This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Nếu kể về tài, ắt cô không bằng một góc cô ả đào hồng nhan bạc phận nầy. Kể về tánh nết, gái xứ Bắc, thất chí vào chùa, còn gái xứ Nam như Ba Trà, có tiền muốn sắm chồng như sắm áo Le Mur không khác. Ba Trà muốn đổi giống cái ra giống đực, muốn có chồng cho vừa con mắt lại thêm muốn có chồng hờ chồng phụ, như đàn ông sung sức sẵn tiền, sắm V.1, V.2 cho phỉ chí bình sanh. Thìn là con trai có đầu óc ban đầu từ chối, cự nự nhưng cự làm sao lại mắt liếc như dao, mũi đo đỏ như muốn khóc. Hai người kể cũng gay cấn lắm, hạnh phúc dầu có cũng chẳng được bao lâu, một trở ngại là mẹ cô Ba không thích Thìn vì chê nghèo, và sau hồi tâm cho Toàn chịu tang của mình, vì Toàn là con nhà tỷ phú. Cô Ba lập tâm “bắt sống” Thìn bằng mọi cách. Sơ khởi, cô ỷ có quen với lục sự Đỗ Hữu Bửu là chủ sở của Thìn, nên giả chước vô toà xin sao lục khai sanh, nói với ông Bửu xin cậy Thìn làm thủ tục giúp cô, nhưng Thìn không vì Bửu mà vâng lời Trà…, Trà thất trận phen nầy bày ra trận khác, cậy Nguyễn Hữu Phương đường Testard là tay làm cái hốt me chứa bài còn trước hơn Sáu Ngọ, Búa Lồ, Sáu Nhiều, Huyện Đước nữa và Phương là tay lịch duyệt, nhà Phương, Thìn năng lui tới, Phương ban đầu ngăn khuyên Trà nên chọn nơi khác, chớ Thìn, lương tám chục đồng mỗi tháng, làm sao đủ gánh một gia đình mà người nội trợ không biết luộc một cái hột gà la cót (beaf à la coque) cho nên thân, trái lại quen tật đánh bài đánh me như cơm bữa lại còn đèo tật hút lớn, mỗi ngày lúc đó một hộp một đồng bạc (10 grammes) mà nay trở nên triệu nầy triệu kia, Thìn gánh sao kham. Thìn đau trĩ, vào nhà thương Gia định nằm điều trị, cô kéo thầy Bảy Phương cùng ngồi xe vào rước cho được Thìn vào Chợ Lớn xơi cơm Tàu “hối thèn”, mà trời đất ơi, trốn lòi con trê, ngồi xe nệm êm mà còn nhảy nhổm mỗi lần xe xóc đá, mà ăn uống sao vô? Nhưng mê hồn trận của đàn bà, lỳ lợm như Từ Hải, “xô chẳng rúng”, chết tức nên đứng sững như trời trồng, thế mà “Kiều than mà ngả”, đủ biết ma lực của giống cái mạnh đến bực nào. Những ai đứng ngoài vòng, đứng đánh phách, hãy vào vòng thì biết. Tôi bữa đó nghe cô Ba kể đến đoạn nầy, tôi đang nằm nơi động Khang trong khu xóm Đất Thánh Chà, bất ngờ tôi cũng ngồi nhổm dậy và mừng lòng vì năm 1952, cô “tha Năm và tôi” chớ cô ừ một tiếng, có lẽ tôi cũng vào mê hồn trận mặc dầu năm 1952 cô đã trên bốn mươi còn tôi đã tròm trèm ngũ thập. Bây giờ tôi nhớ lại, sở dĩ tôi với Thìn không quen biết nhau, là vì Thìn làm việc ở toà Sải gòn nhưng thuộc bên grefe, Đào Duy Anh dịch là “ký lục phòng”, nôm na nói theo Nam là phòng lục sự, chuyên về sao lục án toà và hộ tịch, còn lúc đó tôi vẫn năng lên toà để “chầu hầu” ông bô tôi là ông Kính, và làm nơi phòng phiên dịch (bureau de traduction) là nơi bạn quen gồm Siêu Đức, Khai, Trường, Giàu, Xứ, và một người tôi mang ơn lớn không quên nhưng đã từ trần là anh Bùi văn Khá.
Thìn sánh đôi với Trà, vô phúc hay là hữu phúc. Thiếu chi người thèm muốn địa vị của Thìn. Con ngựa trời bắt cặp được với cái rồi để cho cái làm thịt xơi ngon lành, nhưng cho đến tận thế, ngựa trời vẫn tìm ngựa trời cái để bắt cặp. Chớ chi Thìn và Trà khi bắt tay nhau thì xin đổi ra Hà nội, xa sòng me, hoặc lên Lào lên Nam vang, tốt hơn hết là lên vùng cao nguyên ở chung với đồng bào sơn cước hoạ may bền bỉ.
Sau một tháng nhà thương Gia định, lành mạnh về, Thìn dọn về ở chung với Trà, và đưa Trà về ra mắt cha mẹ, thì thảy đều vui vẻ, tuy song thân không thích chưng dọn bông hoa trong nhà, nhưng có bao giờ ai lại chối từ khi có người biếu một nhánh mai ngày tết hay một giò lan hún hín mấy ngày xuân. Nhưng như đã nói, một hoen ố trên gương trong là khi ra mắt mẹ của Trà thì bà không vui, bà lui về Cần Đước, không chịu ở Sài Gòn, và một thời gian sau, bà lâm bịnh, vợ chồng Trà về làng thăm, thì hôm ấy mẹ đã bớt và năm giờ chiều vợ chồng Trà quay xe về nhà, đêm ấy vào lúc mười hai giờ khuya ít giờ sau có người nhà ở Cần Đước lên cho hay thân mẫu của Trà đã tắt thở vào giờ tý.
Việc ma chay quàn lâu đến mười sáu ngày thay vì một tháng chẳng qua là để cho giới me bài có thì giờ điếu tang, việc ấy vừa tỏ lòng Trà trước sau vẫn là con có hiếu, việc ấy chưa đáng kể bằng nhà họ Trần là nhà có huông, ngày trước cha trối không nhìn Trà, bây giờ mẹ Trà trối gọi dây thép ra Nha trang cho Toàn hay vào thọ tang, làm bỉ mặt Thìn, một cách không cần thiết lắm.
Một câu nhớ trong văn Pháp: “Sống là đau khổ. Kẻ nào đau khổ nhiều, kẻ ấy sống nhiều”. Sống đây là có kinh nghiệm già giặn. Thìn lấy Trà, đau khổ nhiều hơn là vui sướng.
Trà tính sai một con toán khi lấy Thìn làm chồng. Muốn thủ phận làm một vợ tòng nhứt nhi chung, nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, khi tiền bạc hết, thì sự chung thuỷ trở thành bọt nước! Đánh me thua thâm thủng lần hồi hết sạch tiền ăn năm nọ. Xin nghỉ việc vợ chồng dắt nhau qua Xiêm, Thìn tìm không ra sở làm, cũng may không gặp con sâu họ Đỗ, còn rắp tâm tìm ông hoàng năm trước, định nhớ nhói, thì: “Sư đà hái thuốc phương xa, mây bay hạc cánh biết là tìm đâu (Kiều). Lại đành trở về Sài Gòn nợ đẻ thêm nợ, bối rối không vừa.
Và câu sáo phải dùng là “hoạ vô đơn chí”, bỗng có một ông toà, trước có vợ Pháp, nay đã mặc áo đỏ, đáng lẽ nghiền ngẫm luật pháp, có chơi trống thì đánh trống chầu mới phải, nhưng đến tuổi đàn bà “hồi xuân” (retour dage), ông bắt chước hồi xuân theo, và không thích cầm chầu nẻ mặc lại tập chơi trống bỏi. Tuổi của ông, gái tơ thiếu gì, nhưng ông lại ham thứ nạ dòng, gái từng xông pha trận mạc!
Cay nghiệt thay, lúc làm bạn với Thìn, Trà muốn làm sao Thìn hiểu nỗi lòng, Trà chưa hư, chưa thất thân cùng bất cứ ai, ý nghĩ ngoại tình chưa đến cùng Trà, nhưng tỷ có ai muốn đánh dây thép bắt tình, chưa phải là “tư thông”, Trà vẫn đánh đưa trả lời, không khác trái banh nhỏ chuyền qua lại trên vợt tơ nít, vợt nào mòn, trái banh nào hầy hấn, mà lợi cả đôi đàng. Trong câu chuyện “chén me Đại Thế Giới” của cầu thủ Koln đã kể trong tích “một cô lưu lạc” trước đây, có nói đến một a múi phá hoả cho sòng me, nhan sắc lộng lạc nhứt thời, cô ta trên tay đeo ba chiếc nhẫn kim cương, tự xưng mình là Võ Tắc Thiên, lấy một lượt ba chồng là ba công tử triệu phú Chợ Lớn, mới đủ cung cấp cho cô ta “tình” và “tiền”.
Trà vẫn không từ chối, tuy không biết a múi Võ Tắc Thiên, nhưng vẫn cùng tư tưởng, “lấy con sóng sắc đong đưa thuyền tình”, nào có hao mất có mảy may nào cái kia đâu mà sợ, nhưng Trà quên làm như vậy, trái tim của Thìn nát ngớu như tương còn gì? Trà muốn một mặt giữ dạ chung tình với Thìn, nhưng mặt khác hãy để Trà cọ dĩa với khách bự cỡ quan toà như vầy để giải cơn nguy khốn.
Quan toà không lo xử kiện, lại giả làm khách thương nhiều bạc ở Bạc Liêu lên đây bán mấy ghe muối, và cậy lục sự Bửu làm người giới thiệu, nhưng làm sao qua mắt hoa khôi Ba Trà? Chỉ làm khổ cho Thìn, là người có khí tiết, đâu chịu cảnh giã chày đôi? Bọn đàn ông chúng tôi cũng lắm kẻ hèn đốn, tướng tá tỉnh trưởng, khi mất ghế, vẫn ăn bám những đàn bà nạ dòng lên cỡn, nhưng cũng không thiếu người như Thìn, bình phong tuy rách, cốt cách vẫn còn, Thìn ở trong giới nho phong lễ giáo xuất thân, đâu khứng làm ma cô, ma cạo, maquereau, hạng hư thúi.
Tử ngày ở Xiêm về, Thìn trở lại nghề thông ngôn toà án, nhưng nợ càng níu áo, Trà bán đồ đã có trưởng toà niêm phong, tội sang đoạt về phần Thìn chịu, và trong khi bối rối, quan toà kia có dịp tuyên án tha bổng Thìn, gây cái ơn khó trả. Quan toà bắt bén, mượn cớ đến thăm Trà, đã mấy phen đụng đầu Thìn, Thìn chịu mãi cảnh nhục nhã để cho vợ nói chuyện với “mèo” trong nhà, Thìn bỏ nhà ra đi, Thìn chịu thua người quyền thế, nhưng máu hiên ngang vẫn sôi nóng, Thìn thề quyết sang Pháp học thêm, sẽ trở về nhưng từ ấy bặt tin, còn mất chẳng ai hay.
Khi Thìn lánh mặt, quả Trà có bỏ công lặn lội đi tìm, như vậy dây tơ tình chưa dứt, nhưng khi gặp nhau giữa đường Catinat, Thìn giả lơ không thấy, Trà cố chường mặt mà Thìn không ngó ngàng, Trà nhiều tự ái mà Thìn tự ái không kém, thành thử dây tơ tình bị căng thẳng quá, đứt luôn, cuộc đổ vỡ bắt đầu từ đây, trách ai bây giờ.
Google photos
Nhắc lại thuở Âu châu chiến tranh kỳ nhứt (giặc 1914-1918), miền Nam có sản xuất một mớ công chức cao cấp, sơ khởi là công chức hạ cấp tình nguyện sang Pháp cho biết hơi đàn bà mẫu quốc với chức thông ngôn đạo binh lính thợ, lính làm công việc cực nhọc sau trận tuyến, khi Pháp thắng trận, các viên thông ngôn ấy được cho vào trưởng đào tạo công chức cao cấp miễn tú tài, trong số kể sơ:
– Dương Văn Giáo, học trường chánh trị, đậu tấn sĩ luật, bổ làm trạng sư ở Sài Gòn.
– Nguyễn Xuân Giác, Nguyễn Xuân Quang, đều về làm quan toà.
– Dương Văn Mai, về làm chưởng toà ở Sài Gòn rồi xuống ở Long Xuyên.
– Phạm Văn Còn, trước học trường Sư phạm Hà nội, qua Pháp, trở về làm nơi phòng kiểm duyệt báo chí rồi làm hiệu trưởng trường trung học Trương Vĩnh Ký, sống đến gần chín mươi và mới mất cách nay vài tháng, đạo hạnh hiền lành.
– và Trần Văn Tỷ, trước làm thơ ký toà bố Bạc Liêu, qua Pháp, cùng học một trưởng chánh trị với Dương Văn Giáo, và làm toà áo đỏ nhiều năm ở Sài Gòn.
Ông kể là người khá, giúp ích cũng nhiều, duy hiếu sắc và ăn ở quá theo Tây, trước có vợ đầm, sau lấy cô Ba Trà, rồi lấy cô Bảy Trà Ôn, thảy đều vợ của người khác! Đạo đức bỏ trôi sông biển, chơi cho phỉ sức người nắm quyền trong tay nhưng phải tật hiếu sắc và cướp đoạt hoa có chủ, không sợ gai đâm! Ngoài ra, phận sự nơi toà, ông lo tròn, thêm có khả năng, các quan Tây mến phục nên nhắm mắt việc đời tư, ông về hưu với tiếng tốt.
Vào khoảng năm 1927 hay lối đó, kẻ viết bài nầy nhiều hôm gặp ông, khi mặc áo ngủ pyjama, khi khác theo dõi cô Ba leo thang lầu cao lâu tửu điếm Chợ Lớn trong khi kẻ nầy đi với bồ trên lầu đi xuống, gặp nhau chào, ngỡ ngàng ngượng nghịu tôi kính ông vào bậc thúc bá, quen nhau vì thường gặp ông nơi nhà ông Kính, sau nầy là nhạc phụ nhiều năm, ông gặp tôi vẫn hít hạt cười như tuồng tha thứ, với ý nghĩ không nói: “Tao làm gì thây kệ tao, và mi còn nhỏ lắm, không nên bắt chước gương nầy?”
Riêng nói về Trà, từ thôi nhau với Thìn, là nàng xuống dốc, tuy còn mấy năm sung sướng trên nhung lụa với ông toà nầy và kế đó là một lục sự toà, con nhà danh giá sẽ nói nơi đoạn sau, nhưng từ khi lựa chọn Thìn mà không được nối tóc đến răng long đầu bạc, từ ấy Trà phú cho hoa trôi nước chảy, “mặc người mưa Sở mây Tần, những mình nào biết có xuân là gì?” (Kiều).
Ông toà đem Trà về sống chung nơi nhà riêng, đường Testard, Trà vẫn bài bạc, lên xuống các sòng me Sáu Ngọ, Búa Lồ, báo hại quan toà phải theo làm hộ vệ trong lúc còn mê nhan sắc nàng, và vẫn xuất tiền nhà trả nợ thua thiển. Chung cuộc được vài năm kế tan vỡ, mạnh đường ai nấy đi.
Kể lại ông Bảy Phương nầy cũng ác? Ba Trà muốn ông Thìn, cậy Bảy Phương dọ đường đất giùm, ông lại lần khân hỏi trước hỏi sau:
Cậy chàng mua lụa Đồng Nai,
Chàng sao lại hỏi vắn dài làm chi?
Đã từng ăn cận ngồi kề,
Vóc nầy bao nả, chàng thì nhớ cho.
Thì chàng liệu lấy mà mua!
Ba Trà có tiền trong tay, muốn sắm cho mình một người chồng theo ý muốn. Lại phải hỏi vắn dài, vừa vặn làm chi. Cần là cần áo khít khao, cho lòi cái co là đủ khéo. Đến đây tôi tạm để cho thầy Bảy suy nghĩ và lựa…
Khi gặp được Từ Hải, nàng Kiều bèn tính việc ân ái đáp đền, oán báo oán. Cô Ba làm khác hơn cô Kiều. Nay đã cầm bạc vạn trong tay, thuở ấy con số “triệu” chưa ai thấy lần nào, cô thuở nay giận đời mình có nhan sắc không ai hơn, mà vẫn làm một món đồ chơi cho bọn râu mày kia, và tại sao chúng nó lấy đày tớ vẫn được lấy con vú con ở cũng không ai cười, trong khi đàn bà trí non nghĩ cạn, rủi thất thân một phút, phải mang tiếng “bà chủ bà Tổng, đành để thằng sốp phơ nó mò tỳ!” Nay như mình, bị Toàn hắt hủi, chồng Tây u không kể sá, ông bác sĩ tốt thật nhưng đã có vợ và ông trộng tuổi hơn mình nhiều. Nay sẵn tiền, thử lựa một chồng cho xứng đôi vừa lứa, lại có hại gì? Trong khi cô lên xuống nhà bác Bảy phương đường Testard, cô chíp trong bụng một chàng bô trai, tóc trán quăn quăn, đáng yêu nhứt là không khi nào ngó cô ngay mặt. Hỏi thăm ra cha người đó là ông Thưởng, nhà còn ở đường nay là Tự Đức, trước làm giám thị và dạy về đồ mộc nơi trường “bá nghệ” đường Hồng Thập Tự, hiện trường còn đó. Vốn nhà dòng dõi thơ hương nề nếp, chị và em gái đây xin miễn kể, kể sơ ba anh em trai thôi, thảy đều khác chúng.
Người của cô Ba lựa là con trưởng, hỏi ra nay còn sống bên Pháp, cứ định tuổi thìn, thì đã tròm trèm 79 tuổi. Cũng là thông ngôn toà án như Khai, Thìn có tánh khẳng khái, chưa vợ, nhưng biết xét phận, nên thấy gái xinh, không ngó cũng không chào. Ngộ quá thuở nay trâu tìm cột, mà nay cột lại tìm trâu! Bấy lâu lắm người móp sát đất cầm lá đơn cầu hôn lo le trước mắt mà Trà không đếm xỉa, thế mà chàng nầy sao chẳng động tình. Và ông trời già cũng éo le, bao nhiêu si tình kia đều rớt mà Thìn được chấm đậu. Nhưng đậu và rớt là gì? Thà thi rớt mà khỏi bị mò tôm, Thìn được cô chấm đậu làm chi để sau nầy Thìn mãi khổ tâm và bực tức.
Nhắc lại mấy lần gặp mặt Thìn tại nhà bác Bảy Phương, đường Testard, Trà lấy mắt đưa tình, mà Thìn để trơn trợt như trên hàng lá môn nàng mặc. Nhưng người đẹp là Trà nào chịu buông tha, và lần thứ nhứt, một trai bô (beau gosse) bị gái đa tình bắt sống.
Năm tháng sau cái chết của Ông Trùm Aprile, Astorre bận rộn với việc tham khảo ý kiến một số chiến hữu cao niên đã nghỉ hưu của lão, áp dụng các biện pháp bảo vệ con cái lão và điều tra về vụ sát hại lão. Trước hết chàng phải tìm ra nguyên nhân dẫn đến một hành động mạo hiểm và khác thường như vậy. Kẻ nào có thể ra lệnh giết? Chàng biết mình phải hết sức thận trọng. Đầu tiên chàng gặp Benito Craxxi ở Chicago. Craxxi đã giã từ tất cả các phi vụ làm ăn bất hợp pháp trước Trùm Aprile mười năm. Lão là một nhân vật tai to mặt lớn của Ủy ban Mafia quốc tế và có kiến thức uyên bác về toàn bộ cơ cấu Mafia ở Hoa kỳ. Lão cũng là người đầu tiên nhận ra sự suy giảm quyền lực của các Đại gia và tiên đoán được ngày tàn của chúng. Thế là lão khôn ngoan về hưu để quay sang thị trường chứng khoán. Tại đây lão vô cùng kinh ngạc khi biết rằng lão có thể lấy cắp tiền nhiều như trước mà lại chẳng lo bị pháp luật trừng phạt. Trùm Aprile đã cho Astorre biết Craxxi là một trong những người chàng phải tham khảo ý kiến khi cần. Ở tuổi bảy mươi, Craxxi sống với hai vệ sĩ, một lái xe và một phụ nữ Italy còn trẻ vừa là đầu bếp vừa là người trông nhà, và nghe đâu còn là người đáp ứng nhu cầu chăn gối của lão. Sức khỏe của lão còn rất sung mãn vì cách sống điều độ. Lão ăn uống rất chừng mực. Bữa sáng một bát trái cây và pho mát; bữa trưa một suất ốp la hoặc canh rau, chủ yếu là rau diếp xoăn; bữa tối chỉ có một miếng thịt bê hoặc cừu rán đơn giản và món sa lát hành, cà chua và rau diếp. Lão chỉ hút một điếu xì gà một ngày, ngay sau bữa tối, với cà phê. Lão tiêu tiền rộng rãi và khôn ngoan. Lão rất thận trọng với những ai lão đã từng khuyên bảo. Vì một người đưa ra lời khuyên dai tức khắc bị căm ghét như kẻ thù. Nhưng với Astorre lão rất độ lượng, vì lão là một trong số nhiều người mắc nợ Trùm Aprile. Chính Aprile đã bảo vệ lão khi lão về nghỉ hưu. Họ gặp nhau vào bữa sáng. Trên bàn là những bát trái cây – những quả lê vàng bóng, những quả táo nâu đỏ, một bát dâu tây quả nào quả nấy to như trái chanh, nho trắng và những trái anh đào đỏ sẫm. Một tảng bơ lớn đặt trên tấm bảng gỗ trông như một khối vàng ròng. Người giúp việc rót cà phê cho họ rồi biến mất. – Thế đấy, anh bạn trẻ, Craxxi nói. Cậu là người bảo vệ mà Aprile đã chọn. – Vâng, thưa ngài, Astorre trả lời. – Ta biết ông ấy đã huấn luyện cậu cho công việc này. Ông bạn già của ta luôn nhìn xa trông rộng. Chúng ta đã trao đổi với nhau. Ta biết cậu rất có khả năng. Vấn đề là ở chỗ cậu đã có bản di chúc chưa? Astorre nở nụ cười duyên dáng, nét mặt chàng cởi mở. – Bác tôi đã cưu mang tôi và cho tôi tất những gì tôi đang có, chàng nói. Tôi là người bác ấy hy vọng. Và tôi đã thề sẽ bảo vệ gia đình. Nếu Nicole không được làm hội viên hãng luật, nếu mạng truyền hình của Marcantonio có gì trục trặc, nếu có chuyện gì xảy ra với Valerious thì họ vẫn sẽ còn các nhà băng. Tôi có một cuộc sống hạnh phúc. Tôi tiếc rằng phải nhận nhiệm vụ này. Nhưng tôi đã hứa với bác tôi và tôi phải giữ lời. Nếu không, tôi còn có thể tin vào cái gì trong suốt quãng đời còn lại của tôi? Những khoảnh khắc thời thơ ấu chợt hiện về trong tâm trí chàng, những khoảnh khắc của niềm hân hoan tuyệt đỉnh nhờ nó mà chàng cảm nhận được lòng biết ơn. Những hình ảnh của chính chàng khi còn là một cậu bé ở Sicily đang cùng ông bác dạo bước qua miền sơn cước, nghe bác kể những câu chuyện về các Ông Trùm. Rồi chàng mơ thấy một thời đại khác khi công lý được thực thi, lòng trung thành được coi trọng và những chiến công vĩ đại được thực hiện bởi những con người tử tế và mạnh mẽ. Và vào lúc đó chàng nhớ cả Aprile và Sicily. – Tốt lắm, Craxxi nói, cắt ngang dòng suy nghĩ của Astorre và kéo chàng về với thực tại. Cậu đã có mặt ở đó. Hãy tả lại mọi cái cho ta nghe. Astorre làm theo yêu cầu của lão. – Và cậu chắc rằng cả hai sát thủ đều thuận tay trái chứ? Craxxi hỏi. – Ít nhất là một đứa, đứa kia hình như cũng thế, Astorre nói Craxxi chậm rãi gật đầu rồi dường như chìm vào suy tư. Một lúc sau lão nhìn thẳng vào Astorre và nói – Ta nghĩ là ta biết chúng. Nhưng không được vội vàng. Quan trọng hơn là ai đã thuê chúng và tại sao. Cậu phải hết sức cẩn thận. Ta đã nghĩ nhiều về việc này. Kẻ đáng ngờ nhất là Timmona Portella. Nhưng vì lý do gì và để làm vừa lòng ai cơ chứ? Timmona luôn là một kẻ liều lĩnh. Nhưng giết Aprile là cả một việc làm hết sức mạo hiểm. Ngay cả Timmona cũng rất sợ Trùm Aprile cho dù ông ấy có về hưu hay không. – Còn bây giờ là suy nghĩ của ta về hai tay súng. Chúng là hai anh em sống ở Los Angeles, và là nhữug kẻ cừ nhất ở đất nước này. Chúng kín như bưng. Rất ít người biết chúng là anh em sinh đôi. Và cả hai anh em chúng đều thuận tay trái. Chúng can đảm, và là những chiến binh bẩm sinh. Nguy hiểm thôi thúc chúng, còn phần thưởng ắt là rất lớn. Còn nữa, chúng nhất định phải có một số bảo đảm – đó là chính quyền không theo đuổi vụ này. Ta lấy làm lạ là cả cảnh sát và FBI đều không tiến hành giám sát tại nhà thờ. Aprile vẫn là đối tượng của FBI ngay cả khi ông ấy đã về hưu. – Những gì ta nói chỉ là giả thuyết. Cậu phải điều tra mà khẳng định. Và rồi, nếu ta đúng thì cậu phải giáng trả với toàn bộ sức mạnh của cậu. – Còn một việc nữa, Astorre nói. Các con của Ông Trùm có bị nguy hiểm không? Craxxi nhún vai. Lão thận trọng trong khi vẫn đang gọt vỏ một quả lê vàng. – Ta không biết, lão nói. Nhưng đừng quá khiêu hãnh để không yêu cầu họ giúp đỡ. Chính cậu cũng không tin mình đang gặp nguy hiểm cơ mà. Ta có một đề nghị cuối cùng dành cho cậu đây. Hãy đưa ngài Pryor từ London về đây để quản lý các nhà băng của cậu. Ông ấy là người có năng lực trong mọi lĩnh vực. – Còn Bianco ở Sicily thì sao? Astorre hỏi. – Cứ để ông ấy ở đó, Craxxi nói. Khi nào cậu tiến xa hơn chúng ta sẽ lại gặp nhau. Craxxi cho thêm hương vị vào cà phê của khách. Astorre thở dài. Việc này có vẻ lạ lắm, chàng nói. Tôi không ngờ tội lại phải hành động vì Ông Trùm, Ông Trùm Aprile. – Thế đấy, Craxxi nói. Cuộc sống luôn luôn tàn nhẫn và đầy rẫy khó khăn với lớp trẻ. Hai mươi năm Valerious sống trong giới quân báo, không phải một thế giới giả tưởng như của các em gã. Gã dường như đón trước được những gì Astorre nói và phản ứng lại mà không hề ngạc nhiên. – Tôi cần anh giúp, Astorre nói. Có lẽ việc này sẽ động chạm đến một số nguyên tắc đạo đức của anh đấy. Valerious nói khô khốc – Cuối cùng thì cháy nhà mới ra mặt chuột. Tôi tự hỏi chuyện này sẽ kéo dài bao lâu? – Tôi không biết anh muốn nói gì. Astorre nói, thoáng ngạc nhiên. Tôi cho rằng cái chết của ba anh là một âm mưu liên quan đến NYPD và FBI. Anh có thể nghĩ là tôi đang phịa, nhưng đấy là những gì tôi nghe được. – Có thể lắm, Valerious nói. Nhưng tôi không tiếp xúc được với những tài liệu mật. – Nhưng anh phải có bạn bè trong các cơ quan tình báo. Anh có thể hỏi họ. – Tôi không pahỉ hỏi han gì cả, Valerious cười nói. Họ là những kẻ ba hoa. Chú có biết chú đang tìm kiếm cái gì không? – Bất kỳ thông tin nào về kẻ đã giết ba anh, Astorre nói. Valerious ngả người ra chiếc ghế bành và rít xì gà – thói xấu duy nhất của gã. – Đừng nói nhảm nữa, Astorre, gã nói. Để tôi nói với chú điều này. Tôi đã tiến hành phân tích. Đây có thể là hành động trả thù của một băng nhóm tội phạm. Tôi cũng nghĩ tới việc chú được kiểm soát các nhà băng. Ông già vẫn luôn có một kế hoạch mà. Tôi hình dung thế này. Ông già đã biến chú thành người đúng mũi chịu sào cho cả gia đình. Sau đó thì sao hả? Chú được đào tạo này, chú là đại diện tại chỗ của ông chỉ để ra tay trong một thời điểm quyết định. Có một khoảng trống mười một năm trong cuộc đời chú, và lớp ngụy trang của chú thì hết ý – một ca sĩ nghiệp dư, một vận động viên đua ngựa ư? Cái vòng vàng chú luôn luôn đeo cũng đáng ngờ. Gã dừng lại, thở dài rồi nói tiếp, phân tích như vậy được không hả? – Rất tốt là đằng khác, Astorre nói. Tôi hy vọng anh giữ kín việc này. – Được thôi, Valerious nói. Nhưng rồi té ra chú là một người nguy hiểm và vì thế chú sẽ có hành động cực đoan. Nhưng tôi có vài lời khuyên: Tấm mặt nạ của chú mỏng lắm, nó sẽ bị bóc ra ngay thôi. Còn về sự giúp đỡ của tôi, tôi có một cuộc sống tốt đẹp, tôi và chú hoàn toàn trái ngược nhau. Vì vậy, câu trả lời của tôi lúc này là không. Tôi không giúp được. Nếu có gì thay đổi thì tôi sẽ liên lạc. Một phụ nữ bước ra dẫn Astorre tới phòng làm việc của Nicole. Nàng ôm chầm lấy chàng và đặt lên môi chàng một nụ hôn. Nàng vẫn còn yêu chàng. Mối tình lãng mạn thời niên thiếu của họ không hề để lại những vết thương lòng. – Tôi phải nói chuyện riêng với chị, Astorre nói. Nicole quay sang vệ sĩ của mình. – Helene, làm ơn để chúng tôi ở lại. Tôi không sao đâu. Helene nhìn Astorre một chặp. Cô đang khắc sâu vào ký ức sự tỉnh táo của chàng. Cũng như Cilke, Astorre để ý đến vẻ tự tin của cô – một loại niềm tin thường được thể hiện bởi một con bạc khi đang thủ một quân bài chủ tại thời điểm quyết định hoặc bởi một kẻ có vũ khí giấu trong người. Chàng đưa mắt tìm kiếm xem vũ khí có thể được giấu ở đâu. Chiếc quần bó và áo khoác phô ra một vóc người đầy ấn tượng – không mang vũ khí. Rồi chàng phát hiện ra một đường xẻ trên ống quần. Cô nàng đang đeo súng nơi ống chân, thật chẳng khôn ngoan chút nào. Sử dụng hết vẻ quyến rũ của mình chàng mỉm cười với Helene lúc cô đi ra. Helene thờ ơ nhìn lại chàng. – Ai tuyển cô ta thế? Astorre hỏi. – Ba tôi, Nicole nói. Thế mà lại hay. Cô ấy hạ ngon ơ đám trấn lột và tán gái đấy. – Tôi cá vậy, Astorre nói. Chị đã lấy được hồ sơ của ông già bên FBI rồi phải không? – Phải, Nicole nói. Và đó là thứ khủng khiếp nhất mà tôi từng đọc. Đơn giản là tôi không tin, vả lại, người ta cũng chẳng chứng minh được bất kỳ điều gì trong đó cả. Astorre biết rằng ông Trùm hẳn muốn chàng sẽ lên tiếng phủ nhận sự thật. – Cho tôi mượn bộ hồ sơ vài ngày được không? Chàng hỏi. Nicole nhìn chàng với cái nhìn thờ ơ của một luật sư. – Tôi nghĩ rằng anh phải đọc nó ngay bây giờ. Tôi muốn viết một bản phân tích, gạch dưới những vị trí quan trọng đã. Thực ra trong đó cũng chẳng có gì giúp ích được cho anh. Có lẽ, anh và các anh tôi không nên xem thì hơn. Astorre trầm ngâm nhìn nàng rồi mỉm cười. – Tệ lắm sao? – Để tôi nghiên cứu đã, Nicole nói. Lũ FBI chó chết như vậy đấy. – Bất cứ điều gì chị nói đều tốt đối với tôi. Nhưng hãy nhớ, đây là một việc nguy hiểm. Hãy bảo trọng. – Nhất định rồi, Nicole nói. Tôi có Helene. – Tôi sẽ đến ngay nếu chị cần. Astorre đặt tay chàng lên cánh tay Nicole để trấn an nàng, và nàng nhìn chàng hồi lâu với ánh mắt khát khao đến nỗi chàng cảm thấy khó chịu. Gọi cho tôi nhé. Nicole mỉm cười – Tôi sẽ gọi. Nhưng tôi ổn mà. Thực ra, nàng đang chờ cuộc hẹn tối nay với một nhà ngoại giao dễ thương và hấp dẫn đến khó tin.
