Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

15/03/2014

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 25 Jun 2024

Phần 15

“Chuồng Cọp’ ở A-20 Xuân Phước

Nếu tôi nhớ không lầm, trước ngày 30 tháng 4 1981, ban quản trại mở cuộc tổng kiểm tra tư trang của tù cải tạo, từ các tù nhân diện tù tập trung cải tạo cho tới diện tù chính trị có án. Lý “lé”, cán bộ an ninh trại đã huy động tù hình sự trong đội lao cải “diện rộng”, các quản giáo và vệ binh súng dài khám tư trang tù cải tạo kéo dài từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều mới kết thúc. Điều này có nghĩa là “tài sản” của tù cải tạo bị tịch thu sạch sẽ, từ mì gói, cơm khô, cám rang trộn gừng, những viên thuốc chống phù thủng B1 nghĩa là mọi tù nhân cải tạo đều …sạch bách!

Sự căng thẳng của tôi giảm xuống sau khi T.B.N. mà anh em chúng tôi quen gọi thân mật là Ng. “đen” thông báo là anh đã tìm kiếm được phương tiện để thực hiện tờ báo. Việc tìm kiếm những phương tiện và vật liệu để tờ Hợp Đoàn có thể ra đời đúng kế hoạch cũng là một câu chuyện dài và ngay cả bản than tôi cho tới nay cũng không thể tưởng tượng rằng nhóm chủ trương chúng tơi lại có thể hoạt động được một cách suông sẽ trong những năm đầu thập niên 80 tại cái thung lũng đày ải con người ấy.

Cùng với T.D.S. một luật sư nổi tiếng trong luật sư đoàn miền Trung, N.C.T. viên chức cao cấp trong chính quyền VNCH, tốt nghiệp học viện Quốc Gia Hành Chánh, T.B.N. và H. “bầu” các cựu sĩ quan biệt kích và thiết giáp phụ trách an ninh và lưu chuyển tờ báo, H “cà” cựu sĩ quan bộ binh tác chiến, nhưng có tài đàn hát, vẽ minh họa lẫn hí họa và P.Đ.N. cựu sĩ quan chính huấn với những vần thơ rực lửa…tôi có may mắn được anh em giao quyền điều hành được 5 số báo Hợp Đoàn, trong đó có một số kỷ niệm ngày Quân Lực 19 tháng 6 và một số tưởng niệm 30 tháng 4 trước khi bị biệt giam dài hạn.

Chỉ có bấy nhiêu người nhưng chúng tôi đã vượt qua bao nhiêu khó khăn để hoàn thành êm thắm mục tiêu do chính chúng tôi đặt ra. Mãi cho đến sau này, tôi vẫn nghĩ rằng sự đoàn kết và sẵn sàng hy sinh cho lý tướng chính là nguyên nhân của những thành tựu này.

Mấy tháng sau khi tôi bị đưa vào “chuồng cọp” Ng. “đen” là người thay thế tôi trông nom tờ báo. Nhưng anh chỉ cho ra được số thứ 6 với sự cộng tác bài vỡ của một nhà báo mà trước 30 tháng 4 1975 là biên tập viên của tờ Saigon Post một trong hai tờ báo viết bằng Anh ngữ ấn hành tại Sài Gòn. Nhà báo vừa nói vốn là con trai của một sử gia viết quân sử nổi tiếng trong quân đội VNCH. Dù chỉ là Sĩ Quan cấp Úy anh đã phải bóc tới hơn 10 cuốn lịch sau những cánh cổng nhà tù cộng sản vì tham gia vào cuộc nổi loạn tại trại tập trung Suối Máu đêm Noel 1978.

