Luật im lặng

vietmessneger.com

Mario Puzo

Lương Lê Giang dịch

Post by Sơn râu 27 Jun 2024

Chương 6

Franky and Stace Sturzo sở hữu một cửa hàng bán đồ thể thao lớn ở Los Angeles và một ngôi nhà ở Santa Monica chỉ cách bãi biển Malibu năm mươi phút đi bộ. Cả hai đã từng lập gia đình, nhưng hôn nhân của chúng chẳng đi đến đâu, nên bây giờ chúng sống với nhau. 
Chúng không nói với bất kỳ ai trong đám bạn bè chúng là anh em sinh đôi, mà chúng thậm chí cũng chẳng có vẻ gì là anh em ngoại trừ cả hai đều cả tin và mê thể thao. Franky hấp dẫn và có cá tính hơn. Stace nhanh nhạy hơn, chỉ hơi chút lạnh lùng, nhưng cả hai đều nổi tiếng về lòng tốt của mình.
Chúng là thành viên của một trong số những phòng tập thể thao rộng rãi và sang trọng rải rác khắp Los Angeles, một phòng tập có những máy tập thể hình kỹ thuật số và những chiếc tivi treo tường màn hình rộng để xem trong khi luyện tập. Nó có một sân bóng rổ, một bể bơi và cả một võ đài nữa. Ban huấn luyện của nó là những người đàn ông đẹp như tạc và những phụ nữ nom bắt mắt, rắn chắc. Hai anh em chúng dùng phòng tập để tập và cũng là để gặp gỡ những phụ nữ tập luyện ở đó. Đây là một bãi săn lớn cho đám đàn ông như chúng vì được vậy quanh bởi những nàng diễn viên tràn trề hy vọng đang cố giữ thân hình thon thả và những bà vợ ủ ê bệ rạc của những kẻ đầy quyền lực trong làng điện ảnh. 
Nhưng nhìn chung Franky và Stace khoái chơi bóng rổ. Những cầu thủ giỏi thường lui tới phòng tập – thậm chí đôi khi có cả một cầu thủ dự bị của đội LA 1 Lakers. Franky và Stace thi đấu với anh ta và cảm thấy chúng cũng vững vàng. Điều đó gợi lại những kỷ niệm đầy mơ mộng khi chúng là những ngôi sao của trường trung học. Tuy nhiên chúng không hề ảo tưởng cũng sẽ may mắn như vậy trong một trận đấu thực sự. Chúng chơi đến mệt lử còn anh chàng cầu thủ của đội Lakers được một phen đùa cợt thỏa thích. 
Tại nhà hàng bán đồ ăn bổ dưỡng tự nhiên của phòng tập, chúng kết bạn với những nữ huấn luyện viên và hội viên của phòng tập, thậm chí đôi khi cả với một vài người nổi tiếng. Chúng luôn được vui chơi, nhưng đó chỉ là một phần nhỏ trong cuộc đời của chúng. Franky huấn luyện cho đội bóng rổ của một trường tiểu học. Gã làm việc này rất nghiêm túc. Gã luôn hy vọng phát hiện ra một siêu sao đang trong quá trình trưởng thành, và gã được bọn trẻ yêu quý vì tốt bụng và nghiêm khắc. Gã có một phương pháp huấn luyện nổi tiếng. “OK”, gã nói. 
– Các em còn kém hai mười điểm. Đây là hiệp cuối cùng. Các em ra sân và ghi mười điểm đầu tiên. Chỉ cần can đảm và tự tin các em sẽ luôn luôn thắng. Các em chỉ còn kém mười điểm, rồi năm, rồi hòa. Và các em thắng! 
Đương nhiên, chuyện đó chẳng bao giờ thành hiện thực. Bọn trẻ không phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần. Chúng vẫn chỉ là một lũ nhóc. Nhưng Franky biết những đứa thực sự có tài sẽ không bao giờ quên bài học này và nó sẽ còn giúp ích cho chúng sau này. 
Stace tập trung vào việc điều hành cửa hàng và ra những quyết định cuối cùng anh em chúng sẽ làm những việc gì. Đó phải là những việc ít rủi ro nhất nhưng được trả giá cao nhất. Stace lúc nào cũng tin vào các tỷ lệ và là kẻ bi quan. Hai anh em chúng ít khi lại không nhất trí được với nhau về một vấn đề. Chúng có chung sở thích, chúng ngang sức ngang tài trong những kỹ năng về thể chất. Thỉnh thoảng chúng đấu tập với nhau trên võ đài hoặc ngoài sân bóng rổ. 
Bây giờ chúng đã sang tuổi bốn ba và có cuộc sống ổn đinh, nhưng chúng vẫn thường bàn thảo về việc lập gia đình lần nữa. Franky cặp một cô bồ ở San Francisco, còn Stace có bạn gái ở Vegas, một ả vũ nữ. Cả hai ả đều tỏ ra không mặn mà lắm với chuyện chồng con nên hai anh em chúng có cảm giác rằng chúng chỉ là những kẻ chèo đò đang dài cổ trông tới ngày cập bến. 
Vì hào phóng nên chúng kết bạn dễ dàng và khá bận rộn với hoạt động xã hội. Một năm sau ngày giết ông Trùm chúng vẫn sống trong tâm trạng lo lắng. Không thể giết một người như lão mà không gặp nguy hiểm. 
Khoảng tháng Mười một Stace gọi một cú điện thoại cho Heskow về việc trả nột năm trăm ngàn lệ phí còn lại. Cú điện ngắn gọn và có vẻ tối nghĩa. 
– Xin chào, Stace nói. Tụi này sẽ tới đích khoảng một tháng nữa kể từ hôm nay. Mọi cái đều ổn cả chứ? 
Heskow có vẻ mừng rỡ khi nghe giọng Stace. 
– Mọi cái đều hoàn hảo, y nói. Mọi cái đã sẵn sàng. Tụi mày có thể chi tiết hơn về thời gian không? Tao không muốn tụi mày tới khi tao đi đâu đó ra ngoài thành phố. 
Stace cười và thản nhiên nói 
– Tụi mày sẽ tìm, được chứ? Cứ tính một tháng đi. Sau đó gã cúp máy. 
Tiền nong nhận được trong một hợp đồng như thế luôn luôn có yếu tố nguy hiểm. Đôi khi người ta ghét thanh toán cho những việc đã làm. Điều đó xảy ra trong mỗi vụ làm ăn. Với Heskow nguy hiểm chỉ là rất nhỏ – y luôn luôn là một nhà môi giới đáng tin cậy. Tuy nhiên, vụ của ông Trùm là đặc biệt, cả tiền cũng vậy. Vì thế chúng không muốn Heskow hiểu rõ kế hoạch của mình. 
Hai anh em chọn quần vợt để tiêu khiển từ năm trước, nhưng với môn này, chúng luôn gặp thất bại. Mặc dù người ta giải thích cho chúng rằng đây là một môn thể thao đòi hỏi phải tập những cú giao bóng từ rất sớm, rằng nó thực sự dựa vào những kỹ thuật nào đó giống như học ngoại ngữ vậy, nhưng chúng có khiếu thể thao đến mức không thể chấp nhận thất bại. Thế là hai gã thỏa thuận ở lại khu nhà của sân quần ở Scottsdale, tiểu bang Arizona ba tuần để theo học một khóa nhập môn. Từ đó chúng sẽ tới New York gặp Heskow. Tất nhiên trong ba tuần này chúng có thể bỏ qua du hý vài đêm tại Vegas, nơi chỉ cách Scottsdale chưa đầy một giờ bay. 
Khu nhà ở sân quần cực kỳ sang trọng. Franky và Stace được phân một ngôi nhà nhỏ hai phòng ngủ tường làm bằng gạch sống, có điều hòa nhiệt độ, một phòng ăn kiểu Ấn Độ, một phóng khách có ban công và một nhà bếp nhỏ. Từ đây có thể thấy phong cảnh hùng vĩ của vùng núi. Trong nhà còn có một quầy bar, một tủ lạnh lớn và một TV to đùng. 
Nhưng ba tuần đầu đã diễn ra chẳng mấy suôn sẻ. Một trong các huấn luyện viên bắt Franky làm việc quá sức. Franky dễ dàng trở thành người giỏi nhất trong nhóm học viên mới. Gã đặc biệt tự hào về cú giao bóng của mình: nó rất là và dữ dội. Nhưng huận luyện viên, một người tên là Leslie, có vẻ đặc biệt khó chịu với cú giao bóng của gã. 
Một buổi sáng Franky quật trái banh về phía đối thủ của gã. Gã quay sang tự hào với Leslie, 
– Hiểm đấy chứ? 
– Nhằm nhò gì, Leslie lạnh lùng đáp. Lỗi chân rồi. Ngón chân của anh đã chồm qua vạch giao bóng. Hãy thử lại một lần nữa với một cú giao bóng như vừa rồi, trái banh thường sẽ ra ngoài sân đấy. 
Franky làm một cú giao bóng nữa, nhanh và chính xác 
– Cũng hiểm hóc đấy chứ? Gã hỏi. 
– Vẫn mắc lỗi chân, Leslie chậm rãi nói. Đánh banh như thế thì nước mẹ gì. Mới chỉ đưa được trái banh vào sân. Anh chỉ khá so với một Hacker 2 thôi. 
Franky bực lắm nhưng gã kiềm chế được. 
– Cứ xếp cho tôi đấu với một ai đó không phải là hacker đi, gã nói. Cứ mở mắt ra mà xem tôi chơi ra sao. Gã dừng lại. Thế còn anh? 
Leslie khinh bỉ nhìn gã. 
– Tôi không đấu với dân hacker, anh ta nói rồi chỉ vào một cô gái trẻ trạc cuối hai đầu ba chục 
– Rosie đấy phải không? Leslie gọi. Tiếp ngài Sturzo một ván đi. 
Cô giá vừa mới tới sân banh. Nàng có cặp giò rám nắng rất đẹp lộ ra ngoài chiếc quần sọc trắng, và nằng mặc một chiếc sơ mi hồng có biểu tượng khu nhà của sân quần. Khuôn mặt nàng xinh xắn và tinh nghịch. Tóc nàng buộc túm ra sau thành một cái đuôi ngựa. 
– Chấp tôi nhé, Franky nói với vẻ khiêm nhường. Trông cô em phong độ gớm. Cô là huấn luyện viên à? 
– Không, Rosie nói. Tôi cũng chỉ mới tới đây để học mấy bài giao bóng. Leslie là huấn luyện viên bậc thầy về khoản đó đấy. 
– Cứ chấp đi, Leslie nói. Ngài đây còn kém cơ cô mà. 
Franky nói nhanh, 
– Làm hai séc mỗi séc bốn bàn nhé? Thực lòng, gã chỉ muốn thương lượng để hạ bớt. 
Họ chơi dưới sự chứng kiến của Leslie. Franky thắng hai bàn đầu, nhưng sau đó Rosie giành lai ưu thế. Những cú vụt bóng của nàng thật hoàn hảo và nàng không gặp bất kỳ rắc rối nào với những cú giao bóng của gã. Nàng luôn có mặt tại nơi Franky vụt trái banh tới. Mặc dù đã vài lần cũng san bằng tỷ số hoà bốn mươi – bốn mươi, nhưng nàng vẫn hạ gã với tỷ số chung cuộc 6- 2. 
– Này, so với dân hacker thì anh khá đấy, Rosie nói. Nhưng anh chỉ bắt đầu chơi khi đã ngoài hai mươi tuổi phải không? 
– Phải, Franky bắt đầu thấy căm cái từ hacker. 
– Người ta phải học đánh và giao bóng từ khi còn nhỏ, Rosie nói. 
– Vậy ư? Franky bỡn cợt. Nhưng tôi sẽ hạ cô em trước khi chúng ta rời khỏi nơi này. 
Rosie toét miệng cười. Miệng nàng rộng so với khuôn mặt nhỏ của nàng. 
– Được thôi, nàng nói. Nếu anh có một ngày may mắn nhất đời thì tôi sẽ có một ngày tồi tệ nhất. Franky phá lên cười. 
Stace bước tới và tự giới thiệu. Sau đó gã nói, Mời cô đi ăn tối cùng tụi tôi. Franky không mời cô vì cô đã hạ chú ấy, nhưng chú ấy sẽ đến. 
– Ồ, không phải thế, Rosie nói. Anh ấy cũng đang định mời tôi đấy. Tám giờ được chứ? 
– Tuyệt, Stace đáp. Gã gõ cây vợt vào Franky. 
– Tôi sẽ tới, Franky làu bàu. 
Họ ăn tối tại nhà hàng của khu nhà trong sân banh, một phòng lớn có mái vòm với những bức tường kính cho phép nhìn ra sa mạc và những dãy núi. Rosie đúng là cả một phát hiện, như Franky nói với Stace sau này. Nàng ve vãn cả hai đứa, nàng nói về thể thao và xem ra nàng rất thạo, quá khứ và hiện tại – những trận đấu lớn, những cầu thủ lớn, những khoảnh khắc thiêng liêng với mỗi cá nhân. Và nàng là một thính giả có hàng, nàng khích lệ chúng. Franky kể cho nàng nghe cả việc huấn luyện lũ trẻ và bằng cách nào cửa hàng của gã có thể cung cấp những mặt hàng tốt nhất, và Rosie hết lời tán thưởng, 
– Ôi, thật tuyệt, thật tuyệt vời. 
Rồi chúng bảo nàng chúng đã từng là những ngôi sao bóng rổ của trường trung học trong thời hoa niên.
Rosie ăn uống ngon miệng và anh em Sturzo chấp nhận được điều đó ở một người đàn bà. Nàng ăn chậm rãi, thanh nhã và có thói quen hạ thấp đầu nghiêng về một bên với một vẻ e lệ hầu như giả tạo khi nàng nói về mình. Nàng đang làm luận án tiến sỹ tâm lý tại Đại học tổng hợp New York. Nàng xuất thân từ một gia đình giàu có và nàng đã đi khắp châu Âu. Nàng đã từng là một ngôi sao quần vợt ở trường trung học, nhưng nàng nói tất cả những chuyện đó với một vẻ chẳng mấy hài lòng làm hai gã càng bị cuốn hút, và nàng liên tục chạm nhẹ vào tay chúng khi nàng nói. 
– Tôi vẫn chưa biết làm gì khi tốt nghiệp, nàng nói. Với toàn bộ kiến thức có được từ sách vở tôi sẽ không thể nào hiểu được con người trong đời sống thực tế. Giống như hai anh thôi. Các anh đã kể cho tôi nghe những chuyện đã qua của mình, hai anh thật dễ mến, nhưng tôi không biết cái gì đã làm các anh vượt qua được? 
– Đừng có lo về chuyện đó, Stace nói. Cô em cầu gì khắc được nấy thôi. 

Google photos

– Đừng có mà hỏi tôi, Franky bảo nàng. Ngay bây giờ tôi chỉ tập trung vào một việc là làm sao thắng được cô em trong môn quần vợt.
Sau bữa tối hai gã đưa Rosie xuống con đường đất đỏ dẫn tới nhà nàng. Nàng hôn nhanh lên má chúng, rồi chúng bị bỏ lại một mình trong không gian vắng vẻ. Khuôn mặt vui nhộn của nàng đang ngời lên dưới ánh trăng là hình ảnh cuối cùng chúng mang theo. 
– Tao nghĩ cô nàng hết sảy đấy. Stace lên tiếng. 
– Còn hơn thế nữa, Franky nói. 
Hai tuần cuối cùng ở sân banh, Rosie trở thành bồ của hai gã. Vào những buổi chiều tà sau khi chơi tennis họ lại cùng nhau đi đánh golf. Nàng chơi khá nhưng không bằng cả hai anh em. Chúng có thể đánh mạnh trái banh đi xa và rất bình tĩnh trên vạt lỗ bóng. Một gã tuổi sồn sồn ở khu sân quần đi cùng họ tới sân golf để làm thành một vặp đôi. Y năn nỉ được cùng phe với Rosie và chơi mười đô cho một lỗ. Và mặc dù rất khá nhưng y vẫn bị thua. Sau đó y thử nhập bọn với họ đi ăn tối. Rosie cự tuyệt y để làm vui lòng hai gã sinh đôi. 
– Tôi đang cố thuyết phục hai anh bạn này kết hôn với tôi mà, nàng nói. 
Chính Stace là người đưa được Rosie lên giường vào cuối tuần thứ nhất. Trước đó Franky đã đi Vegas để đánh bạc và cũng để Stace dễ “làm ăn”. Nửa đêm khi gã trở về, Stace không có trong phòng. Sáng hôm sau khi gã xuất hiện. Franky hỏi 
– Cô nàng sao hả? 
– Hết sảy, Stace nói. 
– Anh không phản đối nếu tôi cũng làm một phát chứ? Franky nói. 
Việc này không bình thường chút nào. Chúng đã bao giờ cùng chia sẻ một người đàn bà đâu. Trong lĩnh vực này khẩu vị của chúng hoàn toàn khác nhau. Stace cân nhắc đề nghị đó. Rosie hoà hợp tuyệt vời với cả hai gã. Nhưng chúng sẽ không thể tiếp tục cặp kè cùng nhau nữa nếu Stace có được Rosie và Franky chẳng xơ múi được gì. Trừ phi Franky đưa được một cô nàng nữa về phối hợp – mà thế thì hỏng mất. 
– Được thôi, Stace nói. 
Thế là đêm hôm sau Stace mò xuống Vegas và Franky ăn nằm với Rosie. Cô nàng không làm khó dễ và còn tỏ ra thích thú – không có những tiểu xảo khác thường, chỉ có các sinh hoạt vui nhộn tử tế. Nàng không hề tỏ ra khó chịu chút nào. 
Tuy vậy, sáng ra khi cả ba ngồi ăn sáng, Franky và Stace không biết phải xử sự ra sao. Chúng cũng khá đàng hoàng và lịch sự. Mối quan hệ hài hoà của chúng rạn nứt. Rosie nhanh chóng ăn hết phần của mình rồi ngả lưng vào ghế và hổi một cách thích thú. 
– Em làm các anh khó chịu hay sao? Em nghĩ chúng mình cùng là bồ bịch của nhau cơ mà. 
Stace thành thật nói 
– Chỉ là do cả hai đứa tụi anh đều phát điên vì em thôi, và bọn anh không biết chính xác phải làm thế nào để giữ mối quan hệ này. 
Rosie cười nói, 
– Em sẽ giữ. Em thích cả hai anh, rất nhiều. Chúng mình đang vui vẻ. Chúng mình đâu có lấy nhau, và sau khi rời khỏi đây có lẽ sẽ không còn gặp lại nhau nữa. Em sẽ trở lại New York, còn bọn anh sẽ quay lại L.A. Vì thế đừng làm hỏng mối quan hệ của chúng ta trừ phi một trong hai anh có máu ghen tuông. Trong trường hợp đó chúng ta chỉ cần ngưng khoản sex. 
Bỗng chốc hai gã trở nên thoải mái với nàng. 
Franky nói. 
– Tụi anh đâu có ghen, và anh sẽ hạ em một ván Tennis trước khi mình rời khỏi đây. 
– Anh không có những quả vụt, Rosie nói như đinh đóng cột, nhưng nàng chìa tay ra xiết chặt tay cả hai gã. 
– Thế thì làm luôn hôm nay đi, Franky nói. 
Rosie nghiêng đầu bẽn lẽn. 
– Em sẽ chấp anh mỗi bàn ba điểm, nàng nói. Và nếu thua, anh sẽ không được ra oai với em nữa đấy. 
Stace nói 
– Tao sẽ cược một trăm đô cho Rosie. 
Franky cười với cả hai người, một cái cười dữ tợn. Không khi nào gã cho phép mình thua Rosie với ba điểm chấp. 
Rosie nở một nụ cười tinh nghịch. 
– Và nếu em thắng, Stace sẽ qua đêm nay với em. 
Cả hai gã cười vang. Việc Rosie không hoàn hảo như thế, việc nàng có đôi chút ác tâm làm chúng thích thú. 
Trên sân banh, không gì có thể cứu được Franky – Cả cú phát bóng như chớp của gã, cả những cú đánh trả khéo léo, cả số điểm được chấp. Rosie với kiểu đánh xoáy cực hay mà nàng chưa từng sử dụng trước đó đã hoàn toàn hạ gục gã. Nàng thắng gã với tỷ số 6- 0. Khi trận đấu kết thúc, Rosie hôn lên má Franky và thì thầm. 
– Đêm mai em sẽ chiều anh. Như đã hứa, sau khi cả ba ăn tối xong, nàng ngủ với Stace. Việc này cứ luôn phiên cho đến cuối tuần. 
Ngày Rosie đi, hai gã đưa nàng ra sân bay. 
– Nếu các anh đến New York nhớ phone cho em, nàng nói. Hai gã cũng đã ngỏ ý mời nàng về ở chỗ chúng bất kỳ khi nào nàng đến L.A. Rồi nàng làm chúng sửng sốt. Nàng lấy ra hai hộp quà nhỏ được gói kỹ. 
– Làm kỷ niệm, nàng nói và nở nụ cười hạnh phúc. Hai anh em sinh đôi mở hộp và mỗi đứa thấy một chiếc nhẫn Navajo đính mặt đá xanh. 
– Để mà nhớ em. 
Sau đó, khi đi mua sắm trong thành phố, chúng thấy những chiếc nhẫn được bán với giá ba trăm đô. 
– Lẽ ra cô nàng chỉ cần mua cho tụi mình mỗi đứa một chiếc cà vạt hoặc một trong số những chiếc thắt lưng cao bồi ngồi ngộ với giá năm mươi đô là được, Franky nói. Cả hai đều sướng rơn. 
Chúng ở lại khu sân quần một tuần nữa nhưng chỉ dành ít thời gian để chơi tennis. Chúng chơi golf và đến tối lại bay xuống Vegas. Nhưng chúng đặt ra một quy định không qua đêm ở đó. Bởi lẽ người ta có thể mất rất nhiều – chấp nhận một thảm bài vào sáng sớm khi năng lực đã bị suy giảm và óc phán đoán không còn tỉnh táo. 
Trong bữa tối chúng nói về Rosie. Không gã nào nói một lời khiếm nhã về nàng, dù rằng trong thâm tâm chúng chẳng tôn trọng gì nàng vì nàng đã ăn nằm với cả hai anh em chúng. 
– Cô nàng thực sự khoái cái đó, Franky nói. Nàng chẳng khi nào mệt mỏi hoặc cau có sau khi mãn cuộc. 
– Ừ, Stace tán thành. Cô nàng dữ dội thật. Tao nghĩ tụi mình đã vớ được một con mái hoàn hảo. 
– Nhưng người ta luôn luôn thay đổi, Franky nói 
– Tụi mình sẽ gọi cho nàng khi đến New York chứ? Stace hỏi. 
– Tôi sẽ gọi, Franky nói. 
Một tuần sau khi rời Scottsdale chúng đăng ký ở khách sạn Sherry Netherland khu Manhattan. Sáng hôm sau chúng thuê một chiếc xe và lên đường tới nhà Heskow ở Long Island. Khi rẽ vào con đường cho xe đi chúng thấy Heskow đang quét lớp tuyết mỏng trên sân bóng rổ. Y giơ tay chào, sau đó ra hiệu cho chúng đưa xe vào ga ra xây liền với ngôi nhà. Chiếc xe của y đỗ ở bên ngoài. Trước khi Stace lái vào ga ra Franky nhảy ra khỏi xe để bắt tay Heskow nhưng thực ra là để đặt y trong tầm khống chế nếu như xảy ra bất cứ chuyện gì. 
Heskow mở khoá và dẫn chúng vào nhà. 
– Tất cả đã sẵn sàng, y nói rồi đưa chúng lên lầu, đến bên chiếc hòm lớn trong phòng ngủ và mở khóa. 
Bên trong có hàng đống tiền được cột bằng cao su thành những bó cao khoảng sáu inch, thêm vào đó là một chiếc túi xếp bằng da to như một chiếc valy. Stace ném những bó tiền lên giường. Sau đó hai anh em chúng lật nhanh từng chồng để đảm bảo rằng tất cả đều là tờ một trăm đô và không có tiền giả. Chúng chỉ đếm số tờ giấy bạc trong một chồng rồi nhân với một trăm. Sau đó chúng nhét tiền vào chiếc túi da. Xong xuôi, chúng nhìn Heskow. Y đang mỉm cười. 
– Hãy làm một tách cà phê rồi hãy đi, y mời. 
– Cảm ơn, Stace nói. Ở đây có gì tụi tao cần phải biết không? Có gì lộn xộn không? 
– Chẳng có gì cả Heskow noi. Mọi cái đều hoàn hảo. Đừng có tiêu xài xả láng đấy. 
– Cái này để tụi tao dưỡng già đây, Franky nói và anh em chúng phá lên cười. 
– Thế còn đám bạn của lão thì sao? Stace hỏi. 
– Người chết làm gì có bạn, Heskow đáp. 
– Còn con cái lão? Franky hỏi. Chúng không làm ầm lên à? 
– Chúng được nuôi dạy thành những người ngay thẳng. Stace nói. Chúng không là dân Sicily. Chúng là những nhà chuyên môn thành đạt. Chúng tin vào pháp luật và chúng thấy mình may mắn không phải là những kẻ bị tình nghi. 
Hai thằng sinh đôi à Heskow cười vang. 
– Tao lấy làm lạ, Stace nói. Một người đầy quyền lực như vậy mà lại ít ồn ào thế này. 
– Ơn trời, một năm qua rồi mà chẳng phải mắt la mày lét nữa, Heskow nói. 
Những người anh em uống hết tách cà phê rồi bắt tay Heskow. 
– Hãy bảo trọng, Heskow nói. Tao có thể sẽ gọi lại cho tụi mày.
Trở lại thành phố anh em Sturzo nhét tiền vào két an toàn rồi quay về khách sạn và gọi điện cho Rosie. 
Nàng ngạc nhiên và vui mừng vì nhận tin của chúng sớm như vậy. Giọng nàng thật thiết tha khi nàng nài nỉ chúng đến ngay căn hộ của nàng. Nàng sẽ cho chúng xem New York, sự tiếp đãi của nàng. Thế là tối hôm đó chúng đến với nàng. Nàng tiếp chúng đồ uống trước khi cả bọn kéo nhau đi ăn tối rồi vào nhà hát. Rosie đưa chúng đến Le Cirque mà nàng bảo là nhà hàng tốt nhất New York. Đồ ăn thật tuyệt, và mặc dù không có trong thực đơn, nhưng theo yêu cầu của Franky người ta vẫn làm cho gã một đĩa mì ống. Đó là món mì ống ngon nhất mà gã chưa từng được nếm. Anh em chúng không biết một thực tế là một nhà hàng hảo hạng có thể phục vụ bất kì món ăn nào khách hàng yêu thích. Chúng thấy cô em Rosie thật đặc biệt và điều đó gây ấn tượng với chúng. Đây là lần đầu tiên chúng thấy nằng ăn mặc sang trọng. 
Lúc uống cà phê hai đứa tặng Rosie món quà đựng trong một chiếc hộp nhung màu nâu đỏ chúng mua chiều hôm đó ở cửa hàng Tiffany. Đó là một sợi dây chuyền gắn một hộp trang điểm bằng bạch kim nạm kim cương. Món quà trị giá năm ngàn đôla. 
– Của anh và Stace, Franky nói. Bọn anh mua chung mà. 
Rosie sững sờ. Mắt nàng đẫm lệ. Nàng đeo sợi dây chuyền lên cổ để cho chiếc hộp trang điểm nằm ở giữa cặp vú của nàng. Rồi nàng nhoài người hôn cả hai gã. Đấy là một nụ hôn ngọt ngào có mùi mật ong. 
Anh em Sturzo đã có lần thổ lộ với Rosie chúng chưa bao giờ đến nhà hát Broadway, vì thế đêm hôm sau nàng đưa chúng đi xem vở Những người khốn khổ. Nàng đảm bảo với chúng rằng chúng sẽ thực sự thích vở này. Và chúng thích thật, nhưng với đôi chút hoài nghi. Sau buổi diễn, trong căn hộ của nàng, Franky nói 
– Tôi không tin lão lại không giết thằng cớm Jarvet khi có cơ hội. 
– Đó là nhạc kịch, Stace nói. Nhạc kịch không thể hiện được nhiều như phim ảnh. Đấy không phải việc của chúng. 
Nhưng Rosie không chấp nhận ý kiến đó. 
– Nó cho thấy Jean Valjean đã thực sự trở thành một người tốt, nàng nói. Nó nói về sự hối cải. Một người phạm tội và ăn cắp sau đó vẫn hòa nhập được với xã hội. 
Điều này làm cho ngay cả Stace cũng bực mình. 
– Gượm đã, gã nói. Cha nội này khởi sự là kẻ cắp. Một lần là kẻ cắp thì mãi mãi vẫn cứ là kẻ cắp. Tao nói đúng không, hả Franky? 
Rosie nhảy vào chữa lửa 
– Các anh biết gì về một con người như Valjean hả? 
Thế là những người anh em tịt ngòi. Rosie nở nụ cười tinh quái. 
– Ai trong các anh sẽ ở lại đêm nay? Nàng hỏi. 
Nàng đợi câu trả lời, rồi cuối cùng nàng nói. 
– Em không chơi tay ba. Các anh phải lần lượt thôi. 
– Em muốn ai ở lại nào? Franky hỏi. 
– Đừng bắt đầu như vậy, Rosie cảnh báo. Ngược lại chúng mình sẽ có một mối quan hệ đẹp như trong phim ảnh vậy. Không ràng buộc. Mà em cũng không thích thế. Nàng nói và mỉm cười nhằm làm dịu tình hình. Em yêu cả hai anh. 
– Đêm nay anh sẽ về nhà, Franky nói. Gã muốn nàng biết rằng nàng đừng hòng chế ngự được gã. 
Rosie hôn gã, chức gã về ngủ ngon và tiễn gã ra tận cửa. Nàng thì thầm 
– Em sẽ đặc biệt vô cùng đêm mai. 
Họ có sáu ngày bên nhau. Ban ngày Rosie phải lo làm luận án, nhưng tối đến nàng hoàn toàn rảnh rỗi. 
Một đêm anh em Sturzo đưa nàng đi chơi Knics ở Garden. Chúng hài lòng nhận thấy nàng đánh giá cao những nét đẹp của trò chơi. Sau đó họ đi ăn tại một nhà hàng đặc sản nổi tiếng và Rosie bảo chúng rằng ngày hôm sau, một ngày trước Noel, nàng phải rời thành phố một tuần. Anh em chúng đoán nàng sẽ nghỉ lễ Giáng sinh cùng gia đình. Nhưng rồi lần đầu tiên kể từ ngày quen biết nhau chúng thấy nàng buồn. 
– Không, em sẽ nghỉ Giáng sinh một mình tại một ngôi nhà gia đình em sở hữu ở phía Bắc. Em muốn tránh xa mọi thứ giả dối của ngày Giáng sinh, cũng chỉ để học hành và sắp xếp lại cuộc sống của em thôi mà. 
– Thế thì đình lại đã, ở lại đón Giáng sinh cùng tụi anh, Franky nói. Tụi anh sẽ đỏi chuyến bay về L.A. 
– Em không thể, Rosie nói. Em còn phải học, mà đấy lại là nơi tốt nhất. 
– Một mình thôi ư? Stace hỏi. 
Rosie gật đầu. 
– Em là một con ngốc như vậy đấy 
– Tại sao tụi anh lại không đi cùng em vài hôm nhỉ? Franky hỏi. Một ngày sau Giáng sinh tụi anh sẽ chuồn. 
– Ừ, Stace tán thành, tụi mình sẽ có những phút giây thanh bình. 
Mặt Rosie ửng đỏ. 
– Các anh nói thật chứ? Nàng mừng rỡ hỏi. Tuyệt thật, chúng mình có thể đi câu vào ngày Giáng sinh. Ở đó có một trung tâm nghỉ ngơi chỉ cách nhà có ba mươi phút. Và em sẽ nấu một bữa tiệc Giáng sinh. Nàng dừng lại một lát rồi nói, Nhưng hãy hứa các anh sẽ đi ngay sau Giáng sinh, em thực sự còn phải làm việc. 
– Tụi anh phải quay về L.A mà, Stace nói. Tụi anh còn phải điều hành việc kinh doanh. 
– Chúa ơi, em yêu các anh quá. Rosie nói. 
Stace nói tưng tửng, 
– Franky và anh vẫn nhắc mãi. Em biết đấy, tụi anh chưa từng đến Châu âu, và tụi anh tính hè này khi em học xong, tụi mình sẽ cùng đi. Em sẽ là người dẫn đường cho tụi anh. Chỉ vài tuần thôi. Tụi anh rất vui nếu có em đi cùng. 
– Đúng đấy, Franky nói. Tụi anh đâu có đi một mình được. 
Quả là một ý kiến hay, Rosie nói. Em sẽ cho các anh xem London, Paris và Rome. Các anh sẽ thích Venice cho mà xem. Có thể còn chẳng muốn về ấy chứ. Nhưng, quỷ ạ, còn lâu mới đến hè. Em lạ gì các anh, đến lúc ấy các anh lại bám theo những bóng hồng khác mất thôi. 
– Tụi anh mến em mà, Franky nói pha chút bực bội. 
– Em sẽ sẵn sàng khi các anh gọi. 
Sáng ngày 23 tháng Mười hai Rosie đến khách sạn đón hai anh em Sturzo. Nàng lái chiếc Cadilac. Trên thùng xe chất đầy những chiếc va ly to tướng và những gói quà Giáng sinh của nàng, nhưng vẫn còn đủ chỗ để đồ cho hai gã. 
Stace lên băng ghế sau, nhường Franky ngồi băng trước cùng Rosie. Radio đang mở và tất cả lặng thinh trong khoảng một tiếng đồng hồ. 
Trong lúc chờ Rosie đến đón, hai anh em Sturzo vừa ăn sáng vừa trao đổi với nhau. Stace có thể nhận ra Franky không thoải mái với gã. Điều đó hiếm khi xảy ra giữa anh em chúng. 
– Có gì thì cứ nói ra, Stace nói. 
– Đừng làm hỏng việc. Tôi không ghen bóng ghen gió gì. Nhưng liệu anh có bỏ được Rosie khi tụi mình lên tới đó không? 
– Được mà, Stace đáp. Tao sẽ bảo cô nàng là tao dính bệnh lậu ở Vegas. 
Franky nhăn răng cười. 
– Anh không cần phải đi xa như thế. Tôi chỉ muốn thử chiếm hữu cô nàng cho riêng tôi. Nếu không xong, tôi sẽ bỏ và anh cứ việc sở hữu nàng. 
– Mày ngu quá, Stace nói. Mày sẽ làm hỏng mọi thứ thôi. Mở mắt ra mà coi, tụi mình đâu có xí phần, đâu có lừa cô nàng. Chính cô nàng muốn thế cơ mà. Mà tao nghĩ, với tụi mình thế là nhất rồi còn gì. 
– Tôi chỉ muốn tụi mình thử việc này. Franky nhắc lại. Chỉ một thời gian ngắn thôi. 
– Thôi được, Stace nói. Tao là anh mày, tao phải canh chừng cho mày. Đây là một tình huống kỳ cục của chúng, vì quả thực, nó làm cho Stace có vẻ già hơn Franky vài tuổi chứ không phải chỉ vỏn vẹn có mười phút. 
– Nhưng mày thừa biết, chỉ mất hai giây cô nàng đã có thể đi guốc vào bụng mày, Stace nói. Rosie là người thông minh. Nàng sẽ biết mày phải lòng nàng. 
Franky kinh ngạc nhìn thằng anh. 
– Tôi phải lòng cô nàng hả? Gã nói. Tôi cần cái đó ư? Thế thì khác gì Jesus đéo Christ. Cả hai thằng cười vang. 
Lúc này xe đã ra khỏi thành phố và đang lăn bánh qua những cánh đồng của quận Westchester. Franky phá vỡ sự im lặng. 
– Anh chưa bao giờ thấy nhiều tuyết như vậy trong đời, gã nói. Người ta sống ở đây thế quái nào được nhỉ? 
– Vì ở đây mọi thứ đều rẻ, Rosie trả lời. 
Stace hỏi, 
– Còn xa lắm không? 
– Khoảng một tiếng rưỡi nữa, Rosie nói. Bọn anh cần dừng hả? 
– Không, Franky đáp. Cứ đến đó đã. 
– Trừ phi em phải dừng lại, Stace nói với Rosie. 
Rosie lắc đầu. Trông nàng rất kiên quyết, tay giữ chặt vô lăng, mắt dán vào những bông tuyết đang rơi chầm chậm. 
Chừng một tiếng sau họ di qua một thị trấn nhỏ. Rosie nói, 
– Chỉ còn mười lăm phút nữa. 
Chiếc xe bò lên một đoạn dốc đứng và trên đỉnh một quả đồi nhỏ có một ngôi nhà màu xám trông như một con voi, bao quanh nhà là những cánh đồng tuyết trắng, không một tỳ vết, không dấu chân người, không vết xe qua. 
Rosie dừng xe trước hiên nhà và tất cả xuống xe. Nàng chuyển đồ và những gói quà Giáng sinh xuống cho chúng. 
– Vào đi, nàng nói. Cửa mở đấy. Chúng em không khóa cửa khi rời khỏi đây. 
Franky và Stace bước lên thềm và mở cửa. Chúng thấy mình ở trong một phòng khách rộng thênh thang được trang trí bằng những đầu súc vật treo trên tường. Một chiếc lò sưởi to như cả một chiếc hang nằm trên bệ. 
Bất thình lình chúng nghe thấy tiếng rú của động cơ Cadilac ở bên ngoài. Cùng lúc đó sáu người đàn ông xuất hiện từ hai cửa ra vào của ngôi nhà. Tất cả đều cầm súng. Tên cầm đầu, một người to lớn có bộ ria rậm, ra lệnh bằng một giọng lơ lớ: 
– Không được động đậy. Không được buông hành lý. 
Rồi những họng súng thúc vào người chúng. 
Stace hiểu ngay lập tức, nhưng Franky vẫn lo cho Rosie. Phải mất chừng ba mươi giây gã mới liên kết được sự việc – tiếng động cơ và Rosie biến mất. Rồi với cảm giác tồi tệ nhất mà gã chưa từng có trong đời, gã nhận ra sự thật. Rosie là một con mồi.

