Chuyến xe tháng 5

baotreonline.com

Vương Mộng Long

July 21st, 2021

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Kỳ cuối

Lời giới thiệu: 

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Vừa nhảy khỏi rào trại, tôi đã bị một vệ binh túm được. Lạ lùng một điều là thằng Việt-Cộng này đã không bắn tôi, không bắt tôi, mà chỉ xua tay ra dấu cho tôi chui vào sân trại trở lại.

Ghìm súng trước ngực tôi, y ra lệnh:

“Anh Long không được đi! Trong giờ tôi gác mà anh trốn thoát thì tôi sẽ vào tù thay anh! Vào đi! Vào đi! Anh không chịu chui vào thì tôi phải bắn!”

Nghe thế, tôi bèn nhanh nhẹn chui vào trong rào trở lại. Ai ngờ, một tuần lễ sau ngày đó thì tên Công An vệ binh Việt-Cộng này đã cùng một ông tù cải tạo rủ nhau vượt biên. Họ trốn trong khi tên Công An dẫn ông cải tạo viên đi kiếm củi! Có lẽ hai người này đã an vui sinh sống trên đất Hoa-Kỳ.

Cuối năm 1985 tù cải tạo trại Z30C được tha gần hết, gần chục người sau cùng, trong đó có tôi, bị chuyển sang trại Z30D cũng ở Hàm-Tân, Thuận-Hải; trại này còn có tên là Trại Thủ-Ðức. Tôi gặp lại ông Lương Ðình Chi và anh Huỳnh Cẩm Lường ở trại này.

Tại đây, chúng tôi tiếp tục bị cưỡng bức lao động cật lực cả ngày lẫn đêm.

Khoảng trung tuần tháng 12 năm 1987, sau một ngày làm công tác đào ao thông tầm, ông Lương Ðình Chi tìm gặp tôi trong sân. Ông Chi ôm ngực, nhăn nhó,

– Long ơi! Nhờ chú cạo gió cho anh. Ngực anh đau quá, thở không được.

Tôi dẫn ông về phòng, nhờ bác Mậu già trực buồng xoa dầu, cạo gió, nắn xương cho ông.

Hôm sau ông Chi được cho vào nằm trong bệnh xá, không phải đi lao động. Bệnh tình của ông Chi ngày một tăng, ông không ăn được, không thở được. Trước lễ Giáng Sinh năm 1987 thì Việt-Cộng cho ông Chi về điều trị tại gia; sang năm 1988 tôi cũng được thả.

Tôi được về, nhưng anh bạn Trung sĩ Thông Dịch Viên Huỳnh Cẩm Lường của tôi vẫn còn bị giữ trong trại.

Về tới nhà hôm trước, hôm sau tôi tới góc đường Nguyễn Biểu, Trần Hưng Ðạo để thăm ông bạn già Lương Ðình Chi, ông Chi đang nằm liệt giường, liệt chiếu. Tháng sau thì ông Chi qua đời.

Cũng trong thời gian này tôi tái ngộ cựu Thiếu tá Biệt Ðộng Quân Hồ Văn Hòa, anh Hòa đang làm chủ một xe bán nước sinh tố trên đường Lê Thánh Tôn.

Anh Hòa cho tôi hay rằng ngay tối 11 tháng 5 năm 1975 anh và vài chục người khác bị đưa xuống tàu thủy chở ra Côn Ðảo. Không biết vì lý do gì nửa đường, tàu có lệnh quay trở lại.

Về lại Sài-Gòn, anh Hòa bị đưa vào Lao Xá Chí-Hòa chờ ngày đưa đi cải tạo. Vì lý do đó mà sáng 21 tháng 5 năm 1975 tôi đã nhìn thấy anh ta đứng trong hiên Chí Hòa.

Tới năm 1988, bạn bè mà tôi gặp trong sân Biệt Khu Thủ Ðô ngày 11 tháng 5 năm 1975 chỉ còn rất ít.

Trong suốt 13 năm, từ 1975 tới 1988, trải qua bao nhiêu trại giam; ở đâu tôi cũng cố tìm tin tức những người bạn đã cùng tôi có mặt trong phòng “Zét” ngày xưa. Nhưng tới ngày tôi rời trại tù, 6 ông bạn của tôi vẫn bặt vô âm tín.

Ít lâu sau ngày về tôi đạp xe qua khu doanh trại cũ của Biệt Khu Thủ Ðô để xem quán cháo lòng của bà vợ ông Huỳnh Thanh Bền có còn ở đó hay không.

Thời 1988 khu vực này vẫn chưa có nhiều thay đổi, lều quán bên đường vẫn y nguyên, phố xá có vẻ còn tiêu điều hơn là trước ngày tôi bị dẫn lên xe đưa đi khỏi nơi đây.

Quán cháo lòng ngày xưa được che bằng hai cái poncho ghép lại, nay được thay bằng một tấm vải nhựa dày. Nồi cháo bốc hơi ngày xưa nay được đổi thành nồi xôi đậu xanh, cũng bốc hơi.

Tôi thấy người ngồi sau cái bàn vuông có hai cái ghế con là một bà già gầy guộc tóc bạc phơ. Nhưng tôi đoan chắc rằng người đó là vợ ông Trung sĩ Huỳnh Thanh Bền.

Thấy tôi dừng xe chị Bền ngước mắt hỏi,

– Ông khách cần mấy gói xôi? Muốn gói muối đậu chung với xôi hay là gói riêng?

Tôi ân cần,

– Chị Bền! Chị không nhận ra em sao? Long đây chị!

Nghe vậy, chị Bền giật mình trợn mắt,

– Cái gì? Ông khách là chú Long hả?

Tới lúc nhận ra tôi rồi, chị Bền bật khóc,

– Em về rồi hả? Em về lúc nào vậy? Em có gặp anh Bền không?

– Em mới về mấy ngày thôi! Mười ba năm nay, đi tới trại nào em cũng dò hỏi, nhưng không có tin tức gi của anh Bền cả. Còn chị, từ ấy tới giờ chị có đi tìm anh không? Có nghe ngóng được gì không?

Chị Bền kéo cái ghế con cho tôi ngồi, rồi lấy tấm vải nhựa phủ lên trên gánh xôi, làm như đã dẹp cửa hàng, không tiếp khách nữa,

– Chuyện dài lắm chú ơi! Ðể chị từ từ kể cho chú nghe.

Chị Bền bắt đầu kể chuyện bằng những âm thanh nghẹn ngào chan bằng những giọt nước mắt.

Trong gần một giờ đồng hồ tôi đã được nghe toàn bộ câu chuyện đi tìm chồng của Chị Bền.

Thì ra từ khi bị chuyển đi, tôi đã lấy lại cái thư mà tôi đã gửi chị Bền, nên chị không còn địa chỉ nhà tôi, do đó chị không biết tìm cách nào mà liên lạc được với vợ con tôi.

Năm cái thư của những bạn phòng “Zét” đã được con gái anh Bền gửi đi ngay sau ngày các anh ấy lên xe. Bốn gia đình nhận thư đã không hồi âm, riêng người vợ của Thiếu úy Bổn mãi ba tháng sau mới liên lạc với con gái anh Bền.

Trong thư, chị Hà, vợ anh Bổn đã hẹn ngày để vào thăm chị Bền. Hôm đó chị Bền không ra quán, ở nhà đón chị Hà.

Chị Hà không đội khăn tang, nhưng ghim trên ngực áo một miếng vải đen, đó là dấu hiệu chị có thân nhân vừa quá vãng.

Bước vào nhà, chưa kịp ngồi xuống ghế, chị Hà đã vừa mếu máo vừa nói,

– Các anh ấy chết hết rồi! Các anh ấy bị xử tử, trôi sông hết rồi!

Nghe được câu này thì vợ Trung sĩ Huỳnh Thanh Bền ngã ra ngất xỉu. Cạo dầu, đánh gió cả giờ sau mà chị Bền vẫn phải nằm trên giường không dậy nổi.

Chị Hà đành kể tiếp phần sau câu chuyện cho cháu Thoa nghe.

Thì ra cơ mưu thả thư rơi của ông Thiếu úy Thám Báo đã không thành công. Những cái pháo tép có vỏ ngoài quấn bằng những tờ giấy bạc 500 đồng của Ngân-Hàng Quốc-Gia Việt-Nam phát hành đã bị tịch thu ngay khi các ông bạn tôi vừa đứng vào hàng tập họp trong sân để kiểm tra an ninh trước khi lên xe.

Chiếc Molotova chở sáu ông phòng “Zét” đã chạy thâu đêm và suốt ngày hôm sau thì tới Qui-Nhơn. Họ được giao cho Ủy Ban Thanh Lọc của Quân Khu 5.

Ngày kế đó, họ bị đưa vào một khu vườn cây cối um tùm, nằm sát bờ sông Lại Giang gần chân cầu xe lửa Bồng Sơn. Nơi này có mấy dãy nhà tôn vách ván kín mít. Sáu người bị trói tay và bị nhốt trong một căn phòng tối như bưng. Phòng giam này do ba cán binh Việt-Cộng luân phiên canh giữ suốt đêm ngày.

Liên tiếp một tuần lễ, ngày nào họ cũng bị áp giải lên một phòng chứa đầy dụng cụ tra tấn để các chuyên viên khai thác thẩm vấn và chấp cung.

Qua ngày thứ tám thì sáu ông cựu quân nhân Việt-Nam Cộng-Hòa đã kiệt lực, không ai đứng dậy nổi. Ngày thứ chín họ được ở yên trong phòng.

Tới tối ngày thứ mười thì có bốn tên Việt-Cộng từ Ủy Ban Thanh Lọc Quân Khu 5 tay thủ AK 47 lầm lì xuất hiện trước phòng giam.

Bọn này gọi tên, ra lệnh cho người tù lớn tuổi nhứt là Trung sĩ Huỳnh Thanh Bền bước ra ngoài.

Tới cửa, trước khi bị dẫn đi, ông Bền bị trói chặt hai tay bằng một sợi dây dù, hai mắt ông bị bịt bằng một vuông vải đen, miệng ông bị nhét một cái giẻ to.

Rồi cứ thế, mỗi tối phòng giam lại hụt đi một người. Anh Thiếu úy Thám Báo Tỉnh là người bị trói tay, bịt miệng, bịt mắt dẫn đi sau cùng.

Chị Hà biết được chuyện này là do một trong ba tên cán bộ Cộng-Sản canh giữ phòng giam kể lại cho chị nghe. Y là người đã chứng kiến những gì đã xảy ra từ ngày đầu tới ngày cuối.

Số là, khi ra đi, anh Bổn đã chuẩn bị sẵn mười cái khoen vàng một chỉ. Anh luồn những cái khoen vàng đó trong lưng quần. Sau khi bị khảo đả ngày đầu, anh Bổn vội rút hết vàng ra mua chuộc một tên cán bộ bảo vệ. Tên này cùng quê Phú-Phong, Bình-Ðịnh với anh Bổn. Y đã cố gắng giúp anh khai bệnh tiêu chảy lúc nửa đêm. Anh được đưa ra bờ sông để đại tiện; thừa dịp này anh có thể nhảy xuống nước mà lặn đi. Nhưng mỗi lần anh ra ngoài, đều có hai vệ binh đi theo. Tên vệ binh thứ nhì đã ranh ma, cột chặt một tay anh vào cổ tay nó, do đó đã có hai dịp may ngồi bên bờ nước mà anh Bổn vẫn không trốn được.

Vài ngày sau, biết mình đã cùng đường, anh Bổn kể hết mọi chuyện đã xảy ra từ ngày anh bị tập trung ở Sài-Gòn cho tới ngày anh bị đưa về Bình-Ðịnh cho tên Việt-Cộng gốc Phú-Phong nghe. Anh cho y địa chỉ gia đình anh ở Qui-Nhơn và viết mấy chữ nhắn người nhà anh đền ơn cho y, nếu y tìm tới gặp vợ anh và kể cho chị ấy biết hết sự tình. Thời gian này chị Hà đang ở nhà cha mẹ đẻ trong thành phố Qui -Nhơn.

Một tuần lễ sau ngày anh Bổn bị trôi sông, tên cán bộ người Phú-Phong đã tới nhà gặp chị Bổn.

Tên Việt-Cộng kể rằng ngày cuối cùng chỉ còn một mình anh Bổn trong phòng, anh vẫn bình tĩnh như thường, anh nhờ y nhắn với chị Hà một câu:

“Kiếp này duyên tình của vợ chồng mình nửa đường đứt đoạn, đôi ta chỉ biết hẹn gặp nhau ở kiếp sau!”

Y cũng tiết lộ cho chị Hà biết lý do vì sao mỗi đêm Ủy Ban Thanh Lọc Quân Khu 5 chỉ đem một người đi bắn rồi đạp xác xuống sông Lại Giang.

Sở dĩ nhà cầm quyền Vịệt-Cộng chọn cách giết từng người như thế chỉ với mục đích tránh tai mắt của ngư dân quanh vùng. Lại Giang là con sông lớn, nước chảy không ngừng, nên chỉ vài giờ sau khi bị ném xuống nước, xác người bị thủ tiêu đã trôi tới biển Ðông.

Nghe xong chuyện sáu anh em phòng «Zét» bị thủ tiêu, gia đình chị Hà đã bỏ công thuê người đi dò dẫm hỏi thăm dân cư ngụ hai bên bờ Lại Giang từ cầu Bồng-Sơn ra tới cửa biển An Dũ xem có xác chết trôi nào nổi lên không?

Cả tháng sau không tìm thấy dấu tích gì, gia đình chị Hà đành bỏ cuộc. Tới tháng thứ ba, chị Hà mới vô tình lục ra cái thư của bà chị anh Bổn gửi ra từ Sài-Gòn, từ đó chị Hà có địa chỉ của vợ anh Bền.

Từ sau lần gặp mặt đó, bẵng đi một thời gian dài, tới cuối năm 1979 chị Hà lại tái xuất hiện. Lần này chị tới từ biệt chị Bền để ra đi theo chương trình xuất cảnh bán chính thức. Chị Hà bước thêm bước nữa. Chồng mới của chị là một ông lớn tuổi, người Việt gốc Hoa.

Chị Bền cho tôi hay cháu Thoa đã có gia đình, chồng cháu là con một ông đại úy chế độ cũ, ông ấy đã được tha về từ năm 1981. Chồng cháu Thoa đã nhiều lần bỏ công sức đi tìm người tù có tên Huỳnh Thanh Bền qua những trại giam của Quân Khu 5 như Tiên Lãnh, Bình Ðiền, Gia-Trung, Thuần-Hạnh,  Củng-Sơn… vân vân, nhưng vô vọng.

Có một lần, vào năm 1982, gia đình cháu Thoa được tin ông Bền bị giam ở Trại Z30 A nơi Ngã Ba Ông Ðồn và đang nằm chờ chết vì bịnh sốt xơ gan. Cả nhà ông Bền, gồm cả con trai, con gái, con rể, cùng với hai đứa cháu ngoại, kéo nhau lên Ngã Ba Ông Ðồn để xin gặp mặt ông lần cuối. Nhưng tiếc thay, khi gặp nhau mới vỡ lẽ ra, ông Huỳnh Thanh Bền này chỉ là một người trùng tên, trùng họ với ông Bền ở phòng «Zét» của trại Lê Văn Duyệt mà thôi.

Thời gian sau khi tôi được thả thì tất cả tù nhân cải tạo còn lại đều bị tập trung về trại Z 30 D, ở Hàm-Tân. Tôi nói với cháu Thoa hãy lên đây hỏi thăm xem có ai tên là Huỳnh Thanh Bền hay không.

Bạn cựu tù cải tạo tiễn Vương Mộng Long lên đường đi Mỹ – tháng 4 năm 1993

Chỉ một tuần sau tôi gặp lại chị Bền, chị gạt nước mắt rồi nói với tôi,

– Chú ơi! Chẳng có ai tên Huỳnh Thanh Bền ở trại này!

Bận rộn công việc làm ăn kiếm sống, nhưng tôi và một anh bạn gốc Thủy Quân Lục Chiến vẫn lâu lâu ghé thăm chị Bền.

Gặp hai đứa em, chị vui mừng ra mặt, nói đủ thứ chuyện.

Chị kể rằng ngày xửa, ngày xưa chị và anh Bền là con của hai ông địa chủ ở Cần Thơ. Hai ông địa chủ gả con, cưới vợ cho con mà chẳng thèm hỏi ý kiến con.

Hai cô chiêu, cậu ấm này đều là dân học trường Tây, trường Ðầm, nhưng vẫn nghe lời phụ mẫu: “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó!”

Chị kể cho tôi nghe chuyện đám cưới nhà quê diễn ra như thế nào.

Chị nói, ngày đưa dâu chị lo sợ lắm. Chị không biết ông chồng mình dáng dấp cao, thấp, béo, gầy, ra sao, tính tình hiền lành hay hung dữ, rồi chị che miệng cười,

– Vậy mà chỉ ít lâu sau khi thành vợ, thành chồng, tụi này đã thương nhau dứt ra không nổi.

Chị tâm sự,

– Ảnh là tri kỷ của tui, còn tui cũng là tri kỷ của ảnh! Ảnh Solo Guitar hay lắm! Nhưng ảnh chỉ đờn cho mình tui nghe thôi! Hai đứa tui cứ tự ví mình như Bá Nha, Tử Kỳ. Ngày đám cưới, mẹ ảnh có cho tui một cành thoa bằng vàng, ảnh nói sau này có con gái thì ảnh sẽ đặt tên nó là cây trâm vàng để nhớ mẹ anh ấy. Vì thế, đứa con gái đầu của tụi tui có tên là Kim Thoa…

Một hôm, tôi ghé thăm, chị cho tôi hay thằng con trai và đứa con gái út mới về làm ăn dưới Cần-Thơ, quê nội, còn chị thì dọn về ở với gia đình cháu Kim Thoa đâu đó vùng Thị Nghè.

Tôi thắc mắc,

– Giờ này mấy đứa nhỏ đã lớn khôn và có gia thất cả rồi, chị không còn phải lo lắng nuôi dạy chúng nó nữa. Sao chị không ở nhà nghỉ ngơi và trông cháu?  Chị còn tiếp tục buôn bán kiếm tiền làm chi? 

Nghe thế, chị Bền nhìn tôi rầu rầu,

–  Chị đâu có cần nuôi ai! Chị chỉ nuôi hy vọng thôi! Chị ôm gánh xôi mỗi ngày ở đây chỉ vì chị coi chỗ này như một cái hộp thư. Biết đâu hôm nào đó có một ông của phòng “Zét” còn sống sót đi qua, thì chị sẽ có tin tức của anh Bền.

Ngày 5 tháng 5 năm 1992 những người tù cải tạo sau cùng được trả tự do; một trong những người đó là Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai, người đã chỉ huy tôi.

Một tuần sau tôi tới tư gia của Thiếu Tướng Giai để thăm ông.

Dịp này Tướng Giai đã nói với tôi,

– Thế là từ nay tất cả anh em mình đều đã được đoàn tụ với gia đình.

Tôi buồn rầu, nắm tay ông Tướng,

– Không phải vậy đâu Thiếu tướng ơi! Còn nhiều anh em đã ra đi mà chưa thấy về!

Trên đường về nhà, tôi đạp xe qua con đường xưa ghé thăm chị Bền. Chị vẫn còn ngồi chỗ cũ. Chị vẫn bán xôi. Chị vẫn chờ tin chồng.

Chị hỏi tôi,

– Em đi thăm ai về?

Tôi trả lời,

– Em vừa từ nhà Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai về, tiện đường ghé thăm chị. Ông Giai mới được thả tuần trước. Ông ấy là người sau cùng ra khỏi nhà giam.

Nghe vậy, chị Bền thở dài,

– Như thế thì anh Bền không về thật rồi! Anh ấy không về thật rồi em ơi!

Chợt chị ngẩng mặt nhìn tôi,

– Bây giờ là tháng 5, năm xưa anh Bền cũng ra đi vào tháng 5. Anh ấy không về, thì coi ngày anh lên xe cũng là ngày giỗ của anh! Chú có nhớ ngày anh Bền lên xe không?

– Hôm đó là 20 tháng 5 năm 1975.

– Hôm nay là ngày mấy rồi hả chú?

– Dạ! Hôm nay là 12 tháng 5.

Chị Bền bỗng hạ thấp giọng như tự nói cho một mình chị nghe,

– Còn tám ngày nữa là tới ngày giỗ của anh. Anh Bền ơi! Em hẹn sẽ gặp anh đúng ngày hôm đó! Chờ em! Chờ em! Anh ơi! Anh ơi!…

Nghe chị Bền buông những lời than não lòng như thế, tôi bèn an ủi chị,

– Chị đừng quá bi thương, chị còn con, còn cháu. Chị hãy nhìn vào con, vào cháu mà quên đi những muộn phiền…

Chị Bền mở to đôi mắt nhìn tôi, rồi nói với một giọng thật là tỉnh táo,

– Chị ráng sống tới ngày hôm nay chỉ vì chị còn hy vọng. 

Sau đó chị đứng lên, xếp gọn quang gánh chuẩn bị đi về.

Những lần qua đây sau ngày ấy tôi không còn trông thấy chị nữa.

Một năm sau, tháng 4 năm 1993 gia đình tôi lên đường đi Hoa-Kỳ định cư theo diện H.O.

Trước ngày đi Mỹ, tôi ra thăm Ðà-Nẵng lần cuối cùng. Trong chuyến đi này, tôi có dịp ngồi trên xe đò qua cầu Bồng-Sơn, Bình-Ðịnh.

Chiếc xe già chở đầy khách, bò từ từ trên cây cầu dài, dưới sông nước cuồn cuộn đục ngầu.

Nhìn những cụm lục bình trôi băng băng xuôi dòng, tôi chợt rùng mình, nhớ lại chuyện xưa.

Tôi tin rằng ngày 20 tháng 5 năm 1975 Thượng Ðế đã ra tay cứu tôi thoát khỏi chuyến xe oan nghiệt chở tù binh đi Quân Khu 5, vì nếu Ngài không sắp đặt sẵn những điều đã xảy ra ngày hôm đó thì chắc chắn giờ này linh hồn tôi đã vật vờ đâu đây, dưới chân cầu Bồng-Sơn hay trên sóng sông Lại Giang…

VML 

Seattle tháng 5 năm 2021

Chuyến xe tháng 5

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 14 Jul 2021

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Kỳ 3 

Lời giới thiệu:

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Tôi ghé phòng Y hỏi thăm một người đàn bà đang ngồi trước cửa,

– Chị ơi! Chị làm gì ở đây? Sao hôm nay phòng nào cũng trống không vậy chị? Bà con đi đâu hết rồi?

Người nữ quân nhân (hay công chức) trả lời,

– Tôi là nhân viên của Ty Cảnh Sát tỉnh Bình-Thuận bị tập trung ở phòng Y. Hôm nay xe đã tới chở các ông, các bà ở mấy phòng khác đi sạch trơn. Cán bộ canh gác cũng lên xe đi hết, chỉ bốn người của Quân Khu 6 chúng tôi còn ở đây thôi anh ơi!

– Mấy người ở phòng “Zét” đi lúc nào vậy chị?

– Mấy ông phòng “Zét” tập trung từ sáng sớm, mãi tới hơn 3 giờ chiều họ mới bị còng tay đưa lên xe, chẳng biết đi đâu.

Phòng Y và phòng Z ở sát vách nhau, vậy mà cả tuần lễ sau tôi mới biết phòng Y chứa những người bị gọi tập trung theo lệnh của Quân Khu 6.

(Quân Khu 6 gồm các tỉnh Quảng Đức, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy.)

Tôi cám ơn chị nữ công chức Việt-Nam Cộng-Hòa rồi lên văn phòng chính của trại để hỏi cho rõ sự tình. Ngay cửa vào, tôi chạm mặt một cán bộ người Nam.

Vừa nghe tôi xưng danh, hắn đã hét lên,

– Anh là Vương Mộng Long hả? Anh đi đâu mà giờ này mới vác mặt tới đây? Xe của Quân Khu 5 chờ anh cả nửa ngày mà không thấy anh, họ đã khởi hành rồi! Anh đúng là thằng phá hoại!

La hét xong, y quay vào trong ra lệnh,

– Ðồng chí trực trại đem thằng này đi nhốt cho tôi!  

Thế là tôi bị còng hai tay dẫn tới góc rào, tống vào cái điếm canh bỏ trống nằm đằng sau một cái lô cốt lớn bên phải cổng trại.

Tới 6 giờ chiều thì kẻng tan sở gióng lên. Mấy người bị quản thúc trong phòng Y lần lượt theo nhau đi ra cổng.

Trong khi đó tôi ngồi bên song sắt ngó ra ngoài. Tôi không biết những bạn bè cùng phòng Z của tôi đã bị đem đi đâu. Nhưng cứ nghĩ tới câu nói mà tên cán bộ người Hải Hưng đã nói với tôi: “Nếu anh mà bị đưa về Quân Khu 5 thì khó toàn mạng đó! Có trốn được thì trốn đi! Cố gắng kín miệng, đừng cho ai biết tôi đã nói với anh điều này!”

Tôi thấy số mình còn hên. Có khi phải bất đắc dĩ chạy xe ôm không công một ngày mà tôi đã được toàn mạng cũng nên.

Ðúng 6 giờ 5 phút, tên cán bộ đã ra lệnh nhốt tôi chợt đi xăm xăm tới cửa điếm canh,

– Anh đã cơm nước gì chưa? Nếu đói thì chờ đó! Chút nữa sẽ có người đem cơm cho anh ăn.

Chợt nhớ tới cái giấy chứng nhận của tên Việt-Cộng ở Tòa Ðô Chánh, tôi nói với tên cán bộ,

– Hôm nay tôi tới trễ là có lý do! Cán bộ hãy mở còng tay để tôi lấy bằng cớ cho cán bộ coi.

Ðọc xong những chữ viết và săm soi kỹ cái dấu mộc đỏ, y gật gù,

– Tôi sẽ giữ cái giấy chứng nhận này. Bây giờ tôi cho phép anh về. Sáng mai đúng 8 giờ anh phải tới trình diện tôi trong phòng trực. 

Năm phút sau tôi ra tới cổng, chị Bền đang chờ tôi, mặt chị không giấu nổi nỗi âu lo,

– Chuyện gì vậy chú?

Tôi vắn tắt kể cho chị biết lý do vì sao tôi tới trễ và lặp lại những lời người nữ Cảnh Sát tỉnh Phan-Thiết đã nói với tôi cho chị nghe.

Ngày 21 tháng 5 tôi gửi xe sau quán của chị Bền rồi vào văn phòng chính của trại. Ở đây đã có bốn người, ba nam, một nữ của phòng Y ngồi chờ sẵn.

Năm chúng tôi là những người còn sót lại sau cùng của đợt tập trung ngày 11 tháng 5 năm 1975 của Ủy Ban Quân-Quản Thành Phố Sài-Gòn, Gia-Ðịnh.

Sau này tôi mới hay, hôm qua, 20 tháng 5 là thời hạn chót để các đơn vị địa phương tới tiếp nhận người.

9 giờ sáng chúng tôi được lệnh lên xe. Tôi lựa một chỗ ngồi bên trái, đằng sau xe để khi ra tới đường Lê Văn Duyệt tôi có thể vẫy tay báo hiệu cho chị Bền.

Xe vừa ra tới cổng, tôi đã thấy chị Bền và đứa con gái lớn của chị đứng bên lề vẫy tay. Tôi chắc mẩm rằng, thế nào chiều nay gia đình tôi cũng sẽ nhận được tin tôi bị đưa đi xa rồi.

Chúng tôi được chở đi quanh co một hồi rồi đậu trước khám đường Chí -Hòa.

Tên cán bộ trưởng toán ra lệnh cho chúng tôi xuống xe rồi dẫn chúng tôi đi vòng vòng một lúc sau thì chui vào một cái sân cỏ nhỏ. Y bảo chúng tôi đứng chờ nơi sát cổng, còn y thì ôm một tập hồ sơ đi vào phòng trực.

Tôi thấy dưới hiên một dãy nhà có vài người đứng chen chúc nhau. Trong số những người đang đứng lố nhố đó, tôi nhìn mặt được ba ông Biệt Ðộng Quân là Hồ Văn Hòa, Lương Ðình Chi và Nguyễn Hiệp. Tôi giơ tay vẫy họ, họ vẫn tỉnh bơ, có lẽ họ không nhận ra tôi.

Sau mười phút đợi chờ, tên cán bộ trưởng đoàn hối hả đi ra, y ngoắc tay cho chúng tôi đi theo.

Tới xe, y lớn tiếng nói với tên Việt-Cộng tài xế,

– Hết chỗ rồi! Chúng nó không nhận! Mình đi Quang Trung!

Xe nổ máy chạy ra ngoại ô Sài-Gòn, hướng về Trung Tâm Huấn Luyện Quang-Trung.

Tới cổng Trung Tâm Huấn Luyện Quang-Trung tên cán bộ trưởng đoàn lại lếch thếch ôm cái cặp đi vào.

Lần này chúng tôi không được xuống đất, mà phải ngồi yên tại chỗ. 

Mười phút sau thằng Việt-Cộng lại đi ra, lại ban lệnh cho thằng tài xế,

– Hết chỗ rồi! Chúng nó không nhận! Mình về Hoa Lư!

Trưa hôm đó chiếc GMC chở chúng tôi ngừng bánh trước một tòa nhà khá lớn nằm đối diện với sân vận động Hoa Lư trên đường Ðinh Tiên Hoàng. Vị trí này là cơ ngơi của một bộ gì đó tôi không nhớ, nay là chỗ đóng quân tạm thời của một đơn vị trực thuộc Quân Khu 7 Cộng-Sản. Trước sân có vài chiếc xe quân sự đang đậu.

Tên cán bộ dẫn giải ôm cặp hồ sơ đi vào cổng, mười phút sau lại đi ra.

Lần này y cho chúng tôi xuống xe. Chỉ tay về hướng căn phòng cuối dãy nhà, y ra lệnh,

– Các anh chị vào nghỉ trong đó, chờ phương tiện đi Quân Khu Ngoài!

Tôi nghĩ: “Quân Khu Ngoài chắc là Quân Khu 5 và Quân Khu 6”

Ngay khi đó, hai cán bộ Việt-Cộng khác từ sau khu dinh thự tiến ra vẫy tay gọi tên trưởng toán dẫn giải; rồi cả ba chụm đầu vào nhau bàn tán.

Mấy phút sau, ba tên này vừa nhìn về phía chúng tôi vừa viết viết, ký ký cái gì đó trên một mảnh giấy.

Cuối cùng, một thằng già Nghệ-Tĩnh bước tới trước mặt chúng tôi. Y hắng giọng “khạc! khạc!” vài ba cái rồi nói,

– Tôi đã ký nhận danh sách của các anh chị. Các anh các chị cứ ở tạm đây. Hôm nào có người ở Quân Khu Ngoài vào nhận, tôi sẽ cho các anh các chị đi. Bây giờ các anh các chị có thể về nhà, sáng mai đúng 8 giờ phải có mặt ngay chỗ này!

Nghe được câu này, tôi khoan khoái thở ra: “Thế là chưa sao! Chưa sao!”

Xế chiều, tôi mò về tới quán của chị Bền. Tôi kể cho chị hay diễn biến chuyện đã xảy ra trong ngày. Chị gật gật đầu,

– Như vậy chú còn hên hơn anh Bền! Không rõ giờ này anh Bền ở đâu? Chắc không lâu nữa chú sẽ bị chở đi gặp anh Bền. Gặp anh Bền, chú nhớ nói với anh ấy rằng, vợ con anh ấy suốt ngày cầu Trời Phật phù hộ, độ trì cho anh ấy. Vợ con anh ấy vẫn mong đợi từng ngày để gặp lại anh ấy!

Chị Bền đưa hai bàn tay lên vuốt mặt, nước mắt đã rơi, chị tôi không nói thêm được lời nào nữa…

Hôm đó tôi về tới nhà sớm hơn mọi ngày. Vợ chồng con cái chở nhau trên chiếc Honda đi quanh phố một vòng mà thấy trong lòng thật là vui, quên hết muộn phiền, lo âu.