Sau khi xảy ra vài vụ trốn trại, tù cải tạo lãng công để phản đối chế độ lao tù, viết khẩu hiệu chống Cộng trong nhà giam, những đêm tù ca bỏ túi bị ăng ten báo cáo..dường như ban quản trại đã gia tang khủng bố. Nhiều tù “cải tạo” bị gọi đi làm việc và sau đó bị đưa vào cùm tại khu biệt giam phân trại B của A-20, tức là trại trong cách phân trại E khoảng 5 cây số. Nhưng họ không đụng tới tôi và những anh em trong nhóm Hợp Đoàn. Ngọc “đen” khuyến cáo tôi rằng cần phải lưu ý đến sự yên tĩnh kỳ lạ này và đề phòng bằng cách chuyển hết tài liệu và vật liệu trong chiếc ba lô hai đáy của tôi đến một chổ dấu an toàn mà chỉ anh biết. “Đen” bảo tôi là phải nằm im, “không nên nhúc nhích”. Anh còn cẩn thận may một lớp poncho trong chiếc áo trận đã rách, vá chằng vá đụp và buộc tôi phải luôn mặc nó dù trời nóng. Ng. “đen” nói với tôi “Alpha” (danh hiệu anh em dùng để gọi tôi một cách thân mật) cẩn thận. Tụi tôi “clear” hết rồi vì cảm thấy lần này chúng muốn đưa Alpha vào biệt giam luôn. Thằng Lý “lé” vẫn nghi anh là một cái đầu máy xe lửa trong trại này. Anh thấy không, gần đây hắn kêu tất cả những người hắn nghi ngờ đi làm việc liên tiếp để lượng định và có thể nó đã nghĩ tốt hơn hết là đem cất cái đầu máy đi là yên chuyện”.

Dù chỉ là một quân nhân tác chiến, cái nhìn của T.B.N. tương đối bao quát và sâu sắc. Quảng giao, giang hồ và chơi với tất cả những thành phần trong trại giam, anh giúp tôi nhiều ý kiến để vượt qua những khó khăn trong những hoạt động bí mật tại trại giam. “Đen” không bao giờ ra mặt đối đầu với một số ít thành phần phản bội anh em. Anh thường nói với tôi: “Chửi bới, nói móc, xỏ xiên, đối với tụi nó không ăn thua. Trong hoàn cảnh ai trong chúng ta cũng đói khổ cả, chúng ta phải coi lại dư luận đồn đại. Nghe thì nghe nhưng đừng vội kết luận người này làm ăng ten, người kia làm mật báo. Nên kiên nhẫn chờ đợi, cho đến khi nắm vững bằng chứng là phải ra tay cảnh cáo ngay cho chừa cái tật bép xép với chèo.” (Chèo cũng là cách gọi mỉa mai chúng tôi dung để chỉ công an trại giam).

      Từ ngày vào trại cải tạo lúc tóc còn xanh cho đến khi ra từ tóc đã muối tiêu, tôi không hề coi những thành phần phản bội này có ảnh hưởng gì đến đời tù của mình. Bởi vì tôi nghiệm ra một điều: họ làm ăng ten, mật báo với an ninh trại cũng vì đói nên cần miếng ăn chứ trong thâm tâm tôi không tin rằng họ thực tâm cộng tác với kẻ thù. Cho nên những ai không sợ hãi e dè quá đáng vì bị cúp thăm gặp gia đình hoặc sẽ sẳn sàng chấp nhận vào cùm trong chuồng cọp thì những phần tử này lùi bước ngay và ít khi muốn đụng độ. Trong thời gian bị “gởi” lên A-20, bọn quản trại củng lẫn xen vào hàng ngũ chúng tôi những thành phần mà anh em gọi là “đầu gà, đít vịt” nghĩa là tù chính trị không ra chính trị, hình sự cũng chẳng ra hình sự. Những thành phần được trại giam cài vào cũng chỉ với mục đích quấy nhiễu chúng tôi mà thôi. Điển hình nhất là P.V.Đ. và T.T.V. Một người P.V.Đ. là lính quân dịch với cấp bậc binh nhì, trước 30 tháng 4, 1975 phạm tội hình sự bị đưa vào quân lao Gò Vấp chờ ngày ra tòa án Quân Sự. Khi anh ta được đưa vào ở chung với thành phần cựu sĩ quan cải tạo, không ai là không nhìn ra vai trò của anh ta. Còn người kia khi vào trại khai là “thiếu tá tình báo VNCH” nhưng khi hỏi thăm đến đơn vị mà anh ta từng phục vụ thì T.T.V. nói đến toàn những đơn vị được tác giả Bùi Anh Tuấn viết trong bộ truyện Z-28 một bộ truyện tình báo nhiều tập rất ăn khách vào thập niên 70 ở Sài Gòn.