——————————–

1LA viết tắt của Los Angeles.
2Hacker: người chơi quần vợt cuối tuần.


Luật im lặng

vietmessenger.com

Mario Puzo

Lương Lê Giang dịch

Post by Sơn râu 27 Jun 2024

Chương 5

Marriano Fubio là kẻ dính dáng đến đủ mọi chuyện, tất cả những chuyện đó lại liên quan đến vàng ròng. Y giữ một vị trí tại Tổng lãnh sự Peru tuy nhiên phần lớn thì giờ y có mặt tại New York. Y còn là đại diện quốc tế của các tập đoàn kinh doanh lớn làm ăn với các nước Mỹ La tinh và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Y là bạn nối khố của Inzio Tulippa, thủ lãnh Cartell matúy quan trọng nhất Colombia. 
Rubio may mắn cả trong đời tư cũng như trong kinh doanh. Bốn mươi lăm tuổi vẫn độc thân, y là một kẻ sát gái đáng nể. Lúc nào y cũng chỉ cặp với một nhân tình. Tất cả đám nhân tình đều được hậu đãi mỗi khi bị thay thế bởi một bóng hồng trẻ đẹp hơn. Y đẹp trai, là một kẻ ăn nói có duyên, một vũ công siêu hạng. Y có một hầm rượu lớn và một đầu bếp tuyệt vời loại ba sao. 
Cũng giống nhiều người may mắn, Rubio tin vào sự đưa đẩy của định mệnh. Y thích thú đấu trí với những kẻ nguy hiểm. Y cần mạo hiểm để thêm hương vị cho cuộc đời mình. Y dính líu vào việc chuyển giao công nghệ bất hợp pháp cho Trung Quốc, y thiết lập đường dây liên lạc vào loại hiện đại nhất cho các ông trùm ma túy, và y là một kẻ tứ cố vô thân đã mua chuộc các nhà khoa học Hoa Kỳ để họ di cư tới Nam Mỹ. Y cũng quan hệ với cả Timmona Porlella – một kẻ nguy hiểm không kém gì Inzio Tulippa. 
Như tất cả những tay máu me cờ bạc, Rubio hãnh diện về quân xì có điểm dưới số không. Y tránh được những hiểm họa pháp lý bởi được miễn trừ về mặt ngoại giao, nhưng y biết có những mối nguy hiểm khác mà y phải dè chừng. 
Thu nhập của y cao và y tiêu xài rộng rãi. Y có thể mua bất cứ thứ gì y muốn trên đời, kể cả tình cảm của đàn bà. Y khoái chu cấp cho đám nhân tình cũ. Y là một ông chủ hào phóng và biết trân trọng một cách thông minh danh tiếng của những người phụ thuộc vào y. 
Lúc này, tại căn hộ của y – một phần của lãnh sự quán Peru – ở New York, y đang sửa soạn để đi ăn tối cùng Nicole Aprile. Như thường lệ, cuộc hẹn này một phần để bàn công việc, một phần dành cho khoái lạc. Y gặp Nicole tại một bữa tiệc chiêu đãi ở Washington do một trong những thân chủ có uy tín của nàng tổ chức. Ngay từ cái nhìn đầu tiên y đã bị thu hút không những bởi vẻ đẹp không bình thường của nàng, khuôn mặt đài các, cương quyết cùng cặp mắt và cái miệng thông minh, thân hình mảnh mai khêu gợi, mà còn bởi nàng là con gái trùm Mafia Don Raymonde Aprile. 
Nàng mê Rubio nhưng chưa đến mức điên dại và y trọng nể nàng vì điều đó. Y ngưỡng mộ nét thông minh lãng mạn ở đàn bà. Y muốn giành được lòng kính trọng của nàng bằng hành động chứ không phải bằng lời nói. Thế là y lập tức ra tay bằng việc đề nghị nàng đại diện cho một trong số những thân chủ của y với một hợp đồng đặc biệt đắt giá. Y nghe đồn rằng nàng làm rất nhiều để hủy bỏ án tử hình và thậm chí đã từng bào chữa cho một số tên sát nhân khét tiếng đã bị két án được hoãn thụ hình. Với y, nàng là người đàn bà hiện đại lý tưởng – xinh đẹp, có nghề nghiệp ngon lành. Ngoại trừ việc có nhu cầu hơi cao về tình dục, nàng có thể trở thành một người bạn tri kỷ dễ chịu nhất trong một năm hoặc gần như thế. 
Tất cả những chuyện này xảy ra từ trước cái chết của Trùm Aprile. 
Bây giờ, mục đích chính của sự tỏ tình của y là tìm hiểu xem Nicole và hai anh trai của nàng có ủy thác các nhà băng của họ cho Portella và Tulippa hay không. Nếu không, sẽ phải giết Astorre Viola. 
Inzio Tulippa đã đợi khá lâu. Hơn mười tháng sau cái chết của Raymonde Aprile y vẫn chưa có thỏa thuận nào với những người thừa kế các nhà băng của ông Trùm. Một lượng tiền lớn đã bị tiêu hết, y đã chi hàng triệu đô cho Timmona Portella để đút lót FBI, cảnh sát New York và để trả công cho anh em nhà Sturzo. 
Tulippa không phải là một kẻ buôn bán ma túy đầy quyền lực thông thường. Y xuất thân từ một gia đình danh tiếng và giầu có, thậm chí y còn chơi polo cho đội tuyển Argentina quê hương y. Hiện y sống ở Costa Rica và việc có hộ chiếu ngoại giao Costa Rica cho phép y được hưởng quyền miễn tố ở nước ngoài. Y có các mối quan hệ với các Carten ma túy ở Comlombia, những kẻ trồng ma túy ở Thổ Nhĩ Kỳ và các chuyên gia tinh chế ở Italy. Y thu xếp việc vận chuyển, hối lộ các viên chức từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất. Y vạch kế hoạch đưa lậu những chuyến hàng lớn vào nước Mỹ. Y cũng là người đã dụ dỗ các nhà khoa học nguyên tử Mỹ tới các nước Mỹ La tinh và chi tiền cho những nghiên cứu của họ. Trong mọi lĩnh vực y là một kẻ khôn ngoan, một giám đốc có năng lực và y đã gom được một sản nghiệp khổng lồ. 
Y hung hăng bảo vệ việc buôn bán may túy. May túy là sự cứu rỗi cho tình thần con người, là chỗ dựa cho những kẻ bị đọa đày đến tuyệt vọng bởi nghèo khổ và bệnh hoạn về tinh thần. Chúng là niềm an ủi cho người tương tư, cho những tâm hồn lạc lối trong cái thế giới nghèo nàn về tinh thần của chúng ta. 
Xét cho cùng, người ta phải làm gì nếu không còn tin Chúa, xã hội hay chân giá trị của mình? May túy giúp con người được sống trong vương quốc của ước mơ và hy vọng. Tất cả những gì cần đến là điều độ. Rốt cuộc thì ma túy có giết chết nhiều người như rượu, thuốc lá, nghèo đói và tuyệt vọng hay không? Câu trả lời là không. Do đó, trên nền tảng đạo đức, Tulippa hoàn toàn yên tâm. 
Inzio tulippa có một bí danh lừng lẫy khắp toàn cầu – “Kẻ chủng ngừa”. Các nhà công nghiệp và đầu tư ngoại quốc có những tài sản khổng lồ ở Nam Mỹ – dù đó là các mỏ dầu, các nhà máy sản xuất ô tô, hay các đồn điền đều phải cử các quản trị viên cao cấp đến đó. Nhiều người trong số họ đến từ Hoa Kỳ. Tại đây vấn đề nan giải nhất của họ là nạn bắt cóc đòi hàng triệu đô la tiền chuộc. 
Inzio Tulippa đứng đầu một công ty bảo hiểm chuyên về bắt cóc cho các quản trị viên, hàng năm y đến Mỹ để ký hợp đồng với các tổ hợp này. Y làm thế không chỉ vì tiền mà còn bởi y cần các nguồn cung cấp khoa học và công nghệ của họ. Tóm lại, y trình diễn một dịch vụ tiêm phòng. Việc này đối với y thật quan trọng. 
Nguy hiểm hơn, y xem công tác bài trừ ma túy trên phạm vi toàn cầu là một cuộc thánh chiến chống lại chính y, và y ra sức bảo vệ đế chế của mình. Y có những tham vọng nực cười. Y muốn có vũ khí hạt nhân và biến nó thành áp lực tinh thần trong trường hợp xảy ra khủng hoảng. Y đâu cần phải sử dụng, trừ phi đó là phương sách cuối cùng. Nhưng đây sẽ là một vũ khí thương lượng hữu hiệu. Một khát vọng xem ra khôi hài với tất cả mọi người, trừ đại diện FBI ở New York, Kurt Cilke. 
Đã có lần Kurt Cilke được cử đi học tại trường chống khủng bố của FBI. Trong thời gian học tập ông đã được tiếp cận phần lớn các tài liệu tuyệt mật và cả những kịch bản về khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử của bọn khủng bố đến từ những nước nhỏ. Tài liệu nói rõ quốc gia nào có vũ khí hạt nhân. Với mọi người thì đó là Nga, Pháp, Anh, có thể cả Ấn Độ và Pakistan. Israel được xem là có khả năng hạt nhân. Kurt say sưa đọc những kịch bản đề cập đến việc Israel sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân như thế nào nếu khối A rập ở thế áp đảo. 
Với Hoa Kỳ, có hai phương án giải quyết vấn đề. Phương án thứ nhất, nếu Israel bị tấn công, Hoa Kỳ sẽ đứng về phía họ trước khi họ buộc phải sử dụng vũ khí nguyên tử. Còn trường hợp xấu nhất, nếu Israel không thể trụ vững thì Hoa Kỳ sẽ phải xóa sạch khả năng hạt nhân của nó. 
Anh và Pháp được xem là không có vấn đề, họ không thể mạo hiểm với chiến tranh hạt nhân. Ấn Độ không có tham vọng. Còn Pakistan có thể bị xóa sổ nhanh chóng. Trung Quốc không phải là mối đe dọa. Họ không có khả năng công nghiệp trong tương lai gần. 
Mối nguy hiểm lớn hơn đến từ các nước nhỏ như Iraq, Iran và Libya, nơi có các nhà lãnh đạo liều lĩnh, hoặc kịch bản cho là như vậy. Giải pháp ở đây hoàn toàn rõ ràng: Các nước này sẽ bị hủy diệt bằng vũ khí hạt nhân. 
Song nguy hiểm lớn nhất trong tương lai gần lại là việc các tổ chức khủng bố được các thế lực bên ngoài hậu thuẫn và bí mật tài trợ sẽ đưa lậu vũ khí hạt nhân vào Hoa Kỳ và cho nổ ở những thành phố lớn như Washington DC hay New York. Trong trường hợp này giải pháp được đưa ra là thành lập lực lượng phản ứng sử dụng công tác phản gián và sau đó là những biện pháp trừng phạt mạnh mẽ nhất chống lại quân khủng bố cũng như bất kỳ ai đứng sau lưng chúng. Việc này đòi hỏi những cơ sở pháp lý đặc biệt quy định quyền của các công dân Mỹ. Kịch bản cũng thừa nhận không thể có được những cơ sở pháp lý như vậy cho đến khi một kẻ nào đó thành công trong việc nổ bom tại thủ đô nước Mỹ. Chỉ khi đó các thủ tục pháp lý mới nhanh chóng được thông qua. Còn từ nay tới đó chỉ còn biết trông vào số mệnh. 
Có rất it kịch bản mô tả việc bọn tội phạm chế tạo vũ khí hạt nhân. Mảng này bị xem nhẹ trên cơ sở cho rằng khả năng kỹ thuật, việc thu mua nguyên liệu và quá nhiều người liên quan sẽ không tránh khỏi bại lộ. Đây chỉ là giả tưởng, Kurt nghĩ bụng. Chỉ là suy đoán thôi. Nhưng bây giờ, sau nhiều năm, Cilke nhân thấy nó đang xảy ra. Tulippa muốn có một trái bom hạt nhân cỡ nhỏ. Y cám dỗ các nhà khoa học Hoa Kỳ tới Nam Mỹ và xây cho họ những phòng thí nghiệm, chu cấp tiền bạc cho những nghiên cứu của họ. Và cũng chính Tulippa là kẻ muốn tiếp cận các nhà băng của Trùm Aprile nhằm thiếp lập một quỹ chiến tranh cả tỷ đôla để mua nguyên vật liệu – tất cả đã bị Cilke phát hiện ra trong quá trình điều tra của ông. 
Ông sẽ thảo luận vấn đề này với giám đốc trong chuyến công tác tới đến tổng hành dinh của FBI ở Washington. Nhưng ông không tin người ta có thể giải quyết được vấn đề. Những kẻ như Inzia Tulippa đời nào chịu bỏ cuộc. 
Inzio Tulippa đến Hoa Kỳ để gặp Timmona Portella và theo đuổi việc giành giật các nhà băng của Trùm Aprile. Cùng lúc đó thủ lĩnh của băng Corleone ở Sicily, Michael Grazziella, cũng đến New York để cùng Tulippa và Portella soạn thảo kế hoạch chi tiết về việc phân phối ma túy trên toàn thế giới. Chúng đến bằng những cách thức rất khác nhau. 
Tulippa đáp xuống New York bằng máy bay riêng. Cùng đi còn có năm mươi thuộc hạ và vệ sĩ. Bọn này mặc cùng một kiểu đồng phục: comple trắng, sơ mi xanh da trời, cà vạt hồng, mũ Panama 1 mềm màu vàng. Trông chúng cứ như những thành viên của một ban nhạc Rhumba Nam Mỹ nào đó. Tất cả đều mang hộ chiếu Costa Rica, đương nhiên Tulippa hưởng quyền bất khả xâm phạm của ngoại giao đoàn. 
Tulippa cùng người của y nghỉ tại một khách sạn nhỏ của tổng lãnh sự quán Peru. Tulippa đi đứng đường hoàng chứ không lấm lét như một kẻ buôn bán may túy. Dù sao y vẫn là “kẻ chủng ngừa” và đại diện của các công ty Mỹ tranh nhau làm cho y được thoải mái trong suốt thời gian lưu lại. Y đến dự phiên khai mạc của nhà hát Broadway, Lincoln Center Ballet, Metropolitan Opera, và các buổi hòa nhạc của các nghệ sĩ Mỹ La tinh nổi tiếng. Y xuất hiện cả trên chương trình đối ngoại với tư cách là chủ tịch Liên đoàn công nhân nông nghiệp Nam Mỹ và y dùng các diễn đàn để bảo vệ việc sử dụng ma túy. Một trong những cuộc đối thoại của y – với Charlie Rose trên đài truyền hình PBS – đã trở thành nổi tiếng. 
Tulippa cho rằng Hoa Kỳ luôn tỏ thái độ chống lại việc sử dụng côcain, heroin và cần sa trên toàn thế giới là một biểu hiện ô nhục của chủ nghĩa thực dân. Những người lao động Nam Mỹ tồn tại được là nhờ sản xuất ma túy. Ai có thể đổi lỗi cho một người mà cái nghèo đã len vào cả những giấc mơ, buộc họ phải sử dụng ma túy để có được vài giờ thư thái? Đó là một phán xử vô nhân đạo. Thế còn thuốc lá và rượu thì sao? Chúng gây thiệt hại nhiều hơn ấy chứ. 
Hôm đó, năm mươi thuộc hạ của y cũng có mặt tại phòng quay. Mỹ Panama để trong lòng, chúng vỗ tay tán thưởng rầm rầm. Khi Charlie Rose hỏi về những thiệt hại mà ma túy gây ra, Tulippa đã tỏ ra đặc biệt chân thành. Tổ chức của y đã rót một lượng tiền lớn vào việc nghiên cứu điều chế để ma túy không còn có hại. Tóm lại, chúng sẽ là những loại thuốc tân dược bình thường. Chương trình sẽ được điều hành bởi các bác sĩ danh tiếng chứ không phải những con tốt của Hiệp hội y tế Mỹ – những kẻ chống ma túy một cách mù quáng. Không, ma túy chỉ có thể là niềm hạnh phúc lớn tiếp theo của nhân loại. Năm mươi chiếc mũ Panama màu vàng nhất loạt bay vèo lên không trung. 

Google photos

Cùng thời gian đó thủ lĩnh của cosca Corleone, Michael Grazziella, vào Hoa Kỳ bằng một cách hoàn toàn khác. Lão đến kín đáo, chỉ có hai vệ sỹ. Lão gầy khẳng khiu, đầu lão giống đầu thần Faun 2 và một vết sẹo do dao gây ra vắt qua miệng. Lão đi đứng phải chống gậy vì một viên đạn đã tiện gãy chân lão hồi lão còn là một chàng picciôtto Palermo. Lão nổi tiếng về những mưu đồ xảo trá – và người ta nói chính lão đã vạch kế hoạch giết hại hai thẩm phán chống Mafia vĩ đại nhất Sicily. 
Grazziella ở nhà Portella như khách của hắn. Lão chẳng hề băn khoăn về sự an toàn của chính mình vì toàn bộ việc kinh doanh ma túy của Portella phụ thuộc vào lão. 
Cuộc họp được ấn định nhằm vạch ra một chiến lược kiểm soát các nhà băng của Aprile. Việc này có tầm quan trọng đặc biệt vì nó cho phép rửa hàng tỷ đôla từ buôn ma túy đồng thời giúp sức tranh giành quyền lực trong giới tài chính New York. Về phía Inzion Tulippa, không những y rửa được tiền mà còn tài trợ được cho kế hoạch phát triển kho vũ khí hạt nhân của y. Nó sẽ làm cho vai trò “Kẻ chủng ngừa” của y vững chắc hơn. 
Cả bọn gặp nhau tại lãnh sự quán Peru, một địa điểm an toàn, thêm vào đó là tấm bình phong miễn trừ ngoại giao. Ngài tổng lãnh sự Marriano Rubio là một chủ nhà hào phóng. 
Tụ tập quanh một chiếc bàn nhỏ hình oval, chúng có một cuộc cãi vã khá thú vị. 
Grazziella trông như một anh nhà đòn trong bộ comple đen bóng láng, sơ mi trắng, cà vạt đen vì lão đang để tang mẹ. Mẹ lão chết mới được sáu tháng. Giọng lão thấp, buồn, hơi rè, nhưng hiểu được. Lão có vẻ dè dặt và lịch sự nhưng thực tế chính lão là người phải chịu trách nhiệm về việc giết hại một trăm nhân viên thi hành luật pháp ở Sicily. 
Timmona Portella, duy chỉ có hắn tiếng Anh mới là tiếng mẹ đẻ, nói oang oang như thể cả bọn kia bị điếc. Hắn mặc bộ comple xám, áo sơ mi màu chanh, cà vạt lụa xanh bóng láng. Chiếc áo khoác cắt rất khéo lẽ ra đã giấu được cái bụng ngoại cỡ nếu không bị cởi khuy để khoe sợi dây đeo quần màu thanh thiên. 
Inzio Tulippa nom như một người Nam Mỹ điển hình với sơ mi lụa trắng rộng thùng thình và chiếc khăn màu hồng điều trên cổ. Một cách cung kính y cầm chiếc mũ Panama vàng trên tay. Y nói một thứ tiếng Anh nhấn giọng du dương, và giọng y quyến rũ như giọng họa mi. Nhưng hôm nay trên mặt y lộ rõ vẻ hằn học, rõ là y không mấy hài lòng với cái thế giới này. 
Marriano Rubio là kẻ duy nhất có vẻ hài lòng. Thái độ niềm nở của y làm tất cả dễ chịu. Giọng y được rèn luyện tốt theo phong cách của người Anh và y ăn mặc theo một kiểu mà y gọi là “en pantoufle”: Pijama bằng lụa xanh, áo choàng xanh đậm, đôi dép mềm bên trong lót lông màu trắng. Rốt cuộc thì đây là nhà y và y có thể thư giãn chứ. 
Tulippa mở đầu. Y nói huỵch toẹt với Portella với một vẻ lịch sự chết người. 
– Bạn Timmona thân mến của tôi, y nói. Tôi đã chi đậm cho việc loại trừ Trùm Aprile thế mà chúng ta vẫn chưa nắm được các nhà băng. Một năm chờ đợi rồi còn gì. 
Ngài tổng lãnh sự giọng trơn tru 
– Inzio quý mến, y nói. Tôi đã cố mua lại các nhà băng. Portella cũng cố mua. Nhưng chúng tôi gặp một vật cản không lường trước. Đó là cái thằng Astorre Viola, cháu lão Trùm. Nó được giao quyền kiểm soát và nó không bán. 
– Thế ư? Inzio nói. Tại sao nó vẫn sống hả? 
Portella cười hềnh hệch. 
– Vì giết nó đâu có dễ, hắn nói. Tôi đã cử một đội bốn đứa trông nom nhà nó và chúng đều biến mất. Lúc này tôi cũng đếch biết nó ở chỗ chó nào, mà cái thằng này đi đến đâu cũng có một đám vệ sĩ đi theo nữa chứ. 
– Chẳng có thằng nào khó giết như thế đâu, Tulippa nói, giọng y trầm bổng quyến rũ như đang ngân nga một bài thơ trữ tình. 
Grazziella lúc này mới lên tiếng. 
– Chúng tôi biết thằng Astorre ở Sicily nhiều năm trước. Nó là một thằng may mắn, mà nó cũng rất có năng lực. Ở Sicily chúng tôi đã bắn nó và nghĩ rằng nó tiêu rồi. Nếu phải làm lần nữa, chúng tôi phải được bảo đảm. Thằng này nguy hiểm đấy. 
Tulippa nói với Portella, 
– Ngài nói ngài mua được một thằng FBI cơ mà? Sử dụng nó đi chứ, lạy chúa. 
– Nó chẳng dễ bị khuất phục đâu, Portella nói. FBI cao tay hơn NYPD. Chúng chẳng làm ba cái vụ đánh đấm lộ liễu đâu. 
– OK, Tulippa nói. Vậy thì mình chộp một đứa trong đám con lão Trùm và dùng nó để mặc cả với thằng Astorre. Marriano, ngài biết con gái lão, y nháy mắt. Ngài dụ được con nhỏ mà. 
Rubio không khoái đề nghị này. Y rít xì gà rồi giận dữ nói không đếm xỉa gì đến phép lịch sự. 
– Không được. Y dừng lại một lát. Tôi thích cô ta. Tôi sẽ không làm như vậy với cô ta. Tôi cũng phản đối bất kỳ ai trong các ngài định làm chuyện này. 
Những kẻ có mặt đều nhướng mày. Về quyền lực thực tế, ngài tổng lãnh sự ngồi ở chiếu dưới so với chúng. Y nhận ra phản ứng của chúng nên đành mỉm cười nhã nhặn. 
– Tôi biết tôi có yếu điểm này. Tôi đang yêu mà. Chiều tôi một tý chứ. Tôi có một chỗ dựa chính trị vững chắc. Inzio, tôi biết bắt cóc là sở trường của ngài, nhưng không thể làm chuyện đó ở nước Mỹ. Đặc biệt là với phụ nữ. Bây giờ mà ngài tóm một trong hai thằng anh rồi tiến hành thương thảo ngay với thằng Astorre thì ngài có cơ hội đấy. 
– Không được đụng đến thằng Valerious, Portella nói. Nó ở bên tình báo quân đội và có một lũ bạn là CIA. Chúng tôi không muốn dọn đống cứt đó. 
– Thế thì phải là thằng Marcantonio, ngài tổng lãnh sự chống chế. Tôi có thể thỏa thuận với thằng Astorre.
– Hãy đưa ra một bảng báo giá lớn hơn cho các nhà băng, Grazziella nhẹ nhàng lên tiếng. Tránh dùng bạo lực. Cứ tin tôi: Tôi đã từng trải những chuyện như vậy rồi. Tôi đã từng sử dụng súng thay tiền, và tôi luôn luôn phải trả giá cao hơn. 
Cả bọn ngạc nhiên nhìn lão. Grazziella vốn khét tiếng về bạo lực. 
– Michael, ngài tổng lãnh sự nói, ngài đang nói đến hàng tỷ đôla đấy. Và thằng Astorre vẫn chẳng chịu đâu. 
Grazziella nhún vai. 
– Nếu chúng ta phải ra tay thì cứ làm đi. Nhưng cần rất thận trọng. Nếu trong lúc đàm phán chúng ta điều được nó ra khỏi nhà thì khử nó không còn là vấn đề. 
Tulippa ngoác miệng cười. 
– Đó là cái tôi thích nghe. Marriano này, y nói, đừng có dính vào yêu đương nữa. Đấy là một thói xấu rất nguy hại. 
Cuối cùng Marriano Rubio cũng thuyết phục được Nicole và các anh nàng ngồi lại nghiệp đoàn của y để bàn về việc bán các nhà băng. Tất nhiên, Astorre Viola cũng phải có mặt mặc dù Nicole không thể bảo đảm điều đó được. 
Trước cuộc họp Astorre dặn dò Nicole và các anh nàng phải nói gì và phải xử sự chính xác ra sao. Họ hiểu sách lược của chàng: Cứ để nghiệp đoàn nghĩ rằng chỉ có mình chàng là đối thủ của chúng. 
Cuộc họp được tiến hành tại phòng họp của lãnh sự quán Peru. Ở đó không có người phục vụ ăn uống, nhưng một bữa ăn tự phục vụ đã được chuẩn bị và đích thân Rubio rót rượu mời họ. Vì phải dành thời gian cho những bất đồng nên cuộc họp được ấn định vào mười giờ đêm. 
Rubio giới thiệu và dẫn dắt cuộc họp. Y trao cho Nicole cặp hồ sơ. 
– Đây là đề nghị chi tiết. Nhưng có thể vắn tắt thế này, giá chúng tôi đưa ra cao hơn giá thị trường năm mươi phần trăm. Mặc dù quyền kiểm soát sẽ hoàn toàn thuộc về chúng tôi, nhưng tiền lãi nhà Aprile sẽ nhận là mười phần trăm lợi nhuận của chúng tôi trong hơn hai mươi năm tới. Tất cả các bạn đều giàu có và hưởng thụ cảnh an nhàn không phải biết đến những căng thẳng khủng khiếp mà loại hình kinh doanh này đòi hỏi. 
Họ chờ đợi trong khi Nicole đọc lướt qua các giấy tờ. Cuối cùng nàng nhìn lên và nói 
– Ấn tượng đấy, nhưmg hãy cho tôi biết tại sao lại có một đề nghị hào phóng như thế này? 
Rubio trìu mến mỉm cười với nàng. 
– Hợp tác mà, y nói. Mọi chuyện làm ăn bây giờ đều phải hợp tác, như máy tính và hàng không, sách vở và xuất bản, âm nhạc và ma túy, thể thao và truyền thông. Tất cả đều có hợp tác. Với các nhà băng của Aprile, chúng tôi sẽ có quan hệ hợp tác trong giới tài chính quốc tế. Chúng tôi sẽ kiểm soát việc xây dựng các thành phố, việc bầu cử của chính phủ. Nghiệp đoàn này sẽ trải khắp toàn cầu và chúng tôi cần đến các nhà băng của các bạn, do đó đề nghị của chúng tôi là hào phóng. 
Nicole quay sang các thành viên còn lại của nghiệp đoàn, tất cả các quý ngài đều là đối tác bình đẳng đấy chứ? 
Tulippa hoàn toàn bị lôi cuốn bởi diện mạo xinh đẹp đượm buồn cùng giọng nói nghiêm nghị của nàng, nên y cố tỏ ra quyến rũ khi trả lời nàng. 
– Chúng tôi đều bình đẳng trước pháp luật trong vụ mua bán này, nhưng cho phép tôi bảo đảm với các bạn rằng được liên kết với cái tên Aprile là cả một vinh dự. Không ai ngưỡng mộ cha các bạn nhiều hơn chúng tôi. 
Valerious, mặt lạnh như tiền, thẳng thừng phản đối Tulippa. 
– Đừng hiểu nhầm tôi, tôi muốn bán thật. Nhưng tôi thích bán đứt hơn, không cần phải phần trăm gì cả. Ở cấp độ cá nhân, tôi không muốn dây dưa với việc này. 
– Nhưng ngài vẫn muốn bán chứ? Tulippa hỏi. 
– Đúng thế, Valerious nói. Tôi muốn phủi tay khỏi việc này. 
Portella định nói nhưng Rubio ngắt lời y. 
– Thế còn ngài, thưa ngài Marcantonio, y nói. Ngài nghĩ sao về đề nghị của chúng tôi? Nó có hấp dẫn với ngài không? 
Marcantonio trả lời với giọng muốn bỏ cuộc. 
– Tôi cũng như Val. Cứ bán đứt chả cần phần trăm gì sất rồi chúng ta sẽ chào tạm biệt và chúc nhau may mắn. 
– Tốt. Chúng ta có thể làm hợp đồng theo hướng đó, Rubio nói. 
Nicole lạnh lùng lên tiếng, 
– Nhưng thế thì các vị phải tăng phụ phí đấy. Các vị có giải quyết được không? 
– Không thành vấn đề, Tulippa nói và tặng nàng một nụ cười ngưỡng mộ. 
Grazziella, mặt lộ vẻ lo ngại nhưng giọng nói vẫn lịch sự hỏi 
– Thế còn người bạn Astorre Viola quý mến của chúng ta thì sao? Cậu ấy có đồng ý không? 
Astorre nở nụ cười khó hiểu 
– Các ngài biết tôi đến đây với tư cách một chủ nhà băng. Ngài Aprile đã bắt tôi hứa không được bán. Tôi không muốn đi ngược lại với gia đình tôi, nhưng tôi phải nói không. Và tôi kiểm soát đa số cổ phần. 
– Nhưng các con của ông Trùm cũng có quyền lợi của họ, ngài tổng lãnh sự nói. Họ có thể kiện ra toà đấy. 
Astorre cười. 
Nicole nói chắc nịch 
– Chúng tôi sẽ không làm thế 
Valerious cười chua chát, còn Marcantonio dường như đã tìm thấy ý tưởng vui. 
Portella cằn nhằn 
– Quỷ tha ma bắt và nhổm đít định chuồn. 
Astorre nói giọng hòa giải 
– Xin các ngài kiên nhẫn. Tôi có thể sẽ buồn vì phải làm một chủ ngân hàng. Chúng ta có thể gặp lại sau vài tháng nữa. 
– Được thôi, Rubio nói. Nhưng chúng tôi không thể ôm cả đống tiền trong thời gian dài như thế. Các bạn có thể sẽ nhận giá thấp hơn đấy. 
Không có cái bắt tay nào khi họ chia tay. 
Sau khi anh em nhà Aprile và Astorre ra về, Michael Grazziella nói với các đồng sự của lão 
– Nó chỉ câu giờ thôi. Nó không đời nào bán đâu. 

