu, tin nguy:
– Ngày 5-1-1946, hay tin chợ phố Sốc Trăng bị đốt, binh Tây kéo đến, bên ta rút lui.
Ngày thứ bảy 6-1-1946, đến phiên chợ phố Bãi Xàu bị cháy.
Ngày 7-1-1946, đồn điền Phủ Thạnh (Hoà Tú) ngang điền bà Phủ An, tổ chức phiên canh phòng ngừa giặc Thổ cướp phá. Điền Phủ Thạnh (con cháu là Cao Triều Trực, Cao Triều Phát), cũng ở ngang điền Nguyễn Tấn Phát (có đào con kinh nay còn gọi kinh Xã Phát), không biết hai người giận nhau điều gì, duy bên nhà dòng Nguyễn Tấn, lúc trước thấy có tấm biển treo đề hai chữ “Chánh Thọ”, không ai biết muốn nói gì, sau có người nói nhỏ, đó là “Chó Thạnh”.
Ngày 9-1-1946, tin đến càng gần, ở Hoà Tú đứng chỗ trống thấy khói mịt mù đó là chợ phố Nhu Gia bị hoả thiêu.
Ngày thứ tư 10-1-1946, Thổ dựa hơi Tây đàn áp dân ta, cướp của giựt tài sản dân đem theo, lửa khói mù trời miệt ấp Hoà An. Chúng vô lương tâm, lùa giết đồng bào vô cớ, chúng nắm tay nhau giăng thành hàng, chân giậm đạp dưới sình bùn như đi bắt chim, bao nhiêu người trốn trong lứt đế ô-rô đều bị chúng tôi ra, không trốn khỏi người nào, và đều bị chúng lấy phảng phát cỏ kéo cán thêm dài, chúng chặt đứt đầu, và oang oang tuyên bố theo lịnh Pháp dạy: “An Nam độc lập còn lâu, Đàn Thổ làm giàu một bữa!”. Lối dã man ấy, chúng gọi trong lúc rượu trắng nốc say tuý luý là “cáp duồng”, do chữ “Vương” trong “An Nam quốc vương”, nói không đủ tiếng và gọi tất là “Duồng”. Ngó ra cánh đồng chỉ thấy thiên hồn địa ám, tiếng hò tiếng hét và lửa cháy lu bù… Trong bụng nao nao, ai ai đều toan chạy nhưng chả biết chạy đi đâu. Thân khổ?
Thứ sáu 12-1-1946, tin báo đến tai: Ba bị Thổ cướp sạch tại Thạnh Thới An, trọn đêm không ngủ và nước mất cứ tuôn rơi. Sáng ngày mượn Ba Kỷ là người vạm vỡ nhứt trong đám bộ hạ, tuôn bụi lướt sình đi lấy tin tức và tiếp tế cho Ba (phụ thân), chớ thân tám thước nuôi cho nên vế nên vai nầy cam tội bất hiếu vì trói gà không chặt, đi chân không trên ruộng nẻ mùa khô, một mình không vững, chạy không xong, tiếp cứu Ba làm sao được! Giặc Thổ đâu không thấy, chỉ thấy trâu nhốt trong chuồng bị muỗi chích nên khua sừng vào cổng chuồng, hai thằng dân chợ, cả hai đều cận thị, không dùng vào đâu được.
Ngày 17-1-1946, linh ứng khiến nên mượn Thanh niên, Nông dân cứu quốc dọn sách và đồ đạc cho vừa mắt, việc xong đền ơn rất hậu, nhờ đó gây cảm tình. Nửa đêm có một anh lay xách tầm vông vạt nhọn, đến báo tin định đốt nhà mình đang tá túc, vì nghi là Việt gian. Sáng ngày ra mắt Uỷ ban cách mạng, cất nghĩa thân mình không khác con cóc đến ở nhờ hang rắn độc, nay xin phép cho mình dời qua nhà khác…
Ngày 18-1-1946, dời hết sách và tủ giường qua nhà anh Chủ Lỹ, cho ở nhà sau trọn ba căn rộng nên được dịp bày binh bố trận y như nhà cũ ở chợ Sốc Trăng. Khi binh Tây kéo đến, lấy chỗ nầy làm trụ sở, cấm phá phách, nhưng đó là việc sau.
Đêm 18-19 tháng giêng Tây (mồng năm rạng mồng sáu tháng chạp Ất Dậu). Đêm nay là đêm kinh khủng nhứt trong cuộc tản cư nầy, vừa mười giờ khuya, tiệc liên hoan cháo vịt nửa chừng, bỗng thấy lửa đỏ trời, tiếng súng nổ chát chúa điếc tai, thì ra đó là tin Tây kéo binh dùng tàu từ Bạc Liêu đánh lên Hoà Tú. Cả mấy gia quyến lật đật hốt ba mớ đồ và chạy bộ lẩn quẩn sáng đêm trên đánh đồng từ ấp Hoà Quái qua Rọc Tre, tới ấp Hoà An, chung quy một đêm tới sáng coi lại chạy không hơn ba cây số, mà kẻ mất quần, người rách áo, duy Chủ Lỹ, tay dắt mẹ, tay thủ siêu đao, ai nấy đem của quý hộ thân. Anh Chủ Lỹ chỉ lựa một lồng cu và đem theo một con gáy hay nhứt và một bó lúa vừa chín, ấy quan niệm của một người tôi cho là tiền phong là vậy! Cũng đêm nầy, người ở lại không chạy, lục soát phòng tôi, đốt giấy tờ tài liệu, thất vọng vì kiếm không thấy tiền bạc tức giận bèn rọc bìa sách may làm túi ba nha, vứt sách ra đầy ruộng, may sao cậu Năm Tuấn em Ba Chen lượm lại phơi khô sau trả đủ, thật là ơn trọng.
Ngày 20-1-1946 đến 25-1-194ó, ngồi trong ghe lớn chèo khắp vùng Lá Banh (Thổ gọi là Chắc Đối, một tên tiền định chờ phóng hoả, do chữ “Mà chắc mà đott”, tiếng Miên nghĩa là “vừa xỏ” (mà chắc), “vừa ghim” (mà đoạt), vì cá ở dưới sông nhiều cho đến bắt xỏ xâu không kịp. Đó là làng Gia Hoà thuộc hạt Sốc Trăng giáp giới tỉnh Bạc Liêu. Chạy tản cư là chạy chết, quanh đi quẩn lại chỉ dời chỗ nầy qua chỗ khác gần đó, trêu tức người bất lương chờ dịp làm hỗn, lấy của hại mạng, hễ thấy ghe Diệp Quang Dõng dời đi, thì chống ghe lại thế chỗ, và ghe Dõng lại lấy chỗ cũ của mình, vần quay xay lúa, đâu chẳng tới đâu, chán quá!
Vì kinh nghiệm năm Bính Tuất (1946), nên qua năm Mậu Thân (1968), năm Nhâm Tý (1972), năm Ất Mão (1975), nhứt định không chạy nữa, và ở một chỗ, thà chết được chết tại nhà, như vậy mà tìm được lẽ sồng, may thay! Một lẽ khác là thiên đạo chí công, tránh bịnh tránh vi trùng, không bao giờ tránh được bão tố lụt ngập, đó đều là tai trời ách nước, người ta ra sao thì mình như vậy, ở cho vững lương tâm là thượng sách. Lại nữa: “Ở đời, khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”, cũng đừng thiên mưu bách kế, khoe tài khoe giỏi hơn ai, khôn một đời chỉ dại một phút. Bình sanh vơ vét, phè phỡn mà, muốn trường cửu sao được? Rõ là thiên sanh hữu mạng, nếu bất thân thì ráng bắt chước sen bèo, mọc trong bùn mà chẳng hôi tanh, giữ vững phận bèo phận sen quản bao giọt nước hoạ may có lối thoát.
Ngày 27-1, chạy đã quá mệt, chèo chống rã tay, đua nhau đổ về nhà thờ Cha Lý, một chân tu đã trên tám mươi tuổi, ở Lá Banh, nơi nầy Thổ không dám động, một là vì chỗ tu hành, hai là Giatô – giáo là đạo của Tây, tức quan thầy của Thổ cho nên Thổ rất nể. Ở đây quả là một thánh địa, yên ổn tâm hồn được một thời gian, cầm bằng phơi nắng suốt nửa ngày bỗng gặp một tô nước mát, thêm dịp đâu lạ lùng, gặp được một bộ Vĩ dã thi tập của Tuy Lý Vương, do một tên Thổ già vơ vét một chiếc ghe nhà trí thức nào đó bỏ chạy, mua được với giá năm đồng (5$) không thì bác Thổ đã xé tơi làm giấy hút thuốc, đi đời một bộ Hán văn hiếm có (xem lại “Thú chơi sách” thuật đầy đủ hơn).