Điểm đặc biệt ở hai nhân vật này là tư cách của họ rất thấp, nhưng trò thưa gởi với cán bộ an ninh và dùng những buổi bị gọi đi làm việc để dọa nạt những tù cải tạo tuy yếu bóng vía nhưng nhiều quà thăm nuôi thì thật là “tuyệt chiêu”. Chẳng hạn, thường kỳ hàng tháng họ phải làm việc với cán bộ an ninh trại để khai báo những khả nghi trong nhà giam, nhưng khi đi làm việc về thì họ tung hỏa mù, nào là cán bộ có hỏi đến người này, người kia trong nhà giam. Vài hôm sau, chúng lân la đến những người bị chúng nhắc tên để xin một vài món gì đó, nhiều khi là một gói mì ăn liền, có khi là một ít cơm sấy hay miếng cá khô. Tôi nghiệm thấy là P.V.Đ. và T.T.V. thành công trong chuyện đi vay không bao giờ trả này. Ít khi nào mà họ về chổ nằm mà trên tay không có một món nào đó xin của những người đồng cảnh vốn không bao giờ muốn bị lôi thôi với những con chiên ghẻ này. Biết thế cho nên T.T.V. và P.V.Đ. chỉ nhắm vào một số tu sĩ, những tù chính trị già cả, một vài ông cựu dân biểu VNCH và nhất là một vài bạn đồng vốn đã nhát nhưng lại cứ hay “bô lô ba loa” cái miệng. Chúng kỵ nhất là đụng độ với những cựu sĩ quan trẻ tuổi hay những người coi việc vào nằm chuồng cọp chỉ là một giấc ngủ trưa. Bởi vì chúng biết đụng độ với những đối tượng này không những không được gì mà có khi còn mang đầu máu lúc đêm hôm tối lửa tắt đèn, nếu muốn nói theo cách trừng trị giang hồ trong nhà tù cải tạo của Cộng Sản.

Tôi muốn nhắc lại những sự việc này trong hồi ức của mình cũng chỉ với mục đích để cho giới trẻ đang tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam nhìn lại và làm sạch hàng ngũ của mình, nhìn lại cơ cấu tổ chức của mình và phải nên đặt câu hỏi: hoạt động tự phát liệu có thể tránh được những cái bẫy do guồng máy an ninh của nhà cầm quyền không?

Nếu các bạn nói tránh được thì tôi rất phục bởi vì như thế là hoạt động của cả một guồng máy an ninh của cộng sản không làm gì được các bạn. nhưng có những thực tế diễn ra trước mắt các bạn mà chưa có câu trả lời: đó là các bạn trẻ bí mật hội thảo trong một lớp dạy Anh văn trong ngõ hẽm ở Hà Nội, nhưng khi các bạn ấy mới bước vào lớp thì bọn công an đã ập vào đánh cho một trận tơi bời rồi ném lên xe bus chở đi. Hãy nhìn vào thực tế này để rút ra một bài học, trừ khi các bạn trẻ này chỉ chơi bạo lấy tiếng thì không kể.