Tulippa thở dài 
– Quả là một thằng hấp dẫn. Chúng ta có thể trở thành bạn tốt đấy. Có lẽ tôi phải mời nó tới đồn điền của tôi ở Costa Rica. Tôi sẽ cho nó thấy quãng đời đẹp nhất của nó. 
Cả bọn phá lên cười. Portella nói một cách thô lỗ, 
– Nó không đi hưởng tuần trăng mật với ngài đâu, Inzio ạ. Tôi phải quan tâm tới nó tại đây thôi. 
– Tôi hy vọng kết quả sẽ tốt hơn trước, Tulippa nói. 
– Tôi đã đánh giá thấp thằng này, Portella phân bua. Tôi còn nói gì được nào? Một thằng chỉ biết hát tại các đám cưới chắc? Tôi đã làm vụ lão Trùm Aprile ngon lành. Có thấy ai phàn nàn đâu. 
Ngài tổng lãnh sự, khuôn mặt đẹp trai rạng rỡ vì cảm kích nói 
– Một việc tuyệt vời, Timmona ạ. Chúng tôi luôn luôn tin tưởng ngài. Nhưng cái vụ mới này phải được làm càng sớm càng tốt. 
Rời khỏi cuộc họp, gia đình Aprile và Astorre đi ăn khuya tại nhà hàng Partinico, nơi có phòng ăn riêng và do một người bạn cũ của ông Trùm sở hữu. 
– Tôi nghĩ các anh chị làm rất tốt, Astorre nói với họ. Các anh chị đã làm chúng tin rằng các anh các chị chống lại tôi. 
– Chúng tôi chống cậu thật đấy. Val nói. 
– Tại sao chúng ta phải chơi trò chơi này? Nicole nói. Tôi không thích chút nào. 
– Những gã này có thể dích dáng đến cái chết của ông già, Astorre nói. Tôi không muốn chúng làm hại các anh chị. 
– Chú tin chú có thể đỡ được tất cả những gì chúng ném vào chú à? Marcantonio hỏi. 
– Không, không. Astorre phản đối. Nhưng tôi có thể ẩn náu mà không ảnh hưởng gì tới cuộc sống. Quỷ ạ, tôi sẽ đi Dakotas và bọn chúng tìm thế quái nào được tôi. Cái cười của chàng khoan dung và thành tâm đến mức chàng xem ra có thể xỏ mũi bất kỳ ai trừ các con của ông Trùm Aprile. Nào, chàng nói, hãy cho tôi biết chúng có liên lạc với ai trong các anh chị không? 
– Tôi nhận được rất nhiều cú điện thoại của thanh tra Di Benedetto, Valerious nói. 
Astorre ngạc nhiên 
– Thằng cha này gọi cho anh làm cái chết tiệt gì vậy? 
Valerious cười với chàng. 
– Khi còn làm bên tình báo bọn này có cái gọi là những cú điện thoại “mày biết gì hả”. Một người nào đó muốn gửi cho chú thông tin hoặc giúp đỡ với một thỏa thuận nào đó. Cái họ thực sự muốn là biết được cuộc điều tra của chú tiến hành ra sao. Vì vậy Di Benedetto gọi cho tôi như một hành động lịch sự để lợi dụng tôi đúng lúc cho công tác điều tra của hắn. Sau đó hắn dò hỏi tôi thông tin về chú. Hắn có vẻ quan tâm nhiều đến chú 
– Nịnh đầm quá, Asotrre nói và toét miệng cười. Hẳn là hắn phải nghe tôi hát ở đâu đó rồi. 
– Không thể được, Marcantonio nói khô khốc. Di Benedetto cũng gọi cả cho tôi. Hắn nói hắn có một ý tưởng dành cho một loạt chương trình về cớm. Ở phòng quay lúc nào chả có chỗ cho một chương trình như thế nên tôi ra sức khích lệ hắn. Song những thứ hắn gửi cho tôi chỉ là nhảm nhí. Hắn là đứa không nghiêm chỉnh. Hắn chỉ muốn giữ liên lạc với chúng ta thôi. 
– Tốt lắm, Astorre nói. 
– Astorre, anh muốn chúng nhằm vào anh thay cho chúng tôi à? Nicole nói. Việc đó không quá nguy hiểm sao? Cái lão Grazziella ấy làm tôi sởn gai ốc. 
– À, tôi biết về lão, Astorre nói. Lão là người biết điều. Và ngài tổng lãnh sự của chị là một nhà ngoại giao trung thực, y có thể kiểm soát Tulippa. Kẻ duy nhất ngay lúc này tôi lo lắng là Portella. Ông bạn này đủ đần độn để gây ra rắc rối. Chàng nói tất cả những điều này y như thể đó chỉ là những bàn luận làm ăn hàng ngày. 
– Nhưng rồi chuyện này còn kéo dài bao lâu? Nicole hỏi. 
– Hãy cho tôi vài tháng nữa, Astorre trấn an nàng. Tôi hứa, đến lúc đó tất cả chúng ta sẽ thỏa hiệp được thôi. 
Valerious nhìn chàng khinh miệt 
– Astorre, chú lúc nào cũng lạc quan. Nếu chú là nhân viên tình báo dưới quyền tôi, tôi sẽ điều chú sang bên bộ binh để làm chú cảnh giác. 
Bữa tối không được vui. Nicole tiếp tục tìm hiểu Astorre như thể nàng đang cố gắng nghiên cứu một bí mật nào đó. Valerious đương nhiên không tin tưởng Astorre và Marcantonio còn đang dè dặt. Cuối cùng Astorre nâng ly và vui vẻ nói 
– Các anh chị bi quan quá, nhưng tôi chả quan tâm. Chuyện này sẽ buồn cười lắm đây. Ly này là cho ông già. 
– Ông Trùm Don Aprile vĩ đại, Nicole chua chát nói. 
Astorre mỉm cười với nàng. 
– Ừ, cho ông Trùm vĩ đại.
Astorre luôn luôn cưỡi ngựa vào cuối chiều. Nó làm chàng thư giãn và ăn tối ngon miệng. Nếu đang tán tỉnh một cô nàng, chàng sẽ bắt nàng cùng cưỡi ngựa. Nếu cô nàng không biết cưỡi ngựa, chàng sẽ dạy nàng việc đó. Nếu cô nàng không ưa gì ngựa nghẽo, chàng sẽ thôi theo đuổi nàng. 
Chàng đã làm một đường mòn đặc biệt để đua ngựa xuyên qua rừng. Chàng tận hưởng tiếng chim hót véo von, tiếng sột soạt của những con thú nhỏ. Nhưng hơn hết, chàng thích mặc đồ đẹp đi cưỡi ngựa. Áo khoác đỏ tươi, giầy ống đi ngựa màu nâu, chiếc roi trên tay chưa bao giờ chàng sử dụng, chiếc mũ đi săn bằng da mềm. Chàng mỉm cười với bóng của chính mình trong gương, tưởng tượng mình là một lãnh chúa Anh thời trung cổ. 
Chàng xuống chuồng ngựa. Ở đó chàng nhốt sáu con ngựa, và chàng hài lòng thấy rằng huấn luyện viên Aldo Monza đã chuẩn bị xong một trong những con ngựa đực của mình. Chàng lên yên và cho ngựa chạy nước kiệu lên trên con đường mòn vắt qua rừng. Tăng tốc độ, chàng phi qua một vòm lá đỏ, vàng lộn xộn tạo thành một tấm rèm đăng ten ngăn mặt trời đang lặn. Chỉ có những cánh hoa vàng mảnh dẻ soi sáng con đường. Móng ngựa làm bốc lên mùi lá mục. Chàng nhìn thấy đống phân bón lúa mì và thúc ngựa băng qua, rồi phi lên lối rẽ trên con đường mòn. Đó là một lộ trình khác để đi quanh nhà. Ánh vàng trên đường biến mất. 
Chàng ghìm dây cương. Đúng lúc đó hai bóng người xuất hiện phía trước chàng. Chúng mặc quần áo của những người lao động chân tay ở trang trại. Nhưng chúng đeo mặt nạ, ánh kim loại lóe lên trên tay chúng. Astorre vội thúc ngựa và cúi rạp mình xuống. Khu rừng chìm trong ánh sáng và âm thanh của những loạt đạn. Bọn người này đã tiến đến rất gần. Chàng cảm thấy lưng và sườn mình trúng đạn. Con ngựa hoảng sợ phi nước đại điên cuồng trong khi Astorre cố ngồi cho vững. Chàng phi xuống đường mòn và lại thêm hai bóng người xuất hiện. Họ không đeo mặt nạ và không mang vũ khí. Chàng tuột khỏi mình ngựa và ngã vào vòng tay họ, bất tỉnh. 
Trong vòng một giờ Kurt Cilke đã nhận được báo cáo của đơn vị giám sát đã cứu Astorre Viola. Cái làm ông thực sự ngạc nhiên là bên dưới lớp quần áo của anh chàng thích trưng diện này là chiếc áo lót chống đạn che phần thân trên bằng chiều dài của chiếc áo khoác cưỡi ngựa. Một gã như Astorre – một người nhập khẩu macaroni, một ca sĩ phòng trà, một kỵ sĩ lập dị lại đi mặc áo giáp làm cái chết tiệt gì cơ chứ? Cú va chạm của những viên đạn chỉ làm gã bất tỉnh, và gã cũng đã ra viện rồi. 
Cilke viết một thông báo nhờ điều tra cuộc sống của Astorre Viola từ bé đến giờ. Con người này có thể là chìa khóa để giải quyết mọi vấn đề. Tuy nhiên ông đã biết một điều: Kẻ nào mưu toan sát hại Astorre Viola. 
Astorre gặp hai người anh họ tại nhà Valerious. Chàng kể cho họ nghe về cuộc tấn công, về chàng đã bị bắn như thế nào. 
– Tôi đã nhờ các anh giúp đỡ, chàng nói. Nhưng các anh đã từ chối và tôi hiểu. Nhưng bây giờ tôi cho rằng các anh phải xem xét lại. Ở đây có một loạt đe dọa nào đó nhằm vào tất cả các anh chị. Tôi nghĩ việc này có thể giải quyết được bằng việc bán các nhà băng. Đó sẽ là một tình huống hai bên đều thắng. Ai cũng có cái mình cần. Hoặc chúng ta cũng có thể chọn tình huống thắng – thua. Chúng ta giữ các nhà băng, đẩy lùi và tiêu diệt kẻ thù, dù chúng có là ai đi nữa. Cuối cùng là tình huống hai bên đều thua mà chúng ta phải hết sức cẩn thận để không rơi vào. 
– Dễ ợt, Valerious nói. Bán quách nhà băng. Hai bên đều thắng. 
Marcantonio nói 
– Chúng ta đâu phải người Sicily, chúng ta không muốn ném đi mọi cái chỉ để trả thù. 
– Chúng ta bán nhà băng rồi chúng ta vất bỏ luôn tương lai của mình, Nicole bình tĩnh nói. Marc, một ngày nào đó anh muốn có mạng lưới truyền hình của riêng mình. Val, với những ưu thế lớn lao về chính trị anh có thể trở thành đại sứ hay bộ trưởng quốc phòng. 
– Còn Astorre, anh có thể hát với ban nhạc Rolling Stones. Nàng mỉm cười với Astorre. Được thôi, cũng hơi khó tin, nàng nói và đổi giọng. Hãy quên những chuyện đùa đó đi. Việc ba bị giết không là cái gì với anh em mình hay sao? Có phải thưởng công cho lũ sát nhân khong? Tôi nghĩ chúng ta phải giúp Astorre hết khả năng của mình. 
– Em có biết em đang nói gì không? Valerious hỏi. 
– Biết chứ, Nicole khẽ đáp. 
Astorre nhẹ nhàng nói 
– Ông già dạy tôi rằng cháu không được đẻ cho người khác áp đặt ý muốn của họ lên cháu, nếu không cuộc sống chẳng còn mảy may giá trị. Anh Val, đó là chiến tranh đấy, đúng không? 
– Chiến tranh là một quyết định hai bên đều thua. Nicole nói. 
Valerious thể hiện sự khó chịu của mình 
– Những người khoan dung muốn nói gì thì nói, chiến tranh là tình huống thắng – thua. Ai khôn ngoan hơn sẽ thắng trong cuộc chiến. Thất bại là một điều khủng khiếp không thể tưởng tượng được. 
– Ông già đã có một quá khứ, Astorre nói. Quá khứ đó bây giờ phải được tất cả chúng ta cùng quan tâm. Vì thế một lần nữa tôi yêu cầu các anh chị giúp đỡ. Hãy nhớ rằng, tôi là người dưới sự chỉ đạo của ông, và nhiệm vụ của tôi là bảo vệ gia đình, điều đó có nghĩa là không được bán các nhà băng. 
Valerious nói 
– Trong vòng một tháng tôi sẽ có thông tin cho chú. 
Astorre quay sang Marcantonio 
– Thế còn anh, Marc? 
Marcantonio đáp 
– Tôi sẽ bắt tay vào chương trình đó ngay lập tức. Khoảng hai hay ba tháng là xong. 
Astorre nhìn Nicole 
– Nicole, chị đã hoàn thành việc phân tích hồ sơ của FBI về ông già chưa? 
– Vẫn chưa xong, nàng có vẻ buồn. Chúng ta không thể nhờ Cilke giúp hay sao? 
Astorre mỉm cười. 
– Cilke là một trong số những kẻ tôi nghi ngờ. Khi nào tôi có đủ thông tin chúng ta mới có thể quyết định phải làm gì. 
Trong cả tháng trời Valerious đã tìm ra một vài thông tin vừa bất ngờ vừa đáng buồn. Thông qua các đầu mối CIA của mình gã đã biết sự thật về Inzio Tulippa. Y có những tiếp xúc ở Sicily, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Pakistan, Colombia, và các nước Mỹ La tinh khác. Thậm chí y còn quan hệ với cả gia đình Corleone ở Sicily. 
Theo Valerious, chính Tulippa đang tài trợ cho những phòng thí nghiệm nghiên cứu nguyên tử nào đó ở Nam Mỹ. Chính y liều lĩnh mưu toan lập một quỹ khổng lồ ở Hoa Kỳ để mua phương tiện và nguyên liệu. Chính y muốn sở hữu một loại vũ khí khủng khiếp để chống lại chính quyền. Trong tất cả những mưu đồ này Timmona Portella chỉ là tấm bình phong cho Tulippa. Với Astorre, đây là một tin vui. 
– Những gì Tulippa hoạch định có thể thực hiện được không? Astorre hỏi. 
– Y sẽ thực hiện được, Valerious đáp. Và y được các quan chức chính phủ bảo vệ ở tất cả những nơi y đặt phòng thí nghiệm. 
– Cảm ơn anh, Val, Astorre nói. Chàng trìu mến vỗ vai người anh họ. 
– Không có gì, Valerious nói. Nhưng đây là tất cả những gì chú nhận được từ tôi đấy. 

Marcantonio phải mất sáu tuần để nghiên cứu tiểu sử tóm tắt của Kurt Cilke. Gã đưa cho Astorre một đống hồ sơ tin tức. Astorre giữ lại hai mươi bốn tiếng đồng hồ rồi đem trả. 
Chỉ có Nicole là lo lắng cho chàng. Nàng gửi cho chàng bản copy hồ sơ FBI về ông Trùm Aprile, nhưng ở đó có cả một đoạn hoàn toàn để trống. Khi chàng hỏi về điều đó nàng chỉ nói 
– Khi tôi nhận nó đã như vậy rồi. 
Astorre nghiên cứu các giấy tờ rất kỹ. Đoạn để trống hình như nói về quãng thời gian chàng mới lên hai. 
– Thôi được, chàng bảo Nicole, lâu quá rồi nên chẳng quan trọng lắm. 
Lúc này Astorre không thể trì hoãn thêm được nữa. Chàng đã có đủ thông tin để bắt đầu cuộc chiến của mình. 
Nicole bị Marcantonio Rubio và sự tán tỉnh của y làm cho lóa mắt. Nàng vẫn chưa lấy lại được thăng bằng từ vụ bội tình của Astorre khi nàng còn là một thiếu nữ, khi chàng chọn giải pháp vâng lời cha nàng. Mặc dù đã trải qua vài cuộc tình ngắn ngủi với những người đàn ông đầy quyền lực, nàng vẫn biết đàn ông luôn luôn âm mưu chống lại đàn bà. 
Nhưng Rubio dường như là một ngoại lệ. Y không hề nổi nóng với nàng khi lịch làm việc của nàng cản trở các kế hoạch được ở bên nhau của họ. Y hiểu, với nàng công việc là trên hết. Y không xử sự vô lý như nhiều người đàn ông khác, những kẻ cho rằng ghen tuông mới là cơ sở của một tình yêu chân chính. 
Rubio là kẻ hào phóng trong khoản quà cáp; quan trọng hơn nàng thấy y là một người thú vị và say sưa nghe y thao thao nói về văn học, về kịch nghệ. Nhưng việc y là một người tình hăng hái, một chuyên gia trong lĩnh vực chăn gối, và bên cạnh đó không làm mất nhiều thì giờ của nàng mới là ưu điểm lớn nhất của y. 
Một buổi tối Rubio đưa Nicole đi ăn tại nhà hàng Le Cirque với vài người bạn của y: một tiểu thuyết gia Nam Mỹ nổi tiếng thế giới, kẻ quyến rũ Nicole bằng sự hóm hỉnh và những câu chuyện ma vô lý của mình, một ca sĩ Opera cách tân cứ mỗi lần ăn một món mới lại ngân nga một bản Aria vui vẻ và sau đó ngốn ngấu đồ ăn cứ như sắp phải lên ghế điện, và cuối cùng là một nhà báo chuyên mục bảo thủ, rất có uy tín về các vấn đề quốc tế của tờ New York Times. Tay này rất tự hào được cả những người tự do và bảo thủ ghét như nhau. 
Sau bữa tối Rubio đưa Nicole về căn hộ sang trọng của y trong lãnh sự quán Peru. Ở đó, y quần nàng một trận tơi bời. Cả bằng sức, cả bằng những lời thì thầm. Sau đó y bế nàng trần truồng ra khỏi giường và khiêu vũ với nàng trong khi vẫn ngâm thơ bằng tiếng Tây Ban Nha. Nicole có một khoảng thời gian tuyệt vời. Nhất là khi họ cùng im lặng và y rót Champagne cho cả hai rồi thành thật nói, 
– Anh yêu em lắm. 
Vẻ thành thật còn ngời lên trên nét mặt y. Sao lại có những kẻ mặt dày mày dạn đến thế. Nicole cảm thấy hài lòng. Cha nàng lẽ ra đã phải tự hào về nàng. Nàng đã hành động như một Mafioso thực thụ. 
Là người đứng đầu cơ quan FBI New York, Kurt Cilke có nhiều vụ án quan trọng hơnvụ giết Trùm Raymonde Aprile. Vụ thứ nhất điều tra về sáu tổ hợp khổng lồ âm mưu đưa lậu những máy móc bị cấm, bao gồm cả công nghệ máy tính, sang Trung Quốc. Vụ thứ hai là âm mưu của các công ty thuốc lá lớn khai man trước một ủy ban điều tra của nghị viện. Vụ thứ ba là việc các nhà khoa học hạng trung di cư tới các nước Nam Mỹ như Brazil, Peru và Comlombia. Ngài giám đốc FBI muốn được tường trình về những vụ này. 
Trên chuyến bay tới Washington, Boxton nói 
– Chúng ta đã làm mấy tay bên các công ty thuốc lá bị tóm, đã làm cho những chuyến hàng của Trung Quốc bị giữ lại. Cái duy nhất chúng ta chưa rờ đến được là các nhà khoa học kia. Nhưng tôi cá anh sẽ lên phó giám đốc sau vụ này. Người ta không thể phủ nhận chiến tích của anh được. 
– Cái đó còn phụ thuộc vào giám đốc, Cilke nói. Ông ấy biết rõ tại sao các nhà khoa học lại kéo nhau xuống Nam Mỹ nhưng vẫn bình chân như vại. 
Tại Hoover Building, Boxton bị cản lại không được vào dự họp. 
Mười một tháng trôi qua kể từ ngày ông Trùm Aprile bị giết. Cilke đã chuẩn bị xong tất cả những giấy tờ cần thiết. Vụ Aprile dần lắng xuống, nhưng ông đã có thông tin về những vụ thậm chí còn quan trọng hơn. Và lần này, việc ông sẽ đề nghị giữ chân phó giám đốc Cục là một cơ hội thực sự. 
Giám đốc là một người tầm thước, lịch thiệp, cực kỳ giàu có nhờ tiềm năng của chính mình và tham gia chính trường như một bổn phận trước công chúng. Bắt đầu nhiệm kỳ của mình lão đã đặt ra những luật lệ nghiêm ngặt. 
– Không làm bậy, lão vui vẻ nói bằng giọng mũi. Tuân theo quy tắc. Không vi phạm Luật nhân quyền. Một nhân viên FBI phải luôn luôn lịch sự, phải luôn luôn đúng luật, phải luôn luôn đứng đắn trong đời tư. Bất kỳ một tai tiếng nào, dù nhỏ đến đâu chăng nữa, như đánh vợ, say rượu, quan hệ quá gần gũi với quan chức cảnh sát địa phương, những trò tra tấn ngu ngốc, thì bạn chỉ còn nước cắp đít mà đi dù cho cha chú bạn có làm đến Thượng nghị sĩ cũng mặc. Đấy là luật lệ suốt mười năm qua. Còn nữa, nếu bạn được báo chí nói đến nhiều, dù toàn những lời khen ngợi, bạn cũng sẽ được lên đường tới Alaska để canh chừng những ngôi nhà tuyết của người Eskimo. 
Giám đốc mời Cilke ngồi xuống một chiếc ghế cực kỳ khó chịu ở phía bên kia chiếc bàn gỗ sồi rộng rãi của lão. 
– Tôi triệu tập cậu về vì vài nguyên nhân, lão nói. Thứ nhất: Tôi đã đưa vào hồ sơ cá nhân của cậu việc cậu được đặc biệt tuyên dương vì công tác chống Mafia ở New York. Nhờ có cậu chúng ta đã bẻ gãy xương sống của chúng. Xin chúc mừng. Lão nhổm lên để bắt tay Cilke. Chúng tôi không công bố bây giờ vì Cục chỉ khen thưởng cho những thành tích đặc biệt. Hơn nữa, nó có thể đặt cậu vào tình thế nguy hiểm. 
– Chỉ từ vài kẻ điên thôi, thưa ngài, Cilke nói. Các tổ chức tội phạm hiểu rằng chúng không thể làm hại một nhân viên Cục điều tra Liên bang. 
– Cậu định nói rằng Cục trả thù cá nhân chứ gì, lão nói. 
– Ồ không, Cilke nói. Ý tôi là chúng ta phải cẩn thận hơn thôi. 
Ngài giám đốc cho qua chuyện này. Ở đây có những đường ranh giới. Đạo đức luôn luôn có một giới hạn mỏng manh.
– Thật không công bằng nếu để cậu chôn chân một chỗ, lão nói. Tôi đã quyết định không bổ nhiệm cậu làm phó của tôi tại đây, ở Washington này. Chưa phải lúc. Có ba lý do. Thứ nhất, cậu là một người thông thạo đường phố và ở đó vẫn còn công việc phải được giải quyết. Thứ hai, cậu có một tên chỉ điểm mà cậu từ chối tiết lộ danh tánh hắn với cả phòng giám sát nhân sự của Cục. Thứ ba, quan hệ của cậu với thanh tra cảnh sát New York quá riêng tư. 
Hai người chuyển qua những mục khác trong chương trình nghị sự. 
– Chiến dịch Omertà của chúng ta sao rồi? Lão hỏi. Phải hết sức thận trọng, chúng ta có hành lang pháp lý trong toàn bộ chiến dịch của mình. 
– Tất nhiên rồi, thưa ngài, Cilke nói, mặt lạnh như tiền. Lão giám đốc phải gió này biết rõ phải bỏ qua luật lệ mà. Chúng tôi có một ít trở ngại. Raymonde Aprile từ chối hợp tác với chúng ta. Tuy nhiên, những trở ngại đó không tồn tại lâu được. 
– Lão Aprile bị giết hợp lý quá, giám đốc giễu cợt nói. Ông bạn Portella của cậu làm vụ này chứ gì?
– Chúng tôi không biết, Cilke nói. Dân Italy có khi nào đi báo chính quyền đâu. Chúng tôi chỉ phải chờ những xác chết được tìm thấy thôi. Hiện tôi đã tiếp cận Astorre theo cách chúng ta đã thảo luận. Gã đã ký những giấy tờ bảo mật nhưng lại từ chối hợp tác. Gã không làm ăn với Portella và nghe nói không bán các nhà băng. 
– Thế chúng ta làm gì bây giờ? Lão hỏi. Cậu cũng biết việc đó quan trọng như thế nào. Nếu có thể buộc tội chủ nhà băng theo luật RICO thì chúng ta sẽ thu hồi được các nhà băng cho chính phủ. Và mười tỷ đó sẽ được dùng để đấu trnh chống tội phạm. Đây sẽ là một thành tích đáng nể đối với Cục. Lúc bấy giờ chúng ta có thể chấm dứt mối liên kết của cậu với Portella. Y đã sống lâu hơn lợi ích của mình. Kurt này, chúng ta đang ở trong một tình huống rất tế nhị. Chỉ có các phụ tá của tôi và bản thân tôi biết việc cậu hợp tác với Portella, việc cậu nhận tiền của y còn y cứ đinh ninh cậu là kẻ đồng lõa. Cuộc sống của cậu có thể bị đe dọa đấy. 
– Y sẽ không dám làm hại người của FBI đâu, Cilke nói. Y điên thật, nhưng chưa điên đến thế. 
– Thôi được, Portella phải tiêu trong chiến dịch này. Kế hoạch của cậu thế nào? 
– Anh chàng Astorre Viole không ngây thơ như mọi người vẫn nghĩ, Cilke nói. Tôi đang cho kiểm tra quá khứ của gã. Tôi cũng sẽ yêu cầu các con của Aprile không đếm xỉa gì đến gã nữa. Nhưng tôi thấy lo, liệu chúng ta có thể mang cây gậy RICO lùi lại mười năm để đối phó với những gì chúng đang làm không? 
– Đấy là việc của ngài Tổng kiểm sát trưởng, giám đốc nói. Chúng ta chắc chắn tìm ra cái gì đó tòa án có thể ủng hộ. 
– Về tài khoản bí mật của tôi mà Portella rót tiền vào, Cilke nói, tôi nghĩ ngài phải rút ra một ít để y tin tôi đang sử dụng.
– Tôi sẽ thu xếp việc này, lão nói. Tôi phải nói, ông bạn Timmona Portella của cậu không vắt cổ chày ra nước đâu. 
– Y thực sự tin tôi đã thay đổi, Cilke nói và mỉm cười. 
– Cứ cẩn thận. Đừng tạo cho chúng những cơ sở có thể biến cậu thành một kẻ đồng lõa với tội ác thực sự. 
– Tôi hiểu, Cilke noi. Dù sao nói cũng dễ hơn làm. 
– Và đừng hành động mạo hiểm không cần thiết, giám đốc nói. Nhớ rằng, bọn buôn bán ma túy ở Nam Mỹ và Sicily có quan hệ với Portella và chúng là những kẻ liều lĩnh đấy. 
– Tôi sẽ lưu chỉ thị của ngài ở dạng lời nói hay văn bản? Cilke hỏi. 
– Cả hai đều không được, giám đốc nói. Tôi hoàn toàn tin tưởng vào sự ngay thẳng của cậu. Ngoài ra, tôi không muốn phải nói dối trước một ủy ban nào đó của nghị viện. Để trở thành một trong các phụ tá của tôi, cậu sẽ phải rũ sạch những thứ đó. Lão hy vọng chờ đợi. 
Cilke thậm chí không dám nghĩ những ý nghĩ thật của mình trước mặt ngài giám đốc, sợ rằng lão có thể đọc được suy nghĩ của ông. Mặc dù vậy cơn giận cứ bùng lên. Lão nghĩ ông là thằng đéo nào, thành viên của Hiệp hội những người có quyền tự do dân sự Hoa Kỳ chắc? Thông báo của lão chỉ để khẳng định rằng Mafia đếch phải là người Italy, dân Hồi giáo đếch có thằng nào làm khủng bố, người da đen đếch phải là tầng lớp tội phạm. Vậy lão nghĩ thằng đéo nào gây ra những tội ác trên đường phố chứ? 
Nhưng rồi Cilke nhẹ nhàng nói, 
– Thưa ngài, nếu ngài muốn tôi từ chức, tôi đã công tác đủ thời gian để về hưu sớm được rồi. 
– Ồ không, lão nói. Hãy trả lời tôi. Liệu cậu có thể xóa sạch các mối quan hệ của cậu không? 
– Tôi đã trao cho Cục tên của tất cả những kẻ chỉ điểm, Cilke nói. Đối với những việc làm tắt, bỏ qua luật lệ, đó chỉ là vấn đề giải thích. Còn việc làm bạn với lực lượng cảnh sát địa phương chỉ là quan hệ xã hội. 
– Kết quả của cậu biện minh cho công việc của cậu, lão nói. Nào, cố thêm một năm nữa. Cứ tiếp tục đi. Lão im lặng một hồi lâu và thở dài. Rồi không còn kiên nhẫn được, lão hỏi – Theo đánh giá của cậu, chúng ta đã có đủ bằng chứng về việc các nhà điều hành công ty thuốc lá khai man hay chưa? 
– Dễ quá mà, Cilke, nó và tự vấn tại sao giám đốc lại phải hỏi. Lão đã có tất cả hồ sơ rồi cơ mà. 
– Nhưng đấy có thể là niềm tin của cá nhân họ, lão nói. Những cuộc thăm dò dư luận của chúng ta chỉ ra rằng một nửa số người Mỹ đồng ý với họ. 
– Cái đó đâu có liên quan đến vụ này, Cilke phản đối. Những người được hỏi ý kiến không thực hiện hành vi khai man trước Nghị viện. Chúng ta có những cuốn băng và những tài liệu nội bộ chứng minh được các nhà điều hành công ty thuốc lá cố ý lừa dối. Họ đã có ý đồ. 
– Cậu nói đúng, giám đốc nói cùng một tiếng thở dài. Nhưng ngài Tổng kiểm sát trưởng đã hoàn tất một thỏa thuận. Không một can phạm nào bị kết án, không ai phải đi tù. Người ta sẽ trả tiền phạt lên đến hàng trăm tỷ đô la. Vậy hãy khép vụ án đó lại. Nó nằm ngoài tầm tay chúng ta. 
– Được thôi, thưa ngài. Tôi có thể sử dụng nhân lực dôi dư vào những việc khác. 
– Được việc cho cậu quá còn gì. Tôi sẽ còn làm cậu vui hơn nữa. Cứ sử dụng nhân lực của cậu vào cái vụ vận chuyển công nghệ bất hợp pháp sang Trung Quốc. Vụ này rất nghiêm trọng đấy. 
– Không cho qua được, Cilke nói. Các công ty đó cố ý vi phạm điều luật về đầu cơ tiền tệ và xâm hại an ninh Hoa Kỳ. Những người lãnh đạo công ty đã có âm mưu từ trước rồi 
– Chúng ta có đủ bằng chứng kết tội họ, lão tiếp tục. Nhưng cậu biết đấy, âm mưu chỉ là một từ chung chung. Ai mà chả có âm mưu. Nhưng vụ này cậu cũng có thể khép lại và tiết kiệm nguồn nhân lực. 
Cilke ngờ vực hỏi, 
– Thưa ngài, có phải ngài đang nói một thỏa thuận về việc này đã được hoàn tất? 
Ngài giám đốc ngả lưng vào ghế và chau mày vì câu nói xấc xược của Cilke, nhưng rồi lão vẫn ngọt nhạt 
– Cilke cậu là sĩ quan xuất sắc nhất ở Cục nhưng cậu không có giác quan chính trị. Bây giờ hãy nghe tôi và đừng bao giờ quên điều này: Cậu không thể tống sáu nhà tỷ phú vào tù được. Không làm thế được trong một xã hội dân chủ. 
– Và đó là lý do ư? Cilke hỏi. 
– Các biện pháp chế tài sẽ rất nặng, lão nói. Bây giờ ta chuyển sang các vụ khác, có một vụ cực kỳ bí mật. Chúng ta sẽ đổi một tù nhân của Liên bang lấy một trong những chỉ điểm viên của chúng ta đang bị giữ làm con tin ở Comlombia, một người rất hữu dụng trong cuộc đấu tranh chống ma túy của chúng ta. Vụ này phù hợp với cậu đấy. Lão đề cập đến một vụ bốn năm về trước. Một tên buôn ma túy đã bắt năm người, một phụ nữ và bốn đứa con, làm con tin. Rồi y giết họ và cả một nhân viên của Cục. Nhưng y vẫn được tha mạng. Tôi nhớ rằng cậu rất kiên quyết với việc thi hành án tử hình, lão nói. Tôi biết cậu chẳng vui vẻ gì khi chúng ta sẽ để y được tự do. Tất cả chuyện này được giữ kín, nhớ nhé. Tuy nhiên, báo chí có khả năng sẽ bới vụ này lên và lúc ấy tha hồ mà om xòm. Cậu và các nhân viên của cậu sẽ không được bình luận gì. Cậu hiểu chứ? 
Cikle nói 
– Chúng ta không được dể bất kỳ kẻ nào giết nhân viên của chúng ta được ra đi như vậy. 
– Với một nhân viên của Cục điều tra Liên bang, thái độ đó là không thể chấp nhận được. 
Cilke cố gắng không để lộ sự phẫn nộ của mình. 
– Thế thì tất cả đồng đội của chúng ta sẽ lâm vào tình thế nguy hiểm. Đồng nghiệp của chúng ta bị giết khi đang cố giải cứu con tin. Đó là một vụ giết người tàn bạo. Việc tha bổng kẻ sát nhân xúc phạm đến hương hồn người đồng đội đã khuất. 
– Không có tâm lý báo thù ở Cục, giám đốc nói. Nếu không chúng ta cũng chẳng hơn gì bọn chúng. Nào, cậu có những gì về các nhà khoa học di cư đó hả? 
Lúc này Cilke nhận ra ông không thể tin vào ngài giám đốc. 
– Chẳng có gì mới, ông nói dối. Ông quyết định từ giờ trở đi ông sẽ không dính vào những thỏa hiệp chính trị. Ông sẽ hành động một mình. 
– Nào, cậu đang có khá nhiều nhân lực, vậy hãy làm vụ này đi, giám đốc nói. Và sau khi cậu tóm Timmona Portella, tôi sẽ đưa cậu về đây làm một trong các phụ tá của tôi. 
– Cảm ơn ngài, Cilke đáp. Nhưng tôi đã quyết định, sau khi tính sổ Portella, tôi sẽ nghỉ hưu. 
Giám đốc buông một tiếng thở dài. 
– Hãy xem xét lại. Tôi biết toàn bộ việc này làm câu ngán tới cỡ nào. Nhưng hãy nhớ điều này: Cục không chỉ chịu trách nhiệm bảo vệ xã hội chống lại những kẻ phạm pháp, mà còn phải thi hành những biện pháp về lâu về dài mang lại lợi ích cho xã hội chúng ta. 
– Tôi nhớ điều đó từ ngày học phổ thông cơ, Cilke nói. Kết quả biện minh cho phương tiện. 
Giám đốc nhún vai, 
– Dù sao cũng hãy xem xét lại việc xin nghỉ hưu của cậu. Tôi sẽ đưa vào hồ sơ của cậu một đơn đề nghị. Dù cậu đi hay ở, cậu vẫn sẽ nhận huân chương do Tổng Thống Hoa Kỳ ban tặng. 
– Cảm ơn ngài, Cilke nói. Giám đốc bắt ty ông và tiễn ông ra cửa. Nhưng lão còn hỏi thêm câu hỏi cuối cùng. 
– Chuyện gì xảy ra trong vụ Aprile thế. Đã nhiều tháng rồi mà hình như chưa làm được gì. 
– Đó là việc của bên cảnh sát New York, đâu phải là của chúng ta, Cilke đáp. Tất nhiên, tôi cũng đã xem xét vụ này. Đến giờ vẫn chưa rõ động cơ. Không có đầu mối, tôi thiết nghĩ, thì không thể giải quyết được vụ này. 
Đêm hôm đó Cilke ăn tối cùng Bill Boxton. 
– Có những tin tốt lành đây, Cilke nói. Vụ thuốc là và vụ máy móc của Trung Quốc khép lại rồi. Ngài tổng kiểm sát trưởng ngả theo các biện pháp chế tài chứ không theo biện pháp trấn áp tội phạm. Nhân lực tha hồ mà dôi dư. 
– Cứt, Boxton nói. Tôi cứ nghĩ giám đốc là một người ngay thẳng, công bằng. Lão sẽ từ chức chứ? 
– Có những người thẳng thẳn và có những người thẳng thắn với một chút lương lẹo, Cilke nói. 
– Còn gì nữa không? Boxton hỏi. 
– Khi tôi hạn xong Portella toi sẽ trở thành phụ tá của giám đốc. Bảo đảm đấy. Nhưng đến lúc đó tôi cũng sẽ nghỉ hưu. 
– Ừ, Boxton nói. Thế thì đề nghị để tôi giữ cương vị đó nhé? 
– Không được đâu. Lão giám đốc biết cậu đã sử dụng những từ có ba chữ cái mà, ông phá lên cười. 
– Cứt, Boxton nói, giả vờ thất vọng. 
Đêm hôm sau Cilke cuốc bộ từ ga về nhà. Georgette và VAnesa đi Flỏida thăm bà ngoại một tuần và ông không thích đón taxi. Ông ngạc nhiên không nghe tiếng chó sủa khi bước lên con đường dẫn vào nhà. Ông gọi chúng nhưng không được. Hẳn chúng đã xổng nhà đi lang thang đâu đó bên hàng xóm hay trong khu rừng gần nhà. 
Ông nhớ gia đình mình, nhất là vào giờ ăn. Ông đã ăn tối một mình hoặc cùng các nhân viên khác ở rất nhiều thành phố trên khắp nước Mỹ, luôn phải cảnh giác với bất kỳ mối nguy hiểm nào. Ông chuẩn bị một bữa ăn đơn giản như vợ ông đã hướng dẫn – một ít rau, một món salad trộn và một miếng bít- tết nhỏ. Không cà phê nhưng có một ly nhỏ rượu mạnh. Sau đó ông lên lầu tắm rửa và gọi điện cho vợ trước khi đọc vài trang sách để dỗ giấc ngủ. Ông yêu quý sách và việc FBI bị mô tả như những tên côn đồ trong các tiểu thuyết trinh thám luôn làm ông buồn. Chúng biết quái gì nào?
Khi mở cửa phòng ngủ, ngay lập tức ông ngửi thấy mùi máu và đầu óc ông quay cuồng. Tất cả những lo sợ giấu kín trong ông đang hiện ra trước mắt. 
Hai gã chăn cừu người Đức đang nằm trên giường của ông. Nước da trắng rám nắng của họ lốm đốm đỏ, chân họ bị trói lại với nhau, miệng bị bịt kín bằng băng keo. Trái tim của họ bị cắt ra để bên sườn. 
Với một cố gắng phi thường, ông cố trấn tĩnh. Theo bản năng, ông gọi điện cho vợ để biết chắc Georgette vẫn an toàn. Ông không nói gì với chị. Rồi ông gọi điện cho sĩ quan trực ban của FBI yêu cầu một đội pháp y đặc biệt và một nhóm truy bắt tội phạm. Họ sẽ phải tống khứ hết khăn trải giường, đệm và thảm. Ông không thấy nhà chức trách địa phương nào xuất hiện. 
Sáu tiếng sau, các toán FBI ra về còn ông viết một bản tường trình gửi cho giám đốc. Ông rót cho mình một ly rượu mạnh và cố phân tích tình hình. 
Lúc này ông cân nhắc việc nói dối Georgette, phịa ra chuyện hai con chó đi khỏi nhà. Nhưng phải giải thích ra sao về tấm thảm và khăn trải giường bị mất. Ngoài ra, làm như thế là không công bằng với chị. Georgetta có quyền lựa chọn. Trên hết thảy, chị sẽ không tha thứ cho ông nếu ông nói dối. Ông sẽ phải nói cho chị sự thật. 
Hôm sau, trước tiên Cilke bay đến Wasshington để hội ý với giám đốc, sau đó ông xuống Florida, nơi vợ con ông đang nghỉ với gia đình bên ngoại. 
Ở đó, sau khi ăn trưa cùng họ, ông đưa Georgette đi dạo dọc theo bờ biển. Trong khi họ dõi theo mặt nước xanh lung linh, ông nói với chị chuyện lũ chó bị giết, rằng đó là dấu hiệu cảnh cáo của Mafia Sicily nhằm đe dọa ông. 
– Theo giới truyền thông, các anh đã xóa sổ Mafia ở đất nước này rồi cơ mà, Georgette ngạc nhiên nói. 
– Chẳng chóng thì chầy, Cilke nói. Bọn anh vẫn còn để sót một vài tổ chức ma túy, và anh biết rõ ai làm việc này. 
– Lũ chó tội nghiệp của chúng ta, Georgettte than. Tại sao con người lại có thể độc ác đến thế? Anh đã báo cho giám đốc chưa? 
Cilke cảm thấy một nỗi tức giận trào lên khi chị chỉ quan tâm đến lũ chó. 
– Giám đốc cho anh ba sự lựa chọn, ông nói. Thứ nhất anh sẽ từ nhiệm và chuyển đến nơi khác. Anh đã từ chối việc này. Thứ hai, anh đặt gia đình dưới sự bảo vệ của Cục cho đến khi vụ này kết thúc. Thứ ba, em cứ ở lại nhà như chẳng có chuyện gì xảy ra. Chúng mình sẽ được một đội an ninh bảo vệ hai bốn trên hai bốn tiếng đồng hồ. Một nữ mật vụ sẽ sống cùng em và mỗi khi em cùng Vanesa ra khỏi nhà, sẽ có hai vệ sĩ đi kèm. Sẽ có những trạm cảnh giới với hệ thống báo động hiện đại nhất được đặt quanh nhà. Em nghĩ sao? Trong vòng sáu tháng việc này sẽ kết thúc. 
– Anh nghĩ đó chỉ là trò hù dọa thôi sao? Georgette hỏi. 
– Phải. Chúng không dám làm hại một nhân viên. Cục điều tra Liên bang và gia đình. Đó sẽ là một hành động tự sát đối với chúng. 
Georgette đăm đăm nhìn nhìn mặt vịnh xanh yên ả. Tay chị xiết chặt lấy tay ông. 
– Em sẽ ở lại, chị nói. Em nhớ anh nhiều lắm, và em biết anh sẽ chẳng chịu bỏ vụ này. Làm sao anh có thể đoán chắc anh sẽ giải quyết xong trong vòng sáu tháng? 
– Anh bảo đảm mà, Cilke nói. 
Georgette lắc đầu. 
– Em không thích anh quả quyết như thế đâu. Làm ơn đừng làm bất cứ điều gì tệ hại. Và em muốn một lời hứa. Khi vụ này kết thúc, anh sẽ rời nhiệm sở. Hãy bắt đầu công việc luật sư của anh hay đi dạy. Em không thể sống như thế này mãi được. Chị nói hết sức nghiêm chỉnh. 
Câu nói chị sẽ rất nhớ ông in sâu vào tâm trí ông. Và ông cũng thường nhớ Georgette như vậy. Ông tự hỏi làm sao một phụ nữ như chị lại có thể yêu một người như ông. Tuy nhiên ông luôn biết sẽ có ngày Georgette đưa ra đề nghị này. Ông thở dài và nói, 
– Anh hứa. 
Họ tiếp tục đi theo bờ biển rồi rẽ vào một công viên nhỏ rợp bóng cây giúp họ tránh ánh mặt trời. Một làn gió mát từ vịnh thổi vào làm rối tung mái tóc Georgette. Lúc này, trông chị rất trẻ và hanh phúc. Cilke biết ông không thể nào thất hứa với vợ. Và thậm chí ông còn kiêu hãnh về vẻ hấp dẫn của chị trong cách moi lời hứa của ông vào đúng một thời điểm thích hợp, khi chị mạo hiểm cả cuộc sống của mình để đứng về phía ông. Suy cho cùng, có ai muốn được một người đàn bà đần độn yêu thương cớ chứ? Đồng thời ông biết rằng vợ ông sẽ kinh sợ và cảm thấy bị xúc phạm nếu biết được những gì ông đang nghĩ. Vẻ hấp dẫn của chị hoàn toàn trong trắng. Ông xét đoán ai đây? Georgette không khi nào xét đoán ông, không nghi ngờ cái vẻ hấp dẫn không được trong trắng của ông bao giờ.