Google photos
Trong phòng làm việc bài trí công phu lắp sáu màn hình, Marcantonio Aprile đang tiếp người đứng đầu công ty quảng cáo hùng mạnh nhất New York. Richard Harrison là một người tầm thước, quý phái, ăn mặc lịch sự, có thân hình của một cựu người mẫu nhưng mạnh mẽ như một lính dù. Trong lòng Harrison là một chiếc cặp nhỏ đựng băng video. Với một vẻ hoàn toàn tự tin, không hề xin phép, ông ta bước tới bộ đầu máy TV và nhét vào đó một cuốn băng. – Xem cuốn này đi, Harrion nói. Đây không phải là một trong số những khách hàng của tôi, nhưng tôi nghĩ cũng đáng xem đấy. Cuốn băng video quay một quảng cáo cho bánh pizza Mỹ, và người quảng cáo là Mikhail Gorbachev, cựu tổng thống Liên Xô. Gorbachev chào hàng với một thái độ im lăng, không hề nói một lời, chỉ chú tâm cho các cháu ông ta ăn bánh pizza trong khi đám đông bày tỏ lòng ngưỡng mộ. Marcantonio mỉm cười với Harríon. – Một chiến thắng của thế giới tự do, anh nói. Thì đã sao? – Cựu lãnh đạo của nhà nước Xô Viết, vậy mà bây giờ ông ta đang làm trò quảng cáo cho một hãng bánh pizza của Mỹ. Như thế chẳng ngạc nhiên lắm sao? Và tôi nghe nói người ta chỉ trả cho ông ta có nửa triệu đô thôi. – OK, Marcantonio nói. Thế thì đã sao? – Tại sao người ta có thể làm những việc nhục nhã như vậy? Harrison nói. Và bỗng nhiên Marcantonio nhớ đến cha mình. Ông Trùm cũng sẽ có cảm giác khinh thường như thế đối với người đã từng lãnh đạo một đất nước vĩ đại mà không bảo đảm được khả năng tài chính cho gia đình mình. Trùm Aprile sẽ nghĩ cha nội này là kẻ ngu nhất trên đời. – Một bài học đắt giá trong lịch sử và tâm lý con người, Marcantonio nói. Nhưng tôi nhắc lại, như thế thì đã sao? Harrison vỗ bồm bộp vào hộp băng hình của ông ta. – Tôi còn có nhiều hơn thế, mà lại còn dự phòng cả một vài phản ứng. Những cuốn băng này còn có phần nhạy cảm hơn. Tôi và anh làm ăn với nhau đã lâu. Tôi muốn được bảo đảm rằng anh sẽ tiếp tục phát những quảng cáo thương mại này trên mạng lưới truyền hình của anh. Những băng còn lại rất cần được quan tâm. – Tôi không tưởng tượng nổi, Marcantonio nói. Harrison lắp tiếp một băng khác và giải thích – Chúng tôi đã mua bản quyền sử dụng những danh nhân đã chết vào các quảng cáo thương mại của mình. Việc không sử dụng họ trong xã hội chúng ta là vô cùng lãng phí. Chúng tôi muốn thay đổi điều đó và đưa họ trở lại với niềm vinh quang trong quá khứ. Băng hình bắt đầu chạy. Một loạt hình ảnh mẹ Teresa đang cứu trợ người nghèo và người bệnh ở Calcuta, chiếc áo nữ tu của bà choàng lên người đang hấp hối. Trong một cảnh khác, bà đang nhận giải Nobel Hòa bình. Khuôn mặt giản dị của bà thật rạng rõ, vẻ khiêm nhường thánh thiện của bà trông thật cảm động. Sau đó là cảnh bà đang múc súp từ một chiếc nồi to cho những người nghèo trên đường phố. Tất cả các cảnh này đều là đen trắng. Bất ngờ màn hình chuyển sang có màu. Một người đàn ông ăn mặc phong lưu cầm chiếc bát không tới bên nồi súp. Ông ta nói với người phụ nữ trẻ đẹp – Có thể cho tôi một ít súp không? Tôi nghe nói súp ở đây ngon tuyệt. Người phụ nữ trẻ nở một nụ cười rạng rỡ với ông ta rồi múc súp vào bát. Người đàn ông húp, trông như thể ông ta đang rơi vào trạng thái mê ly. Sau đó màn hình chuyển sang cảnh một siêu thị với cá giá hàng chất đầy cá can súp nhãn hiệu “Calcutta”, Người thuyết minh ca ngợi “Súp Calcutta mang lại sức sống cho cả người giàu lẫn người nghèo. Mọi người có thể thưởng thức hai mươi loại súp tuyệt ngon. Làm theo công thức của mẹ Teresa”. – Tôi nghĩ cảnh vừa rồi cũng khá đấy chứ, Harrison nói. Marcantonio nhướng cao cặp lông mày. Harrison nạp một băng video khác. Một cảnh độc đáo về công nương Diana trong bộ váy cưới trùm kín màn hình, tiếp theo là một số cảnh quay nàng trong điện Buckingham. Rồi cảnh nàng đang khiêu vũ với hoàng tử Charles, vây quanh là đoàn tùy tùng hoàng gia, tất cả trong trạng thái chuyển động sôi nổi. Người thuyết minh ngân nga: Mỗi công nương xứng với một hoàng tử. Nhưng nàng công nương này còn có một bí mật”. Một người sành điệu luôn có một lọ nước hoa bằng pha lê tao nhã, nhãn hiệu sản phẩm rất rõ ràng. Người thuyết minh tiếp tục: ” Với một giọt nhỏ nước hoa Princess, các bạn cũng có thể bắt được chàng hoàng tử của mình – và không bao giờ phải lo về mùi khó ngửi nữa. Marcantonio nhấn một chiếc nút trên bàn làm việc của mình và màn hình chuyển sang màu đen. Harrison nói – Đợi đã, tôi vẫn còn mà. Marcantonio lắc đầu – Richard, anh là người có đầu óc sáng tạo đấy, song thô thiển quá. Những quảng cáo kiểu này sẽ không bao giờ được phát trên sóng của tôi. Harrison chống chế – Nhưng mà một phần tiền thu được sẽ được làm từ thiện – và chúng cũng khá đấy chứ. Tôi hy vọng anh sẽ rộng lòng. Cuối cùng thì chúng mình còn là bạn tốt của nhau cơ mà. – Chúng mình là bạn chứ sao, Marcantonio nói. Nhưng câu trả lời vẫn là không. Harison lắc đầu và miễn cưỡng bỏ những cuốn băng hình vào hộp. Marcantonio cười hỏi – À mà này, lão Gorbachev làm quảng cáo ra sao hả? Harrison nhún vai – Tệ hết chỗ nói. Cái gã ấy đến bánh pizza cũng không biết bán. Xong việc, Marcantonio lại chuẩn bị chương trình buổi tối. Đêm nay gã phải dự lễ trao giải Emmys. Phòng quay của gã có ba cái bàn lớn dành cho ban điều hành mạng lưới truyền hình, các ngôi sao và một số người được đề cử. Gã còn hẹn gặp cả Matilda Johnson, một phát thanh viên chính thức. Văn phòng của gã có một phòng ngủ với nhà tắm khép kín, một chiếc tủ đầy quần áo. Gã thường qua đêm tại đây mỗi khi phải làm việc khuya. Vào phần nghi lễ, một số người đoạt giải nhắc tên gã như một nhân tố quan trọng cho thành công của họ. Điều đó luôn luôn dễ chịu. Nhưng trong lúc bắt tay và ôm hôn gã lại nghĩ đến tất cả những lễ trao giải và tiệc tùng phải dự trong năm: Lễ trao giải Oscars, People’s Choice Awards, quà tặng AFI, và những giải thưởng đặc biệt khác dành cho các ngôi sao, các nhà sản xuất và đạo diễn. Những con người này xứng với danh vọng của họ, họ cần cái danh cũng nhiều như cần tiền bạc. Sau phần nghi lễ gã tự mình giải trí bằng cách quan sát các diễn viên với khả năng không đáng kể đang cố gây ấn tượng cho những nhân vật có ảnh hưởng như gã, và tổng biên tập một tờ tạp chí ăn nên làm ra đang bị mấy tay văn sỹ ve vãn. Gã chú ý đến nét cảnh giác trên mặt mụ, thái độ thân tình có mức độ, cứ như thể mụ là Penelope đang chờ một tay tán gái lừng danh hơn. Tiếp theo là khách mời – những nhân vật quan trọng. Những vị này đang đi một nước cờ cao: vừa ve vãn vừa là bộ dửng dưng với những ngôi sao mà họ cần cho các cuộc phỏng vấn. Các diễn viên ngôi sao rạng ngời hy vọng. Họ đã đủ thành đạt để làm một cú nhảy từ màn hình sang màn bạc, không bao giờ quay lại – hay ít ra họ cũng nghĩ vậy. Cuối cùng Marcantonio cũng kiệt sức. Những nụ cười thường trực, giọng nói vui vẻ gã phải dùng với cả kẻ thắng lẫn người thua làm gã mệt lử. Matilda thì thầm vào tai gã – Đêm nay anh về chỗ em chứ? – Anh mệt quá, Marcantonio nói. Bù đầu cả ngày lẫn đêm. – Thôi vậy, nàng nói với lòng cảm thông. Cả hai đều có thời gian biểu chặt chẽ. Em sẽ vào thành phố một tuần. Họ là những người bạn tốt vì không cần phải lợi dụng lẫn nhau. Matilda rất vững vàng. Nàng không cần đến cố vấn hay người bảo trợ. Marcantonio không phải tham gia đàm phán với các tài năng mới. Đó là việc của lãnh đạo phòng kinh doanh. Cuộc sống mà họ theo đuổi không thể dẫn đến hôn nhân. Matilda đi nhiều, còn gã làm việc mười lăm tiếng một ngày. Tuy thế họ cũng là bồ bịch thỉnh thoảng vẫn qua đêm với nhau. Họ làm tình, tán gẫu về công việc và cùng xuất hiện tại một số lễ hội. Năm thì mười họa Matilda chợt phải lòng một chàng nào đó họ mới tạm xa nhau. Marcantonio chẳng khi nào yêu cả, mà với gã việc đó cũng không hề gì. Đêm nay vô cùng mỏi mệt với cái thế giới mà gã sống, vì vậy gã rất mừng khi thấy Astorre đang chờ mình ngoài hành lang. – Ê, rất mừng được gặp chú, Marcantonio nói. Tình hình ra sao? – Tôi bận ngập đầu, Astorre đáp. Tôi có thể vào uống chút gì chứ? – Tất nhiên rồi. Tại sao lại mang áo khoác và dao găm thế này? Sao chú không gọi điện? Chắc chú chờ ngoài hành lang lâu lắm rồi. Tôi phải đi dự dạ tiệc mà. – Không sao, Astorre nói. Chàng đã giám sát ông anh họ của mình suốt cả buổi tối. Vào nhà, Marcantonio pha đồ uống cho cả hai. Astorre có vẻ hơi bối rối. – Anh có thể đề xướng cho các dự án tại mạng truyền hình của anh, đúng thế không? – Việc đó tôi làm lúc nào chả được, Marcantonio nói. – Tôi có một dự án cho anh. Nó liên quan đến việc ba anh bị giết. – Không, Marcantonio nói. Đó là tiếng “không” nổi tiếng của gã trong kinh doanh, nó ngăn chặn tất cả những tranh luận tiếp theo. Nhưng xem ra không ngăn được Astorre. – Đừng nói không như thế với tôi. Tôi có bán cái đếch gì cho anh đâu. Việc này liên quan đến sự an toàn của anh trai và em gái anh. Cả anh nữa. Rồi chàng ngoác miệng cười. Và cả tôi – Vậy chú nói đi, Marcantonio yêu cầu, gã nhận ra những thay đổi đáng kinh ngạc ở đứa em họ. Rốt cuộc thì cái thằng được chăng hay chớ đó này đang có âm mưu gì đây? – Tôi muốn anh là một bộ phim tài liệu về FBI, Astorre nói. Đặc biệt là bằng cách nào Kurt Cilke có thể tiêu diệt gần hết các gia đình Mafia. Sẽ có rất nhiều người xem bộ phim này, đúng không nào? Marcantonio lắc đầu. – Mục đích của chúng ta là gì hả? – Tôi không thể hẹn gặp Cilke được. Việc đó quá nguy hiểm. Nhưng nếu anh làm một phóng sự thì không một cơ quan nào của chính phủ dám cản trở anh. Anh có thể tìm ra nơi ông ta sống, tiền sử của ông ta, ông ta làm việc ra sao, ông ta ở vị trí nào trong cơ cấu quyền lực của Cục. Tôi cần tất cả những thông tin đó. – FBI và Cilke sẽ không chịu hợp tác đâu, Marcantonio nói. Điều đó sẽ làm cho công việc trở nên khó khăn. Anh dừng lại. Chẳng như ngày xưa khi Hoover còn làm giám đốc. Bọn mới bây giờ đi nước bài rất kỹ. – Anh làm được mà, Astorre nói. Tôi cần anh làm việc đó. Anh có trong tay cả một đoàn những nhà sản xuất và phóng viên điều tra. Tôi phải biết tất cả về ông ta. Mọi cái. Vì tôi cho rằng ông ta có thể là một phần trong âm mưu chống lại ba anh và gia đình chúng ta. – Đấy là một lý thuyết thực sự điên rồ, Marcantonio nói. – Chắc thế, Astorre nói. Có thể nó không đúng. Nhưng tôi biết đây không phải là vụ giết người do giới tội phạm non nớt gây ra. Và cái ông Cilke ấy lại tiến hành một kiểu điều tra rất nực cười. Hình như ông ta đang xóa dấu vết chứ không phải đang làm rõ chúng. – Vậy là tôi giúp chú thu thập thông tin. Thế tôi phải làm gì? Astorre dang hai tay ra và mỉm cười. – Còn tôi phải là gì hả anh Marc? Tôi chỉ muốn xem mớ tài liệu. Tôi sẽ không copy ra đâu. Anh sẽ không bị nghi ngờ. Marcantonio nhìn chàng chằm chằm. Đầu óc gã đang định hình bộ mặt vui vẻ và quyến rũ của Astorre. Gã trầm ngâm nói – Astorre, tôi tò mò về chú đấy. Ông già để chú nắm quyền. Tại sao? Chú là người nhập khẩu Macaroni. Tôi luôn luôn nghĩ về chú như một gã lập dị với chiếc áo cưỡi ngựa màu đỏ tía và cái băng nhạc nhỏ bé của chú. Nhưng ông già sẽ chẳng đời nào tin một kẻ như vậy cả? – Tôi không còn hát nữa, Astorre nói và mỉm cười. Tôi cũng không cưỡi ngựa nữa. Ông già luôn có cái nhìn chính xác. Ông đặt niềm tin vào tôi. Anh cũng sẽ phải làm như vậy. Chàng dừng lại một lát rồi nói hết sức thành thật. Ông chọn tôi để các con ông không phải cầm súng. Ông đã chọn và dạy dỗ tôi. Ông yêu thương tôi nhưng tôi có thể toi mạng. Đơn giản vậy thôi. – Chú có khả năng đánh trả không? – Ồ, có chứ, Astorre đáp và mỉm cười với người anh họ. Đó là một nụ cười nham hiểm mà một diễn viên đài truyền hình có thể nặn ra nhằm thể hiện rằng mình là quỷ sứ, nhưng ở đây nó được tạo ra bởi một tâm trạng phấn chấn cao độ đến nỗi Marcantonio phải bật cười. Gã hỏi – Đấy là tất cả những gì tôi phải làm hả? Tôi sẽ không dính dáng thêm nữa chứ? – Anh không đủ tiêu chuẩn để đi xa hơn đâu, Astorre nói. – Liệu tôi có thể suy nghĩ vài ngày được không? – Không, Astorre nói. Nếu anh nói không thì sẽ là mình tôi phải chống lại chúng. Marcantonio gật đầu. – Tôi thích chú, Astorre ạ, nhưng tôi không làm được việc này. Có quá nhiều mạo hiểm. Cuộc gặp Kurt Cilke tại phòng làm việc của Nicole là một bất ngờ đối với Astorre. Cilke mang theo Bill Boxton và năn nỉ Nicole tiếp kiến. Ông đi thẳng vào vấn đề. – Tôi được thông báo rằng Timmona Portella đang cố lập một quỹ một triệu đôla tại nhà băng của cô. Có đúng không? – Đó là thông tin cá nhân, Nicole nói. Tại sao chúng tôi phải nói với ngài chứ? Nicole nói với cái giọng Xéo mẹ mày đi cho rồi. Cilke nén giận. – Chúng tôi cho rằng lão đang rửa tiền buôn bán ma túy, ông nói với Astorre. Chúng tôi muốn các vị hợp tác với lão để chúng tôi có thể theo dõi hoạt động của lão. Chúng tôi muốn các vị nhận một số kế toán của chúng tôi vào làm việc. Ông mở cặp. Tôi có một số giấy tờ để các vị ký. Việc này sẽ bảo vệ cả hai phía chúng ta. Nicole nhận mớ giấy tờ từ tay Cilke và đọc nhanh hai trang. – Không ký, nàng cảnh báo Astorre. Các khách hàng của chúng tôi có quyền tự do cá nhân. Nếu muốn điều tra Portella thì phải có lệnh. Astorre cầm giấy tờ lên đọc. Chàng mỉm cười với Cilke. – Tôi tin ngài, chàng nói. Chàng ký rồi đưa chúng cho Cilke. – Đổi lại là gì đây? Nicole hỏi. Chúng tôi được gì cho việc hợp tác này? – Thi hành nhiệm vụ như những công dân tốt, Cilke nói. Một thư khen ngợi của Tổng thống, và chấm dứt kiểm toán có thể gây nhiều rắc rối nếu các vị không hoàn toàn trong sạch. – Thế một ít thông tin về vụ giết bác tôi thì sao? – Được rồi, Cilke nói. Bị bắn. – Tại sao hôm đó cảnh sát lại không làm việc? – Đó là quyết định của thanh tra cảnh sát Paul Di Benedetto, Cilke đáp. Và cả cánh tay phải của ông ta, một phụ nữ tên là Aspinella Washington. – Tại sao không có nhân viên FBI nào ở đó? Astorre hỏi. – Tôi e rằng đấy là quyết định của tôi, Cilke đáp. Tôi không thấy cần phải làm thế. Astorre lắc đầu. – Tôi không nghĩ rằng tôi có thể chấp nhận đề nghị của ngài. Tôi cần vài tuần để cân nhắc đã. – Cậu đã ký giấy tờ rồi, Cilke nói. Thông tin này từ giờ trở đi sẽ là tin mật. Cậu sẽ bị truy tố nếu tiết lộ cuộc trao đổi này. – Việc gì tôi phải làm thế chứ? Astorre nói. Tôi chỉ không muốn chia sẻ việc điều hành nhà băng với FBI hoặc Portella thôi. – Cứ nghĩ cho kỹ nhé, Cilke nói. Khi hai nhân viên FBI ra về, Nicole điên tiết quay sang Astorre. Sao anh dám phản đối quyết định của tôi và ký vào những giấy tờ đó! Thật là ngu xuẩn. Astorre lườm nàng; đây là lần đầu tiên nàng thấy chàng tức giận đến như vậy. – Ông ta sẽ cảm thấy yên tâm với những giấy tờ tôi ký, Astorre nói. Và đó là điều tôi muốn.
Vụ ám sát Don Raymonde Aprile đã làm rung động cả thế giới ngầm. Kẻ nào dám xuống tay hạ một Ông Trùm như lão và động cơ nào thúc đẩy chúng làm việc đó? Hay chúng bị ai sai khiến? Hoặc ai thuê? Lão đã phân phát hầu hết đế chế của mình thì còn gì mà kiếm chác? Chết đi, lão không còn cơ hội để ban phát những món quà hẫu hĩ cũng như sử dụng ảnh hưởng của mình để giúp những người ai cần đương đầu với pháp luật và số phận. Phải chăng đây là một cuộc báo thù đã từng bị trì hoãn? Liệu bí mật này sẽ có ngày bị phơi bày ra ánh sáng? Đương nhiên cũng có thể dính dáng đến đàn bà, nhưng ba mươi năm nay lão vẫn sống vò võ một mình, không ai thấy lão cặp kè với bông hoa nào hết. Lão cũng đâu phải loại người ham sắc. Con cái lão không ai bị nghi ngờ. Đây là một cú chuyên nghiệp, mà họ thì không tiếp xúc với bọn này. Cho nên việc giết lão không những bí ẩn mà còn là báng bổ. Một kẻ đã gây ra bao nỗi kinh hoàng, đã trở nên vô hại với pháp luật và đồng bọn, vẫn sống nhăn khi cai quản cả một đế chế tội ác rộng lớn hơn ba mươi năm, tại sao lại có thể bị giết như thế này? Và thật nực cười, khi đã hoàn lương, đã đặt mình dưới sự che chở của pháp luật, lão lại chỉ sống được có ba năm ngắn ngủi. Còn lạ lùng hơn khi cái chết của lão lại rơi vào im lặng. Giới truyền thông không lên tiếng, cảnh sát kín như bưng còn FBI từ chối điều tra vì coi đó là vấn đề của địa phương hoặc tệ hơn, của băng nhóm. Có vẻ như danh tiếng và quyền lực của Trùm Aprile đã tiêu tan chỉ trong ba năm giải nghệ. Thế giới ngầm cũng tỏ ra không mấy quan tâm, không có vụ thanh toán nào vì thù hận. Tất cả bạn bè và chiến hữu trung thành của Ông Trùm Aprile dường như đã quên lão. Ngay cả con cái lão xem ra cũng muốn gác vụ này lại và chấp nhận số phận của cha mình. Không ai quan tâm – Không ai, trừ Kurt Cilke. Kurt Cilke, đại diện FBI tại New York, quyết định nhúng tay vào vụ này mặc dù đây là một vụ hình sự có tính địa phương dành cho NYPD 1. Ông quyết định lấy lời khai của gia đình nạn nhân. Một tháng sau đám tang của Ông Trùm Aprle, Cilke cùng cấp phó của mình, Bill Boxton, gọi điện cho Marcantonio Aprile. Họ phải thận trọng vì Marcantonio là người lãnh đạo bộ phận lên chương trình của đài truyền hình và có nhiều ảnh hưởng ở Washington. Một cú điện thoại lịch sự đã thu xếp một cuộc gặp qua cô thư ký của gã. Marcantonio tiếp họ trong văn phòng riêng của mình tại Trung tâm truyền hình. Gã nhã nhặn chào họ, mời họ cà phê nhưng cả hai từ chối. Gã là một người cao ráo, đẹp trai, nước da màu kem Ô liu, mặc bộ vét đen, thắt cà vạt màu hồng đỏ kỳ lạ do một nhà tạo mẫu có tiếng trong giới truyền thông sản xuất. Cilke lên tiếng – Chúng tôi đang điều tra về cái chết của cha anh. Anh có nghĩ ai có thể gây ra vụ này không? – Tôi thực sự không biết, Marcantonio mỉm cười nói. Cha tôi bắt tất cả con cháu đứng ngoài cuộc. Chúng tôi lớn lên hoàn toàn xa rời công việc làm ăn của ông. Gã đưa tay làm một cử chỉ xin lỗi. Cilke không thích cử chỉ đó. – Anh nghĩ cái gì có thể là nguyên nhân? Ông hỏi. – Các ngài đã biết quá khứ của cha tôi. Marcantonio nói một cách nghiêm túc, Ông không muốn con cái dính dáng vào công việc của mình. Chúng tôi được đi học để tìm một chỗ đứng cho mình trong xã hội. Ông không khi nào đến nhà chúng tôi ăn tối. Ông chỉ đến dự lễ tốt nghiệp của chúng tôi; vậy đấy. Và đương nhiên, khi hiểu ra, chúng tôi vô cùng biết ơn. Cilke hỏi: – Anh thăng tiến vùn vụt. Ông có giúp anh chút nào không? Lần đầu tiên Marcantonio bớt đi vẻ nhã nhặn. – Không khi nào. Trong nghề nghiệp của tôi, việc những người trẻ tuổi thăng tiến nhanh chóng không có gì bất bình thường cả. Cha tôi gửi tôi đến học ở những trường tốt nhất và cho tôi khá nhiều tiền trợ cấp. Tôi đã dùng số tiền đó để phát triển khả năng kịch nghệ, và tôi đã có những lựa chọn đúng. – Và cha anh hài lòng chứ? Cilke hỏi. Ông đang quan sát Marcantonio, cố gắng đọc từng biểu hiện trên mặt gã. – Tôi không nghĩ ông thực sự hiểu rõ những gì tôi đang làm, tuy nhiên ông hài lòng, Marcantonio giễu cợt đáp. – Anh biết không, tôi đã theo dõi cha anh suốt hai mươi năm nhưng chưa lần nào bắt được ông ấy. Thật là một con người khôn ngoan. – Chúng tôi cũng không thể làm việc đó, Marcantonio nói. Anh tôi, em gái tôi và tôi. Cilke vừa hỏi vừa cười, Anh không cảm thấy sự báo thù của người Sicile đấy chứ? Anh có nghĩ đến một cái gì đại loại như vậy không? – Hoàn toàn không, Marcantonio nói. Cha tôi nuôi dạy chúng tôi khôn lớn không để làm chuyện đó. Tôi hy vọng các ngài sẽ bắt được hung thủ. – Thế còn di chúc? Cilke hỏi. Cha anh là một người giàu có. – Các ngài phải hỏi em gái tôi chuyện đó. Nó là luật sư mà, Marcantonio trả lời. – Nhưng anh biết trong di chúc có gì chứ? – Chắc thế, Marcantonio nói. Giọng gã đanh lại. Boxton chen vào, Anh không nghĩ rằng có kẻ nào đó muốn hại cụ nhà hay sao? – Không. Nếu có một cái tên, tôi sẽ báo ngay cho các ngài. – Ok, Cilke nói. Tôi để lại cho anh danh thiếp. Phòng xa mà. Trước khi đi gặp hai người con khác của Aprile, Cilke quyết định gọi điện cho thanh tra cảnh sát thành phố. Vì không muốn bị ghi âm, ông mời Paul Di Benedetto tới một trong những nhà hàng Ý đẹp nhất khu East Side. Di Benedetto rất khoái ăn nhậu miễn là y không phải chi tiền túi. Hai người thường phải giải quyết công việc cùng nhau nhiều năm qua và Cilke rất thích giao du với y. Lúc này ông đang quan sát Paul nếm thử các món. – Thế đấy, Di Benedetto nói. Cánh điều tra Liên bang chẳng mấy khi được xơi một bữa ngon lành như thế này. Cậu muốn cái quái gì hả? Cilke nói: một bữa ăn thịnh soạn. Đúng không? Di Benedetto nhún đôi vai bự như chuyển động của một con sóng. Sau đó y mỉm cười hơi pha chút ác ý. Khuôn mặt y biến thành một nhân vật được yêu thích nào đó của Disney. – Kurt, y nói. Chỗ này toàn cứt. Nó được lũ khốn ngoài vũ trụ điều hành. Thật đấy, chúng nấu đồ ăn nom giống kiểu Italy, chúng làm nó có mùi Italy, thế nhưng nó lại có cái vị chết tiệt thế này. Đúng là bọn ngoài hành tinh. Tớ nói cho cậu biết. Cilke phá lên cười. – Này, nhưng rượu cũng ngon đấy chứ? – Với tớ, chúng có mùi thuốc trị bệnh, trừ loại guine đỏ pha lẫn soda. – Cậu quả là người khó chiều, Cilke nói. – Không tớ rất dễ tính. Lúc nào cũng thế. Cilke thở dài. Mất toi hai trăm đô để đổi lấy một bãi phân. – Ồ không, Di Benedetto đáp. Tớ đánh giá cao nghĩa cử mà. Cilke gọi cà phê đặc cho cả hai. Ông nói – Tớ đang điều tra vụ Trùm Aprile. Nó là của cậu, Paul ạ. Bọn tớ đã quan tâm đến lão nhiều năm mà chẳng nước non gì. Lão về hưu, sống đường hoàng, lão chẳng còn gì khiến kẻ khác thèm muốn. Vậy tại sao lão bị giết? Một việc rất nguy hiểm đối với bất kỳ kẻ nào nhúng tay vào. – Rất chuyên nghiệp, Di Benedetto nói. Một thành tích xuất sắc. – Vậy sao? – Thật chẳng khôn ngoan chút nào, Di Benedetto nói. Cậu đã xóa sạch phần lớn các yếu nhân của Mafia, một việc làm cũng đáng giá đấy. Tớ xin bái phục. Có lẽ cậu còn buộc lão già đó phải về hưu. Vì thế những kẻ khôn ngoan vẫn còn chưa bị tóm không có lý do gì để nốc ao lão. – Thế còn những nhà băng của lão? Cilke hỏi Di Benedetto vung vẩy điếu xì gà. – Đó là việc của cậu. Bọn tớ chỉ chạy theo đám cặn bã thôi. – Thế còn gia đình lão ? Cilke gặng. Ma túy, đàn bà, thôi thì mọi thứ? – Hoàn toàn không. Những công dân thượng lưu với những nghề nghiệp cao quý. Cùng một tay lão Trùm sắp đặt cả. Lão muốn con cái mình là những người hoàn toàn ngay thẳng. Y dừng lại và làm bộ nghiêm trọng. Ở đây phải có nguyên nhân. Phải có kẻ nào đó được lợi. Đấy là cái chúng tớ đang tìm. – Còn di chúc của lão? – Ngày mai con gái lão sẽ nộp. Tớ yêu cầu mà. Cô ta bảo tớ phải chờ. – Và cậu vẫn chờ chứ? Cilke hỏi. – Ừ, Di Benedetto nói. Cô ta là một luật sư thượng hạng, có nhiều ảnh hưởng và hãng luật của cô ta là một lực lượng chính trị. Làm sao tớ có thể cứng rắn với cô ta được ? Tớ chỉ còn cách phục tùng thôi. – Có thể tớ sẽ làm tốt hơn. Cilke nói. – Tớ chắc vậy. Kurt Cilke biết phó thanh tra cảnh sát, Aspinella Washington, hơn mười năm nay. Mụ cao sáu bộ, là người Mỹ gốc Phi có mái tóc cắt ngắn và những đường nét đẹp như tạc. Mụ là nỗi khiếp sợ của thuộc cấp và đám tội phạm rơi vào tay mụ. Một cách cố ý, mụ hay làm mếch lòng mọi người, và mụ chẳng ưa gì Cilke cũng như FBI. Mụ đón Cilke tại cơ quan với câu hỏi – Kurt, anh đến đây mời tôi đi ăn cỗ phải không? Cilke cười – Không, Aspinella. Tôi đến tìm thông tin. – Rõ rồi, mụ nói. Miễn phí chứ ? Hay sau khi anh trả cho thành phố năm triệu đô la? Mụ mặc áo khoác bằng vải thường và quần màu nâu vàng. Dưới áo khoác của mụ anh nhìn thấy một bao súng ngắn. Tay phải mụ đeo một chiếc nhẫn kim cương xem ra có thể cắt được lớp da chẳng kém gì một lưỡi dao cạo. Mụ vẫn còn ác cảm với Cilke vì FBI đã có lần làm rõ một vụ lạm dụng vũ lực chống lại các điều tra viên của mụ và trên cơ sở quyền công dân, nạn nhân đã thắng kiện, hai điều tra viên của mụ phải ra tòa. Nạn nhân, một kẻ giàu có, là một tên ma cô và bán rong ma túy. Chính Aspinella đã có lần nện y một trận nhừ tử. Mặc dù được đề bạt làm phó sếp để xoa dịu người Mỹ da đen, nhưng Aspinella lại tỏ ra cứng rắn với đám tội phạm da đen hơn đám tội phạm da trắng. – Ngừng đánh những người vô tội, Cilke nói. Tôi cũng sẽ dừng lại. – Tôi chưa bao giờ chụp mũ những người không có tội cả, mụ nói và cười toe toét. – Tôi đang tìm kẻ giết Trùm Aprile, Cilke nói. – Đấy có phải việc của anh đâu? Đây là một vụ đụng độ của các băng nhóm địa phương. Chó chết. Hay anh đang làm một vụ quyền công dân khác đấy? – Ừ, nó có thể liên quan đến tiền bạc và ma túy, Cilke nói. – Làm sao anh biết được? – Chúng tôi có chỉ điểm chứ sao. Bất thình lình Aspinella lên cơn thịnh nộ. – Anh và cả cái đám FBI chó chết tới đây để lấy thông tin mà chẳng chịu chìa cho tôi cái gì cả. Các anh không đàng hoàng như cớm. Các anh chỉ lượn lờ quanh việc bắt giữ mấy thằng trí thức. Các anh chẳng bao giờ đụng vào những việc bẩn thỉu. Các anh đéo biết đó là cái gì. Xéo khỏi đây ngay. Cilke hài lòng với hai cuộc phỏng vấn. Kết quả đã rõ ràng. Cả Di Benedetto và Aspinella sẽ phải vào nhà đá trong vụ Trùm Aprile. Họ sẽ không hợp tác với FBI. Họ sẽ chỉ làm chiếu lệ. Tóm lại, họ đã bị hối lộ. Ở đây, một nguyên nhân giải thích cho niềm tin của ông. Ông biết việc buôn bán ma túy chỉ có thể tồn tại nếu các nhân viên cảnh sát bị mua chuộc, và ông có lời bảo đảm, không được tốt lắm trước tòa, rằng Di Benedetto và Aspinella có tên trong danh sách trả lương của bọn buôn ma túy. Trước khi gặp Nicole, Cilke quyết định tận dụng cơ hội với người con cả của lão, Valerious Aprile. Thế là ông và Boxton phải lên West Point, nơi Valerious – một đại tá quân đội Mỹ – dạy chiến thuật quân sự – hay một môn quỷ quái nào đấy, Cilke nghĩ vậy. Valerious tiếp họ trong một căn phòng rộng nhìn xuống sân duỵêt binh, nơi các học viên sĩ quan đang tập đi đều. Gã không được nhã nhặn như đứa em trai. Cilke hỏi liệu gã có biết về các kẻ thù của cha mình không. – Không, gã nói. Tôi phục vụ ở nước ngoài suốt gần hai mươi năm qua. Tôi chỉ về nhà khi có thể. Cha tôi tin rằng tôi sẽ leo lên đến hàng cấp tướng. Ông muốn thấy tôi đeo ngôi sao đó. Thậm chí lon thiếu tướng cũng làm ông vui rồi. – Thế thì ông nhà yêu nước quá còn gì? Cilke hỏi. – Ông yêu đất nước này. Valerious đáp cộc lốc. – Ông cho ngài cơ hội được làm học viên sĩ quan phải không? Cilke thúc ép. – Tôi nghĩ vậy. Valerious nói. Nhưng ông không thể làm cho tôi thành một viên tướng. Tôi đoán ông không có ảnh hưởng ở Ngũ Giác Đài, hoặc ở một mức độ nào đó, tôi không đủ tiêu chuẩn. Dù sao tôi cũng thích nó. Tôi có cơ hội của mình. – Ngài không thể cho chúng tôi một đầu mối dẫn đến bất kỳ kẻ thù nào của ông nhà ư? Cilke hỏi. – Không, ông không hề có kẻ thù. Valerious đáp. Cha tôi lẽ ra có thể trở thành một vị tướng tài. Khi về hưu, ông đã che giấu được mọi thứ. Sức mạnh của ông khi được sử dụng luôn luôn nhằm mục đích ngăn chặn. ông có lực lượng và tiền bạc. – Ngài có vẻ chẳng mấy quan tâm xem ai đã giết cha ngài. Không có ý định trả thù chứ? – Không nhiều hơn so với một đồng sự ngã xuống trong chiến đấu, Valerious nói. Tất nhiên tôi rất muốn không một ai phải nhìn thấy cha mình bị giết. – Ngài có biết gì về bản di chúc của ông nhà không? – Ngài phải hỏi em gái tối, Valerious trả lời. Cuối chiều hôm đó. Cilke và Boxton có mặt ở văn phòng của Nicole Aprile, và tại đây họ được đón tiếp khác hẳn. Chỉ có thể đến được phòng làm việc của Nicole bằng cách đi qua ba lớp rào thư ký và một nữ vệ sẽ trông có vẻ thừa sức đẩy cả Cilke và Boxton văng ra trong vòng hai giấy. Nhìn cách di chuyển có thể nói rằng công ta đã tập luyện một cách công phu và bài bản. Các cơ bắp của cô hằn lên qua lớp quần áo. Bộ ngực được nịt chặt, cô mặc áo khoác bằng lanh trùm ra bên ngoài áo len cổ lọ và chiếc quần màu đen. Nicole chào đón khách không được nồng nhiệt lắm. Trông nàng rất hấp dẫn trong bộ vét hợp thời trang màu tím đậm. Nàng đeo đôi khuyên tai rất to bằng vàng, còn mái tóc đen của nàng vừa mượt vừa dài. Nét mặt nàng đẹp và cứng rắn được biểu lộ bởi đôi mắt to màu nâu dịu. – Thưa các ngài, tôi chỉ cho các ngài hai mươi phút thôi, nàng nói. Nàng mặc chiếc áo cánh có riềm xếp bên trong áo khoác tím. Hai ống tay áo che kín cả bàn tay nàng trong khi nàng chìa một tay ra cầm chiếc thẻ của Cilke. Nàng xem một cách cẩn thận rồi nói: – Đại diện đặc biệt à? Cấp bậc khá cao cho một yêu cầu thường ngày thế này. Nàng nói bằng một chất giọng quá quen thuộc với Cilke, giọng nói này thường làm ông bực mình. Đó là giọng trách mắng nhẹ nhàng của các công tố viên Liên bang khi đang giải quyết các vấn đề điều tra mà họ phụ trách. – Cha cô là một người rất quan trọng, thưa cô. Cilke nói. – Vâng, cho đến khi ông về hưu và đặt mình dưới sự che chở của pháp luật. Nicole cay đắng nói.