Từ ngày 22 tháng 5 tôi không còn dùng Honda để làm phương tiện di chuyển nữa; tôi tới sân vận động Hoa Lư theo hai tuyến đường xe Lamb. Vì nếu tôi tiếp tục dùng Honda mà bất chợt người ta bắt tôi đi, thì gia đình tôi làm sao hay biết mà đi tìm xe? Vả lại cái sổ chủ quyền của chiếc xe lúc nào cũng phải nằm trong túi người lái nó. Lái xe mà không có sổ chủ quyền, gặp các trạm kiểm soát giao thông thì xe sẽ bị tịch thu ngay. Người nhà có tìm ra xe mà không có sổ chủ quyền thì cũng bó tay. Trong thời gian gửi xe ở quán cháo lòng của vợ anh Bền, tôi cũng gửi chị Bền cái sổ chủ quyền chiếc Honda của tôi.

Ðược cái là vấn đề kiểm soát giờ giấc của bọn Việt-Cộng này cũng rất dễ dãi, không chút khắt khe. Chúng tôi có tới trễ, tới muộn nửa giờ, một giờ, cũng không ai làm khó dễ gì.

Hàng ngày chúng tôi chỉ cần có mặt ký tên trên sổ điểm danh một lần, rồi muốn đi đâu thì đi, lâu lâu lại tạt về phòng cho có mặt.

Gần tới cuối tháng chúng tôi có thêm hai ông bạn mới. Hai ông này là hai ông thiếu tá khóa 10 Ðà Lạt; một ông làm Trưởng ty Cảnh-Sát, một ông làm Trưởng ty Chiêu-Hồi. Chẳng rõ các ông này do cơ quan nào mang tới gửi ở đây. Chắc hai vị này cũng là những người đang chờ bị bốc đi như chúng tôi.

Mãi hai ngày sau tôi mới biết ông Trưởng ty Cảnh-Sát tên là Nguyễn Hồ Ðịch, còn ông Trưởng ty Chiêu-Hồi tên là Trần Hướng Trung.

Một buổi trưa tôi rủ hai ông đàn anh Võ-Bị tản bộ ra ngã tư ăn bún bò. Khi chúng tôi quay về thì thấy bốn người Quân Khu 6 đang tụ họp trong văn phòng để làm việc gì đó. Lúc trở ra mặt người nào người nấy đều có vẻ tươi vui. Chúng tôi đang chuẩn bị đi về, nên không kịp hỏi han xem có chuyện gì đã xảy ra. Sáng hôm sau thì bốn người bạn này không xuất hiện nữa.

Thấm thoát đã qua đầu tháng 6, qua tin truyền đi trên Truyền Thanh và Truyền Hình thì Ủy Ban Quân Quản Thành Phố đã ra thông cáo rằng sĩ quan cấp thiếu tá trở lên sẽ phải trình diện đi học tập cải tạo tại vài địa điểm trong Sài-Gòn.

Tên Việt- Cộng thường ngồi nhận chữ ký hằng ngày của chúng tôi cho chúng tôi biết rằng từ nay Quân Khu 7 sẽ không cho phép các Quân Khu khác tới nhận người nữa. Như thế là chúng tôi không còn phải lo lắng chuyện sẽ bị chuyển giao cho các Quân Khu Ngoài.

Y nói, chúng tôi chỉ cần có mặt ở đây vào ngày các lớp học tập khai giảng thì đơn vị này sẽ cung cấp phương tiện để đưa chúng tôi tới trường, tới lớp. Y nhắc nhở chúng tôi nhớ chuẩn bị đem theo áo quần cùng những vật dụng cần thiết như kem đánh răng, bàn chải để tiện dùng trong thời gian một tháng học tập xa nhà.

Cũng từ ấy, chúng tôi có thể chia phiên nhau, một người có mặt, hai người kia ở nhà. Ba chúng tôi đều biết địa chỉ của nhau. Do đó, người trực có thể đi kêu hai người kia nếu có chuyện gì cần gấp.

Tên cán bộ quản chế cho chúng tôi biết rằng các trung tâm sẽ nhận người đăng ký từ ngày 13 tới 15 tháng 6 năm 1975. Chúng tôi sẽ được chở tới trung tâm vào ngày cuối, tức là 15 tháng 6 để khỏi phải chờ lâu tại trung tâm trước khi tới địa điểm học tập.

Ðúng 12 giờ trưa ngày 15 tháng 6 năm 1975 tôi và hai ông đàn anh được đưa lên xe để di chuyển tới các trung tâm tiếp nhận.

Xe chạy thẳng một lèo tới Trường Trung Học Lasan Taberd thì ngừng, tôi bị gọi xuống. Tên cán bộ hướng dẫn đem tôi vào văn phòng của trường, giao nạp tôi cho một sĩ quan Cộng-Sản.

Cầm cái biên nhận tù binh, tên cán bộ dẫn giải bắt tay tôi rồi nói,

– Mừng anh! Chúc anh học tập tốt, lao động tốt để sớm về sum họp với gia đình.

Sau đó tôi được một tên bộ đội dẫn lên lầu để nhập bọn cùng vài sĩ quan cấp thiếu tá đã trình diện sáng nay; vì vậy tôi không rõ hai ông thiếu tá khóa đàn anh của tôi bị đưa tới trung tâm nào. Mãi tới sáu năm sau, 1981 tôi mới gặp lại hai vị này ở Trại Z30C Hàm-Tân, Thuận-Hải.

Từ 15 tháng 6 năm 1975 tôi bắt đầu một chuyến đi xa dài ngày…

Nửa năm đầu, từ tháng 6 năm 1975 tới giữa tháng 10 năm 1975 tôi bị giam tại trại Long-Giao. Qua một tháng sống đời tù đày, tôi bắt đầu có ý định vượt ngục. Tôi đã bàn chuyện trốn trại cùng hai ông thiếu tá cựu quận trưởng, nhưng giờ chót hai ông này thối chí, nên tôi đành phải huỷ bỏ mưu đồ.

Nửa năm kế đó tôi bị chuyển về trại giam Suối Máu, Tam-Hiệp, Biên-Hòa, chờ ngày bị đưa ra Bắc.

Hai tuần lễ sau ngày bị đưa ra đất Bắc, nửa đêm 8 tháng 8 năm 1976, tôi vượt ngục lần đầu. Trải qua mười ngày lặn lội trong rừng dưới cơn bão số 6, tôi và người bạn đồng hành bị bắt lại, bị cùm, bị đánh đập, khảo tra, rồi được cho về Ðội 11, Trại 4, Liên Trại 4 để tiếp tục lao động.

Một hôm trời giăng giăng mưa phùn, tôi và bạn tù đi cấy lúa vần công cho Thôn Nam Xã Cẩm-Nhân, Yên-Bình, Yên-Bái thì thấy hai ông tù cải tạo khiêng một cái võng có người nằm bên trong.

Cái võng được phủ bằng chiếc mền Trung Cộng màu đỏ. Theo sau cái võng là một ông tù đeo cái balô, có lẽ trong balô là tài sản của người nằm trên võng.

Có một vệ binh Việt-Cộng đeo AK đi canh chừng đằng sau ông tù đeo balô. Chắc mấy người này đang đưa một ông tù bệnh nặng lên bệnh xá của liên trại để chữa trị.

Tôi ngừng tay cấy, lớn tiếng hỏi,

– Ê! Ai đó? Các cha?

Ông tù mang ba lô liền lớn tiếng đáp lời,

– Tước! Tước rằn ri!

– Phải Nguyễn Ðỗ Tước Biệt Ðộng Quân không?

– Ðúng rồi!

– Bệnh gì vậy?

– Kiết lỵ!

Chiều hôm đó cái võng lại quay về, vẫn có chiếc mền đỏ Trung Cộng phủ bên trên.

Tôi lại hỏi,

– Hết bệnh chưa?

Ông tù mang ba lô lại đáp lời,

– Chết rồi!

Tôi chỉ còn biết ngậm ngùi đứng nhìn theo bóng chiếc mền đỏ đi xa dần về hướng Trại 8 nơi Ðèo Lũng Ngàn.

Ngày xưa, trước tôi, Trung tá Nguyễn Ðỗ Tước đã là Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân ở Pleime. Tết Dương Lịch 1978 vừa đi qua thì tôi vượt ngục lần thứ hai. Sau hai tháng lặn lội trong rừng, chưa vượt khỏi biên giới Việt-Lào, tôi lại bị bắt. Thất bại lần này, qua những trận khảo đả dã man của kẻ thù mà tôi không thành người tàn phế cũng là nhờ phúc đức ông bà đã che chở cho tôi.

Năm 1981 tôi bị chuyển trại về Nam, trại tù mới có tên Z30C Hàm-Tân, Thuận Hải.

Rồi một sớm tinh mơ cuối năm 1984 tôi vượt ngục lần thứ ba.

Chuyến Xe Tháng 5

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 8th Jul 2021

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Kỳ 2

Lời giới thiệu: 

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Anh chị Bền là người Nam chính gốc, còn tôi lại là dân Bắc (Di Cư) chính gốc; vậy mà chỉ qua vài ngày sơ giao chúng tôi đã thấy thân thiết nhau. Vợ chồng Trung sĩ Bền coi tôi như em, ba đứa con của anh chị Bền thì gọi tôi là “Chú Long”. Ngoài tên ông Bền ra, tới nay tôi chỉ còn nhớ, ông Thiếu úy Thám Báo tên là Bổn, một ông sĩ quan Ban 2 chi khu tên Nghĩa, ông phản gián tên Phụng; tên của hai người còn lại thì tôi quên mất rồi.

Những ngày sau đó cũng có vài người tới trình diện phòng Z, nhưng chỉ qua vài chục phút tiếp xúc thẩm vấn là họ được cho về. Quân số phòng Z hầu như cố định 7 người. Chúng tôi cứ 8 giờ sáng có mặt, cùng nhau tán gẫu, 6 giờ chiều lại chia tay, sau khi nghe một hồi kẻng báo giờ phát đi từ giữa sân cờ.

Hàng ngày, nhân dịp đi loanh quanh trong sân, tôi được biết những phòng đánh số khác cũng là chỗ quy tụ những quân nhân đặc biệt được gọi về chờ các cơ quan quân sự địa phương tới tiếp nhận.

Sau vài bữa, đã có nhiều bảng 40X40 cm được tháo gỡ, chỉ còn lác đác vài phòng là còn người đi vào, đi ra.  Chắc những người bị gọi tập trung thanh lọc trong những phòng bỏ trống đó đã được các cơ quan quân sự địa phương đem đi hết rồi.

Một hôm tôi đang trên đường từ nhà vệ sinh công cộng trở về phòng Z thì thấy tên cán binh người Hải Hưng đang đứng chờ tôi dưới một gốc phượng đầy xác hoa.

Y ngoắc tay ra dấu cho tôi đi ra đằng sau dãy nhà ngang. Mắt y đảo quanh một cái thật nhanh rồi nhỏ giọng, vừa đủ cho tôi nghe: 

“Anh Long à! Nếu anh mà bị đưa về Quân Khu 5 thì khó toàn mạng đó! Có trốn được thì trốn đi! Cố gắng kín miệng, đừng cho ai biết tôi đã nói với anh điều này!”

Tôi chưa mở miệng nói được tiếng nào thì y đã hấp tấp phẩy tay đuổi tôi đi.

Suốt ngày hôm đó tôi cứ băn khoăn suy nghĩ. Cứ theo lời tên cán binh này thì chắc chắn tôi nằm trong số những nhân vật đặc biệt mà Quân Khu 5 Cộng-Sản nhắm vào.

Chắc chắn tình trạng của tôi và những anh bạn cùng phòng sẽ lành ít dữ nhiều trong những ngày sắp tới.

Tối đó, về tới nhà, nhìn thấy 3 đứa con nheo nhóc, đứa lớn nhất mới 3 tuổi rưỡi, đứa thứ nhì 2 tuổi rưỡi, đứa thứ ba vừa chập chững biết đi, vợ tôi lại đang mang bầu sắp tới ngày sinh, tôi không dám nghĩ tới chuyện bỏ vợ con mà đi trốn.

Ngày Ban Mê Thuột thất thủ tôi những tưởng vợ chồng tôi sẽ chẳng còn gặp lại nhau. Trong những ngày khói lửa ở Ban Mê Thuột, một quả bom từ máy bay thả xuống giữa phố, đứa con gái lớn của tôi đã bị một mảnh bom ghim vào cánh tay. Hơn hai tháng nay vết thương trên tay con tôi còn đau, mảnh bom còn nằm trong cánh tay nó. Nay mẹ tôi vừa đón được vợ tôi và 3 đứa bé về Sài-Gòn chưa được mấy ngày, tôi đã bị cấm túc.

Suy đi, tính lại, dù gì thì hiện giờ đêm đêm tôi vẫn nhìn thấy vợ thấy con, còn hạnh phúc.

Thôi đành kệ! Ai sao mình vậy! Ngày mai muốn ra sao thì ra!

Tuy thế, trong thâm tâm, tôi vẫn lo lắng không yên.

Tôi cũng không dám chia sẻ những gì mà tên cán bộ Việt-Cộng đã tiết lộ cho tôi, vì thời buổi này tôi không tin ai, lỡ mình phơi bày tâm tư cho người ta biết, người ta quay sang phản mình, đi tố cáo mình để lập công thì mình chết chắc. Tuy vậy, tôi thấy trong hoàn cảnh này, chính tôi và những người đồng cảnh của tôi cũng rất cần những sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau.

Trưa hôm sau, vào giờ ăn trưa, trong quán cháo của bà Bền, tôi đứng lên hỏi ý mấy ông bạn cùng phòng,

– Các bác ơi! Nếu bất ngờ tụi mình bị đưa đi chỗ khác thì các bác có cách gì báo tin cho gia đình biết?

Vừa nghe tôi hỏi, ông Huỳnh Thanh Bền đã nói ngay,

– Các ông cứ chuẩn bị sẵn một lá thư có địa chỉ gia đình rồi giao cho bà xã tôi cất. Ngày nào mình bị bốc đi thì nhà tôi sẽ chuyển thư của quý vị tới tận nhà để thân nhân quý vị biết mình đã đi khỏi đây rồi.

Anh Thiếu úy Thám Báo Tỉnh bổ sung thêm,

–  Tôi có ý kiến là các ông nên viết sẵn một lá thư mở đầu với câu: Nhờ ai nhặt được thư này thì ghi giùm địa danh nơi thư này rơi, rồi gửi nó về địa chỉ của gia đình tôi ở địa chỉ sau đây…Ða tạ! 

Sau đó các ông cuốn lá thư trong một tờ giấy bạc 500. Tới địa điểm mới thì mình đánh rơi thư này. Thấy tiền, người ta sẽ lượm, rồi có thể, người ta sẽ giúp gửi thư đi cho mình, gia đình mình sẽ biết mình bị đưa đến đâu.

Tôi nghĩ thầm:

“Công nhận ông Bổn Răng Vàng này đa mưu thật!”

Anh chàng Thiếu úy Bổn là người ăn nói rất lưu loát, miệng anh ta lại có cái răng nanh bịt vàng, quen nhau rồi, tôi cứ gọi anh ấy là “Bổn Răng Vàng”.

Thế là sáng hôm sau trước giờ chúng tôi trình diện ở phòng Z thì trong túi bà vợ ông Huỳnh Thanh Bền đã có 6 lá thư nhắn tin, và trong túi của 7 anh em trong phòng Z đều có sẵn một cuộn giấy tròn như cái pháo tép, bên ngoài lá thư được bao bởi tờ giấy bạc 500 đồng do Ngân Hàng Quốc Gia Việt-Nam phát hành.

Một buổi chiều giữa tháng 5, tôi vừa mở khóa chiếc Honda chuẩn bị đi về thì một người khách qua đường dừng chân bên quán cháo lòng,

– Ðại ca! Ðại ca!

Tôi quay mặt lại, nhận ra ngay người vừa gọi mình là ông Trung úy Ðại đội trưởng một Ðại Ðội Ðịa Phương Quân của tỉnh Bình-Long. Suốt trận Xuân-Lộc tháng 4 năm 1975, đơn vị Ðịa Phương Quân của ông này đã nằm dưới quyền chỉ huy của tôi. Tôi và ông trung úy này chia tay nhau chiều 23 tháng 4 tại căn cứ Long-Bình.

Ông trung úy người Cái Sắn nắm tay tôi thật chặt,

– Em đi kiếm đại ca cả tuần nay. May quá giờ gặp rồi! Gặp rồi!

Tôi cũng cảm động,

– Chú bình an chứ? Ði đâu đây? Kiếm anh làm gì vậy?

Người đàn em ghé tai tôi thì thầm,

– Ðại ca ơi! Về Cái Sắn với em! Ba ngày nữa tụi mình sẽ vượt qua Cao Miên rồi trốn sang Thái Lan. Em có đường dây đưa đi an toàn trăm phần trăm. Ðại ca đi với em nhé! Gia đình em sẽ trang trải hết mọi phí tổn cho anh em mình!

Thật bất ngờ, nhưng tôi vẫn còn tỉnh trí. Tôi buồn rầu nói,

– Anh không đi được! Tình cảnh gia đình của anh không cho phép! Chú đi một mình đi! Chúc chú thượng lộ bình an! 

Từ ấy tôi không rõ người anh em này phiêu dạt nơi đâu. Tôi luôn cầu mong cho chú ấy luôn luôn gặp những điều may mắn.

Vậy là, trong khoảng thời gian không đầy nửa tháng sau chiến tranh tôi đã có những cơ duyên được bạn bè và cả người phía bên kia giúp đỡ. Nhưng tôi đã không dám hành động để tự cứu mình. Thời gian này, hầu như tôi đã xuôi tay, nhìn cái thòng lọng cứ từ từ siết chặt dần quanh cổ mình.

Thế rồi…

Sáng 20 tháng 5 tôi vòng xe sang đường Lê Thánh Tôn để mua một ổ bánh mì thịt, rồi chạy thẳng lên Tòa Ðô Chánh để cho anh Thiếu úy Thám Báo Tỉnh quá giang. Nhà anh này ở trong con hẻm cách Toà Ðô Chánh chừng một trăm thước. Anh này không có xe, cả tuần lễ nay anh ta phải tới Trại Lê Văn Duyệt bằng hai chặng xe Lamb chuyển tiếp.

Ba tuần lễ sau ngày Miền Nam sụp đổ, Tòa Ðô Chánh Thủ Ðô Sài-Gòn đã có bộ mặt mới, với lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam to tổ bố cùng toán bộ đội nón cối, dép râu ôm súng AK47 gác trước cổng.

Tới cổng Tòa Ðô Chánh, tôi giảm ga cho xe chạy từ từ theo bảng chỉ đường giới hạn 5 Km/ Giờ.

Ðoàng! Ðoàng! Ðoàng!”

bất thình lình, một tên bộ đội Việt-Cộng từ hiên Tòa Ðô Chánh nhảy ra giữa phố.

Tên Việt-Cộng này có lẽ là sĩ quan, vì bên hông y có đeo một cái cặp da tòn ten.

Y giơ một tay chận xe tôi lại, tay kia giương cao khẩu K54 bắn ba phát chỉ thiên, miệng la,

– Ðứng lại! Ðứng lại!

Chẳng hiểu chuyện gì, tôi vội răm rắp tuân lệnh của người cầm súng, tấp xe vào lề đường, thắng lại.

Thằng Việt-Cộng chĩa súng ngay đầu tôi, rồi nhảy lên, ngồi trên yên sau, miệng y hét lớn,

– Anh khẩn trương chở tôi lên Bộ Tổng Tham Mưu Ngụy! Nhanh lên! Nhanh lên!

Tôi im lìm nhấn chân sang số, xe đi tới.

Chạy được vài chục thước, tôi thấy trước mặt, bên đường, là anh bạn Bổn Răng Vàng, Thám Báo Tỉnh. Tôi đạp thắng cho xe chạy chậm lại, thì thằng Việt-Cộng hét to,

– Ði! Ði! Cấm dừng!

Thấy một thằng Việt-Cộng vừa kê súng vào đầu tôi, vừa la hét oang oang, ông Thiếu úy Thám Báo Tỉnh cũng hoảng hồn, vội vàng bước thối lui vào lề đường.

Thế là tôi phải vặn tay tăng ga cho chiếc Honda vọt lên. Bạn tôi đứng ngẩn người nhìn theo.

Tôi đâu có biết đường nào lên Tổng Tham Mưu? Tôi cứ chạy vòng vo trong khu Yên Ðổ, Hai Bà Trưng hoài.

Thấy thế, thằng Việt-Cộng lớn tiếng ra lệnh,

– Anh chạy theo lệnh tôi! Chạy thẳng! Rẽ phải! Rẽ trái! Chạy thẳng! Rẽ phải! … 

Xe qua cầu Trương Minh Giảng một lúc lâu mới tới Bộ Tổng Tham Mưu…

“Kia rồi! Dừng lại!” 

Vương Mộng Long và Mẹ tháng 4 năm 1993

Hóa ra một thằng Việt-Cộng vừa ra khỏi rừng mấy ngày mà đã thông thuộc đường sá Sài-Gòn hơn một thiếu tá tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân Vùng 2 của Việt-Nam Cộng-Hòa!

Tới cổng sau của Bộ Tổng Tham Mưu, tôi tưởng mình thoát nạn, nào ngờ,

– Anh đỗ xe ở đây! Không được thoái bộ! Chờ tôi họp xong, tôi sẽ quay ra! Nghe rõ chưa?

Y chỉ chỗ cho tôi tắt máy và đậu xe sát vọng gác bên hông của Bộ Tổng Tham Mưu rồi ra lệnh cho mấy tên bộ đội trong điếm canh,

– Tôi giao cho các đồng chí nhiệm vụ quản chế anh này! Giữ anh ta tại đây cho tới khi hội họp xong tôi sẽ trở ra. Nếu anh ta thoái bộ thì các đồng chí cứ việc bắn! Ðừng bắn chết là được! Cứ bắn gãy chân thôi! Nghe rõ chưa?

Tôi ngồi xuống bờ cỏ bên vọng gác, móc túi lấy điếu thuốc Ruby ra hút đốt thời giờ. Tôi hút tới điếu thuốc thứ ba mà tên cán binh Việt-Cộng vẫn chưa ra. Ðã tới 8 giờ, giờ điểm danh của ban tiếp quản Quân Khu 5, mà tên Việt-Cộng vẫn chưa ra.

Tôi mon men tới bên vọng gác,

– Anh bộ đội ơi! Ðã tới giờ tôi phải có mặt ở Ủy Ban Quân Quản Thành Phố, tôi có thể đi được không? 

“Crách! Crách!” cùng với tiếng lên cò súng là khẩu lệnh,

– Ngồi xuống đó! Cấm di chuyển! Anh mà bước khỏi đây một bước là tôi bắn!

Thế là tôi đành ngồi xuống.

Tôi dự trù nếu thằng cán binh ác ôn mà trở ra, tôi sẽ đòi nó ký cho tôi tờ giấy chứng nhận lý do vì sao tôi tới phòng Z trình diện trễ.

Thoáng chốc mặt trời đã tới đỉnh đầu. Sài-Gòn tháng Năm trời vừa nắng cháy da, vừa ẩm ướt hầm hầm như đang trông chờ những cơn mưa bóng mây.

Gặm xong ổ bánh mì thịt, tôi thấy cổ khô ran, khát nước. Tôi lại mon men tới bên vọng gác,

– Anh bộ đội ơi! Tôi xin phép đi sang bên kia đường để mua nước uống có được không?

– Ngồi xuống đó! Ði là tôi bắn! Không có nước nôi gì hết! Nghe rõ chưa?

Tới hai giờ chiều thì bụng tôi căng như cái trống, tôi lại mon men tới bên vọng gác,

– Anh bộ đội ơi! Tôi xin phép vào nhà xí của trại để đi tiểu tiện có được không?

– Cần gì phải vào nhà xí! Anh cứ ngồi xuống vạch cu ra mà đái! Không ai thèm nhìn anh đái đâu!

Cố nín thêm chừng một giờ sau nữa, tôi cũng đành phải mở nút quần. Tôi nhắm mắt, đái đại ngay trên lề cỏ bên đường.

Ðồng hồ tay của tôi chỉ đúng 4 giờ chiều thì tên cán bộ mới xuất hiện. Vừa phóng lên yên sau, y đã hối,

– Khẩn trương lên! Họp hành gì mà lâu quá! Tôi đói lắm rồi! Anh mau mau chở tôi về lại Tòa Ðô Chánh! Mau lên! Mau lên!

Trên đường về, thằng Việt-Cộng không còn kê súng lên đầu tôi nữa.

Vì đã biết đường đi, nên lúc về tôi không bị lạc. Tới cổng Tòa Ðô Chánh tên cán bộ xuống xe, rồi mở cái cặp da,

– Anh tính tiền xe ôm thuê bao cả ngày hôm nay là bao nhiêu? Tôi sẽ trả cho anh! Anh làm việc có lương tâm lắm! Tôi tuyên dương anh đấy!

Thì ra thằng Việt-Cộng này tưởng lầm tôi là một anh chạy xe ôm! Tôi nói,

– Anh nhầm rồi! Tôi không phải xe ôm! Nhưng thôi! Anh không cần trả tiền tôi, mà hãy ký cho tôi cái giấy chứng nhận rằng anh đã trưng dụng tôi chạy xe đưa anh đi công tác suốt ngày nay để tôi xuất trình cho Ủy Ban Quân Quản Thành Phố. 

Nghe tôi nói, tên cán bộ hơi ngẩn người ra một giây, rồi nhẹ giọng,

– Vậy thì xin lỗi anh nhé! Ðược rồi! Tôi sẽ ký giấy làm chứng cho anh.

Nói xong, y mở cái cặp da, rút ra một quyển sổ công lệnh của Quân Khu 7, tờ nào cũng có con dấu đỏ chót.

Y xé một tờ rồi ghi trên đó mấy chữ:

“Chứng nhận đã sử dụng nhân công này từ 8 giờ sáng tới 5 giờ chiều ngày 20 tháng 5 năm 1975” 

Y ký tên rồi đưa tờ công lệnh cho tôi,

– Ði đi! Yên chí sẽ không có ai làm khó dễ anh đâu!

Quá 5 giờ chiều tôi mới tới cái lều bán cháo lòng của chị Bền. Thấy tôi, chị Bền lo lắng hỏi,

– Ủa! Sao giờ này chú mới tới? Trưa nay anh Bền và mấy ông phòng “ZÉT” không ra ăn cơm. Chú vào trong đó xem có gì lạ thì ra báo cho chị hay.

Tôi khóa xe rồi đi vào trại. Khu doanh trại của bộ đội vẫn sinh hoạt bình thường. Dãy nhà ngang là khu tiếp quản chỉ còn một phòng Y là có người. Phòng Z cửa cũng mở toang, cái bảng carton 40X40 cm có chữ “Z” đã bị gỡ bỏ, trong phòng không thấy bóng dáng ai.

Chuyến xe tháng 5

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 30th Jun 2021

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Kỳ 1

Lời giới thiệu:

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Ðời tôi đã có một tháng 5 tràn đầy hạnh phúc, đó là tháng 5 năm 1969. Vào một ngày đẹp trời giữa tháng 5 này, ở Ban Mê Thuột, tôi đã gặp được người trong mộng ước của mình. Người con gái tôi gặp ngày đó đã thành người tôi yêu suốt đời. Người đó đã trở thành mẹ của 4 đứa con tôi, đã thành bà của 5 đứa cháu tôi. Hơn thế nữa, người đó, với tôi còn là một người vợ chung thủy, đồng thời là một người bạn tri kỷ không ai thay thế được.

Tóm lại, từ lâu lắm rồi, tháng 5, với tôi đã trở thành một tháng thần tiên, trừ ra một tháng 5 thật là đáng ghét, nhưng tôi cũng không thể nào quên nó được, đó là tháng 5 năm 1975.

Tôi đã sống qua những ngày đau thương của cái tháng 5 năm ấy, đã bị giằng co bởi những quyết định sống còn của cuộc đời mình, đã xuôi tay chấp nhận cái chết, và đã chứng kiến những cảnh chia ly não lòng.

Tháng 5 năm 1975 trên toàn cõi Việt-Nam không còn tiếng súng giao tranh, nhưng có những người đi không thấy về.

Sáng 1 tháng 5 năm 1975 tôi lang thang trong vùng Ngã Bảy Chợ-Lớn, trên đường tìm về nhà mẹ tôi.

Ngày hôm trước đơn vị của tôi đã bị đánh tan. Ðêm qua, sau khi trốn thoát một cuộc truy sát của kẻ thù, tôi vào tá túc trong nhà một người quen nằm trên đường An-Bình, Chợ Lớn.

Tới trưa 1 tháng 5 tôi mới về tới nhà. Vậy mà chỉ vài giờ sau đã có lệnh kêu tôi sáng mai phải có mặt ở văn phòng liên gia trưởng khu phố để khai báo lý lịch.

Sáng 2 tháng 5 năm 1975, tôi rời nhà ra chợ tìm tới văn phòng liên gia trưởng. Văn phòng liên gia là một căn nhà nhỏ vách phên, lợp tranh, nằm sát bên một hiệu tạp hóa lớn của người Hoa.

Lúc tôi tới văn phòng thì đã có vài vị cựu sĩ quan Quân- Lực Việt- Nam Cộng- Hòa hiện diện ở đây rồi. Những vị này là người cư trú trong liên gia này. Họ và ông liên gia trưởng có vẻ không lạ lẫm gì nhau.

Hình như chỉ có mình tôi là người xứ khác, không phải là dân Sài-Gòn. Vì đơn vị tôi bị tan hàng, nên tôi mới phải chạy về tá túc ở đây.

Nghe các ông sĩ quan nói chuyện, tôi được biết ông đứng ghi danh trước tôi là một trung úy An-Ninh Quân-Ðội, nhà ông này ở ngay đầu hẻm và cách nhà mẹ tôi chừng năm, sáu căn. Bên cạnh tôi là ông đại úy Không Quân ở cách nhà tôi ba căn. Sau lưng tôi là ông chủ tiệm gạo bên kia đường, ông này là đại úy sĩ quan Công Binh.

Ông liên gia trưởng khu phố TK9 phường Nguyễn Cảnh Chân mà mẹ tôi cư trú là bác Thọ. Nhà của bác Thọ cách nhà mẹ tôi một con hẻm nhỏ.

Vì là hàng xóm, hôm qua bác Thọ đã chứng kiến cảnh mẹ tôi khóc sướt mướt khi tôi bước vào nhà, nên vừa nhìn thấy mặt tôi, bác đã niềm nở,

– Bác có nghe má cháu nói cháu đi lính ngoài Miền Trung. Chắc cháu mới chạy về phải không? Cháu mau xưng tên họ để bác ghi vào sổ. Cháu là lính Ðịa Phương Quân phải không? Cháu là trung sĩ chứ gì? Cháu chỉ cần khai vắn tắt thôi! Quan trọng nhất là cái địa chỉ tạm trú phải khai cho đúng! Nếu Cách Mạng có lệnh gì thì bác cứ theo địa chỉ mà thông báo cho cháu.

– Thưa bác, bác ghi tên cháu là Vương Mộng Long, nhưng cháu không phải là trung sĩ…

Tôi nói chưa hết câu, “cháu không phải là trung sĩ mà là thiếu tá…” thì bác Thọ đã lớn tiếng phán một cách chắc chắn như đinh đóng cột,

– Cháu và thằng con bà hàng xóm nhà cháu ngang tuổi, ngang lớp với nhau, nó khai là trung sĩ thì cháu cũng là trung sĩ thôi, không thể khai là binh nhất hay binh nhì được đâu! Tội gian khai là nặng lắm đó!

Hai ông sĩ quan đứng bên tôi cũng gục gục đầu khuyên:

“Trung sĩ thì cứ khai là trung sĩ, có gì đâu mà phải sợ? Khai man hay giấu giếm cách gì thì người ta cũng phát giác ra thôi!”