——————————–

1Mũ Panama: mũ rộng vành.
2Faun (thần thoại La Mã): vị thần cai quản đồng ruộng và rừng cây, có sừng, chân dê, mình người.


Kẻ săn vàng

baotreonline.com

Vương Mộng Long

July 27th, 2019

Post by Sơn râu 26 Jun 2024

Google photos

Kỳ trước: Dù đã dạy cho tên cướp cạn một bài học, nhưng cảm giác u buồn lại dậy lên. Ông nhớ về trường Võ Bị Đà Lạt… Trận mưa đá dội xuống cánh rừng âm u như dội xuống lòng người sĩ quan sa cơ thất thế trước vận nước đen tối.

 Kỳ 3

Ôi thời gian qua như tên bay! Ðã có biết bao nhiêu lần mưa đá đi qua trong đời. Năm thằng tuổi trẻ chuyền tay điếu Orland ngày nào, thì một thằng thành phế binh, ba thằng đền nợ nước. Hai mươi bốn năm sau lần mưa đá ấy, còn lại mình tôi, một Kẻ Săn Vàng trên Chiến Khu D…

Trời gầm trên ngọn cây. Chớp giật liên hồi. Mưa như cầm chĩnh đổ. Cứ như vậy suốt đêm và kéo dài cho tới chiều hôm sau, mưa mới nhẹ hạt dần.

Nước đã tràn qua bờ be miệng giếng. Nước cuốn trôi xuống chân đồi những gì cản đường. Dòng suối hiền hòa hôm qua, nay trở thành con sông nhỏ chở đầy củi cành rác rến, nước đỏ ngầu.

Tôi cứ ngồi bó gối nhìn ra ngoài trời. Ðiếu thuốc này tiếp nối điếu thuốc khác trên môi, tôi ngồi nghĩ vẩn vơ toàn những chuyện ngày xưa.

Trời càng về chiều càng lạnh hơn. Ðêm đó tôi bị cảm lạnh. Trong lúc cơn sốt rét rừng hành hạ tôi, thì ngoài kia mưa vẫn rơi.

Nhưng rồi chuyện gì cũng qua. Mấy hôm sau vừng dương lại trở về soi những tia nắng ấm trên cuộc đời những kẻ bất hạnh nhất trần gian.

Những giọt mồ hôi lại đổ xuống mảnh đất chiến trường xưa.

Những gầu đất tiếp tục khơi sâu lòng giếng.

Từ quán cô Nghĩa vang vọng lại giọng hát ngọt ngào thuở nào, Khánh Ly:

“Trời ươm nắng cho mây hồng… Mây qua mau, em nghiêng sầu…Ngoài kia lá như vẫn xanh …”

Tôi chợt thấy một niềm vui nhỏ nhen nhúm trong lòng, nơi rừng thiêng nước độc này, chợt phút giây, tìm lại được cái gì đó gần gũi, ấm cúng ngày cũ.

Giếng đã cạn đá sỏi, bắt đầu vào lớp đá dăm, chúng tôi mừng vui vì sắp tới ngày “hy vọng vươn lên” của giếng vàng thứ nhì.

Ðã đến ngày chúng tôi bắt đầu công việc gom xái. Xái chuyển tới mặt đất thì được đóng thành bao, chất quanh lều. Sau đó chúng tôi mới từ từ chuyển xái xuống suối để đãi lấy tinh. Với dân đào vàng thì ngày này là ngày hạnh phúc nhất.

Tôi cầu mong đợt thu hoạch kỳ này sẽ khấm khá hơn lần trước. Giếng bên cạnh của hai cha con ông người Quảng mới trúng bảy cây. Giếng của chúng tôi sát nách giếng cha con nhà ấy, có rẻ cũng được năm cây!

Tôi nhẩm tính trong đầu, chi phí đâu đó xong xuôi, mỗi người chắc mẩm có cả cây bỏ bọc!

Tôi nghĩ đến đàn con đang ở Sài-Gòn chờ tin tôi, như những con chim non đang trông chờ con chim mẹ kiếm mồi…

Tôi mơ màng hình dung trước mắt, một mâm cơm gia đình có canh, có cá.

Tôi nghĩ tới tuần sau, khi tôi mang vàng về, các con tôi sẽ có tiền trả tiền học. Tôi sẽ mua thêm vài tấm tôle nhựa để che những lỗ dột trên lầu cho lũ con đỡ ướt lúc gió mưa. Tôi sẽ mua dự trữ một số chỉ thêu để con gái tôi có sẵn chỉ mà thêu hàng cho khách đặt hàng thêu. Tôi sẽ mua một cái máy thu thanh cho bọn nhỏ học Anh Văn. Vợ tôi sẽ mua để dự trữ sẵn trong nhà một tạ gạo, vài chai nước mắm, phòng đói cho con…

Trời hừng đông, người ta bàn tán với nhau rằng, ngày mười chín tháng năm, ngày sinh của “Bác”, Huyện đội sẽ cho cán bộ bất thần vào kiểm tra an ninh khu vực khai thác vàng này.

Tin tình báo nhân dân nhanh thật! Hèn nào mới gà gáy sáng, tôi thấy đã có mấy anh thanh niên hì hục chuyển hai thùng súng đạn từ cái quán của cô Nghĩa đem phân tán đi đâu đó không ai rõ.

Sáng sớm, thím Xuân đem lên một con gà trống đã luộc chín và một nồi xôi đậu xanh. Chúng tôi lần lượt thắp nhang khấn vái cám ơn Thổ Ðịa đã phù hộ.

Sau khi ăn sáng, chúng tôi chuẩn bị đánh dây đai những bao xái để dễ dàng chuyển vận.

Khoảng mười giờ sáng, nơi đầu dốc cậu Linh có tiếng súng bắn chỉ thiên, một cái loa cầm tay oang oang ra lệnh:

“A lô! A lô! Ai ở đâu ở tại chỗ! Có đoàn kiểm tra an ninh kinh tế của huyện thi hành nhiệm vụ thanh lọc. Yêu cầu bà con sẵn sàng xuất trình giấy phép khai thác củi cho nhân viên chính quyền. Ðây là công việc bảo vệ an ninh và quyền lợi cho bà con. Xin bà con cứ yên tâm sinh hoạt bình thường, đừng gây lộn xộn. Hãy tiếp tay với chính quyền củng cố an ninh huyện nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của Hồ Chủ-Tịch! A lô! A lô!”

Thằng Thanh ghé tai tôi nói nhỏ,

– Con với thằng Hòa phải tránh mặt, vì tụi con trốn nghĩa vụ. Bác Hai và thằng Út ở lại trông coi bãi xái. Hết động, tụi con trở lại.

Sau đó nó và thằng Hòa lủi vào rừng mất hút.

Tiếng loa oang oang tiến lại gần. Nhạc vàng vụt tắt.

Trên đồi, vài dân mõi vàng giấu vội những bao xái trong lùm bụi. Có người ném các bao xái xuống giếng rồi ném cành lá lên trên che đi.

Tôi chưa biết phải làm gì thì những cái nón cối xanh đã nhấp nhô đó đây.

Dẫn đầu đoàn bộ đội là một sĩ quan cấp lớn của Quân Ðội Nhân Dân. Ðầu hắn đội cái nón cối rất mới, sao vàng sáng chói, bên hông có K 54, tay có đổng (đồng hồ), vai có đài (radio), có cặp, mắt có kiếng râm. Miệng hắn toe toét cười khi đi ngang qua các quán lều. Cái quân hàm màu đỏ trên cổ áo hắn với một ngôi sao và hai gạch vàng (Thiếu tá) cho tôi biết lực lượng kiểm tra hiện diện trong vùng này cũng phải cỡ trên dưới một tiểu đoàn.

Như vậy là vòng ngoài, vòng trong đều có bộ đội, không rõ tụi thằng Hoà, thằng Thanh có lọt thoát không?

Hai hàng quân triển khai dọc hai bên bờ Nam Bắc của con suối. Những tên lính Cộng Sản, AK cầm tay, lưỡi lê đầu súng, mặt lạnh như tiền.

Chúng đóng trụ, từng tổ hai đứa. Tổ này cách tổ kia khoảng hai chục thước, trải dài theo con đường mòn bên bờ chờ lệnh.

Công việc kiểm tra bắt đầu với việc trình giấy phép khai thác rừng. Từng toán ba người đến mỗi bãi hỏi giấy phép.

Sau đó họ làm biên bản, bắt người trưởng mũi ký tên. Có vài người bị đưa đến tập trung hướng bên kia đồi, nơi cuối dốc, ở đó có một khoảng đất bằng phẳng với những súc gỗ cũ mục.

Mỗi toán kiểm tra gồm ba bộ đội thì có một tên là sĩ quan, từ một sao một gạch, tới bốn sao một gạch, tức là từ thiếu úy tới đại úy.

Tôi nhủ thầm: “Gớm! Sao mà Quân Ðội Nhân Dân có nhiều sĩ quan dữ vậy!”

Một thượng úy Cộng Sản và hai tên bộ đội tiến tới lều tôi. Mắt chúng sáng lên khi thấy hai dãy gần ba chục bao xái đã đóng bì gọn ghẽ.

Với giọng Miền Trung tên thượng úy trưởng toán hỏi tôi,

– Giấy phép khai thác rừng của anh mô? Ðưa tui coi!

Tôi trình cái giấy phép mới mua lại tại bãi tuần trước với cái giá ba phân vàng.

– Chứng minh nhân dân của anh mô?

Tôi nhỏ nhẹ,

– Vì ở đây không an toàn nên tôi để chứng minh nhân dân ở nhà.

Người sĩ quan Cộng-Sản nhăn mặt,

– Anh nói năng chi lạ rứa? Anh ở ngoài Bắc mới nhập phải không?

Tôi chống chế,

– Không, tôi ở trong Nam lâu rồi, nhà tôi ngoài bến phà mà!

Hắn không để ý gì tới lời tôi nói. Quay qua một tên tùy tùng, hắn ra lệnh,

– Dẫn anh này ra bãi tập trung, giao cho đồng chí Quang.

Tôi quay qua định dặn dò thằng Út đôi điều thì thằng nhỏ đã trốn mất tự lúc nào!

Tôi đi trước, khẩu AK và cái lưỡi lê đi theo sau lưng.

Trên đoạn đường tới bãi, tôi còn gặp cả chục người cùng hoàn cảnh nên lòng cũng không lo lắng lắm.

Khoảng gần hai trăm người chúng tôi bị tập trung nơi bãi cây. Nơi đây có một cái lều vải dã chiến vừa được dựng lên vội vã. Có một cái bàn gỗ đặt trước cửa lều.

Một đại úy Cộng-Sản đang ngồi trên ghế nhâm nhi ly cà phê đen.

Tên bộ đội đẩy tôi về phía bàn giấy và ra lệnh:

– Anh trình diện Thủ trưởng Quang đi!

Tôi chưa kịp bước lên thì tên sĩ quan Cộng-Sản đã xua tay,

– Thoải mái! Thoải mái! Anh cứ thoải mái ra nghỉ ngoài kia, chờ chúng tôi nghiên cứu vấn đề rồi sẽ giải quyết sau. Nhớ đừng tìm cách thoát ly đó nhé!

Sau đó hắn to giọng để những người khác cùng nghe,

– Các anh chỉ được di chuyển trong vòng đai đánh mốc bằng dây thừng này thôi! Ai tìm cách thoát ly thì chúng tôi không chịu trách nhiệm bảo toàn tính mạng đấy nghe không!

Ðám người bị câu lưu nghe lời hăm dọa mà xanh mặt.

Những tên lính Cộng Sản canh gác bốn góc bãi thì vẻ mặt khó đăm đăm.

Những họng AK lúc nào cũng lăm lăm chĩa vào đám đông như sẵn sàng nhả đạn.

Gần hai trăm người chúng tôi ngồi trên cát, trên cỏ, nhịn đói, nhịn khát trong thời gian năm, sáu tiếng đồng hồ.

Tới xế chiều thì viên thiếu tá trưởng đoàn kiểm tra xuất hiện. Hắn vẫn toe toét cười,

– Thế nào? Bà con có khoẻ không? Chờ đợi lâu thế này chắc là bà con đói bụng rồi đấy! Thôi nhé! Mình tranh thủ làm nhanh nhanh công tác kiểm điểm để bà con về nghỉ mệt. Thì giờ là vàng ngọc mà! Hì! hì! hì!…

Mọi người thở ra nhẹ nhõm. Tình hình có vẻ không đến nỗi căng lắm! Vài người trong bọn tôi bạo gan giở thuốc lá ra hút trong khi chờ đợi viên thủ trưởng của đoàn kiểm tra giải quyết vấn đề.

Viên thiếu tá Cộng-Sản đưa từng xấp giấy có in sẵn mẫu cho bốn tên đàn em đem phân phát cho mỗi người chúng tôi một bản. Ðó là mẫu tự khai và kiểm điểm, trong đó chúng tôi phải ghi rõ họ tên, quê quán, nghề nghiệp, ngày sinh, tháng đẻ.

Về mục kiểm điểm thì tùy từng người; người không có chứng minh nhân dân thì hứa lần sau sẽ đem theo giấy tờ theo mình khi đi xa nhà; người không có giấy khai thác củi thì hứa lần sau sẽ xin giấy phép trước khi vào rừng.

Nhiều ông trưởng mũi không biết đọc, biết viết, phải nhờ người khác giúp đỡ.

Tôi khai tên mình là Nguyễn văn Hai, sinh quán Hà-Ðông, nghề nghiệp thợ mộc.

Tôi nộp tờ tự kiểm của anh chàng Nguyễn văn Hai, Hà-Ðông, thợ mộc trên bàn rồi lui ra đứng lẫn vào đám đông.

Những tên bộ đội canh gác an ninh lúc đó đang tháo gỡ căn lều dã chiến. Chúng nó chuẩn bị thu quân.

Sau khi dồn đống giấy kiểm điểm của chúng tôi vào ba lô, tên đại úy phụ tá xách cái ba lô đó đi về hướng dốc Cậu Linh. Hắn vừa nhún nhảy đi, vừa huýt sáo miệng điệu nhạc Lambada Nam-Mỹ.

Viên thiếu tá Cộng-Sản trưởng đoàn trịnh trọng hắng giọng lấy hơi rồi tuyên bố,

– Nhân danh trưởng đoàn kiểm tra nhân dân, tôi khen ngợi các anh đã thành khẩn nhận lỗi và hối lỗi. Nhân ngày kỷ niệm sinh nhật của Bác Hồ, tôi châm chước cho các anh ra về. Nhớ lần sau chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định khai thác rừng của huyện và không được vi phạm nữa nghe không!

Mọi người vỗ tay cảm động. Ðôi người còn đến mời thuốc lá và xin bắt tay tên sĩ quan trưởng đoàn. Tôi cũng thở phào nhẹ nhõm.

Tôi nói với một người đồng cảnh trên đường trở về bãi,

– Chắc lệnh trên ban xuống, bắt tụi nó kiểm tra, thì tụi nó cũng làm cho có lệ vậy thôi, chứ ăn cái giải gì mà khó dễ tụi khố rách áo ôm như mình!

Ông đồng cảnh của tôi cười khẩy,

– Chắc tụi nó có nhận trà nước chia chác của xã, nên mới dễ dãi với mình. Lần trước tụi nó dọn sạch cả đồ nghề, khiên, bao, xẻng, cuốc, chẳng còn gì. Ðể về bãi mới biết kết quả ra sao anh ơi! 

Tôi về tới bãi cũng là lúc tụi thằng Thanh chạy bát nháo đi tìm tôi.

Thằng Thanh và thằng Hòa cùng vài trăm người không giấy tờ khác trốn trong khu hầm mỏ cũ suốt bốn, năm tiếng đồng hồ. Chẳng có ma nào thèm tìm đến vây bắt bọn họ.

Khi bộ đội đã rút đi, có người thông báo, tụi nó mới về lều.

Nghe thằng Út nói Bác Hai bị điệu ra bãi tập trung thì tụi nó lo lắng cuống quýt chạy đi tìm.

Thằng Út nói lúc bộ đội gí súng bắt tôi đi thì nó chạy sang lều bác sĩ An, giả đò đau bụng để theo dõi diễn tiến ra sao.

Chờ yên việc nó mới dám mon men về lều. Rồi nó mếu máo,

– Bác Hai ơi! Xái của mình bị tịch thu hết rồi! Bộ đội đã khiêng đi hết rồi!

Tôi nhớ lại, khi lên nộp tờ kiểm điểm trên bàn của tên Thiếu tá Cộng sản trưởng đoàn, tôi tình cờ nghe y dặn dò tên Ðại úy phụ tá,

– Ðồng chí nhớ cho người khẩn trương đãi xái ngay tối nay, bên huyện ủy chia cho cánh mình một nửa số thu hoạch kỳ này đó!

Thì ra cuộc càn quét này, mục đích của huyện là lấy vàng.

Trong thời gian chúng tôi bị giữ ngoài bãi súc sau đồi thì lực lượng vũ trang huyện đã lùng sục khắp các bãi. Tất cả xái đã khai quật đều bị tịch thu đóng bao khiêng đi hết. Có cả chục cái xe tải chờ sẵn ngoài dốc cậu Linh để chở đi những tấn hàng béo bở.

Cán bộ giải thích với dân đào vàng rằng, huyện cho giấy phép “khai thác rừng” chứ không phải để khai thác quặng mỏ. Quặng mỏ là tài sản của nhân dân, đào vàng là xâm phạm tài sản của nhân dân. Những người trưởng mũi đều bị gán tội xâm phạm tài sản nhân dân. Họ bị làm biên bản và phải làm tờ tự kiểm điểm. Tất cả xái vàng họ đã khai thác được đều bị tịch thu giao nộp về văn phòng huyện.

Mẹ kiếp! Cái giấy phép, giá chính thức là hai phân, giá chui là ba, bốn phân. Trên thực tế, khai thác một diện tích vuông, mỗi chiều mười mét, cho dù là rừng cẩm lai cũng không được một phân! Thêm tiền công, tiền di chuyển xe cộ, ăn uống, thuốc men.

Lại một trò “chơi chữ”! Cái đồ ăn cướp cạn!

Tôi chợt bật cười, nhớ lại cái thông cáo tháng Năm 1975 của Ủy Ban Quân Quản Sài-Gòn Chợ-Lớn ra lệnh cho Quân Cán Chính của chế độ Sài-Gòn phải “đem theo 30 ngày tiền ăn khi trình diện học tập cải tạo”

Rồi một tháng sau, “Nhà nước ra lệnh cho các anh mang theo 30 ngày tiền ăn, chứ nhà nước có hứa sẽ thả các anh về sau một tháng đâu?”
Thế rồi từng tờ lịch lật qua, theo nhau, mười ba tập lịch được bóc đi, tôi về.

Tôi về, vợ tôi đã sắp đuối, bốn đứa con tôi còn nhỏ dại.

Tôi bắt đầu lại cuộc đời với hai bàn tay trắng.

Mới đó mà đã mười bốn năm trôi qua. Thời gian trôi, nhưng chính sách của Ðảng và nhà nước thì lúc nào cũng tàn ác, dã man, “trước sau như một”

Tôi tự trách, “Mình đúng là thằng tối dạ! Kinh nghiệm đau thương mười mấy năm rồi mà chưa sáng mắt ra!”

Thế là công cốc! Cái lều của thày trò tôi vẫn còn nguyên, nhưng những bao xái vàng chất xung quanh lều đã biến mất. Giờ này xái trong những bao bì ấy đã được những “đầy tớ trung thành của nhân dân” đem đi đãi, vàng sẽ được chia cho những người có công chỉ huy công tác “bảo vệ an ninh và quyền lợi cho bà con” trong cuộc hành quân kiểm tra sáng nay.

Ðúng như tên Thiếu tá Cộng-Sản đã tuyên bố, “bộ đội không tơ hào đến tài sản của nhân dân!”

Chứng cớ là bao, bì, khiên, cuốc, xẻng, đòn, đồ nghề khai mỏ vẫn nằm yên chỗ cũ, có ai đụng tới đâu? Chúng chỉ hớt tay trên miếng ăn của những kẻ đói khổ nhất trần đời. Trong rừng chiều, tôi nghe đây đó vang vọng tiếng khóc than, tiếng nguyền rủa của những nạn nhân vừa bị cướp.

Chiều đầu mùa Hạ 1989, nắng vàng lóng lánh trên những đọt lá giữa rừng già. Trời quang và mây tạnh, nhưng trong lòng tôi cảm thấy lạnh lẽo vô cùng, lạnh hơn là khi trời đang mưa đá trên miếu Thần Hổ, Ðà-Lạt ngày nào.

Quán cô Nghĩa lại vang lên một bài ca xưa, nhưng giọng ca rất lạ, cuộn cassette được lén gởi về từ bên kia nửa vòng trái đất:

“Một ngày tàn chinh chiến ấy,

chim đã xa bầy…

Một ngày tả tơi hoa lá,

ngóng trông về xa,

nhớ thương hình bóng qua…”

VML-k20

Seattle, WA.

Kẻ săn vàng

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted 20 Jul 2019

Post by Sơn râu 26 Jun 2024

Google photos

Kỳ trước: Có chừng 5 ngàn người là ít. Họ đến từ Móng-Cái, từ Tuyên-Quang, họ nói tiếng Nùng, tiếng Tày. Họ đến từ miền Trung, giọng Quảng, giọng Huế. Họ đến từ Cà-Mau, họ chuyện trò với nhau bằng tiếng Miên… 

Kỳ 2

Mặt trời hừng hực tháng Năm. Dòng nước đầu nguồn trôi xuôi, càng về cuối nguồn càng đục. Dòng nước thành màu cà phê sữa đặc.

Người ta lội tới mắt cá, bắp chân, đầu gối. Tay khiên chao nhanh, mắt không rời những hạt vàng óng ánh trong đáy khiên. Lượng cát óng ánh nhiều hay ít là niềm vui, là nỗi thất vọng.

Ðủ loại người tìm sống nơi chiến trường xưa, trên con suối đục ngầu đất đỏ. Những tiếng hát cất cao, ngây ngô, giọng Bắc, Trung, Nam chen lẫn nhau. Những giọt mồ hôi đọng trên trán, trên má những khuôn mặt cháy nắng sạm khô. Những tiếng cười vô tư bên những tiếng thở dài chán chường…
Tới cuối đồi, tôi ngừng bên những giếng vàng cũ. Dăm em bé gái trai, tuổi cỡ lên chín, lên mười, thân mình gầy guộc đang chuyền từng gàu đất xái chúng mót được lên mặt đất.

Tôi tò mò hỏi,

-Có khá không các em?

Một bé gái trả lời,

-Tụi con mót cả ngày không đủ ăn chú ơi! Họ ‘cạo’ láng quá! ‘bợn’ còn ít lắm chú à!

Tôi xoa đầu bé cảm thông. Thương cho bé, mới tí tuổi đầu đã vất vả vì đời.

Tôi theo cái thang dây xuống thám hiểm vùng đất thế giới của Diêm-Vương. Sâu hai, ba chục thước dưới lòng đất, ở tầng quặng mỏ, vách ngăn giữa các giếng được đánh thông để lấy xái. Lớp đất sét có quặng chỉ dày chừng ba, bốn thước.

Tôi đứng giữa một căn hầm rộng mênh mông. Mặt đất dưới chân tôi bị cạo sạch sành sanh. Trên trần là lớp đất sét trộn đá dăm, dưới nền cũng là đất sét pha đá dăm. Không khí dưới đáy giếng lạnh lẽo vô cùng. Ánh sáng mặt trời từ trên cao theo những lỗ giếng chiếu xuống đáy như những ngọn đèn pin trắng.

Ngửa mặt nhìn lên, chỉ thấy một khoanh trời xanh xa tít, lâu lâu bay qua vài sợi mây trắng.

Những em bé đang mót xái cách tôi không xa, vậy mà tôi không nghe được tiếng chúng nói chuyện. Xái dưới chân không còn. Chúng dùng xẻng đâm ngược lên tầng vách đất trên đầu, hy vọng tìm được những cục quặng vàng lẫn trong đất đá trên trần hầm.

Những bé con đang tìm miếng cơm dưới chân Thần Chết! Có lúc đất đá sụp từng khối trên đầu chúng khiến bọn nhỏ hoảng sợ chạy vội ra xa. Chờ vài giây, chúng trở lại bới vét đống đá tìm những cục xái còn sót, gom thành từng cụm rồi chuyển vận lên mặt đất.

Tranh Bảo Huân

Khi bọn nhỏ đi khỏi, căn hầm im lặng như tờ, không cả tiếng côn trùng. Tôi chợt nghĩ, chỉ cần một chấn động nhỏ trên mặt đất là cả khu rừng nặng hàng triệu tấn trên kia sẽ đổ sụp xuống, lấp kín căn phòng khổng lồ này trong giây phút.

Tôi đảo người quan sát một vòng, tôi có cảm tưởng như đang đứng dưới một bầu trời đầy mây đen kịt mênh mông.

Ðất dưới chân tôi bốc hơi lành lạnh. Tôi thấy hai ống chân mình có vẻ như muốn mềm nhũn từ từ. Quanh tôi không có ai. Quanh tôi im lặng quá. Tôi chợt rùng mình. Tôi tìm sợi dây thang, vội vàng leo nhanh lên miệng giếng.

Mặt trời xế bóng, có ba người đàn ông đeo mỗi người một cái túi đựng đầy hàng hóa bên hông. Họ đang đứng trước lều của ông Bác sĩ An hỏi han điều gì đó.

Tôi thấy Bác sĩ An và họ nói chuyện với nhau bằng tay, miệng bốn người xí xô om sòm.

Khi tới gần tôi nhận ra ba người lạ là người Thái-Lan. Họ nói chuyện bằng Anh Ngữ, họ hỏi xem có ai biết tiếng Anh thì giúp việc cho họ bán những cái poncho line hoa hòe. Họ sẽ trả công mười lăm nghìn một ngày.

Thấy không có ai lãnh việc này, tôi tình nguyện làm việc với họ. Giao kèo chỉ có một ngày thôi vì ngày kia tôi đã bắt đầu một giếng mới không thể đi theo họ được.

Sáng hôm sau tôi nhận tiền thù lao trước, làm việc thông ngôn sau. Ngày hôm ấy chúng tôi đã đi qua hết cái diện tích của mỏ vàng Hiếu-Liêm, từ đầu dốc Cậu Linh cho tới triền đồi hướng Tây, nơi những cây nọc phân khu mới đóng ranh. Giấy phép khai thác khu đất này chưa được phổ biến.

Chúng tôi la cà từ giếng này sang giếng khác. Tôi thông dịch chuyện mua bán thì ít, mà thông dịch những câu hỏi về thời thế, gia cảnh của dân mõi xái thì nhiều.

Những người Thái có vẻ thích nghe chuyện lạ bốn phương hơn là việc mời chào khách hàng.

Người Thái-Lan lớn tuổi nhất cẩn thận ghi chép những điều ông ta nghe được vào quyển sổ tay dày.

Lâu lâu ông lại giở ba lô lấy cái máy ảnh nhỏ chụp hình hoạt cảnh đang diễn ra trên khu khai thác mỏ.

Ði từ sáng tới chiều chúng tôi chỉ bán được vài cái mền. Ban đêm ở đây cũng lạnh lắm, nhưng những kẻ đào vàng khốn khổ như chúng tôi thì đâu có thời giờ để ngủ mà cần tới mền?

Trước khi chia tay chiều hôm ấy, tôi chỉ dẫn cho những người Thái thương buôn con đường lên cao nguyên để bán chăn nylon. Họ có vẻ không thiết tha lắm với việc lên Ðà-Lạt rao hàng.
Hỏi ra, tôi được biết người cao niên nhất trong bọn họ là một cựu chiến binh thuộc Sư đoàn Mãng-Xà Vương của Quân đội Hoàng-Gia Thái-Lan, một đơn vị đồng minh đã có lần hiện diện ở Long-Thành thời chiến tranh.

Chuyến đi này của ông không có chủ đích buôn bán, mà chỉ mượn cớ về thăm nơi chiến trường xưa thời tuổi trẻ.

Ông ta đang trên đường tìm hứng để viết lại hồi ký đời ông. Ông ta hy vọng thiên hồi ký này có thể đem về một số tiền nhuận bút lớn lao, đủ cho ông sống dưỡng già.

Tôi không thiết tha lắm với đám người này, vì tôi vào lại chiến trường xưa chỉ với mục đích tìm gạo sống qua ngày, tôi không có gì hứng thú với việc trở về rừng tìm ý viết văn như họ. Chiều ấy chúng tôi chia tay.
Tôi về tới lều thì thằng Út kể cho tôi nghe chuyện chị bán nhang đèn bị cướp.

Chiều qua trên đường về nhà chị bị phục kích giữa rừng.

Lúc chiếc Honda hai bánh của chị đổ dốc thì kẻ gian đã giựt một sợi dây dù căng ngang con đường xe be vừa hẹp vừa rậm rạp. Chiếc xe bổ nhào.

Từ bìa rừng, hai người đàn ông bịt mặt bằng áo thun đen ào ra lôi chị và chiếc xe vào sâu trong bụi lau. Chúng trói chị lại, nhét giẻ vào miệng chị, lột hết nhẫn, vòng, kiềng, cà rá và cả đôi bông tai vàng của chị.