Google photos
– Điều đó càng làm cho việc giết ông nhà bí hiểm hơn, Cilke nói. Chúng tôi hy vọng cô có thể cho chúng tôi một số ý niệm về những kẻ có thái độ hằn học với ông nhà. – Không đến nỗi bí hiểm đến thế, Nicole nói. Ngài biết cuộc sống của cha tôi rõ hơn tôi nhiều. Ông có không ít kẻ thù, trong đó có cả ngài nữa đấy. – Ngay cả những người chỉ trích chúng tôi tệ hại nhất cũng không buộc FBI dính vào vụ án mạng bên thềm nhà thờ. Cilke nói khô khốc. Mà tôi cũng chẳng phải là kẻ thù của ông ấy. Tôi chỉ là người thừa hành pháp luật. Sau khi nghỉ hưu ông không còn kẻ thù. Ông đã đấm mõm bọn chúng. Cilke dừng lại một lát. Tôi thấy khó hiểu là cả cô và các anh cô hình như đều không muốn tìm ra kẻ đã giết cha mình. – Vì chúng tôi không phải là những kẻ đạo đức giả, Nicole vặc lại. Cha tôi không là một vị thánh. Ông tham gia cuộc chơi và đã trả giá. Nàng dừng lại. Và ngài đã nhầm khi cho rằng tôi không quan tâm. Thực tế là tôi sẽ kiến nghị lấy hồ sơ của FBI về cha tôi theo luật tự do thông tin. Tôi hy vọng ngài sẽ không gây trở ngại, vì nếu thế chúng ta sẽ là kẻ thù của nhau đấy. – Đấy là quyền của cô, Cilke nói. Nhưng biết đâu cô có thể giúp tôi bằng cách cho tôi biết những điều khoản trong di chúc của ông. – Tôi có thảo di chúc đầu, Nicole nói. – Nhưng tôi nghe nói cô là luật sư. Lúc này cô hẳn phải biết các điều khoản của nó rồi. – Chúng tôi sẽ đệ trình xin chứng thực vào ngày mai. Nó sẽ là hồ sơ công dân. – Còn gì giúp được chúng tôi mà cô có thể nói bây giờ không? Cilke hỏi. – Chỉ còn việc tôi sẽ không về hưu sớm nữa thôi. – Sao hôm nay cô không nói gì với tôi hả? – Vì tôi không có nghĩa vụ phải làm như vậy, Nicole lạnh lùng đáp. – Tôi biết cha cô khá rõ, Cilke nói. Lẽ ra ông ấy phải chừng mực hơn. Lần đầu tiên nàng nhìn ông bằng ánh mắt tôn trọng. – Đúng thế, nàng nói. OK. cha tôi đã phân phát rất nhiều tiền trước khi chết. Tất cả những gì ông để lại cho chúng tôi là các nhà băng. Tôi và hai anh thừa hưởng bốn mươi chính phần trăm, năm mốt phần trăm còn lại sẽ thuộc về một người bà con, Artorre Viola. – Cô có thể cho tôi biết đôi điều về anh ta không? Cilke hỏi. – Astorre ít tuổi hơn tôi. Anh ấy chưa bao giờ dính dáng vào chuyện làm ăn của cha tôi cả, và tất cả chúng tôi đều yêu quý anh vì đấy là một anh chàng dễ thương. Tất nhiên bây giờ tôi không còn yêu anh ấy nhiều như trước kia. Cilke lục tìm trong ký ức. Ông không thể nhớ hồ sơ về Artorre Viola nhưng nhất định nó phải nằm đâu đó. – Cô có thể cho tôi địa chỉ và số điện thoại của cậu ta không? Cilke hỏi. – Được thôi, Nicole trả lời. Nhưng các ngài chỉ phí thì giờ thôi. Tin tôi đi. – Tôi phải làm rõ các chi tiết, Cilke nói giọng hối lỗi. – Vậy điều gì làm FBI quan tâm? Nicole hỏi. Đây là vụ trọng án của địa phương cơ mà? Cilke lạnh lùng nói – Mười ngân hàng cha cô sở hữu đều là những ngân hàng quốc tế. Ở đây có thể có những rắc rối về tài chính. – Ồ đúng rồi, Nicole reo lên. Vậy tôi sẽ hỏi hồ sơ về anh ấy ngay bây giờ. Xét cho cùng thì tôi cũng sở hữu một phần các nhà băng đó. Nàng nhìn ông ngờ vực, và ông biết mình sẽ còn phải để mắt tới nàng. Ngay hôm sau Cilke và Boxton đánh xe đi Westehester County để gặp Astorre Viola. Nơi đây có một bất động sản trồng nhiều cây bao gồm một ngôi nhà đồ sộ và ba chuồng ngựa. Có cả thảy sáu con ngựa trên đồng cỏ được bao quanh bởi một hàng rào hai nhánh ray cao tới thắt lưng có những cánh cổng làm bằng sắt rèn. Bốn chiếc xe hơi và một xe tải nhỏ đỗ ở bãi đất trống trước nhà. Cilke nhớ được hai trong số các biển đăng ký. Một bà lão chừng bảy mươi tuổi cho họ vào rồi dẫn họ tới một phòng khách sang trọng chất đầy dụng cụ thu âm. Bốn thanh niên đang đọc bản nhạc trên giá nhạc và một người ngồi trước cây đàn piano – một sự phối hợp nhà nghề của Saxophone, guitar bass, guitar và trống. Astorre đứng trước micro đối diện với những người kia và đang hát bằng một giọng khàn khàn. Đến Cilke cũng có thể nói rằng loại nhạc này sẽ không có khán giả. Astorre ngừng hát và nói với hai vị khách, – Các ngài có thể chờ năm phút cho đến khi chúng tôi thu âm xong được không ? Sau đó các bạn tối có thể nghỉ ngơi còn các ngài sẽ có đủ thời gian mong muốn. – Được thôi, Cilke nói. – Mang cà phê cho khách nhé, Astorre nói với bà giúp việc. Astorre không yêu cầu một cách lịch sự mà là ra lệnh Cilke và Boxton phải chờ hơn năm phút. Astorre đang thu âm một bài dân ca Italy – vừa gảy tưng tưng vào cây đàn banjo chàng vừa hát bằng một thổ ngữ dung tục mà Cilke không hiểu được. Nghe chàng hát cũng thấy thích, cứ như nghe chính giọng mình trong cơn mưa rào. Cuối cùng chỉ còn lại mình họ, Astorre lau mặt. – Cũng không tệ lắm, chàng cười nói. Phải không các ngài? Cilke thấy mình ngay lập tức mến chàng trai. Khoảng ba mươi, chàng có sức sống của một đứa trẻ và không làm ra vẻ quan trọng. Chàng cao và cân đối, khéo léo như một võ sĩ quyền Anh. Chàng có vẻ đẹp của nước da ngăm và những đường nét trên khuôn mặt không đều nhưng sắc sảo mà người ta có thể thấy ở những bức chân dung thế kỷ mười lăm. Chàng không có vẻ tự phụ nhưng quanh cổ lại đeo một chiếc dây vàng bản rộng tới hai inch, gắn vào đó là một huy hiệu có khắc hình Đức mẹ đồng trinh. – Nghe hay đấy, Cilke nói. Cậu sẽ chọn lựa một đĩa nhạc để bán chứ? Astorre cười, một nụ cười rộng mở hòa nhã. – Tôi muốn lắm chứ. Nhưng tôi không khá đến thế đâu. Tuy nhiên tôi thích những bài hát này. Tôi tặng chúng cho các bạn tôi làm kỉ niệm. Cilke quyết định đi ngay vào công việc. – Đây chỉ là thủ tục thôi, ông nói. Cậu có biết kẻ nào có thể hại bác cậu không? – Không ai sất, Astorre nói, mắt nhìn thẳng. Cilke mệt mỏi vì phải nghe mãi điều này. Ai mà chẳng có kẻ thù cơ chứ, nhất là Trùm Aprile. – Cậu được thừa kế các nhà băng. Về mặt huyết thống cậu có gần đến thế không? – Thực ra tôi cũng không biết, Astorre nói. Khi còn nhỏ tôi là một trong số những người được bác tôi yêu quý. Bác giúp tôi kinh doanh và rồi hình như quên tôi luôn. – Cậu kinh doanh những gì? Cilke hỏi. – Tôi nhập khẩu các loại macaroni thượng hạng từ Italy. Cilke nhìn cậu ngờ vực. Astorre mỉm cười, chàng đã quen với những phản ứng loại này. Đây không phải là lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn. – Ngài biết tại sao Lee Iacocca không khi nào nói xe hơi mà luôn luôn nói ô tô chứ ? Cũng vậy thôi, trong kinh doanh chúng tôi không nói bột và mì ống, chúng tôi chỉ nói macaroni. – Và bây giờ cậu sẽ là chủ nhà băng? Cilke hỏi. – Tôi sẽ thử, Astorre trả lời. Trên đường về Cilke hỏi Boxton – Cậu nghĩ sao? Ông thích Boxton. Một người luôn được yêu mến ở Cục vì những gì anh làm – đó là luôn đúng luật, liêm khiết và tố hơn nhiều so với bất kỳ một cơ quan thi hành pháp luật nào về tính hiệu quả. Những cuộc phỏng vấn này phần nào có lợi cho anh. – Với tôi tất cả đều có vẻ thành thật, Boxton nói. Không phải lúc nào cũng vậy sao? Ừ, họ luôn thành thật, Cilke nghĩ. Rồi một cái gì đó nảy ra trong ông. Tấm huy hiệu gắn vào chiếc vòng vàng trên cổ Astorre không khi nào chuyển động. Đối với Cilke quan trọng nhất là cuộc phỏng vấn cuối cùng với Timmona Portella, trùm Mafia New York. Chỉ có hắn và Trùm Aprile là chưa bị truy tố sau các cuộc điều tra của Cilke. Portella điều hành các hoạt động của mình từ một văn phòng rộng rãi trên đỉnh một cao ốc của hắn ở khu West Side. Các công ty con do hắn kiểm soát chiếm nốt phần còn lại của tòa nhà. An ninh ở đây chặt chẽ như ở pháo đài Fort Knox, và bản thân Portella đi về dinh thự của mình bằng máy bay lên thẳng – trên nóc cao ốc trang bị một bãi đáp. Chân hắn chẳng mấy khi chạm vào hè phố New York. Portella chào đón Cilke và Boxton tại văn phòng của hắn. Nơi đây la liệt ghế bành, còn những bức tường chống đạn bằng thủy tinh cho người ta cái nhìn tuyệt diệu về đường nét của thành phố từ trên trời. Hắn có một thân hình đồ sộ, tươm tất trong bộ comple đen và sơ mi trắng. Cilke bắt bàn tay đầy thịt của Portella và tỏ ra ngưỡng mộ chiếc cà vạt đen thắt trên cái cần cổ tổ bố của hắn. – Kurt này, tôi giúp được gì cho ngài đây? Portella nói bằng giọng kim vang khắp căn phòng. Hắn lờ luôn Bill Boxton. – Tôi chỉ kiểm tra việc làm của Aprile. Tôi nghĩ rằng ngài có thể biết một số thông tin mà tôi đang cần. – Tiếc quá, ông ấy chết rồi, Portella nói, Ai mà không yêu quý Raymonde Aprile chứ. Tôi không tài nào hiểu nổi ai đó lại có thể làm việc này. Ông ấy đã thành một vị thánh, thánh sống. Ông ấy đã hiến tiền bạc của mình như Rockefeller vậy. Lúc Chúa mang ông ấy đi tâm hồn ông ấy hoàn toàn tinh khiết. – Chúa không mang ông ấy đi, Kurt nói khô khốc. Đó là một vụ giết người cực kỳ chuyên nghiệp. Ở đây nhất định phải có động cơ. Mắt Portella giật giật nhưng hắn không nói gì. Cilke tiếp tục, Ngài là đồng nghiệp của ông ấy nhiều năm qua. Ngài phải biết một cái gì đó chứ. Việc cháu ông ấy được thừa kế ngân hàng là sao hả? – Nhiều năm trước Don Aprile và tôi có làm chung vài vụ, Portella nói. Nhưng khi Aprile về hưu, suyt nữa ông ấy đã khử tôi. Việc tôi hãy còn sống chứng minh rằng chúng tôi không là kẻ thù của nhau. Về thằng cháu ông ấy tôi chả biết gì trừ việc cậu ấy là ca sĩ. Cậu ấy hát tại các đám cưới, các buổi tiệc tùng, thậm chí cả ở vài hộp đêm nữa. Cậu ấy là một trong số những thanh niên mà mấy lão già cổ hủ như tôi yêu mến. Cậu ấy bán loại Macaroni hảo hạng của Italy. Tất cả các nhà hàng của tôi đều dùng chúng. Hắn dừng lại và thở dài. Một người vĩ đại bị giết luôn luôn là một điều bí ẩn. – Ngài biết đấy, sự giúp đỡ của ngài sẽ được đánh giá cao, Cilke nói. – Tất nhiên. FBI luôn chơi sòng phẳng mà. Tôi biết sự giúp đỡ của tôi sẽ được đánh giá cao. Hắn ban cho Cilke và Boxton một nụ cười ấm áp làm phô ra những chiếc răng vuông vức và hoàn hảo. Trên đường về cơ quan, Boxton nói với Cilke, – Tôi đã đọc hồ sơ về thằng cha này. Nó là trùm kinh doanh mặt hàng đồi trụy và ma túy, nó còn là một kẻ sát nhân nữa. Tại sao chúng ta lại chưa tóm được nó nhỉ ? – Cũng chẳng tệ hơn những đứa khác đâu, Cilke nói. Thế nào cũng có ngày tôi chộp được nó. Kurt Cilke đề nghị giám sát điện tử nhà Nicole Aprile và Astorre Viola. Một thẩm phán của tòa án dân sự Liên bang đã thông qua quy định cần thiết. Không phải Cilke thực sự nghi ngờ – ông chỉ muốn thật chắc chắn. Nicole bẩm sinh là người gây rắc rối, Astorre trông đáng tin cậy hơn. Không thể nghe lén Valerious vì nhà gã nằm trong học viện West Point. Cilke nghe nói niềm đam mê của Astorre là những con ngựa trên đồng cỏ của chàng. Sáng nào chàng cũng chải lông cho một con ngựa đực trước khi thả nó ra đồng cỏ. Cũng không có gì xấu, trừ việc chàng toàn mặc lễ phục kiểu Anh – áo choàng đỏ và những thứ khác kể cả một chiếc mũ đi săn bằng da mềm màu đen. Ông thấy khó mà tin rằng Astorre lại trở thành mục tiêu không tự vệ được của ba kẻ trấn lột ở Central Park. Hình như chàng thoát được – nhưng về những gì đã xảy ra với những kẻ trấn lột thì báo cáo của cảnh sát lại quá mù mờ. Hai tuần sau Cilke và Boxton đã có thể nghe được những cuộn băng được cài tại nhà Astorre. Những giọng nói là của Nicole, Marcantonio, Valerious và Astorre. Trên cuốn băng họ trở nên con người hơn với Cilke, họ đã tháo bỏ mặt nạ của mình. – Tại sao chúng lại giết ba? Nicole hỏi, giọng nàng vỡ ra đầy đau khổ. Không còn sự lạnh lùng mà nàng đã thể hiện với Cilke. – Ở đây phải có lý do, Valerious khẽ khàng nói. Giọng gã nhã nhặn hơn khi nói với gia đình mình. Tôi chẳng có mối liên hệ nào với việc làm ăn của ông già nên tôi cũng không lo gì cho tôi cả. Thế còn cô chú? Marcantonio nói với vẻ khinh thị, rõ ràng không khoái anh trai mình. – Val, ông già lo cho anh đến West Point vì anh là người nhu nhược. Ông muốn làm anh cứng rắn. Rồi ông lại lo cho anh đi làm tình báo ở nước ngoài nên anh mới có hôm nay. Ông khoái cái ý tưởng anh có thể lên đến cấp tướng. Tướng Aprile – ông khoái cái âm thanh đó lắm. Ai mà biết ông đã giật những sợi dây nào. Giọng Marc ở trong băng vang lên với quá nhiều năng lượng và sôi nổi hơn khi đối thoại trực tiếp. Một đoạn tạm dừng dài, rồi Marcantonio nói tiếp – Tất nhiên ông cũng giúp tôi khởi sự. Ông tài trợ cho hãng sản xuất của tôi. Các cơ quan đại diện lớn đã cho tôi cơ hội làm việc với những ngôi sao của họ. Nghe đây, chúng ta không hiện diện trong cuộc sống của ông già, nhưng ông luôn luôn ở trong chúng ta. Nicole, ông già đã đỡ cho cô mười năm trả nợ bởi đã lo cho cô nghề luật sư ở hãng luật. Còn Astorre, chú nghĩ coi ai đã lo cho chú cái quầy macaroni ở các siêu thị hả? Bất thình lình Nicole nổi cáu. – Ba có thể đã lo lót cho tôi lọt cửa, nhưng người duy nhất có trách nhiệm về những thành đạt trong nghề nghiệp của tôi chính là tôi. Tôi đã phải đấu tranh với các tay tổ tại hãng luật cho những gì tôi nhận được. Tôi đã phải dành tám tiếng một ngày để đọc các ấn phẩm nghệ thuật. Nàng dừng lại, lúc này giọng nàng trở nên lạnh lùng. Hẳn nàng đã quay sang Astorre. Và điều tôi muốn biết là tại sao ba lại để anh đại diện cho các nhà băng. Anh thì làm được cái quái gì hả? Giọng Astorre vang lên hối tiếc – Nicole à, tôi đâu biết. Tôi không đòi hỏi điều đó. Tôi có cơ sở kinh doanh, tôi thích ca hát và cưỡi ngựa. Ngoài ra, như thế cũng tốt cho các anh chị. Tôi phải làm tất cả mọi việc, và lãi sẽ được chia đều cho bốn người chúng ta. – Nhưng anh có quyền kiểm soát trong khi anh chỉ là chỗ họ hàng, Nicole nói. Nàng mỉa mai chua thêm. Chắc ba tôi phải thích nghe anh hát lắm. Valerious nói – Chú sẽ cố điều hành nhà băng một mình chứ ? Astorre giả vờ khiếp sợ – Ồ, không, không. Nicole sẽ ném vào mặt tôi một danh sách những cái tên, họ vẫn làm thế mà. Giọng Nicole đẫm nước mắt và thất vọng – Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao ba không chọn tôi. Tại sao? – Bởi ông không muốn bất kỳ đứa con nào của mình ngồi trên đầu người khác, Marcantonio nói. Astorre nhỏ nhẹ – Có lẽ làm thế để tránh cho các anh chị khỏi gặp nguy hiểm đấy thôi. – Tại sao anh lại thích thằng cha FBI, kẻ đã tới nhà mình cứ như thể một người bạn tốt nhất ấy? Nicole nói. Hắn đã săn đuổi ông già nhiều năm trời. Bây giờ lại còn hý hửng tưởng anh em mình sẽ rót tất cả bí mật gia đình vào tai hắn. Đồ đê tiện. Cilke cảm thấy máu nóng dồn lên mặt. Ông đâu có xứng với điều đó. Valerious nói – Hắn đang làm nhiệm vụ. Cũng chẳng dễ đâu. Hắn hẳn phải là một người có tài. Hắn đã lôi được khá nhiều bạn bè của ông già ra trước vành móng ngựa. Và hắn làm được hoài. – Quân phải bội, lũ chỉ điểm, Nicole khinh bỉ nói. Và còn luật RICO nữa, người ta thực hiện chúng rất bài bản. Chiếu theo luật này, một nửa các nhà lãnh đạo của chúng ta có thể phải ra tòa, và phần lớn cánh nhà giàu của Câu lạc bộ năm trăm nữa. – Nicole, cô là luật sư đấy, Marcantonio nói. Cắt cái chuyện rác rưởi ấy đi. Astorre tư lự hỏi, các nhân viên FBI kiếm đâu ra bộ cánh kẻng thế nhỉ? Có thợ may đặc biệt cho họ à? – Đó là cách ăn mặc của họ thôi, Marcantonio nói. Chuyện đó cũng bí mật đấy. Nhưng trên TV tụi này chưa bao giờ kiếm được một gã như Cilke cả. Cực kỳ lịch sự, cực kỳ trung thực, danh giá trên mọi phương diện. Tuy nhiên đừng bao giờ tin hắn. – Marc, hãy quên cái chương trình TV giả cầy của chú đi. Chúng ta đang lâm vào một tình thế bất lợi. Và lúc này có hai vấn đề lớn được đặt ra: Tại sao và kẻ nào. Tại sao ba bị giết? Kẻ nào có thể làm việc đó? Ai cũng nói ba không có kẻ thù và chẳng có gì để người khác phải thèm muốn. – Tôi có kiến nghị được xem hồ sơ của ba tại Cục lưu trữ, Nicole nói. May ra tìm được đầu mối. – Để làm gì? Marcantonio phản đối. Tụi mình không làm được gì đâu. Vụ này phải để cho chính quyền lo. Giọng Nicole lộ vẻ xem thường. Vậy việc chúng ta xem xét kẻ nào đã giết ba là vô lý à? Anh nghĩ sao hả Astorre? Anh có thấy như vậy không? Giọng Astorre nhẹ nhàng, ôn hòa. – Anh em mình có thể làm gì? Tôi yêu cha của các anh chị. Tôi biết ơn bác, trong di chúc bác đã quá hào phóng với tôi. Nhưng hãy chịu khó đợi xem chuyện gì xảy ra. Đúng, tôi thích Cilke. Nếu ở đây có gì để tìm, ông ấy sẽ tìm được. Anh em mình đều có cuộc sống tốt đẹp, vậy thì hủy hoại nó làm gì? Chàng dừng lại rồi nói tiếp – Thôi, tôi còn phải gọi cho một trong số những nhà cung cấp của tôi. Tôi phải đi đây. Nhưng mọi người cứ ở lại mà bàn tiếp. Đến đây có một khoảng im lặng khá dài. Cilke không thể không dành thiện chí cho Astorre và sự phẫn nộ cho những người còn lại. Nhưng nhìn chung, ông hài lòng. Đây không phải là những người nguy hiểm. Họ sẽ không gây rắc rối cho ông. – Tôi yêu quý Astorre, lúc này giọng Nicole vang lên. Anh ấy gần gũi ba hơn bất kỳ ai trong ba anh em ta. Nhưng cũng chả là cái quái gì. Marc, liệu anh ấy có thể hành nghề hát xướng được không? Marcantonio phá lên cười – Bọn này đã thấy hàng nghìn thằng như nó. Nó giống một ngôi sao bóng đá trong một trường trung học nhỏ. Vui tính, nhưng nó không có tài sản. Tuy thế nó có việc làm tốt và nó thích thế, vậy thì việc chó gì hả? – Anh ấy kiểm soát những ngân hàng nhiều tỷ đôla – tất cả những gì chúng mình có, nhưng cái làm cho Astorre thực sự quan tâm lại là ca hát và cưỡi ngựa. Nicole nói. Valerious nói nửa thương hại, nửa hài hước. – Ăn mặc thì cũng bảnh đấy, nhưng chú ấy có một vị trí tồi tệ quá. Nicole nói – Sao ba có thể làm thế nhỉ? – Thì cũng nhờ món macaroni ấy mà ông già mới làm được một việc tốt, Valerious nói. – Anh em mình phải bảo vệ Astorre, Nicole nói. Anh chàng này quá non nớt để điều hành các nhà băng và quá khờ khạo để đối phó với Cilke. Nghe hết cuộn băng Cilke quay sang Boxton. – Cậu nghĩ sao? – À, như Astorre, tôi nghĩ anh là một gã cừ đấy. Boxton nói. Cilke phá lên cười. – Không, ý tôi muốn nói là các vị này có khả năng giết người hay không? – Không. Thứ nhất họ là con cháu lão, thứ hai họ không có khả năng giết người. – Dẫu vậy họ cũng thông minh đấy, Cilke nói. Họ đặt ra một câu hỏi đúng. Sao vậy nhỉ? – À đấy không phải là việc của chúng ta, Boxton nói. Nó là của địa phương chứ không phải của Liên bang. Hay anh đã lần ra mối quan hệ nào rồi? – Các nhà băng, Cilke nói. Không cần phải lãng phí tiền của Cục nữa, chấm dứt nghe trộm. Kurt Cilke thích chó vì chúng trung thành. Ông có hai con chó chăn cừu giống Đức để giữ nhà. Đêm đêm ông cùng chúng tản bộ qua khu rừng gần nơi ở, lòng tràn ngập niềm tin và thanh thản. Đêm đó trở về nhà ông rất hài lòng. Tình hình không còn nguy hiểm nữa, không có mối đe dọa nào từ phía gia đình nạn nhân. Sẽ không có trả thù đẫm máu. Cilke sống ở New Jersey cùng người vợ ông hết mực yêu thương và đứa con gái ông hết mực cưng chiều. Nhà ông được lắp hệ thống bảo vệ, thêm vào đó còn hai con chó. Chính phủ chịu phần chi phí. Vợ ông từ chối học cách sử dụng súng nên ông chỉ còn trông cậy vào việc giấu kín tung tích. Hàng xóm nghĩ ông là luật sư (ông đã từng là luật sư thật), con gái ông cũng nghĩ vậy. Cilke luôn cất kín súng đạn và thẻ mật vụ khi ông ở nhà. Ông không bao giờ gửi xe ở nhà ga để và thành phố làm việc. Lũ trộm vặt có thể thó mất súng và bộ đàm trên xe. Khi về New Jersey ông gọi điện để vợ đi đón. Chỉ mất năm phút là tới nhà. Đêm nay Georgette vui vẻ hôn lên má ông, một đụng chạm thể xác ấm áp. Cô bé gái Vanessa vô cùng hiếu động ôm chầm lấy ông. Hai chú chó mừng rỡ chạy quanh ông. Cilke trân trọng những giây phút như thế trong cuộc đời mình. Ông luôn cảm thấy an bình bên gia đình. Ông biết vợ rất yêu ông. Chị quý trọng tính cách của ông: làm việc có tình có lý, luôn công bằng với thuộc cấp. Ông đánh giá cao trí tuệ của chị và tin tưởng kể cho chị nghe công việc của mình. Tất nhiên, không phải là tất cả. Chị cũng luôn luôn bận rộn với công việc của mình. Chị viết về những người đàn bà nổi tiếng trong lịch sử, dạy môn đạo đức tại một trường đại học địa phương, tranh đấu cho những vấn đề xã hội mà chị quan tâm. Lúc này Cilke quan sát vợ chuẩn bị bữa tối. Vẻ đẹp của chị luôn làm ông say mê. Ông thấy Vanessa đang dọn bàn, con bé muốn bắt chước mẹ, thậm chí còn cố đi đứng nhẹ nhàng với những bước chân uyển chuyển như một điệu ba lê. Georgette không muốn thuê người giúp việc, và chị đã nuôi dạy con trở thành một đứa trẻ không ỷ lại. Năm lên sáu, Vanesa đã biết tự dọn giường, lau nhà và giúp mẹ nấu nướng. Lúc nào cũng vậy, Cilke tự hỏi tại sao chị lại yêu ông, lại cảm thấy hạnh phúc với lựa chọn của mình. Tới khuya, sau khi đưa Vanessa đi ngủ (Cilke kiểm tra lại chuông, cô bé có thể nhấn chuông nếu cần đến cha mẹ), họ về phòng riêng. Như mọi khi, Cilke lại bị mê hoặc khi Geprgette cởi bỏ hết quần áo. Rồi đôi mắt xám rộng mở của chị, đôi mắt rạng ngời trí tuệ, mờ đi vì yêu thương. Cuối cùng khi chìm vào giấc ngủ, chị ôm lấy tay ông để dẫn chúng vào những giấc mơ của chị. Cilke gặp Georgette khi ông đang điều tra những tổ chức cực đoan bị tình nghi dính líu đến những hoạt động khủng bố. Chị là một nhà hoạt động chính trị giảng dạy môn lịch sử tại một trường đại học nhỏ ở New Jersey. Cuộc điều tra của ông cho thấy chị đơn giản chỉ là một người có tư tưởng tự do và không hề có liên hệ nào với các nhóm cực đoan. Cilke đã viết như vậy trong báo cáo của mình. Khi thẩm vấn chị ông rất ngạc nhiên bởi chị không có thành kiến hay căm ghét ông – một nhân viên FBI. Thực vậy, chị có vẻ tò mò về công việc của ông. Ông nói với chị đơn giản ông là một trong những người bảo vệ xã hội. Một xã hội không thể tồn tại được nếu thiếu một vài quy định. Ông nửa đùa nửa thật nói thêm, ông là một tấm lá chắn giữa những người như chị và những kẻ muốn ăn tươi nuốt sống chị để phục vụ cho những mưu đồ riêng của họ. Thời gian tìm hiểu thật ngắn ngủi. Họ nhanh chóng làm đám cưới. Vì biết rằng họ đối lập nhau trong hầu hết các vấn đề nên hai người tránh không để quan niệm riêng của họ ảnh hưởng đến tình yêu. Ông không chia sẻ những tín điều của chị, còn chị lại hoàn toàn ngây thơ trong thế giới của ông. Chị dứt khoát không chia sẻ với ông lòng sùng bái FBI. Nhưng chị vẫn lắng nghe những phàn nàn của ông, việc ông phẫn nộ vì danh dự của một vị thánh – J. Edgar Hoover 2– bị bôi nhọ. “Người ta mô tả ông ấy như một kẻ đồng giới, một tên cuồng tín phản động. Thật ra ông ấy là một nguời tận tâm không muốn những tư tưởng tự do phát triển”. Ông bảo chị – Cánh nhà văn chế nhạo FBI như Gestapo hoặc KGB, nhưng bọn anh không bao giờ tra tấn, chưa bao giờ vu cáo bất cứ người nào – hoàn toàn khác cánh NYPD chứ. Đám thanh niên ở trường đại học có thể mất tự do nếu không có bọn anh. Các lực lượng cánh hữu sẽ hủy diệt chúng, chúng quá đần độn về chính trị. Chị mỉm cười trước những xúc cảm của ông. – Đừng mong em thay đổi, chị nói, nếu anh nói đúng thì chúng mình khỏi cãi vã nhau. – Anh không cần em phải thay đổi, Cilke nói, và nếu FBI ảnh hưởng đến quan hệ của chúng mình thì anh sẽ tìm một việc làm khác. Ông không hề nói với chị đó sẽ là một mất mát to lớn đối với ông. Nhưng có bao nhiêu người nói được rằng họ hoàn toàn hạnh phúc, rằng họ có được một người bạn đời hoàn toàn đáng tin cậy? Ông là người may mắn có được cả hai yếu tố nói trên và toàn tâm toàn ý che chở cho chị, tin tưởng chị cả về thể xác lẫn tâm hồn. Từng giây từng phút chị vẫn cảm nhận được việc ông lo lắng cho sự an nguy của mình. Khi phải đi tập huấn xa nhà Cilke nhớ vợ kinh khủng. Ông không khi nào quyến rũ những người đàn bà khác vì ông không thể phản bội chị. Ông mong đợi ngày trở về bên Georgette, được thấy nụ cười tin cậy của chị và cơ thể mời gọi của chị lúc đợi ông trong phòng ngủ, trần truồng, dễ bị tổn thương, tha thứ cho ông vì đã để công việc trở thành một thứ tôn giáo ám vào cuộc đời ông mất rồi. Nhưng niềm hạnh phúc của ông bị ám ảnh bởi những bí mật mà ông phải giữ kín, những rắc rối nghiêm trọng trong những công việc ông thực hiện, hiểu biết của ông về một thế giới đang bị lũ người tội lỗi – cả đàn ông lẫn đàn bà – làm cho thối rữa, là những vết nhơ của nhân loại đang lan tràn. Thiếu chị, ông sống trên đời không còn ý nghĩa. Có lần, hồi mới cưới, vì nghi ngờ tình cảm của Georgette ông đã làm một việc mà chính ông cũng lấy làm hổ thẹn. Ông đã đặt máy nghe lén trong nhà để ghi lại những gì chị nói, sau đó ông nghe băng ở dưới tầng hầm. Ông đã lắng nghe từng thay đổi trong giọng nói. Và chị đã qua được kỳ sát hạch. Chị không thâm hiểm, không nhỏ mọn hay phản phúc. Ông làm việc đó suốt một năm trời. Đối với Cilke, việc chị yêu ông bất chấp những khiếm khuyết của ông là cả một điều kỳ diệu. Nhưng ông luôn e sợ chị sẽ phát hiện ra thực chất con người ông rồi ghê tởm ông. Và vì thế trong công việc ông càng trở nên khó tính và càng có tiếng là công bằng. Georgette không khi nào nghi ngờ chồng. Một đêm chị đã chứng tỏ điều đó khi cùng hai mươi người khách nữa dự tiệc tại nhà ngài giám đốc. Đêm ấy J. Edga Hoover cũng dành được chút thời gian cho riêng vợ chồng Cilke. Lão bảo Georgette – Tôi biết cô có liên hệ với nhiều nhóm có tư tưởng tự do. Tất nhiên, cô có quyền làm như vậy. Nhưng có lẽ cô thật sự không ý thức được rằng những hành động của cô có thể hủy hoại sự nghiệp của Kurt tại Cục. Georgette nở nụ cười với lão và nói một cách nghiêm túc – Tôi biết chứ, nhưng đó là sai lầm và rủi ro của Cục. Tất nhiên, nếu vấn đề trở nên nghiêm trọng thì chồng tôi sẽ từ chức. Giám đốc quay sang Cilke, ném vào mặt ông một cái nhìn đầy kinh ngạc – Đúng vậy không? Lão hỏi. Cậu sẽ từ chức chứ? Cilke không hề do dự – Đúng vậy thưa ngài. Tôi sẽ nộp đơn vào sáng mai nếu ngài muốn. Giám đốc phá lên cười. – Ồ không, lão nói. Chẳng mấy khi chúng tôi kiếm được một người như cậu. Rồi lão nhìn Georgette với ánh mắt quý phái. Tình yêu vợ có lẽ là nơi nương náu cuối cùng của một người đàn ông trung thực. Tất cả cùng cười cái dí dỏm có phần khiên cưỡng ấy để bảy tỏ thiện chí của mình.
Gần đây, qua bao nhiêu biến cố dồn dập trong cuộc đời Trần Hoài Thư, đã đến lúc không thể không có một bài viết về người bạn văn, như một tấm thiệp mừng 50 năm ngày cưới – 50th Gold anniversary của đôi vợ chồng Nguyễn Ngọc Yến – Trần Hoài Thư, một “đám cưới nhà binh” của thế kỷ, với rất nhiều hạnh phúc cùng với nhiều khổ đau khi cả hai sắp bước vào tuổi 80. Cũng nhân đây, có một gợi ý với các bạn trẻ trong và ngoài nước đang chuẩn bị luận án tiến sĩ văn học, thì chân dung văn hoá của Trần Hoài Thư cùng với nỗ lực phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam 1954 – 1975 là một đề tài vô cùng phong phú và hấp dẫn, rất xứng đáng để các bạn khám phá và dấn thân vào. Các bạn cũng không còn nhiều thời gian – nói theo cách ví von của nhà văn trẻ Trần Vũ, chiếc kim đồng hồ trên tay anh Trần Hoài Thư đã chỉ 12 giờ kém 5 phút sắp qua nửa đêm và chỉ sau năm phút phù du đó, khi Trần Hoài Thư trở thành “người của trăm năm cũ”, tất cả sẽ bị lớp bụi thời gian mau chóng phủ mờ.
Hình 1: trái, thầy giáo Trần Hoài Thư (1967) ở tuổi 25 khi mới chuẩn uý về làm trung đội trưởng thám kích sư đoàn 22 Bộ binh. [nguồn: “Nhà văn Việt Nam” của Lương Trọng Minh]; phải, nửa thế kỷ sau nhà văn Trần Hoài Thư (2017) ở tuổi 75 đang ngồi khâu Di sản Văn học Miền Nam dưới tầng hầm căn nhà 719 Coolidge Street, Plainfield, New Jersey 07062, là địa chỉ Thư Ấn Quán, cũng là toà soạn Thư Quán Bản Thảo. [nguồn: ảnh THT tự chụp từ video với iPhone 5; Chân Dung VHNT & VH, Việt Ecology Press 2017]
Tiểu Sử Trần Hoài Thư
Trần Hoài Thư tên thật Trần Quí Sách, sinh ngày 16/12/1942 tại Đà Lạt. Tuổi thơ bị thất lạc cha, theo mẹ sống khổ cực ở thành phố Nha Trang, có một thời gian sống trong cô nhi viện Bethlehem Hòn Chồng. Sau khi được đoàn tụ với thân phụ – là một ông đồ còn mặc áo lương đen, THT mới được theo học trường Quốc Học Huế, rồi vào Đại học Khoa học Sài Gòn. Từ năm 1964-1966 là giáo sư Toán đệ nhị cấp trường trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ tỉnh Quảng Tín (nay đã sát nhập vào tỉnh Quảng Nam).