Bác Thọ hất hàm ra lệnh cho anh thư ký,

– Số thứ tự 25 là Vương Mộng Long, cấp bậc trung sĩ Ðịa Phương Quân, địa chỉ TK9…

Tôi chưa kịp phản đối thì bác Thọ gọi người tiếp theo, đó là ông chủ tiệm gạo. Ông sĩ quan Công Binh này là một người cao to như một vị hộ pháp. Ông ta vừa bước lên là tôi bị văng sang bên ngay.

Trong lúc ông đại úy khai tên và đơn vị thì tôi thấy nơi cuối hàng có một bàn tay ai đó giơ lên vẫy gọi mình,

– Long! Long ơi! 

Tôi giơ tay vẫy lại,

– Chờ chút! Chờ chút! 

Rồi tôi sấn tới trước bàn giấy, cầm tay bác Thọ,

– Cháu có việc phải đi ngay! Yêu cầu bác đính chính lại số thứ tự 25 Vương Mộng Long là thiếu tá Biệt Ðộng Quân, không phải trung sĩ Ðịa Phương Quân!

Ông liên gia trưởng ngớ người ra,

– Cháu không nói đùa đấy chứ! Xóm mình từ xưa tới giờ làm gì có ai là sĩ quan cấp tá!

Tôi nghiêm mặt,

– Cháu nói thật đấy! 

Ông đại úy chủ tiệm gạo nheo mắt nhìn tôi rồi buột miệng,

– Ðù mạ! Giờ này mà còn hám danh! Khoa trương! Làm oai!

Chắc ông đại úy nghĩ tôi chỉ là một anh trung sĩ hám danh, man khai thành thiếu tá để lấy le nên ông ta lớn tiếng chửi thề cho bõ ghét.

Mấy vị sĩ quan đứng gần đó cũng cau mày, nhăn mặt tỏ vẻ khó chịu và khinh bỉ. Có lẽ vì thấy tôi có vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, lại ăn mặc không được chững chạc lắm, nên bà con cho rằng tôi chỉ là một hạ sĩ quan nhưng thích làm oai. Chờ cho anh thư ký điều chỉnh xong lời khai báo của tôi, tôi chui ra khỏi đám đông để gặp người vừa vẫy tay gọi tên mình.

Thì ra đó là ông Thiếu tá Lương Ðình Chi, cựu Trưởng ty Cảnh-Sát Bà-Rịa, một người bạn vong niên của tôi. Nhà ông ta ở bên kia đường, ngay góc Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Biểu. Ông Chi vô tình ghé đây. Nhìn thấy tôi trong đám đông, nên ông ta giơ tay vẫy gọi. Ông ta cũng vừa tới văn phòng liên gia trưởng của ông để khai báo.

Ðâu ngờ, cái chuyện khai báo lý lịch xem ra thật đơn giản và không có gì đáng lo ngại, vậy mà nó che đậy một cái bẫy sập ghê gớm.

Chỉ với cái tên, cấp bậc và đơn vị mà chúng tôi khai với ông liên gia trưởng, đã đủ để những người Cộng-Sản có thể phát hiện ra những kẻ thù mà chúng cần truy cứu.

Chỉ ít bữa sau, một Thượng tá Trung đoàn trưởng của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã tới gõ cửa nhà tôi để thăm tôi. Tôi và ông ta đã từng có vài lần đối đầu qua những trận đánh đẫm máu năm 1974 ở Tây Nguyên.

Cũng từ cái chuyện khai báo lý lịch mà chưa tới mười ngày kế đó, sáng 11 tháng 5 năm 1975, tôi đã trở thành một tù binh. Mười ba năm sau, trên cái giấy ra trại của tôi đã ghi rõ ràng rằng: Ðương sự bị bắt ngày 11 tháng 5 năm 1975.

Hôm đó, tôi bị gọi lên văn phòng liên gia trưởng. Bác Thọ nhìn tôi ái ngại,

– Phường Nguyễn Cảnh Chân vừa nhận được lệnh nội nhật ngày 11 tháng 5 năm 1975 phải áp giải tên Vương Mộng Long lên giao nộp cho Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài-Gòn Gia-Ðịnh.

Văn phòng phường không có xe, nên bác Thọ ra lệnh cho anh thư ký của liên gia chở tôi đi bằng xe gắn máy.

Tới Trại Lê Văn Duyệt của Biệt Khu Thủ Ðô, nay là trụ sở Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài-Gòn Gia-Ðịnh của Việt-Cộng, tôi xuống xe rồi tự động đứng lẫn vào đám người đang tụ tập trước sân cờ.

Hôm đó, có khoảng vài trăm quân nhân viên chức Việt-Nam Cộng-Hòa bị tập trung về từ nhiều nơi quanh Sài-Gòn. Họ được chở trên những quân xa đủ loại. Người xuống hết, xe chạy đi, nối đuôi nhau. Chỉ có mình tôi tới đây bằng xe hai bánh do người khác cho quá giang.

Trong số những người hiện diện trong sân, tôi thấy Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo, Chuẩn tướng Lê Trung Tường và mấy vị tướng khác, cùng vài người quen của tôi như Trung tá Nguyễn Hiệp, Trung tá Nguyễn Ðỗ Tước, Thiếu tá Hồ Văn Hòa, Thiếu tá Lương Ðình Chi, và Trung sĩ Thông Dịch Viên người Hoa là Huỳnh Cẩm Lường.

Chúng tôi đứng trước sân chờ nghe cái loa treo trên cột cờ kêu tên mình để vào trình diện một trong số những căn phòng đánh số thứ tự A, B, C, D…X, Y, Z… nằm ở tầng trệt của dãy nhà lầu phía sau.

Tôi được gọi tên để vào làm việc trong căn phòng nơi cửa có cái bảng carton cỡ 40X40 cm ghi chữ «Z” thật to bằng sơn đen, nằm ở đầu hồi.  Phòng có cái bảng chữ «Z» là nơi tiếp quản của Quân Khu 5 Cộng-Sản. Quân Khu 5 Cộng-Sản bao gồm lãnh thổ các tỉnh từ Quảng-Trị tới Phú-Yên. (Chữ Z= phát âm là Zét)

Văn phòng này do bốn cán binh Việt-Cộng phụ trách. Bốn tên cán binh này mặc quân phục xanh, không đeo phù hiệu hay quân hàm, và cũng không vũ trang.

Có khoảng trên dưới hai chục người được gọi vào phòng Z. Mỗi người được phát một tờ giấy in roneo gọi là bản tự khai, chỉ có mấy dòng:

1) Họ tên

2) Cấp bậc, chức vụ

3) Ðơn vị và nơi đồn trú.

4) Thời gian phục vụ ở địa bàn Quân Khu 5 từ năm nào tới năm nào?

5) Ðịa chỉ cư trú và liên lạc hiện nay

Dưới đó là ngày tháng và ký tên.

Công việc ghi chép những câu trả lời 5 mục nêu trên và ký tên diễn ra không tới một giờ.

Tiếp theo là giai đoạn khẩu vấn, công việc này cũng chỉ nhằm mục đích xác nhận xem chúng tôi có đúng là người mà Quân Khu 5 cần tiếp quản hay không.

Từng người trong chúng tôi phải lần lượt đối diện với bốn thẩm vấn viên để trả lời những câu hỏi liên quan tới từng đề tài khác nhau như quê quán, tôn giáo và gia cảnh.

Kết thúc buổi thẩm vấn, tên cán bộ trưởng toán xoa tay cười khẩy, rồi đẩy mấy tờ giấy ghi lời khai của tôi ra trước mặt tôi,

– Ðược rồi! Anh đọc lại đi! Có gì cần sửa thì trình cho tôi. Tôi có cho phép anh thì anh mới được sửa. Nghe rõ chưa?

Tôi liếc qua những dòng chữ đã ghi trên bản tự khai rồi lắc đầu,

– Tôi không muốn sửa chữa điều gì cả.

Nghe vậy, tên Việt-Cộng vội xếp tờ giấy tự khai của tôi vào cái bìa cứng rồi đưa tay ra cho tôi bắt,

– Anh có thể đi về, nhớ đúng 8 giờ sáng mai lại vào đây trình diện!

Ra khỏi phòng, tôi đi một vòng quanh trại để tìm người quen, thì được tin Trung tá Nguyễn Hiệp, Thiếu tá Hồ Văn Hòa, Thiếu tá Lương Ðình Chi, đã bị còng tay chở đi rồi.

Trung tá Nguyễn Ðỗ Tước và ông Thông Dịch Viên người Hoa là Huỳnh Cẩm Lường còn ở trong phòng nào đó chưa ra.

Sáng 12 tháng 5 tôi leo lên Honda chạy một lèo tới Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài-Gòn Gia-Ðịnh.

Gửi xe xong, tôi bước vào trại để tới phòng Z; đã có nhiều quân nhân khác nhanh chân hơn tôi; họ có mặt trong sân doanh trại từ sáng sớm.

Vào phòng, tôi mới hay, sau buổi thanh lọc ngày hôm qua đã có nhiều người được trả tự do vì lời khai của họ không phù hợp những chi tiết mà Quân Khu 5 đã nêu ra.

Hôm nay, trong phòng Z chỉ còn lại đúng bảy (7) người.

Chúng tôi không phải khai báo gì hơn, chỉ ngồi tán gẫu với nhau thôi.

Những cán binh phụ trách công việc tiếp quản chúng tôi cũng vui vẻ nói chuyện với chúng tôi không chút ngại ngùng. Qua vài câu trao đổi, chuyện trò, tôi được biết, hai trong số bốn cán bộ Cộng-Sản này là người Thanh-Hóa, một là dân Hà Nam Ninh, một là dân Hải-Hưng (tỉnh Hải Hưng là tên do hai tỉnh sáp nhập Hải Dương và Hưng Yên) Biết tôi là dân Hải Dương nên người bộ đội Cộng-Sản quê Hải-Hưng hay nhìn tôi với vẻ mặt nửa lưu luyến, nửa ái ngại và khó hiểu.

Buổi trưa chúng tôi được phép túa ra đường kiếm cơm cháo, mì, phở, một giờ sau sẽ quay trở lại.

Bên kia đường là một dãy quán hàng bán đồ ăn. Thấy một ông từ phòng Z dẫn theo vài ông khác chui vào một cái lều bên đường, tôi cũng chui vào theo.

Trong lều là một gánh cháo lòng do một bà tuổi trung niên làm chủ.  Chúng tôi theo nhau, bảy người, ngồi trên hai cái ghế dài của học trò.

Chỉ qua mấy phút tâm sự, tôi đã biết lý lịch của sáu ông bạn mới. Sáu ông này gồm có một Thiếu úy Trung đội trưởng Thám Báo Tỉnh, một thẩm vấn viên của Trung Tâm Thẩm Vấn Quân Ðoàn II, hai ông sĩ quan Ban 2 Chi Khu, một Trưởng Lưới Mật Báo Viên và một nhân viên phản gián của Ủy Ban Phượng Hoàng.

Ông chồng bà bán quán là Trung sĩ Trưởng Lưới Mật Báo Viên của Tiểu Khu Bình-Ðịnh tên là Huỳnh Thanh Bền. Ông Trung sĩ Bền là một hạ sĩ quan Ðồng Hóa.

Từ ngày thứ ba, tôi không còn phải tốn tiền gửi xe Honda, tôi khóa xe, rồi để xe ngay vách quán của bà vợ ông Bền.

Trung sĩ Bền lớn hơn tôi mười tuổi, vợ ông cũng lớn hơn tôi bảy tuổi. Anh chị Bền có ba đứa con, cháu lớn là con gái 19 tuổi, đang học Sư Phạm, hai đứa kế tuổi 15 và 13 đang học trung học.

Nhà anh chị Bền ở gần Quân-Lao Gò-Vấp.

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Phần 24

Giữa tháng 3 năm 1978, Tư Long ra lệnh cho chúng tôi lên một phòng trên lầu 3. Phòng này, tù nhân vừa bị chuyển khu hay chuyển trại, bừa bãi rác rưới. Tôi đã viết, Cộng sản “giải phóng” tù nhân chế độ cũ chiều 30-4-1975 thì ngay sáng sớm 1-5-1975 đã có tù mới. Và tù cũ lần lượt bị lùa vào. Thực sự, Chí Hòa đã xao xuyến từ 28-4-1975. Tù nhân nào “đấm mõm” chúa ngục là ra về thơ thới hân hoan. Đến trưa 30-4-1975, cả chúa ngục lẫn tù nhân “tốt số” bỏ Chí Hòa mà chạy. Còn lại đám tù “xấu số” không thể phá cửa ngục, đành đợi cách mạng “giải phóng”. Một tù nhân de luxe không được “giải phóng”: Ông tướng Trần Quốc Lịch.

Người ta đồn rằng, ở Chí Hòa có nhiều ma, đặc biệt là Con Ma Vú Dài mà nhật báo Hoà Bình của linh mục Trần Du đã khai thác ròng rã mấy tháng. Con ma vú dài, chúng tôi không được hân hạnh… ngắm vú nó. Nhưng, tôi biết chính xác đã nhiều tù nhân tự tử hay chết đòn, chết bệnh ở Chí Hoà. Tại sao biết chính xác? Vì, tôi đã sống chung phòng với một cán bộ cải huấn khám Chí Hòa. Oan hồn, chướng khí dầy đặc vùng tù ngục này. Người ta bảo rằng, chỉ khi nào tất cả cửa phòng giam, cổng khám, mở tung ra một lượt, oan hồn mới phiêu diêu miền cực lạc hay về thiên đàng và chướng khí mới tiêu tan. Cửa phòng giam, cổng khám đã mở tung một lượt. Oan hồn mới, chướng khí mới dầy đặc hơn. Ở Việt Nam, sau mỗi cách mạng thì tỷ số nhà tù tăng lên. Nhà tù thực dân trên quê hương tôi khiêm tốn hơn nhà tù cách mạng, bất kể cách mạng gì. Hãy nói cách mạng vô sản giải phóng con người. Nó giải phóng nhà tù Chí Hòa ra sao?

Các ống nước dẫn lên lầu bị cắt. Tấm bảng để tù nhân giỏi dạy học tù nhân dốt bị gỡ. Cấm dạy dỗ lẫn nhau. Dạy dỗ kiến thức đồng nghĩa với tuyên truyền phản động. Cấm bút. Cấm giấy. Tù nhân lúc nhúc trong phòng giam như đàn gà kỹ nghệ. Cách mạng không sơn lại tường tù. Do đó, tường phòng giam chúng tôi còn đầy máu muỗi, máu rệp, còn đầy tên tù nhân ghi rõ năm tháng tiền giải phóng, còn đầy những lời thề huyết hận giang hồ. Trên một bức tường có vẽ hình con rồng đang lộn bằng gạch non. Vốn thận trọng và sợ trách nhiệm, ông Trưởng phòng Phạm Quang Khai quan sát tỉ mỉ phòng mới. Rồi ông báo cáo vụ con rồng với trật tự. Trật tự báo cáo Tư Long. Chúa ngục Tư Long lồng lộn chạy lên. Hắn điên tiết vì đám tù cũ đã “chơi” hắn. Long là rồng. Chúa ngục Rồng mà tù dám cho rồng lộn thì… phản động quá, xúc phạm nặng nề tới cách mạng vô sản và chủ nghĩa Mác Lê bách chiến bách thắng.

– Trưởng phòng đâu?

Ông Khai le te bước sát tường:

– Tôi đây.

– Ai vẽ con rồng?

– Tôi không biết

– Anh phải biết.

– Chúng tôi vừa lên đây, thấy rồng đã vẽ sẵn, vội vàng báo cáo ngay.

– Anh vẽ.

– Tôi không vẽ.

– Đồng bọn anh vẽ.

– Thưa cán bộ, chúng tôi không vẽ.

– Tôi bảo anh vẽ.

– Tôi đâu dám vẽ.

– Vậy anh biết ai vẽ. Tôi chỉ thị anh kiếm ra ai vẽ nội trong một giờ. Không kiếm ra, cả phòng chịu kỷ luật.

Tư Long hầm hầm bỏ xuống với đám trật tự đầu trâu mặt ngựa. Ông Khai, nhà tỷ phú Phạm Quang Khai, vua tầu dầu chiến lược Phạm Quang Khai bị tên bán vé xe đò át giọng thì ngồi thừ, đau khổ. Đổi đời mà. Con lạc đà có thể chui qua lỗ kim, ông Khai khó mà tìm được thằng nào vẽ con rồng lộn xỏ Tư Long. Ông thở dài thườn thượt, trong khi, anh em quét phòng, chia chỗ nằm. Nước trong phòng không còn một giọt, cầu tiêu ngập phân, thối um, tanh tưởi. Sàn nước nhơ nhớp. Chẳng cần một giờ, Tư Long sai liền trật tự lên dán miếng giấy “niêm phong” phòng và tuyên bố:

– Cúp nước một tuần. Cúp tắm một tuần.

Tưởng tượng một tuần lễ không có nước xối cầu! Anh em nhao nhao cào cấu ông Khai:

– Nhanh nhẩu đoảng, thật thà hư.

– Con rồng kệ mẹ nó, con c… cũng có sao! Báo cáo, báo cáo…

– Già mà ngu.

– Đọc kinh ra nước đi!

Ôi cha, ông Khai lãnh búa. Đúng là trên đe dưới búa. Chức sắc nhà tù khổ vậy đó. Tội nghiệp ông Khai. Ông đã bị cai ngục đì, còn bị anh em rủa. Đạo đức như linh mục Tự Do, hiền lành như anh Võ Xuân Đình mà cũng chê ông Khai tối dạ. Với Cộng sản thì phải gian dối, thành thật là lãnh đòn. Cái triết lý sống giả khùng của Bẩy Bốp Nguyễn Ngọc Tân hay nhất. Nguyền rủa ông Khai chán chê đâm ra mỏi miệng. Đành chịu đựng một hình phạt hiện thực xã hội chủ nghĩa, một hình phạt mà tôi tin rằng, ở Pháp, Bùi Kim Bảng vẫn nhớ, ở Mỹ, Hoàng Mạnh Hùng, Nguyễn Công Kha chưa quên. Nhưng nhân loại chưa biết. Các vị đại diện tù đòi hỏi nhân quyền chưa biết. Rằng, con người đã có những ngày sống như con vật.

Chúng tôi bị cúp hai lần tắm. Không sao. Nhưng một tuần không rửa mặt, đánh răng, không có nước rửa bát, rửa đít, xối cầu tiêu thì hãi hùng quá. Cai ngục Quỳnh đã dạy: “Chiến đấu từ đau khổ, cố mà học nếu muốn chiến đấu chống Cộng sản”. Mấy ai nhập tâm câu này? Thay vì chịu đựng để, nói theo Tố Hữu, “Nuôi đi em cho đến lớn đến già, mầm hận ấy trong lòng xương ống máu. Để mai mốt thêm hăng hồn chiến đấu, mà hôm nay em đã nhóm trong lòng“, người ta hết than vãn lại gấu ó lẫn nhau. Dân tộc đã trưởng thành sau kinh qua lịch sử nghẹn ngào 30-4-1975, song vẫn còn nhiều người chưa khôn lớn, kể cả người trong tù và người ngoài tù, người trong nước và người ngoài nước. Chúng ta hằng nhắc nhở Phù Sai nằm gai nuốt mật nhớ thù, Câu Tiển nếm phân nuôi hận. Nhắc nhở thôi, chúng ta không thích noi gương… Ba Tầu. Ba Tầu là Ba Tầu, dẫu thù hận ở không gian và thời gian nào cũng đồng dạng, đồng tình. À, chúng ta sẽ chỉ thích anh Ba Tầu Hàn Tín. Mới bị dở nón chào thằng cai ngục đã nghĩ mình khuất thân ghê gớm, đã so sánh mình với Hàn Tín. Có tài năng như Hàn Tín hãy so sánh với Hàn Tín. Nhưng Hàn Tín xin cơm thuở bần hàn chứ không chịu “ăn cắp cháy, ăn vụng thịt, ăn tranh phần cơm heo”. Tôi cần “phanh” tôi lại, trở về kỷ luật khốn kiếp mà Cộng sản bắt chúng tôi chịu đựng. Mỗi ngày, chúng tôi, mỗi tù nhân, chỉ được hai ca nước uống. Hai ca khoảng nửa lít. Nước uống cung cấp sáng và trưa. Cơm canh đều đặn. Nửa lít nước một ngày cho một tù nhân sống trong phòng giam 62 người, một người ba gang tay chỗ nằm. Trời đang mùa nắng, mồ hôi thường xuyên toát ra, nửa lít nước kỷ luật! Chúng tôi không dám pha bột, pha sữa, pha mì, không dám đánh răng, rửa mặt. Tự nhiên, cả phòng khen anh Nguyễn Mạnh Côn và tặng anh biệt danh Dr. Anti-Hynos, vì từ khi vào tù, anh Côn khước từ đánh răng. Chúng tôi phải xé áo, xé quần thành những miếng nhỏ. Để lau chén, muỗng sau bữa ăn. Và để chùi đít sau khi đại tiện. Tôi cố nhịn ỉa đến mức tối đa. Tôi thèm táo bón. Bất hạnh thay, vào đúng cơn khốn khó này, nhiều anh em bị bệnh tiêu chẩy. Trưởng phòng Phạm Quang Khai kêu gọi anh em khắc phục… ỉa! Người ta có thể nhịn ăn, nhịn uống chứ không thể nhịn đái, nhịn ỉa. Cầu tiêu ngập gần ngang mức gạch, xây cao che phần không tiện để ra của “kép tù” trên “sân khấu”. Rốt cục, các “kép tù” đành ngồi trên hàng gạch xây, coi như “màn nhung” mà “diễn tuồng” đại tiện. Ông anh kết nghĩa Khai Trí của tôi đau khổ nhất. “Ai đau khổ vì bệnh trĩ”? Không khí phòng giam “ngạt ngào” mùi phân tiểu. Chúng tôi thở, chúng tôi ăn, chúng tôi uống, chúng tôi ngủ, chúng tôi ước mơ, chúng tôi hy vọng trong mùi phân tiểu nồng nặc.

Có lẽ, dưói ngọn cờ quang vinh của Đảng và bằng thành tích bách chiến bách thắng của chủ nghĩa Mác Lê, các thứ vi trùng đều bị tiêu diệt hết. Nên, tù nhân không được chích ngừa một thứ bệnh gì cả. Cũng tốt thôi. Qua ngày thứ hai, Tư Long cho phép xách hai thùng nước dội cầu. Cầu đã đầy nghẹt, hai thùng nước thấm thía gì! Giá có con lươn anh hùng, lươn dũng sĩ thả vô trước vài tiếng đồng hồ rồi dội mạnh nước là “thông suốt vấn đề khẩn trương” và “hồ hởi phấn khởi” và “đột xuất bay mùi hương cách mạng”. Chúa ngục Tư Long gian ác không cho mượn cây gậy thọc cầu. Thành thử phân ì ạch rút như sự tiến bộ ì ạch của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Vậy đó, chúng tôi chịu đựng liên tiếp bốn ngàỵ. Thấy không có ai chết, Tư Long “giải phóng” phòng của chúng tôi ngày thứ năm. Chúng tôi xách nước “giải phóng” cầu tiêu”, chà sàn nước, rửa phuy… Chúng tôi tắm gội. Vẫn chỉ 8 phút. Lúc ấy mới hiểu hạnh phúc đánh răng và hạnh phúc… rửa đít.

Sinh hoạt của phòng dần dà trở lại bình thường.

Thời kỳ này, chiến tranh biên giới Miên-Việt đã gay go. Các tỷ phú Tầu, các nhà tư sản mại bản không được ra ngoài làm việc nữa. Trần Thành hết nghề nuôi heo. Trương Vĩ Nhiên hết nghề y tá. Trương Vĩ Nhiên độc quyền nhập cảng phim ảnh Hồng Kông, Đài Loan. Anh ta là chủ nhiều rạp chiếu bóng lớn. Ở đề lao Gia Định, anh gánh cơm cho các phòng khu C-1. Cộng sản chọn có hai nhà tư sản mại bản đưa ra tòa: Lý Sen và Trương Vĩ Nhiên. Lý Sen lãnh án 15 năm. Trương Vĩ Nhiên 20 năm. Đến năm 1982, toàn bộ tư sản mại bản Chợ Lớn được tha hết. Không nghe nói Lý Sen, Trương Vĩ Nhiên có “trúng số” hay không. Những ngày Trương Vĩ Nhiên làm y tá, chúng tôi dễ chịu. Anh đề nghị bác sĩ Việt cộng cho tù nhân giữ hết thuốc tư. Chúng tôi khỏi đăng ký thuốc ở Y Tế, mất công ốm đau phải xin rút thuốc. Tư Long vẫn “ghim” phòng của chúng tôi. Hắn chủ trương “đong đo, cân đếm” tinh vi. Một tù nhân nửa lít nước uống và một lít nước xử dụng dịch vụ cá nhân, mỗi ngày. Tư Long nghiêm cấm trò “tắm gỡ” khi xuống hồ xách nước. Tù nhân chơi màn múc đầy thùng rồi nhấn mạnh cho nước trong hồ tràn ra “tắm gỡ”, Tư Long cấm luôn. Hắn cấm đem theo bình múc nước riêng. Cuối cùng, cấm nước nhễu trên hành lang. Những người tình nguyện xách nước hết tình nguyện. Phòng lại ủy cho tổ. Tổ cắt người vác nước. Tư Long bắt vác nước trên vai không được nhỏ một giọt nào. Thành ra, thùng nước không đầy. Tôi nhớ bốn ngày cấm nước, chúng tôi đứng trên lầu nhìn xuống hồ. Thấy bọn trật tự đánh bóng chuyền xong thì nhẩy vào hồ nước đùa rỡn. Tư Long muốn chúng tôi đau đớn. Hắn đã nhầm. Đảng của hắn đã nhầm. Chủ nghĩa của hắn đã nhầm. Nếu đích thực là con người, đắm chìm trong bất cứ một nghịch cảnh nào, con người vẫn tồn tại với đầy đủ ý nghĩa làm người.

Một số anh em được gọi đi lao cải ở trại tập trung. Cai ngục nói rõ đi lao động cải tạo. Tôi dùng chữ được thay chữ bị. Thoát khỏi FG đã hạnh phúc, thoát khỏi Chí Hòa hạnh phúc nhân lên. Vậy thì Chí Hòa không phải là chốn cải tạo trường kỳ, là chốn tù nhân nằm chờ chết mòn bằng bệnh hoạn, bằng tuyệt vọng. Rồi sẽ đi… Những cuộc phiêu lưu mới đang đợi những bước chân sắp tê liệt. Trong số anh em đi lao cải có Phan Thành Trường, Nguyễn Đình Bách, Quang què, Cốc Chính Cương… Thời kỳ này, Cao Dao 1 đã “thống lĩnh” một “ngọn núi” Chí Hòa. Võ Long Triều từ đề lao Gia Định sang. Nguyễn Đan Quế cũng đã có mặt. Họ không vào phòng tôi. Nhóm luật sư “Nhân Quyền” ngự ở khu AH. Tôi không nghe kể tên Huỳnh Thành Vị. Như vậy, Chí Hòa đã nhiều nhân vật. Càng đông càng vui. Khu FG thay đổi toàn bộ cai ngục. Tư Long vẫn còn nhưng hắn không lảng vảng rình mò nữa. Một tên cai ngục mà Đoàn Kế Tường đặt cho hắn cái tên “Đề Xuất” – vì hắn ưa hỏi phòng có đề xuất gì không sau khi điểm danh – đã tặng chúng tôi một bài học đề xuất. Hắn hỏi hoài khiến ông Khai phải… đề xuất:

– Báo cáo cán bộ, phòng chật chội quá.

– Bao nhiêu người?

– Năm mươi nhăm.

– Tôi ghi nhận, sẽ nghiên cứu giải quyết.

Ngay buổi trưa, cửa phòng mở, ông Khai nhận thêm 15 tù nhân hình sự gồm các tội móc túi ăn trộm. Dĩ nhiên, ông Khai lại bị công kích về tội “ngứa mồm” đề xuất. Đoàn Kế Tường ra mặt chống đối ông Khai. Chưa hết đâu, hôm sau, ông Khai tiếp nhận 5 tù nhân hình sự khác. Các tù nhân hình sự được chuyển tới Chí Hòa đều đã nằm ở nhà giam các quận. Mà nhà giam các quận là nơi con người biến thành ròi bọ. Hoàng Mạnh Hùng đã nằm nhà giam quận 3 một tháng. Anh kể những tệ trạng khốn kiếp xẩy ra. Cai ngục ngó lơ, mặc kệ vua tù và triều đình lộng hành. Thảm cảnh ức hiếp, bóc lột tù yếu và bắt cả tù yếu làm công việc “thổi kèn” để thoả mãn thú tính của tù mạnh còn ghê tởm gấp bội những “xen” tôi đã diễn tả về các phòng tạm giữ trong tiểu thuyết của tôi. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, vệ sinh ở các nhà giam các quận thả nổi. Chấy rận lổm ngổm, ghẻ lở kềnh càng. Một tháng tắm một lần. Ốm no bò dậy. Những màn đấm đá tàn bạo. Những màn trốn ngục táo bạo. Vua tù dám mua cai ngục một chai xì-dầu thủy tinh giá cắt cổ. Nó sai đàn em đập chai, nhắm bụng nó mà đâm mạnh. Đừng đâm chết. Bị thương nặng thôi. Cai ngục chở nó tới bệnh viện Đô Thành. Nó… vượt ngục ở đây dễ dàng.

Bị mắc mưu “đề xuất”, phòng chúng tôi rộn ràng tiếng văng tục, chửi thề, lổm ngổm chấy, rận, cái ghẻ… Sự tranh giành cơm nước, chỗ nằm sinh động một đời tù Cộng sản. Rồi cũng quen đi vì đã có lần chịu đựng bốn ngày kỷ luật cúp nước. Tôi đã tưởng những mùi thối tha, tanh tưởi của phân tiểu, của máu mủ tù ngục sẽ làm mình quên bất cứ mùi tanh tưởi, thối tha nào bên ngoài, khi tôi ra đời. Rốt cuộc, tôi lại phải tương tư những mùi thối tha, tanh tưởi, hôi hám của tù ngục. Bởi vì, những mùi nồng nặc nhất của tù ngục vẫn thơm hơn những mùi kháng chiến, đấu tranh của đám cai thầu vô lại, của bọn mưu đồ danh phận bằng nỗi bất hạnh của dân tộc và tổ quốc chúng nó.