Chúng vứt chị nằm trên đám cỏ lác cho kiến tha, rồi leo lên xe Honda của chị nổ máy chạy đi mất tiêu.

Chị hì hục suốt đêm mới tự cởi trói được. Chị lết ra tới giữa đường nằm chờ người đến cứu.

Gần sáng, có mấy tay bảo tiêu có súng, sau khi chuyển xái về nhà thân chủ, trên đường trở lại rừng, họ thấy chị nằm giữa đường bèn cứu chị về bãi.

Chuyện chị nhang đèn bị cướp chắc cũng được truyền khẩu trong dân gian vùng mỏ này được vài ngày. Ngày sau, tuần sau người ta lại quên chuyện ấy thôi.

Ở đây, mỗi ngày xảy ra cả trăm vụ lộn xộn. Ðủ thứ chuyện tào lao. Tôi nghe tụi nhỏ kể lại, tôi cũng chỉ ậm ừ cho qua! Chẳng hứng thú tìm hiểu thêm làm gì.

Ðụng độ trong cái chợ trời này là chuyện thường ngày. Qua đường, vô ý chạm vai một yêng hùng, nếu không có lời xin lỗi kịp thời có thể gây nên cảnh sứt đầu lỗ trán. Vô tình ném cái tàn thuốc lá trước mặt một tay chơi cũng là hành động châm ngòi cho một cuộc chiến tranh. Ngoài ra, còn cả ngàn nguyên nhân gây ra ẩu đả. Ðánh nhau vì gái, vì cờ bạc, vì chia chác phần hùn, vì mõi xái lấn lằn ranh, và vì vân vân…

Cái khó bó cái khôn, cái khổ làm con người dễ dàng nổi khùng, rồi trút cái khùng ấy lên đầu đồng loại.

Một hôm, tôi vừa đổ gầu đất xuống bờ suối, quay lưng định trở về giếng làm chuyến kế tiếp thì nghe có tiếng đàn ông quát tháo:

“Mày không nộp hết túi vàng cục đó cho tao thì tao vặn họng mày!”

Tò mò, tôi dừng lại quan sát.

Bên bờ suối, một hảo hán to lớn đang kẹp cổ một cô gái cỡ mười bốn mười lăm tuổi. Tay anh ta lần mò trước ngực cô giành giựt cái gì đó.

Cô gái vừa cố ôm chặt cái túi áo vừa khóc lóc:

“Em lạy anh, vốn liếng đào đãi cả tháng nay, em chỉ có ba chỉ. Mẹ em đang bịnh nặng chờ ở nhà. Anh mà lấy hết thì em không còn tiền thuốc thang cho mẹ em. Mẹ em chết mất! Em lạy anh ngàn lạy. Em làm đứt dây lều của anh, em đã thay bằng dây dù loại xịn đền cho anh rồi. Anh tha cho em, anh ơi! Hu!..hu!…hu!…”

Người đàn ông nắm tóc cô gái mà quay, hắn nghiến răng:

“Tổ mẹ mày! Dây lều của tao, mày phải đền bằng thứ dây ‘gin’. Tao không chịu cái thứ dây dù đó. Ở đây cái gì cũng tính bằng vàng. Không đền tao giết!”

Vừa nói hắn vừa đấm đá túi bụi vào ngực, vào mình cô gái đáng thương

Cuối cùng, hắn chộp được cái túi nylon giấu trong áo ngực của cô gái. Người thanh niên bỏ bao vàng vào túi rồi buông cô bé ra.

Cô bé mặt mũi đầy máu, ôm lấy chân anh thanh niên, nắm chặt vạt áo hắn, cô cố gắng giựt lại cái túi nylon.

Người đàn ông liên tiếp đấm đá cô gái. Hắn tìm đủ mọi cách thoát khỏi bàn tay cô gái. Cuối cùng hắn quật cô bé lăn quay ra đất rồi nhổm mình định chạy đi.

Cô gái vội nhào vào ôm chặt chân chàng hảo hán, miệng cô không ngớt gào la thống thiết:

“Bà con cô bác ơi! Cứu con! Người ta ăn cướp vàng của con. Ăn cướp! bà con ơi!”

Thấy tôi đứng nhìn, cô bé cầu cứu,

– Chú ơi! Cứu con với! Anh này cướp vàng của con chú ơi!

Tôi chưa biết tính sao, thì tay hảo hán đã hăm he,

– Này! Ðừng có dính vào nghe cha! Coi chừng lỗ mũi ăn trầu đó!

Tôi xua tay, nhẹ giọng,

–Chuyện đâu còn đó. Anh cứ thủng thẳng mà giải quyết. Sao lại nặng tay với phụ nữ như thế, ngó sao được.

Nghe vậy, người thanh niên nộ khí xung thiên,

– Ð.M! Mày có phải ông nội tao không mà lên mặt dạy khôn tao? Tao uýnh chết mẹ mày bây giờ!

Ðúng là cái ách giữa đàng! Tôi phân bua với những người đồng cảnh đang đãi xái dưới suối,

-Bà con nghe có được không? Tôi thấy đàn ông ăn hiếp đàn bà thì tôi có ý kiến. Anh này hàm hồ, hỗn hào như vậy thì bà con tính sao?

Bà con chưa nói gì thì anh hảo hán đã dấn cho tôi một bạt tai khiến mắt tôi nổ đom đóm. Anh co cẳng bồi thêm một cái đạp ngay hông tôi; tôi té bò càng bên bờ suối. Tôi vừa lồm cồm bò dậy lại bị thêm một cái tát ngay má phải.

Thế là, tôi chẳng còn nghĩ hơn thiệt, phải trái gì nữa. Tai tôi đã ù, mắt tôi đã đổ lửa.

Tôi không kìm được tiếng rú man rợ thoát ra từ miệng mình:

“A! …A!…A!…!!!”

Tôi hất đôi quang gióng xuống đất. Cái đòn gánh trở thành cây côn. Cái đầu côn thốc lên một đòn rất nhuyễn và thuần thục.

Bài côn Bình-Ðịnh do một võ sư xuất thân từ quê quán của vua Quang-Trung truyền dạy cho tôi ở Pleiku thời 1966-67 đã bị bỏ quên nhiều năm, nay được đem ra thi thố giữa rừng xanh.

Mũi côn vừa thọc trúng hàm đối phương thì tôi tự động hạ người xuống thấp, tay tôi xoay cây côn một vòng trên đầu lấy đà…

“Vèo!”

Cây côn chúc xuống quét sát mặt đất, cắt ngang ống quyển tên thảo khấu.

Bị liên tiếp hai đòn chí tử, chàng hảo hán quỵ gối xuống.

Phát côn thứ ba, bổ xuống từ trên cao trúng vai anh ta, kết thúc bài học vỡ lòng “Tam Côn Khai Môn”

Ðó là bài đầu trong ba mươi sáu bài “Ðoạt Mệnh Côn” Bình-Ðịnh, bài nào cũng kết thúc bằng một thế sát thủ.

Theo đúng bài bản, thì phát bổ xuống phải nhắm ngay đỉnh đầu địch thủ, nhưng tôi chợt hồi tâm, nhích tay cho nó chệch sang bên, dù sao thì anh ta cũng không phải là một tên lính Mãn-Thanh!

Lúc này vị hung tinh rũ người xuống như cọng bún.

Tôi bước lên một bước, tay phải vặn ngược tay trái anh ta ra đàng sau. Anh đang cố gượng đứng lên, nhưng đành tự động quỳ xuống, khi tôi xoay tay anh một vòng chín chục độ theo chiều kim đồng hồ.

Mặt anh nhăn nhúm vì đau. Mồ hôi anh chảy ròng xuống má.

Tôi nghe anh ta rên “Ư! ư! ư!”  trong họng.

Bà con tụ tập kín xung quanh la ó như cái chợ:

“Ðánh chết mẹ nó đi! Ðồ ăn cướp!”

Tôi móc túi anh lấy cái túi nylon đựng mấy cục vàng ròng đưa cho cô bé.

Cô bé vội vã bỏ vàng vào túi, miệng lúng búng,

– Cám ơn chú!

Rồi cô ta cắm đầu vụt chạy về hướng dốc cậu Linh khuất bóng.

Ðợi cho cô bé chạy đã xa, tôi mới buông tay anh thanh niên ra.

Tôi đẩy nhẹ, anh ta ngã chúi về phía trước.

Tôi chống một đầu đòn gánh sát mũi chân phải. Bàn chân phải sẵn sàng hất cái đòn gánh lên cao phòng hờ một đòn phản ứng cấp thời.

Nhưng anh thanh niên không còn hung hăng nữa. Anh lết mình trên cát như con chó đánh hơi thấy mùi cọp. Anh ta gắng lết cho xa đầu ngọn côn. Anh ngước nhìn tôi, đôi mắt đã mất hết thần sắc. Anh quơ tay, lượm vội đôi dép râu Trường-Sơn rồi ù té chạy về phía con dốc hướng Tây, nơi đầu nguồn con suối.

Tôi đứng nhìn theo bóng anh ta, lòng chùng xuống, man mác buồn. Tôi tự cảm thương cho cái thân tôi! Cạn ao, bèo xuống đất, tôi đang tranh sống trong một thế giới không luật pháp, không cả tình người. Ðâu có ngờ, cuộc đời tôi lại có ngày bị đẩy đưa đến cái khúc quanh thê thảm này!

Năm 1988 ra khỏi cái nhà tù con, tôi lại cùng những người khốn khổ nhất của đất nước này tranh sống trong một nhà tù lớn.

Ðấy! Cuộc sống của dân “Gold-seeker” (người đi tìm vàng) miền Nam vào thời 88-90 đại để là như thế đấy! Muốn nghĩ rằng nó nên thơ, thì nó nên thơ. Nếu cho rằng nó thảm sầu, thì quả thực nó quá thảm sầu. Thời gian thì cứ trôi. Mặt trời lặn rồi lại mọc. Ngày nào cũng là quá dài, đối với những kiếp người sống đọa đày trầm luân trong tăm tối, không tương lai.

Tôi nghĩ đến thân phận mình và đồng bào mình. Chỉ vì cái ngày Ba Mươi tháng Tư năm ấy, chúng tôi đã đánh mất đất nước, mà cả đất nước tôi thành một trại tù khổng lồ.

Chúng tôi khởi công đào giếng vàng thứ nhì vào một buổi sáng trời u ám lất phất mưa rơi. Mặt trời bị mây che kín mà rừng già thì tối om.

Tôi gắng chuyền nhanh từng gầu đất, nặng như những gầu bùn khi đi tát ruộng đào ao thời còn lao động khổ sai trong trại cải tạo Nam-Hà A, Z30C, hay Z30D.

Mồ hôi che mờ con mắt. Mồ hôi chảy ròng ròng xuống má, qua cằm, xuống ngực. Mồ hôi làm nóng lớp da bụng. Mồ hôi chảy xuống ướt cả cạp quần.

Ðúng Ngọ, gió chợt ngừng, tôi nghe như có ai đó vãi từng đợt đá sỏi trên tàn cây cao. Mưa đá! Những cục nước đá nhỏ bằng hạt ngô nhảy tưng tưng từ đọt lá này xuống đọt lá khác, rơi vãi trên nền đất mới. Thoáng chốc, mặt đất đã trắng xóa vì mưa đá. Hạt mưa đá lớn dần, bằng hạt đậu, bằng trứng cút, rồi bằng trứng gà.

Trời tối thui, và nhiệt độ hạ rất nhanh. Da bàn tay tôi săn lại vì lạnh. Những vết vân tay nổi rõ lên màu bạc nhợt nhạt. Tôi thấy gai ốc nổi cùng người. Tôi cảm như bầu trời là một tảng băng khổng lồ đen kịt đang phà khí lạnh xuống những tàn cây trên đầu. Ôi! Sao trời lạnh thế! Giữa trưa, tháng Năm…

Trên đồi, những dòng nước bắt đầu len lách quanh gốc cây. Những dòng nước đỏ ngầu tìm đường xuống dốc. Nước bắt đầu đổ ào ào vào miệng giếng đang đào.

Tôi cho quân tạm nghỉ. Chúng tôi dùng một tấm vải nhựa che trên miệng giếng.

Khi ba đứa nhỏ đã leo lên khỏi miệng giếng chui vào lều, tôi mới theo chân chúng ngồi bó gối nơi cửa ra vô. Tôi mồi một điếu thuốc Cửu-Long, nhìn những hạt mưa đá lăn trên mặt đất, nghĩ ngợi mông lung…

Nhớ chuyện cũ, ở chân núi hướng Ðông của ngọn Lap Bé Nord, Ðà-Lạt, một ngày đầu Hạ năm 1965, cũng có trận mưa đá bất chợt như hôm nay. Những viên nước đá to như quả trứng gà vãi trên tàn thông năm lá, rồi lăn tưng tưng trên nền cỏ, bên miếu Thần-Hổ, trời lạnh quá, giữa trưa, tháng Năm…

Một thằng bạn sinh viên sĩ quan cùng đại đội còn điếu Oakland cuối cùng, chuyền tay nhau năm đứa. Khói thuốc ngọt như mật. Ðiếu thuốc được chuyền nhanh qua những ngón tay ướt và trắng bệch vì lạnh. Hình như hôm ấy không một sợi khói nào kịp bay thoát trong không trung. Khói thuốc chui vào buồng phổi tuổi trẻ. Những lá phổi còn trẻ khỏe đầy sức sống. Những lá phổi hút từng ngụm khói thuốc gọn gàng dứt khoát, như tấm giấy thấm loại thượng hạng ép trên giọt mực tím rơi trên giấy trắng học trò ngày thơ ngây tiểu học.

Ðiếu Oakland qua tay năm chàng tuổi trẻ, Sinh viên Sĩ quan Khóa 20 Ðà-Lạt. Trời lạnh quá! Khói thuốc chưa kịp bay thì điếu thuốc đã tàn…

Ngày ấy, sau cơn mưa, chúng tôi tiếp tục bài chiến thuật “Tiểu Ðoàn Phản Phục Kích” trên đoạn cua chữ “U” bên đồi 1441 đất đỏ, thông xanh. Con đường uốn khúc quanh co. Những anh lính “Kà” giả địch giấu mình dưới bụi sim hoa tím, lúc nào cũng chuẩn bị câu:

“Tôi đầu hàng rồi! Ðừng bắn nữa ông Thiếu úy ơi!”

Khi chúng tôi oai dũng tiến về phía họ ẩn nấp, sau một pha xung phong phản phục kích tuyệt vời qua màn khói đỏ, khói vàng, khói trắng, khói tím, khói xanh, và khói… đạn mã tử!

Rồi Ðại úy Mỹ phê bình trận đánh một cách tổng quát. Rồi Trung úy Ðức rút ưu khuyết điểm. Cứ thế, hai năm dài, lặp đi, lặp lại. Những bài lý thuyết với những trường hợp xử trí, những câu giải đáp a, b, c khoanh. Những buổi thực hành trên đồi thông Ðà-Lạt, đương đầu với địch giả, trong màn khói đạn mã tử. Những buổi dạ hành, xuyên đêm. Những chuyến di chuyển địa hình tìm cọc mốc dưới trăng. Những phiên gác đêm Ðông sương mù lạnh lẽo trên đồi Bắc.

Tất cả những kinh nghiệm tự tin đó đã gom góp lại làm vốn liếng hành trang cho những người trẻ tuổi lớn dần, rồi trưởng thành, vững tâm đi vào chiến trường.

Kẻ săn vàng

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted 13 July 2019

Post by Sơn râu 26 Jun 2024

Google photos

Kỳ 1

Một chiều đầu mùa Hè 1989, bên bờ hồ đập thủy điện Trị-An, gió nhẹ và mây quang, mặt hồ gợn sóng, tôi ngồi hàn huyên cùng một ông bạn già cựu hạ sĩ quan Lực Lượng Ðặc Biệt của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.

Chúng tôi ngồi nhâm nhi đôi ba chung. Rượu vào lời ra, ông ta biết tôi đã từng đơn thương độc mã vào rừng đào vàng, đào thiếc kiếm cơm trên mỏ vàng Suối-Nho, Gia-Kiệm, mỏ vàng K3, Ðơn-Dương và mỏ thiếc Nắp-Bắc (Lap Bé Nord) Ðà-Lạt.

Thế là, tối hôm ấy thằng Hai Thanh, con trai lớn của ông bạn tôi, bái tôi làm thầy, nó đề nghị tôi quy tụ và chỉ huy một “mũi” (tổ làm việc) đi kiếm “xái” (quặng mỏ) trong rừng Hiếu-Liêm.

Tôi đang lúc thất nghiệp, nên nhận lời làm đầu lãnh một mũi gồm hai anh thanh niên trốn nghĩa vụ quân sự là Thanh và Hòa, bạn của Thanh, và một cậu bé mười lăm tuổi, là thằng Út, em của Thanh.

Vì tình trạng trộm cắp nơi mỏ vàng, với sự hiện diện của hàng trăm tay chơi anh chị tứ chiếng đủ loại, tôi phải gởi cái bóp giấy tờ tùy thân tại nhà ông bạn già.

Lý lịch của tôi được giấu. Trong chuyến đi này bọn bộ hạ gọi tôi là Bác Hai, đôi khi chúng gọi tôi là Bác Hai Bắc-Kỳ.

Thằng Ba Chiến, em của thằng Hai Thanh, đang chạy xe thồ và bạn thồ của nó sẽ lo việc chuyển vận chúng tôi vào vùng mỏ. Chúng tôi trang bị hai chỉ vàng rồi lên đường vào Hiếu- Liêm một sớm mai rực rỡ nắng Hè.

Trong những lần “ra quân” trước đây ở Suối-Nho, Ðơn-Dương, Nắp-Bắc, tôi thấy những khu vực khai mỏ đều được xem như “vùng oanh kích tự do” của dân kiếm xái. Chúng tôi đến, đi, chặt rừng, đào núi, lọc quặng, khai mương, ngăn suối, chẳng ai đòi hỏi giấy tờ khai báo phép tắc rườm rà.

Lần này chúng tôi cũng được tự do đi về không ai cấm cản, duy có việc chặt rừng, phá núi phải cần một cái giấy phép khai thác rừng của Ủy Ban Nhân Dân xã Hiếu-Liêm, tỉnh Ðồng Nai.

Lệ phí chính thức cho một tờ giấy phép chỉ có năm ngàn. Nhưng phải chờ hai, ba tháng sau đơn xin mới được chấp thuận. Trong khi đó giấy phép tuôn ra bên cửa hông thì chỉ một buổi hay một ngày là có kết quả, giá “chui” hơi đắt một chút, hai phân vàng!

Tờ giấy phép của Ủy Ban Nhân Dân xã chỉ có mấy dòng:

“Cấp cho đương sự quyền khai thác diện tích 10 mét x 10 mét trong rừng Hiếu-Liêm trong thời hạn 30 ngày.” 

Mỏ vàng Hiếu-Liêm cách đập Trị-An, Biên-Hoà khoảng hai giờ xe thồ, nằm trong một khu rừng nhiệt đới đất đỏ, cây cao, tàn rộng. Nơi này ngày xưa là phần địa đầu Chiến khu D của Việt Cộng. Ðường lên dốc, xuống đồi quanh co.

Ngày chúng tôi lên đường trời trong, gió nhẹ. Trên không có những cánh diều hâu bay lượn vòng vòng. Những con ve sầu đã bắt đầu rả rích bài ca mùa Hạ. Tiếng ve rên rỉ được giữ nhịp bằng tiếng “lốc cốc!” của chim gõ mõ từ trên thân cây bằng lăng mốc thếch. Ðàn sẻ rừng ríu rít trong đám cỏ non. Bọn chích choè, chèo bẻo đang xòe đuôi, chí choé chuyền cành đuổi nhau. Trong rừng sâu âm u, vẳng lại tiếng róc rách suối rừng ngọt ngào.

Tiết tháng Năm, hai bên đường hoa khoe sắc. Bướm đủ màu bay lượn chập chờn trên hoa. Ðường càng lên dốc càng hẹp dần, hương rừng càng ngất ngây. Chỉ cần đưa tay, tôi đã vớt được một cành hoa rực rỡ bên vách núi. Tôi cảm thấy mình đang lạc vào nơi thiên đường bừng bừng sức sống.

Ngồi sau lưng thằng Chiến trên yên xe thồ, lòng tôi phơi phới. Miền Nam đang trong mùa hoa nở. Quê hương yêu kiều rực rỡ.

Quê hương ta đẹp quá! Lâu lắm rồi tôi mới có cảm giác về vẻ đẹp của quê hương. Tôi hát nho nhỏ một mình nghe, câu ca cũ: “Hoa vẫn nở trên đường quê hương. Ôi! quê hương ta đó!”

Trước khi tới khu khai thác, chúng tôi phải xuống xe vượt bộ qua một cái dốc khá cao. Trời chợt đổ mưa, đường dốc, trơn trượt, phải mất cả nửa giờ chúng tôi mới lên tới đỉnh dốc.

Nơi đỉnh dốc, thằng Thanh chỉ cho tôi thấy một nấm đất to như cái lô cốt và gọi đó là mả cậu Linh. Có vài người đang thì thụp khấn vái trước mả ra chiều thành khẩn lắm. Hoa quả, vàng mã, chất đầy mặt đất, mà đèn nhang thì nghi ngút mịt mù.

Thanh giải thích rằng hiện tượng này mới có cách đây chừng một tháng thôi. Số là một hôm có cậu bé 16 tuổi “trúng mạch” được cả chục cây.

Bạn cùng mũi với cậu ra về ngay sau khi chia chác.

Cậu còn nấn ná đãi đằng bạn bè vài ngày sau mới dứt áo ra đi.

Giàu rồi, cậu không hẹn trở lại.

Cậu ôm vàng trước bụng và thuê riêng một chuyến thồ về Biên-Hòa vào buổi chiều mưa to gió lớn.

Mấy ngày sau, đội xe thồ không thấy anh bạn thồ trở lại. Trên đỉnh dốc có mùi thối bay xa. Người ta tìm thấy xác cậu bé chết rữa trong rừng, ruột gan bị heo rừng moi ra ăn lê lết trên mặt đất, mùi thịt thối nồng nặc cả một khu.

Cậu bé bị trấn lột, hạ sát, thủ phạm là anh bạn thồ.

Dân kiếm xái thương tình đồng nghiệp nên đã lấp lớp đất mỏng che tấm thân lạnh lẽo của cậu bé đào vàng vắn số.

Vài ngày sau mối đất ùn lên khiến cho mộ cậu bé thành một ụ đất khổng lồ trong rừng. Khách qua đường ghé thắp nén nhang cầu cho hương hồn cậu sớm phiêu diêu…

Người ta đồn với nhau rằng cậu linh thiêng lắm! Ai có thắp nhang, cúng quảy, khấn vái cậu, đều được cậu phù hộ mau trúng mạch, khấm khá ra về.

Rồi người ta gọi cậu là cậu Linh. Vì thế cái mả ấy có cái tên là “Mả Cậu Linh.”

Từ dạo ấy, con đường qua dốc đổi hướng, tạt sang bên trái đỉnh dốc vài chục mét để người qua đường tiện ghé thắp nhang vái cậu Linh xin phù hộ độ trì. Một chị bán quán ngoài xã, đã bỏ xã, bỏ quán, vào đây bán nhang đèn, hương hoa, ngay dưới dốc. Chẳng mấy chốc chị phất to, cổ có kiềng vàng, chuyền vàng, tay có nhẫn vàng, vòng vàng.

Ở cái mỏ vàng Hiếu-Liêm này mỗi ngày tôi khám phá thêm một điều mới lạ. Mới dẫn “quân” vào vùng được một vài giờ, ăn xong bữa cơm, uống xong bát nước chè tươi, tôi đã thấy ruột mình sôi lên “Rột!.. rột!…”  rồi thì bụng quặn đau, đi cầu. Ði cầu xong vừa về tới lều, bụng lại lâm râm, lâm râm đau.

Thằng cu Hòa dẫn tôi đi gặp ông Bác sĩ An để xin thuốc.

Ông bác sĩ đóng đô bên bờ suối, trong một chiếc chòi tranh.

Trước chòi treo một cái biển gỗ cỡ 20 x 40 cm, nền xanh, chữ trắng, “Phòng Mạch Bác Sĩ An”.

Cái chòi của Bác sĩ An có hai gian, gian ngoài là nơi hành nghề y khoa, vỏn vẹn chỉ có một cái chõng tre trên để một cái rương gỗ chứa thuốc men, bông, băng, alcohol, thuốc tím, thuốc đỏ.

Ngăn trong là tư thất của vợ chồng ông, với một cái giường tre, một cái bàn tre đặt cạnh cái bếp làm bằng ba cục đá suối xếp châu đầu thành ông Táo.

Bếp nhà Bác sĩ An lúc nào cũng khói lửa nghi ngút, nồi nước nấu kim chích sôi “O!o!…o!…”  suốt ngày.

Tụi nhỏ truyền khẩu với nhau, nào là bác sĩ rất giỏi, bệnh gì ổng cũng rành, cũng trị được dứt nọc.

Thêm vào đó, nếu bệnh nhân là dân đào xái bị ngã bịnh trước khi chạm xái, bác sĩ cho nợ tiền công và tiền thuốc cho đến khi xái đã lọc xong thành vàng.

Bệnh nhân con nợ có thể trả công Bác sĩ An bằng vàng hay tiền cũng được.

Nếu anh nào “mo” thì ông chữa thuốc thí công, (mort= là chết, tiếng Pháp, có ý nói thất bại).

Ông An là người sinh ra ở quê hương của “Bác” nên giọng nói của ông nặng lắm.

Năm tôi có cơ duyên gặp ông nơi rừng thiêng nước độc này thì ông đã ở tuổi trên năm mươi. Bà vợ của bác sĩ lại là người miền Nam, còn rất trẻ và trông thật hiền hậu.

Sau vài câu xã giao, Bác sĩ An nhận ra tôi là người Bắc, ông liền vồn vã hỏi han huyên thuyên,

– Này đằng ý ơi! Nhìn cái phong thái của đằng ý, tớ đoán chắc rằng đằng ý không phải tay xoàng. Bộ “bảng đỏ” (bỏ Ðảng) hả? Vô Nam lâu chưa? Gia đình vợ con ra răng? Bởi lý do chi mà đằng ý phải đày đọa như ri? Tớ cũng là dân “bảng đỏ” đây! Anh hùng mấy khi gặp gỡ. Ngồi đây tâm sự với nhau chơi, đừng ngại!

Ông bác sĩ bỏ Ðảng đâu có biết rằng người đứng trước mặt ông lại là một cựu sĩ quan Tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa vừa mới được thả ra từ trại tù cải tạo!

Phần thì đang bị đau bụng tháo dạ, phần thì e ngại buổi sơ giao, tôi chỉ ậm ừ cho qua câu chuyện.

Sau khi cặp nhiệt, Bác sĩ An hỏi tôi rất kỹ về dạng phân, triệu chứng. Ông nói rằng tôi là một trong số ít người có cơ thể nhạy cảm với đồ ăn thức uống có hàm lượng kiềm cao. Tại các mỏ vàng, nước giếng, nước suối có chứa hàm lượng kiềm rất cao (?) Nước suối ở đây uống hơi chát. Nếu pha trà thì nước trà cũng có màu xám xịt.

Nước uống chính là nguyên nhân gây ra cái bệnh đường ruột của tôi. Muốn tránh, tôi chỉ cần ngưng uống nước trong khu này thôi, không phải dùng thuốc thang gì cả bệnh sẽ tự nó chấm dứt.

Nghe theo lời chỉ dẫn của ông bác sĩ, đêm đó tôi uống nước ngọt loại chứa trong bình hai lít thay cho nước trà. Sáng hôm sau tôi hết bị Tào Tháo rượt.

Thế là, cứ vài ngày thằng Chiến lại thồ vào cho Bác Hai một bình nhựa 20 lít nước suối lấy từ ngoài xã.

Tuy xa thành phố, nhưng trong khu mỏ vàng Hiếu-Liêm này không thiếu thứ gì, từ nước ngọt, bia, rượu, thuốc lá, bánh kẹo, tới rau cỏ, thịt cá, kể cả dụng cụ đào vàng như xẻng, khiên, xà beng, cuốc chim, thuốc nổ C4 dùng phá đá, và thủy ngân để tách vàng khỏi các kim loại khác.

Có cả chục cái quán cóc cung ứng đủ mọi mặt hàng nhu yếu cho dân đào vàng. Thậm chí khi bạn trúng lớn, cần có vũ khí để áp tải số vàng kiếm được về nơi an toàn, bạn cần thuê vài khẩu K54, AK 47, bạn cứ hỏi quán cô Nghĩa là có ngay.

Bất cứ “mũi” nào có “bãi” đều có thể mở một trang trong sổ nợ của cô Nghĩa.

“Mũi” là một tổ làm việc, quân số tùy nghi. Có mũi quân số đông cả chục người, khai thác hai ba giếng. Có mũi chỉ có hai cha con của một gia đình.

“Bãi” là một khoảnh đất vuông mỗi chiều mười mét không hơn không kém. Muốn có bãi thì dân lùng xái phải “đăng ký” với xã. Thủ tục “đăng ký” thì như tôi đã tả ở phần trên: hai phân vàng. Thời buổi này cái gì cũng chi bằng phân, bằng chỉ.

Vào tới vùng hành sự, tôi mới phát giác ra rằng chẳng cần ghé văn phòng xã xin giấy đăng ký cho phí thời giờ, mua trao tay tại hiện trường một cái giấy phép với con mộc đỏ chói cũng chỉ ba, bốn phân là cao.

Ngay khi chúng tôi vừa hoàn tất công việc phát quang cái bãi mà tôi đã chọn thì một người đàn bà trung niên, giọng nói rặt Bắc-Kỳ 75 tới tìm tôi để ký giao kèo tiếp tế.

Từ gạo, thịt, mắm, muối, kem đánh răng, khăn mặt, xà bông cho tới cái lều vải tiểu đội cho bốn thầy trò tôi đều được thím Xuân cung cấp. Phí khoản đều ghi vào sổ nợ tên Bác Hai có đóng ngoặc (Bác Hai Bắc- Kỳ).

Thím Xuân đồng ý cho chúng tôi thanh toán sau khi cạn giếng, nghĩa là sau khi đã bán xong số vàng dưới lòng đất của cái diện tích mà tôi đang căng lều hạ trại.

Mười bốn năm sau chiến tranh, tôi đã sống như một tay săn vàng chuyên nghiệp trong những phim Cao-Bồi Viễn-Tây của Mỹ. Ðây là chuyến trở về chiến trường xưa lần thứ tư của tôi. Oái oăm là chuyến đi nào cũng có chuyện buồn, chuyện vui để nhớ.

Quả thực, chuyện đào vàng chẳng có gì nên thơ, mơ mộng. Ngoài nỗi khổ vì muỗi mòng, lo sợ sập hầm, lo “xái rỗng” (quặng chứa ít vàng quá) không thu hoạch được chút bụi vàng nào, phí công. Ngoài ra còn cái nguy cơ bị sang đoạt bởi những tay hảo hán thương phế binh Việt-Cộng có vũ khí.

Khác với đất Ðà-Lạt và Ðơn-Dương, những nơi tôi đã kinh qua trong các lần đi khai mỏ trước đây. Cấu trúc các tầng đất ở Hiếu-Liêm làm cho dân đào vàng đổ mồ hôi, sôi nước mắt, vất vả hơn nhiều so với đất vùng cao.

Sau bốn, năm thước đất mùn đen thì tới đất đỏ pha đá cuội, đá tổ ong. Hết đá cuội và đá tổ ong lại tới đất pha đá dăm. Xuống sâu gần hai chục thước mới thấy đất chuyển sang màu trắng nhờ nhờ. Lúc này cũng là lúc “hy vọng vươn lên.”  Ðất sét màu xám pha lẫn từng cục quặng sắt rỉ là dấu hiệu phần vỏ của lớp đất trộn quặng vàng.

Ðoạn đường từ miệng giếng tới lớp đất xám là đoạn đường đứt ruột, rã rời hai tay. Tôi là trưởng mũi nên không phải thay phiên “mõi” đất (đào sâu xuống lòng đất, chuyền đất lên miệng giếng). Tôi chỉ phải tản số đất đã moi lên cho gọn ghẽ. Công việc này cũng không nhẹ nhàng mà rất tốn sức, tốn công.

Lớp đất đào lên trong những ngày đầu phải gánh ra đổ nơi bờ suối, cách lều cả trăm mét dưới dốc. Những ngày cận xái thì tôi chỉ việc đổ đất mới moi lên ngay nơi chúng tôi ăn ngủ.

Chúng tôi làm việc gần như suốt đêm ngày. Chỉ nghỉ, ngủ vài giờ rồi lại tiếp tục công việc. Tôi phải bấm giờ để ba đứa nhỏ thay nhau mõi cho công bằng. Hai thằng đào dưới giếng, một thằng ngồi trên miệng giếng kéo gầu đất xái.

Cứ hai tiếng đồng hồ chúng lại nghỉ giải lao. Thằng Thanh làm một điếu 555 thì hai đứa kia cũng gắng rít mỗi đứa một điếu. Thằng Hòa chơi một chai bia Chương Dương thì hai đứa kia cũng chơi theo ngay, mỗi đứa một chai. Chẳng đứa nào chịu phần thua lỗ cả. Tóm lại tinh thần đồng đội của dân đào vàng rất cao. Tinh thần tranh đấu cũng rất cao. Bắt tay vào việc là ăn hút cái đã! Ăn hút đồng đều, không ai ganh tị. Chỉ có cô Nghĩa và thím Xuân là lời thôi!

Tôi nghĩ thầm không biết tới ngày cân lọc xong xuôi, số vàng thu được có đủ để thanh toán tiền ăn hút cho bốn người chúng tôi hay không? Công việc đãi xái cũng rất là vất vả. Người đãi phải cúi khom lưng cả buổi trên dòng suối, tay lắc cái khiên chao qua chao lại, giữ làm sao cho nước mới vào khiên thay nước cũ, nhả đất xuống dòng mà đừng để bột quặng trôi đi. Tụi nhỏ gọi công việc này là “múa nước”. Tôi thì tuyệt đối không có đủ cái khéo tay để làm công việc này. Tôi đành làm nghề chuyển vận và bốc xái trong bao đổ vào khiên để đồng bạn làm công việc còn lại.

Khi công tác múa nước hoàn tất, thì bọn nhỏ vác bao bột quặng đi tới chòi ông Lâm Thầu người Tàu Chợ-Lớn nơi cuối dốc để mua thủy ngân và làm công tác lọc tinh vàng. Tôi lo thu dẹp rửa ráy đồ nghề, khiên, chảo, bao bì, cuốc xẻng rồi chuyển vận chúng về lều.

May thay, sau khi thanh toán sòng phẳng sổ nợ cho cô Nghĩa và thím Xuân, giếng vàng đầu tiên cũng đem lại cho chúng tôi đủ số vốn hai chỉ lúc đầu tới bãi.

Hôm sau tôi cho quân nghỉ mệt ba ngày trước khi khởi công một giếng mới. Trong ba ngày nghỉ dưỡng quân này, thằng Hòa và thằng Út thay nhau nấu cơm. Ăn sáng xong, đứa thì đi phụ đãi ngoài suối lấy công, đứa thì đi nhập sòng. Cờ bạc ở đây chỉ có món xóc dĩa. Những con bạc đặt cược bằng tiền, vàng, đồng hồ, dụng cụ khai thác mỏ. Thẻ Chứng Minh Nhân Dân đôi khi cũng có thể dùng làm vật cầm cố.