Ngày 7-2, bình bồng trên ngọn sông vắng Lá Banh (Chắt Đốt) thoạt gặp sếp Hên là thông dịch viên của hiến binh Nhựt, cũng bỏ chạy như mình, và không biết va có xấu với ai chăng, chớ với mình vẫn tốt, gặp lần nầy rồi vĩnh biệt sếp Hên luôn, kiếp con người buổi loạn ly còn rẻ hơn con trùn con dế. Ôi! Sếp Hên!
Ngày 10-2, chạy loạn mà tánh ham ăn ngon không bỏ, gặp giữa rừng già một chợ chồm hổm trên nước, thật sự là không biết bao nhiêu ghe thuyền bu xung quanh một chiếc xuồng ba lá, trên xuồng có một chảo mỡ sôi và một chị gái đầu gà đít vịt độ ba mươi tuổi, đang chiên và phân phát mau lẹ, một đồng bạc được ba con cò vừa đủ lông, rán mỡ vàng lườm, nóng hổi vừa thổi vừa ăn, còn khoái khẩu và đặc biệt hơn bồ câu ra ràng xa xỉ phẩm của bọn đài các nhóm cao lâu Chợ Lớn: Đại La Thiên, Thoại Quỳnh Lâm thời vàng son buổi trước. Cò con là thực phẩm không mất tiền mua của “sân chim” Lá Banh, mỡ heo rẻ rề, khen cho chị nông dân quê kệch xóm Chắc Đốt, lại trổ tài “ngự thiện”, biết tìm cách hốt bạc của bọn tản cư còn đột lốt phong lưu lỗi thời?
Ngày thứ hai 12-2, ngồi trong ghe nghe tin đồn xóm Bà Hương Chanh bị Thổ đốt, đến chiều có tin chắc chắn không bị đốt, quả nhiên tin đồn thất thiệt đời thuở nào vẫn có, và cái miệng con người nếu sớm biết câm thì hay biết mấy.
Gặp một chiếc ghe của Ba Oai ở Kế Sách đi ngang, truyền rằng kinh sấm dạy: đi lên thì sống, đi xuống là chết; ngặt thuyền mình đang trở mũi về Nam mới ngao ngán làm sao. Dòm lên bờ sông, cột nhà cháy còn đỏ om, càng tê tái lòng.
Ngày 15-2-1946, có người nhà ở Hoà Tú đến trao tay một giấy phép cho trở về. “Ai về nhà nấy, giặc đã yên”, giấy ký đề ngày 14-2-1946 của quyền chủ quận Phú Lộc (Đặng Hữu Nghiệp) sau lưng còn có mấy hàng chữ Thổ.
Ngày 16-2-1946, chống ghe từ Gia Hội (Chắt Đốt) về chỗ cũ làng Hoà Tú, bụng vững vì chắc “khỏi bị đốt rồi!” Xế chiều dọn đồ đạc xuống ba chiếc ghe cà vòm, hai chiếc của Bà Cả Tám cho mượn, một chiếc của anh Chủ Lỹ.
Ngày 17-2-1946, là ngày hồi quy, lòng phơi phới như trống mở cờ rung. Sáng sớm bảy tám người kéo ra chợ Hoà Tú ăn mỗi người một tô hủ tiếu các chú và uống mỗi người một tách cà phê sữa, nó ngon làm sao! Húp hủ tiếu không chừa cặn! Nút từ giọt cà phê đến sạch tách! Ôi, thứ đồ quen bơ sữa, hư thân? Thế mà lúc nãy, khi dưới ghe đi lên, đi ngang một lùm cây có một nhóm người đang dựng cột nhà, thấy bọn nầy rần rần rộ rộ đi, tưởng là bọn bạt ti zăn Tây đi bố, đã núp trốn trong cây, bọn nầy đi rồi mới dám ló ra, té ra người nhát người, các anh là lương thiện, chúng tôi đây cũng là lương thiện, khéo sợ nhau làm chi, chúng tôi nếu làm cho các anh sợ, chẳng qua là hổ giả hổ oai, con hổ có sợ người đã đành, bầy cáo như bọn tôi thế cũng có người kiêng nể, nghĩ cũng nực cười? Quả đúng: khi cá ăn kiến, khi khác kiến ăn lại cá!
Trưa ngày 17-2-46, tôi phải qua ấp Cây Gừa nơi có đồn lính Tây đóng để xin chiếu khán trên giấy phép chở đồ về chợ Sốc Trăng. Cùng đi có chị Sáu Lụa, sau là bạn trăm năm của Trần Kế Vĩnh, và nay đã mất từ lâu trong một tai nạn xe hơi chạy sau, xóc đầu vào đít xe bò chở tre và tầm vông, chị bị ngọn tre đâm vào mặt vào đầu nên chết tức tối. Đã nói đàn bà, đến Trời cũng phải sợ! Trong khi tôi ở nhà trước đang đứng xin Tây ký giấy phép và đang cắt nghĩa bọn bạt-ti-zăn Thổ hoành hành cướp bóc người Việt Nam, chị Sáu Lụa mon men xuống bếp, sáu trự Tây đang làm việc trên bu rô, cái lò nướng bánh bay hơi thơm phưng phức, chị Sáu không dằn lòng được, bèn dở nắp lò thấy sáu cái bánh bột mỳ nhân thịt, gọi bouchée à la Reine, bánh vừa chín, màu vàng khè bay thơm ngào ngạt, nhột mũi quá, chẳng lành thì chớ, chị ngó giáo giác, thấy vắng bóng người, thì lẹ như chớp, tay chị đã nhón lấy hai cái bánh và sẵn giấy nhựt trình cầm tay, chị gói lẹ làm một gói, rồi tỉnh bơ ra ngồi chờ tôi nơi băng trường kỷ kê ngoài lan can; khi tôi lãnh được giấy phép từ giã Tây ra về, vừa đi tới bờ mẫu, chưa ngoài hai chục thước, nghe tiếng chị hỏi nho nhỏ: “Dượng ăn không, Dượng Tư!”. Tôi đứng lại, chị phạch cái gói ra có hai cái bánh mời mọc cám dỗ ngon lành, mình mẩy tôi mọc ốc, mà tay vẫn bốc một cái bánh đưa vào mồm, miệng còn ứa ngốn vừa thốt câu nhân đạo: “Trời đất ôi! Bánh của Tây, chị dám ăn cắp, nó biết nó bắn thấy cha!”. Thay vì im, chị còn bướng bỉnh: “Bánh ngon quá hè! Phải chi miếng giấy lớn, tôi đã gói hết!”. Chị Sáu cũng may đã từ trần, phải chị còn, có cái gì mà chị không dám làm! Và người nữ cán bộ tên là Sáu Lụa, quê ở Bãi Xàu xưa, kháng chiến chống Tây như vậy đó!