Phòng chúng tôi đã chẵn 70 mạng. Nước giới hạn, tắm giặt giới hạn, bệnh ghẻ tái phát và tăng trưởng thật lẹ. Tôi bị cảm cúm. Đoàn Kế Tường xoa dầu cù là, cạo gió. Ở “chuồng” lâu ngày, da chúng tôi mỏng và thịt bủng. Những vết cạo gió chẳng cần đợi lâu, hôm sau thôi, đã nhiễm trùng, sưng mủ. Tôi đã trải qua “mùa ghẻ” đề lao Gia Định. Thêm “mùa ghẻ” Chí Hòa. Tất cả tù nhân đều bị một thứ nấm “ăn” ở hạ bộ gây ngứa khó chịu. Hễ gãi mạnh xước da là thành ghẻ mủ ngay lập tức. Bởi vậy, tiến sĩ Hoàng Mạnh Hùng sáng tạo một kiểu gãi thần sầu. Dùng bàn chải đánh răng mà… chà ghẻ! Chà nhẹ nhàng. Bệnh ghẻ nham hiểm như Cộng sản. Ban ngày nó không hành mình, đợi lúc mình nằm ngủ nó mới ngứa. Hòa tấu khúc “đàn Ta-Lư” thường chơi đêm khuya. Âm thanh phóng ra đời sống chỉ là những tiếng “xoàn xoạt” liên tục. Vậy thì, bàn chải gãi ghẻ ban đêm và đánh răng ban ngày! Chúng tôi đã nuốt cái ghẻ. Anh Nguyễn Mạnh Côn ca ngợi ghẻ, nếu ghẻ mọc một mụn duy nhất ở đốt xương sống cuối cùng, gần hậu môn. Anh bảo có thằng cái ghẻ để gãi cũng đê mê lắm. Anh Côn nhận xét đúng. Để móng tay ngón út đùa bỡn với chú cái ghẻ ở đốt xương cùng thì tuyệt cú mèo. Nếu cái ghẻ là những thằng chụp mũ, là những thằng phản phúc, là những thằng hèn mọn bắn sau lưng, núp bóng tối đâm lén ta, chúng nó rất xứng đáng nằm ở đốt xương sống cuối cùng, gần hậu môn ta. Thiếu những thằng này, cuộc đời giảm nhiều thú vị. Ở trong bất hạnh, bạn cần tìm kiếm hạnh phúc. Tôi kiếm hạnh phúc từ ca nước ấm. Giúm muối bỏ vô, tôi lên “sân khấu” ngâm “toàn bộ”. Ôi, đang ngứa bạo mà ngâm nước nóng, sướng sao mà sướng. Sướng hơn làm tình, sướng rên mé đìu hiu… Nếu tôi được soi gương lúc tôi thả “toàn bộ” vào nước nóng, tôi sẽ có định nghĩa chính xác về các tĩnh tử nghệt, thộn, đờ đẫn… Phi ghẻ bất thành tù. Gãi trong cơn ngứa đã đời lắm, nhưng xót xa sau cơn ngứa. Ngâm nước nóng trong cơn ngứa, đang ngâm thì đê mê mà ngâm xong thì “hồ hởi phấn khởi.” Nhân vật tiểu thuyết của tôi nằm khám Chí Hòa bị ghẻ nước, đã khám phá ra chân lý hạnh phúc. Là đốt nến cho nhễu từng giọt xuống mỗi mụn ghẻ. Sức nóng của giọt nến vừa độ không làm phỏng da nên mỗi giọt nhỏ xuống một mụn ghẻ cơ hồ mỗi giọt sướng nhỏ xuống hồn. Nến không thể dùng cho hạ bộ, cái hạ bộ đen thui, mỏng teo. Phải nước ấm và muối. Nước ấm gây cảm khoái và muối làm se. Cái tứ khoái của cổ nhân cần thêm khoái lấy ráy tai, khoái ngoáy lỗ ghèn, khoái gãi ghẻ, khoái ngâm hạ bộ ghẻ vào nước ấm… Khoái lấy ráy tai, người Việt Nam nào chả biết, chả thích. Khoái ngoáy lỗ ghèn, ít ai biết. Nếu biết, người ta sẽ nghiện. Ở tù, bạn đến phòng nào cũng kiếm ra một vài tài năng lấy ráy tai, ngoáy lỗ ghèn, tẩm quất. Người ta chọn sợi tóc dài nhất trên đầu bạn, nhổ ra, chập đôi, se lại. Có tí an-côn rửa sợi tóc càng tốt, không có chẳng sao. Bạn nằm thẳng cẳng. Người ta vạch mắt bạn, đưa sợi tóc vào cái lỗ ghèn ở đầu con mắt, người ta xoáy sợi tóc. Cảm giác của bạn lâng lâng. Nước mẳt bạn trào ra. Bạn khoái tỉ cao độ, hắt xì hơi. Và bạn sẽ hiểu, trên đời có nhiều lạc thú, những lạc thú thiếu be bét trong cuốn Lạc thú ở đời của ông Lâm Ngữ Đường. Đời bạn, luôn luôn, gặp những lúc muốn hắt xì hơi mà không hắt xì hơi nổi. Bạn khó chịu. Bạn tức tối. Bạn ngước nhìn mặt trời hoài, vẫn không hắt xì hơi. Bạn thèm hắt xì hơi. Một phát thôi, bạn sẽ sảng khoái liền. Bạn ơi, lúc ấy, bạn được ngoáy lỗ ghèn, bạn sẽ hắt xì hơi lu bù. Anh Nguyễn Mạnh Côn đã thử ngoáy lỗ ghèn. Và anh ấy tuyên bố: “Sướng gấp bội say thuốc phiện.” Ngoáy lỗ ghèn dễ dàng thôi, muốn lâng lâng thì được lâng lâng tức thời, chỉ cần tốn một sợi tóc. Ngâm hạ bộ ghẻ vào nước ấm, bạn sẽ nhịn uống bột Bích Chi và rồi, chính cái ca nhựa bạn ngâm hạ bộ, bạn sẽ múc nước đánh răng, rửa mặt và uống bột Bích Chi.

Vào thời kỳ ghẻ ngứa tưng bừng này, chúng tôi không được ăn cơm nữa. Chí Hòa luộc bột mì nuôi tù nhân. Mỗi bữa, mỗi tù nhân nhận hai cục bột luộc to bằng nắm tay. Bột mì của Đức Giáo Hoàng tặng bị pha với bột khoai mì xã hội chủ nghĩa. Bột luộc ăn với canh bí rợ nấu muối. Đề lao Gia Định còn chịu khó gọt vỏ bí, chứ Chí Hòa để nguyên vỏ. Tôi sợ nhà bếp lười biếng rửa luôn. Tù nhân phải se giây ni-lông rút từ bị đựng phân bón 2 làm… dao cắt bột thành từng khoanh. Có người cầu kỳ cắt bột nhỏ như con cờ, chan canh vào mà nuốt. Linh mục Nguyễn Văn Tự Do chế một lối súp tù. Ông bấu bột ngâm nước đường. Bột rữa ra, ông khuấy đều mà húp. Đa số cầm cả cục bột ngoạm cho xong chuyện. Tôi cũng ngoạm cả cục. Tay cầm tán đường mía, tay cầm bột luộc, tôi ăn. Ăn để sống. Đôi khi, tự an ủi mình, tự vuốt ve mình cho bớt tủi vì chậm chân không di tản kịp, chúng tôi vừa gãi ghẻ vừa hội thảo:

– Con người ăn nổi mấy bữa một ngày?

– Ba.

– Chúng ta đã ăn ba bữa.

– Đúng.

– Ăn sơn hào hải vị, ăn Hamburger, McDonald, uống Whiskey, Cognac, Coca, Pepsi, Fanta… đi cầu có thơm không nhỉ?

– Thối.

– Chúng ta đã đi cầu cũng thế.

– Lái xe Cadillac, hay Mercedes và nằm tù rồi có chết không?

– Chết hết.

– Thế nào là sống?

– Biết tận cùng của thống khổ.

– Chúng ta đã sống. Đã sống, đã biết sống. Thế đủ rồi. Ai có thể từ sự biết sống của mình, gởi lại cho đời sống điều gì đó càng tốt. Chẳng gửi lại thì thôi.

Như thế, chúng tôi đã ngoạm bột luộc, an phận ngoạm bột luộc. Tuyệt nhiên, chúng tôi không bình phẩm những người may mắn thoát vòng tù tội và đang sung sướng ở nước ngoài. Chúng tôi không hề biết gì về họ. Không hề biết gì về người khác mà phán xét người ta là thái độ của quân vô lại. Có lẽ, tôi không nên điểm mặt vô lại. Tự chúng nó, chúng nó đã chường nguyên mặt vô lại. Xin cám ơn quan tòa Thời Gian.

Cuối tháng 3-1978, bọn sát nhân, bọn trộm cắp bị chuyển trại. Tình trạng hỗn loạn của phòng tôi chấm dứt.

Nhà tư sản mại bản Đào Mậu rồi Tăng Tài được thả. Lệnh tha đọc ngay tại phòng. Chúng tôi hân hạnh tiếp đón thượng khách: Linh mục Nguyễn Quang Minh, nhân vật hàng đầu của vụ án nhà thờ Vinh Sơn. Cùng với linh mục Nguyễn Quang Minh còn có linh mục Chức và vài người nữa. Linh mục Chức nói hơi nhiều, nói gần như ba hoa chích chòe. Ngược lại, linh mục Minh trầm lặng. Ông nằm hàng giữa phòng, cả ngày ngồi trầm tư. Các con chiên quấn quanh linh mục Minh nhờ ông “làm lễ.” Tôi đã chứng kiến cảnh linh mục treo mùng ngồi trong, con chiên xưng tội ngồi ngoài, hồi tôi ở chung với linh mục Pham Minh Thiện tại đề lao Gia Định. Nhưng cảnh “rước lễ” ở Chí Hòa, tôi nghĩ, là cảnh “rước lễ” bi thảm và tuyệt vời nhất của lịch sử Thiên Chúa giáo. Nửa đêm, chờ tù nhân ngoại đạo ngủ kỹ, linh mục Nguyễn Quang Minh ngồi dậy. Ông cũng mặc quần xà lỏn, áo sơ-mi như mọi tù nhân. Tôi không biết, không hỏi bằng cách nào linh mục Minh có “bánh thánh” và “rượu lễ.” Vốn là tù nhân khó ngủ, thao thức gần sáng mới nhắm mắt, nên tôi đã được nghe nhiều điều lạ xẩy ra ban đêm. Thí dụ những lời báo cáo hồ đồ của tù nhân ở cachot, những tiếng khóc của con nít, những câu hát của nữ tù dưới ô… Và rồi, được chứng kiến cảnh “rước lễ”. Ở Chí Hòa, không có tuần tra ban đêm. Khi kẻng báo ngủ điểm, các cửa sắt hành lang khóa kỹ. Những việc vi phạm Nội quy có sợ là sợ những tên bộ đội đào ngũ, những tên cán bộ mất phẩm chất cách mạng nhòm ngó thôi.

Cùng lúc linh mục Minh ngồi dậy, các con chiên cũng lần lượt ngồi hết dậy, vì đã dặn dò “đêm lễ,” tất cả đều giả vờ ngủ. Dưới ánh điện vàng, linh mục Nguyễn Quang Minh áo sơ-mi, quần xà lỏn, ngồi khoanh chân thầm thì rao Phúc Âm. Các con chiên tội nghiệp chung quanh đang kính cẩn hướng về Cha của họ. Hình tưởng Chúa Jesus “thấy quần chúng, bèn leo lên núi. Khi ngài đã ngồi thì các môn đồ tớì cùng Ngài. Ngài mở miệng dạy họ:

Phước cho kẻ có lòng nghèo khó, vì nước Trời là của kẻ ấy.
Phước cho kẻ buồn thảm, vì sẽ được yên ủi.
Phước cho kẻ nhu mì, vì sẽ thừa thọ đất.
Phước cho kẻ đói khát về sự công nghĩa, vì sẽ được no đủ.
Phước cho kẻ hav thương xót, vì sẽ được thương xót.
Phước cho kẻ cỏ lòng trong sạch, vì sẽ thấy được Đức Chúa Trời.
Phước cho kẻ chịu bắt bớ vì sự công nghĩa, vì nước Trời là của kẻ ấy.
Phước cho các ngươi khi người ta lăng nhục, bắt bớ và vu cho mọi điều ác vì cớ ta.
Hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng các ngươi trên Trời là lớn… 3

Linh mục Nguyễn Quang Minh ở trong hoàn cảnh khốn khó hơn. Quân dữ bốn bề. Ông không có núi mà leo. Ông ngồi giữa căn phòng hôi hám của khu FG Chí Hòa làm sáng danh Thiên Chúa. Chắc chắn, Chúa Jesus đã ban phép truyền âm cho linh mục Minh để ông giảng Phúc Âm cho con tin theo “bí kíp” truyền âm. Vẫn bài giảng bất hủ đó thôi, tôi nghĩ vậy. Ông bác bỏ mọi nghi lễ của Giáo Hội. Nghi lễ vụ hình thức. Hình thức là giả dối. Chúa nghèo, Chúa không giầu. Chúa đi chân đất. Chúa đâu có trình diễn như Đức Giáo Hoàng. Nên Chúa đã là Chúa. Linh mục Nguyễn Quang Minh mang hình ảnh Chúa, tâm hồn Chúa vào Chí Hòa. Ông ngồi một lúc thì dơ tay lên. Lần lượt, các con chiên đứng dậy, rời chỗ nằm của mình, giả vờ ngang qua chỗ Cha, ngồi xuống, há miệng nhận “bánh thánh” rồi giả vờ lên cầu tiêu, rồi trở về chỗ của mình. Linh mục Nguyễn Quang Minh sẽ lên nước Thiên Đàng gặp Chúa Jesus, sẽ kể cho Chúa Jésụs nghe chuyện “sống đạo giữa tù” dưới thế. Các ông cha di tản, vượt biên về hết Địa Ngục, cần báo trước, Địa Ngục có nhiều món hấp dẫn hơn Thiên Đường. Chúa Jesus tìm đến chỗ cùng khổ. Các ông cha tìm đến nước Mỹ sung sướng. Chúa ơi, kẻ ngoại đạo thương Ngài lắm. Ngài bị khá đông chiên ghẻ nhân danh Ngài mà buôn bán, đổi chác…

Linh mục Nguyễn Quang Minh là người khả kính. Ông sống chung với chúng tôi đến cuối tháng 4 năm 1978, thì rời phòng. Từ đó, tôi không được nghe nói gì về ông nữa. Tôi đã đàm thoại với ông hai lần. Cả hai lần, ông đều khẳng định: “ông tin tôi chứ, ông Duyên Anh? Không to tát như người Cộng sản phóng đại. Không có đường hầm, không có đài phát thanh, không có máy in bạc giả, không có súng đạn, không có chống trả gì trong nhà thờ Vinh Sơn cả”. Phải, không có gì cả. Linh mục Nguyễn Quang Minh không bao giờ làm phản động. Người Cộng sản đã chọn nhà thờ Vinh Sơn, đã bịa đặt thế. Mục đích của họ là dằn mặt những người Thiên Chúa giáo quá khích hậu thuẫn Đức Cha Thuận về thay thế Tổng giám mục Bình và lấy cớ bắt nhốt một số linh mục và trí thức công giáo. Một số tổ chức chống Cộng sản sau 30-4-75 do các lãnh tụ công giáo lãnh đạo đều bị ghép dính vào vụ nhà thờ Vinh Sơn, kể luôn tướng phục quốc Nguyễn Việt Hưng và Ali Hùng.

Linh mục Minh, linh mục Chức và những người dính líu vụ Vinh Sơn xuống phòng lầu 1 dành cho những tù nhân đã thành án. Nhưng tử tù Vinh Sơn vẫn thoi thóp trên cachot FG. Chúng tôi gặp mặt Ali Hùng lần chót hôm chàng được xuống hành lang xế phòng tôi tắm nắng. Người nhái Ali Hùng đã thành bộ xương cách trí. Mắt chàng trũng sâu, thâm quầng. Người tử tù biết mình chết, biết mình phải chết mà cứ bị kéo dài nỗi sống thảm. Nhân loại vẫn chưa vỡ lẽ Cộng sản đâu. Chúng ta cần “giáo dục” nhân loại: Dưới chế độ Cộng sản, sống đã nhục nhã mà chết càng nhục nhằn. Muốn sống không được sống, muốn chết không được chết. Hình như, nhân loại dần dà mất tính người. Bạn thử công khai giết một con chó nấu rựa mận ở nước Pháp coi, cô đào Brigitte Bardot sẽ điên lên, sẽ nhân danh Hội Bảo Vệ Súc Vật truy tố bạn ra tòa án. Thế nhưng, bọn khủng bổ sát hại “đồng bào” cô ta, cô ta không có ý kiến. Đó là nhân loại, là lương tri, mọi chuyện để bắn phá giáo đường, xúc phạm thánh là trắc ẩn, là xúc động dành cho đồng loại của nó, thời đại của nó.

Một tuần, sau ngày linh mục Nguyễn Quang Minh ra đi, linh mục Nguyễn Văn Tự Do ra đi nốt. Đoàn Kế Tường nóng lòng đi lao cải. Phiên họp cuối tuần nào, Tường cũng xin ghi vào biên bản. “Tôi tình nguyện lao động cải tạo mười năm.” Sự tình nguyện của Đoàn Kế Tường trở thành chuyên hài hước. Không ai trả lời Tường cả. Với Tường, ở phòng tập thể hai tháng là thời gian quá lâu. Tường bực bội, gây gỗ lung tung. Người bị Tường gây gỗ thường xuyên là Trưởng phòng Phạm Quang Khai. Song song vụ gây gỗ Tường-Khai là vụ đấu tranh tư tưởng quốc gia, Cộng sản giữa Mai Đức Khôi và Phạm Văn Diện. Tôi nhớ Khôi cụt đã kê tủ đứng vào họng Phạm Văn Diện câu này: “Anh mất mẹ nó phẩm chất cách mạng rồi, đợi bao giờ lấy lại phẩm chất cách mạng hãy đấu tranh với tôi. Cỡ tôi đâu thèm đấu tranh tư tưởng với cựu phường trưởng.” Khôi cụt yêu cầu ghi vào biên bản. Và Khôi cụt liên tục “ra làm việc” cả tuần. Trước Khôi cụt, Quang què đã công kích Diện những lần Diện thở giọng Cộng sản trong buổi họp. Nhưng Phạm Văn Diện, nhờ bị Khôi cụt chửi thẳng mặt, được thay thế Phạm Quang Khai nắm chức Trưởng phòng. Diện biết điều, gặp riêng Khôi cụt xin lỗi. Có Diện cai trị, bọn bộ đội đào ngũ ngoan ngoãn. Diện nể nang Tường nên mọi chuyện trong phòng tốt đẹp. Đoàn Kế Tường hết đối tượng công kích thì bầy trò chọc cười Tư Nhì. Ông Tư Nhì chuyên hút thuốc lá nhãn hiệu Lá Vàng 20 điếu gói bằng bao ni-lông. Anh ta nhiều thuốc mà hút tiết kiệm, không đốt liên miên giống chúng tôi. Muốn được Tư Nhì tặng nguyên gói, Đoàn Kế Tường và Dương Đức Dũng phải song ca hai bè một đoạn nhạc của Phạm Duy, theo điệu bài Tiếng đàn tôi.

Ông Tư Nhì ơi
Cả phòng hết thuốc rê rồi,
Ông Tư Nhì ơi!
Mình ông còn Lá Vàng thôi…

Để quên ngày tháng Chí Hòa, Đoàn Kế Tường và Dương Đức Dũng thi hát nhạc sến xem ai thuộc nhiều nhạc sến nhất. Kiến thức nhạc sến của tôi dồi dào vào dịp này. Đoàn Kế Tường có khiếu hài hước, có trí nhớ thật tốt. Tường thuộc nhạc “cách mạng” đủ bài. Bài nào Tường cũng chêm một câu phản động. Thí dụ, bài Cô gái vót chông.

… Còn giặc Mỹ cọp beo
Khi còn giặc Mỹ cọp beo
Em chưa ngừng tay vót chông rào làng
Nhưng mai đây giặc chạy rồi
Tre rừng ta làm nhà làm chòi cao

Tường hát rất thành khẩn:

… Nhưng nay mai giặc chạy rồi
Thằng Việt Nam lại nhốt thằng Việt Nam…

Một hôm, cả phòng cười lăn lộn. Ông Khai cười rung râu, Tường mượn cuốn lịch tay Quân đội nhân dân của bạn tù xem. Dở trang ghi lộ trình hỏa xa, Tường đọc lớn:

“Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1000 ki-lô-mét. Thành phố Hồ Chí Minh, Chí Hoà, 1 ki-lô-mét. Thành phố Hồ Chí Minh, đề lao Gia Định, 3 kí-lô-mét… Thành phố Hồ Chí Minh, nhà tôi, 100 ngàn ki-lô-mét!”

Ấy đó, niềm vui FG. Chúng tôi buồn như vậy, vui như vậy. Cạnh nỗi buồn, niềm vui còn có khoái gãi ghẻ và khoái ngoáy lỗ ghèn. Mọi việc sẽ bình thường, nếu con người can đảm chịu đựng và cố gắng tìm kiếm sự bí ẩn trong thống khổ.

——————————–

1Đã sang Bỉ năm 1984 và chết ở Bỉ năm 1986. Một người tài giỏi, không thích hợp với bất cứ chế độ nào và ở bất cứ chế độ nào cũng nằm tù.
2Thân nhân thường mua túi đựng phân bón chứa quà gửi vào cho được nhiều và tiện.
3Bài giảng trên núi của chúa Jesus theo Thánh Matthew, trong Kinh Thánh, bản tiếng Việt của hội Gideons quốc tế.

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Phần 23

Trước Tết năm 1978 ba ngày, chúng tôi nhận được quà thăm nuôi của gia đình. Trừ các tù nhân “con bà phước”, thư từ của chúng tôi đã về tận nhà. Mỗi khu một ngày thăm nuôi. Không khí Chí Hòa rộn ràng những ngày cuối năm. Sự nhận quà ở Chí Hòa khác hẳn đề lao Gia Định. Có vẻ… dân chủ một tí. Tù nhân được gọi xuống phòng thăm nuôi nhận những túi bị đề tên mình. Trật tự viên khám đồ, không cần sự giám sát của cai ngục. Giả vờ vất hai gói thuốc lá xa túi quà của mình thì sự kiểm soát dính theo trạng từ qualoarement. Quên giả vờ hay tiếc của thì sự kiểm soát tỉ mỉ và bị hạch hỏi lung tung. Cái màn đổ thịt kho ra thau, dùng đũa khoắng tứ tung không có ở Chí Hòa. Được cái dễ này, mất cái dễ kia. Ở đề lao Gia Định, quà cáp vào, tù nhân loay hoay rỡ ra bỏ vào bị vào keo. Bánh kẹo, đường thẻ, mì vụn, sữa bột ưu tiên cất trước. Rồi mới đến nước mắm, mỡ phi hành, xì dầu, thịt kho, tôm kho… Những món cần tiêu thụ ngay như bánh cuốn, bún chả, phở xào để riêng ra. Thời gian dành cho dịch vụ “thăm nuôi” mất cả tiếng. Sau đó, mồ hôi toát đầm đìa, mỡ màng nhớp nhúa đầy tay. Làm một phát tắm gội thoải mái rồi enjoy là nhất. Ở Chí Hòa, chỉ có một ca nước rửa tay. Thưởng thức quà cáp của vợ con cũng kém phần hứng thú. Chẳng ai đặt ra, nhưng đã thành lệ: Tù có thăm nuôi mời “con bà phước” chung vui một bữa đầu tháng. Ở Chí Hòa đông anh em quen biết còn vui hơn. Ta chơi góp quà ăn liền enjoy tập thể. Đủ các thứ, đủ các món. Tết Chí Hòa, chúng tôi có dưa hấu, bánh chưng, giò chả… Tư Long cho phép “liên hoan” ba ngày Tết, tính từ đêm 30. Trong ba ngày này, miễn điểm đanh, miễn báo cáo và miễn… tắm. Lợi dụng “liên hoan”, chúng tôi xào mì, xào hủ tíu, nấu chè bột xả láng.

Đêm 30 Chí Hòa năm 1978 là đêm rộn rã nhất trong đời tù của tôi. Phòng bên phải loan tin:

– Đàn anh đón nghe nhé, chúng em ca nhạc trắng đêm.

– Đêm không ngủ hả?

– Dạ. Đêm chờ quân ta về.

– Có sân khấu không?

– Nhạc cụ, trống phách đàng hoàng.

Đoàn Kế Tường khoái lắm. Bản tính của Tường sống động. Tường đại diện phòng tôi liên hệ với phòng phản động trẻ.

– Đàn anh có thăm nuôi không?

– Có.

– Tưởng không có, đàn em thẩy sang.

– Thiếu cà-phê thôi.

– Cái đó chịu à. Này đàn anh, ô dưới các em gái hậu phương hứa hẹn hát chào mừng các anh trai tiền tuyến đấy.

Những phòng ô của FG dành riêng nhốt đàn bà, con gái và con nít có mẹ đi tù! Con nít theo mẹ đi tù, mẹ lại mang bầu và cha lao động cải tạo rừng già là một điểm sáng chói của chủ nghĩa Mác Lê bách chiến, bách thắng. Dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng, còn có người mẹ mang bầu dắt con vào tù về tội mua bán xăng nhớt của bộ đội nhân dân! Các nữ tù ở phòng ô được hưởng đặc ân, đặc lợi. Đặc lợi: hồ nước ngay trong phòng, nước tràn trề ngày đêm. Đặc ân: Hàng ngày ra dạo vườn hai tiếng, phơi quần áo, co quần áo. Nhiều em trẻ và mướt lắm, diện đáo để. Chúng tôi thường đứng sát tường, ngắm các em nhởn nhơ qua song sắt nhà tù. Khu FG là khu lẫy lừng, tù nhân phải lẫy lừng. Vậy đa số các em dưới ô FG, theo Đằng Giao, đều đã dính vào những vụ tán tỉnh yêu đương quý vị cán ngáo có Honda 90, Vespa Sprint dại gái, lùa quý vị này vào đường tình sử để bồ tèo lột Honda, Vespa và đôi khi, thủ tiêu luôn quý vị ấy. Đoàn Kế Tường nhiều sáng kiến. Tường chỉ chúng tôi từng em và đặt tên nhân vật nữ Kim Dung cho mỗi em.

Ngay chập tối, phòng phản động trẻ đã phóng tín hiệu xuống dưới ô:

– Trên văn nghệ trước, dưới văn nghệ sau nhé!

Dưới ô, một em trả lời.

– Ô-kê!

Các nhà tư sản mại bản sợ văn nghệ phiền phức, bèn đi ngủ sớm. Như thế, khỏi tham gia văn nghệ và có lý do chính đáng “làm việc” với cai ngục, nếu bị gọi ra.

– Đàn anh!

Đoàn Kế Tường đáp.

– Rõ.

– Tụi em chơi bạo đấy. “Thà một phút huy hoàng rồi sụp tối”…

– Chơi đi.

– Chơi chứ. Đàn anh yên chí, tụi em vừa tuyên thệ sống chết có nhau, trung thành với tổ quốc. Chỉ FG chơi thôi. Các khu khác vượt biên, hình sự lem nhem, bộ đội đào ngũ sẽ vểnh tai nghe.

– Bạo lắm.

Chúng tôi chờ đợi vài phút. Bỗng trỗi dậy một tiếng hô dõng dạc mà tôi nghĩ toàn thể tù nhân Chí Hòa đều nghe rõ.

– Nghiêm! Quốc kỳ chào!

Tôi vốn chán cái trò “chào cờ, mặc niệm, suy tôn tổng thống” từ ngày khôn lớn. Mười tuổi, tôi say mê chào cờ đỏ sao vàng, suy tôn Hồ Chủ Tịch. Vào đời, sự say mê nguội lạnh nhưng bị cưỡng bức chào cờ vàng ba sọc đỏ, suy tôn Ngô tổng thống ở ngoài đường, trong rạp xi-nê. Thì đành đứng nghiêm mà lòng ấm ức. Một lần, chỉ một lần thôi, tôi rưng rưng nước mắt thấy lá cờ quốc gia quen thuộc không còn nữa vào buổi sáng 1-5-1975. Tôi xuống phố. “Tôi đi không thấy phố thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ”. Mưa rơi ngập mắt tôi. Bây giờ, nghe bạn tuổi nhỏ hô “nghiêm”, tự nhiên, tôi đứng nghiêm, lòng chứa chan hoài cảm và hồn phất phơ lá cờ tổ quốc. Cả phòng tôi đứng nghiêm, trừ những nhà tư sản mại bản và mấy tên bộ đội đào ngũ. Chúng tôi hướng mắt sang phòng bên cạnh, hình tưởng quốc kỳ, bàn thờ tổ quốc hương trầm nghi ngút. Bản quốc ca vang lên, hùng tráng. Bản quốc ca vang lên từ nhà tù Chí Hòa. Lâu đài âm thanh muốn rạn gẫy song sắt, xiềng gông. Chúng tôi hát theo. Rồi các khu khác hát theo. Cai ngục không có phản ứng. Họ cố tình “thả giàn” ba ngày Tết. Và họ sẽ bất lực đàn áp cả nhà tù. Sự nguội lạnh và rửng rưng chào cờ của tôi được hâm nóng và tha thiết đêm trừ tịch năm ấy. Từ đó, cờ tổ quốc trong tim tôi. Một đời chỉ cần chào cờ một lần thật xúc động. Tôi đã chào cờ một lần. Tôi ước ao được chào cờ thêm lần nữa, trên quê hương tôi. Ngoài ra, tôi sẽ khước từ chào cờ ở bất cứ nơi nào. Nó phù phiếm, giả tạo và chẳng cưu mang một ý nghĩa nào. Anh sẽ phản đối tôi, dĩ nhiên. Vì anh chưa hề hưởng hạnh phúc chào cờ, hát quốc ca trong khám Chí Hòa. Nếu anh có hạnh phúc ấy, anh sẽ phải suy nghĩ lại lòng yêu nước của anh. Người đau khổ sẵn sàng tin nghe người sung sướng. Nhưng người sung sướng khó mà tin nghe người đau khổ. Do đó, giữa anh và tôi đã có một biên giới, một đoạn tuyệt về ý niệm đời sống.

– Chú ý, phút mặc niệm các chiến sĩ hy sinh vì tổ quốc, các chiến sĩ bị Cộng sản sát hại bắt đầu…

Điệu sáo ai oán não nùng của Tiêu Sử phản động vụt bay khỏi phòng giam, lãng đãng trong vùng trời Chí Hòa. Im lặng tuyệt đối. Tiếng sáo buồn “mặc niệm” đã khiến chúng tôi rơm rớm lệ. Anh đã hiểu tại sao những tiểu thuyết của tôi sáng tác ở Pháp chỉ nhằm mục đích vinh tôn tuổi trẻ chiến đấu ở quê nhà. Bởi rằng tôi đã nhìn thấy họ chiến đấu, nhìn thấy họ sa cơ, nhìn thấy họ tin tưởng, nhìn thấy họ bất khuất. Tôi đã nhìn thấy họ can đảm cả trong lúc sa cơ thất thế. Nhân danh họ, nhân danh lòng son sắt và sự chịu đựng thống khổ của họ, tôi có quyền khinh bỉ những kẻ mộng du chiến đấu, những kẻ giả hình chiến đấu dẫn dắt những tâm hồn đích thực chiến đấu vào chiêm bao. Tiếng sáo ngừng lại. Phút mặc niệm chấm dứt. Không có suy tôn lãnh tụ. Lãnh tụ nào đáng suy tôn? Lãnh tụ đáng suy tôn là tuổi trẻ Việt Nam anh dũng, là sư tử lãng mạn của dân tộc. Họ vừa mới làm lễ chào cờ, mặc niệm. Họ vừa mới hát quốc ca trong tù. Họ thách đố bạo lực và quyền uy Cộng sản.

– Bây giờ sang phần văn nghệ, đàn anh ạ!

– Vẫn lắng tai nghe đây.

– Mở đầu chương trình, DzũngThị Nghè trình bày ca khúc Vết thù trên lưng ngựa hoang của Phạm Duy tặng anh Duyên Anh.

Dzũng Thị Nghè chắc phải mê Dzũng Đakao lắm. Chú nào đó đã mánh mung dấu được cây Harmonica nhỏ. Chú thổi nhạc dạo. Sáo hòa theo. Giọng hát Dzũng Thị Nghè đầm ấm. Giàn trống là mấy cái xô nhựa và thau nhôm. Tôi thấy “văn nghệ khám” sáng giá quá. Tôi rất cảm động được hát tặng bài hát mở đầu, bài hát Phạm Duy lấy ý một đoạn trong Vết thù hằn trên lưng con ngựa hoang làm lời. Tôi không ngờ, lưu lạc bất cứ một trại giam nào, một phòng tù nào cũng gặp khá đông độc giả của mình. Mà độc giả tuổi trẻ yêu mến tôi nhất. Họ đến với tôi, an ủi tôi, giúp đỡ tôi, săn sóc tôi. Và đó chính là tai họa. Tai họa tới từ hai phía 1. Tôi chăm chú nghe Dzũng Thị Nghè. Bài hát dứt, chúng tôi vỗ tay. Phòng phản động trẻ vỗ tay quyết liệt. Dưới ô, các em gái “bis bis” loạn xì ngầu. Tiếng hát Dzũng Thị Nghè, tiếng hát của tuổi trẻ hiên ngang như tiếng nhạc Thạch Sanh. Tiếng hát xuyên qua tường xi-măng cốt sắt, luồn qua trần phòng, sàn phòng, lách ngang chấn song tù, lan tỏa khắp không gian. Tiếng hát tin tưởng một niềm vui lệch đất, nghiêng trời.