Năm 1967, nhập ngũ khóa 24 SQTB Thủ Đức. Phục vụ tại đại đội 405 Thám kích sư đoàn 22 Bộ binh. THT bị thương 3 lần. Lần đầu tiên do một viên đạn AK VC bắn vào ngực trái khi đơn vị anh tới tăng viện cho mặt trận Quy Nhơn trong Tết Mậu Thân 1968, THT phải nằm Quân Y viện Quy Nhơn một thời gian. Hai lần sau đều là những vết thương miểng do lựu đạn trong hai cuộc giao tranh khốc liệt trên chiến trường Bình Định: một trên ngọn đồi Kỳ Sơn với 4 sĩ quan tử trận 2 sĩ quan còn lại bị thương trong đó có THT, một trên trận địa xứ dừa Bồng Sơn. THT rời đơn vị Thám kích sau 4 năm với 3 chiến thương bội tinh, rồi về làm phóng viên chiến trường ở vùng IV nơi anh mới có một người vợ đồng bằng – Ngọc Yến là một cô gái Cần Thơ mê văn anh, cho tới ngày 30/4/1975.
Một Mối Tình Văn Chương
Trần Hoài Thư khởi sự viết văn từ năm 1964, có lẽ sớm hơn. Truyện ngắn đầu tay Nước Mắt Tuổi Thơ được đăng trên tạp chí Bách Khoa Sài Gòn. Ngoài Bách Khoa, những năm sau đó THT còn cộng tác với Văn, Văn Học, Đời, Bộ Binh, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành, Ý Thức…
Không biết cô gái Cần Thơ Nguyễn Ngọc Yến bắt đầu đọc và hâm mộ Trần Hoài Thư từ bao giờ. Trên Tạp chí Sóng Văn (1997), Ngọc Yến cho biết: “cũng vì yêu mến văn chương, nên duyên văn nghệ đã đưa chúng tôi gặp nhau, và nhà văn Nguyễn Lệ Uyên là ông mai”. Từ trước đến nay, tôi vẫn đinh ninh anh Lê Ngộ Châu chủ nhiệm Bách Khoa là ông mai. Qua Đỗ Nghê, tôi đã liên lạc được với Nguyễn Lệ Uyên, và anh đã mau mắn trả lời tôi ngay trong đêm qua một email [viết ngày 05.05.2021]:
“Chuyện là thế này: hồi học Sư Phạm Đại học Cần Thơ (1968), lúc làm hồ sơ nhập học bị trễ mấy ngày, bị làm khó. May sao gặp chị Yến làm ở phòng Hành Chánh của Viện nói giúp với ông Khoa trưởng. Sau đó thì thân nhau, bởi chị cũng biết tôi có võ vẽ mấy truyện ngắn trên Văn, Khởi Hành… mà chị thì mê văn chương, đọc nhiều, các tạp chí văn học chị hầu như ít bỏ sót, nên chúng tôi coi như chị em, chị lớn hơn tôi 7,8 tuổi. Những dịp nhận nhuận bút, tôi thường chở chị đi ăn món gì đó. Rồi trên số Văn chủ đề Những cây bút trẻ, lại có truyện của tôi và anh Trần Hoài Thư. Khi nhận nhuận bút, tôi mời chị đi ăn bún bò Huế ở quán ông Ba Mập ngoài Bình Thủy, trên đường đi Long Xuyên. Ăn, chị hít hà, chảy nước mắt và khen ngon. Trong lúc ăn, chị hỏi tôi có biết, quen anh THT không, có nhận xét gì về truyện anh Thư. Tất nhiên là quen nhiều, vì ảnh, từ Quy Nhơn hay vào chơi với anh em văn nghệ Tuy Hòa năm ba hôm, thường thì ăn uống rồi ở lại nhà tôi.
Thâm tâm, tôi chỉ nghĩ chị hỏi để hiểu rõ thêm về một tác giả, nhưng không ngờ, chị mê truyện anh Thư, mê các nhân vật khốn khổ của ảnh, như hiện thân của một THT được bê nguyên xi vào truyện rồi yêu cả truyện và người viết! Tới cuối năm 69 đầu 70, nhóm sinh viên chúng tôi thực hiện chương trình ca nhạc, đọc, ngâm thơ hàng tuần ở giảng đường lớn, chị mới biểu lộ tình cảm thật của chị đối với anh Thư. Chị hỏi tôi gia cảnh, sinh hoạt cá nhân, tính tình… Vậy là đã rõ. Tôi ra sức vẽ vời anh THT còn hay hơn truyện tôi viết. Tôi sơn phết anh Thư cho tròn trịa hơn một chút, bặm trợn, lãng mạn như cụ Hemingway một mình giữa biển khơi. Tối đó, tôi viết cho anh Thư đến 4, 5 tờ pelures về chị Yến. Kể thật về điều tai nghe mắt thấy, về nhan sắc, tính tình của chị trong gia đình gia giáo (ông cụ thân sinh chị là GS Tổng Giám thị trường Trung học Phan Thanh Giản). Với anh THT, tôi viết thư nói đây là một mẫu người lý tưởng để làm vợ, anh đừng để mất cơ hội. Chị Yến thì gần, gặp nhau hai chị em nói chuyện thơ văn, tán dương ông anh Quí Sách, khuyến khích chị viết thư làm quen với các nhân vật của ảnh. Sau vài ba lần như vậy, tôi nói thẳng với chị: Anh Thư là một người tuy không hoàn hảo, nhưng sẽ là người chồng tốt…” [hết trích dẫn]
Từ đó địa chỉ Toà soạn Bách Khoa, trở thành hộp thư để cô gái miền Tây làm quen và liên lạc với người lính lang bạt Trần Hoài Thư. Sau đó Bách Khoa cũng là điểm hẹn cho lần gặp gỡ đầu tiên của hai người. Rồi trong một chuyến về phép ngắn ngủi, Thư có hẹn lần đầu gặp Yến ở Bách Khoa. THT vui bạn bè nên trễ buổi hẹn với Yến. Khi Đỗ Nghê chở Thư tới 160 Phan Đình Phùng thì Yến đã giận bỏ đi. Và cũng chính anh Lê Ngộ Châu đã tất bật đuổi chạy kịp theo Yến đưa trở lại toà soạn gặp THT. Những kỷ niệm trân quý với anh Lê Ngộ Châu là điều mà mãi sau này THT không bao giờ quên. Rồi không lâu sau đó hai người nên duyên vợ chồng. Thư đã làm lễ thành hôn với Yến ngày 18/6/1971.
Nguyễn Lệ Uyên viết tiếp: “Cuối cùng, như duyên tiền định với tô bún bò Huế cay xè tôi đãi chị, hai người hẹn hò nhau ở tòa soạn Bách Khoa, đến tháng 6/1971 hai người làm đám cưới; khi ấy tôi đang ở quân trường Thủ Đức, nhận được thư chị viết mấy dòng ngắn: Chị và anh Thư cưới nhau, ngày… tháng… năm… Em gắng lấy giấy phép về dự, không anh chị buồn”.
Đúng là một “đám cưới nhà binh” tại Sài Gòn không thể nào đơn giản hơn, chỉ với mươi người bạn nơi một căn nhà trong xóm Bàn Cờ, không có rước dâu cũng không có cả nhẫn cưới.
Một tuần lễ sau, ngày 23/6/1971 Cơ sở Xuất bản Ý Thức tổ chức một buổi ra mắt sách cho Trần Hoài Thư với tác phẩm đầu tay “Những Vì Sao Vĩnh Biệt” có Trần Phong Giao thư ký toà soạn Văn tới tham dự.
Tiểu Đăng Khoa Đại Đăng Khoa
Trong tờ Văn 181 tháng 07/1971, nhà văn Trần Phong Giao viết: “Người xưa coi đại đăng khoa là thi đỗ, tiểu đăng khoa là cưới vợ. Đối với người cầm bút trẻ thời nay, phải “xếp bút nghiên theo việc đao cung” thì đại đăng khoa không còn là thi đỗ, mà (có lẽ vậy) là có tác phẩm được in. Cây bút trẻ Trần Hoài Thư viết rất nhiều hiện nay, qua cả tiểu lẫn đại đăng khoa, cùng lúc. Ngày 18 tháng 6, anh đã làm lễ thành hôn với cô Nguyễn Ngọc Yến tại Sài Gòn trong vòng thân mật. Ngày 23 tháng 6, vào hồi 19 giờ 30, Cơ sở Xuất bản Ý Thức vừa tổ chức một buổi tiếp tân trình diện tập truyện đầu tay của Trần Hoài Thư “Những Vì Sao Vĩnh Biệt”. Tiểu đại đăng khoa xong, Trần Hoài Thư vội vã lên đường trở về đơn vị ở Quân khu II. Lính chiến chỉ có một tuần nghỉ phép. Chạy ngược chạy xuôi, không có tuần trăng mật, cũng như không kịp đem sách mới đi tặng anh em bà con. Vui vậy đó! Nhân dịp vui mừng này, chúng tôi xin có lời cầu chúc đôi bạn Thư -Yến một hạnh phúc bình dị, lâu dài và bền chặt. Cũng xin cầu chúc tác giả “Những Vì Sao Vĩnh Biệt” sẽ sớm có thêm nhiều tác phẩm mới khác, những tác phẩm não tuỷ và tinh tuỷ.”
Một năm sau, đứa con trai đầu lòng Trần Quí Thoại cũng là đứa con duy nhất chào đời. Đôi uyên ương Thư-Yến cho dù qua bao thăng trầm, họ đã có một cuộc sống lứa đôi hạnh phúc bình dị, lâu dài và bền chặt cho tới bây giờ, đúng một nửa thế kỷ (1971 – 2021).
Hình 2: Chủ nhiệm Lê Ngộ Châu và báo Bách Khoa, người chọn đăng truyện ngắn đầu tiên Nước Mắt Tuổi Thơ của Trần Hoài Thư trên Bách Khoa 1964.
Hình 3: phải, nhà văn Trần Phong Giao Thư ký Toà soạn báo Văn [ photo by Lê Phương Chi, Tin Sách Hội Bút Việt]; giữa, bản tin trên báo Văn số 181, tháng 7/1971 loan tin THT cưới vợ: tiểu đăng khoa, và THT ra mắt tác phẩm đầu tay: đại đăng khoa; trái, bìa cuốn Những Vì Sao Vĩnh Biệt do Nhóm Ý Thức xuất bản 1971. [tư liệu Thư Quán Bản Thảo]
Sự thực tác phẩm đầu tay của Trần Hoài Thư là cuốn Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang cũng do cơ sở Ý Thức xuất bản năm 1969, tại Phan Rang một tỉnh lỵ nhỏ của miền Nam, dưới hình thức “phổ biến hạn chế” theo cái nghĩa không qua kiểm duyệt. Mẫu bìa 2 màu do Lê Ký Thương vẽ, bản kẽm bìa làm từ Cliché Dầu Sài Gòn, được in typo bằng máy đạp / pedal thô sơ, và in 2 lần, mỗi lần cho một màu chồng lên nhau. Ruột sách thì in ronéo và khi thực hiện trên giấy stencil, được chị Kim Phương bạn của Nguyên Minh canh lề bằng chân sao cho giống bát chữ typo. Đợt đầu 100 ấn bản được ra mắt và phát hành từ nhà sách Huy Hoàng Nha Trang, cũng là quê hương tuổi thơ nghèo khó của Trần Hoài Thư. Và kết quả Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang đã được độc giả miền Nam đón nhận trong sự ngạc nhiên và thích thú.
Như vậy, Những Vì Sao Vĩnh Biệt phải được kể là tác phẩm thứ hai của Trần Hoài Thư nhưng là tác phẩm thứ nhất hoàn toàn được in theo kỹ thuật typo.
Hình 4: Les Trois Mousquetaires – Ba Chàng Ngự Lâm ít nhiều có “hệ luỵ” với cuộc đời Trần Hoài Thư, từ trái: Lê Ký Thương, người vẽ bìa cho tác phẩm đầu tay Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang của THT do Ý Thức xuất bản (1969), Nguyễn Lệ Uyên, “ông mai” xe duyên cho đôi uyên ương Ngọc Yến – THT (1969), Đỗ Nghê người chở THT tới buổi hẹn đầu tiên của Ngọc Yến – Trần Hoài Thư tại toà soạn Bách Khoa (1970). [tư liệu Đỗ Nghê, hình do Cao Kim Quy vợ Lê Ký Thương chụp tại nhà LKT 09/05/2021]
Phóng Viên Chiến Trường Vùng IV
Trần Hoài Thư sống sót sau 4 năm trong một trung đội Thám kích, với 3 lần bị thương, được coi như một phép lạ. Sau khi lập gia đình, Trần Hoài Thư đã nghĩ tới dừng chân lại. Phải được sống và tiếp tục được viết như một nhân chứng. Rồi bằng một cách thế không giống ai, không tuân theo hệ thống quân giai, một lỗi rất nặng về quân kỷ, Trần Hoài Thư tự viết một thư riêng cho vị tướng cao cấp nhất trong Tổng cục Chiến tranh Chính trị, với nguyện vọng vẫn được ở trong quân ngũ nhưng chuyển ngành sang làm một phóng viên chiến trường. Trong phong thư riêng ấy, có những trang báo, những bài viết, những tác phẩm đã xuất bản và dĩ nhiên cả những tin tức liên quan tới ba lần bị thương cùng với các huy chương.
Không phải chờ đợi lâu, một sự việc lạ lùng nhất đã xảy ra. Trần Hoài Thư đã viết báo tin ngay cho Yến: “Không thể tưởng tượng cho một kẻ xuất thân từ đơn vị hai quản trị mà tờ sự vụ lệnh vẫn còn ghi: sĩ quan đương sự phải phục vụ ở đơn vị tác chiến, xa trục lộ giao thông. Nhưng cái công điện đánh lên từ Tổng cục Chiến tranh Chính trị, cho biết Tổng cục chấp thuận ý nguyện của anh và hỏi anh muốn về nơi nào: vùng I, II, III, IV hay thủ đô. Dĩ nhiên anh chọn vùng IV nơi có Yến, người nữ độc giả của anh, và nay trở thành người vợ mới cưới của anh. Có lẽ anh may mắn hơn cả những người may mắn, bởi vì khó có ai được quyền lựa chọn một đơn vị mình ưa thích trên toàn cõi miền Nam như anh.”
Như một tự sự, THT viết: “Xin cảm tạ văn chương. Nhờ văn chương mà tiếng chuông ngân vang, như những niềm vui lẫn tự hào kỳ diệu. Nhờ văn chương mà ta quên đi thân phận nhục nhằn, nhờ văn chương mà ta thấy ta cao lớn hơn bao giờ.”
Hành Phương Nam là những dòng chữ mới mẻ của một Trần Hoài Thư khác, của một người lính đang từ Cao nguyên nay xuống dưới Đồng bằng:
“Phương Nam. Tôi bắt đầu làm quen với những chiếc xe lôi hay những chiếc xuồng tắc ráng. Hay những cánh đồng mênh mông bạt ngàn. Hay những rừng tràm rừng đước. Tôi bắt đầu làm quen với những bãi đầm sình lún ngập đến cổ người. Những hàng ô môi, những chòm bông điên điển, những lời kinh giảng vang vọng trong đêm trăng, những tấm lòng hiền như đất, trọng tình trọng nghĩa mà tôi đã gặp. Tôi cám ơn, rằng cuối cùng Ơn Trên đã cho tôi một cõi nương tựa sau những tháng ngày lênh đênh trôi nổi… Cánh cửa đã mở ra như Phương Nam đã mở ra, đón tôi. Có mùi thơm khó có thể quên của bông lúa, hương cau, của mùi đất phù sa lan toả. Cánh cửa ấy đã được kết bằng những chùm mận trĩu nặng trên cành, rực đỏ giữa màu xanh của lá. Nơi nào, từ vườn sau nhà, hay bên dòng kênh, hay trước nhà, hay cạnh bờ ao, hai bên đường quốc lộ, những vườn mận sum suê trái quả. Có trái màu đỏ, có trái màu xanh, trái ửng hồng. Mời mọc ngọt lịm như đôi môi hồng muốn cắn, no đầy tròn trịa như bầu ngực con gái thanh tân, bầu bĩnh au au như đôi má ửng hồng của người gái quê quấn chiếc khăn sọc vằn chèo thuyền xuồng đưa người qua sông trong một ngày mùa hạ để bắt người khách không muốn về:
Qua sông mùa mận chín
Tháng nắng ngại đường xa
Em ra vườn sau nhà
Hái mời anh chùm mận
Bông mận rơi lấm tấm
Da mận hồng như môi
Ôi con mắt có đuôi
Má hồng đào ửng đỏ
Si em người em nhỏ
Ta ở mãi quên về
Trái mận nào dậy thì
Ta giữ hoài không cắn…
Người Vượn Trần Hoài Thư
Nhưng rồi cũng chẳng được bao lâu, tới ngày 30/4/1975 lại một đổi đời. Trần Hoài Thư bị bắt đi tù cải tạo khi thằng con trai mới 2 tuổi. Cây mận trước sân nhà bông đã nở trắng, trắng như tóc của bà ngoại nó.
Hơn 4 năm tù khổ sai, mấy tháng đầu bị giam tại Trung tâm Huấn luyện Chi Lăng cũ, thuộc huyện Tịnh Biên tỉnh An Giang; sau đó THT bị chuyển qua trại tù Kiên Lương, trong một khu đầm lầy còn hoang vắng phía tây bắc tỉnh Kiên Giang gần biên giới với Cam Bốt.
Kiên Lương cũng như mọi trại tù cải tạo cộng sản khác, không bỏ tù nhân chết đói nhưng luôn luôn phải thiếu ăn. Thiếu ăn ngay giữa một vựa lúa ĐBSCL có thể nuôi sống cả nước.
Nhân danh nhân đạo, ban quản giáo trại cho phép đám tù nhân được lập thêm toán cải thiện: trồng rau trái và hái lượm để có thêm chất xanh. Vì Kiên Lương là vùng trũng [thuộc khu tứ giác Long Xuyên, vùng trũng thứ hai là Đồng Tháp Mười], giữa mênh mông rừng tràm với rất nhiều tôm cá, cua ốc. Với cơ duyên đó THT tình nguyện xung phong ngay vào nhóm đi câu, gọi là nhóm chứ đó là thứ lao động mà đám tù nhân muốn xa lánh: do sợ đỉa vắt và cả vô số trăn rắn trong khu rừng tràm; họ còn sợ nước phèn ăn da thịt và cả sợ sa chân vào vùng đất lún trong khu đầm lầy. Do nghĩ rằng chẳng có lối nào mà trốn thoát, nên lính canh trại cũng không cần phải đi theo canh gác. Với THT đó lại chính là cơ hội để có những khoảnh khắc sống tự do cho một tên tù thám kích đã quá quen với mưu sinh và thoát hiểm. Chàng Robinson Crusoe bất đắc dĩ thời hiện đại THT viết: “Tôi thì muốn tránh những con mắt. Tôi muốn trong rừng tôi có quyền la hét, hát hò, ỉa đái, cười ha hả. Tôi muốn ôm lấy đời tôi cùng thiên nhiên, mây trắng. Tôi muốn ngồi trên cây tràm như một con vượn người.”
Do nguồn cá thì ê hề: cá lóc, cá trê, cá rô… câu được với lưỡi câu tự chế với mồi trùn, những con trùn béo nhẫy rất dễ kiếm. Người tù khổ sai THT mỗi ngày dễ dàng “đạt chỉ tiêu” với số ký cá bỏ vào bao cát mang về nộp cho tổ anh nuôi. Dĩ nhiên phần cá ngon thì anh nuôi phải lựa ra nộp đem cho cán bộ quản giáo, phần còn lại mới là nguồn chất đạm / protein cải thiện cho anh em.
Hình ảnh mà THT không bao giờ quên là khuôn mặt đen đủi của Yến bám đầy bụi than mỗi lần đi thăm nuôi, do phải đi những chuyến xe đò cải tiến chạy bằng than củi.
Rồi cũng ra tù, THT trở về Cần Thơ quê vợ, với tấm thân xác nặng chưa tới 35 ký lô, để tiếp tục sống những ngày bị quản chế.
Ban ngày THT gò lưng trên chiếc xe đạp cũ nát với một thùng mốp cà-rem, đi vào các làng mạc, sáng chiều lắc chuông bán dạo, làm bầu bạn với đám con nít để kiếm sống. Cũng chính cái nghề rung chuông mua vui cho con nít ấy đã khiến một ông chủ ghe cảm kích, hơn nữa ông cũng đang cần một người dò đường mà đó cũng là nghề của chàng sĩ quan Thám kích THT. Ông cho Thư một vé xuống ghe “miễn phí” vì biết Thư quá nghèo. Chỉ có một chỗ, nhưng Thư thì còn vợ và một đứa con. Mãi sau này Thư mới được biết, chính Ngọc Yến vợ anh đã lén lút tìm đến ông chủ ghe năn nỉ. Ông chủ ghe nói: ‘Chị suy nghĩ lại, chúng tôi không muốn làm anh chị phải chia lìa’. Nhưng Yến vẫn cương quyết: ‘Tôi sẵn sàng để cho chồng tôi ra đi. Xin ông cứu giùm ảnh.’
Trần Hoài Thư viết: “Ở lại hay ra đi? Tôi đã sống trong sự giằng xé ghê gớm ấy. Ở lại thì ôm nhau mà chết, mà ra đi thì tôi sợ là một lần vĩnh viễn. Tôi đã thấy con thuyền ấy. Khoảng 20 thước bề dài, thuyền ván mong manh, chỉ dành đi trên sông sao lại đem nó ra thử với biển sóng hãi hùng?” Chính Yến giục giã chồng không thể bỏ qua cơ hội mà phải ra đi. THT viết tiếp: “Tôi chấp nhận. Tôi hèn nhát để chấp nhận. Ích kỷ để chấp nhận.
Rồi trước khi đi tôi phải đóng kịch, phải làm sao hàng xóm láng giềng biết việc tôi đào thoát không có sự đồng loã của gia đình. Nếu không Yến sẽ bị đuổi việc, vì sát bên vách là nhà của một mụ đảng viên. Không ai khác hơn chính bà mẹ Yến, một bà mẹ quá hiền quá tội, mẹ chưa một lần nói dối, lại là tác giả của vở tuồng cười ra nước mắt này. Bà khuyên hai con: “Con à, mình phải đóng tuồng. Hai vợ chồng con giả bộ gây lộn để hàng xóm biết, từ nay hai vợ chồng con mạnh ai nấy đi. Con hẳn biết, bên nhà hàng xóm là đảng viên.”
Tôi phải chứng tỏ rằng tôi bỏ bê, phụ bạc vợ con. Vở kịch chỉ có hai diễn viên. Người chồng và người vợ. Không gian là cái bếp. Thời gian là buổi chiều. Chỉ có chai đập nồi liệng, tiếng hét tiếng la, tiếng khóc, lớn chừng nào tốt chừng ấy. Với tiếng của Thư: Tao chán cái nhà này quá rồi. Tao sợ cái nơi này quá rồi. Tao đập hết, tao phá hết. Rồi với tiếng Yến: Tới nay thì liên hệ giữa tôi và anh kể như chấm dứt… Vai vợ chồng tôi đóng xuất sắc lắm. Đến nỗi thằng con trai 6 tuổi của tôi phải sợ hãi khóc oà. Và bà má vợ tôi phải sụt sùi nước mắt. Và chỉ có ba người biết rõ những gì trong lòng.
Tôi đi khi con tôi ngủ như một thiên thần. Tôi đi chỉ có một bộ đồ độc nhất. Vợ tôi đứng đầu ngõ dõi mắt nhìn theo. Sau đó nàng vào lại buồng chúng tôi ôm gối mà khóc ngất, khóc như chưa bao giờ khóc như vậy.” Và đó là một ngày cuối năm 1979, ngày anh đi cũng là ngày “xả chế”, chúng trả lại anh quyền công dân.
Tự do hay là chết
Phải bỏ lại vợ con, Trần Hoài Thư vượt biển trên một chiếc ghe nhỏ đi sông dồn nén cũng chở được 93 người. Chuyến đi gian truân nhưng cuối cùng cũng tới được bến bờ tự do, đảo Pulau Bidong Mã Lai.
“Cuối cùng anh cũng quỳ xuống trên bãi cát để cảm tạ Ơn Trên. Tự do, mơ ước là đây. Biển bây giờ sao quá êm và quá xanh biếc. Sóng bây giờ sao quá đỗi hiền từ. Anh quỳ, dù hai tay anh đã che đỡ những cú đánh, cú thoi, cú đá từ người lính Mã Lai. Anh nhắm mắt lại, không kêu đau, không van xin. Để biết thêm về cái giá của một cuộc ra đi và thấm thía thêm thân phận của một người không có đất nước. ‘Này đất này là của vua ta, bãi biển này là bãi biển của vua ta… Còn ngươi, một thằng từ đâu lạc chợ trôi sông, mang bao khổ luỵ phiền toái tới đất nước này.’
… Cứ chửi, cứ rủa đi anh lính đội chiếc nón bê-rê đen, cầm thêm cây gậy, bên mình lủng lẳng khẩu súng ngắn. Tự do đâu phải quá dễ dàng như một lần du ngoạn. Bao nhiêu người đã không may. Bao nhiêu người đã nằm dưới lòng biển. Bao nhiêu người con gái đã bị hãm hiếp và bị bắt cóc. Và có người con gái tóc dài tung toé, nhảy ào xuống biển. Còn nữa, còn bao nhiêu người đã lênh đênh trong vô tận của ngày của đêm, không thức ăn, nước uống, trên những vùng đá ngầm san hô, cá mập… Tự do hay là chết. Chết hay là tự do. Anh cứ đập tôi đi, nhưng cơn đau bầm của tôi, bụm máu khạc ra từ cửa miệng tôi, đâu có thấm gì với cái bóng tối mà tôi bỏ lại. Tôi đã chờ đợi quá lâu, trong ngôi nhà mồ. Tôi đã muốn nhảy xuống biển tự tử khi nghĩ đến một lần họ bắt tôi trở lại. Bây giờ là ánh sáng rồi. Nó đã rực rỡ như muôn ngàn hào quang ân sủng. Nó vô hình vô dạng nhưng nó nồng nàn như mùi thuốc hồi sinh trong phòng cấp cứu. Tôi không buồn hay giận anh đâu. Bởi vì, tôi sẽ đứng lên, dù run rẩy đi nữa, dù đau tận cùng đi nữa.” 6
Khi Tôi Đi Rồi, bài thơ đầy cảm xúc của Trần Hoài Thư khi phải cắn răng bỏ lại vợ con, lao mình ra biển khơi đi tìm tự do:
“… tôi ra đi thành thị sau lưng
chào từ biệt, quê hương mình lần cuối
tôi có thằng con chưa đầy bốn tuổi*
tôi có mẹ già tóc bạc tợ sương
tôi có vợ tôi cay đắng đoạn trường
đêm nay, đêm nay, trời ơi bỏ hết
khi tôi đi rồi một là chết biển
hai là bỏ xứ làm kẻ lưu vong
khi tôi đi rồi hai bàn tay không
giữa vùng mênh mông ngàn trùng bát ngát
khi tôi đi rồi, chắc hồn khó thoát
bởi quê hương cứ giữ chặt, không buông”…
(*Năm 1979, con của Trần Hoài Thư – Ngọc Yến lúc đó 6 tuổi)
Trên đảo, tuy phải mòn mỏi chờ đợi nhưng là của hy vọng. Khi có phái đoàn Mỹ tới phỏng vấn, THT được hỏi có gì chứng minh ông là sĩ quan hay lính miền Nam, THT cởi áo vạch ngực chỉ vết thương đạn với sẹo lớn cắt đứt một núm vú nơi ngực trái; sang câu hỏi thứ hai ông dự tính làm gì nếu được vào Mỹ, THT nói anh là nhà văn anh sẽ tiếp tục viết về những nỗi khổ của miền Nam trong và sau chiến tranh. Không hỏi gì thêm, người Mỹ phỏng vấn tươi cười bắt tay anh và chúc may mắn. Rất sớm sau đó, THT được đi định cư tại Mỹ, thời gian đầu anh được đưa tới Maryland, sống tạm bợ tá túc khi thì trong một ngôi chùa nhỏ, khi trong nhà thờ rồi lang bạt qua nhiều nơi khác nhau sau đó.
Ngọc Yến Nỗi Khổ Người Ở Lại
Trước 1975, Ngọc Yến là nhân viên hành chánh của Viện Đại học Cần Thơ, là thư ký của Giáo sư Viện trưởng Nguyễn Duy Xuân. Sau 1975, Gs Nguyễn Duy Xuân bị cộng sản bắt đi tù cải tạo 11 năm, cuối cùng chết tức tưởi ở trại tù Hà Nam Ninh, miền Bắc Việt Nam.
Chuyện chỉ được Yến kể lại về sau này, là sau 1975, chức thư ký cho Gs Viện trưởng của Yến ban đầu được “cách mạng” đánh giá là quan trọng: Ngọc Yến như là “bí thư” của Gs Nguyễn Duy Xuân, có thể là đối tượng bị thanh lọc để cho đi học cải tạo. Nhưng do ý kiến “nhân dân”, đám công nhân viên cũ bảo rằng Yến chỉ là một thư ký hiền lành lo giấy tờ, đánh máy trong văn phòng chứ chẳng có một quyền hành gì khác, và Yến đã không bị bắt đi cải tạo, không bị sa thải.
Nhưng vẫn chưa yên, sau khi chồng đi rồi, Yến là đối tượng được chăm sóc của đảng uỷ nhà trường. Yến luôn luôn được nhắc nhở rằng chồng chị là một tên sĩ quan “nguỵ” phản quốc đã trốn đi, chị hãy quên nó đi để xây dựng cuộc đời mới. Khi ấy Ngọc Yến là gái một con, còn trẻ đẹp nên có nhiều cán bộ theo bám. Rồi Yến được đảng uỷ chuẩn bị tác thành cho lấy một tên Đại uý phục viên và cũng là cán bộ của trường. Đang là công nhân viên, tuy với đồng lương chết đói nhưng Yến cần phải giữ hộ khẩu với sổ lương thực cho hai mẹ con. Uất hận nhưng Yến không dám dứt khoát nói không và chỉ xin cho một thời gian nguôi ngoai.
Đầu năm 1980, khi biết được tin chồng đã đi thoát, Ngọc Yến quyết định bế đứa con trai chưa đầy 7 tuổi tìm ghe vượt biên, cũng lại là một “chuyến đi chùa” do một ông chủ ghe có tâm Phật cho đi. Thêm chuyến đi thừa sống thiếu chết với đói khát nhiều ngày trên biển cả, rồi gặp hải tặc và tiếp theo đó những ngày dài phải bồng con đi ăn xin nơi một ngôi làng hẻo lánh bên Thái Lan.
Tới Ngày Một Gia Đình Đoàn Tụ
Trần Hoài Thư kể lại, không hiểu bằng cách nào, Đại tá Nguyễn Bé nguyên chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Cán bộ Xây dựng Nông thôn Chí Linh Vũng Tàu, có được số phone của THT. Ông báo cho Thư biết là có nhận được một phong thư gửi từ Thái Lan. Không chờ thư chuyển, Thư yêu cầu Đại tá Bé mở thư đọc qua phone, chỉ có vẻn vẹn một câu: “Em và con đã tới Thái Lan.”
Nhờ phước đức ông bà nay anh sẽ lại có một gia đình đoàn tụ. Sắp bước vào cái tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”, THT thấy chỉ có một con đường tiến thân duy nhất là đi học trở lại. Từ Maryland, theo lời khuyên của một người bạn trẻ gặp được trong nhà thờ, THT quyết định đưa gia đình sang Philadelphia. Do không có tiền nên phải thuê một căn phòng giá rẻ trong một khu “slum” phía bắc thành phố, nghèo nàn mất an ninh, cư dân đa phần gồm nhóm người tỵ nạn Đông Dương như Lào, Cam Bốt và Việt Nam mới tới. Chỉ có một tay Đại Hàn hảo hớn là dám mở một tiệm Grocery store nơi đây. Đám tội phạm thường là từ bên ngoài đến, ra vào như chỗ không người. Có lần ban đêm, thấy cửa hàng Đại Hàn dưới lầu bị trộm phá cửa với các thùng hàng lớn nhỏ lũ lượt được khiêng ra. THT kêu 911, thì được sở cảnh sát cho biết: cửa hàng ấy đã có bảo hiểm, họ sẽ được bồi thường, và cảnh sát còn lưu ý là nên thận trọng, vì nếu tụi nó biết có người báo cảnh sát có thể bị trả thù. Hiểm nguy rình rập nhưng không có chọn lựa nào khác, gia đình THT vẫn phải tiếp tục sống trong khu ổ chuột ấy, trong một căn phòng chật hẹp với cửa sổ luôn luôn đóng kín, có đóng thêm cả đinh nhọn 10 phân làm chông.
Trần Hoài Thư đi học, vợ đi làm công nhân lắp ráp đồ điện tử với đồng lương tối thiểu. Thằng con trai thì được ba hoặc mẹ dẫn đến trường và hết giờ học thì nó phải tự về nhà một mình. Nó còn nhỏ và quá thấp, vợ chồng Thư phải kê thêm hai cục gạch để nó có thể vói tới ổ khoá mở cửa vào nhà. THT lúc đó là sinh viên toàn thời gian ngành điện toán của Spring Garden College, ban ngày đi học, ban đêm thì làm janitor quét dọn phòng ốc để có thể trang trải cuộc sống.
Hai vợ chồng Thư đều biết luật pháp ở Mỹ, cho dù có lý do bận sinh kế đi nữa nhưng việc bỏ con nhỏ vị thành niên ở nhà một mình là phạm pháp. Vợ chồng vẫn phải luân phiên gọi điện thoại về thăm chừng con, khi không thấy ai lên tiếng, không biết chuyện gì xảy ra cho con, Thư phải tức tốc bỏ học về nhà nhưng đa phần là do nó ngủ quên không nghe chuông reng.
Rồi THT cũng xong học trình 4 năm, Thư tốt nghiệp điện toán với thứ hạng cao trong nhóm top five. Khi hãng AT&T tới trường tuyển chọn sinh viên vừa tốt nghiệp với thứ hạng cao, THT qua được cuộc Interview khó khăn, và ít lâu sau đó được nhận vào làm cho một chi nhánh của hãng này ở tiểu bang New Jersey. Đó là lý do gia đình THT dọn về đây, nơi có rất ít người Việt. New Jersey từ nay là nơi đất lành chim đậu. Ban đầu Thư ở nhà thuê, không còn phải lao động tay chân cực nhọc như một blue-collar worker, với đồng lương khá hơn hai vợ chồng dành dụm mua được căn nhà 4 buồng như hiện nay. Rồi thằng Thoại xong trung học, điểm cao nên được nhận vào trường Y khoa chương trình 7 năm, thuận buồm xuôi gió, nó tốt nghiệp bác sĩ y khoa.
Trong công việc của hãng, Thư chứng tỏ rất có khả năng và có sáng kiến, lại giỏi toán. Như một đầu tư lâu dài, hãng AT&T trả tiền cho Thư đi học thêm bán thời gian. Sau hai năm, Thư đậu thêm văn bằng Cao học Toán Ứng dụng / Master of Applied Mathematics. Nghiệp vụ tiếp tục thăng tiến. Khi chi nhánh của Thư được chuyển nhượng cho hãng điện toán IBM, Thư lên tới chức vụ Project Leader cho tới khi nghỉ hưu.