Nhưng vẫn chưa hết nạn. Về tới nhà Chủ Lỹ, trời đã quá ngọ. Bốn lính Tây mình lông lá ở trầni trùi trụi, mặc quần đùi, nịt kè kè cây súng lục bên lưng, đang thả hồn theo mây theo, gió trên bộ ván, trước đây là tổng hành dinh của anh Chủ Lỹ nằm hút, bên vách trước mặt Tây, tôi đang lui cui mở tủ fri-gi-đe xem có gì ở trong. Bỗng tôi đóng cửa tủ lại, day mặt ngó bốn thằng mập đang ngủ vùi như bốn thây ma, tôi tỉnh hồn lại và lấy chăn tắm lật đật tôi ra nào phi tiêu nào bê rê mũ bánh dừa, nào túi đựng dao ba- nha may bằng lưng bìa da các sách quý của tôi, còn ràng ràng chừ mạ vàng: “Bulletin des Amis du Vieux Huế” V.H…, tôi biết Tây đang ngủ mê, tôi dồn hết vào chăn và êm ái ôm ra trước nhà nơi con kinh đang chảy xiết, tôi chuồi trọn gói vào dòng nước phi tang xong rồi tôi mới trở vô đánh thức mấy ông Tây, nhờ mấy ông cho phép dọn đồ lui ghe cho kịp con nước. Tôi còn giả bộ thân thiện biếu lại ba cuốn sách khiêu dâm như Satan condutt le bal, La garonne v.v…, cho mấy anh đọc chơi giải buồn… Tôi xin thêm được một xấp độ mười lăm giấy thông hành tạm ghi tên, tôi giả cớ tìm người khuân dọn, rủ hết anh em lớn nhỏ, bây giờ thế yếu, thà sớm thoát chốn nầy chờ dịp khác, mấy anh em nghe lời giả bộ người phu gồng gánh xuống dọn và theo ghe tôi về chợ Sốc Trăng rồi chia nhau giải tán, vuột khỏi bàn tay đẫm máu của lính Thổ tàn ác và lính Tây không kém ngón dâm dật, ưa hãm hiếp và cướp bóc có danh. Trong khi các anh em lo dọn, tôi lại giả đò đi tắm, kỳ thật là đi thu hồi cái hộp sắt đựng kim cương mà sau nầy vì giá trị quá lớn nên đứa gian phi đã quá mê và ẵm luôn vừa vợ vừa cái hộp sắt hiệu Fichet chứa đầy hột xoàn. Cơ khổ! Lúc tôi chôn vào bùn cái hộp ấy, tôi nhớ rõ ràng là dưới gốc cây dừa nơi ao tắm của Hai Vĩnh, và đúng mực nước mặt ao nầy. Thế mà hôm nay mò kiếm cả giờ mà không gặp cái hộp. Tôi tưởng đã bị kẻ trộm phỗng tay trên, nhưng sau rốt tôi tìm được thì cái hộp đã trồi lên cao hơn mặt nước cả tấc Tây vì lúc chạy và chôn đồ là trung tuần tháng mười một Ất Dậu (đầu năm 1946) và ngày nay đến lấy là vào tháng chạp gần Tết, trời bắt đầu hạn hán, nước sắc và mực nước xuống thấp hơn độ trước. Thảo nào, và báo hại vì đang nắng đổ mồ hôi nhiều và dầm dưới nước trót buổi, nên tôi bị cảm hết mấy ngày và vẫn mất vợ. Còn nhớ lúc ba chiếc ghe lui bến ông Tây xếp bót Hoà Tú tử tế, có cho một tên cai bat-ti-zăn Thổ theo hộ tùng, cai nầy tới mỗi khúc quanh sông Cổ Cò đều bắn súng đùng đùng, tôi khuyên đừng bắn vì phí phạm đạn dược, nhưng va vẫn không nghe, về sau tôi rõ lại va bắn để báo tin cho các bợm Thổ đừng xuất hiện kẻo khó lòng, vì va đã có lời dặn của chủ Tây, nếu để hơ hỏng, tôi có bề gì, chuyến về Tây bắn va nát óc.
Té ra hôm ấy mình gởi thân cho ăn cướp mà không hay biết. Đêm đó thức tới sáng, ngồi be ghe chịu cho sương sa gió thổi tôi về tới nhà bị cảm ho mấy ngày. Trong khi ấy người vợ trước của tôi, đau một chuyến thập tử nhứt sanh, một tay tôi tận tuỵ điều dưỡng, không kể dơ sạch, bổn thân làm cái việc đổ bô lau quét nhưng nay kể lể làm gì với người đàn bà bạc tình ấy, sống mười chín năn với kẻ nầy và sống hai mươi tám năm với người kia.
Tản cư lên Kế Sách (25-10-1946 đến 15-11-1946)
Ở Hoà Tú tản cư về, lại bị ở trong một thế kẹt. Tháng 2 năm 1946, Pháp đẻ ra “Hội nghị tư vấn Nam Kỳ”, mà phiên chớm khai mạc định vào 12-2-1946. Vừa trở về xin giấy định cư, gặp chủ tỉnh Barthel mời làm một chơn trong hội đồng nầy thay mặt cho tỉnh Sốc Trăng. Tôi giả đau từ chối khéo nên thoát nạn. Và người ra gánh vác để chết đáng thương, vì bị ám sát, lại là thầy cũ xưa dạy lớp tư (cours préparatoire) là ông Cao Đắc Lý. Ông nầy đã làm nhà mô phạm thì tưởng nên ở trong phạm vi dạy trẻ cho yên thân. Ông lại ra làm hương chủ hương cả làng sở tại Khánh Hưng, nội cái phát bông mua vải mua đường, vì thiếu kinh nghiệm hành chánh, ông đã bị bộ hạ bán đứng và mang tiếng (thầy pháp ăn mà thầy chùa chịu), nay lại nhận làm hội đồng tư vấn cho thực dân Pháp, thì dầu tu hành đạo đức như ông cùng không thoát búa rìu dư luận và của người kháng chiến; tình cảnh của ông, theo tôi, đáng thương hơn là đáng trách. Đó là cảm tưởng của tôi xét qua chút tình nghĩa thầy trò, chớ dư luận chung trong tỉnh, vẫn chờ một ngày kia, nguội rồi sẽ lấy bình lâm, công tâm soi xét.
Riêng tôi, tưởng một lúc “đánh ba búa Giảo Kim chơi”, không dè vì cãi lời thầy, “trót xuống núi lỡ rồi”, chúng nào để cho yên. Tôi cố giả dại qua ải, nhưng giả cũng không xong. Từ tháng hai đến tháng chín năm Bính Tuất (1946), tôi trở lại cái đời lêu lổng ăn chơi bài bạc, ấy là lỗi thời và có tội lúc quốc gia hữu sự. Bi cảnh cáo bốn ngày nếm gạo lức, nước phông-tên, chưa đủ; nay rục rịch hay tin kín “bên ta muốn “mời” ra Ngã Tư tiếp sức”, “bên nầy Tây sắp ép ra làm việc lại”, đêm nằm nát một lá gan tính không ra kế. Sẵn chị Hai Giang Văn rủ ren, nên nhận lời tản cư phen nầy lên Kế Sách xem cho biết cảnh vườn cây ăn trái, và cũng để tránh cơn gió mạnh: trở lại kiếp con giang hồ trải thân đãi khách nữa thì nhứt định không làm, nhưng biết làm sao từ chối với bên ta? Đã không còn trai tráng làm một Thạch Bernard, tuy có máu Tây mà chống lại Tây đến lính Tây ghê mặt; cũng không làm được như Paul Giang Văn, lẫy lừng mấy trận đánh binh đội Pháp lấy một cự mười thôi thì đi theo chị Giang Văn nầy là má của Paul, gọi tránh gỉó vừa lánh mặt khỏi làm tay sai cho Pháp và như vậy tuy không ích gì cho bên ta, nhưng cũng được khỏi tiếng giúp giáo cho giặc, tuy không khỏi tội “lãnh đạm với thời cuộc”. Nhưng đi tản cư kỳ nầy mới biết là lếu. Chỉ chạy nhà nầy qua nhà nọ cho chúng nuôi cơm, thọ ơn người vẫn là khó trả, hay là như vậy mới đúng với câu Tử vi thầy Tàu xem lúc bé: “Có phần ăn cơm bá tánh”! Còn nhớ lời Ba tôi nhắc lại việc bói số nầy, nghe câu ấy, ai cũng khen tôi có lộc ăn, duy Ba tôi nói gọn: “Số ăn mày không khác”. Cùng đi chung tản cư trong một chiếc ghe lồng khá rộng, gồm có: chị Giang Văn, vì anh ấy ở sẵn trên vườn đợi mình, vợ chồng một bạn làm y tá tên Châu, và hai đứa chúng tôi đủ vợ đủ chồng. Vợ chồng anh Châu đi được bốn ngày thì trở lộn về chợ, vì một hôm chị tâm sự với tôi trước khi tản cư chị giấu nữ trang trong một hộp thiếc thòng xuống giếng sâu sau nhà. Tôi hỏi: Còn sợi dây? Chị đáp sợi dây để nguyên. Tôi nói: Thế là chị “dâng cơm cho ni (ni là mầy)!”. Chị chưa hiểu, tôi mới giải: Chị giấu cái hộp mà còn sợi dây nhủn nhẳn, chị đi rồi, đứa nào còn ở lại, ra lấy nước dùng, thấy mối dây bèn kéo lên thì cả gia tài của chị cúng cho nó! Nghe tôi bàn làm vậy, vợ chồng anh Châu ngủ không được và sáng ngày lật đật không đợi giã từ, quá giang ghe quen rút êm về chợ Sốc Trăng, cũng may, không ai để ý chị Châu giấu vàng và vàng còn y nguyên, năm sau gặp lại nhau trên Khánh Hội (Sài Gòn), kể lại chuyện cũ, chị mắc cỡ, nói câu nửa chừng: “Mắc dịch anh, chuyện cũ nhắc hoài!”.
Còn lại vợ chồng tôi, ban đầu ở nhà vườn chị Giang Văn, là một túp lều chứa hai tim vàng còn chật huống hồ chứa vợ chồng chủ nhà thêm chứa vợ chồng tôi. Nhưng ở vườn chị Giang Văn cũng không yên thân, có tin báo động Thổ sắp đến cướp phá.