– Sau đây Hiền lừa hát tặng anh Đoàn Kế Tường và các anh bản Ra khơi của Phạm Duy.

Hiền lừa hẳn đá bóng ngang cơ Bồn lừa. Chú nhỏ hát thật tốt. Đến đoạn cuối, hợp ca bốn bè. Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng cảm khái hát theo. Văn nghệ do phòng phản động trẻ đảm trách kéo dài khoảng hai tiếng đồng hò thì được kết thúc bằng bài Quê em của Nguyễn Đức Toàn. Cả phòng hát. Khi tới câu: “Bao là gươm, bao là súng, dựng lưỡi lê lên đi lấy lại làng xưa. Bao lòng dân, bao chờ mong, quân ta sẽ về, quân ta sắp về”.., các bạn trẻ reo hò:

– Quân ta sắp về rồi!

– Quân ta về giải phóng Saigon tới nơi rồi…

– Quân ta phải về, anh em vững niềm tin.

Vỗ tay tưng bừng. Cứ như pháo mừng thắng trận. Bỗng nhiên, bên phòng hình sự rầm rầm la lối. Đoàn Kế Tường hỏi vọng sang:

– Chuyện gì thế?

– À, có thằng khốn nó hát “quân ta đếch về”, tụi này sửa nó cho bõ ghét.

– Thôi bỏ qua đi, nó cũng mong quân ta về nhưng quân ta chưa về, nó nản nó than “quân ta đếch về” đấy.

– Ô-kê, nghe anh.

Bây giờ, các em tù nữ chơi văn nghệ. Các em hát toàn nhạc sến. Vậy mà nghe cũng thấm thía. Lâu lâu nghe nhạc sến triết lý “hai với hai là bốn, thực tế thế mà khôn” hay “con Thúy con Hồng nhìn em khẽ nói, Tao biết rồi mày đang đón người yêu”… thú vị ra phết. Tôi chỉ đủ can đảm lắng tai nghe hai ca khúc sến. Bèn đi nằm. Văn nghệ dưới ô thiếu hấp dẫn nên nó tàn mau. Nửa khuya, có lẽ cảm khái văn nghệ phòng tập thể, một giọng hát tuyệt vời từ cachot bung ra. Ali Hùng. Đích thị người nhái Ali Hùng. Chàng diễn tả ca khúc Tôi ru em ngủ của Trịnh Công Sơn. Chúng tôi đang nằm, ngồi hết dậy nghe người tử tù gửi một thông điệp cuối cùng cho đời sống. Đã nhiều đêm, ở đề lao Gia Định tôi nghe tiếng sáo gió của Ali Hùng. Đêm nay, tôi nghe chàng hát. Cachot FG Chí Hòa xoáy mòn thân phận của tử tù trước ngày nó trở về cát bụi. Tôi chưa thấy, ở một chế độ nào, tù nhân bị tuyên án xử tử và Chủ tịch Nhà Nước khước từ sự khoan hồng mà vẫn phải kéo dài tháng ngày đợi chết trong quan tài xi-măng. Đúng vậy, cachot FG Chí Hòa là thứ quan tài xi-măng. Tôi đã biết những cachots FG xây sát cầu thang mỗi lần xuống sân tắm. Tận mắt, tôi nhìn nước ở sàn cachot rỉ ra nhễu giọt liên tục. Thì tôi đoán nổi sự ẩm ướt thường xuyên. Không có ánh sáng vào cachot FG.

Người ta đã kiểm soát được ánh sáng. Có lẽ, khoa học kỹ thuật Cộng sản đang nghiên cứu phương pháp kiểm soát không khí. Và Nội quy của nhà tù Cộng sản sẽ có điều cấm tù nhân thở tự do.

Một chút về cachot FG Chí Hòa: Chiều dài của cachot 1 thước 50 phân. Chiều ngang, 70 phân. Chiều cao, 1 thước 80 phân. Tường bê-tông cốt sắt. Cửa sắt dày, ba ổ khoá. Một ô cửa nhỏ giữa cửa lớn đúng tầm mắt tù nhân đứng để cho cai ngục rọi đèn vô xem tù nhân còn sống hay đã chết và để đưa cơm nước cho tù nhân. Cachot FG Chí Hòa trên lầu chót, hai dẫy đối diện, cách nhau một hành lang hẹp không đèn, dù đèn vàng hiu hắt. Do đó, cachot ngàn năm tối tăm. Dưỡng khí lùa vào hành lang. Tù nhân hít thở qua 6 cửa nhỏ, gọi là “cửa gió”. Bên trong cachot có cái xô. Tù nhân tiểu tiện, đại tiện vô đó. Không có giấy chùi đít. Tù nhân sẽ noi gương súc vật nếu không muốn xé quần áo làm giẻ chùi hay nếu không muốn nhịn uống dùng nước rửa đít. Mỗi ngày, tù nhân được phát hai ca nước đun sôi. Không có chiếu. Tù nhân nằm, ngồi trên sàn xi-măng đã đóng lớp phân tiểu khô quánh của các tù nhân bị nhốt ở cachot qua nhiều chế độ. Con người đã được chủ nghĩa Cộng sản ưu việt bảo vệ với đầy đủ phẩm cách làm người. Nó hít thở nhiều uế khí, nhiều thán khí và rất ít dưỡng khí. Nó chỉ được mặc một bộ quần áo. Hàng tuần, chủ nghĩa ưu ái cho nó đi tắm một lần. Nó xách xô phân tiểu theo. Trước hết, nó đổ phân tiểu xuống cống, rửa sạch xô. Rồi nó tắm gội, giặt quần áo. Chủ nghĩa giám sát nó trần truồng tắm gội. Vì chủ nghĩa quản lý con người. Không tìm ra sự trắc ẩn trong danh từ quản lý nên chủ nghĩa mặc kệ sự ghẻ lở của con người tắm thiếu xà phòng. Con người tắm xong, giặt quần áo xong, vắt khô quần áo rồi mặc và xách xô lên cachot đợi lần tắm giặt, đổ phân tiểu kế tiếp. Nó sẽ phơi quần áo trên giây thân thể trong bóng tối mịt mù cho đến khi khô. Ấy đó, cachot FG Chí Hòa, nơi các tử tù Nguyễn Văn Nghị, Nguyễn Việt Hưng, Ali Hùng đã sống chờ chết, nơi Đoàn Kế Tường đã sống và đã phát biểu: “Với cachot FG, mọi thứ cachot trên đời đều vô nghĩa”, nơi báo chí Mỹ không bao giờ sủa ăng ẳng đòi “cải thiện chế độ lao tù”. Có cơ may nào dẫn họ vào cachot FG Chí Hòa? Những kẻ từng gang họng lên án “Chuồng Cọp Côn Sơn” sẽ xấu hổ lắm khi họ được phép “tham quan” – tham quan thôi – một cachot thứ yếu của khu FG khám Chí Hòa dưới chế độ quang vinh Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lê Thanh Minh, đại úy trốn trình diện học tập, người đã từng coi tù Cộng sản ở Côn Sơn, nói với tôi hồi chúng tôi sống ở phòng 6C-1 đề lao Gia Định: “Chuồng cọp thấm mẹ gì! Nó chỉ là thứ cũi sắt nhốt những thằng vi phạm kỷ luật, những thằng sách động tù nhân. Nó rực rỡ ánh sáng và tràn đầy dưỡng khí”. Đại úy Lê Thanh Minh mới chỉ so sánh Chuồng Cọp với cachot khu A đề lao Gia Định mà anh đã bị nhốt. Trên tất cả những điều tôi muốn nói, tôi muốn hỏi báo chí Mỹ đã từng ủng ẳng đòi Việt Nam Cộng Hòa “cải thiện chế độ lao tù” là họ nghĩ gì về những tử tội phải kéo dài tháng ngày đợi chết ở cachot FG Chí Hòa. Có nên phất ngọn cờ Quyền Chết của con người bên cạnh Quyền Sống của con người? Và tôi cũng muốn hỏi qúy vị tự xưng mình là Đại Diện cho tù nhân chính trị, tù nhân tư tưởng ở Việt Nam, đòi hỏi Cộng sản – có vị còn hách dịch bắt Cộng sản Việt Nam – thả hết tù nhân ra khỏi các nhà tù, có vị nào đã nằm tù Cộng sản? Tôi biết đích xác những vị to mồm nhất đều là những vị đã phè phỡn, ít nhất, 20 năm ở ngoại quốc. Hôm nay, quý vị ấy đấu thầu tù nhân bằng nước bọt, quý vị ấy dùng tù nhân làm thang để leo lên sự nghiệp ái quốc, ái quần. Quý vị ấy tưởng tượng nỗi khổ của tù nhân, mở đồ hộp cho chó ăn mà liên tưởng cảnh đói của tù nhân quê hương. Nếu quý vị còn liêm sỉ nên câm họng lại. Bởi vì, có đến 99 phần 100 tù nhân chính trị, tù nhân tư tưởng, tù nhân của lương tâm đã, đang nằm trong các nhà tù Cộng sản Việt Nam, bị đày đọa quằn quại thì có, bị hành hạ khốn đốn thì có, nhưng rên siết thì không. Và, chắc chắn, ai cũng muốn phỉ nhổ vào mặt những kẻ đấu thầu nỗi khổ của mình. Tôi dám nói điều này: Tất cả những lên tiếng của bất cứ một cá nhân, một hội đoàn nào yêu cầu Cộng sản thả tù nhân đều vô tích sự và chỉ làm phiền tù nhân. Cái tích sự, nếu có – bắt buộc phải có, đi buôn cần kiếm lời – là ồn ào quảng cáo tên tuổi mình. Người Việt Nam quốc gia hải ngoại chỉ có mỗi cách can thiệp hữu hiệu nhất cho tù nhân là đầy đủ lực lượng quân sự giải phóng dân tộc, xóa bỏ mọi nhà tù, trại tập trung Cộng sản. Cách thứ hai, kém hữu hiệu, nhưng làm tăng sự can đảm để tù nhân sống mà hy vọng ngày được giải phóng là âm thầm vận động Amnesty international, âm thầm vận động các Tổ chức quốc tế có thế lực, âm thầm vận động với chính phủ các nước viện trợ nhân đạo cho Cộng sản Việt Nam để họ làm áp lực, để họ can thiệp cho tù nhân đỡ bị hành hạ điêu đứng và cho những tù nhân già cả, bệnh hoạn được tha. Cách thứ ba thiết thực nhưng khó thực hiện, là đóng góp tiền bạc, mua thuốc, gửi tiền tặng vợ con tù nhân để vợ con họ vững lòng nuôi chồng đợi ngày đoàn tụ gia đình. Cách này khó thực hiện vì sẽ chẳng vị đại diện nào chịu bỏ tiền mà quyên tiền thì tiền cứ muốn chạy vào túi riêng! Trên mọi địa hạt, hai kẻ đối nghịch không nhường nhau một bước. Cộng sản không thể bảo quốc gia đừng chống nó. Quốc gia không thể “ra lệnh” cho Cộng sản thả tù vô điều kiện. Tranh đấu là tốt, nhưng chớ quên lô-gích. Những kẻ thích đại diện hư ảo, thích nhân danh hư không (ai cho phép đại diện, ai cho phép nhân danh) thường giả vờ quên lô-gích, biết chuyện phù phiếm, vẫn rêu rao lấy danh. Nghĩ mà đau cho tù nhân. Họ chẳng biết cachot FG, chẳng được chào cờ, mặc niệm ở khám Chí Hòa, đã đành, họ còn chẳng biết 20 năm chiến tranh, dân tộc họ ra sao; họ ngậm miệng hôm qua, họ to mồm hôm nay và to mồm hơn cả tù nhân đã kinh qua ngục tù Cộng sản! Bọn đấu thầu nỗi khổ sao hiểu nổi cái hào sảng của tù nhân, hiểu sao nổi cung cách sống chờ chết mòn của tù nhân. Cái hào sảng của Ali Hùng, chẳng hạn, sống đợi chết, vẫn Tôi ru em ngủ.

Giọng Ali Hùng bồng bềnh lãng mạn, chan chứa cảm xúc. Hòa âm cho bản nhạc chàng hát là nỗi hiu quanh ngục tù. Nơi tiếng hát bay ra, cachot FG, như nơi tiếng đàn Thạch Sanh thoát lên. Đã cổ tích dưới hang lấp kín đá. Sẽ cổ tích Chí Hòa mai sau. Người ta sẽ kể cachot của Ali Hùng lớp phân dầy mấy phân, thấm nước mắt của tù nhân oan khiên, thấm máu của tù nhân tự sát, qua các triều đại, qua những cách mạng. Người ta sẽ ngợi ca đoạn kết cổ tích Chí Hòa y hệt đoạn kết cổ tích Thạch Sanh. Không có con người trả thù con người. Lý Thông trở về đời sống hèn mọn của nó. Con người Thạch Sanh không nỡ giết nó. Nhưng trời không tha nó, Trời bắt nó chết thảm. Những đứa gian ác sẽ hoá thành bọ hung hết. Thạch Sanh ở mãi với lòng người, ngự trị mãi hồn đời. Ali Hùng và những ai làm tốt, làm đẹp cho quê hương sẽ ở mãi lòng người, ngự trị mãi hồn đời. Chàng biết uống giọt sống cuối cùng, dám uống giọt sống cuối cùng. Những người tử tù kéo dài thời gian đợi chết ấy không cần ai đại diện họ xin kẻ thù họ cả. Bọn đại diện, bọn cai thầu tù ngục đã vấy nhơ lên sự thản nhiên sống chểt của họ. Ali Hùng đó, chàng đã làm xong bổn phận của chàng với dân tộc chàng. Chàng thơ thới đợi ngày về đất. Trước khi nhập cõi, cái chết gần kề, trong bóng tối mông lung của thời đại, Ali Hùng vẫn lên tiếng.

Tôi ru em ngủ
Một sớm mùa đông
Em ra ngoài ruộng đồng
Hỏi thăm cành lúa mới
Tôi ru em ngủ
Một sớm mùa thu
Em đi trong sương mù
Gọi cây lá vào mùa
Con đường thật buồn
Một ngày cuối đông
Con đường mịt mù
Một ngày cuối thu
Em vào mùa hạ
Nắng thắp trên cao
Và mùa xuân nào
Ngẩn ngơ tình mới
Đi nhẹ vào đời
Thầm thì gót chân
Em gọi nụ hồng
Vừa tàn cuối sân
Nghe tình chợt buồn
Trong lá xôn xao
Để mùa xuân sau
Mua riêng tình sầu
Tôi ru em ngủ
Một sớm mùa xuân
Em hôn một nụ hồng
Hỏi thăm về giọt nắng
Tôi ru em ngủ
Hạ cũng vừa sang
Em hôn lên tay mình
Để chua xót tình trần

Chàng kết thúc ca khúc chàng diễn tả bằng cái “fade out”: Em hôn lên tay mình, để chua xót tình trần… em hôn lên tay mình, để chua xót tình trần… Rồi bốn bề im lặng. Em hôn lên tay em và em chua xót cuộc đời, chua xót tình người. Còn anh không chua xót gì cả, anh không cần em đại diện anh xin kẻ thù của anh tha anh, em hiểu chưa? Chúng tôi ngồi hút thuốc rê, thuốc lào chờ Ali Hùng hát thêm bài mới hay thổi sáo gió. Thiên hạ đã ngủ hết. Và Ali Hùng cũng bặt tiếng. Tôi hiểu Ali Hùng đuối sức rồi. Cachot FG đã xử tử anh từng phút. Những phát súng găm thân thể anh, hôm nào đó, khi anh dựa lưng cột sân bắn, sẽ là những phát súng ân huệ. Người ta sẽ ban ân huệ chết cho anh ra sao, Ali Hùng? Trước hết, người ta bắt anh há rộng miệng, tống kín họng anh một trái chanh để anh hết đòi hỏi một ân huệ cuối cùng dành cho tử tù. Rồi, người ta bịt mắt anh. Không có linh mục rửa tội giùm anh đâu. Anh bị âm thầm dẫn đến một huyệt mộ đào sẵn. Chắc chắn, vào đêm khuya. Người ta kê súng vô thái dương anh, bóp cò. Anh rơi luôn xuống huyệt. Người ta lấp đất và san phẳng. Chẳng có bia mộ đâu. Những cái chết đích thực của anh hùng quốc gia, quốc gia chân chính, đừng hòng người quốc gia biết để làm lễ truy điệu, đừng hòng người quốc gia biết ngày chết để làm giỗ chạp. “Chinh phu tử sĩ mấy người, nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn”. Ai đã gọi hồn Ali Hùng nhỉ?

Chúng tôi trải qua ba ngày Tết ở Chí Hòa. Theo… truyền thống nhà tù Cộng sản, ba ngày Tết tù nhân được ăn cơm với thịt. Cộng cả ba ngày, mỗi tù nhân hưởng một lạng thịt. Văn nghệ rộn ràng trọn ba ngày. Với tôi, văn nghệ chấm dứt sau bài ca của Ali Hùng. Sinh hoạt Chí Hoà trở lại bình thường. Tỷ phú Trần Thành đổi phòng và được giữ chức nuôi lợn. Hàng ngày, ông xách cái xô đến các phòng xin cơm thừa. Làm gì còn cơm thừa? Ông Tư Nhì có cái ghe đánh cá bên Chánh Hưng. Vì không chịu gia nhập Hợp tác xã, muốn làm ăn cá thể, ông bị vào tù và ghe của ông bị tiếp quản. Nhân vật Tư Nhì to con, cao lớn, bụng phệ như ông ve dầu Nhị Thiên Đường, hàm răng vàng chóe, vui tính, tốt dạ. Vì ông Tư Nhì khoẻ, phòng đề cử ông nhiệm vụ chia cơm. Chức quản lý nước đã giao lại cho Đoàn Kế Tường, lý do: Tường không ngủ trưa. Được một tuần yên lành sau Tết thì phòng phản động trẻ bị chuyển khu nguyên vẹn. Đó là phản ứng muộn màng của Chí Hòa đối với đêm văn nghệ trừ tịch. Lãnh đạo đã họp và quyết định phân tán mỏng phòng phản động trẻ. Sẽ khối chú vào cachot. Cai ngục Phách bắt đầu có thái độ với phòng của chúng tôi.

Một sáng điểm danh như thường lệ, Trưởng phòng Phạm Quang Khai mặc quần xà lỏn, áo sơ mi, đứng nghiêm:

– Báo cáo cán bộ, phòng 60 người, hiện diện đủ.

Chúng tôi ngồi xếp hàng 5, mỗi hàng 10 người. Mọi hôm, ông Khai báo cáo thế là xong. Nhưng cai ngục Phách dở chứng:

– Ai dạy anh báo cáo thế?

– Tôi vẫn báo cáo.

– Anh thuộc Nội quy không, đọc điều 1 xem nào!

Ông Khai quíu lưỡi. Chẳng có thằng tù nào thèm thuộc Nội quy cả, vì không thèm học.

– Anh phải học Nội quy, cả phòng phải học Nội quy Chí Hòa. Riêng anh, làm đến chức Trướng phòng thì nên biết cách báo cáo. Anh phải đọc sơ yếu lý lịch rồi mới báo cáo. Rõ chưa?

– Rõ.

– Báo cáo lại.

Ông Khai đứng nghiêm:

– Tôi, Phạm Quang Khai, sinh năm 19… tại..,, hộ khẩu thường trú số… đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, thành phố Hồ Chí Minh, can tội tư sản mại bản, bị bắt ngày… tháng… năm 1975, Trưởng phòng báo cáo cán bộ phòng có 60 can phạm, hiện diện đủ.

Cai ngục Phách, thằng oắt tì, gật gù:

– Được.

Buổi chiều, hắn tới đưa cho ông Khai 4 trang Nội quy đánh máy gồm 44 điều. Nội quy đề lao Gia Định có 11 điều thôi. Sáng hôm sau, vẫn cai ngục Phách điểm danh. Ông Khai báo cáo xong, hắn “giáo dục”:

– Anh Khai đọc Nội quy, cả phòng lắng nghe học thuộc. Tôi sẽ bắt đọc, anh nào không thuộc Nội quy sẽ bị cấm tắm, cấm nhận quà… Rõ chưa?

– Rõ.

Trưởng phòng Phạm Quang Khai đau khổ đọc 4 trang Nội quy và chúng tôi đau khổ ngồi bó gối nghe.

– Anh Khai!

– Dạ.

– Sao anh đọc như ăn cướp vậy, mắt liến la liến láu? Mai đọc thật chậm.

– Dạ.

Cai ngục Phách nhận chỉ thị hành phòng tôi. Phòng hình sự bên cạnh đâu phải đọc Nội quy. Nhờ tiết mục học thuộc Nội quy, Đoàn Kế Tường chế ra trò giải trí. Tường cầm Nội quy, phổ nhạc vào những điều khoản, thứ nhạc hát xong thì quên mình đã hát gì. Chúng tôi nghe Tường hát, ôm bụng cười. Tường bảo học kiểu này chóng thuộc. Trong cảnh khốn cùng, kẻ nào làm cho người khác cười vui, kẻ ấy là Bồ Tát. Đoàn Kế Tường đã là Bồ Tát. Giữa không khí sôi nổi học Nội quy, phòng chúng tôi tiếp nhận linh mục Nguyễn Văn Tự Do và anh Đình (tôi không nhớ rõ họ, hình như Võ Xuân Đình). Linh mục Nguyễn Văn Tự Do, tên căn cước là Nguyễn Văn Tự, người giảng Phúc Âm trên Đài Phát Thanh Saigon. Ông bị bắt về vụ Đức Mẹ Fatima Bình Triệu. Vụ này hơi ly kỳ và được thần thoại hoá ở đề lao Gia Định năm 1977.

Tù nóng kể cho tù nguội 2: Đức Mẹ hiện ra ở nhà thờ Đức Mẹ Fatima Bình Triệu. Thiên hạ hay tin, ào ào kéo về hành hương, cầu nguyện. Hoa dâng lễ ngập cả nhà thờ, Cộng sản không ngăn cấm nổi. Có một người tê liệt ngồi trên xe lăn, sai vợ con chở tới và đẩy xe vào nhà thờ cầu khẩn ân huệ. Anh ta đứng dậy, chạy nhẩy bình thường. Cộng sản sợ hãi, bắt anh ta đem đi đâu chẳng rõ. Đồng thời, một số linh mục cũng bị bắt, trong số đó có linh mục Nguyễn Văn Tự Do và linh mục Hoài Linh 3. Ngoài các linh mục còn thêm một nhân vật “kỳ bí” Hồ Ngọc Anh. Nhân vật này bị Cộng sản chọc mù mắt ở cachot, Đức Mẹ vẫn ban ân nhìn đời sống rõ như ban ngày, bị Cộng sản bỏ đói, Đức Mẹ vẫn nuôi nấng… Vân vân. Hồ Ngọc Anh nằm cachot khu A đề lao Gia Định. Tôi không tin. Gặp linh mục Nguyễn Văn Tự Do, ông không chịu giải thích. Nhưng ông thích bàn luận chuyện chính trị. Và ông bị kết tội phản động. Anh Đình nói là anh cộng tác với nhật báo Chính Luận, rất thân Đặng Văn Sung. Tổng số tù nhân phòng tôi nâng lên 62 người. Có linh mục Tự Do, các tù nhân Thiên Chúa giáo mừng ra mặt. Chúa đã gửi linh mục Tự Do đến phòng của chúng tôi.

Trưởng phòng Phạm Quang Khai bị đọc Nội quy hai tuần liền mệt đừ. Ông ta chưa thuộc hết và chúng tôi, mỗi người mới thuộc vài điều đề phòng bị cai ngục Phách truy bài. Hắn chưa truy bài “học tập’” thì bị đổi sang khu khác cùng với cai ngục Quỳnh. Cai ngục mới điểm đanh. Trưởng phòng Khai báo cáo kiểu cai ngục Phách, bị hạch hỏi:

– Sao anh râu ria thế?

Ông Khai ngẩn tò te:

– Tôi già rồi, được phép để râu.

– Râu ria là dài dòng chứ không phải râu của anh. Râu của anh ai thèm quan tâm. Báo cáo vắn tắt.

Vậy là ông Khai thoát nạn kể sơ yếu lý lịch đọc Nội quy 44 điều. Làm Trưởng phòng khổ vô cùng. Thế mà ông Khai khoái. Ông ôm luôn chức Thư ký phòng, ông chủ tọa các phiên họp cuối tuần rồi ông gò lưng tôm nắn nót biên bản. Dường như, những người đã có địa vị chức tước xã hội thì ở nơi chốn nào, hoàn cảnh nào vẫn thích chức tước, địa vị.

Hai hung thần Quỳnh, Phách cút, Đoàn Kế Tường hát cho cả phòng nghe bài Em đến nuôi anh một chiều mưa, nhạc Tô Vũ, lời Đoàn Kế Tường.

Em đến nuôi anh một chiều mưa
Em đến nuôi anh một chiều đông
Nuôi lần này ở ngay khám Chí Hòa
Em đến nuôi anh lầm than quá
Cầm cái phong bì
bước qua cổng khám
là đến phòng nuôi
Em đến nuôi anh trình xong giấy
Em đến nuôi anh bàn cu Phách
gần bên thằng Quỳnh
Mặt nhìn mặt hồi lâu Tư Long mới phán một câu
“Hiện thời còn đây
Ngày mai nuôi đâu
thư sẽ gửi sau
Nếu hên xuống Long Thành
Nếu xui tới Lao Bảo
Và xa hơn, ngoài Bắc
Nếu không gắng học tập
Sẽ chui ấp Hoả Lò
Cải tạo thêm mười năm
Chắc mai mốt anh về
Sẽ lê giống anh Quang què
hay là cuộc đời buồn như Ngao Song
như Nguyễn Mạnh Côn

Lòng nhủ thầm lần sau nuôi anh
một túi đầy hơn
Em ước mơ kỳ thăm nuôi tới
Em đến nuôi anh còn khu F
Và chưa chầu trời…

Quang què tức là đại úy nhẩy dù Quang (tôi không nhớ họ anh ta), ông Đô trưởng của 3C-1 mà tôi đã giới thiệu sơ sơ ở phần thứ hai Nhà tù, hiện đang sống chung phòng với chúng tôi. Sống chung với chúng tôi nên kể ông Phường trưởng Phạm văn Diện, bạn đồng nằm vùng của Vũ Hạnh. Nhờ nằm vùng, Diện được chỉ định làm Phường trưởng một Phường thuộc quận 3. Rồi bị kết án “mất phẩm chất cách mạng”. Và vô tù. Diện vẫn nuôi hy vọng cách mạng sẽ soi sáng nỗi oan cho mình. Anh ta có vẻ nguy hiểm nhưng nể nang Đoàn Kế Tường. Tường ngông nghênh, chấp hết, ăn nói mạnh bạo, phản động quyết liệt. Có tài nhại nhạc, nhại thơ. Đoàn Kế Tường đã nhại bài Đi chơi chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp. Rất tiếc, tôi nhớ có vài câu, xin ghi ra đây gọi là nhớ người bạn tù:

Hôm nay ngày thăm nuôi
Xe cộ chạy ngược xuôi
Tay em xách cái giỏ
Tay kia cầm gói xôi…

Được anh em tán thưởng Em đến nuôi anh một chiều mưa, Đoàn Kế Tường chế tạo thêm Kỷ vật cho em đưa tên các bô lão râu dài, bệnh tật của phòng vào lời:

Em hỏi anh
Em hỏi anh: Bao giờ trở lại
Xin trả lời đến Tết mới về.

Anh trở về thành cụ Ngao Song
hay ít ra cũng bằng cụ Hà Năng Đắc
Anh trở về già như cụ Lựu
Anh trở về tóc trắng Nguyễn Mạnh Côn
Anh trở về
Đem bệnh trĩ của Nguyễn Văn Trương
hay bệnh lao của Bùi Kim Bảng
Anh trở về
điếc lòi Phan Bá Thúc…

Cứ thế, ngày trôi nhanh. Nhờ Bồ Tát Đoàn Kế Tường. Tù đầy không hứa hẹn chi cả. Chúng tôi luôn luôn ở tư thế chuẩn bị đổi phòng, chuyển trại, luôn luôn nghĩ rằng tương lai nghẹn ngào hơn hiện tại.

——————————–

1Sẽ viết rõ ở Trại tập trung.
2Tù nóng: Tù vừa mới bị bắt. Tù nguội: Tù đã nằm đề lao lâu.
3Cũng làm nhạc nhưng không phải nhạc sĩ Hoài Linh.

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Phần 22

Chí Hòa không phải là đề lao Gia Định. Để có nhận xét này, nhiều tù nhân đã sưng mặt, phù mỏ. Kinh nghiệm Chí Hòa được phổ biến ở phòng mới. Bây giờ, mọi người mới vỡ lẽ, với Cộng sản không có đòi hỏi, không được phép đòi hỏi. Với Cộng sản, phải giành lại. Muốn giành lại, phải chiến đấu. Khi chưa đủ sức trực diện chiến đấu, cần biết “xếp tàn y lại để dành hơi.” Theo Cựu ước, có một thời im lặng và một thời lên tiếng. Đa số chúng ta không quán triệt cái thời của mình. Nên đã ồn ào lên tiếng vào thời cần thiết im lặng. Do đó, sự lên tiếng vội vàng đã lạc lõng trong hoang vu của thế sự. Mà, buồn thay, sự lên tiếng vội vàng thường hụt hơi. Cuối cùng, nó biến thể thành những gấu ó lẫn nhau vô tích sự, những chụp mũ bôi bẩn lẫn nhau bệ rạc. Rồi tiếng nói nào dõng dạc cho đúng thời? Tôi sợ rằng sẽ không có tiếng nói ấy.

A, tôi cần giới thiệu những nhân vật của phòng tôi. Trước hết là Trần Thành, nhà tài phiệt lừng lẫy Chợ Lớn, một trong những tài phiệt đã góp phần thao túng nền kinh tế miền Nam. Tất cả tỷ phú đều keo cú, bần tiện. Điều này là chân lý. Trần Thành thoát khỏi cái chân lý khốn kiếp. Ông ta hào sảng, cởi mở. Tôi nhớ, có thời gian ngắn sống chung với các ông Hoàng Kim Quy, Lý Sen, Lâm Huê Hồ, Trương Vĩ Nhiên, Trần Thành ở đề lao Gia Định, khu C-1, vào dịp đề lao bắt đăng ký tiền mặt, chỉ cho tù nhân giữ lại 30 đồng. Tỷ phú Trần Thành đã phát tiền tặng các tù nhân “con bà phước.” Ông ta không thèm đăng ký. Ai không nhận tiền, ông ta buồn bã, cố nằn nì được tặng. Trái lại, “vua kẽm gai” Hoàng Kim Quy khó ai xin nổi ông một điếu thuốc lào Cái Sắn chính gốc, hút xong là phê lăn kềnh. Tỷ phú Hoàng Kim Quy, nghị sĩ của nước Việt Nam Cộng Hòa, đã tặng tù nhân đề lao Gia Định, một “giai thoại” bất hủ. Ở đề lao, tù nhân được gửi tiền mua quà. Bài ca nhại lại nhạc và lời Quê em của Nguyễn Đức Toàn sau đây, diễn tả sinh hoạt đề lao:

Trong phòng giam khu C
Thường xuyên 40 người
Một tù hai gang chiếu
Trưa chờ cơm cháy
Sáng chờ chia nước sôi
Ngày điểm danh hai lần
Tờ mờ sáng tinh mơ
Anh em chưa thức dậy
Đã thấy hàng đầy sân
Thôi thì rau, thôi thì chuối
Tương chao, bánh mì, thuốc rê, thuốc lào…

Đủ các mặt hàng, từ dao cạo, cà-phê, trà, rượu, cán bộ phục vụ can phạm với giá cắt cổ. Đó là hiện tượng, không phải bản chất. Tỷ phú Hoàng Kim Quy gửi mua một ký cà-chua. Hôm đó, hàng về trễ. Khi chia, ông bận ngủ trưa. Lúc ông thức dậy, Trưởng phòng bảo ông nhận hàng. Nhà tỷ phú không nhận, ông bắt chia lại để ông chứng kiến. Cả phòng đành gom cà-chua một đống, chia lại. Tù nhân Hoàng Kim Quy đòi hỏi công bằng và hợp lý… chia hàng ở nhà tù, nhưng chưa hề thấy ông đòi hỏi công bằng và hợp lý cho dân chúng ở nghị trường. Mà sự công bằng ông đòi hỏi ở nhà tù cũng chỉ cho riêng ông. Ông lại chỉ đòi hỏi với các bạn đồng tù. Bởi vì, ông ta là một khuôn mặt tiêu biểu của cơ cấu quốc gia Việt Nam Cộng Hòa nên tôi thấy cần thiết nhắc lại “giai đoạn” bất hủ này. Những “chuyện buồn nhỏ nhặt” xẩy ra ở đề lao thường do các bậc “đại nhân” gây ra. Chẳng hạn, vị đại khoa bảng họ Vũ, ăn cắp chai tầu-vị-yểu (chai nhựa) của bạn đồng tù nghèo nàn, cãi nhau vì cơm chia cho mình có vẻ thiếu cân lạng, bị cai ngục mỉa mai: “Trí thức miền Nam các anh thế đấy a!” khiến đau lòng… trí thức. Nhưng ta trở lại tỷ phú Trần Thành.