Hình 5: từ trái, qua cơn bĩ cực, sau khi THT tốt nghiệp cử nhân điện toán, có công việc ổn định của một white-collar worker, hai vợ chồng Ngọc Yến và Trần Hoài Thư từ nay bắt đầu biết thế nào là vẻ đẹp muôn màu của mùa Thu miền đông bắc nước Mỹ. [ photo by Trần Quí Thoại 1990 Poconos, Pennsylvania ]; phải: Nguyễn Ngọc Yến và Trần Hoài Thư trong đám cưới của người bạn trẻ, đã từng đón gia đình THT bước đầu sang lập nghiệp ở Philadelphia, khi ấy Ngọc Yến còn rất trẻ, THT mái tóc chỉ mới ngả muối tiêu. [nguồn: Blog’s Trần Hoài Thư, ghi chú của Ngọc Yến]
Phục Hồi Di Sản Văn Học Miền Nam
Từ năm 2001, tuy còn đi làm Trần Hoài Thư đã cùng với người bạn lính Phạm Văn Nhàn, người bạn văn thuở nào, hai người sáng lập tạp chí Thư Quán Bản Thảo và nhà xuất bản Thư Ấn Quán.
Khi chi nhánh của công ty IBM outsourcing chuyển qua Ấn Độ, THT quyết định nghỉ hưu. Không còn bận bịu về sinh kế, đây cũng là thời điểm Thư có thể thực hiện điều mơ ước. THT có toàn thời gian bắt tay vào việc thực hiện tủ sách DI SẢN VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM. Trần Hoài Thư có hùng tâm và gần như đơn độc trong suốt nhiều năm nỗ lực khôi phục lại những văn bản của một thời kỳ văn học bị CS Việt Nam trong nước đã không ngừng truy lùng và huỷ diệt.
Hình 6: trái, nhóm bạn văn thuở thanh xuân, Phạm Ngọc Lư, Trần Hoài Thư, Nguyễn Lệ Uyên, Phạm Văn Nhàn. [nguồn: tư liệu Nguyễn Lệ Uyên, hình chụp năm 1969]; phải, Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn, hai người bạn lính và cho đến nay 2021 vẫn là hai bạn đồng hành của Thư Quán Bản Thảo và Thư Ấn Quan, cả hai vẫn bền bỉ trên con đường phục hồi Di Sản Văn Chương Miền Nam; Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn trên đỉnh ngọn núi Watchung, Green Brook, N.J. là một cao điểm từng được tướng George Washington 1777 dùng để theo dõi các đạo quân Anh di chuyển, nay là Washington Rock State Park với con đường ngoạn cảnh 30 dặm tuyệt đẹp rất hấp dẫn du khách. [photo by Tô Thẩm Huy]
Đường Xa Chi Mấy: Tới Thư Viện Cornell
Qua các thư viện Đại học lớn ở Mỹ, Thư có thể tìm ra một số sách báo miền Nam. Tương đối gần nhà là thư viện Đại học Yale, chỉ cách nhà 2 tiếng lái xe, nơi có học giả Việt Nam nổi tiếng Huỳnh Sanh Thông, người đã dịch truyện Kiều của Nguyễn Du sang tiếng Anh, ông cũng là người giúp nhà văn Võ Phiến tài liệu để hoàn thành bộ Văn Học Miền Nam. Rồi đến thư viện Đại học Cornell tuy xa hơn, cách nhà 5 tiếng lái xe, nhưng thư viện Đại học Cornell, khu Đông Nam Á châu phải nói là nơi có đầy đủ sách báo miền Nam nhất.
Thường thường Trần Hoài Thư chỉ lái xe ban ngày lúc trời còn sáng, còn Yến giúp lái xe ban đêm vì biết chồng dễ ngủ gục khi lái. Đường rất nguy hiểm, có đoạn là đường núi, nhiều khi tuyết băng đông đặc. Cũng hai lần suýt chết vì tai nạn khi đi Cornell trên những đoạn đường mưa tuyết trơn trợt. Và không thể tưởng tượng được, tại Cornell sách báo Tiếng Việt của miền Nam rất dồi dào là thế nào; họ có cả tờ truyền đơn chiêu hồi cũng được lưu trữ.
Có lẽ do bản chất của dòng máu thám kích nên THT rất liều lĩnh với những bước chân khai phá. Rời nhà lúc 4 giờ sáng trời còn tối Yến lái xe, khi trời sáng là phiên THT. Thường là tới nơi thư viện Cornell lúc 10 giờ sáng. Đằm mình trong khu thư viện Á châu, lục lọi tìm tòi, ghi chép, làm photocopy cho tới sẩm chiều – ngoài một lunch break ngắn của hai vợ chồng, cho tới giờ ra về. Không phải chỉ một ngày, mà nhiều ngày, không phải một tuần mà nhiều tuần, trong nhiều năm như vậy. Nhiều chục ngàn trang sách thơ văn miền Nam của Thư Ấn Quán là thành quả tích luỹ của công sức bền bỉ của vợ chồng Trần Hoài Thư trong nhiều tháng, nhiều năm, cho tới năm 2012.
Hình 7: trên, Đại học Cornell thành lập từ 1865, nơi lưu trữ đầy đủ nhất sách báo của miền Nam Việt Nam trong khoảng thời gian 20 năm từ 1954 tới 1975; dưới, Trần Hoài Thư ngồi trong thư viện Cornell từ khi mái tóc còn xanh đến khi tóc trắng bạc như sương. [nguồn: tư liệu Trần Hoài Thư].
Về máy móc thì THT lên Craigslist tìm kiếm đồ phế thải. Có khi họ cho không, có khi họ bán rất rẻ. Sau khi thỏa thuận, họ cho biết địa chỉ, mình đến, với cái screwdriver trong túi. Họ hỏi máy nặng cả tấn sao ông lại khiêng nổi? Tôi cười, tao biết cách. Rồi tháo máy ra, đến mức không thể tháo. Fuser, ngăn giấy, mực, assembly parts, khung… Mấy anh chàng Mỹ trố mắt nhìn, ngạc nhiên. Chỉ có mực là mới có vấn đề. Lên eBay mua, nhưng làm sao biết ống mực tốt hay xấu?
Vậy mà đã 46 năm qua đi 1975-2021, với đời người như một cơn gió thoảng, với lịch sử chỉ là một chớp mắt, nhưng lại là một chặng đường rất dài trải nghiệm những tang thương. Thêm một chớp mắt nữa, thế hệ những người cầm bút 1954-1975 đều trở về với cát bụi, một số có thể còn được nhắc tới qua tác phẩm nhưng rồi cũng phải kể tới cuộc sống đầy đoạ và cả những cái chết tức tưởi của họ trong các trại tù cộng sản. Nói tới Văn Học Miền Nam, không thể không có một “cuốn sách trắng / livre blanc” về thời kỳ đó, một Wikipedia mở, như một “bộ nhớ” cho các thế hệ Việt Nam tương lai.
Hình 8: trái, địa chỉ 719 Coolidge Street, Plainfield, New Jersey 07062 là ngôi nhà vợ chồng Trần Hoài Thư đã sống ngót 30 năm, cũng là địa chỉ của Thư Ấn Quán, và là Toà Soạn Thư Quán Bản Thảo; phải, nhà văn Trần Hoài Thư đang còng lưng cắt xén những số báo Thư Quán Bản Thảo. Ước mong sao, rồi ra nơi đây sẽ là một landmark văn hoá của Thế hệ thứ Nhất cần được lưu giữ cho các thế hệ Việt Nam tương lai. [photo by Phạm Cao Hoàng]
Hình 9: một phần của tủ sách Di sản Văn học Miền Nam của Thư Ấn Quán, bộ Văn Miền Nam 4 tập: I, II, III, IV (2013); bộ Thơ Miền Nam trong thời chiến 2 tập: I, II (2017); bộ Thơ Tình Miền Nam (2017); Một Thời Lục Bát Miền Nam (2008); Thơ Tự Do Miền Nam (2009). Tất cả đều do Trần Hoài Thư thực hiện bằng phương pháp thủ công và có thể nói THT là người đi tiên phong trong kỹ thuật POD / Print On Demand trong lãnh vực sách báo tiếng Việt ở hải ngoại. [photo by Phạm Cao Hoàng] 3
Tác phẩm đã xuất bản:
Trước 1975
1. Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang; 2. Những vì sao vĩnh biệt; 3. Ngọn cỏ ngậm ngùi; 4. Một nơi nào để nhớ.
Sau 1975
VĂN
1. Ra biển gọi thầm (Tập truyện); 2. Ban Mê Thuột ngày đầu ngày cuối (Tập truyện ); 3. Về hướng mặt trời lặn (Tập truyện); 4. Mặc niệm chiến tranh (Tập truyện); 5. Đại đội cũ, trang sách cũ (Tập truyện); 6. Thế hệ chiến tranh (Tập truyện); 7. Thủ Đức gọi ta về (Tạp bút); 8. Đánh giặc ở Bình Định (tự truyện); 9. Hành trình của một cổ trắng (truyện vừa); 10. Ở một nơi trên Trường Sơn (tập truyện); 11. Truyện từ Bách Khoa (Tập truyện); 12. Truyện từ Văn (Tập truyện); 13. Truyện từ Trình Bầy, Văn Học, Khởi Hành… (Tập truyện); 14. Truyện từ Vấn Đề (Tập truyện); 15. Tản mạn văn chương (tập I); 16. Giấc mơ Giáng Sinh (Tập truyện); 17. Cảm tạ Văn chương (Hồi ức).
THƠ
1. Thơ Trần Hoài Thư; 2. Ngày vàng; 3. Nhủ đời bao dung; 4. Ô cửa; 5. Xa xứ; 6. Quán; 7. Vịn vào lục bát
Hai Tác Phẩm Thất Lạc Sau Chiến Tranh
1. Của Chiến Tranh; 2. Một Ngày Gạo Ba Ngày Hành Quân.
Trong quân ngũ và ngay cả giai đoạn bỏ ngũ, Trần Hoài Thư viết rất khoẻ. Chỉ trong hai tháng sống ở Tháp Chàm với Phạm Văn Nhàn, Thư đã viết xong một truyện vừa có nhan đề Của Chiến Tranh, giao cho Thầy Từ Mẫn Võ Thắng Tiết * giám đốc nhà xuất bản Lá Bối lúc đó nhưng không sao qua được kiểm duyệt, và sau tháng Tư 1975 thì bản thảo duy nhất bị thất lạc.
[*Sau 1975, anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết cũng là một thuyền nhân, đi cùng chuyến tàu với nhà văn Nhật Tiến, ban đầu sinh sống sống ở Alaska, rồi xuống ở Nam California, anh thành lập nhà xuất bản Văn Nghệ rất có uy tín ở hải ngoại trong nhiều năm trước khi anh nghỉ hưu].
Tác phẩm thứ hai, Một Ngày Gạo Ba Ngày Hành Quân cũng là một truyện dài, được giao cho nhà văn Thế Uyên lúc đó đang trông coi nhà xuất bản Thái Độ và Tủ sách Văn Nghệ Xám.
[Thái Độ cũng đã từng in cuốn tiểu thuyết Vòng Đai Xanh của Ngô Thế Vinh]. Cho dù Thế Uyên rất xông xáo nhưng cũng vẫn không vượt qua được hàng rào “phối hợp văn học nghệ thuật” của Bộ Thông Tin, cho tới tháng Tư 1975, bản thảo duy nhất cũng bị thất lạc.
Cả hai cuốn sách trên đã được quảng cáo trên báo chí nhưng không bao giờ được ra mắt. Đó là những tác phẩm bị thất lạc, thêm vào những tổn thất trong chiến tranh, vĩnh viễn đi vào sự quên lãng.
Những tổn thất nhân mạng trong chiến tranh đã được thống kê và nói tới. Thế còn những tổn thất trong văn học, liệu đây có phải là phần trách nhiệm của các sử gia?
Hình 10: trái, Trung uý Thám Báo Trần Hoài Thư với hạnh phúc được bồng con (1974);
phải,Trần Quí Thoại con trai Trần Hoài Thư tại Hội chợ Science Fair do Bell Lab bảo trợ và tổ chức. Thoại đang thuyết trình về công trình nghiên cứu khoa học “The magnetic field of a Superconductor” được một giải thưởng cho công trình nghiên cứu này. Trần Hoài Thư và Ngọc Yến có mặt và hãnh diện với đứa con của mình. Rồi không thể không chạnh nghĩ, Thoại với gốc là con một sĩ quan “nguỵ” nếu như còn kẹt lại ở Việt Nam, chắc nó chỉ là một đứa trẻ chăn trâu. Nay tới được một lục địa mới, một đất nước mới, nó có cơ hội làm đủ mọi điều để phát triển. Trần Quí Thoại nay đã là một bác sĩ y khoa. [nguồn: tư liệu Trần Hoài Thư]
Hình 11: trái, các trang trí trên đĩa sứ của Trần Quí Thoại, vẽ tặng cha; giữa, tranh của Trần Quí Thoại vẽ cảnh “Con Vịn Cha”; phải, bức hình mới nhất, nay thì cảnh “Cha Vịn Con”.
Con Vịn Cha Cha Vịn Con
Lan can ba, ba thẳng lưng Bây giờ ba lại vịn con
Ba dạy con chân đạp bùn mà đi Tay trong tay con dẫn ba qua đường
Con nhón chân, con đưa tay Ba đi từng bước ngập ngừng
Con vịn ba với cái đầu ngẩng lên! Bỗng nghe hơi ấm chảy rần trong ba
Hình 12: trái, Trần Hoài Thư, bán cà-rem nay nhận bằng Cao học Toán Ứng dụng tại Viện Kỹ thuật Steven New Jersey ngày 24.05.2005; phải, gia đình Trần Hoài Thư vui mừng đoàn tụ trong ngày lễ tốt nghiệp: Nguyễn Ngọc Yến, Trần Hoài Thư và con trai Trần Quí Thoại. Thoại tốt nghiệp bác sĩ.
Ngọc Yến Đột Quỵ Sau Trận Bão Sandy
Chỉ một tháng sau cơn bão tố Sandy tàn phá nhiều nơi trong đó có New Jersey, Ngọc Yến bị tai biến mạch máu não / stroke tháng 12 năm 2012. Hurricane Sandy thì được đài khí tượng báo trước, nhưng trận bão stroke của Ngọc Yến thì không. Với Trần Hoài Thư, thì đó là một trận động đất / earthquake, mà động đất thì không có dấu hiệu gì báo trước và Yến rất bất ngờ bị một cơn stroke đánh gục, bị liệt nửa người bên trái. Tay trái, chân trái không thể cục cựa. Nhìn Yến không thể ngồi, đứng, một nửa thân người không còn cử động, Với Thư thì Yến vợ anh đã bị đóng đinh khổ nạn từ đây.
Quan sát những gì người ta làm cho Yến ở nhà thương, Trần Hoài Thư tự tay biến đổi căn nhà với thêm bậc thềm, tay vịn sao cho thích nghi với người vợ tàn phế. Thư cũng mau chóng học được cách đưa người bệnh từ xe lăn lên giường, chuyển từ giường xuống ghế ngồi, rồi cả những công việc vệ sinh cá nhân cho Yến như tắm rửa, thay quần, thay áo, thay tã và những thao tác tập vật lý trị liệu cơ bản cho người bệnh liệt bán thân. Tất cả nhanh và gọn mà ngay cả những therapists và home caregivers cũng phải trố mắt ngạc nhiên. Thư cố tạo một cảnh sống gia đình gần như bình thường cho Yến. Thấy Yến ăn ngon, ngủ ngon, luôn miệng nói mình vui quá là Thư vui. Chấp nhận như số phận đã an bài và anh nghiệm ra là: hạnh phúc càng lớn khi nó được nẩy sinh từ khổ nạn. Thư trải lòng mình trên trang giấy: “Mỗi ngày tôi cố mang cho Yến niềm vui. Cũng mỗi ngày tôi giấu Yến nỗi buồn của tôi.”
Nhưng rồi chưa yên, Yến còn bị giáng thêm một trận stroke thứ hai, rồi thứ ba, đến tháng 05/2015, Yến không còn có thể sống ở nhà mà cần được chăm sóc 7/24 trong một nursing home, bác sĩ bảo đó là cách duy nhất để cứu Yến và cứu cả Trần Hoài Thư.
Trong suốt 11 năm [từ 2001 tới 2012], Ngọc Yến – người bạn đời của THT, đã đồng hành giúp anh rất nhiều trong việc thực hiện các công trình phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam.
“Yến giúp tôi lái xe khi đi xa trong những lần tới Thư viện Đại học Cornell, rồi đóng bằng chỉ những cuốn sách dày cả ngàn trang, hay phụ với tôi khiêng những thùng giấy tôi mua với giá rẻ. Yến giúp tôi viết địa chỉ, bỏ sách báo vào phong bì, dán tem, hay nhắc tôi về những sơ suất. Khi một người hỏi order một cuốn sách, Yến luôn luôn nói là tặng, đừng lấy tiền. Tâm Yến là tâm Phật. Mất Yến là mất cả cánh tay phải, tôi như hết chỗ vịn.”
Rồi đều đặn như vậy, trong nhiều năm, ngày hai lần, Trần Hoài Thư nội trợ nấu thức ăn Việt Nam nóng đem vào cho Yến. Yến không chịu ăn đồ ăn Mỹ. Mỗi ngày Thư tìm cách kéo dài thời gian ngồi túc trực bên giường của Yến. Đứa con trai bác sĩ thì đi làm xa, nhưng mỗi cuối tuần đều về để đi với ba vào thăm mẹ. Nó biết cách làm cho mẹ nó vui, cả gây cho mẹ mối ghen tuông với ba nó.
Chuyện Ông Trần Hoài Thư “Cưới Con Phương”
Mỗi lần hai cha con vào thăm, bình thường thì Yến gọi Thư là “ba Thoại”, Trần Quí Thoại là tên đứa con trai. Bỗng một hôm, chẳng rõ tại sao, Yến xoay lưng không thèm nói chuyện với Thư. Không biết chuyện gì đã xảy ra, Yến đổi hẳn cách xưng hô. Thay vì là “ba Thoại” thì hôm nay gọi anh là “ông Trần Hoài Thư”. Yến nói “Ông đang chờ tôi chết để cưới con Phương, có phải không?” Nghe Yến nói vậy, Thư tá hoả tam tinh, hỏi Yến: “Con Phương nào?” Một cái tên không thể nào Thư có thể nhớ ra. Thế là Yến giận, quay mặt vào tường không thèm nói chuyện với ba thằng Thoại nữa.
Nằm bệnh bao năm sau ba lần bị tai biến, chuyện mới thì Yến không nhớ, nhưng các chuyện cũ thì vẫn nhớ như in. Nhưng Thư thì vẫn nghĩ không ra “con Phương” là ai, hay là Yến ghen với một nhân vật nào đó trong các truyện đã viết của mình. Thế là về nhà suốt đêm vào máy tìm kiếm. Eureka! Cuối cùng Thư đã có câu giải đáp, thì ra “con Phương” là tên một cô gái giang hồ, một nhân vật trong truyện “Cơn Giông” được viên thiếu uý thám kích gặp trong một động điếm và đem lòng yêu thương, truyện mà chính Thư không còn nhớ, đã đăng trên báo Bách Khoa số 288 (1969) 5. Tuy bị Yến giận và ghen tuông vô lý nhưng Thư lại cảm thấy vui vì biết được phần trí tuệ còn sắc sảo của Yến.
Nhớ Quê Nhớ Chim Chằng Nghịch
Trước đại dịch Covid-19, hầu như mỗi ngày 2 lần Thư được phép tới Nursing Home thăm Yến với thức ăn Việt nấu từ nhà đem vào. Nhưng rồi một hôm, các cô y tá cho biết, Yến không chịu ăn từ mấy ngày nay.
Yến không ăn đồ Mỹ điều ấy Thư đã biết nên Thư đã học nấu các món ăn Việt Nam từ Internet và cả biết Yến thích ăn món gì. Bác sĩ tới khám tổng quát cho biết tình trạng Yến vẫn ổn định và không mắc thêm một căn bệnh gì. Thư hỏi, vậy Yến thích ăn món gì để anh nấu. Yến trả lời: muốn ăn món chim chằng nghịch. Từ ngày về Vùng IV làm phóng viên chiến trường suốt 2 năm mà THT cũng chưa biết chim chằng nghịch là gì. Như mọi lần, Dr. Google đã giúp anh, và bây giờ Thư mới được biết, chim chằng nghịch hay còn gọi là gà nước vằn, mỏ dài chân đen là loại chim thiên nhiên chỉ có ở miền Tây Nam Bộ. Nhưng có lẽ chim chằng nghịch sau này quá hiếm và gần như biến mất khỏi đồng ruộng miền Tây rồi. Ngay cả bây giờ, nếu còn sống ở Cần Thơ quê Yến, thì cũng chẳng biết kiếm chim chằng nghịch ở đâu ra, huống chi đang ở Mỹ. Giải thích cho vợ hiểu nhưng Thư cũng thấm thía hiểu rằng, chẳng qua là Yến nằm bệnh quá lâu, quá nhớ quê mà nhớ ra tên con chim chằng nghịch từ một tuổi ấu thơ xa xưa nào.
Hình 13: Chim chằng nghịch hay nỗi nhớ quê, còn gọi là gà nước vằn, tên khoa học Gallirallus striatus, xưa kia có ở đồng ruộng miền Tây ĐBSCL nay hầu như không còn nữa, nhưng chưa thấy trong Danh mục sách đỏ động vật Việt Nam. [nguồn: birdwatchingvietnam]
Cũng sáng hôm đó, từ California tôi phone thăm Trần Hoài Thư. Lúc ấy Thư đang ở trong Nursing Home với Yến. Tôi bảo Thư đưa phone cho tôi được nói ít câu thăm chị. Thư giới thiệu tên tôi Ngô Thế Vinh thì chị nhớ ngay và nói “chào bác sĩ”. Tôi nhắc chị Yến, tôi là bạn của Thư, chị đừng gọi tôi là bác sĩ, nhưng lúc đó trong lòng thực sự có niềm vui, vì biết với cách xưng hô đó chứng tỏ trí nhớ chị còn rất tốt cho dù đã hơn 6 năm nằm bệnh. Tôi cũng nói với chị Yến qua phone, là mới đây tôi có về thăm miền Tây, và cũng chẳng còn thấy một con chim chằng nghịch nào. Và rồi Yến cũng quên đi chuyện con chim chằng nghịch và trở lại ăn uống bình thường với những món Thư tự tay nấu, trong nỗi vui mừng của cả hai cha con.
Cù Huy Hà Vũ Thăm Anh Chị Trần Hoài Thư 2016
Cù Huy Hà Vũ, là con trai của nhà thơ Huy Cận, nhỏ hơn Trần Hoài Thư 15 tuổi. Năm 1968, khi Thư là sĩ quan Thám kích đang lặn lội trong chiến tranh ở miền Nam thì Vũ mới là một cậu bé 11 tuổi, còn thập thò nơi cửa hang nơi đi sơ tán, xem phi cơ Mỹ từ xa oanh kích miền Bắc đạn bắn như pháo bông.
Văn kỳ thanh, nghe tiếng nhà văn Trần Hoài Thư, lại yêu thích văn học, hai vợ chồng Vũ đang sống ở Chicago, bay sang Boston, cùng với người bạn lái xe đi New Jersey thăm anh chị Trần Hoài Thư. Vũ xin được cùng THT đi thăm chị Ngọc Yến. Khi nghe Thư giới thiệu là có Cù Huy Hà Vũ là con trai của nhà thơ Huy Cận tác giả Lửa Thiêng, tới thăm, Yến kết nối được được ngay. Cũng ngay tại Nursing Home, Cù Huy Hà Vũ đã lấy giấy bút chớp nhoáng vẽ xong bức ký hoạ cùng với dòng chữ đề “Tặng Chị Nguyễn Ngọc Yến nhân Ngày của Mẹ Mother’s Day May 8, 2016”.
Vũ có nét vẽ tài hoa, bắt được ngay cái “thần” của Chị Yến, với đôi mắt đẹp thông minh và một vầng trán cao bướng bỉnh. Thấy Yến vui và cảm động, Thư cũng vui lây, cảm giác ấm áp như có “một chút mặt trời trong nước lạnh – Un peu de soleil dans l’eau froide”, cuốn phim mà Thư đã xem từ những năm rất xa xôi mà nay chỉ còn nhớ tên.
Hình 14: Hai vợ chồng Cù Huy Hà Vũ và Nguyễn Thị Dương Hà vào thăm chị Yến tại Nursing Home Ashbrook, N.J. nhân Ngày của Mẹ, Chủ Nhật 08.05.2016; trái, chân dung chị Nguyễn Ngọc Yến, vợ Trần Hoài Thư qua nét ký hoạ của Cù Huy Hà Vũ; phải, ký hoạ nhà văn Trần Hoài Thư, cũng qua nét vẽ của Cù Huy Hà Vũ. [tư liệu Trần Hoài Thư]
Về tới nhà, suốt ngày hôm đó Vũ chỉ đằm mình tromg núi sách báo nơi tầng hầm nhà của Trần Hoài Thư. Cù Huy Hà Vũ đã được Trần Hoài Thư ký tặng nhiều bộ sách báo miền Nam.
Đôi Uyên Ương Giữa Mùa Đại Dịch
Mấy tháng đầu năm 2020, bắt đầu trận đại dịch, các Nursing Homes trên toàn nước Mỹ là nơi tới viếng của lưỡi hái tử thần Covid hung hãn nhất. N.H. Ashbrook cũng không hơn gì. THT được báo tin Yến phải nhập viện vì bị nhiễm Covid-19 cùng với một số bệnh nhân khác. Yến với bao nhiêu là bệnh nền, với 3 lần bị tai biến mạch máu não, ai cũng nghĩ Yến khó qua khỏi. Vậy mà Yến vẫn là một ngoại lệ, một trường hợp hiếm hoi khỏi bệnh, Yến không phải vào ICU không qua máy trợ thở, chỉ ít ngày sau thì Yến được xuất viện trở về Nursing Home còn nhiều chiếc giường trống trải. Có thể nói đây là phép lạ, Yến vẫn sống, vẫn vác chiếc thánh giá khổ nạn để ở lại với hai cha con Thư Thoại. Trong thời kỳ tuyệt đối cách ly, trong nhiều tháng hai cha con hoàn toàn không được vào thăm Yến.
Nhưng rồi hoạ vô đơn chí, tháng 06/2020 đến lượt Trần Hoài Thư cũng bị cơn bão tai biến. Nhưng lần này thì Trần Hoài Thư như bị phục kích. Một ngày bình thường như mọi ngày khác, khi Thư cầm bút viết ít dòng chữ lời đề tặng trên trang đầu một cuốn sách. Thư bỗng thấy bàn tay cầm cây bút sao mà khó khăn, rồi lại thấy cả hàng chữ viết run rẩy xiêu đổ. Biết đây là một dấu hiệu chẳng lành. Ngay trong đêm, Thư phone cho con, lúc ấy nó đang là bác sĩ trực ở Philadelphia. Thoại khuyên ba gọi ngay 911 để được đưa vào bệnh viện vì đó là triệu chứng của stroke, và Thoại cũng cho biết sẽ lái xe về ngay sáng hôm sau. Trong nhà thương gặp lại con, Thoại cho biết ba bị một cục máu đông trong óc. Vậy ra, sau Yến cơn bão stroke Sandy nó cũng không chừa anh. Một thoáng bi quan, Thư đã chạnh nghĩ: “Số phần chúng tôi coi như là mạt lộ rồi. Thôi hết rồi giấc mơ Thư Quán Bản Thảo, giấc mơ Thư Ấn Quán. Thôi hết rồi những bài văn những bài thơ theo nhịp gõ êm êm trên bàn phím. Niềm vui trong tuổi xế chiều tự nhiên bị cướp mất”.
Thư mau chóng gạt mọi ý nghĩ bi quan ra khỏi óc. Anh chuẩn bị ngay cho một cuộc chiến đấu từng ngày. Sau một tháng nằm nhiều hơn ngồi, người ta cho Thư xuất viện; không phải vì đã hồi phục mà vì Insurance chỉ cho nằm bấy nhiêu. Thoại chở ba về cũng vẫn căn nhà cũ, sau một tháng đóng cửa. Vườn sau, sân trước cỏ dại mọc cao. Thư nghĩ bây giờ là lúc “ba bắt đầu phải vịn con”. Thoại dọn dẹp lại căn phòng bừa bộn, sắp xếp cho ba nằm trên cái giường bệnh viện / hospital bed có thể điều khiển cao thấp mà mẹ Yến đã bỏ lại khi vào Nursing Home. Thoại cũng mua và đặt camera khắp mọi nơi trong nhà, để có thể theo dõi ba từ xa qua chiếc iPhone. Sau đó trở lại Philadelphia nơi bệnh viện nó làm việc.
Rồi một mình trong căn nhà vắng, THT vẫn phải đương đầu với một thực tế trước mắt. Những ngón tay đã không giữ được cái muỗng, đôi đũa để những hạt cơm hay thức ăn khỏi vương vãi ra trên áo trên quần. Tệ hơn nữa, chúng không còn sức mạnh để gõ hay để viết trên bàn phím, bộ não đã không sao điều khiển được các ngón tay để có thể gõ cho chính xác…
Tinh thần chiến đấu với Trần Hoài Thư đã trở thành một bản năng thứ hai. Vẫn như một programmer, THT đã “phác thảo” cho riêng mình một chương trình “Hoạt động Trị liệu / Occupational Therapy” tại nhà với một lối tập độc nhất vô nhị. Thay vì là bài tập thô sơ như trong bệnh viện: các cô therapist tập cho anh cách bốc lượm đồ, cách lắp ráp các hình nhà, hình xe bằng những miếng gỗ. Những bài tập của Thư là tập viết khó khăn trên giấy hay tập bấm vụng về trên màn hình chiếc iPhone từng dòng thơ lục bát mà anh thích. Dần dần qua ít tuần lễ THT cũng làm chủ được mười ngón tay của mình. Sau đó, Trần Hoài Thư lại say sưa viết, anh làm việc như một người đang cạn kiệt quỹ thời gian.
Tìm lại được tập hồi ức dở dang viết rồi để đó, không có dự định cho xuất bản nhưng sau lần bị stroke THT nghĩ khác, anh phải viết xong giữa khoảng cách sống và chết, chưa biết sẽ đến lúc nào. Anh đặt tên cho tập hồi ức là: Cảm Tạ Văn Chương – mà anh cảm thấy như đang viết một Di chúc. Cuốn sách đã được THT hoàn tất trong một thời gian kỷ lục. Có những trang sách khiến người đọc phải rơi lệ. Sách tuy không bán, nhưng Cảm Tạ Văn Chương đã trở thành một best-seller của Thư Quán Bản Thảo. Nơi mấy trang cuối của cuốn hồi ức, vẫn Trần Hoài Thư viết: “Thêm một lần nữa tôi phải cảm tạ văn chương. Nó đến khi tôi ngã xuống. Nó giúp tôi vịn mà đứng dậy. Nó là chiếc gậy thần, tôi chống mà đi. Cho dù bây giờ không hồi phục hẳn, nhưng tôi vẫn có thể gõ một bài thơ, post một bài viết, hay xuống hầm nhà để tự tay đóng một cuốn sách. Dù mắt mờ, bước chân xiêu đổ. Để niềm vui mọc cánh nở hoa”.
Hình 15: trái, Cảm Tạ Văn Chương, hồi ức của Trần Hoài Thư – như một Di Chúc, dày 224 trang, được THT hoàn tất trong một thời gian kỷ lục sau 4 tháng bị tai biến mạch máu não, đây là ấn bản đặc biệt của Thư Quán Bản Thảo tháng 10/2020; phải, Mai Thảo – Bài viết ở trang cuối là 32 bài tuỳ bút của Mai Thảo, dày ngót 200 trang chỉ trong vòng hai tuần đã được THT đánh máy, layout, in ấn và phát hành tháng 5/2021. Sức làm việc của “người bệnh THT” là phi thường, không ai có thể sánh kịp. [nguồn: 2 ấn bản đặc biệt THT tặng Ngô Thế Vinh]
Tưởng cảnh khổ của hai vợ chồng Ngọc Yến – Trần Hoài Thư như vậy là đã đụng đáy, nhưng không. Đến tháng 2/2021 một cơn bão stroke Sandy thứ 4 lại phủ ập lên tấm thân đã đầy những thương tật của Yến. Ít ai sống sót được ở lần tai biến thứ tư này. Lần này Yến phải nằm bệnh viện lâu hơn, mang thêm một số thương tật mới: Yến bị mất tiếng nói vì bị tổn thương vùng ngôn ngữ trên não, Yến còn bị mất thêm nửa vùng thị giác do bị tổn thương vùng vỏ não thị giác. Rồi Yến vẫn sống sót để trở về Ashbrook N.H. Yến vẫn còn phần thính giác để nghe và hiểu được những câu đùa giỡn của hai cha con Thư Thoại, nhưng phần tham dự của Yến từ nay chỉ còn là biểu tỏ qua cử chỉ – mà thuật ngữ chuyên môn gọi đó là ngôn ngữ cơ thể/ body language. Yến cũng không nuốt được, THT từ nay cũng mất luôn nguồn hạnh phúc được nội trợ mỗi ngày nấu ăn cho Yến; và phần dinh dưỡng của Yến chỉ còn là một ống G-Tube dẫn thức ăn thẳng vào bao tử. “Bao nhiêu đau khổ của trần gian, trời đã dành riêng để tặng nàng” hai câu thơ ấy của Nguyễn Bính hình như đã vận vào người Yến.
Can đảm chấp nhận số phận nghiệt ngã, với Thư và Yến kể từ nay, hạnh phúc rồi ra chỉ là tính riêng cho mỗi từng ngày.
Một Ngày Nghiện Ngập Của Trần Hoài Thư
Trong một eMail mới gửi cho tôi, Trần Hoài Thư viết: “Bạn bảo tôi là típ người “ghiền làm việc / workaholic”. Vâng, chính vậy. Nếu không có việc làm chắc tôi buồn mà chết sớm quá. Dù quá bận rộn mà vui. Vui như những trái hỏa châu được bắn lên trong cõi đêm của đời xế bóng. Chỉ trong vòng 2 tuần nào in: “Mai Thảo – Bài viết ở trang cuối.” Nào là chuẩn bị bài vở viết bài cho Thư Quán Bản Thảo số 93 sắp tới. Nào là scan, layout, thực hiện toàn bộ tập san Chính Văn… Nào là làm thơ, viết văn… không ngưng nghỉ. Thực phẩm nuôi dưỡng tinh thần khiến tôi bận rộn cả ngày. Còn thực phẩm nuôi dưỡng thân xác thì có gì mà cần bận tâm chứ.
Dĩ nhiên “ghiền làm việc” không phải là làm khi cảm thấy tay chân thừa thãi, nấu nướng cũng là một nghệ thuật, làm ngon cái miệng, sao lại không ham. Lại đi ham đánh máy bằng hai ngón tay, 32 bài tùy bút của Mai Thảo, mang khổ nhọc vào thân. Nhất là bị ảnh hưởng nặng nề sau trận stroke.
Ngón tay điều khiển khó khăn, muốn đánh được một chữ đúng thì đôi khi phải sửa đi sửa lại 4, 5 lần. Hay mỗi khi thực hiện một flipbook, phải scan chụp cả cuốn, layout lại, đổi size lại cho đúng kích thước, tìm cách làm giảm sức nặng mỗi trang từ cấp MB, giảm xuống vài trăm kilobytes, kẻo memory không “kham nổi.”
Bạn làm sao hiểu ở trong những con chữ mà tôi đánh máy ấy có sức nam châm kỳ lạ, khi ta đánh máy một bài văn ta ưa thích, chữ không còn là một hình phạt mà là niềm vui nở búp nở hoa! Bởi vì nó tỏa ra cái đẹp, đó là nghệ thuật. Ví dụ khi tôi đánh máy câu sau đây của Mai Thảo trong bài tùy bút Quán Bệnh:
“Đêm tháng tám bên ngoài bát ngát sao.
Trong những lùm cây xôn xao, gió múa những thuyền đầy.”