Ngày 1-11-1946, là lễ các Thánh (27 tháng 9 ta), đề huề cùng chị Giang Văn khăn gói đùm đề chạy qua tá túc nhà Bảy Thà là em của Từ Ngươi Đông, bạn học cũ. Chị Giang Vãn chiếm giang san là một giường Hồng kông có lò xo (ressort), vợ chồng tôi khẩn một bộ ván ba rộng chán. Nhà Bảy Thà ở về xóm chợ, nên mỗi sáng lại cũng ra tiệm các chú cà phê xíu mại, xá xíu bánh mì không khác lúc ở chợ Sốc Trăng. Bảy Thà là tay thín cẩu lúc trước, nay tiếp đãi tử tế, biết thuở nào báo đáp ơn tốt nầy. Sau gặp lại trên Sài Gòn, Thà làm sốp phơ, nhưng phong độ cũ không mất. Từ năm 1972, nghe nói Thà thôi làm tài xế và lui về Kế Sách xây nhà nhỏ y chỗ cũ nối lại nghiệp ông bà. Biết thuở nào chúng ta gặp nhau. Trước đây gặp một lần thì Thà đã đầu bạc trắng còn tôi thì như đèn treo trước gió, đã bảy mươi tư tuổi đầu (1975).
Riêng anh Từ Ngươi Đông, năm ngoái còn gặp anh xách gậy dạo chơi vùng chợ Tân Định, mắt lờ răng rụng ráo. Nãm nay, nhứt là từ lễ mừng Độc lập, dân ta toàn thắng, hết hạn xiềng xích thoát ách kìm kẹp Mỹ Mẽo, cũng chưa gặp và biết anh có còn để bắt tay mừng, thoả kỳ vọng ao ước năm xưa. Anh Tư Đông ôi!
Ngày 2-1l-1946, giữa trưa lén làm chúc ngôn đề phòng bất đắc kỳ lử. Nay xem lại không khỏi buồn cười, vì người thụ hưởng chỉ định đã ôm cầm sang thuyền khác.
Ngày 3-11 (thứ bảy), anh Huỳnh Vạng Thân, cai tổng kiêm chủ quận Kế An lúc ông Đảnh về làm chủ tỉnh Sốc Trăng, mời đãi cơm tại nhà và viếng vườn sầu riêng đã có trái và vườn trồng quít xiêm, mỗi năm hoa lợi trên mười vạn. Đến mùa có khách trú đến mão, mua trụm quít trái trên cây, nằm dưới gốc chờ chín và canh trộm lén. Trái sai nhành, lá xanh xen trái đỏ trái vàng, lúc ấy đứng dưới gốc bắt thèm, cảnh nhà vườn giàu hơn nhà làm ruộng, nay thời ai ai cũng trắng tay, hoạ may từ đây độc lập sẽ xây dựng lại mấy hồi. Nhưng cố nhân Huỳnh Vạng Thân có còn chăng? Chung quanh không ai biết mà trả lời!
Ngày 8-11-1946 ghé nhà Trần Phong Ngàn. Đặc biệt anh viết chữ Hán rất đẹp. Thấy anh bắt nhớ người cha sanh thành, tóc bạc phơ thường ngồi ghế tre trước cửa nhà số 31-33 đường Đại Ngãi khi thì sử dụng cây đờn Tam (Tam huyền), khi khác hút thuốc Gò xem người qua lại, lòng còn gởi đám mây Hàng, nhớ nhà ghê! Vợ anh Ngàn là chị Thu, chị của Từ Ngươi Đông, trước học lớp nhứt trường tỉnh, cùng một lớp với chị Võ, chị của Nguyên Văn Truyện, Nguyễn Văn Kế và kẻ hèn nầy. Ngàn tưởng tôi giỏi thơ, ngâm vang nhà và bắt tôi hoạ lại. Tôi nói dốt thơ, Ngàn tưởng tôi khiêm nhường và vẫn không tin.
Ngày 10-11-1946 (tháng 10 Bính Tuất), dự tuần lễ vàng tại Kế Sách. Nhà làng, gọi nhà việc (nhà để làm việc), hoặc nhà vuông (vì kiểu vuông vắn y nhau), khi khác gọi công sở, nay đổi lại là trụ sở Uỷ ban. Buổi nhóm có đủ mặt thân hào và anh em mới tháng trước đây làm chung tại Sốc Trăng dưới danh từ “Uỷ ban ban ủng hộ kháng chiến”. Mấy ngày rày không tìm ra cách trả ơn vợ chồng Giang Văn, nay thừa dịp nầy, cởi chiếc nhẫn đeo tay và chiếc nhẫn của vợ, dâng vào hộp tuần lễ vàng, một chiếc gọi đóng góp mọn mảy phận nầy, một chiếc gián tiếp trả ơn chị Giang Văn, tuy vẫn biết chị không là Phiếu mẫu và kẻ hèn nầy còn xa và làm sao sánh được người xách giỏ xử Hoài âm. Chẳng qua là một ví dụ vụng về của một tên gàn ham dẫn sách.
Mướn ghe đi ăn cơm dạo thiên hạ thét cũng thấy thẹn, bèn xin về chợ như cũ và ghe về nhà ngày nào nay cũng quên. Duy có ghi rõ mỗi ngày tiền mướn ghe chỉ có một đồng bạc, tiền cơm tiền nước chủ thuyền không kể, thiệt là giá rẻ quá sức tưởng tượng, không như tháng tư Tây năm 1975, đồng bào chạy từ miền Trung vào Sài Gòn, kẻ mướn trọn chiếc thuyền hay tàu trên bạc triệu, kẻ khác chỉ một thân tay xách mà trả giá trên mấy trên ngàn, hồi tưởng lại một phần vì đồng bạc rẻ như bèo, mà một phần lớn là người vẫn bóc lột người, và biết chừng nào đồng bào mới giác ngộ bỏ tánh tham nhũng, biết cứu người lâm nạn và biết không lợi dụng những cơn nguy cơ ấy mà lột da xẻ thịt người thất cơ.
Bài học khôn của cuộc tản cư nầy là từ đây không đi theo các chị nữa, mà cũng không nghe lời các chị nữa. Tính coi bữa ra đi ghe chèo trên ruộng ngập nước, khoảng Phú Nổ có thèo lèo ngon, bỗng có tiếng la hét từ xa, chị Giang Văn ngồi trên thuyền oai như Tôn phu nhân, dõng dạc hét bảo tôi xách súng nhảy xuống ruộng chờ Thổ đến thì bắn, tôi vâng lời nhảy xuống nước, hỏi bì đạn đâu thì chị nói không có, xem đi xem lại thì cây súng là loại súng gió bắn se sẻ, có khi đạn làm bằng hột đậu xanh. Cũng may Thổ không dám đến cho nên ngày nay tôi còn đây để thuật lại một chuyện anh hùng rơm. Leo lên thuyền, ủa lên ghe, trực nhớ lại câu hát Miên và cùng nhau cười ngả nghiêng ngả ngửa. Thổ Sốc Trăng, những lúc đua thuyền, hát rằng:
Kra bây xi srâu, bon mành xâu hen đenh
Kra bây dơ chênh, bon dênh oi trây mơ!
Dịch là:
Con trâu ăn lúa, anh không dám đuổi
Con trâu đi rồi, anh đuổi cho nàng xem.
Con trâu đang ăn lúa là con trâu đói và hung dữ, đuổi nó chém toi mạng. Con trâu ăn no là con trâu hiền, dẫu la ó sau đít nó, nó cũng vẫn đi và không quay đầu lại. Tôi nói anh hùng rơm là vậy.
Anh Giang Văn và tôi chỉ là người lối xóm. Lúc bình thời, nhà anh là một căn phố lầu ở đường Đại Ngãi, gần nhà Di Ký, đối diện và xéo xéo nhà Ba tôi số 31-33 cùng một con đường. Chị Giang Văn là người có bóng sắc, Tây lai biệt dạng mũi cao mắt sáng, nên sanh con đều lịch sự. Con trai là Paul, chết cho nước trong buổi đầu kháng chiến chống giặc Pháp. Vợ chồng Giang Văn trước ở chợ Bãi Xàu, sau dọn về đường Đại Ngãi bán đồ tạp hoá, quen gọi Bazar Giang Văn. Khi có Nhựt lật đổ chánh quyền Tây, nhứt là có Uỷ ban ủng hộ kháng chiến chúng tôi mới thân nhau và tình càng khăng khít từ độ chạy tản cư lên Kế Sách. Sau đó xa nhau, đến khi tôi chạy lên Sài Gòn, bỗng hay tin anh mất và mang theo một bầu lâm sự nan giải, anh tự vận hay tự tìm cái chết vì không muốn làm luỵ gia đình với một chứng bệnh nan y, thổ huyết. Chị Giang Văn mới mất gần đây, vì dâu trước của chị bà C.V.V, tuy có chồng khác, nhưng nuôi chị đến mãn đời.