Ông ta tình nguyện chùi rửa cầu tiêu và lau quét sàn phòng giam không cần các Tổ cắt cử trực sinh. Luôn luôn, trên môi điếu thuốc lá Ăng-lê, nhà tỷ phú Trần Thành làm công việc “‘đầy tớ” một cách vui vẻ. Không hề nghe ông ta thở dài, tiếc của, than thân, ông nói: “Còn sống, còn hy vọng làm lại.” Tinh thần lạc quan của ông ta đã dạy tôi can đảm chịu đựng. Tôi bỗng quên cay đắng, tủi nhục và nỗi chết. Tôi cũng nhớ nằm lòng câu nói của cai ngục Quỳnh: “Chiến đấu từ đau khổ, cố mà học nếu muốn chiến đấu chống Cộng sản”. Sự khinh miệt của Cộng sản: “Thế giới đâu đã đọc sách của các anh” lại sôi sục đáy tim tôi. Mỗi tù nhân hiểu “học tập cải tạo” một ý.

Nhiều người khước từ những bài học Cộng sản. Riêng tôi, tôi thành thật cám ơn “lời vàng ngọc” của gã cai ngục tầm thường, có thể, hắn đã cường điệu, hắn đã cương, đã bứt khỏi giáo điều của các lãnh đạo hắn. Song, quý hóa thay là ngón võ “đem cái đạo của thiên hạ trả lại thiên hạ.” Tôi nhập tâm câu nói: “Chiến đấu từ đau khổ, cố mà học nếu muốn chiến đấu chống Cộng sản.” Chúng ta đã, đang chiến đấu chống Cộng sản, chỉ tiếc rằng, trong chúng ta còn khá đông những kẻ tưởng tượng đau khổ mà chiến đấu. Và, tệ hại hơn, còn khá đông những kẻ nhục mạ nỗi đau khổ chống Cộng của người khác. Để độc quyền chống Cộng bằng đau khổ tưởng tượng. Chí Hòa là nơi tôi sẽ học hỏi nhiều hơn.

Nhân vật thứ hai của phòng tôi là Đào Mậu, Bang trưởng bang Quảng Đông, Saigon. Nhà tỷ phú này già nua, thâm trầm, ít nói, không có nét “đan thanh” nào cần diễn tả. Nhân vật thứ ba là Tăng Tài mà Đoàn Kế Tường đã phong chức Tư lệnh hải quân đường sông. Mọi vận chuyển lúa gạo đường sông miền Nam nằm trong tay ông Ba Tầu bụng phệ không biết viết cả chữ Tầu lẫn chữ Việt này. Tăng Tài, chắc chắn, thuộc huyết thống Tăng Sâm, rất có công lao vận chuyển thuốc Tây vào mật khu cho Cộng sản. Thế mà vẫn bị nhúm. Vì tư sản mại bản. Tư lệnh hải quân đường sông có bệnh thích cầm nhầm, bệnh “mất áo trắng đòi áo thâm.” Hôm chúng tôi bị khám hành lý, Đặng Hải Sơn xếp dọn đồ tù bị lục tung thấy lạc cái khăn tắm. Trưởng phòng yêu cầu anh em tự giác lôi hành lý của mình ra cho Đặng Hải Sơn tìm khăn. Cái khăn của Đặng Hải Sơn bị “lạc” vào bị của Tăng Tài. Vị tư lệnh hải quân đường sông thản nhiên nói: “Đây là khăn của tôi, nhưng nếu anh Sơn mất, tôi xé chia đôi”.

Đặng Hải Sơn ngao ngán: “Thôi, ông giữ mà dùng, giữ nguyên chiếc.” Dĩ nhiên, tỷ phú Tăng Tài cười rất đẹp và không cần… cám ơn.

Nhân vật thứ tư là Trương Viso. Nhà tư sản mại bản Việt 90% gốc Hoa 10% này có đức tính thích-hơn-người. Nước đã chia đều cho tù nhân dùng vào việc cá nhân. Trương Viso vẫn “chôm” nước xối cầu tiêu của phòng. Đoàn Kế Tường lãnh nhiệm vụ phân phối nước, chửi um lên. Trương Viso vẫn trơ ra. Anh em tặng Trương Viso hỗn danh Trương thớt me. Tôi hỏi ông ta:

– Ông không xấu hổ à?

Trương Viso tỉnh bơ:

– Xấu hổ gì? Đứa nào tức giận tôi, nó sẽ mau chết. Còn tôi, tôi cứ sống lâu.

Cái triết lý sống của Trương Viso sẽ hay lắm, nếu ông ta đừng xâm phạm vào quyền lợi của người khác. Người Tầu mưu sinh đất khách đã sống với triết lý đó. Mày cứ chửi ông, cứ coi thường ông đi, rốt cuộc ông giầu hơn mày, mạnh hơn mày.

Tôi vừa kể những khuôn mặt tư sản mại bản Chợ Lớn. Bây giờ, điểm mặt tư sản mại bản Saigon, Việt Nam chính gốc. Nhân vật cự phách hàng đầu vẫn là Phạm Quang Khai, tư lệnh hải quân đường biển. Ông Khai có những 50 chiếc tầu chở dầu chiến lược. Ông trở thành tỷ phú, được báo Newsweek của Mỹ xếp vào hạng 1 trong 10 người giầu nhất Việt Nam nhờ chiến tranh. Ông Khai không làm buồn ai, không làm hại ai cả nhưng vì quá tiếc của, vợ con lại… di tản từ khuya, ông đâm ra lẩm cẩm. Ông bị kẹt lại là do muốn di tản hết chổi cùn giế rách.

Chúa tầu mà không đi lọt, âu cũng là thiên định. Và còn là nguồn an ủi của những ai phải ở lại với Cộng sản. Ông tư lệnh hải quân đường biển Phạm Quang Khai có thú vui vá quần xà-lỏn. Hai cái quần của ông mỗi ngày một dầy, liệng xuống sông là chìm nghỉm. Đã thế, ông còn chơi râu. Tù nhân trên 50 tuổi, Đảng cho phép chơi râu, tuy Đảng rất thèm râu dành độc quyền cho Bác Hồ chơi. Ông Khai chơi râu, cai ngục khó chịu lắm. Hồi sống chung với ông Khai ở 1C-1 đề lao Gia Định, tắm sau ông là đợi dài. Ông… gội râu đã mất hai mươi phút, giặt quần xà-lỏn đụp hai mươi phút. Ông đeo kính lão cả giờ ngủ. Mỗi ngày, ông nằm “đạp xích-lô” ba lần, mỗi lần ông đếm dủ 3000 vòng. Để chữa bệnh trĩ, ông nói thế. Ông cũng đọc kinh, bấm đốt tay thay vì lần tràng hạt, mỗi ngày ba lần. Bốn giờ ông đã dậy đọc kinh, “đạp xích-lô”. Lúc ông đọc kinh, quan sát ông, tôi suýt phì cuời. Tay trái là tràng hạt, tay phải cầm quạt quạt phành phạch, miệng bập bập liên hồi. Tuy đọc kinh có vẻ tập trung tư tưởng lắm, nhưng đôi mắt ốc nhồi của ông vẫn ngó ra phía cửa xem cai ngục có đi tuần “đột xuất”. Hễ nghe bước chân cai ngục là ông Khai “phanh” miệng cái rốp. Sau khi đọc kinh, ông cung kính vái lậy tường tù và… tù nhân. Cai ngục nực ông vô cùng. Thằng Phách đã xỏ ông: “Anh Khai, anh đừng dỡ trò nhà có của đóng cửa đi ăn mày nhé! Cách mạng chưa tịch thu quần đùi của anh đâu. Anh bêu riếu cách mạng vừa vừa thôi.” Vậỵ là ông Khai liệng quần xà-lỏn đụp tại Chí Hòa. Ông đã giải phóng quần xà-lỏn, giải phóng công nhân xà-lỏn, không nỡ bóc lột thêm. Thú vui nặng tính chất “tỷ phú” của ông là làm cô-lếch-sông gói giấy đựng mì. Ăn mì xong, ông giữ lại cái bao, vuốt ve phẳng phiu, xếp ngay ngắn, cất vào bị. Anh em xin, làm đóm hút thuốc lào, ông không cho. Bị khám hành lý, cô-lếch-sông bao mì của ông bị cai ngục tịch thu, ông nằn nì xin lại vài cái. Cứ vậy, dài dài. Ông lẩm cẩm hay máu tỷ phú nó thế. Đồ thăm nuôi của ông, ông không tiêu thụ hết, nhất định để mốc vất thùng rác chứ chẳng dại cho các “con bà phước”. Đấy, nhà tỷ phú Phạm Quang Khai, ngang cơ tỷ phú Hoàng Kim Quy. Vua tầu dầu và vua kẽm gai giống hệt nhau.

Ông vua thứ ba, vua hóa chất Nguyễn Công Kha hỗn danh Kha muối 1, không đến nỗi keo cú và ích kỷ như hai vua tầu dầu, vua kẽm gai, nhưng có tính lo xa. Nghĩ rằng chỉ sợ hết thức ăn sớm, không chịu nổi canh bí rợ nấu muối. Ngày thăm nuôi, gia đình gửi vào ba miếng thịt bò bíp-tếch, một con gà rô-ti… Thay vì đã có sườn kho theo kiểu ‘’chả chìa”, thịt chà bông, thịt kho ăn dài hạn, bíp-tếch, gà rô-ti thưởng thức ngay cho sướng miệng. Không, người lo xa Nguyễn Công Kha ăn một miếng bíp-tếch bò thôi. Hai miếng kia rắc đầy muối, bỏ vô hũ, để dành tuần sau! Còn chú gà rô-ti, hôm sau đã có chất nhờn trên da, vua hóa chất nhờ bạn tù nghèo lột da, xé thịt rồí… ướp muối. Xương và da nhờn tặng “con bà phước”. Mất cả tỷ bạc mà vẫn ướp muối bò bíp-tếch thì… lạc quan thật. Ông Kha có hai niềm vui. Một: Khom lưng cúng Phật. Ông là người thân cận của hòa thượng Thích Tâm Châu. Một hôm, đang say mê cúng Phật, ông quên cai ngục Phách đứng ngoài hành lang theo rõi ông.

– Anh kia!

Vua hóa chất giật mình:

– Làm gì thế?

– Tôi tập thể dục, cán bộ ạ!

– Thành khẩn đi, anh lễ lạy ai?

– Dạ, tôi lễ Phật.

– Anh mất tự do rồi, cấm chỉ anh lễ Phật.

– Nhà nước chủ trương tự do tín ngưỡng.

– Trong tù không có tự do, hiểu chưa?

– Hiểu.

Ông Kha mất niềm vui cúng Phật. Hai: hàn những lọ nhựa, keo nhựa, xô nhựa bị thủng. Ông hàn giúp bất cứ ai nhờ ông. Để thay thế niềm vui cúng Phật, lợi dụng xuống tắm, ông lượm sợi giây điện lớn, cục đá nhỏ đem lên phòng chế kim khâu, ông Kha tỉ mỉ đục cái lỗ xuyên chỉ thì tuyệt. Vua hoá chất cung cấp kim may túi, may quần xà-lỏn, vá áo cho Đặng Hải Sơn, Mai Đức Khôi…

Nhân vật tư sản mại bản tôi sắp kể chưa lên hàng vua là Bùi Kim Bảng 2, con trai của giáo sư Bùi Hữu Sủng. Ông ta, chủ một viện Bào Chế Âu Dược, tròn như hột mít. Chỉ có một điều đáng nói về ông Bùi Kim Bảng. Các phòng giam tại Chí Hòa, cầu tiêu xây ở góc phòng, sát sàn nước. Phải leo lên cái tam cấp mới đại, tiểu tiện được. Do đó, tù nhân gọi công việc đại tiện là lên sân khấu. Ông Bùi Kim Bảng có thói quen lên sân khấu vào đúng bữa cơm trưa. Ác nghiệt thay, ông “diễn trò” giữa lúc anh em ăn dở dang. Trò của ông “thối” vô cùng, ông lại “chơi ra-phan”, chấp tất mọi la lối, chửi thề. Đó là mẫu trí thức chỉ biết mình và thói quen của mình. Khác hẳn người tự trọng Khai Trí Nguyễn Văn Trương, chờ khuya mới “lên sân khấu” vì mắc bệnh trĩ, không muốn phiền ai đợi mình lâu.

Ngoài mấy nhân vật tư sản mại bản, trừ Trần Thành, mà sống chung với họ mòn đời, chắc chắn, tôi không học được ở họ một điều gì hữu ích. Họ chỉ than van, oán trách rồi mơ ước Cộng sản thua. Để họ được trả lại những gì Cộng sản đã tước đoạt của họ. Nhân sinh quan của họ không thay đổi, dẫu họ đã bị xoáy tròn trong cơn lốc tháng 4 năm 1975 và đã tận mắt chứng kiến sự khốn cùng của dân tộc họ mà chính họ chịu trách nhiệm lớn. Có những kẻ sinh ra chỉ biết làm giầu và chẳng thèm biết đến ai. Những kẻ ấy, ở bất cứ hoàn cảnh nào, vẫn chẳng thèm biết đến ai. Bất hạnh cho dân tộc ta là có khá nhiều hạng người ấy.

Tôi kể sang những nhân vật chính trị của một chính phủ… buồn cười: Chính phủ liên bang Đông Dương. Câu chuyện như thế này:

Cụ Đỗ Văn Lựu, cựu đại tá Ngự Lâm Quân, thời đeo lon trung úy đã đồn trú tại tô giới Thượng Hải, bố vợ của tướng Phạm Văn Phú. Cụ Lựu vốn là bạn thân của ông Bùi Ngọc Phương. Ông Phương, hẳn mọi người còn nhớ rằng, đã bị chính phủ Ngô Đình Diệm bỏ tù về tội Công ty dầu lửa chi đó. Cụ Lựu có một đệ tử tên là Nguyễn Văn Cương mà Đằng Giao tặng biệt đanh Cốc Chính Cương. Cốc Chính Cương, kỹ sư canh nông còn trẻ, được chế độ mới lưu dụng và xử dụng vào công tác đắp đập Ông Nhiêu làm thủy lợi. Đập Ông Nhiêu thất bại. Cốc Chính Cương bị phê bình phá hoại. Vừa lo sợ, vừa phẫn nộ, Cốc Chính Cương gặp cụ Lựu, phịa chuyện có 7000 tinh binh, sẵn sàng điều động. Cụ Lựu dậy hồn trẻ, muốn báo đáp non nước tấm thân già tin Cốc Chính Cương và nhập cuộc. Cụ rủ Bùi Ngọc Phương, con rể của tác giả Mồ Cô Phượng. Ông Phương mê cầu cơ và nhiều thủ đoạn, lại có máu lãnh tụ. Để chính thức được nhận là Tổng thống chính phủ Liên bang Đông Dương, ông Phương mời cụ Lựu và vài vị tổng trưởng về thánh thất Cao Đài. Ông thuê đồng tử, trinh nữ nhập cơ nói những điều ông đã dặn. Cơ lên, chỉ đúng ông Bùi Ngọc Phương mà phán “Chân mạng đế vương”. Cụ Lựu tin, nhiều tổng trưởng tin. Ngô Khởi dạy: Khi xuất quân, không tin cái thế tất thắng ở mình thì chỉ còn cách bói mu rùa. Thời gian sau 1975, con người bối rối, nôn nóng cứu nước đến mê muội, tin cơ là chuyện thường. Và Bùi Ngọc Phương hiểu tâm lý con người quá xá. Nhưng, những Lê Khải Trạch, Nguyễn Cao Thanh, Vũ Đăng Dung không tin cơ đâu. Họ tin 7000 tinh binh của Cốc Chính Cương mà họ tưởng là của tướng tuẫn tiết Phạm Văn Phú, vì cụ Đỗ Văn Lựu nói. Rốt cuộc tổng thống Bùi Ngọc Phương, phó thủ tướng Đỗ văn Lựu, các tổng trưởng vào tù. Cốc Chính Cương vào tù luôn. Phòng tôi có cụ Lựu, ông Phương, chàng Cương. Họ nhìn nhau cười trừ. Những chiến sĩ chống Cộng bằng… cầu cơ còn tiếu lâm hơn cả ông Đinh Xuân Cầu chống Cộng với Mỹ của Trương Phiên. Tôi bỗng thấy mình ngu dại. Có ai nguyền rủa kẻ sắp chết đuối bạ cái gì cũng níu không nhỉ?

Nhân nói về chính phủ Liên Bang Đông Dương… cầu cơ, tôi kể một câu chuyện xẩy ra tại Đề Lao Gia Định. Một tù nhân tâm sự với tôi rất thành khẩn:

– Ông tin tôi đi, Mỹ đã đổ quân lên Trường Sa, chờ ngày giải phóng Saigon. Nó viện trợ 2 tỷ đô la. Mấy trăm ngàn xe hơi Mazda đã có sẵn ở Trường Sa rồi.

– Dựa vào đâu mà ông bảo tôi tin?

– Cứ tin đi!

– Ai nóí?

– Thì cơ nói chứ ai nói!

Hơn một nghìn ông thầy bói đã bị đi học tập cải tạo mấy tháng chỉ vì dám đoán cái thế tất thua của Cộng sản và sự thành công vượt biên. Tôi mà chỉ sống chung với tỷ phú và tổng thống, tổng trưởng, ngày tháng tù sẽ dài vô tận. May mắn chừng nào, cái vũ trụ Chí Hòa của tôi còn có sát nhân, tướng cướp, án tích du đãng cũ, bộ đội đào ngũ, cán bộ mất phẩm chất cách mạng. Và Dương Đức Dũng, Đoàn Kế Tường, Hoàng Mạnh Hùng, Đặng Hải Sơn, Khai Trí, Nguyễn Mạnh Côn, Phan Thành Trường, Mai Đức Khôi, Cốc Chính Cương… Phan Thành Trường, kỹ sư cầu cống, tốt nghiệp tại Pháp, con trai bà hiệu trưởng Trưng Vương. Anh về nước phục vụ, dạy học ở Trường Kỹ thuật Phú Thọ. Không chấp nhận chế độ Cộng sản, anh gia nhập tổ chức chống Cộng của những người lính nhẩy dù.

o O o

Vài nét về vài nhân vật của phòng mới của tôi do Phạm Quang Khai “lãnh đạo”. Những nhân vật đề lao mà tôi đã sống với họ như Phan Bá Thúc, Hà Năng Đắc… thì miễn kể. Niên trưởng phòng tôi là cụ Ngao Song, người Nùng, 80 tuổi, cựu đại úy Biệt khu Hải Yến. Nhi đồng phòng tôi là Nguyễn Ngọc Phước, 8 tuổi, móc túi ở bến xe đò. Đã có một tờ báo dành cho độc giả từ 7 đến 77 tuổi, phải có một nhà tù dành cho tù nhân từ 8 đến 80 tuổi. Trẻ không tha, già không thương là nhà tù Cộng sản.

Lần đầu tiên, kể từ ngày bị bắt, tôi mới có dịp sống chung phòng với anh Nguyễn Mạnh Côn. Cơn nghiện đã tha anh, không hành hạ anh nữa. Thuốc phiện hút chất nước trong cơ thể con người. Thiếu thuốc phiện, anh Côn “mập” ra, thứ mập thê thảm. Trông anh như bị phù. Mắt anh lờ đờ và tất cả tinh anh của anh biến mất.

Tính ra, tôi đã sang Chí Hòa hơn một tuần. Đoàn Kế Tường vẫn nằm cachot rùng rợn của khu FG. Đằng Giao đã chia cơm nước cho cachot FG kể rằng, các “lãnh tụ” Vinh Sơn nằm ở cachot, chưa bị xử tử. Cha Nghị, “tướng” Nguyễn Việt Hưng, Ali Hùng đủ mặt. Cha Nghị đã mù vì tuổi già mà cachot tối om, tanh tưởi, nhầy nhụa. Tôi chờ Đoàn Kế Tường về tả tỉ mỉ bên trong cachot FG.

Không có Giáng Sinh tại Chí Hòa. Sau khi đã ổn định các phòng mới, tù nhân được mua giấy, phong bì, tem, bút viết thư báo tin cho gia đình biết trại mới và thể thức thăm nuôi. Bút viết xong phải nộp cai ngục. Gọi là thăm nuôi chứ chỉ nhận quà thôi. Lệ Chí Hòa lạ lắm. Có án mới được gặp vợ con, thân nhân. Chúng tôi là tù nhân không án tích, không xét xử. Khác với đề lao Gia Định, mỗi tháng, Chí Hòa cho nhận quà một lần. Gia đình không nhận thư là kể như đợi tháng sau. Thư tù thay thế giấy thông hành qua cửa khám. Vụ mua hàng dẹp bỏ. Chúng tôi phải chờ gần Tết mới nhận quà mừng xuân. Sinh hoạt của Chí Hòa, chúng tôi đã quen. Kẻng báo thức: Dậy, đánh răng, rửa mặt, chuẩn bị điểm danh. Điểm danh xong, xuống hồ xách nước. Màn xách nước sôi nổi nhất. Anh em tình nguyện lao động, cãi vã, giành giật phục vụ tập thể. Xách nước có lợi lớn. Thứ nhất, được múc một thùng xối từ đầu xuống chân làm một “quả” tắm chớp nhoáng. Thứ hai đem theo cái bình bốn lít lấy đầy nước xối cầu ưu tiên. Nếu bồ ruột đi xách nước, ta xung phong trần truồng, cầm bàn chải chà cầu, bồ của ta sẽ tặng ta trận tắm ngoạn mục trên “sân khấu”. Chúng tôi, 60 tù nhân, một ngày được cung cấp 20 thùng nước. Phòng có một cái phuy nên xô nhựa lớn nhỏ của tù nhân bị trưng dụng chứa nước. Phòng nhờ một tù nhân bảo quản nước. Năm ca nước cho mỗi người một ngày dùng vào các dịch vụ đánh răng, rửa mặt, rửa chén, rửa đít. Đi cầu chỉ xử dụng hai ca nước công dội cầu. Đi tiểu, một ca thôi. Ai xử dụng nước phải hỏi quản lý và bị giám sát. Bồ bịch thì du di. Quản lý nước thường lời cả xô. Chàng tắm thoải mái buổi tối nhưng chàng phải bỏ ngủ trưa để canh gác nước. Nước qúy nên có màn bán nước. Bốn ca một cục đường. Một ca một điếu thuốc lào thật phê. Những kẻ bán nước là “con bà phước”, không cần đánh răng vì không bàn chải và kem đánh răng, không cần rửa mặt và không cần rửa chén.

Người ta đã cho chúng tôi tắm đúng hạn kỳ. Tuần lễ hai lần tắm, mỗi lần 8 phút. Tắm không dám sát xà phòng. Đã tắm là khỏi giặt quần áo. Mà giặt quần áo là khỏi tắm. Bởi vậy, nhiều tù nhân chậm chạp chơi trò mặc quần áo vừa tắm vừa giặt. Tỷ phú Phạm Quang Khai hết thú gội râu. Đang tắm, chưa xối sạch xà phòng, nghe tu hít thổi, phải ra xếp hàng, điểm danh rồi lên phòng. Bệnh ghẻ ở Chí Hòa tái phát, leo thang vun vút.

Sau mục xách nước tới mục lau sàn phòng, chia nước sôi… âm ấm. Rồi pha bột, ngâm mì. Rồi cờ tướng, đô-mi-nô. Rồi thuốc lào vặt, tán láo. Rồi chờ cơm trưa. Kẻng báo ngủ trưa. Cả phòng im lặng. Không ngủ thì ngồi dựa tường, ngồi bó gối, nằm nhớ nhà, nhớ đời…

Trưa ở Chí Hòa hiu hắt vô cùng. Tôi chưa biết âm ty, hẳn nhiên, vì tôi chưa chết. Dẫu tôi chết, tôi khó phục sinh để diễn tả những gì tôi thấy dưới âm ty. Nhưng mà, trong nỗi hoang vu của trưa Chí Hòa, nằm nghiêng sát tai trên sàn xi-măng, tôi đã nghe rõ những âm thanh quái đản từ phòng dưới. Làm sao tôi viết chính xác những âm thanh một đời chỉ có một lần được nghe nhờ ngụp lặn giữa dòng bất hạnh? Cảm giác của tôi, lúc ấy, là rờn rợn, nổi da gà. Tôi đã hình tượng hàng tỷ con ròi lúc nhúc trên lớp phân đang ồn ào đòi hỏi một thứ quyền sống. Tôi cũng còn hình tượng một đại hội âm ty báo cáo thành quả tội ác của qủy sứ. Và liên hoan… Bây giờ, ngồi viết hồi ký Nhà tù, tôi thèm được, một lần nữa, nằm nghiêng sát tai trên sàn xi-măng, trong nỗi hoang vu của trưa Chí Hòa, nghe lại những âm thanh quái đản mà tôi nghĩ đã trở thành điệu ru tuyệt đời của tôi. Chí Hòa, tôi đã mô tả thật kỹ ở tiểu thuyết Vết thù hằn trên lưng con ngựa hoang. Tôi mô tả theo sự tường thuật của các tù nhân Chí Hòa. Đúng đấy nhưng chưa thực. Hôm nay mới thực, bất cứ một chi tiết nào của Chí Hòa, của Chí Hòa sau cái người ta gọi là cách mạng, giải phóng. Để có cái thực, tôi phải nằm nghiêng sát tai trên sàn xi-măng, trong nỗi hoang vu của trưa Chí Hòa, nghe những âm thanh quái đản. Thỉnh thoảng, ở cái sa mạc loài người đó, giọng nói nhọn hoắt của một nữ tù phóng ra: “Báo cáo cán bộ, cachot A-4 có người bệnh nặng’’. Giọng nói nhọn hoắt chìm vào im lặng cố tình. Ngay con chim sẻ đậu trên sợi kẽm gai của cửa gió phòng giam cũng buồn bã nín thinh. Nhân loại bên ngoài càng nín thinh. Và đồng loại nín thinh kỹ hơn. Đôi khi, đồng loại bên ngoài ầm ỹ chát chúa để khỏa lấp những vô tình chủ mưu. Khi đó, bên trong, giọng nói đã hụt hơi, rời rã: “Báo cáo cán bộ, cachot A-4 có người sắp chết”! Nhiều nhà văn triết lý giáo khoa thư lớp đệ nhất hay dạy triết lý giáo khoa thư lớp đệ nhất của chúng ta, hằng đề cập tới tiếng thét của cô đơn. Ở đâu chúng ta nghe rõ tiếng thét của cô đơn? Ở chấp vá, vay mượn tư tưởng của các triết gia thế giới rồi nhập nhằng nhận là sáng tạo của mình? Hoặc ở sự tưởng tượng sau cuộc vui chóng tàn? Hoặc ở cung cách làm dáng tư tưởng trong văn chương? Riêng tôi, tôi thấy tiếng thét của cô đơn ở những buổi trưa, những ban đêm tù ngục; tiếng thét của cô đơn ở ngay quê hương tôi, ở nơi tôi sinh ra, khôn lớn, đau khổ, chịu đựng và hy vọng. Nếu sự chịu đựng đau khổ để tạo dựng ngày mai hạnh phúc thì, tôi khẳng định rằng, ngày mai hạnh phúc của dân tộc tôi phải do người quê hương tôi tạo dựng ngay trên quê hương tôi. Hạnh phúc của dân tộc tôi không bao giờ ở Mỹ châu, Âu châu hay Úc châu, không bao giờ là những đồng đô-la lạc quyên mập mờ, không bao giờ là những chiến khu thuê rừng đất khách, không bao giờ là vo ve của bọn nhặng đấu thầu nỗi khổ, rao bán nghẹn ngào của dân tộc. Trước hết và sau hết, bọn giả vờ yêu nước chưa đủ kiến thức nghe và hiểu nỗi cô đơn của dân tộc họ. Cả Cộng sản lẫn quốc gia. Bổn phận của nhà văn là lay động cái bóng tối u mê phủ kín những tham vọng đê tiện làm què quặt dân tộc, làm u ám quê hương. Người ta đã khước từ cái sứ mạng cầm bút đó. Rốt cuộc, mặt trận mà Cộng sản sợ hãi nhất là Mặt trận Văn hoá thì hoàn toàn im lặng, thụ động. Thụ động buồn tênh trong cái thế tư tưởng quốc gia đối kháng tư tưởng mác xít, chủ nghĩa nhân bản đối kháng chủ nghĩa phi nhân. Đôi khi, tôi rất tội nghiệp tôi. Trải dài đời mình chịu đựng mọi oan khiên, nhục nhã để cống hiến đời sống, ít ra, những trang sách về tù ngục Cộng sản chính xác nhất, chẳng những vô tích sự mà còn bị căng thây lãnh hàng trăm mũi tên bẩn. Tôi dứt khoát tuyên bố, sau khi ký tên hoàn tất hồi ký Nhà tù và Trại tập trung, tác phẩm của tôi sẽ không còn hai tiếng Cộng sản nữa. Tôi không chống Cộng nữa. Tôi noi gương các tiên chỉ, lý tưởng văn nghệ hải ngoại, cúi gầm mặt trước bạo lực, thản nhiên trước những rên siết, quằn quại của tổ quốc, dân tộc, nói chuyện tình yêu, viết chuyện ăn uống. Để được tiếng đứng đắn, không công kích ai. Để được lòng cả quốc gia lẫn Cộng sản. Để được cả Cộng sản và quốc gia khen ngợi. Và được cả những đứa bần tiện nhất trên đời ngưỡng mộ. Tôi đã chọn lựa một thái độ. Tôi không ngu đi chống Cộng một mình, nhịn đói chống Cộng. Để bị quốc gia bêu nhục. Để bị Cộng sản nguyền rủa. Có lẽ, tôi nên trở về Chí Hòa của tôi.