Có vài ổ bán dâm dọc bên bờ suối. Trong những cái lều che bằng vải nhựa, những người con gái trẻ bán dâm trên những cái chiếu trải dưới đất. Những cô gái hành nghề ở đây không phấn son lòe loẹt. Họ cũng là những người đào xái một thời, đã “mo” nên không thèm đào nữa, đành đem thân xác cho đàn ông “đào” để kiếm cơm sống qua ngày. Họ đi la cà các bãi. Móc ngoặc được khách thì dẫn về lều. Tiền trả trước, trôn trao sau. Ra khỏi lều, người bán dâm và kẻ mua dâm lại trở thành đôi người không quen.

Buổi trưa, tôi thả bộ lang thang dọc bờ con suối đục ngầu đất đãi xái. Dân đãi vàng làm việc cần cù, bất kể đêm, ngày. Ban ngày chúng tôi đãi xái dưới đèn mặt trời. Ban đêm, dọc hai bên bờ suối có hàng chục ngọn măng sông và đèn khí đá. Ðôi khi, đêm vui hơn ngày.

Nhạc từ những cái máy thu băng oang oang, bốn hướng tám phương. Nhạc vàng, nhạc kháng chiến, nhạc disco, bi kịck, hài kịch, vọng cổ xen lẫn nhau. Cùng lúc người nghe có thể thưởng thức cả giọng ca nữ đang lên Cẩm Vân, cùng giọng ca nam đang xuống Quốc Hương, xen lẫn điệu ngân xàng xê bất hủ của Thành Ðược và Bạch Tuyết. Lúc này khúc Lambada Nam-Mỹ đang thịnh hành. Khúc ca này đã lần mò vào tới tận rừng xanh.

Mỏ Hiếu-Liêm đang ở vào thời kỳ đông đảo nhất. Lều trại đó đây, ước lượng dân số đào vàng nơi này cũng cỡ bốn, năm nghìn người là ít. Họ đến từ Phát-Diệm, họ gọi con trâu trắng là “con tâu tắng”. Họ đến từ Móng-Cái, từ Tuyên-Quang, họ nói tiếng Nùng, tiếng Tày. Họ đến từ miền Trung, giọng Quảng, giọng Huế. Họ đến từ Cà-Mau, họ chuyện trò với nhau bằng tiếng Miên…

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 26 Jun 2024

Phần 18

“Gặp” Trần Danh San trong biệt giam

Tôi vào biệt giam phòng số 5 buổi sáng thì Trần Danh San bị dẫn vào “chuồng” số 3, tức xà lim 3, cách tôi một xà lim về phía tay trái nếu nhìn từ cửa vào. Trần Danh san, một luật sư trẻ vào thập niên 60 rất nổi tiếng ở Sài Gòn lẫn miền Trung Việt Nam. Anh là người vào ngày 23 tháng 4 , 1977 cùng người bạn là luật sư Triệu Bá Thiệp soạn thảo “Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người Việt Nam Khốn Cùng” và bản tuyên bố “Vì sao Chúng Tôi Chiến Đấu” và mang ra đọc tại Công Trường Hòa Bình trước Vương Cung Thánh Đường Sài Gòn, nơi vào thời gian đó ký giả ngoại quốc được phép hoạt động tại Việt Nam thường lui tới Sở Bưu Điện để gởi tin tức về nước họ. Anh cùng một số người khác bị bắt, bị đánh đập và bị tra tấn suốt trong thời gian thẩm cung, rồi sau đó bị đày lên trại trừng giới A-20 Xuân Phước.

Trần Danh San là một trong những sinh viên trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn nổi tiếng là hùng biện và là thần tượng cho lớp sinh viên mới bước vào trường luật như chúng tôi vào đầu thập niên 1960. San nổi tiếng rất mau trong những vụ án liên quan đến chính trị hay tội đại hình. Bạn bè anh từ khi còn trung học hay những trường Pháp và sau này cũng theo đuổi nghề Luật như anh cho biết dù là tay chơi trong một đời sống tư, khi đã nhận bênh vực cho một thân chủ nào, anh làm việc hết mình bất kể công sức anh bỏ ra bao nhiêu. Sự kiện Trần Danh San bị đưa vào xà lim kiên giam không làm tôi ngạc nhiên, nhưng dù bị cùm cứng hai chân trên bệ nằm, tôi cũng cố nhổm người lên để xem có thể nhìn thấy San qua lổ tò vò ở giữa cánh cửa phòng giam hay không. Tuy nhiên cố gắng của tôi thất bại. Lúc đó tôi mới nhận ra rằng khi bị cùm hai chân thì chỉ có cách nằm ngửa trên bệ ngủ là cái cùm chân ít gây đau đớn hơn. Mỗi lần ngồi dậy tôi phải cố gắng như người tập bụng và những lần như thế hai vòng cùm ở hai cổ chân siết chặt vào da đau đớn.

Như mọi người đều biết tại những phòng tập thể dục người lực sĩ nằm thẳng người trên sàng rồi nhờ người khác cầm hai chân kềm cứng lại, hai tay của lực sĩ co lại nâng gáy lên và lấy hết sức nhấc phần thân thể từ bụng trở lên. Họ làm động tác này để làm nổi những bắp thịt bụng. Người tù cải tạo ở khu xà lim A-20 Xuân Phước hai chân bị cùm vào thanh sắt trên bệ nằm khi đã nằm ngữa trên bệ nếu muốn ngồi dậy cũng phải làm như thế, nhưng tất nhiên không còn thịt, còn mỡ đâu mà phải tập. Do thiếu ăn đã năm sáu năm rồi nên rất gầy yếu phải cố gắng hai ba lần mới ngồi dậy được, nhưng da ở cổ chân thường xuyên bị trầy xước. Chúng tôi tránh nhiễm độc bằng cách đổ nước muối vào những vết trầy.

Bên ngoài sân biệt giam có tiếng của trật tự Của: “Tại sao các anh cứng đầu quá vậy. Trước đây các anh có cả triệu quân mà chưa làm gì được huống chi bây giờ. Chỉ cần các anh bước ra cái xã Xuân Phước này là dân nó đập chết các anh ngay”. San giọng bình thản nhưng đầy diễu cợt: “Thế ạ, nhưng sao tôi thấy từ cán bộ trại trưởng đến cán bộ Lý rồi xuống tới anh nói giống nhau quá. Phải nhìn nhận là các anh thuộc bài lắm. Bữa nào anh trình cán bộ cho tụi này ra ngoài xã mua con gà luộc ăn chơi rồi dân nó có đánh chết cũng cam lòng”. Tiếng Của: “Thôi đừng có bố láo nữa. Tao lại cho một trận bây giờ” Vừa lúc đó tôi nghe tiếng của trực trại Luật: “Của, mở số 3”. Có tiếng khóa lách cách và tiếng kéo của sợi dây xích ở khóa cửa bên ngoài buồng giam. Tiếng Của hỏi trực trại Luật: “Cùm nó vòng cùm số mấy cán bộ?” Luật giọng gắt gỏng: “Anh làm trật tự hay tôi làm trật tự? Làm sao khóa hai chân nó lại thì làm. Nhanh lên”. Dường như trật tự Của chọn vòng cùm 16 vì sau đó tôi nghe tiếng búa đóng, điều này chứng tỏ cổ chân San lớn hơn vòng cùm nhỏ nhất là 16. Như thế là đau đớn lắm, nhưng tôi không nghe một tiếng kêu la nào của San. Rồi lại có tiếng của trực trại Luật ra lệnh cho Của: “Lên trên đội lấy hết tư trang xuống cho chúng nó”. Chừng 10 phút sau Của đi xuống. Tiếng trật tự luật ra lệnh: “Khám kỹ vào, ngoài quần áo chăn mền, còn tịch thu tất”. Việc khám xét tư trang kéo dài khoảng 15 phút và Của theo lệnh của trực trại Luật mở cửa phòng giam đưa vào cho tôi chiếc ba lô đựng quần áo. Nhìn chiếc ba lô, tôi nhận ra ngay chiếc ba lô của tôi, nhưng phần bên trong  thì không. Như thế vào buổi sáng Hải “bầu” đã “dọn dẹp” tất cả nên tôi yên tâm là tài liệu đã được di chuyển an toàn đến nơi cất giấu.

Trong ba lô chỉ có một cái mền bằng len do Trung Quốc dệt và hai bộ đồ trận vá chằng đụp bằng những miếng vãi bao cát, một ca nhựa đựng nước uống, một cái muỗng nhựa và một tô đựng thực phẩm cũng bằng nhựa đã nứt và được hàn lại bằng một miếng nhựa khác. Cái muỗng, cái tô và cái ca này đã theo chân tôi từ thời gian tôi bị bắt và nằm biệt giam ở nhà tù B-5 Tân Hiệp Biên Hòa ngày 16 tháng 8, 1975. Nó theo chân tôi về đến biệt giam khu ED rồi ra đến trại Hàm Tân Z30-C. Khi ra tới Hàm Tân trong một buổi tù ca đêm giao thừa Tết 1978, nổi hứng tôi dùng cái tô nhựa của mình làm trống khiến nó nứt toác ra. Việc kiếm để xin anh em một cái tô khác không phải dễ dàng và cũng không muốn phiền ai nên tôi dùng một cọng kẽm may chổ nứt toác ra rồi kiếm một miếng nhựa bể khác để hàn đè lên. Do không được khéo tay, vết hàn trông thật thảm hại. Nhưng trong tù nào ai cần bày biện làm gì, miễn sao có cái đựng là tốt rồi!

(Ghi chú: Đầu tiên nhiều cựu sĩ quan khi đi trình diện mang theo bên trong ba lô của mình nào là gà-mênh bằng sắt không bị rỉ, trên cán còn khắc chữ US. Cả những chiếc bi đông nước cũng vậy, có cả bao ngoài in chữ US bằng sơn đen.

Nhiều người còn mang theo cả cái ca đa năng cũng bằng sắt không rỉ. nhưng chính vì chữ US (United States) này mà những vật dụng bình thường này trở thành mục tiêu tịch thu của cán bộ công an trại giam. Lý do chỉ vì họ rất khoái những loại quân trang này của Hoa Kỳ và rất thích lấy lý do nội quy không cho xử dụng vật bén nhọn, vật dụng làm bằng nhôm, sắt, thép nên phải tịch thu. Trại “đền” lại bằng cách cấp phát cho mỗi tù cải tạo một bộ gồm ba thứ hoàn toàn bằng nhựa: tô đựng cơm, ca đựng nước và muỗng để múc. Giai đoạn sau này khi được thăm gặp gia đình, một số tù cải tạo nhắn người thân mang lên cho họ hàng bằng nhựa tốt hơn và đẹp hơn. Tuy nhiên, chúng tôi không muốn như thế.

Đã đi tù khổ sai, ăn đói, làm việc nặng, quần áo vá chằng, vá đụp, thì sá gì một cái tô hay cái muỗng bằng nhựa không vạ gì mà phải làm đẹp thêm cho một chế độ lao tù coi con người không hơn một con vật như vậy. Cho nên nhiều tù cải tạo giữ những vật dụng bằng nhựa này cho tới khi ra khỏi cánh cổng nhà tù dù đã phải hàn những chổ nứt bằng những cách dùng một bao bì bằng nylon hơ vào ngọn lửa cho chảy ra thành một chất nhựa dẽo rồi nhỏ xuống những vết nứt. Một số anh em tù cải tạo ý thức cao hơn cũng muốn mang theo những trang phục và vật dụng từng dùng hàng ngày trong tù về làm kỷ niệm khi họ nhận được giấy ra trại, nhưng hầu hết không ai mang ra được. Lý do dễ hiểu là trước khi cầm trong tay cái giấy xuất trại để ra khỏi cổng nhà tù, tư trang của họ vẫn bị khám xét , khám còn kỹ hơn lúc còn ở trong trại. Tất cả quần áo vật dụng dùng trong tù phải bỏ lại hết và không người nào được mặc quần áo rách hay vá khi ra cổng trại. tại những trại mà tôi trãi qua những người được thả không phải được kêu tên để nhận giấy ra trại về ngay đâu. Họ bị tập trung vào một khu nhà khác bên ngoài trại tù để khai lý lịch và nghe giảng chính trị. Sau đó người nào không có được một bộ quần áo nào lành lặn thì được cấp một bộ đồ tù mới may bằng vãi thô xám. Thành thử khi ra khỏi trại người tù cải tạo nào cũng ăn mặc tươm tất. Chỉ có nước da xanh mét và thân thể như cái xác ve của người tù cải tạo là có khả năng tố cáo chế độ lao tù khắc nghiệt dưới chế độ Cộng sản mà thôi).

Những bạn nào đã từng vô nằm “chuồng cọp” ở các trại tù cải tạo tất thắc mắc: đi cùm trong nhà kỷ luật cao lắm là một hai tháng, trại cần gì phải đưa tư trang cá nhân cùa tù vào làm gì? Quý vị thắc mắc cũng phải thôi, vì đây cũng là thắc mắc của chính tôi lúc đầu. Nhưng chỉ 10 phút sau khi cửa phòng biệt giam số 5 đóng lại, tôi hiểu ra ngay số phận của mình.

Tôi sẽ không có ngày ra khỏi phòng biệt giam này trừ phi bỏ thân nơi đây hay có một đột biến nào về chính trị ở bên ngoài trại giam. Những tiên đoán của tôi được kiểm chứng bằng thời gian gần 5 năm liên tiếp trong những cái hộp bé tí bị cô lập hẳn với thế giới bên ngoài trước khi tôi được chuyển về một trại bình thường và ở gần Sài Gòn hơn là ở trại Z-30 ở Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh, nơi trước đây đặt Bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn 54 của Bộ Binh VNCH.

Ngay buổi chiều hôm đó, khi vẫn còn loay hoay chưa biết làm cách nào để liên lạc với Trần Danh San ở xà lim số 3 thì đã tới giờ lãnh khẩu phần cho bữa ăn tối. Trật tự Của là người chia thực phẩm cho các xà lim dưới sự giám sát của trực trại Luật. Tôi và San là những người cuối cùng trong khu biệt giam được chia thực phẩm. Của vào phòng lấy tô nhựa và ca đựng nước của tôi ra ngoài chia khẩu phần ngay trên bậc thềm của xà lim. Tôi thấy anh ta đếm đủ 5 lát khoai mì khô luộc và chan vào đó hai muỗng lớn nước muối. Sau đó dùng cái ca đựng nước của tôi thọc vào trong thùng nước uống, múc ra khẩu phần nước uống mà khi cửa biệt giam vừa đóng lại, tôi dùng ngón tay để đo mực nước trong ca. Tôi thấy chiều sâu khoảng nửa lóng tay. Rất nhanh tôi cầm ngay lấy tô khoai, một tay chận khoai mì, một tay nghiêng cái tô để lọc hết  nước muối xuống thùng nước tiểu nằm trên một lối đi hẹp giữa hai bệ nằm, trước khi nước muối thắm đẫm vào khoai.

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 26 Jun 2024

Phần 17

Do đã vào khu chuồng cọp một hai lần trước đó ở trại Hàm Tân cũng như trại này, tôi không còn mối lo sợ nào nửa, dù rằng tôi biết chắc lần nào vào năm nghỉ mát trong những cái hộp bé tí sẽ là lâu dài, tối thiểu cũng phải từ 3 đến 5 năm là giá chót. Xui hơn nửa thì có khi chưa đủ hạn đã phải ra nằm ngoài đồi thông rồi. Đồi thông là khu nghĩa địa cho tù nhân của các phân trại thuộc A-20, nơi có hàng vài trăm ngôi mộ, có những mộ bia bằng đá khắc tên họ tù nhân, ngày sinh và ngày qua đời, nhưng hầu hết dưới những ngôi mộ này chỉ có xác tù nhân bó chiếu hay bó cái chăn dạ màu đỏ do trại phát.

Quách Văn Trung một luật sư đồng hóa Thiếu Tá cảnh sát, nguyên chánh sự vụ Sở Ngoại Kiều dường như là người đầu tiên khi chết có được một cái áo quan do đội mộc đóng bằng ván ép. Hơn một năm sau khi đến phân trại E thuộc A-20, Trung là người mở đầu cho chương trình thăm gặp gia đình vốn rất hiếm hoi ở một trại trừng giới như Xuân Phước. Vào giờ đội của anh tập trung trước cổng trại để sẳng sàng ra đồng lao động sau khi ăn trưa thì anh được kêu tên ra gặp vợ. Sự xúc động hiện rõ lên nét mặt và anh luống cuống đứng lên để vào nhà giam thay một bộ quần áo tươm tất hơn. Đã trãi qua nhiều trại trước khi lên tới A-20 Quách Văn Trung vẫn cố gắng giữ cái quần Jean hiệu Lee màu xanh và chiếc áo Pull trắng hiệu Lactose. Trong mấy lần khám tư trang tại phân trại E, bộ quần áo của anh bị “tịch thu” nhưng Trung cứ đeo theo trực trại xin xỏ và hứa nếu được thăm nuôi sẽ bảo vợ mang lên trại bộ khác tặng cán bộ. Điều này khiên cho anh em trong trại không ưa anh và cũng có anh em đàm tiếu diễu cợt: “Anh Trung, anh là thiếu tá mà sao phải đến nổi như thế, nước mất, nhà đã tan, chúng lấy cả mạng anh còn được nửa huống chi mấy bộ quần áo”.

Không may khi mặc quần áo xong, leo từ tầng trên xuống toan xỏ chân vào đôi giầy thì anh gục xuống. Anh em khiêng lên bệnh xá nhưng không cứu được vì tai biến mạch máu não nghiêm trọng. Vợ anh vốn là một y tá bệnh viện, theo lời anh kể trước đó phải đi phục vụ chiến trường Campuchia mới trở về nhận được thư của chồng nên lên thăm anh ngay.

Buổi tối hôm đó bà Trung ngồi ngoài nhà thăm nuôi chờ đợi vì trực trại cho biết Trung vừa bị kỷ luật cần phải cứu xét, có thể sáng hôm sau mới gặp được. Cái xe cải tiến chở chiếc áo quan đi ngang qua nhà thăm nuôi hôm đó là do mấy anh em hình sự đẩy đi chôn Quách Văn Trung trên đồi thông. Bà Trung nhìn thấy nhưng không bao giờ nghĩ đó là chồng mình. Sáng hôm sau tại nhà thăm nuôi trực trại Luật báo cho bà biết chồng bà đã qua đời vì tai biến mạch máu não. Không thể tưởng tượng nổi trên thế gian này lại có sự dối trá, che đậy đến mức phi nhân như thế!

Khi bị trật tự Của đẩy vào xà lim số 5, lập tức tôi phải nếm ngay món ăn chơi đầu tiên của Lý “lé”. Hắn chọn vòng cùm nhỏ nhất là 16, nhưng với cẳng chân khẵng khiu của tôi vào lúc đó, vòng cùm này được coi như vẫn rộng. Lý “lé” bực mình gắt Của: “Có việc đó mà không làm được. lấy búa đóng nó hẹp lại”. Của đi kiếm búa đóng để cho miệng vòng cùm khép lại gần hơn, nhưng vô phương. Mỗi nhát búa đóng xuống vòng cùm nháng lửa nhưng vòng cùm vẫn trơ trơ. Cuối cùng hắn đành phải cùm hai chân tôi lại bằng hai vòng cùm 16. Sau đó Của bắt tôi cong người về phía trước để anh ta cùm thêm hai tay tôi vào thanh sắt 18- bắt qua bệ nằm bằng còng omega sau khi cởi chiếc áo lính tôi đang mặc, chiếc áo Ngọc “đen” may sẳn hai lớp vất xuống đầu nằm. Hắn nói: “Cởi áo cho mát, có thể dùng làm gối đầu”. Lại một lần nửa tôi tỏ thái độ không còn gì để mất. Tôi nói với Của: “Cán bộ bảo anh làm gì thì anh cứ việc làm nhưng đừng có diễu cợt mất dạy như thế”. Khi Của mới đạp tôi một đạp từ sau lưng làm tôi choáng váng và có cảm tưởng xương sống gãy lìa thì có tiếng trực trại Luật: “Của, ai cho anh làm vậy?” Lý “lé” đứng ngoài không nói gì. Luật tiếp tục lớn giọng với Của: “Tôi đưa chìa khóa cho anh nhưng anh phải chờ tôi vào mới được mở hay đóng cửa biệt giam. Anh làm việc với tôi hay làm việc với cán bộ Lý?” Luật ra lệnh tháo cùm tay cho tôi rồi đích thân khóa cửa xà lim số 5. Bên ngoài phòng giam, ở trước khu biệt giam, một trận cãi nhau, mày tao chi tớ, diễn ra giữa Luật và Lý “lé”. Trận cãi cọ chắc không bắt nguồn từ nguyên nhân một bên nhân đạo với tù cải tạo hơn và một bên thù hận ngập tràn. Lý “lé” người Quảng Bình và Luật người Nam Định, nhưng có thể nguyên nhân dẫn đến xích mích bắt nguồn từ sự tranh giành cưa ghế nhau.

Lý “lé” làm cán bộ an ninh phân trại bề ngoài là người quyền hành chỉ sau trại trưởng. Anh ta còn kiêm nhiệm vai trò chính ủy. Nhưng thực tế, ngôi vị này có tiếng mà không có miếng. Còn Luật chỉ là trực trại nhưng cai quản cả ngàn tù nhân, trong số tù cải tạo chúng tôi có lẫn vào những ông “vua” bị kết án từ chung thân cho đến 20 năm trong đợt đánh tư sản mại bản. Phần lớn những ông “vua” này là người Hoa và rất nổi tiếng là người cầm trịch nền kinh tế VNCH trước 30 tháng 4, 1975 như Lý Sen, Lưu Trung, Trương Dĩ  Nhiên. Báo chí Sài Gòn từng có thời gọi các “xì thẩu” Lý Sen. Lưu Trung, Trương Dĩ Nhiên và Lý Long Thân là “tứ trụ triều đình” Chợ Lớn. Một triều đình với hình ảnh mờ mờ, ảo ảo bên cạnh Dinh Độc Lập nhưng lại là yếu tố quyết định đối với đời sống hằng ngày của dân chúng thủ đô Sài Gòn và các tỉnh, từ giọt xăng, hạt gạo, hộp sữa đến những chiếc máy cày, máy đuôi tôm và nộng cụ không thể thiếu được trong nền kinh tế vẫn còn nặng về nông nghiệp.

Dưới chế độ VNCH họ là những ông vua thật sự, lũng đoạn nền kinh tế quốc gia công khai ngay trước mắt quyền lực của Dinh Độc Lập. Nhưng sau 30 tháng 4, 1975 họ chỉ còn làm vua ở trong các nhà tù Cộng Sản. Quà thăm nuôi của họ là những bao bố chỉ xanh chứa đầy thịt muối, lạp xưởng, thuốc lá, thịt hộp, sữa bột và một nửa phần quà đó là dung để “biếu xén” cán bộ trại, trong số đó dĩ nhiên không thiếu trực trại Luật. Lưu Trung một ông Tàu Chợ lớn thâm trầm hơn dường như là đầu tàu của các xì thẩu trên nên đã có lần cảnh cáo Lý Sen vì ông Tàu này có lẽ sinh ở gần kho đạn thành thử hay nổ về cách làm ăn trước 30 tháng 4, 1975: “Lù mẹ…tiền nị bao nhiêu mà miệng lúc nào cũng như ống nhổ chớ…Chung quanh..anh em người ta khổ quá mà sao nị cứ khoe của vậy. Coi chừng cái lưỡi bị cắt lúc nào không hay á..” Bị giải giao lên Xuân Phước khoảng một năm các xì thẩu này được kêu tên khăn gói quả mướp ra về để được “tống xuất” ra nước ngoài sau khi đã để hết tài sản ở lại Việt Nam. Mãi về sau này khi được thả ra khỏi trại giam một vài nguồn tin nói với tôi rằng Cộng Sản đưa những ông vua này lên A-20 cũng chỉ là để áp lực họ khai báo hết tài sản còn lại và chịu ký giấy “bỏ của chạy lấy người” sang Hồng Kông. Trong khi nhiều anh em sau này gặp nhau bàn tán mãi chuyện cải lãy căng thẳng giữa Luật và Lý “lé” để suy diễn ra nhiều “hot news” có liên quan đến các ông vua nghe rất tức cười. Cá  nhân, tôi coi câu chuyện không có gì đáng để ý cả mà điều đáng để ý là làm sao đối phó với những đòn trừng phạt trong những tháng đầu tiên trong chuồng cọp, chứ còn sau đó nếu còn sống tôi vẫn tin rằng mình thích ứng được với môi trường mới. Cú đạp của trật tự Của làm cho lưng tôi ê ẩm nhưng vẫn cố gắng vặn vẹo để xem mình có đến nỗi nào không. Thấy vẫn có thể nằm ngửa và tự mình ngóc đầu dậy không khó khăn lắm, tôi yên tâm với cái áo lính mặc vào, kéo cái thùng tiểu rồi cố gắng uốn mông ra khỏi bệ nằm rồi tiểu thử xem có gì khó khăn không. Người bị cùm hai chân mỗi lần đi tiêu hay tiểu là một cực hình. Đây đúng là trò không những hành xác mà còn là một nhục hình tàn bạo. Ánh năng trưa lọt qua lỗ tò vò cũng đủ làm cho tôi thấy rõ một bức họa trên bức tường được những người vào trước tôi vẽ lại, gồm máu muỗi, những lời lẽ bậy bạ, những ô vuông gạch chéo để đánh dấu số ngày họ bị biệt giam. Nhưng tôi đặc biệt chú ý tới mấy câu thơ được khắc trên tường.

Tác giả khắc theo kiểu thư pháp rất đẹp và đầy nghệ thuật với nội dung như tôi trích dẫn hai câu trên đầu bài: “Thôi thì thôi mộ người tà dương. Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi”

Chỉ có hai câu thơ của bài “Động hoa vàng” trong hoàn cảnh ấy cũng đã vẽ lên trước mặt tôi bức tranh thủy mạc tuyệt đẹp mà Phạm Thiên Thư đã cung hiến cho đời. Câu thơ ấy lần đầu tiên kể từ ngày tôi đi tù và phải đối phó với sự hành hạ rất căng thẳng của kẻ chiến thắng đã có khả năng làm trái tim nguội lạnh của tôi sống lại hình ảnh của Ty1 khi nàng thăm gặp tôi lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tại nhà tù Chí Hòa trước khi tôi bị đày đi trại lao cải. Hôm đó nàng mặc chiếc áo bà ba trắng và chiếc quần dài đen. Với 15 phút gặp mặt mỏng manh chúng tôi không nói được điều gì nhiều với nhau ngoài chuyện hỏi thăm sức khỏe và nước mắt. Tôi cũng không thể nắm tay Ty và ôm mẹ tôi bởi vì lúc đó người tù cải tạo nào bị đưa về Chí Hòa thẩm cung cũng đều bị ghẻ kềnh ghẻ càng. Ty chỉ kịp đưa cho tôi bức hình chụp bán thân của nàng và mấy câu chú viết bằng chữ Hán của bộ kinh Lăng Nghiêm rồi nàng dẫn mẹ tôi theo đoàn người bước ra cổng trại.

1. Tôi gặp lại Ty 17 năm sau ở Nam California và hai năm sau đó chúng tôi lập lại gia đình và sống với nhau cho tới nay cũng đã gần 20 năm

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 26 Jun 2024

Phần 26 – Kết

Nhà tù của tôi
rất nhiều tiếng gọi không thể vọng ra bên ngoài
Những tiếng gọi bỡn đùa sự hoang vắng
những tiếng gọi chọc cười niềm trắc ẩn
mà tôi nghe ròng rã nghìn đêm
mà tôi nghe tưởng đã khùng điên
bởi mỗi lần một tù nhân vĩnh biệt
Báo cáo cán bộ: Cachot có người chết

Thế giới vẫn phóng lên sáng rực tín hiệu nhân quyền
Và nhà tù của tôi vẫn bóng tối triền miên
ở biệt giam hàng chục kiểu còng ngồi còng đứng
còng chéo hai tay còng chung một cụm
còng rướn ngón chân còng dộng ngược đầu
còng khoan dung một lối chết thật lâu
để thấm thía lòng yêu tự do dân chủ
Báo cáo cán bộ: Cachot có người tự tử

Nhân loại thường cảm thông nỗi khổ rất mùa màng
và phải rất thời trang
nên cụ thể dễ biến thành trừu tượng
Nỗi khổ khác hẳn niềm sung sướng
nó cần quên ngay
nó không được phép rên xiết dài dài
Một đêm mưa lạnh
tôi nghe tiếng trẻ thơ kêu kinh hoàng trong hiu quạnh
Bố ơi bố ơi Mẹ chết rồi

Anh khó hiểu nổi nhà tù của tôi
Người cha bị lưu đầy ra hải đảo
Người mẹ mang bầu dắt con theo cải tạo

Bài thơ nhan đề Tiếng gọi không thể vọng ra ngoài tôi làm ở khu AH Chí Hòa. Bài này và 15 bài khác không có trong tập Thơ Tù 1) nhưng tôi đã cho dịch sang Pháp văn trọn vẹn 30 bài thơ tù của tôi, 30 bài thơ tôi đã đọc ỏ Centre Pompidou, Paris; Theatre Action, Grenoble; Salle des fêtes, Paris 7è. 2

Đề lao Gia Định và Chí Hòa gây cho tôi nhiều cảm hứng thơ. Phải đợi qua AH, “đời sống” thoải mái, tôi mới sáng tác. Ở bài Chút tâm sự của người làm thơ trong tù, trên đầu tập Thơ Tù, tôi đã viết rõ, tưởng chẳng cần diễn tả thêm. AH mỗi ngày mỗi vơi bạn tù tốt nên phải dùng thơ lấp vào. Ông Tư Nhì đã được tha. Anh Võ Xuân Đình, anh Mai Đức Khôi đã đi lao cải. Ở nhà tù, mỗi lần chia tay kể như mỗi lần vĩnh quyết. Tôi nghĩ nên ghi cái cảm xúc ấv vào thơ. Ít ra, nó cũng bớt ẩn ức vô tích sự. Thế thì, tôi đã làm khá nhiều thơ, ở Chí Hòa. Khác với Đoàn Kế Tường, buồn quả hóa khùng, khùng quá cứ nhè ông Phạm Quang Khai mà sinh sự. Mấy ông tư sản mại bản Việt Nam có thú vui khó ngửi. Là thường xuyên khoe khoang sự phú quý đã trở thành “vang bóng một thời.” Lại khoe oang oang:

– Thằng út nhà tôi sang năm tốt nghiệp kỹ sư điện tử. Con cháu gái lớn, tiến sĩ kinh tế rồi.

– Các cháu tôi cũng tiến sĩ, kỹ sư hết.

Đoàn Kế Tường xía vào:

– Chưa hay đâu. Con cu ly bến tầu, con điếm, con ma-cô tốt nghiệp tiến sĩ, kỹ sư mới bảnh. Còn con cái bọn làm giầu bằng chiến tranh, muốn bảnh và xứng đáng khoe khoang phải đậu bằng cấp ma-cô, đĩ điếm, trộm cắp!

Các nhà tư sản mại bản nín thinh. Vì đúng quá. Lần khác, một nhà tư sản mại bản cao hứng kể thành tích đóng góp cho công cuộc chống cộng:

– Tôi đã tặng thương phế binh 200 xe lăn, mỗi Tết đều lì xì cảnh sát quốc gia vài triệu.

Đoàn Kế Tường nổi giận:

– Ông hút máu họ 2 lít, ông chích cho họ một ống sérum. Mà ông xuất tiền túi bao giờ? Ông bị phạt thuế, xin xỏ tiền phạt mua xe lăn tặng lính què. Của sở thuế, phúc ông. Ông lưu manh số một.

Nhà tư sản mại bản lại nín thinh. Cứ vậy, tối ngày, Chí Hòa công kích lẫn nhau khiến hồn thơ của tôi bay lên cachot. Tôi bắt đầu thèm động. Cái động lao cải ở trại tập trung. Con người bị giam hãm một nơi chật chội quá lâu đâm ra bẩn tính, hẹp hòi, cố chấp. Riết rồi, chỉ thấy ở nhau những điều xấu xa mà quên ở nhau những điều tốt đẹp. Và rồi, khi thoát đời tù vẫn quên những điều tốt đẹp mà chỉ nhớ những điều xấu xa nẩy sinh ở nơi tù túng, nơi con người bị xếp dưới hàng con vật. Tôi nghĩ, sống mãi với cái tĩnh, cái tĩnh ao tù của Sở Công An, của đề lao Gia Định, của Chí Hòa, da đã mỏng, thịt đã bủng mà hồn càng mỏng, càng bủng. Như bốn ngày bị Tư Long cúp nước, mọi người gần gũi nhau, thông cảm nhau. Như những ngày thoải mái AH, mọi người xa rời nhau, khó chịu nhau cả túi thăm nuôi lớn và túi thăm nuôi bé. Buồn, nản nhất là chỉ tù nhân Việt Nam gấu ó tù nhân Việt Nam. Tù nhân Ba Tầu không gấu ó nhau, không quan tâm đến sinh hoạt của tù nhân Việt Nam. Tôi thèm cái động của lao cải. Để xem, ngoài trời, con người tù có cao cả hơn, đại lượng hơn.

Phòng của chúng tôi lại thu nhận những người bệnh kiết lỵ bị cách ly trả về. Vi trùng Amibe khinh thường “thuốc dân tộc” của chế độ cộng sản. Bệnh kiết lỵ khó tiêu diệt ở nhà tù. Tôi thấy một điều thật mâu thuẫn. Những người mắc bệnh tiêu chẩy “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” lên kiết lỵ đều thuộc… giai cấp “con bà phước,” giai cấp vô sản chính thống trong nhà tù. Giai cấp tư sản ăn thịt bò bíp-tếch “ướp muối” cả tuần, ăn gà rô-ti thiu “ướp muối” cả tháng, đâu có bị tiêu chẩy, kiết lỵ. Tôi đã ăn, ròng rã mấy năm, thịt kho ướp tầu vị ỵểu trong keo nhựa đến nỗi thịt chua lè. Mà vẫn không hề bị tiêu chẩy, kiết lỵ. Nhưng “con bà phước” ăn cơm, ăn bột luộc, ăn bo bo với canh bí nấu muối thì bị Tào Tháo đuổi tơi bời. Mâu thuẫn này nặng nề ngoài đời. Kẻ nghèo suốt đời kiết, dẫu cách mạng vô sản là cách mạng của người nghèo. Công an khu vực chơi với vô sản chính thống thì đói, chơi với tư sản thì no, lại còn được tặng quần bò 3 của con cháu tư sản phản động theo Mỹ gửi về. Những kẻ chống cộng sản đã không chịu khai thác kỹ lưỡng cái mâu thuẫn này.

Để tôi đếm những bạn tù đề lao Gia Định của tôi xem còn ai: Hoàng Mạnh Hùng, Đặng Hải Sơn, Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng, Phạm Quang Khai. Tư tưởng chiến đấu mới của tuổi trẻ rải rác trong tiểu thuyết của tôi bắt nguồn từ những buổi thầm thì đàm thoại với Hoàng Mạnh Hùng ở nhà tù. Anh ta quy định rõ rệt Hà Nội là phỉ quyền, Sàigòn là ngụy quyền. Từ sau chính biến tháng 3 năm 1945, Việt Nam chưa có chính quyền. Người Việt Nam chân chính phải chiến đấu để tạo dựng một chính quyền thì mới giương danh chính nghĩa quốc gia. Anh ta chống đổ máu, chống tàn sát thêm ở Việt Nam. Tàn sát 500 tên lãnh tụ lớn, nhỏ của cộng sản Việt Nam. Là đủ. Hạnh phúc phải được ban phát cùng khắp. Tốt nghiệp tiến sĩ bên Mỹ, về nước anh ta khước từ chức vụ Thứ trưởng Văn hóa Giáo dục, dạy ở  Thủ Đức. Vợ con đi Mỹ trước cả 1975, anh ta ở lại chiến đấu. Tồi đồng ý với anh ta nhiều điểm. Đặng Hải Sơn, nghị viên đơn vị Tùng Nghĩa, không tái tranh cử vì không thích làm bù nhìn nữa. Anh ta tâm sự một câu đáng suy nghĩ: “Phải ra Cam Ranh, nhìn thông non Đà Lạt mà Trần Thiện Khiêm và bè lũ bán cho Nhật, nó chặt ngọn, chặt gốc vất lại, chỉ lấy một khúc giữa thôi, khi ấy không yêu nước sẽ thấy yêu nước.” Đặng Hải Sơn về Sàigòn làm báo, chủ trương cơ sở xuất bản Hải Âu với Trần Dạ Từ. Anh ta cùng quan điểm với Hoàng Mạnh Hùng. Tôi rất quý mến Đặng Hải Sơn. Anh ta trầm tính, sâu sắc 4. Đoàn Kế Tường và Dương Đức Dũng kể và vẽ sơ đồ cachots đề lao Gia Định, Chí Hòa thật chi tiết cho tôi nghe. Nhờ đó, tôi mô tả cachot FG không sai mấy.