Lìa Sốc Trăng chạy tuốt lên Sài Gòn, ngày 7-7-1947.
Tôi không muốn rời Sốc Trăng là nơi nhau rún, quê cha đất tổ, lại nữa tâm thân hư hỏng lê gần khắp lục châu, ăn cơm gần khắp lục tỉnh, năm 1947 cũng đà mỏi cánh, ỷ y có hai trăm mẫu ruộng tốt ở làng Hoà Tú, tuy rằng ruộng bên vợ, nhưng công lao khó nhọc không có tôi thì gia đình họ Nguyễn chẳng bao giờ hưởng được gia tài bà Phủ An mà di chúc một tay tôi viết tôi làm, vả lại ruộng do tôi và Thị Tuyết đồng đứng tên trong địa bộ, nhưng ngờ đâu sau nầy hồ tan keo rã, thôi thì mình còn hai tay, tự lập lấy thân, nên mặc cho bà ấy ăn trọn. Từ tản cư ở Kế Sách về, vợ thường đi vắng, dối rằng lên Sài Gòn đòi liền bán xoài còn thiếu, thật ra tôi quá tin nào biết sự nhị tâm của một người đã chung chạ từ mười chín năm, tuy không con nhưng cực khổ có nhau và lúc lâm bịnh một tay tôi nuôi dưỡng. Ban ngày tôi thường đi chơi mạt chược giải khuây nơi khách sạn với các bạn Huê kiều, nhứt là với mấy a-múi xẩm con nheo nhẻo. Đêm đến lật đật ăn cơm chiều thật sớm rồi qua ngủ nhờ nhà anh vợ là nhà lầu bà Phủ An, nơi đây kiên cố và có một toán lính Tây gác đêm, vì lúc ấy có nạn bắt cóc và bài trừ Việt gian, đêm nào tối trời và thỉnh thoảng ngoài ngã Tư thường vô chợ, chúng tôi dầu biết chẳng có làm gì nên tội, nhưng đèn nhà ai nấy sáng, tránh voi không xấu mặt. Và vẫn tánh như khó chừa, qua ngủ, nhờ bên nhà lầu bà Phủ Anh còn nhiều cuộc vii chán, cháo gà, cắt tê trâu, thín cẩu “chà nhẹ nhẹ”. Cùng lúc đó các công chức được lịnh vô ngủ Toà bố, thì đâu có ngủ mà vẫn thức sáng trắng với canh bài con bạc, vợ con cuối tháng không tiền đi chợ. Thiệt là hư hỏng?
Một buổi trưa nọ. Độ trước ngày 7-7-1947 lối mươi bữa, tình cờ tôi đến Phòng ngủ Tư Cảnh, trên đại lộ Kinh lấp xéo xéo dãy phố bà Phủ An, bỗng gặp một thầy tướng Tàu còn trẻ, nói được tiếng Việt, khi thấy tôi, y nói khan: “Sắc diện xấu, nếu không sớm cao chạy xa bay, e sẽ mắc nạn gần”. Trong bụng bán tín bán nghi, tôi hỏi gượng: “Nạn gì?” – “Nạn bị bắt không bên nầy thì bên kia! Bên nầy là bên nào, còn bên kia là bên gì? Ông hiểu lấy? Tôi thấy sao nói vậy. Nếu ông chậm trễ, qua khỏi rằm, e bít lối đi”. Tôi giã từ, biếu thầy năm đồng nhưng thầy không lấy, và rằng: “Tuy vậy, ông còn trở lại. Nếu sau nầy lời nói tôi có linh nghiệm; ông sẽ thưởng tôi?”. Thế là tôi nhứt định phái đi.
Lúc ấy tôi ho khúc khắc, một vì lo rầu việc nhà, một lẽ khác vì thuốc men không có. Tánh tôi vốn kỹ, muốn khứ lai minh bạch, nên liền đó tôi viết ít hàng gởi ra Ngã Tư xin phép đi Sài Gòn dưỡng bịnh, bữa sau được giấy trả lời vỏn vẹn hai chữ “cho đi”.
Vững bụng rồi, buổi chiều tôi vào Toà bố từ giã bên nầy là B, chủ tỉnh B, do dự, muốn cầm ở lại, viện cớ nếu để tôi đi sẽ làm nao núng nhiều người. Nhưng tôi nói thẳng: “Ở đây không có đảm bảo”. Tôi kiếu từ, đi mua vé xe, chỉ còn một chỗ chót. Tối, tôi về nhà, từ giã cha già, tội nghiệp thấy ông ứa nước mắt, tôi cầm lòng không đậu. Tôi giao việc nhà cho em là Quang, vì lúc ấy, cảnh còn trong xa, còn Vinh đã đền xong nợ nước, thân gởi ngoài cù lao, chưa biết chừng nào mới được đem xác về. Sáng ngày thui thủi xách một gói nhỏ quần áo ra xe, là một chiếc Citroen đã cũ kỹ, bảy chỗ ngồi, mang số C.P.145. Tôi ngồi băng giữa sau lưng tài xế những hành khách kia đều lạ, phụ nữ và trẻ con sau rõ lại là gia đình ông Bang Tư (Lưu Liễu), ăn mặc theo tàu, nói giong Triều Châu. Lúc ấy làm dân ông Tưởng thống chế là sướng nhứt đời ra đường không ai dám tra xét, vì tướng Lư Hán theo lịnh của Đồng Mình tước khí giới của hàng binh Nhựt vùng bắc tuyến. Thiếu chi đàn bà Việt Nam cắt tóc, diện theo xẩm buôn bán chợ đen chợ đỏ, làm giàu ngang xương, đến khi gặp lính Tây hãm hiếp không chừa, khi ấy họ mới bớt việc giả Tàu giả khách. Và quả lời thầy tướng tiên tri rất đúng. Xe tôi là chuyến áp chót qua khỏi ngày rằm tháng đó, thì đường Sốc Trăng lên Sài Gòn nghẽn lối, vì nhiều cầu vùng Phụng Hiệp bị phá hư xe không qua được, và nếu tôi còn bận bịu ở lại dưới thì có lẽ cuộc đời tôi đã xoay hướng khác, cố nhiên không giống như ngày nay, âu cũng là số mạng hay, tiền định. Và không biết xoay nên hay hư để sa lầy thêm nhiều?
Mà chuyến ra đi nầy, nhớ lại, cũng cam go không xiết kể, tưởng đã không đi đến Sài Gòn. Xe chạy vừa tới Phụng Hiệp, thoát được bót canh của lính Tây, nó xét giấy, nhìn mặt từ bộ hành rồi ra hiệu cho đi, bỗng cách không hơn một cây số ngàn xe ngừng lại vì có một nhóm thanh niên ra chận. Phen nầy nói ra sao? Một anh trai độ mười lăm mười sáu tuổi, trên tay lo le một quả mãng cầu sắt (lựu đạn), thò đầu vào cửa xe, không ngó người nào, lăm lăm chỉ ngó tôi, hỏi:
– Ông là ai?
Nghe hỏi mình mẩy tôi nổi ốc, nhưng gượng làm tỉnh:
– Tôi là Vương Hồng Sển.
– Ông đi đâu?
– Tôi đi Sài Gòn, đau đi uống thuốc.
– Thằng Cảo chết rồi, anh biết không?
Tôi nghe gọi bằng anh, lập lức hoàn hồn lại, và thằng Cảo là đứa em vừa hy sinh cho nước, tôi ngó ngay người ấy mà rằng:
– Tôi đã biết tin đó.
– Thôi, anh Hai đi đi, và chúc anh mạnh giỏi. Tại tôi nhỏ, anh không biết là ai, chớ tôi biết anh dư. Tô là bạn của Cảo, mỗi ngày đi học đều có ghé trước cửa nhà anh. Thôi, xe chạy đi!
Cả xe đều nhẹ nhõm, bác tài xế sang số mau mau miệng lầm bầm:
– Không có ông thì kẹt nặng.
Xe chạy ngang chợ phố Cần Thơ, không dám ghé vì sợ trễ chuyến đò. Qua khỏi bấc Cái Vồn, vừa chạy được vài cây số lại gặp một trạm người mặc áo vải đen (Hoà hảo). Xét hỏi giấy tờ, đếm từ tấm giấy trong ví, cũng may không sờ mó trong thân vì tôi có giấy một mớ nữ trang đem lên vợ. Xe chạy một đôi mới biết đó là binh lính của ông Năm Lửa, đóng ở Ngã Ba, mới đây còn gọi là Ngã Ba Bà Năm, sau cấm tiệt không cho gọi làm vậy vì có người cắt nghĩa “Ngã ba ống quần”.