Tôi không khỏi ngây ngất cùng với những chữ trong câu “gió múa những thuyền đầy”, Gió mà biết múa sao? Thưa bạn, tại mình không biết đấy thôi. Giờ ông MT đã nói cho chúng ta biết. Cho tôi biết. Chính vì cái muốn biết ấy đã giúp một lão già sắp 8 bó này phải đánh máy miệt mài, không nghỉ, không mệt và bây giờ cũng in miệt mài, không nghỉ một cuốn sách dày 200 trang để tặng đời!
…
Khác với quan niệm về già, phải hưởng nhàn, phải coi đời là phù du, hãy nhâm nhi hớp cà phê buổi sáng, đừng bận tâm đến in ấn, in báo, hay sưu tập các tạp chí cũ để thực hiện flipbook cho thiên hạ đọc chùa… Họ không hiểu tôi cần làm việc. Cần sự thách đố. Cần cái đẹp… Tôi có thể vất hàng trăm bìa in không thương xót, dù giá tiền không phải là nhỏ, mà chỉ cần một bìa – một bìa đẹp – đủ vui rồi. Sức mạnh của nghệ thuật kỳ lạ lắm.
Tôi bỗng liên tưởng đến người bạn đời. Yến gần như một pho tượng khổ hình. Không còn biết chuyện đời. Không còn thắc mắc suy tư. Không biết cái nắm tay nóng hổi tình thương yêu của người chồng, không còn mắt sáng ngời lên khi thấy con… Không cần ngồi xếp bằng nhắm mắt tham thiền. Nàng có một chỗ ngồi trong xe lăn, mắt nhìn về một cõi vô minh nào đó suốt 8 năm dài…
Tôi nghe lòng ràn rụa. Tôi phải làm gì để cứu khổ, cứu nạn, cứu nàng khỏi cơn mê thiếp. La hoài cũng vậy. Siết tay chặt hoài cũng vậy. Thôi thì, chỉ có cách lấy Iphone mở bài Tóc Mây Sĩ Phú hát kê sát vào tai nàng. Để âm thanh lọt vào màng nhĩ, đánh động bộ não, xẹt lửa những sợi dây thần kinh đã chết, Tóc Mây. Đây là bài hát mà mình thích tôi mở cho mình nghe… Tóc Mây. Ngày xưa tóc đen huyền vì gội bằng bồ kết. Bây giờ thay vì bồ kết, tóc Yến vẫn đen mun vì gội bằng trái khổ nạn. Tôi nhìn vào mắt nàng. Tôi thấy mắt nàng lim dim muốn ngủ, thì ra, những lời ca kia, bài hát quen thuộc kia đã có một phép lạ. Tôi nói là phép lạ, Yến đã rơi vào giấc ngủ ngon như một đứa trẻ. Chúng mang lại bình an mà ta đang khao khát.
Hình 16: Hơn bao giờ bằng lúc này, chính tôi cần sự bình an đó. Yến đã trả nó bằng khổ nạn. Còn tôi công việc đâu có khổ nạn, khó khăn gì… Đánh máy ngón tay còn lẩy bẩy, không chính xác nên lỗi nhiều. Xin bạn thông cảm.
Hình 17: Trong mùa đại dịch, tháng bảy ở Mỹ không có mưa ngâu, nàng trên xe lăn, chàng vịn walker, Ngưu Lang Chức Nữ thời hiện đại, cả hai chỉ có 15 phút nhìn nhau bên ngoài cửa nursing home Ashbrook, New Jersey. [photo by Trần Quí Thoại 2021]
Bài Thơ Ngưu Lang
Bây giờ Ngưu Chức đã già
Chàng vừa bị stroke đi bằng walker
Nàng cũng thoát dịch Corona
Hai người vẫn đợi đến ngày gặp nhau
Tháng bảy Mỹ không mưa ngâu
Bởi nước mắt họ thấm vào đá cương
Nở lên một đoá vô thường
NGÔ THẾ VINH
Sài Gòn 18.06.1971 – New Jersey 18.06.2021
[50 năm Vàng, ngày cưới Nguyễn Ngọc Yến – Trần Hoài Thư]
Click to access nhatbook-Tap-chi-Bach-Khoa-so-288-1969.pdf
6/ Cảm Tạ Văn Chương. Trần Hoài Thư. Tạp Chí Thư Quán Bản Thảo. Ấn bản đặc biệt tháng 10/2020.
*******
Trần Hoài Thư and Ngọc Yến The Slaty-Breasted Rail and Longing For The Homeland
Introduction: Trần Hoài Thư is listed in The Anthology of Portraits of Literature, Art and Culture II. It shows this literary figure has been extensively written about and to write another article on him would indeed be a challenging undertaking. Moreover, the latter half of his life is so eventful it would take a voluminous effort to cover it all. In recent days, his life has taken so many unexpected turns that it is high time for me to write a long 50th Gold anniversary card to my friends Trần Hoài Thư and his better half Nguyễn Ngọc Yến. They tied the knot in a unique “military wedding,” knew unbounded happiness, are facing numerous ordeals as they were about to enter their eighties. On this occasion, I would like to venture that doctoral candidates would be well served to choose Trần Hoài Thư and his efforts to restore the Heritage of Literature of South Vietnam 1954 – 1975 / Di Sản Văn Học Miền Nam 1954 – 1975as a topic for their thesis. They will find in it an extremely rich and exciting topic worthy of commitment and discovery. There is not much time left. To borrow thewords of the young author Trần Vũ, the watch on Trần Hoài Thư’s wrist shows it is 5 to midnight – once those five ephemeral minutes are gone, Trần Hoài Thư would join the rank of the departed “người của trăm năm cũ”and everything would be irretrievably covered by the dust of time.
Picture 1: left, teacher Trần Hoài Thư (1967) at the age of 25, warrant lieutenant and leader of the Scout Ranger platoon of the 22nd Infantry Division. [source: Lương Trọng Minh]; right, half a century later, author Trần Hoài Thư (2017) age 75 binding the Di sản Văn học Miền Nam book in the basement of his house at719 Coolidge Street, Plainfield, New Jersey 07062 which also serves as the address of Thư Ấn Quán andthe editorial office for Thư Quán Bản Thảo. [source: a still frame of THT from a selfie video done with an iPhone 5; Chân Dung VHNT & VH, Việt Ecology Press 2017 ]
Trần Hoài Thư – A Biography
Trần Hoài Thư, given name Trần Quí Sách, was born on 12/16/1942 in Dalat. In early childhood, his father lost contact with the family and he lived with his mother in the coastal city of Nha Trang. He also spent some time at the Bethlehem Orphanage in Hòn Chồng. After he was reunited with his father – a scholar still wearing the traditional black áo dài – THT attended the Quốc Học Huế then the University of Science in Saigon. From 1964 to 1966 he taught mathematics at Trần Cao Vân High School, Tam Kỳ, Quảng Tín Province (now incorporated into the Quảng Nam Province).
In 1967, he received training at the Thủ Đức Military Academy – Class of 24. Later assigned to the 405 Scout Ranger Company of the 22nd Infantry Division, THT was wounded three times. The first one, when a bullet from a VC AK tore through his left chest as his unit was sent to reinforce the battle of Quy Nhơn during the Tết Offensive of 1968. Consequently, THT was treated at the Military Hospital at Quy Nhơn. The other two wounds were caused by grenade fragments during ferocious engagements in Bình Định Province: the first time on the Kỳ Sơn Hill where 4 officers lost their lives and two were wounded including THT. The second one during the battle in the coconut region of Bồng Sơn. After 4 years and 3 Purple Hearts, THT was reassigned from the Scout Ranger company to serve as a war correspondent in IV Corps. There, he met Ngọc Yến, his wife to be. She is a native of Cần Thơ and a fervent fan of his.
A love born in literature
Trần Hoài Thư picked up his pen in 1964. It could be sooner. He made his debut with his first short story Nước Mắt Tuổi Thơ that appeared on the magazine Bách Khoa Sài Gòn. In later years, he became a contributor to Văn, Văn Học, Đời, Bộ Binh, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành, and Ý Thức …
We cannot ascertain when the Cần Thơ beauty Nguyễn Ngọc Yến was first introduced to and became a fan of Trần Hoài Thư. In the Sóng Văn Journal (1997), Ngọc Yến confided: “it is the love of literature that led our two ways to cross and writer Nguyễn Lệ Uyên acted as the matchmaker.” For a long time, I was convinced it was Lê Ngộ Châu the editor of Bách Khoa who brought them together. With the help of Đỗ Nghê, I was able to contact Nguyễn Lệ Uyên who responded on the same night with an email dated 05.05.2021:
“The story goes like this: while at the school of Pedagogy, Can Tho University, (1968), I was late enrolling for a couple of days and found myself in a bind. Fortunately, I met Yến who worked at the Administration Office. She put in a kind word for me with the Dean. We became good friends because she knew I authored several short stories published by Văn, Khởi Hành … she loves literature, is a bookworm and rarely misses reading a literary publication. I looked up to her as my big sister since she was 7 or 8 years my senior. Each time I received a payment for my writing I would take her out to eat. Then, in an issue of Văn featuring young writers both the short stories written by me and Trần Hoài Thư were published. As customary, when I received the author’s royalties, I took her to eat bún bò Huế at the Mister Ba Mập joint in Bình Thủy, on the direction of Long Xuyên. Enjoying the spicy food, with her mouth on fire and tears running down her eyes she commented that the dish is good. While we were eating, she asked if I knew THT and what I thought of his story. Of course, I knew him very well. He often travelled from Quy Nhơn to Tuy Hòa and spent a couple of days each time with his literary friends. After meals, he usually stayed at my place.
In my mind, I only suspected that the purpose of her inquiry was to gain more information about the author but never imagined that she was infatuated with his works, sympathized with the wretched antagonists in his stories to the point of identifying them with the author. She ended up falling in love with him and the stories! At the close of 1969 or start of 1970 our group of students organized a weekly show of music and poem reading at the big auditorium. It was during one of those events that she opened up about her true feelings for Thư. She asked me about his family status, personal activities, character … Now, everything became as clear as day. Outdoing myself as a writer, I tried to create an exceptional persona out of Thư. I painted THT in a more flattering light turning him into a tough, macho, romantic individual like Hemingway’s old man sailing alone in the open sea. That night, I wrote Thư a 4- or 5-page letter telling him about Yến. I related faithfully what I knew or heard about her, her look, behaviours, and respectable family background (her father was a teacher and the superintendent at Phan Thanh Giản High School).I told THT, he’d find in her an ideal spouse and he should not let this golden opportunity slip through his fingers. Yến and I lived not far from each other. Each time we met, we talked about literature, sang the praise of Mr. Quí Sách. I encouraged her to write him and learned more about the antagonists in his stories. Several meetings later, I told her point blank that Thư though not a perfect man would make a good husband …” [end of quote]
From that day on, the address of Toà soạn Bách Khoa served as a P.O. Box for the girl from the Mekong Delta to correspond with the vagabond soldier Trần Hoài Thư. On a fateful day, the place was also used as the location for their first meeting. It took place on the occasion Thư was on a short leave and obtained a date to see Yến at Bách Khoa’s office. THT showed up late because he was kept too long by his friends. By the time Đỗ Nghê took Thư to the address at 160 Phan Đình Phùng Street, Yến already left piqued. It was Lê Ngộ Châu who left in haste on Yến’s trail to bring her back to meet THT. Not long after, they became husband and wife in a wedding ceremony on 6/18/1971.Those dear memories shared with Lê Ngộ Châu remained forever engraved in THT’s mind.
Nguyễn Lệ Uyên continued: “To make the story short, as if by predestiny, after we finished a flaming hot bowl of bún bò Huế I bought her, the two of them had a date at the Bách Khoa’s office, exchanged the vow in June,1971. At that time, I was a cadet at the Thủ Đức Military Academy when this short note arrived: Thư and I will get married on the day … month … year … Try to get a leave to come and attend our wedding to make our joy complete”.
It was a typical “military wedding” in Saigon. The simplest one possible, attended by about ten friends at a house in the Bàn Cờ area. No ceremony to take the bride to the groom’s house. Not even a wedding ring.
The small and big blessings
In the issue No. 181 of Văn Journal dated 07/1971, author Trần Phong Giao wrote: “In the past, the small blessing happened when you got married and the big one when you passed the court’s examinations. With the young writers of today who have to “give up their pens to pick up the rifles” the big blessing would no longer be passing the court’s examinations but probably when they see their works being published. Trần Hoài Thư, the prolific young author of our day, knows both joys at the same time. On the 18th of June he tied the knot with Miss Nguyễn Ngọc Yến in Saigon with an intimate circle of friends. On June 23, at 7:30 PM, Ý Thức Printing House organized a book launch for Trần Hoài Thư’s first work “Những Vì Sao Vĩnh Biệt”. After the celebration of the small and big blessings, Trần Hoài Thư had to rush back to his unit in II Corps. Our soldier was only allowed a week leave. All hustle bustle. No honeymoon, no time to give his new book to friends and relatives. That’s how things went! On this happy occasion, we would like to wish our friends Thư -Yến a joy pure, lasting, and steadfast. We also are looking forward for many new works by the author of “Những Vì Sao Vĩnh Biệt.” Works that would be cerebral as well as cardinal.”
In the following year, the couple was blessed with their first and only son Trần Quí Thoại. To this day, half a century later (1971-2021), the lovers Thư-Yến still enjoy a long, pure happiness that outlasts countless tribulations.
Picture 2: Lê Ngộ Châu, editor of Bách Khoa, the person who chose to publish Trần Hoài Thư’s first short story Nước Mắt Tuổi Thơ in a 1964 issue of Bách Khoa.
Picture 3: right, author Trần Phong Giao, editorial secretary, of Văn [ photo by Lê Phương Chi]; centre, the press release in the issue No.181 of Văn July 1971 announcing THT’s marriage: small blessing, and the publication of his first book: big blessing; left, book cover of Những Vì Sao Vĩnh Biệt showing the name of Nhóm Ý Thức Printing House 1971. [private collection Thư Quán Bản Thảo]
Actually, Trần Hoài Thư’s first book Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang was also published by Ý Thức Printing House in 1969, in Phan Rang a small town of South Vietnam in “limited edition”– meaning it did not pass censorship. The two-colour book cover was designed by Lê Ký Thương while the zinc plate used in printing it was done with the Cliché Dầu Sài Gòn process. The typo printing was done using a rudimentary pedal machine. Since this is a two-colour cover, the printing was done twice. One colour each time. The text was printed on stencil papers using a ronéo machine. The first edition of 100 copies was launched and distributed by Huy Hoàng Bookstore in Nha Trang which was also the town where Trần Hoài Thư spent his difficult youth. Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang was received by the readers in the South in complete surprise and amazement.
Picture 4: The Three Musketeers – who in one way or the other played a part in Trần Hoài Thư’s life, from left: Lê Ký Thương, the designer of the book cover for Nỗi Bơ Vơ của Bầy Ngựa Hoang, THT’s first work, published by Ý Thức (1969); Nguyễn Lệ Uyên, “the matchmaker” in the marriage of the lovers Ngọc Yến – THT (1969); Đỗ Nghê the driver who took THT to his first date with Ngọc Yến at Bách Khoa’s editorial office (1970). [private collection Đỗ Nghê, photo by Cao Kim Quy, Lê Ký Thương’s wife at their house on 09/05/2021]
War Correspondent in IV Corps
It was a miracle that Trần Hoài Thư survived the four years he served in a scout ranger platoon and was wounded three times. After he started a family, Trần Hoài Thư gave serious thoughts to the need to settle down. He was convinced he must live to continue to write as a witness of the war. In an unusual move, in complete disregard to the military hierarchy of command, a most grave breach of military discipline, Trần Hoài Thư wrote a personal letter to the top commanding general of the General Department of Political War, expressing his desire to remain with the military but be transferred to serve under the general as a war correspondent. Attached to the letter were, newspaper clips of the articles he wrote, his published books and naturally the details pertaining to the three times he was wounded and the medals he received
Not long afterward, a most extraordinary thing happened. It did not take long that Trần Hoài Thư wrote to inform Yến: “I could not imagine that being an officer in the Intelligence Department the mission order I was issued stated: this officer must serve in a combat unit, away from any traffic axis. Nevertheless, the written order from the General Department of Political War advised me that it approved my request and let me choose the Corps I wished to be assigned to: I, II, III, IV or the Capital Corps. Naturally I chose IV Corps where you live, my faithful reader, my new bride. I think I am the luckiest of the lucky because it is extremely rare for a soldier to be allowed to select his preferred assignment like me in the entire land of the South.”
As an inner thought, THT wrote: “A million thanks to literature. Thanks to literature the bell chimes so vibrantly, conveying such magical joy and exultation. Thanks to literature I forgot my humble lot, thanks to literature I feel myself in such an elated state.”
Hành Phương Nam / Journey to the South reflects the new writing style of a different Trần Hoài Thư, of a soldier moving from the Highland to the Delta:
“Phương Nam. I became familiar with the buggies or dinghies. Or the boundless fields. Or the melaleuca and mangrove forests. I learned to get acquainted with the swamps where you could sink as deep as your neck. The rows of cassia fistula, clumps of sesbania sesban, religious preaching resounding in the moonlit night, people as gentle as doves guided by love and obligations in their dealing with each other. I am thankful to Heaven for allowing me to finally find a haven after long days of tribulation… The door was flung open, the door of the South, to welcome me. The fragrance of rice stalks, the scent of areca nuts, the smell of the earth mixed with alluvia … they permeated the air, haunting your memory. That door’s panels were made of braids of red plums, resplendent under the blue sky. Everywhere, in back gardens, on the banks of canals, in front of houses, the sides of ponds, the shoulders of national routes, you see trees weighed down with fruits. Some red, others green, some bright pink. They look inviting like the sweet and rosy lips you want to bite into – so full and round like the breast of an adolescent girl; plump, bright and cheerful like the flush pink cheeks of a country girl wearing a checkered scarf and ferrying the travellers who are reluctant to bid her goodbye across the river on a summer day.
Crossing the river,
When the plums are ripening
The sunny month,
The weary traveller
You go to the garden in the back
Pick for me a bunch of fruits
The plum flowers fall like dusts
The skin of the plums
Look as rosy as your lips
Oh! the corners of the eyes
The bright pink cheeks
I fall in love with the little girl
I linger on reluctant to leave
The plum that enters maturation
I want to keep not wanting to bite …
Ape Man Trần Hoài Thư
Unfortunately, good things did not last long. On April 30, 1975 another upheaval occurred. Trần Hoài Thư was sent to the reeducation camp when his son was only two-years old. The plump tree in the backyard was covered with white flowers, as white as the hair on his maternal grandmother’s head.
More than four years of hard labor. During the first few months, he was detained at the old Trung tâm Huấn luyện Chi Lăng, in the Tịnh Biên District, An Giang Province. He was subsequently transferred to the Kiên Lương Prison, in a deserted marshland area northwest of Kiên Giang City on the Cambodian border.
Like with any other communist re-education camps, at Kiên Lương, the prisoners did not starve to death but were kept in a constant state of hunger. Even when it was located in the heart of the Mekong Delta’s rice bowl that could feed the entire country.
In a humane gesture, the camp’s management allowed the prisoners to set up a group to improve their food intake: they are tasked to grow and harvest vegetables to add fresh food to their diet. Kiên Lương lies in a low land region of the Long Xuyên Quadrangle. The vast melaleuca forests teemed with fish, shrimps, and snails. Under those circumstances, THT volunteered to join the so-called group the other prisoners wanted to stay away from because of their fear of leeches, boas, and serpents that thrived in the forests. They also dreaded the alum in the water that could damage their skin or be stuck in the sinking sand of the swamps. The environment was so inhospitable the camp commander saw no need to assign guards to watch over the group since there was no place for them to escape to. However, for a scout well trained in survival skills like THT, this was the opportune time for him to live in freedom. Our modern reluctant Robinson Crusoe wrote: “I, on my part, wished to avoid the probing eyes. In the forest, at least I found the freedom to scream, sing, defecate, laugh to my heart’s content. I wanted to hold my life and the white clouds in a tight embrace. I desired to sit on the Melaleuca tree like an ape man.”
The source of fish was plentiful: snake heads, catfish, perches … They were caught using homemade hooks and fat worms that were readily available. The prisoner condemned to hard labor THT could easily meet his “daily quota” of catch and bring it back to his group in a sand bag. Naturally, the best catch would be reserved for the camp commanders while the rest were sent to the communal kitchen to improve the protein intake of the prisoners.
As long as he lives, THT will always cherish the image of Yến’s face covered with dust and smoke from the charcoal driven bus she took each time she came to see him at the camp.
Eventually he was released and THT returned to Cần Thơ, his wife’s homeland. In an emaciated body weighing only 35 kilograms, he started a new life under “probation” or more precisely under surveillance.
During the day, from sunrise to sunset, he pedalled his rickety bicycle with a Styrofoam box in the back to go from village to village ringing a bell and selling ice cream to the children to earn a living. It was exactly his bell ringing to amuse the children that gained the sympathy of a boat owner who was searching for a scout for his coming sea trip. He offered THT a free ticket on his boat knowing full well his extreme poverty. The catch: What about his wife and child? It was only much later that THT found out that it was his wife Ngọc Yến who took the initiative behind his back to go and plead with that man to let him go on the trip. The boat owner advised her: “You should give it some more thought. I don’t want you two to separate.” But Yến insisted: “I’m determined to see him leave. Please give him a chance”.
Trần Hoài Thư wrote: “To leave or not to leave? I was torn by that dilemma. If I stayed, the two of us would eventually die. If I left, I was afraid it’d be without return. I had a look at that boat. About 20 meters in length built with wooden planks destined for river travel. Who would ever think of using that flimsy boat to brave the mighty waves of the ocean?” It was Yến who urged him to grab that chance and go. He went on: “I took the plunge. I chose that dastardly decision. I was being selfish to the extreme.
But before I could leave, I had to figure out a way to convince the neighbours that I left without my family’s consent. Otherwise, Yến would lose her job because the lady who lived next door was a communist party member. It was nobody else but Yến’s mother, a kind hearted and totally honest lady, who came up with a dramatic plot. She told the two of us: “Children, we have to act this out. You two must pretend that you are having a fight and make the neighbours believe you are going your separate way. You know too well that the lady next door is a party member.
I had to show that I neglected, betrayed my wife and child. The act required two players: a husband and wife. The space was the kitchen. The time: in the afternoon. Smashing of bottles, pans flying, screaming, shouting, crying the louder the better. Thư: “I am fed up with this family. This place repulses me. I will smash everything up, I’ll destroy everything.” Followed by Yến: “From now on I don’t want to see your face again …” The two of us turned out to be first class actors. So good that my son who was only 6 at the time got really frightened and busted into tears. And my mother-in-law started to sob. And only three people knew what was really happening.
I left when my child was deep in his angelic sleep. With only the clothes I was wearing. My wife stood at the head of the alley watching me walk away. After that, she went back to our room, hugged the pillow then cried as if she never cried like that before.”
It was near the close of 1979, he left on the day he regained his civil rights.
Freedom or death
Leaving behind a wife and child, Trần Hoài Thư got on a tiny riverboat packed like sardines with 93 persons aboard. It was an eventful trip but they eventually reached the shore of freedom on Pulau Bidong Island in Malaysia.
“At the end he knelt down on his knees and kissed the sand on the beach in thanksgiving. He found the freedom he long sought. Oh! How could the sea now look so placid and blue? The waves were so gentle? He knelt while his two hands were trying to ward off the blows, punches, and kicks of a Malaysian soldier. He closed his eyes, not uttering a moan, a supplication. He did so while fully realizing it was the price he had to pay for leaving on such a trip and accepting the lot of a person who no longer had nationality. ‘This land belongs to our Yang di-Pertuan Agong, the king, this beach belongs to our Yang di-Pertuan Agong, the king … And you, a stateless wanderer, you only bring misery and problems to this land.’”
“… Keep heaping scorn and curse, you the soldier wearing a black beret, holding a baton, with a revolver hanging by your side. Freedom is not earned easily like going on a tour. Many people were not so fortunate. Many people found their resting place at the bottom of the sea. Many girls were raped and kidnapped. And there was a girl with her long hair flying in the air as she plunged into the sea. That’s not all! There were countless souls navigating in the infinity of days and nights, with no food, no water, over reefs, corals, waters infested with sharks…Freedom or death. Death or freedom. You can keep on beating me, I will willingly suffer the pain you inflict upon me, the blood I spit out of my mouth, it’s nothing compared to the darkness I left behind. I have waited for too long in a tomb. I have wanted to jump into the sea to find death when thinking I would be forced to turn back. Now I see the light. It is as bright as thousands of blessed radiances. It possesses no shape, no form but feels as comforting as the smell of life-giving medicine in an emergency room. I do not blame you. I do not feel angry at you. Because I will stand up even on my shaky feet, in the most excruciating pain.” [6]
Khi Tôi Đi Rồi, the poignant poem written by Trần Hoài Thư when he had to leave behind his wife, and son to embark on a perilous adventure at sea in search of freedom:
“… I walk away leaving the city behind
Farewell to you my homeland for the last time
I have a son, he’s not even four years old *
I have an old mother, her hair as white as the dew
I have a wife who has suffered the vagaries of life
Tonight, tonight, Oh God, I left everything behind
Once on the sea, I may lose my life
Leave behind my country, live in exile
Once that I left, I would lose everything, my two hands empty
In the vast, boundless immensity of the sea
Once that I left, my soul would never be free
From the unending calls of love from my country.
(*In 1979, his son was six years old)
On the island, the long wait however was full of expectation. When the interviewer of the American team asked for proof of his being an officer or soldier of the Army of the Republic of Vietnam (ARVN), THT opened his shirt and pointed to the big scar that took a good part of his left nipple; he was then asked what he planned to do if he was allowed to go to the U.S., THT answered he was a writer and would continue to write about the misfortune of the war and its aftermath. That’s the end of the exchange. The American interviewer smiled, shook his hand and wished him well. Soon afterward, THT was able to resettle in the U.S.. In the beginning, he was flown to Maryland to live in a small pagoda, then in a church and several other places.
Ngọc Yến – the Agony of the person who stayed behind
Prior to 1975, Ngọc Yến served as administrative secretary to the president of Cần Thơ University, Professor Nguyễn Duy Xuân. After 1975, the communists detained him in a re-education camp for 11 years. He breathed his last at the Hà Nam Ninh camp in North Vietnam.
As Yến later explained, at the beginning, the communists thought that her title of secretary to the president of the University implied that she held an important position. That would make her a potential target for being purged. Fortunately, Yến was spared from being sent to a re-education camp or losing her job thanks to the report from the “people”, the other university’s employees, who described her as a gentle person whose job consisted of taking care of the paperwork’s, typing documents with no other authority.
That was not the end of the story, however. Yến remained under the watchful eye of the university’s party secretary. She was constantly being reminded that her husband was an officer of the ancient regime who fled the homeland and she should forget him in order to build a new life. At that time, she was the mother of a child, still young and attractive in the eyes of many communist cadres. The party wanted her to consent to an arranged marriage with a captain who also worked at the university. In spite of her pitiful, low-level salary she had no choice but to hold on to her job in order to keep the Household book and the food voucher she and her child depended on. Utterly indignant, but in no position to turn down the party’s decision, she asked to be given some time for her sorrow to heal.
Beginning in 1980, after learning that her husband was safe in the U.S., Ngọc Yến made up her mind to cross the ocean with her son who was not yet seven. Another “free ride” from a boat owner with a “Buddha” heart. The trip proved perilous. Suffering from hunger, thirst and attacks by pirates followed by long days of begging for food in an out-of-the-way small village in Thailand.
The day a family was reunited
Trần Hoài Thư recalled, for some unknown reason, Colonel Nguyễn Bé the former commander of the Training Center for Rural Construction Officer at Chí Linh Vũng Tàu, got hold of THT’s telephone number. He told Thư he just received a letter from Thailand. Without waiting for the letter to be forwarded to him, Thư asked Colonel Bé to open it and read the content to him over the telephone. The message was short: “Our son and I are now in Thailand.”
Thanks to the blessings from his pious ancestors, Thư was reunited with his family. Almost forty, THT clearly knew that his only ticket for a brighter future was to go back to college. On the counsel of a young friend, he met at the church, THT moved his family from Maryland to Philadelphia. The only place they could afford was an apartment in a slum in the northern part of the city. It was in a poor neighborhood teeming with newly arrived refugees from Indochina like Laos, Cambodia and Vietnam. A lone brave Korean was fearless enough to open a Grocery store there. Criminals visited mostly from the outside and behaved as if they came to a no man’s land. One night, the door on the first floor of the Korean’s store was smashed open and people were seen carrying out big or small boxes. THT called 911. He was told by the police the store was insured and the owner would be paid by the insurance company. The police also, warned him to be cautious because if those guys knew he reported on them they might exact revenge against him. Danger was lurking everywhere. His family had no choice but stay put in that tiny rat hole of an apartment with the windows studded with 10 cm long nails and always shut for protection.
Trần Hoài Thư went back to school while his wife worked as an electronic assembler earning minimum wage. They took turns taking their son to class and at the end of the school day he would have to walk home alone. He was still too young and short to reach the door lock, prompting Thư to stack two bricks on top each other so that his son could reach the knob to open the door on his own. At that time, THT enrolled as a full-time student with Spring Garden College majoring in computer science. During the day, he attended classes and held a janitor job cleaning offices at night to make ends meet.
The couple was fully aware of the law in the U.S. requiring that a minor should not be left alone in the house regardless of how busy the parents were. They took turn calling to check on the child. Should he fail to pick up the phone, Thư would immediately leave his class and rush home to find out. Most of the time, he simply was sleeping and did not hear the phone ringing.
In the end, THT completed his four-year program in computer science and graduated in the top five of his class. When the AT&T recruiting team showed up at his school looking for outstanding graduates THT passed a strenuous interview and was offered a job with the company’s branch in New Jersey. That explained why the family moved to the state where only a few Vietnamese lived. New Jersey now became the promised land for them. They rented a house since Thư no longer worked at a blue-collar job. With the higher income, they were able to save and eventually bought a four-bedroom house they are still living in to this day. Their son Thoại finished high school with flying colours and was admitted to a seven-year program at a medical school. He graduated and now works as a medical doctor.
At his job, Thư proved to be capable, full of initiative and gifted in mathematics. As a result, AT&T made a long-term investment in him and paid for his higher education on a part-time basis. Two years later, Thư obtained a Master of Applied Mathematics. He continued to advance in his career. After his branch was bought by IBM, Thư was promoted to Project Leader and worked in that position until his retirement day.
Picture 5: from left, gone are the stormy days. After he graduated with a BS in computer science THT found a stable white-collar job. The couple Ngọc Yến and Trần Hoài Thư learned to enjoy the colourful splendour of Fall in the Eastern part of the country [photo by Trần Quí Thoại 1990 Poconos, Pennsylvania]; right: Nguyễn Ngọc Yến and Trần Hoài Thư attending the wedding ceremony of the young friend who welcomed them during their first days in Philadelphia. Ngọc Yến was still very young, THT’s hair was just turning grey. [source: Blog’s Trần Hoài Thư, annotation by Ngọc Yến]
The restoration of the literary heritage of the south
Since 2001, though still holding a job Trần Hoài Thư and Phạm Văn Nhàn, his soldier friend joined hands to establish the magazine Thư Quán Bản Thảo and Thư Ấn Quán publishing house.
When the IBM office was outsourced to India, THT decided to retire. Freed from the need to earn a living, Thư deemed it the propitious time for him to realize his dream. He could devote all his efforts to the completion of his collection DI SẢN VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM/ THE LITERARY HERITAGE OF THE SOUTH.
Trần Hoài Thư has the magnanimity of heart to labor singlehandedly over the years striving to restore the literary works of a time the Vietnamese communists did their utmost to track down and destroy.
Picture 6: left, Phạm Ngọc Lư, Trần Hoài Thư, Nguyễn Lệ Uyên, Phạm Văn Nhàn. [source: private collection Nguyễn Lệ Uyên, Picture taken in 1969]; right, Trần Hoài Thư and Phạm Văn Nhàn, two comrades in arms and currently (2021) companions at the magazine Thư Quán Bản Thảo and Thư Ấn Quán publishing house. The pair works in tandem to restore the Di Sản Văn Chương Miền Nam/The Literary Heritage of the South; right, Trần Hoài Thư and Phạm Văn Nhàn on the summit of mount Watchung Green Brook, N.J.. In 1777, General George Washington used this peak to observe the movements of the British troops. Now known as Washington Rock State Park it boasts an extremely beautiful 30–mile–long scenic routevery popular with tourists. [photo by Tô Thẩm Huy]
At the library of Cornell university
Using the library system at the large American universities, Thư succeeded in getting hold of a number of publications in South Vietnam. The library at Yale was relatively close to his home – just about two hours driving. The renowned Vietnamese scholar Huỳnh Sanh Thông worked there. He translated the Tale of Kiều by Nguyễn Du into English and provided materials to the writer Võ Phiến to complete his work Văn Học Miền Nam/ the Literature of South [Vietnam]. Then, there was also the library at Cornell, somewhat farther away, approximately 5 hours by car. However, its Southeast Asia Section contained the most exhaustive collection of published materials of South Vietnam.
Usually, Trần Hoài Thư only drove during the daytime when it’s still bright. At nightfall, Yến took over because her husband tended to doze off when it’s dark. The drive was very dangerous going through mountain passes and sleets in the winter. Twice they had a brush with death driving on their way to Cornell on a treacherous road covered with slippery sleets. It was quite astonishing that Cornell could amass such a huge number of publications from South Vietnam – even a leaflet used during the “chiêu hồi” campaign to induce the communists to surrender to the government.
Probably because he has the DNA of a scout ranger, THT was very audacious in his work habits. Leaving the house at 4 AM when it’s still dark Yến would be at the wheel until dawn. It’s then THT’s turn to drive. They would usually arrive at Cornell at 10AM and immediately plunged into work at the Asia section of the library, searching, perusing, taking notes, making photocopies until sundown. After a short lunch break then it’s back to work again until the time to head home. It’s like that not only for one day but many days; not only for one week but many weeks, for years on end. The tens of thousands of pages on poetry, literature of South Vietnam found at Thư Ấn Quán Publishing House testified to the laborious and tenacious collecting of this couple over the months and years up to 2012.
Picture 7: top, Cornell University was founded in 1865.It is the most extensive repository of publications from South Vietnam for the period of 20 years from 1954 to 1975; bottom, Trần Hoài Thư at the Cornell University Library from the time his hair was still black until the time it turned as grey as dew. [source: private collection Trần Hoài Thư].
As for the printing machine and equipment, THT went on Craigslist to look for the things he needed at a bargain or at times free. Once the price was agreed upon, he would show up at the given address with a screwdriver in the pocket. People would ask: “How could you move the machine weighing a ton or so?” I smiled and said “I have my way.” I started dismantling the machine to its barest minimum: fuser, paper box, ink, assembly parts, frame… The American owners watched me work in amazement, astonished. My only problem was ink. I could buy it on eBay but could not vouch for the quality.
So, 46 years have gone by 1975-2021, life also unfolds like a passing breeze, history evolves in the blink of an eye, entailing so much suffering and tragedy. Another blink and the generation of writers (1954-1975) would have returned to dusk where they came from. A number of them would still be remembered through their works but, at the same time, we must not forget the wretchedness they suffered in their lives or the painful death they met at the communist camps. The Literature of South Vietnam would not be complete without a “white paper” for that period in history, an open Wikipedia, like a memory bank for the use of the Vietnamese generations of the future.