Kẻng trưa báo thức: Dậy, chờ nước sôi. Phải nói nước đun sôi. Tôi chưa thấy nước sôi ở Chí Hòa bốc khói khi gánh lên phòng. Sinh hoạt phòng giam ồn ào. Lại cờ tướng, đô-mi-nô ăn đấm lưng, hút thuốc lào vặt, tán gẫu và ngồi thẫn thờ nhớ vợ, thương con. Láng giềng của tôi, phòng bên trái là tù hình sự, có Nguyễn Đăng Viên, anh ruột của nhà văn Mai Thảo; phòng bên phải là tù phản động gồm toàn con cháu các sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhờ đi tắm ngang qua phòng nhau, chúng tôi nhận ra nhau dễ dàng. Người ta bảo các ông Ngô Khắc Tinh, Hồ Văn Âm bị giam ở Chí Hòa. Tôi chưa gặp mặt họ. Tôi ước ao chuyển phòng khắp 4 khu Chí Hòa. BC là khu tôi thích đến, vì trong truyện ngắn Ánh lửa đêm tù tôi đã tả một phòng giam BC do Nguyễn Thụy Long kể. Có một sự kiện buồn cười giữa Nguyễn Thụy Long và tôi. Tác giả Loan mắt nhung mới là du đãng thứ thiệt, tay giang hồ hạng nặng, từng nằm quân lao Gò Vấp, khám Chí Hòa. Nguyễn Thụy Long khoái tôi, ưa tâm sự với tôi về cuộc đời ngang dọc của anh. Long thật hiền. Anh em tặng biệt danh Trâu Nước Quách Tỉnh. Mê quãng ngày hành hiệp của Long, tôi viết Điệu ru nước mắt. Thấy tiểu thuyết du đãng thành công, Nguyễn Thụy Long bèn sáng tác Loan mắt nhung. Rồi hàng loạt tiểu thuyết bụi đời. Được nhờ giới thiệu Loan mắt nhung sau bìa sách, tôi đã cho Trần Đại lu mờ trong vùng trời giang hồ. Đến khi Nguyễn Đình Thiều viết loại truyện này, tôi để một Nguyễn Thụy Long tung hoành, khai thác đề tài mới. Tôi thích đến khu BC, bởi vậy. Nhân vật Quân của Ánh lửa đêm tù là hình ảnh Nguyễn Thụy Long.

Kỷ luật ở Chí Hòa “sắt thép” hơn đề lao Gia Định. Qua đây, kể như hồ sơ của chúng tôi đã khép lại, hết còn bị hành hạ tự khai. Thay vào sự hành hạ tinh thần, Chí Hòa khủng bố tinh thần, đày đọa thể xác và thường xuyên đe dọa tù nhân bằng những quyết định tự chế của từng cai ngục. Tư Long, tôi nhắc lại, là tên Cộng sản nằm vùng, bán vé và xếp chuyến xe đò Minh Trung lộ trình Saigon – Đà Lạt. Sau 30-4-75, hắn đeo quân hàm đại úy công an, nắm chức vụ Trưởng trại đề lao Gia Định. Bây giờ, Tư Long bị hạ tầng công tác, xuống chức Trưởng khu FG. Chắc chắn, vì lờ đờ bị hạ tầng công tác nên Tư Long đã hung hăng ở Chí Hòa. Cai ngục và đám trật tự thuộc hạ cai ngục đều hắc ám và thường xuyên rình mò phòng tôi. Có điều lạ là qua Chí Hòa, chúng tôi ăn cơm hai bữa với canh bắp cải hầm xương heo. Ăn no nê. Đằng Giao giải thích: Bếp do sĩ quan cảnh sát khu ED phụ trách và Bộ Nội Vụ cung cấp thực phẩm. Nhưng tuần trăng mật cơm canh chẳng kéo dài, Sở Công An tiếp thu bếp, tù nhân phải ăn cơm với bí rợ nấu muối. Và đội cấp dưỡng gồm lũ công an can tội hiếp dâm, ăn cướp… Ở Chí Hòa, người ta không phát chén, ca, muỗng, chiếu. Các “con bà phước” phải xin những cái bình nhựa đựng nước tương, nước mắm của tù nhân thừa bình, cắt bỏ phần trên, lấy phần dưới đựng canh. Cơm thì chia vào túi ny-lông. Bốc cơm, húp canh. Chúng tôi cắt bị cói may chiếu. Đặng Hải Sơn và Mai Đức Khôi đã trở thành tay thợ may tài tình. Mép chiếu viền vải đàng hoàng. Nhét tiền vào viền vải, chắc ăn nhất, cai ngục đâu ngờ mà lục xét.

Vài hàng về Mai Đức Khôi, hỗn danh Độc thủ phản động. Khôi, sĩ quan tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, chiến đấu cụt một cánh tay, chủ trương một hãng thông tấn tư. Can tội phản động. Dáng dấp thư sinh, bướng vô tả, ăn thua đủ với cai ngục nhưng nhường nhịn bạn bè, nhất là những người ít tuổi. Chỉ một tay thôi, Độc thủ phản động có thể cắt quần xà-lỏn, sửa sơ-mi bằng dao nắp lon sữa bò mài sắc và kim giây đồng do Nguyễn Công Kha chế tạo. Tất cả ba-lô may bằng túi đựng phân bón và chiếu may bằng bị cói phá ra của phòng đều đo Khôi cụt và Đặng Hải Sơn đảm trách. Thoạt đầu, “con bà phước” nằm sàn xi-măng. Qua vài kỳ thăm nuôi, ai cũng có chiếu made by Khôi cụt.

Đoàn Kế Tường đã ra cachot. Tường nói:

– Gần Tết rồi, nhớ anh em quá, đành làm kiểm điểm nhận lỗi và hứa không tái phạm. Với lại cachot Chí Hoà châm quá, không chịu đựng thêm nổi. Em đã cố gồng thử sức, rốt cục xìu.

Có Đoàn Kế Tường, không khí phòng sinh động hẳn. Tường, dân Quảng Trị, giọng nói nặng nề khó nghe mà ham nói nhiều, nói lớn. Tính nóng nẩy, ưa dính vào chuyện bất bình của kẻ khác, không nể nang chi già trẻ, nếu già trẻ sai trái. Bản chất tốt nhưng đầy mặc cảm xuất thân bần hàn. Nằm cachot FG ngót bốn tuần, có lẽ, Đoàn Kế Tường đã truy nã kỹ lưỡng thân phận mình nên dáng điệu buồn bã, mệt mỏi. Tự nhiên, trong những tâm sự riêng tư, Tường bầy tỏ sự thù hận Uyên Thao và khai hết mọi lầm lẫn thuở cộng tác với nhật báo Sóng Thần. Tường hối hận đã gián tiếp dính vào vụ ám sát Phan Mỹ Trúc, chủ nhiệm Đông Phương. Có cuộc trần tình giữa Đoàn Kế Tường với Đằng Giao về chuyện hất Chu Tử khỏi Sóng Thần. Hoàng Mạnh Hùng và tôi ngồi nghe. Nội bộ Sóng Thần được mổ xẻ ở nhà tù Chí Hòa. Tôi đâm ra ớn. May mà tôi đã giã từ làng báo từ năm 1970. Và tôi không ngạc nhiên khi hay tin ký giả Đạm Phong bị bắn chết ở Hoa Kỳ.

– Nó cho cậu viết thư chưa?

– Rồi, ngay sau ký tên dưới bản kiểm điểm. Nó hứa đưa thư đến tận nhà.

– Nhà ai?

– Chị em.

– Còn vợ con?

– Thôi, các anh ạ, quên chuyên ấy đi.

Tôi thấy Đoàn Kế Tường rơm rớm nước mắt. Tường kể trận đòn hội chợ, kể những ngày cachot thê lương, kể những lần đối thoại trong bóng tối với cha Nghị, với Ali Hùng và với một nữ tù nhân. Cuộc đời Đoàn Kế Tường là một cuốn tiểu thuyết đầy tình tiết lâm ly. Thông minh, có chí song gặp đàn anh tồi. Rồi cứ nằm gọn trong móng vuốt của đàn anh phù thủy và làm âm binh mê muội đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Từ nhập thế, Đoàn Kế Tường chỉ có một lần làm đúng và làm theo ý mình. Là chống Cộng sản tự nguyện. Sau 30-4-1975, Tường thất chí, bỏ bê vợ con, sống lang thang ở các vỉa hè với chiếc xích lô đứng tên mình. Đạp xích lô để đủ tiền hút Lucky! Chán nghề đạp xích lô, Tường bán xe, tậu chiếc ba gác. Chán đạp xe ba gác,Tường tìm Dương Đức Dũng kiếm đường vào mật khu. Không có mật khu, hai chàng thành lập một tổ chức phản động, kết nạp toàn sinh viên, học sinh. Họ mời cụ Phan Vô Kỵ cố vấn. Tài chính do nhà quảng cáo Thái Sơn và Phó giám đốc khách sạn Palace bảo trợ. Hai chàng tuổi trẻ đều là ký giả nên hăng say xuất bản báo lậu. Bất hạnh cho cả hai và tổ chức là tên công an Đỗ Hữu Cảnh (luật sư, bạn thân của Dương Đức Dũng, nằm vùng) lọt vào tổ chức. Tất cả dính lưới Mai Chí Thọ. Muốn diệt trọn ổ, Mai Chí Thọ dùng Đoàn Kế Tường làm cò mồi. Những ngày đầu vừa bị bắt, công an ngụy trang thường dân dẫn Tường tới Caféterie Palace, bảo Tường ngồi riêng một bàn. Bất cứ ai quen biết Tường, sà lại chào hỏi Tường là bị nhúm. Phó giám đốc khách sạn Palace bị nhúm tại đây.

– Em ngồi đọc kinh thầm cầu nguyện đừng có ai quen biết vô đây. Em đã gặp anh Hoàng Anh Tuấn dắt xe đạp xì bánh ngang qua, em chỉ sợ anh ấy ngó thấy em.

Đoàn Kế Tường bị bắt cuối năm 1975.

– Anh ạ, cái màn này đã làm em choáng váng. Khối người kết tội em chỉ điểm bắt “đồng chí”.

Chuyện này, cả Tường lẫn Dũng và Thái Sơn đã kể cho tôi nghe ở đề lao Gia Định. Tôi càng yêu mến người bạn tuổi nhỏ của tôi. Trong Bầy sư tử lãng mạn, tôi có viết về Tường và Dũng để tỏ lòng ngưỡng mộ. Chúng tôi lại gặp nhau ở Chí Hòa. Dũng ăn đòn toét môi, nằm cachot FG một đêm. Tường ăn đòn oằn thân thể, nằm cachot FG ngót nghét một tháng. Sẽ chẳng có một dòng chữ nào viết về Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng và sư tử lãng mạn chống Cộng sản cô đơn và tuyệt vời ngay trên đất quê hương. Người ta đã truy điệu, đã suy tôn những liệt sĩ tưởng tượng hy sinh trong những cuộc chiến đấu chiêm bao. Nhưng mà đó không phải là chuyện của tôi. Chuyện của tôi chỉ là những anh em đang thoi thóp ở các miền tù ngục quê mẹ ngàn đời đòi đoạn.

——————————–

1Hiện đã có mặt tại Huê Kỳ.
2Hiện đã có mặt tại Pháp.

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

Post on 15/03/2014

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 24 Jun 2024

Phần 14

Hợp Ðoàn: bài tập hoạt động bí mật trong lòng địch

Tình thực mà nói khi quyết định ra tờ Hợp Ðoàn trong một trại giam như A-20, tôi lo nghĩ rất nhiều. Mức căng thẳng được biểu lộ qua việc có ngày dù đói như thế, nhưng không thể nào nhá hết mấy lát khoai mì khô vào buổi trưa và buổi chiều, thay vào đó uống bao nhiêu nước cũng vẫn khát. Ngọc “đen,” người điều hành nhóm nhận ra hiện tượng hơi bất thường về sức khỏe của tôi. Anh lặng lẽ đi tham khảo với bác sĩ Lạc, một người tù chính trị án chung thân, giảm xuống còn 20 năm. Lúc đó ông Lạc đang lao động ở đội tù chính trị bên có án, nhưng cũng được biên chế lên bệnh xá. Ông khuyên là phải khai cháo, cố gắng tập thể dục hay có thể thì ngồi thiền. Ngọc “đen” thông đạt lời khuyên và tôi thực hiện ngay. Tôi bớt căng thẳng, ngủ được nhiều hơn nhưng không thể quá 5 tiếng một đêm.

Trong thâm tâm, tôi hiểu tại sao tôi lo lắng về giai đoạn chuẩn bị tờ Hợp Ðoàn như vậy. Không phải là tôi lo sợ cho bản thân mình vì trước khi được giải giao từ khu biệt giam ED nhà tù Chí Hòa lên trại lao cải Hàm Tân, tôi đã tự chọn cho mình một số phận u ám rồi. Tôi còn nhớ rõ buổi hoàng hôn ngày 16 tháng 8 năm 1975, khi mặt trời đỏ lừ đang từ từ rơi xuống phía sau hàng cây trên bờ sông La Ngà, toán chúng tôi gồm tôi, Cự, Phụ, Khải, Thuật và một số khoảng 20 người khác đã rơi ngay vào tay một cánh quân mà sau này chúng tôi biết là của Quân Khu 7 Việt Cộng khi vừa đến một điểm hẹn tập trung gần bờ sông. Hầu hết những người bị bắt đều là sĩ quan, công chức, cảnh sát VNCH khước từ lệnh trình diện để lựa chọn một con đường khác: đi tìm bóng dáng của các nhóm tàn quân VNCH mà chúng tôi được mật báo một cách sai lạc bởi chính bọn quân báo Việt Cộng qua trung gian gồm chính một số cựu sĩ quan, viên chức VNCH cộng tác với họ.

Giận dữ, nôn nóng, vội vã và cả tin đã khiến chúng tôi bị sập bẫy như những đứa con nít. Và khi vào nằm trong gông cùm rồi, chúng tôi chỉ còn biết tự an ủi: bản thông báo của Ủy Ban Quân Quản ra lệnh cho các sĩ quan, viên chức chỉ huy trong chính phủ VNCH, thành viên trong các chính đảng ở Miền Nam Việt Nam phải trình diện và mang theo lương thực đủ 10 ngày để đi “học tập cải tạo” không đánh lừa được chúng tôi, dù cái giá chúng tôi phải trả cho sự tỉnh táo ấy rất đắt.

Khi ánh hoàng hôn nhanh chóng lướt nhẹ trên mặt nước con sông La Ngà rồi tắt ngấm và và mầu tín của rừng chiều trùm phủ xuống cảnh vật, chúng tôi bị đánh đòn hội chợ khá nặng bằng báng súng, rồi bị dẫn xuống sát bờ sông. Bọn cán binh Việt cộng lên đạn xoành xoạch, nhưng tôi hiểu rằng họ không nổ súng. Bởi vì nếu muốn họ đã nổ súng từ lúc lúc hô hoán rầm rĩ khi bao vây chúng tôi rồi. Máu ở trong miệng tôi tiếp tục chảy xuống làm ướt ngực của bộ bà ba đen tôi đang mặc.

Khi bóng tối choàng lên cảnh vật một mầu đen, toán y tế của đơn vị Việt cộng mới soi đèn pin để băng bó cho chúng tôi, đồng thời trói những người bị bắt thành một xâu giống y như ngày trước tôi đã chứng kiến những tù binh Việt cộng bị bắt trên chiến trường miền Nam và bị xỏ xâu đưa lên trực thăng Chinook. Sau này, tôi mới được biết là trong cuộc hành quân vào ngày 16 tháng 8, 1975, lực lượng hành quân thuộc quân khu 7 đã bắt khoảng 1,500 người mà họ gọi là thuộc lực lượng tàn quân “ngụy” trốn trình diện cải tạo. Gia đình Bác Sĩ Phan Huy Quát, cựu thủ tướng VNCH, cựu chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng chi hội Việt Nam cũng nằm trong số những người bị bắt.

(Chú thích: Mấy năm sau, cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát đã qua đời vì bệnh gan tại nhà tù Chí Hòa. Tại Chí Hòa vào thời gian đó có khá nhiều những tên tuổi lớn của cả hai nền Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa của Việt Nam và Cambodia: hai cựu chủ tịch Quốc Hội thời Ngô Ðình Diệm là các ông Trương Vĩnh Lễ và Phạm Văn Nhu, cựu Thủ Tướng VNCH Phan Huy Quát và cựu thủ tướng Cambodia là ông Sơn Ngọc Thành. Ông Sơn Ngọc Thành cũng chết tại nhà tù Chí Hòa do biến chứng của bệnh ghẻ, ứng cử viên tổng thống VNCH Nguyễn Ðình Quát và đặc biệt nhà thơ Vũ Hoàng Chương, ông Lương Trọng Tường nhà lãnh đạo tổ đình Hòa Hảo, và ông Phan Bá Cầm Chủ tịch Lực Lượng Dân Xã Ðảng, Linh Mục Hoàng Quỳnh, Linh Mục Trần Hữu Thanh người lãnh đạo phong trào chống tham nhũng của chính quyền của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ông Nguyễn Phan chủ tịch và tổng giám đốc công ty bột giặt NET.)

Những thất bại nói trên đã làm cho mãi đến sau này, tôi luôn luôn đặt ra những câu hỏi trước bất cứ một hoạt động chống cộng nào được nói đến trong suốt thời gian 4 năm ở trong nước sau khi được thả ra khởi nhà tù vào năm 1988 và trước khi được tái định cư ở Hoa Kỳ. Và cũng chính từ thất bại trên cho nên khi quyết định làm báo chui trong trại giam, tôi luôn luôn đắn đo trước khi bước chân vào con đường khó lượng trước được sự thành công hay thất bại. Các khó khăn mà tôi phải giải quyết trước nhất là giấy, bút. Không như những trại khác, ở A-20 Xuân Phước không một tù cải tạo nào được mang giấy bút viết thư vào trong trại giam. Nếu gia đình không biết và lỡ gởi giấy bút trong giỏ quà thăm nuôi hay trong những gói quà gởi bằng bưu điện, chúng sẽ bị tịch thu. Trại giữ lại và chỉ phát giấy bút cho những tù nhân cải tạo viết thư về cho gia đình trong thời hạn được ấn định 3 ngày đầu tháng. Sau đó họ thu lại. Lý do của việc làm này của ban quản trại chỉ nhằm chặn đứng việc tù nhân cải tạo gởi thư chui cho gia đình khi có dịp tiếp xúc với dân chúng vùng kinh tế mới ở gần trại. Từ ngày tôi bị chuyển lên Xuân Phước, đã có ít nhất hơn một chục vụ gởi thư chui bị phát giác và các tù nhân cải tạo tác giả những bức thư ấy thường bị nâng quan điểm và bị trừng phạt từ 6 đến 8 tháng trong chuồng cọp, cùm một chân. Thực tế, nội dung của thư chui cũng chỉ là những thư khẩn cấp, tù nhân thường viết bằng bạch văn hỏi thăm tình hình gia đình liên quan đến những vấn đề sau đây: vợ con vượt biên có đi thoát không hay lại bị lừa, tình hình kinh tế, chính trị và xã hội, nhất là hỏi thăm đến một kế hoạch của Hoa Kỳ “đổ bộ đánh tháo tù cải tạo,” vốn là một “hot news” giầu trí tưởng tượng nhưng lại nghèo nàn về sự hiểu biết của những tác giả chế biến ra chúng. Nhưng lạ một điều là phần đông tù cải tạo cũng vẫn tin vào điều hoang tưởng đó để nuôi hy vọng sống qua ngày.

Như vậy, để tránh nghi ngờ và những đôi mắt dòm ngó của đám ăng-ten khá lộ liễu trong nhà giam, bằng mọi giá phải thực hiện xong tờ báo trong 3 ngày tù nhân cải tạo được phép viết thư. Ðiều này cũng đúng thôi vì những ngày không phải là ngày tù được phép mà lại cứ lúi húi trên giấy thì đúng là lạy ông tôi ở bụi này. Thời lượng của việc phải hoàn tất tờ báo trong 3 đêm đòi hỏi những điều kiện khác: bài vở phải ngắn, mỗi bài như vậy không quá hai trang khổ một nửa trang của tập vở học trò. Viết ngắn không bao giờ là việc dễ dàng, hơn nữa những người cộng tác trong nhóm chưa một lần nào được huấn luyện viết ngắn. Ngoài ra, đã gọi là những trang báo thì không thể viết bừa bãi gạch xóa lung tung được. Như vậy vấn đề cấp bách là tìm ra người chỉ chuyên viết lại tất cả những bài tôi đã sửa chữa, cắt xén cho vừa khổ báo. Vấn đề nhức đầu thứ hai mà tôi phải giải quyết là khi viết tất cả những bài đóng góp xong rồi phải nghĩ đến chuyện đóng thành tập và bên ngoài phải có một cái bìa bằng một loại giấy phải hơi cứng. Nhưng đóng thành tờ báo là điều dễ làm cho bọn ăng ten chú ý nhất. Tôi không sợ những tên ăng-ten lộ liễu mà sợ những tên ăng-ten ngầm mà mình không biết hay không định được vị trí của họ. Suy đi nghĩ lại, tôi thấy chỉ còn một lựa chọn: lén lút huấn luyện cho từng cá nhân chịu cộng tác để xây dựng tờ Hợp Ðoàn. Tôi nói thẳng với họ rằng hãy coi công việc này là một cuộc vui đắt giá và là một lớp huấn luyện có thực tập hoạt động bí mật ngay trong lòng địch để khi về nếu có cơ hội có thể làm một tờ tương tự chuyển ra nước ngoài.

Cũng may là trong nhóm của tôi chỉ có một vài người cần một ý niệm viết sao cho ngắn gọn để đỡ công những người phải viết lại sau khi bài được sửa chữa.

Vấn đề thứ hai làm tôi suy nghĩ nhiều, đó là vấn đề an ninh cho nhóm. Làm cách nào để ngăn bớt được sự thiệt hại cho những anh em cộng tác với mình khi kế hoạch bị phát giác. Ðây là một vấn đề phức tạp và tế nhị. Các nhà giam trong các trại tù cộng sản nào cũng có những chỉ điểm viên mà chúng tội gọi là cần ăng-ten nổi, cũng như ngầm. Nhưng khi phát giác ra họ và trừng trị là bứt dây động rừng, cho nên cần tránh tối đa việc đụng chạm. Tốt nhất là cần phải lựa chọn trong nhóm những người cần hy sinh khi bị đánh đau đứng ra nhận lãnh trách nhiệm dù có thể là cái chết và dĩ nhiên, những đầu tầu cần phải làm gương xung phong ghi tên trước. Cho nên, ở trong trại giam cộng sản muốn đấu tranh cái gì cũng cần phải biết và sẵn sàng trả cái giá của người làm đầu tầu trong các hoạt động bí mật khi bị địch phát giác.

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

Post on 15/03/2014

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 24 Jun 2024

Phần 13

Tờ Hợp Ðoàn ra đời trong bí mật ở A-20 Xuân Phước trong hoàn cảnh nào?

Chọn lựa ở xã hội bên ngoài sau khi người tù cải tạo được thả ra từ sau những cánh cổng nhà tù đã là một khó khăn huống hồ là những chọn lựa trong tù, nghĩa là trong một môi trường không thể có chọn lựa. Nhưng nếu bảo ở sau cánh cổng nhà tù, người tù không còn lựa chọn nào khác hơn là chấp nhận thì không đúng. Tuy nhiên, sự lựa chọn ấy chắc chắn sẽ là một quyết định khó khăn giữa hai thái độ: hoặc là thà chết để đứng thẳng lưng, hai là cứ cong lưng để sống. Tôi có thể nêu ra một điển hình mà chắc bạn nào từng sống ở cái địa ngục A-20 Xuân Phước trong thời kỳ từ 1979 cho đến 1984 chưa quên. Ðó là khi trưởng trại giam Thân Yên, người mà hôm “đón tiếp” chúng tôi khi chúng tôi bị giải giao đến trại đã ngồi vỗ tay rất hăng hái khi PÐN cựu sĩ quan Chính Huấn quân lực VNCH điều khiển anh em hát ca khúc “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của Nguyễn Ðức Quang, đã ra lệnh thành lập đội Văn Thể, tức Văn Nghệ và Thể Thao tại Phân trại E.
Ban quản trại rất ngạc nhiên khi thấy việc thành lập đội Văn Thể gặp khó khăn vì khi người được giao phó cho đi làm công việc vận động trong khối tù cải tạo ở đây mang cái tên Tây là René không nhận được sự tham gia nào của anh em. Ngay cả chính bản thân người bạn đồng tù này (bị bắt vì tổ chức vượt biển có vũ khí) cũng bày tỏ ngạc nhiên là không hiểu tại sao “quyền lợi” dành cho những tù nhân cải tạo tham gia đội Văn Thể nhiều như vậy mà anh em cứ “lững lờ con cá vàng.”
Anh ta đưa ra một danh sách ưu quyền: thăm nuôi không giới hạn, mức ăn là từ 18 đến 21 kí thực phẩm, chưa kể “bồi dưỡng” tập luyện. Ở địa ngục trần gian ấy thì quả những điều kiện này là ưu quyền thật, nghe nói mà “phát ham” như lời diễu cợt của anh em đối với miếng mồi ấy.

Cứ thử tưởng tượng một người tù bị “tuyển lựa” lên thung lũng Tử Thần, nghĩa là bị đày vào chỗ chết rồi chỉ vì cái đầu “không thể thay đổi được,” cứ muốn giữ cho lưng mình thẳng để nhìn thẳng vào kẻ thù mà nay lại lên xếp hàng trên sân khấu của nhà tù hát những ca khúc như “Bác cùng chúng cháu hành quân,” “Dường như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng,” “Lá đỏ,” “Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây,” “Tiểu đoàn 307”… thì còn ra cái thể thống gì nữa. Trong trại A-20 lúc đó lại có một ca sĩ lừng danh gốc luật sư ở Phủ Thủ Tướng VNCH (Khuất Duy Trác). Do cái đầu rỗng tuếch nên René đã rất nhiệt tình “tiến cử” người ca sĩ vốn là thần tượng của tuổi trẻ chúng tôi thời ấy vào ban Văn Thể. Ðiều này làm ông rất lo lắng. Ông nói thẳng: “Moa (moi) không thể cúi đầu như thế được, chúng nó muốn giết moi không gươm giáo nên đã tống moa vào Văn Thể.” Cuối cùng, sau vài ngày bị biên chế, ông dùng một kế thoát ra khỏi được ban Văn Thể mà chúng tôi gọi là ban “Văn Bựa.” Trong những lần tập dượt có mặt viên cán bộ quản giáo, ông cố tình hát “xỉa ngang,” hát “hụt hơi.”
Một hôm bực quá, viên quản giáo gọi Rene xuống xỉ vả “Ai bảo anh là anh T. người có giọng ca vàng ở Miền Nam. Hát thế mà cũng hát. Miền Nam các anh thật là…” Hắn bỏ lửng câu nói, nhưng anh T. bị đuổi ra khỏi đội Văn Thể và ông thở phào nhẹ nhõm, vui vẻ sống với những gian khổ cùng phần đông anh em đồng tù khác.

Nhưng nói đến KdT thì cũng phải nói đến một người tù nhỏ tuổi nhất trại, đó là sinh viên năm thứ nhất của trường Ðại Học Văn Khoa, anh VmD. Anh bị bắt vào lúc mới chỉ qua tuổi 19 năm 1976 vì cùng một số sinh viên khác đi rải truyền đơn và lập tòa án xử Hồ Chí Minh về tội phạm chiến tranh. Nhà cầm quyền quân quản đã phải huy động cả tiểu đoàn công an đến vây bắt những thanh niên này ở xóm Củi Saigon cuối năm 1976. Chúng tôi gọi VmD là một ông cụ non vì anh là người trầm lặng, ít nói. Nhưng qua làn kính cận, đôi mắt VmD sáng rực lên trong những buổi tối hát tù ca bỏ túi trong nhà giam và dường như chỉ những lúc như thế, VmD và PđN mới trở thành một cặp bài trùng linh hoạt với trái tim rực lửa.

Tháng 6, 1980 ở thung lũng Xuân Phước cũng đã có những trận mưa bất chợt. Hiện tượng thời tiết này làm cho những tù nhân lao cải chúng tôi vui, vui không phải vì những kỷ niệm của quá khứ trở về như lời ca khúc “Mưa Tháng Sáu” mà vui vì rau dại trên các bãi lao động xanh um hứa hẹn cho chúng tôi những gô canh tạp tàng nuốt vào bụng cho đỡ đói. Bãi lao động của VmD nằm về phía Ðông phân trại E, nơi có một đặc điểm là rau dền gai (rau dại) mọc nhiều. Lá dền gai có đặc khi nấu chín cho một chút muối vô ăn ngọt như canh rau dền trồng. Giờ lao động bình thường bao giờ cũng kết thúc trước giờ tập trung điểm số để về trại khoảng 10 phút. Tù nhân cải tạo nào còn nhanh chân, nhanh tay có thể hái một mớ lá dền gai nhét vào lon gô, đổ vào chút nước rồi ném đại vào chỗ than hồng còn lại tại bếp lộ thiên nấu nước sôi cho đội. Lúc xếp hàng để về đội, không biết VmD nói diễu gì đó liên quan đến Hồ Chí Minh, tên vệ binh súng dài cuối hàng la toáng lên: “Anh kia, nói gì đó, nhắc lại xem nào.” VmD bình tĩnh nói: “Tôi nói giỡn với các bạn tôi chứ có gì mà cán bộ hô hoán lên như vậy.” Hắn lên đạn khẩu súng trường CKC và buộc anh ra khỏi hàng ra lệnh: “Thằng này, mày quì xuống, đ.mẹ nói xấu bác hả.” VmD để lon gô rau dền xuống và bước ra khỏi hàng. Anh đứng thẳng và nói: “Tôi yêu cầu cán bộ không mày tao với tôi. Nội qui trại không cho phép cán bộ có những lời lẽ như thế. Tôi không bao giờ quì đâu vì trong đời tôi chỉ có 4 lần quì, trước hết là quì trước bàn thờ gia tiên khi lấy vợ, lần quì thứ hai là trước sân vũ đình trường của một quân trường ngày tôi mãn khóa học trung đội trưởng, lần quì thứ ba và thứ tư là lần quì trước bài vị bố mẹ tôi khi các người qua đời. Tôi chưa bao giờ được thực hiện những lần quì đó thì không thể quì gối trước cán bộ. Không hài lòng, cán bộ cứ việc nhốt tôi vào biệt giam hay bắn chết cũng được.”

Quản giáo và các vệ binh đều tái mặt và chúng tôi liếc mắt nhìn nhau ngầm bảo: “Nó mà nổ súng chúng ta phải xông vào, bề nào thì cũng có lúc phải ra Ðồi Thông thôi.” Có lẽ nhìn ra được các cặp mắt của hơn 50 tù nhân của đội lao cải nhìn chòng chòng vào tên vệ binh súng dài, viên quản giáo ra lệnh cho vệ binh: “Ðồng chí dẫn đội về trại. Tôi sẽ phạt cả đội chúng nó.” Chuyện phạt cả đội đã không diễn ra, nhưng VmD bị trực trại ra lệnh đưa anh vào biệt giam. Trước khi bị đày vào “chuồng cọp,” anh đã bị đánh đập khá nặng tại khoảng sân khu biệt giam nằm sau nhà bếp trại. Ba tháng sau VmD được thả ra khỏi chuồng cọp, phải vịn vào vai anh em trong đội mới đi được. Hai tháng sau đó, đôi chân bị tê cứng vì vòng cùm mới tạm bình phục và VmD vẫn vui vẻ với cái giá phải trả khi muốn gìn giữ nhân cách của mình.

Hình ảnh trên chỉ là vài nét chấm phá minh họa cho những trường hợp mà các bạn đồng tù của tôi phải trải qua như thế nào khi phải lựa chọn. Sự lựa chọn ấy vô cùng khó khăn đặc biệt là trong môi trường mà mạng sống của người tù bị coi như cỏ rác tại các trại lao cải trong rừng sâu núi đỏ vào thời điểm ấy. Chỉ nội một chuyện nhỏ nhặt thôi như việc bị gọi đi thẩm cung, việc lựa chọn một thái độ cũng đã là một núi những khó khăn phải vượt qua trước sức ép của cái bao tử trống rỗng rồi. Các độc giả cứ tưởng tượng mà xem, một người tù cải tạo vốn đã đói khát triền miên bốn năm năm trời bị gọi ra thẩm cung bởi những viên chức thẩm cung từ Hà Nội hay Saigon vào thăm trại. Họ lựa những tù cải tạo cứng đầu nhất ra “làm việc.” Những viên chức thẩm cung này thường là những người có nghiệp vụ cao, nói năng lịch sự, không đánh đập, nhưng mìn và chông sẽ được rải ra suốt trong bốn năm tiếng đồng hồ nói chuyện. Buổi trưa, họ ra lệnh cho nhà bếp trại mang mang xuống cho người tù phần ăn hậu hĩnh gồm toàn cơm trắng với một con cá khô nướng, buổi chiều trước khi về lại trại, ông ta lại tặng thêm một phần ăn tương tự gọi là “bồi dưỡng” mang về trại. Người tù nào kém suy nghĩ hay yếu bóng vía vì đói hành hạ mà vội nhận mang phần cơm tặng này về trại là rơi ngay vào bẫy của những viên chức thẩm vấn.