Qua khỏi tay dân quân Hoà Hảo có tiếng là thích ép người chạy nạn phải thuộc hay biết một vài câu kinh mới buông tha, cũng may những người tôi gặp đều hiền và biết điều, hay là lời đồn kia là lời đồn huyễn, chuyên nói xấu người khác đạo? Đến bến phà Mỹ Thuận, thấy có trật tự khá, vì đây là địa điếm quan trọng chặn hai ngả thiết yếu, đường về Hậu Giang và đường đi Châu Đốc, Long Xuyên và Sa Đéc, nên trấn một thiếu uý Tây, có chút học thức, tránh được nạn hối lộ đút lót. Xe tuy khá đông, nhưng lên xuống đò ngang có thứ tự và qua sông suôn sẻ. Lòng mừng được một đỗi, xe chạy bon bon và lướt qua cầu An Hữu, rồi Cái Bè, duy khi đến Cai Lậy thì gặp một chướng ngại bất ngờ tưởng đã không kịp lên tới Sài Gòn trước bảy giờ tối là giờ thiết quân luật. Có một tên ba-đá (soldat) nhừ nhừ say, một hai muốn bắt chúng tôi xuống để nó mượn xe trở lại An Hữu gọi rằng đi thăm một thằng bạn hữu rồi sẽ trả xe cho đi thong thả. Lúc ấy trời đã chênh chếch ngả bóng về chiều, độ gần mười lăm giờ có hơn, bất đắc dĩ tôi phải dùng cách xuống nước, nài nỉ ôn hoà, cắt nghĩa êm ái rằng đường tới Sài Gòn còn xa, anh ta còn có thể đón xe sau còn nhiều chuyến nữa, và nếu dung tha chúng tôi đi trót lọt thì có ơn lớn nào bằng. Cũng may không biết tại “tiếng Tây” của tôi chưa “rỉ sét” còn đủ cam ngôn mỹ từ làm xiêu lòng ông ta, hay là nhờ một cạc-túc (cartouche) thuốc Bách tét (Bastos), hai chục gói chớ không vừa, của bác tài đem đặt trên ghế bô chỗ nó nằm mà tên say nầy gật đầu ra dấu hiệu “phóng sanh” Chúng tôi khấp khởi mừng bằng đầu thai một kiếp mới, lật đật lên xe dung rủi..Sau khi xe chạy đã xa nghe bác tài rủa một câu chỉ đủ lọt tay tôi:
– Ông coi? Đ.m! mua được năm bịch thuốc bao xanh, tưởng đem lên Sài Gòn chộ một chút lời, không dè mãi cúng dọc đường cô hồn các đảng mà cụt vốn. Chính thằng ban nãy là con hạm lớn nhứt, hôm qua đây nó đòi đốt xe tôi vì tội tiếp tế cho địch, cũng may bữa nay nó say nên quên phứt không nhìn ra tôi, và nó dốt không biết đọc sô xe ông à? Lại nữa ông biết tiếng Tây giỏi quá, coi bộ nó phục ông lắm, nên mới thoát khỏi tay nó với một bịch thuốc rẻ rề. Tôi cũng chạy vài chuyến nữa rồi kiếm nghề khác nuôi vợ con, chớ tình hình như vầy còn cầm tay lái e có ngày “mất xe mất mạng”. Xe lên tới Sài Gòn ghé chợ Bến Thành vô sự. Tôi lên xe kéo, nhờ kéo về dãy phố đường Aviateur Garros (nay Thủ khoa Huân), tìm số 75 nhà bà Hai Hẩu, xin cho tạm dung thân một thời gian để kiếm chỗ định cư.
Từ ngày 14-7-1947, lại một phen nữa, một gói một xách, tôi từ giã Bà Hai và dời về ở đậu nhà anh Tư Pierre Nguyễn Thuận Thiên, mà chúng tôi thường thân mật gọi nhau là anh Tư Ve, vì anh là bạn ve chai có hạng, lấy rượu chát làm nước, và Ve là do chữ Pierre nói trại. Chị Ve, lên tộc là Emilie Penne, không ai khác hơn là bạn trăm năm của ông Nguyễn An Ninh, nhưng nửa đường chia tay. Vợ chồng anh Ve hào hiệp có tiếng, thêm chị là người đồng hương, nên tôi không ngần ngại đến ở chung để mong gặp người đầu óc, nhưng rủi cho tôi, những khách làm chánh trị như Lê Văn Trường (nha y sĩ) tôi ít gặp, và vì số hư đi đến đâu cũng hoàn hư, khiến tôi chi gặp toàn khách tay bài con bạc, khi kéo bài oắt, khi đánh cắt tê cóc keng, khi dà-dách, khi xì-phé chạy gạo, chơi để giết thì giờ, chơi để quên thời sự. Nay đem lại những bạn như Nguyễn Văn Công (hãng Denis Frères), Cao Thượng Thinh, trong bộ biên tập tờ bác do Lê Văn Trường chủ trương, thì đã ra người thiên cổ, còn lại như Etienne Penne và chúng tôi, thì đã chia tay mỗi người có một số phận khác nhau.
Một điều nên nhắc là nay nước nhà đã độc lập, nếu cần dựng ia nhắc chuyện cũ, thì tưởng nên gắn một tấm bảng đồng nơi đường Nguyễn Huệ (Charner cũ), nơi trụ sở năm xưa của nhà khách sạn Chiêu Nam Lầu của người cô ông Nguyễn An Ninh, là nơi tụ hội khách làm chánh trị của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục, và cũng nên gắn một tấm bảng đồng khác nơi số 34 Bonnard nầy, là nơi còn dấu chân ông Nguyễn Hữu Thọ buổi thiếu thời, lối năm 1946-1947 vậy. Một người khác, không biết nay có còn mạnh khỏe chăng, là bạn Võ Văn Nhung, cựu giáo viên ở Sốc Trăng, có tên trong bộ biên tập quyển “Lịch sử thủ đô Hà Nội” (Viện sử học Hà Nội xuất bản năm 1960), đi tập kết từ lối năm 1946 nhưng nay sao chưa thấy trở về?
Qua ngày 19-7-1947, tôi mua được vé máy bay (giá 50 đồng) cho vợ bay về Sốc Trăng, ngờ đâu từ đây, con cá lặn biệt tăm, con chim bay không trở lại. Con người bạc tình ấy, khi nắm được hộp nữ trang quý giá, đã ôm cầm sang thuyền khác. Sự thật, khi trở lên, nàng có hỏi tôi muốn giữ hộp đựng mấy trăm hột kim cương do bà Phủ An để lại cho hai tôi ấy chăng? Nhưng lúc ấy, thân ăn gởi nằm nhờ nhà anh Ve, tôi không muốn có sự rắc rối cho bạn nếu rủi ro bị mất cắp, nên tôi không nhận giữ hộp của báu làm chi. Và quả thật, kiến tài ám nhãn, chẳng những tôi mất của tiền lại mất luôn vợ từ đó. (Án ly dị tại toà Sài Gòn xử ngày 7-7-1958). Nhưng thà như vậy mà rảnh tay! Có lẽ cuộc dứt tình đã khởi sự từ sau tản cư Hoà Tú trở về, nhưng vì tôi ngu tối nên không để ý, và khi thu hồi số của thì lòng tham con người càng mau xúi giục sự phân ly.
Ngày 31-7-1947, gặp Năm Sa Đéc đã quen từ lúc làm việc ở Sa Đéc, trước là nhân ngãi, nay ra đá vàng. Hai lần bị phụ tình, nay mới thiệt ban trăm năm lại không làm hôn thú. Nhưng đây mới là tình thật.
Tháng 10-47, dọn từ nhà anh Ve lên ở với Năm, một căn nhà lá, trên đất Thầy Sáu, xóm Cù Lao, đường Võ Di Nguy nối dài.
Ngày 3-4-1948, được cho vô làm trở lại nơi Viện bảo tàng, ăn lương công nhật, tính theo lương thông phán hạng nhì. 1.173$00 mỗi tháng và kể từ 1-4-1948 (số lương tuy ít, nhưng đủ dùng, nhờ vật giá rẻ, tiền phố 300$, đi chợ mỗi ngày 1$ đủ ăn, một vịt quay 40$)
Tháng 6-1948 có bố ráp tại xóm Cù Lao, lính Tây bắt cả xóm ra ngồi ngoài sân, trong lòng sợ có người lấy mất chiếc xe đạp Peugeot của bác sĩ Sang cho mượn làm chân, cũng may lính Tây cho lãnh xe lại, không lấy. Tuy vậy tiền hung hậu kiết, vì nhờ nạn bố ráp nầy, mình xin được Sở Canh nông cho phép cất một căn nhà lá tạm (giá 1.800$00, vừa công và vật liệu, cá cần đóp và đòn tay tạp). Tuy là nhà lá nhưng ở được đến năm 1953 mới dọn đi, vì nơi đây là hạnh phúc nhất trong đời tôi, vừa còn trẻ, thêm sanh nơi đây một đứa trẻ duy nhất chào đời ngày 15-1-1951 đặt tên là Vương Hồng Bảo.