Picture 8: left, the street address 719 Coolidge Street, Plainfield, New Jersey 07062 is where Trần Hoài Thư and his wife have lived for almost 30 years. It is also the address of Thư Ấn Quán Publishing Houseand the editorial office of Thư Quán Bản Thảo; right, author Trần Hoài Thư assiduously at work cutting to size the issues of Thư Quán Bản Thảo. Hopefully, one day, this place will be kept as a literary landmark of the first Vietnamese generation to be bequeathed to future ones. [photo by Phạm Cao Hoàng]
Picture 9: A sample of the collection Di sản Văn học Miền Nam/Literary Heritage of the South published by Thư Ấn Quán, tome Văn Miền Nam 4 volumes: I, II, III, IV (2013); tome Thơ Miền Nam trong thời chiến/ War Time Poems of the South 2 volumes: I, II (2017); tome Thơ Tình Miền Nam/ Love Poems of the South (2017); Một Thời Lục Bát Miền Nam/ The Lục Bát Poems of the South (2008); Thơ Tự Do Miền Nam/Free Style Poems of the South (2009). These are the works realized by Trần Hoài Thư using artisanal methods. It can be said that THT is the pioneer of POD / Print on Demand in the publication of Vietnamese materials overseas. [photo by Phạm Cao Hoàng] 3
Published Works:
Prior to 1975
1. Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang; 2. Những vì sao vĩnh biệt; 3. Ngọn cỏ ngậm ngùi; 4. Một nơi nào để nhớ.
After 1975
PROSE
1. Ra biển gọi thầm (Tập truyện); 2. Ban Mê Thuột ngày đầu ngày cuối (Tập truyện ); 3. Về hướng mặt trời lặn (Tập truyện); 4. Mặc niệm chiến tranh (Tập truyện); 5. Đại đội cũ, trang sách cũ (Tập truyện); 6. Thế hệ chiến tranh (Tập truyện); 7. Thủ Đức gọi ta về (Tạp bút); 8. Đánh giặc ở Bình Định (tự truyện); 9. Hành trình của một cổ trắng (truyện vừa); 10. Ở một nơi trênTrường Sơn (tập truyện); 11. Truyện từ Bách Khoa (Tập truyện); 12. Truyện từ Văn (Tập truyện); 13. Truyện từ Trình Bày, Văn Học, Khởi Hành … (Tập truyện); 14. Truyện từ Vấn Đề (Tập truyện); 15. Tản mạn văn chương (tập I); 16. Giấc mơ Giáng Sinh (Tập truyện); 17. Cảm tạ Văn chương (Hồi ức).
POETRY
1. Thơ Trần Hoài Thư; 2. Ngày vàng; 3. Nhủ đời bao dung; 4. Ô cửa; 5. Xa xứ; 6. Quán; 7. Vịn vào lục bát.
Two Works that Were Misplaced After the War
1. Của Chiến Tranh;
2. Một Ngày Gạo Ba Ngày Hành Quân.
Both in and out of uniform, Trần Hoài Thư was quite prolific. In just two months living at Tháp Chàm with Phạm Văn Nhàn, he completed a medium size novel titled Của Chiến Tranh. He trusted the book to Rev Từ MẫnVõ Thắng Tiết * director of Publisher Lá Bối but it never passed censure. After the event of April 1975, the book was misplaced.
[ *After 1975, Từ Mẫn Võ Thắng Tiết joined the rank of boat people. He left on the same boat with the author Nhật Tiến. At first, he resettled in Alaska, then moved to Southern California where he established the prestigious Văn Nghệ Publishing House. He retired after running it for many successful years.]
The second book Một Ngày Gạo Ba Ngày Hành Quânis a long story. Author Thế Uyên, at the time, was managing Thái Độ Publishing and Tủ sách Văn Nghệ Xám.
[ Thái Độ also published the novel Vòng Đai Xanh by Ngô Thế Vinh]. In spite of the aggressive attempts by Thế Uyên, it failed to pass the censure of the bureau for “phối hợp văn học nghệ thuật” in the Ministry of Information. After April 1975, this manuscript suffered the same sad fate of its predecessor.
Those two works were advertised in the news media but never saw the light of day. They were works that were lost, war casualties, forever falling into oblivion.
The human death toll of the war has been compiled and made public. What about the literary loss? Will historians be willing to address it?
Picture 10: left, Scout Ranger First Lieutenant Trần Hoài Thư’shappiness in holding his child (1974); right,Trần Quí Thoại, Trần Hoài Thư’s son, at the Science Fair sponsored and organized by Bell Lab. Thoại gave a lecture on the topic of “scientific researchon the magnetic field of superconductors” for which he received an award. Trần Hoài Thư and Ngọc Yến were in the audience and proud of their child. Watching Thoại’s achievement, it’s hard not to raise this question: what would have become of Thoại, the son of an officer of the ancient “renegade” regime, if he still lives in Vietnam? Probably a buffalo boy!Now, he’s living in a new continent, another country and finds all doors are open to him to advance. Trần Quí Thoại is now a medical doctor. [source: private collection Trần Hoài Thư]
Picture 11: left, the designs on a ceramic plate crafted by Trần Quí Thoại for his father; centre, drawing by Trần Quí Thoại showing cảnh “Con Vịn Cha/Son leaning on father”; right, the latest photo showing “Cha Vịn Con/Father leaning on son”.
Son Leaning on Father
Father Leaning on Son
The handrail! Dad
Straighten your back Dad
Now lean on me Dad
You taught me to step
On the mud to move ahead
Hand in hand I led
You across the street
I tiptoed; I gave you my hand
You hesitated Dad
You paused after each step
All of a sudden, I felt warmth
Running all over your body.
Picture 12: left, Trần Hoài Thư, the former ice-cream seller graduating with a Master in Applied Mathematics from the Institute of Technology Steven New Jersey on 05.24.2005; right, Trần Hoài Thư in a happy family reunion on the occasion of his graduation: Nguyễn Ngọc Yến, Trần Hoài Thư and their son Trần Quí Thoại. Thoại is now a medical doctor.
Ngọc Yến Suffered A Stroke In the Aftermath of Hurricane Sandy
A month after Hurricane Sandy devastated New Jersey, Ngọc Yến suffered a stroke in December of 2012. There was advance warning before Hurricane Sandy struck. Not so with the stroke that Ngọc Yến suffered. She was taken by surprise when it came and rendered the left side of her body paralyzed. It also hit Trần Hoài Thư with the force of an earthquake. Yến could not move her left arm and left leg, sit, stand, retain command of the left side of her body at all. In Thư’s mind, Yến’s journey on her via dolorosa began on that day.
Learning from the care his wife received at the hospital, Trần Hoài Thư made changes to their house i.e., adding steps to the door, handrails … to better accommodate the new physical conditions of his wife. Thư quickly learned how to transfer her from the wheelchair to the bed, help her take care of personal hygiene like bathing, dressing, changing diapers and basic physical therapy. He did everything in such a fast and tidy way that astonished even professional therapists and home caregivers. Thư tried his best to create a normal family atmosphere for Yến to live in. His happiness consisted of seeing to it that Yến had a good appetite, a good sleep, saying she’s happy. He accepted what Providence had in store for them and learned that: happiness grew deeper when it was born out of tribulations. Thư used his pen to bare his thoughts: “Each day I find a way to bring joy to Yến. Likewise, each day I conceal from Yến my sorrow.”
Things do not stop there. The initial stroke was followed by a second then a third. By May 2015, it became no longer practical for Yến to be cared for round the clock at home. She was moved to a nursing home by order of the doctor who saw it as the only way to save both Yến and Trần Hoài Thư.
For 11 long years [from 2001 to 2012], Ngọc Yến, THT’s lifelong companion, has walked by his side and helped him immeasurably in the restoration of the Di Sản Văn Học Miền Nam/Literary Heritage of the South.
“Yến helped drive me on long trips to the library of CornellUniversity, bind books a thousand of pages thick or carry boxes of paper I bought at a bargain. She helped me write addresses, stuff books into envelopes, stick on the postage, or point out the mistakes I made. When we received a book order, she never failed telling me I should send it out free as a gift. She has the heart of the Buddha. Losing Yến, I lost my right arm. I no longer have my “rock” to lean on.”
For many years, like clockwork, Trần Hoài Thư turned “housewife” cooked two hot Vietnamese meals for Yến to eat at the hospital. She refused to eat American food. Thư would find excuses to stay at Yến’s bedside as long as possible. Their son practiced medicine out of town but came home on weekends to go with his father and visit Yến. He knew how to make his mother happy, even making her jealous of his father.
The Anecdote: Mr. Trần Hoài Thư Marries the Gal Named Phương”
When the father and son came to see Yến she usually called Thư “Thoại’s dad” using the name of her son in the appellation. One day, out of the blue, she turned her back to Thư and refused to talk to him. For no apparent reason, she completely changed her way of addressing him. Instead of calling him “Thoại’s dad” she referred to him as “Mr. Trần Hoài Thư”. Yến accused him: “You’re waiting for me to die to marry that gal Phương, aren’t you?” Upon hearing those words, Thư was scared out of his wit and asked Yến: “Phương who?” The name Thư could not place at all. Yến became angry, she turned towards the wall and completely ignored Thoại’s dad.
Having stayed in the hospital for several years on account of the three strokes, Yến easily forgot recent events but for those that took place in the past, she could remember as if they just happened yesterday. Though Thư raked his brain he could not figure out who the “gal Phương” was. Could it be that Yến was jealous of one of the antagonists in his books? Once home, he spent the whole night searching the computer. Eureka! Finally, Thư stumbled on the key to the puzzle. The “gal Phương” turned out to be a prostitute, a protagonist in the story “Cơn Giông”, whom the scout ranger second lieutenant met at a house of ill repute then fell in love with. The story was published on the issue No. 288 of Bách Khoa in 1969. [5] Though Yến’s unreasonable jealousy has made him go through some heart-rending time, Thư was very happy finding out that Yến’s mind was still very sharp.
In medicine, this is a typical episode of “delusional jealousy” secondary to organic brain syndrome.
Longing For the Homeland – Longing for the Slaty-Breasted Rail
Before the advent of the Covid-19 pandemic, usually Thư was authorized, two times a day, to bring home-cooked Vietnamese food to the hospital for Yến. But then, one day Thư was advised by the nurses that Yến had not been eating for the last few days.
Thư was fully aware that Yến did not like to eat American food and for that reason he went on the Internet to learn how to cook the dishes Yến liked. The doctor gave her a general checkup and told Thư that her condition was stable and free of new complications. He asked Yến what dishes she liked him to cook for her and learned she wanted a dish prepared with the meat of “chim chằng nghịch” – slaty-breasted rail. For two full years, THT had served as war correspondent in IV Corps but never heard of a bird named slaty-breasted rail. As usual, with the help of Dr. Google, Thư learned that the bird is also known by another Vietnamese name “gà nước vằn”. It has a long beak, black legs and is indigenous to the Mekong Delta. Lately, it is very rare to lay one’s hands on one. Probably, it has almost disappeared from the fields of the Delta. Nowadays, even in Cần Thơ, Yến’s homeland, it is almost impossible to find a slaty-breasted rail. Let alone in America. Thư tried to explain the situation to Yến but from the bottom of his heart he knew because she has been sick for too long – also too homesick – that the thought of the slaty-breasted rail came back to her mind and she asked for it.
Picture 13: The slaty-breasted rail or the nostalgia of the homeland, is also known as “gà nước vằn”, scientific name Gallirallus striatus. It used to live in the fields of the Mekong Delta but has practically become extinct. However, it has not been included in the Red Bookof Vietnam. [source: birdwatching Vietnam]
On that particular day, I called from California to talk with Trần Hoài Thư. He was then at the nursing home with Yến so I asked him to pass the phone for me to say hello to her. Thư told her it was Ngô Thế Vinh calling. She remembered me right away and said: “hello doctor”. I reminded her I am Thư’s friend and please do not call me “doctor.” All the while, I was really glad realizing that the way she greeted me showed that her memory was still working very well even after a stay of more than six years at the Nursing Home. In addition, I told her I just visited the Mekong Delta and did not see a single slaty-breasted rail. Eventually, Yến never mentioned the slaty-breasted rail again and went back to eating the dishes Thư prepared for her to the great joy of Thư and their son.
Cù Huy Hà Vũ’s Visit with The Couple Trần Hoài Thư 2016
Cù Huy Hà Vũ, the son of poet Huy Cận, is 15 years younger than Trần Hoài Thư. In 1968, when Thư was serving as a Scout Ranger officer in the battlefields, Vũ, the 11-year-old boy, was watching, from the mouth of the cave where his family evacuated to, waves of American fighter jets bombing North Vietnam.
The two have never met but Vũ has heard of THT. He and his wife flew from their home in Chicago to Boston then drove with a friend to New Jersey to visit the Trần Hoài Thư couple. Vũ asked THT to take them to see Ngọc Yến at the nursing home. When Thư told her that Cù Huy Hà Vũ, the son of poet Huy Cận, the author of Lửa Thiêng came to see her, Yến immediately made the connection. Right there at her bedside, Cù Huy Hà Vũ took a piece of paper and drew Yến’s caricature with this dedication “To Nguyễn Ngọc Yến on Mother’s Day May 8, 2016”.
Vũ is a gifted artist. He faithfully captured the “person” of Yến in his work: the pair of beautiful bright eyes, the highbrow reflecting her determined character. The joy and emotion Yến showed touched Thư equally and filled him with the thought that there was “Un peu de soleil dans l’eau froide /a little sunlight in the cold water,” the title of a film he saw way back.
Picture 14: Cù Huy Hà Vũ and his wife Nguyễn Thị Dương Hà visited Yến at the Nursing Home Ashbrook, N.J. on Mother’s Day, Sunday 05.08.2016; left, caricature of Nguyễn Ngọc Yến, Trần Hoài Thư’s wife, drawn by Cù Huy Hà Vũ; right, caricature of author Trần Hoài Thư, also drawn by Cù Huy Hà Vũ. [ private collection Trần Hoài Thư]
Back at Thư’s home, Vũ went to the basement and spent the rest of the day perusing the extensive book collection he found there. Trần Hoài Thư also autographed a number of his works on the literature of the South and presented them to his new friend.
The Love Birds in The Midst of The Pandemic
The first months of 2020 was plagued by the corona pandemic. Nursing homes all over the country became the hunting ground of the Angel of Death. N.H. Ashbrook did not fare any better. THT was informed that Yến had to be hospitalized because she was infected by Covid-19 along with other residents. Considering that Yến had several underlying diseases and three strokes, the chances that she’ll make it through were not good. But Yến beat the odds and belonged to the rare ones who survived at the nursing home. She was not admitted to the ICU or connected to a ventilator. After a few days, she was discharged back to the nursing home where fewer beds than usual were occupied. We can call this a miracle. She survived in order to keep Thư and her son company. During the many months of maximum social distancing, Thư and Thoại were not allowed to come and visit her.
But then, misfortune often strikes twice. In June 2020, it’s Trần Hoài Thư’s turn to come down with a stroke. However, this time Thư was ambushed. One day, like any other, Thư started to autograph the first page of a book intended for a friend. Suddenly, he felt some difficulty holding the pen and the lines he wrote seemed to be quivering, wobbling before his eyes. He knew something was awfully wrong. That very night, Thư called his son who was the doctor on duty at a hospital in Philadelphia. Thoại advised his father to dial 911 immediately to be taken to a hospital because Thư was displaying symptoms of an impending stroke. He also promised his father he’d drive home early in the morning of the next day. In the hospital, Thoại explained to his father that he had a blood clot in the brain. So, after Yến’s stroke in the aftermath of Hurricane Sandy, Thư was not spared but in turn came down with the same. In a fleeting moment of despair, Thư felt heartbroken: “Both of us have come to the end of our rope. Gone the dream of the magazine Thư Quán Bản Thảo, Gone the dream of Thư Ấn Quán Publishing House. No more the typing of poems and articles with their rhythmic soft sounds on the keyboard. It looked like I’ve been robbed of my remaining joy in the autumn of my life”
Thư swiftly brushed aside those pessimistic thoughts. He immediately came up with a daily plan of action. After a month in the hospital, mostly lying on his back, Thư received his discharge order; not because he had fully recovered but because it’s the longest hospital stay the insurance allowed. Thoại took his father back to their old home that was left unoccupied for a month. In the backyard, the weeds had grown quite tall. The thought that the time has come for “the father to lean on the son” dawned in Thư’s mind. Thoại tidied up the mess in the room, helped his father get on the adjustable hospital bed his mother Yến left behind when she moved to the nursing home. Thoại bought and installed cameras all over the house so that he could keep watch over his father with his iPhone. When everything was taken care of, Thoại drove back to his hospital in Philadelphia.
Alone in the empty house, THT came face to face with the stark reality. His fingers could no longer hold the spoon, the chopsticks could no longer handle rice grains or food causing them to splatter on his shirts or pants. Worst yet, they could no longer command enough strength to type on the keyboard. His brain lost control of his fingers and he found it impossible to type correctly…
For Trần Hoài Thư his fighting spirit is always second nature to him. Like a programmer, THT set up for himself a “program” for “Occupational Therapy” he could use at home following a unique algorithm. At the hospital, the therapists showed him simple exercises to follow like picking up things, building houses or cars using Lego blocks. On his own, Thư started the difficult steps to teach himself the skill to write on paper or type on his iPhone one line at a time his Favorite “lục bát” poems. Week after week, he gradually regained full use of his ten fingers. Before long, Trần Hoài Thư was back to his passion. He worked feverishly afraid he would waste the precious time he has left.
Thư got his hand on a misplaced unfinished memoir that he never intended to publish. But it’s different this time around. THT decided he had to finish it within the time he still walks on this earth. He was not sure when that time would come to an end. He gave this book the title: Cảm Tạ Văn Chương [6] /In Gratitude to Literature– intending to leave it behind as his personal Will. The book was completed in record time. There were passages in it that brought tears to the readers’ eyes. The work was not put up for sale to the public but, somehow, Cảm Tạ Văn Chương turned out to be the best-seller of Thư Quán Bản Thảo.
In the closing pages of his memoir, Trần Hoài Thư wrote: “Again I have to say thanks to literature. It came when I fell down. It gave me the support to get back on my own feet. It is a magic wand. It helps me continue on my way. I have not fully recovered, but I can still type a poem, post an article, and go down to the basement to bind a book with my own hands. In spite of my blurred vision, wobbling legs. So that my joy can soar and blossom”.
Picture 15: right, Cảm Tạ Văn Chương, memoir by Trần Hoài Thư– a Will, 224 pages, THT finished it in record time after a four-month convalescence from a stroke. This is a special edition published by Thư Quán Bản Thảo in October 2020; left, Mai Thảo – Bài viết ở trang cuối includes 32 essays by Mai Thảo, almost 200 pages thick. THTcompleted the typing, layout, printing and publishing in May 2021. The devotion to work of “patient THT” is phenomenal, unmatchable. [source: 2 special editions, a gift from THT to Ngô Thế Vinh]
People would think that the suffering and pain this couple had endured had hit bottom. Not so! In February 2021, a fourth stroke – Hurricane Sandy style – again hit her frail and sickly body. Not many people could survive a fourth stroke. This time, Yến was hospitalized for a longer period and afflicted with new illnesses: she lost her speech function because the parietal lobe of her brain was damaged. In addition, since the occipital lobe was also impaired her sight was reduced by half. Nevertheless, Yến survived the ordeal and was transferred back to Ashbrook N.H. She could still retain her hearing and understand the teasing or jokes coming from Thư and Thoại. Nevertheless, her participation was limited to what is known as body language. Yến was no longer able to swallow food depriving THT of the joy to cook for her. She received her nutrients through a G-Tube that connected directly to the stomach. “All the pains in this world, the heaven for her has reserved” those two lines of a poem by Nguyễn Bính seemed to foretell a gloomy omen to Yến’s destiny.
Both Thư and Yến put on a brave front in the face of adversity. From that time on, happiness for them is counted by each day that goes by.
A Day in The Life of The Addict Trần Hoài Thư
In an email he sent me, Trần Hoài Thư wrote: “You told me I am a ‘workaholic’. Yes, you’re exactly right. I would die an early death out of sadness if I do not have something to do. My extremely hectic schedule keeps me happy. Joyful like flares that illuminate the darkness of life’s sunset. In two-week time, I was able to do the following: print “Mai Thảo – Bài viết ở trang cuối;” prepare materials to write the upcoming issue No. 93 of Thư Quán Bản Thảo; scan, layout, put the finishing touch to the magazine Chính Văn… compose poems; do some writing … without stop. The spiritual food that nourishes the soul keeps me going all day. As for the food that nourishes the body, it’s not worth the attention.
Of course, being a “workaholic” does not mean you work when you feel you don’t know what to do with your idle limbs, cooking is also an art that brings pleasure to your palate you should enjoy. But, when one goes on typing with two fingers the 32 essays by Mai Thảo it is tantamount to self-inflicted pains or self-torture. Especially when one has been severely affected by a stroke.
It may take 4 or 5 tries before one can type a word correctly. Or to do a flipbook, one needs to scan an entire book, redo a layout, change to the correct size, attempt to reduce a page’s memory from kB to MB size so that the system can handle it.
How can you appreciate the fact that the letters I type possess a strange power that attracts me like a magnet? When you type a work that you like, the work itself no longer represents a choir but a pleasure, a blossoming! It radiates beauty. It’s art. For example, when I type this line in Mai Thảo’s essay Quán Bệnh:
“Đêm tháng tám bên ngoài bát ngát sao.
Trong những lùm cây xôn xao, gió múa những thuyền đầy.”
“A night in August outdoor – myriads of stars in the sky
In the clumps of grumbling trees, the wind dances in the full sails.”
I cannot help feeling ecstatic with each of the letters in the phrase “gió múa những thuyền đầy”. Does the wind know how to dance? My friend, it’s just that we do not understand. Now, Mr. Mai Thảo has made everything clear, transparent. He explained it to me. It is that very thirst for understanding, knowledge that keeps this old man, going into his eighties, at his desk typing vigorously, tirelessly, without rest and likewise doing the printing vigorously, without stopping of a 200-page book as an offering to life!
Some people hold the viewpoint that old age is the time for you to enjoy, to be conscious of the ephemerality of life, find simple pleasure in your early morning sip of coffee, not to burden your mind with printing, searching old magazines for materials to finish your flipbook so that people can read free of charge … They cannot understand that I need to work. I need challenges. I need beauty … I can throw away hundreds of books covers without any second thoughts, no matter how much they cost. I only need a book cover – a beautiful one – And I’ll be happy. The power of art is quite surprising.
I, all of a sudden, think of my wife, my life companion. Yến is almost the personification of Pietà. Fully removed from the real world. Free of any worries or concerns. No longer conscious of the warm hand clasp burning with love of her husband, no longer able to acknowledge the presence of her son with her eyes twinkling with life … She no longer sits in her lotus position practicing yoga. She has her own space in her wheelchair, looking lost with her eyes searching a distant, dark world throughout those last 8 years…
I need to do something to save her from her current state of suffering, misery, stupor. All the shouting comes to nothing. The clasping of the hand means nothing. My only recourse is to grab the iPhone, turn on the song Tóc Mây sung by Sĩ Phú and press it close to her ears. I hope that the music will activate her tympanic membrane, awaken her brain, turn on the dead neurons, Tóc Mây. That’s the song you like me to play for you … Tóc Mây. In yesteryears your hair was still pitch black when you washed it with the water of the locust fruits. Now, instead of the locust fruits, her hair still looks black because it is being washed with the fruits of torments. I look into her eyes. They tell me she’s sleepy, about to doze off. So, the lyrics of that familiar song have performed a miracle. I say a miracle. Yến falls into a deep angelic sleep. It brings with it the peace we all crave for.
Picture 16: More than ever,it is I who need that peace. Yến bought it with her tribulations. As for me, my work is not that taxing, that difficult… I type with an unsteady finger, full of errors! Please understand.
Picture 17: During the pandemic, The Ngâu rains do not fall in July in the U.S., she sitting in a wheelchair, he clutching a walker, the lovers Ngưu Lang Chức Nữ of modern days. They have only 15 minutes to look at each other in front the door of the nursing home Ashbrook, New Jersey. [photo by Trần Quí Thoại 2021]
BÀI THƠ NGƯU LANG
Now, the modern-day lovers Ngưu and Chức* have aged
He moves with a walker after a recent stroke
She escapes the Coronavirus’ yoke
The two lovers long for the Ngâu rain to fall so they can meet
In July, in the U.S., the heavy, sudden Ngâu rain does not fall
Their voluminous teardrops pour on a diamond stone
Out of it, an impermanent flower blooms.
* According to Chinese folk tale, Ngưu Lang/ the Cowherd and Chức Nữ/ the weaver girl were a pair of lovers. Because their love was not approved by Heaven, they were banished to opposite sides of a river in the Milky Way. Once a year, during the season of the Ngâu rain, on the seventh day of the seventh month in the lunar calendar, a flock of magpies would gather and form a bridge for them to cross and meet
Không phải nước trà và điếu thuốc lào làm cho không khí buổi làm việc sáng hôm đó bớt căng, mà nó bớt căng bởi thực sự chẳng có gì là căng thẳng đối với chúng tôi khi một bên (Lý “lé”) đã đọc lệnh bắt, có nghĩa là dù cuộc thẩm vấn diễn ra chiều hướng nào thì tôi cũng phải vô “chuồng cọp”, còn một bên (là tôi) đã chuẩn bị ngày vào “chuồng cọp” lâu dài thì làm gì còn chuyện để mà e dè, để mà căng thẳng nữa. Những câu hỏi của Lý “lé” đưa ra cho thấy hắn chưa biết gì về tờ “Hợp Đoàn”. Toàn chuyện lẩm cẩm, đại loại như tôi thường liên hệ, nói chuyện bàn tán với người này trong đội, người kia ngoài đội và nội dung những câu chuyện nói với nhau. Cuối cùng Lý “lé” hỏi: “Anh biết anh tội gì không?” Tôi hỏi lại: “Tội gì, thưa cán bộ?” Lý “lé”: “Tội gì thì anh phải tự biết. Trại quyết định đưa anh vào phòng kỷ luật để suy nghĩ về tội của anh.” Cuộc thẩm vấn kết thúc trong vòng 15 phút, cuộc thẩm vấn ngắn nhất trong số vài chục lần tôi bị thẩm vấn, nhất là tôi không bị buộc phải viết kiểm điểm như mọi lần. Trật tự Của dẫn tôi từ phòng thẩm vấn vào thẳng khu chuồng cọp.
Khu chuồng cọp này nằm ngay sau nhà bếp trại. Những chuồng cọp này không giống như chuồng cọp mà người ta từng nhìn thấy trong phim “Cầu sông Kwai” mà quân Nhật dùng để nhốt viên Đại Tá Trưởng toán tù binh Anh tại Miến Điện hồi Đệ Nhị thế Chiến. Chuồng cọp ở đây cũng không giống chuồng cọp ở trại tù binh Côn Sơn của VNCH (người Pháp gọi là trại tù Côn Đảo do chính họ thiết lập để nhốt tù binh Việt Minh) mà ký giả Don Luce đã mô tả trong loạt bài sau những lần ông ta viếng thăm Việt Nam hồi giữa thập niên 60 và đầu thập niên 70. Cái bề ngoài của khu chuồng cọp Phân trại E trại tù A-20 Xuân Phước có thể đánh lừa người ngoài về những gì xảy ra bên trong. Nó tọa lạc ngay dưới một rặng dừa xanh tốt, bên cạnh một ao cá có mấy gốc mít đã có trái và vười rau cải bẹ xanh mượt nhờ phân tươi của tù nhân cải tạo.
Có tất cả “10 chuồng” đếm từ ngoài cổng vào được đánh số từ 1 đến 10. Khu chuồng cọp bị cô laa65p bởi một bức tường trên có trãi những cuộn thép gai. Mỗi một chuồng như vậy có kích thước tiêu chuẩn: rộng 2.50 thước, sâu 3 thước và cao 5 thước. Tất cả được xây dựng bằng bê tông cốt sắt dày 10 phân, mỗi một chuồng có một cánh cửa bằng gỗ Căm Xe (loại gỗ rất cứng như Lim, bào lạng quạng là mẻ lưỡi bào) dày 5 phân, chỉ có một lổ thông hơi mà chúng tôi gọi là cửa tò vò hay cửa gió, mỗi chiều vuông vức 5 phân. Kích thước này chỉ là ước lượng thôi chứ không phải là con số chính xác. Xà lim có hai bện nằm, mội bệ có hai hệ thống của một bộ cùm mà tôi đã có dịp trình bày ở phần trên.
Mỗi chuồng như vậy không có hệ thống tiểu tiện. Tất cả việc đưa các chất thải ra ngoài đề tùy thuộc vào một cái thùng nhỏ dung tích khoảng 2 gallons. Việc cho phép tù cải tạo trong chuồng cọp xách thùng tiểu tiện ra ngoài đổ trên những luống cải của vườn rau cải ngay sau lưng của khu chuồng cọp cũng “mưa nắng bất thường” lắm. Tất cả tùy thuộc vào viên cán bộ trực trại, một chức vụ gần như là đại diện trại trưởng để điều hành công việc hằng ngày của trại giam. Chỉ có cán bộ trực trại mới được quyền mở cửa các chuồng cọp để phát thực phẩm và nước uống cho những tù cải tạo bị biệt giam. Ngay cả cán bộ an ninh của phân trại E cũng như tất cả những cán bộ khác, kể cả chính ủy, cũng không được quyền và không có chìa khóa để vào khu chuồng cọp này. Muốn lấy tù nhân ra làm việc, tất cả phải qua viên cán bộ trực trại.
Vì thế nếu vui thì có thể trực trại cho đổ cầu tuần một lần, buồn buồn có khi một tháng mới cho đổ và tù nhân trong chuồng cọp nào đang ở trong tình trạng bị ép cung thì có khi nửa năm mới được đem cái thùng nhỏ lúc đó đã đầy dòi bọ ra ngoài vườn rau. Quý độc giả có thể sẽ không tưởng tượng nổi cảnh trong suốt 5 năm trong chuồng cọp ở phân trại E của trại A-20 Xuân Phước tôi chỉ được ra cái giếng ở bên cạnh ao cá tắm có 3 lần, mỗi lần chỉ được dội nước khoảng 5 phút, không kịp kỳ cọ gì cả, cứ cái quần đùi ướt sũng nước ở trần, thân thể chỉ còn là bộ xương đứng phơi cho khô người dưới cái lạnh rừng núi Xuân Phước vào những ngày cuối năm dương lịch. Tôi không phải là người lì lợm đến như thế, nhưng ở hoàn cảnh đó, không ai có thể làm khác đi được. Trực trại không bao giờ cho phép tôi ra tắm vào mùa Hè trong khi thung lũng tử thần nóng như đổ lửa. Nhưng bắt đầu vào Đông thì hắn bắt buộc chúng tôi phải đi tắm hết. Có một lần tắm vào trước Tết dương lịch 1983, lúc đó cảm thấy người đã yếu lắm rồi, thời tiết lại quá lạnh, tôi xin được ở lại trong biệt giam không ra tắm, trực trại Luật thẳng thừng: “Anh còn khoẻ lắm, ra đi tắm! Có thuộc 8 điều lệnh nếp sống văn hóa mới không, các anh ăn ở sao mà phòng giam giống như cái chuồng lợn vậy?”
Khi tháo cùm hai nhượng chân tê cứng, tôi cũng đành cố gắng đứng xuống sàn và lết ra cửa phòng, chập chững như trẻ mới biết đi. Thấy thế Linh Mục Nguyễn Văn Vàng tù chính trị án tử hình giảm xuống còn chung thân ở chuồng cọp số 9 cũng vừa được tháo cùm và bị lùa ra đi tắm cùng với tôi, đã nói với Luật bằng giọng bình thản: “Chuồng lợn còn sạch hơn nhiều thưa cán bộ. Chúng tôi không những không thuộc 8 Điều Lệnh Nếp Sống Văn Hóa Mới mà còn coi như không có điều lệnh này vì làm gì có nếp sống văn hóa mới trong một trại tù như thế này, cán bộ có đồng ý không?” Luật bí nên quát tháo: “Ra đi tắm ngay, chỉ bố láo” Tôi và Linh Mục Vàng vịn vào nhau chậm chạp đi ra ngoài giếng. Trật tự Của đi theo sau đay nghiến vị tu sĩ: “Anh Vàng, bộ anh muốn chết hay sao mà anh nói với cán bộ như vậy? Nói thật, nếu cán bộ Luật ra lệnh, tôi đánh chết anh ngay lúc đó” Thấy không còn gì để mất, tôi thẳng thừng với Của: “Anh Của, anh cũng là tù như chúng tôi, án của anh cũng là án nặng, ngày về còn quá xa. Tôi nghĩ là nếu anh có đánh chết bố Vàng hoặc tôi thì cũng là cách giải thoát cho chúng tôi. Sống như thế này cũng như đã chết rồi. Mạng chúng tôi chẳng đáng xu teng nào đâu. Cần gì anh phải đánh, trước sau chúng tôi cũng chết trong cùm mà!”
Trật tự Của là người dữ tợn nổi tiếng trong số những trật tự của trại. Nhưng như một điều khác thường trưa hôm đó Của im lặng không phản ứng. Mãi sau này tôi cũng không rõ lý do khiến tự nhiên Của không thượng cẳng chân, hạ cẳng tay với chúng tôi và tôi chỉ có thể tự giải thích với lòng mình rằng có thể do chúng tôi đánh thẳng vào nỗi tuyệt vọng âm thầm trong lòng Của từ lâu nên trong một phút anh ta có thể chạnh lòng và chùn tay chăng? Trong cuộc lưu đầy chúng tôi cứ lẩm cẩm hay căn cứ vào một chút lương tri còn rơi rớt lại trong lòng những kẻ ác để chính mình tin rằng sự ngay thẳng và lương thiện rồi ra cũng sẽ giành được một phần thắng lợi khi bị du vào tình thế khó xử hay trong tình trạng phải đối đầu với kẻ thắng. Cho đến những năm tháng sau này khi đã được tái định cư ở Hoa Kỳ, khi đã được nằm trong Studio ở khu chung cư Christian Home tôi thuê ở ngõ Song Long trên đường Bolsa tuy không sang trọng đối với người đã ở Mỹ lâu, với tôi nó là một thiên đường.
Thỉnh thoảng, những cơn ác mộng vẫn trở về, đánh thức tôi giữa đêm khuya thanh vắng. Đã nhiều lần mồ hôi toát ra và đầu óc những lúc như thế dường như chẳng còn ý thức thời gian nửa. Tôi thường phải cấu vào đùi mình để bảo đảm rằng tôi đang là thực, đang hiện hữu ở phố Bolsa chớ không phải là nhân vật của một giấc mộng. Sau những đêm như thế, tôi thường điện thoại cho Đoàn Bá Phụ, một bạn tù thân thiết thời kỳ còn ở Phân trại E của A-20 cũng như giai đoạn về sau này khi chúng tôi gặp nhau lại ở Nam California. Tôi hỏi Phụ xem là những năm đầu khi được thả ra khỏi tù và vượt biển thành công rồi sang sống ở quận Cam, Phụ có phải đối phó với tình trạng “mộng là thực” như thế không. Anh trả lời không đắn đo: “Thì tao cũng như mày thôi. Phải ba năm sau tình trạng này mới chấm dứt” Phụ còn dọa thêm: “Ba năm mà mày vẫn còn bị ám ảnh, phải đến một bác sĩ tâm thần đấy”. Cuối cùng, những tiên đoán của Phụ chỉ đúng một phần và khi tôi có một việc làm, được trở lại nghề cũ, sự bận bịu của công việc, đã xua những cơn ác mộng ấy ra khỏi giấc ngủ.
Cho đến nay khi ngồi viết lại hồi ức này tôi cũng vẫn không tìm ra được lý do giải thích tại sao tôi và những bạn tù khác trong khu biệt giam ở Xuân Phước lại có thể thoát được cảnh địa ngục trần gian lâu dài như vậy ngoài niềm tin rằng mọi sự đều có giai đoạn khởi đầu và cũng có lúc phải kết thúc. Tôi là một tù nhân cải tạo không còn xa lạ gì với các khu biệt giam ED nhà tù Chí hòa xuống tới Hàm Tân Z-30 C. Nhưng với tôi khu biệt giam hay còn gọi là chuồng cọp ở phân trại E A-20 nhà tù Xuân Phước là đáng chú ý nhất. Vì khu chuồng cọp này thể hiện tính chất triệt để của những đòn trừng phạt mà chế độ Cộng sản nhắm vào để trả thù, câu thúc, kiểm soát và hủy diệt những phản ứng đối kháng cuối cùng của con người.