Bạn tù tôi đã sống với họ, đã vui buồn cùng họ từ Gia Định rồi lại sống với họ, vui buồn cùng họ bên Chí Hòa còn có năm người. Chẳng biết hôm nào chúng tôi vĩnh biệt nhau.

° ° °

Giữa tháng 11 năm 1978, cai ngục Thuận đem đến một danh sách. Hắn ta đứng ngoài hành lang đọc lớn:

– Nguyễn Mạnh Côn.

– Có.

– Đặng Hải Sơn.

– Có.

– Nguyễn Thái Hà.

– Có.

– Vũ Mộng Long.

– Có.

– Chuẩn bị đồ cá nhân.

Cả phòng xôn xao. Khai Trí, Phạm Quang Khai, Nguyễn Công Kha thở phào. Vì thoát lao cải. Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng buồn hiu. Vì danh sách thiếu tên mình. Cửa phòng mở. Đằng Giao hớt hãi vào:

– Tôi cũng đi.

– Không đọc tên ông mà.

– Thằng Thuận bảo tôi về chuẩn bị hành lý.

Thu xếp hành lý thật nhanh. Chúng tôi còn thì giờ tạm biệt nhau, ông Khai bắt tay tôi:

– Ông đi may mắn.

– Cám ơn ông.

Đoàn Kế Tường ôm lấy tôi, khóc như con nít. Tôi nhớ lời hai của Đoàn Kế Tường ở Trả lại em yêu của Phạm Duy, bèn rống lên lấy khí thế cơ hồ Kinh Kha qua Dịch Thủy:

… Anh sẽ ra đi về tận miền Bắc
Anh sẽ ra đi
Chẳng mong ngày về
Trả lại em yêu
Chí Hòa chật chội
Kỷ luật Tư Long
Ngón đòn cu Phách
Buổi chiều thăm nuôi
Ngóng hoài em tới
Nuốt nhanh miếng thịt
Nuối tim con mình…

Cai ngục Thuận đã trở lại. Chúng tôi rời phòng. Giã từ AH. Giã từ phòng giam đã giúp mình thoát chết bệnh đau màng óc. Tôi đeo bị, xách giỏ, bước xuống dưới, ngồi xếp hàng cạnh phòng của các tù nữ. Ở đâv, đã có một nhóm tù ngồi đợi lệnh. Sau khi gom đủ số tù nhân các khu ghi trong danh sách, cai ngục Thuận dẫn chúng tôi sang khu BC.

Cai ngục khu BC tiếp nhận chúng tôi, điểm sổ, điểm danh, ký tên vào danh sách rồi đưa chúng tôi lên lầu 3. Tôi biết thêm BC. Chí Hòa bát giác hay Chí Hòa bát quái có bốn khu, tôi đã đặt chân lên ba khu. BC chỉ là chỗ dừng chân, lâu nhất chứng hai tuần lễ. Từ đây, tôi sẽ bị tống đến một chân trời lao cải nào đó. Ở phòng mới BC toàn tù nhân lạ và chung một tội: Phản động. Chung một tội không phải là chung một tâm sự. Trong lịch sử chống cộng sản ở Việt Nam, chưa giai đoạn nào “phồn thịnh” như giai đoạn này.

Đủ tầng lớp quần chúng chống cộng sau 30-4-1975. Trí thức có. Bình dân có. Nông dân có. Công nhân có. Nghèo có. Giàu có. Ông già có. Niên thiếu có. Phụ nữ có. Sinh viên có. Học sinh có. Thậm chí, lơ xe đò, phu nhà đòn cũng nức lòng tham gia các tổ chức chống cộng sản. Tù nhân chính trị hiện hành đông hơn tù nhân sĩ quan và viên chức chế độ cũ trình diện học tập cải tạo. Chẳng ai biết, chẳng ai đếm xỉa đến cái khối tù nhân chính trị vô danh này. Thế giới thường băn khoăn cho số phận mấy ông công chức cao cấp phủ Tổng thống. Và muốn cứu các tù nhân… tư tưởng nàv! Để giải trí cho đỡ buồn thì can thiệp với Nhà Nước cộng sản thả ông sư vượt biên, ông cố đạo vượt biên, ông nghị sĩ hay ông bộ trưởng đều phúc đức cả. Những kẻ chiến đấu đích thực không cần ai can thiệp xin tha. Chiến đấu là chấp nhận thiệt thòi. Anh lơ xe đò, anh phu nhà đòn, chắc chắn, không bao giờ thèm quan tâm cái tước vị Chủ tịch hay Tổng thống. Nhưng vào tù, các anh khổ hơn những ông chiến đấu với âm mưu Chủ tịch, Tổng thống. Hiển nhiên, các anh ấy sẽ bị liệt vào giai cấp “con bà phước.” Chung một tội mà không chung một tâm sự là vậy.

Ổn định chỗ nằm xong, Đằng Giao hỏi tôi:

– Mình sẽ đi đâu, ông thầy?

Tôi lắc đầu:

– Chịu.

– Tôi thèm đi xa.

– Tận nơi nào?

– Sơn La, Lào Kay..

– Nếu chúng ta là sĩ quan, là viên chức cao cấp, là nghị sĩ, là dân biểu. Bọn mình là nhà văn, nhà báo độc lập, thiếu “hân hạnh” thăm Lăng Bác. Chỗ xa nhất, theo tôi, mình có thể đến là Gia Lai, Kontum.

– Trại Gia Trung.

– Có cả chục trại ở Gia Lai, Kontum. Được nhập trại Gia Trung, mình sẽ gặp các ông Doãn Quốc Sĩ, Mặc Thu, Thái Thủy, Thanh Thương Hoàng, Trịnh Viết Thành, Chóe, Tô Ngọc…

– Tôi muốn mình đến một nơi nó cấm mình thư từ về và nhận thư từ đến. Kéo dài thêm sự vô vọng của vợ con, tôi nản quá.

– Bạn ơi, tôi cũng muốn vợ con tôi coi như tôi đã chết.

Không có tù nhân nào bất hạnh hơn tù nhân không được xét xử, không có án phạt. Chúng tôi mòn mỏi. Vợ con chúng tôi mòn mỏi. Tôi cảm tưởng tôi tù trong, vợ con tôi tù ngoài. Sự trừng phạt của hận thù khiếp đảm quá. Tôi đã viết bài thơ tặng nó.

Gửi cho anh đôi mắt
để anh ráp trên khuôn mặt hận thù
Nó sẽ biết nhìn sự trơ trẽn ngục tù
và nó thấy nó bọ hung lầm lũi

Gửi cho anh cái mũi
để anh ráp trên khuôn mặt hận thù
Nó sẽ biết ngửi mùi tanh tưởi cachot
và nó thấy nó côn trùng câm nín

Gửi cho anh cái miệng
để anh ráp trên khuôn mặt hận thù
Nó sẽ biết ăn thực phẩm trâu bò
và nó thấy nó nghìn năm rác rưởi

Gửi cho anh cái lưỡi
để anh ráp vô họng hận thù
Nó sẽ biết tập tành nói chuyện thương yêu, lãng mạn, mộng mơ
và nó thấy nó xụt xùi muốn khóc

Gửi cho anh bộ óc
Gửi cho anh trái tim
Gửi cho anh ái tình
Gửi cho anh cuộc đời dạt dào cảm xúc
Gửi cho anh con người hào hoa đích thực
Gửi cho anh
gửi tặng hận thù

(Thư Tù, trong tuyển tập Poèmes de prison).

Gửi tặng thù hận hay gửi tặng những kẻ nuôi dưỡng thù hận dân tộc, thù hận con người?

– Tôi xuống tinh thần rồi, ông thầy ạ!

– Xuống tinh thần nguy hiểm lắm.

– Chết là cùng.

– Chết dai dẳng, chết không đúng ý mình muốn. Mà chết vô ích. Ngu sao chết, sống để nhìn chứ. Bạn ơi, coi như mình chết thì được, chết thật thì không nên. Niềm bí ẩn của đời sống thường đến thật chậm. Bạn biết chúng ta sống bao nhiêu ngày trong tù chưa?

Đằng Giao tính nhẩm:

– 31 tháng, tức là 930 ngày.

Tôi nói:

– Cổ nhân phán: Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Ta cứ coi rằng một ngày tù của cổ nhân bằng một ngàn ngày tù cộng sản của ta, thì 930 X 1000, ta đã nằm tù 930,000 năm rồi bạn ạ! Ta nhập cõi từ khuya, lo chi chuyện sống chết.

Đằng Giao cười méo xệch:

– Ông thầy an ủi tôi hay an ủi ông thầy?

Tôi chớp mắt:

– Ta an ủi nhau, Đằng Giao ạ!

Quả thật, chúng tôi đã trải qua 930,000 năm ở Sở Công An, ở đề lao Gia Định, ở Chí Hòa. Có gã tù nhân nào đó đã ngạo nghễ nói: “Mười năm tù như một giấc ngủ trưa.” 930,000 năm chỉ là 930,000 giấc ngủ trưa. Thu nó lại, 930 ngày mới bằng một góc giấc ngủ trưa. Có chi phải ồn ào cái nỗi tù đầy của mình nhỉ?

Chúng tôi ở BC đã đuợc một tuần, sinh hoạt như AH. Đằng Giao bị chỉ định làm Trưởng phòng. Mỗi sáng nhìn sang AH, tôi thấy quần áo phất lia. Bèn hiểu là Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng hỏi thăm mình. Ở BC, nhìn xuống hồ tắm, tôi thấy rõ bộ trưởng Ngô Khắc Tĩnh hơn. ông vốn thấp, mặc quần xà lỏn, áo thung, ông càng thấp, ông Thợ Lặn  5 hết ngụp lăn trong danh vọng quyền bính mà lặn ngụp trong ngục tù. Ngắm ông xách hai thùng nước bỗng tội nghiệp ông vô cùng.

Đến ngày thứ 10, một cán bộ hồ sơ đến phòng, mở rộng cửa “làm việc” với chúng tôi. Chiếc bàn gỗ kê sát cửa. Anh ta gọi tên từng tù nhân và yêu cầu tù nhân bước gần bàn, đứng nghiêm, đọc sơ yếu lỷ lịch của mình để anh ta xem hồ sơ ghi đúng hay sai. Mỗi tù nhân riêng một hồ sơ đựng trong một tấm bìa. Đằng Giao, Nguyễn Mạnh Côn “can tội văn nghệ sĩ phản động,” cán bộ hồ sơ xác nhận đúng. Anh ta nói thêm:

– Các anh đi lao động cải tạo đúng 3 năm thì về. Còn vài tháng nữa thôi, án phạt tính từ ngày các anh bị bắt.

Đến lượt tôi khai “can tội nhà vàn phản động” cán bộ hồ sơ lắc đầu:

– Anh nghề nghiệp “nhà văn phản động”, can tội đảng viên Duy Dân trốn trình diện học tập, trong tổ chức chống phá cách mạng hiện hành. Nhưng anh cũng đúng 3 năm là được tha.

Tôi bàng hoàng giây lát. Rồi tôi xét lại Hai Nghiêm và lão cán bộ của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trung ương 6. Cộng sản không bao giờ nói thật. Cộng sản chơi trò giả đạo đức rất tài. Tôi quên mất lời khuyên của người công an chấp pháp miền Nam đã “làm việc” với tôi lần đầu tiên ở Sở Công An: “Trong tù, tuyệt đối không tin ai.” Nhưng mà tội gì thì tội, không được xét xử, không có án phạt thì ngày về xa lơ xa lắc. Tôi không tin lời anh cán bộ hồ sơ nữa. Đằng Giao càng không tin. Tù nhân tự hào là mình từng đi guốc vào bụng cộng sản, mình đã nằm tù cộng sản năm 1948 là Nguyễn Mạnh Côn, thì tin tưởng ra mặt.

Trật tự đem cơm trưa hôm ấy là con trai của nhà thơ phúng biếm nổi tiếng một thời, can tội trộm cắp. Cậu ta cho chúng tôi biết chúng tôi sẽ rời Chí Hòa sáng sớm ngày mai.

– Đi đâu?

– Cháu không biết.

– Gần hay xa.

– Còn tùy.

– Tùy gì?

– Tùy thực phẩm ăn đường. Nhà bếp đang lo luộc bột. Hễ các chú được phát ít thì đi gần, phát nhiều thì đi xa.

Cậu con trai của nhà thơ nói đúng. Sáng sớm hôm sau, trước giờ kẽng báo thức, chúng tôi được lệnh rời phòng. Vệ binh võ trang giải chúng tôi xuống sân vòng ngoài. Tôi không còn thấy bên trong Chí Hòa. Vĩnh biệt nó, vĩnh biệt FG, AH, BC. Chúng tôi bị chia thành bốn nhóm, đứng xếp hàng đôi. Kẽng báo thức điểm một lúc thì bốn chiếc xe vận tải chuyên chở súc vật chầm chậm chạy vào. Rồi xe quay đầu lại. Nhóm chúng tôi đầu danh sách nên được “chiếu cố” trước. Cán bộ hồ sơ, hôm nay, mặc đồng phục công an nhân dân, đeo súng ngắn. Vệ binh rất đông, kè kè AK nạp đạn.

– Nguyễn Mạnh Côn.

– Có.

– Lên xe!

Người ta phát cho mỗi tù nhân một cục bột luộc khá lớn. Đi gần thôi, tôi nghĩ thế. Tù nhân ném hành lý lên sàn xe rồi leo sau. Không có thang. Mỗi chiếc xe tải nhồi nhét 50 thằng tù. Chở heo, tối đa, 30 con. Đằng Giao và tôi lên xe sau cùng. Trần xe và thành xe đan lưới sắt lợp vải bố. Cửa sau là song sắt lớn, hàn xì vững chắc. Tù nhân lên xe xong, cửa khóa chặt và vải bố buông kín. Tuy nhiên, vẫn có thể he hé vải bố nhìn ra. Tôi thấv, trên nóc ca-bin xe sau tôi, một vệ binh ôm súng ngồi. Trong ca-bin, một vệ binh khác. Ngoài ra, còn một chiếc jeep gắn đại liên. Đảng và Nhà Nước cộng sản võ trang hùng hậu dẫn độ đám tù ốm đi học tập cải tạo.

– Ông thầy đoán thử, nó đưa mình về nghĩa địa nào? Đằng Giao hỏi.

– Lát nữa sẽ biết. Tôi nói.

– Thử cho đở buồn.

– Nếu xe ra đường Lê Văn Duyệt, rẽ trái là mình đi Kà Tum, Trảng Lớn.

– Rẽ phải?

– Lại đợi đến bùng binh đường tầu. Rẽ phải, ta về miền Tây, ta vô trại Vườn Đào ở Cai Lậy hay xuống Năm Căn, Cái Đước… Đi thẳng rồi rẽ trái, ta xuôi chiều Phan Thanh Giản ra xa lộ Biên Hòa. Hễ qua cầu Đòng Nai, ta ra miền Trung. Mà một cục bột, tôi cho rằng, mình ghé Rừng Lá thôi.

– Có thể Long Thành, Suối Máu chăng?

– Với cộng sản, cái gì cũng có thể.

Xe đã chuyển bánh lạo xạo trên lớp đá răm. Lát sau, nó qua cổng khám lớn Chí Hòa mà cách mạng vô sản gọi là Trại cải Tạo Trường Kỳ. Bây giờ mới thực sự giã biệt Chí Hòa, nơi chốn mà nô lệ hay độc lập, cách mạng nhân vị hay cách mạng vô sản, chỉ thấy người Việt Nam bắt nhốt người Việt Nam, chỉ thấy người Việt Nam đọa đày người Việt Nam. Xe đang chạy từ từ. Đường Hòa Hưng đây. Tôi hé tấm bố, cố tìm một cách vô vọng xem có thấy vợ con mình ngơ ngác đứng trên hè phố đợi chuyến xe tù ngang qua. Cảnh tượng đìu hiu vô cùng. Tấm bảng quán Ly Tao của danh ca Ngọc Long đã hạ. “Kẻ đi, người lại dáng lao xao.” Đằng Giao và tôi căng mắt nhìn Saigon. Xe rẽ bên phải. Chúng tôi thoát Kà Tum, Trảng Lớn. Xe qua bùng binh đường tầu, chạy thẳng luôn. Chúng tôi hết về miền Tây. Xe rẽ xuôi chiều Phan Thanh Giản. Tôi phải nhường chỗ cho anh em khác. Cũng chẳng thích ngắm thêm nỗi ưu phiền giăng mắc kín thành phố thân yêu cũ.

Tôi đã vỡ lòng cay đắng ở sở Công An. Tôi đã nhập môn thống khổ ở đề lao Gia Định. Đau thương của tôi, tôi rấm ở Chí Hòa, kể như đã chín. Đã chín những hệ lụy trong cái tĩnh của nhà tù. Còn những hệ lụy nào nữa, sắp phơi ra cái động của trại tập trung. Tôi sẽ mang về cái gì hay chẳng bao giờ mang về cái gì. Tôi sẽ tồn tại hay tôi sẽ bị hủy diệt. Điều đó không quan trọng, không cần thiết. Sự quan trọng là biết sống và dám uống tới giọt đắng cuối cùng của cuộc sống. Tôi sẽ cố gắng sống với hy vọng được thưởng thức giọt đắng cuối cùng của cuộc sống. Để khôn lớn và để không thẹn làm người.

Ivry sur Seine
Tháng 5-1987

——————————–

1Thơ Tù, Nam Á, Paris 1984.
2Poèmes de prison. Les Editions de Caux, Thụy Sĩ, sắp xuất bản.
3Việt Cộng gọi quần Jean là quần bò.
4Đặng Hải Sơn vượt ngục Sa-Ác TH-6 năm 1980, thành công, vẫn sống “lưu vong” tại Saigon.
5Bút hiệu viết báo của Ngô Khắc Tĩnh, ông đã khoe như vậy.
6Amnesty International và International Pen, trong những thư gửi cho nhà cầm quyền Việt Nam can thiệp trả tự do cho tôi, đều được trả lời: Duyên Anh không phải là nhà văn. Và họ đã khước từ phái đoàn AI xin gặp tôi tháng 8-1978. Nhưng trong Giấy Ra Trại, họ vẫn ghi tôi can tội “nhà văn phản động”.



Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 26 Jun 2024

Phần 25

Chiến dịch đánh tư sản năm 1978 tàn bạo đến nỗi Chí Hòa leo thang tù nhân. Phòng của tôi chứa 90 người. 90 người thay phiên lên “sân khấu”, điều này thôi đã đủ nói lên sự bi đát của chế độ ngục tù cộng sản. 90 tù nhân một cái cầu tiêu hạn chế nước xối. Khó mà hiểu tại sao tôi còn sống sót. Khó mà hiểu tại sao chúng tôi còn sống sót. Khó mà hiểu tại sao con người có thể vượt qua những hình phạt của thù hận để tồn tại. Và, càng khó mà hiểu tại sao con người thích trừng trị con người nghiệt ngã thế. Tôi đối nghịch tư tưởng cộng sản, người cộng sản bắt tôi, giam nhốt tôi, hành hạ tôi là điều “công bình, hợp lý” nặng tính chất lê-nin-nít. Nhưng cơ man đàn bà buôn bán và con cái họ vì sự “hợp lý” nào mà phải vào tù, phải ngồi bó gối suốt đêm ở sân Chí Hòa, khóc lóc sầu thảm? Ánh sáng quang vinh của Đảng có vinh quang thêm? Marx không bần tiện thế. Engels không bần tiện thế. Chỉ có lãnh tụ cộng sản Việt Nam mới vô liêm sỉ bắt đàn bà, con nít lùa vào các nhà tù về tội buôn bán mà họ nâng quan điểm lên hàng tư sản. Suốt đời, tôi mãi mãi bị ám ảnh bởi tiếng khóc khô cổ nghẹn lời của những người vợ, chồng đã bị lưu đầy, vợ con còn bị tước đoạt chỗ dung thân, bị tống vào tù, bị phơi nắng, dầm sương hai ngày đêm mới “nghiên cứu” phòng nhốt dồn họ vào chen chúc nhau nằm, ngồi như súc vật. Tố Hữu ca ngợi Hồ Chí Minh: “Tự do cho mỗi đời nô lệ,” rồi chính Tố Hữu và đồng bọn biến đồng bào thành nô lệ, thứ nô lệ tồi tệ hơn cả nô lệ thời trung cổ. Bài học của cai ngục Quỳnh đánh thức tôi: “Chiến đấu từ đau khổ, cố mà học nếu muốn chiến đấu chống cộng sản.’’ Tôi đã nghiến răng nuốt đau khổ, từng phút, từng giây. Với tôi, đau khổ là thực phẩm nuôi dưỡng tôi khôn lớn. Văn chương một chút và lãng mạn một chút, tôi mơ ước khám phá ra niềm bí ẩn của đời sống trong cực kỳ thống khổ. Những trang sách của ngày mai sẽ đỡ tẻ nhạt hơn những trang sách ngày qua. Có lẽ không, chắc chắn, ước mơ đã cho tôi sự tồn tại.

Sau chiến dịch đánh tư sản, Chí Hòa mở cửa đón tiếp các giáo viên Việt gốc Hoa mà họ bảo là thân Trung Cộng và làm gián điệp cho Trung Cộng. Những người này, trước 1975, đã cộng tác mật thiết với Việt cộng, đã “nằm vùng” Chợ Lớn. Thêm nữa là những người khờ khạo, nghe lời Mai Chí Thọ, đăng ký về Tầu. Trung Cộng dựng vở “Hoa nạn” chơi Việt cộng phản bội đàn anh. Hai chiếc tầu của họ đã vào vùng biển Vũng Tầu. Trung Cộng gây áp lực thì chỉ khổ Tàu máu mặt ở Chợ Lớn. Chí Hòa đầy nghẹt tù… Tầu. Nền tù ngục sầm uất, phát đạt. Chiến tranh biên giới Miên – Việt càng ngày càng khốc liệt. Chúng tôi biết qua những mảnh giấy báo “ngụy trang” gói quà thăm nuôi. Ở Chí Hòa, tù nhân cách biệt hẳn với xã hội loài người. Không được nghe ra-đi-ô, không được đọc báo. Tù nhân mòn mỏi theo tiếng kẻng răn đe. Tôi đã ngỡ mình sẽ chết tại khu FG. Bất ngờ, tháng 7-1978, chúng tôi chuyển sang khu AH, cả phòng.

AH là thiên đường của Chí Hòa so với FG địa ngục. Không còn ED chế độ riêng lẻ và đặc biệt nữa. Nhà Nước xã hội chủ nghĩa đã thống nhất nhà tù Chí Hòa. Bốn khu đều thuộc quyền quản lý của Sở Công An thành phố Hồ Chí Minh, tiêu chuẩn ăn uống giống nhau nhưng cung cách quản chế khác nhau, tùy thuộc Trưởng khu. Trưởng khu AH tên là Vũ. Anh ta còn trẻ, trên 30 tuổi, tóc hơi loăn xoăn, bồng bềnh, khuôn mặt tươi tỉnh. Đợi chúng tôi chia chỗ nằm, sắp xếp hành lý xong, anh ta đến với hai cai ngục, trẻ như anh ta. Trưởng khu Vũ tự giới thiệu tên tuổi, chức vụ của mình, rồi “tâm sự”:

– Chúng tôi không phải là công an gốc. Đồng chí Thuận, đồng chí Phong đây và tôi đều từ quân đội điều sang ngành công an quản giáo can phạm. Chúng tôi đảm trách khu AH. Tất cả sẽ dễ dàng với anh em trong khả năng của chúng tôi, yêu cầu anh em đừng gây khó khăn cho chúng tôi. Ai làm Trưởng phòng bên FG?

Phạm Văn Diện đáp:

– Báo cáo cán bộ, tôi.

– Anh tiếp tục làm Trưởng phòng. Chúng tôi sẽ cố gắng giữ quân số phòng các anh là 50, tối đa 60. Anh chuẩn bị cho anh em đi tắm.

Trưởng khu Vũ nói năng nhẹ nhàng. Rõ ràng, anh ta không phải là cai tù chuyên nghiệp như Hai Phận vĩ đại, cai tù nằm vùng như Tư Long anh hùng. Anh ta là lính.

Người lính chiến, dưới bất cứ chế độ nào, dưới bất cứ mầu cờ nào, đều hào sảng hơn công an, cảnh sát. Sự dễ dàng mở màn bằng cuộc tắm giặt “bao giờ xong thì tự giác xếp hàng.” Ông Phạm Quang Khai lại được gội râu. Chúng tôi tắm giặt cạn mấy hồ nước, nước chẩy vô không kịp. Mấy tháng tắm 8 phút không dám xát xà phòng, nay được kỳ cọ, xát xà phòng, cảm giác hạnh phúc tràn trề. Trưởng khu Vũ ngồi hút thuốc lá chờ chúng tôi tắm và dẫn chúng tôi về phòng. Chúng tôi phơi quần áo ở hành lang trước phòng mình. Anh ta nói:

– Vì thiếu cán bộ mà lại đông phòng, chúng tôi không thể cho các anh tắm mỗi ngày một lần. Vậy một tuần các anh tắm ba lần, mỗi lần nửa tiếng đồng hồ. Nước dùng trong phòng sẽ tăng lên.

Chúng tôi được cấp thêm một cái phuy. Mấy ngày đầu, xuống hồ xách nước, tự do xối nước. Rồi AH dùng máy bơm nước lên các lầu. Chúng tôi xách nước vào phòng đỡ vất vả. Trưởng khu Vũ cho chứa nước vào các xô, các bình cá nhân, ngoài hai phuy đầy tràn. Nước ê hề, nạn ăn cắp, sự gây gỗ chia nước chấm dứt. Trật tự khu AH hoàn toàn mới và không đến nỗi cô hồn. Một hôm, có thằng trật tự FG sang AH, chúng tôi xầm xì, lo ngại. Trưởng khu Vũ biết, anh ta trấn an ngay:

– AH là AH, FG là FG.Tất cả do cán bộ không do trật tự.

Nhưng Trưởng khu Vũ đuổi tên trật tự FG xuống lầu 2. Anh ta cho chúng tôi mượn tông-đơ, kéo, lưỡi lam. Chúng tôi cắt tóc cho nhau. Và tôi biến thành thợ hớt tóc “hạng nhất.” Những khách hàng đầu tiên bị tôi “thí nghiệm” đều có những mái tóc đặc biệt. Tôi đã chơi kiểu tóc Jules César cho văn hào Nguyễn Mạnh Côn, kiểu tóc Indonésie cho Đoàn Kế Tường, kiểu tóc Tintin cho Đằng Giao… Cuối cùng, tôi chỉ còn cắt kéo tỉa dao. Và thân chủ của tôi là Ngụy Nghiên Trinh, Dương Đức Dũng, Hoàng Mạnh Hùng. AH là thiên đường của Chí Hòa so với FG địa ngục là vậy. Tôi không hiểu sự dễ dãi có nằm trong chính sách của Đảng? Có một chiều, sau khi điểm danh, Trưởng khu Vũ ở lại xem chúng tôi sinh hoạt. Rồi anh ta hỏi:

– Anh nào là Nguyễn Mạnh Côn?

Anh Côn đứng dậy:

– Tôi đây.

– Anh ngồi yên đi, đừng đứng dậy. Anh nào là Đằng Giao?

– Tôi đây.

– Anh nào là Duyên Anh?

– Tôi đây.

– Anh nào là Đoàn Kế Tường?

– Tôi đây.

– Dương Đức Dũng?

– Tôi đây.

– Đặng Hải Sơn?

– Tôi đây.

– Mai Đức Khôi?

– Tôi đây.

– Các anh nhà văn, nhà báo, các anh có tội với Đảng chứ không có tội với ai hết. Các anh lao động đầu óc, khác mấy anh tư sản mại bản. Tôi kính trọng các anh với tư cách cá nhân. Tôi là bộ đội, đang là công an tạm thời, chờ chuyển ngành hoặc giải ngũ. Tôi đã lấy vợ. Vợ tôi người Thủ Đức.

Chúng tôi “hội thảo bỏ túi” và đồng ý với nhau nên thận trọng với những dễ dãi của AH. Trưởng khu Vũ thích nói chuyện vớí “các anh nhà văn nhà báo”. Anh ta mời chúng tôi hút thuốc lá và không ngần ngại đến xin thuốc lá chúng tôi khi hết. Trưởng khu Vũ dễ dãi với toàn khu AH. Đặc trách lầu 3 có cai ngục Thuận và Phong cũng dễ dãi. Đằng Giao được gọi ra ngoài trang trí phòng họp và vẽ Nội san Chí Hòa, tối tối đem về phòng một bình nước nóng hổi. Tôi có những đêm ngủ ngon lành. Hạnh phúc tới về đêm. Hạnh phúc trong ca nước ấm pha muối ngâm “cái sự thừa thãi” mà gây rắc rối ở tù. AH cho phép tù nhân ra hành lang phơi nắng tuần lẽ hai lần và tự do nói chuyên với phòng lân cận. AH và FG, là hai thái cực. Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai thái cực. Cộng sản đầy rẫy mâu thuẫn.

Ở AH, chúng tôi đã nhìn rõ Ngô Khắc Tỉnh, Hồ Văn Châm vì hồ tắm của AH sát khu BC. Chúng tôi còn thấy mấy người Đại Hàn trên phòng. Thời kỳ này, Nguyễn Đình Toàn đã từ đề lao Gia Định qua Chí Hòa và “trụ trì” khu FG. Đứng ở hành lang AH phơi nắng, tôi nhìn Nguyễn Đình Toàn gầy ốm tắm dưới hồ nước FG. DươngĐức Dũng đã sống chung với Nguyễn Đình Toàn tại 5C-2 đề lao Gia Định và được tác giả Tro than dạy truyền khẩu mấy ca khúc như Saigon, niềm nhớ không tên, Lưu đầy giữa quê nhà… Cũng vào thời kỳ này, tướng cướp lừng danh Điền Khắc Kim đã bị đem ra nhốt ở Thanh Hóa, bị dẫn về khu AH. Cả khu xôn xao vì súng lên đạn dẫn độ Điền Khắc Kim lên cachot. Sinh hoạt của chúng tôi lại đều đặn, bình thường, buồn bã. Nhiều người đã quên FG bốn ngày cúp nước hãi hùng. Tất cả đã quên bài giảng của cai ngục Quỳnh; “Chiến đấu từ đau khổ, cố mà học nếu muốn chống cộng sản.” Chúng ta có một đức tính khả ái. Là dễ quên đau khổ. Ngay ở trong tù. Một chút sướng nhỏ đã đủ quên khổ lớn. Và hễ được vuốt ve là quên tranh đấu. Người cộng sản ưa xử dụng hai danh từ bản chất và hiện tượng. Tôi cho rằng trưởng khu Vũ là hiện tượng chứ không phải là bản chất. Bởi vì, khi con người vụt thức tìm lại cái bản chất đích thực của nó, chủ nghĩa cộng sản sẽ nghiêm chỉnh phê bình nó mang hiện tượng xấu. Cái tốt đối với chúng ta là cái xấu đối với cộng sản. Nói rõ ràng hơn, cái thiện của con người, cộng sản gọi là hiện tượng. Cái ác của cộng sản, họ gọi là bản chất. Hiện tượng và bản chất lại còn được xử dụng lung tung. Đảng sai, Đảng đổ vạ cho cán bộ và bảo đó là hiện tượng. Đảng đúng, Đảng bảo đó là bản chất. Bản chất của Đảng, thực ra, chỉ là gian ác và gian ác. Vậy nên chấp nhận hiện tượng của Trưởng khu Vũ, thứ hiện tượng dễ chịu và đối nghịch bản chất Tư Long, bản chất Đảng.

Dần dà, chúng tôi nhận ra Trưởng khu Vũ không “đóng kịch.” Anh ta còn nhiều tính người. Anh ta còn là con người. Đừng hòng một chúa ngục tặng tù nhân thuốc lá và tỉnh bơ xin thuốc lá tù nhân. Tôi suy nghĩ mãi về sự gần gũi của con người và sự tìm đến nhau của con người. Và đó là cảm hứng Thơ tù của tôi, cũng là oan khiên của đời tôi. Một hôm, cai ngục Thuận gọi Nguyễn Mạnh Côn, Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng và tôi ra “làm việc.” Ở bàn giấy đầu hành lang đã pha sẵn bình trà và những cái ly nhựa. Trưởng khu Vũ chờ chúng tôi. Anh ta rót trà:

– Làm việc gì đâu. Lấy cớ mời các anh ra uống trà chơi. Các anh chịu khó đứng nhé!

Xong tuần trà, anh ta nói:

– Các anh không ở đây lâu đâu. Tôi cũng không ở đây lâu đâu. Tôi không thích công tác quản giáo tù nhân. Tôi ít tuổi hơn các anh, xin các anh một điều: Đừng chống đối cán bộ quản giáo, bất cứ nơi nào. Họ không có quyền bắt các anh, không có quyền tha các anh nhưng có quyền hành hạ các anh, đầy đọa các anh vào chỗ chết thảm.

Thật khó hiểu Trưởng khu Vũ. Tác giả Cộng sản là gì? Nguyễn Mạnh Côn về phòng bình luận: “Thằng đó không phải là cộng sản.” Tôi bỗng nhớ câu thơ bất hủ của Hoàng Cầm: Cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam. Trưởng khu Vũ cư xử tốt với mọi tù nhân, anh ta nặng cảm tình với nhà văn, nhà báo 1. Nhờ một tên trật tự hiền lành làm môi giới, chúng tôi “mua” cai ngục Thuận bằng quần tây, áo sơ-mi mang vào tù mà khó mặc về nhà. Cai ngục Thuận thèm ăn diện, mặc cả tiền luôn. Thế là, chúng tôi lần lượt gặp mặt vợ con. Chuyện này, trưởng khu Vũ không hề biết- Mà chúng tôi không ngu kể cho anh ta nghe.

Đầu tháng 8, Phạm Văn Diện đi lao động cải tạo. Nguyễn Sơn La và Nguyễn Kiến Thiết phòng cạnh, đổi sang phòng chúng tôi. Nguyễn Sơn La, đại úy quân đội nhân dân, dân Quỳnh Côi, Thái Bình, giải phóng miền Nam xong thì được chuyển sang ngành thương nghiệp, can tội mất phẩm chất cách mạng, vào tù. Anh ta làm Trưởng phòng. Nguyễn Sơn La vui nhộn, thật thà và không ngại ngần khoe sơ yếu lý lịch… bần cố nông. Anh ta bảo vì thèm ăn ngon, mặc đẹp mà xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa.

– Bố tôi đặt tên tôi là Sơn La vì tiên đoán sẽ mất tỉnh Sơn La.