Ngày 2-2-1953, dọn về nhà mới xây dựng tại làng Bình Hoà, ấp Hoà Nhơn, tỉnh Gia Định, là nơi cư trú cho đến nay. Xác nhà đã cũ trên một trăm năm, trên cửa còn chạm năm tạo lập: GIÁP DẦN NIÊN (1954).
Xác nhà nầy mua giá 6.500 bạc, giấy bán đứt đề ngày 23-2 năm 1951 lập tại Phú Xuân Hội (Nhà Bè), có thị chứng trước mặt làng ngày 30-1-1951. Chở về Bình Hoà, xây dựng lại với vật liệu cũ từ 28-9-1952 tới 2-2-1953, hoàn thành, phí tổn tính chung là 18.826$.
Cất trên sở đất diện tích 964 thước vuông (Bằng khoá II số 1.392 ngày 11-3-1965, tờ đoạn mãi lập trước chứng khế F.Fays ngày 6-11-1952, ghi trước bạ ngày 8-11-1952, bộ số 315 trương 6, số 37giá mua 20.000$00).
Đây cũng là một duyên phần gần như tiền định. Một lần xin cất trong Thảo cầm viên, sau Viện bảo tàng và hứa khi mãn phần sẽ hiến Chánh phủ, nhưng lời xin không được chấp thuận. Kế đó xin với Đô thành Sài Gòn cho cất trong vườn Tao Đàn, khi lâm chung sẽ cho luôn Đô thành vừa nhà vừa từ khí thập vật, nhưng cũng chẳng ai nghe, nay xây cất được trên sở đất của mình làm chủ, sau có trăm tuổi thì con thừa hưởng, phải chăng đây là duyên phần tiền định như trên đã nói.
Mấy phen gặp biến cố: Mậu Thân (1968), Nhâm Tý (1972), và Ất Mão (1975) đều thoát khỏi nạn binh đao, thêm nữa, nếu xây cất trong Thảo cầm viên và vườn Tao Đàn, chi cho khỏi nạn cướp phá của Bình Xuyên và lính Nùng, tôi nói có duyên phần là thế.
Phần 19 – Việc Gì Xảy Ra Tại Tỉnh Sốc Trăng Trong Năm 1945
Dẫn – Trong chương hồi ký nầy, tôi cố viết, theo tôi hiểu, về những việc xảy ra nơi tỉnh nhỏ quê hương yêu quí của tôi, tỉnh Sốc Trăng, sau khi Nhựt lật đổ chánh quyền Pháp tại khắp Đông Dương, bắt toàn quyền Decoux, và ra lịnh cho quân Nhựt tước đoạt quyền hành từng địa phương trong Nam Kỳ của chánh phủ đô hộ Pháp, cáo chung từ ngày 9-3-1945 và lọt về tay Nhựt dưới danh từ giải phóng cho người Việt cũng như bao nhiêu người Lào – Miên – Xiêm – Miến Điện với cái mộng bánh vẽ “Đại Đông Á”.
Tôi khuyên độc giả nên tìm đọc quyển “Hồi ký 1925-1964” tập II “1945 – 1954” của ký giả lão thành Nam Đình (Nguyễn Kỳ Nam), không bán, và dành riêng, do nhựt báo “Dân Chủ Mới” xuất bản năm Giáp Thìn (1964). Tôi nhìn nhận quyển Hồi ký ông Nguyễn Kỳ Nam nầy mới thật là tập sử liệu quí giá viết đúng phương pháp hồi ký vô tư và khách quan. Trái lại tập nhỏ hồi ký của tôi viết về Sốc Trăng, chẳng qua là những gì nghe thấy nông cạn của một đứa con sanh đẻ tại tỉnh nhỏ nầy và đã từng sống hơn mấy tháng làm nhân chứng bất đắc dĩ tại toà bố vì bị ép buộc hơn là tình nguyện. Nếu đôi khi tôi có nói nhiều về “thằng tôi” thì đó là vạn bất đắc dĩ, tình thật tôi không có ý đề cao cho tôi. Nếu vô tình tôi tự đề cao cá nhân, tôi dư biết chỉ làm cho chúng ghét, và cũng không ích gì trong tuổi gần đất xa trời nầy. Duy tôi thấy tình người thường ham đeo theo danh lợi và tình người thường quên rằng danh lợi tự dâng đến mình mới quí chớ thứ “hoạ phù thân đái”, trước sau gì cũng bị lộ tẩy và tự mình bị đào thải hay bêu xấu, lại càng thêm xấu. Khi viết tôi không cố ý, nhưng vì muốn giữ đúng sự thật, tôi vẫn kể tên lại, nếu không đúng sự thật, các nhân vật nầy có quyền cải chính.
Cho đến nay, tôi vẫn còn ngờ vực và không dám quả quyết cái mộng xây dựng “Đại Đông Á” của mấy ông Nhựt là thực hay giả? Một điều nên nhận là khi lật đổ chánh quyền Pháp từ Sài Gòn, Hà Nội đến các tỉnh trong xứ, mặc dầu lúc ấy binh Nhựt đã nếm mùi thất bại nơi nhiều chiến trận hải ngoại, nhưng trên cõi Đông Dương bắt đầu từ ngày 9-3-1945, Nhựt làm như toàn thắng và thật sự ra mặt thay thế mấy ông Tây và cai trị bằng các quan lại Việt Nam ở đâu ngồi đó, chớ tỉnh Sốc Trăng lúc ấy không có tin tức từ Sài Gòn đưa xuống, vẫn lùng tung lúng túng như người ở trong mùng giữa một đêm khuya đèn đuốc tắt từ lâu và chưa mồi lửa kịp. Xe thơ con đường liên tỉnh Cà Mau – Sài Gòn xuyên qua Sốc Trăng, Cần Thơ đã nghỉ chạy. Chánh phủ trung ương đã đổ, từ chín giờ đêm 9-3-1945. Một tài liệu đích xác tôi còn giữ được là bức điện tín mật mã dịch như sau:
“Pour Ke-An de Soctrang N.742 most 33 dépôt le 12-3-1945 à 18h15m Administrateur à délégués administratifs Kean-Longphu-Thanhtri. Au cas où circonstances (pluriel) m’obligent (présent) (pluriel) quitter direction province, vous laisse (présent) libre agir selon votre consience”.
Dịch: “Gởi cho Kế-an, từ Sốc Trăng, Số hiệu 742; 33 tiếng, gởi 12-3-1945; 18h15. Tham biện chủ tỉnh gởi các chủ quận Kế an, Long Phú, Thạnh Trị. Nếu tình hình bắt buộc tôi rời chức vị cai trị tỉnh, tôi phó thác quí vị trọn quyền hành động theo như lương tâm”.
(Nên nhớ Sốc Trăng lúc ấy chia ra làm bốn quận, và riêng quận Châu Thành khỏi gọi điện tín mật mã, vì tham biện ra khẩu lịnh vừa gọn và rành rọt hơn).
Lúc nầy quyền hành chánh trong tỉnh như rắn mất đầu, nói cách khác, đã bỏ trống. Chủ tỉnh là ông Barthel, phó là Mahé, cò là Tolosano, đều kéo theo lính mã-tà, chạy về hướng Cà Mau. Barthel nghe đâu dắt một thơ ký độc thân chạy theo, và xui xẻo xách lầm va-li của bà, toàn y phục đầm. Anh thơ ký nầy sau thưởng công được thăng ngạch cò-mi, sau cải bổ làm đốc sự, khỏi thi.
Anh tên H.V.T. Bà Barthel chạy vô ẩn trong nhà trắng với các bà sơ, lấy lộn va-li chồng, toàn y phục đàn ông, nhưng miễn cưỡng dùng được, và lúc ấy vì nạn khan vải, dẫu chức tham biện cũng mặc quần sọt và áo sơ-mi tay ngắn.
Đến nay tôi cũng chưa rõ vì duyên cớ nào (hay vì sợ trách nhiệm?) lúc đó ông chủ quận Châu Thành, có quyền ưu tiên, lại không nhận lên cầm quyền thay thế chủ tỉnh Pháp, và nhượng cho quận Kế An lên ngồi làm tỉnh trưởng tạm thời.