Nhưng từ chối là một lựa chọn không dễ dàng đâu. Dù phần đông anh em trong trại luôn luôn thông cảm trong những trường hợp này nếu như người tù mang phần cơm “bồi dưỡng” về trại. Vì, ngày hôm sau chắc chắn họ lựa một tù cải tạo khác ra làm việc và chỉ yêu cầu nhà bếp trại mang phần thực phẩm đã chia cho anh ta ở đội và lúc về trại không được tặng phần cơm “bồi dưỡng.” Thế là có tiếng xì sầm ngay, đầu tiên chỉ trong số vài người, sau đó lan rộng ra thành một vết rạn nứt hoài nghi giữa anh em với nhau, nào là “chắc là nó lại khai gì cho anh em mình nên mới được ân huệ như vậy chứ chúng mày thấy không thằng X… phải mang cơm từ đội ra.” Không may những lời nhỏ to ấy đối với với một người tù lại khó gột rửa lắm cho dù người tù đó sau này được thả ra và sống ở xã hội bên ngoài tại Việt Nam hay ở hải ngoại.

Bây giờ, cuộc sống no đủ của nước Mỹ này có thể làm cho các người ta nghĩ rằng đã là tù chính trị thì phải nghĩ đến những điều to tát hơn chứ sao lại cứ phải đối phó với điều lặt vặt như vậy. Ðiều này, về lý thuyết không có sai, nhưng xa rời thực tế khiến cho những tranh cãi về điều này sẽ bất tận. Chỉ có những ai từng trải qua một giai đoạn ăn đói, làm việc khổ sai, đau yếu không có thuốc chữa trị, cảm thấy rõ sự bất lực của mình sau những cánh cửa nhà tù cộng sản thì mới có thể hiểu tại sao sự lựa chọn để giữ nhân cách, không đầu hàng đói khổ và sự hành hạ của kẻ thù là sự lựa chọn khó khăn giữa cái sống theo bản năng và cái sống thanh sạch không sợ hãi. Tự tranh đấu với bản thân mình và sự giữ danh dự cho tập thể tù cải tạo trong bối cảnh ấy rất quan trọng, không phải là chuyện lặt vặt. Người bạn tù là nhạc sĩ VtA cho tới bây giờ đã đi tu rồi mà lâu lâu vẫn còn phải đối phó với những cáo buộc về nhân cách, về danh dự trong trại giam đã là một điển hình cho thấy tự buông thả mình trong đời sống tù đầy có nhiều phần trăm sẽ tạo ra hậu quả lâu dài.

Khi nêu ra những điểm này, tôi muốn nhấn mạnh dù ở thời điểm nào, chính sách “xuyên suốt” của người cộng sản về chế độ lao tù là điều có thể giải thích được. Mục tiêu chính nhất của chế độ này là câu thúc và gây chia rẽ để trị khối người còn khả năng gây chống đối khi họ được thả ra ngoài xã hội. Ðường lối tốt nhất để thi hành chính sách này là kiểm soát bao tử rồi thỉnh thoảng châm vào trong đời sống tù nhân những sự kiện để sự hoài nghi lẫn nhau trở thành một phản ứng quen thuộc. Không có sự phấn đấu, không có sự suy nghĩ sáng suốt, một người tù cải tạo rất dễ đi vào con đường cụt và bế tắc, rồi đến một lúc nào đó sẽ hành động như người bị tẩy não. Những lần quản giáo buộc các đội trưởng phải sinh hoạt đội vào lúc 8 giờ tối, nhiều khi chỉ là kiểm điểm mức chỉ tiêu hay là đọc tờ Nhân Dân hoặc Quân Ðội Nhân Dân rồi phê và tự phê về lòng nhiệt thành lao động, tôn trọng điều lệ Nếp Sống Văn Hóa Mới, mặc dù chỉ là “ngồi đồng cho qua chuyện,” nhưng điều làm tôi ngạc nhiên là một số rất nhỏ anh em trong đội cũng nói và phê bình nhau rất hăng hái, dù nguyên do chẳng phải nhiệt thành trong phê và tự phê nhưng là do không hài lòng nhau về một điều gì đó riêng tư trong đời sống hàng ngày. Những từ ngữ chính trị dao to búa lớn dùng với nhau trong rất nhiều trường hợp đã trở thành nguyên nhân dẫn đến đổ vỡ tình đồng đội trong tù đầy. Một số anh em lo ngại là tình hình này sẽ dẫn đến việc sinh hoạt của tù nhân chính trị mà giống y như sinh hoạt của cán bộ và vệ binh vì cũng tố cáo, cũng nâng quan điểm, thậm chí mạt sát nhau. Họ tìm đến tôi và đề nghị cùng nhau thực hiện một thư luân lưu bí mật trong trại giam để có thể đưa ra những lời kêu gọi đoàn kết rộng rãi hơn. Tại sao lại phải nhiêu khê đến như vậy?

Thực ra, có nhiều nguyên nhân để giải thích. Trước hết, trước làm chuyện này cần phải tìm hiểu một cách thực tế anh em trong trại đa số có muốn chấp nhận hy sinh ngay khi họ chỉ là người đọc hay không. Thứ đến những phương tiện để thực hiện, giấy bút. Thứ ba, những người cộng tác để thay phiên nhau viết thư và làm cách nào để chuyển cho anh em đọc. Sau nhiều lần gặp gỡ, chúng tôi đồng ý đi xa hơn nhiều. Ðó là thay vì ra một lá thư, chúng tôi thực hiện một tờ báo khổ nhỏ, chỉ có một bản viết tay, lấy tên là tờ Hợp Ðoàn sau nhiều tên khác được đề nghị. Hợp Ðoàn là một tờ báo chỉ có 16 trang, khổ bằng nửa tập vở học trò, chỉ có một bản viết tay, nhưng tất cả những anh em tham dự phải đổ ra nhiều công sức trong hoàn của một trại tù mạng lưới an ninh dày đặc và nếu bị khám phá chúng tôi chắc chắn sẽ bị choàng lên vai thêm cái án chung thân.

Khe nước khô

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 24 Jun 2024

Bún mắm cô Ba ngon nhức nách, đặc biệt cuối tuần có cháo lòng húp nhức răng. Quán Cây Khế chẳng mấy đông khách, bị con cô Ba đường đột bồng bột nông nỗi dại ngỗ bỏ má đi theo trai. Cô Ba tâm sự với đôi mắt như đang xắt hành, ươn ướt lộ ruột để ngoài da.Cô làm như thực khách tới quán chỉ để nghía con Tưng. Sáo sổ lồng sang sông thì tình hình eo xèo đâm ế chảy bởi thanh niên trai tráng chẳng thiết vãng lai. Để mần chi, khi lưỡng mục không ngó ra mục tiêu đặng ký gửi một tia nhìn man dại. Ai kia có si tình thì chỉ hát được mỗi điệu “Lý quạ kêu”. Sáo bay mà quạ theo đó cũng tìm cách thăng. Nghe xao xác dật dờ quãng lặng.
Cô Ba không mắng đứa con hư sớm nhấm nháp mùi vị của hoan lạc đèo bồng chuyện chăn gối mà cứ than van cho bọn phàm phu tục tử “thực bất tri kỳ vị”. Cô Ba cũng dấu nhẹm tình trạng sức khoẻ khi đứa phụ bếp tài cán nọ trở chứng xé rào, giao bao công chuyện cho mình má nó tả xung hữu đột. Khách ăn thì nhức nách nhức răng, còn chủ quán đêm trường có nghe ra nhức mình nhức mẩy? Ơn trời là Cây Khế cũng biết đóng cửa vào ngày thứ hai hằng tuần, lao động quá thì ngay cả máy móc cũng sẽ lột dên đứt cu-roa cháy bu-gi tắt quạt huống hồ phận chân yếu tay mềm mình hạc xương mai!Ông Tư làm nhân viên cho tiệm tạp hoá Vạn Thắng chung khu vực vẫn thuỷ chung kéo ghế, trừ thứ Hai, vẫn tâm đắc một mực thực phẩm ấy lành. Ai chứ cô Ba thì tui tin tưởng, tui ngó vô ngực thấy cổ đeo cái tượng Phật bằng ngọc to đùng. Lâu ngày chầy tháng ngọc lên nước láng bóng, người tâm hiền như cô Ba nên ngọc cũng cho là hợp tạng để xởi lởi khoe da. Ai đó nói ngọc đẹp cũng do người mang, tui biết vật trang sức tuy vô tri giác nhưng có khi nó thui chột ở kẻ này lại phát quang khi vào tay người khác. Rất đều tay chuyện củi lửa hay cái miệng tui đã hợp vị với tài nêm nếm của cô Ba. Món cơm tấm bì ngó đơn sơ vậy chứ cả tuần quên ăn, nói tội trời, đâm ra nhớ thương. Cô Ba được tiếng hiền vì cho ông Tư ăn uống ghi sổ vô tư. Được cái, người đàn ông trên năm chục tuổi đầu kia chưa hề chạy làng, ngó trước trông sau rồi dõng dạc: Trên bước đường tha phương vô định vị mà tình cờ kỳ ngộ người đồng hương thì phải nên xem trời đãi kẻ khù khờ. Cứ giáp vòng hai tuần, đến thứ năm ra ngân hàng đổi tấm ngân phiếu là tui ba chân bốn cẳng tới Cây Khế thanh thoả những ân tình có với cô Ba. Tui với cô Ba liên hệ như kiểu cá với nước vậy. Cá mà không có nước, cá chết. Nước mà không có cá… Nước mà không có cá…Tóc ông Tư đã sâu sia nhiều sợi bạc. Thời gian ngoài chuyện làm con người già cỗi đi, nó còn tác hại sâu đậm vào trí óc cây sậy biết suy tư. Ông Tư cà lăm cà cặp không biết tìm ra mệnh đề nối tiếp. Hoặc giả sợ mình vô duyên. Nước mà không có cá thì… có sao đâu! Trăng vành vạnh sáng chỉ mỗi đêm rằm, đôi lúc bầu trời cao rộng thẳm đen thắp lẻ loi một vài vì sao mờ nhạt cũng nên hiểu là lẽ thường hằng của tạo hoá. Mọi thứ đều có chu kỳ để vận hành đi quanh. Quán Cây Khế là hình ảnh một bể nước cảnh giam đủ đầy bộ sậu: Máy lọc róc rách nổi bong bóng, rong đong đưa, giả sơn, sạn sỏi, hang động trầm mình mà chỉ gặp duy vấn nạn: Thiếu cá. Do đâu? Công tâm mà nói, do cái quán Fung Hinh án lối ngay đầu đường. Bề thế, hoành tráng, long hổ sum vầy, nhe nanh lộ móng, điệu võ dương oai, khách khứa rậm rật sáng chiều. Sáng thì dim sum mà chiều thì sơn hào hải vị tam thập lục thức bốc mùi xào xẹt. Bồi bàn đồng phục thắt nơ cột bím, gái trai tươi mươi đon đả chào mời vô ra nhanh lẹ tợ biết lăng ba vi bộ.

Nghe cô Ba chép miệng chắt lưỡi, ngồi trên ghế ông Tư nhấp nhổm phát lời bình luận: Ngó dậy mà hổng phải dậy. Hoặc ngó lùng tùng xèn như rứa đó mà tiền đồ là cả một tuột dốc đứt thắng không thể kềm hãm. Nói cô Ba nghe, trước hết là cái cây sồi hình thù kỳ dị án trước quán mà chính quyền sở tại bảo vệ môi trường không cho ai di dời chặt đốn. Thứ hai, cánh cửa sơn màu đỏ loét phản cảm. Thứ ba, nội thất trưng bày quá nhiều gương soi. Chỉ ba điều ấy thôi cũng đủ phạm tới những huý kị ở trong lãnh vực phong thuỷ. Fung Hinh sẽ điêu đứng và Cây Khế sẽ mọc lắm trái vàng. Cô Ba tin tui hông? Cô Ba mang ra cho ông Tư bình trà nóng, ngồi xuống ghế đối diện sơ hở cho Phật ngọc lung lay thoát khỏi khu vực bị cưỡng chế, lộ hàng dễ thắt tim ông Tư. Dậy hén? Ngộ quá ta, hơn ai cả người Tàu họ rành phong thuỷ hơn người mình sao họ chẳng hay chuyện chí tử nọ? Mà nói nào ngay người đồng hương ai cũng ngôn kiểu anh Tư thì tui mới có sức ngậm đắng nuốt cay để đi tiếp cuộc trầm luân này. Con Tưng đã chọn ra ngày lành và mai hậu bên đàng trai quyết dùng địa điểm cái dằm nằm trong con mắt ấy mà tổ chức hôn lễ rình rang. Lão chủ quán Fung Hinh vin vô tình lân bang láng giềng kỳ cựu nên có tính toán sổ sách gia giảm chút phí tổn bớt năm mươi phần trăm gọi là chúc mừng lứa đôi răng long đầu bạc. Chao ôi, mình lớn tuổi chậm lụt khù khờ chẳng tính được chuyện tựa bọn trẻ ngày nay. Sách hoạch, thậm tinh ranh, thậm mưu lược. Nói bỏ lỗi, chúng mà ra yêu sách, chúng mà đặt đâu là cha mẹ phải ngồi đó, cấp kỳ cấp lệnh. Yên vị, chớ nhúc nhích, không vị tình thái sơn suối nguồn gì ráo, buộc phải nghe theo nghiêm lệnh. Bắt trao đô phải hao tiền, cho mua xế khủng mới thôi ghiền ô tô! Nuôi con cho rạc rài thần trí hao mòn thể lực mà lớn lên con ho một tràng thời cha mẹ phải run theo. Qua tới đây cha mẹ phải bỏ quên roi vọt ở cố quận, đi mình ên thúc thủ mà trả món nợ đời. Đêm nằm tứ bề yên vắng, nghe gió vật vã vườn lạ mà tự dưng mắt cay tim lạnh co thắt dồn nén bao chuyện tủi thân. Cô Ba nói đi mình ên thì ông Tư phải tin, vì suốt tháng năm dài thọc mạch dòm chừng ổng chưa hề ngó ra một nhân dạng đờn ông nào chàng ràng chấu rấu quanh thân cô Ba chủ tiệm. Gà mái nuôi con đằng đẵng nhưng con gà trống đạp mái thuở xưa đã cứng cựa bỏ đi đâu biền biệt chẳng vọng gửi về tiếng gáy mê sảng. Bình minh không hiện mọc vậy cô Ba có thực bụng tơ tưởng một đánh thức đầu ngày? Eo ôi, phận công nhân viên quèn lương ba đồng ba cọc không thể giúp ông Tư tròng đôi hia bảy dặm tự tin vượt biên tới những bến bờ trần tục. Ông đã vỡ mộng lắm phen, đã bị tình phụ muối xát gừng thoa lắm bận… nhưng tình ngay, có khi buồn chân ngang qua cửa hàng La Vie En Rose chuyên bán nội y đờn bà, ông vẫn tưởng tới một thứ định mệnh nằm dấu mặt sau ngổn ngang gò đống kia. Thế mới là màu hồng chứ. Đóng đô thường trực vào quán Cây Khế, người ơi, không phải đó là nuôi dưỡng sắc son niềm hy vọng ư? Họ, cô Ba và ông Tư thường trò chuyện ngắn dài những thứ vô thưởng vô phạt lúc quán vắng. Cái ấy chưa thể gọi là tâm sự để dốc lòng sẻ chia đồng cam cộng khổ. Ngồi bên nhau, cảm nhận vu vơ thứ thời tiết sáng nắng chiều mưa và tối tuyết đổ câm nín chẳng phải là phương thuốc làm nguôi ngoai một nỗi niềm chưa tiện nói ra? Nhà trống lạnh thì gia chủ có thể bày biện thêm vật thể cho vui mắt. Treo lên vách bức hình tự sướng, đổ nước đầy bình để cắm vào đấy đôi ba cành hoa nụ hé ướt át ngậm giọt sương trong. Ngồi bên người nữ tợ cô Ba, ông Tư mường tượng là được buông xuôi thân xác, thả lỏng tứ chi để chăm mắt đọc từng hàng chữ đầu Ngô mình Sở có trên cuốn sách mà cô Ba không ngại giở lật. Đa phần là những trang đánh số mù mờ với nội dung chẳng mấy vui. Mà thực lòng, khi nghe ông Tư vạch áo chuyện mình, hẳn cô Ba cũng vấp phải điều gì thoạt nghe không ổn thoả. Phận di dân thường hiếm muộn niềm vui. Hoặc cái hạnh phúc họ muốn tích luỹ thảy đều bèo bọt. Ra ngồi bờ bãi hoang vu nghe sóng mãi gào ở xa, vốc một nắm cát thì chúng dần vơi hao hụt trong kẽ tay. Nhẹ đi, rơi mãi, luôn cạn kiệt.

Cô Ba than, con Tưng nó hại tui dàng trời. Khi khổng khi không bỏ quán làm tui hoa mắt tối lửa tắt đèn không biết đường mà rờ. Định bụng dìa Việt-nam một chuyến mà đành bù trất chết một cửa tử. Quán không ai trông coi, chẳng lẽ đóng cửa cả tháng nhìn đời hiu quạnh? Về bển làm gì? Đi thăm thú những ai? Hẳn anh Tư sẽ hồ nghi cật vấn. Số là con em tui ở dưới quê điện qua cho hay nhà nước sẽ san bằng mảnh đất nơi có mộ phần tía má tui an nghỉ. Họ chỉnh trang nâng cấp làm văn phòng du lịch, tụ điểm đưa đón chỉ bày cho khách đi tham quan thắng cảnh với di tích đổ vỡ hào hùng thời chiến tranh. Tui rảnh thì ngồi nói chuyện cùng anh, nhà nước mà quỡn thì họ bày ra khối chuyện để thêm rách việc. Phá cái này dẹp cái kia, chỉ thị thu mua thức này ra quyết định bán buôn hàng khác. Họ lu bu kiểu của riêng họ mà dân ngu khu đen không hiểu được. Ở chốn này mần ăn không khấm khá e do bởi chốn kia mồ mả gia tộc bị động chăng? Cô Ba sa sầm nét mặt khi nói xong. Một chút thất thần, một chút hụt hơi, một chút ngây dại, tựa diện mạo của kẻ vừa bị móc túi, chới với cái mạng không đang sứt mẻ trầy trụa. Con Tưng nó có vẻ đẹp tươi sáng của đứa con gái vừa đủ lông đủ cánh, nghĩa là sắc đẹp kia vừa hồn nhiên, vừa tự tin, vừa mơn mởn lụa là sung mãn. Một sự dấn thân rộn ràng đầy sức sống ít chạm trán nỗi buồn. Má nó thì khác, thứ hoa chỉ nở trong bóng tối, mang sầu muộn tới, dằn vặt để tượng hình ra một điều gì kề cận với mong manh. Khi về già người ta buộc phải sầu héo, và tàn phai không hẳn là điều nhằm trút bỏ hết những vàng son cũ. Phún xuất thạch đã trào dâng tự lòng núi lửa, nhưng nó sẽ để lại trên hoang mạc một chu vi màu mỡ ăn sâu vào đất. Ông Tư ước ao được làm nông dân chí thú việc cày bừa khai khẩn dẫu loay hoay trong tay lắm thứ phương tiện thô sơ ông đang sở hữu. Một lòng thành, chỉ có vậy thôi. Và lòng thành phải đi đôi với cam chịu những hy sinh tổn thất.

Không nói tới chuyện tiền trao cháo múc, khi xong việc đằng tiệm tạp hoá ông Tư tấp về quán Cây Khế, gắp thức ăn nóng sốt cô Ba vừa dọn ra, nhai, thưởng thức, ngó cô Ba mồ hôi mồ kê ướt áo xống, nuốt xuống và lòng ông ăm ắp chộn rộn hình ảnh người chồng đang được vợ hiền săn sóc hỏi han chu đáo, thiệt mát cả ruột gan, ngậm mà nghe. Sướng rêm mé đìu hiu. Con Tưng khiếm diện thường trực là điều kiện thuận lợi. Một kẻ thứ ba, sự hiện hữu của nó thường làm người trong cuộc rối trí, chao đảo lung lạc những trận đồ.  Khi có khách vào, ông Tư đã lắm phen tự động cầm tấm thực đơn lại mở rộng nụ cười chào mời, cơm dâng nước rót. Ngồi không cũng chướng, mấy lúc mà có dịp đi “xã giao” làm bộ làm tịch tợ người của Cây Khế, chua ngọt khoan nói tới, chưa đả động việc leo trèo hái bức. Cô Ba chỉ can ngăn cho có lệ, cho phải phép thế thôi chứ bản thân cô đâu phải hạng người có ba đầu sáu tay mà mần từ a tới z. Sao tới bến đặng? Cô oải và hơn ai cả ông Tư đã chứng nghiệm bộn lần cái hoạt cảnh một con vụ có tứ chi đầu bù tóc rối. Người ta mệt ngất ngư con tàu đi mà mình làm đứa vô cảm thì có đáng trách không? Càm ràm với háy, nguýt, giận cá chém thớt thì tình hình mất vui, môi hở thì răng sẽ lạnh, điều ấy ắt sẽ tới. Thằng Sáu đảm nhận chức vụ rửa chén, quét dọn vệ sinh kiêm luôn job của Thiên lôi sai đâu uýnh đó, thấy ông Tư lăng xăng làm việc thiện nguyện, ngứa cổ đưa ra lời bàn, vọng từ chốn lầy lội xó xỉnh khuất tất: Không ấy chú bỏ mẹ chỗ làm kia đi, trôi về đây sum vầy có ngày mà đạt đạo. Chốn ni âm thịnh mà dương suy, phải có chú vô ra mới cân bằng được hoàn cảnh. Đôi khi riêng mình tui con chim đa đa lẻ bạn cứ bị nạt nộ rầy rà nghĩ mà tủi thân cho phận đờn ông thất cơ lỡ vận. Ông Tư ném nguyên chồng chén bát đũa muỗng vào bồn nước đục lờ nghe thằng Sáu ca cải lương mùi, miễn cưỡng phải đằng hắng giọng, lên cung bậc giao duyên: Thôi đi mày ơi, chớ vẽ đường cho hươu chạy mà hư bột hư đường, tao hổng có kinh nghiệm gì ráo, ngộ nhỡ ưa gồng mình cũng sợ người ta chê bai. Tìm người phụ việc thì chí ít cũng ngon cơm sức lực như mày vậy, trọng tuổi như tao chỉ tổ làm họ thêm vướng tay vướng chân chứ được ích gì. Thằng Sáu cười, nghe như dê kêu, he he he: Chú nhiêu tuổi mà sớm nhụt chí? Ông bác tui hơn sáu bó mà còn chơi bảnh, dã về nước cưới con vợ có ba mí xuân xanh, đêm bảy ngày ba vào ra không kể. Lại khe khe khe, cười mà như bị mắc xương cá vào cần cổ.

Ông Tư lộn ra, ngó cô Ba đứng nơi quầy thu ngân. Tóc búi lên, cột một cục trên đầu nhỉnh hơn trái chanh, nhường cái cổ trắng cho ông Tư đặt mắt vô. Lưa thưa ở đó vài sợi lông măng in tuồng đang dựng đứng. Ông Tư thủ thỉ: E đi dìa quê một thời gian thay đổi không khí chẳng chừng là phương án tốt. Chớ nên bội bạc, phải quan hoài tới chuyện mồ mả ông bà cha mẹ đang bị người ta đào xới. Nhắm đi được không? Khoảng nửa tháng mươi ngày thôi. Thử kêu con Tưng một tiếng, có gì tui xin phép đặng tháp tùng theo chim trời mỏi cánh. Mấy chục năm rồi tui cũng chưa ngó lại mặt ngang mặt dọc cố hương. Đường xa vạn dặm có người đồng hành cho đỡ cực thân. Cô Ba nhìn sâu vào mặt đối tượng, mắt long lanh. Cái khăn vắt vai bị cô lôi xuống vày vò trong đôi bàn tay. Cô chùi dầu mỡ thịt thà hành ngò mắm muối tỏi ớt và cũng muốn chùi trơn một cảm xúc vừa vướng mắc. Khi hoang mang thường người ta có những động thái thừa thải đến vậy, biểu tỏ sự khó xử. Vày vò cũng là cách thức nhằm gỡ rối những ý tưởng dùng dằng tiến thối lưỡng nan. Chùi tới chùi lui, trải ra xếp lại, như khăn ấy có ai vừa trao vào tay ở một sân ga diễn đầy cảnh đưa tiễn, người lên tàu lìa ra, kẻ ở lại đứng lóng cóng dậm chân nghe hao hụt lùa tới khi tiếng còi hú lên riết róng, nẫu ruột. Trong vô thanh, giữa câm nín, mơ hồ một dự tưởng lần hồi được tượng hình, ngày mỗi nhích gần tới hiện thực. Giác quan của ông Tư đánh hơi ra bản hợp đồng tròn trịa mà cô Ba sẽ vui vẻ tác thành. Không chắc ông sẽ về quê nếu hay tin mồ mả bố mẹ đẻ bị cày xới, ông sẵn lòng đưa ra cả vạn lý do để thoái thác; nhưng giờ đây, một mãnh lực nào ập tới hối thúc, mụ mị mong chóng hoàn thiện cuộc lữ kia. Đường Tăng cùng Trư Bát Giới đi thỉnh kinh e cũng nghe ra sự khinh khoái lớn bằng ngần ấy thôi. Và cô Ba gọi điện thoại cho con Tưng. Gọi khó khăn, ba chừng bảy đỗi bữa nhiếp bữa kia để bây chừ nó mới lộ hình. Tưng đến, như trăm khi, tựa vũ bão ập vào quán với những tiếng động đặc biệt mà Tưng tự khuấy động. Áo xống chễnh mảng ưa khoe da thịt và người ngợm thì luôn thịnh vượng hương thơm, reo rắc thứ mùi khó phân giải làm dật dờ mọi vật, làm át và giết ngay lập tức mùi mắm mùi lòng mùi dồi mùi cật mùi tim gan phèo phổi heo gà bò. Sự có mặt của đứa con gái mười tám tuổi điện nước thừa mứa như làm bừng tỉnh những bóng đèn vàng ưa chiếu sắc ủ dột, khung cảnh trong quán bỗng sáng hẳn lên.

Tưng vọt vào bếp, động nồi động niêu để nấu riêng cho mình món hải sản cầu kỳ chẳng có niêm yết trong thực đơn. Khuôn mặt đỏ au khi mang tô xe lửa ra bàn ăn. Tóc nhuộm nâu chen cài với vàng, cắt tuỳ tiện sợi ngắn sợi dài. Ngực vun đầy núp sau chiếc áo thun có nhiều lỗ thủng. Thằng Sáu lui cui sau bếp mà không lé mắt cũng uổng! Vừa ăn Tưng vừa liếm môi, cau mày nhọn mỏ: Má đi, con không có ý kiến. Con có thể kêu đôi ba đứa bạn tới phụ, trông coi hàng quán bán buôn thế má dăm bữa nửa tháng… Nhưng kẹt một nỗi, con đang lánh mặt người ta. Con xù, con bỏ. Vất hết, thèm vô! Mẹ rượt, nôm na là con không lấy thằng mắc dịch đó nữa. Khốn kiếp, ba thằng Tàu thảy chơi không được. Má biết nó nói với con ra sao không? Địt mẹ em tưởng em ngon hả, chỉ là người Việt thôi mà, ưa làm tàng hả? Rồi thằng a Pạt đằng quán Fung Hinh đổ thêm dầu: Cái quán Cây Khế của má nị chết tới nơi chứ béo bổ gì mà lên mặt. Đâu có “hủ xực” như đồ ăn Tàu. Má mà đóng cửa quán thì chúng ngộ nhận thêm khinh khi. Má nghe con nói không? Về bển mà được nước nôi gì trong lúc này. Người ta tìm cách chạy ra má lại kiếm cớ lộn vô, muốn từ chết tới bị thương hả? Ông Tư ngồi rùn vai, thu nhỏ người lại. Vậy là hết. Chắc chẳng ra ngô khoai cơm cháo gì nữa. Nói trước bước không rời, tắt thở chuyến song hành cùng nhau đi về miền quá khứ xa xôi. Ta lại phải nhắm mắt cày bừa như số phận đã định. Tiệm tạp hoá đằng ấy cũng có phần hùn của người Trung quốc, hàng hoá đa phần đều dán nhãn Made in China, từ cây tăm tre xỉa răng cho chí những máy móc kềnh càng rắc rối. Áo nịt ngực cho phụ nữ có thể làm ung thư vú, giày da dành cho phái nam có thể gây tác hại lỡ móng sưng chân. Gối kê đầu có thể tạo biến chứng mất ngủ rụng tóc. Đồ chơi dành cho con nít thì baby đụng vào cơ thể không chịu tăng trưởng. Thiên hình vạn trạng các thứ nhuốm độc tố trên từng cây số, ông Tư chẳng tường, chỉ nghe báo đài cảnh giác vậy thôi. Ngực con Tưng “xịn” thế kia, bềnh bồng như hai hòn đảo mà để rơi vào tay thằng Tàu mân mê sờ soạn, nghĩ cũng phí. Xem ra con Tưng thuộc diện thức thời. Nó ăn nói bổ bã vậy chứ thực bụng thuộc tuýp ưa tắm ao nhà, chả ham thích của lạ, biết phân biệt chánh tà. Ông Tư tợp hết chén nước trà đắng sau khi nghe cô Ba khẻ khàng bên tai: Xin lỗi anh Tư nghen, anh giỏi chân dìa cho má con tui đóng cửa nói chuyện riêng tư đại sự. Nhờ trời sau này tình hình yên vui thuận lợi nhứt định tui gọi anh Tư tới bàn tiếp việc thăm quê cho bỏ những ngày cơ cực. Ông Tư nghĩ mình bị đuổi khéo, tuân thủ bỏ ra ngoài đường thấy lạt miệng nhạt mồm. Ông ngó xuôi dòm ngược chẳng biết đang muốn mong một điều gì. Thằng Sáu mang hai bao rác lớn đi vất dáo dác đến gần: Bặp điếu thuốc cho thơm râu, tía. Dù buộc kín, đồ cặn bã hầm bà lằng nằm trong bao cũng xông mùi chua lét khiến xây xẩm. Ừ, chơi một điếu cho lai tỉnh thần hồn. Mẹ, cái xứ này mênh mông buồn tới độ tìm không ra chỗ để đi! Thằng Sau nhổ nước miếng: Trời, nói chi như không vậy tía. Sợ hổng đủ sở hụi thôi, chứ đất này chán khối mục cám dỗ. Muốn yêu tinh có yêu tinh, muốn ma nữ có ngay ma nữ. Thích chay có chay, ham mặn có mặn. Hang ổ đồi truỵ mọc đầy như nấm sau mưa. Bị tía chí thú đi mần việc, tan tầm lại tới quán này ngồi đồng nên bù trất chuyện rậm rật bên ngoài cảnh giới. Ông Tư quăng điếu thuốc. Thôi mày, lúc nào cũng ưa ca cẩm lung tung, để tao về ngủ cho yên thân phận già. Ông quay lưng, chất nỗi sầu trong dáng đi cắm cúi. Ông tới đứng bên tấm bảng hiệu mà chốc lát nữa xe buýt sẽ dừng đổ để tha ông về, thả ngay trước phòng trọ quanh năm yên hàn quạnh quẽ, một mực lặng như tờ. Phố lên đèn, bóng lá cây phong đen đúa vờn trên thân ông. Tự dưng ông Tư nhớ ra câu ca dao coi mòi hợp tạng:

“Lên non đốn củi đụng chỗ đốn rồi,
Xuống sông lấy nước gặp chỗ cát bồi khe khô!”.

Hừ, bún mắm với cháo lòng. Nhức đầu với nhức xương. Quê hương và cây khế, từ nay xin vĩnh biệt, người ơi!

Hồ Đình Nghiêm