Tại sao tôi gọi khu biệt giam ở A-20 Xuân Phước thể hiện tính chất triệt để của những đòn trừng phạt? Thứ nhất khu chuồng cọp này nằm ngay sau nhà bếp trại nhưng kỷ luật nghiêm ngặt đến nổi nó trở thành một thế giới khác, hoàn toàn bị cô lập. Hoàng Vũ Duyên, một người bạn học với tôi từ nhỏ ở trường tiểu học Văn Trinh tỉnh Hải Phòng và đồng thời cũng là bạn đánh đinh đánh đáo với nhau trong suốt những năm tiểu học trước khi chúng tôi cùng di cư vào Nam đang lao động ở đội nhà nhưng không hề biết tôi đang nằm cùm cách Duyên không đầy 15 thước. Thứ hai, thời hạn nằm biệt giam thường là cùm hai chân tối thiểu cũng một năm, trong một số ít trường hợp kéo dài 3 đến 5 năm như trường hợp cá nhân tôi và vài người khác như Luật Sư Trần Danh San người đứng ra đọc bản Tuyên ngôn Nhân Quyền vào năm 1977 ở quảng trường Quách Thị Trang, Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, Linh mục Nguyễn Luân. Thứ ba chế độ ăn uống trong khu biệt giam này cực kỳ kham khổ. Tiêu chuẩn bình thường của một tù nhân trong biệt giam là 9 kí lô thực phẩm hàng tháng. Như thế trung bình một ngày hai bữa trưa và tối, mỗi tù nhân biệt giam được nhận mỗi bữa 150grams thực phẩm. Thực phẩm gồm cơm và khoai mì. Thực tế mỗi bữa ăn chúng tôi được phát 6 lát khai mì phơi khô rồi luộc chín. Sáu lát khai mì khô ấy “cõng” thêm từ 250 đến 300 hạt cơm. Người tù có nhiệm vụ chia cơm biệt giam tưới vào đó khoảng hai muỗng nước muối. Tiêu chuẩn nước bình thường là ¼ ca đánh răng nước uống. Tình trạng này dẫn đến một hiểm họa khát triền miên và phù dẫn đến chết người mà tôi sẽ đề cập ở phần sau.
Tuy nhiên những tù nhân cải tạo trong biệt giam bị đì hay đang bị ép cung thì trự trại Luật thi hành đúng lệnh của “ban”: tiêu chuẩn thực phẩm chỉ còn 6 kí lô một tháng, tiêu chuẩn nước muối gia tăng gấp đôi, nghĩa là thay vì chan vào thực phẩm hai muỗng thì chúng tôi lãnh tới 4 muỗng, tiêu chuẩn nước uống tụt xuống chỉ còn hai muỗng cho mỗi bữa cơm.
Nếu tôi nhớ không lầm, trước ngày 30 tháng 4 1981, ban quản trại mở cuộc tổng kiểm tra tư trang của tù cải tạo, từ các tù nhân diện tù tập trung cải tạo cho tới diện tù chính trị có án. Lý “lé”, cán bộ an ninh trại đã huy động tù hình sự trong đội lao cải “diện rộng”, các quản giáo và vệ binh súng dài khám tư trang tù cải tạo kéo dài từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều mới kết thúc. Điều này có nghĩa là “tài sản” của tù cải tạo bị tịch thu sạch sẽ, từ mì gói, cơm khô, cám rang trộn gừng, những viên thuốc chống phù thủng B1 nghĩa là mọi tù nhân cải tạo đều …sạch bách!
Sự căng thẳng của tôi giảm xuống sau khi T.B.N. mà anh em chúng tôi quen gọi thân mật là Ng. “đen” thông báo là anh đã tìm kiếm được phương tiện để thực hiện tờ báo. Việc tìm kiếm những phương tiện và vật liệu để tờ Hợp Đoàn có thể ra đời đúng kế hoạch cũng là một câu chuyện dài và ngay cả bản than tôi cho tới nay cũng không thể tưởng tượng rằng nhóm chủ trương chúng tơi lại có thể hoạt động được một cách suông sẽ trong những năm đầu thập niên 80 tại cái thung lũng đày ải con người ấy.
Cùng với T.D.S. một luật sư nổi tiếng trong luật sư đoàn miền Trung, N.C.T. viên chức cao cấp trong chính quyền VNCH, tốt nghiệp học viện Quốc Gia Hành Chánh, T.B.N. và H. “bầu” các cựu sĩ quan biệt kích và thiết giáp phụ trách an ninh và lưu chuyển tờ báo, H “cà” cựu sĩ quan bộ binh tác chiến, nhưng có tài đàn hát, vẽ minh họa lẫn hí họa và P.Đ.N. cựu sĩ quan chính huấn với những vần thơ rực lửa…tôi có may mắn được anh em giao quyền điều hành được 5 số báo Hợp Đoàn, trong đó có một số kỷ niệm ngày Quân Lực 19 tháng 6 và một số tưởng niệm 30 tháng 4 trước khi bị biệt giam dài hạn.
Chỉ có bấy nhiêu người nhưng chúng tôi đã vượt qua bao nhiêu khó khăn để hoàn thành êm thắm mục tiêu do chính chúng tôi đặt ra. Mãi cho đến sau này, tôi vẫn nghĩ rằng sự đoàn kết và sẵn sàng hy sinh cho lý tướng chính là nguyên nhân của những thành tựu này.
Mấy tháng sau khi tôi bị đưa vào “chuồng cọp” Ng. “đen” là người thay thế tôi trông nom tờ báo. Nhưng anh chỉ cho ra được số thứ 6 với sự cộng tác bài vỡ của một nhà báo mà trước 30 tháng 4 1975 là biên tập viên của tờ Saigon Post một trong hai tờ báo viết bằng Anh ngữ ấn hành tại Sài Gòn. Nhà báo vừa nói vốn là con trai của một sử gia viết quân sử nổi tiếng trong quân đội VNCH. Dù chỉ là Sĩ Quan cấp Úy anh đã phải bóc tới hơn 10 cuốn lịch sau những cánh cổng nhà tù cộng sản vì tham gia vào cuộc nổi loạn tại trại tập trung Suối Máu đêm Noel 1978.
Sau khi xảy ra vài vụ trốn trại, tù cải tạo lãng công để phản đối chế độ lao tù, viết khẩu hiệu chống Cộng trong nhà giam, những đêm tù ca bỏ túi bị ăng ten báo cáo..dường như ban quản trại đã gia tang khủng bố. Nhiều tù “cải tạo” bị gọi đi làm việc và sau đó bị đưa vào cùm tại khu biệt giam phân trại B của A-20, tức là trại trong cách phân trại E khoảng 5 cây số. Nhưng họ không đụng tới tôi và những anh em trong nhóm Hợp Đoàn. Ngọc “đen” khuyến cáo tôi rằng cần phải lưu ý đến sự yên tĩnh kỳ lạ này và đề phòng bằng cách chuyển hết tài liệu và vật liệu trong chiếc ba lô hai đáy của tôi đến một chổ dấu an toàn mà chỉ anh biết. “Đen” bảo tôi là phải nằm im, “không nên nhúc nhích”. Anh còn cẩn thận may một lớp poncho trong chiếc áo trận đã rách, vá chằng vá đụp và buộc tôi phải luôn mặc nó dù trời nóng. Ng. “đen” nói với tôi “Alpha” (danh hiệu anh em dùng để gọi tôi một cách thân mật) cẩn thận. Tụi tôi “clear” hết rồi vì cảm thấy lần này chúng muốn đưa Alpha vào biệt giam luôn. Thằng Lý “lé” vẫn nghi anh là một cái đầu máy xe lửa trong trại này. Anh thấy không, gần đây hắn kêu tất cả những người hắn nghi ngờ đi làm việc liên tiếp để lượng định và có thể nó đã nghĩ tốt hơn hết là đem cất cái đầu máy đi là yên chuyện”.
Dù chỉ là một quân nhân tác chiến, cái nhìn của T.B.N. tương đối bao quát và sâu sắc. Quảng giao, giang hồ và chơi với tất cả những thành phần trong trại giam, anh giúp tôi nhiều ý kiến để vượt qua những khó khăn trong những hoạt động bí mật tại trại giam. “Đen” không bao giờ ra mặt đối đầu với một số ít thành phần phản bội anh em. Anh thường nói với tôi: “Chửi bới, nói móc, xỏ xiên, đối với tụi nó không ăn thua. Trong hoàn cảnh ai trong chúng ta cũng đói khổ cả, chúng ta phải coi lại dư luận đồn đại. Nghe thì nghe nhưng đừng vội kết luận người này làm ăng ten, người kia làm mật báo. Nên kiên nhẫn chờ đợi, cho đến khi nắm vững bằng chứng là phải ra tay cảnh cáo ngay cho chừa cái tật bép xép với chèo.” (Chèo cũng là cách gọi mỉa mai chúng tôi dung để chỉ công an trại giam).
Từ ngày vào trại cải tạo lúc tóc còn xanh cho đến khi ra từ tóc đã muối tiêu, tôi không hề coi những thành phần phản bội này có ảnh hưởng gì đến đời tù của mình. Bởi vì tôi nghiệm ra một điều: họ làm ăng ten, mật báo với an ninh trại cũng vì đói nên cần miếng ăn chứ trong thâm tâm tôi không tin rằng họ thực tâm cộng tác với kẻ thù. Cho nên những ai không sợ hãi e dè quá đáng vì bị cúp thăm gặp gia đình hoặc sẽ sẳn sàng chấp nhận vào cùm trong chuồng cọp thì những phần tử này lùi bước ngay và ít khi muốn đụng độ. Trong thời gian bị “gởi” lên A-20, bọn quản trại củng lẫn xen vào hàng ngũ chúng tôi những thành phần mà anh em gọi là “đầu gà, đít vịt” nghĩa là tù chính trị không ra chính trị, hình sự cũng chẳng ra hình sự. Những thành phần được trại giam cài vào cũng chỉ với mục đích quấy nhiễu chúng tôi mà thôi. Điển hình nhất là P.V.Đ. và T.T.V. Một người P.V.Đ. là lính quân dịch với cấp bậc binh nhì, trước 30 tháng 4, 1975 phạm tội hình sự bị đưa vào quân lao Gò Vấp chờ ngày ra tòa án Quân Sự. Khi anh ta được đưa vào ở chung với thành phần cựu sĩ quan cải tạo, không ai là không nhìn ra vai trò của anh ta. Còn người kia khi vào trại khai là “thiếu tá tình báo VNCH” nhưng khi hỏi thăm đến đơn vị mà anh ta từng phục vụ thì T.T.V. nói đến toàn những đơn vị được tác giả Bùi Anh Tuấn viết trong bộ truyện Z-28 một bộ truyện tình báo nhiều tập rất ăn khách vào thập niên 70 ở Sài Gòn.
Điểm đặc biệt ở hai nhân vật này là tư cách của họ rất thấp, nhưng trò thưa gởi với cán bộ an ninh và dùng những buổi bị gọi đi làm việc để dọa nạt những tù cải tạo tuy yếu bóng vía nhưng nhiều quà thăm nuôi thì thật là “tuyệt chiêu”. Chẳng hạn, thường kỳ hàng tháng họ phải làm việc với cán bộ an ninh trại để khai báo những khả nghi trong nhà giam, nhưng khi đi làm việc về thì họ tung hỏa mù, nào là cán bộ có hỏi đến người này, người kia trong nhà giam. Vài hôm sau, chúng lân la đến những người bị chúng nhắc tên để xin một vài món gì đó, nhiều khi là một gói mì ăn liền, có khi là một ít cơm sấy hay miếng cá khô. Tôi nghiệm thấy là P.V.Đ. và T.T.V. thành công trong chuyện đi vay không bao giờ trả này. Ít khi nào mà họ về chổ nằm mà trên tay không có một món nào đó xin của những người đồng cảnh vốn không bao giờ muốn bị lôi thôi với những con chiên ghẻ này. Biết thế cho nên T.T.V. và P.V.Đ. chỉ nhắm vào một số tu sĩ, những tù chính trị già cả, một vài ông cựu dân biểu VNCH và nhất là một vài bạn đồng vốn đã nhát nhưng lại cứ hay “bô lô ba loa” cái miệng. Chúng kỵ nhất là đụng độ với những cựu sĩ quan trẻ tuổi hay những người coi việc vào nằm chuồng cọp chỉ là một giấc ngủ trưa. Bởi vì chúng biết đụng độ với những đối tượng này không những không được gì mà có khi còn mang đầu máu lúc đêm hôm tối lửa tắt đèn, nếu muốn nói theo cách trừng trị giang hồ trong nhà tù cải tạo của Cộng Sản.
Tôi muốn nhắc lại những sự việc này trong hồi ức của mình cũng chỉ với mục đích để cho giới trẻ đang tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam nhìn lại và làm sạch hàng ngũ của mình, nhìn lại cơ cấu tổ chức của mình và phải nên đặt câu hỏi: hoạt động tự phát liệu có thể tránh được những cái bẫy do guồng máy an ninh của nhà cầm quyền không?
Nếu các bạn nói tránh được thì tôi rất phục bởi vì như thế là hoạt động của cả một guồng máy an ninh của cộng sản không làm gì được các bạn. nhưng có những thực tế diễn ra trước mắt các bạn mà chưa có câu trả lời: đó là các bạn trẻ bí mật hội thảo trong một lớp dạy Anh văn trong ngõ hẽm ở Hà Nội, nhưng khi các bạn ấy mới bước vào lớp thì bọn công an đã ập vào đánh cho một trận tơi bời rồi ném lên xe bus chở đi. Hãy nhìn vào thực tế này để rút ra một bài học, trừ khi các bạn trẻ này chỉ chơi bạo lấy tiếng thì không kể.
Buổi sáng cuối tháng 4, 1981phân trại E của nhà tù A-20 vẫn còn ướt đẫm hơi nước của những cơn mưa nhỏ trãi lên thung lũng Xuân Phước đêm hôm trước. Lãnh phần khoai mì lát xong, tôi đem để lên bệ nằm, định ra ngoài tập thể dục một chút rồi vào nhà giam ăn sáng để chời đi lao động thì trật tự Của bước vào cổng nhà giam. Nhìn qua song sắt của khung cửa sổ rộng, tôi thấy tên trưởng ban trật tự này (vốn là một thượng úy công an biên phòng bị án tử hình sau giảm xuống còn chung than vì tội giết mười hai người Cambodia để cướp vàng) có vẽ nghiêm trọng. Hắn bước vào phòng và gọi tên T.D.S. và tôi rồi bảo cả hai chúng tôi phải ở nhà khộng đi lao động để ra làm việc với cán bộ. Khi Của vừa quay đi thì “Đen” vớ lấy cái áo trận may nhiều lớp ném cho tôi và nói: “Cởi áo kia ra ngay, mặc cái áo dày này vào. Anh mặc hai áo, chúng lột cái áo dày ra thì hỏng việc. Thuốc B1 ở trong các đường vá sau lưng, H “bầu” đang clear ba lô của anh, thế nào lát nửa anh đi làm việc thằng Của sẽ leo lên sàn trên khám xét”.
Nhưng không hiểu sao vào lúc đó tôi bình tĩnh một cách lạ thường, có thể là do tôi hiểu một cách chắc chắn đây là buổi sáng cuối cùng tôi còn nhìn thấy các bạn tù trong nhà giam chung. Có thể vài giờ nửa tôi đã phải giam mình lâu dài trong cái căn phòng bê tông kín mít rộng 2 thước, cao 5 thước, dài 3 thước, chỉ có một lổ nhỏ vuông mỗi bề 5 phân để thở. Tôi nói với Ng. “đen” người lính từng sát cánh với tôi trong tù cải tạo nhiều năm rằng hãy cho “đông lạnh” tất cả mọi thứ và nếu có chuyện gì xảy ra thì chỉ có S. và tôi chịu mà thôi, theo đúng kỷ luật của nhóm.
Khi tất cả các đội xuất trại đi lao động thì Lý “lé” tay cầm một hồ sơ bước vào nhà kêu tên tôi và trật tự Của kè tôi ra khỏi cổng trại tiến về phía một văn phòng nhỏ nằm cách cổng trại không xa lắm. Tôi đã nhiều lần bị thẩm cung trong văn phòng này, nhưng buổi sáng đó là lần đầu tiên cái vẽ lạnh lẽo đặc biệc của nó làm tôi chú ý. Bộ đồ trà gốm có 4 cái tách bằng gốm thô, một bình tích trà nóng, ủ trong một vỏ dừa ngã màu nâu, một chiếc gạt tàn thuốc lá, bao thuốc thơm Thăng Long vẫn còn nguyên cái bao bì bằng giấy xám chỉ giúp làm tang cái vẽ đe dọa đối với người bị thẩm cung thay vì tất cả những vật dụng này lẽ ra đã phải làm tròn nhiệm vụ của chúng là giúp cho cuộc gặp gỡ thêm đậm đà. Mãi cho đến lúc Lý “lé” rút trong túi ra một tờ giấy đọc “lệnh bắt” tôi mới chú ý tới khẩu K-59 anh ta mang bên hông và chiếc nón kết có cái vành rộng tụt xuống sát mang tai. Tôi rủa thầm: “Mẹ kiếp.. còn bày đặt lệnh bắt với chả lệnh tha. Bố mày đây đã tù 6 năm rồi, chúng mày có đọc vài cái lệnh bắt cũng chẳng ăn nhằm gì.” Lý “lé” ra lệnh cho tôi ngồi xuống chiếc ghế trước bàn làm việc. Anh ta cầm bao thuốc lá lên rút ra một điếu đưa cho tôi, nhưng tôi nói: “Tôi không hút thuốc lá, chỉ hút thuốc lào”. Lý gọi trật tự Của đang đứng ngoài trước hàng hiên của văn phòng: “Đi lấy cho anh ấy cái điếu cày và thuốc” Sự màu mè lộ liễu và nham hiểm của Lý “lé” tôi cũng đã quen nên tôi “đổ bựa” hỏi người thẩm vấn: “Cán bộ kêu tôi ra đây có chuyện gì, không lẽ chỉ ngồi uống nước trà và hút thuốc” Lý “lé” cười khảy: “Lát nửa anh sẽ biết, bây giờ uống nước trà và hút thuốc đi cho bớt căng cái đã”
“Buổi chợ đông con cá hồng em chê lạt, tan chợ rồi con tép bạc, em khen ngon?”
Cô Ba liều mình mà không chết được.
Lúc nầy là hồi đen tối nhứt trong đời cô Ba. – Đi vắng nhắm chưa bao lâu, về nhà thấy lạnh tanh như chùa bà Đanh Nguyệt tiên cung là thuở nào kìa, nay trước cửa lấp ló bóng chủ nợ và người thừa hành của chưởng toà, trông thấy mặt chực banh da xé thịt, thụt vào trong á múi, a sam (xẩm phục dịch) không một bóng, khi nào có mật ngon đường ngọt chúng bu đầy, nay túi không tiền hết, chúng giả lơ như chưa biết mình đã về đây, tệ nhứt là anh Tây sê-ri buổi nào, nay độ chừng có con nào mới nên lạnh lùng tính thay dĩa! Như vậy cho biết thế nào là tình đời!
Cô Ba là người gọn việc, nên thanh toán lẹ chuyện nhà: trả phố Richaud, giao chủ nợ từ khí thập vật, của quí, của kỷ niệm anh nầy anh kia, hãy chia nhau trừ bớt số thiếu.
Phải chăng đay là buổi thất thủ Hạ Bì, binh tráng binh đinh, vỏn vẹn một em gái tên Tư, trung thành không bỏ chủ, tả xông hữu đột vừa sai vặt vừa đi chợ nấu cơm, tướng cạnh có một chàng trai người Bắc, làm cho hãng buôn, ở đậu dây cho có bạn, bao nhiêu tiền lương xúp, cô tự tiêu pha, và tiếng xưng hô em nuôi em út nghe ngọt xớt? Thỉnh thoảng có một người biết chỗ cô ẩn trú ấy là Sáu Ngọ, vua cờ bạc lừng danh thuở ấy, vẫn còn lên xuống khi rủ cùng theo vào sòng, nhưng tiền đâu mà giỡn bạc, khi khác thấy thầy Sáu cho quà cho bánh trái, tỏ ra còn biết phải trái, tuy ngồi trên đống vàng mà chẳng khi người đang lúc lỡ chơn trái bước.
Nhưng lui tới cùng đường, đi xa về mệt, quẩn trí và mệt mỏi tinh thần, cô lén mua một hộp indien bốn chục đồng, lấy phân nửa, trút vào ly pha thêm đường cho bớt đắng và cô ực một hơi quyết giã từ mọi việc. Nhưng số cô chưa tới. Trong khi em Tư ngủ vùi ngoài chõng nhỏ nơi hàng ba, bỗng thầy Sáu Ngọ ghé xe tính rủ cô Ba vào sòng trong Chợ Lớn, hỏi Tư, Tư ú ở như ma bắt hồn, thầy không chờ trả lời, xô cửa bước vào trong mới hốt hoảng tam tinh chớ chi trễ nửa phút thì ắt Ba Trà còn xác trơ trên nệm.
Không nói không rằng thầy Sáu ra tay nghĩa hiệp, xốc nàng vào tay, đặt lên xe chạy tuốt ra nhà thương cấp cứu đô thành ngay đường Bonard, sẵn lương y túc trực, bôm rửa nàng thở được, Sáu Ngọ biết cơn nguy đã qua, mới để đó lo chạy xe vô sòng me nơi tửu lầu Chợ Lớn, kẻo tiền xâu hao hớt. Sáu Ngọ về tới nhà là kiểng nhà thở đức Bà đo mười hai tiếng, chớ chi Ngọ không ghé lúc nãy thì hồn Trà đã bay xa!
Đến đây mới thấy bụng tốt của bác sĩ A., người đã cứu cô lần đầu Sáng ngày, bác sĩ đi làm việc nơi nhà thương đầu đường Bonard gần Chợ Mới Bến Thành, mới hay đêm rồi ban gác có cứu một nàng tự tử bằng thuốc phiện và nàng ấy nay, còn nằm đường bệnh, không ai khác hơn là Trà, ái khanh năm trước. Lại một dịp thi ân vô cầu báo, giận mình không trẻ để xứng với duyên cỡi phụng cỡi loan, nhưng về kinh nghiệm nhà nghề thì ai già giặn ăn qua mình được! Ông cho chớ về đường Colombier và ngày ngày xách túi da đựng thuốc đến săn sóc chu đáo, và suốt ba tháng yếu ốm, ông mỗi đến viếng và tuần mạch, không nói không rằng, mỗi lần ra về, vẫn nhẹ nhẹ đặt một tờ giấy một trăm đồng trên đầu nằm, tiền xài vặt, cà na cánh chỉ. Còn ai tốt hơn ông nầy? Cà na vừa chua vừa chát, cánh chỉ vừa ngọt ngọt chua chua, món ăn vặt cho người bịnh mau biết miệng, nhưng người bịnh nầy đau bịnh cần dùng tiền thiệt nhiều để vào sòng me ngồi me đứng, có hoạ là biến ra cái máy in giấy bạc thì cô mới động tình, chớ mỗi bữa một xăng (cent piastres), thì không khác bù mát cắn sừng trâu, sao thấm!
Một hôm cô vừa lại nghỉn, ăn cơm được hai chén biết ngon, sẵn đứa em làm hãng buôn về lo le 520 đồng khoe trúng mối, cô chừa hai chục mua gạo, còn chẵn năm trăm, cô bó túi qua thăm dì Tư Ăng lê cùng xóm, thấy sòng bạc hoắc, ngứa tay kéo chơi, không dè thời vận bất tể, hoắc luôn trọn năm trăm mới sướng!
Cô về nhà nằm sải tay, nước mắt tự nhiên tuôn ra, không khóc tiền muôn bạc vạn cúng cho me, lại khóc năm trăm thua bài hoắc?
Nhưng nước mắt cũng là phương thuốc tiên, tuôn ra bao nhiêu thấy trong mình nhẹ nhõm bấy nhiêu. Cô đứng dậy cười gằn, khóc vô ích. Đời đã chó má giận chi đời, phải can đảm hơn lên. Nhưng nằm ngồi bực bội, lấy tiền đâu đắp đỗi tháng ngày. Bỗng nhớ lại bao nhiêu vàng xoàn, cầm cho má Hai (bà Ty), thử qua tìm hoạ may trừ tiền vốn tiền lời, má có cho lại chút ít buổi nầy?
Lúc nầy là lúc Tần Quỳnh trong truyện Thuyết Đường đang đau, nghèo khổ đến phải bán con ngựa làm chơn, con chiến mã Huỳnh Biếu ngày đi ngàn dặm không biết mỏi, mà chủ nó phải đành lìa vì không tiền trả chủ quán. Nhưng cũng là lúc Tần Quỳnh thoát cơn hoạn nạn, gặp Đơn Hùng Tín giải cơn nguy. Cô Ba bước qua tìm bà Hai thì bà đang gầy sòng. Vận đen đã dứt, vận đỏ vùng lên, sẵn còn hai chục là tiền còn dư lại trong số bạc một trăm của hảo tâm lang bác sĩ vừa cho buổi sáng, cô chưa tin thọc tay vào túi mò mẫm thử, vẫn còn ràng ràng tờ giấy hai chục, cô nhớ lại tích ngộ ngộ anh thợ hồ Quảng Đông bữa kia sửa nóc nhà dột cho ông Sáu Nhiều là một tay đổ bác khét tiếng không thua gì Sáu Ngọ, khi sửa nóc xong, vừa tuột xuống định lãnh tiền công là mười lăm đồng bạc Đông Dương, nhưng sẵn thấy ông Sáu đang làm cái cầm chén hốt me, anh thợ ngứa nghề, luôn tay đặt cầu âu trọn mấy chén đều trúng, vốn và lời cả thảy được độ mười lăm ngàn đồng, anh thợ không vùa tiền ăn vô lại toan đánh nữa, nhưng ông Sáu bỗng xên ngang, anh thợ hít hà xin cho đánh thêm chén chót, nhưng ông Sáu điềm tĩnh, rằng: “Anh thợ nầy kỳ! Lợp chơi có mấy miếng ngói quèn mà nhận của tôi mười tăm ngàn đồng tiền công, như vậy mà còn chưa vừa bụng hay sao?”. Anh thợ lễ phép thưa: “Dạ tôi thua sạt nghiệp bên Tàu mới học cầm bay tô hồ. Xin cho tôi đánh một chén nữa thôi, may mà trúng thì tôi về xứ chuộc đất chuộc nhà, còn như không may thì tôi sẽ ở lại đây sửa nhà cho ông thì tôi cũng bằng lòng”. Nhưng Nhiều là tay cao đệ dễ gì cho anh thợ ăn quá, nên một hai cuốn chiếu không hốt nữa. Nay đến lượt cô Ba tay cầm hai chục đặt cầu may, miệng vái lầm thầm: “Ưng ai hôn anh thợ linh thiêng, giúp cho tôi qua cơn túng ngặt”. Quả cô đánh ngồi mấy chén, cô vét sòng được hơn mười lăm ngàn đồng. Chú chứa tiếc tiền, không cho cô về, ép ở nán lại, chờ gọi ngảnh thầu mới, ban đầu là thầy Ba Đồng và kế đó là thầy Ba Khương, người là chủ cái có danh (ông Đồng), còn ông kia (Phương), vốn là mại bản của hãng Charner, tiền ăn của xài mấy đời chưa hết, hai người tiếp tục cầm chén thay, nhưng quả vận đỏ cô Ba đã đến, khiến trọn đêm ấy, cô đặt đâu trúng đó, rạng ngày cộng lại ba tay hổ kha kia đều sạch túi và túi cô Ba thì thình lình nặng thêm hơn tám chục ngàn đồng bạc là một con số quá sức tưởng tượng buổi ấy, trong khi vàng ròng Đông Thạnh hiệu “con ngựa” trung bình là sáu chục đồng một lượng.
Như Gia Cát đệ tam xuất Kỳ sơn… nhưng chẳng thành công, và cô gặp ông Hoàng Xiêm là chuyên ngải nghệ có linh hay không, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Tôi đã đọc lâu bộ Histoires d’Amour de l’Histoire de France của Nguyễn Breton, nay còn ngán bề trái của lịch sử: Ông vua Louis XV, khi chưa biết gì, đã nhờ bà hầu tước nào dạy cho con ong tơ biết hút mật trong hoa, nhờ vậy chồng bà được bổ nhiệm đại sứ một nước lớn, vinh quang một thuở (nhớ bằng cấp da của vợ), chính đế Napoléon 1er cũng tránh không khỏi bị một bà nhơn tình sang một bịnh kín, trong trận đại chiến nào đó để vừa hành binh vừa bi bịnh kia hành hạ dầm dề như một phàm nhơn. Nhưng lý thú nhứt có lẽ là chuyện ông vua Louis XVIII, vua nầy về già suy yếu nếu không nói là bất lực, nhưng đối xử với cựu nhân tình, bà De Cayla, ngọt không chỗ nói: đã tặng bà một lâu đài xinh xắn gọi château de Saint Quen, thêm biếu bả một cuốn sách kinh thánh (bible) trong đó đóng thêm 50 tấm ảnh kỷ niệm, mỗi ảnh có kèm thêm một tô giấy bạc 1.000 quan (nhưng trong sách không nói rõ bả có chịu khó lật từ tờ để đọc kinh chăng, hay là bà để cho con đòi siêng năng làm thế, tôi nói vậy là chuyện ngoại sử, lấy kinh nghiệm bản thân mà nói, vì lúc tôi còn ở đường Thủ khoa Huân, trước gọi Aviateur Garros, tôi có một tiểu đồng bữa nào quét nhà lau sách, đều cẩn thận lật sách từ tờ không phải để kiếm bụi bặm kỳ thật tiểu ta kiếm bạc giấy tôi thường nhét trong sách, tuy không có bà de Cayla để tặng, nhưng thiếu chi bồ bịch cần dùng khi bà xã về quê thăm nhà!
Ấy vua chúa xứ người, lịch sự làm vậy.
Cô Ba từ ngày làm ăn thất bại ở Bạc Liêu, bị tay con cao tay hơn, vét sạch vốn liếng, trở về Sài Gòn, Nguyệt tiên cung trở nên ổ rắn, chủ nợ thấy mặt và cứ tưởng còn tiền theo đòi cảng riết, bực quá chồng con không kể và để lánh mặt một thời gian, ngựa quen đường cũ, cô xin giấy qua Xiêm một chuyến nữa, quyết phen nầy thay bùa chuộc ngải mới, để về tranh thủ với tay lạ, chớ nhơn tình cũ đã ngán cô nhiều và đức phu quân Pháp tựa hồ cũng ngán và toan trở dĩa. Nhưng chuyến xuất binh kỳ ba nầy rốt lại cũng thất bại, vì hễ tham thì thâm, cô chỉ có hai tay mà toan bắt một lượt đến hai con cá bự. Bước đầu qua Xiêm, cô gặp dê con bốn đứa, bốn anh Tàu lai Xiêm thấy cô và nhan sắc cô, nói hành nói tỏi, cô nghe thấu, dùng tiếng Hải Nam cho chúng một bài học khôn, không nên thấy người nước khác ở viễn phương mà dám phê bình kia nọ. Buổi “thiệt chiến quần nho” ấy chưa thâm thuý, và chớ chi cô là người có học, biết được ngoại ngữ tỷ dụ tiếng Ăng lê thì hay biết chừng nào, vì sau đó cô gặp một người trộng tuổi da đen đen mét mét, đó là cứu tinh chiếu mạng, nhưng cô đã để vuột mất rồi. Ông trộng tuổi nầy, sau nầy rốt, là thân vương, ngự đệ đức vua đang trị vì ở Xiêm la quốc, nếu cứ thứ chuyển đệ thì, sau khi vua đang ngự chầu trời, thì ông là người kế vị chánh thức, nhưng ông trộng tuổi nầy, không như người thường, vẫn không ham ngôi báu, cũng không ham làm chánh trị rẻ tiền, ông vẫn sống một đời phong lưu cực kỳ bình dân, khiến nên thần dân Xiêm lại càng tôn sùng ông hơn nữa. Ông thích việc nghĩa hiệp.
Nay nhắc lại cô Ba qua Xiêm tìm chuộc ngải, nhưng ngái chưa thấy, đã thấy mối tình còn hơn trong mộng và trong ao ước, là sắp gá nghĩa cùng ông hoàng nầy, và nếu được như vậy chẳng là chuyện Tấm Cám, chuyện con dân lấy hoàng tử chẳng là chuyện thật? Ngặt một nôi ngôn ngữ bất đồng, ông hoàng phải dùng một phụ nữ Việt biết rành tiếng Thái làm trung gian, và truyện gió trăng mà có nhân chứng ở giữa thì trở ngại nào bằng. Cô Ba khen nước Xiêm phong thổ tốt, hoa có nhiều giống lạ cô chưa từng thấy, ông hoàng cao hứng hẹn đưa cô đi xứ Pénang, viếng chùa rắn và xem phong lan muôn màu ngàn sắc xứ náy. Bữa lên xe, rủi cho cô Ba là đụng đầu với kỳ đà, bất ngờ gặp chàng đẹp trai họ Đỗ, tuỳ viên nơi toà lãnh sự Pháp ở Bangkok có việc đến đây hai người gặp nhau, khách đa tình gặp gái thuyền quyên, chuyện đầu mày cuối mắt không lọt qua mắt xanh nhà lịch duyệt Xiêm, nhưng ông hoàng tốt nết ghê, xe chạy tới ranh giới để qua xứ Pénang, ông hoàng bắt tay từ giã cô Ba, khuyên cô cứ tiếp tục cuộc du lịch như có mặt ông và ông cắt theo cô một thơ ký đem theo một mở ngân phiếu, dặn cô muốn xài bao nhiêu cứ tự do ghé các nhà sét ty, chúng sẽ nhận ngân phiếu của ông, xài bao nhiêu cũng mặc, miễn cô vui lòng là đủ. Đó, tôi muốn nói người quí tộc nước ngoài là vậy, không như bên mình cho uống một trái dừa cũng xuýt xoa biên sổ! Thế là hỏng bét, hỏng nặng! Họ Đỗ, biết được cô là người của ông hoàng, đã hát bài “tẩu mã” trước, vì một viên chức nhỏ toà lãnh sự làm sao dám đương đầu một thân vương của nước mình đang nương náu. Đàng khác ông hoàng, khi thấy cô quyến luyến với họ Đỗ, ông tự rút lui, vì mình vàng lá ngọc há đi tranh giành một bông hoa, dầu là lạ mắt, với một bộ hạ dưới tay mình? Tội nghiệp nhứt là cô Ba, vì luyện phép chuộc ngải chưa kịp, nên sẩy một lần đến hai con cá to, và như tôi đã nói, tham thì thâm là vậy. Cốt ý của cô khi qua Xiêm là quyết luyện phi đao ngải linh để trở về hơn thua với đám Dư Hồng lục tỉnh, nào ngờ bước đầu cô gặp trở ngại thình lình. Cô đâu có ý đi tìm lan lạ lan quí như lời ông hoàng giới thiệu và cuộc hành trình của cô đã mất hứng, từ khi ông hoàng và họ Đỗ trở bước về Xiêm. Đến xứ Ma lai you (Bà lai du), cô viếng chùa rắn ở Pénang cho có chừng, đến kinh đô Mã lai là Kuala Lumpur càng thấy vô vị, và khi đến Tân gia ba hay Tân gia Phố (Singapour), cô cho hay cô trở về Sài Gòn, không hân hạnh gặp lại ông hoàng Xiêm như giao ước trước. Cô nói với viên thơ ký, về rán học tiếng việt và rán đọc và hiểu truyện Kiều.
Nói lại với hoàng thân, tôi kính dâng hai chữ “bình an” và hẹn kiếp tái sanh hoạ may sẽ gặp, chớ kiếp nầy: “Trăm ngàn gởi lạy tình quân, tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!”. (Kiều)
Mối tình kết thúc có hơi đột ngột, một lần nữa cô Ba biết làm tiền chớ không giỏi làm tình! Và ngải mê, có hay chăng, đố biết?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.