Một tờ bố cáo được dán khắp châu thành, tôi gỡ cất, nguyên văn như sau:
BỐ CÁO
Cùng nhân dân tỉnh Sốc Trăng đặng rõ.
Hiện nay, chánh phủ Đại Nhựt Bổn đã giao cho các quan chức và thân hào An nam tổ chức việc cai trị trong tính Sốc Trăng.
Vì nòi giống, chủng tộc, vì muốn cho dân chúng được làm ăn yên ổn, cho nên chúng tôi chẳng nể tài sơ trí siển, gánh lấy sự cai trị trong tỉnh và do hội công đồng, ngày 14 tháng 3 năm 1945 (Tây lịch) nhằm mồng một tháng hai năm Ất Dậu, cử Uỷ ban ban cai trị sau đây.
Chánh hội trưởng: Võ Văn Đảnh, đốc phủ sứ
Phó hội trưởng: Đào Văn Hội, tri phủ
Quan chủ quận Châu Thành kiêm chánh sở cảnh sát: Ngô Văn Nghị, đốc phủ sứ
– Quan chánh toà Trần Văn Tân
– Lục sự Đoàn Bá Lộc
– Thanh tra các trường sơ đẳng Nguyễn Văn Nghĩa
– Kho bạc Huỳnh Văn Đạo
– Phó kho bạc Lâm Văn Xử
– Hoạ đồ Bùi Đình Quế
– Chủ sự Bưu điện Huỳnh Văn Quế
– Kỹ sư dẫn thuỷ nhập điền Nguyễn Ngọc Bích
– Trưởng tiền cầu cống Đỗ Văn Trà
– Chánh sở Y tế Nguyễn Văn Sang
– Chủ sự Thú y Đỗ Hữu Khoán
– Chủ sự Mễ Cốc Nguyễn Thành Hộ
– Kiểm soát tài chánh Trần Văn Trọng
– Hội trưởng hội sản xuất lúa gạo Ngô Thiên Xên
– Chủ sự Bách phần Lưu Tấn Đạt
– Chủ sự Thương chánh Cao Văn Thành
– Chủ quận Long Phú Hồ Văn Xuân
– Chủ quận Thạnh Trị Hồ Văn Sĩ
– Chủ quận Kế Sách Huỳnh Vạng Thân
Chúng tôi xin nhân dân các sắc cứ vững lòng làn ăn như thường, đừng nao núng chi cả, thuế vụ phải đóng đủ, hãy tin cậy lấy Uỷ ban cai trị của chúng tôi, còn kẻ nào bất tuân luật pháp, ăn trộm, ăn cướp làm chợ đen mà bóc lột dân lương thiện vân vân thì sẽ bị trừng trị nghiêm khắc.
Sốc Trăng, ngày 15 tháng 3 năm 1945
Mồng hai tháng hai năm Ất Dậu
Hội trưởng Uỷ ban cai trị
Ký tên VÕ VĂN ĐẢNH
Những hàng gạch đậm là y nguyên văn. Tôi cũng cất giấu được bố cáo nầy nữa.
BỐ CÁO
Khẩn cấp cho các sắc dân rõ.
“Phàm dân trong toàn tỉnh ai phạm mấy điều kể sau đây sẽ bị nghiêm trị.
CHÁNH PHỦ NHẤT ĐỊNH CẤM:
1. Cờ bạc (lớn nhỏ cũng vậy)
2. Oa trữ hàng hoá, bất kể là loại nào. Phải khai liền với nhà cầm quyền.
3. Bán chợ đen và tăng giá những nhu cầu không có phép của Chánh phủ.
4. Phá rối việc trị an bằng cách: mưu loạn, phao truyền tin nghịch Chánh phủ Việt nam hay là nhà binh Nhựt. Không hợp tác với nhà cầm quyền, phá đường giao thông.
5. Trộm cướp, và lợi dụng quyền hành.
6. Giữ súng trái phép. Lính kín, lính mã tà và lính tập của Pháp đã trốn, phải về nạp súng cho Chánh phủ, súng và đạn lượm được phải giao ngay cho quan quận sở tại.
7. Các đồ đạc và tiền bạc của người Pháp để lại. Ai có giũ đồ hoặc tiền bạc của người Pháp gởi phải khai với nhà cầm quyền và nộp tại Toà bô. Đồ của người Pháp cho và đồ của họ bán mà không có biên toa cũng phải nạp: ví như đồ ăn cắp hay là mua của kẻ cắp. Ai mua có giấy tờ thì phải trình toà và chỉ rõ món đồ mua cho nhà cầm quyền xét đoán, có thể mới được làm chủ đồ ấy.
Hương quản mỗi làng phải truyền rao cho dân làng mình rõ và hành sự ngay trong năm ngày sau khi dán bố cáo nầy tại các nhà việc, chợ và quận trong tỉnh.
VIỆT NAM VẠN TUẾ
Sốc Trăng ngày 26 tháng 3 năm 1945
Quan chánh chủ tỉnh,
VÕ VĂN ĐẢNH
Và sau đây là bản dịch tờ phúc trình của Tỉnh trưởng tạm thời tỉnh Sốc Trăng số 4 đề ngày 8-4- 1945 gởi lên Thống đốc Nam Kỳ (văn phòng) dịch y nguyên văn (có in tiếp sau bản dịch), tả rõ tình hình chánh trị, kinh tế và tài chánh trong khoảng thời gian xảy ra trong tỉnh từ ngày 10-3 đến 8-4 năm 1945:
Bản dịch.
Sốc Trăng ngày 8 tháng tư dương lịch 1945
Chủ tỉnh lâm thời hạt Sốc Trăng
Kính gởi quan Thống đốc Nam Kỳ (văn phòng)
SAIGON
Trích yếu: Về tình hình chánh trị, kinh tế và tài chánh của bổn hạt Sốc Trăng từ khoảng ngày 10 tháng ba đến ngày 8 tháng tư dương lịch năm 1945.
Tham chiếu: Tiếp theo điện tín công số 45 ngày 4-4-1945 của Tỉnh trưởng Cần Thơ chuyển giao bức điện tín công số 285 ngà 3-4-1945 của Thống đốc Nam Kỳ.
Tôi xin kính trình tường tận tình hình địa hạt Sốc Trăng trong khoảng thời gian từ ngày 10 tháng ba đến ngày 8 tháng tư đã qua. Về mặt chính trị ị, kinh tế cũng như về tài chính.
1) VỀ TÌNH HÌNH CHÁNH TRỊ: Những việc quan trọng xảy ra trong đêm 9 qua 10 tháng ba dương lịch dân chúng bổn hạt biết được nhờ nghe tin đài phát thanh.
Trong ngày 13 tháng 3, trừ những công chức quan lại Pháp và gia quyến họ, thì những nhân vật công chức này đã rời nhiệm sở chạy về hướng Bạc Liêu-Cà Mau.
Thầy biện Barthel, chánh tỉnh trưởng,
– Tham biện Mahé, phó tỉnh trưởng
– Thiếu uý Rabany, trong trại chỉ huy trại lính tập địa hạt.
– Hiến binh (sen đầm) Champion và Tolosano,
– Thanh tra mật thám Canalngio, kiêl nhiệm ban hành cảnh lưu động địa hạt
– Siccé, viên coi về lò nấu rượu Bãi Xàu.
Ngoài ra, những lính đầu tiên của đạo binh Nhật xuất hiện hiện tại Sốc Trăng vào sáng bẩng tưng ngày 14 tháng ba dương lịch. Trong này 14 ấy tuân lịnh vị tướng lãnh điều khiển đạo binh Nhựt đóng tại Sốc Trăng, một nhóm nhân hào nhân sĩ hiện diện tại Châu Thành, tề tựu ban đầu dưới quyền chủ toạ của viên tướng lãnh nầy tại dinh toà bố sở tại, sau di về trụ sở Câu lạc bộ Pháp Việt do ông Ngô Văn Nghị, đốc phủ sứ, chủ quận Châu Thành làm hội trưởng, chủ toạ.
Sau buổi hội hiệp nầy, một uỷ ban được đề cứ với tánh cách lâm thời, hầu tiếp tục việc điều khiển cai trị trong bổn hạt, trong khi chờ đợi chánh quyền trung ương chỉ định viên chủ tỉnh thiệt họ cũng như sẽ chỉ định các viên chức đầu sở khác trong tỉnh.
Ngày 17 tháng ba, có một người lang-sa tên là Fauvel, đến tạm trú tại lữ quán địa hạt, đã bị đạo binh Nhựt bắt vì tội xé rách một báo cáo Việt ngữ tuyên bố Việt Nam được độc lập.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.