Anh ta nói oang oang. Đã hai lần ra tòa, lần nào cũng đeo quân hàm và huân chương đầy ngực. Nguyễn Kiến Thiết, thiếu úy quân đội nhân dân, đệ tử của Nguyễn Sơn La, chung một tội thụ hưởng khẩn trương, quên Bác quên Đảng. Anh ta làm trật tự phòng. Cả hai phản động hơn phản động. Trưởng khu Vũ phá lệ Chí Hòa, không phát giấy làm biên bản họp cuối tuần, Nguyễn Sơn La dẹp bỏ họp cuối tuần luỏn. Sau hết, điểm danh buổi sáng cũng lơ là. Tháng 8 năm 1978, thằng con trai đầu lòng của tôi trốn khỏi Việt Nam. Tôi nhận thư nhà bảo tin: “Cu Tí về Long Xuyên, nhưng còn rong chơi dọc đường.” Tôi lo lắng vô cùng. Chỉ sợ Cu Tí bị bắt, bố tù, con tù thì rắc rối to. Hầu như, từ hôm con tôi xuống thuyền, ngày nào tôi cũng có thư. Đến hôm, thư nhà báo tin: “Cu Tí ghé cù lao ông Chưởng rồi mới về ở với cậu Tư.” Tôi thở phào sung sướng. Con tôi đã tới hòn đảo nào đó. Nghĩa là tôi không sợ nó vào nhà tù cộng sản. 19 tuổi, tôi làm cuộc phiêu lưu Hà Nội – Saigon, tưởng đã dài. 16 tuổi, Chương còm phiêu lưu vĩ đại hơn tôi, gian khổ hơn tôi. Con tôi đã vượt biển thành công, tôi nuôi hy vọng mới: Vợ tôi sẽ đưa một hai đứa con tôi ra đi thành công. Còn tôi, tôi bình thản sống đời tù, “sống bằng không mà chết cũng bằng không.” Tôi đã sống một thuở bơ vơ và sẽ sống tiếp thuở bơ vơ còn lại.

Ở AH, Bùi Kim Bảng và Ngụy Nghiên Trinh nhận lệnh tha. Bùi Kim Bảng, nhân vật thần sầu, kịch sĩ lên “sân khấu” đúng giờ giấc, cũng để lại một kỷ niệm… tư sản mại bản. Ông ta nằm cạnh tên tù hình sự Lê Anh Kiệt. Biết chắc mình được về, ông ta nhờ cai ngục đem lại tặng Lê Anh Kiệt cái bị cói có hai món đồ. Lê Anh Kiệt hí hửng dở ra. Một: Gói thuốc lá Saigon giải phóng đầu lọc còn đầy nhưng đã mốc thếch. Hai: Gói tôm khô đã mọc rêu xanh. Tên tù hình sự đành liệng vô thùng rác. Ông Bùi Kim Bảng không hút thuốc lá. Dịp Tết, gia đình ông gửi cho ông một gói mừng xuân, ông mời tôi một điếu, hút một điếu rồi để dành chờ được tha mới… tặng đệ tử. Ông Bảng về xum họp gia đình, cả phòng mừng rỡ. Chúng tôi có thể yên lòng ăn cơm trưa, ông Bảng về, ông Phạm Quang Khai mất trộm. Mấy thằng hình sự cấu kết “đi chợ” gần hết “kho” thực phẩm của ông. Ông la lối rùm beng, kê khai hàng chục thứ. Trưởng phòng Nguyễn Sơn La yêu cầu anh em cho ông Khai khám hành lý. ông thu hồi ít bánh, ít mì, sữa bột, đường, thịt chà bông của ông, chúng nó đã ăn bằng hết hồi đêm. Nguyễn Sơn La không báo cáo Trưởng khu và cai ngục. Ông Phạm Quang Khai mất trộm, ông “ướp muối” Nguyễn Công Kha giật mình, Ồng Kha nuôi thằng bộ đội đào ngũ tên Việt, ông gửi nó giữ hộ mấy kí-lô thịt chà bông. Nó treo gần cầu tiêu. Mỗi ngày, đi cầu, ông Kha đều kiểm soát. Ông phấn khởi vì cái bị cói lúc nào cũng nặng. Thấy bạn mất bò, ông lo, ông gở bị xuống, định đem về chỗ mình. Than ôi, chỉ có mấy cục gạch!

– Sao thế này, Việt?

– Cháu không biết.

– Tao nuôi ong tay áo à?

– Ai bảo ông nuôi ong?

Nhà tư sản giận tím mặt. Vô sản nhà tù đã vùng lên và đã thắng lợi tư sản mại bản. “Bạn tù, tình nhà thổ.” Một tên tù cảm khái nói. Ăn no nê thịt chà bông của ông Khai, và ông Kha xong, đám hình sự lên đường đi lao cải. Hai nhà tư sản tiếc rẻ. Giá chúng nó đi sớm vài ngày!

Phòng chúng tôi tiếp nhận một số tù nhân vượt biên và hai ông già Tàu, can tội đăng ký hồi hương Trung quốc. Một ông tên Dương Hải Làn, ông kia Hoàng Mậu Thìn. Ông Dương đỏ da, thắm thịt, khuôn mặt giống hệt Lê Nin. Ông Hoàng nhỏ thó, thấp bé. Hai ông nằm cạnh nhau, thân thiết nhau vô cùng. Tháng 9-1978, Chí Hòa có dịch… kiết lỵ. Tôi quên chưa kể, giữa tháng 7, tù nhân không còn được ăn bột luộc nữa. Mà ăn bo bo. Bo bo nhai mỏi răng, nuốt mỏi cổ. Thoạt mới ăn, bo bo nấu như nấu cơm, thấy là lạ. Bo bo tiêu hóa thật nhanh. Ăn chừng nửa tiếng đồng hồ sau là lên “sân khấu” ào ào. Rồi đói. Mới hay, bo bo chẳng béo bổ gì. Nhiều tù nhân ăn bo bo bị bệnh tiêu chảy. Tiêu chẩy biến sang kiết lỵ. Tưởng tượng một phòng giam có mười tù nhân kiết lỵ thường xuyên trên “sân khấu.” Tanh tưởi đến buồn mửa. Y tế ở Chí Hòa tồi tệ lắm, kém xa đề lao Gia Định. Thiếu thuốc riêng là khốn khổ khi bênh hoạn. Sợ kiết lỵ truyền nhiễm cả phòng, Trưởng khu Vũ dành riêng một phòng nhốt những tù nhân mắc bệnh. Đó chỉ là sáng kiến riêng của Trưởng khu Vũ, không phải chính sách y tế của các nhà tù xã hội chủ nghĩa.

Dịch… kiết lỵ coi như không đe dọa phòng của chúng tôi nữa. Thì bất đồ ông Dương Hải Làn ngã bệnh. Ông sốt có hai hôm mà hốc hác rõ rệt, da giẻ tái lại. Bác sĩ khu AH, một bà Nam bộ tập kết, đến khám bệnh cho ông Dương Hải Làn cười mỉa ông giả vờ ốm. Và không cho uống thuốc. Bác sĩ tù có nhiều vị vĩ đại hơn Bác Hồ. Tỷ dụ, bác sĩ Lý Sen. Nhà tư sản mại bản Chợ Lớn này thừa liêm sỉ đeo ống nghe rà tim phổi bệnh nhân tù. Hãy nghe những lời khuyến cáo của bác sĩ Lý Sen ở đề lao Gia Định:

– Gội đầu nhớ khom lưng mà xối nước. Đứng thẳng xối nước, con vi trùng gàu nó bám vào dái, nó kết tụ ở đấy là sinh ghẻ!

Tôi không hiểu ông Dương Hải Làn bệnh gì và biến chứng của nó, cũng không hiểu bệnh khởi sự từ lúc nào, nhưng cười mỉa ông ta ốm giả vờ thì bà bác sĩ Việt cộng (bác sĩ đàng hoàng) này bất hủ. Sang ngày thứ tư, ông Dương Hải Làn hôn mê, cứ ôm chặt ông Hoàng Mậu Thìn mà rên ư ử. Ông ta bỏ ăn uống, tiểu tiện ra chỗ nằm. Trưởng phòng Nguyễn Sơn La báo cáo. Bác sĩ Quang của đề lao Gia Định khám bệnh. Ông Dương Hải Làn được khiêng ra khỏi phòng. Và ông chết trên đường đến bệnh viện Chợ Rẫy. Chúng tôi được uống mỗi ngày bốn viên thuốc và cấm phòng đúng một tuần. Nghĩa là không được ra ngoài tắm và phơi nắng. Ông Dương Hải Làn chết vì bệnh đau màng óc. Ông ta chết rồi, nhà tù mới cho phòng tôi uống thuốc ngừa đau màng óc và lập “hàng rào” y tế. May sao, chúng tôi không có ai… chết theo ông Dương Hải Làn.

Sau khi lệnh cô lập phòng tôi bãi bỏ, Trưởng khu Vũ gọi tôi ra “làm việc.” Anh ta mời tôi uống trà Thái Nguyên, hút thuốc lá Sông Cầu.

– Hôm qua có mấy người ngoại quốc thăm Chí Hòa.

– Phái đoàn nào đó, cán bộ?

– Ân xá quốc tế!

– Họ đến làm gì?

– Thăm anh.

– Thăm tôi?

– Lãnh đạo chỉ cho họ gặp anh Cao Dao và khước từ không cho gặp anh. Anh có khả năng được tha sớm đấỵ.

Trưởng khu Vũ gọi tôi ra báo tin thế. Tôi biết vậy, ngậm miệng chẳng nói với ai. Tự đấy sự tuyệt vọng của tôi vừa le lói một ánh lửa hy vọng. Chắc chắn, Amnesty International đã can thiệp cho một số nhà văn, nhà báo mà tôi may mắn lọt vào danh sách ấy. Tôi biết tôi không thể bị thủ tiêu, bây giờ can đảm hơn mà chịu đựng chờ ngày về đời. Tôi cảm giác mạnh khỏe, bền bỉ. Tôi đã mơ hồ thấy niềm bí ẩn của đời sống. Hôm qua không giống hôm nay và ngày mai khác hẵn ngày mai kế tiếp. Bỗng nhiên, tôi trở thành người trầm lặng nhất trong phòng. Tôi không khó chịu chuyện “’tổng thống” Bùi Ngọc Phương “tuyển lựa” nhân viên cho Phủ tổng thống ở nhà tù nữa, dù ông ta vẫn tiếp tục ngớ ngẩn. Nếu có người lạc quan coi Bộ chính trị trung ương Đảng cộng sản Việt Nam là con nít, người ấv chỉ là “tổng thống cầu cơ” Bùi Ngọc Phương. Ông ta bảo ông ta chơi thân với ông đại sứ Mỹ bên Thái Lan và ông yêu cầu Trưởng khu cho ông giấy ông viết thư nhờ bạn ông giàn xểp với Đặng Tiểu Bình đừng lộn xộn chuyện Việt Nam! Trưởng khu Vũ đùa bỡn:

– Anh có biết thư anh sẽ đến đâu không?

– Biết chứ.

– Đến đâu?

– Thái Lan.

– Đến cát-sô. Anh là tổng thống cát-sô. Thế mà cũng có người theo anh chống cộng sản!

Phó thủ tướng Đỗ Văn Lựu rầu rĩ tổng thống đến thối ruột. Tổng thống y hệt Lão Ngoan Đồng, chấp nhận cuộc phỏng vấn tranh cử của ký giả Dương Đức Dũng một cách thành khẩn. Và ngồi bói bài đoán vận nước! Nhưng mà tổng thống và phó tổng thống đã ra đi. Buổi chiều hôm ấy, cai ngục Thuận đến gọi:

– Anh Bùi Ngọc Phương.

– Có.

– Anh Đỗ Văn Lựu.

– Có.

– Hai anh chuẩn bị hành trang khẩn trương.

Cai ngục Thuận khuất bỏng. Tổng thống không thèm thu xếp hành lý tù. Người đứng giữa phòng, vỗ tay ba tiếng:

– Anh em thân mến!

Tổng thống ứng khẩu bài diễn văn hứa hẹn nẩy lửa:

– Giờ phút quan trọng của lịch sử đã điểm…

Mới đến đây thì cai ngục Thuận xuất hiện đột xuất. Tổng thống đang hùng dũng, trầm giọng:

– Những ngày sống với anh em, nếu tôi có gì sơ sót, anh em bỏ qua đi nhé! Cám ơn…

Và tổng thổng vội vàng gom đồ tù ra đi. Tổng thống ra đi, phòng giam buồn hẳn. Những bạn tù đề lao Gia Định của tôi lần lượt ra đi. Tôi sẽ nhớ suốt đời tán đường của cụ Đỗ Văn Lựu. Hôm đó, chúng tôi hết đường ăn bột luộc. Thấy tôi gặm bột suông, cụ Lựu đem cho một tán. Đằng Giao bẻ tư, chia phần cho Tường, Dũng và tôi. Cắn nhìn từng chút đường đã thấy ngọt lịm họng. Hạnh phúc nó vẫn đơn sơ và đến đúng lúc người ta cần định nghĩa nó. Từ khi tôi còn viết nhật báo Sống, tôi đã không ưa Đằng Giao. Anh ta cũng chẳng ưa gì tôi. Vào tù, chúng tôi trở thành thân thiết gần như sống chết có nhau. Vì chúng tôi đã hiểu nhau, thương nhau. Đằng Giao làm cho tôi tất cả những gì anh ta có thể làm ở khu AH Chí Hòa, kể luôn việc, trước khi về phòng, nhóm bếp, nấu nước sôi, đổ bình xách về để tôi ngâm ghẻ và pha bột Bích Chi, pha mì. Anh ta không mày tao, không ông tôi với tôi nữa. Mà gọi tôi là “ông thầy.”

– Được ra, ông thầy dọt không?

– Dọt chứ.

– Ông thầy vẫn viết à?

– Chứ biết làm nghề mẹ gì?

– Tư tưởng của ông thầy tôi sợ lại làm ông thầy khốn đốn. Tôi, xưa ghét ông thầy cay đắng, sống chung với ông thầy mới thấy chúng nó xét đoán sai lầm. Khó ai chứa nổi tâm hồn ông thầy.

– Có ông, thừa rồi.

Đằng Giao vào nghề báo rất ly kỳ. Anh ta tên thật là Trần Duy Cát, bạn thân của Đỗ Tiến Đức, cùng nhóm anh em di cư Nhà Hát Tây. Đỗ Tiến Đức, thuở mới viết lách ký bút hiệu Đằng Giao. Cậu Cát thất nghiệp dài, nhờ Đức xúi vào làm nhân viên dân sự Nha Chiến Tranh Tâm Lý, mỗi kỳ Chiến sĩ cộng hòa viết một bài do Đỗ Tiến Đức cung cấp, ký Đằng Giao. Cậu Cát, lúc rảnh rỗi, ngồi vẽ vớ vần giết thì giờ. Thư ký tòa soạn Chiến sĩ cộng hòa thấy cậu vẽ đẹp bèn sai cậu vẽ thay vì viết. Cậu Cát mừng húm. Cậu vẫn ký Đằng Giao. Bạn vàng Đỗ Tiến Đức tặng cậu bút hiệu đó luôn. Rồi Đằng Giao trở thành người trình bày tuần báo, tạp chí đẹp nhất Sàigòn, nhà “cách mạng” lối trình bày nhật báo không phi lê dọc. Dĩ nhiên, cậu bắt chước báo Tây. Sự lủng củng giữa Trọng Tấn và Hoàng Anh Tuấn đã biến Đằng Giao thành thư ký tòa soạn nhật báo Thân Dân, Tranh Đấu và Sống. Đằng Giao là một hiện tượng thư ký tòa soạn, một thư ký tòa soạn không biết viết bài, dù chỉ viết một cái tin.

– Ông thầy, ông thành thật nghĩ gì về người cộng sản?

– Nói theo kiểu Nhậm Ngã Hành nhé.

– Ừ.

– Tôi khen nó giỏi và tôi khinh nó hèn.

– Nó giỏi?

– Nó đã chiến thắng, nó đã bỏ tù chúng ta.

– Nó hèn ?

– Nhà văn, nhà báo chuyên nghiệp như cầu thủ bóng đá nhà nghề, cấm viết như treo giò vĩnh viễn. Là đủ thỏa mãn thù hận rồi. Bắt nhốt chúng ta, hành hạ chúng ta mà chi.

– Ông thầy đúng.

– Đúng chứ. Như ông, tội tình chi mà chúng nó hầm lâu vậy? Chúng nó nhúm cả vợ ông, cả đứa con sơ sinh của ông vào tù. Cộng sản bần tiện, không tuyết hận nổi Chu Tử, chúng nó om ông.

Đằng Giao im lặng. Người họa sĩ này chỉ cằm cọ và chưa hề vẽ bức tranh chống Cộng nào. Biệt kích văn nghệ Dương Nghiễm Mậu, cộng sản tha sớm. Biệt kích văn nghệ Nhã Ca, cộng sản tha sớm. Có 9 tháng tù. Biệt kích văn nghệ Doãn Quốc Sĩ, 4 năm. Biệt kích văn nghệ Duyên Anh, 5 năm 5 tháng. Đằng Giao lâu hơn 2.

– Cộng sản còn ngu nữa.

– Ngu sao, ông thầy?

– Nó mang trọng tội với dân tộc, với tổ quốc. Nó đã làm hỏng cái cơ may nghìn năm một thuở mà nhân loại thèm muốn.

– Là sao?

– Là cơ may văn minh, văn hóa, khoa học, kỹ thuật Đông Tây tổng hợp trên quê hương Việt Nam. Đem những tinh hoa nó học ở Liên Xô, ở Đông Âu về, hòa với tinh hoa ta học ở Mỹ, ở Đức, ở Pháp, ở Nhật về sẽ thành cái của Việt Nam. Hai mươi năm Mỹ đào tạo cho miền Nam bao nhiêu chuyên viên, chưa kịp xử dụng, nó bỏ tù và bỏ… chợ trời. Đến nỗi, người ta phải chuồn khỏi xứ sở. Nó không ngu thì nó kiêu ngạo ngu xuẩn. Nó sẽ tiếc hộc máu mồm. Muộn rồi. Cái truyền thống trả thù vặt của dân tộc mình cứ thế tiếp nối, không ngóc đầu lên nổi. Triều đại nọ phá hủy mọi công trình của triều đại kia. Người nào hay hơn ta là y rằng ta không phục, không tranh đua mà chỉ tìm cách bôi bẩn.

– Thôi, ông thầy ạ! Tôi mong ông thầy ở lại với tôi khi được tha. Ông thày chả nên đi.

– Hiểu rồi, ông ơi! Tôi biết đi cũng dở, ở không xong. Số tôi nó vậy, trót vậy.

– Tôi không đi. Tôi thề tôi không đi.

Đó là lần Đằng Giao nói chuyện với tôi lâu nhất, từ dạo chúng tôi sống chung ở Chí Hòa. Tôi mơ hồ thấy tôi sắp chuyển trại. Tháng 9, ăn cơm với thịt heo mừng “ngày lễ lớn” xong, Chí Hòa đi lao động cải tạo sôi nổi. Liên tiếp một tháng, đêm nào cũng ồn ào tiễn đưa, dặn dò. Tù hình sự nói văng mạng. Chẳng ai thèm kiểm soát ngôn ngữ, tư tưởng lúc chuyển trại đêm khuya. Các anh trên lầu của các khu tha hồ nhận bừa các em dưới ô là người tình. Anh chị đối thoại nẩy lửa. Đoàn Kế Tường đã thức, đứng sát tường, ngó qua song sắt quan sát. Tường mơ ước dựng một bộ tiểu thuyết về nhà tù. Tôi thì lại mơ ước dựng một tiểu thuyết với nhan đề Ở một nơi không có nhà tù. Cuối cùng, tôi mơ ước viết truyện thần thoại. Nhưng mọi ước mơ sẽ chỉ nhằm mục đích trả lời cộng sản: “Thế giới đâu đã đọc sách của các anh.” Ước mơ đó, tưởng đã tàn lụi ở những ngày cuối đề lao Gia Định và ở những ngày đầu Chí Hòa, bây giờ lại hừng hực trong tâm hồn tôi. Có lẽ, tôi là tù nhân may mắn đã nhập tâm bài học đáng giá của cai ngục cộng sản: “Chiến đấu từ đau khổ, cố mà học nếu muốn chiến đấu chống cộng sản.” Tối cố học, tôi chăm học. Rốt cuộc, sự thống khổ đã trở thành không tưởng với những ai xa lạ nó. Giữa những người đó và tôi đã có một cuộc ly dị buồn bã. Và tôi là con gọng vó bơi ngược giòng. Bao nhiêu con gọng vó bơi ngược giòng trong thờỉ đại khốn kiếp của tôi. Tôi đã chê cộng sản ngu, đại ngu, chí ngu là làm mất cơ may nghìn năm một thuở. Hỏi một câu ngớ ngẩn chơi. Nếu Quốc Gia Bắc tiến chiếm Hà Nội, thì sự việc sẽ xảy ra như thế nào? Tôi e rằng cũng giống cộng sản chiếm Saigon, sợ còn tệ hơn. Bởi vì, cái truyền thống trả thù vặt của dân tộc ta nó án ngữ tầm nhìn xa của sự nghiệp kiến quốc. Cho nên, người Việt Nam cứu nước rất giỏi mà giữ nước thì rất dở, làm cho dân giầu nước mạnh càng quá dở. Vấn đề đặt ra cho những người muốn làm lại quê hương Việt Nam. Thù hận dân tộc đã không giải quyết được gì, sẽ không giải quyết được gì. Phải truy nã thân phận mình, phải ra công tìm lại bằng được nhân sinh quan Việt Nam nguyên thủy thì mới hy vọng có ngày mai đại phúc của giống nòi. Điều này, tôi muốn nói với cả người cộng sản lẫn người quốc gia. Tư tưởng chiến đấu của tôi thể hiện rõ rệt trong hai tác phẩm Sỏi đá ngậm ngùi và Một người Nga ở Saigon. Tôi là người Việt Nam. Tôi không chống đối dân tộc và tổ quốc tôi. Nhưng tôi chống đối bất cứ một chủ nghĩa, một chế độ nào không đem lại hạnh phúc cho dân tộc tôi, tước đoạt phẩm cách làm người, chà đạp tự do, dân chủ, tạo dựng thù hận, hình phạt, tù ngục, chiến tranh… Những chủ nghĩa, chế độ ấy mang bất cứ một nhãn hiệu nào, tư bản hay vô sản, cộng sản hay quốc gia, tôi đều chống đối. Và ngay cả một chế độ nào đạt nổi lý tưởng thanh bình, hạnh phúc, yêu thương, đoàn tụ cho dân tộc, nhà văn không được phép quên lãng bổn phận phản kháng. Để hạnh phúc thăng hoa. Thiên đường nối tiếp những thiên đường. Chúng ta đang sống trong bối cảnh lịch sử mà nhân loại và dân tộc cần thiết những tiếng thét phẫn nộ của tư tưởng đối nghịch mọi tư tưởng phi nhân. Nhưng, hình như, những tiếng thét đó chỉ đem lại bất hạnh cho nhà văn phản kháng. Y luôn luôn bị khu trừ ở những nơi y ngậm thống khổ nhả từng sợi giây máu thức tỉnh thù hận. Thù hận trút xuống y không thương xót.

Cho nên, tôi thường nuối tiếc ước mơ tôi đã mơ ước trong nhà tù. Giá tôi không được thả về, giá tôi không đánh đu với số phận vượt biên ra ngoại quốc, tôi, mãi mãi, hình tưởng bên ngoài như mơ ước trong tù của tôi. Tôi sẽ mang mơ ước xuống huyệt mộ. Cầu mơ của tôi, tiểu thuyết của tôi, tôi đã không cho nhân vật của tôi đến cầu mơ. Mà tôi, tôi ngu dại đến cầu mơ. Có gì bên kia dốc mơ? Bạn có thể trả lời giùm tôi. Và rồi, cho phép tôi trở lại Chí Hòa.

——————————–

1Đầu năm 1982, tôi gặp cai ngục Thuận. Anh ta bị sa thải khỏi ngành công an, lấy cô vợ miền Nam làm nghề uốn tóc. Trưởng khu Vũ cũng bị sa thải. Cai ngục Phong mê một em tù, giúp em này trốn trại. Anh chị rủ nhau vượt biên, bị bắt và nằm tù chưa ra. Thuận kể vậy: Anh ta xin tôi 100 bạc.
2Đằng Giao về sau tôi 9 tháng.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 26 Jun 2024

Google photos

Phần 45

Tổng luận chuyện: bà V.A., Ba Trà

Tôi viết mấy chuyện nầy, cốt ý là để quên buồn, và cũng muốn bổ túc quyển “Sài Gòn năm xưa” và nếu còn sống thêm ít tuổi, không biết chừng tôi sẽ viết tiếp những gì tôi biết về cảnh cũ trong nầy.

Trong câu chuyện, tôi thường viết tên thật của những nhân vật tôi không sợ búa rìu dư luận, vì tôi cho rằng những nhân vật nào đã mất, tức đã vào sử, miễn khi viết đừng có ác ý là được, việc xảy ra sao, tôi biết được là cứ viết, nếu có sai lạc là ngoài ý muốn, tôi chỉ muốn sao những gì tôi ghi lại đây, không là “tiểu thuyết hoá” và chỉ là sự thật hay gần như thật, và chỉ có vậy thôi.

Tài liệu tôi đã dùng, là những bài vụn vặt cắt trong sách báo cũ may còn giữ được, nay tôi lấy ra đọc và viết lại, như đã nói, cho đỡ buồn, tỷ dụ:

1) Chuyện 1 về bà V.A., là chuyện tôi thuật lại theo một bộ của ông Trần Thiện Thành đã viết từ năm 1916, tôi từng ghi chép nay dọn lại cho suôn sẻ, và tôi gọi đó là loại “viết phỏng theo” Pháp gọi: “à la manière de…”. Trong tủ sách của tôi, có một quyển Pháp văn, nhan là T.S.V.P. (petites histoires de ous et de personne) của đôi tác giả viết chung J. W. Bienstock và Cumonsky (Editions Grès). T.S.V.P. nên đọc là Toumez s’il vous plait (mới lật qua chương khác) và petites histoires de tous et de personne, tôi hiểu là “chuyện nhỏ vặt của chung mọi người mà cũng không cả một ai”, tức là của bá tánh, của vô danh, tôi xin lấy đó làm nòng cốt miễn đừng đạo văn là được.

2) Đến chuyện 2, về cô Ba Trà, tôi vần nói thêm nhiều. Cô nầy khi trước từng thuật chuyện của cô cho tôi ghi lại, sau đó tôi hay cô đã giao cho ông Trần Tấn Quốc đăng trên báo TIẾNG CHUÔNG năm 1952, dưới bút hiệu Thanh Quyền, Thanh Huyền, khi hay tin nầy, tôi thôi ghi, và nay cách ba chục năm sau, trong khi sách báo cũ hiện ít ai tàng trữ, hai ông Trần Thiện Thành và Văn Sen, tôi không tin tức, riêng cố nhân Trần Tấn Quốc, tôi biết hiện dưỡng nhàn nơi quê nhà là Mộc Hoá, cũng vô phương, xuống tới đó mà xin phép, nếu ngày nào những gì tôi viết đây lọt dưới mắt xanh, tôi tưởng cố nhân cũng không làm khó cho tôi làm chi, vì biết đâu khi xuất bản tập nầy, tôi còn nào ở trên nầy mà tranh luận. Xin ba ông miễn nhớ, ngày nào tập nhỏ nầy chào đời, thì công trước tác ba ông chưa phải mất. Về đoạn nầy, tôi viết theo điệu narration văn kể chuyện, nói sao viết vậy, không đẽo gọt, không cốt ý làm văn.

Tiếp theo tập Bên lề sách cũ (en marge des vieux livres) tôi viết tập nầy “cho qua ngày tháng”, cũng là một cách tưởng niệm tác giả “Trước đèn xem chuyện Tây Minh” – (Viết từ 9-6-1982 đến 24-8-1982, tức 18-4 nhuận đến 6-7 năm Nhâm tuất).

Vân Đường Phủ

Vào khoảng 1915-1945 thời Pháp thuộc, ruộng miền Nam trúng mùa liên tiếp, trong xứ tiền bạc dồi dào, nhưng cái hoạ ngấm ngầm phát sanh từ đó, duy chưa hiện ra rõ rệt. Hoạ tôi nói đây là hoạ đất cát nhà cửa ruộng vườn của cải, phần lớn đều chuyển sang tay khác, không ai cầu không ai muốn nhưng không sao tránh được, và cũng không phải một sớm một chiều sanh ra.

Và ai cười ai bây giờ?

Thằng bo bo giữ của cười thằng con hư phá sản, hay thằng phá sản không có gì để kê khai đăng ký, cười lại thằng giàu, không dám ăn không dám xài, mà nay tiền của bi tịch thu, thân bị đi cải tạo con trai chạy trốn, con gái thôi việc trau chuốt phấn son, cháu nội ngoại phải quét đường làm lao công, “tụi bây còn dại khờ hơn tao mấy lần, thà bán đất cầm nhà mà nay khỏi phải bận tâm khai báo, lại thêm được tiếng “tiến hoá sớm”, phe họ bần họ cố nông”. Ai dại hơn ai?

Tại sao khoảng ấy, 1915-1945, con sanh ra phần đông đều hư: trai hư theo trai, chuộng gái chơi bời có sắc hơn vợ nhà, cha mẹ cho đi ăn học phương xa, không lo trau giồi kinh sử, rủi thời cha mất, chỉ trông có tiền để cho gái, cầm cố bán mau bán lẹ, chê làm ruộng cực nhọc muỗi mòng, quen ăn sung mặc sướng sống ở thị thành xem hát, đi ăn cơm nhà hàng, nay xuống ruộng bùn đỉa, ai mà chịu thấu?

Trong khi ấy, gái hư theo gái, có chút nhan sắc, chê lấy chồng quê là phí đời hưởng nhan, giữ chữ trinh chữ hạnh, suốt đời gánh nước mướn chai vai, thổi bếp nấu cơm đã mất đẹp vì khói xông xốn mắt, bửa củi chai tay, sao bì con A con B, xuống chợ làm nghề rước khách, đã khỏi nhọc nhằn, lại được lên xe xuống ngựa, v.v…

Nguyên do những cái hư hèn ấy, oan hay ưng, tôi đổ tội cho quan thầy thời 1915-1945 đó là quan cai trị Pháp bất tài. Họ qua đây chỉ lãnh lương cho cao, ở nhà chỗ rộng, trông mau mau đến tuổi về hưu, lùi về xứ thưởng thức đồng tiền thuộc địa biến thành hưu bổng, việc giáo hoá, tuyên truyền rùm beng, mấy ông quả có dạy chữ mới, dạy cách trí phổ thông, nhưng ấy là đào tạo mớ “bồi Tây” làm mọi cho mấy ông, còn phần đạo đức, vẫn chê Khổng Mạnh là lỗi thời và phổ biến văn minh Tây phương của mấy ông là dạy con nghịch ý cha, vợ tranh quyền với chồng. và nếu tranh cãi không lại thì đã có luật sư biện hộ giúp!

Mấy ông có đào kinh phá rừng thật, nhưng luật “khẩn đất” viết tiếng Pháp và dịch ra quốc ngữ, chỉ người biết chữ học trò trưởng các ông hiểu được, còn bọn củi lục làm ăn, khai hoang biến rừng thành ruộng vẫn quê kịch dốt nát, tưởng có công mở mang làng xã sau nầy sẽ làm chủ đất, dè đâu ruộng khai phá xong vừa phát, thì đã có thằng dân chợ đến trưng đơn khẩn hợp pháp, bằng khoán hợp lệ làm chứng rồi phổng tay trên quịt ruộng của dân nghèo, không làng xã quan tỉnh nào binh vực cho một lời, một tiếng cho mát dạ kẻ ngay nhưng thất thế vì dốt luật.

Tồi tóm tắt lại đây, vấn đề khai hoang.

1) Sau trận tranh giành Tây Sơn với nhà Nguyễn Phúc, miền Nam trải qua một thời loạn lạc không yên, dân thưa rừng rậm.

Người ngũ Quảng, người miền Đông, để tránh bắt lính làm xâu, nên kéo vô Nam, tìm rừng mà ở yên thân hơn. Vùng Sốc Trăng, Bạc Liêu đến năm 1860, còn quan Cơ-me cai trị, chưa thuộc bờ cõi cai trị của quan Việt.

Những dân tứ chiếng ấy, với cái tục tảo hôn, vả lại dân Việt có tiếng rất nhạy con, nên chẳng bao lâu miền Nam đổi ra mặt mới:

Lấy một tỷ dụ, cứ cái đà mươi tám, đôi mươi là dựng vợ gả chồng đến trễ lắm là tuổi hai mươi lăm, đã có con đầu lòng, “làm cha thằng xích tử” dễ như chơi.

Tuổi năm mươi đã thành ông nội ông ngoại, tuổi bảy mươi làm nên cố, lối 90 lên ông sơ, và nhà xưng “ngũ đại đồng đường” đếm lại chưa tới trăm năm.

Đông con mà con hư, nào có ích gì?

Chưa tới ba đời, nhà đổi chủ, của vườn sang tay khác, lỗi tại đâu?

Nhà giàu chỉ lo sắm ruộng cho nhiều.

Nhà nghèo mất ruộng, đêm khuya vợ chồng than thỉ với nhau, mấy con nghe được, oán tích nhiều đời, nên trai nghèo lo học và đọc nhiều sách mới, thành người cách mạng, gái thì nghĩ ra cách đục khoét tủ sắt nhà giàu bằng cách rủ rê con họ vào con đường ăn chơi đàn đúm, để bán ruộng cầm nhà, tung tiền cho gái, gái vãi tiền qua tay bác tài, chú bếp, khiến cơ đồ tư bản đổ sụp còn mau hơn trong giấc mộng huỳnh lương.

a) Bà V.A., như kể, còn sanh tiền, nay cư trú bên Pháp, xin miễn luận. Cỡ bà hoạt động là năm 1915, thì nay bà hơn tuổi tám mươi lăm. Xin bả thứ lỗi, chớ lớp bà còn quê, chỉ lấy Hạch, bị má ăn trên đầu, rồi bà trả thù cạo lại đầu khô hội đồng tỉnh nửa quê nửa chợ, cũng không chi đáng nói nhiều.

b) Cô Ba Trà, đã là vào thuở văn minh tân tiến, nhưng Trà ít học, chỉ có sắc mà còn thiếu nhiều điều kiện mới xứng hay chưa xứng danh từ “gái bao” (femme entretenue), nói cách khác chưa phải “điếm sang” và chỉ biết đập lột, khảo của, cô phát minh lối mới “lựa chồng” nhưng thiếu chữ “tình chung” và lọt vào tay ông toà, ông lục sự là mất danh thì có.

Về công tử, tôi không nghe có công tử miền Đông vì Biên Hoà, Bà Rịa, Thủ Dầu Một vẫn là xứ rừng, núi, những đồn điền cao su sau nầy là của Pháp, nên công tử không mọc nơi đất đỏ, đất đen, đất xám nầy.

Ở Tiền Giang có Bạch công tử một người.

Còn lại bao nhiêu công tử vẫn ở Hậu Giang, đen đúa thì xưng “Hắc công tử”, đều là con chủ điền giàu, đứa ăn cắp lúa bồ bán để tiêu pha, đứa thì bò đi kiếm gái rồi xưng “cậu Tám bò”, đứa nữa cha chết cố ruộng cho xã tri, lấy tiền mua một lần chín mười xe hiệu Wihpep để được danh cậu, rồi thảy đều lui vào bóng tối chết vô danh hay chỉ danh “con hư phá của của mẹ cha”. Nhục nhã thì có chớ danh thơm chỗ nào?