Buổi sáng cuối tháng 4, 1981phân trại E của nhà tù A-20 vẫn còn ướt đẫm hơi nước của những cơn mưa nhỏ trãi lên thung lũng Xuân Phước đêm hôm trước. Lãnh phần khoai mì lát xong, tôi đem để lên bệ nằm, định ra ngoài tập thể dục một chút rồi vào nhà giam ăn sáng để chời đi lao động thì trật tự Của bước vào cổng nhà giam. Nhìn qua song sắt của khung cửa sổ rộng, tôi thấy tên trưởng ban trật tự này (vốn là một thượng úy công an biên phòng bị án tử hình sau giảm xuống còn chung than vì tội giết mười hai người Cambodia để cướp vàng) có vẽ nghiêm trọng. Hắn bước vào phòng và gọi tên T.D.S. và tôi rồi bảo cả hai chúng tôi phải ở nhà khộng đi lao động để ra làm việc với cán bộ. Khi Của vừa quay đi thì “Đen” vớ lấy cái áo trận may nhiều lớp ném cho tôi và nói: “Cởi áo kia ra ngay, mặc cái áo dày này vào. Anh mặc hai áo, chúng lột cái áo dày ra thì hỏng việc. Thuốc B1 ở trong các đường vá sau lưng, H “bầu” đang clear ba lô của anh, thế nào lát nửa anh đi làm việc thằng Của sẽ leo lên sàn trên khám xét”.

   Nhưng không hiểu sao vào lúc đó tôi bình tĩnh một cách lạ thường, có thể là do tôi hiểu một cách chắc chắn đây là buổi sáng cuối cùng tôi còn nhìn thấy các bạn tù trong nhà giam chung. Có thể vài giờ nửa tôi đã phải giam mình lâu dài trong cái căn phòng bê tông kín mít rộng 2 thước, cao 5 thước, dài 3 thước, chỉ có một lổ nhỏ vuông mỗi bề 5 phân để thở. Tôi nói với Ng. “đen” người lính từng sát cánh với tôi trong tù cải tạo nhiều năm rằng hãy cho “đông lạnh” tất cả mọi thứ và nếu có chuyện gì xảy ra thì chỉ có S. và tôi chịu mà thôi, theo đúng kỷ luật của nhóm.

Khi tất cả các đội xuất trại đi lao động thì Lý “lé” tay cầm một hồ sơ bước vào nhà kêu tên tôi và trật tự Của kè tôi ra khỏi cổng trại tiến về phía một văn phòng nhỏ nằm cách cổng trại không xa lắm. Tôi đã nhiều lần bị thẩm cung trong văn phòng này, nhưng buổi sáng đó là lần đầu tiên cái vẽ lạnh lẽo đặc biệc của nó làm tôi chú ý. Bộ đồ trà gốm có 4 cái tách bằng gốm thô, một bình tích trà nóng, ủ trong một vỏ dừa ngã màu nâu, một chiếc gạt tàn thuốc lá, bao thuốc thơm Thăng Long vẫn còn nguyên cái bao bì bằng giấy xám chỉ giúp làm tang cái vẽ đe dọa đối với người bị thẩm cung thay vì tất cả những vật dụng này lẽ ra đã phải làm tròn nhiệm vụ của chúng là giúp cho cuộc gặp gỡ thêm đậm đà. Mãi cho đến lúc Lý “lé” rút trong túi ra một tờ giấy đọc “lệnh bắt” tôi mới chú ý tới khẩu K-59 anh ta mang bên hông và chiếc nón kết có cái vành rộng tụt xuống sát mang tai. Tôi rủa thầm: “Mẹ kiếp.. còn bày đặt lệnh bắt với chả lệnh tha. Bố mày đây đã tù 6 năm rồi, chúng mày có đọc vài cái lệnh bắt cũng chẳng ăn nhằm gì.” Lý “lé” ra lệnh cho tôi ngồi xuống chiếc ghế trước bàn làm việc. Anh ta cầm bao thuốc lá lên rút ra một điếu đưa cho tôi, nhưng tôi nói: “Tôi không hút thuốc lá, chỉ hút thuốc lào”. Lý gọi trật tự Của đang đứng ngoài  trước hàng hiên của văn phòng: “Đi lấy cho anh ấy cái điếu cày và thuốc” Sự màu mè lộ liễu và nham hiểm của Lý “lé” tôi cũng đã quen nên tôi “đổ bựa” hỏi người thẩm vấn: “Cán bộ kêu tôi ra đây có chuyện gì, không lẽ chỉ ngồi uống nước trà và hút thuốc” Lý “lé” cười khảy: “Lát nửa anh sẽ biết, bây giờ uống nước trà và hút thuốc đi cho bớt căng cái đã”


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply